Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM
Văn phòng Hà Nội:
Điện thoại: 0243.7713699
Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công
Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội
Phòng Quảng cáo:
Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993
Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn
Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT
ISSN: 0866-8043
Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)
Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ
Thư tòa soạn
Thưa quý vị bạn đọc,
Khép lại năm tài chính 2025, ngành thủy sản Việt Nam đã ghi dấu ấn
đậm nét trên bản đồ thương mại toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu
đạt 11,34 tỷ USD, tăng trưởng 13% so với năm 2024. Đây là con số kỷ
lục trong lịch sử phát triển của ngành, có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh
thương mại toàn cầu biến động, chi phí đầu vào và logistics tăng cao, cùng với các yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn
gốc và tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị (ESG).
Giới phân tích nhận định, sự tăng trưởng này không đến từ may mắn mà
là kết quả của sự nỗ lực, khả năng thích nghi, ứng biến linh hoạt từ cộng
đồng doanh nghiệp; sự đồng hành quyết liệt chưa từng có của Chính phủ
và các Bộ ngành trong việc kiến tạo hành lang pháp lý thông thoáng.
Bước sang năm 2026 - năm bản lề của giai đoạn 2026 - 2030, giai đoạn tăng tốc, bứt phá nhằm đạt mục tiêu phát triển thủy sản bền vững, toàn ngành thủy sản hướng tới mục tiêu xuất khẩu 11,5 tỷ USD. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), chiến lược xuyên suốt sẽ là “Giảm khai thác, tăng nuôi trồng”. Đây là bước chuyển dịch bắt buộc để bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, ngành thủy sản được dự báo sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức và rào cản thị trường. Áp lực đến từ chính sách thuế đối ứng, thuế chống bán phá giá đối với tôm; các quy định ngày càng chặt chẽ như Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú ở biển (MMPA) của Mỹ, thẻ vàng IUU của EU; cùng với sự gia tăng cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu thủy sản khác.
Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi sang mô hình thủy sản xanh được nhìn nhận là yêu cầu bắt buộc. Đây không chỉ là chìa khóa để Việt Nam duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, mà còn là nền tảng cho sự phát triển lâu dài, có trách nhiệm với đại dương và các thế hệ tương lai.
Chính vì vậy, “Vững vàng kỷ nguyên xanh” được chọn chủ đề chính của Tạp chí Thủy sản Việt Nam phát hành trong dịp Xuân Bính Ngọ. Ấn phẩm đặc biệt này đem đến cho bạn đọc bức tranh toàn cảnh ngành thủy sản trong năm 2025. Những cơ hội và thách thức mà ngành phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi xanh sẽ được thể hiện dưới góc nhìn của nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp.
Trong bầu không khí hân hoan này, Tạp chí Thủy sản Việt Nam xin gửi lời tri ân sâu sắc tới quý bạn đọc đã luôn tin tưởng và đồng hành cùng Tạp chí. Chúc quý vị một năm mới an khang, thịnh vượng, vạn sự như ý!
Trân trọng!
Ban Biên tập
Chủ động, tự tin
và khát vọng vươn tầm
Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát
triển của đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục
diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn
gia tăng; xung đột địa chính trị kéo dài; thương mại toàn cầu phục hồi
chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro, Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu ổn định,
phát triển và nâng cao vị thế quốc gia. Những thành tựu trong năm
2025 tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào năm 2026 với tâm
thế chủ động, tự tin và khát vọng phát triển mạnh mẽ hơn.
Kinh tế phục hồi vững chắc và chuyển dịch theo chiều sâu
Năm 2025 ghi nhận sự phục hồi rõ nét của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn. Các cân đối lớn của nền kinh tế tiếp tục được giữ vững; kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát; các động lực tăng trưởng từng bước được củng cố. Tăng trưởng GDP duy trì ở mức khá, phản ánh hiệu quả của các chính sách điều hành linh hoạt, chủ động và kịp thời của Chính phủ.
Nền kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng ấn tượng với tốc độ GDP cả năm tăng khoảng 8%, đánh dấu mức tăng mạnh hơn so với năm trước và nằm trong nhóm hàng đầu khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh các nền kinh tế lớn đều chịu áp lực từ nhiều yếu tố bất lợi.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), quy mô
GDP năm 2025 theo giá hiện hành đạt khoảng
12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 514
tỷ USD, tăng gần 38 tỷ USD so với năm 2024. GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng
5.026 USD, tăng 326 USD so với năm trước, phản ánh bước tiến trong nâng cao chất lượng
đời sống và thu nhập của người dân.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Công nghiệp chế biến, chế tạo từng
bước phục hồi; lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng ổn định; tiêu dùng nội địa giữ vai trò quan trọng trong kích thích tăng trưởng. Đặc biệt, định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế số được đẩy mạnh, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Tiêu dùng nội địa đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng chung. Trong đó, tiêu dùng cuối cùng tăng gần 8% so với năm trước, đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng tổng GDP; tích lũy tài sản và xuất khẩu cũng tăng trưởng tích cực, tạo động lực đáng kể cho tăng trưởng kinh tế.
Trong tổng thể bức tranh kinh tế năm 2025, một lần nữa có thể khẳng định nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh các lĩnh vực công nghiệp và xuất khẩu chịu tác động mạnh từ biến động thị trường thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực, Chính phủ vẫn kiên định mục tiêu duy trì ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát hiệu quả và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng đổi mới sáng tạo, xanh - số hóa - bền vững. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước tiến vào năm 2026 một cách tự tin và chủ động.
Nâng cao vị thế và uy tín quốc gia
Không chỉ tăng trưởng mạnh về nội lực, Việt Nam còn gây ấn tượng trong thương mại quốc tế. Xuất khẩu đạt trên 400 tỷ USD, tăng tới 13,6% so với cùng kỳ, vượt hẳn tăng trưởng xuất khẩu của nhiều nền kinh tế trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia. Trong đó xuất khẩu nông sản, thủy sản và lâm sản đạt trên 62,4 tỷ USD vào năm 2024, tăng 18,5% so với 2023 và tạo ra thặng dư thương mại nông sản tới 18,6 tỷ USD; Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam lập kỷ lục mới, ước đạt 70,09 tỷ USD, tăng trưởng 12% so với năm 2024. Năm 2025, quy mô kinh tế Việt Nam được IMF dự báo xếp thứ 34 trên thế giới và thứ 5 trong ASEAN. Đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ; ký 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 đối tác; thu hút FDI và ODA từ nhiều đối tác lớn trên thế giới. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đồng thời duy trì và phát triển tốt quan hệ với các đối tác chiến lược,
đối tác toàn diện; tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu.
Năm 2025, ổn định chính trị luôn là trụ cột cho mọi thành tựu phát triển. Các chính sách củng cố niềm tin xã hội được triển khai đồng bộ, giúp nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản trị nhà nước.
Sự ổn định chính trị - xã hội không chỉ tạo môi trường an toàn cho đầu tư và sản xuất, mà còn là yếu tố quan trọng để duy trì nhịp độ phát triển kinh tế, bảo đảm hài hòa lợi ích các tầng lớp nhân dân và củng cố niềm tin vào định hướng phát triển lâu dài.
2025 cũng là năm ghi nhận những kết quả tích cực trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Với đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đất nước tiếp tục duy trì và củng cố quan hệ với các đối tác chiến lược và toàn diện. Việt
Nam giữ vai trò tích cực trong ASEAN và các cơ chế hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với các đối tác lớn trên thế giới, tạo lợi thế cho thương mại, đầu tư và sức ảnh hưởng quốc tế.
Những thành tựu về đối ngoại này không chỉ góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển, mà còn mở ra nhiều cơ hội mới cho đất nước về thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển.
An sinh xã hội - Lấy con người làm trung tâm phát triển
Song hành với tăng trưởng kinh tế, năm 2025, các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Thị trường lao động dần phục hồi; việc làm và thu nhập của người lao động được cải thiện.
Định hướng chung của Việt Nam là tiếp tục kiên định đổi mới toàn diện; cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam là nước thu nhập trung bình cao với quy mô GDP 900 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người
8.500 USD; đến năm 2045 GDP đạt 2.500 tỷ USD, nền giáo dục vào nhóm 10 nước tốt nhất châu Á.
Công tác giảm nghèo, chăm lo đời sống người có công, bảo hiểm xã hội, y tế và giáo dục đạt nhiều kết quả tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện; khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền được thu hẹp dần. Tất cả chuyển biến tích cực này đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và củng cố nền tảng phát triển bền vững của đất nước.
Theo kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống dân cư năm 2025, thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2025 đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2025 khoảng 1,3%, giảm 1,0 điểm phần trăm so với năm 2024.
Đặc biệt, ngay sau đợt mưa lũ dồn dập, khốc liệt, dị thường vừa qua tại các tỉnh Nam
Trung Bộ, Chính phủ đã phát động “Chiến dịch
Quang Trung” thần tốc thực hiện xây mới, sửa chữa gần 35.000 ngôi nhà cho nhân dân, đến ngày 30/12/2025 đã cơ bản hoàn thành việc sửa chữa. Cùng với đó, đã khởi công xây mới 1.597 ngôi nhà và hoàn thành kế hoạch trước ngày 25/1/2026.
Trong bối cảnh toàn cầu biến động, an sinh xã hội là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng phát triển bền vững. Việt Nam đã chứng minh ưu tiên cao cho mục tiêu này, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trên con đường phát triển.
Nông nghiệp - Trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế
Năm 2025, ngành nông nghiệp Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, không chỉ ở khía cạnh sản xuất và xuất khẩu mà còn ở vai trò ổn định vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững an ninh lương thực quốc gia. Trong bức tranh tăng trưởng kinh tế 2025, ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò chiến lược khi duy trì sản xuất ổn định, gia tăng giá trị xuất khẩu và đóng góp quan trọng vào an sinh xã hội. Các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng hiệu quả, bền vững, gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Nhiều mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao được nhân rộng, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Việc ứng dụng công nghệ cao và khoa học kỹ thuật hiện đại giúp nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và chất lượng sản phẩm cũng như khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là minh chứng cho quá trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa, nâng cao
nhất từ trước đến nay và vượt xa mục tiêu đề ra đầu năm. Trong đó, các nhóm sản phẩm trọng điểm đều ghi nhận mức tăng trưởng giá trị xuất khẩu ấn tượng.
Kim ngạch xuất khẩu đạt con số kỷ lục phản ánh khả năng mở rộng thị trường, nâng cao giá trị cạnh tranh sản phẩm Việt giữa bối cảnh yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững được tăng cường. Đây là minh chứng rõ nét cho nỗ lực cải thiện chất lượng nguồn cung, xây dựng thương hiệu quốc gia cho nông sản Việt Nam, đồng thời khẳng định vị thế là nhà cung cấp nông sản quan trọng, ổn định và có trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngoài đóng góp vào GDP và xuất khẩu, nông nghiệp còn là điểm tựa quan trọng cho an sinh xã hội. Khu vực nông thôn tiếp tục là nơi hấp thụ lực lượng lao động lớn, tạo sinh kế bền vững cho hàng chục triệu người dân. Trong bối cảnh một số ngành công nghiệp và dịch vụ chịu ảnh hưởng từ suy giảm nhu cầu toàn cầu, nông nghiệp thực sự trở thành “vùng đệm” quan trọng, góp phần giảm áp
lực thất nghiệp và giữ vững an sinh xã hội. Với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, hàng triệu hộ nông dân tiếp tục ổn định đời sống, góp phần giảm nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền.
2026 - Tăng tốc và bứt phá Bên cạnh những thành tựu đạt được, đất nước cũng đứng trước nhiều thách thức mới. Biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp; áp lực từ già hóa dân số, chuyển dịch lao động và yêu cầu nâng cao năng suất lao động ngày càng lớn. Đối với nông nghiệp, thách thức về chất lượng tăng trưởng, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững vẫn đặt ra gay gắt. Những vấn đề đó đòi hỏi Việt Nam phải có tầm nhìn chiến lược, giải pháp đồng bộ và quyết tâm chính trị cao trong giai đoạn tiếp theo.
Bước sang năm 2026, Việt Nam xác định mục tiêu tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Các
động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo sẽ được ưu tiên phát triển mạnh mẽ hơn.
Trên lĩnh vực chính trị - xã hội, tiếp tục tăng cường kỷ cương, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; củng cố niềm tin xã hội; chuẩn bị
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính Ngành nông nghiệp và môi trường sẽ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang 80 năm qua
Sứ mệnh của ngành nông nghiệp và môi trường trong việc góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững và bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 2 con số sẽ trở nên nặng nề hơn, cần có giải pháp, định hướng phát triển đột phá mạnh mẽ hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Nông nghiệp vẫn là trụ đỡ, nhưng phải số hóa, phải hiện đại hóa, công nghiệp hóa, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Sứ mệnh mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao phó đối với ngành nông nghiệp và môi trường trong giai đoạn phát triển mới của đất nước rất nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang, cao cả, đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao, trách nhiệm rất lớn, hành động rất quyết liệt, hiệu quả. Tôi mong muốn và tin tưởng rằng, bước sang năm mới 2026
nền tảng vững chắc cho các mục tiêu phát triển giai đoạn tiếp theo. Về đối ngoại, Việt Nam tiếp tục chủ động, linh hoạt thích ứng với cục diện thế giới mới, phát huy vai trò đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Đồng thời, tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại, đa dạng hóa thị trường, tăng cường vai trò trong ASEAN và các cơ chế hợp tác khu vực cũng như toàn cầu, đảm bảo vị thế và lợi ích chiến lược của quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn.
Đối với nông nghiệp, định hướng chiến lược là tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, tích cực chuyển dịch từ “tăng trưởng theo chiều rộng” sang “tăng trưởng theo chiều sâu”. Trọng tâm là phát triển chuỗi giá trị nông sản, đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia, nâng cao năng lực logistics, chuyển đổi xanh và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Nông nghiệp không chỉ là trụ đỡ ổn
với khí thế mới, động lực mới, tâm thế mới, ngành nông nghiệp và môi trường sẽ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang 80 năm qua, đoàn kết, thống nhất, đổi mới tư duy, nỗ lực hành động, quyết tâm đưa ngành gặt hái được nhiều thành tựu mới, thắng lợi mới, để góp phần xây dựng nền nông nghiệp thịnh vượng, đội ngũ cán bộ giàu lòng yêu nước, có bản lĩnh, khát vọng, kiến thức, tạo diện mạo nông thôn mới, phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, đáp ứng với sự tin tưởng và kỳ vọng của Đảng, Nhà nước, sự mong mỏi và niềm tin của Nhân dân.
định, mà còn là bệ phóng cho phát triển bền vững trong dài hạn. Những thành tựu đạt được trong năm 2025 là kết quả của sự lãnh
lòng, nỗ lực của toàn xã hội. Trong bức tranh chung đó, nông nghiệp tiếp tục khẳng định vị thế là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế, là nền tảng bảo đảm ổn định và phát triển bền vững. Việt Nam có đủ cơ sở để tin tưởng vào một giai đoạn tăng tốc mới, hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn trong bối cảnh thế giới đầy biến động.
Kỷ lục 11,34 tỷ USD năm 2025 là một dấu son chói lọi, nhưng đó không
Điểm sáng nhất trong bức tranh ấy chính là mặt hàng tôm nước lợ với kim ngạch kỷ lục 4,65 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ 2024. Đáng chú ý, năm 2025 chứng kiến mặt hàng tôm hùm - mặt hàng từng lận đận tìm đầu ra nay đã bứt tốc thần tốc nhờ “cú hích” từ Nghị định thư xuất khẩu chính ngạch sang Trung
Quốc, bù đắp ngoạn mục cho khoảng trống của phân khúc tôm sú.
Cùng với đó, mặt hàng cá tra cũng giữ vững phong độ với doanh thu 2,1 tỷ USD, tăng 7,5% tiếp tục thống lĩnh thị trường phân khúc bình dân bất chấp sự cạnh tranh quyết liệt về giá từ các đối thủ Nam Mỹ.
Bản đồ các thị trường xuất khẩu thủy sản năm 2025 cũng chứng kiến cuộc “xoay trục”
đầy chiến lược. Lần đầu tiên, Trung Quốc và Hồng Kông đã soán ngôi các thị trường truyền thống để trở thành “bệ đỡ” tiêu thụ lớn nhất của thủy sản Việt. Kim ngạch nhập
khẩu thủy sản Việt Nam của thị trường này đạt 2,45 tỷ USD, tăng 29%. Trong đó, tôm hùm và cá tra có mức tăng trưởng ấn tượng trên 30%. Sức hút từ thị trường tỷ dân đã
trở thành van giảm áp quan trọng, cân bằng
lại sự trầm lắng của thị trường phương Tây trong nửa đầu năm.
Trong khi đó, thị trường Mỹ vốn được coi là khách hàng khó tính nhất thì từ quý III/2025, thị trường này đã mở rộng cửa cho các dòng sản phẩm chế biến sâu giá trị cao. Tính chung cả năm 2025, xuất khẩu thủy sản sang thị trường này vẫn đạt gần 1,9 tỷ USD, tăng nhẹ 3% so với năm 2024. Dẫu vậy, những đợt rà soát thuế chống bán phá giá (POR) và các vụ kiện chống trợ cấp (CVD) vẫn lơ lửng buộc doanh nghiệp Việt phải thận trọng trong từng bước đi về giá.
Ngược lại, EU và khối CPTPP tiếp tục là thị trường vững chắc với gần 1,2 tỷ USD, tăng 12,5% nhờ đòn bẩy từ các hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, các sản phẩm xuất khẩu đa phần là thủy sản nuôi trồng, các loại thủy sản khai thác vẫn chịu tác động từ thẻ vàng IUU. Không chỉ thành công trên mặt trận thương mại, năm 2025 còn ghi nhận bước đột phá trong cuộc chiến chống khai thác IUU. Dưới
sự chỉ đạo quyết liệt như một chiến dịch quân
sự từ Chính phủ, diện mạo nghề cá Việt Nam
đã thay đổi căn bản. Những con tàu xa bờ giờ
đây được giám sát chặt chẽ 24/7 qua hệ thống
VMS và cơ sở dữ liệu VNFishbase đã trở thành
xương sống cho công tác quản lý đội tàu.
Quan trọng hơn, cơ cấu sản phẩm đã có sự chuyển dịch “từ lượng sang chất”, khi tỷ trọng hàng chế biến sâu tăng mạnh, giúp doanh nghiệp không chỉ tối ưu lợi nhuận mà còn khéo léo vượt qua các quy tắc xuất xứ khắt khe, định vị lại thương hiệu Việt Nam trên bản đồ thực phẩm toàn cầu.
Thích ứng “luật chơi” mới
Bước vào năm 2026, dù lạm phát toàn cầu
đã hạ nhiệt và sức mua đang hồi phục, nhưng ngành thủy sản Việt Nam lại đứng trước những
thách thức chưa từng có tiền lệ. Cuộc đua giờ
đây không còn nằm ở giá rẻ, mà được định
đoạt bởi những “luật chơi” mới về môi trường và an sinh xã hội.
Ngay từ ngày đầu năm 01/01/2026, Đạo luật
Bảo vệ Động vật có vú ở biển (MMPA) của Hoa
Kỳ chính thức trở thành “cửa ải” khó khăn, yêu cầu mọi lô hàng hải sản phải có Giấy chứng nhận khả năng chấp nhận (COA) - một rào cản kỹ thuật đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối.
Cùng lúc đó, quy định của Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) tại Châu Âu đang hiện hữu rõ nét hơn bao giờ hết, tạo sức ép buộc doanh nghiệp phải ngay lập tức hành động để giảm phát thải.
Trước những bối cảnh trên, ngành thủy sản
Việt Nam đã xác lập các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể cho năm 2026 nhằm duy trì đà tăng trưởng bền vững. Theo đó, toàn ngành phấn đấu đạt tổng sản lượng thủy sản trên 10 triệu tấn; trong đó tiếp tục ưu tiên tăng trưởng sản lượng nuôi
trồng để giảm áp lực lên nguồn lợi khai thác
tự nhiên. Về mặt thương mại, kim ngạch xuất
khẩu mục tiêu được ấn định ở mức 11,5 tỷ USD. Đây là con số được tính toán dựa trên kịch bản
thận trọng, phản ánh quyết tâm chuyển dịch
từ tăng trưởng “nóng” về số lượng sang tăng
trưởng chiều sâu về giá trị.
Theo đánh giá từ VASEP và các tổ chức
thương mại quốc tế, chuyển đổi xanh trong năm 2026 đã trở thành yêu cầu tiên quyết để duy trì thị phần tại các thị trường phát triển. Các đối tác nhập khẩu tại EU và Mỹ hiện nay đặt trọng số đánh giá các chỉ số ESG (Môi trườngXã hội - Quản trị) ngang hàng với chất lượng và giá thành sản phẩm. Tại thủ phủ tôm Đồng bằng sông Cửu Long, quá trình chuyển đổi này đang diễn ra mạnh mẽ thông qua việc áp dụng Hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS) và mở rộng diện tích canh tác tôm - rừng ngập mặn. Các mô hình này là cơ
“Con số tăng trưởng năm
2025 là một kỳ tích trong
bão táp, nhưng chúng ta không được phép ngủ quên trên chiến thắng”.
Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
sở để sản phẩm đạt được các chứng nhận quốc tế uy tín như ASC, BAP và Organic, từ đó thâm nhập sâu vào phân khúc thị trường cao cấp. Đồng thời, khối doanh nghiệp chế biến cũng đang tích cực chuyển dịch năng lượng, thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng điện mặt trời và năng lượng sinh khối nhằm giảm thiểu tối đa dấu chân carbon trong quy trình sản xuất. Đây được xem là lợi thế cạnh tranh cốt lõi giúp thủy sản Việt Nam đáp ứng các yêu cầu khắt khe của Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) mà Liên minh châu Âu đang áp dụng. Song song với yếu tố môi trường, chuẩn hóa quy trình quản lý là trụ cột quan trọng thứ hai để đảm bảo sự phát triển bền vững. Theo chỉ đạo từ Chính phủ và các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC), nhiệm vụ trọng tâm trong nửa đầu năm 2026 là hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia và truy xuất nguồn gốc điện tử, nhằm đáp ứng các yêu cầu trong đợt thanh tra gỡ thẻ vàng IUU dự kiến vào tháng 4/2026. Việc gỡ bỏ cảnh báo thẻ vàng sẽ là điều kiện tiên quyết để thủy sản Việt Nam tận dụng triệt để lộ trình cắt giảm thuế quan trong Hiệp định EVFTA, nâng cao năng lực cạnh tranh so với các quốc gia chưa ký kết FTA. Bên cạnh đó, việc chuẩn hóa hệ thống hồ sơ và minh bạch hóa thông tin chuỗi cung ứng cũng đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng để các doanh nghiệp chủ động giải trình và bảo vệ quyền lợi trước các cuộc điều tra phòng vệ thương mại (thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp) ngày càng gia tăng. Về dài hạn, áp lực tuân thủ các quy chuẩn quốc tế là động lực thúc đẩy ngành thủy sản tái cơ cấu, chuyển dịch từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp hiện đại và gắn với trách nhiệm xã hội.
Bình An
Hướng tới ngành thủy sản xanh là yêu cầu bắt buộc
Cùng với định hướng phát triển
bền vững và yêu cầu khắt khe từ
thị trường, ngành thủy sản đã và đang chuyển đổi từ dựa vào tài nguyên sang mô hình kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, xanh hóa chuỗi giá trị. Đây cũng là xu thế tất yếu trong bối cảnh
biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Phùng Đức Tiến
Gia tăng giá trị cho từng con tôm, con cá
Con số tăng trưởng dương về cả sản lượng
và giá trị xuất khẩu trong năm 2025 là một kỳ tích khi đặt trong bối cảnh ngành phải đối mặt với “cơn bão” kép thiên tai khắc nghiệt và những rào cản thương mại ngày càng dày đặc. Trong khó khăn, thủy sản vẫn là trụ cột, là điểm sáng của ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, chúng ta không được phép tự mãn hay ngủ quên trên chiến thắng. Dư địa tăng trưởng dựa trên tài nguyên đã cạn, giờ là lúc phải tăng trưởng dựa trên hàm lượng
Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT CTCP Thực phẩm Sao Ta
chất xám. Các viện, trường và doanh nghiệp phải bắt tay nhau chặt chẽ hơn để đưa các công nghệ mới vào sản xuất giống, nuôi biển công nghiệp và chế biến sâu, gia tăng giá trị cho từng con tôm, con cá.
Hướng tới ngành thủy sản xanh là yêu cầu bắt buộc và không thể đảo ngược lại với xu thế của thế giới. Ít nhất chúng ta phải có khái niệm trong đầu ngay từ bây giờ, nếu chậm sẽ khó hội nhập sâu rộng. Tuyệt đối không
được làm theo phong trào. Năm 2026 sẽ là năm bản lề quan trọng. Vì vậy, với
Nhiều năm nay, mô hình nuôi tôm sinh thái tại ĐBSCL phát triển rất mạnh
Ảnh: ST
thành xuất sắc mục tiêu 11,5 tỷ USD, khẳng
định vị thế của thủy sản Việt Nam trên trường quốc tế.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng
Cục Thủy sản và Kiểm ngư Nuôi trồng thủy sản đã phát triển bứt phá Năm nay chúng ta đạt mốc xuất khẩu rất cao. Có lẽ đó là kết quả từ những chiến lược, đề án mà chúng ta đã tổ chức triển khai theo đúng hướng, chiến lược phát triển thủy sản bền vững đã bắt đầu phát huy hiệu quả rõ rệt. Khai thác chững lại và có dấu hiệu giảm, trong khi nuôi trồng thủy sản phát triển bứt phá. Các đối tượng chủ lực như tôm, cá tra giá trị xuất khẩu đều tăng và đạt đỉnh mới. Bên cạnh đó, các sản phẩm từ nuôi biển, rong tảo đã bắt đầu có thị trường ổn định. Mưa lũ, bão năm nay rất cực đoan, cùng với đó là dấu hiệu môi trường ô nhiễm tại nhiều vùng. Đây là những thách thức đòi hỏi công tác chỉ đạo điều hành phải cực kỳ linh hoạt.
Trong thời gian tới, các thị trường nhập khẩu sẽ áp dụng hệ thống đánh nhãn xanh, vàng, đỏ, đồng thời bổ sung thêm yêu cầu về phúc lợi động vật thủy sản. Như vậy, bên cạnh
vấn đề an toàn thực phẩm, đây sẽ là những thách thức lớn mà thủy sản Việt Nam phải đối mặt. Nói cách khác, thị trường không còn chỉ mua sản phẩm, mà còn mua cả “câu chuyện xanh” đằng sau những sản phẩm ấy.
Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT
Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta
Xanh hóa là chìa khóa để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng
gay gắt, tài nguyên thiên nhiên chịu áp lực
lớn và thị trường thế giới liên tục nâng cao
các tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản
trị (ESG), nông nghiệp xanh không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành con đường phát triển tất yếu của ngành thủy sản Việt
Nam nói chung, ngành tôm nói riêng. Đối với lĩnh vực nuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu, nông nghiệp xanh chính là chìa khóa
để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh, giữ vững thị phần và khẳng định uy tín bền vững trên thị trường toàn cầu.
Nông nghiệp xanh trong nuôi tôm là mô hình sản xuất hài hòa với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát rủi ro dịch bệnh và giảm thiểu phát thải. Thay cho cách làm chạy theo sản lượng, ngành tôm đang dịch chuyển sang tối ưu chất lượng - hiệu quả - bền vững lâu dài. Mô hình nuôi tôm xanh không chỉ giúp giảm rủi ro dịch bệnh và chi phí dài hạn, mà còn nâng cao tính ổn định của vùng nguyên liệu, yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Các giải pháp then chốt bao gồm: Giảm sử dụng kháng sinh, hóa chất, ưu tiên chế phẩm sinh học và quản lý dịch bệnh chủ động; ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến như nuôi nhiều giai đoạn, nuôi tuần hoàn (RAS), ao nổi, ao lót bạt, kiểm soát môi trường nước bằng cảm biến và dữ liệu số; tiết kiệm tài nguyên nước, năng lượng, tái sử dụng nước và giảm xả thải ra môi trường tự nhiên; liên kết chuỗi nuôi - chế biến - xuất khẩu, giúp truy xuất nguồn gốc rõ ràng, minh bạch và ổn định chất lượng. Nếu nuôi tôm là nền tảng, thì chế biến xanh chính là nơi gia tăng giá trị và thể hiện rõ cam kết phát triển bền vững của các doanh nghiệp tôm. Các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu đang từng bước chuyển đổi theo hướng tiết kiệm, nâng cao giá trị, giảm dấu chân carbon, thông qua các hành động
cụ thể, như: Tiết kiệm năng lượng, nước và nguyên liệu, áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn; xử lý nước thải đạt chuẩn cao, tái sử dụng phụ phẩm (vỏ tôm, đầu tôm) cho thức ăn chăn nuôi, phân bón, chitosan, collagen…; giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời áp mái; đảm bảo tiêu chuẩn lao động, an sinh xã hội, xây dựng môi trường làm việc nhân văn và bền vững.
Từ đây, ta có thể thấy, chế biến xanh không làm tăng chi phí một cách đơn thuần, mà ngược lại giúp doanh nghiệp tối ưu hiệu suất, nâng cao hình ảnh thương hiệu và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu từ thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và nhất là các hệ thống bán lẻ lớn.
Trong khi nhiều quốc gia cạnh tranh bằng quy mô và giá thấp như Ecuador, Ấn Độ, thì tôm Việt Nam có cơ hội đi theo con đường khác; cạnh tranh bằng chất lượng, sự tử tế và tính bền vững. Bởi nếu Việt Nam theo đuổi nông nghiệp xanh sẽ giúp ngành tôm: Vượt qua các rào cản kỹ thuật và môi trường ngày càng khắt khe; nâng cao giá trị gia tăng, không bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh giá; xây dựng niềm tin lâu dài với người tiêu dùng và nhà nhập khẩu quốc tế; bảo vệ sinh kế của người nuôi, ổn định vùng nguyên liệu và gìn giữ hệ sinh thái ven biển. Hay nói một cách khác, trong dài hạn, nông nghiệp xanh chính là nền tảng để ngành tôm Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm rủi ro chuỗi cung ứng và phát triển bền vững qua nhiều thế hệ.
Tóm lại, nông nghiệp xanh trong nuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu không phải là khẩu hiệu, mà là một quá trình chuyển đổi tư duy và mô hình phát triển. Đó là hành trình từ “làm nhiều” sang “làm đúng”, từ “ngắn hạn” sang “bền vững”, từ “chi phí thấp” sang “giá trị cao”. Với kinh nghiệm, sự linh hoạt và tinh thần đổi mới, ngành tôm Việt Nam hoàn toàn có thể biến nông nghiệp xanh thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi, góp phần khẳng định vị thế của con tôm Việt Nam trên bản đồ thủy sản thế giới, không chỉ hôm nay, mà cho nhiều năm về sau.
Xuân Trường - Bảo Hân
Hội Thủy sản Việt Nam
Đồng hành, kiến tạo giá trị xanh
Hội Thủy sản Việt Nam đã để lại nhiều dấu ấn thông qua các hoạt
động gắn với thực tiễn sản xuất, kết nối chủ thể và đồng hành cùng quá trình chuyển đổi của toàn ngành thủy sản.
Khẳng định vai trò
Ngành thủy sản Việt Nam vừa trải qua một năm nhiều thách thức khi phải đối mặt với biến đổi khí hậu, yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, chi phí sản xuất gia tăng và sức ép chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đặc biệt là Hội Thủy sản Việt Nam ngày càng được thể hiện rõ trong việc kết nối các chủ thể, phản ánh tiếng nói của ngành và đồng hành cùng quá trình thích ứng, tái cấu trúc. Không chỉ là tổ chức đại diện
quyền lợi hội viên, Hội Thủy sản Việt Nam đang từng bước khẳng định vai trò là cầu nối giữa quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, người sản xuất và nhà khoa học, góp phần hình thành những không gian đối thoại và hợp tác thiết thực cho sự phát triển của ngành.
Trong năm vừa qua, Hội Thủy sản Việt Nam triển khai nhiều hoạt động gắn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh, mở rộng các sáng kiến trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững. Việc phối hợp tổ chức Hội nghị về sản phẩm rong biển và lễ xuống giống rong biển tại vịnh Bến Bèo (Cát Bà, Hải Phòng) không chỉ góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi mà còn mở ra hướng đi mới trong việc gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ môi trường và hệ sinh thái. Cùng với các hoạt động trên, Hội tham gia triển khai mô hình hợp tác công – tư (PPP) trong chuỗi cá tra tại Đồng Tháp, hướng tới nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm phát thải và tăng tính minh bạch trong chuỗi giá trị. Những hoạt động này cho thấy Hội không đứng ngoài quá trình sản xuất mà đang từng bước đi cùng người nuôi và doanh nghiệp trong bối cảnh ngành phải thích ứng nhanh với những yêu cầu mới.
Không chỉ tập trung vào nuôi
trồng, năm 2025 Hội Thủy sản
Việt Nam còn ghi dấu ấn trong
việc thúc đẩy các mô hình hợp tác
công - tư nhằm cải thiện nghề khai thác thủy sản, tiêu biểu là Dự án cải thiện nghề lưới kéo tại Bà RịaVũng Tàu (nay là TP.HCM). Thông qua mô hình này, Hội cùng các
cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng ngư dân từng bước
cải thiện thực hành nghề cá theo hướng có trách nhiệm, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về
chống khai thác IUU. Việc kiểm
soát nguồn nguyên liệu theo hướng bền vững không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Sự tham gia sâu của Hội trong các mô hình PPP cho thấy tư duy phát triển bền vững đang được tiếp cận một cách toàn diện, xuyên suốt từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và tiêu thụ.
Song hành với các hoạt động chuyên môn, năm 2025 Hội Thủy
sản Việt Nam còn chú trọng
kiện toàn tổ chức, hoàn thiện
hệ thống quy chế và nâng cao
hiệu quả hoạt động của các ban
chuyên môn, đơn vị trực thuộc.
Việc sắp xếp, củng cố tổ chức
Hội ở Trung ương và địa phương
được xem là bước chuẩn bị quan
trọng để Hội nâng cao năng lực
hoạt động.
Hội cũng tiếp tục phát huy vai
trò đại diện, bảo vệ quyền lợi chính
đáng của hội viên và ngư dân; kịp
thời lên tiếng trước những vấn đề liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển; tích cực tuyên truyền, vận động hội viên
thực hiện các quy định về chống
khai thác IUU.
Kiến tạo nền tảng, phát triển
bền vững
Về định hướng hoạt động năm
2026, Hội Thủy sản Việt Nam sẽ
chú trọng vai trò kết nối khoa họccông nghệ - thị trường nhằm hỗ trợ
quá trình hiện đại hóa ngành.
Đặc biệt, Hội sẽ phối hợp với
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ
chức Triển lãm Quốc tế Khoa học
Công nghệ Thủy sản Việt Nam lần thứ I (VinaFIS Expo 2026) dự kiến diễn ra từ 28 - 30/4/2026.
Đây là triển lãm toàn diện đầu
tiên của ngành thủy sản Việt
Nam, bao quát toàn bộ chuỗi giá
trị từ khai thác, nuôi trồng đến
chế biến và dịch vụ hậu cần. Bên
cạnh hoạt động trưng bày, triển
lãm còn gắn với chuỗi sự kiện
chuyên môn và cộng đồng như hội thảo khoa học về thủy sản, lễ hội thả cá truyền thống và lễ trao giải “Chất lượng vàng thủy sản Việt Nam - VinaFIS Awards”.
Theo ông Nguyễn Chu Hồi, Phó
Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, năm 2026 sẽ là giai đoạn quan trọng để ngành thủy sản tiếp tục chuyển đổi theo hướng bền vững và có trách nhiệm hơn. Trong đó, Hội Thủy sản Việt Nam sẽ phát huy vai trò là điểm tựa xã hội - nghề nghiệp, đồng hành cùng người nuôi, ngư dân và doanh nghiệp trong quá trình thích ứng với những yêu cầu mới của thị trường và phát triển.
“Hội sẽ tập trung vào việc kết nối các nguồn lực, thúc đẩy hợp tác công - tư, ứng dụng khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường sinh thái, qua đó góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài của ngành thủy sản Việt Nam”, ông Hồi nhấn mạnh. Nhìn lại năm 2025, Hội Thủy sản Việt Nam đã hiện diện ngày càng rõ nét trong các chuyển động của ngành, từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến và thị trường. Những hoạt động gắn với thực tiễn sản xuất, cùng cách tiếp cận linh hoạt trong kết nối các chủ thể đã góp phần giúp ngành thủy sản thích ứng tốt hơn trước những yêu cầu mới của thị trường.
Bước sang năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, trong bối cảnh ngành thủy sản đứng trước những thách thức đan xen cơ hội, vai trò của Hội Thủy sản Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát huy theo hướng đồng hành sâu hơn với người nuôi, ngư dân và doanh nghiệp; là cầu nối hiệu quả giữa khoa học, quản lý và thị trường. Với nền tảng tổ chức ngày càng được củng cố và định hướng hoạt động rõ ràng, Hội Thủy sản Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong hành trình phát triển bền vững của ngành thủy sản nước nhà.
Ông Trần Đình Luân - Cục trưởng Cục
phát
tại họp báo công bố VinaFIS Expo 2026 tại Hà Nội
Triển lãm Quốc tế Khoa học Công nghệ Thủy sản Việt Nam lần thứ I năm 2026 (VinaFIS Expo 2026) là hội chợ triển lãm đầu tiên bao quát toàn ngành thủy sản.
Hội chợ đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững.
Triển lãm Quốc tế Khoa
học Công nghệ Thủy
sản Việt Nam lần thứ nhất - VinaFIS Expo 2026 diễn ra từ ngày 28 - 30/4/2026 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), TP Hồ Chí Minh.
Sự kiện quy tụ hơn 200 gian hàng trưng bày những sản phẩm, công nghệ mới và dịch vụ trong nhiều lĩnh vực như nuôi trồng, khai thác, chế biến, giống, thức ăn, chế phẩm sinh
học, logistics, thương mại, hậu cần nghề cá…
VinaFIS Expo 2026 mở ra cơ
hội giao lưu kết nối toàn diện khi
nhận được sự ủng hộ của đông đảo doanh nghiệp trong nước và nhiều quốc gia trong khu vực như: Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Bên cạnh gian hàng triển lãm,
VinaFIS Expo 2026 sẽ diễn ra
chương trình Hội thảo khoa học
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá, VinaFIS Expo 2026 không chỉ là nơi
quốc tế bao gồm 05 phiên. Trong
đó, phiên chính với chủ đề “Hợp tác phát triển thủy sản trong kỷ
nguyên vươn mình” do Cục Thủy
sản và Kiểm ngư cùng Hội Thủy
sản Việt Nam đồng chủ trì; Phiên thứ hai: “Nuôi biển Việt Nam -
Cơ hội và thách thức” do Hội
Thủy sản Việt Nam và Hiệp hội
Nuôi biển Việt Nam đồng chủ trì; Phiên thứ ba “Chương trình cải
tiến nghề cá (FIP)” do Hội Thủy
sản Việt Nam và Hiệp hội Cá ngừ
Việt Nam đồng chủ trì; Phiên thứ tư: “Dinh dưỡng trong nuôi trồng
thủy sản” do Hội Thủy sản Việt
Nam và Hội đồng Xuất khẩu Đậu
nành Hoa Kỳ (USSEC) đồng chủ trì; Và phiên cuối với chủ đề “Giải
pháp số cho phát triển ngành
thủy sản” do Hội Thủy sản Việt Nam, NAVCAST Inc (Canada), Viện An toàn thực phẩm & Dinh
dưỡng cùng Viện Giải pháp kỹ thuật nông nghiệp bền vững đồng chủ trì. Không chỉ đơn thuần là một Hội chợ Triển lãm, VinaFIS Expo 2026 còn lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống của ngành thủy sản Việt Nam với Lễ thả cá tái tạo nguồn lợi. Ban Tổ chức mong muốn thông qua hoạt động này để lan tỏa thông điệp bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển ngành nghề thân thiện với môi trường.
Ngoài ra, trong chuỗi sự kiện nổi bật của Triển lãm, Lễ trao giải VinaFIS Awards được kết hợp tổ chức vào đêm Gala Dinner nhằm vinh danh những thành tích nổi bật của doanh nghiệp trong lao động, sản xuất, chế biến cùng các sáng kiến đổi mới.
Điểm đặc biệt của VinaFIS Expo 2026 là sự xuất hiện các giải pháp số hóa và môi trường tương tác trực tuyến. Gian hàng kỹ thuật số E-VinaFIS Booth cho phép tương tác linh hoạt giữa doanh nghiệp, chuyên gia và khách tham quan, phản ánh xu hướng chuyển đổi số đang ngày càng rõ nét trong hoạt động thương mại và kỹ thuật của ngành thủy sản. Khi công nghệ làm thay đổi phương thức sản xuất, chế biến và kết nối thị trường, ngành thủy sản Việt Nam cũng bước vào giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ. Trong dòng chảy ấy, VinaFIS Expo 2026 sẽ là điểm hẹn kết nối ý tưởng, chuyển giao công nghệ, mở ra cơ hội hợp tác, vươn tới tương lai bền vững.
Trường Sa
GIỮ NIỀMTRỌN TIN NƠI TUYẾN ĐẦU
BIỂN ĐẢO
Trường Sa - giữa muôn trùng sóng gió, vẫn sừng sững như một biểu
tượng thiêng liêng của chủ quyền và ý chí Việt Nam. Nơi ấy, từng tấc đảo, từng con sóng đều in dấu chân những người lính
biển kiên cường, ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc bằng niềm tin sắt son và tinh thần không lùi bước. Trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, họ vẫn vững vàng nơi tuyến đầu, lặng thầm cống hiến.
Giữa đại dương bao la, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đảo không chỉ là dấu mốc chủ quyền, mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, của khát vọng hòa bình và ý chí vươn xa của dân tộc Việt Nam.
Trong ấn phẩm Xuân 2026, Tạp chí Thủy sản Việt Nam trân trọng gửi đến bạn đọc những lát cắt chân thực và giàu cảm xúc về Trường Sa, nơi cuộc sống vẫn bền bỉ sinh sôi giữa trùng khơi, nơi con người gắn bó với biển bằng tình yêu, niềm tự hào và khát vọng dựng xây tương lai bền vững cho biển đảo quê hương.
Đăng Kiên
Cán bộ, chiến sĩ trên đảo duy trì học tập, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn
Giữ vị thế cho tôm Việt trên đất Mỹ
Thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng
khoảng 20% tổng giá trị kim
ngạch xuất khẩu tôm hàng năm
của Việt Nam, đưa nước ta trở
thành 1 trong 3 quốc gia xuất
khẩu tôm nước ấm lớn nhất vào
thị trường này. Vì vậy, việc duy trì
và nâng cao vị thế con tôm Việt
Nam trên đất Mỹ là rất quan trọng
trong chiến lược phát triển bền
vững của ngành tôm Việt Nam.
Rủi ro là hiện hữu
Theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT
Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, những
rủi ro đối với con tôm Việt Nam ở thị trường
Mỹ là hiện hữu và không khó để nhận diện.
Thứ nhất là việc tăng tần suất kiểm tra hàng hóa từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), gây khó khăn trong kế hoạch tiêu thụ do không xác định lô hàng sẽ bị lưu kho bao lâu vì FDA kiểm tra không xác định hạn giải phóng lô hàng. Thứ hai là các sắc thuế có thể biến động không thể lường trước, gây khó cho việc tính toán hiệu quả kinh doanh, mà điển hình gần đây nhất là thuế chống bán phá giá (AD) và thuế đối ứng. Thứ ba là cạnh tranh về sản lượng và giá rẻ từ tôm Ecuador và Ấn Độ. Thuế đối ứng đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ; trong đó có con tôm hiện là 20%. Nhưng thực ra mức thuế này cao thấp chưa nói lên tất cả, cái quan tâm hơn là so sánh mức thuế cùng mặt hàng với các đối thủ lớn. Hiện giờ mức thuế tôm của Ấn
Độ (chiếm gần 40% lượng tôm nhập vào Mỹ) là 50%, nên rõ ràng là lợi thế cho tôm Việt Nam vẫn còn. Điều đáng lo nhất chính là thuế AD với mức phán quyết sơ bộ đối với tôm Việt Nam lên đến 35,29%, cao hơn rất nhiều so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Tất nhiên, thuế AD đối với tôm Việt Nam ở mức nào sẽ phải còn chờ phán quyết cuối cùng của Bộ Thương mại Mỹ (DOC), dự kiến diễn ra vào ngày 16/2 tới.
Liên quan đến mức thuế AD, ông Hồ Quốc Lực có chút lạc quan cho rằng, DOC sẽ không “đánh” mạnh tôm Việt Nam vì họ đã mất nguồn cung tôm lớn nhất từ Ấn Độ, không thể gây thêm biến động nguồn cung tôm cho họ.
“Trước mắt thì mình cứ tạm tin vậy đi, để thêm chút năng lượng tích cực, thêm lạc quan cho kế hoạch năm 2026 cũng như đón Tết. Còn nếu tình huống mức thuế này cao, các doanh nghiệp tôm ta sẽ tiếp tục khiếu kiện và hành trình này bỏ ngỏ điểm
các hãng luật tư vấn!”, ông Hồ Quốc Lực pha chút hài hước.
Tâm lý chung hiện nay của doanh nghiệp là khá tự tin, bởi theo họ, rủi ro ở thị trường Mỹ là hiện hữu nhưng ở mức có thể quản trị, kiểm soát vì ngành tôm Việt đã có kinh nghiệm nhiều năm với vụ kiện này. Mặt khác, Mỹ đang áp thuế mạnh lên tôm Ấn Độ khiến họ không muốn “đóng” thêm một nguồn cung lớn nữa sẽ gây thiếu hụt so nhu cầu nội tại.
Vị thế ở lợi thế
Để giữ vững vị thế cho con tôm Việt Nam tại
thị trường Mỹ, ông Võ Văn Phục – Tổng giám
đốc Công ty Cổ phần Thủy sản sạch Việt Nam (Vinacleanfood) cho rằng:
“Việc này, các doanh nghiệp đã chuẩn bị từ lâu, đó là tập trung bán mạnh vào phân khúc
thị phần cao cấp và các sản phẩm tôm không
bị thuế AD và VCD (thuế chống trợ cấp) tác
động như tôm bao bột, tôm chiên, tôm phối
chế... vốn là lợi thế của các doanh nghiệp tôm Việt Nam. Ngoài ra, Vinacleanfood cũng đã
có sự chuẩn bị nguồn nguyên liệu tôm nuôi
đạt các tiêu chí của chuỗi cung ứng toàn cầu
để không bị động thị trường”.
Về phần mình, ông Hồ Quốc Lực lưu ý: “Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược hoạt
động theo hướng bền vững để tăng lợi thế, sức cạnh tranh. Thứ hai là hoạch định sách
lược thị trường linh hoạt, dự phòng rủi ro ở bất cứ thị trường nào, nhất là Mỹ. Thứ ba là luôn coi trọng việc truy xuất nguồn gốc, các quy chế như: lao động, môi trường, giảm phát thải và giải pháp cân bằng phát thải”.
Liên quan đến lợi thế hàng giá trị gia tăng, theo ông Lực, trình độ chế biến của các doanh nghiệp ngành tôm Việt Nam hiện thuộc hàng “chiếu trên” so với nhiều nước sản xuất tôm lớn trên thế giới.
“Đơn cử như thị trường Nhật Bản luôn có giá khá tốt, nhưng sản phẩm đòi hỏi phải có sự tỉ mỉ cao trong quá trình chế biến, nên muốn bán được hàng vào thị trường này, ngoài việc đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm ra, sản phẩm có phải có tính thẩm mỹ cao, mà điều này thì Sao Ta và nhiều doanh nghiệp Việt Nam khác rất lợi thế nhờ trình độ tay nghề chế biến của công nhân
Việt Nam rất khéo léo”, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta phân tích. Các phân khúc thị trường cao cấp tại EU, Mỹ hay Nhật Bản đều có được giá tốt và ổn định, nhưng theo các doanh nghiệp, ngoài Việt Nam và Thái Lan, hiện có rất ít quốc gia đáp ứng được yêu cầu từ các thị trường này. Chính từ lợi thế trên, nên có những thời điểm giá tôm thế giới xuống thấp, người nuôi tôm một số nước thua lỗ, nhưng toàn ngành tôm Việt Nam vẫn vượt qua, doanh nghiệp và người nuôi tôm vẫn bảo toàn được nguồn vốn, một số có lãi.
Chia sẻ thêm về vấn đề này, ông Võ Văn
Phục cho biết: “Nhu cầu tiêu dùng thế giới ngày càng cao, buộc các nhà máy chế biến phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu. Đối với Vinacleanfood, ngay từ ngày đầu mới thành lập chúng tôi đã xác định hướng đi chủ lực là sản phẩm chế biến có hàm lượng giá trị gia tăng cao và an toàn vệ sinh thực phẩm. Chính nhờ hướng đi đúng đắn này mà hiện nay sản phẩm của Vinacleanfood đã có mặt tại hầu hết thị trường khó tính như: EU, Nhật Bản, Mỹ và cả siêu thị của Hàn Quốc”.
Còn đó khoảng trống cơ hội Nói đi cũng cần nói lại, không chỉ có con tôm Việt Nam gặp khó trên đất Mỹ mà các đối thủ lớn khác cũng gặp phải những khó khăn nhất định. Đơn cử như Ấn Độ, nhà cung cấp tôm lớn nhất cho Mỹ, đang chịu tổng mức thuế đối ứng, thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp lên tới 58,26%. Indonesia gặp sự cố hàng loạt container tôm bị trả về vì lý do kỹ thuật, khiến chuỗi cung ứng đứt đoạn và nhiều nhà máy rơi vào tình trạng đình trệ. Ecuador được hưởng mức thuế đối ứng thấp hơn, nhưng đặc điểm sản phẩm chủ lực là tôm nguyên con khiến nước này khó mở rộng thị phần tại Mỹ. Những diễn biến này tạo ra khoảng trống nguồn cung nhất định. Tuy nhiên, cơ hội dành cho Việt Nam chỉ trở nên rõ ràng nếu kết quả thuế POR19 ở mức hợp lý và doanh nghiệp đáp ứng tốt các yêu cầu tuân thủ mới.
Trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng siết chặt, việc chủ động chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch hồ sơ và nâng cao quản trị tuân thủ được coi là giải pháp thiết yếu giúp doanh nghiệp giảm rủi ro pháp lý, duy trì niềm tin với nhà nhập khẩu và tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài. Việc chuẩn hóa dữ liệu phục vụ các kỳ rà soát thuế, xây dựng hệ thống truy xuất đồng bộ và nâng cao tính minh bạch trong giao dịch là rất quan trọng. Việc tối ưu danh mục sản phẩm theo hướng tập trung vào các mặt hàng ít chịu thuế chống bán phá giá cũng là giải pháp giúp duy trì dòng xuất khẩu trong bối cảnh biến động. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cũng sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào Mỹ và phân tán rủi ro thuế quan.
Thị trường Mỹ đang bước vào giai đoạn siết chặt phòng vệ thương mại trên diện rộng, tác động mạnh đến các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, trong đó có tôm. Vì vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị tốt hệ thống dữ liệu, kiểm soát rủi ro và minh bạch thông tin sẽ có cơ hội giữ vững thị trường và tận dụng những khoảng trống từ biến động nguồn cung quốc tế. Khi đó, vị thế con tôm Việt Nam trên đất Mỹ không những được giữ vững mà còn có cơ hội nâng cao hơn nữa.
Kiên định giá trị cốt lõi
Đồng hành cùng
người nuôi tôm
trên hành trình phát triển bền vững
Trong không khí rộn ràng chào
đón Xuân mới 2026, Grobest
Việt Nam trân trọng gửi đến Quý
Đại lý, Quý Đối tác và cộng đồng
người nuôi tôm trên khắp cả
nước lời chúc an khang – thịnh
vượng – một năm sản xuất ổn
định, hiệu quả và bền vững.
Năm vừa qua, ngành nuôi trồng
thủy sản tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức khi thị trường tiêu thụ, chi phí đầu vào và điều kiện môi trường nuôi không ngừng biến động.
Trong bối cảnh đó, sự tin tưởng và đồng hành bền bỉ của Quý Đại lý, Đối tác và Người nuôi chính là nền tảng quan trọng để Grobest kiên định với định hướng phát triển dài hạn, tiếp tục duy trì và nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cũng như năng lực hỗ trợ kỹ thuật, phục vụ người nuôi ngày càng hiệu quả hơn.
Kiên định giá trị cốt lõi - Nền tảng cho phát triển dài hạn Với hơn 50 năm hình thành và phát triển trong lĩnh vực thức ăn thủy sản và giải pháp dinh dưỡng, Grobest xác định chất lượng sản phẩm và sự đồng hành lâu dài cùng người nuôi là giá trị cốt lõi xuyên suốt mọi hoạt
động. Những giá trị đó đã làm nên thương hiệu Grobest trong nhiều thập kỷ qua. Chuẩn chất lượng - Tận tâm - Đồng hành
Trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản ngày càng đặt ra yêu cầu cao về ổn định và kiểm soát rủi ro, thức ăn không chỉ là một yếu tố đầu vào, mà gắn liền với định hướng sản xuất và hiệu quả dài hạn của nhiều vụ nuôi. Trên nền tảng đó, Grobest kiên trì theo đuổi định hướng phát triển bền vững dựa trên chất lượng, thông qua việc duy trì và từng bước nâng cao các chuẩn mực về chất lượng, quản lý và vận hành, phù hợp với thực tiễn nuôi trồng tại Việt Nam.
Định hướng quản trị thống nhất từ Tập Đoàn Grobest
Hoàn thiện vận hành tại Việt Nam - Tiếp tục nâng cao nền tảng phát triển bền vững Trên cơ sở định hướng chung của Tập đoàn, Grobest tại Việt Nam đã hoàn thiện tổ chức và chuẩn hóa hệ thống vận hành, song song với việc tiếp tục nâng cao các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Các nội dung trọng tâm tập trung vào: - Duy trì sự ổn định và nhất quán trong chất lượng sản phẩm.
Các hoạt động của Grobest tại Việt Nam được triển khai theo định hướng chiến lược thống nhất từ Grobest tại Đài Loan - nơi đặt nền móng và xây dựng thương hiệu Grobest trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Việc thống nhất định hướng quản trị ở cấp Tập đoàn giúp tăng cường tính nhất quán trong chiến lược và tiêu chuẩn chất lượng, đó là nền tảng để hệ thống Grobest vận hành ổn định và phát triển bền vững tại các thị trường, trong đó có Việt Nam.
1-2.2026
- Củng cố quy trình kiểm soát, từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm.
- Tăng cường vai trò và hiện diện của đội ngũ kỹ thuật, gắn sát thực tế ao nuôi, phối hợp chặt chẽ cùng đại lý và người nuôi.
Những định hướng này tiếp tục phát huy nền tảng đã được xây dựng, hướng tới nâng cao hiệu quả vận hành và duy trì sự ổn định dài hạn, phù hợp với định hướng phát triển chung của ngành tôm.
Nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm - Nâng tầm dinh dưỡng, đồng hành hiệu quả cùng vụ nuôi
Bước sang vụ tôm năm mới 2026, Grobest tiếp tục khẳng định cam kết đồng hành thông qua việc nâng cao tiêu chuẩn chất lượng tất cả các dòng sản phẩm thức ăn, mang đến giải pháp dinh dưỡng cải tiến, hỗ trợ người nuôi tối ưu hiệu quả sản xuất trong điều kiện môi trường ngày càng biến động.
Các cải tiến tập trung hướng đến:
- Tôm tăng trưởng tốt, size đồng đều, góp phần rút ngắn thời gian nuôi.
- Tối ưu hiệu quả chuyển đổi thức ăn (FCR), giảm chi phí trên mỗi kg tôm thương phẩm.
- Hỗ trợ sức khỏe tôm và quá trình lột xác, nâng cao tỷ lệ sống.
- Viên thức ăn bền, ổn định, hạn chế hao hụt, giữ dinh dưỡng tốt hơn trong nước.
- Phù hợp với nhiều mô hình nuôi, đặc biệt là mô hình nuôi mật độ cao. Với nền tảng quản lý - vận hành được củng cố cùng các giải pháp dinh dưỡng tiếp tục được hoàn thiện, Grobest sẵn sàng đồng hành cùng Quý Đại lý và Người nuôi bước vào vụ mùa 2026 với tâm thế chủ động, hiệu quả và bền vững.
Nhân dịp Xuân mới 2026, Grobest Việt
Nam trân trọng cảm ơn Quý Đại lý, Người nuôi và Đối tác đã luôn tin tưởng, đồng hành và hợp tác. Chúng tôi cam kết tiếp tục sát cánh cùng bà con nuôi tôm Việt
Nam trên hành trình phát triển ổn địnhhiệu quả - bền vững.
Cá tra “trở mình”
với yêu cầu chuyển đổi số
Năm 2025, ngành hàng cá tra vượt qua nhiều biến
động về chính trị, thương mại, thuế quan toàn cầu
để “trở mình” khá ngoạn mục, xuất khẩu đạt 2,193 tỷ USD. Sang năm 2026, trước làn sóng chuyển đổi số, ngành cần nhanh chóng thích ứng để định vị giá trị ở tầm cao mới, phát huy lợi thế cạnh tranh.
Chế biến xuất khẩu
Năm 2025, kế hoạch xuất khẩu cá tra là 2 tỷ USD nhưng kết quả đạt trên 2,1 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2024, tiếp tục duy trì vai trò chiến lược trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thủy sản.
Kết quả trên cho thấy, cá tra vẫn giữ được
đà tăng trưởng trong bối cảnh thị trường quốc tế nhiều biến động. Riêng tháng 12/2025, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 200 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2024 – mức tăng đáng ghi nhận trong tháng cuối năm, phản ánh nhu cầu nhập khẩu phục vụ tiêu dùng và dự trữ tại các thị trường chính (Trung Quốc, khối CPTPP, Mỹ, EU, Brazil).
Sang năm 2026, nhiều quốc gia giảm sản lượng khai thác cá thịt trắng từ tự nhiên, khoảng 145.000 tấn so với năm 2025 và các nhà nhập khẩu ở EU, Bắc Mỹ sẽ tìm nguồn thay thế. Đây là cơ hội cho cá tra Việt Nam. Tuy nhiên, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhấn mạnh, thị trường EU không hạ thấp tiêu chuẩn mà vẫn yêu cầu các quy định là những điều kiện tiên quyết cho bất kỳ sản phẩm thay thế nào về bền vững, truy xuất, giảm phát thải. Thị trường Mỹ có thách thức pháp lý POR 22 (1/8/2024-31/7/2025), dự báo sẽ là kỳ xem xét khắc nghiệt cho doanh nghiệp Việt Nam. Với thị trường Trung Quốc cần ngăn chặn khủng hoảng truyền thông. Để khai thác tốt cơ hội, hàng đầu vẫn là củng cố và hoàn thiện các chứng nhận bền vững (ASC, BAP...) để đáp ứng yêu cầu thị truờng, tăng sản phẩm chế biến.
Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, còn có tình trạng lạm dụng phụ gia dẫn đến giảm uy tín sản phẩm tại một số thị trường.
Cụ thể, năm 2025 có 24 lô hàng bị cảnh báo hóa chất, kháng sinh.
Chính vì lẽ đó, cục đề xuất “Thiết lập chuỗi sản xuất, chế biến, xuất khẩu
đáp ứng quy định thị trường; chú trọng điều kiện cơ sở sản xuất ban
đầu, tiêu chuẩn nguyên liệu, kiểm tra, giám sát các cơ sở chế biến đảm
bảo an toàn thực phẩm”.
Yêu cầu hiện nay, doanh nghiệp
thủy sản cần chuyển sang quản trị số, áp dụng ERP, hệ thống truy xuất, SCM để tối ưu hoạt động, mở rộng thị trường một cách bền vững.
Sản xuất giống và nuôi
Theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam, giá cá giống tăng từ tháng 7 và đến cuối năm đã lên 55.000 – 58.000 đồng/kg, loại 30 con/kg, gấp 210220% so với đầu năm 2025. Còn cá nguyên liêu cuối năm 2025 có xu hướng giảm, loại trên 1kg/con chỉ còn 19.500 – 19.700 đồng/ kg. Cùng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm tăng bệnh dịch, chất lượng nguồn nước kém (các tỉnh đầu nguồn mực nước thấp, các tỉnh giáp biển bị xâm nhập mặn) khiến nhu cầu sử dụng thuốc phòng trị bệnh tăng, làm tăng chi phí. Thực trạng đó đẩy giá thành sản xuất cá tra lên 1,2-1,3 USD/kg (trước đây chỉ 1 USD/kg), cao hơn cá Alaska Pollock, sức cạnh tranh giảm và người nuôi cá gặp nhiều khó khăn. Dù vậy, nghề nuôi cá tra vẫn giữ vững nhờ ứng dụng công nghệ số vào quá trình sản xuất để cải thiện năng suất, hiệu quả.
Sang năm mới, Hiệp hội Cá tra Việt Nam kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các cơ quan chuyên ngành đảm bảo sản xuất con giống đạt tiêu chuẩn để xây dựng chuỗi cung ứng phục vụ tốt yêu cầu xuất khẩu. Thực tế hiện nay, cá giống tăng giá kỷ lục nhưng chất lượng vẫn kém, tỷ lệ sống thấp, dễ bị bệnh không theo mùa vụ như trước.
Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, nuôi cá tra đã tích cực ứng dụng công nghệ số. Một số trang trại ứng dụng công nghệ IoT kiểm soát môi trường nước ao nuôi cho phép giám sát các chỉ tiêu (nhiệt độ, pH, ôxy hòa tan, độ mặn…) 24/7 qua điện thoại thông minh, giúp người nuôi quản lý ao mọi lúc mọi nơi, chủ động xử lý thích hợp.
Hiệp hội Cá tra Việt Nam đã cập nhật thông tin của 300 vùng nuôi cá tra (1.805 ao nuôi, diện tích khoảng 1.800 ha) tại 6 tỉnh thành trên hệ thống E-MAP, để tra cứu vị trí ao nuôi,
diện tích, sản lượng, tình trạng chứng nhận và dự báo sản lượng. Tuy nhiên, chất lượng ứng dụng công nghệ số chưa đồng đều và diện tích còn ít so với tổng diện tích nuôi. Thị trường đang đòi hỏi nền tảng truy xuất nguồn gốc minh bạch, người nuôi cá tra phải là “nông dân số”, làm chủ công nghệ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Năm đẩy mạnh chuyển đổi số
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, năm 2026, thị trường thế giới tiếp tục có những biến động và đó là thách thức cũng là phép thử, thời cơ để tái định vị lại ngành hàng cá tra bằng việc nâng cao chất lượng và uy tín. Chuyển đổi số và minh bạch chuỗi giá trị là yêu cầu bức thiết. Doanh nghiệp cần hướng tới tăng sản phẩm chế biến, đảm bảo an toàn thực phẩm, thay thế phân khúc giá rẻ. Trang trại tập trung nâng cấp vùng nuôi, đảm bảo chứng nhận nguyên liệu đáp ứng yêu cầu thị trường. Nghiên cứu, sản xuất và quản lý giống là ưu tiên hàng đầu, gắn nghiên cứu với sản xuất để chuyển nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Triển khai đầu tư trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 với cơ sở hạ tầng vùng sản xuất giống, vùng nuôi tập trung ở Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tây Ninh.
Đặc biệt, chuyển đổi số tập trung vào các phần mềm về quản lý vùng nuôi đảm bảo kết nối đồng bộ hệ thống để giám sát hiệu quả, nâng cao giá trị và uy tín sản phẩm. Ưu tiên phát triển nuôi tuần hoàn, công nghệ cao, ít thay nước, tái sử dụng phụ phẩm, coi đây là con đường phát triển tất yếu. Doanh nghiệp mạnh mẽ chuyển đổi số để mở rộng thị trường và cá thể hóa sản phẩm theo nhu cầu khách hàng.
Cục Chuyển đổi số nhấn mạnh, chuyển đổi số là giải pháp cốt lõi để sản phẩm vượt các rào cản, tối ưu hóa chi phí, nâng cao hiệu quả và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường. Trong bối cảnh yêu cầu về an toàn thực phẩm và phát triển bền vững ngày càng cao, chuyển đổi số không còn là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để ngành cá tra nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị, hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Rừng ngập mặn
“Vườn ươm” sinh vật biển, lá phổi xanh cho tương lai
Rừng ngập mặn đóng vai trò như “lá phổi xanh” của vùng ven biển, hấp thu lượng lớn CO 2 , qua đó góp phần quan trọng vào nỗ lực giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu. Không những thế, hệ sinh thái rừng ngập mặn còn là nơi ương dưỡng tự nhiên cho nhiều loài thủy sinh vật, cung cấp nguồn thức ăn, nơi trú ẩn và môi trường sinh sản thiết yếu.
Theo các tài liệu tổng hợp thì năm 1940, diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam khoảng 400.000 ha đã suy giảm chỉ còn khoảng 150.000 - 155.000 ha vào đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, một số báo cáo gần đây cho thấy hiện nay có khoảng 200.000 ha rừng ngập mặn trên toàn quốc và được phân bố tại 28 tỉnh, thành ven biển; trong đó tập trung chủ yếu ở ven biển Nam Bộ, ven biển Đông Bắc (chủ yếu Quảng Ninh) và ven biển Đồng bằng sông Hồng/Đồng bằng Bắc Bộ.
Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn. Nền tảng pháp lý gồm Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Bảo vệ môi
trường 2020, theo đó rừng ngập mặn được xác định là hệ sinh thái quan trọng, cần ưu tiên bảo tồn và phục hồi. Luật Lâm nghiệp cho phép phân loại rừng ngập mặn là rừng
đặc dụng hoặc phòng hộ ven biển tùy mục tiêu quản lý, đồng thời đặt ra nguyên tắc bảo vệ - phục hồi - sử dụng bền vững và phân định trách nhiệm giữa Nhà nước, địa phương
và cộng đồng. Luật Bảo vệ môi trường nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nhạy cảm và thẩm định/đánh giá tác động môi trường chặt chẽ đối với các dự án nằm trong hoặc gần khu vực rừng ngập mặn.
Trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn, đặc biệt Nghị định 156/2018/NĐ-CP, quy định cụ thể về quản lý rừng phòng hộ ven biển, phục hồi rừng suy thoái, cùng tiêu chí và cơ chế giao đất/giao rừng gắn với trách nhiệm bảo vệ của cộng đồng và các tổ chức liên quan. Song song với khung luật, Nhà nước triển khai các chương trình quy mô lớn như Chương trình 661 (trồng mới và phục hồi 5 triệu ha rừng) và
Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (2016 - 2020; 2021 - 2025) nhằm gia tăng diện tích, nâng chất lượng rừng và cải thiện năng lực quản trị.
Trong các chiến lược về biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học (Chiến lược quốc gia về
BĐKH 2021; Chiến lược đa dạng sinh học đến 2030, tầm nhìn 2050), rừng ngập mặn được nhìn nhận vừa là bể hấp thụ carbon, vừa là tuyến phòng hộ tự nhiên trước xói lở, bão và
triều cường. Các chính sách về phòng, chống thiên tai và nước biển dâng, đặc biệt Nghị quyết 120/NQ-CP (2017) về phát triển bền vững ĐBSCL và Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai 2021 - 2030, tiếp tục nhấn mạnh vai trò phòng hộ của rừng ngập mặn và khuyến khích các mô hình sinh kế ít làm suy giảm rừng như tôm - rừng bền vững. Ở cấp quốc tế, Việt Nam tham gia các cơ chế như REDD+ và cam kết Net-Zero 2050, trong đó rừng ngập mặn là một hợp phần quan trọng của chiến lược giảm phát thải và tăng hấp thụ carbon dài hạn. Tuy vậy, dù hệ thống luật, nghị định và các chính sách đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn, xu hướng suy giảm rừng ở nhiều địa phương vẫn chưa được chặn.
Các thống kê và nghiên cứu gần đây cho thấy giai đoạn 1980 - 2000 là thời kỳ suy giảm tương đối nhiều. Giai đoạn này đa số rừng ngập mặn bị chuyển đổi chủ yếu sang nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, đô thị hóa và du lịch ven biển. Ở một số vùng, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long mức suy giảm diễn ra mạnh từ cuối thập niên 1980 đến đầu những năm 2000; trong đó các tỉnh như Sóc Trăng (cũ) và Bạc Liêu (cũ) là những địa bàn chịu tác động đáng kể. Tuy nhiên, kể từ đầu thế kỷ XXI, đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi cục bộ: các chương trình trồng mới, phục hồi rừng tái sinh và các can thiệp quản lý đã góp phần làm chậm lại tốc độ suy thoái ở một số nơi. Dù vậy, xét trên bình diện tổng thể, diện tích rừng ngập mặn hiện nay vẫn thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước khoảng năm 1995.
Nếu so sánh giữa việc chuyển đổi rừng ngập mặn sang các mô hình kinh tế như hiện nay và duy trì quản lý tốt hệ sinh thái rừng ngập mặn thì:
Chuyển đổi rừng ngập mặn sang nuôi tôm thường tạo dòng thu nhập trước mắt, nhưng kéo theo chi phí môi trường đáng kể. Khi rừng bị suy giảm, các chức năng sinh thái như lọc nước, giữ bùn và ổn định nền đáy và đồng hóa/giảm tải chất hữu cơ bị suy yếu; vì vậy hệ thống ao nuôi dễ rơi vào trạng thái tích tụ ô nhiễm, gia tăng rủi ro dịch bệnh và suy giảm năng suất sau một số chu kỳ sản xuất. Đồng thời, mất rừng làm tăng xói lở bờ biển, suy giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản, đồng thời làm suy giảm năng lực hấp thụ và lưu trữ carbon của hệ sinh thái rừng ngập mặn, qua đó làm giảm khả năng chống chịu của vùng ven biển trước biến đổi khí hậu.
Ngược lại, bảo vệ và quản lý bền vững rừng ngập mặn giúp duy trì nền tảng sinh thái cho vùng ven biển và sinh kế địa phương. Rừng ngập mặn là nơi cư trú và ương dưỡng của nhiều loài thủy sinh, góp phần duy trì quần thể đàn cá, giáp xác tự nhiên, từ đó bổ trợ nguồn lợi thủy sản và an ninh sinh kế. Hệ thống rễ dày đặc góp phần giảm năng lượng sóng, ổn định bờ, giữ trầm tích và cải thiện chất lượng nước, tạo điều kiện cho các mô hình sinh kế thích ứng như tôm - rừng (kết hợp bảo tồn và sản xuất). Đặc biệt, rừng ngập mặn thuộc nhóm hệ sinh thái có hiệu suất hấp thụ và lưu trữ carbon cao, nên có vai trò quan trọng trong chiến lược giảm phát thải và thích ứng dài hạn của cộng đồng ven biển.
Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào phát triển nuôi trồng thủy sản mà vẫn duy trì được hệ sinh thái rừng ngập mặn?
Để trả lời câu hỏi này, cần xem xét đồng thời ba nhóm đối tượng/quá trình có quan hệ tương tác trực tiếp trong vùng ven biển: (i) rừng ngập mặn đóng vai trò “vườn ươm” của sinh vật biển, cung cấp dịch vụ hệ sinh thái quan trọng và là bể hấp thụ carbon (blue carbon); (ii) vùng nuôi tôm/nuôi thủy sản tạo giá trị kinh tế, đóng góp việc làm và sinh kế cho cư dân ven biển; (iii) phát triển đô thị ven biển tạo động lực tăng trưởng nhưng cũng dễ phát sinh xung đột sử dụng đất và gây áp lực lên môi trường.
Về yêu cầu sinh thái - hạ tầng, rừng ngập mặn cần chế độ thủy triều ra vào và trao đổi nước tự nhiên để duy trì độ mặn, bùn đáy và chu trình vật chất; nếu dòng chảy bị bít tắc hoặc nước bị tù đọng kéo dài, hệ rừng có nguy cơ suy thoái. Vùng nuôi tôm lại đòi hỏi nguồn nước đầu vào đủ sạch và khả năng kiểm soát chất lượng nước trong ao/đầm; còn vùng trồng rong biển cần chủ động nguồn dinh dưỡng hữu cơ ở mức phù hợp. Khu đô thị ven biển yêu cầu nền đất ổn định, điều kiện thoát nước tốt, nhưng lấn chiếm các không gian sinh thái nhạy cảm và đất sản xuất.
Trên cơ sở đó, có thể định hướng phân vùng không gian theo vùng triều nhằm giảm xung đột và tối ưu hóa chức năng sinh thái - kinh tế: 1) vùng hạ triều và trung triều ưu tiên cho phát triển/phục hồi rừng ngập mặn; 2) vùng cao triều thấp và trung triều cao phù hợp cho trồng rong biển kết hợp nuôi tôm quảng canh sinh thái (mô hình nuôi thân thiện gắn với rừng ngập mặn, ví dụ tôm - rừng); 3) vùng cao triều cao và trên triều phù hợp hơn cho nuôi tôm, cá theo hình thức thâm canh và hình thức công nghiệp, thuận lợi cho việc kiểm soát nước thải, chất thải và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Vì nuôi thủy sản thực chất là “nuôi nước”, quy hoạch cần dựa trên hai nhóm chỉ tiêu cốt lõi: (1) sức tải môi trường/sức chứa sinh học của hệ thống theo một đơn vị thể tích nước; (2) nhu cầu nước và diện tích để hình thành
vùng sản xuất tập trung gắn với chuỗi giá trị. Chẳng hạn, theo ước tính, để sản xuất 1 kg
tôm cần khoảng 3,5 - 4 m³ nước và năng suất thâm canh có thể đạt khoảng 20 tấn/ha. Nếu các giả định này được đáp ứng trong
thâm canh có thể tạo sản lượng tương đương với diện tích rất lớn nuôi quảng canh/cải tiến; hàm ý rằng tăng năng suất trên đơn vị diện tích (đi kèm kiểm soát môi trường) có thể góp phần giảm áp lực chuyển đổi thêm đất rừng. Đối với đô thị ven biển, phát triển là cần thiết nhưng nên ưu tiên các vị trí ít nhạy cảm sinh thái (ví dụ các vùng đồi, nền đất ổn định, hoặc khu vực đã được quy hoạch phù hợp), nhằm giảm xung đột với rừng ngập mặn và các ngành kinh tế khác.
Từ các phân tích trên, có thể đặt vấn đề, đã đến lúc cần định hình một khung quy hoạch không gian ven biển chặt chẽ hơn, tích hợp giữa phát triển nuôi thủy sản và phục hồi, tái tạo rừng ngập mặn, để khắc phục tình trạng “luật, nghi định, chính sách trên giấy” và khoảng cách không nhỏ giữa mục tiêu và thực thi. Trọng tâm không chỉ là ban hành thêm luật, nghị định, chiến lược hay chương trình, mà là cơ chế thực thi, giám sát và khuyến khích kinh tế đủ mạnh để bảo đảm các mục tiêu bảo tồn được hiện thực hóa trong thực tiễn. Tóm lại, để giảm xung đột giữa các ngành kinh tế ven biển đồng thời bảo vệ rừng ngập mặn, cần định hướng phát triển dựa trên phân vùng không gian và cơ chế quản trị rõ ràng. Theo đó, nên giảm dần nuôi thủy sản quảng canh và quảng canh cải tiến, đồng thời tăng tỷ trọng nuôi thâm canh/nuôi công nghiệp đi kèm kiểm soát nghiêm chất lượng nước và tải lượng môi trường. Tăng sản lượng nên dựa vào nâng năng suất, không dựa vào mở rộng diện tích. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy các mô hình xen canh/đa canh giữa động vật thủy sản - rong biển - rừng ngập mặn, trong đó nước thải được xử lý và tái sử dụng làm nguồn dinh dưỡng cho rong biển nhằm giảm ô nhiễm và nâng hiệu quả sử dụng tài nguyên. Song hành với tái cấu trúc sản xuất, phục hồi rừng ngập mặn là then chốt vì giúp tái tạo “vườn ươm” tự nhiên cho nhiều loài cá, giáp xác, phục hồi sinh cảnh và chu trình dinh dưỡng, qua đó duy trì đa dạng sinh học và hỗ trợ phục hồi nguồn lợi. Vì vậy, bảo vệ rừng ngập mặn không chỉ là mục tiêu sinh thái mà còn là điều kiện trực tiếp để nâng cao tính bền vững của nghề cá và nuôi trồng thủy sản trong dài hạn.
TS. Nguyễn Thanh Mỹ INTERVIEW
Tư duy ngược và nỗi niềm
với con tôm
Việt
Xuất phát điểm là một doanh nhân công nghệ, TS. Nguyễn Thanh Mỹ bước vào ngành nuôi tôm không phải bằng tham vọng kinh doanh, mà bằng khát khao giải quyết những vấn đề căn bản nhất: Từ vật lý ao nuôi, hiệu quả năng lượng, quản lý ôxy, chất thải, đến sinh học, con giống và triết lý lãnh đạo. Hành trình “đi ngược đám đông” của ông mở ra một cách tiếp cận mới mẻ cho bài toán phát triển bền vững của ngành tôm Việt Nam.
Tạp chí Thủy sản Việt Nam đã có cuộc trò chuyện trực tiếp với TS. Nguyễn Thanh Mỹ về hành trình “không theo lối mòn”, những ý tưởng táo bạo và triết lý lãnh đạo luôn đặt con người cùng cộng đồng vào trung tâm mọi quyết định.
Phóng viên: Thưa ông, nhiều người khá bất ngờ khi một người làm công nghệ lại gắn bó sâu với ngành nuôi tôm. Điều gì đã đưa ông đến với thủy sản?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Ban đầu, tôi hoàn toàn không có ý định bước vào ngành thủy sản. Trước năm 2020, tôi chỉ làm đúng chuyên môn: Công nghệ, cảm biến, dữ liệu, chuyển đổi số. Nói vui thì lúc đó tôi chỉ biết… “ăn tôm”, chứ không phân biệt được đâu là tôm thẻ đâu là tôm sú.
Đầu năm 2020, trước khi dịch Covid-19 bùng phát, ông Lê Văn Quang - Tổng Giám đốc Tập đoàn Minh Phú hỏi tôi, liệu các công nghệ cảm biến mà chúng tôi đang phát triển có thể áp dụng vào nuôi tôm, từ đo độ mặn, pH, mực nước đến quản lý ao bằng dữ liệu hay không? Tôi thấy rất thú vị và bắt đầu tìm hiểu, nhưng lúc đó vẫn chỉ dừng ở mức quan tâm. Càng nghiên cứu, tôi càng bị cuốn hút. Khi đọc Quyết định 79/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025, tôi thấy lộ trình rất bài bản. Nhưng nhìn lại giai đoạn 2018 - 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam chưa bao giờ vượt 4,2 tỷ USD, chưa đạt một nửa mục tiêu. Khoảng cách
đó khiến tôi tự hỏi: Sai ở đâu? Và càng đi tìm câu trả lời, tôi nhận ra nhiều vấn đề, từ công nghệ, cách làm, đến tư duy và trách nhiệm xã hội. Lúc ấy, tôi không còn đứng ngoài quan sát nữa. Có thể nói, tôi không chọn ngành tôm, mà chính ngành tôm đã chọn tôi.
Phóng viên: Cơ duyên nào khiến ông bắt đầu quan tâm sâu hơn và quyết tâm lý giải những bất cập cố hữu của ngành tôm Việt Nam?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Ngày 29/4/2020, trong chuyến đi thực tế đầu tiên đến một trại nuôi tôm thâm canh ở miền Tây, tôi thực sự bị sốc. Cảm giác như đứng giữa một “máy xay sinh tố” khổng lồ, tiếng ồn dữ dội, nước khuấy liên tục, mùi nồng khó chịu… chỉ đứng khoảng 10 - 15 phút là đã thấy choáng.
Người dân giải thích rằng, phải sục khí để cung cấp ôxy, dùng quạt nước gom chất thải, máy cho ăn tự động để tối ưu vận hành. Nhưng với góc nhìn của một người làm khoa họccông nghệ, tôi nhận ra mô hình đó có vấn đề ngay từ nền tảng. Khi vật lý vận hành sai lệch, sinh học không thể phát triển tốt và bài toán kinh tế - chi phí cuối cùng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến lãng phí lớn. Trên đường về, hình ảnh những ao tôm tương tự nhau, mô hình giống nhau như đúc, ám ảnh tôi. Về nhà, tôi đọc lại tài liệu, bóc tách vấn đề từ những yếu tố nền tảng và trao đổi với một số chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nuôi tôm.
Tôi đặt câu hỏi rất cơ bản: Phân tử ôxy nặng hay nhẹ hơn nước? Gần 80% câu trả lời là sai. Lúc đó, tôi nhận ra không chỉ người nông dân làm chưa đúng, mà ngay cả nhiều chuyên gia cũng hiểu sai về ôxy. Với tư duy khởi nghiệp, tôi luôn nghĩ, phải làm đúng những gì đang bị sai, làm tốt hơn những gì đang có, tạo ra những thứ chưa từng có và để lại giá trị lâu dài. Ở đây, cái sai không chỉ là kỹ thuật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến bài toán kinh tế hàng tỷ USD, nên đáng để bắt đầu lại từ gốc.
Phóng viên: Từ việc bóc tách lại vật lý ao nuôi, vì sao ông nảy ra ý tưởng sử dụng ôxy tinh khiết thay cho cách sục khí truyền thống?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Tôi tiếp cận ao nuôi từ góc nhìn vật lý trước tiên. Bài toán sử dụng năng lượng sao cho hiệu quả hơn, tiết kiệm nước hơn và đặc biệt là giảm tiếng ồn. Tiếng ồn là vấn đề khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Có những
ao nuôi ồn đến mức chỉ đứng cạnh vài phút đã thấy mệt, vậy mà gần như không ai đặt câu hỏi: Vì sao nhiều người gắn bó với nghề này hàng chục năm lại dần bị suy giảm thính lực?
Khi bắt đầu tính toán, tôi thấy nhiều bất cập về hiệu suất năng lượng. Sục khí từ đáy ao sâu dưới 2 mét chỉ đạt dưới 2% hiệu suất, nghĩa là bỏ 1 kW điện vào, chưa tới 2% thực sự dùng
được, phần còn lại thất thoát. Quạt tạo dòng cũng tương tự, chỉ khoảng 20 – 30% cánh chạm nước, phần còn lại quay trong không khí, hiệu suất dưới 30%, nhưng vẫn phải chạy liên tục 24/24. Tôi hay nói vui, ở Việt Nam, chỉ những người giàu mới dám nuôi tôm, vì đang lấy tiền mua điện rồi biến điện thành… không khí.
Từ những nghịch lý đó, tôi đặt một câu hỏi đơn giản: Không khí chỉ chứa khoảng 21% ôxy, phần còn lại là nitơ và CO2, trong khi ôxy lại nặng hơn, vậy tại sao phải sục một hỗn hợp loãng và kém hiệu quả, trong khi có thể tăng nồng độ ôxy một cách chủ động hơn?. Chính câu hỏi này dẫn tôi đến ý tưởng sử dụng ôxy tinh khiết. Một buổi chiều, tôi gặp kỹ sư của công ty tôi và đề nghị thiết kế máy tạo ôxy. Hai chú cháu bắt tay vào thiết kế ngay trên máy tính, sử dụng công nghệ pressure swing adsorption (PSA), dùng zeolite để tách nitơ.
Chỉ sau vài ngày, đội kỹ sư xác nhận phương án hoàn toàn khả thi.
Phóng viên: Việc đưa công nghệ ôxy tinh khiết vào nuôi tôm được triển khai ra sao và mang lại kết quả như thế nào, thưa ông? TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Khi nhận ra gốc rễ vấn đề không phải là thiếu ôxy, mà là chất thải không được xử lý hiệu quả, tôi triển khai song song hai hướng: Thiết kế lại ao nuôi và phát triển hệ thống cung cấp ôxy tinh khiết phù hợp với cấu trúc mới.
Trước hết, ao nuôi được thiết kế với đáy hình nón ngược, tạo dòng chảy một chiều đa tầng (laminar flow), với tốc độ dòng chảy tăng dần khi xuống sâu hơn, giúp chất thải được gom lại trung tâm đáy ao và dễ dàng thải ra ngoài trong thời gian ngắn. Trên nền tảng thiết kế ao này, đội kỹ sư chế tạo máy tạo ôxy tinh khiết với công suất ban đầu 5 kg/ngày, ôxy được cung cấp trực tiếp vào ao theo dòng chảy. Sau khoảng ba tuần thử nghiệm, hệ thống đạt độ tinh khiết ôxy trên 90% và vận hành ổn định. Từ kết quả ban đầu, công suất được nâng dần lên 20 kg, 200 kg, 500 kg, rồi 1.000 kg ôxy mỗi ngày, toàn bộ quy trình được tự động hóa. Song song với việc phát triển thiết bị, chúng
tôi đầu tư xây dựng khu nuôi thử nghiệm theo
đúng thiết kế mới để người nuôi xem và hiểu
được hệ thống, với tổng mức đầu tư cho khu
nuôi đầu tiên vượt 3 triệu USD.
Vụ nuôi đầu tiên cho kết quả khả quan, đặc
biệt ở việc giảm tiêu thụ điện và kiểm soát môi trường ao nuôi. Tuy nhiên, khi bài toán vật lý và năng lượng được giải quyết, những vấn đề sinh học bắt đầu bộc lộ rõ hơn ở các vụ tiếp theo. Điều này cho thấy cải tiến về thiết bị và thiết kế chỉ là bước đầu; để nuôi tôm bền vững, chúng tôi phải đi sâu hơn vào công nghệ sinh học và hệ vi sinh trong ao nuôi.
Phóng viên: Đối với bệnh trên tôm, ông đã chọn hướng tiếp cận khác biệt thay vì dựa vào kháng sinh. Ông có thể chia sẻ chi tiết cách ứng dụng tảo và các chất ức chế vi khuẩn trong quản lý dịch bệnh?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Câu hỏi đầu tiên tôi
đặt ra là: Có con đường nào khác ngoài kháng sinh không? Bởi lẽ, nếu cứ tiêu diệt tác nhân gây bệnh, sớm muộn gì cũng rơi vào vòng luẩn quẩn kháng thuốc và rủi ro sinh thái.
Với bệnh đốm trắng, chúng tôi không nhắm
đến việc diệt virus mà giúp tôm “nhận diện” mầm bệnh. Chúng tôi ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gene để tạo ra loại oral vaccine từ vi tảo. Khi tôm ăn tảo vào ban đêm, hệ miễn dịch của chúng được tập làm quen và phản ứng sớm hơn. Kết quả thử nghiệm: ao nuôi sử dụng tảo duy trì đàn tôm khỏe mạnh, tăng tỷ lệ lệ sống lên 85% trong khi đối chứng thiệt hại nhanh chóng.
Với bệnh phân trắng do vi khuẩn, chúng tôi không tiêu diệt vi khuẩn mà can thiệp vào cơ chế “giao tiếp” của chúng bằng các chất ức chế quorum sensing chiết xuất từ dược liệu và tảo. Vi khuẩn vẫn tồn tại, nhưng không còn khả năng phối hợp gây bệnh. Cách tiếp cận này hạn chế nguy cơ kháng thuốc và phù hợp với định hướng nuôi tôm bền vững, không phụ thuộc kháng sinh.
Phóng viên: Trong toàn bộ chuỗi giá trị, ông đánh giá con giống quan trọng ra sao và công tác kiểm soát chất lượng con giống
được thực hiện thế nào để giảm thiểu rủi ro?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Theo tôi, nếu con giống đã có vấn đề thì ngay từ đầu rất khó nói
đến hiệu quả hay lợi nhuận. Nuôi tôm mà con giống mang mầm bệnh thì thất bại gần như đã
được định sẵn.
Vì vậy, trước khi thả nuôi, chúng tôi xét nghiệm con giống theo 18 chỉ tiêu khác nhau. Trong quá trình nuôi, tôm được chụp hình, theo dõi hàng ngày, phân tích phân bố kích cỡ để phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường. Kinh nghiệm cho thấy, phát hiện càng sớm, thiệt hại càng thấp; phát hiện muộn, mức lỗ có thể rất nặng. Thật tiếc là, dù điều này đã được chứng minh rõ ràng, nhưng đến nay chưa nhiều người coi con giống là điểm khởi đầu quyết định thành bại của cả vụ nuôi.
Phóng viên: Vì sao ông gọi hướng tiếp cận của mình là “công nghệ gián đoạn”?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Tôi gọi đó là “công nghệ gián đoạn” bởi chúng tôi không đi theo con đường cũ, mà chọn cách làm lại từ nền tảng, hay có thể nói là một công nghệ “nguyên bản”. Khi đã gián đoạn, tức là một bước nhảy vọt so với mô hình cũ, rất khó thuyết phục những người đang hoạt động trong hệ thống hiện hữu thay đổi cách suy nghĩ và phương thức vận hành. Những khách hàng đầu tiên của chúng tôi thường là những người mới hoàn toàn trong ngành dám thử nghiệm, dám bước ra khỏi lối mòn, phần lớn là thế hệ trẻ, sẵn sàng đón nhận tư duy mới và áp dụng cách làm khác biệt để giải quyết các vấn đề từ cốt lõi.
Tôi không làm những việc này để tạo danh tiếng hay chứng minh bản thân. Lý do đơn giản là tôi nhìn thấy những người nuôi tôm quanh mình đang vất vả từng ngày, đối mặt với rủi ro dịch bệnh, chi phí vận hành cao và hiệu quả kinh tế chưa như kỳ vọng. Với tôi, giàu một mình không có nhiều ý nghĩa. Thành công thực sự là khi người nuôi có thể làm ăn hiệu quả, khi cả cộng đồng cùng tiến lên, chia sẻ giá trị và tạo ra sự bền vững lâu dài cho ngành.
Hướng tiếp cận này còn là một triết lý: Đổi mới không chỉ để cải tiến kỹ thuật hay tăng lợi nhuận, mà để giải quyết bài toán một cách có hệ thống, từ con giống, môi trường ao nuôi, quản lý năng lượng, đến sức khỏe sinh học của tôm. Khi mỗi mắt xích trong chuỗi giá trị vận hành hiệu quả, cả ngành mới tiến lên bền vững. “Công nghệ gián đoạn” không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà đến từ tư duy “nguyên bản”, từ gốc rễ, đặt con người, cả người nuôi, nhà quản lý và người tiêu dùng vào trung tâm của mọi quyết định.
Phóng viên: Không chỉ đổi mới công nghệ, ông còn rất chú trọng đến con người
và môi trường làm việc. Ông lý giải thế nào về tầm quan trọng của không gian xanh và văn hóa doanh nghiệp?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Tôi cho rằng, xây dựng doanh nghiệp trước hết là xây dựng con người. Người lãnh đạo nếu không bắt đầu từ sự tử tế, từ một nội tâm đủ cân bằng và tỉnh táo, thì rất khó đưa ra những quyết định đúng đắn trong dài hạn. Với tôi, không gian làm việc không chỉ là nơi vận hành công việc, mà còn là nơi nuôi dưỡng trạng thái tinh thần của con người mỗi ngày.
Không gian xanh, sự hài hòa giữa ánh sáng, cây cối và nhịp làm việc giúp con người bớt căng thẳng, giữ được sự điềm tĩnh trong những thời điểm áp lực. Đó cũng là cách tôi chọn để lãnh đạo: Không thúc ép bằng mệnh lệnh mà tạo điều kiện để mỗi người tự phát huy tốt nhất phần năng lực và hoàn thiện hơn về nhân cách của mình.
Phóng viên: Trong hành trình hơn 20 năm làm việc tại Việt Nam, đâu là điều khiến ông gắn bó và kiên trì theo đuổi các giá trị mà mình lựa chọn?
TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Suốt hơn 20 năm làm việc tại Việt Nam, điều khiến tôi gắn bó không phải danh tiếng hay lợi ích cá nhân, mà là niềm tin vào sự tử tế của con người. Tôi không cho rằng đạo đức xã hội đang đi xuống, như nhiều người vẫn nghĩ. Ngược lại, phần lớn những nhận định tiêu cực xuất phát từ cách nhìn hạn hẹp, thiên kiến tiêu cực, thiếu kiên nhẫn quan sát và thấu hiểu. Khi sống và làm việc cùng người Việt, tôi nhận ra rằng, nếu con người biết tiết chế cảm xúc, cân nhắc suy nghĩ trước khi hành động, họ sẽ giảm bớt mâu thuẫn và nỗi khổ không cần thiết. Khi đó, năng lượng sẽ được dành cho những việc thực sự có giá trị, nâng cao hiệu quả lao động, cải thiện cuộc sống, đóng góp cho cộng đồng và xây dựng ngành nghề bền vững. Chính niềm tin ấy, cùng ý thức trách nhiệm và khát vọng tạo ra giá trị lâu dài, đã giúp tôi kiên định với con đường mình chọn, dù đôi khi phải đi ngược đám đông và đối mặt nhiều thử thách.
Trân trọng cảm ơn ông! Oanh
Sự chuyển biến trong
tư duy kinh doanh tôm và lời tâm tình với lực lượng trẻ
Tôi tham gia hoạt động ngành tôm trên 40 năm.
Nhìn lại chặng đường dài, trải qua quá nhiều
vất vả, cam go; nhưng qua đó rút ra những điều
cảm thấy thú vị và quý giá. Xin chia sẻ với đồng
nghiệp, bạn đọc, và nhất là với thế hệ trẻ đang
háo hức với công việc đầy khó khăn này.
Hiện giờ cơ hội lẫn thách thức của ngành tôm đều có những thay đổi. Cơ hội có thể nêu ra là nhu cầu tôm thế giới có xu hướng tăng trở lại, nhất là châu Á và Trung Quốc, khi tầng lớp trung lưu lớn mạnh và tôm dần trở thành thực phẩm thường xuyên chứ không chỉ là sản phẩm cao cấp và về dài hạn, tôm vẫn là protein ưa thích, nhu cầu khó giảm, chỉ điều chỉnh về phân khúc và giá. Thứ hai là các thị trường cao cấp ưu tiên sản phẩm sạch, truy xuất rõ ràng, đây là lợi thế của các doanh nghiệp (DN) tôm
Việt. Và cuối cùng là công nghệ nuôi tiên tiến giảm rủi ro, tăng sản lượng.
Còn thách thức là cạnh tranh gay gắt về giá từ tôm Ecuador, Ấn Độ – những nước có lợi thế nuôi quy mô lớn, chi phí thấp, đã vươn lên dẫn đầu thế giới về xuất khẩu tôm. Là rào cản thương mại và kỹ thuật (thuế chống bán phá giá, thuế đối ứng, thuế chống trợ cấp; tiêu chuẩn xanh, truy xuất, lao động, môi trường…) ngày càng dày đặc, nhất là ở Mỹ và EU. Là biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chi phí đầu vào (thức ăn, con giống, chế phẩm nuôi tôm, lao động) vẫn là áp lực lớn lên vùng nuôi.
Đứng trước các vấn đề trên, lãnh đạo DN tôm không chỉ đơn thuần là phát huy lợi thế, hạn chế khó khăn chung chung nữa. Tư duy phải có cái nhìn sâu xa hơn, phải có tầm nhìn, phải có chiến lược cho dài lâu. DN chỉ có thể tồn tại nếu nâng chuẩn minh bạch –sáng tạo – bền vững.
Nói cụ thể hơn, những cốt lõi trong tầm nhìn, chiến lược nói trên là: Từ “làm cho xong” sang “làm cho đúng, làm cho tử tế”. Từ quản trị bằng kinh nghiệm sang quản trị
bằng dữ liệu, quy trình và công nghệ. Từ chỉ tập trung sản lượng sang tập trung giá trị và thương hiệu. Từ tư duy “đơn độc trong thị trường” sang tư duy hợp tác trong chuỗi, liên kết lợi ích dài hạn. Văn hóa doanh nghiệp từ chỗ dựa vào vài cá nhân nay trở thành tài sản chung, là sức mạnh mềm của DN, cho nên phải tập trung gầy dựng và phát triển.
Cụ thể hơn nữa, như phân tích trong thách thức, xu thế đòi hỏi từ người tiêu dùng là sản phẩm phải “xanh’, phải bảo đảm truy xuất dễ dàng, phải đối xử người lao động đúng mực trong khuôn khổ pháp luật, phải tiến tới cân bằng phát thải… thì các DN tôm phải quan tâm nâng cao tỉ lệ tự chủ nguyên
liệu, tăng mạnh diện tích và năng suất vùng nuôi, hướng tới chuẩn BAP/ASC; phải chuyển đổi số toàn diện, từ vận hành, truy xuất nguồn gốc, tới quản trị doanh nghiệp và tối ưu chuỗi cung ứng… Rõ ràng, những phần việc nêu trên là hết sức cấp thiết và hết sức khó khăn. Trong bối cảnh công nghệ mới hình thành ồ ạt như bão lũ hiện nay, bản thân tôi cũng như thế hệ lãnh đạo cao tuổi, có tư duy mang nặng tính kinh nghiệm nên chú trọng những nút thắt nhưng không bảo thủ, cái gì mới mà tốt, phải dám thử. Mạnh dạn trao quyền cho thế hệ trẻ, họ nhanh nhạy với công nghệ, cần được tạo điều kiện và nhất là đầu tư bài bản cho chuyển đổi số, đây không phải “trang trí”, mà là năng lực sống còn của DN hiện đại. Nói tới sự kế thừa, tôi rất trân trọng thế hệ trẻ ngày nay, họ năng động, tự tin, giỏi công nghệ, có tư duy toàn cầu. Tôi học ở họ sự nhanh nhạy, tính hệ thống và khao khát đổi mới.
Nhưng cái gì cũng có hai mặt. Điều tôi muốn tâm tình với thế hệ trẻ là làm kinh doanh trước hết là làm người; đừng chạy theo lợi nhuận ngắn hạn mà đánh mất uy tín; hãy kiên trì, tử tế và có trách nhiệm, đó là “vốn liếng” lớn nhất của đời doanh nhân. Bởi trong kinh doanh, chữ TÍN là gốc, mọi chiến lược đều có thể thay đổi, nhưng chữ TÍN thì không. Nếu nói thì cũng nên nói cho đủ, thế hệ trẻ nên biết học cách lắng nghe và tôn trọng con người; luôn chuẩn bị cho điều xấu nhất nhưng hành động với niềm tin tốt nhất và nhất là làm nghề phải biết yêu nghề. Ông bà ta có câu “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Nhưng thực tế
cho thấy, một đặc điểm thế hệ Gen Z là hay muốn thay đổi môi trường làm việc để thêm trải nghiệm.
Câu chuyện trên có vẻ quá bài bản, vì vậy tôi đã trao đổi với vài bạn trẻ để hoàn chỉnh hơn suy nghĩ của mình và cụ thể hơn. Từ tiếp xúc đó có bạn nêu ra một câu chuyện thời sự, các sắc thuế từ thị trường Mỹ sao phức tạp quá, gây âu lo quá. Chắc chắn sự quan tâm này là cần thiết nếu thật sự yêu nghề. Tôi đã giải thích, có lẽ cũng là lời khích lệ: Rủi ro ở thị trường Mỹ là hiện hữu nhưng ở mức có thể quản trị, kiểm soát vì ngành tôm Việt đã có kinh nghiệm nhiều năm với vụ kiện này và các DN tôm đầu ngành thường chuẩn bị hồ sơ, dữ liệu khá bài bản. Mặt khác bối cảnh Mỹ đang áp thuế mạnh lên tôm Ấn Độ khiến họ không muốn “đóng” thêm một nguồn cung lớn nữa sẽ gây thiếu hụt so nhu cầu nội tại.
Dong dài đầu năm để mong rằng, sang năm mới các bạn trẻ trong ngành thêm chút chủ động, tự tin, ấm lòng nhưng ít nhiều thêm “nặng” tâm, vì sao nhiều đòi hỏi, kỳ vọng quá?. Thôi thì, lực lượng trẻ cần chú trọng tư duy trong quản trị DN tôm. Luôn coi trọng tầm nhìn và quyết đoán kịp thời. Hoạt động có chiến lược, bài bản và quan tâm đúng mức vai trò của văn hóa DN. Tăng lợi thế cạnh tranh thông qua tăng trưởng, phát triển chiều sâu. Quản trị bằng dữ liệu, quy trình và công nghệ. Kiên trì theo giá trị tử tế và minh bạch trong sản xuất tiến tới cân bằng phát thải. Đảm bảo uy tín với khách hàng quốc tế dù hoàn cảnh nào, vì đó là tài sản lớn nhất của mình.
Tôi chỉ mong được góp chút suy nghĩ, sự hiểu biết của mình, chứ không có ý là chỉ dạy ai cả. Mong tới đây ngành sẽ có sự khởi sắc mạnh mẻ hơn với sự tham gia ngày càng nhiều của lực lượng trẻ, đầy nhiệt huyết và tự tin.
Vững bước trước địa chấn
thương mại toàn cầu
Thương mại thủy sản toàn cầu
đang rung lắc mạnh bởi thuế quan, bảo hộ và các rào cản phi thuế
ngày càng tinh vi. Giữa những biến
động đó, thủy sản Việt vẫn giữ
được đà tăng trưởng xuất khẩu
kỷ lục nhờ chiến lược xoay trục
thị trường linh hoạt, dù phía trước
còn không ít thách thức mang tính
quyết định đối với sức bền và vị
thế dài hạn của toàn ngành.
Rào cản dồn dập Thương mại thủy sản toàn cầu đang bước
vào giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng, khi các mục tiêu ngoài thương mại như an ninh kinh tế, bảo vệ môi trường và phúc lợi động vật ngày càng được lồng ghép trực tiếp vào chính sách nhập khẩu. Mỹ nổi lên như tâm điểm của địa chấn này, với việc thuế quan không còn chỉ là công cụ điều tiết cán cân thương mại, mà trở thành đòn bẩy chiến lược nhằm bảo vệ sản xuất trong nước và tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu. Cơ chế thuế “có đi có lại” được triển khai trên diện rộng đã làm gia tăng đáng kể chi phí nhập khẩu, tạo ra trạng thái bất định kéo dài đối với các nhà xuất khẩu thủy sản. Song song với thuế quan là làn sóng siết chặt các rào cản kỹ thuật và pháp lý. FDA tăng cường kiểm tra, giữ hàng và thu hồi sản phẩm với phạm vi rộng hơn, từ an toàn thực phẩm cho đến gian lận kinh tế như thiếu trọng lượng tịnh do lớp băng phủ. Các quy định nhập khẩu theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) của NOAA lại mở ra một mặt trận hoàn toàn khác, khi yêu cầu các quốc gia xuất khẩu phải chứng minh mức độ tương đồng trong biện pháp bảo vệ động vật biển. Nguy cơ bị cấm nhập khẩu không còn là rủi ro lý thuyết, mà trở thành sức ép
vốn từng được xem là yếu tố tự nguyện mang tính hình ảnh, đang nhanh chóng trở thành điều kiện bắt buộc trong chính sách thu mua của các tập đoàn bán lẻ lớn. Với ngành tôm nước ấm, yêu cầu gây choáng trước khi ướp đá đã trở thành giấy thông hành mới để tiếp cận thị trường EU và Anh. Khác với các rào cản truyền thống có thể xử lý bằng hồ sơ hay chứng nhận, tiêu chuẩn này buộc doanh nghiệp phải đầu tư dây chuyền mới, thay đổi quy trình thu hoạch, chế biến và kiểm soát nghiêm ngặt khâu vận chuyển, kéo theo chi phí lớn trong khi biên lợi nhuận toàn ngành ngày càng thu hẹp.
Những sức ép này diễn ra trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, chi phí đầu vào tăng cao và cạnh tranh giữa các quốc gia sản xuất ngày càng gay gắt. Với Việt Nam, đó là phép thử kép: vừa phải nâng chuẩn tuân thủ, vừa phải duy trì năng lực cạnh tranh về giá trong một thị trường đang phân mảnh mạnh mẽ.
Xoay trục và sức bật Điểm nổi bật của thủy sản Việt Nam không nằm ở việc
đi nhằm giảm rủi ro phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.
Kết quả, xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2025 đạt 11,34 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay, tăng 13% so với năm trước. Trong đó, các sản phẩm chủ lực đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Tôm tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với kim ngạch khoảng 4,65 tỷ USD, tăng 20%, đặc biệt là sự bứt phá của tôm hùm với giá trị xuất khẩu gần 817 triệu USD, tăng hơn gấp đôi so với năm trước. Cá tra đạt 2,1 tỷ USD, tăng 7,5%, nhờ nhu cầu cải thiện tại Trung Quốc và các thị trường châu Á. Nhóm cá biển khác như cá ngừ, mực, bạch tuộc đóng góp 2,16 tỷ USD, tăng khoảng 12,2%, cho thấy xu hướng mở rộng thị phần và cơ cấu sản phẩm.
Sự xoay trục thị trường thể hiện rõ nét qua cơ cấu xuất khẩu. Khối CPTPP trở thành điểm tựa quan trọng với mức tăng 22%, nhờ sự ổn định của các thị trường như Nhật Bản, Canada và Australia, nơi các ưu đãi thuế quan từ FTA được khai thác hiệu quả. Liên minh châu Âu ghi nhận mức phục hồi khoảng 12,5%, bất chấp các tiêu chuẩn kỹ thuật và bền vững ngày càng khắt khe. Đặc biệt, Trung
Quốc và Hồng Kông nổi lên như động lực tăng
trưởng mạnh nhất, với mức tăng lên tới 29%, hấp thụ lượng lớn sản phẩm tươi sống và giá trị cao, bù đắp đáng kể cho sự chững lại ở thị trường Mỹ.
Chiến lược này cho thấy sự thay đổi căn bản trong tư duy của doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. Thay vì tối đa hóa sản lượng cho một thị trường lớn, doanh nghiệp chủ động phân tán rủi ro, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm và kế hoạch sản xuất linh hoạt hơn. Nhu cầu dự trữ lương thực toàn cầu gia tăng do bất ổn
địa chính trị cũng tạo ra một lớp đệm quan trọng, giúp thủy sản duy trì sức hút trên thị trường quốc tế. Thành công đạt được không chỉ phản ánh khả năng chống chịu, mà còn cho thấy năng lực thích ứng của ngành đã được nâng lên một nấc mới.
Thách thức phía trước và bài toán sức bền dài hạn
Dù đạt được những kết quả tích cực, bức tranh tương lai gần của thủy sản Việt Nam vẫn phủ bóng những gam màu thận trọng. Áp lực từ thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng và các
biện pháp phòng vệ thương mại tại Mỹ chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, đặc biệt với ngành tôm. Khi các loại thuế được cộng gộp, tổng gánh nặng chi phí có thể đạt mức rất cao, làm xói mòn lợi thế cạnh tranh và buộc doanh nghiệp phải tái tính toán chiến lược thị trường. Về dài hạn, các rào cản phi thuế còn đáng lo ngại hơn. Truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng, bảo vệ môi trường và phúc lợi
yêu cầu đòi hỏi đầu tư lâu dài và sự
bộ từ người nuôi, doanh nghiệp chế biến
hệ thống quản lý nhà nước, thay vì những giải pháp mang tính đối phó ngắn hạn. Một thách thức khác là nguy cơ phân hóa trong nội bộ ngành. Doanh nghiệp lớn, có tiềm lực tài chính và khả năng tiếp cận công nghệ, sẽ thích ứng nhanh hơn với các chuẩn mực mới. Ngược lại, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể bị bỏ lại phía sau nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về chính sách, từ hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ tài chính cho chuyển đổi công nghệ đến việc xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với thông lệ quốc tế. Nhìn tổng thể, thủy sản Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ quan trọng. Áp lực ngắn hạn từ thuế quan và rào cản kỹ thuật là không thể tránh khỏi, nhưng cũng mở ra cơ hội tái cấu trúc để nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khả năng vững bước trước cơn địa chấn thương mại không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của doanh nghiệp, mà còn ở sự đồng hành của chính sách và tầm nhìn dài hạn của toàn ngành. Nếu tận dụng tốt giai đoạn thử thách này, thủy sản Việt Nam không chỉ vượt sóng, mà còn có thể bước sang một chu kỳ phát triển bền vững và có chiều sâu hơn.
Ảnh: istock
Trong những năm gần đây, dù gần như năm nào cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhưng ngành tôm cả nước vẫn duy trì đà tăng trưởng khá ổn định cả về sản lượng lẫn
kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, ít ai biết, phía sau những thành tích, những kỷ lục ấy là cả sự
vất vả, lo toan; là những tâm tư, nỗi niềm trăn trở của cộng đồng doanh nghiệp cho tương lai
bền vững của ngành hàng tỷ Đô này.
Lo cho mắt xích yếu nhất
Không hẹn mà gặp, khi câu chuyện phía sau những thành tích và cả những kỷ lục xuất khẩu, hầu hết các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu tôm đều có cùng tâm tư: “Lo cho khâu nuôi tôm” - một mắt xích yếu nhất, nhưng lại là trụ cột quan trọng có tính quyết định đến sự phát triển bền vững của cả chuỗi giá trị ngành tôm.
Nỗi lo đó, tâm tư đó xuất phát từ chuyện chất lượng con giống chưa ổn định, là dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, là tỷ lệ nuôi thành công thấp dẫn đến giá thành cao làm
giảm sức cạnh tranh, là sự bấp bênh trong thu nhập của người nuôi tôm.
Ông Hồ Quốc Lực - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, trải lòng: “Chỉ cần nhìn vào mảng nuôi tôm ngày càng kiệt quệ (tập trung hộ nuôi nhỏ lẻ, chiếm 90% sản lượng nuôi) và các doanh nghiệp chế biến tôm lợi nhuận ngày càng teo tóp thì sự tăng trưởng của ngành tôm chưa có nền móng vững chắc như kỳ vọng”. Câu nhận xét này của ông Lực có thể khiến không ít người nghe khó lọt tai, nhưng biết làm sao được khi “lời thật mất lòng”.
Thực tế cho thấy, những năm gần đây, tuy ngành tôm vẫn có sự tăng trưởng nhất định, thậm chí năm 2025 còn thiết lập kỷ lục xuất khẩu. Nhưng gần như năm nào doanh nghiệp và người nuôi tôm cũng đều hết sức vất vả khi phải luôn trong tâm thế của người vượt dốc. Nhắc đến câu chuyện vượt dốc, ông Võ Văn Phục - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản sạch Việt Nam (Vinacleanfood), thẳng thắn cho rằng, thành tích của ngành tôm những năm qua là rất tốt, rất ấn tượng, nhưng cũng rất nghịch lý. Ông Phục chia sẻ: “Nghịch lý ở đây chính là việc ngành tôm của
chúng ta phát triển không phải dựa trên nền tảng nuôi trồng mà nhờ vào trình độ chế biến. Điều này tiềm ẩn rủi ro rất lớn, mà về lâu dài, nếu tỷ lệ nuôi thành công không được nâng lên, giá thành tôm nuôi không hạ xuống, con tôm Việt sẽ rất khó cạnh tranh”.
Gắn bó với ngành tôm từ năm 1998 đến nay, ông Nguyễn Hoàng Anh – Chủ tịch Tập đoàn Nam Miền Trung Group, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Bình Thuận vẫn không khỏi trăn trở: “Tôi là người sản xuất tôm giống và cũng là người nuôi tôm thương phẩm từ năm 1998. Hiện Nam Miền Trung vẫn duy trì nuôi tôm thương phẩm khoảng 50 ha và cũng có những thành công, thất bại giống như bà con nuôi tôm khác ở ĐBSCL và cả nước. Tại sao thời gian gần đây, việc PR, quảng cáo của Nam Miền Trung rất hạn chế? Vì tôi rất sợ, hôm nay mình nói tốt nhưng biết đâu ngày mai nó lại không tốt, dù tôi đã đầu tư cho riêng lĩnh vực tôm giống là hơn nghìn tỷ, nên có thể nói không có công nghệ nào của chúng tôi là hạn chế, là lỗi thời hết. Đây mới thật sự là nỗi đau không biết phải tỏ cùng ai, vì không phải mình không đầu tư, không kiểm soát”. Nỗi lo cho mắt xích nuôi tôm vẫn chưa dừng lại khi hầu hết các doanh nghiệp đều lo lắng, than vãn chuyện có quá ít tôm có “lý lịch”, trong khi hầu hết thị trường tiêu thụ đều đặt ra yêu cầu này. Ông Hồ Quốc Lực lo rằng: “Việc cấp mã số cho cơ sở nuôi tôm quá chậm gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc chứng minh, thuyết phục khách hàng về khả năng kiểm soát nguyên liệu của mình”. Cùng nỗi lo chuyện “lý lịch” con tôm Việt, ông Lê Văn Quang - Chủ tịch Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú cho rằng, muốn bán được tôm vào thị trường nào, chúng ta phải chấp nhận tuân thủ theo tiêu chuẩn của thị trường đó. Riêng 03 thị trường nhập khẩu tôm lớn của Việt Nam là: Mỹ, Nhật và EU, nếu con tôm của chúng ta không đạt chứng nhận ASC, BAP hoặc con tôm sạch không nhiễm kháng sinh, vi sinh hay các chất cấm khác và có thể truy xuất nguồn gốc dễ dàng thì rất khó bán.
Kỳ vọng và tự tin
Năm 2026 được dự báo tiếp tục là một năm khó khăn, nếu không muốn nói là rất khó. Nuôi tôm không thuận lợi, nên giá tôm thương phẩm tiếp tục leo cao, giảm sức cạnh tranh tôm Việt trên thị trường thế giới. Đặc biệt là những rủi ro
đến từ các rào cản thương mại, trong đó đáng lo nhất là vấn đề thuế chống bán phá giá, thuế đối ứng, rào cản kỹ thuật, rào cản quy định môi trường, phúc lợi động vật, phát thải, quyền lợi người lao động, truy xuất nguồn gốc... Do đó, điều mà doanh nghiệp đặt nhiều kỳ vọng nhất chính là phán quyết cuối cùng về thuế chống bán phá giá của Mỹ (dự kiến trong quý I/2026) sẽ ở mức có lợi cho xuất khẩu. Riêng vấn đề thuế đối ứng, các doanh nghiệp đặt niềm tin vào kết quả các phiên đàm phán tiếp theo của Chính phủ để kéo giảm nhiều hơn nữa, nhằm tăng tính cạnh tranh cho con tôm Việt tại thị trường này.
Những quy định sản xuất theo tiêu chuẩn của thị trường chắc chắn sẽ gây khó khăn nhất định cho xuất khẩu tôm Việt Nam trong thời gian trước mắt, nhưng ít nhiều cũng giúp ngành tôm có những thay đổi lớn để phù hợp với thị trường xuất khẩu. Một trong những thay đổi lớn được doanh nghiệp kỳ vọng đó là việc tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết chuỗi giá trị giữa nông dân với nông dân và tổ chức hợp tác của nông dân với doanh nghiệp. Bởi chỉ có hợp tác tốt và thực chất, nông dân sản xuất nhỏ lẻ mới có thể tạo được mối liên kết chuỗi giá trị sản xuất với các doanh nghiệp; mới có đủ điều kiện để
đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm giá thành, tăng hiệu quả, từng bước tiến tới bền vững trong sản xuất.
Kỳ vọng nhiều, nhưng các doanh nghiệp cũng không thiếu sự tự tin vào con đường phía trước. Đó là một Sao Ta tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% trong năm 2026. Niềm tin và sự kỳ vọng của Sao Ta xuất phát từ việc sớm theo đuổi các tiêu chí bền vững từ chục
năm trước và có 6 năm liên tục 2020 - 2025 được công nhận trong top 100 doanh nghiệp Việt bền vững. Yếu tố này thu hút khách hàng cao cấp, khó tính nên sẽ làm tăng sức cạnh tranh. Sao Ta xây dựng văn hóa doanh nghiệp coi trọng giữ vững uy tín thương hiệu và nhất là chú trọng đạo đức kinh doanh, nghiêm túc thực thi tất cả hợp đồng đã ký kết dù ra sao. Cùng với đó là những sách lược thị trường, sản phẩm uyển chuyển để giữ vững các khách hàng chiến lược của mình.
“Từ sự chuẩn bị bài bản đó, Sao Ta coi thách thức là người đường của mình, để có thêm động lực vươn tầm”, ông Hồ Quốc Lực chia sẻ. Không chỉ có Sao Ta mà hầu hết các doanh nghiệp ngành tôm đều có sự chủ động và không kém tự tin vào khả năng sẽ vượt qua được khó khăn thách thức trong năm 2026. Ngay khi vừa kết thúc vụ tôm năm 2025, Vinacleanfood đã triển khai các bước cho vụ tôm mới với quy mô diện tích lớn hơn cùng một kế hoạch hết sức chu đáo. Theo đó, ngay trong vụ chính, Vinacleanfood sẽ tập trung mạnh vào đối tượng tôm thẻ được nuôi theo quy trình đạt các tiêu chí của chuỗi cung ứng toàn cầu, nhằm hạn chế thấp những rủi ro đến từ rào cản thuế quan và phi thuế quan. Ngoài ra, Vinacleanfood còn phát triển thêm đối tượng nuôi mới là cá rô phi đạt chuẩn làm Sushi để cung ứng cho phân khúc thị trường cao cấp. Sự trở lại một cách đầy hiệu quả của dòng tôm sú thế hệ mới trong vụ nuôi 2025 cũng giúp Vinacleanfood có thêm sự lựa chọn hiệu quả hơn cho vụ nghịch, vốn thường hay tiềm ẩn rủi ro về dịch bệnh.
An Xuyên
Tôm - Kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2026 Ảnh: Minh Hưng
Ảnh: Nguyễn Lộc
Thị trường xuất khẩu 2026
tăng trưởng trong chuẩn mực khắt khe
mốc 11,3 tỷ USD. Bước sang năm 2026, triển vọng tăng
sản Việt Nam vẫn còn nhưng song hành với đó là nhiều thách thức, đòi hỏi cách tiếp cận thận trọng và chiến lược phát triển bền vững hơn.
Nền tảng vững chãi từ 2025
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2025, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 11,34 tỷ USD, tăng hơn 13% so với năm 2024. Đây được xem là kết quả ấn tượng trong bối cảnh lạm phát toàn cầu còn dai dẳng, xung đột địa chính trị chưa lắng dịu, chi phí logistics biến động và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng tại nhiều thị trường lớn.
Trong cơ cấu mặt hàng, tôm tiếp tục giữ vai trò chủ lực, đóng góp khoảng 4,6 tỷ USD, tăng trên 20% so với năm trước. Sự phục hồi của nhu cầu tại Trung Quốc, Nhật Bản và một số thị trường khu vực CPTPP đã tạo lực đẩy đáng kể cho mặt hàng này. Kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt trên 2,1 tỷ USD, duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ lợi thế về giá và khả năng đáp ứng các phân khúc tiêu dùng phổ thông lẫn trung cấp. Bên cạnh đó, cá ngừ, mực - bạch tuộc và nhóm cá biển cũng ghi nhận kết quả khả quan.
Đáng chú ý, không chỉ tăng về lượng, giá trị xuất khẩu bình quân của nhiều sản phẩm thủy sản đã được cải thiện, phản ánh
xu hướng chuyển dịch từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng.
2026 được dự báo là năm bản lề, trong đó các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ, Trung
Quốc, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc tiếp tục đóng vai trò quyết định đến triển vọng chung của ngành thủy sản Việt Nam.
Theo đánh giá của các cơ quan quản lý và hiệp hội ngành hàng, năm 2026, nhu cầu tiêu dùng thủy sản tại nhiều thị trường lớn có xu hướng phục hồi rõ nét sau giai đoạn điều
chỉnh tồn kho và lạm phát cao. Trong bối cảnh đó, ngành thủy sản Việt Nam đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 11,5 tỷ USD, tăng nhẹ so với năm 2025. Đáng chú ý, chiến lược phát triển xuất khẩu thủy sản năm 2026 không đặt nặng tăng trưởng đột biến, mà tập trung vào ổn định thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị phần bền vững tại các thị trường trọng điểm. Các sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra, cá ngừ
yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận bền vững được
Trung Quốc - Cơ hội lớn đi kèm yêu cầu khắt khe
Năm 2025, Trung Quốc và Hồng Kông là thị trường tăng trưởng mạnh nhất của thủy sản Việt Nam, với kim ngạch đạt 2,45 tỷ USD, tăng 29% cùng kỳ năm trước, chiếm hơn 20% tổng kim ngạch. Trong đó, nhu cầu đối với các sản phẩm tươi sống như tôm hùm, cua, sò, nghêu tăng mạnh.
Trung Quốc được dự báo tiếp tục là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn và giàu tiềm năng của Việt Nam trong năm 2026. Với lợi thế về vị trí địa lý, nhu cầu tiêu thụ lớn và xu hướng nhập khẩu ngày càng tăng đối với thủy sản đông lạnh, chế biến, thị trường này được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò “đầu kéo” cho tăng trưởng.
Tuy nhiên, khác với giai đoạn trước, xuất khẩu sang Trung Quốc đang thay đổi mạnh về chất. Các cơ quan quản lý Trung Quốc tăng cường kiểm soát truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn đóng gói, nhãn mác. Nhu cầu nhập khẩu tôm, cá tra và thủy sản chế biến của thị trường này tăng mạnh, đặc biệt qua kênh chính ngạch.
Trong năm 2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Trung Quốc được dự báo tiếp tục tăng trưởng, đặc biệt là các sản phẩm cá tra, tôm đông lạnh, hải sản chế biến. Tuy nhiên, lợi thế “dễ tính” của thị trường này gần như không còn. Hơn nữa, Trung Quốc cũng là thị trường có mức độ cạnh tranh rất cao, không chỉ từ các nước ASEAN mà còn từ chính nguồn cung nội địa. Các quy định về kiểm dịch, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc của Trung Quốc ngày càng chặt chẽ, buộc doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư bài bản hơn nếu muốn giữ thị phần lâu dài.
Mỹ - Thị trường lớn nhưng nhiều rủi ro
Mặc dù gặp không ít khó khăn, song kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ năm 2025 vẫn đạt gần 1,9 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2024. Năm 2026, Mỹ tiếp tục được xem là một trong những thị trường xuất khẩu thủy sản quan trọng nhất của Việt Nam. Với quy mô tiêu thụ lớn
Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản sang Mỹ được dự báo đối mặt nhiều rủi ro khi nước này ngày càng siết chặt các quy định liên quan đến lao
động, môi trường và an toàn thực phẩm. Cùng với đó, doanh nghiệp cũng thận trọng hơn khi
xuất khẩu sang Mỹ, trong bối cảnh nhiều loài hải sản chính bị cấm nhập khẩu theo quy định
MMPA (Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển) và lo ngại về mức thuế chống bán phá giá đối với tôm từ đầu năm 2026. Nhiều ý kiến cho rằng, năm 2026, xuất khẩu thủy sản sang Mỹ khó tăng trưởng đột biến mà chủ yếu theo xu hướng ổn định, phân hóa mạnh giữa các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có vùng nuôi đạt chuẩn quốc tế, sản phẩm chế biến sâu, giá trị cao sẽ tiếp tục giữ được thị phần, trong khi các doanh nghiệp phụ thuộc vào xuất khẩu thô, giá thấp sẽ gặp nhiều khó khăn.
Ông Lê Trần Nguyên Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, MMPA không phải là “án treo” đối với toàn bộ thủy sản Việt Nam. Nhiều sản phẩm vẫn có thể tiếp cận thị trường này nếu chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu không xuất phát từ các nghề khai thác
bị từ chối, hoặc đến từ nuôi trồng, hay từ các quốc gia đã được Mỹ công nhận tương đương.
Ở góc nhìn khác, Giám đốc một doanh nghiệp thủy sản tại ĐBSCL cho rằng, muốn giữ được thị trường, doanh nghiệp buộc phải đầu tư bài bản vào chứng nhận bền vững, kiểm soát vùng nguyên liệu và minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng.
EU - Thị trường khó tính nhưng giàu giá trị Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm trước, với nhu cầu đang dần cải thiện, đặc biệt đối với thủy sản nuôi trồng, trong khi hải sản khai thác vẫn chịu tác động
từ thẻ vàng IUU.
EU là thị trường mang tính chiến lược đối với
xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong dài hạn. Năm 2026, thị trường này được đánh giá sẽ
tiếp tục phục hồi nhu cầu tiêu dùng, nhất là
đối với các sản phẩm thủy sản có chứng nhận bền vững và thân thiện môi trường. Tuy nhiên, EU cũng là thị trường đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe nhất. Vấn đề thẻ vàng IUU đối với khai thác hải sản vẫn là rào cản lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh và khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam.
Bên cạnh đó, các quy định mới về phát thải carbon, trách nhiệm xã hội và truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng đang làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Ngoài ra, xuất khẩu tôm Việt Nam cũng đang lo lắng khi các quy định mới về phúc lợi động vật tại thị trường EU đang chuyển từ khuyến nghị sang bắt buộc và có thể tái định hình chuỗi cung ứng từ năm 2026.
Dù vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, EU vẫn là thị trường có dư địa tăng trưởng nếu Việt Nam giải quyết căn cơ các vấn đề về khai thác hợp pháp và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm nuôi trồng, chế biến sâu. Năm 2026 được xem là thời điểm then chốt để thủy sản Việt Nam tái định vị tại thị trường EU theo hướng chất lượng cao, bền vững.
Nhật Bản và Hàn Quốc - Thị trường mang tính ổn định
Năm 2025, Nhật Bản đứng vị trí thứ ba trong số các thị trường chủ lực của thủy sản Việt Nam, với kim ngạch trên 1,56 tỷ USD , tăng 10,3 so với năm 2024. Thị trường Hàn Quốc đứng thứ tư với 785 triệu USD, tăng 7,3%.
Nhật Bản và Hàn Quốc được nhận định tiếp tục là những thị trường trọng điểm, ổn định của thủy sản Việt Nam trong năm 2026. Dù không tăng trưởng nóng, nhưng đây là những thị trường có mức độ rủi ro thấp, giá trị đơn hàng ổn định và yêu cầu chất lượng rõ ràng.
Đối với Nhật Bản, thủy sản Việt Nam, đặc biệt là tôm và cá ngừ chế biến, vẫn giữ được uy tín nhờ chất lượng ổn định và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe. Trong khi đó, Hàn
Quốc tiếp tục là thị trường quan trọng đối với các sản phẩm hải sản đông lạnh, cá tra và mực, bạch tuộc. Xu hướng chung tại hai thị
trường này là ưu tiên sản phẩm chế biến sẵn, tiện lợi, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại.
CPTPP - Động lực tăng trưởng
Với lợi thế thuế quan và sự ổn định của các thị
trường như Nhật Bản, Canada và Australia, khối
CPTPP là động lực xuất khẩu lớn của thủy sản
Việt Nam trong năm qua. Lũy kế cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang khối CPTPP
đạt 3,07 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2024.
Theo đánh giá của VASEP, CPTPP, Trung
Quốc và Hồng Kông cùng EU đang là những thị
trường chủ lực, đóng vai trò bệ đỡ quan trọng cho doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường Mỹ gặp nhiều bất ổn về chính sách thuế và rào
cản kỹ thuật, giúp thủy sản Việt Nam giữ vững nhịp xuất khẩu và tạo nền tảng cho chiến lược phát triển dài hạn trong giai đoạn tới.
Yêu cầu chuyển đổi chiến lược Xuất khẩu thủy sản năm 2026 được dự báo duy trì tăng trưởng ổn định, song khó có đột phá mạnh. Các thị trường lớn vẫn đóng vai trò chủ lực, nhưng mức độ phân hóa giữa doanh nghiệp sẽ ngày càng rõ nét. Hơn nữa, sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu thủy sản cũng ngày càng gay gắt. Các quốc gia xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Ecuador, Indonesia hay Thái Lan đều đẩy mạnh đầu tư nuôi trồng, chế biến và mở rộng thị trường. Vì vậy, lợi thế về giá rẻ của thủy sản Việt Nam đang dần thu hẹp. Thay vào đó, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm giá trị cao sẽ là yếu tố quyết định. Ngành thủy sản được khuyến nghị tiếp tục chuyển dịch mạnh sang nuôi trồng bền vững, giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và xuất khẩu thô. Trong bối cảnh đó, 2026 sẽ là năm thử thách năng lực tái cấu trúc, nâng cao chất lượng và phát triển bền vững của toàn ngành. Khả năng giữ vững thị phần tại các thị trường lớn sẽ phụ thuộc không chỉ vào giá cả, mà còn vào uy tín, trách nhiệm và giá trị mà thủy sản Việt Nam mang lại trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và chứng nhận bền vững sẽ tiếp tục được siết chặt tại các thị trường trọng điểm như EU, Mỹ, Nhật Bản. Đồng thời, các chứng nhận như ASC, MSC, BAP không còn là lợi thế cạnh tranh mà dần trở thành điều kiện bắt buộc.
Mặt khác, các rào cản kỹ thuật và kiểm soát an toàn thực phẩm ngày càng chi tiết, từ tồn dư kháng sinh, phụ gia đến tiêu chuẩn môi trường trong nuôi trồng. Điều này đòi hỏi chi phí tuân thủ cao hơn, nhất là với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Năm 2025 đã chứng minh khả năng vượt khó và sức bật của ngành thủy sản Việt Nam. Còn năm 2026 sẽ là thời điểm “chọn lọc”, là giai đoạn để ngành thủy sản Việt Nam khẳng định vị thế không chỉ là nhà cung cấp lớn, mà còn là đối tác tin cậy trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
PHẦN TRĂM
Nâng cao tỷ lệ sống trong giai đoạn ương gièo – thách thức đầu vụ nuôi
Giai đoạn gièo tôm sau khi thả giống được xem là nền móng quyết định cho cả vụ nuôi, bởi đây là thời điểm tôm còn rất non, hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện, khả năng bắt mồi và hấp thu dinh dưỡng còn hạn chế, trong khi lại phải đối mặt cùng lúc với nhiều áp lực như thay đổi môi trường và mầm bệnh tiềm ẩn. Thực tế cho thấy, nhiều rủi ro như tôm chậm lớn, đường ruột yếu, gan tụy tổn thương hay phát sinh các bệnh sớm thường bắt nguồn từ cách quản lý cho ăn và chế độ dinh dưỡng chưa phù hợp ngay từ giai đoạn đầu. Và ngược lại, nếu giai đoạn gièo tôm được cung cấp dinh dưỡng hợp lý, sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển bức phá giai đoạn về sau. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó của bà con nuôi tôm, Công ty TNHH Uni-President VN đã nghiên cứu và đưa ra thị trường dòng thức ăn dinh dưỡng cao cấp cho giai đoạn gièo TP100, với công thức được các chuyên gia nghiên cứu chuyên biệt, giúp tôm giống nhanh
chóng thích nghi, tăng sức đề kháng, phát triển đồng đều. Thức ăn gièo TP 100 - như một “lá chắn” giúp tôm vượt qua những áp lực đầu đời để tạo đà bứt phá cho cả vụ nuôi.
Vậy giá trị tạo nên sự khác biệt của TP 100 là gì?
Với sự kết hợp giữa kỹ thuật sản xuất hiện đại và công thức dinh dưỡng chuyên sâu, TP100 đem đến 3 lợi ích vàng giúp tôm gièo khỏe lên mỗi ngày:
- Bảo vệ gan ruột, phòng tránh TPD & EMS: Công thức đặc biệt giúp tăng cường sức đề kháng, giảm thiểu rủi ro bệnh tật ngay từ giai đoạn đầu.
- Kích thước hạt tối ưu, độ ổn định cao: Kích thước hạt được thiết kế chuẩn xác cho từng giai đoạn, đặc biệt là tính chất hạt lâu tan giúp bảo vệ môi trường nước, giảm thiểu ô nhiễm và thất thoát dinh dưỡng.
- Hệ dưỡng chất “khóa” gan tụy: Bổ sung hàm lượng protein cao cùng các khoáng chất
và vitamin thiết yếu tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của tôm sau này.
TP 100 đã thay đổi diện mạo ao gièo
như thế nào?
Giá trị của TP 100 đã được minh chứng rõ nét thông qua sự thay đổi tích cực tại các vùng nuôi thực tế:
Điển hình khách hàng tại Cà Mau: Các hộ nuôi đánh giá cao khả năng bắt mồi của tôm nhờ mùi thơm rõ rệt, giúp tôm duy trì hệ gan ruột khỏe mạnh xuyên suốt quá trình gièo.
Điển hình khách hàng tại Sóc Trăng: Tôm sử dụng TP 100 có sự thay đổi rất rõ: gan đều màu, đường ruột rõ ràng và tốc độ tăng trưởng tốt.
Điển hình khách hàng tại Bạc Liêu: Sản phẩm giúp tôm duy trì sự ổn định về sức khỏe, tạo tiền đề vững chắc để tôm phát triển đồng đều ở các giai đoạn sau, giúp bà con an tâm gắn bó lâu dài.
“Tôm khỏe từ sớm thì cả vụ mới yên tâm”
Đó là chia sẻ của anh Phương (Trà Vinh) - một trong những hộ nuôi tiêu biểu đã thành công nhờ áp dụng giải pháp TP 100. Từ lúc áp dụng sản phẩm, anh ghi nhận rõ rệt:
Gan - ruột tôm luôn duy trì trạng thái đẹp và ổn định nhất.
Tôm lớn nhanh, đạt độ đồng đều cao nhờ hấp thụ dinh dưỡng tốt.
Thức ăn thơm, dễ bắt mồi, hạt lâu tan trong nước, hạn chế hao hụt.
Tầm nhìn mới cho giai đoạn khởi đầu của ngành tôm
Giai đoạn ương gièo thường được ví như “hành trình đầy thử thách” với những biến động môi trường khó lường. Sự xuất hiện của TP 100 không chỉ là một dòng thức ăn mới, mà là cam kết của Uni-President trong việc đồng hành cùng bà con xây dựng một quy trình nuôi bền vững ngay từ những ngày đầu.
Bằng cách tập trung vào “chất lượng từ gốc”, chúng ta không chỉ bảo vệ lợi nhuận cho từng vụ nuôi mà còn góp phần nâng cao vị thế của tôm Việt trên thị trường quốc tế bằng những
đàn tôm khỏe mạnh, đồng đều và sạch bệnh. Để tìm hiểu thêm về các giải pháp và quy trình nuôi tôm hiệu quả, bà con có thể liên hệ với đội ngũ nhân viên Uni-President qua số HotLine 02743.732.723, hệ thống đại lý trên toàn quốc, hoặc gửi tin nhắn trực tiếp qua Fanpage chính thức trên Facebook, để được lắng nghe và hỗ trợ trong thời gian sớm nhất.
Uni-President – Nuôi tôm thành công cùng Mô hình 3 Tốt!
Vi sinh của mọi nhà
Giải pháp mục tiêu toàn diện
Công ty TNHH Công Nghệ - Kỹ Thuật - Sinh Hóa THÁI NAM VIỆT/ C ông ty THÁI NAM VIỆT là đại diện và phân phối độc quyền các sản phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản, cây trồng, xử lý môi trường của các công ty sơ cấp về vi sinh - công nghệ sinh học:
1. GENESIS BIOSCIENCES LLC., MỸ
2. BIONETIX INTERNATIONAL CORP., CANADA
3. SCD PROBIOTICS LLC., MỸ
4. ASTEBIO LLS., MỸ
5. DVS BIOLIFIE CO., LTD., ẤN ĐỘ
6. ALGEA A.S LLC., NAUY Với “ Giải Pháp Mục Tiêu Toàn Diện”, công ty chúng tôi hỗ trợ người nuôi giải quyết nhanh chóng và triệt để các vấn đề phát sinh trong quá trình nuôi bằng các chủng vi sinh được chọn lọc riêng biệt, mạnh mẽ, sản sinh trong các môi trường nước ngọt, lợ, mặn (với độ mặn lên đến 30 - 40ppt, riêng biệt có các chủng hoạt động ở 50 - 60ppt.) đã qua thử nghiệm và ứng dụng rộng rãi tại các farm nuôi, trại tôm giống, ao cá, ếch, ốc hương… ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An, TP.Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các vùng nuôi nước ngọt của An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Nai cùng các trang trại nuôi cá kiểng thương mại. Các sản phẩm của vi sinh, chế phẩm sinh học của THÁI NAM VIỆT luôn giúp người nuôi tối ưu hóa lợi nhuận trong việc: 1. ỨC CHẾ MẦM BỆNH VÀ VI KHUẨN CÓ HẠI trong môi trường nước nuôi cũng như trong hệ thống đường ruột từ đó làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, giảm tỷ lệ hao hụt. Nâng cao năng suất của các vụ nuôi.
Tôm bị nhiễm ký sinh trùng
Đặc tính sản phẩm này của THÁI NAM
VIỆT đã được các trung tâm và người sử dụng kiểm tra trong phòng Lab và ao nuôi thực tế chứng minh chất lượng sản phẩm với các hiệu quả vượt trội, vui lòng tham khảo thêm tại trang web: thainamviet.com).
2. PHÂN HỦY BÙN BÃ HỮU CƠ, CẢI TẠO
CHẤT LƯỢNG NƯỚC, tạo môi trường nuôi sạch bệnh, tương tự với môi trường tự nhiên cho tôm, cá, ếch… sống và sinh trưởng.
Môi trường nước:
- Nước trong, nhẹ - sáng và có “màu xanh đọt chuối “sau 3 ngày cho nuôi tôm ao đất.
- Nước trong, nhẹ - sáng và có “màu tràtảo khuê” sau 3 ngày cho nuôi tôm ao bạt.
- Nước không còn mùi hôi, tanh sau 3 - 5 ngày sử dụng cho ao nuôi cá tra, cá lóc, ao ếch.
Nền đáy ao đấ t và bạt đáy ao trải bạt:
- Đáy xuất hiện bùn xám sau 3 - 5 ngày sử dụng cho ao đất nuôi tôm, cá, ếch…
- Hết - giảm nhớt bạt đáy, đi không té sau 3 - 5 ngày sử dụng cho ao nuôi tôm trải bạt. Không phải chà bạt định kỳ trong quá trình nuôi và sau khi thu hoạch (không phải dùng HCl để chà tẩy rửa bạt sau sau mỗi vụ nuôi).
- Giảm thiểu - hạn chế khí độc trong quá trình nuôi, duy trì chất lượng nước tốt cho tôm, cá, ếch phát triển.
3. TĂNG CƯỜNG MIỄN DỊCH, HỖ TRỢ TĂNG TRƯỞNG CHO VẬT NUÔI
- Giúp tôm, cá, ếch… tăng sức đề kháng, hồi phục nhanh sau khi điều trị bệnh, khỏe.
- Bổ sung khoáng chất dinh dưỡng, vitamin giúp thúc đẩy tăng trưởng, nhảy size nhanh.
- Giúp cơ thể chuyển hóa, hấp thụ dinh dưỡng nhiều hơn, vật nuôi mau lớn, cải thiện FCR.
- Màu sắc bóng mượt hơn, tôm cá hoạt động manh hơn và ăn nhiều hơn.
Hiệu quả rõ rệt sau 3 ngày sử dụng.
Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Công nghệ - Kỹ thuậtSinh hóa Thái Nam Việt Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, P. Tăng Nhơn Phú, TP.Hồ Chí Minh ĐT: 0888 59 63 66 - 0888 69 36 390916865938
Email: info@thainamviet.com
Website: thainamviet.com
Tôm bị nhiễm EHP
Shrimpharmaqua
Đồng hành cùng người nuôi trên hành trình phát triển bền vững nông nghiệp xanh
Trong bối cảnh ngành
nuôi trồng thủy sản đối mặt với nhiều thách
thức về chi phí đầu vào, an toàn sinh học và yêu cầu môi trường ngày càng khắt khe, nhu cầu về các giải pháp nuôi hiệu quả, thân thiện và bền vững trở nên cấp thiết. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ nuôi vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh, môi trường ao nuôi thiếu ổn định hoặc thiếu sự tư vấn kỹ thuật kịp thời, khiến người nuôi ngày càng thận trọng hơn trong việc lựa chọn sản phẩm và đối tác đồng hành.
Shrimpharmaqua được hình thành từ chính những trăn trở đó, phát triển theo mô hình hệ thống cửa hàng đa kênh hiện đại, chuyên cung cấp sản phẩm và giải pháp phục vụ nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, theo hướng an toàn sinh học và bền vững.
Khác với cách tiếp cận đơn thuần là phân phối vật tư, Shrimpharmaqua chú trọng xây dựng cộng đồng người nuôi thủy sản bền vững thông qua
chương trình hội viên. Người
nuôi có cơ hội kết nối với đội
ngũ kỹ thuật, chuyên gia, tham gia các buổi chia sẻ, hội thảo và trao đổi kinh nghiệm thực
tế. Hội viên Vàng và Kim cương
được hưởng nhiều quyền lợi
thiết thực như dùng thử sản phẩm, tích điểm đổi quà và các
chương trình ưu đãi, góp phần nâng cao hiệu quả từng vụ nuôi.
Song song đó, doanh nghiệp phát triển danh mục sản phẩm
gắn với các vấn đề trong quá
trình nuôi, bao gồm men vi sinh
(Astro Bio), enzyme (Neozyme), khoáng chất (Actimin), thức ăn
bổ sung (Poli Bio), sản phẩm
chiết xuất từ thực vật (Yucca Best Liquid) và xử lý - cải tạo môi trường. Nhiều sản phẩm
được người nuôi đánh giá tích
cực nhờ khả năng ổn định môi
trường ao và tăng cường sức đề
kháng cho tôm.
Các sản phẩm do Shrimpharmaqua lựa chọn và
phân phối đều đến từ nhà sản
xuất uy tín, được kiểm soát chặt
chẽ về nguồn gốc và quy trình
sản xuất. Trong bối cảnh người
nuôi phải cân nhắc giữa nhiều
giải pháp với mức độ hiệu quả
khác nhau, việc kiên định với
chất lượng được xem là nền
tảng xây dựng niềm tin lâu dài.
Thông qua mô hình phân phối
đa kênh, kết nối trực tiếp với nhà
sản xuất, Shrimpharmaqua triển
khai chính sách giá cạnh tranh
và minh bạch, giúp người nuôi dễ dàng tiếp cận và chủ động lựa chọn sản phẩm.
Với tầm nhìn trở thành thương hiệu uy tín, được người nuôi thủy sản tin tưởng, Shrimpharmaqua kiên định theo đuổi mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh – sạch –hiện đại và bền vững, từng bước khẳng định vai trò là đối tác đồng hành tin cậy cho những vụ nuôi an toàn, hiệu quả và lâu dài. Khánh Nguyễn
Chúng tôi trân trọng kính mời Quý Khách hàng và Quý Đối tác
đến tham quan, trải nghiệm các giải pháp công nghệ nông nghiệp – môi trường tiên tiến tại gian hàng của chúng tôi trong khuôn khổ Hội chợ Triển lãm Công nghệ Nông nghiệp – Môi trường (VietAgros 2026), diễn ra từ ngày 15–17/4/2026 tại Cần Thơ.
Shrimpharmaqua – Cung cấp các giải pháp nông nghiệp bền vững cho nuôi trồng thủy sản
Địa chỉ: Số 80, đường D2, Khu dân cư Hà Đô, phường Thới An, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0828.393.456 – 0859.903.456
Email: shrimpharmaqua@gmail.com
Website: shrimpharmaqua.com hoặc nghenong.vn
Gỡ “thẻ vàng” IUU
Làm dứt điểm, không đối phó
Sau một năm 2025 dồn toàn lực thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) với tinh thần
“làm dứt điểm, không đối phó”, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để thay đổi định kiến quốc tế về
năng lực quản lý nghề cá quốc gia.
Hành động quyết liệt
Nhìn lại toàn cảnh năm 2025, chưa bao giờ công tác chống
khai thác IUU lại nhận được sự
chỉ đạo quyết liệt, xuyên suốt và đồng bộ từ cấp cao nhất như giai đoạn vừa qua. Quán
triệt sâu sắc Chỉ thị số 32-CT/
TW của Ban Bí thư và các chỉ
đạo của Chính phủ, cả hệ thống
chính trị đã thực sự vào cuộc với tâm thế “tăng tốc”. Minh chứng rõ nét nhất cho quyết tâm sắt đá
này là việc Thủ tướng Chính phủ
đã thiết lập cơ chế kiểm điểm, giao ban hàng tuần để đôn đốc
tiến độ.
Tại phiên họp thứ 29 của
Ban Chỉ đạo Quốc gia ngày 06/01/2026, Chính phủ một lần nữa nhấn mạnh yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải nhìn thẳng vào những tồn tại, hạn
chế, tuyệt đối không chạy theo “bệnh thành tích”. Sự thay đổi căn bản nhất trong năm qua chính là việc cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương; tình trạng “trên nóng dưới lạnh” đã cơ bản được khắc phục khi các chế tài xử
công nghệ thành công cụ đắc lực nhất để dồn lực gỡ thẻ vàng trong năm 2025. Cụ thể hóa các chỉ đạo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng cùng các địa phương đã hoàn thành việc rà soát tổng thể. Số liệu cập nhật mới nhất đến ngày 06/01/2026 cho thấy, tổng số tàu cá hiện có đã đăng ký và cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về nghề cá (VNFishbase) là 79.152/79.152 tàu, đạt tỷ lệ tuyệt đối 100%.
Đặc biệt, đối với nhóm tàu “3 không” (không đăng ký, không đăng kiểm, không cấp phép) hoặc không đủ điều kiện hoạt động, các địa phương đã thực hiện kiểm soát chặt chẽ, giao trách nhiệm quản lý cụ thể về từng xã, phường với vị trí neo đậu được định vị rõ ràng. Hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT) cũng đã đi vào hoạt
động ổn định; chỉ tính riêng tuần đầu tháng 1/2026, hệ thống đã giám sát được hơn 13.000 tấn thủy sản qua cảng, đảm bảo minh bạch dòng hàng.
Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, năm 2025 cũng đánh dấu bước ngoặt trong tư duy thực thi pháp luật với phương châm “siết chặt kỷ cương, xử lý nghiêm minh”. Điểm đột phá mang tính chiến lược trong năm qua chính là việc áp dụng triệt để Nghị quyết số 04/2024/NQHĐTP của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao để xử lý hình sự. Những con số thống
kê đã chứng minh sự nghiêm minh của pháp luật: Lũy kế từ
đầu năm 2024 đến giữa tháng 11/2025, cơ quan công an đã
khởi tố tới 91 vụ án hình sự vi phạm IUU với 136 bị can; đưa ra
xét xử 48 vụ với 101 bị cáo. Nhờ sự quyết liệt này, trong những tuần cao điểm vừa qua, không phát sinh trường hợp tàu cá nào vi phạm vùng biển nước ngoài bị bắt giữ, gửi đi thông điệp mạnh
mẽ rằng Việt Nam không có
vùng cấm và không dung túng cho các hành vi trục lợi.
“Tuyên chiến” với IUU
Bước sang năm 2026, không khí khẩn trương được đẩy lên cao trào khi ngày 13/1/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm
Minh Chính đã ký Công điện số 03/CĐ-TTg. Đây được xem là
“quân lệnh” đanh thép nhất, yêu cầu cương quyết “tuyên chiến” với IUU, huy động tối đa nguồn lực cho giai đoạn nước rút.
Không dừng lại ở văn bản, Chính phủ yêu cầu hành động thực chất bằng việc thành lập ngay Đoàn kiểm tra liên ngành (gồm Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tư pháp...) để tổ
chức tổng kiểm tra tại các địa phương. Thủ tướng cũng yêu cầu phải có báo cáo gửi Thủ tướng trước ngày 25/01/2026.
Nội dung đợt tổng kiểm tra lần này tập trung vào tính trung
thực của các con số. Chính phủ yêu cầu xác minh tính thực chất
của kết quả hồ sơ xử phạt mà các địa phương báo cáo (hiện
đạt tỷ lệ rất cao trên 90%).
Quan điểm chỉ đạo rất rõ ràng:
Kiên quyết không chấp nhận
việc khép hồ sơ hình thức, bỏ lọt vi phạm; tuyệt đối không
được báo cáo “đã xử lý 100%”
khi thực tế chưa xử lý dứt điểm.
Nếu phát hiện hồ sơ dối trá, người đứng đầu địa phương sẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện.
Cùng với đó, Công điện 03/ CĐ-TTg cũng yêu cầu Bộ Công an khẩn trương đưa ra xét xử các vụ án môi giới, đồng thời
điều tra dứt điểm các nghi vấn gian lận tại doanh nghiệp xuất khẩu (như vụ việc các lô hàng cá cờ kiếm). Bộ Khoa học và
Công nghệ cùng các nhà mạng
phải đảm bảo dữ liệu VMS và
Thủ tướng Chính phủ
Phạm Minh Chính
“Chống khai thác IUU không phải để đối phó mà vì lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi của chính ngư dân. Phải thực hiện nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Báo cáo phải trung thực, khách quan theo phương châm “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ kết quả, rõ vướng mắc, rõ nguyên nhân và rõ trách nhiệm. Kiên quyết đạt “mục tiêu kép”: Gỡ thẻ vàng EC và chuyển mạnh từ tư duy đánh bắt sang nuôi trồng bền vững.”
Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà
“Phải làm rõ việc quản lý tàu cá bị thu hồi, hủy đăng ký và hoàn thiện hướng dẫn vận hành hệ thống số hóa. Doanh nghiệp xuất khẩu sang châu Âu phải “tự kê khai, tự rà soát, tự khắc phục”; trung thực sẽ được xem xét, gian dối sẽ bị xử lý nghiêm. Thay đổi tư duy thống kê sang “khớp toàn quốc”, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Các bộ ngành, địa phương phải giảm họp, tăng hiệu quả thực chất, triển khai ngay nhiệm vụ để báo cáo Thủ tướng.”
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến “Đợt cao điểm này là cuộc chạy đua nước rút, phải hoàn tất 9 nhiệm vụ trọng tâm và hạ tầng số trước Tết Nguyên đán để đón đoàn thanh tra EC vào tháng 4/2026. Hệ thống eCDT phải vận hành trơn tru kể cả chế độ “Offline”, giải quyết triệt để lo ngại mất sóng của ngư dân. Tinh thần là “đối diện sự thật, không đối phó”, làm dứt điểm tàu “3 không”, xử lý nghiêm cả doanh nghiệp xuất khẩu nếu tiếp tay. Nếu không quyết liệt lúc này, chúng ta sẽ lỡ mất cơ hội lịch sử để gỡ thẻ vàng.”
VNFishbase “đúng, đủ, sạch, sống”, liên thông và không bị gián đoạn vì lý do kỹ thuật.
Tầm nhìn năm 2026 không chỉ là gỡ thẻ vàng, mà là xây dựng
nền nếp kỷ cương quốc gia. Với
việc huy động cả hệ thống chính
trị, từ Tổng Thanh tra Chính phủ
đến Bí thư, Chủ tịch 22 tỉnh thành
ven biển, Việt Nam đang thể hiện quyết tâm không để một bộ
phận nhỏ cá nhân vì lợi ích riêng
mà làm ảnh hưởng đến hình ảnh
quốc gia. Chúng ta có quyền tin tưởng rằng, với sự “tuyên chiến” mạnh mẽ này, năm 2026 sẽ là thời điểm Việt Nam khép lại câu chuyện thẻ vàng IUU, mở ra kỷ nguyên mới cho nghề cá minh bạch và trách nhiệm.
Vực dậy ngành thủy sản sau thiên tai
Những đợt mưa lũ và bão lớn cuối năm 2025 đã để lại tổn thất nặng nề đối với ngành thủy sản miền Trung và Tây Nguyên, phá vỡ nhiều vùng nuôi trọng điểm, cuốn trôi hàng nghìn lồng bè và đẩy không ít người nuôi vào cảnh trắng tay.
Song, từ trong gian khó, một quá trình tái thiết đang được khởi động, không chỉ
để khôi phục sản xuất, mà còn hướng tới xây dựng một nền thủy sản an toàn,
thích ứng và bền vững hơn trước thiên nhiên.
Thiệt hại nặng nề
Cuối năm 2025, thiên tai liên tiếp trút xuống miền Trung và Tây
Nguyên. 03 cơn bão lớn cùng các đợt mưa lũ kéo dài đã gây thiệt hại sâu rộng cho lĩnh vực nuôi trồng thủy sản – ngành kinh tế gắn chặt với sinh kế của hàng triệu người dân ven biển và vùng lòng hồ.
Theo báo cáo tổng hợp của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, trong các tháng 10 và 11/2025, liên tiếp 03 cơn bão số 10, 11 và 13 cùng mưa lũ sau bão đã gây thiệt hại nặng cho nuôi trồng thủy sản tại nhiều địa phương, trọng tâm là Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng. Riêng bão số 13 làm thiệt hại khoảng 1.848 ha diện tích nuôi, hơn 23.000 ô lồng bè, với tổng giá trị 1.258 ỷ đồng. Các đợt mưa lũ tiếp theo khiến 03 tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk và Gia Lai thiệt hại thêm khoảng 4.032 tỷ đồng. Tính chung hai đợt thiên tai, tổng thiệt hại toàn ngành thủy sản ước tính 5.290 tỷ đồng. Trao đổi bên lề Hội nghị bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản năm 2025, ông Trần
Ao đìa nuôi
tôm
tại Đắk Lắk bị thiệt hại
do bão số 13 Ảnh: Tuấn Anh
năm không chỉ ảnh hưởng đến vụ nuôi hiện
tại mà còn tác động trực tiếp đến mục tiêu sản xuất những tháng đầu năm 2026, đặc biệt với các đối tượng nuôi có chu kỳ dài.
Từ cứu trợ khẩn cấp đến phục hồi có định hướng
Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhìn nhận thẳng thắn: “Mức độ thiệt hại lần này rất nặng, trải rộng và ảnh hưởng sâu
đến kế sinh nhai của người dân. Đây không còn là rủi ro nhất thời mà là dấu hiệu cho thấy mô hình nuôi truyền thống đang ngày càng dễ tổn thương trước biến đổi khí hậu”.
Trong bức tranh chung, tôm hùm và cá tầm là hai đối tượng chịu thiệt hại nặng nhất. Riêng tôm hùm bị thiệt hại khoảng 2.550 tỷ đồng, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Nhiều vùng nuôi gần như mất trắng hạ tầng, con giống và tư liệu sản xuất. Tại vịnh Xuân Đài – một trong những vùng nuôi tôm hùm lồng bè trọng điểm, bão số 13 đã làm khoảng 95% số lồng nuôi bị hư hại, hơn 20 triệu con tôm bị chết. Mưa lớn kéo dài khiến độ mặn môi trường nước giảm đột ngột, vượt ngưỡng chịu đựng của vật nuôi, trong khi sự biến động môi trường tiếp tục kéo dài nhiều tuần sau bão. Không chỉ thiệt hại về kinh tế, hậu quả thiên tai còn đẩy nhiều hộ nuôi vào vòng xoáy thiếu vốn, nợ vay chồng chất. Với các đối tượng nuôi có chu kỳ dài như tôm hùm, cá biển giá trị cao, việc phục hồi không thể diễn ra trong “một sớm một chiều”. Lãnh đạo Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhận định, thiên tai xảy ra đúng vào giai đoạn cuối
Ngay sau khi mưa bão đi qua, ngành thủy sản đã kích hoạt đồng bộ các giải pháp hỗ trợ khôi phục sản xuất, trọng tâm là xử lý môi trường vùng nuôi, thu gom thủy sản chết, làm sạch khu vực ngập úng, phòng ngừa nguy cơ ô nhiễm và dịch bệnh. Công tác quan trắc, đánh giá chất lượng nước được tăng cường nhằm xác định thời điểm thả giống an toàn.
Theo ông Trần Đình Luân, việc khôi phục không thể làm vội vàng: “Nếu không đánh giá lại môi trường, không điều chỉnh thời điểm xuống giống, cơ cấu mùa vụ và loại hình nuôi, thì nguy cơ thiệt hại sẽ tiếp tục lặp lại, thậm chí nặng nề hơn khi thời tiết ngày càng cực đoan”.
Cùng với xử lý môi trường, ngành thủy sản tập trung thống kê nhu cầu con giống, thức ăn, vật tư tại từng địa phương để chủ động
điều phối nguồn cung từ các vùng không bị
ảnh hưởng, hạn chế tình trạng thiếu giống
cục bộ trong giai đoạn tái sản xuất.
Trong bối cảnh người nuôi gặp khó khăn
lớn về vốn, các chính sách tài chính được xem
là “đòn bẩy” quan trọng. Do vậy, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã yêu cầu các địa phương khẩn trương hoàn tất xác nhận thiệt hại theo
Nghị định số 09/2025/NĐ-CP để kịp thời triển khai hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước.
Song song với đó là việc phối hợp với các ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện khoanh nợ, giãn nợ, hoãn nợ và hỗ trợ tín dụng mới cho các hộ nuôi bị thiệt hại nặng, giúp người dân giảm áp lực tài chính trước mắt, từng bước phục hồi sản xuất trong những tháng đầu năm mới.
Tái cơ cấu vùng nuôi Từ những tổn thất liên tiếp do bão lũ, lãnh đạo ngành thủy sản cho rằng, đã đến lúc phải nhìn lại toàn bộ không gian và mô hình sản xuất. Theo ông Luân, trọng tâm lâu dài là chuyển đổi sang các mô hình nuôi biển thông minh, sử dụng vật liệu bền sóng gió, thân thiện môi trường, đặc biệt tại các vùng biển sâu miền Trung. Thực tế cho thấy, các mô hình lồng nuôi công nghệ cao bằng vật liệu HDPE tại Khánh Hòa, Quảng Ninh và một số địa phương đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong việc tăng khả năng chống chịu trước bão lớn và sóng mạnh. Bên cạnh đó, việc giao mặt nước biển ổn định, lâu dài cho người nuôi được xem là điều kiện tiên quyết để họ yên tâm đầu tư dài hạn. Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ năm 2026, thủ tục cấp phép nuôi biển và giao mặt nước sẽ tiếp tục được cải cách, đơn giản hóa, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp. Phát biểu tại Họp báo thường kỳ tháng 11/2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nêu rõ: “Thiên tai khốc liệt đã bộc lộ rõ những điểm yếu trong tổ chức sản xuất thủy sản hiện nay. Nhưng từ trong gian khó, những giải pháp căn cơ, dài hạn đang dần được định hình”.
Theo ông Tiến, việc khôi phục sản xuất không chỉ là giải quyết hậu quả trước mắt, mà phải gắn với mục tiêu tái cấu trúc ngành theo hướng chủ động, an toàn và bền vững hơn. “Khôi phục không chỉ là làm lại cái đã mất, mà là tái thiết một nền sản xuất thủy sản thích ứng hơn trước những biến động ngày càng khắc nghiệt của thiên nhiên”, ông nhấn mạnh. Từ những vùng nuôi từng tan hoang sau bão lũ, một quá trình hồi sinh đang âm thầm diễn ra. Những chính sách hỗ trợ đang dần đi vào thực chất, những mô hình nuôi mới, cách tiếp cận mới đang được hình thành. Vực dậy ngành thủy sản sau thiên tai vì thế không chỉ là câu chuyện của con giống, lồng bè hay vốn liếng, mà là hành trình thắp sáng niềm tin về ngành thủy sản được tổ chức tốt hơn, an toàn hơn, đủ sức đứng vững trước sự khắc nghiệt của thiên tai.
Nguyễn Khánh
Không sử dụng MEN TOMHOPE
Có sử dụng MEN TOMHOPE
GIẢM CHI PHÍ - TĂNG LỢI NHUẬN
Giải pháp từ chế phẩm lên men
MEN CAHOPE & MEN TOMHOPE
của New Hope Vĩnh Long
Trong bối cảnh giá thức ăn thủy sản liên tục biến
động, chi phí thuốc và xử lý môi trường ngày càng tăng cao, bài toán “nuôi sao cho hiệu quả, giảm hao hụt, tối ưu lợi nhuận” đang trở thành mối quan tâm
hàng đầu của bà con nuôi cá, nuôi tôm. Thực tế sản xuất cho thấy, phần lớn rủi ro và chi phí phát sinh
đều bắt nguồn từ đường ruột yếu, khả năng tiêu hóa kém và môi trường ao nuôi mất cân bằng.
Nhận diện rõ vấn đề cốt
lõi này, Công ty TNHH
New Hope Vĩnh Long
đã nghiên cứu và phát triển dòng
chế phẩm lên men thế hệ mới
- MEN CAHOPE cho cá và MEN
TOMHOPE cho tôm - nhằm hỗ
trợ tôm, cá khỏe từ bên trong, giảm phụ thuộc vào kháng sinh và thuốc điều trị.
Chế phẩm lên men - xu hướng
bền vững trong nuôi trồng thủy sản
MEN CAHOPE và MEN
TOMHOPE được tạo ra bằng
công nghệ lên men kết hợp vi sinh vật có lợi, enzyme và các
chất hỗ trợ chức năng, giúp cung cấp men tiêu hóa và hệ vi sinh đường ruột một cách hiệu quả. Nhờ đó, sản phẩm góp phần cải thiện khả năng hấp thu thức ăn, bảo vệ gan - ruột, tăng cường miễn dịch và nâng cao tỷ lệ sống cho tôm, cá. Đối với thủy sản, đặc biệt là cá và tôm, hệ tiêu hóa còn nhiều hạn chế: - Nhiều loài cá không có răng, tuyến nước bọt hoặc dạ dày. - Tôm, cá có
tiêu hóa ngắn, thời gian phản ứng
và tiêu hoá,
thụ ngắn. - Thành ruột mỏng, dễ tổn thương, chức năng bảo vệ yếu.
Trước khi sử dụng
MEN CAHOPE
Chính vì vậy, việc bổ sung men vi sinh và enzyme tiêu hóa từ bên ngoài đóng vai trò then chốt trong việc ổn định sức khỏe đàn nuôi.
Thành phần nổi bật - tác động đa chiều
MEN CAHOPE và MEN TOMHOPE chứa hệ enzyme tiêu hóa như Protease, Amylase, Lipase, giúp hỗ trợ tiêu hóa, giảm tải gan, giảm FCR và tăng tốc độ tăng trưởng; đồng thời bổ sung β-Glucan, Peptide, Taurine nhằm tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng tự nhiên.
Bên cạnh đó là hệ vi sinh có lợi gồm Bacillus, Lactobacillus, Saccharomyces, giúp:
- Cân bằng hệ vi sinh đường ruột
- Tăng nhung mao ruột, thành ruột dày và cải thiện tình trạng phân nổi trên cá.
- Ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn và viêm ruột.
- Góp phần điều chỉnh, ổn định chất lượng nước ao nuôi.
Hiệu quả thực tế ghi nhận
Qua quá trình sử dụng thực tế tại nhiều ao nuôi, chế phẩm lên
men của New Hope Vĩnh Long mang lại những kết quả tích cực:
- Hệ số FCR giảm từ 5-10%, tiết kiệm đáng kể chi phí thức ăn.
- Tỷ lệ sống tăng 10-20%, đàn nuôi đồng đều, khỏe mạnh.
Sau khi sử dụng
MEN CAHOPE
- Chi phí thuốc điều trị bệnh trên cá giảm đến 50%.
- Chi phí cải tạo nước ao nuôi tôm giảm đến 20%.
- Gan, ruột tôm, cá khỏe hơn, khả năng chống chịu stress môi trường tốt hơn.
Đặc biệt, sản phẩm phù hợp
với nhiều đối tượng nuôi như cá lóc, cá thát lát, cá điêu hồng, cá tra, ếch (MEN CAHOPE) và tôm thẻ, tôm sú (MEN TOMHOPE).
Đồng hành cùng bà con nuôi
trồng thủy sản
Với định hướng “nuôi khỏegiảm chi phí - tăng lợi nhuận”, New Hope Vĩnh Long không chỉ cung cấp sản phẩm mà còn đồng hành cùng bà con thông qua đội ngũ kỹ thuật tư vấn miễn phí, sát thực tế ao nuôi.
Chương trình ưu đãi “Mua
10 tặng 1” đang diễn ra rất hấp dẫn, cũng là một phần trong cam kết hỗ trợ người nuôi tiếp cận giải pháp chất lượng với chi phí hợp lý.
MEN CAHOPE & MEN
TOMHOPE - giải pháp chế phẩm lên men bền vững, giúp tôm, cá
khỏe từ bên trong, môi trường ổn
định hơn và lợi nhuận bền vững hơn
cho bà con nuôi trồng thủy sản.
New Hope Vĩnh Long - vì nông
dân mưu lợi, vì người dùng tạo phúc!
New Hope Vĩnh Long
INTERVIEW
Bà Phan Bảo Trân
Nuôi tôm không có đường tắt
Chúng tôi gặp bà Phan Bảo Trân
tại Farm thực nghiệm Trân An
Phú trong một buổi trò chuyện
ngắn xoay quanh nghề nuôi tôm
– nghề mà bà đã gắn bó gần trọn
thanh xuân. Câu chuyện không
khởi đầu bằng những thông số
kỹ thuật hay năng suất, mà bắt
đầu từ những ký ức rất đời của
một người lớn lên cùng những
vuông tôm. Với bà Trân, nuôi tôm
không chỉ là một vụ sản xuất, mà
là bài toán dài hạn về môi trường,
sức khỏe con tôm và sinh kế bền
vững của người nuôi.
Phóng viên: Bà có thể kể lại ký ức đầu tiên gắn với nghề nuôi tôm của gia đình mình không? Gia đình ảnh hưởng như thế nào đến quyết định theo nghề của bà?
Bà Phan Bảo Trân: Gia đình tôi bắt đầu gắn bó với nghề nuôi tôm từ năm 1992. Khi ấy, tôi vẫn còn là học sinh cấp II, khoảng lớp 7 – lớp 8. Ngày nghe ba mẹ bàn chuyện đào ao nuôi tôm sú, tôi còn mơ hồ, thậm chí chưa hình dung được “con sú” trông như thế nào. Chỉ đến khi vụ tôm đầu tiên thu hoạch, tận tay bắt những con tôm to hơn nửa cổ tay, niềm say mê với nghề nuôi tôm mới thực sự hình thành.
Thời điểm đó, tôm sú có giá rất cao, trên 170.000 đồng/kg, trong khi một chỉ vàng chỉ khoảng 430.000 đồng. Như vậy, bán chưa tới 3 kg tôm đã có thể mua được một chỉ vàng. Với một đứa trẻ lớn lên ở vùng quê, chứng kiến nghề nuôi tôm mang lại nguồn thu nhập đáng kể như vậy, tôi sớm hình thành suy nghĩ sẽ gắn bó lâu dài với nghề này.
Người có ảnh hưởng lớn nhất đến con
đường tôi lựa chọn chính là ba và anh trai. Ba là người trực tiếp gắn bó với ao đầm, còn anh
trai tôi theo học ngành thủy sản tại Đại học
Cần Thơ, sau đó công tác trong trung tâm
khuyến nông tại huyện Vĩnh Châu. Chính anh là người định hướng cho tôi theo học trung
cấp thủy sản, đồng thời cùng gia đình mở một
cửa hàng nhỏ cung cấp thức ăn và thuốc thủy sản, vừa phục vụ ao nuôi của gia đình, vừa hỗ
trợ bà con xung quanh từ năm 2003.
Đến năm 2012, tôi chính thức thành lập Công ty TNHH Trân An Phú, với mong muốn mang đến cho người nuôi tôm những giải pháp kỹ thuật và sản phẩm chất lượng, góp phần giúp bà con có thêm nhiều vụ nuôi thành công, bền vững.
Phóng viên: Theo bà, môi trường sống và điều kiện tự nhiên của miền Tây ảnh hưởng thế nào đến cách làm nghề nuôi tôm?
Bà Phan Bảo Trân: Miền Tây được thiên nhiên ưu đãi hơn nhiều vùng khác. Khí hậu tương đối ổn định, không khắc nghiệt như miền Trung hay miền Bắc, nguồn nước giàu dinh dưỡng, rất phù hợp cho nuôi trồng thủy sản.
Những năm đầu, ít người nuôi và bà con còn nuôi mật độ thưa, ít sử dụng hóa chất nên tỷ lệ thành công rất cao, cứ thả tôm là có thu hoạch. Tuy nhiên, khi diện tích và mật độ nuôi tăng lên, việc sử dụng hóa chất nhiều hơn đã tạo áp lực lớn lên môi trường và dịch bệnh bắt đầu phát sinh.
Phóng viên: Trong giai đoạn chuyển đổi từ tôm sú sang tôm thẻ, khó khăn lớn nhất bà gặp phải là gì?
Bà Phan Bảo Trân: Có thể nói, giai đoạn đầu nuôi tôm thẻ chân trắng sẽ phải đối mặt 03 thách thức: Kỹ thuật, tâm lý và thị trường. Năm 2006, tôi bắt đầu thử nghiệm nuôi tôm thẻ trong bối cảnh kiến
hầu như chưa có tài liệu hướng dẫn bài bản, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền miệng và quan sát thực tế. Thức ăn sử dụng khá đơn giản, chủ yếu là bột cá, bột mì; cách nuôi gần giống với con tép đất hơn là nuôi tôm công nghiệp như sau này.
Về mặt tâm lý, người nuôi luôn trong trạng thái dè dặt và thận trọng. Thời điểm ấy, hành lang pháp lý cho nuôi tôm thẻ chưa thật sự rõ ràng, khiến nhiều hộ vừa làm vừa lo, không dám đầu tư lớn. Trong khi đó, thị trường tiêu thụ cũng chưa hình thành, đầu ra bấp bênh, sản phẩm gần như chưa có cơ hội tham gia xuất khẩu.
Khi đến kỳ thu hoạch, mỗi ngày tôi chỉ bán khoảng 100 kg cho thương lái tại chợ. Tôm có kích cỡ nhỏ, khoảng 120 con/kg (gần tương đương tép đất) với giá 58.000 đồng/kg. Tuy nhiên, nhờ chi phí đầu tư thấp, mức lãi đạt hơn 35.000 đồng/kg.
Tôi khi ấy nghĩ rất đơn giản, con gì nuôi có lời thì mình thử. Vừa nuôi, vừa học, vừa rút kinh nghiệm, qua từng vụ nuôi mà dần hiểu con tôm hơn.
Phóng viên: Theo bà, yếu tố nào quyết định thành bại khi nuôi tôm thẻ, đặc biệt ở vùng nước lợ độ mặn thấp?
Bà Phan Bảo Trân: Yếu tố then chốt vẫn là kỹ thuật và mật độ nuôi. Ở vùng nước lợ độ mặn thấp, nếu ham nuôi mật độ cao thì rất dễ thất bại.
Nước lợ thiếu khoáng tự nhiên, tôm lột vỏ dễ bị mềm. Đặc biệt, khí độc NO 2 trong điều kiện độ mặn thấp rất nguy hiểm, có thể gây chết tôm hàng loạt. Nếu nuôi mật độ cao, chi phí bổ sung khoáng sẽ rất lớn mà hiệu quả vẫn không thể so với vùng nước mặn tự nhiên.
Phóng viên: Hiện nay bà đang nuôi với mật độ và cách quản lý như thế nào?
Bà Phan Bảo Trân: Ở giai đoạn ương dưới 30 ngày tuổi, tôi thả mật độ khoảng 300 con/ m² để sang tôm. Sau đó, mật độ được điều chỉnh giảm dần theo từng giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn 2 duy trì khoảng 150 con/ m²; khi tôm lớn, mật độ còn 80 – 100 con/m². Riêng với mô hình nuôi tôm cỡ lớn, mật độ chỉ giữ ở mức khoảng 60 con/m².
Do độ mặn tại khu vực nuôi chỉ dao động từ 4 – 5‰, việc duy trì mật độ cao trong thời gian dài là không phù hợp. Thức ăn
tuyệt
dư thừa. Trước mỗi cữ cho ăn, tôi đều tiến hành ủ men vi sinh nhằm tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, đồng thời giảm áp lực cho
đường ruột của tôm. Công tác quản lý nước ao được thực hiện thông qua việc bổ sung vi sinh định kỳ, trong đó đặc biệt chú trọng các dòng vi sinh có khả năng ức chế vi khuẩn Vibrio, giúp ổn định hệ vi sinh đường ruột và bảo vệ gan tụy. Tại Farm Trân An Phú, tôi ưu tiên sử dụng các giải pháp có nguồn gốc thảo dược như Liver Robust và Agarlic, được bào chế từ những cây thuốc nam quen thuộc như xuyên tâm liên, diệp hạ châu, cỏ mực, kế sữa, hoàng đằng… kết hợp với các hoạt chất kháng khuẩn tự nhiên từ tỏi, nghệ, gừng, riềng.
Theo tôi, thảo dược không nhằm mục đích thay thế kháng sinh để trị bệnh cho tôm, mà đóng vai trò hỗ trợ gan khỏe, ức chế nấm và vi khuẩn có hại, giúp đường ruột ổn định và tăng sức đề kháng tự nhiên. Khi môi trường ao nuôi được kiểm soát tốt, hệ vi sinh cân bằng, tôm sẽ khỏe lên từ bên trong, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất.
Thực tế cho thấy, mô hình này giúp năng suất tăng hơn 30%, từ khoảng 2 tấn lên 3 tấn trên mỗi 1.000 m³ nước; thời gian nuôi rút ngắn khoảng 15 ngày; lợi nhuận tăng khoảng 25% nhờ giảm chi phí kháng sinh và hạn chế tình trạng tôm chậm lớn.
Phóng viên: Sau nhiều vụ nuôi, bà đánh giá hiệu quả mô hình hiện tại ra sao?
Bà Phan Bảo Trân: Tỷ lệ sống đạt khoảng 80%. Tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình –khá. Vụ gần nhất nuôi 112 ngày đạt size 24 con/kg. Chi phí sản xuất khoảng 105.000 đồng/kg.
Nuôi tôm ở vùng nước lợ chi phí thường cao hơn vùng nước mặn do phải bổ sung lượng khoáng nhiều hơn và do quy trình tuần hoàn tái sử dụng nước nên lượng vi sinh sử dụng cũng nhiều hơn. Nhưng đổi lại là sự an toàn và ổn định trên chính mảnh đất của mình.
Phóng viên: Người nuôi cần lưu ý điều gì khi muốn áp dụng mô hình của bà?
riêng; cùng một quy trình kỹ thuật nhưng có thể phát huy hiệu quả ở nơi này, song lại không phù hợp ở nơi khác.
Người nuôi cần thực sự “ăn ngủ với con tôm”, dành thời gian quan sát, theo dõi và thấu hiểu ao nuôi cũng như điều kiện tự nhiên của chính mình. Việc học hỏi là cần thiết, song phải đi kèm với sự chọn lọc và linh hoạt. Không chỉ học từ những mô hình thành công, người nuôi còn cần nhìn vào cả những thất bại để rút kinh nghiệm, từ đó hiểu rõ điều gì nên làm và điều gì cần tránh, nhằm xây dựng hướng nuôi phù hợp và bền vững cho chính mình.
Phóng viên: Với những người nuôi tôm đang gặp khó khăn vì dịch bệnh, chi phí và thị trường, bà muốn gửi gắm điều gì?
Bà Phan Bảo Trân: Trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp và chi phí ngày càng tăng, người nuôi không nên quá lệ thuộc vào kháng sinh. Thay vào đó, cần chú trọng quản lý môi trường nước một cách chặt chẽ, từ pH, khí độc cho đến mật độ vi khuẩn trong ao nuôi. Thực tế cho thấy, phòng bệnh luôn là giải pháp ít tốn kém và hiệu quả hơn rất nhiều so với việc xử lý khi tôm đã phát bệnh. Khi tôm gặp vấn đề sức khỏe, nếu xử lý thiếu kiểm soát, sử dụng thuốc một cách dàn trải thì dù tôm có qua được bệnh, tốc độ sinh trưởng cũng khó đạt như mong muốn. Do đó, chi phí sản xuất cao hay thấp không chỉ phụ thuộc vào giá đầu vào, mà còn gắn chặt với trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý ao nuôi của từng người.
Phóng viên: Nếu được nói một câu với thế hệ người nuôi tôm trẻ, bà sẽ nói gì?
không để
Bà Phan Bảo Trân: Theo tôi, điều quan trọng nhất đối với người nuôi tôm là không nên sao chép máy móc một mô hình đã thành công ở nơi khác rồi áp dụng nguyên xi cho ao nuôi của mình. Mỗi vùng đất, mỗi ao nuôi, mỗi nguồn nước đều mang những đặc thù
Bà Phan Bảo Trân: Nghề nuôi tôm không có đường tắt. Người nuôi muốn đi đường dài thì bắt buộc phải học hỏi không ngừng, từ sách vở, từ thực tế ao nuôi và từ chính những thất bại của mình. Quan trọng hơn là phải biết chọn lọc cái đúng, không chạy theo phong trào hay mô hình “thần tốc”. Khi đã chọn được hướng đi phù hợp thì phải kiên trì làm tới cùng, nuôi tôm bằng hiểu biết và trách nhiệm. Có như vậy, thành công mới đến một cách bền vững, chứ không phải nhờ may mắn nhất thời.
Trân trọng cảm ơn bà!
năm đồng hành cùng người nuôi tôm Việt
Qua những chuyến tham quan học hỏi của Aqua Mina tại nhiều nước trên
thế giới trong năm 2025. Chúng tôi đã nhìn thấy hướng đi bền vững cho
thủy sản Việt Nam bằng việc cải thiện chất lượng quản lý, thiết lập mục
tiêu rõ ràng, thiết kế trại nuôi chuẩn từ đó kết hợp sử dụng những thiết bị
tiên tiến để tối ưu nhân lực, tiết kiệm điện năng và sử dụng nguồn nước
hiệu quả để không tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh.
ng dụng AI và công
nghệ cao vào nuôi
trồng thủy sản đang trở thành hướng đi hiệu quả ở
Trung Quốc – nơi có sản lượng nuôi trồng thủy sản và những trại giống đứng đầu thế giới. Aqua Mina cam kết đồng hành
cùng Người nuôi tôm Việt Nam
bằng những sản phẩm thiết bị
công nghệ hiện đại và chất lượng cao. Trên hành trình phát triển bền vững và ứng dụng công nghệ nhằm
nâng cao chất lượng cũng như sản
lượng nuôi trồng hướng tới nền
kinh tế hiện đại hóa nông nghiệp
của ngành thủy sản nước nhà. Trải
qua hành trình 10 năm hình thành
và phát triển, đội ngũ kỹ sư Tommy
của chúng tôi luôn tìm tòi, học hỏi
và sáng tạo không ngừng bằng
các sản phẩm thiết bị nuôi trồng
chất lượng đã được hàng nghìn hộ
dân cả nước và hàng trăm công ty
đầu ngành tin dùng. Bên cạnh đó, chúng tôi tự hào là Doanh nghiệp Việt Nam duy nhất đã xuất khẩu sản phẩm thiết bị thủy sản tới hơn 30 nước trên thế giới. Một trong những sản phẩm nổi bật của Aqua Mina trong năm 2026 phải kể đến là Máy thổi khí Turbo, ứng dụng công nghệ siêu động cơ trong sản xuất máy bay nhằm làm tăng hiệu
nhờ hiệu suất vượt trội và hệ thống cảm biến, biến tần vận hành tự động. Ngoài ra, sản phẩm của Aqua Mina có bảng điều khiển bằng tiếng Việt, dễ dàng sử dụng cho người nuôi tôm. Bên cạnh đó Khách hàng có thể sử dụng ứng dụng để điều khiển máy từ điện thoại dễ dàng.
Sản phẩm được bảo hành chính hãng lên tới 24 tháng duy nhất tại Aqua Mina. Hiện sản phẩm đã được lắp đặt và sử dụng rộng rãi tại các
tỉnh như: Cà Mau, Bạc Liêu (cũ), Bến Tre (cũ), Vũng Tàu (cũ), Bình
Định (cũ), Quảng Ninh,...
Đối tác mà Aqua Mina lựa chọn
chính là Công ty Công nghệ Sinh
học Kuaiyu Hải Nam một công ty dẫn đầu về công nghệ nuôi trồng
tại Hải Nam. Với hệ thống nhà máy
hiện đại, đội ngũ kỹ sư chuyên môn lành nghề, quy trình sản xuất
tự động giúp đảm bảo chất lượng sản phẩm ở mức tối ưu nhất.
Aqua Mina hân hạnh trở thành
Nhà phân phối độc quyền các sản
phẩm iAqua tại Việt Nam. Chúng tôi sẽ mang tới cho Người nuôi tôm
Việt Nam sản phẩm công nghệ
hiện đại với dịch vụ bảo hành, bảo
trì và sửa chữa tốt nhất hiện nay.
Cùng với máy thổi khí Turbo,
Aqua Mina còn mang tới sản
phẩm Máy đếm cá với độ chính
xác lên tới 99%. Nhờ sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, nhận
diện và loại bỏ các con giống
đã chết giúp tăng số lượng đếm
chính xác hơn. Máy đếm cá có
thể sử dụng trong các trại cá
giống với độ linh động các size
cá khoảng từ 1mm tới 20cm. Số
lượng tối đa mỗi lần đếm lên tới
10.000 con và lịch sử các lần đếm
được ghi nhận đầy đủ giúp quản
lý số lượng giống tốt hơn.
Công nghệ xử lý nước đầu vào bằng tia UV được iAqua phát triển
thông qua ứng dụng công nghệ quang học nước HOD dựa trên
nguyên lý sợi quang và hiện tượng phản xạ toàn phần (TIR) để hướng
dẫn tia UV trong khoảng xử lý. Nhờ vậy ánh sáng UV được phân bố đồng đều trên mọi điểm khi chiếu xạ, giúp nâng cao hiệu quả khử trùng và tiết kiệm năng lượng
Máy thổi khí Turbo sử dụng tại các tỉnh
Máy đếm tôm cá và đèn UV
Bà Trương Thị Lệ Dung và
“Chúng tôi không điều trị
bệnh. Chúng tôi thiết kế
môi trường nước nơi dịch
bệnh không thể tồn tại.”
Giới thiệu
Trong bối cảnh nhu cầu thủy sản toàn cầu tăng nhanh, ngành nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như nâng cao hiệu quả sản xuất, duy trì sự ổn định chất lượng nước và kiểm soát dịch bệnh. Công nghệ nano bubble - sử dụng các bọt khí siêu nhỏ có đường kính chỉ 80 - 200 nanomet - đang nổi lên
như một giải pháp đầy tiềm năng, mang lại những lợi ích vượt trội cho các hệ thống nuôi trồng thủy sản hiện đại.
Tối ưu hóa hàm lượng ôxy hòa tan. Một trong những ưu điểm nổi bật của nano bubble là khả năng tối ưu hàm lượng ôxy hòa tan (DO) trong nước. Nhờ kích thước cực nhỏ, các bọt khí này có diện tích bề mặt rất lớn, giúp tăng đáng kể hiệu quả trao đổi khí. Ôxy được giữ lại lâu hơn và phân bố đồng đều khắp ao nuôi, góp phần duy trì DO ổn định - yếu tố then chốt cho sự sống, tăng trưởng và quá trình trao đổi chất của tôm cá. Nhờ đó, vật nuôi giảm stress, hấp thu dinh dưỡng tốt hơn và năng suất nuôi trồng được cải thiện rõ rệt. Giảm chi phí vận hành. Việc duy trì mức ôxy tối ưu bằng công nghệ nano bubble cũng giúp giảm đáng kể chi phí vận hành. Không giống như các hệ thống sục khí truyền thống tiêu tốn nhiều điện năng và cần bảo trì thường xuyên, hệ thống nano bubble hoạt động hiệu quả với lưu lượng khí thấp nhưng vẫn
đảm bảo phân bố khí sâu và đồng
đều. Điều này giúp người nuôi tiết
kiệm chi phí điện năng, nhiên liệu và bảo dưỡng thiết bị.
Cải thiện chất lượng nước
và ổn định môi trường. Không
chỉ dừng lại ở việc cung cấp ôxy, nano bubble còn góp phần ổn
định môi trường ao nuôi và nâng
cao chất lượng nước. Các bọt khí
siêu nhỏ thúc đẩy quá trình phân
hủy chất hữu cơ, hạn chế sự tích
tụ của amoniac và các khí độc
khác - những nguyên nhân chính
gây stress và bệnh cho thủy sản.
Môi trường nước sạch và cân bằng
cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có lợi phát triển, giúp duy
trì cân bằng sinh thái trong ao nuôi.
Phòng ngừa dịch bệnh và nâng cao sức khỏe thủy sản.
Công nghệ nano bubble còn giúp giảm nguy cơ dịch bệnh và tăng sức đề kháng cho thủy sản. Điều kiện nước ổn định, ít biến động pH và nồng độ khí độc thấp tạo ra môi trường bất lợi cho vi khuẩn và virus gây bệnh. Đối với các đối
tượng nhạy cảm như tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá giống, nano bubble giúp giảm tỷ lệ chết do bệnh, nâng cao tỷ lệ sống và rút ngắn chu kỳ nuôi.
Công nghệ nano bubble đang tạo nên cuộc cách mạng trong nuôi trồng thủy sản, với những ưu điểm vượt trội như tối ưu khí hòa tan, giảm chi phí vận hành, ổn định môi trường nước, phòng ngừa dịch bệnh và nâng cao năng suất. Đây là giải pháp bền vững, phù hợp với xu hướng nuôi trồng thủy sản hiện đại, giúp
người nuôi nâng cao hiệu quả
kinh tế đồng thời hướng tới sản
xuất thủy sản an toàn, chất lượng
Nano Bubbles giúp tôm phát triển toàn diện, tăng trưởng nhanh, nâng cao hiệu suất nuôi trồng
cao và thân thiện với môi trường.
Máy Tạo Siêu Bọt Khí Nano Bubble Công Suất NN22 - 250 chính thức ra mắt vào đầu năm 2026. Hệ thống sở hữu thiết kế công suất lớn với lưu lượng 250 m³/giờ (1.100 GPM). Máy vận
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96
Website: bhnenc.com
hành hoàn toàn tự động, cấp khí trực tiếp không cần máy nén khí, giúp đảm bảo hoạt động ổn định, nâng cao hiệu quả năng lượng và giảm đáng kể chi phí bảo trì.
Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM
B.H.N
nuôi trồng thủy sản
Thực trạng Stress trong Nuôi trồng Thủy sản
Trong nuôi trồng thủy sản thâm canh, động vật thủy sản luôn sống môi trường căng thẳng gây ra tình trạng stress ôxy hóa bởi các loại ôxy hoạt tính (ROS), có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và sức khỏe (Ardiansyah & Fotedar, 2016). Các tác nhân gây stress tiềm tàng đối với cá tôm bao gồm sự thay đổi nhiệt độ, chu kỳ ánh sáng, chất lượng nước, dinh dưỡng, tiếp xúc với độc tố, tác động của tiếng ồn (Cheng, 2015). Hệ thống miễn dịch và hệ thống chống ôxy hóa có tác dụng giúp cá tôm bảo vệ chống lại những yếu tố gây stress này. Trong quá trình vận chuyển điện tử trong ty thể, ôxy có thể bị khử một phần, tạo ra ROS như anion superoxide (O2-), hydrogen peroxide (H2O2) và gốc hydrôxyl (OH-). Những hợp chất này có thể gây hại cho DNA, RNA, lipid và protein. Những tổn thương này khiến hệ thống trong cơ thể hoạt động sai chức năng
và việc này góp phần vào sự phát
triển của nhiều bệnh khác nhau.
Polyphenol và Chiết xuất Trái
Nho Khô - Bước tiến mới trong
Dinh dưỡng Thủy sản
Tính sinh khả dụng trong tiêu hóa của polyphenol đã được công
nhận là bước tiến quan trọng
đầu tiên được thực hiện qua các nghiên cứu in vitro. Các nghiên cứu in vivo đã được thực hiện
về tác động của các hợp chất
phenolic từ chiết xuất hạt nho và
bã nho lên đường ruột, cho thấy chúng tăng cường sự toàn vẹn
và chức năng của hàng rào ruột thông qua ba cơ chế cơ bản: giảm các phân tử gây viêm (α-TNF-α);
cải thiện biểu hiện của các protein
liên kết và cải thiện hoạt động
chống ôxy hóa trong tế bào.
GSPs (procyanidin từ nho)
được chứng minh có khả năng
mạnh mẽ trong việc bảo vệ cá
khỏi stress ôxy hóa gây ra, ảnh
hưởng đáng kể đến các mức
MDA, GSH, tổng khả năng chống
ôxy hóa (TAOC) và hoạt động của
các enzyme SOD, CAT, GPO. Theo Unusan (2020), proanthocyanidin
ức chế sự bám dính của vi khuẩn,
hình thành lớp màng sinh học và ức chế viêm nhiễm.
Nor-Grape là một chiết xuất nho được chuẩn hóa polyphenol từ Norfeed, hợp chất nổi tiếng có hoạt tính chống ôxy hóa cao nhất. Nor-Grape được đăng ký là phụ gia ở thức ăn chăn nuôi ở EU với liều lượng sử dụng từ 5100ppm. Một thử nghiệm đánh giá hiệu quả của Nor-Grape ® lên tỷ lệ sống, tăng trưởng và FCR của tôm giống đã được thực hiện. Thông tin thử nghiệm: - Loài: tôm thẻ chân trắng - Trọng lượng:0.039g
- Thời gian thử nghiệm: 30 ngày
- Nghiệm thức: NT1: thức ăn đối chứng
NT2: thức ăn đối chứng + 80 ppm Norgrape
Qua các kết quả thử nghiệm trên động vật thủy sản cho thấy Norgrape là sản phẩm đầy hứa hẹn khi sử dụng bảo vệ sức khỏe ban đầu, phòng bệnh, mang tính bền vững và phúc lợi của động vật thủy sản trong hệ thống nuôi thủy sản thâm canh hiện nay. Để biết thêm thông tin về các giải pháp phụ gia thảo dược tự nhiên, vui lòng liên hệ qua email contactvn@norfeed.net
Norfeed
SANACORE® GM
Hiệu quả in vitro của SANACORE®
GM đối với EHP
Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) là vi bào
tử trùng gây bệnh phổ biến trên tôm nuôi, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng và hiệu
quả sản xuất. Nghiên cứu này đánh giá hiệu
quả in vitro của SANACORE® GM đối với EHP.
Bối cảnh và mục tiêu
- Hội chứng phân trắng (WFS) là nguyên nhân chính gây thất bại
đáng kể trong các vụ nuôi tôm tại các quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ.
- Các đợt bùng phát có liên quan đến các yếu tố thuộc về nuôi thâm canh (mật độ cao, tỷ lệ cho ăn cao, nhiệt độ nước,...).
- Bào tử vi bào tử trùng
Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) đã được tìm thấy trong phân trắng - tỷ lệ nhiễm1 EHP trong các ao bị nhiễm WFS có thể lên tới 96% (Rajendran và cộng sự, 2016).
- Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả in vitro của SANACORE® GM trong việc ức chế sự nảy mầm bào tử 2 của EHP.
Vật liệu và phương pháp
Nghiên cứu này được thực hiện tại Centex Shrimp (Đại học Mahidol, Thái Lan). Tôm nhiễm bào tử EHP được thu thập từ hai nguồn: tỉnh Chanthaburi (Lô 1) và tỉnh Pathum Thani (Lô 2). Tôm
được thuần dưỡng trong khoảng nhiệt độ 28 - 29°C có sục khí trong phòng thí nghiệm trong hai ngày trước khi gan tụy được thu thập và sử dụng để tinh sạch bào tử EHP theo Aldama-Cano và cộng sự, 2018 (Bảng 1).
SANACORE® GM được pha loãng trong nước cất để đạt được nồng độ 3 và 6 g/L. Một lượng mẫu tổng cộng 100 μL được lấy ra sau khi lắc trộn bằng máy vortex, cho vào các ống vi ly tâm riêng biệt và giữ ở nhiệt độ phòng (~25°C). Thử nghiệm ức chế bào tử EHP được thực hiện bằng cách thêm bào tử EHP đã tinh sạch vào các lượng mẫu trên để đạt nồng
độ cuối cùng là 104 bào tử/100 μL phản ứng. Các phản ứng được ủ trong 120 phút ở nhiệt độ phòng (~25°C). Tỷ lệ nảy mầm được kiểm tra lặp lại ba lần bằng cách sử dụng
Phloxin B. Nước cất khử trùng
được sử dụng làm đối chứng. Sự nảy mầm hoặc khả năng sống của bào tử được đánh giá thông qua sự phóng ống cực3 từ bên trong vi bào tử trùng (Hình 1).
Cơ chế phóng ống cực này
được ký sinh trùng sử dụng
để xâm nhiễm vào tế bào vật
chủ và hoàn thành vòng đời.
dụng trong nghiên cứu Chữ tiếng anh trong hình: (Germination rate) - Tỷ lệ nảy mầm: Là
Phân tích biến thiên một chiều
(ANOVA) được thực hiện (kiểm
định PostHoc LDS) bằng phần
mềm SPSS phiên bản 22. Kiểm
định phạm vi đa biến của Duncan
được áp dụng để so sánh bội
nhằm so sánh sự khác biệt về giá
trị trung bình giữa các nghiệm thức (P ≤ 0,05).
Kết quả và thảo luận
Kết quả cho thấy tỷ lệ nảy
mầm của các nhóm đối chứng (nước cất) lần lượt là 61% và
80% từ lô bào tử thứ nhất và thứ hai (Bảng 1). Ở cả Lô 1 và Lô 2, SANACORE® GM tại nồng độ 3 và 6 g/L đã ức chế hoàn toàn 4 và có ý nghĩa thống kê sự nảy mầm của bào tử (Hình 2).
Các kết quả trên cho thấy, SANACORE® GM có tiềm năng làm
giảm khả năng sống của bào tử
EHP trong đường tiêu hóa của tôm, từ đó làm giảm mức độ nghiêm trọng của hội chứng phân trắng.
Adisseo
1. Prevalence (Tỷ lệ nhiễm/Tỷ
lệ hiện mắc): Chỉ số đo lường tỷ
lệ các trường hợp (ví dụ: ao nuôi hoặc cá thể tôm) mắc một căn bệnh cụ thể trong một quần thể tại một thời điểm nhất định.
2. Spore germination (Sự nảy mầm bào tử): Quá trình sinh học khi bào tử chuyển từ trạng thái nghỉ sang trạng thái hoạt động
để bắt đầu quá trình xâm nhiễm vào tế bào vật chủ.
3. Discharge of the polar tube (Sự phóng ống cực): Một cơ chế sinh học đặc trưng của vi bào tử trùng, trong đó một ống cực được phóng ra để đâm xuyên và bơm vật chất di truyền vào tế bào vật chủ.
4. Completely inhibited (Ức chế hoàn toàn): Trạng thái mà tác nhân thử nghiệm ngăn chặn được toàn bộ
Turn resilience into predictable performance!
nhìn thấy nhưng có vai trò quan trọng: hệ miễn dịch tự nhiên hoạt động hiệu quả, khả năng đáp ứng stress tốt, cùng với sự toàn vẹn về cấu trúc và chức năng của các mô, cơ quan.
Adisseo cung cấp các giải pháp chuyên biệt theo từng loài cá và tôm, tập trung nâng cao sức bền sinh học (resilience), giúp vật nuôi duy trì trạng thái khỏe mạnh, hỗ trợ người nuôi chủ động quản lý sức khỏe và tối ưu hiệu quả sản xuất.
Hình
Hình 2. Phần trăm nảy mầm trung bình của bào tử sau 120 phút ủ với
SANACORE® GM ở nồng độ 3 và 6 g/L
số
bào tử chuyển từ trạng thái nghỉ sang trạng thái hoạt động (phóng ống cực để bắt đầu quá trình xâm nhiễm) trên tổng số bào tử có trong mẫu kiểm tra. Trong ngành nuôi trồng thủy sản, tỷ lệ nảy mầm của bào
Natural A rithmetic System
Công nghệ xử lý nước cho NTTS bền vững Hiện nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hiện tượng xâm nhập mặn và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, yêu cầu về kiểm soát nguồn nước không còn là khâu thông thường mà đã trở thành yếu tố quyết định sự sống còn của các mô hình nuôi trồng thủy sản, đặc biệt đối với tôm - vật nuôi vốn rất nhạy cảm với yếu tố môi trường nước.
Bên cạnh đó, yêu cầu về phát triển thủy sản bền vững, có trách nhiệm và thân thiện môi trường được xác định là xu hướng tất yếu của ngành, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và các cam kết toàn cầu của Việt Nam trong ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái và thúc đẩy tăng trưởng xanh... đã được nhấn mạnh trong hội nghị về bảo vệ môi trường trong các hoạt động thủy sản năm 2025 vừa qua. Bền vững trong NTTS không phải là một khái niệm trừu tượng, mà được xây dựng dựa trên những trụ cột kỹ thuật cụ thể, trong đó Nước là yếu tố đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Với hơn 20 năm hoạt động và hàng trăm dự án đã triển khai trong lĩnh vực NTTS tại Việt Nam. NTESCO đã trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực xử lý nước cấp, tái sử dụng nước thải, khử muối nước biển… bằng các công nghệ tiên tiến và giải pháp độc đáo, thiết kế theo hướng tận dụng tối đa tài nguyên sẵn có và tối thiểu chi phí hoạt động với ngân sách đầu tư hợp lý góp phần vào sự phát triển mang tính bền vững của khách hàng:
- Bền vững về mặt kinh tế, một môi trường nước sạch sẽ giúp vật nuôi khỏe mạnh hơn, giảm rủi ro dịch bệnh, qua đó giảm chi phí thuốc men và tăng tỷ lệ sống, mang lại lợi nhuận ổn định hơn.
- Bền vững về mặt thương hiệu, việc mạnh dạn đầu tư các thiết bị, công nghệ xử lý nước hiện đại do nhà thầu uy tín và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thực hiện giúp khách hàng xây dựng nên một thương hiệu có giá trị và trách nhiệm.
Quy trình xử lý nước Công Nghệ Cao cho trại tôm giống – NAS process, cho thành công bền vững.
NTESCO đã thiết kế và đưa quy trình xử lý chuyên biệt: NAS - Natural Arithmetic System cho trại tôm giống vào công trình này, với các thiết bị và công nghệ xử lý nước tiên tiến nhất hiện nay với các ưu điểm:
- Không hóa chất.
- Vận hành tự động, ít nhân công, hạn chế sai sót do yếu tố con người.
- Khả năng giám sát và cảnh báo toàn bộ quy trình xử lý bằng chương trình điều khiển chuyên biệt.
- Nước sạch mầm bệnh nhưng vẫn mang đầy đủ các khoáng chất, độ mặn
cần thiết như nước biển tự nhiên. - Tự động điều chỉnh và ổn định các yếu tố: độ mặn, kiềm... bất chấp sự thay đổi nước đầu vào. - Tiết kiệm diện tích khu xử lý và chi phí vận hành. Mô hình này đã được lắp đặt tại nhiều vùng sản xuất tôm giống như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Vũng Tàu, Bạc Liêu... và đã chứng minh hiệu quả, góp phần giúp khách hàng giữ vững vị trí hàng đầu trong lĩnh vực NTTS tại Việt Nam trong nhiều năm qua.
Gặp gỡ chuyên gia xử lý nước NTTS của NTESCO NTESCO sẽ tham gia triễn lãm
VIETSHRIMP ASIA 2026 & AQUACULTURE
VIETNAM 2026 tại Trung tâm triễn lãm
TP.HCM SECC vào tháng 3/2026. Tại sự kiện hàng đầu về NTTS này, NTESCO sẽ giới thiệu những quy trình, thiết bị và công nghệ xử lý nước tiên tiến cùng những giải pháp độc đáo - toàn diện, đã thực hiện và chứng minh hiệu quả trong NTTS Việt Nam nhiều năm qua.
Khách hàng về đích size lớn thành công với tôm giống CPF TURBO G21
TIÊN PHONG CHẤT LƯỢNGĐỘT PHÁ THÀNH CÔNG
Năm 2025 được xem là một dấu mốc quan trọng của C.P. Việt Nam trong lĩnh vực thủy sản, khi doanh nghiệp liên tục tạo dấu ấn bằng việc ra mắt nhiều sản phẩm, giải pháp và mô hình nuôi mới. Từ tôm giống, thức ăn, chế phẩm sinh học đến các mô hình nuôi tổng hợp, những giải pháp này đang được kiểm chứng rõ nét qua thực tiễn sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và hướng đến phát triển bền vững cho người nuôi tôm tại các vùng nuôi trọng điểm.
TÔM GIỐNG CP: GHI DẤU ẤN KỶ LỤC THU
HOẠCH KÍCH CỠ LỚN 10.9 CON/KG
Tháng 2/2025, tôm giống CPF TURBO
G21 được giới thiệu ra thị trường. Dòng tôm này được phát triển từ nguồn tôm bố mẹ chọn lọc tại Trung tâm Nghiên cứu Tôm Bố Mẹ C.P. Thái Lan, hướng đến khả năng tăng
trưởng tốt, sức khỏe ổn định và phù hợp với
định hướng nuôi kích cỡ lớn.
Thực tiễn qua quá trình nuôi thương phẩm
đã minh chứng rõ nét hiệu quả vượt trội của dòng tôm giống CPF TURBO G21, với những kết quả thu hoạch rất ấn tượng về kích cỡ. Anh Lê Văn Phước (xã Bình Đại, tỉnh Vĩnh Long) đạt tôm size 10.9 con/kg và chị Lâm Thúy
Linh (phường Vĩnh Châu, TP. Cần Thơ – trước
đây thuộc Sóc Trăng) đạt size 11.7 con/kg Những kết quả này khẳng định tôm giống
CPF TURBO
CPF SUPER MONODON - Tôm giống sú CP thắng EHP
năng thắng EHP, thích ứng tốt với đa dạng mô hình nuôi. Thực tế sản xuất ghi nhận tôm
tăng trưởng ổn định, đàn tôm đồng đều, tỷ lệ sống cao, góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững cho người nuôi.
Minh chứng thực tế:
Tôm sú CPF SUPER MONODON đạt kích cỡ 12 con/kg tại mô hình nuôi của ông Huỳnh
Khánh Lượng (xã Trần Đề, TP. Cần Thơ – Sóc
Trăng cũ) và 12–14 con/kg tại mô hình của ông Phạm Thành Sang (xã Bình Đại, tỉnh Vĩnh Long).
THỨC ĂN TÔM CP: CÔNG NGHỆ
DINH DƯỠNG ĐỘT PHÁ
Bên cạnh tôm giống, các dòng thức ăn của
C.P. Việt Nam tiếp tục tạo dấu ấn rõ nét trong
thực tiễn nuôi, khi nhiều mô hình ghi nhận tôm đạt kích cỡ thương phẩm 20–30 con/kg và duy trì hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở
Thức ăn dinh dưỡng dành cho tôm con PRO-55
CPF COMBINE PLUS môi trường NH 3 /NH 4 ⁺ và NO 2 trong ao nuôi, qua đó giúp tôm có môi trường sống tối ưu, thuận lợi cho quá trình tăng trưởng trong suốt vụ nuôi.
mức rất thấp, chỉ từ 1.06–1.15, qua đó khẳng định hiệu quả kinh tế vượt trội cho người nuôi. Trong số đó, mô hình của anh Trương Rô Sa (TP. Cần Thơ) đạt size 24 con/kg với FCR 1.06; anh Quách Hoàng Dũng (tỉnh Cà Mau) đạt size 25 con/kg, FCR 1.14.
Theo từng giai đoạn nuôi, PRO-55 là dòng thức ăn dinh dưỡng chuyên biệt cho tôm con, tập trung hỗ trợ chức năng gan và đường ruột, qua đó tạo nền tảng sinh lý vững chắc, giúp tôm hấp thu dinh dưỡng hiệu quả và phát triển khỏe mạnh ngay từ giai đoạn đầu vụ.
GOAL MAX 3 NHANH được sử dụng trong giai đoạn cuối vụ, hỗ trợ cải thiện
bán. CÔNG NGHỆ SINH HỌC TIÊN TIẾN, ƯU VIỆT NITRA CLEAN
CPF COMBINE PLUS - GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN, LỢI NHUẬN TỐI ƯU
CPF COMBINE PLUS là mô hình nuôi tôm được xây dựng theo hướng quản lý tổng hợp, kết hợp giữa thiết kế ao nuôi, kiểm soát môi trường, dinh dưỡng theo giai đoạn và quản lý sức khỏe tôm. Quy trình được chuẩn hóa giúp người nuôi dễ theo dõi và chủ động điều chỉnh trong suốt vụ nuôi.
Tại Vĩnh Long, mô hình cho thấy hiệu quả thực tế. Anh Lê Văn Giàu với 14 ao nuôi thu hoạch gần 80 tấn tôm, đạt cỡ 32 con/kg sau 66 ngày nuôi Anh Nguyễn Quốc Lịnh thành công với 15 ao nuôi, tổng sản lượng 84,6 tấn, lợi nhuận ghi nhận 3,9 tỷ đồng. Hiện mô hình đang được triển khai và nhân rộng tại nhiều địa phương. Những kết quả ghi nhận trong năm 2025 khẳng định vai trò tiên phong của C.P. Việt Nam trong việc kiến tạo các sản phẩm và giải pháp mang giá trị thực tiễn cao, đáp ứng trực tiếp nhu cầu sản xuất của người nuôi tôm. Bước sang năm 2026, C.P. Việt Nam tiếp tục định hướng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và giải pháp, qua đó tạo ra lợi ích thiết thực, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành tôm Việt Nam. C.P. Việt Nam
Thức ăn thúc tôm
Tăng trưởng xanh
từ nuôi biển xa bờ
Trong bối cảnh nguồn
lợi ven bờ suy giảm
và yêu cầu phát triển
kinh tế biển bền vững ngày càng cấp thiết, nuôi biển xa bờ đang trở thành hướng đi tất yếu của ngành thủy sản
Việt Nam, mở ra không gian tăng trưởng mới với quy mô lớn, công nghệ cao và thân thiện môi trường.
Tiềm năng lớn
Những năm gần đây, thực hiện
các chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước về phát triển kinh tế
biển bền vững, nuôi biển được
xác định là một trong những trụ
cột quan trọng của ngành thủy
sản. Không chỉ đóng góp vào an ninh lương thực quốc gia,
tạo việc làm và nâng cao thu
nhập cho cư dân ven biển, nuôi biển còn là giải pháp căn cơ để chuyển dịch sinh kế cho ngư dân, giảm áp lực khai thác lên nguồn
lợi tự nhiên đang suy kiệt.
Theo Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, chỉ cần khai thác khoảng
0,1% diện tích vùng đặc quyền
kinh tế, Việt Nam đã có thể
hình thành vùng nuôi biển rộng
khoảng 1.000 km², cho sản
lượng ước tính lên tới 10 triệu tấn cá biển mỗi năm, chưa kể các
loài hải sản khác. Con số này cho thấy dư địa phát triển của nuôi
biển còn rất lớn, nếu được đầu tư bài bản và khai thác hiệu quả.
Bên cạnh lợi thế về diện tích, Việt Nam còn có nhiều vùng vịnh
kín gió, độ sâu phù hợp, môi trường nước thuận lợi cho việc phát triển các mô hình nuôi biển công nghiệp và nuôi xa bờ quy mô lớn. Các nghiên cứu bước đầu cho thấy, diện tích có khả năng phát triển nuôi biển của cả nước lên tới hơn 500.000 ha, phân bố dọc theo các tỉnh ven biển từ Bắc vào Nam. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các vùng nuôi tập trung, áp dụng công nghệ hiện đại, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Về thể chế, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến thủy sản và kinh tế biển ngày càng được hoàn thiện. Luật Thủy sản, Luật Quy hoạch, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển
Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045,… đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho phát triển nuôi biển theo hướng hiện đại, bền vững. Cùng với đó, đội ngũ ngư dân ven biển giàu kinh nghiệm, am hiểu điều kiện tự nhiên và gắn bó lâu đời với biển là nguồn lực xã hội quý giá, có
thể đóng vai trò nòng cốt trong quá trình chuyển đổi từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nuôi biển Việt Nam hiện tập trung vào bốn nhóm đối tượng chính gồm cá biển, rong biển, nhuyễn thể và tôm hùm. Hoạt động nuôi biển đã và đang phát triển mạnh tại nhiều địa phương ven biển. Năm 2025, tổng sản lượng nuôi biển ước đạt 859,2 nghìn tấn, tăng 8,8% so năm 2024; giá trị xuất khẩu đạt khoảng 900 triệu USD/năm. Các vùng nuôi trọng điểm như Quảng Ninh, Khánh Hòa, Đắk Lắk, An Giang,… đang từng bước hình thành các mô hình nuôi có quy mô và giá trị cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Những kết quả này cho thấy nuôi biển, đặc biệt là nuôi biển xa bờ, đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ, nhất là trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm thủy sản chất lượng cao, có truy xuất nguồn
gốc rõ ràng và thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng.
Nhiều rào cản
Mặc dù có nhiều tiềm năng và cơ hội, hoạt động nuôi biển của Việt Nam hiện vẫn đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi sang mô hình nuôi công nghiệp, hiện đại và xa bờ.
Thực tế cho thấy, nuôi biển hiện nay vẫn chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, chưa đạt trình độ công nghiệp như ở nhiều quốc gia phát triển. Hạ tầng kỹ thuật, công nghệ nuôi xa bờ còn hạn chế; việc ứng dụng khoa học - công nghệ, tự động hóa, số hóa trong nuôi biển chưa phổ biến. Theo thống kê, cả nước hiện có hơn 6.500 cơ sở nuôi ven bờ, trong khi số cơ sở nuôi xa bờ mới chỉ dừng ở con số 27. Điều này cho thấy không gian biển xa bờ - nơi có môi trường thông thoáng, ít xung đột sử dụng - vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.
thủy sản đã ban hành, nhưng việc triển khai trên thực tế vẫn còn chậm”, ông Ngọc chia sẻ.
Ngoài ra, nguồn giống chất lượng cao, thức ăn công nghiệp phù hợp, hệ thống quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh,… vẫn là những mắt xích yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính bền vững của nuôi biển.
Xu thế tất yếu
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều lợi thế đặc biệt để phát triển nuôi biển, nhất là nuôi biển xa bờ. Với bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km², cùng hệ thống đảo, quần đảo phong phú, nước ta sở hữu không gian biển rộng lớn, đa dạng về điều kiện sinh thái.
Một trong những rào cản lớn
hiện nay là cơ chế giao, cho thuê
mặt nước biển còn chậm và thiếu
ổn định, khiến doanh nghiệp và
người dân chưa yên tâm đầu tư
dài hạn. Ông Nguyễn Bá Ngọc, Giám đốc Công ty Cổ phần Mực
nhảy Biển Đông (Khánh Hòa), cho biết đầu tư nuôi biển xa bờ
đòi hỏi nguồn vốn rất lớn. Hệ
thống lồng nuôi phải chịu được
sóng gió cấp cao, đi kèm là chi
phí về nhân lực, hậu cần, vận
hành và bảo hiểm. Tuy nhiên, khi quyền sử dụng mặt nước
chưa được giao ổn định, doanh nghiệp khó có thể mạnh dạn
đầu tư quy mô lớn.
“Khu vực quy hoạch nuôi biển
hở đều là những vùng không được che chắn, phải đối diện trực tiếp
với sóng gió. Đây là thách thức
lớn nhất đối với người nuôi biển xa bờ. Trong khi đó, dù nghị định về giao mặt nước cho nuôi trồng
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), đến tháng 6/2025, có tới 35,5% quần thể cá biển trên thế giới đang bị khai thác quá mức; chỉ còn 64,5% duy trì ở mức bền vững. Trước nguy cơ suy kiệt nguồn lợi biển, nhiều quốc gia đã thay đổi tư duy phát triển, giảm dần khai thác, tăng cường nuôi biển công nghiệp hóa, quy mô lớn, xa bờ, có kiểm soát chặt chẽ về môi trường và truy xuất nguồn gốc. Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó.
Khảo sát của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra rằng, Việt Nam có nhiều vùng nước sâu, điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi biển. Các vịnh kín, nước sâu gần bờ ở Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Ninh hay các vùng biển phía Nam như An Giang, Cà Mau
đặc biệt phù hợp để nuôi các loài có giá trị kinh tế cao như cá bớp, cá chim, cá hồng, tôm hùm.
Ở góc độ quản lý, ông Trần
Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy
sản và Kiểm ngư, khẳng định:
Đây là thời điểm then chốt để
chuyển dịch mạnh sang nuôi
biển bền vững, nhất là trong bối cảnh ngành khai thác thủy sản
đang được yêu cầu giảm dần để
bảo vệ nguồn lợi.
Theo ông Luân, để nuôi biển
phát triển đúng hướng, cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp. Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với các địa phương đẩy nhanh tiến độ giao mặt nước nuôi trồng thủy sản, đồng thời hoàn thiện bộ tiêu chuẩn quốc gia về nuôi biển, dự kiến ban hành vào năm 2026. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thu hút đầu tư, triển khai bảo hiểm nuôi biển và quản lý môi trường hiệu quả hơn. Song song với đó, các địa phương ven biển cần thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý không gian biển, bảo đảm nuôi biển phát triển phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế biển quốc gia. Trọng tâm là ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi từ lồng bè truyền thống sang lồng nuôi công nghiệp chịu lực cao; đầu tư hệ thống nuôi xa bờ, công nghệ quan trắc môi trường, giống chất lượng cao; khuyến khích các mô hình nuôi tuần hoàn, thân thiện môi trường. Về phía doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi, cần chú trọng phát triển chuỗi giá trị, tăng cường liên kết từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ, xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm nuôi biển, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, cần hình thành các chuỗi cung ứng dịch vụ hậu cần đồng bộ, tích hợp nuôi biển với bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái và các ngành kinh tế biển khác nhằm gia tăng giá trị. Cuối cùng, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng về nuôi biển có trách nhiệm, quản lý dịch bệnh và bảo vệ môi trường biển là yếu tố then chốt để ngành nuôi biển Việt Nam phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững và phù hợp với xu thế quốc tế.
Ảnh: istock
Môi trường
Nền tảng nuôi trồng thủy sản bền vững
Bảo vệ môi trường là yếu tố cốt lõi để ngành thủy sản phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo sinh kế lâu dài cho người nuôi.
Tăng trưởng mạnh mẽ
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh
mẽ cả về quy mô lẫn giá trị, trở thành một trong những trụ cột
quan trọng của nền kinh tế quốc
dân, đóng góp tích cực vào tăng
trưởng GDP, tạo việc làm và sinh
kế cho hàng triệu lao động khu
vực nông thôn, ven biển.
Theo số liệu của Vụ Khoa học
Công nghệ và Môi trường (Bộ
Nông nghiệp và Môi trường), trong hơn 20 năm qua, sản lượng thủy sản cả nước duy trì mức
tăng trưởng bình quân trên 9%/ năm; riêng lĩnh vực nuôi trồng
đạt mức tăng gần 13%/năm, cho thấy sự chuyển dịch nhanh
chóng theo hướng sản xuất hàng
hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao.
Năm 2025, tổng diện tích nuôi
trồng ước đạt 1,32 triệu ha nuôi
nội địa và 9,8 triệu m³ lồng nuôi
biển, với sản lượng gần 5,8 triệu
tấn. Kim ngạch xuất khẩu thủy
sản đạt khoảng 11,35 tỷ USD, tăng hơn 13% so năm 2024, không chỉ khẳng định vị thế ngày
càng vững chắc của thủy sản
Việt Nam trên thị trường quốc tế mà còn thể hiện vai trò then chốt của ngành trong bảo đảm an ninh lương thực, thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thách thức từ môi trường
Tuy nhiên, song hành với tốc độ phát triển nhanh là những áp lực ngày càng lớn đối với môi trường sinh thái, đặc biệt tại các vùng nuôi tập trung, đặt ra yêu cầu cấp thiết về kiểm soát ô nhiễm và tái cấu trúc mô hình
phát triển theo hướng bền vững.
Ngành thủy sản, xét về bản chất, là lĩnh vực sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào tài nguyên thiên nhiên và chất lượng hệ sinh thái nước. Bất kỳ biến động nào
của môi trường đều tác động trực tiếp đến sinh trưởng, sức khỏe và năng suất của đối tượng nuôi. Thực tế cho thấy, trong quá trình mở rộng diện tích và gia tăng mật độ nuôi, nhiều địa phương đã bộc lộ rõ những hạn chế trong quản lý môi trường,
dẫn đến tình trạng suy giảm chất lượng nước, gia tăng dịch bệnh và rủi ro sản xuất. Một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản là sự tích tụ chất hữu cơ dư thừa từ thức ăn, phân thải và xác sinh vật chết. Tại các vùng nuôi thâm canh, đặc biệt là nuôi lồng bè ven bờ và nuôi tôm nước lợ, lượng chất thải này lắng đọng dưới đáy ao, đầm hoặc khu vực nuôi, làm gia tăng các khí độc như NH 3 , H 2S, gây mất cân bằng sinh thái và tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển. Bên cạnh đó, việc lạm dụng hóa chất, kháng sinh trong phòng và trị bệnh không chỉ làm ô nhiễm môi trường nước mà còn
lại dư lượng trong sản phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và uy tín hàng hóa
khuẩn Vibrio spp., gây bệnh sữa và thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi.
Tại các vùng nuôi cá nước lạnh, sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong hệ thống nuôi đã tạo điều kiện cho bệnh lở loét phát sinh, với tỷ lệ nhiễm bệnh ở mức cao. Những hiện tượng này không chỉ gây tổn thất kinh tế trước mắt mà còn làm suy yếu niềm tin của người nuôi vào tính ổn định lâu dài của môi trường sản xuất.
Ngoài các yếu tố nội tại từ hoạt động nuôi, môi trường thủy sản còn chịu tác động chồng lấn từ biến đổi khí hậu và các hoạt động kinh tế khác. Nhiệt độ nước tăng, thời tiết cực đoan, xâm nhập mặn, cùng với nguồn thải từ công nghiệp, đô thị và nông nghiệp đã và đang tạo ra áp lực kép lên hệ sinh thái nước.
Trong khi đó, hệ thống hạ tầng quan trắc môi trường tại nhiều địa phương còn lạc hậu, thiếu
đồng bộ; dữ liệu môi trường chưa
được cập nhật theo thời gian thực, khiến công tác cảnh báo sớm và phòng ngừa rủi ro gặp
nhiều khó khăn. Việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp
4.0 mới chủ yếu tập trung ở
doanh nghiệp quy mô lớn, trong khi đa số hộ nuôi nhỏ lẻ còn hạn
chế về vốn, kỹ năng và khả năng
tiếp cận công nghệ mới.
Những hệ lụy môi trường nói
trên cho thấy, nếu không có giải
pháp quản lý tổng thể và kịp thời,
chính sự phát triển nóng của
ngành thủy sản sẽ trở thành lực
cản đối với mục tiêu tăng trưởng
bền vững, thậm chí làm suy giảm
nguồn lợi và sinh kế của cộng
đồng ven biển.
Phát triển bền vững
Trước những thách thức môi
trường ngày càng gia tăng,
phát triển thủy sản bền vững, có trách nhiệm và thân thiện
với môi trường không còn là lựa chọn, mà là con đường tất yếu.
Như khẳng định của Thứ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Phùng Đức Tiến, đây là xu hướng
phù hợp với yêu cầu hội nhập
quốc tế, đồng thời đáp ứng các cam kết của Việt Nam trong ứng
phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi
trường và phục hồi hệ sinh thái
tự nhiên, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh.
Để biến mục tiêu này thành
hiện thực, vai trò của cơ quan
quản lý trong việc xây dựng chính sách và giám sát môi trường đặc biệt quan trọng. Cụ thể, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường kiểm soát nguồn xả thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, gắn trách nhiệm bảo vệ môi
trường với cấp phép và tổ chức
sản xuất. Công tác quy hoạch vùng nuôi phải dựa trên sức tải
môi trường, tránh tình trạng phát
triển tự phát, mật độ cao vượt
ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái.
Đồng thời, đầu tư nâng cấp hệ thống quan trắc, cảnh báo môi
trường theo hướng hiện đại, liên thông dữ liệu và ứng dụng công
nghệ số sẽ là nền tảng quan trọng để quản lý rủi ro và hỗ trợ
người nuôi ra quyết định kịp thời.
Các chuyên gia, nhà khoa học cần đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao các mô hình nuôi tiên tiến, ít phát thải và thân thiện với môi trường. Các hệ thống
nuôi tuần hoàn (RAS), nuôi kết hợp aquaponics, biofloc, nuôi sinh thái đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm thiểu chất thải, tiết kiệm nước và hạn chế dịch bệnh. Song song đó, việc chọn tạo, sử dụng con giống chất lượng cao, có khả năng kháng bệnh tốt sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào hóa chất, kháng sinh, nâng cao hiệu quả kinh tế và an toàn sinh học. Đối với người nuôi, thay đổi tư duy sản xuất theo hướng dài hạn là yếu tố then chốt. Việc tuân thủ quy trình kỹ thuật, quản lý thức ăn hợp lý, sử dụng chế phẩm vi sinh, áp dụng các biện pháp xử lý nước bằng công nghệ sinh học hoặc nano không chỉ giúp ổn định môi trường nuôi mà còn giảm chi phí và rủi ro trong quá trình sản xuất. Quan trọng hơn, ý thức bảo vệ môi trường cần được xem là một phần không thể tách rời của hiệu quả kinh tế, bởi môi trường bền vững chính là “vốn tự nhiên” quý giá nhất của ngành thủy sản.
Ảnh: istock
Xu hướng công nghệ thủy sản 2026
Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh đang đặt ra những thách thức
ngày càng lớn đối với ngành thủy sản. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ không chỉ nhằm nâng cao năng suất, mà còn là chìa khóa để bảo đảm hiệu quả, bền vững và an toàn. Dưới đây là các công nghệ được kỳ vọng sẽ định hình xu hướng phát triển của ngành thủy sản trong năm 2026.
Công nghệ thông minh Ứng dụng công nghệ thông minh trong nuôi trồng thủy sản đang trở thành xu thế tất yếu nhằm hướng tới sản xuất bền vững. Công nghệ thông minh giúp các trang trại, hộ nuôi tiết kiệm thời gian, chi phí cũng như nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Tại một số quốc gia trên thế giới, đã xuất hiện nhiều mô hình ứng dụng công nghệ số phục vụ nuôi trồng thủy sản và phát huy hiệu quả cao. Điển hình, robot thủy sản có thể vệ sinh ao, quan sát lưới lồng, loại bỏ xác cá chết, tiêm vaccine tự động, theo dõi sức khỏe và hành vi của cá… Hay ứng dụng máy bay không
người lái (drone) để giám sát trại nuôi, kiểm tra môi trường nước, phát hiện cá chết, thu thập dữ liệu và phân tích bằng trí tuệ nhân tạo (AI).
Tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, những năm gần đây phát triển mạnh các mô hình ứng dụng công nghệ số vào quan trắc môi trường, đánh giá sức khỏe thủy sản nuôi. Trong đó, lĩnh vực nuôi tôm nước lợ khá phổ biến ở mô hình nuôi thâm canh và siêu thâm canh. Việc ứng dụng AI, IoT, hệ thống cảm biến và tự động hóa trong quản lý ao nuôi sẽ giúp đánh giá chất lượng nước ao, người nuôi dễ dàng quan sát các dữ liệu trên điện thoại di động và đưa ra giải pháp quản lý nước phù hợp, nhanh chóng.
Công nghệ sinh học
Công nghệ sinh học đang mở ra một hướng đi mới thay thế kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, thông qua việc ứng dụng chế phẩm sinh học (probiotics) (vi khuẩn có lợi như Bacillus, Lactobacillus), enzyme, vaccine (phòng bệnh), các hợp chất tự nhiên như polyphenol (Actinol), và cả công nghệ di truyền, nhằm tăng cường miễn dịch, cải thiện tiêu hóa, giảm mầm bệnh, nâng cao sức khỏe vật nuôi và hướng tới nuôi trồng bền vững, giảm thiểu kháng thuốc. Các quốc gia như Na Uy, Chile, Scotland đã phổ biến vaccine phòng bệnh cho cá, kết hợp
Tại Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (nay thuộc Viện Khoa học Thủy sản) đã xác định phát triển vaccine thủy sản là một trong những ưu tiên trong chiến lược phát triển ngành. Viện cũng đang tích cực nghiên cứu và phát triển vaccine cho cá tra, đặc biệt là vaccine phòng bệnh gan thận mủ và xuất huyết.
Công nghệ Biofloc
Biofloc là giải pháp công nghệ đã được ứng dụng rộng rãi trong những năm gần đây nhằm giảm thiểu vấn đề ô nhiễm môi trường vùng nuôi, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp một cách bền vững, nhất là trong lĩnh vực nuôi tôm.
Biofloc tập hợp một khối các chất hữu cơ lơ lửng trong nước như các loại tảo đơn bào, tảo đa bào, phân, thức ăn dư thừa, xác vi sinh vật, vi khuẩn và kể cả động vật không xương sống,…
Biofloc có khả năng đồng hóa các loại chất thải hữu cơ chuyển thành sinh khối của vi khuẩn trong thời gian rất ngắn, nhằm cải thiện môi trường nước mà không cần ánh sáng như các loại tảo. Biofloc có hàm lượng chất dinh dưỡng cao và trở thành loại thức ăn cho tôm, cá. Theo các đánh giá, công nghệ biofloc đáp ứng tiêu chí an toàn sinh học rất tốt, không có sự xuất hiện của WSSV trong môi trường nước nuôi tôm. Hệ thống nuôi không thay nước hoặc thay nước rất ít trong toàn bộ quá trình nuôi. Năng lực sản xuất được đánh giá tăng từ 5 - 10%, kích thước phát triển của tôm cao hơn khoảng 2 g so với hệ thống nuôi thông thường. FCR thấp (từ 1 đến 1,3). Tiết kiệm từ 15 - 10% chi phí sản xuất cho vụ nuôi.
Nuôi trồng thủy sản đa dinh dưỡng tích hợp (IMTA)
Trong bối cảnh ngành thủy sản toàn cầu đang đối diện với các thách thức nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh thủy sản và áp lực cạnh tranh gia tăng, nhu cầu chuyển đổi sang các mô hình sản xuất bền vững ngày càng trở nên cấp thiết.
Mô hình nuôi trồng thủy sản đa dinh dưỡng tích hợp (IMTA - Integrated Multi-Trophic Aquaculture) nổi lên như một giải pháp hiệu quả nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên, giảm thiểu tác động môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế. IMTA là mô hình nuôi kết hợp nhiều loài sinh vật thủy sinh ở các bậc dinh
dưỡng khác nhau trong cùng một hệ thống. Nguyên lý cốt lõi là tái sử dụng chất thải từ loài này làm nguồn dinh dưỡng cho loài khác. Mỗi loài đóng một vai trò trong chu trình dinh dưỡng, tạo ra một quy trình nuôi trồng bền vững và hiệu quả hơn.
Canada là quốc gia tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng IMTA thông qua Viện Thủy sản Quốc gia (DFO). Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh mô hình này, với các tổ hợp nuôi cá biển - rong biển - ngao biển tại
Sơn Đông, Phúc Kiến. Tại Việt Nam, mô hình IMTA đã được thử nghiệm rải rác tại Vân Đồn (Quảng Ninh), Côn Đảo và Nha Trang. Tuy nhiên, phần lớn vẫn trong khuôn khổ nghiên cứu hoặc do các hộ nuôi lớn tự triển khai.
RAS
Hệ thống lọc tuần hoàn RAS (Recirculating Aquaculture System) là một công nghệ nuôi trồng thủy sản hiện đại, khép kín, trong đó 90 - 95% lượng nước được tái sử dụng liên tục thông qua các hệ thống lọc sinh học, cơ học và khử trùng bằng tia UV hoặc ozone. Nhờ đó, các thông số môi trường như pH, nhiệt độ, nồng độ ôxy hòa tan, amoniac hay nitrat luôn
được giám sát chặt chẽ, giúp tiết kiệm nước, kiểm soát dịch bệnh hiệu quả và giảm thiểu chi phí xử lý môi trường.
RAS đã được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia tiên tiến trong sản xuất thủy sản.
Tại Việt Nam, công nghệ này cũng đang
được ứng dụng với các cải tiến để phù hợp tình hình thực tế, giúp nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nuôi trồng. Đến nay, công nghệ RAS đã được ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản với nhiều quy mô và đối tượng nuôi khác nhau, từ các loại thủy sản chiến lược (cá tra, tôm) cho đến các loại có giá trị kinh tế cao (cá chình bông, cá chạch quế, trắm đen, cá tầm).
Aquaponics
Hệ thống Aquaponics đang được xem là một trong những giải pháp đột phá cho ngành nuôi trồng thủy sản trong thời kỳ hiện đại. Không chỉ kết hợp hiệu quả giữa nuôi thủy sản và trồng cây trong hệ thống tuần hoàn khép kín, mô hình này còn tối ưu hóa tài nguyên, mang lại lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường. Hệ thống Aquaponics có nhiều mô hình phù hợp với các điều kiện khí hậu cũng như kinh tế khác nhau, có thể nuôi các loài cá và trồng các loại rau khác nhau, phổ biến có 3 dạng: mô hình Aquaponics tưới ngập xả cạn (Giá thể - MB - Media-Based); mô hình Aquaponics nước cạn (NTF - Nutrient Film Technique) và mô hình Aquaponics nước sâu (DWC - Deep Water Culture). Trong đó, mô hình Aquaponics nước cạn NTF có nhiều ưu điểm phù hợp với việc nuôi trồng theo quy mô nhỏ trong hộ gia đình vì có thể phát triển theo chiều dọc, bố trí được nhiều tầng. Tại các quốc gia như Mỹ và Israel đã triển khai rộng rãi Aquaponics với nhiều mô hình thành công. Ở Mỹ, Aquaponics đang trở thành xu hướng trong các trang trại đô thị, giúp cung cấp thực phẩm sạch cho cư dân thành phố. Israel, với điều kiện khí hậu khô cằn, đã áp dụng thành công công nghệ này để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.
Nuôi trồng thủy sản đạt các chứng nhận Để con tôm, con cá Việt Nam có thể vươn ra thế giới, việc đáp ứng các tiêu chuẩn thực hành tốt là yêu cầu không thể thiếu. Các chứng nhận như VietGAP, GlobalG.A.P., BAP hay ASC không chỉ là một tờ giấy, mà là một lời cam kết về quy trình sản xuất có trách nhiệm. Nuôi thủy sản đạt chứng nhận mang lại lợi ích lớn: tăng giá trị xuất khẩu, mở rộng thị trường (EU, Mỹ, Nhật), tăng giá bán sản phẩm, giảm chi phí sản xuất (thức ăn, kháng sinh, nhân công), nâng cao uy tín thương hiệu, cải thiện môi trường (giảm ô nhiễm) và đảm bảo sản phẩm sạch, an toàn cho người tiêu dùng, giúp người nuôi tối ưu hóa lợi nhuận và phát triển bền vững.
10 ĐIỂM NHẤN
DINH DƯỠNG THỦY SẢN
NĂM 2025
Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt quan trọng của ngành dinh dưỡng thủy
sản toàn cầu, khi trọng tâm dịch chuyển từ bài toán chi phí sang sức khỏe vật nuôi, tính chính xác và bền vững dài hạn. Từ dinh dưỡng chính
xác, protein mới, thảo dược, vi tảo đến AI và kinh tế tuần hoàn carbon, bức tranh ngành đang được tái định hình từ gốc.
1. Dinh dưỡng chính xác trở thành trọng tâm
Ngành thức ăn thủy sản đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu, với trọng tâm là đa dạng nguyên liệu, tận dụng phụ phẩm và thiết kế khẩu phần chính xác theo từng loài, từng giai đoạn nuôi. Theo ông Brett Glencross, Giám đốc kỹ thuật IFFO, công thức bền vững không còn dựa vào một nguyên liệu chủ lực, mà cần một “rổ nguyên liệu” ổn định về chất lượng, nguồn cung và giá thành để giảm rủi ro chuỗi cung ứng. Thực tế cho thấy, vai trò của nguyên liệu biển đã thay đổi mạnh. Tỷ lệ bột cá trong thức ăn thủy sản giảm từ khoảng 25% năm 2000 xuống còn gần 9%
07 05 06
5. Thức ăn chức năng tự nhiên lên ngôi
Sự ra mắt các dòng thức ăn chức năng như Necto của Skretting phản ánh xu hướng rõ rệt: chuyển từ “nuôi
để lớn” sang “nuôi để khỏe”. Các tổ hợp phytocomplexes được thiết kế đa tác động, hỗ trợ miễn dịch, bảo vệ mô và giúp cá thích ứng tốt hơn với stress môi trường.
Đáng chú ý, xu hướng này còn mở rộng sang việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp. Vỏ dứa, phụ phẩm khoai môn, cơm dừa hay chất nền sau trồng nấm đang được nghiên cứu làm cơ chất nuôi probiotic, vừa hỗ trợ vi khuẩn có lợi phát triển, vừa thể hiện khả năng kháng khuẩn tự nhiên. Dinh dưỡng thảo dược vì thế không còn là phụ gia đơn lẻ, mà đang hình thành hệ sinh thái phòng ngừa hoàn chỉnh.
6. Biến carbon thành nguồn
dinh dưỡng
Tái chế khí CO2 công nghiệp thành sinh khối vi tảo đang mở ra hướng đi đột phá cho dinh dưỡng thủy sản. Các dự án tại Bắc Âu cho thấy, vi tảo nuôi từ khí thải có thể được sử dụng ở tỷ lệ cao trong thức ăn cá hồi, cung cấp omega-3 và cải thiện sức khỏe vật nuôi.
Sự kết nối giữa công nghiệp nặng, công nghệ sinh học và thức ăn thủy sản đang đặt nền móng cho kinh tế tuần hoàn carbon, nơi tăng trưởng nuôi trồng không còn đồng nghĩa với gia tăng phát thải.
7. Vi tảo bước vào giai đoạn công nghiệp hóa
Vi tảo đang chuyển vai từ nguyên liệu bổ trợ sang nền tảng dinh dưỡng chiến lược, đặc biệt trong ương giống. Các mô hình sản xuất quy mô công nghiệp, như BarAlgae (Israel), cho thấy vi tảo không biến đổi gen hoàn toàn có thể được chuẩn hóa, tự động hóa và tích hợp sâu vào chuỗi giá trị thức ăn thủy sản. Việc sở hữu tổ hợp vi tảo đa dạng cho phép phối trộn dinh dưỡng phù hợp từng loài ấu trùng, thay thế mô hình tự nuôi tảo tại trại giống vốn rủi ro và tốn nhân lực. Chỉ với lượng nhỏ sản phẩm cô đặc, các trại giống có thể thay thế hàng tấn dịch tảo truyền thống, đồng thời cải thiện tỷ lệ sống, tăng trưởng và an toàn sinh học. Trong tương lai gần, xu hướng sản xuất vi tảo tại chỗ ở các trung tâm nuôi lớn hứa hẹn mở ra khả năng sử dụng tảo sống, giúp cải thiện chất lượng nước và tái chế dinh dưỡng trong hệ thống nuôi.
Dũng Nguyên
2. Gỡ nút thắt ấu trùng trong nuôi biển
Dinh dưỡng ấu trùng đang quay trở lại với sinh vật phù du biển tự nhiênnguồn thức ăn phù hợp sinh lý tiến hóa của cá biển. Khi được chuẩn hóa và bảo quản bằng công nghệ đông sâu, nguồn thức ăn này giúp cải thiện tỷ lệ sống, giảm dị hình và tạo hiệu ứng “lập trình dinh dưỡng” tích cực kéo dài đến giai đoạn thương phẩm. Xu hướng này được xem là nền tảng để mở rộng nuôi biển công nghiệp, đặc biệt với các loài giá trị cao và khó nuôi.
8. AI định hình thế hệ phụ gia mới
Trí tuệ nhân tạo đang rút ngắn mạnh quá trình phát triển phụ gia dinh dưỡng. Thay vì thử - sai tốn kém, AI cho phép dự đoán hoạt tính sinh học, độ an toàn và tương tác của các hợp chất thảo dược ngay từ khâu thiết kế. Xa hơn, các mô hình “bản sao số” của cá và hệ thống nuôi cho phép thử nghiệm hàng nghìn kịch bản dinh dưỡng ảo, mở đường cho dinh dưỡng chính xác dựa trên dữ liệu lớn.
3. Protein côn trùng: Từ kỳ vọng lớn đến định vị thực tế Năm 2025 là phép thử bản lĩnh của ngành protein côn trùng. Sự phá sản của Ÿnsect cùng nhiều dự án tại châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy thách thức không nằm ở khoa học, mà ở bài toán chi phí, năng lượng và thương mại hóa quy mô lớn. Ngược lại, Đông Nam Á đang nổi lên như vùng địa lý phù hợp hơn, nhờ khí hậu, nguồn phụ phẩm và chi phí vận hành thấp.
Các mô hình mới tại Thái Lan, Việt Nam hay Indonesia cho thấy, côn trùng không còn được kỳ vọng thay thế bột cá ở quy mô lớn, mà được định vị là nguồn protein và phụ gia chức năng giá trị cao, sử dụng có chọn lọc. Tương lai của lĩnh vực này không nằm ở tham vọng toàn cầu hóa quá nhanh, mà ở những mô hình đủ rẻ, đủ gần người nuôi và đủ kỷ luật trong mở rộng.
4. Công thức thức ăn dựa trên hiệu ứng cộng hưởng
Ngành dinh dưỡng thủy sản đang chuyển từ tư duy “đủ chất” sang “đúng tương tác”. Các nghiên cứu cho thấy sự phối hợp giữa omega-3, kẽm, cholesterol và chất béo bão hòa có tác động lớn đến tăng trưởng, sức khỏe và chất lượng phi lê cá hồi, đặc biệt trong điều kiện nuôi biển khắc nghiệt. Thiết kế khẩu phần dựa trên hiệu ứng hiệp lực đang trở thành hướng tiếp cận mới, giúp vật nuôi thích nghi tốt hơn với môi trường biến động.
9. Thảo dược mở hướng mới kiểm soát rận biển Trong nuôi cá hồi, áp lực từ rận biển đang thúc đẩy ngành tìm kiếm giải pháp dinh dưỡng phòng ngừa thay vì điều trị. Các nghiên cứu mới cho thấy phụ gia thảo dược, như tổ hợp tinh dầu Digestarom PEP MGE, có thể giảm đáng kể mật độ rận biển thông qua việc tăng cường sức khỏe da, lớp nhầy và miễn dịch nội tại của cá.
Cách tiếp cận này giúp giảm stress do xử lý cơ học, hạn chế kháng thuốc và phù hợp với yêu cầu ngày càng cao về phúc lợi động vật. Dinh dưỡng thảo dược vì thế đang trở thành một phần của chiến lược kiểm soát ký sinh trùng bền vững trong nuôi cá hồi giá trị cao.
10. Protein đơn bào giảm lệ thuộc bột cá
Protein đơn bào từ nấm men, vi tảo và vi khuẩn đang trở thành trụ cột mới của dinh dưỡng thủy sản. Ưu thế về khả năng tiêu hóa, tác động tích cực lên hệ vi sinh và tính ổn định chuỗi cung ứng khiến nhóm nguyên liệu này ngày càng được chú ý. Đặc biệt, protein vi khuẩn sử dụng methane hoặc methanol cho thấy tiềm năng thay thế bột cá ở nhiều đối tượng nuôi, đồng thời gắn với kinh tế tuần hoàn carbon. Trong bối cảnh nguồn bột cá ngày càng hạn chế, protein đơn bào đang mở ra dư địa tăng trưởng bền vững cho toàn ngành.
Trao đổi với Tạp chí Thủy sản Việt
Nam, ông Hoàng Văn Hồng – Phó
Giám đốc Trung tâm Khuyến nông
Quốc gia đã chia sẻ những định hướng trọng tâm của khuyến nông thủy sản trong kỷ nguyên xanh.
Phóng viên: Thưa ông, năm 2025 được đánh giá là một năm hoạt động sôi nổi của hệ thống khuyến nông cả nước. Với lĩnh vực thủy sản, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò và sự tham gia của lực lượng khuyến nông trong việc đồng hành cùng người nuôi và ngư dân?
Ông Hoàng Văn Hồng: Năm 2025, ngành thủy sản chịu tác động kép từ thiên tai khắc nghiệt tại miền Bắc, miền Trung và dịch bệnh phức tạp trên tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong bối cảnh đó, hệ thống khuyến nông đã khẳng định vai trò điểm tựa thông qua những hành động thực tiễn và quyết liệt.
Không chỉ dừng lại ở công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng mà Trung tâm Khuyến nông Quốc gia còn đi sâu vào hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp. Các buổi tọa đàm thực địa được tổ chức ngay tại ao nuôi với sự tham gia của chuyên gia và doanh nghiệp, giúp giải quyết “nóng” các vấn đề phát sinh. Đặc biệt, việc hỗ trợ kịp
Khuyến nông thủy sản 2026
KIẾN TẠO GIÁ TRỊ XANH
Hiện nay, “xanh hóa” dần trở thành thước đo năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản. Trong bối cảnh đó, hệ thống
khuyến nông không chỉ đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật mà còn
là động lực để “kiến tạo giá trị xanh”, định hình một nền sản xuất hiện đại và bền vững.
thời vật tư, men vi sinh xử lý môi trường và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi đã trở thành giải pháp kỹ thuật then chốt, giúp bà con giảm thiểu thiệt hại và nhanh chóng khôi phục sản xuất.
Về chiều sâu chiến lược, Trung tâm đã chỉ đạo hệ thống khuyến nông cơ sở và cộng đồng đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Các mô hình tiên tiến như nuôi tôm công nghệ Grofarm, quy trình 2 - 3 giai đoạn, lồng nuôi HDPE trên biển, trên sông hồ hay ứng dụng công nghệ số trong khai thác... được đưa vào thực tiễn thông qua các lớp tập huấn bài bản. Chính sự kết hợp giữa ứng phó linh hoạt và nền tảng kỹ thuật vững chắc này đã giúp người dân làm chủ quy trình, đóng góp quan trọng vào thành công chung của ngành thủy sản năm 2025.
Phóng viên: Thời gian qua, nhiều chương trình, mô hình khuyến nông thủy sản đã được triển khai rộng khắp từ Bắc vào Nam, từ nuôi cá nước ngọt, nuôi tôm nước lợ đến nuôi biển… Theo ông, các chương trình này đã mang lại những tác động như thế nào đối với sản xuất và sinh kế của người nuôi thủy sản?
Khuyến nông luôn đồng hành cùng người nông dân với phương châm: Ở đâu có nông dân, ở đó có khuyến nông
Ông Hoàng Văn Hồng: Nhìn lại chặng đường vừa qua, các chương trình khuyến nông đã tạo ra những tác động toàn diện, làm thay đổi căn bản diện mạo nghề nuôi trồng thủy sản. Tác động rõ nét nhất là sự chuyển dịch mạnh mẽ về tư duy sản xuất. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã hỗ trợ người dân từ bỏ thói quen canh tác nhỏ lẻ, manh mún để chuyển sang phương thức nuôi thâm canh, tuân thủ quy trình an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ cao. Những mô hình tiên tiến như nuôi tôm 2 - 3 giai đoạn, nuôi biển lồng HDPE hay ứng dụng IoT tự
Sự thay đổi này dẫn đến hiệu quả kinh tế vượt trội. Nhờ chuẩn hóa quy trình và tối ưu chi phí đầu vào, các mô hình khuyến nông thường đạt lợi nhuận cao hơn từ 15 - 40% so với phương thức truyền thống. Người nuôi giờ đây đã thấm nhuần tư duy “nuôi hiệu quả hơn” thay vì chỉ cố gắng “nuôi nhiều hơn”, hướng tới sản xuất hàng hóa gắn liền với nhu cầu thị trường.
Bên cạnh lợi ích kinh tế, năng lực của người sản xuất cũng được nâng lên tầm cao mới. Thông qua phương pháp đào tạo “cầm tay chỉ việc” ngay tại mô hình, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã góp phần hình thành thế hệ “nông dân chuyên nghiệp”. Họ không còn thụ động trông chờ mà đã làm chủ kiến thức về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và sẵn sàng chuyển đổi số.
Không chỉ vậy, các chương trình này còn giải quyết tốt bài toán phát triển bền vững. Các mô hình nuôi tuần hoàn nước, giảm phát thải không chỉ hướng tới một nền thủy sản xanh mà còn kiến tạo các vùng nguyên liệu ổn định, tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng cư dân ven biển.
Phóng viên: Từ thực tiễn triển khai những năm gần đây, đâu là những điểm đổi mới nổi bật trong cách làm khuyến nông thủy sản, so với giai đoạn trước, giúp nâng cao hiệu quả hỗ trợ người nuôi?
Ông Hoàng Văn Hồng: Thực hiện phương châm “Ở đâu có nông dân, ở đó có khuyến nông”, công tác khuyến nông thủy sản thời gian qua đã có những bước chuyển mình mang tính chiến lược, thay đổi toàn diện cả về “lượng” và “chất”.
Điểm nhấn đầu tiên là sự đổi mới căn bản trong tiếp cận mô hình. Thay vì dàn trải các mô hình trình diễn đơn lẻ, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tập trung kiến tạo các vùng nguyên liệu quy mô lớn, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín. Sự gắn kết hữu cơ giữa “Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệpNhà nông“ giúp giải quyết bài toán đầu ra bền vững, thay vì để người dân “tự bơi“ trong cơ chế thị trường.
Kế đến là cuộc cách mạng về phương thức hỗ trợ thông qua chuyển đổi số. Bên cạnh phương pháp truyền thống “cầm tay chỉ việc”, khuyến nông hiện đại đã tích hợp sâu rộng công nghệ 4.0. Việc ứng dụng IoT, nhật ký điện tử và hệ thống giám sát môi trường giúp
DẤU ẤN HIỆU QUẢ TỪ CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN NÔNG
15 - 20%: Mức tăng hiệu quả kinh tế trung bình của các mô hình khuyến nông so với nuôi truyền thống.
Công nghệ lõi: Nuôi tôm Grofarm, công nghệ biofloc, nuôi biển lồng HDPE, ứng dụng IoT quản lý môi trường.
chuyển dịch tư duy từ “tăng sản lượng” sang “tối ưu hóa chi phí và bảo vệ môi trường”. Đây là chìa khóa để ngành thủy sản thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu.
Cuối cùng là xã hội hóa nguồn lực và phát huy vai trò cộng đồng. Hoạt động khuyến nông không còn là nhiệm vụ đơn tuyến của nhà nước mà đã trở thành sự nghiệp chung của toàn xã hội. Đặc biệt, mô hình Tổ khuyến nông cộng đồng đang phát huy hiệu quả tích cực, trở thành “cánh tay nối dài” bám sát thực tiễn, hỗ trợ thường xuyên và trực tiếp cho bà con ngay tại cơ sở.
Phóng viên: Bước sang năm 2026, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xác định những định hướng và nhiệm vụ trọng tâm nào đối với lĩnh vực thủy sản, nhất là trong bối cảnh yêu cầu phát triển xanh, bền vững ngày càng rõ nét?
Ông Hoàng Văn Hồng: Năm 2026 là năm khởi động kế hoạch 5 năm phát triển kinh
tế của cả nước 2026 - 2030, trong bối cảnh
ngành thủy sản đứng trước yêu cầu cấp bách
về phát triển xanh, bền vững, thích ứng biến
đổi khí hậu và hội nhập thị trường quốc tế
sâu rộng, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
xác định hoạt động khuyến nông luôn “bám
sát thực tiễn sản xuất tại cơ sở”, “đồng hành cùng bà con nông dân”, bám sát Chiến lược phát triển khuyến nông giai đoạn 2026 - 2030 và Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Bao gồm:
Thứ nhất: Chuyển đổi mạnh mẽ tư duy và
đổi mới cách tiếp cận khuyến nông. Trung tâm sẽ đẩy mạnh hoạt động theo hướng kết nối chuỗi giá trị, gắn kết hữu cơ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và thị trường.
Thứ hai: Tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng xanh, sinh thái và tuần hoàn. Hoạt động khuyến nông sẽ ưu tiên xây
30 - 40%: Mức tăng lợi nhuận tại các mô hình ứng dụng công nghệ cao.
Chuyển đổi số: Phổ cập nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc và giám sát ao nuôi tự động.
dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ cao, quy trình tiết kiệm nước, tối ưu hóa dinh dưỡng và giảm phát thải. Đây là giải pháp để nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai và biến đổi khí hậu.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khuyến nông về thủy sản. Trong giai đoạn mới, cán bộ khuyến nông không chỉ giỏi kỹ thuật chuyên môn mà phải có năng lực tư vấn tổ chức sản xuất, chuyển đổi số và phát triển kinh tế hợp tác để đồng hành lâu dài cùng người sản xuất.
Thứ tư: Thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong hoạt động khuyến nông. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia sẽ chú trọng huy động nguồn lực xã hội hóa để nhân rộng các quy trình sản xuất tiên tiến, đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi biển và nuôi tôm tại các khu vực ven biển.
Thứ năm: Củng cố hệ thống khuyến nông cơ sở, đặc biệt là phát huy vai trò của đội ngũ khuyến nông cộng đồng và khuyến nông cấp xã khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đây là lực lượng “gần dân nhất, sát dân nhất”, am hiểu thực tiễn để tổ chức sản xuất hiệu quả tại địa phương. Phát huy truyền thống và thành tựu hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cam kết sẽ tiếp tục xây dựng hệ thống ngày càng phát triển vững mạnh, tiếp tục là người bạn tin cậy đồng hành cùng bà con nông dân trong ngành thủy sản nói riêng, nông nghiệp và môi trường nói chung, thực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình trong giai đoạn mới.
Trân trọng cảm ơn ông!
Khánh Nguyễn – Sao Mai (Thực hiện)
Từ người thợ lặn đến tỷ phú ngọc trai
Bằng tư duy sản xuất hiện đại và sự cần cù lao động, nhiều nông dân
đã xây dựng các mô hình kinh tế nông nghiệp quy mô lớn, mang lại doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Tiêu biểu là mô hình nuôi cấy ngọc trai của ông Hồ Phi Thủy tại Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Lăn lộn mưu sinh
Ông Hồ Phi Thủy, sinh ra trong một gia đình nghèo ở dải đất miền
Trung khắc nghiệt, nơi thường xuyên hứng chịu nắng gió và bão tố. Năm 19 tuổi, sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng không có điều kiện dự thi đại học, ông rời quê, bước vào đời với hai bàn tay trắng, bắt đầu những năm tháng phiêu bạt mưu sinh.
Trải qua nhiều công việc lao động phổ thông, đến năm 1994, ông Thủy đặt chân đến đảo Phú Quốc (tỉnh An Giang) và theo nghề thợ lặn khai thác hải sản dưới đáy biển. Đây là công việc đặc biệt nguy hiểm, đòi hỏi thể lực, kỹ năng và sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc an toàn. Chỉ một sơ suất nhỏ trong quá trình lặn sâu và nổi lên không đúng kỹ thuật cũng có thể dẫn đến tai
nạn nghiêm trọng.
Hằng ngày, ông lặn sâu xuống biển, cần mẫn tìm kiếm trai biển để bán, chắt chiu từng khoản thu nhập nhỏ. Với sức trẻ, ý chí bền bỉ và tinh thần lao động không mệt mỏi, ông dần tích lũy được một khoản vốn. Sau một thời gian vừa dành dụm vừa vay mượn thêm, ông mua được một con thuyền - tài sản lớn đầu tiên và cũng là phương tiện mưu sinh gắn liền với những năm tháng lênh đênh trên biển.
Năm 1997, cơn bão lịch sử Linda quét qua khu vực Nam Bộ, để lại ký ức mà ông Thủy gọi là “cơn ác mộng của đời người”. Dù đã chủ động đưa thuyền vào nơi tránh trú, con thuyền vẫn bị mắc kẹt do hệ thống neo cũ. Trước những cột sóng dựng đứng như bức tường, ông chỉ còn biết bất lực cầu mong sự bình an.
Nắm bắt cơ hội
Sau cơn bão định mệnh, nhận thức rõ những rủi ro luôn rình rập của nghề lặn biển, ông Hồ Phi Thủy quyết định tìm kiếm một hướng đi bền vững hơn. Cơ hội đến khi Công ty Okawa (Nhật Bản), đơn vị chuyên nuôi cấy ngọc trai, đề nghị ông vào làm việc theo chế độ công ăn lương và mua lại con thuyền của ông.
Nhờ kỹ năng lặn thành thạo, khả năng làm việc bền bỉ và năng suất vượt trội, ông
Thủy nhanh chóng tạo được sự tin tưởng từ chủ doanh nghiệp Nhật Bản. Ông được đảm nhận nhiều công việc quan trọng, vượt ra
ngoài phạm vi của một lao động phổ thông. Đây chính là bước ngoặt mang tính quyết định, giúp ông tiếp cận một cách bài bản với tri thức và công nghệ nuôi cấy ngọc trai hiện đại. Trong quá trình làm việc, ông trực tiếp học hỏi từ các chuyên gia Nhật Bản, từ khâu thăm dò, kiểm soát vùng nuôi, kỹ thuật cấy nhân cho đến theo dõi, xử lý và đánh giá chất lượng ngọc.
Tuy nhiên, đến năm 1997, do hoạt động kinh doanh kém hiệu quả và chịu tác động
từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, cơ
sở nuôi trai lấy ngọc này buộc phải giải thể.
Từ thực tiễn tích lũy được, ông Thủy quyết
định tự đứng trên đôi chân của mình, thành
lập Công ty Ngọc trai Ngọc Hiền, chính thức bước vào con đường khởi nghiệp trong lĩnh vực nuôi cấy ngọc trai.
Sau hơn ba thập kỷ xây dựng và phát triển, ông đã đưa Ngọc trai Ngọc Hiền trở thành một trong những doanh nghiệp ngọc trai hàng đầu tại Phú Quốc, ghi dấu ấn bằng nhiều thành tựu nổi bật.
Hiện nay, doanh nghiệp của ông đạt doanh thu 95 - 150 tỷ đồng mỗi năm, lợi nhuận khoảng 25 - 30 tỷ đồng từ hoạt động nuôi trai lấy ngọc kết hợp du lịch sinh thái. Tổng
diện tích sản xuất lên đến khoảng 1.000 ha, với sản lượng trung bình 320.000 viên ngọc mỗi năm.
Không chỉ chú trọng phát triển kinh tế và quảng bá du lịch địa phương, Công ty Ngọc trai Ngọc Hiền còn tạo việc làm ổn định cho hơn 200 lao động, trong đó có 180 lao động chính thức và hơn 20 lao động thời vụ. Thu nhập bình quân của người lao động đạt từ 712 triệu đồng mỗi tháng.
Từ một chàng trai nghèo rời quê hương với hai bàn tay trắng, ông Hồ Phi Thủy đã trở thành biểu tượng của tinh thần bền bỉ, dám nghĩ dám làm, góp phần khẳng định vị thế của ngọc trai Việt Nam trên thị trường quốc tế. Tháng 10/2025, ông được Trung
ương Hội Nông dân Việt Nam vinh danh là Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2025.
Thanh Hiếu
Mô hình mái vòm khí bơm căng
Hướng đi triển vọng của ngành tôm
Mô hình mái vòm khí bơm căng
đang mở ra một hướng đi mới
cho nuôi tôm công nghiệp: Kiểm
soát môi trường chặt chẽ hơn, an toàn sinh học cao hơn và hiệu
quả sản xuất ổn định quanh năm, bất chấp biến động khí hậu.
Từ ao đất đến nhà kính
Là một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới về nuôi tôm, Trung Quốc hiện đạt sản lượng trên 2 triệu tấn/năm với đối tượng chủ lực là tôm thẻ chân trắng. Các nghiên cứu cho thấy tôm thẻ phát triển hiệu quả nhất trong khoảng 26 - 33°C, với ngưỡng tối ưu khoảng 27°C. Chính yêu cầu sinh học này đã định hình các mô hình nuôi tôm tại Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua. Trong thời gian dài, ao đất và ao lót bạt ngoài trời vẫn là phương thức phổ biến nhất, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng. Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ hạn chế: khó kiểm soát dịch bệnh, an toàn sinh học thấp, phụ thuộc lớn vào thời tiết và đặc biệt là không thể duy trì sản xuất trong mùa đông lạnh ở các tỉnh phía bắc. Trước những áp lực đó, ngành tôm Trung Quốc đã dịch chuyển mạnh mẽ sang mô hình nuôi công nghiệp trong nhà kính. Các trang trại nhà kính sử dụng màng nhựa phủ lên các bể bê tông quy mô nhỏ, tạo không gian khép kín giúp kiểm soát nhiệt độ và môi trường nước. Hệ thống gia nhiệt được lắp đặt để duy trì nhiệt độ nước ở mức lý tưởng, qua đó cho phép nuôi tôm quanh năm, kể cả trong mùa đông. Nhờ khả năng giữ nhiệt tốt, mô hình này nhanh chóng lan rộng và góp phần đáng kể vào việc gia tăng sản lượng. Tuy nhiên, khi quy mô ngày càng mở rộng, những điểm yếu của nhà kính cũng dần lộ rõ. Mức tiêu thụ năng lượng vào mùa đông rất
cao, đẩy chi phí vận hành tăng mạnh. Ngược lại, vào mùa hè, khi nhiệt độ ngoài trời có thể chạm ngưỡng 40°C, nhiệt độ bên trong nhà kính đôi khi vượt 60°C, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm và tạo điều kiện làm việc khắc nghiệt cho người lao động. Do đó, một mô hình mới đã bắt đầu được thử nghiệm: hệ thống nuôi tôm dưới mái vòm khí bơm căng. Đơn giản, đột phá Mái vòm khí bơm căng là dạng công trình nhẹ, không sử dụng khung cứng truyền thống mà được giữ vững bằng áp suất không khí bên trong. Toàn bộ mái và vách
của công trình. Các cửa ra vào được thiết kế dạng buồng đệm khí nhằm giữ chênh lệch áp suất không đổi. Cấu trúc mái vòm gồm hai lớp màng, giữa các lớp có vật liệu cách nhiệt nhằm tăng hiệu quả giữ nhiệt. Phần đỉnh vòm sử dụng vật liệu bán trong suốt để khuếch tán ánh sáng mặt trời, đảm bảo cường độ chiếu sáng phù hợp cho hệ thống nuôi. Vật liệu phổ biến là sợi polyester phủ PVC hoặc PVDF, vừa nhẹ vừa có độ bền cao trước điều kiện môi trường khắc nghiệt. Trên thế giới, mái vòm khí đã được ứng dụng rộng rãi trong thể
các không gian cần kiểm soát vi khí hậu. Tuy nhiên, trong nuôi trồng thủy sản, đây vẫn là một khái niệm tương đối mới. Chỉ trong vài năm gần đây, một số dự án thí điểm và thương mại tại Trung Quốc mới bắt đầu khai thác tiềm năng của cấu trúc này cho nuôi tôm. So với nhà kính truyền thống, mái vòm khí cho phép kiểm soát vi khí hậu chính xác hơn, giảm mạnh biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm. Hệ thống khép kín giúp hạn chế mưa, gió, bức xạ nhiệt cực đoan, đồng thời giảm nguy cơ xâm nhập của mầm bệnh và động vật hoang dã. Điều kiện môi trường ổn định giúp tôm giảm stress, cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn, nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng. Mô hình này cũng đặc biệt phù hợp với hệ thống biofloc hoặc nuôi tuần hoàn, góp phần giảm thay nước và áp lực môi trường. Một lợi thế quan trọng khác là khả năng mở rộng linh hoạt. Mái vòm khí có thể lắp đặt trên các cơ sở hạ tầng sẵn có, không đòi hỏi nhiều thép kết cấu hay vật liệu cách nhiệt như nhà kính, từ đó mở ra khả năng cải tạo các trại nuôi hiện hữu theo hướng hiện đại hơn.
Triển vọng kinh tế, môi trường
Tại tỉnh Sơn Đông, tập đoàn thủy sản
Minsheng đã triển khai một dự án thí điểm nuôi tôm thẻ trong mái vòm khí bơm căng, với mục tiêu đánh giá toàn diện hiệu quả kỹ thuật và sinh học của mô hình này so với nhà kính truyền thống. Hai thí nghiệm được tiến
hành song song trong cùng điều kiện cơ sở hạ tầng, con giống và quy trình quản lý. Thí nghiệm thứ nhất tập trung so sánh tăng trưởng của tôm nuôi trong hai môi trường kiểm soát khác nhau: mái vòm khí và nhà kính. Tôm giống có khối lượng trung bình 1,88 g được thả với mật độ 400 con/m³ trong các bể bê tông kích thước 6,5 × 6,5 × 1,6 m. Tôm ở cả hai hệ thống được cho ăn cùng loại thức ăn thương mại, bổ sung vitamin, chiết xuất tỏi sinh học và thảo dược Trung Quốc nhằm hỗ trợ sức khỏe đường ruột. Các chỉ tiêu môi trường như ôxy hòa tan, độ mặn và nitrit được kiểm soát nghiêm ngặt, trong khi nước nuôi được lấy từ giếng ngầm, xử lý lắng lọc và gia nhiệt trước khi cấp vào bể. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về ổn định nhiệt. Trong nhà kính, biên độ dao động nhiệt không khí trong ngày có thể lên tới hơn 24°C, trong khi dưới mái vòm khí chỉ khoảng 2,9°C. Nhiệt độ nước trong nhà kính dao động trung bình 1,1°C mỗi ngày, còn trong mái vòm khí chỉ khoảng 0,2°C. Nhờ môi trường ổn định hơn, tôm nuôi dưới mái vòm khí đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn khoảng 13,4% so với nhà kính, đồng thời điều kiện làm việc cho người lao động cũng dễ chịu hơn đáng kể.
Thí nghiệm thứ hai, hiện vẫn đang tiếp tục, nhằm xác định mật độ nuôi tối ưu trong mái vòm khí, với các mức 400 - 700 con/m³. Ngoài các chỉ tiêu tăng trưởng, nghiên cứu còn đánh giá chức năng gan tụy của tôm nhằm làm rõ
tác động sinh lý của mật độ nuôi cao trong môi trường khép kín. Xét về kinh tế và môi trường, chi phí đầu tư ban đầu cho mái vòm khí có thể cao hơn nhà kính, song hiệu quả vận hành dài hạn, năng suất cao hơn và rủi ro dịch bệnh thấp hơn được kỳ vọng sẽ bù đắp khoản đầu tư này. Năng lượng tiêu thụ chủ yếu dành cho hệ thống quạt, thấp hơn nhiều so với chi phí sưởi hoặc làm mát toàn bộ nhà kính. Vật liệu cấu thành mái vòm có khả năng tái chế, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững. Về dài hạn, mô hình mái vòm khí không chỉ mở ra hướng đi mới cho nuôi tôm mà còn có tiềm năng ứng dụng cho nhiều loài thủy sản khác, cũng như các hệ thống lưu giữ, ương dưỡng trong điều kiện kiểm soát cao. Quan trọng hơn, nó đặt ra một câu hỏi chiến lược cho ngành thủy sản toàn cầu: Làm thế nào để cân bằng giữa nhu cầu sản xuất thực phẩm hiệu quả, an toàn sinh học cao với những rủi ro ngày càng lớn từ môi trường nuôi mở?. Nếu được chứng minh thành công ở quy mô thương mại, mái vòm khí bơm căng có thể trở thành một biểu tượng mới cho kỷ nguyên nuôi trồng thủy sản công nghệ cao không chỉ ở Trung Quốc, mà còn vượt ra ngoài biên giới quốc gia này.
Vũ
Theo Fishfarmingexpert
Vùng thủy sản quốc gia với thách thức nguồn nước
Bước vào “Kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL) - vùng thủy sản quốc gia vẫn chịu nhiều thách thức.
Thập kỷ qua đã chứng kiến 10% dân số phải di cư và tương lai tỷ lệ
nghèo có thể tăng cao.
Hộ nghèo tăng và gần 1,7 triệu người ra đi
Báo cáo “Ở lại hay Di cư: Cuộc sống vùng
ĐBSCL Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, vùng thủy sản quốc gia đang
đứng trước một giai đoạn phát triển bước ngoặt. Nghiên cứu này khảo sát 5.000 hộ gia
đình tại 13 địa phương ĐBSCL trước khi sáp nhập thành 6 địa phương vào giữa năm 2025. Khảo sát phỏng vấn chuyên sâu 3 nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương trước những biến đổi về môi trường và kinh tế, trong đó có 1.000 hộ thủy sản (thu thập thông tin về thách thức trong đánh bắt và nuôi trồng). Những thông tin về điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường của các hộ gia đình này là nguồn dữ liệu quan trọng để hiểu rõ các yếu tố tác động đến tình
trạng nghèo, dễ bị tổn thương và sinh kế, đặc biệt khi ĐBSCL đang có nhiều biến đổi lớn về môi trường khí hậu và nhân khẩu học. Vùng ĐBSCL có gần 18 triệu người, từ lâu được xem là “trái tim nông nghiệp” của Việt Nam, sản xuất hơn trên 50% sản lượng lúa gạo, lượng lớn thuỷ sản và trái cây. Tuy nhiên, vai trò kinh tế của vùng ĐBSCL đang suy giảm, tỷ lệ đóng góp vào GDP cả nước đã giảm từ gần 20% trước năm 2000 xuống còn 12,4% vào năm 2024. Hiện vùng đang đối mặt với tỷ lệ nghèo tăng, đặc điểm nhân khẩu học thay đổi và các mối đe dọa về khí hậu, môi trường ngày càng nghiêm trọng.
Tỷ lệ nghèo giai đoạn 2018 - 2022 tăng bởi nguyên nhân chính là thiếu nước nghiêm trọng. Đợt hạn hán năm 2019 - 2020, một trong những
đợt hạn hán nghiêm trọng nhất được ghi nhận tại Việt Nam, xảy ra chỉ vài năm sau đợt hạn hán 2015 - 2016, khiến người dân không có đủ thời gian để phục hồi và xây dựng lại cuộc sống. Tình trạng xâm nhập mặn kéo dài ảnh hưởng lớn đến phát triển nông nghiệp ven biển. Để ứng phó với xâm nhập mặn, nhiều hộ dân đã áp dụng luân canh cây trồng hoặc nuôi trồng thủy sản. Một số mô hình nuôi cá, tôm trong ruộng lúa được áp dụng để nâng cao năng suất, lợi nhuận và khả năng thích ứng. Những biện pháp này giúp ổn định thu nhập, mở ra hướng đi đầy hứa hẹn trong bối cảnh biến đổi khí hậu nhưng chưa đủ để giảm nghèo. Các hộ gia đình làm nghề thủy sản phải đối mặt với mức
là hạn hán và xâm nhập mặn. Các loại thủy sản nuôi trồng cũng thay đổi tùy theo độ mặn của nước. Rủi ro khí hậu và kinh tế là những cú sốc phổ biến, đặc biệt đối với các hộ nuôi trồng thủy sản vì đối mặt với thiệt hại do nắng nóng, dịch bệnh, ô nhiễm, biến động giá cả. Các hộ thủy sản thường có trình độ học vấn thấp và ít tài sản nên dễ bị tổn thương. Đánh bắt thủy sản chủ yếu quy mô nhỏ, các hộ gia
đình đánh bắt trên sông sử dụng thuyền nhỏ và có sản lượng đánh bắt, thu nhập thấp hơn so với các hộ đánh bắt trên biển.
Hệ quả, tỷ lệ hộ nghèo ĐBSCL có chiều
hướng tăng. Trong thập kỷ qua, gần 1,7 triệu người rời ĐBSCL, chủ yếu do ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Khoảng 14% hộ gia
đình có ít nhất một người di cư và đa số ra đi
để tìm kiếm việc làm.
Xâm nhập mặn vẫn là mối lo lớn nhất
Nhìn về tương lai, hạn hán được xem là mối
đe dọa thường xuyên và gây thiệt hại nặng
nề nhất đối với phúc lợi hộ gia đình ở ĐBSCL. Các mô phỏng cho thấy, trong một năm bất kỳ, gần 20% dân số có thể bị ảnh hưởng bởi
hạn hán và trung bình mỗi hộ gia đình có thể
đối mặt với 5 đợt hạn hán trong giai đoạn dự báo, mỗi đợt làm giảm thu nhập khoảng 9%.
“Xâm nhập mặn có lẽ là mối lo ngại lớn nhất trong số các cú sốc khí hậu. Xâm nhập mặn đang tạo ra mối đe dọa ngày càng lớn
đối với sinh kế, đặc biệt trong bối cảnh mực nước biển dâng và sụt lún đất. Kết quả mô
phỏng cho thấy sự xâm nhập mặn gây suy giảm thu nhập đáng kể và kéo dài, khiến tỷ lệ nghèo tăng mạnh và đạt đỉnh vào khoảng năm 2035, sau đó mới ổn định nhưng vẫn cao hơn nhiều so với kịch bản cơ sở. Khác với các cú sốc khí hậu khác có thể xảy ra theo từng đợt hoặc có thể phục hồi, xâm nhập mặn gây tác động lâu dài do ảnh hưởng đến sản xuất lúa, nguồn nước ngọt và khả năng phục hồi kinh tế nói chung ở các vùng ven biển.
Ngay cả trong các kịch bản trung bình, tỷ lệ nghèo vào năm 2050 vẫn cao hơn khoảng
5 điểm phần trăm so với mức năm 2024, cho thấy tính chất dai dẳng của rủi ro này và khả năng làm kéo dài tình trạng nghèo ở nông thôn. Do quy mô và tính dai dẳng của xâm
nhập mặn, các nỗ lực thích ứng tập trung vào
việc bảo vệ hoặc phục hồi đất có thể ngày càng tốn kém nhưng hiệu quả lại giảm dần. Vì vậy, quan trọng hơn là hỗ trợ người dân thay vì chỉ cố gắng cứu giữ đất sản xuất”, báo cáo của WB nhấn mạnh.
Đối với nhiều người, nhất là những người trẻ và có khả năng dịch chuyển cao, những rủi ro nêu trên có thể đồng nghĩa với việc phải hoàn toàn rời khỏi vùng ĐBSCL. Di cư đang trở thành một chiến lược thích ứng với thực tế. Ngay cả khi các kịch bản khí hậu cực đoan nhất không xảy ra.
Cần 4 lĩnh vực chính sách ưu tiên
Báo cáo của WB xác định 04 lĩnh vực chính sách ưu tiên để phát triển ĐBSCL trong bối
cảnh tương lai còn nhiều bất ổn. Đây là những chiến lược cần thiết để đảm bảo người dân trong vùng có thể thích nghi, phục hồi và phát triển, dù họ tiếp tục sinh sống tại ĐBSCL hay di cư khỏi vùng.
Một, đầu tư vào giáo dục và phát triển kỹ năng để mở rộng cơ hội thành công cho tất cả mọi người, đặc biệt là thanh niên. Hai, hiện đại hóa và chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng giảm sử dụng lao động, tăng khả năng thích ứng và tạo ra lợi nhuận lớn hơn.
Ba, đầu tư vào cơ sở hạ tầng địa phương để thu hút doanh nghiệp, tăng cường tính kết nối và giảm chi phí giao dịch cho người nông dân. Bốn, thúc đẩy di cư an toàn, tự nguyện, coi đó là một chiến lược thích ứng cho những người mong muốn tìm kiếm cơ hội ngoài vùng ĐBSCL.
Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh đến “Giáo dục cho tương lai”. Thời gian qua, chi tiêu cho mỗi học sinh ở ĐBSCL thấp hơn gần 12% so với mức trung bình toàn quốc (7,38 triệu đồng so với 8,37 triệu đồng). Mức đầu tư chưa thỏa đáng làm giảm cơ hội phát triển của địa phương và hạn chế khả năng chống chịu của quốc gia. Cần tăng đầu tư cho giáo dục, hệ thống giáo dục ở ĐBSCL phải được hiện đại hóa, phù hợp với bối cảnh đang thay đổi trong vùng. Áp dụng các thực hành nông nghiệp thông minh để ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời, các nền tảng học tập số sẽ giúp tiếp cận cộng đồng vùng sâu vùng xa, chưa được tiếp cận đầy đủ dịch vụ giáo dục. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, giáo dục không chỉ là học tập mà còn là công cụ thúc đẩy chuyển đổi. Chuyển đổi khỏi những sinh kế bấp bênh, năng suất thấp, sang tạo nguồn thu nhập đa dạng, ổn định và năng động hơn trong tương lai.
Giáo dục gắn với quá trình chuyển đổi nông nghiệp và thủy sản, nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi với hệ thống hiện đại, tăng cường ứng dụng công nghệ số. Sử dụng nguồn lực công kết hợp khai thác đầu tư tư nhân và tập trung vào thiết kế hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu,
Thuế quan và sự dịch chuyển quyền lực
trên thị trường thủy sản
Năm 2025 khép lại với nhiều nghịch lý của thị trường thủy sản toàn
cầu, nguồn cung tăng nhưng giá biến động, dòng chảy thương mại bị
bẻ lái bởi thuế và tỷ giá, trong đó Mỹ dần đánh mất vị thế thị trường ưu
tiên. Bước sang 2026, bức tranh được dự báo ổn định hơn, song cạnh
tranh sẽ khốc liệt và trật tự mới đang dần hình thành.
Nguồn cung tăng, dòng chảy lệch hướng Sau nhiều năm chịu tác động của dịch bệnh, chi phí đầu vào cao và gián đoạn chuỗi cung ứng, năm 2025 chứng kiến sự phục hồi rõ rệt của sản xuất thủy sản toàn cầu, đặc biệt ở các loài chủ lực như cá hồi, tôm và rô phi. Tuy nhiên, sự phục hồi này không diễn ra đồng đều và ngày càng chịu ảnh hưởng lớn từ các quyết định chính sách thương mại hơn là yếu tố sinh học thuần túy.
Với cá hồi Đại Tây Dương, nguồn cung toàn cầu tăng trưởng trở lại sau giai đoạn khó khăn trước đó. Sản lượng nuôi cá hồi thế giới được ước tính tăng 3-6% trong năm 2025, trong đó Na Uy dẫn đầu tăng trưởng nhờ điều kiện sinh học cải thiện. Chile, Scotland và Iceland cũng lần lượt phục hồi, đưa cá hồi trở thành một trong những loài thủy sản có tốc độ tăng trưởng ổn định nhất năm qua. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý không nằm ở sản lượng, mà ở điểm đến của khối lượng gia tăng này. Phần lớn cá hồi bổ sung từ Na Uy đã không chảy sang Mỹ như trước, mà được Trung
Quốc hấp thụ với tốc độ kỷ lục, phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong trật tự tiêu thụ toàn cầu.
Ngành tôm tiếp tục cho thấy sự năng động nhưng cũng đầy biến động. Năm 2025 là năm thứ hai liên tiếp thị trường tôm toàn cầu phải điều chỉnh mạnh sau giai đoạn dư cung và giá thấp trước đó. Ecuador tiếp tục củng cố vị thế nhà cung cấp số một thế giới, tận dụng lợi thế thuế quan thấp khi xuất khẩu sang Mỹ để gia tăng mạnh sản lượng và thị phần. Trái lại, nhiều quốc gia châu Á như Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ và Indonesia phải đối mặt với áp lực kép từ thuế nhập khẩu cao của Mỹ và các rào cản kỹ thuật, khiến xuất khẩu sang thị trường này suy giảm rõ rệt dù tổng sản lượng toàn cầu vẫn tăng. Sự phân hóa này khiến thị trường tôm năm 2025 trở thành minh chứng rõ nét cho việc chính sách thương mại có thể định hình lại dòng chảy hàng hóa nhanh đến mức nào.
Trong khi đó, rô phi lại thể hiện khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động thương mại. Sản lượng rô phi toàn cầu vẫn duy trì tăng trưởng khoảng 3%, được thúc đẩy bởi Đông Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh.
Trung Quốc, dù vẫn là nhà sản xuất lớn nhất, gần như không tăng trưởng và bắt đầu chuyển trọng tâm sang các loài có giá trị cao hơn. Sự dịch chuyển này mở ra cơ hội cho các khu vực mới nổi, đồng thời cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của thị trường nội địa và khu vực trong việc hấp thụ sản lượng rô phi toàn cầu.
Bóp méo cung - cầu
Trong nhiều thập kỷ, giá thủy sản thường phản ánh khá trung thực quy luật cung - cầu tự nhiên. Khi đội tàu cập bến nhiều, giá giảm; khi nguồn lợi sinh học suy yếu, giá tăng. Quy luật này từng chi phối giá cá tuyết, tôm hùm, sò điệp, cua, cá minh thái Alaska và cá hồi nuôi lẫn khai thác. Tuy nhiên, năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt khi Mỹ, thông qua các lựa chọn chính sách, đã tự tạo ra tình trạng thiếu cung mang tính nhân tạo.
Cuối năm 2024, bức tranh bán lẻ thủy sản tại Mỹ vẫn khá yên bình, với giá tôm đông lạnh và cá tươi nhìn chung giảm nhẹ, người tiêu dùng được hưởng lợi từ xu hướng giảm phát. Thế nhưng chỉ sau 12 tháng, xu thế này đảo chiều hoàn toàn. Đến cuối năm 2025, giá thủy sản đông lạnh tăng mạnh, trong đó tôm, mặt hàng chịu tác động trực tiếp từ thuế quan châu Á, ghi nhận mức tăng hai chữ số. Các loài như cua, tôm và cá tuyết đều góp phần lớn vào lạm phát giá thủy sản tại Mỹ. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự kết hợp giữa thuế nhập khẩu cao và đồng USD suy yếu. Đối với các nhà xuất khẩu toàn cầu, Mỹ trở thành thị trường kém hấp dẫn hơn rõ rệt. Một nhà sản xuất cá hồi Na Uy, khi bán sang Mỹ, không chỉ phải chịu thuế 10-15% mà còn nhận thanh toán bằng đồng USD mất giá so với đồng krone.
Tổng hợp hai yếu tố này, giá trị thu về thấp hơn đáng kể so với năm trước. Ngược lại, khi bán sang Trung Quốc, thuế gần như bằng 0 và tỷ giá ổn định hơn, giúp lợi nhuận cao hơn rõ rệt.
Trong bối cảnh chênh lệch lợi ích lên tới gần 20 điểm phần trăm, việc các nhà xuất khẩu quay lưng với Mỹ là điều tất yếu.
Dữ liệu thương mại năm 2025 cho thấy bức tranh rất rõ ràng, xuất khẩu thủy sản toàn cầu sang Mỹ gần như đi ngang, trong khi xuất khẩu sang phần còn lại của thế giới tăng mạnh. Đặc biệt, các quốc gia chịu thuế cao từ Mỹ như Trung Quốc, Ấn Độ, Peru, Việt Nam và Indonesia đều giảm xuất khẩu sang
Mỹ nhưng tăng mạnh sang các thị trường khác, trong đó Trung Quốc nổi lên như điểm
đến lớn nhất. Với tôm, Mỹ không ngừng nhập khẩu, nhưng chuyển sang mua từ nguồn có thuế thấp hơn, khiến người tiêu dùng cuối cùng phải trả giá cao hơn cho các sản phẩm giá trị gia tăng. Với cá hồi, tác động diễn ra chậm hơn nhưng mang tính cấu trúc: Mỹ dần trở thành thị trường nhận phần còn lại thay vì điểm đến ưu tiên.
Cạnh tranh khốc liệt
Bước sang năm 2026, nhiều tổ chức tài chính và phân tích ngành, trong đó có Rabobank, tỏ ra thận trọng lạc quan. Tăng trưởng nuôi trồng thủy sản toàn cầu được dự báo chậm lại so với mức đột biến của 2025, song vẫn duy trì ở mức tích cực, với giá bán cao và chi phí đầu vào tăng chậm hơn. Cá hồi được kỳ vọng có tăng trưởng sản lượng thấp hơn nhưng biên lợi nhuận cải thiện nhờ hiệu quả sinh học, tiêm vaccine và công nghệ nuôi tiên tiến. Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ của một số quốc gia như Chile cũng được xem là rủi ro trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng và tỷ giá còn nhiều bất ổn. Thị trường tôm được dự báo tiến dần tới trạng thái cân bằng sau hai năm đầy biến động. Ecuador tiếp tục giữ vai trò thống lĩnh, trong khi châu Á từng bước ổn định trở lại, dù phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt hơn và biên lợi nhuận thấp. Nhu cầu tại châu Âu vẫn được đánh giá là tích cực, song tại Mỹ có thể suy yếu do tồn kho cao và tác động kéo dài của thuế quan. Rô phi, cá tra và các loài cá biển nuôi khác được kỳ vọng duy trì tăng trưởng vừa phải, đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh thực phẩm toàn cầu. Ở tầm rộng hơn, năm 2026 được xem là thời điểm ngành thủy sản bước vào giai đoạn tái cân bằng, dòng chảy thương mại đa dạng hơn, Trung Quốc ngày càng giữ vai trò trung tâm trong cạnh tranh nguồn cung, và các yếu tố bền vững, phúc lợi động vật, giảm phát thải được chú trọng hơn trong chiến lược sản xuất. Tuy nhiên, rủi ro địa chính trị, biến động chính sách thương mại và các quy định nhập khẩu mới vẫn là những ẩn số lớn.
Như thông điệp rút ra từ năm 2025 cho thấy rất rõ, nguồn cung toàn cầu đang tăng, nhưng cạnh tranh để giành nguồn cung đó ngày càng khốc liệt. Khi một thị trường tự đẩy mình xuống vị trí thứ yếu, người tiêu dùng tại thị trường đó sẽ phải trả giá cao hơn. Năm 2026 được kỳ vọng mang lại sự ổn định hơn cho ngành thủy sản, nhưng một khi trật tự thị trường mới đã định hình thì không phải quốc gia nào cũng duy trì được vị thế ưu tiên trong cuộc đua nguồn cung.
10 xu hướng
tiêu dùng thủy sản toàn cầu
Tiêu dùng thủy sản toàn cầu đang thay đổi rõ nét dưới tác động của tái cấu trúc bán lẻ, yêu cầu bền vững và đổi mới trong chế biến, phân phối. Thủy sản không còn chỉ là nguồn protein thiết yếu mà ngày càng được nhìn nhận như nhóm sản phẩm gắn với dinh dưỡng, trách nhiệm môi trường và tính tiện lợi.
1. Bán lẻ hiện đại mở rộng
Làn sóng mở rộng mạnh mẽ của các chuỗi bán lẻ lớn tại Mỹ và nhiều thị trường phát triển đang tạo ra sự dịch chuyển căn bản trong cách thủy sản đến tay người tiêu dùng. Whole Foods, Walmart, Costco, Aldi, Kroger, Sam’s Club hay Publix không chỉ tăng số lượng cửa hàng mà còn đa dạng hóa mô hình, từ đại siêu thị, cửa hàng quy mô nhỏ đến trung tâm giao hàng và bán lẻ kết hợp công nghệ.
Đáng chú ý, các mô hình cửa hàng diện tích nhỏ như Whole Foods Daily Shop phản ánh xu hướng tiêu dùng thủy sản theo nhịp sống nhanh, tập trung vào các sản phẩm thiết yếu, chế biến sẵn, đóng gói nhỏ và dễ sử dụng. Thủy sản vì thế ngày càng phải thích nghi với
không gian trưng bày hạn chế, yêu cầu rõ ràng về nhãn mác, nguồn gốc và hướng dẫn sử dụng.
Sự mở rộng này đồng thời làm gia tăng cạnh tranh giữa các nhà cung ứng thủy sản, buộc họ phải đáp ứng tiêu chuẩn ổn định về chất lượng, sản lượng và tính minh bạch nếu muốn hiện diện lâu dài trên kệ hàng của các chuỗi bán lẻ toàn cầu.
2. Tiện lợi và ăn liền Thủy sản đang rời xa hình ảnh nguyên liệu cần chế biến cầu kỳ để tiến sâu vào nhóm thực phẩm tiện lợi. Các chuỗi bán lẻ lớn đều đầu tư mạnh cho khu vực đồ ăn sẵn, quầy deli, sushi bar, thực phẩm chế biến tại chỗ và các sản phẩm chế biến sẵn hoặc ăn liền.
Người tiêu dùng tại Mỹ, châu Âu và ngày càng rõ nét ở châu Á ưu tiên các sản phẩm cá, tôm, nhuyễn thể đã được sơ chế, ướp sẵn hoặc chế biến hoàn chỉnh, chỉ cần hâm nóng hoặc dùng ngay. Xu hướng này thúc đẩy nhu cầu đối với cá phi lê, tôm bóc vỏ, sản phẩm hấp chín, cá hun khói, sashimi và sushi đóng gói.
Đây là động lực lớn cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản đầu tư sâu hơn vào công nghệ, đảm bảo an toàn thực phẩm, thời hạn bảo quản và chất lượng cảm quan đồng đều. 3. Tiêu chí bền vững
Nếu trước đây bền vững chủ yếu mang tính truyền thông, thì bước sang 2026, yếu tố này
đều đòi hỏi bằng chứng cụ thể về nguồn gốc, phương thức khai thác hoặc nuôi trồng.
Các chứng nhận như MSC cho khai thác biển và ASC cho nuôi trồng thủy sản ngày càng trở thành “giấy thông hành” để sản phẩm tiếp cận hệ thống phân phối lớn. Thủy sản không chứng minh được tính bền vững ngày càng khó cạnh tranh, đặc biệt tại các thị trường phát triển.
Sự thay đổi này buộc toàn chuỗi giá trị, từ người nuôi, tàu cá đến nhà máy chế biến và nhà xuất khẩu, phải nâng cấp hệ thống truy xuất, quản lý dữ liệu và minh bạch hóa thông tin.
4. Truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin
Năm 2026, truy xuất nguồn gốc không còn là lợi thế cạnh tranh mà đã trở thành điều kiện bắt buộc. Người tiêu dùng muốn biết sản phẩm được nuôi hay đánh bắt ở đâu, bằng phương pháp nào, có tuân thủ quy định môi trường và lao động hay không.
Công nghệ số, từ mã QR, blockchain đến hệ thống dữ liệu chuỗi cung ứng, đang được áp dụng rộng rãi. Tại các triển lãm thủy sản lớn, nhiều nhà cung cấp không chỉ trưng bày sản phẩm mà còn trình bày toàn bộ hồ sơ truy xuất, chứng nhận và quy trình kiểm soát chất lượng.
Xu hướng này giúp củng cố niềm tin thị trường nhưng đồng thời gia tăng chi phí tuân thủ, tạo áp lực lớn với các doanh nghiệp nhỏ nếu không kịp chuyển đổi.
5. Thực phẩm lành mạnh
Trong bối cảnh người tiêu dùng toàn cầu quan tâm ngày càng nhiều đến dinh dưỡng và phòng ngừa bệnh tật, thủy sản tiếp tục được xem là nguồn protein lành mạnh. Hàm lượng omega-3, protein dễ tiêu hóa và lợi ích tim mạch giúp cá và hải sản giữ vị trí vững chắc trong khẩu phần ăn hiện đại.
Xu hướng này ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu sản phẩm được ưa chuộng, với sự gia tăng nhu cầu cá béo, cá nuôi theo tiêu chuẩn kiểm soát kháng sinh, hàm lượng muối thấp
và ít chế biến sâu. Nhãn dinh dưỡng rõ ràng, thông tin về lợi ích sức khỏe ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hàng.
6. Thủy sản thay thế và protein biển mới
Song song với thủy sản truyền thống, các sản phẩm thủy sản có nguồn gốc thực vật đang thu hút sự chú ý mạnh mẽ. Trong vòng 5 năm qua, số lượng sản phẩm thủy sản chay ra mắt trên toàn cầu đã tăng đáng kể, tập trung vào cá viên, tôm giả, cá ngừ chay và sản phẩm chế biến sẵn.
Dù chưa thay thế được thủy sản tự nhiên và nuôi trồng, nhóm sản phẩm này được xem là lựa chọn bổ sung, đặc biệt trong các phân khúc tiêu dùng trẻ, ăn chay linh hoạt hoặc chú trọng dấu chân môi trường.
Bên cạnh đó, thủy sản nuôi cấy tế bào vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm, nhưng đã xuất hiện trong các cuộc thảo luận dài hạn về an ninh nguồn cung.
7. Thủy sản nuôi - trụ cột nguồn cung
Tăng trưởng dân số và nhu cầu tiêu dùng ổn
định khiến nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực chính của thị trường. Sản lượng nuôi toàn cầu được dự báo tăng đều, đặc biệt ở các loài như tôm, cá tra, cá chép, hàu và nhuyễn thể.
Các mô hình nuôi mới chú trọng kiểm soát môi trường, giảm phát thải, tối ưu thức ăn và nâng cao phúc lợi động vật. Điều này không chỉ giúp đảm bảo nguồn cung ổn định mà còn phù hợp với yêu cầu bền vững từ thị trường tiêu dùng.
8. Triển lãm thương mại “lọc” xu hướng tiêu dùng
Các triển lãm lớn như Seafood Expo Global, Seafood Expo North America hay Food & Hotel Asia không chỉ là nơi giao thương mà còn phản ánh rõ nét xu hướng tiêu dùng. Tại đây, người mua có thể so sánh trực tiếp sản phẩm, tiêu chuẩn, mô hình sản xuất và mức độ sẵn sàng của nhà cung cấp.
Những xu hướng như đóng gói thân thiện môi trường, khẩu phần nhỏ, sản phẩm tiện
lợi, hồ sơ truy xuất đầy đủ thường xuất hiện sớm tại các triển lãm trước khi lan rộng ra thị trường đại chúng.
9. Bán lẻ trực tuyến và giao hàng tận tay Việc hơn một nửa người tiêu dùng tại Mỹ mua thực phẩm trực tuyến đã buộc các chuỗi bán lẻ đầu tư mạnh cho hạ tầng thương mại điện tử và giao hàng. Thủy sản, vốn nhạy cảm về bảo quản, đang được tích hợp ngày càng hiệu quả vào hệ thống này nhờ cải tiến chuỗi lạnh và đóng gói.
Điều này làm thay đổi cách thiết kế sản phẩm, từ kích cỡ, bao bì đến thông tin hiển thị trên nền tảng số, mở ra không gian cạnh tranh mới cho các thương hiệu thủy sản.
10. Trải nghiệm và giá trị tổng thể
Người tiêu dùng năm 2026 không chỉ mua thủy sản vì giá rẻ hay quen thuộc, mà vì trải nghiệm tổng thể, từ chất lượng, câu chuyện nguồn gốc đến cách sản phẩm phù hợp với lối sống. Các chuỗi bán lẻ lớn đang xây dựng khu vực ẩm thực, quầy chế biến tại chỗ và dịch vụ tư vấn, biến việc mua thủy sản thành một phần của trải nghiệm ẩm thực.
Xu hướng này mở ra cơ hội cho các sản phẩm có câu chuyện rõ ràng, gắn với vùng nuôi, phương thức sản xuất và giá trị văn hóa ẩm thực.
Năm 2026 cho thấy bức tranh tiêu dùng thủy sản toàn cầu đang chuyển từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị. Bán lẻ hiện đại, bền vững thực chất, minh bạch thông tin và đổi mới sản phẩm là những trụ cột định hình thị trường. Đối với doanh nghiệp thủy sản, hiểu rõ và thích ứng với 10 xu hướng tiêu dùng này không chỉ là yêu cầu trước mắt, mà là điều kiện sống còn để duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu đang ngày càng khắt khe và cạnh tranh.
Tuấn Minh Theo Seafoodbusiness
Những cánh buồm không nghỉ
Trong khi đất liền rộn ràng đón Tết, ngoài khơi xa, ngư dân vẫn miệt mài giữ nhịp biển. Từng chuyến tàu rẽ sóng đầu năm không chỉ mang về khoang đầy hải sản, mà còn góp phần bồi đắp nguồn nguyên liệu, giữ vững sinh kế ven biển và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành thủy sản Việt Nam. Giữa gió Xuân mặn mòi, họ đang lặng lẽ viết tiếp câu chuyện tương lai của biển.
ẢNH 1: CHĂM CÁ TỪNG NGÀY
Công việc chăm sóc cá tầm Beluga đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn, giúp đảm bảo chất lượng cá phát triển mạnh khỏe, sẵn sàng cung cấp nguồn thực phẩm quý giá.
ẢNH 2: RA KHƠI SỚM
Bình minh đầu xuân nhuộm hồng mặt biển, những con tàu vươn mình ra khơi trong sắc trời thanh tân của năm mới.
ẢNH 3: LỘC BIỂN
Những con cá bạc lấp lánh dưới nắng sớm, món quà đầu năm dành cho người bám biển.
ẢNH 4: LÁ CỜ GIỮA BIỂN
Lá cờ Tổ quốc tung bay trên mũi tàu giữa trùng khơi – biểu tượng của niềm tin và sự bền bỉ bám biển.
ẢNH 5: NIỀM VUI CẬP BẾN
Niềm vui hiện rõ trên gương mặt người lao động khi những thùng hải sản tươi rói được chuyển lên bờ.
ẢNH 6: CẢNG CÁ RỘN RÀNG
Cảng cá nhộn nhịp tàu thuyền ra vào, tạo nên bức tranh lao
động sôi động của những ngày đầu xuân.
ẢNH 7: VƯƠN XA
Mỗi con cá ngừ cập bến không chỉ là thành quả lao động, mà còn góp thêm mắt xích quan trọng cho chuỗi giá trị thủy sản
Mật
Nắng Cuối Năm
ôi thích nhất là tháng giáp Tết, dù hồi
đó má hay than với tôi tháng ấy thì bận
rộn. Nào là gặt lúa, suốt lúa, phơi lúa, trồng cải, trồng cà, sửa sang cửa nhà, trồng thêm ít hoa xanh đỏ tím vàng…
chờ Tết ngắm. Ngày tôi còn ở nhà, hễ thấy nắng cuối năm là tôi nôn nao
trong lòng. Đi ngang qua những cánh
đồng thấy lúa chín vàng ươm, hương
lúa thơm thoang thoảng hoà lẫn trong mùi của nắng giòn tan trên những mái
nhà liêu xiêu dưới vòm trời xanh biêng
biếc, tâm hồn tôi cứ lâng lâng nương
theo chiều gió thổi.
Giờ thì mùa nắng ấy đã xa tôi. Nhiều
năm tôi không được tắm mình trong
màu nắng vàng của quê hương những
ngày cuối năm, tôi cứ thấy thiếu thiếu.
Má nói với tôi, xóm giờ thay đổi lắm.
Công cuộc kinh tế mới đã làm thay đổi
gương mặt quê mình. Những căn nhà
khang trang mọc lên, hàng rào kiên cố
chạy dài dọc con đường bê tông uốn
lượn dưới màu xanh tre trúc tự dưng khiến cho khoảng cách giữa nhà này với nhà kia, người này với người nọ thêm xa hơn. Tôi thấy lòng buồn buồn, thấy tiếc những kỷ niệm xưa, dẫu tôi biết đã là kỷ niệm thì nó sẽ vĩnh viễn nằm yên trong đoạn đời trước đó.
Phía bên kia điện thoại, má tôi ho khụ khụ. Tim tôi hẫng đi một nhịp. Má không giục tôi về. Từ ngày tôi rời xóm mà đi, rồi tôi đi xa hơn, đường về nhà cũng xa hơn, má chưa bao giờ giục tôi về dù lòng má nhớ tôi da diết. Tôi biết vậy nhưng cũng đành bấm bụng. Tôi hiểu rằng không phải má không thương, không nhớ gì tôi, mà má biết tôi còn có một trời mơ ước. Má đâu thể giữ tôi mãi trong không gian yên lành của quê hương, để sống những ngày yên lành nhất của cuộc đời. Ai cũng phải đến lúc vẫy vùng ra khỏi vùng an toàn của chính mình để được bay đến những nơi xa xôi khác.
*
Bây giờ đã là giữa tháng Mười Hai. Trời hanh nắng. Cây cối đã bắt đầu bừng lên sức sống, như thể dồn tất cả những gì nó có cho một đợt phô sắc. Đám soi nhái ngoài hàng rào cũng bắt đầu thắp lửa. Má tôi thích soi nhái hơn bất kỳ loài hoa nào khác, không phải vì nó quý mà vì soi nhái có màu sắc rực rỡ, lại nở đều, nhìn xa như những đốm lửa lập loè dưới nắng. Những buổi chiều muộn, má tôi có thói quen pha bình trà, ngồi nhâm nhi ở bộ bàn ghế gỗ tràm ngoài hàng ba ngắm hoa soi nhái, nói vu vơ vài ba câu chuyện. Tôi đã về nhà từ hai, ba hôm trước. Má đón tôi ngoài đầu xóm. Má đội nón lá, đứng liêu xiêu trong gió, hệt như cái ngày má tiễn tôi đi. Cảm giác như mới hôm qua, hôm kia má tiễn tôi đi, vậy mà hôm nay má đã đón tôi về trong một hình ảnh khác: lưng còng đi, tóc bạc hơn… Và tôi cũng tự thấy mình khác đi nhiều. Mấy ngày ở nhà, tôi không đi
đâu, chỉ quanh quẩn bên má, giẫy đám cỏ trước sân, xới đất vun lên mấy gốc hoa má trồng, ra vườn lượm củi. Má í ới gọi tôi vào, nói tôi không quen, làm một hồi trầy tay trật chân. Tôi cười mà xốn xang. Bởi có đi đâu chăng nữa, tôi vẫn là người con bước ra từ đất này, nương chốn này mà lớn lên từng ngày, cho đến bây giờ. Những ngày ở quê, má làm cho tôi rất nhiều món ăn ngon. Má tôi giở hũ mắm đã ủ từ nhiều tháng trước, kho sệt trong cái ơ đất, bỏ thêm chút tiêu hành thơm lựng. Hai má con tròng trành trên chiếc xuồng nhỏ ra con kinh sau nhà nhổ bông súng. Tháng này bông súng không ú, nhưng vẫn giòn ngon và ngọt vị sông nước quê nhà. Những chiều giáp Tết, ngồi bên má trên bộ vạc sau nhà, ăn cơm trắng với bông súng mắm kho, tô canh chua cá lóc, ngắm màu rơm rạ trên đồng sau mùa suốt lúa… thì còn gì bằng. Mọi phiền muộn của cuộc mưu sinh trong tôi dường như tan biến hẳn. Đêm ấy, má kể cho tôi nghe biết bao nhiêu câu chuyện. Ngoài sân, bóng trăng cuối năm soi xuống khóm hoa sao nhái, hoa vạn thọ, hoa cúc… Tôi nằm trên vạc ở gian trước. Hương nhang trên bàn thờ của ba tôi thơm thơm, một làn khói trắng quyện trong không gian ấm cúng. Tôi nằm bên má, má ngồi bó gối cạnh tôi, thỉnh thoảng má vuốt vuốt tóc tôi. Bộ vạc với những thớ gỗ thâm trầm mà ngày nhỏ mỗi độ trưa trưa tôi lại trèo lên đánh một giấc dài, đến khi đi học thì tôi nằm sấp học bài, đánh vần, tập viết… Năm tháng cũ sượt qua đầu tôi như một thước phim. Từ hồi ba mất, má tôi cực hơn rất nhiều. Tay má chai sần lướt nhẹ trên khuôn mặt của tôi. Trong hương xuân thơm nồng, má tôi khàn giọng kể:
- Mấy năm nay mất mùa, lúa má không
được bao nhiêu. Năm ngoái mưa to, giông lốc, cái bờ sông sạt lở… khóm hoa má trồng sạt hết xuống sông. Sau giông má nhờ hàng xóm đắp lại cái bờ kè, trồng lại hoa… mới rực rỡ như bây giờ. Má cười khì sau khi nói. Mắt má sóng sánh. Đôi mắt của một người đàn bà cô đơn, đã từng trải qua nhiều chuyện trong cuộc đời dài dằng dặc của mình. Tôi ngồi bật dậy nhìn má, vuốt lại tóc
cột gọn phía sau gáy, khe khẽ hỏi: - Sao nhà mình không theo làn sóng kinh tế mới hả má? Trồng lúa bây giờ
sao đủ ăn! Mình không trồng sầu riêng, trồng cây ăn trái như người ta. Tới mùa thu hoạch cũng khá. Má cười giòn rụm. Suy tư một đỗi, má nhìn lên bàn thờ ba rồi nhìn ra xa xăm. Xóm vẫn lập loè ánh đèn điện từ những nhà còn thức, vọng cả tiếng nhạc trữ tình từ những nhà karaoke cuối xóm.
- Thôi con à, má muốn giữ lấy cánh
đồng. Giữ lấy cánh đồng là giữ lấy
những kỷ niệm đẹp của ngày xưa. Má
vẫn nhớ những ngày ba còn sống, má với ba quần quật trên cánh đồng này. Ba con mất, má khổ lắm! Trong thâm tâm má vẫn muốn lưu lại những hình ảnh đẹp về ba, về con, về ngày xưa…
Nghe má nói, tôi thương trào nước mắt. Trời ơi, má vẫn luôn sống vì những ngày xưa, vì những kỷ niệm ngọt ngào trong quá khứ. Đời má khổ trăm bề. Tôi ôm choàng lấy má từ phía sau, cố không để má biết tôi khóc, nhưng hình như má đã cảm nhận được giọt nước rơi từ khoé mắt lăn dài xuống, rụng trên bờ vai mảnh khảnh của má tôi.
Vậy mà bao năm tôi xa quê, tôi đã sống vì những giấc mơ của riêng mình để má bơ vơ ôm lấy một bầu trời ký ức. Má không trách tôi. Chưa bao giờ má trách tôi điều gì. Song tôi tự thấy mình có lỗi. Nắng cuối năm trong trẻo. Sớm sớm tôi ra đứng ở cái bờ kè mà má nói rằng năm ngoái nó sạt lở vì sóng to, giông lốc xô đổ cái cây già. Chỗ bờ kè ấy giờ mọc lên thảm cỏ xanh mềm. Má khéo léo bứng hoa mười giờ, soi nhái, vạn thọ… trồng đầy khắp lối. Buổi sáng, hoa nở đẹp mê li. Những sắc hoa xanh, đỏ, tím, vàng… phô ra dưới ánh nắng ấm áp cuối mùa gió chướng. Tôi hít một hơi thật sâu không khí trong lành của quê nhà. Nhìn dòng sông uốn lượn trước nhà soi bóng xóm tôi đang rộ mùa kinh tế mới, tôi cũng thấy lòng mình nở hoa. Rồi năm, mười năm nữa thôi xóm tôi sẽ khác, sẽ phát triển hơn nhiều so với bây giờ, và tất nhiên sẽ thay da đổi thịt so với xóm tôi trong quá khứ. Tôi tự nghĩ: một kỹ sư nông nghiệp như tôi, với tấm bằng
một trường danh tiếng nước ngoài, cớ
gì không cống hiến cho chính miền quê mình mà lại bôn ba ở một phương trời
xa xôi khác?
Một ý niệm nào đó bất chợt le lói trong tôi. *
Cuối năm, nắng đẹp. Cá mòi phơi khô
trên giàn lưới ven sông, mắt cá trắng dã
dưới nắng. Mứt gừng, mứt xoài… cũng đang khô dần, áo đường trong nắng. Tôi
ngồi trước laptop xử lý một vài việc cuối
cùng trước khi khép lại năm cũ, và có lẽ là những việc cuối cùng tại cơ quan mà sau Tết nó đã là cũ, là khoảng trời
ký ức đẹp trong thanh xuân rực rỡ của
tôi. Tôi thoáng chạnh lòng, nhưng viễn cảnh sau đó, có lẽ sẽ còn đẹp hơn nữa.
Tôi mơ hồ nghĩ vậy. Tôi ngước lên nhìn má, thấy má đang lăn xăn làm cá khô phơi cho kịp nắng. Mớ cá mòi tươi má mới mua được từ ghe đánh cá đi ngang qua trước nhà. Mùi cá tanh tanh xộc lên trong nắng đẹp. Nắng cuối năm hanh vàng như mật bám trên những mái ngói rêu phong, rải một lớp bụi sáng lấp lánh xuống khắp
đường làng ngõ xóm. Dọc theo bờ sông, cá mòi được phơi trắng xóa trên những giàn tre nứa. Mùi cá khô mặn mòi, nồng nàn quyện vào trong gió, thứ mùi đặc trưng của quê mà chỉ cần nhắm mắt lại cũng thấy cả một vùng ký ức sống
dậy. Đứng giữa cái sắc trắng tinh khôi của cá, giữa tiếng lạch cạch của những
chiếc nong trần và tiếng cười nói râm ran của những người bà, người chị đang
đảo cá bên kia sông, lòng tôi bỗng
chùng xuống, dịu dàng một niềm yêu
thương khó tả. Tôi chợt nhận ra mình
không còn muốn là kẻ lữ hành mải miết
đi tìm những phồn hoa xa lạ. Tôi muốn
dừng lại, muốn gắn bó cuộc đời mình
với mảnh đất chân phương này, để mỗi
sớm mai thức dậy đều được hít hà cái vị
mặn mòi của biển cả và thấy lòng mình
bình yên như những tia nắng đang tan
chậm trên những vảy cá lấp lánh kia.
Không thể tách rời
Bà cụ chưng hửng khi bịch gạo nếp, cuộn lá dong lặn lội cả trăm
cây số trên chuyến xe khách
tháng Chạp chen chúc mùi
người, vừa bị đứa con dâu vứt vào một xó. “Thành phố chỗ
đâu mà bắc bếp nấu bánh mẹ
ơi. Hơn nữa tụi con bận trăm
công nghìn việc. Bánh thì thiếu gì đâu, a lô một cái là mười lăm
phút sau người ta ship đến tận cửa nhà. Mẹ gói chi cho cực”.
Mấy lời nói tỉnh bơ đó ghìm bà cụ ngồi lặng câm một chỗ.
Đứa con dâu thành phố đâu nhìn thấy cảnh bà cụ nhất quyết không chịu vứt bó lá dong dưới khoang để hàng của xe. “Nhiều
đồ đạc lèn chặt thế này thì hỏng hết cháu ơi. Lá dong bị dập nát thì làm sao ra cái bánh cho vuông thành sắc cạnh. Sao mà dám đặt lên bàn thờ cúng ông bà tổ tiên cho được”. Nghe bà cụ năn nỉ mãi cậu phụ xe dường như cũng mủi lòng. Nhìn bà cụ ôm khư khư cuộn lá dong chen về phía chỗ ngồi cậu chợt nhớ mẹ mình quá đỗi. Những người mẹ thôn quê sao mà giống nhau đến từng cái khom lưng, từng ngón tay bám phèn đỏ quạch. Dập điếu thuốc hút dở bằng mũi dép tổ ong, bác tài vỗ vai cậu phụ xe hỏi: “Lại nhớ mẹ
đấy à? Đi nốt mấy chuyến này rồi sẽ được về với mẹ”. Bác tài
đâu có biết, cậu ấy không còn mẹ để về.
“Sao mua sắm đủ đầy mà ngó
đâu mẹ cũng kêu thiêu thiếu?”.
Cô con dâu buột miệng than với chồng lúc ngồi xoay đi xoay
lại chậu hoa lan đắt tiền xem
nên đặt ở đâu cho đẹp. Người
chồng không biết nói làm sao
cho vợ hiểu cặp bánh chưng
nóng hổi mà cô ấy vừa đặt về
nhà thiếu đi cái hương vị quây quần, mỗi người mỗi việc cùng
nhau gói bánh. Thiếu đi cái háo
hức từ lúc bỏ bánh vào nồi cho
đến lúc vớt ra đã qua bao nhiêu
lần thêm củi, bao nhiêu canh
gà gáy. Những bông hoa nằm
trong chậu đắt tiền, được tỉa tót
chỉn chu từng chiếc lá, uốn từ
thẳng thành cong, thì sao hiểu
được sự tự do của đám hoa mẹ vung tay quải ngoài vườn. Có
khi đám hạt hoa trôi theo dòng
nước ra mãi tận ngoài đường, gặp nắng gặp gió rồi nảy mầm
trổ nụ. Thi thoảng sẽ thấy vài
đám hoa co cụm lại với nhau, ấy là vì tự nguyện, muốn ra hoa hay không thì tùy, ngọn muốn
ngả về phía nào cứ việc. Ngay
cả sự ngăn nắp, tinh tươm trong
căn nhà thành phố cũng khiến người mẹ già thấy thiếu. Chỉ có anh con trai mới hiểu mẹ mình thèm lũ vật nhỏ quanh quẩn quấn chân. Nhìn khắp nền nhà vương đầy dấu chân chó chân mèo, con dâu từng phát khiếp.
Mẹ già ngại ngùng bảo: “Ở quê mà tránh làm sao được, đến chân người còn dính đầy bùn
đất, nữa là…”. Kể từ đó con dâu ít về quê, năm nay cứ nằng nặc đòi đón mẹ về ăn Tết phố.
Thật ra thì người con dâu đâu khi nào ghét bỏ quê chồng.
Chẳng qua chị thuộc tuýp phụ nữ hiện đại, thích lối sống tối giản mà thôi. Chị yêu anh cũng vì cái bản tính chân chất thật thà ngấm vào tận máu. Trong món ốc chuối đậu tốn cơm mà
chồng hay nấu đãi vợ con, chị
nhận ra có bóng hình của mẹ.
Đôi khi chỉ đơn giản là nồi cá kho tiêu nhưng chị biết mẹ đã dạy anh nêm bao nhiêu muối mắm thì vừa, bỏ bao nhiêu tiêu
thì đủ cay, thêm bao nhiêu gia vị
của yêu thương thì cửa nhà đầm ấm. Ở trong người đàn ông mà
chị yêu luôn có vết dấu của quê nhà và người mẹ tảo tần chắt
chiu nuôi anh lớn. Hồn cốt quê nhà là thứ không thể tách rời trong mỗi con người. Dẫu ai đó có gắng sức gột đi làn da đen, mái óc vàng xơ màu nắng. Dẫu ai đó có khoác hào quang lên người thì thì nhà vẫn ở nguyên đâu đó trong sự bồi hồi khi bắt gặp trên đường một biển số quê hương. “Chắc tụi mình nên
đưa mẹ về quê”. Chị nói vậy với chồng sau khi vô tình nhìn thấy mẹ già nhớn nhác như đứa nhỏ cố lần theo vết dấu một tiếng gà vừa gáy.
Trong chuyến xe cuối cùng năm cũ bà cụ gặp lại cậu phụ xe hôm nào. Cậu mải kể cho bác tài nghe món canh măng mẹ nấu ngon nhất trên đời. “Năm nào cháu về đến đầu ngõ đã ngửi thấy hơi hành. Mẹ cứ ngồi đầu gió vừa bóc hành vừa canh chảo mứt”. Nghe cậu kể khơi khơi người ta cứ tưởng đâu khi kết thúc chuyến xe này, mẹ cậu đã nấu cơm đợi sẵn.
có
hành mà vẫn thấy mắt cay. Nhưng đợi cậu ở nhà vẫn là mẹ đấy thôi. Trong nắm hạt hoa vạn thọ được giữ giống từ mùa này sang mùa khác. Trong căn bếp món ăn nào cũng dậy mùi kí ức được người chị dâu thơm thảo vừa nhóm lửa bắc nồi.