2
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
3
4 Hội đồng Biên tập Nguyễn Việt Thắng, Tiến sĩ Dương Xuân Hùng, Trưởng Ban Biên tập Đỗ Huy Hoàn, Nhà báo Hoàng Hải Đăng, Thư ký Tòa soạn Phạm Thu Hồng, Nhà báo Dương Nam Anh, Nhà báo Trần Anh Thư, Phóng viên Trần Thị Kim Tiến, Phóng viên Chủ nhiệm Nguyễn Việt Thắng, Tiến sĩ Phụ trách Nguyễn Chu Hồi , Phó Giáo sư - Tiến sĩ Chuyên gia Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ Trần Đình Luân, Tiến sĩ Đào Trọng Hiếu, Tiến sĩ Lê Văn Khoa, Tiến sĩ Nguyễn Duy Hòa, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Bát, Tiến sĩ Hồ Quốc Lực, Tiến sĩ Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Thủy sản Minh Phú Mỹ thuật: Two Nguyễn Trình bày: Phạm Dương Kỹ thuật: Đăng Kiên Hình ảnh: Dương Nghĩa Đọc bản in: Anh Thư
Tòa soạn: Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan@thuysanvietnam.com.vn Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa Kao, Q. 1, TP HCM Văn phòng Hà Nội: Điện thoại: 0243.7713699 Tầng 3, nhà A7, 10 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội Phòng Quảng cáo: Quảng cáo: 028.62777616 Email: nghia@thuysanvietnam.com.vn Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT ISSN: 0866-8043 Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM) Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ
thuysanvietnam.com.vn
Thư tòa soạn Thưa quý vị bạn đọc, Trong tháng 11, xuất khẩu thủy sản đạt gần 990 triệu USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2024. Tính đến hết tháng 11, kim ngạch toàn ngành đã vượt 10,5 tỷ USD, tăng 14,6%. Dự kiến, ngành thủy sản sẽ khép lại năm 2025 với 11,2 - 11,3 tỷ USD xuất khẩu, mức cao nhất từ trước đến nay. Kết quả trên cho thấy sự nỗ lực cố gắng của nhà quản lý, doanh nghiệp và ngư dân trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang chịu nhiều áp lực từ rào cản thương mại, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, thuế đối ứng khó dự báo, thuế chống bán phá giá, chi phí nguyên liệu, logistics tăng cao, cạnh tranh khốc liệt từ nhiều nước. Đặc biệt, số vụ điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp và chống lẩn tránh thuế tăng nhanh, với gần 300 vụ tính đến tháng 11/2025, khiến doanh nghiệp liên tục đối diện rủi ro bị áp thuế cao hoặc mất thị trường. Phạm vi điều tra ngày càng mở rộng, không chỉ nhằm vào tôm, cá tra mà còn lan sang những mặt hàng giá trị nhỏ; nội dung điều tra cũng phức tạp hơn, từ cáo buộc định giá thấp tiền tệ đến trợ cấp xuyên quốc gia đối với doanh nghiệp FDI. Cùng với đó là thời gian điều tra kéo dài, có vụ tới ba năm, khiến khách hàng e ngại, đơn hàng sụt giảm mạnh. Nhiều thị trường áp dụng đồng thời nhiều biện pháp một lúc, tạo áp lực tuân thủ lớn, trong khi yêu cầu dữ liệu ngày càng chi tiết nhưng thời hạn phản hồi lại rất ngắn. Bên cạnh đó, việc một số nước vẫn coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường khiến cách tính biên độ phá giá bất lợi hơn, đẩy rủi ro thuế lên mức khó lường. Tất cả đang tạo ra thách thức chưa từng có cho ngành thủy sản trong duy trì thị trường và năng lực cạnh tranh. “Vững vàng trước rào cản thương mại” sẽ là chủ đề chính của Tạp chí Thủy sản Việt Nam phát hành trong tháng 12. Trên số báo này, Tạp chí sẽ thông tin tới bạn đọc tác động của rào cản thương mại từ các thị trường trọng điểm đối với ngành thủy sản. Góc nhìn từ chuyên gia, nhà quản lý, cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản khi phải đương đầu với rào cản thương mại để duy trì vị thế, giữ vững thị trường. Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 12 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp. Trân trọng! Ban Biên tập
12.2025
5
6
thuysanvietnam.com.vn
San sẻ gánh nặng cùng bà con ngư dân 03 cơn bão số 10, 11 và 13 cùng mưa lũ sau bão đã gây thiệt hại nặng nề cho lĩnh vực thủy sản, nhiều vùng nuôi gần như mất trắng hạ tầng, con giống và tư liệu sản xuất. Ngành thủy sản rất cần sự chung tay của các doanh nghiệp để bà con nuôi
Nhu cầu thức ăn thủy sản khoảng 25.000 tấn đến 30.000 tấn, riêng Khánh Hòa hơn 22.500 tấn; hóa chất chlorine khoảng 70 - 80 tấn để xử lý môi trường, trong đó Đắk Lắk cần khoảng 50 tấn, Gia Lai từ 20 - 30 tấn. Ngoài ra, các địa phương còn đề xuất hỗ trợ lồng bè, phao nổi, dây neo, lưới, bạt lót ao, hệ thống sục khí để sớm khôi phục hạ tầng vùng nuôi. Để chung tay cùng bà con khắc phục thiệt hại, Tạp chí Thủy sản Việt Nam kêu gọi sự đồng hành của các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và quý bạn đọc.
trồng thủy sản sớm tái thiết sản xuất, ổn định cuộc sống.
T
heo số liệu của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, tính riêng ảnh hưởng trực tiếp của cơn bão số 13, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại khoảng 1.848 ha, 23.004 ô lồng bè bị hư hỏng, cuốn trôi. Tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 1.258 tỷ đồng. Tiếp đó, các đợt mưa lũ lớn dội xuống khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, gây nên những tổn thất nghiêm trọng. Thống kê đến ngày 28/11 cho thấy, diện tích nuôi bị ảnh hưởng khoảng 1.660 ha, tổng số lồng bè bị thiệt hại trên 101.000 ô, 560 tàu, thuyền bị hư hỏng. Tổng thiệt hại ước khoảng 4.032 tỷ đồng. Tính chung, tổng thiệt hại lĩnh vực thủy sản trong đợt mưa lũ vừa qua ước khoảng 5.290 tỷ đồng, tập trung nặng nề nhất vào
các đối tượng nuôi chủ lực. Bên cạnh đó, cá biển thương phẩm thiệt hại khoảng 276 tỷ đồng; ốc hương thất thoát khoảng 150 tấn; các đối tượng khác như tôm thẻ, tôm sú, cá nước ngọt ghi nhận tình trạng chết hàng loạt do biến động môi trường, nước lũ và ô nhiễm sau bão. Thiệt hại của ngành thủy sản do thiên tai thời gian qua đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Theo tổng hợp của Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tổng nhu cầu con giống phục hồi sản xuất của 03 tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk và Gia Lai vào khoảng 1,23 - 1,28 tỷ con, trong đó tôm hùm giống hơn 50 triệu con; tôm thẻ, tôm sú trên 1 tỷ con; ốc hương hơn 60 triệu con, cùng nhiều đối tượng cá biển, cá nước ngọt khác.
Mọi đóng góp về tiền mặt hoặc hiện vật của doanh nghiệp, quý bạn đọc xin gửi về: Tạp chí Thủy sản Việt Nam Địa chỉ: Số 10, Nguyễn Công Hoan, phường Giảng Võ, TP. Hà Nội Số tài khoản: 2612266688 - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Tràng An Hotline: 02437 711 756 hoặc 0963 555 554 - Ms Ngọc Ánh
Tạp chí Thủy sản Việt Nam rất mong nhận được sự ủng hộ từ quý doanh nghiệp, quý bạn đọc để hỗ trợ bà con ngư dân sớm tái thiết sản xuất, ổn định cuộc sống. Trân trọng cảm ơn! Ban Biên tập
12.2025
7
8 | TIN TỨC - SỰ KIỆN
100% vụ vi phạm IUU được xử lý quyết liệt Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công tác xử lý vi phạm IUU đang được thực hiện quyết liệt với 100% vụ việc đã được giải quyết. Tính đến nay, lực lượng chức năng đã xử phạt hành chính 4.037 vụ, tổng số tiền lên tới 162 tỷ đồng; đồng thời khởi tố hình sự 91 vụ với 138 bị can. Đối với 71 tàu cá bị nước ngoài bắt giữ, đã xử lý xong 53 tàu, số còn lại đang tiếp tục xác minh do vướng mắc về biển số giả hoặc chủ tàu vắng mặt. Đáng chú ý, toàn bộ 79.243 tàu cá đã được cập nhật vào cơ sở dữ liệu VNFishbase, giúp kiểm soát chặt chẽ 100% tàu mất kết nối VMS hoặc vượt ranh giới. Riêng vụ việc lô cá kiếm xuất khẩu sang EU bị cảnh báo tại Khánh Hòa, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chỉ đạo phải thanh tra toàn diện, làm rõ dấu hiệu gian lận của hai doanh nghiệp liên quan và chuyển xử lý hình sự ngay nếu có dấu hiệu tội phạm. Chống khai thác IUU
Chuyển mạnh kiểm soát lên bờ, số hóa toàn diện Ngày 2/12/2025, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác IUU. Tại phiên họp, Phó Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu thay đổi chiến lược: chuyển từ kiểm soát trên không gian biển rộng lớn sang kiểm soát chặt chẽ trên bờ thông qua công nghệ số. Giải pháp cốt lõi là hoàn thiện “bằng được” Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase) để giám sát toàn diện tàu cá và truy xuất nguồn gốc thủy sản từ khâu cấp phép đến xuất nhập bến. Hiện toàn
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, từ nay đến ngày 15/12 là thời hạn quan trọng để hoàn tất các nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề tồn đọng liên quan đến phòng, chống IUU Ảnh: VGP/Minh Khôi
thuysanvietnam.com.vn bộ 79.243 tàu cá đã được cập nhật vào hệ thống; các địa phương cũng đã xử phạt hơn 4.037 vụ vi phạm với số tiền khoảng 162 tỷ đồng. Phó Thủ tướng đặt hạn chót 15/12 phải hoàn tất các nhiệm vụ tồn đọng. Đặc biệt, với vụ việc lô cá kiếm xuất khẩu tại Khánh Hòa bị cảnh báo, yêu cầu điều tra làm rõ, nếu có dấu hiệu tội phạm phải xử lý hình sự. Song song đó, ngành thủy sản cần rà soát, sửa đổi Luật để hài hòa quy định với Hoa Kỳ và EU, tháo gỡ rào cản thương mại.
Đề xuất miễn thuế VAT đầu ra cho nông, thủy sản Ngày 8/12, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng thừa ủy quyền Thủ tướng trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi thuế giá trị gia tăng (VAT). Trọng tâm là đề xuất đưa nông sản, thủy sản sơ chế hoặc chưa chế biến vào diện không chịu thuế VAT đầu ra và khâu nhập khẩu. Theo Chính phủ, quy định hiện hành bắt buộc doanh nghiệp phải nộp 5% thuế VAT đầu vào rồi mới được hoàn lại, gây ứ đọng vốn và lãng phí chi phí cơ hội, đặc biệt với các ngành xuất khẩu chủ lực như cá da trơn. Việc miễn thuế sẽ giúp doanh nghiệp không phải ứng trước tiền thuế, giảm thủ tục hành chính và tăng năng lực cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cân nhắc kỹ để tránh tái diễn tình trạng gian lận hoàn thuế qua hóa đơn khống. Dự kiến Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua vấn đề này vào ngày 11/12 tới.
Khẩn trương tái thiết thủy sản sau lũ lịch sử Mưa lũ lịch sử vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành thủy sản tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Thống kê sơ bộ cho thấy khoảng 1.157 ha nuôi trồng bị tàn phá (trong đó Đắk Lắk 1.000 ha, Khánh Hòa 157 ha) cùng hơn 127.000 lồng bè hư hỏng, cuốn trôi. Trước tình hình cấp bách, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát nhu cầu về con giống, thức ăn và vật tư để lên phương án tái sản xuất cho cuối năm 2025 và 2026. Cục trưởng Trần Đình Luân nhấn mạnh ưu tiên hàng đầu là vệ sinh môi trường và kết nối nguồn giống chất lượng cho người dân. Hiện tại, ngành nông nghiệp các tỉnh đang hướng
dẫn bà con kỹ thuật xử lý nguồn nước, sử dụng vôi và chế phẩm sinh học để ổn định ao nuôi. Song song đó, công tác thống kê thiệt hại đang được đẩy nhanh để đề xuất chính sách hỗ trợ theo Nghị định 09/2025/NĐ-CP, giúp ngư dân sớm ổn định sinh kế.
Mỹ siết quy định COA, thủy sản chế biến gặp khó Cục Quản lý Đại dương và khí quyển Mỹ (NOAA) vừa thông báo quy trình cấp Giấy chứng nhận (COA) cho thủy sản nhập khẩu, chính thức áp dụng từ ngày 01/01/2026. Theo quy định mới, Việt Nam chỉ được cấp COA cho nguồn lợi khai thác trong nước. Đối với nguyên liệu nhập khẩu để chế biến, doanh nghiệp bắt buộc phải có COA do chính quốc gia khai thác cấp. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định đây là rào cản nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến kim ngạch 300 - 320 triệu USD/năm từ mảng hải sản chế biến. Nguyên nhân là nhiều quốc gia cung cấp nguyên liệu cho Việt Nam (dù thuộc nhóm đã được Mỹ công nhận) hiện không có cơ chế cấp loại giấy này. Đặc biệt, lượng lớn hàng tồn kho nhập trước thời điểm áp dụng luật cũng không thể hợp thức hóa giấy tờ. Trước tình hình trên, VASEP đã kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương làm việc với NOAA và các nước đối tác để tìm cơ chế tháo gỡ. Quảng Ninh
“Mạnh tay” dẹp nuôi trồng trái phép Tỉnh Quảng Ninh vừa đồng loạt ra quân xử lý các điểm nuôi trồng thủy sản trái phép trên sông, ven biển và vùng đệm Di sản vịnh Hạ Long. Động thái này nhằm lập lại trật tự, bảo vệ luồng lạch và sinh thái tự nhiên. Tâm điểm
12.2025
TIN TỨC - SỰ KIỆN | 9
Xuất khẩu thủy sản 2025 dự kiến lập kỷ lục 11,3 tỷ USD Tháng 11/2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt gần 990 triệu USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng, tổng kim ngạch đạt 10,5 tỷ USD, tăng 14,6%. Kết quả này một phần do các doanh nghiệp chủ động đẩy nhanh tiến độ giao hàng trước khi thị trường Mỹ áp dụng các quy định nhập khẩu mới. Về sản phẩm, tôm tiếp tục dẫn đầu với giá trị 11 tháng đạt 4,31 tỷ USD, tăng 21,2%. Cá tra cũng ghi nhận sự hồi phục, đạt hơn 2 tỷ USD. Các thị trường thuộc khối CPTPP, Trung Quốc và EU đều tăng trưởng tốt, bù đắp cho sự sụt giảm nhẹ tại thị trường Mỹ trong tháng 11. Dựa trên số liệu hiện tại, toàn ngành dự kiến đạt mức kỷ lục 11,2 - 11,3 tỷ USD trong năm 2025. Trong đó, xuất khẩu tôm ước tính vượt 4,6 tỷ USD. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho năm 2026 khi Mỹ siết chặt hơn các yêu cầu về minh bạch chuỗi cung ứng và chống khai thác IUU.
Xuất khẩu tôm 11 tháng đạt 4,31 tỷ USD và là mức cao nhất từ trước đến nay Ảnh: Kimmy
đợt ra quân là xã Quảng Hà, nơi lực lượng liên ngành với hơn 140 thành viên đã túc trực xử lý trong 4 ngày. Kết quả, hơn 200 ha ô, lồng, công trình nuôi hến hoa, ngao 2 cùi trái phép đã bị tháo dỡ; hơn 30 trường hợp vi phạm bị xử phạt hành chính. Thực trạng lấn chiếm bãi triều tự phát thời gian qua đã gây cản trở giao thông thủy và ảnh hưởng sinh kế của ngư dân khai thác tự nhiên. Trước tình hình này, UBND tỉnh yêu cầu kiên quyết dừng việc cắm cọc, quây ô mới và buộc di dời lồng bè vào vùng quy hoạch, quyết tâm không để tái diễn vi phạm.
tấn/năm. Việc vận hành cảng mới giải quyết dứt điểm tình trạng quá tải, chật hẹp tại bến Cồn Gò cũ. Hạ tầng đồng bộ giúp ngư dân tiết kiệm chi phí nhiên liệu, đảm bảo an toàn neo đậu mùa mưa bão và thuận tiện trong giao thương. Đặc biệt, đây là nền tảng quan trọng để thực hiện truy xuất nguồn gốc thủy sản, phục vụ công tác chống khai thác IUU. Dù đánh giá cao hiệu quả của cảng mới, ngư dân địa phương kiến nghị cơ quan chức năng cần duy trì đo đạc và nạo vét luồng lạch định kỳ để tàu thuyền lớn ra vào an toàn, tránh nguy cơ mắc cạn.
Hà Tĩnh
Quảng Trị
Cảng cá 280 tỷ hoạt động, ngư dân phấn khởi
Siết chặt quản lý tàu cá, quyết gỡ “thẻ vàng”
Sau gần 2 năm thi công, Cảng cá Cửa Nhượng (xã Thiên Cầm, Hà Tĩnh) đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/11/2025. Công trình có tổng vốn đầu tư 280 tỷ đồng, quy mô 5 ha, đáp ứng tiêu chí cảng cấp II với khả năng đón tàu 400CV và năng lực thông qua 16.000
Quảng Trị đang triển khai quyết liệt các giải pháp chống khai thác IUU, tập trung vào hai mũi nhọn: quản lý chặt đội tàu và nâng cao nhận thức ngư dân. Hiện toàn tỉnh có hơn 8.000 tàu cá, trong đó nhóm tàu trên 6m đã hoàn thành đăng ký, tỷ lệ đăng kiểm đạt 95,3%. Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ đội Biên phòng thực hiện nghiêm quy định “không đủ giấy tờ, không cho xuất bến”, kiểm soát 100% tàu cá ra vào cảng. Các trường hợp cố tình vi phạm hoặc thiếu thiết bị giám sát hành trình (VMS) đều bị xử lý dứt điểm. Bên cạnh chế tài xử phạt, lực lượng Cảnh sát biển (Hải đội 202) và Biên phòng đã tăng cường tuyên truyền lưu động, phát tờ rơi và vận động ngư dân ký cam kết không xâm
phạm vùng biển nước ngoài. Dù còn một số vướng mắc về đồng bộ dữ liệu VMS và chuyển đổi nghề, Quảng Trị quyết tâm khắc phục các “điểm nghẽn” này để cùng cả nước sớm gỡ bỏ cảnh báo của EC. Đà Nẵng
Dồn lực khôi phục thủy sản sau lũ Mưa lũ vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành thủy sản Đà Nẵng với hơn 220 ha mặt nước và hàng nghìn lồng bè bị tàn phá. Riêng Tổ hợp tác thôn Trà Đông (xã Nam Phước) chịu thiệt hại kỷ lục gần 14 tỷ đồng do mất trắng 486 lồng cá diêu hồng. Hiện tại, bên cạnh việc vệ sinh môi trường, “khát vốn” để tái thiết là vấn đề cấp bách nhất. Đáp ứng nhu cầu này, Ngân hàng Chính sách xã hội TP. Đà Nẵng (giao dịch Duy Xuyên) đã chuẩn bị gói tín dụng hơn 15 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi, đồng thời tối giản thủ tục để dòng tiền sớm đến tay người dân. Không khí khôi phục sản xuất đang rất khẩn trương, đặc biệt tại “thủ phủ” xã đảo Tam Hải. Ngư dân đang gia cố lồng bè trên diện tích 150 ha, xuống giống các loại giá trị cao (cá chim, cá bớp, tôm thẻ) cho vụ Đông Xuân (12/2025 - 5/2026) để kịp phục vụ Tết Nguyên đán. Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố khẳng định sẽ ưu tiên tối đa nguồn lực về vốn và kỹ thuật để vực dậy nghề nuôi trồng bền vững. Minh Hiếu
10 | TIN TỨC - SỰ KIỆN
thuysanvietnam.com.vn
Ấn Độ
Thế giới
Công bố Khung quốc gia về truy xuất nguồn gốc thủy sản 2025
Liên minh quốc tế đề xuất bộ khuyến nghị chặn IUU
Ấn Độ vừa ra mắt Khung quốc gia về truy xuất nguồn gốc thủy sản 2025 nhằm hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 121 tỷ USD vào năm 2030. Các sáng kiến trọng tâm gồm xây dựng quy trình vận hành chuẩn cho nghề nuôi biển; phát triển cảng cá thông minh, tích hợp; hoàn thiện hạ tầng tối thiểu tại các điểm bốc dỡ cá; hướng dẫn quản lý hồ chứa và nuôi trồng ven biển. Bộ trưởng Thủy sản Rajiv Ranjan Singh kêu gọi các bên liên quan phối hợp siết chặt chuỗi giá trị, từ bao bì, chứng nhận, đến tận dụng các FTA mở cửa thị trường mới. Sản lượng thủy sản Ấn Độ đã tăng gấp đôi trong 10 năm, lên 19,5 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,685 triệu tấn trong năm tài khóa 2024-25, tăng 88% trong một thập kỷ. Khung truy xuất mới sẽ xây dựng hệ thống số hóa toàn quốc, ứng dụng blockchain, IoT, QR và GPS để theo dõi thủy sản từ trang trại đến bàn ăn.
Liên minh chống khai thác bất hợp pháp (IUU) của Mỹ, EU và Diễn đàn IUU Nhật Bản vừa công bố sổ tay hướng dẫn mới, Fisheries Import Control Scheme Handbook (FICSH), nhằm giúp các quốc gia hoàn thiện chương trình kiểm soát nhập khẩu, ngăn thủy sản khai thác bất hợp pháp lọt vào chuỗi cung ứng toàn cầu. FICSH chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc, theo dõi và xác thực lô hàng với 17 dữ liệu bắt buộc (KDEs), gồm tên tàu, số IMO, quốc tịch tàu, khu vực khai thác, trọng lượng, giấy phép, cảng bốc dỡ, phương tiện đánh bắt… Hiện chương trình SIMP của Mỹ mới yêu cầu 12/17 dữ liệu và giám sát khoảng 13 nhóm sản phẩm, chưa đến 40% tổng lượng nhập khẩu, trong khi Mỹ phụ thuộc 94% thủy sản nhập khẩu. Các tổ chức đánh giá FICSH là bước ngoặt cho truy xuất nguồn gốc thủy sản toàn cầu.
Thái Lan
Hỗ trợ doanh nghiệp trước lệnh cấm nhập khẩu thủy sản của Trung Quốc
Lọt danh sách 89 quốc gia đáp ứng tiêu chuẩn khai thác của Mỹ Mỹ đã phê duyệt Thái Lan theo quy định của Đạo luật Bảo vệ động vật biển có vú (MMPA), mở đường cho việc tiếp tục xuất khẩu thủy sản khai thác trong nước vào thị trường này. Quyết định được Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) công bố ngày 1/9/2025, áp dụng cho 2.500 sản phẩm thủy sản từ 135 đối tác thương mại. Ông Prapan Noradee, Trưởng nhóm Phân tích Thương mại Thủy sản quốc tế thuộc Bộ Thủy sản Thái Lan, cho biết Thái Lan là một trong 89 quốc gia vượt qua đánh giá so sánh về tiêu chuẩn khai thác của MMPA. Tuy nhiên, nước này vẫn phải siết chặt kiểm soát nguyên liệu nhập khẩu từ 42 quốc gia không đáp ứng tiêu chuẩn, trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Ecuador, Philippines và Malaysia. Theo Bộ Thủy sản, năm 2024, Thái Lan đã sử dụng 22.200-33.000 tấn nguyên liệu cá ngừ sọc dưa, cá thu và cá mòi từ 21 quốc gia rủi ro cao cho xuất khẩu sang Mỹ, trị giá 50-70 triệu USD. Ông Prapan nhấn mạnh ngành thủy sản cần chuyển sang nguyên liệu nội địa hoặc từ các quốc gia đạt chuẩn, đồng thời triển khai truy xuất nguồn gốc toàn chuỗi nhằm bảo vệ thị trường và uy tín sản phẩm Thái Lan.
Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản bị ảnh hưởng từ việc Trung Quốc tái đình chỉ nhập khẩu thủy sản Nhật Bản, trong bối cảnh căng thẳng ngoại giao song phương leo thang sau phát biểu của Thủ tướng Sanae Takaichi liên quan đến vấn đề Đài Loan. Chánh văn phòng Nội các Minoru Kihara cho biết Tokyo sẽ triển khai biện pháp giúp doanh nghiệp
đa dạng hóa thị trường và mở rộng kênh tiêu thụ. Theo truyền thông Nhật Bản, Trung Quốc dừng thủ tục nhập khẩu chưa đầy một tháng sau khi khôi phục, nối tiếp lệnh cấm từ tháng 8/2023 liên quan xả thải tại Fukushima. Ông Kihara nhấn mạnh, xuất khẩu sò điệp Nhật vẫn tăng trưởng nhờ nỗ lực mở rộng thị trường, đồng thời khẳng định Tokyo tiếp tục trao đổi kỹ thuật với Bắc Kinh và kêu gọi đảm bảo điều kiện xuất khẩu ổn định. Nga
Bứt tốc sản lượng cá hồi năm 2025 Theo Hiệp hội Thủy sản toàn Nga (VARPE), đến tháng 11/2025, sản lượng cá hồi Thái Bình Dương đạt 335.500 tấn, tăng hơn 40% so với 235.000 tấn năm 2024. Bán đảo Kamchatka và vùng Khabarovsk đóng góp chính, chiếm 80% sản lượng, trong khi Sakhalin giảm mạnh do mùa hè nóng bất thường, chỉ đạt 13.500 tấn so với kế hoạch 65.000 tấn. Ngư dân Sakhalin kêu gọi siết chặt khai thác cá hồi, và Cơ quan thủy sản liên bang Nga (Rosrybolovstvo) đang xem xét hạn chế để bảo vệ mùa sinh sản. Biến đổi khí hậu và thay đổi thủy văn được cho là nguyên nhân khiến đàn cá suy giảm, đồng thời xuất hiện các loài nhiệt đới như cá mập trắng lớn, mũi búa, cá thu ngừ. Dù Sakhalin gặp khó, tổng sản lượng toàn Nga vượt dự báo, có thể kéo giá giảm ngắn hạn, nhưng từ 2026 giá dự báo tăng do áp lực thuế và môi trường kinh doanh khó khăn.
Tuấn Minh
CON SỐ & SỰ KIỆN 4,3 TỶ USD Là giá trị xuất khẩu tôm trong 11 tháng năm 2025, tăng 21% và là mức cao nhất từ trước đến nay. Riêng tháng 11/2025, đạt 385 triệu USD, tăng gần 12% so với cùng kỳ. 9,05 TRIỆU TẤN Là tổng sản lượng thủy sản của cả nước trong 11 tháng năm 2025, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 5,5 triệu tấn, tăng 5,1%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 3,5 triệu tấn, giảm 0,2%.
79.243 TÀU CÁ Là toàn bộ số tàu cá của Việt Nam đã được cập nhật vào cơ sở dữ liệu VNFishbase, giúp kiểm soát chặt chẽ 100% tàu mất kết nối VMS hoặc vượt ranh giới, tính đến 29/11/2025. 5.290 TỶ ĐỒNG Là tổng thiệt hại ước tính do ảnh hưởng các cơn bão số 10, 11, 13 cùng mưa lũ lớn tại khu vực miền Trung, riêng 3 tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk, Gia Lai báo cáo thiệt hại hơn 4.032 tỷ đồng tính đến ngày 28/11/2025.
12.2025
11
12 | TÒA SOẠN BẠN ĐỌC
thuysanvietnam.com.vn
Chuyển thế chủ động
Mục tiêu mới của ngành thủy sản Việt Trước xu hướng các thị trường nhập khẩu liên tục siết chặt tiêu chuẩn an toàn và bền vững, ngành thủy sản Việt Nam đứng trước yêu cầu phải đổi mới chiến lược phát triển. Thay vì chạy theo những quy định bên ngoài, ngành hoàn toàn có thể chủ động xây dựng một bộ tiêu chuẩn quốc gia theo hướng “xanh – minh bạch – thấp carbon”, qua đó bảo vệ doanh nghiệp và nâng tầm giá trị sản phẩm.
Áp lực trong cuộc đua đáp ứng rào cản Nhiều năm qua, ngành thủy sản Việt Nam liên tục phải thích ứng với các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định thương mại mới từ các thị trường nhập khẩu lớn. Mỗi thay đổi từ EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản đều kéo theo yêu cầu cập nhật quy trình sản xuất, bổ sung hồ sơ hoặc điều chỉnh vận hành, khiến chi phí và áp lực nhân sự tăng lên. Các rào cản mới, từ tiêu chuẩn xanh, kiểm soát hóa chất, truy xuất dữ liệu theo thời gian thực đến yêu cầu về phát thải carbon hay các vụ điều tra phòng vệ thương mại kéo dài, đang tạo nên mức độ phức tạp chưa từng có. Doanh nghiệp lớn có thể đáp ứng nhờ nguồn lực tốt, nhưng phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó vì chi phí tuân thủ ngày càng cao. Không chỉ tăng về số lượng, nhiều quy định còn thay đổi trong thời gian rất ngắn, tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Từ việc điều chỉnh bao bì theo tiêu chuẩn mới của EU, xử lý cảnh báo kỹ thuật từ Hoa Kỳ đến cập nhật yêu cầu truy xuất nguồn gốc… tất
cả đều có thể khiến tiến độ giao hàng và kế hoạch sản xuất bị gián đoạn. Trong bối cảnh liên tục phải phản ứng trước những tiêu chuẩn từ bên ngoài, câu hỏi đặt ra là liệu ngành thủy sản Việt Nam có thể phát triển bền vững nếu tiếp tục duy trì cách tiếp cận bị động như hiện nay. Một tư duy mới cho chiến lược dài hạn Thực tiễn thị trường cho thấy đã đến thời điểm Việt Nam cần chuyển đổi cách tiếp cận: Thay vì đợi các thị trường nhập khẩu đưa ra yêu cầu rồi mới đáp ứng, ngành thủy sản có thể chủ động xây dựng một bộ tiêu chuẩn mang tính dẫn dắt. Đây không phải rào cản để giới hạn hay gây khó khăn cho đối tác, mà là hệ thống chuẩn nhằm thống nhất quy trình sản xuất trong nước, tích hợp các tiêu chí quốc tế ngay từ đầu và trở thành “lá chắn thương mại” giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro. Một bộ tiêu chuẩn hiện đại có thể dựa trên ba trụ cột chính. Thứ nhất, sản xuất xanh. Các tiêu chí cần bao gồm quản lý môi trường vùng nuôi, kiểm
soát con giống, sử dụng kháng sinh hợp lý, quy định về xử lý nước thải và tiết kiệm năng lượng. Khi nhiều thị trường chuyển mạnh sang mô hình tiêu thụ các sản phẩm ít phát thải, việc sớm chuẩn hóa sản xuất xanh sẽ giúp Việt Nam duy trì vị thế trong những phân khúc giá trị cao. Thứ hai, truy xuất nguồn gốc minh bạch. Thay cho việc ghi chép thủ công, dữ liệu cần được số hóa theo thời gian thực và liên thông từ ao nuôi đến nhà máy, vận chuyển và xuất khẩu. Minh bạch bằng dữ liệu không chỉ tăng độ tin cậy cho hồ sơ xuất khẩu, mà còn giúp doanh nghiệp giảm nguy cơ tranh chấp, hạn chế rủi ro bị đánh giá thiếu khách quan tại các thị trường khó tính. Thứ ba, kiểm soát carbon. Trong bối cảnh nhiều thị trường đang chuẩn bị áp dụng thuế carbon biên giới, việc đo lường và quản lý phát thải trở thành yêu cầu bắt buộc. Doanh nghiệp có hồ sơ carbon rõ ràng sẽ có lợi thế trong đàm phán giá, đồng thời giảm đáng kể rủi ro từ các biện pháp kỹ thuật mới phát sinh.
TÒA SOẠN BẠN ĐỌC | 13
Ảnh: istock
12.2025
Việc triển khai đồng bộ ba nền tảng này có thể giúp doanh nghiệp đáp ứng trước tới 70 – 80% yêu cầu kỹ thuật của các thị trường lớn, qua đó giảm chi phí tuân thủ và tăng tính chủ động trong chiến lược kinh doanh. “Lá chắn thương mại” và động lực nâng tầm giá trị Khi các tiêu chuẩn được thống nhất ở cấp quốc gia, doanh nghiệp không còn phải phân tán nguồn lực để đáp ứng nhiều bộ quy định khác nhau. Quy trình sản xuất được chuẩn hóa, dữ liệu được số hóa và hồ sơ trở nên minh bạch hơn, qua đó giảm nguy cơ bị cảnh báo tại các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Những vụ việc liên quan phòng vệ thương mại cũng có thể được phản biện hiệu quả hơn nhờ hệ thống dữ liệu đầy đủ, thống nhất và dễ kiểm chứng. Một lợi thế đáng chú ý khác là khả năng thiết lập cơ chế “công nhận tương đương” với các thị trường nhập khẩu. Nếu Việt Nam xây dựng được bộ tiêu chuẩn đủ độ tin cậy và được quốc tế thừa nhận, thủ tục xuất khẩu
có thể trở nên thuận lợi hơn, kiểm tra bị động giảm bớt và doanh nghiệp có thêm cơ sở để đàm phán với đối tác về giá, điều kiện giao hàng hoặc thời gian thực hiện hợp đồng. Không chỉ đóng vai trò là “lá chắn thương mại”, bộ tiêu chuẩn quốc gia còn tạo nền tảng để nâng cao giá trị và thương hiệu quốc gia. Người tiêu dùng tại châu Âu và Bắc Mỹ sẵn sàng trả mức giá cao hơn cho sản phẩm có chứng nhận bền vững, được kiểm chứng độc lập và có hồ sơ phát thải rõ ràng. Khi sở hữu một bộ chuẩn thống nhất gắn với các tiêu chí xanh – minh bạch – thấp carbon, thủy sản Việt Nam có cơ hội định vị lại hình ảnh trên thị trường quốc tế, hướng tới nhóm cung ứng đáng tin cậy thay vì chỉ được biết đến như nguồn hàng chi phí thấp. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc đặt chuẩn quốc gia cao hơn yêu cầu nhập khẩu có thể nâng tầm ngành hàng, như trường hợp tiêu chuẩn rừng bền vững FSC hay nông nghiệp hữu cơ tại châu Âu. Với thủy sản Việt Nam, nếu bộ tiêu chuẩn được triển khai hiệu quả, không chỉ doanh nghiệp lớn hưởng lợi
mà cả doanh nghiệp nhỏ cũng có thể tiếp cận chuỗi cung ứng xuất khẩu. Thay vì phải đầu tư khoản chi phí lớn để theo đuổi các chứng nhận quốc tế riêng lẻ, họ có thể dựa vào chuẩn nội địa như một “tấm vé nâng hạng”, mở rộng thị trường với chi phí phù hợp hơn. Từ ứng phó sang định hình luật chơi Điều ngành thủy sản cần thay đổi không chỉ là quy trình, mà là vị thế. Việc chủ động xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia không chỉ giúp vượt qua rào cản, mà còn là chiến lược tái định vị ngành trong 10 – 20 năm tới: Xanh hơn, minh bạch hơn và đủ năng lực tham gia nhóm quốc gia có khả năng đặt chuẩn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam đã có nền tảng và doanh nghiệp tiên phong. Điều còn thiếu là một bước đi đủ mạnh để chuyển từ “người đáp ứng rào cản” thành “người kiến tạo rào cản”, một vị thế mới, xứng đáng với tiềm năng của ngành thủy sản Việt Nam. Oanh Thảo
14 | THEO DÒNG SỰ KIỆN
thuysanvietnam.com.vn
XUẤT KHẨU THỦY SẢN HƯỚNG TỚI KỶ LỤC MỚI Bất chấp thị trường quốc tế còn nhiều biến động, xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục bứt phá, dự kiến lập kỷ lục mới trong năm 2025 với kim ngạch 11,2 - 11,3 tỷ USD.
12.2025 Kết quả ấn tượng Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản tháng 11/2025 đạt gần 990 triệu USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2024. Đây được coi là kết quả tích cực trong bối cảnh thị trường toàn cầu còn nhiều biến động. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực ghi nhận tăng trưởng ấn tượng. Tôm đạt hơn 385 triệu USD, tăng 11,7%, với tôm chân trắng và tôm hùm đều tăng trưởng ở mức hai con số. Cá tra đạt gần 197 triệu USD, tăng 9,7%; các nhóm mực, cá biển và nhuyễn thể tiếp tục xu hướng cải thiện. Xét theo khu vực thị trường, CPTPP tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 27,2% tổng kim ngạch và tăng 24,3% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang Trung Quốc - Hong Kong tăng mạnh 30,6%; EU tăng 11,9%. Với thị trường Mỹ, kim ngạch đạt 1,78 tỷ USD, tăng 8,1%, tuy nhiên đà tăng có dấu hiệu chậm lại trong quý IV. Lũy kế 11 tháng, xuất khẩu thủy sản đạt hơn 10,5 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ 2024. Trong đó, tôm tiếp tục là động lực tăng trưởng với 4,31 tỷ USD (tăng 21,2%), cá tra đạt hơn 2 tỷ USD (tăng 9%), cá ngừ đạt 855,7 triệu USD; các nhóm sản phẩm giá trị gia tăng giữ mức tăng hai con số. CPTPP hiện là thị trường lớn nhất, chiếm 27,2% và tăng 24,3%. VASEP nhận định, xu hướng đẩy mạnh giao hàng trong tháng 11 cho thấy sự chủ động của doanh nghiệp trước thời điểm Mỹ dự kiến áp dụng các quy định nhập khẩu mới. Doanh nghiệp tạm thời thận trọng khi ký đơn hàng mới, chờ hướng dẫn chính thức từ phía Mỹ . Riêng mặt hàng tôm được dự báo vẫn có khả năng duy trì mức xuất khẩu tương đương tháng 11 hoặc chỉ giảm nhẹ, nhờ nhu cầu
THEO DÒNG SỰ KIỆN | 15
Ảnh: ST
ổn định tại các thị trường như Nhật Bản, EU và khối CPTPP. Bước sang tháng 12, xuất khẩu dự báo giảm nhẹ do yếu tố mùa vụ và tâm lý dè dặt trong giao dịch với thị trường Mỹ. Dù vậy, triển vọng cả năm 2025 vẫn rất khả quan, thủy sản Việt Nam tiếp tục củng cố vị thế tại các thị trường lớn trên thế giới. Ngành thủy sản dự kiến khép lại năm 2025 với 11,2 - 11,3 tỷ USD xuất khẩu, mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, tôm có thể thiết lập kỷ lục mới trên 4,6 tỷ USD; cá tra tiệm cận 2,1 tỷ USD nhờ nhu cầu phục hồi tại châu Á; cá ngừ hướng tới mốc 1 tỷ USD, đánh dấu sự trở lại ấn tượng sau giai đoạn nhu cầu suy yếu. VASEP đánh giá, trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động, sự ứng biến linh hoạt và khả năng thích nghi của doanh nghiệp Việt đã thể hiện rõ trong việc đẩy mạnh giao hàng trước thời điểm Mỹ dự kiến áp dụng các quy định mới về nhập khẩu thủy sản và trước khi có kết quả cuối cùng của vụ kiện chống bán phá giá mặt hàng tôm. Tuy nhiên, việc Mỹ siết chặt các yêu cầu nhập khẩu từ năm 2026 đặt ra thách thức không nhỏ. Các doanh nghiệp thủy sản cần chuẩn bị kỹ lưỡng về minh bạch chuỗi cung ứng, tuân thủ tiêu chuẩn lao động, chống khai thác bất hợp pháp và tăng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng
nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. “Doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ về minh bạch chuỗi cung ứng, tuân thủ tiêu chuẩn lao động, chống khai thác IUU và tăng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng. Đây sẽ là yếu tố sống còn để duy trì thị phần trong thời gian tới”, bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký VASEP lưu ý. Nguy cơ từ thị trường Mỹ Mới đây, Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Mỹ (NOAA) đã gửi thư thông báo tới cơ quan chức năng Việt Nam về quy trình cấp Giấy chứng nhận thủy sản, sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ (COA). Đây là bước chuẩn bị cho việc áp dụng kiểm soát nhập khẩu đối với các nghề cá bị cấm từ ngày 1/1/2026 theo Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển (MMPA). Theo NOAA, việc truy xuất nguồn gốc sẽ được thắt chặt hơn, áp dụng đối với cả nguyên liệu khai thác trong nước và nguyên liệu nhập khẩu. Cơ quan quản lý Việt Nam chỉ được cấp COA với nguyên liệu đánh bắt nội địa. Đối với nguyên liệu nhập khẩu, quốc gia khai thác sẽ là bên cấp COA. Với nguyên liệu nhập khẩu từ các nước đã được NOAA công nhận tương đương (nhóm 1), doanh nghiệp vẫn phải có COA nếu sản phẩm chế biến thuộc danh mục nghề cá Việt Nam bị
cấm xuất khẩu vào Mỹ. Trường hợp nhập khẩu từ các quốc gia ở nhóm 2 (bị hạn chế hoặc từ chối), thủ tục còn phức tạp hơn và COA là bắt buộc. Theo VASEP, nhiều doanh nghiệp chế biến đang phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu hải sản nhập khẩu. Mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu hải sản có nguồn gốc nhập khẩu sang Mỹ đạt khoảng 300 – 320 triệu USD, chiếm 60 – 65% tổng xuất khẩu thủy sản khai thác vào thị trường này. Vì vậy, nếu NOAA giữ nguyên quy định, việc tiếp tục xuất khẩu các sản phẩm thủy sản khai thác có nguyên liệu nhập khẩu gần như không còn cơ hội hoặc gặp trở ngại lớn. Một số doanh nghiệp cho biết, việc yêu cầu giấy COA đối với các quốc gia nhóm 1 là không khả thi bởi các nước này, do đã được công nhận tương đương, không xây dựng cơ chế cấp COA cho bất kỳ dòng sản phẩm nào. Với nhóm 2, COA thường chỉ cấp cho hàng xuất trực tiếp sang Mỹ, không cấp cho hàng bán qua nước thứ ba như Việt Nam. Đáng lo ngại là nhiều lô nguyên liệu đã nhập về kho trước khi quy định có hiệu lực, nên không thể bổ sung COA, khiến doanh nghiệp rơi vào thế bị động. Trước tình hình đó, VASEP đã gửi công văn tới Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề nghị Bộ làm việc với NOAA để làm rõ quy trình, đồng thời kiến nghị giải pháp tháo gỡ nhằm bảo đảm hoạt động xuất khẩu hợp pháp cho doanh nghiệp Việt Nam. Hiệp hội cũng đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi công hàm tới các quốc gia đang xuất khẩu nguyên liệu thủy sản sang Việt Nam, nhằm xây dựng cơ chế hợp tác cấp COA cho nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Lãng Uyển
16 | TIÊU ĐIỂM
thuysanvietnam.com.vn
Thủy sản Việt Nam
thích ứng và giữ thế chủ động
12.2025
TIÊU ĐIỂM | 17
Trong bối cảnh kinh tế thế giới cạnh tranh gay gắt và xu hướng bảo hộ gia tăng, ngành thủy sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầy thử thách. Những rào cản thương mại truyền thống và phi truyền thống ngày càng chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, trong khó khăn luôn xuất hiện cơ hội và thủy sản Việt Nam hoàn toàn có thể bứt phá nếu chủ động thích ứng, đầu tư chiến lược và đổi mới mạnh mẽ.
Khó khăn trong “làn sóng” bảo hộ mới Những năm gần đây, biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá và chống trợ cấp, được nhiều nước trên thế giới sử dụng như công cụ bảo hộ nền sản xuất trong nước. Thủy sản là nhóm hàng chịu mức độ kiểm soát cao nhất trong thương mại quốc tế, do đặc thù liên quan đến sức khỏe người tiêu dùng và môi trường. Các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản hay Trung Quốc đều tăng cường tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, quy định tồn dư hóa chất, chỉ tiêu kháng sinh và yêu cầu minh bạch về nguồn gốc. Thủy sản Việt Nam, nhất là tôm và cá tra, nằm trong nhóm sản phẩm thường xuyên bị điều tra. Tại Mỹ, các kỳ rà soát thuế chống bán phá giá nhiều lần đưa ra mức thuế cao đột biến, ảnh hưởng trực tiếp tới không ít doanh nghiệp lớn. Một số thị trường ở Nam Á, Nam Mỹ và Trung Đông cũng bắt đầu mở các vụ điều tra với lý do cạnh tranh không lành mạnh hoặc nhập khẩu tăng đột biến. Khó khăn hơn nữa là các rào cản kỹ thuật từ SPS, TBT đến yêu cầu truy xuất toàn chuỗi. Trong khi tiêu chuẩn SPS là các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật, còn TBT là các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại. Các tiêu chuẩn SPS/TBT vốn đã rất khắt khe tại EU, Mỹ, Nhật Bản, nay tiếp tục nâng cấp. Quy định về dư lượng kháng sinh, kiểm dịch động vật thủy sản, chứng nhận vùng nuôi, điều kiện vệ sinh nhà máy, yêu cầu truy xuất nguồn gốc… đều được siết lại.
Một số thị trường yêu cầu “truy xuất tới ao nuôi”, tức là không chỉ doanh nghiệp mà cả hộ nuôi phải ghi chép điện tử, minh bạch nguồn gốc con giống, thức ăn, thuốc thú y. Đây là thử thách rất lớn khi phần lớn vùng nuôi ở nước ta còn nhỏ lẻ, phân tán. Thêm vào đó, “thẻ vàng” IUU từ EU và Đạo luật bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) của Mỹ cũng đang là những rào cản đặc biệt khó vì chúng liên quan đến cả hệ thống quản lý nghề cá của quốc gia. Để đáp ứng yêu cầu, Việt Nam phải kiểm soát chặt thiết bị giám sát hành trình, nhật ký khai thác, xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, quản lý cảng cá, và minh bạch hóa toàn bộ chuỗi khai thác. Ngoài ra, các Hiệp định thương mại tự do mới như EVFTA, CPTPP mở ra cơ hội lớn nhưng cũng đi kèm các yêu cầu khắt khe về môi trường, lao động, bền vững và quy tắc xuất xứ. Nếu không đáp ứng được, doanh nghiệp không thể hưởng ưu đãi thuế, thậm chí bị loại khỏi thị trường.
TS Phạm Anh Tuấn, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Thủy sản Việt Nam: Cơ quan quản lý nhà nước cần phải nhìn lại một cách tổng thể những vấn đề mà ngành thủy sản Việt Nam đang đối mặt, rà soát lại toàn bộ quy định của các thị trường, để xem cái gì chúng ta đã đáp ứng, cái gì đang còn khoảng trống. Và phải làm những điều gì, thực hiện việc nào trước để đắp vào các khoảng trống đó.
Thêm vào đó, yêu cầu phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội. Xu hướng tiêu dùng “xanh” đang buộc ngành thủy sản phải thay đổi nhanh hơn bao giờ hết. Các quy định như truy xuất nguồn gốc theo chuẩn MSC/ ASC, giảm phát thải carbon, quy tắc lao động và phúc lợi xã hội hay sản xuất tuần hoàn, giảm thiểu chất thải nhựa… đang trở thành điều kiện bắt buộc để vào EU và dần lan sang các thị trường khác. Đây là rào cản mới, khó khăn nhưng bắt buộc Việt Nam phải đáp ứng nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điểm đáng lo là các biện pháp này ngày càng đa dạng và liên tục mở rộng phạm vi, biến việc ứng phó trở thành công việc thường xuyên và tốn kém đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, dưới góc nhìn khoa học, TS. Phạm Anh Tuấn, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, các quy định này nhìn chung đều hướng đến hai mục tiêu. Một là chất lượng sản phẩm đưa ra thị trường phải đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Thứ hai là bảo vệ môi trường và những người liên quan trong quá trình sản xuất. Vì đối với thủy sản thế giới, khi muốn xuất khẩu sang thị trường nào thì đầu tiên là phải tuân thủ các tiêu chuẩn về chất lượng tại thị trường đó. Chính vì thế, điều mà ngành thủy sản Việt Nam cần làm là thích ứng và thực hiện chuẩn hóa nghề cá. Áp lực cho doanh nghiệp Mỗi thay đổi về tiêu chuẩn đều kéo theo chi phí kiểm định, nâng cấp nhà xưởng, tổ chức lại vùng nuôi hoặc hàng loạt thủ tục
18 | TIÊU ĐIỂM
thuysanvietnam.com.vn
Vượt thách thức, ngành thủy sản kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 vượt 10 tỷ USD
phân tích hồ sơ. Nhiều doanh nghiệp cho biết chi phí tuân thủ tiêu chuẩn mới tăng 10 - 30%, một số đơn hàng phải lùi thời gian xuất hay nguy cơ bị giữ hàng tại cảng khi chưa đủ bằng chứng truy xuất. Điều này khiến giá thành sản phẩm Việt Nam mất lợi thế so với các quốc gia đang được hưởng ưu đãi thuế quan và ít bị soi xét hơn, như Ecuador hay Ấn Độ. Hơn nữa, các cảnh báo từ EU hay Mỹ, dù chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn, vẫn ảnh hưởng đáng kể đến niềm tin của nhà nhập khẩu. Sự cố trả hàng tại một thị trường có thể lan sang thị trường khác do hệ thống chia sẻ dữ liệu kiểm soát. Tác động của rào cản thương mại đã tạo áp lực lớn lên toàn chuỗi giá trị khi biên lợi nhuận bị bào mòn, chi phí tuân thủ tăng mạnh. Thuế phòng vệ thương mại khiến giá thành xuất khẩu tăng, đôi khi gây thua lỗ với
những lô hàng đã ký trước khi bị áp thuế. Song song đó, chi phí gia tăng cũng khiến các doanh nghiệp chịu áp lực rất lớn, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thiếu nguồn lực đầu tư nâng cấp hệ thống. Cùng với đó, khi rào cản tăng lên, quá trình thông quan chậm hơn, không ít lô hàng phải kiểm tra 100% khiến doanh nghiệp mất thời gian, chi phí lưu kho và giảm năng lực cạnh tranh. Điều này gây áp lực lên kim ngạch xuất khẩu và có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của toàn ngành. Đáng lo hơn, mặc dù các rào cản này khiến doanh nghiệp phải tăng chi phí xét nghiệm, cải thiện quy trình nuôi, đầu tư công nghệ xử lý và truy xuất, nhưng vẫn khó tránh rủi ro bị cảnh báo hoặc trả hàng khi tiêu chuẩn thay đổi đột ngột. Không chỉ vậy, các vụ kiện sẽ ít nhiều khiến thương hiệu quốc gia đối diện thách
Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
thức. Bất kỳ vụ việc liên quan đến an toàn thực phẩm, vi phạm quy định IUU hoặc gian lận thương mại đều ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh thủy sản Việt Nam. Trong bối cảnh các thị trường đề cao tính bền vững, sự cố nhỏ có thể dẫn đến hệ quả lớn trên diện rộng. Và quan ngại hơn là nhiều thị trường mới nổi cũng đang dần “bắt chước” các biện pháp này, biến phòng vệ thương mại trở thành rào cản phổ biến ở cả các thị trường từng được xem là dễ tính. Từng bước vượt khó Để vượt qua trở ngại, bắt buộc các doanh nghiệp phải thay đổi. Theo đại diện của VASEP, trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư mạnh cho hệ thống truy xuất nguồn gốc số, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế như ASC, BAP, GlobalGAP, HACCP. Các
12.2025 địa phương trọng điểm thực hiện thí điểm truy xuất điện tử cho vùng nuôi cá tra, tôm, hướng đến số hóa toàn chuỗi. Song song với đó, doanh nghiệp đẩy mạnh phát triển sản phẩm giá trị gia tăng để giảm phụ thuộc thị trường. Hiện nay, xu hướng thị trường ưu tiên các sản phẩm chế biến sâu như tôm tẩm bột, sản phẩm ăn liền, sản phẩm đóng gói bán lẻ tiện dụng. Đây là phân khúc ít bị ảnh hưởng bởi thuế phòng vệ và có giá trị cao hơn. Cùng đó, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy mới, dây chuyền hiện đại, tập trung vào thị trường cao cấp. Đồng thời, ngành thủy sản tích cực đẩy mạnh thực hiện liên kết chuỗi để tăng sức cạnh tranh. Trong đó, hàng loạt mô hình liên kết “4 nhà” (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Người nuôi) được áp dụng giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng và tăng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Những chuỗi liên kết này đang trở thành giải pháp then chốt để đối phó rào cản thương mại. Nhiều chuyên gia kinh thế cho rằng, ngành thủy sản cần sớm thống nhất bộ tiêu chuẩn quốc gia về nuôi, thu hoạch, vận chuyển và chế biến thủy sản, tương thích với chuẩn quốc tế như Codex, ASC, BAP. Điều này giúp giảm rủi ro bị đánh giá “không đồng nhất” giữa các vùng nuôi, tạo nền tảng để tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng xanh và nâng cao năng lực quản lý chất lượng từ gốc. Với sản phẩm khai thác, các bộ, ngành đang phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp như lắp đặt 100% thiết bị giám sát hành trình, hoàn thiện hệ thống truy xuất khai thác, kiểm soát chặt hoạt động tại cảng cá, và tổ chức tập huấn cho ngư dân. Mục tiêu là đáp ứng yêu cầu của EU và tiến tới gỡ “thẻ vàng” trong thời gian sớm nhất. Ngoại giao thương mại chủ động Trong bối cảnh rào cản phòng vệ ngày càng phổ biến, ngoại giao thương mại phải đi trước một bước. Việt Nam cần xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ với các thị trường lớn, tăng khả năng cảnh báo sớm và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Hơn nữa, doanh nghiệp cần được đào tạo chuyên sâu về phòng vệ thương mại để không bị động trước các vụ kiện. Bên cạnh đó, trong thời đại của công nghệ số hiện nay, việc xây dựng nền tảng truy xuất
TIÊU ĐIỂM | 19 nguồn gốc số quốc gia đặc biệt hữu hiệu. Một hệ thống truy xuất thống nhất, kết nối từ hộ nuôi - hợp tác xã - doanh nghiệp - cơ quan quản lý sẽ là “lá chắn” giúp thủy sản Việt Nam vượt qua hầu hết các rào cản. Còn trong khai thác, việc ứng dụng công nghệ số là điều kiện tiên quyết để giúp minh bạch hóa chuỗi cung ứng và tạo niềm tin cho thị trường nhập khẩu. Ngoài ra, để tăng giá trị và giảm phụ thuộc vào các thị trường khó tính, cần tập trung sản phẩm giá trị gia tăng và phát triển thương hiệu quốc gia cho thủy sản Việt Nam. Việc nâng tỷ lệ chế biến sâu lên 35 - 40% không chỉ giúp ngành tăng thêm giá trị xuất khẩu mà còn tạo một “sức khỏe” tốt trước biến động thị trường. Mặt khác, bên cạnh duy trì thị trường truyền thống, cần khai thác sâu hơn các thị trường tiềm năng như Trung Đông, Nam Á, Nam Mỹ và Đông Âu. Sự đa dạng hóa này giúp giảm rủi ro và mở thêm dư địa tăng trưởng. Quan trọng hơn, hiện nay đã rất cấp thiết để ngành thủy sản Việt Nam phát triển các công cụ bảo hiểm thương mại, bảo hiểm giá và quỹ hỗ trợ ứng phó rủi ro sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước những biến động khó lường. Khi doanh nghiệp không chỉ “vượt rào” thành công mà còn vươn lên bằng sản phẩm giá trị cao, khi chuỗi cung ứng được số hóa, minh bạch, khi thị trường được mở rộng đa dạng và ngành nghề cá được quản lý theo chuẩn quốc tế, thủy sản Việt Nam sẽ có vị thế vững vàng hơn, đủ sức đối mặt với bất kỳ rào cản nào. Rào cản thương mại sẽ không giảm, mà còn có khả năng tăng mạnh trong thời gian tới. Nhưng với cách tiếp cận chủ động và nâng cấp toàn ngành, thủy sản Việt Nam sẽ có cơ hội bứt phá ngoạn mục. Sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người nuôi, cùng đầu tư vào công nghệ, minh bạch hóa và phát triển xanh, chính là con đường giúp vượt qua thách thức và đưa thủy sản Việt Nam vươn lên mạnh mẽ hơn trong năm 2026 và nhiều năm tiếp theo.
Phan Thảo
Ngành thủy sản cần tập trung sản phẩm giá trị gia tăng và phát triển thương hiệu quốc gia. Việc nâng tỷ lệ chế biến sâu lên 35 - 40% không chỉ giúp ngành tăng thêm giá trị xuất khẩu mà còn tạo một “sức khỏe” tốt trước biến động thị trường.
Ảnh: tio.mp
20 | SINH KẾ NGƯ DÂN
thuysanvietnam.com.vn
Kiệt quệ sau bão lũ
Người nuôi tôm hùm cần một “phao tín dụng” Hai cơn bão 12 và 13 quét qua miền Trung không chỉ làm tan hoang lồng bè mà còn cuốn đi cơ nghiệp tích cóp của hàng nghìn hộ nuôi tôm hùm. Trên những vùng biển vừa hứng chịu sóng dữ, người dân tất tả dựng lại lồng, gom nhặt lưới để gây dựng vụ nuôi mới. Họ đang mong mỏi những biện pháp khoanh nợ, giãn nợ và vay mới để có thể trở lại sản xuất trước mùa biển êm.
Biển đã lặng nhưng lòng người còn dậy sóng Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tính đến ngày 10/11, bão số 13 và hoàn lưu bão đã làm 54.285 lồng bè nuôi trồng thủy sản và 18 ha nuôi tôm, cá bị thiệt hại. Trong đó, vùng nuôi tôm hùm tại miền Trung bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng. Tại phường Sông Cầu (tỉnh Đắk Lắk), sau lũ lịch sử, hơn 95% sản lượng tôm hùm (khoảng 21 triệu con) bị chết. Chủ tịch UBND phường Sông Cầu Võ Ngọc
Thạch cho biết, tính đến ngày 24/11, mưa lũ đã gây thiệt hại gần 2.500 tỷ đồng cho các hộ nuôi tôm trên địa bàn. Nghề nuôi tôm hùm ở địa phương gần như bị xóa sổ. Còn tại phường Xuân Đài, có 430/536 hộ nuôi bị thiệt hại, tôm chết 22.500/27.000 lồng, giá trị khoảng 610 tỷ đồng. Mức thiệt hại được đánh giá là “chưa từng có” từ khi nghề nuôi tôm hùm xuất hiện ở đây. Tỉnh Phú Yên cũ có khoảng 177.000 lồng nuôi tôm hùm, chiếm hơn 63% cả nước, tập trung chủ yếu tại vịnh Xuân Đài
12.2025
SINH KẾ NGƯ DÂN | 21 Theo báo cáo của Chi cục Thủy sản và Biển đảo Đắk Lắk, tính đến ngày 29/11, toàn tỉnh có hơn 99.750 lồng nuôi thủy sản (chủ yếu tôm hùm xanh) bị thiệt hại do mưa lũ, giá trị ước tính khoảng 2.400 tỷ đồng. Riêng P.Sông Cầu thiệt hại 49.000 lồng, P.Xuân Đài 22.291 lồng, xã Xuân Cảnh 28.207 lồng. Hỗ trợ ngư dân tái thiết vùng nuôi Nuôi tôm hùm mang lại lợi nhuận cao nhưng đó cũng là nghề đầy rủi ro, và sau đợt mưa lũ lịch sử, nhiều người lâm cảnh trắng tay. Dù vậy, người dân vẫn trở lại mặt biển ngay khi sóng êm. Người nuôi tôm hùm đang nỗ lực tái sản xuất bằng cách
“Thủ phủ” tôm hùm vịnh Xuân Đài tan hoang sau bão, lũ Ảnh: Hữu Tú
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, trong ngắn hạn, các doanh nghiệp xuất khẩu có thể chưa chịu tác động lớn vì nguồn hàng cho các hợp đồng cuối năm đã được chuẩn bị trước. Tuy nhiên, về trung hạn, thiệt hại đối với tôm hùm sắp thu hoạch có thể khiến nguồn cung đầu năm 2026 suy giảm đáng kể, tạo biến động giá và ảnh hưởng tới khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hiện tại.
và vịnh Vũng Rô. Sau mưa lũ, có khoảng 2.000 hộ nuôi tôm ở đây bị trắng tay. Ông Nguyễn Văn Hạnh, 45 tuổi, người có gần hai thập kỷ gắn bó với nghề, đứng nhìn bè nuôi giờ chỉ còn những khung gỗ xiêu vẹo, không còn một con tôm nào còn sống. Trước bão, ông chuẩn bị thu hoạch 4.000 con tôm hùm, dự tính mang về 4 tỷ đồng. Nhưng chỉ sau một đêm, tất cả đã trôi theo nước lũ.
khôi phục lồng bè, mua con giống và tìm kiếm vốn để vượt qua thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Theo lãnh đạo các địa phương bị thiệt hại, phần lớn hộ nuôi tôm hùm đang nợ từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng. Bão đến quá nhanh khiến nhiều người chưa kịp trả kỳ nợ cũ, giờ lại đứng trước nguy cơ mất khả năng chi trả. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cử các đoàn công tác về hiện
trường, hướng dẫn xử lý môi trường sau bão, đồng thời kiến nghị hỗ trợ một phần giống thủy sản và khôi phục hệ thống neo đậu, giao thông vào vùng nuôi. Tuy nhiên, lồng nuôi phải đóng mới, giá vật liệu tăng sau bão; giống tôm hùm ngày càng đắt; thuốc xử lý môi trường cần ngay khi nước chưa ổn định. Tất cả đều cần vốn, trong khi nợ cũ vẫn còn đầy trên sổ ngân hàng. Điều người dân mong mỏi là chính sách hỗ trợ vốn, cơ cấu lại nợ cũ để họ có thời gian và điều kiện tái sản xuất vụ mới. Nhằm giảm áp lực cho người dân, ngày 25/11, Cục Thuế đã có Công văn số 5526/CT-CS hỏa tốc gửi Trưởng Thuế các tỉnh, thành phố. Theo đó, ngành thuế sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp giúp người nộp thuế giảm bớt khó khăn, sớm ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, kinh doanh, về chính sách, thủ tục, hồ sơ gia hạn, miễn, giảm thuế. Đồng thời, Cục Thuế chỉ đạo cơ quan thuế địa phương tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế khi làm thủ tục miễn, giảm, gia hạn thuế bị ảnh hưởng và thiệt hại bởi thiên tai theo quy định. Ngày 21/11/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2553/QĐ-TTg điều chỉnh giảm lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Trong đó, lãi suất cho vay hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn, cho vay thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn, điều chỉnh giảm từ 9,0%/năm (0,75%/tháng) xuống 7,8%/năm (0,65%/tháng), thực hiện từ ngày 1/12/2025. Điều này giúp người dân bớt gánh nặng khi tiếp cận vốn mới. Ngày 25/11/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 380/NQCP về các giải pháp khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản
xuất tại các địa phương khu vực miền trung. Theo đó, để khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, nhanh chóng ổn định đời sống, sinh hoạt của nhân dân, khôi phục sản xuất, kinh doanh, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cả năm 2025 đạt trên 8% và năm 2026 đạt từ 10% trở lên, Chính phủ yêu cầu thực hiện khẩn trương, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả các giải pháp để sớm ổn định đời sống nhân dân. Chính phủ giao chính quyền các tỉnh, thành phố chủ động triển khai các giải pháp theo thẩm quyền nhằm khôi phục các hoạt động sản xuất, kinh doanh, ổn định thị trường trên địa bàn; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ vật tư, cây giống, con giống, thuốc thú y... nhằm khôi phục các vùng bị thiệt hại nặng, đặc biệt là các vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và các vùng cây công nghiệp; khẩn trương hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh khôi phục hoạt động, không để đứt gãy chuỗi cung ứng, đứt gãy các hợp đồng trong xuất khẩu. Trước đó, ngày 4/11/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Công văn 9651/NHNNTD yêu cầu các tổ chức tín dụng và NHNN chi nhánh tại các khu vực liên quan triển khai đồng bộ các biện pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng, trong đó có cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi phí và cung cấp gói tín dụng ưu đãi để khôi phục sản xuất, kinh doanh. Mặc dù những chính sách này không chỉ dành riêng cho tôm hùm, nhưng vẫn được coi là “tia sáng sau bão”. Để vùng nuôi tôm hùm miền Trung phục hồi trở lại thì có lẽ còn cần thêm thời gian dài và nhiều chính sách đồng hành.
Bảo Hân
22 | PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
thuysanvietnam.com.vn
Giữ biển là giữ tương lai Biến đổi khí hậu, áp lực thị trường xanh và yêu cầu phát triển bền vững đang đặt ngành thủy sản Việt Nam trước ngã rẽ lịch sử, hoặc đổi thay toàn diện, hoặc tụt lại phía sau. Giữ biển hôm nay chính là giữ tương lai cho môi trường, cho sinh kế hàng triệu người và cho uy tín của ngành trên bản đồ thủy sản toàn cầu.
Phá Tam Giang. Ảnh: ST
12.2025 Thích ứng với biến đổi Những năm gần đây, biển Việt Nam biến đổi nhanh hơn bất kỳ dự báo nào trước đó. Tần suất tảo độc và thủy triều đỏ gia tăng, nhiều vùng ven bờ ô nhiễm dầu và chất hữu cơ vượt ngưỡng, rác thải nhựa tích tụ dày đặc. Trong khi đó, hạ tầng môi trường chưa theo kịp tốc độ phát triển nuôi biển và khai thác ven bờ. Những cảnh báo từ mạng lưới quan trắc hơn 20 năm của Viện Nghiên cứu Hải sản ngày càng dày đặc, cho thấy biển không còn là nguồn tài nguyên vô tận. Trong bối cảnh ấy, thủy sản ngành xuất khẩu hơn 9,5 tỷ USD mỗi năm, tạo sinh kế cho hàng triệu người đang chịu sức ép chưa từng có: từ thiên nhiên, từ thị trường quốc tế, từ các cam kết môi trường và từ chính nội lực còn hạn chế. Áp lực đồng thời mở ra cơ hội: tái cấu trúc ngành theo hướng xanh hơn, thông minh hơn và có trách nhiệm hơn. Phát biểu tại Hội nghị về bảo vệ môi trường trong các hoạt động thủy sản năm 2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: “Ngành không thể phát triển nóng. Mọi bước đi phải dựa trên chất lượng môi trường, lấy biển làm trung tâm, lấy hệ sinh thái làm gốc”. Thực tế, khi Viện Nghiên cứu Hải sản triển khai mô hình thí điểm xử lý nước thải cảng cá tại Bình Thuận (nay là Lâm Đồng) và Kiên Giang (nay là An Giang), ô nhiễm khu vực đã giảm từ 8598%. Hàng loạt hướng dẫn kỹ thuật về ứng phó tảo độc, giám sát vùng nuôi và ngăn ngừa sự cố môi trường được ban hành, tạo nền tảng cho phát triển có kiểm soát, minh bạch và bền vững hơn. Cũng tại hội nghị này, Viện Nghiên cứu Hải sản - đơn vị “giữ nhịp” quan trắc môi trường biển
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG | 23 suốt hai thập kỷ đã cung cấp bức tranh chi tiết: hàm lượng N-NH4+
tăng tại một số khu vực ven bờ, ô nhiễm dầu gia tăng tại các cảng cá đông tàu thuyền, tảo độc xuất hiện rộng rãi trong mùa chuyển mùa, và một số vùng nuôi lộ dấu hiệu ô nhiễm cục bộ. Dữ liệu trên không chỉ là cảnh báo, mà còn là chìa khóa xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng. Ngành thủy sản Việt Nam đang chuyển từ phản ứng bị động sang giám sát thời gian thực, cảnh báo sớm và mô phỏng rủi ro môi trường - hướng đi mà nhiều quốc gia có nghề cá phát triển đã thực hiện từ lâu. 3 trụ cột chiến lược Dựa trên những dữ liệu thực tế, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân chỉ rõ những thách thức hiện tại và định hướng chiến lược cho giai đoạn 2026-2030. “Biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, rác thải nhựa là vấn đề toàn cầu, hạ tầng vùng nuôi chưa theo kịp, khoảng cách giữa yêu cầu thị trường với khả năng doanh nghiệp vẫn còn lớn”, ông Luân nêu rõ, đồng thời chỉ ra 03 trụ cột chiến lược để ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững. 03 trụ cột bao gồm: Hạ tầng môi trường đồng bộ, đảm bảo hệ thống thu gom, xử lý chất thải và quan trắc hiệu quả. Quản lý dựa trên dữ liệu và khoa học môi trường, nâng cao khả năng dự báo, ra quyết định dựa trên bằng chứng. Quản trị dựa vào cộng đồng, trao quyền cho ngư dân tham gia giám sát môi trường và bảo vệ nguồn lợi. “Chúng ta tăng trưởng ấn tượng, nhưng nếu không xanh hóa nhanh, các rào cản thương mại sẽ siết lại và doanh nghiệp chịu thiệt đầu tiên”, ông Luân nhấn mạnh. Những trụ cột này không chỉ là kim chỉ nam cho giai
đoạn 2026-2030, mà còn là cơ sở để ngành thủy sản Việt Nam vừa tăng trưởng vừa hội nhập quốc tế một cách bền vững. Hợp tác quốc tế và hành động cộng đồng Nhiều đối tác quốc tế cũng đặt bảo vệ môi trường biển là ưu tiên hợp tác. Đại sứ Canada tại Việt Nam, ông Jim Nickel khẳng định: “Chăm sóc đại dương cũng là chăm sóc tương lai của chúng ta”. Dự án VN-CSCC do Canada tài trợ thông qua UNDP giai đoạn 2024-2030 hỗ trợ lập kế hoạch thông tin khí hậu lồng ghép yếu tố giới, phục hồi rừng ngập mặn, mô hình thích ứng dựa vào thiên nhiên, giảm rác thải nhựa và nâng cao quản trị môi trường cộng đồng. Theo bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, phát triển kinh tế biển bền vững vừa đúng đắn về môi trường, vừa là chiến lược kinh tế thông minh, nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu. Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản chịu tác động mạnh từ các tiêu chuẩn xanh quốc tế. EU, Mỹ, Nhật áp dụng quy định carbon, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, vật liệu bao bì tái chế và chứng nhận bền vững, buộc doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi gần như toàn bộ phương thức sản xuất. Tổng thư ký VASEP, Nguyễn Hoài Nam nhận định, ngành đang chịu “áp lực kép”, vừa chống chọi biến đổi khí hậu, vừa thích ứng với bộ tiêu chuẩn ngày càng khắt khe. Đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn tăng nhanh, nhiệt độ ao nuôi biến động mạnh, trong khi thị trường đòi hỏi sản phẩm carbon thấp, xanh hóa toàn chuỗi và minh bạch dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp đã bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh, 73% nhà máy lớn đã bỏ HCFC22, hơn 800 kho lạnh áp dụng
công nghệ tiết kiệm 15-20% điện. Các tập đoàn đầu ngành kiểm kê phát thải, đánh giá vòng đời sản phẩm. Kinh tế tuần hoàn tăng tốc khi phụ phẩm tôm cá được nâng thành collagen, gelatin và dầu cá giá trị cao. Để lan tỏa toàn ngành, VASEP đề xuất gói tín dụng xanh, khung pháp lý về carbon quốc gia, hệ số phát thải chuẩn và hệ thống chia sẻ dữ liệu Nhà nước - doanh nghiệp. Đây là bước đi cần thiết để tăng trưởng xanh và bền vững, vừa đáp ứng thị trường, vừa bảo vệ môi trường. Theo thống kê của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác của cả nước trong 10 tháng năm nay đạt hơn 8,15 triệu tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu thủy sản trong 10 tháng qua đã đạt hơn 9,5 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy sự nỗ lực bền bỉ của ngành trong bối cảnh thị trường nhiều biến động. Tuy nhiên, nếu không xanh hóa nhanh, lợi thế này có thể mất trong vài năm. Các thị trường lớn đang áp thuế carbon biên giới, yêu cầu vật liệu xanh, kiểm soát kháng sinh và cam kết khí hậu. Giờ đây, môi trường không còn là “chi phí”, mà trở thành tiêu chí thương mại bắt buộc. Trong mỗi con tàu, mỗi ao nuôi, mỗi cộng đồng ngư dân, khi trách nhiệm đi đôi với hành động, Việt Nam không chỉ xuất khẩu thủy sản mà còn xuất khẩu trách nhiệm, bền vững và uy tín ra thế giới. Giữ biển hôm nay chính là giữ tương lai cho chính chúng ta, và cho các thế hệ mai sau.
Thùy Khánh
24 | TƯ VẤN, PHẢN BIỆN
thuysanvietnam.com.vn
Đ
ây cũng là hướng đi phù hợp với cam kết của Việt Nam tại COP26 về đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc quy hoạch phát triển theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu hóa sử dụng tài nguyên trong hệ sinh thái biển và xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững cho cư dân ven biển là những bước đi bắt buộc.
Phát triển nuôi biển bền vững và giảm phát thải CO2 Phát triển nuôi biển bền vững gắn với giảm phát
Lợi thế tự nhiên và tiềm năng phát triển Việt Nam sở hữu hơn 3.200 km bờ biển, hàng nghìn hòn đảo và vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km², tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi biển quy mô lớn. Hệ thống vùng triều,trên triều, eo vịnh, biển mở và hải đảo phân bố trên nhiều tiểu vùng sinh thái, cùng nguồn đa dạng sinh học phong phú với các nhóm loài có giá trị kinh tế cao như cá biển, tôm hùm, nhuyễn thể, rong biển... Những lợi thế tự nhiên này là nền tảng quan trọng để phát triển ngành nuôi biển theo hướng bán công nghiệp và công nghiệp, đa loài, đa mục tiêu và thân thiện môi trường. Tuy nhiên, để chuyển tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh thực tế, Việt Nam cần có chiến lược phát triển gắn với quy hoạch không gian biển, đầu tư hạ tầng đồng bộ và quản lý theo chuỗi giá trị.
thải CO2 không chỉ là yêu cầu bảo vệ môi trường, mà còn là điều kiện để ngành thủy sản Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ảnh: istock
Chính sách và hiện trạng phát triển Trong hơn hai thập kỷ qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách chiến lược như Quyết định 224/1999/QĐ-TTg, 112/2004/QĐTTg, 135/2005/QĐ-TTg và 1690/QĐ-TTg, đặt nền móng cho hiện đại hóa ngành nuôi trồng thủy sản. Giai đoạn gần đây, các văn bản quan trọng như Quyết định 339/QĐ-TTg (2021) về Chiến lược phát triển đến năm 2030, Quyết định 1664/QĐ-TTg (2021) về phát triển nuôi biển, Quyết định 985/QĐ-TTg (2022) về vùng sản xuất giống chất lượng cao, Quyết định 389/QĐ-TTg (2024) về bảo tồn nguồn giống, cùng Nghị định 26/2019/NĐ-CP về kỹ thuật sản xuất giống đã hình thành khung pháp lý tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, các chính sách này vẫn thiếu cơ chế thực thi cụ thể về quy hoạch, tín dụng, hạ tầng, công nghệ và liên kết thị trường. Phần lớn mới dừng lại ở định hướng, chưa chuyển hóa thành chương trình hành động và công cụ hỗ trợ cụ thể cho doanh nghiệp và người nuôi.
12.2025 Theo Cục Thủy sản, giai đoạn 2021–2024, diện tích và sản lượng nuôi biển có tăng nhưng không ổn định: 2021: 8 triệu m³ lồng, 648 nghìn tấn (+8%); 2022: 9 triệu m³ lồng, 717 nghìn tấn (+10,7%); 2023: 9,5 triệu m³ lồng, 789,8 nghìn tấn (+10,1%) và 2024: 9,7 triệu m³ lồng, 832 nghìn tấn (+5%). Trong đó nhuyễn thể chiếm khoảng 50–55% sản lượng, kế đến là cá biển và tôm hùm. Tuy sản lượng tăng nhưng tốc độ tăng trưởng đang chậm lại; riêng cá biển chỉ tăng từ 38 lên 48 nghìn tấn (+26,3%) trong ba năm, phản ánh năng suất ổn định nhưng thiếu mở rộng quy mô. Những bất cập và thách thức chủ yếu Câu hỏi đặt ra là: Vì sao sau hơn hai thập kỷ với nhiều chủ trương, chính sách, hội nghị và chỉ đạo sát sao, ngành nuôi biển Việt Nam vẫn phát triển chậm, manh mún, công nghệ lạc hậu và chưa hình thành chuỗi giá trị xuất khẩu hoàn chỉnh? Mặc dù có tiềm năng tự nhiên và thị trường lớn, ngành nuôi biển vẫn đối mặt với hàng loạt hạn chế về thể chế, kỹ thuật và tổ chức sản xuất. Những điểm yếu này khiến quá trình chuyển đổi từ mô hình nhỏ lẻ sang quy mô bán công nghiệp, hiện đại và bền vững diễn ra chậm. Khẩu hiệu “vươn khơi, bám biển” tuy được nhấn mạnh, nhưng phần lớn vẫn dừng ở chủ trương, chưa được hiện thực hóa bằng cơ chế chính sách và nguồn lực cụ thể. Các bất cập nổi bật gồm: Quy hoạch và hạ tầng: Việc giao, cho thuê mặt nước chậm và thiếu đồng bộ; quy hoạch chồng chéo giữa các ngành (du lịch, hàng hải, năng lượng, thủy sản); hạ tầng vùng nuôi yếu, lồng bè truyền thống lạc hậu, chưa hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với hậu cần và chế biến. Khoa học – công nghệ: Trình độ công nghệ thấp, sản xuất manh mún; thiếu liên kết chuỗi, năng lực cạnh tranh yếu; nhiều mô hình gây tác động tiêu cực đến môi trường, giao thông thủy và sinh kế ven biển. Giống và thức ăn: Sản xuất giống phân tán, chất lượng chưa ổn định, phụ thuộc nhập khẩu; thức ăn chủ yếu là cá tạp, tự chế hoặc nhập khẩu giá cao, khó kiểm soát chất lượng. Thị trường và chuỗi giá trị: Các khâu sản xuất – chế biến – tiêu thụ rời rạc; sản phẩm xuất thô, giá trị gia tăng thấp; liên kết doanh nghiệp – ngư dân lỏng lẻo; thiếu truy xuất nguồn gốc và chứng nhận chất lượng.
TƯ VẤN, PHẢN BIỆN | 25 Tài chính, nhân lực và thể chế: Khó tiếp cận vốn, thiếu bảo hiểm; nhân lực kỹ thuật hạn chế; chưa có quỹ phát triển chuyên biệt; công tác kiểm soát và truy xuất chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Điểm nghẽn cốt lõi và định hướng phát triển Điểm nghẽn lớn nhất của nuôi biển Việt Nam không nằm ở kỹ thuật, mà ở thể chế, quy hoạch không gian và tổ chức chuỗi giá trị. Để phát triển ngành theo hướng hàng hóa và giảm phát thải CO2, cần đổi mới toàn diện
cách tiếp cận quy hoạch, thể chế và tổ chức sản xuất. Định hướng quy hoạch và mô hình phát triển giảm phát thải CO2 Quy hoạch cần dựa trên lợi thế sinh thái từng vùng, gắn với mục tiêu tiêu thụ sản phẩm và yêu cầu thị trường. Có thể chia theo hai hướng tiêu thụ chính: Sản phẩm tươi sống tiêu dùng nội địa và xuất tiểu ngạch: Tập trung phát triển ở vùng ven bờ, gần trung tâm tiêu thụ lớn (đô thị, khu du lịch, khu công nghiệp, cửa khẩu). Mô hình này giúp rút ngắn chuỗi cung ứng, giảm chi phí logistics và phát thải CO2 trong vận chuyển, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ nội địa bền vững. Sản phẩm chế biến xuất khẩu: Quy hoạch các vùng nuôi tập trung quy mô lớn có lợi thế về hạ tầng, cảng biển, và kết nối với khu chế biến – logistics quốc tế. Hình thành chuỗi khép kín gồm: sản xuất giống – nuôi thương phẩm – chế biến – xuất khẩu, nhằm giảm phát thải CO2, nâng cao hiệu quả tài nguyên và đáp ứng tiêu chuẩn xanh quốc tế. Hoàn thiện thể chế và tổ chức chuỗi giá trị Phát triển bền vững đòi hỏi thể chế đồng bộ và chuỗi giá trị chặt chẽ, hướng tới mục tiêu kép: nâng cao giá trị kinh tế và giảm phát thải khí nhà kính: Hoàn thiện thể chế: Xây dựng khung pháp lý chuyên biệt cho nuôi biển, quy định rõ quyền sử dụng mặt nước, tiêu chuẩn môi trường và điều kiện đầu tư. Thành lập cơ quan điều phối liên ngành về nuôi biển bền vững để thống nhất quy hoạch không gian, đầu tư hạ tầng và giám sát phát thải. Đồng thời, phát triển các công cụ chính sách xanh: quỹ tín dụng ưu đãi, bảo hiểm rủi ro, cơ chế tín chỉ carbon, ưu đãi thuế cho dự án công nghệ sạch. Tổ chức chuỗi giá trị: Chuỗi giá trị cần được vùng hóa và khép kín, với doanh nghiệp làm
hạt nhân chuỗi, chịu trách nhiệm bao tiêu, chuyển giao kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa quy trình; hợp tác xã và người nuôi là tác nhân thực thi; chính quyền địa phương hỗ trợ quy hoạch, hạ tầng và giám sát môi trường. Mục tiêu là hình thành “chuỗi giá trị xanh” – minh bạch, truy xuất được nguồn gốc, số hóa quy trình, và tuân thủ tiêu chuẩn phát thải thấp. Mô hình mẫu Phát triển các cụm nuôi biển tập trung mẫu với hạ tầng đồng bộ (điện, nước, cảng, kho lạnh, trạm quan trắc), ứng dụng công nghệ số như IoT, blockchain để giám sát sản xuất và tính toán dấu chân carbon (carbon footprint). Từ các mô hình này có thể tổng kết và nhân rộng ra toàn vùng. Trách nhiệm theo cấp và chủ thể Để bảo đảm phát triển bền vững và giảm phát thải CO2, cần phân định rõ vai trò của từng cấp, từng chủ thể: Nhà nước (Trung ương): Định hướng chiến lược, ban hành khung pháp lý và cơ chế tài chính – tín dụng; đầu tư hạ tầng trọng điểm, trung tâm giống, trạm quan trắc; xây dựng tiêu chuẩn phát thải và cơ chế định giá carbon; đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế về công nghệ và tài chính khí hậu. Chính quyền địa phương: Cụ thể hóa quy hoạch quốc gia theo điều kiện từng vùng; cấp phép, giám sát môi trường vùng nuôi; đầu tư hạ tầng phụ trợ; và kết nối doanh nghiệp – hợp tác xã – người nuôi tại chỗ. Doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi: Là chủ thể sản xuất, tuân thủ kỹ thuật, thực hành tiết kiệm năng lượng, gắn truy xuất nguồn gốc điện tử và kiểm kê phát thải. Tóm lại: Phát triển nuôi biển bền vững và giảm phát thải CO2 là một tiến trình phức hợp, đòi hỏi phối hợp đa cấp và đa chủ thể: Nhà nước định hướng, địa phương tổ chức, doanh nghiệp dẫn dắt, người nuôi thực thi. Khi các vai trò này vận hành hài hòa trong khuôn khổ thể chế minh bạch và quy hoạch đồng bộ, Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển đổi ngành nuôi biển từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và có trách nhiệm, đóng góp vào mục tiêu quốc gia về tăng trưởng xanh, kinh tế biển bền vững và hội nhập vững chắc vào chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu.
Anh Vũ
thuysanvietnam.com.vn
Ảnh: Báo An Giang
26 | CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
Công nghệ
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển kinh tế biển với tầm nhìn trở thành quốc gia mạnh về biển. Trong hành trình này, khoa học và công nghệ được xác định là “động lực kép”, vừa nâng cao năng suất, giá trị kinh tế, vừa giúp quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Từ nghiên cứu biển sâu, công nghệ xanh đến chuyển đổi số, những giải pháp công nghệ đang mở ra cánh cửa mới cho tăng trưởng biển bền vững.
Tiềm năng lớn của một quốc gia biển Nước ta có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là đường bờ biển dài khoảng 3.260 km; hơn 5.000 đảo đá, bãi cạn (theo số liệu công bố Tại Thông tư số Số: 33/2024/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên Môi trường – nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược rất quan trọng; các vùng biển
thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia rộng hơn 1 triệu km2. Riêng trong lĩnh vực thủy sản, đặc trưng đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển của Việt Nam đã cung cấp một lượng lớn nguồn lợi thủy sản cho nền kinh tế. Trong đó, khoảng gần 5 triệu tấn cá biển với khả năng khai thác bền vững là 2,3 triệu tấn/năm, cùng trữ lượng lớn tôm biển, mực và các loài sinh vật đáy trong
vùng triều. Khoảng 15 bãi cá lớn (12 bãi cá phân bổ ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi) cùng các bãi tôm phân bố ở vùng biển sát bờ thuộc Vịnh Bắc Bộ và biển Tây Nam Bộ đã được phát hiện và khai thác ổn định. Chú trọng công nghệ trong phát triển Nghị quyết số 36-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, ngày 22/10/2018, về Chiến
12.2025 lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đề ra mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, có sự phát triển bền vững, thịnh vượng, bảo đảm an ninh, an toàn nền kinh tế biển. Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị quyết là tăng cường ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ và hợp tác quốc tế trong phát triển. Cụ thể, ngày 26/6/2020, Chính phủ ban hành Quyết định số 896/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tăng cường năng lực và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030” nhằm tổ chức, nghiên cứu, tiếp cận, tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến trong xây dựng nền kinh tế biển... Còn trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế đến năm 2030 lại đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển. Cụ thể, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phát triển bền vững kinh tế biển. Ưu tiên đầu tư cho công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực biển; hình thành các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học biển, khai thác đáy biển sâu, công nghệ vũ trụ trong giám sát biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Đầu tư đội tàu nghiên cứu biển tiên tiến, thiết bị ngầm dưới biển có khả năng nghiên cứu ở các vùng biển sâu. Hiện thực hóa mục tiêu giàu mạnh từ biển Ngày 01/10/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 2985/QĐBKHCN kế hoạch triển khai thực hiện cam kết tự nguyện của Việt Nam “Thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế biển” giai đoạn 2025 - 2030”. Đây là bước cụ thể hóa cam kết của Việt Nam tại Hội nghị Đại dương Liên hợp quốc lần thứ ba (UNOC-3), khẳng định vai trò tiên phong của Việt Nam trong ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển xanh. Một trong ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm được đề ra trong kế hoạch này là phát triển khoa học và công nghệ biển làm nền tảng tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tập trung xây dựng
CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ | 27
Kinh tế biển Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để bứt phá. Khi khoa học và công nghệ được đầu tư đúng hướng, được triển khai rộng rãi và gắn chặt với thực tiễn sản xuất, Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ biển tiên tiến, hình thành các ngành kinh tế biển mới, tạo động lực tăng trưởng dài hạn.
đội ngũ nhà khoa học, nhất là các nhà nghiên cứu trẻ; tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về khoa học dữ liệu, công nghệ số và AI phục vụ nghiên cứu biển. Công nghệ đóng vai trò tiên phong trong phát triển kinh tế biển thông qua việc nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, phát triển du lịch và giảm thiểu tác động môi trường. Các địa phương có những cách làm hay như áp dụng công nghệ hiện đại vào nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch biển thông minh, và sử dụng công nghệ số để quản lý tài nguyên hiệu quả hơn. Tại tỉnh Quảng Ninh, ngày 10/8/2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 13-CT/TU “Về tăng cường công tác quản lý và phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản trên biển, nhiều mô hình nuôi biển ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số”. Theo đó, Chỉ thị định hướng phát triển ngành thủy sản theo mô hình công nghiệp, hiện đại, đạt chuẩn xuất khẩu. Điển hình như, tại Đặc khu Vân Đồn, HTX Thắng Lợi đã triển khai mô hình nuôi cá chim vây vàng bằng thức ăn công nghiệp, ứng dụng công nghệ quản lý đàn cá bằng phần mềm trực tuyến, giúp giảm chi phí nhân công, chính xác, hiệu quả. Hay như mô hình “Nuôi trồng thủy sản bền vững Vịnh Hạ Long gắn với bảo tồn di sản” ở làng chài Vông Viêng đã chứng minh khả năng kết hợp giữa công nghệ nuôi biển, du lịch sinh thái, gắn với bảo vệ môi trường và bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới. Trong đó, mô hình của Công ty CP Tập đoàn STP kết hợp nuôi rong sụn với hàu tại vùng biển Vân Đồn, vừa tận dụng hiệu quả không gian biển, vừa cải thiện chất lượng môi trường, được các nhà quản lý, nhà khoa học đánh giá cao. Tỉnh Gia Lai áp dụng công nghệ vào nuôi trồng thủy sản để kiểm soát chất lượng, phòng chống dịch bệnh, nâng cao giá trị sản phẩm và
hướng tới xuất khẩu. Trong đó, tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ (nuôi tuần hoàn, IoT, xử lý nước, giống sạch bệnh, chuyển đổi số) vào nuôi trồng thủy sản để quản lý chất lượng, phòng dịch hiệu quả, hướng tới sản xuất bền vững, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, gia tăng giá trị sản phẩm, và giảm phụ thuộc vào kháng sinh, xây dựng chuỗi giá trị xanh, truy xuất nguồn gốc cho thị trường khó tính (EU, Mỹ, Nhật). Tại Đà Nẵng, thành phố chủ trương xây dựng thành phố thông minh, trong đó có phát triển kinh tế biển. Ứng dụng công nghệ trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển các dịch vụ du lịch số, an toàn. Chính quyền 2 cấp mở ra nhiều không gian phát triển kinh tế biển Chia sẻ tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025 diễn ra tại tỉnh Quảng Ninh trong hai ngày 12 - 13/12, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, việc sắp xếp lại bộ máy, đơn vị hành chính trong thời gian qua đã tạo không gian mới cho phát triển dựa trên liên kết vùng, mở rộng không gian cho 34 tỉnh, kết nối thông suốt giữa vùng núi, vùng biển, vùng sâu, vùng xa và các vùng động lực phát triển. Còn theo GS.TS. Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, định hướng không gian phát triển kinh tế biển gắn với sắp xếp đơn vị hành chính mở ra cơ hội rất lớn cho Việt Nam. Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền 2 cấp sẽ tạo không gian phát triển mới, giảm thủ tục, giúp địa phương chủ động hơn trong khai thác bền vững và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Không gian tỉnh được mở rộng sẽ giúp tăng diện tích phát triển, thu hút những dự án lớn, đồng thời tạo điều kiện để các tỉnh không có biển kết nối ra biển, phát triển logistics và du lịch. Tuy nhiên, ông Thuận cũng chỉ ra rằng, mô hình “tỉnh - xã” sau sáp nhập có thể tạo ra khoảng trống quản lý ở cấp cơ sở, ảnh hưởng đến điều hành và giám sát tài nguyên biển nếu không có giải pháp phù hợp. Do đó, đề xuất một trong những giải pháp cần thực hiện đó là đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số, hình thành hệ sinh thái công nghệ biển, áp dụng hệ thống quan trắc - giám sát thời gian thực bằng IoT, vệ tinh và AI.
Hồng Hà
28
thuysanvietnam.com.vn
NHỮNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI MÀ THỦY SẢN VIỆT NAM ĐANG PHẢI GÁNH CHỊU Ngành thủy sản Việt Nam đang chịu cả rào cản thuế, kỹ thuật, truy xuất và cạnh tranh. Tuy nhiên, với lộ trình xanh hóa, hiện đại hóa truy xuất, nâng chuẩn sản xuất và mở rộng thị trường, ngành có cơ sở để vượt các rào cản và duy trì tăng trưởng bền vững.
1 2
RÀO CẢN THUẾ VÀ PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI Thuế đối ứng và thuế chống bán phá giá tăng ở một số thị trường lớn. Nhiều mặt hàng như tôm, cá tra phải chịu mức thuế cao hơn sau các kỳ rà soát. Tác động: Tăng chi phí, giảm lợi nhuận, nguy cơ bị hủy đơn hàng, buộc doanh nghiệp chuyển hướng thị trường.
TRUY XUẤT NGUỒN GỐC VÀ IUU EU tiếp tục duy trì cảnh báo IUU, yêu cầu minh bạch hóa dữ liệu khai thác. Mỹ siết kiểm soát truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn nghề cá theo các quy định mới. Các luật và chuẩn mực như FSMA 204 đòi hỏi hệ thống lưu trữ dữ liệu chi tiết. Tác động: Kéo dài thời gian thông quan, tăng chi phí kho bãi và xử lý hồ sơ.
RÀO CẢN KỸ THUẬT VÀ TIÊU CHUẨN NHẬP KHẨU
3
EU thúc đẩy tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải và hạn chế hóa chất/kháng sinh. Nhiều thị trường áp dụng mức dư lượng tối đa (MRL) rất thấp. Trung Quốc tăng kiểm soát an toàn thực phẩm và yêu cầu đăng ký nghiêm ngặt doanh nghiệp xuất khẩu. Tác động: Doanh nghiệp khó đáp ứng ngay, rủi ro bị trả hàng hoặc chậm thông quan.
4
ÁP LỰC CẠNH TRANH QUỐC TẾ Ecuador và Ấn Độ duy trì giá thành thấp, quy mô sản xuất lớn, gây áp lực mạnh với Việt Nam ở các phân khúc đại chúng. Tác động: Giảm sức cạnh tranh, nhất là với sản phẩm thô hoặc ít chế biến.
12.2025
29
GIẢI PHÁP – HƯỚNG ĐI CỦA VIỆT NAM 1. TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC
2. TỪ PHÍA DOANH NGHIỆP
Tập trung tối đa nguồn lực để gỡ "Thẻ vàng" IUU thông qua việc sửa đổi Luật, tăng chế tài xử phạt (Nghị định 37) và kiểm soát chặt đội tàu khai thác (lắp đặt VMS, quản lý hạn ngạch).
Chuyển dịch mạnh từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu (tôm bao bột, phối trộn, ăn liền...) để tránh cạnh tranh trực tiếp về giá với Ecuador/Ấn Độ và tận dụng ưu thế tay nghề chế biến của công nhân Việt Nam.
Đẩy mạnh đàm phán với Mỹ để công nhận quy chế kinh tế thị trường (nhằm giảm thuế chống bán phá giá/trợ cấp) và làm việc với EU để duy trì ưu đãi thuế quan (EVFTA). Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nghề cá (VNFishbase) và triển khai Nhật ký khai thác điện tử (eCDT) để đồng bộ hóa việc truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của FSMA 204 (Mỹ).
Đầu tư vùng nuôi đạt chuẩn quốc tế (ASC, BAP, Organic), giảm phát thải carbon, sử dụng năng lượng tái tạo và áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn (tận dụng phụ phẩm) để đáp ứng tiêu chuẩn bền vững của EU/Mỹ. Thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử nội bộ, minh bạch hóa dòng tiền và số liệu kế toán để sẵn sàng cho các đợt thanh tra chống bán phá giá/trợ cấp. Mở rộng sang các thị trường ngách tiềm năng (Halal, nội địa Trung Quốc) và các thị trường trong khối CPTPP, ASEAN.
30 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Uni-President Việt Nam
Năm 2025 đánh dấu bước tiến mới trong đồng hành và khát vọng phát triển bền vững Năm 2025 đã là một hành trình đầy cam go. Ngành nuôi trồng thủy sản liên tục phải đối mặt với dịch bệnh, những thay đổi khắc nghiệt của khí hậu và áp lực không ngừng từ thị trường xuất khẩu. Nhưng trong khó khăn ấy, Uni-President không hề đứng ngoài cuộc. Chúng tôi đã chọn sát cánh cùng người nuôi, biến thách thức thành động lực thông qua những dự án thí điểm thành công và những hoạt động đầy tâm huyết. Đây không chỉ là công việc kinh doanh, mà còn là lời khẳng định đanh thép cho một triết lý: Phát triển phải bền vững, tối ưu hiệu quả cho bà con.
12.2025 Đại hội khách hàng 2025: Tri ân và cam kết Khép lại năm 2025 đáng nhớ, hoạt động Đại hội Khách hàng thường niên của công ty UniPresident Việt Nam được tổ chức tại Quảng Đông – Trung Quốc. Sự kiện đã quy tụ gần 500 khách hàng và đối tác thân thiết, tạo nên một không gian ấm cúng, ý nghĩa. Đại hội không chỉ là dịp để UniPresident gửi lời tri ân sâu sắc đến những người nuôi đã tin tưởng và đồng hành suốt thời gian qua, mà còn là diễn đàn quan trọng để lắng nghe những chia sẻ, kinh nghiệm thực tế từ chính bà con. Thông qua sự kiện này UniPresident khẳng định mối quan hệ hợp tác không chỉ dừng lại ở giao dịch, mà còn là sự gắn kết bền chặt và cùng nhau hướng tới tương lai nuôi trồng bền vững. “Chúng tôi luôn xem người nuôi tôm là đối tác quan trọng nhất. Phương châm của Uni-President là dốc sức nghiên cứu kỹ thuật nuôi tiên tiến, cung cấp những sản phẩm hỗ trợ chất lượng cao với mức giá dễ tiếp cận, giúp bà con nuôi tôm, nuôi cá đạt lợi nhuận tối đa. Mục tiêu cuối cùng là cùng nhau xây dựng một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, tạo nên con
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 31 đường phát triển lâu dài, thịnh vượng cho thủy sản Việt Nam”. Giải pháp mới cho vụ mùa thắng lợi Sắp sang năm mới, UniPresident tiếp tục mang đến những giải pháp đột phá, bền vững ra mắt người nuôi. TP100 - Khởi đầu trăm phần trăm! Sản phẩm thức ăn cao cấp chuyên biệt cho tôm giống, được nghiên cứu với công thức dinh dưỡng đặc biệt để bảo vệ gan tụy và đường ruột tôm gièo còn non nớt, phòng tránh hiệu quả các bệnh như TPD và EMS ngay từ giai đoạn đầu. Với kích thước hạt tối ưu, tăng cường dưỡng chất, TP100 đảm bảo tôm giống có sự khởi đầu khỏe mạnh nhất. X-NO2 - Ổn định môi trường nước, làm giảm NO2 hiệu quả: Sản phẩm vi sinh này là “người hùng” trong việc kiểm soát khí độc trong ao nuôi – vấn đề đau đầu muôn thuở của người nuôi tôm. Rất nhiều khách hàng nuôi tôm ở khu vực Tây Nam đã sử dụng và đánh giá hiệu quả rõ rệt, tạo môi trường ao nuôi lành mạnh, không chỉ nâng cao sức khỏe tôm cá mà còn giúp tiết kiệm chi phí nuôi đáng kể!
Chắp cánh niềm tin, hướng tới 2026 đầy hứa hẹn Năm 2025 đầy nỗ lực đã đi qua và khép lại bằng sự kiện Đại hội khách hàng thành công rực rỡ. Tất cả những thành tựu đã đạt được trong năm cũ sẽ là nền tảng vững chắc để Quý khách hàng
Ông Liou Hai Hua - Phó Tổng Giám Đốc Uni-President Việt Nam phát biểu tại Đại hội
cùng Uni-President VN tiến bước vào năm 2026 với những bức phá vượt bật hơn nữa. Chúng tôi tin rằng, với sự đồng hành tận tâm và những giải pháp kỹ thuật tiên tiến, người nuôi thủy sản Việt Nam sẽ hoàn toàn tự tin bước vào vụ nuôi, nâng cao cả năng suất lẫn chất lượng thành phẩm thủy sản, tạo sức cạnh tranh vững vàng với các quốc gia trong ngành trên thị trường quốc tế. Để tìm hiểu thêm về các giải pháp và quy trình nuôi tôm hiệu quả, bà con có thể liên hệ với đội ngũ nhân viên Uni-President qua số HotLine 02743.732.723, hệ thống đại lý trên toàn quốc, hoặc gửi tin nhắn trực tiếp qua Fanpage chính thức trên Facebook, để được lắng nghe và hỗ trợ trong thời gian sớm nhất. Uni-President - Luôn đồng hành và hỗ trợ quý khách.
Uni-President Việt Nam
32
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
33
34
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
35
36
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
37
38 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
Skretting Việt Nam và Entobel hợp tác chiến lược nhằm thúc đẩy sản xuất thức ăn tôm bền vững
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
S
kretting Việt Nam và Entobel chính thức công bố quan hệ hợp tác chiến lược nhằm đưa bột protein côn trùng (H-Meal) vào sản xuất thức ăn tôm thương mại của Skretting. Mục tiêu kép của hợp tác này là tăng tính linh hoạt trong công thức thức ăn — giảm phụ thuộc vào nguyên liệu biển — đồng thời mang đến cho người nuôi tôm tại Việt Nam và các thị trường khác những dòng sản phẩm có dấu chân carbon thấp và được sản xuất một cách có trách nhiệm. Đây là một trong những mô hình ứng dụng bột côn trùng vào thức ăn tôm ở quy mô lớn đầu tiên tại châu Á, đồng thời cũng là thức ăn tôm thương mại đầu tiên có thành phần bột côn trùng tại Việt Nam, thể hiện tầm nhìn chung của hai doanh nghiệp trong việc thúc đẩy tính bền vững và kinh tế tuần hoàn cho ngành thủy sản. “Việc tích hợp bột côn trùng vào thức ăn tôm là bước tiến quan trọng trong hành trình xây dựng chuỗi giá trị thủy sản bền vững hơn,” ông Duco Onnes, Tổng Giám đốc Nutreco Việt Nam, chia sẻ. “Hợp tác với Entobel giúp chúng tôi mang đến dinh dưỡng hiệu suất cao cho khách hàng, theo cách thân thiện hơn với môi trường.” Nguyên liệu từ côn trùng mang lại những lợi ích bền vững đã được chứng minh cho ngành thủy sản. Dựa trên phân tích Vòng đời Sản phẩm (LCA), bột côn trùng có hồ sơ carbon thấp — hiện chỉ hơn 1 kg CO 2 / kg và đang tiến gần mục tiêu <1 kg — hoàn toàn phù hợp với định hướng WWF Basket Blueprint (https://www.wwf. org.uk/basket-blueprint). Bằng việc chuyển hóa phụ phẩm thực phẩm thành nguồn dinh dưỡng
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 39 giá trị cao, nguyên liệu này giúp giảm lãng phí và giảm phụ thuộc vào nguyên liệu biển. Thông qua việc tích hợp vào sản phẩm thương mại, Skretting và Entobel mang lại tác động thực tế: giảm FFDR, duy trì tăng trưởng tốt khi sử dụng trong khẩu phần cân đối, và tăng tính bền vững của chuỗi cung ứng cho người nuôi cũng như thị trường toàn cầu. “Chúng tôi tự hào khi đồng hành cùng Skretting để chứng minh rằng tính bền vững và hiệu suất hoàn toàn có thể song hành,” ông Alexandre de Caters, Đồng sáng lập Entobel, cho biết. “Sự kết hợp này cho thấy đổi mới theo hướng tuần hoàn có thể giảm áp lực lên đại dương và củng cố chuỗi giá trị thực phẩm.” Các thử nghiệm của Skretting xác nhận rằng bột côn trùng mang lại tốc độ tăng trưởng ổn định, hiệu quả chuyển hóa thức ăn và giá trị dinh dưỡng tương đương nguyên liệu biển truyền thống. Bên cạnh đó, nghiên cứu nội bộ cũng cho thấy nguồn nguyên liệu này có thể mang lại một số tác dụng chức năng nhờ các thành phần tự nhiên như chitin và axit lauric — vốn đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng thủy sản. Sản xuất thương mại thức ăn tôm có chứa H-Meal đã bắt đầu từ tháng 11/2025, với kế hoạch mở rộng sang các loài nuôi và thị trường khác trong thời gian tới. Quan hệ hợp tác này thể hiện cam kết toàn cầu của Skretting đối với đổi mới và bền vững — biến tiến bộ khoa học thành những tác động thực sự, đo lường được trên toàn chuỗi giá trị thủy sản.
Skretting
Về Skretting Skretting là đơn vị dẫn đầu toàn cầu trong lĩnh vực dinh dưỡng và giải pháp bền vững dành cho ngành thủy sản. Sứ mệnh của chúng tôi là “Feed the Future” — cung cấp thức ăn chất lượng cao để hỗ trợ sản xuất thủy sản khỏe mạnh và bền vững. Skretting là thành viên của Nutreco, tập đoàn hàng đầu thế giới về dinh dưỡng vật nuôi và thức ăn thủy sản. Về Entobel Entobel là công ty công nghệ sinh học chuyên sản xuất protein bền vững từ Ấu trùng ruồi lính đen (BSF). Tại Việt Nam, Entobel chuyển hóa phụ phẩm hữu cơ thành nguồn nguyên liệu dinh dưỡng chất lượng cao, đóng góp vào hệ thống thực phẩm tuần hoàn và ít phát thải.
40
thuysanvietnam.com.vn
Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức họp báo công bố Triển lãm Quốc tế Khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam - VINAFIS EXPO với chủ đề “Thủy sản Việt Nam vươn mình”.
VINAFIS EXPO 2026
Thủy sản Việt Nam vươn mình Triển lãm Quốc tế Khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của ngành thủy sản trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững. Ngày 13/10/2025, Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức họp báo công bố Triển lãm Quốc tế Khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam lần thứ I VINAFIS EXPO 2026. Sự kiện sẽ diễn ra trong 3 ngày từ 28 - 30/4/2026 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), TP. Hồ Chí Minh.
T
riển lãm Quốc tế Khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam - VINAFIS EXPO 2026 với chủ đề “Thủy sản Việt Nam vươn mình” được Bộ Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận ngày 10/10/2025 tại Văn bản số 7767/BNNMT-CTSKN. VINAFIS EXPO 2026 là triển lãm đầu tiên bao quát toàn ngành thủy sản, mở ra cơ hội giao lưu, kết nối toàn diện cho các cá nhân, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nằm trong chuỗi giá trị ngành thủy sản, từ khai thác, nuôi trồng, dịch vụ hậu cần nghề cá đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm, logistics. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 200 gian hàng của các tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế, trưng bày những sản phẩm, công nghệ mới và dịch vụ trong nhiều lĩnh vực như: Nuôi trồng, khai thác, chế biến, giống, thức ăn, chế phẩm sinh
học, logistics và thương mại. Đặc biệt, 40% đơn vị tham gia VINAFIS EXPO 2026 đến từ các nước như: Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... VINAFIS EXPO 2026 sẽ diễn ra nhiều hoạt động quan trọng, trong đó hội thảo khoa học quốc tế tập trung vào các chủ đề nóng như: Phát triển nuôi biển bền vững, dinh dưỡng và phòng bệnh thủy sản, công nghệ chế biến - bảo quản, logistics, đổi mới sáng tạo trong chuỗi giá trị. Diễn đàn chuyên ngành tôm Việt Nam (VietShrimp Forum) và hội thảo quốc tế về công nghệ nuôi biển (VinaMarine Aqua) hứa hẹn thu hút đông đảo chuyên gia, doanh nghiệp và nhà quản lý, bà con nông - ngư dân tham dự. Diễn ra trong dịp kỷ niệm Ngày truyền thống Ngành Thủy sản Việt Nam (01/4), VINAFIS EXPO 2026 được đánh giá là sự kiện
trọng điểm quốc gia, thể hiện khát vọng đưa ngành thủy sản Việt Nam phát triển theo hướng xanh - bền vững, hội nhập quốc tế sâu rộng. Với thông điệp “Khác biệt để vươn tầm”, sự kiện không chỉ là nơi giới thiệu thành tựu mà còn là cầu nối hợp tác, đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các bên liên quan trong và ngoài nước. Theo ông Nguyễn Việt Thắng Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, Triển lãm lần này có bước tiến mới nhằm nâng cao chất lượng, tập hợp đông đảo hơn nữa các nhà khoa học, các doanh nghiệp công nghệ… để đưa tất cả công nghệ đó đến với ngành, với doanh nghiệp và người nuôi trồng thủy sản. Về phần mình, ông Nguyễn Hữu Dũng - Tổng Thư ký Hội Thủy sản Việt Nam nhấn mạnh, Triển lãm Quốc tế Khoa học công nghệ ngành thủy sản Việt Nam - VINAFIS EXPO 2026 sẽ là một chuỗi các sự kiện. Triển lãm có sự tham gia của nhiều đoàn khách quốc tế, Hội Nghề cá ASEAN, Hội Nghề cá Trung Quốc, Hội Nghề cá Hàn Quốc… Ngoài ra, trong khuôn khổ Triển lãm còn bao gồm nhiều hoạt động quan trọng như lễ thả cá nhân ngày truyền thống và trao giải Danh hiệu Chất lượng vàng thủy sản Việt Nam. Chia sẻ trong cuộc họp báo công bố Triển lãm ngày 13/10/2025 tại Hà Nội, TS. Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, kỳ vọng VINAFIS EXPO 2026 không chỉ là dịp trưng bày, quảng bá sản phẩm và công nghệ mới, mà còn là diễn đàn để cùng bàn luận về con đường phát triển ngành thủy sản Việt Nam theo hướng bền vững, hiệu quả và hội nhập sâu rộng hơn trong thời gian tới. Hồng Hà
12.2025
41
42 | NUÔI TRỒNG
thuysanvietnam.com.vn
NÂNG CAO GIÁ TRỊ HÀU VÂN ĐỒN Hàu Vân Đồn là đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh Quảng Ninh, mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân. Việc áp dụng quy trình nuôi an toàn, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đa dạng sản phẩm đang được triển khai nhằm nâng
Ảnh: BAVABI
cao giá trị thương phẩm của loài nhuyễn thể này.
12.2025 Thủ phủ hàu Hàu biển là một trong những hải sản được ưa thích của người tiêu dùng, mang lại giá trị kinh tế cao cho ngư dân. Nghề nuôi hàu tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu người dân ven biển. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), không chỉ luôn hút khách ở thị trường trong nước, hàu còn là mặt hàng xuất khẩu giá trị cao trong các sản phẩm nhuyễn thể. Đặc khu Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) có gần 1.600 km² mặt nước, giàu nguồn dinh dưỡng tự nhiên, độ mặn ổn định và môi trường biển sạch. Đây là điều kiện lý tưởng cho loài nhuyễn thể như hàu sữa sinh trưởng. Hàu Vân Đồn là một trong 12 chuỗi nông sản chủ lực của tỉnh Quảng Ninh. Với khoảng 3.800 ha nuôi hàu, sản lượng đạt trên 12 triệu tấn/năm, đặc khu Vân Đồn được xem là vùng nuôi hàu lớn nhất ở địa phương. Anh Hoàng Văn Thụ, một hộ nuôi thủy sản ở khu vực Cái Rồng, chia sẻ: “Nuôi hàu tương đối dễ, không tốn chi phí cho thức ăn vì chúng sống nhờ sinh vật phù du như tảo, chỉ cần kiểm tra và vệ sinh để hạn chế bị các sinh vật, đất bùn bám vào làm hàu chết, hoặc chậm phát triển. Mặc dù năm đầu tiên có chi phí đầu tư lớn, song các năm sau chỉ cần tái đầu tư giống. Hiện, đây là nghề có thu nhập ổn định hơn so với nuôi các loài khác”. Nhằm đảm bảo phát triển bền vững, đặc khu Vân Đồn cũng đã triển khai chuyển đổi toàn bộ phao xốp sang phao nhựa HDPE, loại vật liệu thân thiện với môi trường. Cùng với đó, các hợp tác xã, doanh nghiệp được khuyến khích thực hiện đăng ký và cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển, tiến tới quản lý vùng nuôi hiệu quả hơn, đảm bảo lợi ích dài lâu giữa con người và tự nhiên. Điệp khúc “được mùa mất giá” Sau bão Yagi (đầu tháng 9/2024), nhiều vùng nuôi ở Vân Đồn bị thiệt hại nặng, buộc địa phương phải quy hoạch lại và tạm giao mặt nước để người dân khôi phục sản xuất. Tuy nhiên, một năm sau khi tái thiết, đến kỳ thu hoạch, hàu lại rơi vào cảnh “được mùa mất giá”, khi hàu sữa chỉ được thu mua với giá 4.000 - 6.000 đồng/kg và thậm chí khó bán do thương lái không mặn mà. Một trong những nguyên nhân khiến giá hàu giảm là do mật độ nuôi quá dày ảnh
NUÔI TRỒNG | 43 hưởng lớn đến thời gian phát triển và chất lượng của hàu khi thu hoạch. Theo quy trình của Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh, mỗi giá thể chỉ nên có 25 - 30 con hàu, nhưng thực tế nhiều hộ nuôi tới 70 - 100 con. Khoảng cách giữa các dây hàu cũng bị thu hẹp còn 25 - 30 cm thay vì 35 - 40 cm, dẫn tới khan hiếm nguồn thức ăn và tăng cạnh tranh giữa các cá thể. Bà Phạm Thị Thu Hiền - Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại thủy sản Quảng Ninh (Bavabi), Chi hội trưởng Chi hội nuôi biển Vân Đồn, cho biết mật độ nuôi quá dày làm chậm sinh trưởng, giảm chất lượng thịt và tăng nguy cơ bệnh. Chất lượng không đảm bảo khiến doanh nghiệp thu mua trả giá thấp, thậm chí hàu ruột nhỏ chỉ được dùng làm thức ăn cho tôm hùm, người nuôi không có lãi. Theo bà Hiền, hàu đạt chuẩn thì 1 tấn hàu tách phải thu được tối thiểu 100 kg ruột. Bên cạnh đó, ông Ngô Văn Kết - Giám đốc Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản Đoàn Kết Thắng Lợi (thôn Cống Tây, Vân Đồn) cho rằng, “nút thắt” lớn nhất khiến giá hàu giảm là do sản phẩm chưa có truy xuất nguồn gốc, chưa đủ điều kiện xuất khẩu. Hiện, hàu của Vân Đồn chủ yếu xuất khẩu qua Đài Loan, chưa mở rộng được sang những nước khác. Trước đây, hàu sữa của hợp tác xã từng xuất sang Dubai qua doanh nghiệp trung gian với giá khoảng 300.000 đồng/kg và được đánh giá cao, nhưng việc xuất khẩu không thể duy trì vì thiếu giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) và chất lượng (CQ). Để được cấp các giấy tờ này, các hợp tác xã cần có quyết định giao khu vực biển chính thức, trong khi nhiều đơn vị hiện vẫn chưa được cấp. Theo Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển của Đặc khu Vân Đồn, địa phương có hơn 23.800 ha diện tích nuôi biển với 91 vùng nuôi. Đến tháng 10/2025, trên địa bàn có 142 doanh nghiệp và hợp tác xã đăng ký giao khu vực biển nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, mới có 7/14 doanh nghiệp và 7/128 hợp tác xã được UBND tỉnh cấp phép giao khu vực biển; nhiều đơn vị vẫn đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, đo đạc và xác nhận ranh giới vùng nuôi. Phát triển chuỗi bền vững Để tháo gỡ khó khăn cho các hộ nuôi trồng thủy sản, cấp uỷ, chính quyền đặc khu Vân Đồn; các sở, ngành của tỉnh Quảng Ninh
Theo Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển của Vân Đồn, đặc khu có 23.821 ha diện tích nuôi biển, gồm 91 vùng nuôi, trong đó: Quy hoạch 33 vùng nuôi nhuyễn thể với diện tích: 6.722,72 ha. Nghề nuôi hàu không chỉ đóng góp lớn cho kinh tế của đặc khu, mà còn tạo ra sinh kế ổn định cho gần 5.000 lao động, gồm cả lao động nuôi trồng, khai thác và dịch vụ hậu cần.
cũng đã có nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, các hợp tác xã như tổ chức Hội nghị đối thoại để lắng nghe, giải quyết các kiến nghị liên quan đến việc giao mặt nước nuôi thủy sản và bình ổn giá bán hàu trên địa bàn; tích cực vào cuộc, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân nuôi trồng thủy sản,… Đồng thời, địa phương cũng tổ chức các hoạt động kết nối các nhà sản xuất tham gia hội chợ quảng bá sản phẩm trong và ngoài tỉnh, hướng dẫn bà con tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính, kinh phí,… Nhờ vậy, những năm gần đây, người nuôi hàu ở Vân Đồn không chỉ chú trọng sản lượng mà còn đầu tư theo hướng chuỗi giá trị khép kín, từ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đến chế biến sâu và tiêu thụ sản phẩm. Theo các chuyên gia thủy sản, việc nuôi hàu mật độ dày và kéo dài thời gian thu hoạch khiến ruột hàu nhỏ, ảnh hưởng chất lượng sản phẩm. Vì vậy, Vân Đồn cần rà soát, giới hạn mật độ nuôi hợp lý, đồng thời nghiên cứu để phát triển các đơn vị cung cấp giống hàu tại địa phương. Xác định phát triển nghề nuôi hàu theo chuỗi giá trị bền vững và thân thiện với môi trường là hướng đi chiến lược, Vân Đồn đang tập trung quy hoạch vùng nuôi, khuyến khích đầu tư công nghệ chế biến và xây dựng thương hiệu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, tăng cường quảng bá thương hiệu, kết nối thị trường trong và ngoài nước, phát triển sản phẩm chế biến sâu, tạo giá trị gia tăng để hướng tới kinh tế biển xanh.
Thanh Hiếu
thuysanvietnam.com.vn
Ảnh: Ramihalim
44 | CHẾ BIẾN
Doanh nghiệp thủy sản và rào cản thương mại Theo các doanh nghiệp, gần như tất cả những yếu tố nào gây khó khăn cho việc xuất khẩu thủy sản đều được xếp vào nhóm rào cản thương mại. Tuy nhiên, nếu xét về chiều sâu và có sự cân bằng của các yếu tố về kinh tế, môi trường lẫn xã hội thì không hẳn tất cả đều là rào cản, thậm chí có một số yếu tố trở thành động lực, thành điều kiện để hướng đến chuỗi cung ứng hiệu quả và bền vững hơn.
Thuế - rào cản khó đoán Chia sẻ về các rào cản thương mại đối với ngành thủy sản, các doanh nghiệp đều cho rằng “thị trường nào cũng có”, nhưng không phải thị trường nào cũng giống nhau. Đơn cử như đối với thị trường Mỹ, rào cản lớn nhất và cũng khó đoán nhất của sản phẩm thủy sản hiện nay là vấn đề thuế.
Nói đến câu chuyện thuế ở thị trường Mỹ trong bối cảnh hiện nay, chắc hẳn mọi người sẽ nhắc nhiều đến mức thuế đối ứng. Điều này cũng không có gì lạ, bởi đây cũng chính là sắc thuế từng gây khá nhiều ồn ào, gây rối loạn kinh tế, làm gián đoạn tạm thời một số chuỗi cung ứng… thế giới. Sau các bước đàm phán đầu
tiên, hiện tại, mức thuế này đối với hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ là 20%, tuy không quá cao so với đối thủ nhưng ít nhiều đã có tác động tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước trong những tháng cuối năm 2025. Tuy nhiên, theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ
phần Thực phẩm Sao Ta, thuế đối ứng là câu chuyện giữa hai Chính phủ với nhau, nên hiện tại doanh nghiệp chỉ có thể kỳ vọng vào một kết quả đàm phán tốt đẹp giữa Chính phủ hai nước để con tôm Việt nam nhẹ bớt nỗ lo về mức thuế này. Liên quan đến rào cản về thuế, theo các doanh nghiệp thủy sản,
12.2025 điều đáng lo nhất hiện nay không phải là thuế đối ứng, mà chính là thuế chống bán phá giá tôm tại trường Mỹ. Đây là sắc thuế không mới, nếu không muốn nói là quá quen thuộc đối với doanh nghiệp ngành tôm và cá tra của Việt Nam. Tuy nhiên, với mức thuế sơ bộ dành cho bị đơn bắt buộc lần này trên 35% được doanh nghiệp đánh giá là rủi ro rất lớn cho ngành tôm không chỉ ở những tháng cuối năm. Mà quan trọng hơn là cả năm 2026. Đây chính là điều khiến các doanh nghiệp đều lo âu dù hiện tại mức thuế này vẫn chưa áp dụng. Theo ông Lực, câu chuyện thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp lần này có đôi chút phức tạp chứ không đơn giản như góc nhìn ban đầu. Vì vậy, thời gian qua, khi xuất khẩu vào Mỹ, doanh nghiệp đã phải trích lập dự phòng 8% theo quy định của ngành kiểm toán. Rào cản phi thuế quan Nếu như thuế quan là rào cản thương mại chính, gây khó khăn cho doanh nghiệp tại thị trường Mỹ, thì sự rối rắm của các quy định về IUU, về cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), về thẩm định chuỗi cung ứng… từ thị trường EU đã và đang được doanh nghiệp đánh giá là những thách thức và rủi ro lớn khi xuất khẩu vào thị trường này. Chỉ riêng câu chuyện thẻ vàng IUU, dù Chính phủ, các bộ ngành và địa phương đã vào cuộc rất quyết liệt trong gần 10 năm qua nhưng đến nay vẫn chưa khắc phục được, khiến nguy cơ sản phẩm thủy sản khai thác đánh mất thị trường EU đang ngày càng đáng lo hơn. Hay như Đạo luật bảo tồn động vật có vú biển (MMPA) cũng đang trở thành rào cản không nhỏ cho việc xuất khẩu một số sản phẩm khai thác biển vào thị trường Mỹ.
CHẾ BIẾN | 45 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã có hiệu lực trong mấy năm nay, nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là con tôm vào thị trường này trong những năm qua là chưa tương xứng với tiềm năng và sự kỳ vọng. Nguyên nhân chủ yếu theo doanh nghiệp là tỷ lệ sản phẩm đạt tiêu chuẩn của EU (như ASC chẳng hạn) chưa nhiều, giá thành sản phẩm còn quá cao. Tới đây, các quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn môi trường, xã hội... của EU và các nước nhập khẩu ngày càng khắt khe thì chỉ riêng việc giữ vững thị trường thôi đã khó. Theo các doanh nghiệp, trong tương lai gần, tôm nuôi xuất khẩu vào EU phải đạt chuẩn (như ASC) mới thuận lợi để thu hút người tiêu dùng. Trong khi đó, hiện tỉ lệ tôm nuôi Việt Nam đạt chuẩn ASC còn rất khiêm tốn. Đây là một hạn chế lớn để tôm ta thâm nhập các hệ thống phân phối cao cấp. “Do tỷ lệ tôm nuôi đạt ASC thấp, cộng thêm giá thành cao, nên dù có lợi thế về chế biến sâu và EVFTA, nhưng thị phần tôm Việt Nam ở EU chỉ quanh quẩn ở vị trí thứ 2 hoặc thứ 3 nhiều năm nay. Trong khi đó, tôm nuôi Ecuador có từ 30-40% đạt chuẩn này, cộng thêm giá thành thấp, nên dù tham gia thị trường EU muộn hơn nhưng hiện tôm Ecuador có thị phần khó ai dám mơ tới ở EU.
Đây là một nút thắt cổ chai mà mọi thành phần tham gia chuỗi giá trị con tôm Việt Nam nên có quan tâm và tìm cách tháo gỡ”, ông Lực chia sẻ thêm. Rào cản cũng là động lực Bên cạnh các rào cản thương mại chính là thuế quan và phi thuế quan, theo các doanh nghiệp, một số yếu tố khác như: chi phí vận tải tăng, cạnh tranh gay gắt, các biện pháp bảo hộ sản xuất nội địa và các bất ổn địa chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu cũng là những rào cản gây không ít khó khăn cho hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên, điều doanh nghiệp quan tâm nhất trong số những rào cản này chính là giá tôm nguyên liệu trong nước luôn ở mức quá cao so với các cường quốc tôm khác, như: Ecuador, Ấn Độ, thậm chí là cả Indonesia. Ông Võ Văn Phục – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản sạch Việt Nam (Vinacleanfood), chia sẻ: “Giá thành sản xuất tôm của Việt Nam thường cao hơn các nước có khi lên đến 1 USD/kg. Vì vậy, tôm Việt Nam chỉ thật sự mạnh ở những phân khúc cao cấp, còn ở những phân khúc mà Ecuador và Ấn Độ làm được thì chúng ta rất khó cạnh tranh với họ”. Câu chuyện rào cản thương mại cũng được các doanh nghiệp nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó có cả tích
Ảnh: Thế Vinh
cực, lẫn tiêu cực. Đơn cử như vấn đề thuế nói chung và thuế chống bán phá giá nói riêng gọi là rào cản là hoàn toàn phù hợp, nhưng một số vấn đề, như: truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, sản xuất xanh, tuần hoàn… thì một mặt là rào cản, nhưng mặt khác cũng là động lực để sản xuất bền vững hơn, là điều kiện để sản phẩm xâm nhập ngày một sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, như cách đánh giá của ông Lực: “Hiện nay, doanh nghiệp nào đáp ứng đầy đủ các chuẩn trong chuỗi cung ứng của EU thì có thể nói là gần như họ không cần phải đi tìm khách hàng, mà khách hàng EU sẽ tự tìm đến doanh nghiệp để đặt hàng”. Theo các doanh nghiệp, với thực trạng nuôi trồng thủy sản, nói chung và con tôm nói riêng còn nhỏ lẻ manh mún như hiện nay thì việc vượt rào cản, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trong chuỗi cung ứng thế giới là vấn đề hết sức nan giải. Vì vậy, vấn đề tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác gắn với liên kết chuỗi giá trị cũng như chính sách tích tụ đất đai là hết sức quan trọng trong thời gian tới. Có thể nói, việc hoàn thiện chuỗi cung ứng thủy sản là bước đi tất yếu không chỉ để vượt qua các rào cản mà còn giúp thủy sản Việt Nam có cơ hội lớn hơn trong việc xâm nhập ngày một sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đặc biệt, trong bối cảnh khó khăn, rủi ro ngày càng chồng chất, thì việc minh bạch và hoàn thiện chuỗi cung ứng sẽ là một sự thuyết phục hết sức hữu hiệu giúp ngành tôm nói riêng và thủy sản nói chung không chỉ giữ vững mà còn gia tăng uy tín, thị phần tại thị trường EU.
Xuân Trường
46 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn
Thủy sản toàn cầu
Bứt tốc trên đường đua thương mại Áp lực rào cản thương mại, gồm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan phức tạp buộc các nhà xuất khẩu phải nâng cao chất lượng sản phẩm, tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế và tìm kiếm thị trường thay thế để duy trì lợi nhuận và phát triển bền vững.
Hàng rào dày đặc Trong hai thập niên gần đây, các rào cản thương mại ngày càng đa dạng và nghiêm ngặt, bao gồm thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu và các biện pháp phi thuế quan (NTBs), tạo áp lực lớn cho các nước xuất khẩu, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Rào cản phi thuế quan gồm các quy định về kiểm dịch, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận bền vững, tiêu chuẩn kỹ thuật, cũng như hạn chế đánh bắt bất hợp pháp (IUU). Mỹ và EU cấm nhập khẩu thủy
12.2025 sản chứa dư lượng kháng sinh vượt mức cho phép, đồng thời yêu cầu chứng nhận MSC hay ASC để đảm bảo khai thác bền vững. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn này không chỉ giúp sản phẩm xuất khẩu tăng giá trị và tiếp cận nhóm khách hàng cao cấp, mà còn tránh bị đình chỉ xuất khẩu hoặc cấm nhập khẩu, như cảnh báo “thẻ vàng IUU” mà EU từng áp dụng với thủy sản Việt Nam. Bên cạnh NTBs, thuế quan cũng là rào cản quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh chiến lược bảo hộ thương mại gia tăng. Mỹ, EU và một số thị trường khác áp dụng mức thuế bổ sung đối với cá tra, tôm từ các nước đang phát triển. EU cũng áp dụng các biện pháp thuế chống bán phá giá và thuế đối ứng nhằm điều tiết giá cả và bảo vệ ngành thủy sản nội địa. Thuế nhập khẩu cao đối với sản phẩm vượt hạn mức cũng là một cơ chế phổ biến để hạn chế cạnh tranh nước ngoài, buộc các nhà xuất khẩu phải điều chỉnh giá bán hoặc giảm khối lượng xuất khẩu. Hạn ngạch nhập khẩu là một công cụ quan trọng khác. EU áp dụng hệ thống hạn ngạch tự trị (ATQ) cho cá ngừ, cá tuyết, tôm… trong đó các sản phẩm nằm trong hạn mức được miễn hoặc giảm thuế, nhưng nếu vượt hạn ngạch thì bị áp thuế cao. Na Uy và EU đã ký thỏa thuận hạn ngạch nhập khẩu, trong đó EU dành số lượng nhất định cho cá thu, cá trích và tôm đánh bắt tự nhiên từ Na Uy. Tương tự, Hàn Quốc vẫn duy trì hạn ngạch nhập khẩu tôm từ Việt Nam khoảng 15.000 tấn/năm với mức thuế ưu đãi, buộc các doanh nghiệp phải đấu thầu để giành quyền xuất khẩu. Những hạn ngạch này không chỉ giới hạn khối lượng xuất khẩu mà còn gián tiếp điều chỉnh giá cả và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Cú sốc thuế quan Gần đây, các chính sách thuế quan của Mỹ đã tạo ra những biến động mạnh trên thị trường thủy sản toàn cầu, vừa gây áp lực vừa mở ra cơ hội mới cho nhiều quốc gia xuất khẩu. Các biện pháp thuế quan của Mỹ đối với Canada cũng tác động mạnh đến thị trường toàn cầu. Mức thuế 25% áp dụng cho hàng hóa Canada khiến nước này gặp khó khăn xuất khẩu trực tiếp sang Mỹ, buộc họ tìm các thị trường thay thế. Canada đã tăng cường thương mại với Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á, đưa cá tuyết, cua tuyết và tôm hùm vào các chuỗi chế biến quốc tế.
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 47 Điều này đồng thời tạo áp lực cạnh tranh trực tiếp với các nhà xuất khẩu khác, như Na Uy và Chile, khi các sản phẩm Canada có giá cạnh tranh tại những thị trường cao cấp. Tại Trung Quốc, thuế Mỹ cũng gây tác động kép. Đầu tiên là tăng chi phí xuất khẩu, buộc doanh nghiệp Trung Quốc phải tìm thị trường khác như Đông Nam Á, Nhật Bản hay Trung Đông. Thứ hai, áp lực giảm xuất khẩu sang Mỹ khiến Trung Quốc tập trung vào thị trường nội địa, làm tăng cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu từ các quốc gia khác, bao gồm Na Uy, Chile và Ấn Độ. Đồng thời, việc Mỹ siết chặt các tiêu chuẩn nhập khẩu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc buộc các quốc gia xuất khẩu phải nâng cấp quy trình chế biến, áp dụng chứng nhận quốc tế và cải thiện quản lý chuỗi cung ứng để duy trì khả năng cạnh tranh. Các cú sốc thuế quan này không chỉ gây ra sự xáo trộn trong xuất khẩu mà còn làm thay đổi chiến lược toàn cầu của các quốc gia, tạo áp lực cạnh tranh và chi phí, nhưng đồng thời mở ra cơ hội khai thác thị phần mới, nâng cao giá trị sản phẩm và thích ứng với các tiêu chuẩn khắt khe. Thị trường thủy sản toàn cầu vì vậy trở nên năng động và đa cực hơn, buộc các nhà xuất khẩu phải liên tục điều chỉnh chiến lược để duy trì lợi thế cạnh tranh. Chiến lược tầm nhìn dài hạn Ngành thủy sản Ấn Độ, vốn phụ thuộc vào thị trường Mỹ, đã tích cực đa dạng hóa điểm đến xuất khẩu: các doanh nghiệp tôm Coastal Corporation mở rộng sang Trung Quốc, Nga và Canada để giảm gánh nặng lệ thuộc vào Mỹ. Theo báo cáo CareEdge Ratings, trong giai đoạn đầu năm tài khóa FY26, giá trị xuất khẩu tôm của Ấn Độ sang các thị trường ngoài Mỹ (như Trung Quốc, Bỉ, Nga, Việt Nam) chiếm tới 86% tăng trưởng, minh chứng cho xu hướng đa dạng hóa điểm đến. Ở thị trường châu Âu, Ấn Độ cũng đã vượt qua rào cản chất lượng: sau nhiều năm đàm phán, 102 cơ sở thủy sản của Ấn Độ đã được EU phê duyệt, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hội nhập sâu hơn vào các thị trường chất lượng cao. Đồng thời, chính phủ Ấn Độ thúc đẩy các doanh nghiệp xuất khẩu tăng cường chế biến sâu, nâng cao đóng gói và truy xuất nguồn gốc, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm khắt khe tại EU và Trung Đông. Trong khi đó, Việt Nam tập trung
nâng cao chất lượng sản phẩm và tuân thủ các chứng nhận quốc tế BAP và ASC, đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Đông để giảm phụ thuộc vào Mỹ và EU. Việt Nam tích cực tận dụng các hiệp định thương mại tự do như CPTPP để hưởng ưu đãi thuế quan. Thai Union của Thái Lan là một minh chứng điển hình tại châu Á cho nỗ lực vượt rào cản thương mại tại Mỹ và EU bằng những chiến lược có tầm nhìn xa với trọng tâm minh bạch nguồn gốc và phát triển bền vững. Thông qua chương trình SeaChange® 2030, Thai Union xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc toàn diện, giảm phát thải và bảo vệ đa dạng sinh học - những yếu tố then chốt để đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu nghiêm ngặt. Trong ngành cá ngừ, doanh nghiệp này đã tăng mạnh tỷ lệ nguyên liệu đạt chứng nhận MSC hoặc nằm trong các dự án cải thiện nghề cá (FIPs), đồng thời triển khai công nghệ giám sát điện tử và quan sát viên trên tàu nhằm đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch của chuỗi cung ứng. Ở ngành tôm, Thai Union phát triển mô hình “fully traceable, low-carbon”, hợp tác công - tư để chuẩn hóa chuỗi sản xuất theo yêu cầu môi trường và khí thải của các thị trường khó tính. Song song với đổi mới công nghệ, tập đoàn cải tổ quản trị xã hội bằng việc kiểm toán nhà cung cấp, áp dụng chuẩn đánh giá lao động độc lập và công bố tuân thủ Modern Slavery Act, giải quyết triệt để những rủi ro về lao động cưỡng bức vốn từng gây tranh cãi trong ngành thủy sản. Na Uy và Chile tập trung vào chế biến sâu và phát triển sản phẩm giá trị cao như cá hồi hun khói hay các loại cá cao cấp phục vụ ngành ẩm thực sushi, nhằm giảm rủi ro từ thuế quan cơ bản và tăng sức cạnh tranh. Chile cũng tận dụng FTA với EU để xuất khẩu cá hồi chế biến sâu, đồng thời phát triển thương hiệu sản phẩm bền vững, tăng giá trị và duy trì thị phần trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt. Những chiến lược này cho thấy khả năng thích ứng nhanh, quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả và nâng cao giá trị gia tăng là yếu tố then chốt giúp các quốc gia xuất khẩu duy trì lợi thế cạnh tranh trước các rào cản thương mại ngày càng phức tạp.
Tuấn Minh
48
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
49
50 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 64 tỷ USD Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 11 ước đạt 5,8 tỷ USD, giảm 3,7% so với tháng trước nhưng tăng 8,4% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng, toàn ngành đạt 64,01 tỷ USD, tăng 12,6% và chính thức vượt mức kỷ lục 62,4 tỷ USD của năm 2024. Trong nhóm nông sản chủ lực, nhiều mặt hàng tăng trưởng mạnh. Cà phê tiếp tục dẫn đầu với mức tăng đột phá cả về sản lượng lẫn giá trị; xuất khẩu 11 tháng đạt 1,4 triệu tấn, thu về 7,88 tỷ USD, giá bình quân gần 5.668 USD/tấn, tăng gần 40%. Hạt điều cũng duy trì đà tích cực với kim ngạch 4,76 tỷ USD, chủ yếu nhờ giá xuất khẩu cải thiện. Ngược lại, một số mặt hàng chủ lực giảm sâu, đặc biệt là gạo. Xuất khẩu gạo đạt 7,5 triệu tấn, trị giá 3,83 tỷ USD, giảm 11,5% về lượng và 27,7% về giá trị do cạnh tranh mạnh và giá thế giới biến động. Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch tháng 11 ước đạt 3,92 tỷ USD; lũy kế 11 tháng đạt 44,45 tỷ USD, tăng 10,1%. Toàn ngành ghi nhận thặng dư thương mại 19,55 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ. Đồng Nai
Tôm thẻ chân trắng tăng giá mạnh Thị trường tôm thẻ chân trắng tại Đồng Nai đang ghi nhận mức tăng giá rõ rệt, giúp người nuôi cải thiện đáng kể nguồn thu. Tại khu vực xã Phước An (huyện Nhơn Trạch), các hộ nuôi bước vào cao điểm thu hoạch, sản lượng đạt ổn định. Tôm loại 30 con/kg hiện được thu mua ở mức 190.000 đồng/kg, tăng khoảng 40.000 đồng/kg so với 3 tháng trước. Tôm thẻ Phước An được đánh giá có độ tươi cao, thịt chắc và vị ngọt, nhờ đó luôn giữ sức hút với thương lái. Điều kiện thời tiết thuận lợi cùng kỹ thuật nuôi cải tiến giúp tỷ lệ sống cao, góp phần nâng sản lượng và chất lượng tôm thương phẩm. Theo các thương lái, sau khi thu gom tại ao nuôi, tôm được vận chuyển ra Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa và nhiều tỉnh lân cận để cung ứng cho nhà hàng, chợ đầu mối và hệ thống bán lẻ hải sản. Nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh vào dịp cuối năm được dự báo sẽ tiếp tục hỗ trợ thị trường tôm thẻ Đồng Nai duy trì mức giá tích cực. Đồng Tháp
Giá cá tra nguyên liệu tiếp tục tăng Giá cá tra nguyên liệu tại Đồng Tháp hiện dao động 31.000 – 32.000 đồng/kg tùy loại, tăng hơn 500 đồng/kg so với tuần trước. Theo các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra trên địa bàn, mức tăng này xuất phát từ việc nhiều đơn vị đẩy mạnh thu mua để phục vụ chế biến, trong bối cảnh nhu cầu xuất khẩu đang khởi sắc trở lại. Dự báo thời gian tới, đặc biệt giai đoạn cuối năm 2025, giá cá tra nguyên liệu nhiều khả năng tiếp tục tăng do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu từ các nhà máy chế biến vẫn cao. Với mặt bằng giá hiện nay, người nuôi có thể đạt mức lợi nhuận khoảng 10.000 đồng/kg cá tra thương phẩm, góp phần cải thiện hiệu quả sản xuất và tăng thu nhập cho hộ nuôi tại địa phương.
12.2025
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 51
Cá tra mùa nước nổi đạt giá tốt, người nuôi lãi gần 10.000 đồng/kg Trong mùa nước nổi vừa qua, mô hình nuôi thủy sản nước ngọt tại Đồng Tháp, đặc biệt là cá tra, ghi nhận sự phát triển mạnh và cho hiệu quả cao. Nguồn cá thương phẩm sinh trưởng nhanh, ít dịch bệnh, đáp ứng tốt nhu cầu thu mua của các doanh nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu. Hiện nhiều ao nuôi trong tỉnh đang bước vào giai đoạn thu hoạch. Giá cá tra bán tại ao dao động từ 30.000 – 32.000 đồng/kg, tùy kích cỡ và chất lượng, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm trước. Với mức giá này, người nuôi có thể thu lãi gần 10.000 đồng/kg, tạo tín hiệu tích cực cho thị trường nguyên liệu cuối năm. Diễn biến giá hiện tại được đánh giá là mức có lợi cho sản xuất, đồng thời góp phần ổn định nguồn cung cá tra nguyên liệu cho hoạt động chế biến và xuất khẩu của khu vực ĐBSCL. An Giang
Thị trường hải sản sôi động Thị trường hải sản Rạch Giá đang sôi động trong những ngày mùa bấc, nguồn cung dồi dào kéo mặt bằng giá xuống mức hấp dẫn so với các chợ nội đồng. Các loại cá phổ biến như sòng, nục, bạc má, ba thú được đưa vào bờ liên tục, giá chỉ 30.000 – 40.000 đồng/kg, thấp hơn gần một nửa so với chợ Long Xuyên và vẫn giữ độ tươi ngon vượt trội. Nhiều tiểu thương cho biết sức mua tăng khi du khách và người dân đồng bằng tìm đến mua trực tiếp tại chợ biển. Một số mặt hàng vốn hiếm ở nội địa như cá đuối hiện được bán với giá chỉ 60.000 đồng/kg, trong khi ở các chợ vùng sông nước thường lên đến 100.000 đồng/kg. Nhờ giá hợp lý và chất lượng cao, các sản phẩm cá đuối, cá bạc má, cá nục… đều tiêu thụ nhanh. Trong khi đó, nhóm hải sản đặc sản như cá bớp, cá chim, cá gúng, cá lạc, mực giữ mức 200.000 – 250.000 đồng/ kg. Theo tiểu thương lâu năm, năm nay cá bớp trúng mùa, sản lượng tốt nên được các nhà hàng đặt mua mạnh. Nhìn chung, nguồn cung ổn định, giá cạnh tranh đang tạo lợi thế lớn cho thị trường hải sản Rạch Giá dịp cuối năm. Cà Mau
Sinh kế bền vững từ mô hình nuôi cá bống tượng Tại Cà Mau, cá bống tượng được xem là một trong hai “vua” cá nước ngọt, cùng với cá chình, nhờ giá trị dinh dưỡng cao và hiệu quả kinh tế rõ rệt. Trên thị trường, cá bống tượng loại nhất đang được thu mua với giá 320.000 – 350.000 đồng/kg, mức giá ổn định và thuộc nhóm cao nhất trong các loại cá nước ngọt của tỉnh. Nhờ đó, mô hình nuôi cá bống tượng mang lại nguồn thu nhập bền vững, được nhiều hộ dân lựa chọn như một kênh tích lũy và sinh kế dài hạn. Tận dụng điều kiện tự nhiên, nhiều nông hộ đã linh hoạt khoanh ao hoặc sử dụng diện tích mương vườn sẵn có quanh ruộng lúa, vuông tôm để thả nuôi cá bống tượng. Phương thức này giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư, nhờ tận dụng nguồn cá phi, cá tạp tại chỗ làm thức ăn, đồng thời vẫn đảm bảo môi trường sinh trưởng tự nhiên cho cá.
Lan Khuê
52 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn Nhật Bản
Giá cá thu Atka từ Nga dự kiến tăng vào năm sau Giá cá thu Atka Mackerel xuất xứ Nga trọng lượng 540 - 640 gram, đông lạnh và đã làm sạch, hiện ở mức 620 yên/kg (tương đương 4 USD/kg), giảm so với mức 640 yên/kg (4,13 USD/kg) nửa đầu năm. Hạn ngạch đánh bắt (TAC) năm nay cho vùng Viễn Đông đạt 53.000 tấn, gần gấp đôi hạn ngạch của năm trước, thúc đẩy nhu cầu tại nhà hàng và cửa hàng tiện lợi. Các hãng khai thác cá tại Nga cho biết, năm sau, giá nhiều loại cá biển đều có khả năng tăng do hạn ngạch giảm còn 23.000 tấn. Cá thu Atka của Nga nổi tiếng nhờ chất lượng cao, kích cỡ lớn, giàu chất béo (khoảng 15%) và được xử lý tỉ mỉ. Dù giá năm nay giảm do sản lượng tăng, dự kiến năm tới giá sẽ hồi phục tại thị trường Nhật Bản, trong khi cạnh tranh nguồn cung với Nga và Hàn Quốc sẽ gia tăng. Các doanh nghiệp nhập khẩu tại Nhật Bản kỳ vọng doanh số nội địa vẫn ổn định ngay cả khi giá tăng. Brazil
Giá cá rô phi tăng mạnh, dẫn đầu bởi Parana Thị trường cá rô phi Brazil đang phục hồi mạnh, giá tăng ở tất cả các khu vực được khảo sát, theo số liệu từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế ứng dụng cao cấp (Cepea) phối hợp cùng Hiệp hội Nuôi trồng Thủy sản Brazil (Peixe BR). Giai đoạn 10-14/11 ghi nhận mức tăng theo tuần từ 0,32% đến 3,10%, trong đó khu vực bắc Parana dẫn đầu cả nước với mức tăng 3,10%, giá đạt 1,88 USD/kg. Các khu vực sản xuất lớn khác cũng ghi nhận tình trạng tăng giá đáng kể: Tây Parana tăng 1,28% lên 1,66 USD/kg; vùng Grandes Lagos (tây bắc Sao Paulo giáp Mato Grosso do Sul) lên 1,72 USD/kg, tăng 1,79%; Triangulo Mineiro/Alto Paranaiba đạt 1,71 USD/kg, tăng 1,10%; Morada Nova de Minas gần như ổn định ở mức 1,72 USD/kg, tăng nhẹ 0,32%. Đây là tuần thứ hai liên tiếp giá đi lên, tiếp nối xu hướng hồi phục từ đầu tháng. Bắc Parana đặc biệt nổi bật với mức tăng 3,1% chỉ trong 7 ngày, từ 1,83 USD/kg lên 1,88 USD/kg. Trung Quốc
Cung vượt cầu, giá mực ống tiếp tục giảm Trong tuần 45/2025 (31/10 - 6/11), thị trường mực đại dương nội địa Trung Quốc tiếp tục suy yếu, cả giá và khối lượng giao dịch đều giảm. Nguyên nhân chính do nguồn cung dồi dào từ Peru trong khi nhu cầu và tốc độ mua tại Trung Quốc chững lại. Thị trường hiện bước vào giai đoạn giải phóng tồn kho và điều chỉnh giá. Trung tâm Nông nghiệp Chiết Giang ghi nhận giá mực Thái Bình Dương Đông Nam trung bình giảm xuống 18.940,82 nhân dân tệ/tấn (2.631 USD/tấn), giảm 5% so với tuần trước, khối lượng giao dịch giảm 23% còn 6.360 tấn, chủ yếu là mực nguyên con siêu nhỏ. Sản lượng mực từ Peru tăng mạnh, vượt 620.000 tấn, trong khi đơn hàng chế biến tại Trung Quốc giảm, đã đẩy giá xuống. Giá mực cỡ trung bình giảm hơn 200 nhân dân tệ/tấn; mực thái lát, và mực nhỏ giảm 1.000-1.500 nhân dân tệ/tấn. Thị trường Bắc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương gần như không có giao dịch mới, cho thấy nhu cầu yếu và áp lực tồn kho cao. Chuyên gia dự báo giá khó phục hồi nhanh, doanh nghiệp Trung Quốc cần theo dõi sát tồn kho và nhu cầu để điều chỉnh kế hoạch mua bán.
12.2025
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 53
Ấn Độ
Mở rộng thị trường ngoài Mỹ, xuất khẩu tôm tăng 18% Xuất khẩu tôm của Ấn Độ tăng trưởng mạnh trong 5 tháng đầu năm tài chính 2026 (4/2025 - 8/2025), nhờ nhu cầu từ các thị trường ngoài Mỹ như Việt Nam, Bỉ, Trung Quốc và Nga, theo báo cáo của CareEdge Ratings. Giá trị xuất khẩu tôm đạt 2,43 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước, khối lượng xuất khẩu tăng 11% lên 348.000 tấn. Xuất khẩu sang các thị trường ngoài Mỹ tăng 30% lên 1,38 tỷ USD, chiếm 57% tổng giá trị xuất khẩu, so với 51% cùng kỳ năm trước, giúp giảm bớt áp lực từ thị trường Mỹ, nơi mức thuế với tôm Ấn Độ đã tăng mạnh từ đầu năm tài chính. Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất, tăng 16%, trong khi Việt Nam và Bỉ lần lượt tăng gấp đôi, đạt 0,18 tỷ USD và 0,14 tỷ USD. Báo cáo dự báo xuất khẩu có thể chậm lại nửa cuối năm tài chính do áp lực từ Mỹ, nhưng việc mở rộng sang EU, Nga và tăng phê duyệt cho các cơ sở xuất khẩu Ấn Độ sẽ tiếp tục hỗ trợ ngành. Ecuador
Dẫn đầu thế giới về xuất khẩu tôm với hơn 7 tỷ USD Ecuador tiếp tục giữ vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu tôm, với doanh số vượt hơn 7 tỷ USD, theo dữ liệu Trademap và Latinometrics công bố tháng 11/2025. Quốc gia Nam Mỹ này vượt qua Ấn Độ, Việt Nam và Indonesia nhờ nhu cầu tăng mạnh từ Mỹ, EU và Trung Quốc. Ngành tôm Ecuador phát triển ổn định hai thập kỷ qua, đặc biệt từ 2018 nhờ cải tiến công nghệ, tăng sản lượng và đa dạng hóa thị trường. Năm 2023, xuất khẩu tôm đạt 7,205 triệu USD, vượt cả chuối, trở thành sản phẩm phi dầu mỏ quan trọng nhất, đóng góp lớn vào cán cân thương mại quốc gia. Từ đầu 2025 đến tháng 9, doanh số tôm đạt 6,204 triệu USD, củng cố vị thế trên thị trường quốc tế. Sự thành công này giúp ngành tôm trở thành động lực kinh tế, tạo việc làm, thu hút đầu tư công nghệ nuôi trồng và nâng cao vị thế Ecuador trên thị trường tôm toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước châu Á. Mỹ
Cung cầu sò điệp toàn cầu thắt chặt, thị trường trong nước biến động Nhập khẩu sò điệp toàn cầu đang trải qua những biến động phức tạp, ảnh hưởng sâu rộng tới thị trường nội địa. Tính đến tháng 8, Mỹ nhập khoảng 37,6 triệu lbs, ghi nhận mức cao thứ ba kể từ 2018; nhưng con số này che giấu những thay đổi đáng kể đã định hình thị trường trong năm 2025. Tháng 8 ghi nhận mức giảm mạnh 63% so với tháng trước, chỉ còn 1,1 triệu lbs, mức thấp hiếm thấy trong những năm gần đây. Điều này cho thấy sức tăng trưởng mạnh từ đầu năm đã phần nào che lấp những dấu hiệu suy yếu nhanh chóng. Trung Quốc vươn lên thành nhà cung cấp chính, tăng 24% lên 10,6 triệu lbs so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, các nguồn cung chủ chốt khác gặp khó khăn: Nhật Bản giảm 19% xuống 9,7 triệu lbs dù nhu cầu kích cỡ lớn vẫn cao, còn Canada lao dốc 49% xuống 4 triệu lbs do hạn chế khai thác tại các cảng cá trong nước.
Tuấn Minh
54 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Hiệu quả thương mại của nguồn đạm chức năng sinh học (MOTIV) trong Thức ăn tăng cường và Thức ăn tăng trọng cho tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei, Boone 1931) TS. Nguyễn Duy Hòa, Giám đốc kỹ thuật ngành hàng Empyreal 75, Cargill Inc. Điện thoại: + 84(0)703515168 - Email: duyhoa_nguyen@cargill.com
N
guồn đạm cao cấp như bột cá, bột mực, bột ruốc biển, bột đậu nành tách vỏ và bột gia cầm ít tro, chất lượng cao được sử dụng phổ biến trong sản xuất thức ăn nuôi tôm. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm đối mặt với thách thức dịch bệnh và môi trường ngày càng lớn, đòi hỏi ngành công nghiệp sản xuất thức ăn không chỉ đáp ứng chất lượng cho tôm tăng trưởng mà còn đảm bảo tăng cường sức khỏe tôm nuôi và các yêu cầu bền vững. Vì vậy, ngành công nghiệp thức ăn tôm hướng đến tìm kiếm giải pháp từ các nguồn đạm thực vật sáng tạo nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững nhưng vẫn đảm bảo tôm tăng trưởng và sức khỏe tốt. Motiv, một sản phẩm đạm bắp sinh học của Tập đoàn Cargill được sản xuất ở Bắc Mỹ, là nguồn đạm cao cấp & đậm đặc (69% đạm), giàu dinh dưỡng sức khỏe, đặc biệt sức khỏe đường ruột (bao gồm a xít hữu cơ, peptide sinh học, sắc tố carotenoids, phytosterols, polyphenols, inositol, vitamin A). Các nghiên cứu đánh giá thử nghiệm Motiv trong nhà và ao nuôi cho thấy hiệu quả tối ưu khi liều dùng từ 7,5% đến 10% Motiv trong công thức thức ăn tôm không chỉ thúc đẩy tăng trưởng tốt hơn mà còn gia tăng sức khỏe gan, ruột và màu sắc tôm đỏ đậm hơn. Bài báo này chia sẽ hiệu quả của nguồn đạm Motiv ở liều dùng 7,5% trong Thức ăn tăng cường tại Thái Lan và trong Thức ăn tăng trọng tại Việt Nam ở các ao nuôi tôm thương mại. Hiệu quả 7,5% Motiv trong Thức ăn tăng cường ở Thái Lan Tiếp cận phối chế Thức ăn tăng cường 7.5% Motiv: Motiv ở liều 7,5% được phối hợp 1,25% tảo biển và 0,125% phụ gia sức khỏe để thay thế các nguồn đạm khác như bột đậu nành tách vỏ (3,963%), bột gia cầm (0,765%), và bột gan mực (4,226%) trong Thức ăn thương mại thông thường nhằm sản xuất Thức ăn tăng cường với mục tiêu khai thác hiệu quả chất lượng đạm sinh học cao cấp Motiv và dinh dưỡng sức khỏe từ Motiv, tảo biển và phụ gia sức khỏe. Thành phần dinh dưỡng cơ bản của Thức ăn thông thường và Thức ăn tăng cường như Bảng 1.
Kết quả sử dụng 100% Thức ăn tăng cường so với 100% Thức ăn thông thường được trình bày ở Bảng 2. Kết quả cho thấy mặc dù chi phí thức ăn cho 1 kg tôm tăng lên (THB/kg) cao hơn ở Thức ăn tăng cường so với Thức ăn thông thường (56,225 ± 1,661 so với 52,786 ± 5,080) nhưng Thức ăn tăng cường cho kết quả cao hơn Thức ăn thông thường về trọng lượng tôm thu hoạch (22,50 ± 0.707g so với 18,556 ± 2,939g), tăng trưởng bình quân ngày (0,2750 ± 0,007g so với 0,214 ± 0,018g) và sinh khối thu hoạch (1,624 ± 0,076 so với 1,148 ± 0,0739 kg/m2), đặc biệt lợi nhuận ròng cho mỗi kg tôm thu hoạch (86,485 ± 2,680 so với 78,194 ± 32,594 THB/kg). (THB : Tiền Thái Lan).
Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng cơ bản
Bình quân
Thành phần dinh dưỡng Thức ăn thông thường Thức ăn tăng cường Moisture (%)
10,892
11,00
Protein (%)
38,061
40,061
Lipid (%)
6,871
6,773
Fiber (%)
2,025
2,147
Ash (%)
10,831
10,957
Bảng 2. Kết quả thu hoạch ao nuôi 100% Thức ăn tăng cường so với 100% Thức ăn thông thường Thức ăn tăng
Thức ăn thông thường (Regular)
Yếu tố ao nuôi
cường (Booster) Ao B1
Ao B2 Ao R1 Ao R2 Ao R3
Ao R4
Ao R5
Diện tích (m2)
1200
1200
1920
1920
Mật độ (con/m2)
104,16
104,16 104,16 104,16 104,16 104,116 104,16
Ngày nuôi (ngày)
84
84
Tỉ lệ sống (%)
90,07
80,30 99,45 97
Bình quân(%)
85,05 ± 6,91
Sinh khối/m2 (kg/m2) 1,687
1,57
4320 76
4000 74
1,12
1,624 ± 0,076
1,148 ± 0,0739
Chi phí thức ăn
55,05
57,40
48,30 47,24
56,225 ± 1,661
52,786 ± 5,080
ADG (g/ngày)
0,27
0,21
Bình quân
0,275 ± 0,007
0,214 ± 0,018
Trọng lượng
22
16
(THB/kg) Bình quân (THB/kg)
(g/shrimp)
0,28 23
0,21 15
22,50 ± 0,707
18,556 ± 2,939
FCR
1,28
1,25
Bình quân
1,30 ± 0,028
Lợi nhuận/kg
88,38
(THB/kg) Bình quân
1,32
85
100
98
97,72
122,17
109,87
1,06
1,22
1,23
52,72
58,67
57
0,24
0,19
0,22
21
19,23
21,55
1,22
1,36
1,31
105,242 ± 10,79 1,11
Bình quân (kg/m ) 2
1920
1,25
1,278 ± 0,056
84,59 43,68 41,62
106,65 98,45
100,57
86,485 ± 2,680 78,194 ± 32,594
(Ghi chú: Tỉ lệ sống > 100% do lượng tôm giống cho thêm từ trại giống)
12.2025
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 55
Bảng 3. Kết quả thu hoạch khi cho ăn một phần Thức ăn tăng cường Yếu tố ao nuôi
Thức ăn tăng cường
Thức ăn thông thường
(Booster)
(Regular)
Ao B1
Ao B2
Ao R1
Ao R2
Diện tích (m )
4800
1600
14400
4800
Mật độ (con/m2)
52,08
52,08
52,08
52,08
Ngày nuôi (ngày)
112
117
113
104
Tỉ lệ sống (%)
95,86
87,43
96,21
104,71
Bình quân(%)
91,645 ± 5,960
100,46 ± 6,010
Sinh khối/m2 (kg/m2)
1,52
0,92
Bình quân (kg/m )
1,820 ± 0,424
2
2
Chi phí thức ăn (THB/kg) 54,06
2,12 54,02
1,158
1,039 ± 0,168 56,55
55,34
54,040 ± 0,028
55,945 ± 0,855
ADG (g/ngày)
0,28
0,21
Bình quân
0,260 ± 0,028
0,230 ± 0,028
Trọng lượng (g/shrimp)
29,29
17,76
Bình quân
28,535 ± 1,067
18,865 ± 1,562
FCR
1,36
1,46
Bình quân
1,370 ± 0,014
1,440 ± 0,028
Lợi nhuận/kg (THB/kg)
156,52
93,72
Bình quân
159,510 ± 4,228
Bình quân (THB/kg)
0,24 27,78 1,38 162,50
0,25 19,97 1,42 99,31
96,515 ± 3,952
Kết quả ở Bảng 3 khi cho tôm ăn một phần Thức ăn tăng cường trước khi thu hoạch (22,44% ở ao B1 và 31,74% ở ao B2) cũng cho kết quả tốt hơn so với 2 ao R1 và R2 ăn 100% Thức ăn thông thường. Kết quả cho thấy một phần Thức ăn tăng cường cho ăn 22,44% hay 31,74% cho hiệu quả cao hơn về sinh khối thu hoạch (1,820 ± 0,424 so với 1,039 ± 0,168 kg/m2), tăng trưởng bình quân ngày cao hơn (0,260 ± 0,028g so với 0,230 ± 0,028g), hệ số thứ c ăn thấp hơn (1,370 ± 0,014 so với 1,440 ± 0,028), chi phí thức ăn cho mỗi kg tôm thấp hơn (54,040 ± 0,028 so với 55,945 ± 0,855) và lợi nhuận ròng cho mỗi kg tôm cao hơn so với Thức ăn thông thường (159,510 ± 4,228 so với 96,515 ± 3,952 THB/kg). Hiệu quả 7,5% Motiv trong Thức ăn tăng trọng ở Việt Nam Tiếp cận phối chế Thức ăn tăng trọng 7,5% Motiv: Thức ăn tăng trọng ở Nhà máy hiện có 2,5% Motiv được sử dụng thêm 5% Motiv để sản xuất Thức ăn tăng trọng 7,5% Motiv bằng việc phối hợp 5% Motiv với 0,2% dầu cá ngừ, 0,015% cholesterol, 0,13% L-arginine, 0,125% L-lysine, 0,01% L-methionine, và 0,02% choline chloride (tổng cộng là 5,5%) để thay 5,5% bột cá trong công thức Thức ăn tăng trọng 2,5% Motiv. Thành phần dinh dưỡng 2 thức ăn được phân tích bởi UpScience Lab (Bảng 4). Bảng 4. Thành phần dinh dưỡng 2 thức ăn Dinh dưỡng
2,5% Motiv
7,5% Motiv
Năng lượng (Kcal/kg)
3.471
3.525
Độ ẩm (%)
10,66
10,06
Đạm (%)
44,29
44,11
Béo (%)
6,41
6,59
Xơ (%)
1,10
1,03
Tro (%)
10,56
10,04
Cholesterol (%)
0,2097
0,1942
EPA (mg/100g)
206,3
202,7
DHA (mg/100g)
541,3
520,3
ARA (mg/100g)
69,56
66,17
Phosphorus (%)
1,25
1,21
Canxi (%)
2,07
2,02
Tôm nuôi ở Bạc Liêu ngày 95 đạt trọng lượng 39,2g từ 1 ao nuôi được chia ra 2 ao nuôi có cùng diện tích (1.300 m2) và cho ăn 2 thức ăn tăng trọng 7,5% Motiv & 2,5% Motiv sau 10 ngày nuôi tôm được thu hoạch cho kết quả tăng trọng bình quân ngày (ADG) tính cho giai đoạn 10 ngày cho ăn đạt 0,64g/ngày cho Thức ăn 7,5% Motiv và 0,46g/ngày cho Thức ăn 2,5% Motiv, cũng tương ứng 2 thức ăn cho trọng lượng thu hoạch tôm đạt 45,6g/con và 43,9g/con, năng suất thu hoạch đạt 3,05 kg/m2 và 2,30 kg/m2 cũng như sản lượng thu hoạch đạt 3.964 kg so với 2.994,5 kg, đặc biệt lợi nhuận cao hơn (67.375 VDN/kg so với 58.457 VND/kg) tương ứng cho Thức ăn 7,5% Motiv và 2,5% Motiv (Bảng 5). Tôm nuôi tại Tiền Giang ở ngày nuôi 89 đạt trọng lượng bình quân 28,6g cũng được thử nghiệm ở 4 ao nuôi 1.000 m2 (2 ao cho ăn Thức ăn 7,5% Motiv và 2 ao cho ăn Thức ăn 2,5% Motiv). Kết quả thu hoạch bình quân tính trên đơn vị ao nuôi 1.000 m2 được trình bày ở Bảng 6 cũng cho thấy năng suất, sản lượng tôm thu hoạch cao hơn, tăng trọng bình quân ngày cao hơn và lợi nhuận bình quân trên 1.000 m2 cũng cao hơn cho Thức ăn 7,5% Motiv so với Thức ăn 2,5% Motiv. Bảng 5. Hiệu quả sau 10 ngày nuôi và thu hoạch ở Bạc Liêu Chỉ tiêu
Thức ăn 7.5% Motiv Thức ăn 2.5% Motiv
Diện tích ao (m )
1.300
1.300
Ngày bắt đầu thử nghiệm
95
95
Ngày kết thúc
104
104
Trọng lượng tôm bắt đầu (g/con)
39,2
39,2
Trọng lượng tôm kết thúc (g/con)
45,6
43,9
Tăng trọng ngày -10 ngày (g/ngày) 0,64
0,46
Tăng trọng ngày vụ nuôi (g/ngày)
0,44
0,42
Hệ số thức ăn FCR
1,46
1,46
Sản lượng thu hoạch (kg)
3.964
2.994,5
Tỉ lệ sống (%)
86,85
85,34
3,05
2,30
2
Năng suất thu hoạch (kg/m ) 2
Lợi nhuận bình quân/kg (VND/kg) 67.375
58.457
Bảng 6. Hiệu quả thu hoạch bình quân trên 1.000 m2 ở Tiền Giang Chỉ tiêu
Thức ăn 7,5% Motiv Thức ăn 2,5% Motiv
Diện tích ao (m2)
1000
1000
Ngày bắt đầu thử nghiệm
89
89
Ngày thu hoạch kết thúc
124
117
Trọng lượng tôm bắt đầu (g/con)
28,6
28,6
Trọng lượng tôm kết thúc (g/con) 46,5
41,5
Tăng trọng ngày vụ nuôi (g/ngày) 0,38
0,35
Hệ số thức ăn FCR
1,38
1,35
Sản lượng thu hoạch (kg)
3.600
3.200
Tỉ lệ sống (%)
86
89
Năng suất thu hoạch (kg/m2)
3,6
3,2
Lợi nhuận (VND/1000m )
229.100.000
190.000.000
2
Ngoài ra, kết quả so màu tôm nuôi thu hoạch ở ao nuôi Thức ăn 7,5% Motiv có màu đỏ đậm hơn, đều màu hơn so với tôm nuôi ở ao nuôi Thức ăn 2,5% Motiv. Kết quả soi gan cũng cho thấy giọt dầu nhiều hơn ở tôm ăn Thức ăn 7,5% Motiv so với tôm ăn Thức ăn 2,5% Motiv. Kết luận: Motiv ở liều dùng 7,5% trong Thức ăn tăng cường (Booster Feed) hay Thức ăn tăng trọng (Super-growth Feed) thúc đẩy tăng trưởng tôm tốt hơn đem lại năng suất nuôi và lợi nhuận cao hơn. Ngoài ra, cải thiện sức khỏe gan tôm tốt hơn và tăng màu sắc tôm đỏ đậm hơn và đều màu hơn.
56
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 57
Công nghệ Nano Bubble
Giải pháp tối ưu cho ngành nuôi tôm hiện đại
T
rong bối cảnh ngành nuôi tôm ngày càng đòi hỏi kỹ thuật cao và quản lý môi trường nước chặt chẽ, công nghệ Nano Bubble (bọt khí siêu mịn) đang nổi lên như một giải pháp đột phá giúp cải thiện chất lượng nước, tăng tỷ lệ sống và nâng cao năng suất ao nuôi. Đây là công nghệ cung cấp oxy trực tiếp và hiệu quả hơn so với các phương pháp sục khí truyền thống, từ đó mang lại giá trị kinh tế bền vững cho người nuôi. Nano Bubble là những bọt khí có kích thước siêu nhỏ, chỉ từ 80 – 200 nanomet, nhỏ hơn hàng trăm lần so với bọt khí thường. Nhờ kích thước cực nhỏ, bọt khí nano có khả năng lơ lửng trong nước hàng giờ đến hàng tuần mà không nổi lên bề mặt như bọt khí lớn. Điều này giúp oxy được phân tán đồng đều khắp ao, từ mặt nước đến đáy ao – nơi hệ thống sục khí thông thường khó chạm tới. Một trong những lợi ích lớn nhất của công nghệ Nano Bubble là tăng hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước một cách ổn định. Oxy dồi dào giúp tôm khỏe mạnh, ăn mạnh, tiêu hóa tốt và phát triển đồng đều. Tôm được cung cấp đủ oxy sẽ giảm stress, tăng sức đề kháng và hạn chế các bệnh đường ruột, đốm trắng hoặc tình trạng nổi đầu vào ban đêm Không chỉ cung cấp oxy, Nano Bubble còn có khả năng phân hủy chất hữu cơ, hạn chế khí độc như NH3, H2S và thúc đẩy sự phát triển của hệ vi sinh có lợi. Nhờ đó, môi trường ao nuôi sạch hơn, ít mùi hơn và ổn định hơn. Đây là yếu tố quan trọng đặc biệt
trong mô hình nuôi mật độ cao, nơi áp lực môi trường lớn khiến hệ thống sục khí truyền thống đôi khi không đáp ứng kịp. So với quạt nước và máy sục khí thường, máy tạo Nano Bubble mang lại hiệu quả vượt trội nhờ các lý do sau: Hiệu suất oxy cao hơn: Bọt khí nano tan nhanh và nhiều hơn, giảm thất thoát oxy lên bề mặt. Tiết kiệm điện: Thay vì phải chạy nhiều quạt nước hoặc dàn sục khí công suất lớn, máy nano bubble tiêu thụ điện thấp nhưng hiệu quả cao. Phân tán oxy đều toàn ao: Các bọt khí siêu mịn giúp oxy len xuống tận đáy, tạo dòng chảy nhẹ nhàng, tránh phân tầng oxy – điều mà sục khí truyền thống khó đạt được. Giảm sốc tôm: Dòng chảy nano êm hơn, không gây xáo trộn mạnh, phù hợp cả với ao mới thả và tôm ở giai đoạn nhạy cảm. Cải thiện màu nước và chất lượng nền đáy: Oxy được cung cấp liên tục giúp kiểm soát tảo độc, giảm tích tụ bùn và hạn chế khí độc bốc lên. Có thể nói, Nano Bubble đang trở thành xu hướng tất yếu trong ngành tôm công nghệ cao. Những hộ nuôi áp dụng máy tạo nano bubble đã ghi nhận tăng tỷ lệ sống 10–20%, cải thiện trọng lượng thu hoạch, đồng thời giảm đáng kể chi phí điện và chi phí xử lý nước. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc đầu tư vào công nghệ chính là đầu tư cho sự bền vững.
B.H.N
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96 Website: bhnenc.com Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM
58 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Công nghệ treo khí nén (Air Bearing)
Lời giải cho bài toán “năng lượng xanh” và tối ưu chi phí trong nuôi tôm công nghệ cao Tác giả: DOLIC và cộng sự Chuyên mục: Khoa học & Công nghệ Thủy sản
Chi phí điện năng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất tôm thẻ chân trắng thâm canh. Bài viết phân tích lịch sử tiến hóa của thiết bị sục khí đáy, từ công nghệ Roots Blower truyền thống đến bước đột phá mới nhất: Máy nén khí DOLIC sử dụng công nghệ Treo khí nén. 1. Sự tiến hóa của công nghệ cấp khí đáy Trong 3 thập kỷ qua, công nghệ cấp khí đã trải qua 3 cuộc cách mạng lớn nhằm giải quyết bài toán: Làm sao tạo ra nhiều khí nhất với ít điện năng nhất? • Thế hệ 1: Máy thổi khí Roots (Roots Blower)
Đây là dòng máy phổ biến nhất tại Việt Nam nhờ cấu tạo đơn giản. Hoạt động dựa trên cặp rotor “cánh khế” quay ngược chiều. - Hạn chế: Ma sát cơ khí lớn, sử dụng dây đai truyền động gây thất thoát năng lượng. Hiệu suất sinh khí thấp (chỉ khoảng 1.3 1.4 m³/phút cho mỗi kW điện), tiếng ồn lớn (>90dB) và rủi ro rò rỉ hơi dầu xuống ao. • Thế hệ 2: Máy nén khí Vòng bi Gốm (Ceramic Bearing) Sự ra đời của động cơ tốc độ cao (~20.000 vòng/phút) sử dụng vòng bi gốm thay cho bi thép đã cải thiện đáng kể hiệu suất. - Hạn chế: Dù giảm ma sát, vòng bi gốm vẫn là tiếp xúc vật lý. Sau 15.000 - 20.000 giờ vận hành, vòng bi bị mài mòn, buộc phải thay thế với chi phí đắt đỏ. Ngoài ra, máy vẫn cần bơm mỡ bôi trơn định kỳ. • Thế hệ 3: Công nghệ Treo khí nén (Air Foil Bearing - Ứng dụng trên máy DOLIC) Đây là công nghệ được chuyển giao từ tuabin máy bay phản lực. Khi trục động cơ quay ở tốc độ
siêu cao (>30.000 vòng/phút), áp lực khí xung quanh trục sẽ nâng trục “bay lơ lửng” trên một lớp đệm khí. - Đột phá: Hoàn toàn không ma sát (Non-contact). Không ma sát đồng nghĩa với việc toàn bộ điện năng được chuyển hóa thành sức gió, không bị tiêu hao thành nhiệt năng vô ích. 2. Phân tích hiệu quả từ số liệu thực tế Chúng tôi thực hiện phép so sánh đối chứng giữa 3 dòng máy đại diện cho 3 thế hệ công nghệ tại cùng mức công suất danh định 15kW và áp suất làm việc 30kPa (độ sâu nước ~2m).
Dữ liệu đầu vào: 1. Máy Roots Blower (Dòng BE150H): Tiêu thụ ~15.3 kW điện, tạo ra 22 m³ khí/phút. 2. Máy Vòng bi Gốm (Ceramic): Tiêu thụ 15 kW điện, tạo ra trung bình 24 m³ khí/phút. 3. Máy DOLIC (Treo khí nén DL15): Tiêu thụ 15 kW điện, tạo ra 34 m³ khí/phút. Cùng một lượng điện tiêu thụ, máy DOLIC tạo ra lượng khí gấp 1.5 lần so với máy Roots và gấp 1.4 lần so với máy Vòng bi Gốm. 3. Mô phỏng bài toán kinh tế trong 3 năm Để thấy rõ “lỗ hổng tài chính” mà các công nghệ cũ gây ra,
12.2025 chúng ta sẽ quy đổi lượng khí chênh lệch ra tiền điện. • Giả định vận hành: Máy chạy 24/24 giờ. Một năm nuôi 3 vụ. • Giá điện sản xuất: Tạm tính 2.000 VNĐ/kWh. • Mục tiêu so sánh: Chi phí điện năng để tạo ra cùng một lượng khí là 34 m³/phút (chuẩn của máy DOLIC) trong vòng 3 năm. Để máy Roots và máy Bi gốm tạo ra được 34 m³ khí/phút như DOLIC, chúng cần tiêu tốn công suất thực tế lớn hơn nhiều so với 15kW. Cụ thể: • Máy Roots cần: (34 : 22) x 15.3 = 23.6 kW • Máy Bi Gốm cần: (34 : 24) x 15 = 21.25 kW 4. Những lợi ích cộng thêm 1. An toàn sinh học tuyệt đối: Do không có ma sát, máy DOLIC không cần bất kỳ giọt dầu hay mỡ bôi trơn nào. Điều này loại bỏ hoàn toàn nguy cơ rò rỉ hơi dầu vào đường ống khí, giúp môi trường nước luôn sạch, giảm rủi ro bệnh gan tụy/ đường ruột cho tôm do ô nhiễm khí độc. 2. Giảm thiểu tiếng ồn: Máy Roots hoạt động như một
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 59
“cối xay lúa” với tiếng ồn >90dB, gây stress cho tôm và ảnh hưởng sức khỏe người lao động. Máy DOLIC hoạt động êm ái dưới 70dB. 3. Bảo trì “0 Đồng”: Trong suốt 3 năm vận hành mô phỏng ở trên, máy Roots cần thay dây curoa và nhớt hộp số ít nhất 6 lần. Máy Bi gốm cần thay thế vòng bi (bearing) tốn kém ít nhất 1 lần. Với DOLIC, chi phí bảo trì gần như bằng 0 (chỉ cần vệ sinh/thay tấm lọc gió).
QUY TRÌNH LỰA CHỌN THIẾT BỊ PHÙ HỢP VỚI MÔ HÌNH CỦA QUÝ KHÁCH HÀNG Bước 1: Khách hàng cung cấp ảnh nhãn/mã máy đang vận hành. - Mục đích: xác định các thông số kỹ thuật chính gồm áp suất làm việc (kPa), công suất định mức (kW/HP) và lưu lượng khí (m³/h). Bước 2: Khách hàng cung cấp thông tin hệ thống đường ống khí hiện hữu, bao gồm: Đường kính ống, chiều dài tuyến ống, số nhánh phân phối và độ sâu cấp khí. Bước 3: Khách hàng xác định mục tiêu duy trì nồng độ ôxy hòa tan (DO) trong ao nuôi. - Đơn vị: mg/L, phù hợp với đối tượng và mật độ nuôi. Bước 4: Trên cơ sở các dữ liệu thu thập, công ty sẽ phân tích điều kiện vận hành, tính toán nhu cầu cấp khí thực tế và đề xuất cấu hình/phiên bản thiết bị phù hợp, đảm bảo duy trì DO theo mục tiêu, đồng thời tối ưu hiệu suất và tiêu thụ điện năng.
5. Kết luận Sự chuyển dịch từ công nghệ cơ khí ma sát sang công nghệ Treo khí nén không ma sát là bước tiến tất yếu của nghề nuôi tôm hiện đại. Với khả năng tiết
kiệm hơn 300 triệu đồng chi phí năng lượng trong 3 năm cho mỗi đầu máy, máy nén khí DOLIC khẳng định lợi thế về hiệu quả, độ bền và tính bền vững.
Chúng tôi trân trọng kính mời Quý Khách hàng và Quý Đối tác đến tham quan, trải nghiệm các giải pháp công nghệ nông nghiệp – môi trường tiên tiến tại gian hàng của chúng tôi trong khuôn khổ Hội chợ Triển lãm Công nghệ Nông nghiệp – Môi trường (VietAgros 2026), diễn ra từ ngày 15–17/4/2026 tại Cần Thơ. Rất hân hạnh được đón tiếp Quý vị tại các gian hàng A10 – A29 – A30.
60 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Nhà tài trợ vàng Hội chợ VietAgros 2026 Hưởng ứng chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại quy mô lớn. TP Cần Thơ với vị trí trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục là ưu tiên của các đơn vị tổ chức cũng như doanh nghiệp.
T
hái Nam Việt là nhà cung cấp chuyên nghiệp các sản phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học có hàm lượng và chất lượng cao từ Hoa Kỳ, Canada, Ấn Độ và Na Uy sử dụng cho: Xử lý nước thải môi trường, công nghiệp xả thải đạt tiêu chuẩn sinh thái cho động vật thủy sinh môi trường tự nhiên; Nuôi trồng thủy sản: tôm, cá, ốc hương, ếch, lươn…; Chăn nuôi gia súc gia cầm: heo, gà, chim cút…; Khoa học cây trồng: phân bón vi sinh - cải tạo đất, ức chế nấm, sâu bệnh cho cây trồng và xử lý
TP Cần Thơ là hạt nhân phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long
nước thải công nghiệp: nhà máy chế biến thủy sản, nhà máy sản xuất bột sắn, nhà máy sản xuất nước trái cây, bia… Với phương châm “dùng tự nhiên để cải thiện tự nhiên” chúng tôi luôn nghiên cứu, cải tiến và phát triển sản phẩm “giải quyết vấn đề mục tiêu” ngay trong ao hồ nhằm ức chế mầm bệnh và vi khuẩn có hại, cải thiện tốt hơn nhu cầu môi trường sống trong sạch tự nhiên theo yêu cầu của khách hàng và luât định. Đại diện doanh nghiệp cho biết, sự tin yêu và đánh giá cao của người nuôi là động lực
Ảnh: Q.T
12.2025
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 61
Thái Nam Việt là nhà cung cấp chuyên nghiệp các sản phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học
để Thái Nam Việt không ngừng nghiên cứu và tiếp cận khoa học công nghệ để phát triển sản phẩm mới chất lượng - hiệu quả chi phí thấp và phục vụ tốt hơn cho bà con. Và để bà con có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm của doanh nghiệp, Thái Nam Việt luôn lựa chọn những điểm đến gần với người nông dân nhất trong chiến lược phát triển sản phẩm. Năm 2026, Thái Nam Việt lựa chọn thành phố Cần Thơ, trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long, để đưa sản phẩm đến với bà con nuôi trồng thủy sản, thông qua Hội chợ Triển lãm Quốc tế công nghệ nông nghiệp và môi trường (VietAgros) diễn ra vào tháng 4 năm 2026. VietAgros 2026 là nơi hội tụ của các nhà quản lý, nhà khoa học, các chuyên gia, tổ chức, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong nước, quốc tế hoạt động trong lĩnh vực thủy sản và nông nghiệp. Sự kiện được kỳ vọng là diễn đàn lớn để các bên gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, đề ra giải pháp, giới thiệu các ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đảm bảo môi trường sản xuất, nuôi, sản phẩm chế biến, bảo quản, quản lý dịch bệnh, xử lý rác thải… đáp ứng mọi tiêu chuẩn. Sự kiện nhận được sự đánh giá cao của nhà quản lý và sự ủng hộ nhiệt thành của các doanh nghiệp ngay từ khi bắt đầu khởi xướng. Hội chợ cũng là cơ hội để nâng cao nhận thức, nhận diện giá trị và chất lượng sản phẩm nông nghiệp và môi trường ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới,
chuyển đổi số của người tiêu dùng, hướng tới thói quen tiêu dùng xanh, bền vững. VietAgros 2026 hướng tới mục tiêu xây dựng hình ảnh sản phẩm ngành nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới, chuyển đổi số; nâng cao uy tín và lợi thế cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và môi trường gắn với mở rộng thị trường
tiêu thụ trong nước và thế giới. Đồng thời, tạo sự công bằng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất trong lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi được tiếp cận và quảng bá thương hiệu, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước thông qua các nền tảng số. Với mục tiêu như thế, Ban Tổ chức VietAgros đã lựa chọn Cần Thơ để triển khai nhằm hiện thực hóa mọi kỳ vọng. TP Cần Thơ là trung tâm nông nghiệp quan trọng, đóng vai trò là động lực kết nối, sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, lúa chất lượng cao và các mô hình nông nghiệp thông minh, ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao giá trị nông sản và thích ứng với biến đổi khí hậu… Thành phố là địa điểm lý tưởng để doanh nghiệp đẩy mạnh chương trình xúc tiến thương mại, mở rộng hợp tác, mở rộng thị trường với con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất.
Thái Nam Việt với phương châm “dùng tự nhiên để cải thiện tự nhiên” sẽ mang đến cho bà con những sản phẩm chất lượng cao, hiệu quả tối ưu và an toàn cho từng ao đầm nuôi trồng thủy sản, phù hợp với xu thế chung của thế giới và hướng đi của ngành thủy sản. Thái Nam Việt trân trọng kính mời các doanh nghiệp bạn, bà con nuôi trồng thủy sản đến tham quan gian hàng của Công ty trong Hội chợ VietAgros 2026 diễn ra từ ngày 15 17/4/2025 tại gian hàng D21 - D22 - D23 - D24.
PV
62 | THỨC ĂN DINH DƯỠNG
thuysanvietnam.com.vn CHUYÊN TRANG CÓ SỰ TÀI TRỢ CỦA TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA
Khắc phục rào cản xử lý nhiệt trong thức ăn thay thế
Các nguyên liệu thay thế trong thức ăn cá hồi như côn trùng, phụ phẩm động vật hay protein đơn bào đang đối mặt thách thức cố hữu là giảm tiêu hóa protein và khả dụng axit amin do tác động của nhiệt trong chế biến.
Nguyên liệu mới, thách thức cũ Trước nhu cầu tăng sản lượng thức ăn và yêu cầu giảm ô nhiễm môi trường, một thế hệ nguyên liệu mới đang nổi lên: bột côn trùng, phụ phẩm động vật, sinh vật biển bậc thấp và protein đơn bào. Dù mang kỳ vọng lớn về tính bền vững, các nguyên liệu này lại đặt ra yêu cầu nghiên cứu và tối ưu hóa mới về dinh dưỡng và công nghệ chế biến. Khả năng tiêu hóa protein là rào cản lớn khi ứng dụng nhiều nguyên liệu mới. Từ những năm 1970-1990, khi bột cá chiếm ưu thế trong thức ăn cá hồi, các nhà khoa học đã chứng minh điều kiện chế biến, đặc biệt là xử lý nhiệt, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng protein. Các yếu tố như nhiệt độ, thời gian lưu và
độ ẩm ban đầu quyết định khả năng tiêu hóa protein và khả dụng axit amin (Myklestad et al., 1972; Opstvedt et al., 2003). Sản xuất ở nhiệt độ thấp <70°C cho khả năng tiêu hóa protein đạt 929 ± 10 g/kg thức ăn tiêu thụ, cao hơn đáng kể so với mức 905 ± 2 g/kg khi sản xuất ở nhiệt cao >100°C. Khả năng tiêu hóa axit amin cũng cao hơn ở bột cá xử lý nhiệt thấp: Axit aspartic đạt 89,2% so với 79,3%, với nhiều axit amin khác chênh lệch mạnh hơn. Tương tự, thời gian gia nhiệt kéo dài làm tăng biến tính protein và giảm khả dụng axit amin (FAIR CT96 1329, 2001; Opstvedt et al., 2003). Giống bột cá, đa số nguyên liệu thay thế có độ ẩm cao và
Ảnh: istock
cần xử lý nhiệt cường độ lớn. Ngoài ra, xử lý nhiệt là yêu cầu bắt buộc của quy định EU 142/2011 nhằm loại bỏ vi sinh vật gây hại. Ngược lại, nguyên liệu thực vật thường có độ ẩm thấp và được xử lý nhẹ hơn, ít bị tổn thất bởi tác động nhiệt. Do đó, ngành cần nghiên cứu sâu hơn để chuyển hóa kiến thức đã tích lũy từ bột cá sang các nguyên liệu thay thế mới. Các chuyên gia tại Nofima, Na Uy cho rằng, khi hiểu rõ về khả năng tiêu hóa protein tối đa có thể đạt được dưới quy trình nhiệt hiện hành và ngưỡng nhiệt khiến khả năng tiêu hóa protein và khả dụng axit amin suy giảm nghiêm trọng, thì mới có thể đánh giá tiềm năng thực sự của thức ăn thay thế.
Cơ chế làm giảm khả năng tiêu hóa Protein trong thức ăn có giá trị dinh dưỡng đối với vật nuôi khi đạt khả năng tiêu hóa cao, dễ phân giải thành peptide ngắn và axit amin tự do để hấp thụ qua thành ruột. Protein không được tiêu hóa sẽ bị thải ra ngoài qua phân. Tuy nhiên, các axit amin giải phóng ra cũng phải ở dạng dễ hấp thụ và chuyển hóa. Quá trình xử lý nhiệt để đảm bảo an toàn vi sinh và độ bền của sản phẩm, lại gây ra những biến đổi hóa học trên protein và axit amin, làm giảm khả năng tiêu hóa protein cũng như sinh khả dụng của các axit amin. Ngoài ra, xử lý nhiệt quá mức còn có thể phá hủy một số axit amin.
12.2025 Xác định được các phản ứng hóa học gây hại do nhiệt gây ra trên các nguyên liệu thức ăn, cũng như điều kiện thúc đẩy hoặc kìm hãm chúng, sẽ giúp xây dựng các chiến lược chế biến nhằm giảm thiểu tổn thất chất lượng protein. Ba nhóm phản ứng hóa học gây hại đáng lưu ý gồm: tương tác protein - protein, tương tác protein - carbohydrate và tương tác protein - lipid ôxy hóa. Tương tác protein protein bao gồm các phản ứng tạo liên kết chéo giữa các axit amin trong cùng hoặc giữa các chuỗi protein khác nhau, hoặc giữa các axit amin tự do. Ví dụ điển hình là sự hình thành lysinoalanine (LAL), khi một dạng biến đổi của serine hoặc cysteine phản ứng với lysine. Nghiên cứu trên chuột ăn protein chứa LAL cho thấy lượng LAL thu hồi được trong phân và nước tiểu rất cao chứng tỏ LAL không thể được cơ thể sử dụng hiệu quả như nguồn axit amin (Finot et al., 1977). Tương tác protein carbohydrate được nghiên cứu rộng rãi do vai trò quan trọng của phản ứng Maillard trong chế biến thực phẩm. Tuy nhiên, về mặt dinh dưỡng, phản ứng này rất bất lợi. Ngoài việc làm mất khả năng sử dụng các axit amin đơn lẻ, các biến đổi cấu trúc của chuỗi bên axit amin do phản ứng Maillard làm giảm khả năng tiêu hóa protein bằng cách cản trở hoạt động của enzyme protease (Folk, 1956). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện trên động vật trên cạn; hiểu biết về tác động của sản phẩm Maillard và liên kết chéo trên thủy sản còn rất hạn chế. Tương tác protein - lipid ôxy hóa diễn ra theo cơ chế tương tự. Các sản phẩm ôxy hóa lipid có nhóm carbonyl sẵn sàng
THỨC ĂN DINH DƯỠNG 63
Ảnh: Trudy Nguyễn
phản ứng với nhóm amino của protein. Mặc dù bản chất của đường và lipid khác nhau, hai loại phản ứng này lại có con đường hóa học tương đồng và thường tạo ra sản phẩm phản ứng giống nhau. Ví dụ, carbôxymethyllysine (CML) được hình thành từ phản ứng của cả glucose và axit linoleic ôxy hóa với lysine, và được chứng minh là nguồn lysine kém ở chuột (Somoza et al., 2006). Ngoài ba nhóm trên, còn có phản ứng chuyển đổi đồng phân làm thay đổi cấu trúc axit amin. Các axit amin tự nhiên, dùng để tổng hợp protein, tồn tại ở dạng L. Nhiệt, các điều kiện chế biến khác như xử lý kiềm và vi sinh vật có thể thúc đẩy hình thành dạng D của axit amin (Danielsen et al., 2019; Nissen et al., 2021). Hiểu rõ các phản ứng hóa học do nhiệt gây ra và mối quan hệ của chúng với mức nhiệt, khả năng tiêu hóa và sinh khả dụng của protein và axit amin sẽ mở ra cơ hội sử dụng các phản ứng này làm chỉ số đánh giá chất lượng protein. Nếu phát hiện được mối quan hệ đáng kể, phân tích các phản ứng hóa học này có thể cung cấp cho nhà
sản xuất thức ăn thủy sản một công cụ nhanh, hiệu quả và tiết kiệm để giám sát mức nhiệt trên nguyên liệu, đảm bảo tổn thất chất lượng protein được giảm thiểu. Một số nghiên cứu triển vọng đã được công bố, liên kết sự hình thành axit D-aspartic do nhiệt trong bột nội tạng gia cầm với giảm khả năng tiêu hóa protein biểu kiến, gợi ý rằng axit D-aspartic có thể là chỉ số phù hợp để đánh giá hư hại do nhiệt trong nguyên liệu này (Rocker et al., 2021). Ý nghĩa dinh dưỡng và môi trường Tối ưu hóa khả năng tiêu hóa protein và sinh khả dụng của axit amin trong nguyên liệu thức ăn thủy sản có ý nghĩa tối quan trọng về kinh tế và môi trường. Chẳng hạn, việc tăng 10% khả năng tiêu hóa của protein đậu nành cô đặc (SPC) trong thức ăn cá hồi Na Uy hiện nay có thể giúp giảm khoảng 43.500 tấn SPC cần sử dụng hàng năm (2020) để cung cấp cùng lượng protein tiêu hóa cho cá hồi (Aas et al., 2022). Bên cạnh lợi ích kinh tế và tiết kiệm nguồn lực rõ rệt, cải thiện khả năng tiêu
hóa protein còn làm giảm lượng dưỡng chất không tiêu hóa thải ra môi trường xung quanh qua phân. Điều này giúp giảm bùn thải và hạn chế các tác động bất lợi đến hệ sinh thái thủy sinh, như hiện tượng phú dưỡng. Khi ngành thức ăn thủy sản chuyển đổi sang các nguyên liệu mới, những thách thức cũ cần được xem xét lại và giải quyết. Tập trung nghiên cứu giảm khả năng tiêu hóa protein và sinh khả dụng axit amin do xử lý nhiệt từ những năm 19701990 trên bột cá vẫn có giá trị với các nguyên liệu mới, do đặc tính chứa nhiều nước và dễ bị tổn thương bởi nhiệt. Học hỏi từ các nghiên cứu trước đây và tiếp tục áp dụng, tối ưu hóa quá trình xử lý nhiệt các nguyên liệu mới có thể giúp giảm thiểu tổn thất chất lượng protein và khai thác toàn bộ tiềm năng của nguyên liệu thức ăn mới.
Vũ Đức Theo Aquafeed
64 | THỨC ĂN DINH DƯỠNG
thuysanvietnam.com.vn CHUYÊN TRANG CÓ SỰ TÀI TRỢ CỦA TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA
Ô liu
Chất chống ôxy hóa từ phụ phẩm ô liu là giải pháp tự nhiên và hiệu quả, giúp bảo toàn sắc tố astaxanthin và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thủy sản.
Ôxy hóa thức ăn thủy sản Ở cá, thức ăn bị ôxy hóa là nguyên nhân gây kích ứng ôxy hóa, tăng nguy cơ mắc bệnh, dẫn tới giảm hiệu quả tăng trưởng. Đồng thời, quá trình kích hoạt hệ thống phòng thủ chống ôxy hóa làm gián đoạn sự biểu hiện sắc tố từ astaxanthin, khiến màu thịt cá kém hấp dẫn. Quá trình perôxy hóa lipid thường diễn ra theo 03 giai đoạn: khởi đầu, lan truyền và kết thúc. Trong giai đoạn khởi đầu, các
gốc tự do tấn công các acid béo không bão hòa đa nối đôi (PUFAs), tạo thành gốc lipid phản ứng. Trong giai đoạn lan truyền, các gốc này gây ra phản ứng chuỗi sản sinh hydroperoxide, sản phẩm chính của quá trình ôxy hóa, có thể đo bằng chỉ số peroxide (PV). Hydroperoxide không ổn định và sẽ phân hủy thành các sản phẩm thứ cấp, bao gồm các hợp chất không bay hơi như malondialdehyde (MDA), thường được
Ảnh: Flor Saurina
Phụ gia bảo toàn astaxanthin hiệu quả và bền vững
đánh giá bằng phương pháp TBARS hoặc chỉ số p-anisidine, và aldehyde bay hơi như hexanal và pentanal. Astaxanthin, mặc dù có giá trị sinh học cao, đặc biệt dễ bị ôxy hóa do cấu trúc có khung polyene và nhóm hydrôxyl (-OH) tương tác mạnh với các gốc ôxy phản ứng. Trong suốt quá trình sản xuất và bảo quản, nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phân hủy của astaxanthin, bao gồm cơ học, nhiệt và ôxy hóa. Mỗi yếu tố này,
12.2025 cùng với các yếu tố khác, tích lũy lại gây tổn thất astaxanthin trong toàn bộ chu trình sản xuất, làm giảm đáng kể lượng sắc tố khả dụng và tăng chi phí trên mỗi đơn vị thành phần hoạt tính. Giải pháp tự nhiên Để hạn chế tổn thất kinh tế do ôxy hóa, chất chống ôxy hóa thường được bổ sung vào thức ăn ở nhiều giai đoạn sản xuất. Các chất chống ôxy hóa tổng hợp như ethôxyquin, BHT (Butylated Hydrôxytoluene), BHA (Butylated Hydrôxyanisole) và propyl gallate được thêm vào hỗn hợp khô hoặc lớp phủ chất béo sau ép đùn. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng chất chống ôxy hóa tự nhiên ngày càng tăng do quy định toàn cầu và yêu cầu từ người tiêu dùng. Tháng 2/2025, châu Âu đã giảm mức tối đa propyl gallate (1b310) từ 100 ppm xuống 40 ppm trong thức ăn hoàn chỉnh (độ ẩm 12%) dành cho cá hồi và một số loài cá nhỏ khác. Mặc dù có nhiều chất chống ôxy hóa tự nhiên, việc lựa chọn cần cân nhắc thành phần, hiệu quả chi phí, độ ổn định sản phẩm, tuân thủ quy định và khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Ngành công nghiệp dầu ô liu không chỉ tạo ra các sản phẩm dầu giá trị cao mà còn sinh ra phụ phẩm giàu hợp chất sinh học. Tùy vào công nghệ chế biến, các phụ phẩm này thậm chí có thể tập trung một số nhóm chất chống ôxy hóa nhiều hơn cả dầu ô liu nguyên chất. Các đặc tính bảo quản và chống ôxy hóa của nguyên liệu bã ô liu cải tiến (Novinox® Nat Olea, Innovad Group) đã được nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng. Xuất xứ từ giống ô liu Koroneiki, nguyên liệu này có thành phần sinh hóa phức tạp với hơn 40 hợp chất đã được xác định và chuẩn hóa gồm polyphenol (ví dụ: hydrôxytyrosol, tyrosol) và triterpenoid (ví dụ: maslinic acid, squalene). Sản xuất bằng công nghệ ít tác động, không sử dụng dung môi chiết xuất, Novinox® Nat Olea mang lại giải pháp thân thiện môi trường, hỗ trợ duy trì ổn định ôxy hóa của thức ăn thủy sản. Vật liệu và phương pháp Để đánh giá hỗn hợp chất chống ôxy hóa tự nhiên và tổng hợp, các thí nghiệm ép đùn quy mô thử nghiệm được tiến hành theo ba giai đoạn tại Viện Công nghệ Đan Mạch. Tất cả chế độ ăn đều được sản xuất bằng máy ép
THỨC ĂN DINH DƯỠNG 65 đùn hai trục. Nguyên liệu thức ăn được xay, cân và trộn đều trong máy trộn dải ngang. Mỗi chất chống ôxy hóa được trộn trước với 200 g bột chứa astaxanthin tổng hợp (10% nồng độ; lượng cuối cùng 100 mg/kg). Các viên thức ăn khô được phủ dầu cá với tỷ lệ 150 g/kg; các chất chống ôxy hóa dạng lỏng được áp dụng qua dầu phủ khi cần thiết cho đến khi đạt hàm lượng chất béo cuối cùng 19,9%. Thí nghiệm được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Sàng lọc các chất chống ôxy hóa tự nhiên (chiết xuất hương thảo với 10% carnosic acid, 30% tocopherol, và bã ô liu) bổ sung vào hỗn hợp khô. Nồng độ astaxanthin được phân tích ngay sau ép đùn (Tuần 0 - W0). Giai đoạn 2: So sánh giữa bã ô liu và hỗn hợp chất chống ôxy hóa tổng hợp thông thường. Astaxanthin được phân tích tại W0. Giai đoạn 3: Tối ưu hóa chương trình sử dụng chất chống ôxy hóa đã chọn trên cả hỗn hợp khô và lớp phủ chất béo. Thức ăn được bảo quản ở nhiệt độ môi trường (20-25 °C). Hầu hết mẫu được thu tại W0 và W3; một số mẫu được thu tại W26 để đánh giá cả độ ổn định ngắn hạn và dài hạn. Nồng độ astaxanthin được xác định bằng HPLC. Ôxy hóa lipid sơ cấp được đánh giá bằng chỉ số peroxide (PV, phương pháp ferric thiocyanate, theo tiêu chuẩn IDF), và ôxy hóa thứ cấp được đánh giá bằng TBARS, biểu thị dưới dạng mg malondialdehyde/kg thức ăn. Tất cả các phân tích được thực hiện lặp lại 2 lần. Kết quả Trong giai đoạn 1, khả năng phục hồi astaxanthin trong thức ăn đối chứng (không bổ sung chất chống ôxy hóa) là 51% sau ép đùn, tổn thất 49% trong điều kiện thử nghiệm. Trong điều kiện xử lý khắc nghiệt, mức tổn thất astaxanthin có thể tăng cao hơn. Trong khi bổ sung bã ô liu (500 ppm) hoặc tocopherol khô 30% (500 ppm) trong hỗn hợp khô cải thiện khả năng giữ astaxanthin ở mức tương đương (60%). Ngoài ra, trong khi bã ô liu có lợi thế về hiệu quả chi phí. Chiết xuất hương thảo đạt khoảng 70% astaxanthin phục hồi, nhưng kém hiệu quả chi phí do tỷ lệ sử dụng cao. Các chỉ số ôxy hóa lipid (PV, TBARS) tương đương giữa các phương pháp xử lý. Ở giai đoạn 2, chất chống ôxy hóa tổng hợp trong hỗn hợp khô (500 ppm, gồm 24%
BHA, 8% propyl gallate và 8% axit citric) và lớp phủ dầu (500 ppm dạng lỏng + 500 ppm hỗn hợp 10% ascorbyl palmitate và 5% tocopherol) không bảo vệ astaxanthin tốt hơn bã ô liu (500 ppm trong hỗn hợp khô). Cả hai chương trình đạt khả năng phục hồi astaxanthin tương đương tại W0 (tăng 10 điểm so với thức ăn đối chứng) mà không khác biệt đáng kể về PV và TBARS. Trong giai đoạn 3, bổ sung bã ô liu (500 ppm) và BHT lỏng (100 ppm) trong hỗn hợp khô đạt khả năng phục hồi astaxanthin cao nhất. Tại W3, không ghi nhận hiện tượng hao hụt thêm astaxanthin, cho thấy mức độ ổn định thức ăn trung hạn được cải thiện rõ rệt, với chênh lệch 17 điểm so với đối chứng. Tại W26, khả năng phục hồi astaxanthin là 37% so với 29% ở đối chứng. Các chương trình khác với liều bã ô liu thấp hơn (175 ppm) hoặc kết hợp bã ô liu với hỗn hợp tổng hợp (17% BHT, 7% propyl gallate, 25% axit citric) trong hỗn hợp khô, cùng bổ sung BHT hoặc BHA lỏng trong lớp phủ chất béo, không mang lại lợi ích thêm so với chương trình sử dụng bã ô liu (44-50% astaxanthin tại W3). Chỉ số PV và TBARS không khác biệt giữa các phương pháp xử lý; ngoại lệ, đối chứng có giá trị tăng nhẹ sau ba tuần. Chiến lược sử dụng chất chống ôxy hóa hiệu quả cần cân nhắc các điều kiện thực tiễn, bao gồm thời gian bảo quản, tác động của quá trình chế biến, thành phần nguyên liệu thô, cũng như sự hiện diện của các yếu tố tiền ôxy hóa như hemoglobin và bột huyết. Giải pháp kết hợp giữa các chất chống ôxy hóa tự nhiên như polyphenol và triterpenoid từ ô liu, cùng các hợp chất tổng hợp là chiến lược bền vững giúp ngăn ngừa ôxy hóa thức ăn thủy sản và phù hợp với các khung quy định ngày càng nghiêm ngặt. Ngoài bảo quản thức ăn, polyphenol và triterpenoid còn tăng cường hệ miễn dịch và nâng cao khả năng chịu kích ứng ôxy hóa, góp phần duy trì sức khỏe chuyển hóa tổng thể của cá.
Dũng Nguyên Theo InternationalAquafeed
66 | KHOA HỌC - KỸ THUẬT
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
HỎI - ĐÁP | 67
68 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Bệnh đường ruột trên tôm và biện pháp xử lý triệt để
AQ – 6S Vi sinh xử lý môi trường Chế phẩm vi sinh chuyên xử lý tảo, chất hữu cơ dư thừa và bùn đáy ao nuôi,ức chế triệt để Vibrio spp. …
B
ệnh đường ruột ở tôm khá phổ biến với các biểu hiện bệnh như phân trắng, đứt khúc, trống ruột, phân loãng,...kéo dài có thể dẫn đến hư gan tụy của tôm. Bệnh thường xảy ra ở tôm nuôi sau 1 tháng, mức độ xảy ra nhiều nhất vào giai đoạn 60-90 ngày tuổi, gây ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của vụ nuôi, nếu không phòng và điều trị kịp thời sẽ làm giảm năng suất và chất lượng tôm nuôi.
Nguyên nhân Nhiễm vi khuẩn Vibrio spp: khi chất lượng nước kém, mật độ Vibrio tăng cao, xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh cho tôm. Hầu hết các chủng Vibrio đều có khả năng gây bệnh, khi vào đường ruột, vi khuẩn phá hủy thành ruột gây viêm, tôm không ăn được dẫn đến trống ruột, đứt khúc. Nhiễm ký sinh trùng Gregarine (trùng 2 tế bào): khi tôm ăn phải ký chủ của loài Gregarine này như nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, giun nhiều tơ, ốc... sẽ bị ấu trùng xâm nhập vào ruột, phát triển thành dạng trưởng thành, sống ký sinh và bám vào thành ruột. Khi mật độ Gregarine dày đặc sẽ làm tắc
nghẽn ruột, hình thành những tổn thương ở đường ruột tạo điều kiện cho tác nhân cơ hội tấn công gây bệnh cho tôm nuôi. Thức ăn: - Tôm ăn thức ăn bị ẩm mốc, nhiễm khuẩn gây ngộ độc cho tôm. - Tôm ăn phải tảo độc trong ao như tảo lam: loài tảo độc này sẽ tiết độc tố làm tê liệt lớp biểu bì mô ruột, làm ruột không hấp thu được thức ăn, tôm yếu và bị bệnh. Môi trường: - Thời tiết thất thường như mưa nắng kéo dài cũng làm cho tôm yếu, bỏ ăn làm cho ruột trống. - Chất lượng nước kém: nước đục, nhiều bọt dơ, tảo tàn, tảo nở hoa, khí độc... làm cho tôm stress, ăn kém hoặc bỏ ăn. Khi đường ruột tôm bị tổn thương và suy giảm các chức năng của cơ quan này, tôm không hấp thụ được thức ăn làm giảm sức khỏe tôm, cùng với sự tấn công của các tác nhân cơ hội sẽ làm tôm bệnh nghiêm trọng hơn và chết. Tác hại Mặc dù không gây chết hàng loạt trong thời gian ngắn, nhưng sẽ làm tôm bị bệnh mãn tính, khó điều trị. Tôm bị bệnh, bỏ ăn, không bắt mồi, còi cọc, không
AQUAFEED/ AQUAMEDICA Men đường ruột Ức chế phân trắng, phân loãng, trống ruột, đứt khúc sau 3 ngày
lớn, hoạt động yếu gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm nuôi. Các biện pháp phòng chống bệnh đường ruột Kiểm soát tốt chất lượng nước: diệt khuẩn định kỳ, xử lý chất hữu cơ dư thừa, bùn đáy ao, tảo độc, thường xuyên kiểm tra nồng độ Ôxy hòa tan (>4ppm) tốt nhất là 5ppm (kích thích tôm ăn khỏe, lớn nhanh, ít bị bệnh tấn công). Kiểm soát chất lượng thức ăn và lượng cho ăn: đảm bảo thức ăn sạch, hạn chế lượng thức ăn dư thừa gây ô nhiễm hữu cơ. Tăng sức đề kháng và diệt mầm bệnh trong đường ruột tôm. Sử dụng chế phẩm sinh học: - Chế phẩm vi sinh: ổn định hệ vi khuẩn đường ruột, tăng mật độ vi khuẩn có lợi trong đường ruột tôm; chủng vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng; vi sinh xử lý
BATENDO Chế phẩm vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng
nước và đáy ao nuôi để phân hủy chất hữu cơ, thức ăn dư thừa. - Chế phẩm enzyme: enzyme hỗ trợ tiêu hóa, enzyme cắt tảo độc, xử lý nước ao ô nhiễm hữu cơ. Đề xuất giải pháp từ Công ty Thái Nam Việt Bệnh đường ruột ở tôm nuôi tuy không gây chết hàng loạt nhưng lại làm giảm chất lượng tôm và năng suất vụ nuôi, do đó, cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, việc điều trị bệnh có thể nhanh chóng và hiệu quả nhưng sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển sau đó của tôm nuôi, do đó bệnh này chủ yếu phòng là chính. Sử dụng chế phẩm sinh học sẽ giải quyết được vấn đề mục tiêu và đảm bảo cho sự tăng trưởng và sức khỏe tôm, hạn chế được thiệt hại và nâng cao năng suất.
Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Công nghệ - Kỹ thuật - Sinh hóa Thái Nam Việt Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, P. Tăng Nhơn Phú, TP.Hồ Chí Minh ĐT: 0888 59 63 66 - 0888 69 36 39 - 0916865938 Email: info@thainamviet.com - Website: thainamviet.com
TNV
12.2025
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 69
Phòng trị bệnh ký sinh trùng trên cá mú nuôi công nghiệp Cá mú (tên khác là cá song) là loài cá biển có thịt chứa nhiều chất dinh dưỡng, rất ngon… nên được người dân trong và ngoài nước ưa thích tiêu thụ. Là đối tượng có giá trị kinh tế cao, do vậy cá mú hiện nay được phát triển nuôi công nghiệp trong lồng bè và trong ao hồ ven biển từ miền Bắc, miền Trung và miền Nam với mật độ cao.
T
ập tính cá mú là loài cá dữ ăn tạp thiên về động vật, trong tự nhiên cá mú có thể ăn các loại động vật khác như tôm tép, các loài cá nhỏ…, trong nuôi công nghiệp cá mú cũng có thể ăn thức ăn chế biến công nghiệp đạm cao. Chính tập tính ăn tạp và cá thả nuôi mật độ cao làm cho môi trường nuôi rất dễ ô nhiễm, phú dưỡng trong nước tăng, phát sinh nhiều mầm bệnh, nhất là các nguyên sinh động vật (Protozoa) và các loài ký sinh trùng khác như trùng bánh xe, sán lá, đỉa biển, con rận (bọ) cá, giáp xác chân chèo… Tùy mức độ nhiễm ký sinh trùng mà cá mú có biểu hiện như ngứa ngáy bơi mất phương hướng, gầy yếu, trường hợp bệnh nặng cá bơi lờ đờ, bỏ ăn, cá đổi màu, mang cá nhợt nhạt, da, mang xuất huyết nhẹ, tiết nhiều nhớt và chết rải rác… Biện pháp khắc phục: Bằng cách kiểm soát các loài ký sinh trùng phát triển trong môi trường nuôi cũng như ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể cá nuôi.
Phòng bệnh bệnh ký sinh trên cá mú Vệ sinh khu nuôi: + Đối với cá mú nuôi ao, trước khi thả cá 2 tuần: Vệ sinh ao nuôi, loại bỏ vật chủ trung gian gây bệnh ký sinh. Dùng BIO GREEN CUT (đồng nguyên tử) liều 1 lít/1.000 m3 nước (1 ppm) diệt khuẩn, diệt các loài ốc… vật chủ trung gian mang mầm bệnh hoặc dùng BIO PARACIDE (thành phần Bronopol) liều 1 lít/1.000 m3 nước (1 ppm). + Đối với cá mú nuôi bè, trước khi thả cá 1 tuần: Vệ sinh lưới, dụng cụ lồng bè bằng BIO PARACIDE (thành phần Bronopol) liều 10 ml/m3 nước (10 ppm). Thả cá mú giống: Cá mú trước khi thả vào ao hoặc bè nuôi nên tắm qua BIO PARACIDE (thành phần Bronopol) liều 10 ml/m3 nước (10 ppm) trong 20 – 30 phút. Mục đích loại bỏ mầm bệnh do vi khuẩn, các nguyên sinh động bám (protozoa), cũng như các động vật ký sinh khác… Chăm sóc cho cá ăn: Trong khẩu phần ăn cho cá mú nên bổ
sung thường xuyên Vitamin C (liều 1 g/kg thức ăn) và bổ sung chất Beta-Glucan (mỗi ngày 1 cữ), giúp tăng sức đề kháng, tăng cường miễn dịch cho cơ thể cá mú luôn khỏe mạnh. Trị bệnh ký sinh trùng Trộn cho cá ăn BIO ANTIPA for Aqua liều 100 g/2 tấn cá, ngày trộn 1 lần trong 2 ngày liên tục. Thuốc BIO ANTIPA for Aqua với thành phần chính là Praziquantel khi cá mú ăn, thuốc hấp thu qua ruột rồi đi vào máu đến khắp cơ thể cá. Khi các loài ký sinh trùng bám hút dinh dưỡng cá, thuốc sẽ theo máu đi vào cơ thể ký sinh trùng và gây ngộ độc các loài ký sinh trùng này sẽ chết. Định kỳ 1 đến 1,5 tháng cho cá ăn BIO ANTIPA for Aqua lặp lại 1 đợt tùy tình trạng cá bị nhiễm nhiều hay ít. Ngoài ra, người nuôi có thể kết hợp tắm cá bằng BIO PARACIDE (thành phần Bronopol) thì hiệu quả điều trị bệnh ký sinh trùng càng cao. Vào vụ đông, biển động, thời tiết thất thường… lại là mùa phát
triển nhiều ký sinh trùng, chúng dễ tấn công cá, làm ảnh hưởng sức khỏe cá nuôi. Các ký sinh trùng này cũng là tác nhân gây các bệnh khác như xuất huyết, lở loét, nấm… Do vậy, người nuôi cá mú phải xử lý, điều trị bệnh ký sinh trùng định kỳ, để kiểm soát dịch bệnh, đồng thời giúp cá mau lớn, ít hao đầu con góp phần tăng năng suất cá nuôi.
Đặng Hồng Đức Cố vấn kỹ thuật Công ty Liên doanh Bio-Pharmachemie
70 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
GOAL MAX 3 NHANH Bí quyết để được lái tôm ôxy thích mê
12.2025
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 71
Đại lý Minh Nhật (tỉnh Cà Mau) Nuôi tôm luôn là một hành trình dài đầy thử thách Trong suốt quá trình nuôi tôm, người nuôi phải liên tục đối diện với các biến động môi trường và dịch bệnh. Nhưng ngay cả khi chuẩn bị thu hoạch – thời điểm được kỳ vọng mang lại kết quả tốt nhất – tôm vẫn có thể gặp những vấn đề như nhợt màu, vỏ mềm, chậm rút size, cơ thịt yếu, khiến giá bán giảm và không đủ điều kiện vận chuyển ôxy đường xa. Đây là những yếu tố làm suy giảm đáng kể giá trị thương phẩm và lợi nhuận cuối vụ. Với mong muốn đồng hành cùng bà con trong giai đoạn quyết định nhất của vụ nuôi, đội ngũ chuyên gia dinh dưỡng thức ăn thủy sản của C.P. Việt Nam đã nghiên cứu và phát triển dòng thức ăn tôm GOAL MAX – một giải pháp dinh dưỡng chuyên
Anh Phong (TP. Cần Thơ) biệt giúp tôm lên màu nhanh, phát triển kích cỡ mạnh mẽ, duy trì sức khỏe vượt trội, từ đó đạt chất lượng thương phẩm tối ưu trước khi xuất bán. Ba “nhanh” nổi bật của GOAL MAX Rút size nhanh: Công thức dinh dưỡng chuyên biệt của GOAL MAX hỗ trợ quá trình lột xác diễn ra mạnh mẽ và ổn định, giúp tôm rút size nhanh, đồng đều và đạt kích cỡ mong muốn trong giai đoạn cuối vụ. Tăng cơ bắp nhanh: Với tỷ lệ axit amin được cân chỉnh khoa học, GOAL MAX đáp ứng tối ưu nhu cầu dinh dưỡng của tôm ở giai đoạn thúc cuối. Nhờ đó, tôm phát triển khối cơ săn chắc, sức chống chịu cao, duy trì thể trạng khỏe mạnh – yếu tố quan trọng để vận chuyển ôxy đường xa, điển
hình như các chuyến hàng từ Đồng bằng sông Cửu Long ra Hà Nội. Tạo màu nhanh: Bộ khoáng chất đặc hiệu trong GOAL MAX giúp sắc tố vỏ tôm phát triển rõ rệt, tạo màu nhanh, bền và đồng nhất. Khi đưa vào chế biến, tôm cho màu đỏ đậm tự nhiên, thịt tươi và bắt mắt, góp phần nâng cao giá trị thương phẩm. Hiệu quả thực tế từ các vùng nuôi trọng điểm Kết quả quan sát tại một số mô hình nuôi ở Vĩnh Long, Cần Thơ cho thấy, chỉ sau 3–4 ngày sử dụng GOAL MAX, tôm bắt đầu thể hiện sự cải thiện rõ rệt: vỏ cứng và bóng, cơ thịt săn chắc, màu sắc sáng hơn và râu đỏ nổi bật. Những đặc điểm này giúp tôm đáp ứng tốt yêu cầu thu mua, với mức giá cao hơn phổ biến từ 5.000–10.000 đồng/kg,
thậm chí cao hơn, tùy thời điểm và khu vực. Duy trì tăng trưởng ngay cả trong điều kiện độ mặn thấp Thực tế từ nhiều ao nuôi cho thấy tôm vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định khi độ mặn xuống thấp vào mùa mưa (8–13 ppt). Nhiều đàn tôm đạt size lớn, như mức 11,7 con/kg – con số đáng chú ý trong điều kiện nuôi gặp nhiều thách thức. Giải pháp nâng cao giá trị tôm Việt Từ hiệu quả đã được ghi nhận tại các vùng nuôi, GOAL MAX đang trở thành lựa chọn quan trọng giúp người nuôi nâng hiệu quả kinh tế, tối đa lợi nhuận cho từng vụ nuôi. C.P. VIỆT NAM
72 | MÔ HÌNH
thuysanvietnam.com.vn CHUYÊN TRANG CÓ SỰ TÀI TRỢ CỦA TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA
Kỳ tích nuôi tôm trên vùng cát trắng Khánh Hòa Giữa vùng cát trắng hoang vu của xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa, ông Võ Văn Sơn - người được mệnh danh là “tỷ phú tôm” đã viết nên câu chuyện thành công đầy ấn tượng. Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Sơn trở thành một trong những điển hình lớn nhất vùng
Biến thách thức thành cơ hội Điều đặc biệt trong hành trình của ông Sơn là khả năng biến thách thức thành cơ hội. Vùng cát trắng Phước Dinh từng được coi là khắc nghiệt, khó canh tác, nay đã trở thành nơi sản xuất tôm trù phú. Mỗi ao tôm không chỉ là nguồn thu nhập mà còn là minh chứng cho tầm nhìn, nghị lực và sự kiên định của ông. Chia sẻ về chuyện bén duyên với nghề nuôi tôm, ông Võ Văn Sơn cho biết, trước đây, ông từng làm tài xế xe khách trong nhiều năm - một công việc đầy vất vả. Chính những thử thách ấy đã giúp ông vun đắp nghị lực, biến vùng đất khắc nghiệt thành trang trại tôm trù phú. Vào những năm 1990, khi mô hình nuôi tôm sú trên cát bắt đầu phát triển tại vùng ven biển Phước Dinh, ông Sơn quyết định thử sức. Với diện tích 2 ha và số vốn khiêm tốn, ông vừa làm vừa học hỏi kinh nghiệm thực tế. Sau 5 năm, gia đình ông đã tích lũy đủ kỹ thuật và vốn liếng để mở rộng quy mô.
Tuy nhiên, thời gian sau đó, mô hình nuôi tôm sú đã liên tiếp gặp thất bại do dịch bệnh. Đến năm 2006, ông Sơn đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng. Đây là một quyết định táo bạo, bởi nuôi tôm thẻ chân trắng đòi hỏi kỹ thuật cao hơn và chi phí đầu tư đáng kể. Mặc dù vậy, với sự quyết đoán và tinh thần không ngừng học hỏi, ông Sơn đã tự mình mày mò, tìm hiểu và áp dụng các mô hình nuôi tôm siêu thâm canh công nghệ cao. Thay vì phụ thuộc vào tự nhiên, ông đầu tư ao nuôi lót bạt và trang bị hệ thống máy móc hiện đại để kiểm soát tối ưu chất lượng nước, thức ăn và môi trường nuôi. Kết quả, chỉ sau hơn ba tháng, ông Sơn thu hoạch lứa tôm thẻ chân trắng đầu tiên, với lợi nhuận 200 triệu đồng. Sau đó, ông mở rộng diện tích nuôi, mỗi năm tăng thêm từ 3 đến 5 ha. Mở hướng phát triển mới Chia sẻ về bí quyết thành công, ông Sơn cho biết, người
dân ở đây chủ yếu nuôi tôm theo cách truyền thống, chỉ sau 2 - 2,5 tháng đã thu hoạch. Với phương pháp này, tôm chỉ đạt kích cỡ khoảng 100 con/kg, giá bán thấp nên lợi nhuận không cao. Khác với số đông, ngay từ những ngày đầu, ông quyết định kéo dài thời gian nuôi lên hơn 3 tháng để tôm đạt cỡ 50 - 60 con/kg, cho thu nhập cao hơn. Đồng thời, ông luôn ưu tiên giữ môi trường ao nuôi sạch, không ô nhiễm - yếu tố then chốt giúp nâng cao chất lượng tôm và duy trì năng suất ổn định. Chính chiến lược bền vững này đã giúp ông gặt hái thành công suốt nhiều năm qua. Hiện, mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Sơn trở thành một trong những điển hình lớn nhất vùng. Với diện tích khoảng 20 ha, gia đình ông thả nuôi 2 vụ/năm, đạt bình quân năng suất khoảng 15 tấn/ha, tổng sản lượng khoảng 600 tấn. Giá bán tôm dao động từ 150.000 - 200.000 đồng/kg (tôm cỡ 50 con/kg), giúp tổng doanh thu
Ảnh: Bùi Phụ
vượt 45 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí vẫn lãi hơn 12 tỷ đồng. Nhiều năm qua, ông Võ Văn Sơn luôn sẵn sàng chia sẻ bí quyết với bà con địa phương. Ông hướng dẫn tận tình từ cách chăm sóc, quản lý ao nuôi đến kỹ thuật thả giống và kiểm soát thức ăn, giúp nhiều hộ áp dụng hiệu quả, nâng cao năng suất và thu nhập. Nhờ sự cởi mở và tận tâm này, các hộ nuôi trong vùng đã áp dụng thành công phương pháp của ông, nâng cao năng suất, thu nhập ổn định, đồng thời góp phần lan tỏa mô hình nuôi tôm công nghệ cao. Bên cạnh nghề nuôi tôm, ông Sơn còn mở đại lý cung cấp thức ăn, hỗ trợ bà con địa phương mua trả sau. Tấm lòng nhân ái này đã giúp đỡ hàng chục ha nuôi tôm của người dân được mùa, trúng giá, góp phần hình thành một vùng nuôi tôm trù phú, phát triển.
Nam Cường
12.2025
MÔ HÌNH | 73
Thái Lan
Nuôi cá chẽm trong ao đất Nhờ kỹ thuật quản lý ao, chăm sóc và cho ăn tỉ mỉ, mô hình nuôi cá chẽm trong ao đất của trang trại Boonsawang cho sản lượng trên 700 tấn/ năm, đưa sản phẩm này trở thành chuẩn mực chất lượng cao tại Thái Lan. Từ ao đất đến bàn ăn Nhật Bản Trang trại Boonsawang rộng 31 ha tại Bangpakong, Chachengsao theo đuổi mô hình nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) trong ao đất hơn 10 năm qua với sản lượng ổn định trên 700 tấn/năm, năng suất 23 tấn/ ha. Ông Suthi Mahalao, chủ trang trại Boonsawang cho biết, nếu thị trường tiêu thụ đủ mạnh, sản lượng có thể vượt 1.000 tấn mỗi năm. Cá chẽm Boonsawang được các thị trường cao cấp công nhận nhờ hương vị hoàn toàn tự nhiên, không hóa chất hay kháng sinh. Ông Suthi phát minh ra thùng phân loại cá, hiện được nhiều nông dân Thái Lan áp dụng, đồng thời mở dịch vụ đào tạo về sử dụng thức ăn viên trong nuôi cá chẽm. Hiện ông là Chủ tịch Hiệp hội Nuôi cá biển Thái Lan và đã nhận hơn 20 giải thưởng lớn, trong đó có “Nông dân nuôi cá xuất sắc” tại Lễ Tịch Điền 2017, giải Lert Rat 2018, cùng giải thưởng từ Cục Tiêu chuẩn Nông sản và Thực phẩm Quốc gia Thái Lan. Cá chẽm của trang trại Boonsawang được các đầu bếp
Nhật Bản khắt khe tại Bangkok lựa chọn để chế biến sashimi, trong đó có nhà hàng cao cấp Kensaku và Copper Buffet. Ngoài ra, cá chẽm Boonsawang cũng được sử dụng cho món “Ikejime” Thái Lan - phương pháp chế biến giữ nguyên độ tươi ngon. Chỉ những loại cá sạch, không mùi tanh hay bùn mới có thể trở thành nguyên liệu Ikejime. Hiện giá cá chẽm tươi sống tại trang trại Boonsawang dao động 70-120 THB/kg (tương đương 3,4 USD/kg), tùy kích cỡ từ 400 g đến 3 kg. Riêng cá cỡ 5-6 kg được nuôi phục vụ các phân khúc đặc biệt như nguyên liệu chế biến Ikejime.
Quy trình nuôi chuẩn Phần lớn người tiêu dùng ưa chuộng cá nuôi lồng biển hơn ao đất, do mùi vị và chất lượng. Tuy nhiên, Boonsawang chọn ao đất với độ mặn 15-18ppt vì dễ quản lý và nhờ kinh nghiệm lâu năm của ông Suthi. Người chủ trang trại này đã khắc phục các vấn đề thường gặp ở nuôi ao đất như mùi bùn, vị, kết cấu thịt và chất lượng cá. Trang trại Boonsawang bắt đầu thả cá giống có kích cỡ 12,7 cm, mật độ thả tùy thuộc vào trọng lượng dự kiến: cá 500g với mật độ 5 con/m², cá 1kg thả 3 con/m², cá lớn hơn chỉ 1 con/m². Khu nuôi vỗ chiếm 30% diện tích trang trại. Cá giống được kiểm dịch nghiêm ngặt trước khi thả để đảm bảo không ký sinh trùng và mầm bệnh. Nước ao được chuẩn bị ít nhất một tuần trước khi thả, với thông số tối ưu: pH 7,5-8,5, độ kiềm >100ppm, độ trong 10-20cm, độ mặn 15-30ppt, ammonia nitrite bằng 0. Tỷ lệ sống trong chu kỳ 6 tháng đạt trên 80%, với tốc độ tăng trưởng trung bình 5,4 g/ngày. Theo ông Suthi, khâu cho ăn là yếu tố then chốt trong nuôi cá. Cá giống được phân thành 5 nhóm theo hành vi ăn để điều chỉnh lượng
Ảnh: ST
và tần suất phù hợp. Năm 2004, ông trở thành người đầu tiên thuần hóa cá 2,5 cm sang thức ăn viên, đồng thời phát triển 10 kích cỡ pellet khác nhau, từ 23-30 mm, đáp ứng từng giai đoạn phát triển của cá lớn. Thức ăn được rải theo hình quạt vào sáng sớm và chiều muộn để cá không bị ánh sáng mạnh làm sợ. Ông Suthi không dùng máy tự động, mà quan sát trực tiếp tình trạng cá và kiểm soát lượng ôxy hòa tan khi cá tiêu hóa thức ăn. Nền tảng chất lượng Trang trại Boonsawang đặc biệt chú trọng đến đất và nước, vận dụng nguyên tắc “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Ao được xử lý cơ học bằng nước, luân phiên khô ướt nhiều lần để loại bỏ vi khuẩn, ốc và cỏ dại. Quá trình chuẩn bị kéo dài 50 ngày, bao gồm phơi khô, cấp nước 60 cm, sục khí 2 ngày, bổ sung vi sinh Bacillus, vôi hóa và điều chỉnh nước. Nhờ đó, cá nuôi không còn mùi bùn và giữ được chất lượng thịt cao. Ông Suthi nhấn mạnh: “Nuôi cá trong ao đất có thể đạt hiệu quả vượt trội nếu người nuôi biết quản lý bằng kiến thức và kinh nghiệm. Tôi luôn sẵn sàng chia sẻ với những ai đam mê học hỏi, bởi tôi yêu nghề nuôi cá và coi việc truyền đạt kinh nghiệm là điều quan trọng. Cung cấp thủy sản an toàn, chất lượng cho thế giới là trách nhiệm của người nông dân. Chúng ta cần trân trọng đóng góp của mình trong việc nuôi dưỡng con người bằng thực phẩm an toàn”. Dũng Nguyên Theo Asia Aquaculture
74 | KHUYẾN NÔNG
thuysanvietnam.com.vn CHUYÊN TRANG CÓ SỰ TÀI TRỢ CỦA TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA
Khuyến nông cộng đồng
Cầu nối đưa nông nghiệp vào thời kỳ đổi mới Tổ khuyến nông cộng đồng, sau khi kiện toàn theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ tháng 7/2025, đang trở thành lực lượng then chốt kết nối nông dân, doanh nghiệp và chính quyền, mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp bền vững tại miền núi phía Bắc.
T
rong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch theo hướng sinh thái, hiện đại và thị trường hóa, hoạt động khuyến nông không còn chỉ là chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, mà ngày càng trở thành cầu nối quan trọng, giúp nông dân tiếp cận tri thức, công nghệ, thị trường và nguồn lực. Một trong những điểm sáng hiện nay là mô hình Tổ khuyến nông cộng đồng (KNCĐ), được triển khai toàn quốc từ năm 2022 và được kiện toàn theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp kể từ tháng 7/2025, với mục tiêu đa giá trị: tích hợp kiến thức kinh tế nông nghiệp, gắn kết cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) và các tổ chức chính trị – xã hội. Trong các hội nghị, tọa đàm do Trung tâm Khuyến nông quốc gia phối hợp với các địa phương tổ chức, gần đây nhất là tại Phú Thọ (28/11/2025) và Ninh Bình (24–25/11/2025), các lãnh đạo khuyến nông, đại diện chính quyền địa phương, nông dân, doanh nghiệp đã chia sẻ
kinh nghiệm, thảo luận giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ KNCĐ. Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cả nước đã có 5.187 tổ KNCĐ với 47.493 thành viên, trong đó Phú Thọ có 39 tổ với 249 thành viên. Số liệu này phản ánh sự phát triển nhanh chóng của mô hình, đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi nông nghiệp vẫn là sinh kế chủ yếu. Khác với trước đây, khuyến nông không còn dừng lại ở tư duy “hỗ trợ”, mà hướng tới “kết nối – tích hợp” đa chiều. Các tổ KNCĐ đã phối hợp trực tiếp với cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp và HTX để: Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và hướng dẫn kỹ năng sản xuất; Hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết, truy xuất nguồn gốc, cam kết an toàn thực phẩm; Tổ chức tập huấn, đào tạo, ứng dụng chuyển đổi số. Nhờ vậy, nông dân được nâng cao năng lực sản xuất, tăng thu nhập, đồng thời tham gia liên kết sản xuất theo hợp đồng với doanh nghiệp, bảo đảm sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.
Đông đảo cán bộ khuyến nông từ các địa phương cùng chia sẻ kinh nghiệm hoạt động hiệu quả Ảnh: TTKNQG
Kinh nghiệm từ địa phương cho thấy, việc tổ chức khuyến nông cộng đồng gần dân, sát dân đã tạo hiệu quả rõ rệt. Tại Phú Thọ, các tổ KNCĐ đã tham gia tư vấn kỹ thuật, đồng thời hỗ trợ UBND các xã tuyên truyền, hướng dẫn người dân tham gia lớp tập huấn, xây dựng mã số vùng trồng, cam kết an toàn thực phẩm, góp phần cải thiện năng suất và chất lượng nông sản. Tuy nhiên, đại diện địa phương cũng chỉ ra những thách thức: sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; năng suất chưa đồng đều; chuỗi liên kết còn lỏng lẻo; thiếu minh bạch trong giá trị sản phẩm. Để vượt qua những khó khăn này, các ý kiến tập trung vào ba nhóm giải pháp chính: Bố trí kinh phí hoạt động, trang thiết bị, máy móc; duy trì lực lượng cộng tác viên khuyến nông; kiện toàn tổ chức theo mô hình chính quyền 2 cấp. Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Lê Quốc Thanh nhấn mạnh, các tổ KNCĐ là lực lượng quan trọng nhất trong hệ thống khuyến nông, đồng thời là
công cụ chính sách vĩ mô thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp. Ông đề nghị: “Các tổ KNCĐ cần chủ động học tập nâng cao kiến thức chuyên môn, ứng dụng chuyển đổi số, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, đẩy mạnh liên kết với HTX, doanh nghiệp, giúp nông dân có thị trường tiêu thụ ổn định”. Từ kết quả triển khai 4 năm qua, có thể thấy mô hình Tổ KNCĐ đã thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp, tri thức hóa nông dân, đặc biệt ở các vùng nguyên liệu: nông dân được tổ chức sản xuất theo mô hình HTX, tham gia liên kết sản xuất theo hợp đồng, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Hoạt động khuyến nông cộng đồng không chỉ dừng ở hỗ trợ kỹ thuật, mà còn trở thành cầu nối, “bảo hiểm tri thức” cho người nông dân, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa khuyến nông, thu hút doanh nghiệp và tổ chức tham gia.
Nguyễn Khánh
12.2025
KHUYẾN NÔNG | 75
Hiệu quả từ mô hình nuôi tôm nước lợ thích ứng biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu đang đặt các vùng nuôi thủy sản trước thách thức sống còn. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều mô hình nuôi tôm nước lợ bền vững, giảm phát thải và thích ứng
Mô hình nuôi tôm thẻ siêu thâm canh đang được nhiều nông dân Cà Mau quan tâm Ảnh: KN Cà Mau
với thiên tai đã chứng minh: phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường có thể song hành.
B
iến đổi khí hậu (BĐKH) không còn là câu chuyện của tương lai. Nước biển dâng, xâm nhập mặn sâu vào nội địa, sự biến đổi bất thường của thời tiết đang làm đảo lộn nông nghiệp và thủy sản ở Việt Nam, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong bối cảnh này, việc chuyển đổi các phương thức nuôi tôm truyền thống sang những mô hình thân thiện môi trường, thích ứng với BĐKH không chỉ là yêu cầu mà còn là cơ hội để nâng cao năng suất, giảm rủi ro và tăng thu nhập cho nông dân. Thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã triển khai nhiều dự án điển hình, hướng đến mục tiêu phát triển nuôi tôm nước lợ bền vững và thích ứng với BĐKH. Các mô hình này không chỉ áp dụng tiến bộ kỹ thuật mà còn tạo ra chuỗi liên
kết từ sản xuất đến tiêu thụ, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và ổn định sinh kế. Một trong những mô hình nổi bật là nuôi tôm sinh thái trong rừng ngập mặn. Kết quả tại Cà Mau cho thấy năng suất tôm đạt 600 kg/ha, hiệu quả kinh tế 60–70 triệu đồng/ha, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, hướng tới thương hiệu tôm rừng bền vững. Song song đó, mô hình nuôi luân canh, xen canh tôm – lúa mang lại lợi ích kép về kinh tế và sinh thái. Các dự án triển khai tại Cà Mau, Vĩnh Long, Cần Thơ đã chứng minh việc chuyển đổi những diện tích lúa kém hiệu quả sang mô hình tôm-lúa hữu cơ giúp tăng năng suất, giảm chi phí và nâng cao tỷ suất lợi nhuận lên 36–48%. Giống tôm sú và tôm càng xanh được chọn lọc có khả năng thích nghi cao với độ mặn, nhiệt độ, kết hợp với lúa chịu mặn như ST24, ST25 giúp tạo ra hệ sinh thái đồng trồng đồng nuôi, giảm rủi ro dịch bệnh và tăng giá trị kinh tế. Trong bối cảnh BĐKH ngày càng cực đoan, nuôi tôm thâm canh thích ứng biến đổi khí hậu đã được triển khai rộng rãi. Các
mô hình tại Quảng Trị, Huế, Vĩnh Long, An Giang và Cà Mau áp dụng công nghệ sinh học, vi sinh, công nghệ 4.0 và hầm biogas để quản lý môi trường ao nuôi, giảm phát thải và chi phí. Tỷ lệ sống tôm từ giai đoạn ương đến thương phẩm đạt 85–100%, năng suất 25–36 tấn/ha/vụ, lợi nhuận từ 600–900 triệu đồng/ ha, cao gấp 2–3 lần nuôi truyền thống. Hệ thống cảnh báo môi trường tự động giúp chủ động kiểm soát pH, nhiệt độ, ôxy hòa tan, giảm rủi ro thiên tai và cải thiện chất lượng sản phẩm. Không chỉ chú trọng kỹ thuật, Trung tâm Khuyến nông quốc gia còn đặc biệt quan tâm đến tổ chức liên kết sản xuất. Mô hình liên kết ngang (tổ hợp tác, hợp tác xã) và liên kết dọc giữa nhà nước – nhà khoa học – nhà nông – doanh nghiệp – cơ sở chế biến giúp giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và ổn định đầu ra. Ví dụ, nuôi tôm - rừng tại Cà Mau đạt năng suất 625 kg/ha/năm, lợi nhuận trung bình 87,7 triệu đồng/ha, cao hơn ngoài mô hình 46%. Tương tự, nuôi tôm công nghiệp quy mô nhỏ tại Quảng
Ninh và tôm trên cát tại Hà Tĩnh cũng đạt hiệu quả cao hơn đáng kể so với phương thức truyền thống nhờ liên kết kỹ thuật và tối ưu chi phí đầu vào. Theo ông Hoàng Văn Hồng – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, để phát triển bền vững nghề nuôi tôm trong thời gian tới, các địa phương cần ưu tiên nuôi tôm theo quy hoạch, cấp mã số vùng nuôi và đảm bảo hệ thống kênh mương cấp thoát nước ổn định, vừa giúp quản lý môi trường, dịch bệnh, vừa giảm thiệt hại cho người dân. Bên cạnh đó, chất lượng con giống và vật tư đầu vào phải được kiểm soát nghiêm ngặt, đồng thời xử lý kịp thời các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn để bảo vệ nông dân. Đồng thời, việc đa dạng hóa các mô hình nuôi – từ tôm lúa, tôm rừng ngập mặn đến các mô hình thông minh khác cần dựa trên điều kiện và lợi thế của từng địa phương. Về kỹ thuật, việc quan trắc và cảnh báo môi trường, tuân thủ lịch mùa vụ thả nuôi là yếu tố then chốt để nâng cao tỷ lệ sống và năng suất. Bên cạnh đó, xây dựng liên kết sản xuất, củng cố hợp tác xã, tổ hợp tác, với vai trò dẫn dắt của khuyến nông cơ sở và cộng đồng, là giải pháp giúp ổn định chuỗi giá trị từ nuôi đến tiêu thụ. Ông Hồng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác công tư (PPP), các doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ, thức ăn, con giống và dịch vụ đầu vào phải đồng hành cùng nông dân để giảm chi phí, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sản xuất. Cùng với đó, việc truyền thông, giới thiệu các mô hình nuôi tôm hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ giúp nhân rộng các giải pháp bền vững trên toàn vùng ĐBSCL. Thùy Khánh
76 | KHOA HỌC - KỸ THUẬT
thuysanvietnam.com.vn
Cá giống cần đảm bảo khỏe mạnh, đều cỡ, màu sắc tươi sáng Ảnh: K. Lực
Phòng trị bệnh trùng mỏ neo trên cá nước ngọt Trùng mỏ neo là ký sinh trùng phổ biến trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt tại các ao nuôi cá nước ngọt. Chúng không chỉ làm chậm tốc độ tăng trưởng của cá mà còn gây suy giảm hệ miễn dịch, khiến cá dễ mắc thêm nhiều bệnh khác. Việc phát hiện sớm, xử lý đúng cách giúp bảo vệ sức khỏe cá, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Nguyên nhân Trùng mỏ neo (Lernaea spp.) là một loại ký sinh trùng thuộc ngành giáp xác. Chúng có hình dạng giống mỏ neo, thân dài thẳng, kích thước trung bình từ 6 - 12 mm, bám chắc vào da, vây hoặc mang cá để hút chất dinh dưỡng từ máu và mô của vật chủ. Cấu tạo của trùng mỏ neo chia làm 3 phần: đầu, ngực và bụng. Do đời sống ký sinh nên cấu tạo của trùng biến đổi cho thích hợp như đầu biến thành móc bám (giống mỏ neo tàu) dùng để ký sinh. Hình dạng móc bám là căn cứ để phân loại. Lernaea đẻ trứng vào nước. Trứng nở ra ấu trùng bơi lội tự do trong nước. Quá trình phát triển gồm 10 lần lột xác. Khi
trưởng thành, sau khi giao phối xong, con cái bám ký sinh trên cá, con đực bơi lội tự do trong nước vài ngày rồi chết. Sự phát triển vòng đời trùng mỏ neo phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó nhiệt độ đóng vai trò quan trọng nhất. Nhiệt độ nước thích hợp cho sự phát triển của trùng là 26 - 28 0 C. Một số loài trùng mỏ neo thường gặp: Lernaea lophia: Chủ yếu ký sinh trên vây, da, khoang miệng của cá mè trắng và mè hoa; Lernaea ctenopharyngodontis: Ký sinh phổ biến trên cá trắm, thường gặp nhất trong ao nuôi; Lernaea cyprinacea: Ký sinh trên da, mắt của cá chép, cá diếc, cá mè, cá quả.
12.2025 Đặc điểm dịch tễ Trùng mỏ neo ký sinh trên nhiều loài cá nước ngọt trên thế giới và rất phổ biến ở Việt Nam. Chúng phát triển mạnh sau mưa lớn hoặc vào thời điểm thời tiết nắng ấm. Bệnh có thể lây lan qua nước, vật liệu nuôi và cá mới nhập vào ao. Nhiệt độ thích hợp cho trùng phát triển từ 18 - 30 0C, đặc biệt các loại ao có mực nước nông, ao nước trong và đục. Cơ chế gây bệnh: Khi bám vào cá, trùng mỏ neo tạo ra các tổn thương cơ học và mở đường cho vi khuẩn, virus tấn công, gây suy giảm sức khỏe cá. Đối tượng nhiễm bệnh: Các loài cá nuôi nước ngọt đều có nguy cơ nhiễm loại bệnh này, đặc biệt cá mè rất nhạy cảm với bệnh này. Ký sinh trùng mỏ neo thường xuất hiện trong tất cả các ao nuôi cá con, ao nuôi cá thịt và ao nuôi cá bố mẹ ở môi trường nước ngọt, cũng như trong các hồ và bể nuôi cá cảnh. Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bệnh có thể xảy ra quanh năm và có tỷ lệ lây nhiễm cao. Dấu hiệu bệnh lý Trùng mỏ neo thường ký sinh ở các gốc vây, hốc mắt cá. Đầu trùng cắm sâu vào cơ cá, thân trùng lơ lửng trong nước gây hiện tượng sưng, tấy đỏ, chảy máu, cá yếu và chết. Các tổn thương trên cá tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh cơ hội là nấm và vi khuẩn trong môi trường nước xâm nhập vào cá. Do kích thước trùng lớn, nhìn thấy rõ bằng mắt thường, nên dễ nhận ra bệnh. Cá bố mẹ bị nhiễm trùng mỏ neo với số lượng nhiều, tuyến sinh dục sẽ không phát triển được. Cá bị nhiễm trùng mỏ neo thường gầy yếu, ngứa ngáy khó chịu biểu hiện cá hay quẫy đuôi hoặc cọ sát mình vào thành hoặc đáy ao, hồ, bể gây trầy xước tổn
KHOA HỌC - KỸ THUẬT | 77 thương. Cá bơi lội chậm chạp, khả năng bắt mồi giảm dần. Chẩn đoán bệnh Quan sát các biểu hiện trên cá bằng mắt thường và kiểm tra bằng kính hiển vi từ da, mang và vây cá. Trị bệnh Có thể dùng lá xoan bón xuống ao với số lượng 0,3 - 0,5 kg/m3 nước, kết hợp cho cá ăn thuốc trị nội ngoại ký sinh trùng 2 ngày liên tục, theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Tuy nhiên cần lưu ý, sau 3 - 4 ngày đầu lá xoan phân hủy mạnh, nước thiếu ôxy, cá thường nổi đầu, hiện tượng này từ ngày thứ 5 trở đi giảm dần. Đây là biện pháp cho kết quả tốt nhất, tỷ lệ diệt trùng khoảng 80 - 90% và chi phí không quá cao. Hoặc người nuôi cũng có thể sử dụng KMnO4 nồng độ 10 - 12 g/m3 tắm trong thời gian 30 - 60 phút (tùy vào sức khỏe cá). Khi tắm thuốc, không cho cá ăn và theo dõi phản ứng trong quá trình tắm. Đối với những ao cá bị nhiễm tỷ lệ nặng, cá có hiện tượng bỏ ăn cần xử lý nước nhắc đi nhắc lại nhiều lần bằng các loại thuốc diệt ký sinh trùng cho đến khi cá khỏi. Tuy nhiên, người nuôi cần lưu ý, không lạm dụng hóa chất hoặc dùng liều cao, vì có thể gây ngộ độc cho
cá. Sau khi diệt trùng, thay 30 - 50% nước, vệ sinh đáy ao để loại bỏ ấu trùng còn sót. Phòng bệnh Cần thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật nuôi, sau mỗi vụ nuôi, vét ao, bón vôi (10 - 15 kg/100 m2). Tiến hành phơi đáy ao 3 - 5 ngày, nhằm diệt mầm bệnh, kiềm hóa môi trường và diệt tạp. Nước ao nuôi cá phải lấy từ nguồn nước sạch, không bị nhiễm bẫn từ chất thải nông nghiệp,… Cá giống đưa vào ao nuôi cần đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, cá khỏe mạnh, đều cỡ, màu sắc tươi sáng. Bên cạnh đó, cá giống mua về cần phải được khử trùng bằng muối ăn với liều lượng 1 kg muối/100 L nước trong 10 - 15 phút trước khi thả xuống ao, bè nuôi. Thả cá với mật độ nuôi phù hợp. Nếu mật độ quá cao tạo điều kiện lây nhiễm nhanh chóng giữa các cá thể. Đảm bảo cung cấp thức ăn đầy đủ dinh dưỡng. Cho cá ăn theo phương pháp “4 định”: Định chất lượng thức ăn (thức ăn phải tươi, sạch sẽ, thành phần dinh dưỡng thích hợp); Định số lượng thức ăn (dựa vào trọng lượng cá nuôi để tính lượng thức ăn); Định vị trí cho ăn (cho cá ăn một nơi cố định để cá có thói quen đến ăn tập trung tại một điểm nhất định); Định
Trùng mỏ neo thường ký sinh ở các gốc vây, hốc mắt cá Ảnh: Thuysanlienviet
Nếu được quản lý tốt từ khâu chọn giống, cải tạo ao, kiểm soát chất lượng nước và tuân thủ lịch phòng bệnh định kỳ, người nuôi hoàn toàn có thể chủ động phòng tránh và kiểm soát trùng mỏ neo hiệu quả.
thời gian cho ăn (hàng ngày cho cá ăn 2 lần). Ngoài ra bổ sung thêm men tiêu hóa, Vitamin C trộn cùng thức ăn cho cá ăn để tăng sức đề kháng, tăng cường hệ miễn dịch. Định kỳ 2 lần/tháng sử dụng chế phẩm vi sinh sát khuẩn ao nuôi, tiêu diệt ký sinh trùng và các tác nhân gây bệnh khác. Giữ nước ao sạch, không dùng nguồn nước ở các ao cá bệnh đưa vào ao nuôi vì trong các ao đó có nhiều ấu trùng của trùng mỏ neo sống tự do. Trong quá trình nuôi, tránh các hoạt động có thể thay đổi đột ngột các yếu tố môi trường (nhiệt độ, ôxy hòa tan, pH,…), thực hiện đánh bắt, sang ao, lọc cá nhẹ nhàng, không làm xây xát cá. Khi bị sốc sức đề kháng của cá sẽ giảm và cá trở nên yếu hơn, dễ bị các sinh vật gây bệnh tấn công. Dụng cụ của nghề nuôi nên dùng riêng biệt từng ao. Trường hợp dùng chung, phải có biện pháp khử trùng để sử dụng cho ao khác. Dụng cụ đánh bắt bằng gỗ, quần áo khi lội ao phải dùng dung dịch TCCA 20 g/m3, thuốc tím KMnO4 10 - 12 g/m3 để ngâm ít nhất 1 giờ và rửa sạch mới dùng. Xác cá bệnh và nước thải từ bể, ao cá bệnh cần được xử lý bằng Chlorine trước khi thải ra môi trường ngoài để tránh mầm bệnh lây lan cho những vụ nuôi kế tiếp và các ao nuôi lân cận. Nguyễn Hằng
78
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
79
80
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
81
82
thuysanvietnam.com.vn
12.2025
83
84
thuysanvietnam.com.vn