CON TOM 170-Xuan 2026

Page 1


Đặc

san CON TÔM

Hội Thủy sản Việt Nam

CHỦ NHIỆM

TS. Phạm Anh Tuấn

PHỤ TRÁCH

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi

BAN BIÊN TẬP

Đỗ Huy Hoàn, Trưởng Ban Biên tập

Dương Xuân Hùng, Cố vấn

Phạm Thu Hồng, Nhà báo

Dương Nam Anh, Nhà báo

THƯ KÝ TÒA SOẠN Nhà báo Kim Tiến

CỘNG TÁC NỘI DUNG

Minh Thanh, Hải Đăng, Vũ Mưa, Anh Thư, Thùy Khánh, Lê Cung, Phạm Duy Tương, Phan Thanh Cường, Nguyễn Anh, Lê Hoàng Vũ, Mai Xuân Trường

KỸ THUẬT VI TÍNH

Phạm Dương

TÒA SOẠN

Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028.62777616

Email: toasoan.contom@gmail.com

Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội

Điện thoại: 0243.7713699

LIÊN HỆ QUẢNG CÁO

TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM

Điện thoại: 0243.7713699

DĐ: 083.661.5993

Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn

ĐẶT MUA TẠP CHÍ

Điện thoại: 0243.771.1756

Email: vuna@thuysanvietnam.com.vn

TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG

Tên tài khoản: TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM

Số: 3106566688

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh

Ấn phẩm LHNB

Thưa Quý vị bạn đọc!

Năm 2025 khép lại với nhiều dấu

ấn đặc biệt của ngành tôm Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, chuỗi cung ứng chịu áp lực từ chi phí, thuế quan và các rào cản thương mại, con tôm Việt Nam vẫn ghi nhận một năm xuất khẩu thành công mang tính lịch sử. Kết quả này không chỉ phản ánh nỗ lực bền bỉ của doanh nghiệp, người nuôi và các địa phương, mà còn cho thấy sức bật, khả năng thích ứng và nền tảng ngày càng vững chắc của toàn ngành.

Bước sang năm 2026, ngành tôm đứng trước cả cơ hội và thách thức đan xen. Nhu cầu thị trường tiếp tục mở ra, nhưng yêu cầu về giá thành, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững ngày càng khắt khe. Do đó, việc tái cấu trúc chuỗi giá trị, kiểm soát chi phí, hiện đại hóa nuôi trồng và chế biến, cũng như tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong ngành sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển.

Bính Ngọ 2026

Trong hành trình đó, vai trò của khoa học - công nghệ và đổi mới mô hình tổ chức sản xuất là rất quan trọng. Ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng, tự động hóa sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường không chỉ giúp giảm giá thành mà còn tạo nền tảng phát triển bền vững.

Nhân dịp Xuân mới, Đặc san Con Tôm số Xuân trân trọng gửi đến quý bạn đọc một bức tranh toàn cảnh, vừa ấm áp không khí Tết, vừa phản ánh chiều sâu của ngành tôm Việt Nam. Từ những câu chuyện về con tôm trên mâm cỗ Tết - biểu tượng của sung túc, may mắn và đoàn viên - đến các phân tích về thị trường, chính sách và xu hướng phát triển trong năm mới, mỗi bài viết đều gửi gắm niềm tin vào một năm 2026 đầy khởi sắc. Ban Biên tập xin trân trọng cảm ơn sự đồng hành của quý bạn đọc, nhà quản lý, các chuyên gia, doanh nghiệp và bà con nuôi tôm trong suốt thời gian qua. Kính chúc quý vị một năm mới sức khỏe, bình an và thành công!

Trân trọng! BAN BIÊN TẬP

Tòa soạn luôn hoan nghênh sự đóng góp và các bài viết đặc sắc về ngành tôm từ các CTV, bạn đọc gần xa. Thư và bài vở xin gửi về: Tạp chí Thủy sản Việt Nam - Tầng 1, nhà A8, số 10

Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội

Điện thoại: 0243.7713699

Email: toasoan.contom@gmail.com Hoặc liên hệ trực tiếp theo số điện thoại: 0374 099 498 (Ms. Kim Tiến)

Website: www.thuysanvietnam.com.vn  www.contom.vn

T10-11: Giữ đà tăng trưởng

T12-13: Dấu ấn nổi bật năm 2025

T14-15: Tổng quan ngành tôm Việt Nam 2025

T16-17: Điều chỉnh phù hợp để thích ứng

T18-19: Ngành tôm tiếp đà bứt phá

T28-29: Ngành tôm toàn cầu 2025: Vượt bão dư cung, tái lập lợi thế 2026

T30-31: 6 siêu cường tôm thẻ chân trắng

T32-33: 4 thị trường nhập khẩu lớn nhất

T34-35: Top doanh nghiệp xuất khẩu tôm hàng đầu năm 2025

T36-37: Linh hoạt vượt sóng thị trường

T42-43: Dinh dưỡng thủy sản: Kỷ nguyên phân tử và AI

T44-45: Chất lượng tôm giống: Yếu tố then chốt

T46-47: Công nghệ cao: Chìa khóa nâng giá trị tôm Việt

T48-49: Đa dạng mô hình nuôi tôm hiện đại

T50-51: Tiên phong chất lượng - Đột phá thành công

T52-53: Giải pháp vi sinh toàn diện cho ao nuôi

T54-55: 10 năm đồng hành cùng người nuôi tôm Việt: Đón đầu xu hướng thổi khí Turbo 2026

Giữ đà tăng trưởng

Năm 2025 khép lại trong bối cảnh thời tiết diễn biến bất thường, thị trường thế giới nhiều biến động, song xuất khẩu tôm Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng ấn tượng. Kết quả này phản ánh rõ năng lực thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp, đồng thời mở ra những kỳ vọng tích cực cho năm 2026, dù thách thức vẫn hiện hữu.

Sản xuất tôm năm 2025 tăng

Khả năng thích ứng của doanh nghiệp

Ngay từ giữa tháng 12/2025, ngành tôm đã có cơ sở vững chắc để tin tưởng kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt khoảng 4,6 tỷ USD, tăng trưởng ấn tượng gần 18% so mức 3,9 tỷ USD của năm 2024. Trước đó, theo số liệu của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu tôm tính đến hết tháng 11/2025 đã đạt 4,3 tỷ USD, tăng 21% so cùng kỳ năm trước. Xét theo thị trường, trong 11 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu tôm sang Trung Quốc - Hồng Kông đạt khoảng 1,2 tỷ USD, chiếm 28% tổng kim ngạch và tăng 59% so cùng kỳ. Khối CPTPP cũng đạt 1,2 tỷ USD, tăng 32%. Thị trường Mỹ đạt 754 triệu USD, tăng 7%, dù chịu tác động từ các biện pháp phòng vệ thương mại và thuế chống bán phá giá sơ bộ POR19. Xuất khẩu sang EU đạt 540 triệu USD, tăng 21%, với Đức, Bỉ và Hà Lan là những điểm sáng. Thị trường Nhật Bản đạt 535 triệu USD, tăng 13%; các thị trường Australia, Anh và Canada duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần đa dạng hóa thị trường.

Về cơ cấu sản phẩm, TTCT tiếp tục giữ vai

trò chủ lực với kim ngạch 2,8 tỷ USD, chiếm 65% tổng kim ngạch. Tôm sú đạt 426 triệu USD, tăng 4%. Đáng chú ý, nhóm tôm khác đạt trên 1 tỷ USD, tăng 74%, chủ yếu nhờ xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc.

Kết quả trên cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã thích ứng linh hoạt với từng thị trường, đặc biệt ở phân khúc sản phẩm chế biến sâu. Dù thị trường Mỹ chịu áp lực thuế quan, tôm Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng nhờ lợi thế về sản phẩm giá trị gia tăng. Tại Trung Quốc - Hồng Kông và Nhật

Bản, doanh nghiệp tiếp tục khai thác hiệu quả các phân khúc phù hợp với thị hiếu tiêu dùng.

Bước sang năm 2026, triển vọng được đánh giá thận trọng hơn trước áp lực thuế tại Mỹ, cạnh tranh tại Trung Quốc và chi phí sản xuất trong nước cao. Tuy nhiên, với chiến lược linh hoạt, tập trung vào các phân khúc ngách, mở rộng thị trường CPTPP, EU, Trung Đông và đẩy mạnh sản phẩm giá trị gia tăng, ngành tôm Việt Nam vẫn được kỳ vọng duy trì đà tăng trưởng.

Liên kết chuỗi nâng tầm tôm Việt

Cùng với kết quả xuất khẩu tích cực và năng lực thích ứng ngày càng rõ nét của doanh nghiệp, liên kết chuỗi đang nổi lên như một trụ cột quan trọng nhằm nâng cao giá trị và tính bền vững của ngành tôm Việt Nam. Trong xu thế đó, ngày 18/12/2025, tại TP Hồ Chí Minh đã diễn ra lễ ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú và Công ty TNHH De Heus (Hà Lan), hướng tới xây dựng chuỗi giá trị ngành tôm khép kín từ con giống, thức ăn, nuôi trồng đến chế biến, xuất khẩu.

Phát biểu tại sự kiện, ông Johan van den Ban, Tổng Giám đốc De Heus Việt Nam và châu Á, cho biết sự kết hợp giữa thế mạnh dinh dưỡng của De Heus và năng lực nuôi trồng, chế biến của Minh Phú sẽ góp phần hình thành chuỗi giá trị bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của tôm Việt Nam. Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cho rằng mô hình liên kết này giúp minh bạch nguồn gốc, đồng thời tạo

điều kiện để hợp tác xã và người nuôi tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Minh Phú hiện xuất khẩu tôm sang hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi De Heus có hơn 110 năm kinh nghiệm và vận hành 6 nhà máy thức ăn thủy sản tại Việt Nam. Hợp tác giữa hai bên được kỳ vọng tạo chuyển biến về hiệu quả sản xuất và nâng tầm thương hiệu tôm Việt. Trọng tâm là phát triển mô hình nuôi TTCT siêu thâm canh tuần hoàn tại Cà Mau, quy mô khoảng 1.500 ha, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Song song đó, mô hình liên kết được mở rộng theo hướng gắn kết Viện - TrườngDoanh nghiệp - Địa phương, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển bền vững ngành tôm.

Mở rộng mô hình tôm - lúa

Song song với việc thúc đẩy liên kết chuỗi và ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho con tôm, chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu đang trở thành một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển ngành tôm tại ĐBSCL. Trong nuôi tôm nước lợ, mô hình tôm - lúa ngày càng khẳng định giá trị bền vững, vừa phù hợp điều kiện sinh thái, vừa tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng an toàn và thân thiện môi trường.

Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản đề xuất giai đoạn 2026 - 2030 chuyển đổi 56.487 ha đất lúa một vụ kém hiệu quả sang tôm - lúa theo hướng “nông nghiệp thuận thiên”.

Theo nghiên cứu của Viện, giai đoạn 2015 - 2024, hạn hán và xâm nhập mặn đã gây thiệt hại nghiêm trọng tại ĐBSCL: lúa bị thiệt hại trên 70% với 288.622 ha,

từ 30 - 70% là 243.640 ha; thủy sản thiệt hại 109.159 ha, cùng các cây ăn trái và rau màu, tổng thiệt hại lên tới 12.342 tỷ đồng. Dự báo năm 2030, trong kịch bản ít nước, thiệt hại có thể còn 5.478 tỷ đồng, trong đó lúa 4.068 tỷ và thủy sản 871 tỷ đồng. Chuyển đổi sang mô hình tôm - lúa kỳ vọng nâng diện tích toàn vùng lên 255.000 ha, lợi nhuận ước đạt 4.500 - 6.700 tỷ đồng. Để thực hiện 56.058 ha, tổng vốn cần khoảng 17.378 tỷ đồng, gồm Trung ương 8.689 tỷ, địa phương 1.738 tỷ và nguồn huy động khác 6.951 tỷ; thời gian hoàn vốn dự báo 3 - 5 năm.

Để chuyển đổi thành công, cần tập trung đầu tư hạ tầng thủy lợi khép kín; ứng dụng công nghệ 4.0 trong quan trắc mặn, quản lý vùng nuôi bằng dữ liệu vệ tinh và nền tảng số; nghiên cứu giống tôm, cá và lúa

chịu mặn, kháng bệnh; đồng thời áp dụng VietGAP, GlobalGAP và ASC nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Kinh tế tuần hoàn và cơ hội phụ phẩm

Xu hướng kinh tế tuần hoàn đang mở ra dư địa lớn cho việc khai thác phụ phẩm tôm (đầu, vỏ và vỏ tôm lột) để sản xuất các sản phẩm sinh học giá trị cao. Theo TS. Ngô Hồng Phượng (Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh), các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn cho thấy phụ phẩm tôm có thể tạo ra peptide - nguồn đạm giá trị, chitosan - polymer tự nhiên hỗ trợ tiêu hóa, ức chế vi sinh vật gây bệnh, và astaxanthin - chất chống ôxy hóa hữu ích trong nuôi trồng thủy sản.

Với khoảng 800.000 tấn tôm nguyên liệu mỗi năm, Việt Nam phát sinh gần 400.000 tấn phụ phẩm. Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này không chỉ giảm ô nhiễm môi trường mà còn gia tăng giá trị cho toàn ngành.

Một số doanh nghiệp đã tiên phong triển khai, điển hình là Công ty Vietnam Food (VNF), mỗi năm sử dụng 35.000 - 50.000 tấn phụ phẩm tôm để chiết xuất 10.00012.000 tấn peptide, 800 - 1.000 tấn chitin/ chitosan và hơn 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm. Hiện VNF phối hợp với GIZ thí điểm thu hồi vỏ tôm lột tại các trại nuôi giai đoạn 10/2025 - 3/2026, hướng tới nhân rộng từ quý III/2026, góp phần thúc đẩy nuôi trồng xanh, bền vững và tăng thu nhập cho người nuôi. SÁU NGHỆ

DẤU ẤN NỔI BẬT NĂM 2025

Ngành tôm Việt Nam năm 2025 đã có sự bứt phá thần tốc cả trong sản xuất và xuất khẩu cùng những chuyển biến mạnh mẽ trong toàn chuỗi giá trị. Mặc dù vẫn còn những nốt trầm nhẹ, vậy nhưng, thành quả vượt trội năm qua đang tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng của năm 2026. Sau đây là 6 điểm nhấn nổi bật của ngành tôm trong năm qua.

1 Giá trị xuất khẩu thiết lập kỷ lục mới

Năm 2025 khép lại với một cột mốc đáng ghi nhận của ngành tôm Việt Nam. Theo số liệu của Cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2025 đạt 4,6 tỷ USD, tăng 19% so năm 2024 - mức cao nhất từ trước tới nay. Trong

cơ cấu xuất khẩu, TTCT tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 2,98 tỷ USD, tương đương 64,6% tổng kim ngạch, tăng 9,6%. Tôm sú đạt 452,9 triệu USD, chiếm 9,8% và chỉ tăng nhẹ 1,2%. Trong khi đó, tôm loại khác tăng gần 67%, trở thành động lực tăng trưởng lớn nhất của toàn ngành. Đáng chú ý, trong nhóm “tôm loại khác”, tôm sống/tươi/đông lạnh tăng tới 97,2%.

2 Thủ phủ tôm hùm thiệt hại nặng nề vì bão lũ

Sau bão lũ cuối năm 2025, nghề nuôi tôm hùm tại Đắk Lắk và Khánh Hòa chịu thiệt hại nặng nề: hàng chục nghìn lồng bị phá hủy, hơn 20 triệu con tôm chết, ước tính thiệt hại lên tới hàng nghìn tỷ đồng, khiến nhiều hộ nuôi trắng tay, mất cơ nghiệp. Nhiều hộ dân ở các xã, thôn như Sông Cầu, Xuân Đài (Đắk Lắk), Hiệp Mỹ, Bình Lập (Khánh Hòa) mất trắng. Trong đó, phường Sông Cầu có hơn 77.000 lồng tôm chết do lũ, tỷ lệ chết từ 80 - 90%, thiệt hại hơn 2.400 tỷ đồng. Tại phường Xuân Đài, tỷ lệ tôm chết là 22.500/27.000 lồng, ước tính giá trị thiệt hại 610 tỷ đồng. Đây là thiệt hại chưa từng có của nghề nuôi tôm hùm vùng Nam Trung Bộ.

3 Thị trường xuất

khẩu thay đổi rõ rệt

Năm 2025, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Quốc đạt trị giá 1,23 tỷ USD, tăng 60,8% so năm 2024. Trung Quốc trở thành thị trường đầu tiên đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD đối với tôm Việt Nam. Theo các chuyên gia, sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng tại Trung Quốc, từ sản phẩm phổ thông sang phân khúc cao cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam, đặc biệt là tôm hùm và tôm sú. Trong đó, tôm hùm trở thành mặt hàng tôm xuất khẩu số 1 của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2025, đạt 817 triệu USD, tăng hơn gấp đôi so năm 2024.

4 Xu hướng chuyển dịch sang nuôi tôm

bền vững, xanh

Ngành tôm Việt Nam đang chuyển mình, hướng tới các mô hình nuôi “xanh”, giảm môi trường tác động. Tiên phong là mô hình do Công ty CP Đầu tư năng lượng tái tạo Cà Mau triển khai thí điểm kết hợp điện mặt trời với nuôi tôm ở xã Tân Thuận (Cà Mau) trong năm 2025. Kết quả, hệ thống pin năng lượng mặt trời được lắp đặt trên diện tích 4.000 m2 đã giúp tăng năng suất tôm lên 229,38 kg/ha/năm, cao hơn ao đối chứng. Hay mô hình TOMGOXY TM của Rynan Holdings JSC phát triển ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến giúp tiết kiệm tới 20% lượng thức ăn, giảm tiêu thụ điện năng từ 5.000 kWh xuống 2.000 kWh cho mỗi tấn tôm.

lực pháp lý từ các thị trường lớn

Thị trường Mỹ đang bước vào giai đoạn siết chặt phòng vệ thương mại trên diện rộng, tác động mạnh xuất khẩu tôm của Việt Nam. Rủi ro lớn nhất là kết quả rà soát hành chính POR19 đối với tôm đông lạnh xuất khẩu khi kết quả sơ bộ do Bộ Thương mại Mỹ công bố cho thấy biên độ thuế chống bán phá giá lên tới 35,29%. Thời gian tới, nếu mức thuế này không thay đổi, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng duy trì thị trường của ngành tôm. Bên cạnh đó, tôm Việt Nam còn chịu tác động từ thuế đối ứng mà Chính quyền Trump áp dụng trong năm 2025, khiến mặt hàng này chịu cảnh “thuế chồng thuế”. Ngoài ra, doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam cũng đang lo lắng khi các quy định mới về phúc lợi động vật tại thị trường EU đang chuyển từ khuyến nghị sang bắt buộc và có thể tái định hình chuỗi cung ứng từ năm 2026. 5

6 VietShrimp 2025

Hội chợ Triển lãm Quốc tế Công nghệ ngành tôm Việt Nam lần thứ 6 diễn ra từ ngày 26 - 28/3/2025 tại TP Cần Thơ tiếp tục trở thành diễn đàn lớn của cộng đồng ngành tôm trong nước và quốc tế. Hội chợ quy tụ hơn 200 gian hàng của trên 150 doanh nghiệp và các tổ chức, mang tới các giải pháp công nghệ tiên tiến, những mô hình nuôi hiện đại. Đây không chỉ là sự kiện thương mại, mà còn là diễn đàn học thuật, giúp doanh nghiệp và người nuôi tôm học hỏi từ các chuyên gia trong và ngoài nước, tiếp cận xu hướng và công nghệ tiên tiến, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững cho ngành tôm Việt Nam.

ĐIỀU CHỈNH PHÙ HỢP ĐỂ THÍCH ỨNG

ÔNG TRẦN ĐÌNH LUÂN, CỤC TRƯỞNG

CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ

Nhận diện sớm khó khăn để xây dựng kế hoạch phù hợp

Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng đặt ra trong bối cảnh nhiều thách thức, song quan điểm xuyên suốt của ngành là phải nhận diện sớm từng khó khăn để xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp. Ngành sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thời tiết, môi trường và thị trường, kịp thời chỉ đạo sản xuất. Trọng tâm là phát triển các đối tượng nuôi chủ lực như tôm sú, TTCT, cá tra theo vùng sản xuất tập trung, gắn với quy hoạch không gian và hạ tầng đồng bộ. Đồng thời, tăng cường quan trắc, cảnh báo môi trường, kiểm soát dịch bệnh; mở rộng nuôi công nghệ cao, nuôi tuần hoàn, giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước; siết chặt kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn chuỗi, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

ÔNG LÊ VĂN SỬ, PHÓ CHỦ TỊCH UBND TỈNH CÀ MAU

Hạ tầng là một trong những giải pháp quan trọng

Nuôi tôm nước lợ là trụ cột tăng trưởng của ngành thủy sản Cà Mau. Tổng sản lượng tôm năm 2025 của Cà Mau đạt gần 600.000 tấn, giữ vững vị thế dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển ngành tôm vẫn chưa như kỳ vọng, dù kế hoạch hành động quốc gia đã xác định rất rõ, hạ tầng là một trong những giải pháp quan trọng. Vì vậy, đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường bố trí nguồn vốn để địa phương đảm bảo đầu tư hạ tầng, nhất là hạ tầng thủy lợi phục vụ cho sản xuất theo quy hoạch để ngành tôm đảm bảo phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu. Ngoài đầu tư hạ tầng, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số cũng như xây dựng, phát triển chuỗi giá trị ngành tôm gắn với phát triển kinh tế tập thể là động lực phát triển loại thủy sản chủ lực này.

ÔNG VÕ VĂN PHỤC, TỔNG GIÁM ĐỐC

CÔNG TY CP THỦY SẢN SẠCH VIỆT NAM

Đẩy nhanh tiến độ cấp mã số

cơ sở nuôi

Thực tế, mỗi loại sản phẩm đều có phân khúc thị trường riêng, khác biệt chủ yếu nằm ở mức giá. Tuy nhiên, điểm chung hiện nay là hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn của tôm Việt Nam đều không còn dễ tính, kể cả thị trường Trung Quốc. Mỗi thị trường, thậm chí từng phân khúc, đều áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn và quy định riêng. Vì vậy, để sản phẩm có thể thâm nhập và tiêu thụ ổn định, bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của thị trường mục tiêu. Trong bối cảnh đó, để tôm Việt Nam tiếp tục giữ vững thị phần tại các thị trường hiện có, bên cạnh việc nâng cao tỷ lệ nuôi thành công nhằm giảm giá thành, cần đặc biệt chú trọng đến truy xuất nguồn gốc. Ngành chức năng và địa phương cần đẩy nhanh tiến độ cấp mã số cơ sở nuôi, bởi đây là yêu cầu bắt buộc của hầu hết thị trường nhập khẩu. Đối với các trang trại và hộ nuôi, việc liên kết với doanh nghiệp là giải pháp quan trọng để được hỗ trợ áp dụng quy trình nuôi đạt các tiêu chuẩn ASC, BAP. Bởi chi phí tư vấn và đánh giá chứng nhận tương đối cao, khiến các hộ nuôi nhỏ lẻ hoặc trang trại quy mô dưới 50 ha khó có khả năng tự triển khai hiệu quả.

ÔNG MÃ VĂN HỒNG, GIÁM ĐỐC HTX

NÔNG NGƯ HÒA ĐÊ

Liên kết với nhau trong mô hình HTX

Nguyên nhân các trang trại và doanh nghiệp nuôi tôm lớn thường có tỷ lệ thành công và lợi nhuận cao hơn so với các hộ nhỏ lẻ là do họ đầu tư bài bản, đồng thời mua vật tư đầu vào với số lượng lớn và thanh toán bằng tiền mặt, nhờ đó giảm chi phí đáng kể. Đây là những vấn đề khó với các hộ nuôi nhỏ lẻ, vì vậy con đường khả thi nhất là liên kết với nhau trong mô hình hợp tác xã, từ đó kết nối với doanh nghiệp, đại lý cung ứng vật tư và thu mua sản phẩm. Đơn cử, nếu các hộ hợp tác để mua thức ăn tôm số lượng lớn từ nhà sản xuất bằng tiền mặt, giá sẽ thấp hơn khoảng 4.000 - 5.000 đồng/kg, tương tự với con giống và chế phẩm sinh học. Một lợi thế khác là hợp tác tạo điều kiện nuôi theo mô hình hai giai đoạn. Cụ thể, thả nuôi 60.000 con post theo hình thức một giai đoạn, chi phí tháng đầu có thể lên tới vài chục triệu đồng, rủi ro cao. Trong khi đó, nếu áp dụng ao ương, chi phí chưa tới 10 triệu đồng và tỷ lệ thành công cao.

ÔNG TẠ HOÀNG NHIỆM, GIÁM ĐỐC HTX NUÔI TÔM CÔNG NGHỆ CAO ĐÔNG HẢI

Lựa chọn hình thức sản xuất phù hợp

Mục tiêu của nghề nuôi tôm là nâng cao lợi nhuận trên cùng đơn vị diện tích, trong đó yếu tố then chốt là tăng tỷ lệ nuôi thành công. Điều này đòi hỏi con tôm phải khỏe, có khả năng thích ứng với điều kiện bất lợi và tăng sức đề kháng trước dịch bệnh. Qua thực tế tham quan, học hỏi, các thành viên hợp tác xã (HTX) nhận thấy mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đáp ứng hiệu quả các yêu cầu này, dù chi phí đầu tư ban đầu còn tương đối lớn. Việc áp dụng công nghệ cao giúp kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào như con giống, thức ăn và chế phẩm sinh học, qua đó bảo đảm chất lượng sản xuất và an toàn dịch bệnh. Đồng thời, môi trường ao nuôi được giám sát thường xuyên các chỉ tiêu sinh học, vật lý và hóa học, góp phần duy trì điều kiện nuôi ổn định, sạch và an toàn. Tuy nhiên, không phải người nuôi nào cũng đủ điều kiện đầu tư mô hình này. Do đó, căn cứ vào điều kiện vùng nuôi, năng lực tài chính và trình độ kỹ thuật, mỗi hộ cần lựa chọn hình thức sản xuất phù hợp nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

ÔNG NGUYỄN VĂN HÒA, XÃ HÒA TÚ, TP CẦN THƠ

Mật độ nuôi vừa phải kết hợp

ứng dụng vi sinh

Giải pháp an toàn là thả nuôi với mật độ vừa phải, kết hợp sử dụng chế phẩm vi sinh chất lượng để duy trì môi trường ao sạch, hạn chế hao hụt và nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Thông thường, tôi chỉ thả khoảng 40 con/m² và chọn con giống sạch bệnh từ các doanh nghiệp uy tín. Bên cạnh các hướng dẫn kỹ thuật cơ bản từ các lớp tập huấn, trong suốt quá trình nuôi, tôi luôn theo dõi thường xuyên các chỉ số môi trường và tình trạng sức khỏe tôm. Việc giám sát liên tục giúp phát hiện sớm các vấn đề, kịp thời điều chỉnh chế độ chăm sóc và bổ sung dinh dưỡng phù hợp, đảm bảo tôm phát triển khỏe mạnh, ít bệnh và mau lớn. Đồng thời, theo dõi sát sao còn giúp quản lý lượng thức ăn hiệu quả, giảm chi phí và hạn chế ô nhiễm nguồn nước do thức ăn thừa. Với phương pháp này, dù năng suất không cao, tôm vẫn đạt cỡ lớn, bán được giá tốt và mang lại lợi nhuận ổn định.

NHÓM PV (Thực hiện)

Ngành tôm tiếp đà bứt phá

Thành công mang tính lịch sử của xuất khẩu tôm năm 2025 đã tạo nền tảng quan trọng và vững chắc để ngành tôm Việt Nam bứt phá trên các thị trường quốc tế trong năm 2026, tiếp tục khẳng định vai trò lá cờ đầu trong hoạt động xuất khẩu.

Thành công lịch sử

Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 10,7 tỷ USD, tăng 12% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tôm ghi nhận mức cao nhất từ trước đến nay, vượt 4,6 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vai trò là mặt hàng chủ lực của ngành thủy sản.

Trung Quốc hiện là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn

nhất của Việt Nam, đạt 2,07 tỷ

USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 31,9% so cùng kỳ.

Thị trường Mỹ duy trì mức tăng

trưởng ổn định khoảng 6%, trong khi xuất khẩu sang Nhật

Bản tăng 10,3%. Theo Hiệp hội

Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản

Việt Nam (VASEP), kim ngạch

xuất khẩu tôm trong 11 tháng

đầu năm 2025 đạt 4,3 tỷ USD, tăng 21%, phản ánh sự phục

hồi và mở rộng nhu cầu tại các thị trường trọng điểm. Tuy nhiên, tăng trưởng này chịu tác động đáng kể từ giá cả, thuế và chi phí sản xuất. Một số chuyên gia nhận định tại thị trường Mỹ, chính sách thuế đối ứng khiến người mua phải gánh chi phí cao hơn, trong khi chi phí đầu vào tăng kéo dài có thể ảnh hưởng đến sức mua. Trong quý III/2025,

giá TTCT xuất khẩu sang Mỹ dao động 12,8 - 14,1 USD/kg, tăng so các quý trước và cao hơn cùng kỳ năm 2024. Giá tôm sú cũng tăng lên 17,9 - 20,4 USD/kg, cho thấy xu hướng cải thiện giá xuất khẩu. Đáng chú ý, xuất khẩu sang các khối thị trường có hiệp định thương mại tự do ghi nhận mức tăng mạnh. Kim ngạch sang CPTPP tăng 33%, sang EU tăng

20%, cho thấy hiệu quả tích cực

từ việc tận dụng FTA trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn

nhiều biến động.

Hiện đại hóa, đa dạng hóa

Trên nền tảng tăng trưởng

chung của toàn ngành, kết quả

xuất khẩu tôm năm 2025 cho thấy năng lực thích ứng và sức

cạnh tranh ngày càng rõ nét của ngành tôm Việt Nam. Trong

điều kiện phải đối mặt với sự

cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu lớn, đồng thời chịu tác động từ các chính sách bảo hộ thương mại tại nhiều thị trường nhập khẩu, những kết quả đạt được phản ánh một bức tranh xuất khẩu được xây dựng bài bản, ổn định và có chiều sâu, thay vì tăng trưởng mang tính thời điểm.

Tại Mỹ - một trong những thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất thế giới - tôm Việt Nam đã được phân phối rộng khắp và thâm nhập sâu vào hệ thống các chuỗi siêu thị lớn. Trong khi đó, tôm từ một số quốc gia cạnh tranh như Thái Lan và Ấn

Độ vẫn gặp khó khăn trong việc thiết lập đầu ra ổn định.

Cùng với lợi thế về chất

lượng và uy tín, việc doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh đầu tư vào hệ thống nhà máy chế biến hiện đại đã giúp tôm Việt

Nam chiếm lĩnh phân khúc sản phẩm chế biến sâu, có giá trị

thành yếu tố mang tính quyết

định đối với khả năng kích cầu và duy trì thị phần tại các thị trường nhập khẩu trong năm 2026.

Đánh giá về triển vọng sắp tới, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký VASEP, cho rằng năm 2026 sẽ là “một giai đoạn rất quan trọng” đối với ngành tôm. Theo đó, với mức thuế đối ứng dự kiến ở ngưỡng 20%, cộng với thuế chống bán phá giá sơ bộ, thuế suất áp lên tôm đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ có thể lên tới 55,29%.

Ngoài ra, thuế chống trợ cấp

ở mức 2,84% đã được áp dụng

gia tăng cao. Không chỉ tại Mỹ, các sản phẩm chế biến sâu của

Việt Nam còn được ưa chuộng

ở Nhật Bản và các thị trường châu Âu.

Bên cạnh hiện đại hóa khâu chế biến, chiến lược đa dạng hóa sản phẩm cũng tạo ra

những đột phá đáng kể. Ngành

tôm Việt Nam từng bước giảm sự phụ thuộc vào TTCT, đồng thời phát triển các đối tượng nuôi khác như tôm sú và tôm

hùm. Đặc biệt, hoạt động xuất

khẩu tôm hùm sang thị trường

Trung Quốc trong năm 2025 đã mang lại mức tăng trưởng kim ngạch ấn tượng, đóng góp đáng kể vào kết quả xuất khẩu chung trong những tháng cuối năm.

Giảm giá thành

Cùng với những lợi thế về thị trường và sản phẩm, ngành tôm Việt Nam đang phải đối mặt trực diện với bài toán chi phí trong bối cảnh các rào cản thương mại ngày càng gia tăng.

Thuế nhập khẩu tại nhiều quốc gia, đặc biệt là thị trường Mỹ, có xu hướng tăng mạnh; đồng

thời, biên độ áp dụng thuế

chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp cũng được nới rộng.

Thực tế cho thấy, Ấn Độ hiện

đang phải chịu tổng mức thuế

đối ứng, thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp khi xuất khẩu tôm vào Mỹ lên tới 58,26%.

Giá thành sản phẩm vì vậy trở

từ cuối năm 2024, khiến tổng mức thuế mà tôm Việt Nam phải chịu khi vào thị trường Mỹ xấp xỉ 60%. Thị trường Mỹ vì vậy

đang trở thành một phép thử mới đối với năng lực cạnh tranh của con tôm Việt Nam. Trong năm 2026, với các lợi

thế về thị trường, chất lượng

sản phẩm và uy tín thương

hiệu, ngành tôm Việt Nam vẫn

được kỳ vọng sẽ tiếp tục ghi

nhận những kết quả tích cực.

Tuy nhiên, bài toán giá thành

cần được đặt ra một cách căn cơ và giải quyết triệt để, trong khi chi phí sản xuất tôm của Việt

Nam hiện vẫn cao hơn so với nhiều đối thủ cạnh tranh như Ấn Độ, Indonesia hay Ecuador.

Mở rộng nuôi trồng, chế biến

Xuất phát từ yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh về giá, diễn biến thị trường tôm nguyên liệu trong những tháng cuối năm 2025 ghi nhận nhiều tín hiệu đáng chú ý.

Tháng 12/2025, giá tôm nguyên liệu tại TP Hồ Chí Minh tăng mạnh. Cụ thể, TTCT nuôi công nghệ cao, cỡ 20 - 25 con/kg, được thương lái thu mua với mức giá phổ biến từ 250.000 - 260.000 đồng/kg; loại 30 con/kg có giá trên 230.000 đồng/kg. Ngay cả tôm cỡ nhỏ, khoảng 100 con/kg, cũng đạt mức trên 100.000 đồng/ kg, tạo mặt bằng giá cao hiếm thấy nhiều năm qua.

Tại ĐBSCL, giá TTCT cuối tháng 12/2025 cũng tăng mạnh. Riêng Vĩnh Long, TTCT cỡ 20 - 25 con/kg giao dịch 240.000 - 260.000 đồng/kg, tăng hơn 30% so cùng kỳ. Diễn biến này cho thấy nhu cầu thị trường ở mức cao và phản ánh sự phục hồi tích cực của hoạt động nuôi tôm sau giai đoạn chịu nhiều áp lực từ chi phí đầu vào và biến động thị trường tiêu thụ. Mức giá nguyên liệu cao giúp người nuôi cải thiện hiệu quả sản xuất, có lãi và chủ động mở rộng diện tích, đầu tư tái thả nuôi cho các vụ mới. Tuy nhiên, giá tăng cũng đặt áp lực lên các nhà máy chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu, khi chi phí đầu vào leo thang còn thị trường quốc tế vẫn tiềm ẩn rủi ro về thuế quan và sức mua. Bên cạnh đó, mặc dù các địa phương nuôi tôm trọng điểm vẫn có tiềm năng phát triển lớn, song đi kèm là nhiều thách thức. Cà Mau hiện là tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn nhất cả nước với hơn 435.000 ha, chiếm 40% tổng diện tích cả nước; sản lượng đạt 595.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu khoảng 2,3 tỷ USD. Tuy nhiên, theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử, ngành nuôi tôm địa phương đang chịu tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, chi phí sản xuất tăng cao, cùng hạ tầng thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nuôi tôm công nghệ cao.

Vì vậy, để ngành tôm duy trì nhịp độ tăng trưởng và tiếp tục ghi dấu những cột mốc mới trong năm 2026, rất cần những quyết sách sớm và đồng bộ trên toàn chuỗi giá trị, từ nuôi trồng, chế biến đến xuất khẩu. Việc kiểm soát chi phí, đầu tư hạ tầng, nâng cao hiệu quả sản xuất và hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi sẽ là nền tảng quan trọng giúp con tôm Việt Nam tạo ra những bứt phá mới về xuất khẩu ngay từ những tháng đầu năm.

NGUYÊN ANH

Ảnh: Shutterstock

Tăng tốc chuyển đổi xanh

Trước những biến động khó lường của thời tiết, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường về phát triển bền vững, ngành tôm buộc phải đẩy mạnh chuyển đổi sang sản xuất xanh, tuần hoàn. Đây là con đường tất yếu để đáp ứng chuẩn mực chuỗi cung ứng toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Tăng trưởng và thách thức

Giai đoạn 2021 - 2025, dù diện tích nuôi không biến động lớn nhưng sản lượng tôm Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định. Từ năm 2022 đến nay, sản lượng luôn đạt trên 1 triệu tấn/năm. Riêng năm 2025, bất chấp những khó khăn về thời tiết và dịch bệnh, sản lượng tôm cả nước ước đạt 1,29 triệu tấn, tăng 6,1% so năm 2024; trong đó, TTCT chiếm khoảng 1 triệu tấn và tôm sú khoảng 300.000 tấn. Kết quả này góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2025 ước đạt 4,6 tỷ USD, tăng gần 20% so năm trước.

Tuy vậy, đằng sau bức tranh tăng trưởng là hàng loạt thách thức ngày càng hiện hữu. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, dịch bệnh trên tôm nước lợ vẫn diễn biến phức tạp; công tác quan trắc, cảnh báo môi trường tại một số vùng nuôi còn hạn chế; chi phí đầu vào duy trì ở mức cao; tiến độ cấp mã số cơ sở nuôi còn chậm. Bên cạnh các khó khăn nội tại, ngành tôm còn chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ nguồn cung giá rẻ của Ecuador, Ấn Độ, cùng các rào cản

thuế quan, phi thuế quan và yêu cầu ngày càng khắt khe về minh bạch nguồn gốc, tiêu chuẩn bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, việc thực hành sản xuất theo các chuẩn mực quốc tế như ASC, BAP, GlobalG.A.P,… cần được triển khai sớm, thực chất và hiệu quả, nhằm giảm rủi ro và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành tôm Việt Nam.

Những “sắc xanh” đầu tiên

Trong lộ trình chuyển đổi sang sản xuất xanh, lĩnh vực nuôi tôm đã ghi nhận những chuyển động tích cực ban đầu, nổi bật là Cà Mau - thủ phủ tôm của cả nước - địa phương đi đầu với nhiều mô hình cụ thể và hiệu quả. Trên tổng diện tích hơn 435.000 ha nuôi tôm toàn tỉnh, hiện có gần 200.000 ha áp dụng hình thức nuôi quảng canh kết hợp, với các mô hình tiêu biểu như tômrừng, tôm - lúa, tôm - cua - cá,… Đáng chú ý, trong số này đã có hàng chục nghìn ha

Ứng dụng tiến
UNDP

đạt các chứng nhận quốc tế uy tín như ASC, BAP, Naturland, EU Organic,… góp phần nâng cao giá trị và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Bên cạnh các mô hình truyền thống theo hướng sinh thái, Cà Mau thời gian gần đây còn thử nghiệm thành công mô hình nuôi tôm siêu thâm canh tuần hoàn, ít thay nước (RAS-IMTA). Theo đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ Cà Mau, giai đoạn 1 của dự án với quy mô 100 ha đã đạt kết quả tích cực, tỷ lệ sống của tôm đạt 85 - 90%, năng suất 40 - 50 tấn/ha/vụ, mật độ nuôi 250 - 300 con/ m²; sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế như ASC và BAP.

Mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp giảm khoảng 50% chi phí nhân công, điện, nước và hóa chất xử lý, mà còn góp phần giải quyết bài toán môi trường, khi nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải, phù hợp với định hướng tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở kết quả bước đầu, Cà Mau đặt mục tiêu mở rộng mô hình lên 1.500 ha trong thời gian tới; trong đó, Công ty TNHH De Heus dự kiến đồng hành

nhân rộng 1.000 ha giai đoạn 2025 - 2030. Ngoài Cà Mau, thời gian qua, nhiều doanh nghiệp, trang trại và hộ nuôi trên

cả nước cũng đã chủ động áp dụng các giải pháp và tiến bộ khoa học - công nghệ vào nuôi tôm theo hướng sản xuất xanh.

Có thể kể đến các mô hình nuôi tuần hoàn nước, ứng dụng công nghệ vi sinh, cải tiến hệ thống quạt tạo ôxy nhằm tiết kiệm điện năng, quản lý chặt chẽ thức ăn để hạn chế dư thừa - nguyên nhân phát sinh khí nhà

kính, xây dựng hầm biogas xử lý chất thải, sử dụng máy ép phân tôm ủ làm phân bón,… Quy trình sinh học MP BIO của Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú là một điển hình. Quy trình này không sử dụng Chlorine trong xử lý nước, thay vào đó là bổ sung các chủng vi sinh đối kháng, chú trọng tạo nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng từ tảo và biofloc, đồng thời lên men thức ăn bằng vi sinh vật nhằm nâng cao khả năng hấp thụ và chuyển hóa dinh dưỡng của tôm. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp nuôi tôm quy mô lớn tại TP Cần Thơ còn tính

đến phương án bù trừ phát thải khí nhà kính trong quá trình sản xuất thông qua trồng rừng phòng hộ ven biển, nếu được

địa phương chấp thuận chủ trương và hỗ trợ về thủ tục.

Xanh để “vượt dốc”

và tăng tốc

Ở cấp độ vĩ mô, Đảng, Nhà nước cùng các bộ, ngành và địa phương đã thể hiện rõ quyết tâm thúc đẩy phát triển bền vững ngành thủy sản thông qua việc ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng. Các chính sách này không chỉ tạo hành lang pháp lý, mà còn định hướng cụ thể cho quá trình xanh hóa ngành tôm, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm như: tăng cường kiểm soát dịch bệnh, giảm sử dụng kháng sinh, bảo đảm an toàn thực phẩm; khuyến khích ứng dụng công nghệ theo hướng kinh tế tuần hoàn; xử lý triệt để các nguồn gây ô nhiễm trong sản xuất; thúc đẩy sử dụng công nghệ tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính.

 Sản xuất xanh trong nuôi tôm là một hệ thống sản xuất dựa trên các nguyên tắc bền vững, bao gồm: Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe con người và động vật, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

Đồng thời, các chương trình nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cũng được đẩy mạnh, bao gồm sản xuất thức ăn thủy sản từ phụ phẩm nông nghiệp, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường nuôi, phát triển các quy trình nuôi tuần hoàn nước và tái chế phụ phẩm tôm thành các sản phẩm giá trị gia tăng.

Theo PGS.TS Võ Nam Sơn, Trường Đại học Cần Thơ, khâu nuôi hiện vẫn là mắt xích yếu nhất và đáng lo ngại nhất trong hành trình xanh hóa chuỗi giá trị ngành tôm, đặc biệt ở các tiêu chí liên quan đến phát thải khí nhà kính, tuần hoàn và tái chế. Để một sản phẩm tôm đạt tiêu chí “xanh”, đòi hỏi tất cả các khâu trong chuỗi giá trị đều phải đáp ứng các chuẩn mực bền vững. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những tín hiệu tích cực khi việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong nuôi tôm đã bước đầu góp phần giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện hiệu quả sản xuất. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tích hợp đồng bộ các giải pháp này vào từng mô hình nuôi cụ thể, nhằm vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa đáp ứng các yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững. 2026 là năm mở đầu cho giai đoạn 2026 - 2030 - giai đoạn tăng tốc, bứt phá nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển thủy sản bền vững. Theo định hướng này, toàn ngành thủy sản sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương các quy định của Luật Thủy sản năm 2017, cùng các nhiệm vụ và giải pháp trong Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trọng tâm là phát triển kinh tế thủy sản theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Để đạt được mục tiêu đó, ngành thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng cần tiếp tục chuyển đổi từ tư duy sản xuất đơn thuần sang tư duy kinh tế thủy sản, từ tăng trưởng đơn giá trị sang tăng trưởng tích hợp đa giá trị.

XUÂN TRƯỜNG

Tiến vào tương lai bằng chất lượng bền vững

Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi không đồng đều và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, ngành tôm Việt Nam đang đứng trước ngưỡng chuyển đổi chiến lược từ mô hình kinh tế dựa trên sản lượng sang tăng chất lượng, nâng tầm chuỗi giá trị, nhằm duy trì vị thế trên bản đồ thủy sản thế giới.

Tăng trưởng ấn tượng

Theo số liệu từ Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2025 đạt 4,6 tỷ USD, tăng 19% so năm 2024 - mức cao nhất từ trước tới nay.

Trong cơ cấu xuất khẩu, TTCT tiếp tục

chiếm tỷ trọng lớn nhất với 2,98 tỷ USD, tương đương 64,6% tổng kim ngạch, tăng 9,6%. Tôm sú đạt 452,9 triệu USD, chiếm 9,8% và chỉ tăng nhẹ 1,2%. Trong khi đó, tôm loại khác tăng gần 67%, trở thành động

lực tăng trưởng lớn nhất của toàn ngành. Đáng chú ý, trong nhóm “tôm loại khác”, tôm sống/tươi/đông lạnh tăng tới 97,2%.

Năm 2025, sản lượng tôm cả nước Việt

Nam đạt mức cao kỷ lục, tính đến tháng 11/2025, sản lượng tôm ước đạt 1,41 triệu tấn, tăng khoảng 5,5% so cùng kỳ, trong đó TTCT chiếm ưu thế với gần 1 triệu tấn và tôm sú cũng tăng trưởng tốt.

Những con số này đã minh chứng tôm Việt Nam đang không chỉ bứt phá về sản

lượng, mà quan trọng hơn là gia tăng đáng kể giá trị thông qua chiến lược thị trường và phân khúc sản phẩm mới.

Chuyển đổi tư duy từ lượng

sang giá trị

Đằng sau những con số tăng trưởng cao của ngành tôm hiện nay là không ít thách thức mang tính cấu trúc. Giá tôm thế giới biến động mạnh, chi phí đầu vào như thức ăn, con giống, năng lượng tăng cao, trong

khi các quốc gia đối thủ như Ecuador, Ấn

Độ, Indonesia liên tục mở rộng quy mô sản xuất với giá thành thấp. Trong bối cảnh đó, việc cạnh tranh bằng giá ngày càng trở nên bất lợi đối với tôm Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp và chuyên gia nhận định, nếu không thay đổi mô hình phát triển, ngành tôm sẽ khó duy trì lợi thế dài hạn.

Trong quá khứ, ngành tôm Việt Nam tập trung chủ yếu vào mở rộng diện tích nuôi và chạy theo sản lượng, khiến giá trị gia tăng sản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng. Nhưng hiện nay, đã có sự chuyển hướng chiến lược rõ rệt trong cách tiếp cận phát triển. Thay vì đặt mục tiêu tối đa hóa sản lượng, ngành đang hướng tới tối ưu hóa hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích, mỗi kilogam tôm xuất khẩu. Điều này thể hiện rõ trong chiến lược tái cơ cấu nuôi tôm theo hướng giảm mật độ nuôi đại trà, tăng tỷ lệ nuôi công nghệ cao, kiểm soát dịch bệnh và nâng cao chất lượng con giống.

Ở khâu chế biến và xuất khẩu, tư duy kinh tế được thể hiện qua việc gia tăng tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng. Những doanh nghiệp lớn như Minh Phú, Sao Ta, Camimex,… đều đẩy mạnh đầu tư vào khâu chế biến sâu nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn, như tôm hấp, tôm chiên bột, tôm tẩm gia vị, sản phẩm chế biến tiện lợi phục vụ hệ thống bán lẻ quốc tế.

Không chỉ vậy, doanh nghiệp còn chú trọng xây dựng thương hiệu tôm Việt trên trường quốc tế. Quá trình này gắn với chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững đang dần trở thành chiến lược dài hạn, thay vì chỉ đóng vai trò gia công cho các nhãn hàng nước ngoài.

Việc xây dựng thương hiệu quốc tế không chỉ dựa vào chất lượng sản phẩm mà còn phụ thuộc vào chuẩn bền vững. Vì thế, nhiều doanh nghiệp tôm Việt Nam đã tích cực áp dụng các chứng nhận quốc tế về môi trường và truy xuất nguồn gốc, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.

Bước đi chiến lược từ liên kết

chuỗi

Chuỗi giá trị ngành tôm Việt Nam bao gồm con giống, thức ăn, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến, logistics và phân phối.

Trong nhiều năm, sự thiếu liên kết chặt chẽ giữa các khâu đã khiến chuỗi giá trị bị đứt gãy, làm gia tăng chi phí, chất lượng nguyên liệu không đồng đều và rủi ro sản xuất cao.

Gần đây, xu hướng liên kết này đang ngày càng rõ nét hơn. Nhiều doanh nghiệp

chế biến lớn đã chủ động đầu tư vùng nuôi, hợp tác với các đơn vị cung ứng thức ăn, con

giống, đồng thời ký kết hợp đồng bao tiêu với người nuôi. Mô hình liên kết này giúp kiểm soát chất lượng đầu vào, ổn định nguồn nguyên liệu, giảm trung gian và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, yếu tố ngày càng quan trọng trên thị trường quốc tế.

Đối với người nuôi, tham gia chuỗi liên kết giúp giảm rủi ro về giá cả, tiếp cận tốt hơn với kỹ thuật nuôi, vốn và thông tin thị trường. Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng cho toàn ngành tôm.

Vào cuối năm 2025, Công ty TNHH De Heus đã ký kết hợp tác chiến lược với Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú để phát triển chuỗi giá trị tôm một cách bền vững. Theo thỏa thuận, De Heus sẽ cung cấp giải pháp dinh dưỡng, sản phẩm thức ăn chất lượng cao và hỗ trợ kỹ thuật cho hệ thống vùng nuôi thuộc Minh Phú, trong khi Minh Phú cam kết sử dụng các sản phẩm này để nâng cao chất lượng nguyên liệu ngay từ khâu nuôi.

Trong khi đó, các doanh nghiệp như Sao Ta và Camimex cũng liên kết chặt chẽ với các trang trại nuôi, hợp tác xã và cơ quan quản lý địa phương để xây dựng chuỗi giá trị từ con giống đến bàn ăn, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, chất lượng và an toàn thực phẩm.

Hướng tới chuỗi giá trị

bền vững

Hiện nay, xu hướng tiêu dùng xanh và yêu cầu khắt khe về môi trường, xã hội đang đặt ra thách thức nhưng cũng mở ra cơ hội cho ngành tôm Việt Nam. Các tiêu chuẩn quốc tế về nuôi trồng có trách nhiệm, giảm phát thải, bảo vệ hệ sinh thái và phúc lợi lao động ngày càng trở thành “giấy thông hành” để sản phẩm tôm thâm nhập các thị trường cao cấp. Nhiều mô hình nuôi tôm sinh thái, nuôi

tôm - rừng, nuôi tôm tuần hoàn nước đã được triển khai, không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra giá trị gia tăng nhờ chứng nhận bền vững. Đây là hướng đi phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam và xu thế phát triển chung của ngành thủy sản toàn cầu.

Trong tương lai, ngành tôm Việt Nam định hướng phát triển song hành giữa tăng trưởng kinh tế và trách nhiệm bền vững, thông qua các tiêu chuẩn quốc tế, chứng nhận môi trường và xử lý hiệu quả các rào cản kỹ thuật - thương mại ngày càng khắt khe trên thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, để nâng cao chuỗi giá trị ngành tôm một cách bền vững, vai trò của Nhà nước hết sức quan trọng. Trong đó, vấn đề quy hoạch vùng nuôi tập trung, đầu tư hạ tầng cùng với chính sách tín dụng ưu đãi cho nuôi tôm công nghệ cao sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển dài hạn.

Bên cạnh đó, công tác dự báo thị trường, đàm phán thương mại, tháo gỡ rào cản kỹ thuật và hỗ trợ xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm tôm cũng là những yếu tố then chốt quyết định thành công của chiến lược nâng cao chuỗi giá trị ngành tôm.

 Ngành tôm Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quan trọng. Việc tiếp tục nâng cao chuỗi giá trị không chỉ là yêu cầu trước mắt để ứng phó với cạnh tranh và biến động thị trường, mà còn là chiến lược lâu dài nhằm khẳng định vị thế của tôm Việt Nam trên bản đồ thủy sản thế giới.

PHAN THẢO

NGÀNH TÔM TOÀN CẦU 2025

Vượt bão dư cung, tái lập lợi thế 2026

Năm 2025 phản ánh nghịch lý của ngành tôm toàn cầu: sản lượng lập đỉnh nhưng giá rơi xuống

đáy. Áp lực chi phí, dịch bệnh và cạnh tranh buộc ngành phải tái cấu trúc, khi cơ hội 2026 không còn ở “nuôi nhiều”, mà ở kiểm soát rủi ro, giảm stress và tạo giá trị bằng chất lượng, truy xuất.

Nghịch lý cung - cầu

Bức tranh ngành tôm toàn cầu năm 2025 có thể được khái quát bằng ba từ: dư cung, giá thấp và cạnh tranh khốc liệt. Tại Hội nghị

Tôm châu Á (TARS 2025), nhiều chuyên gia nhận định ngành tôm châu Á đang chịu sức ép lớn nhất, trong khi Ecuador tiếp tục củng cố vị thế nhà cung cấp số một thế giới với tốc độ tăng trưởng vượt trội.

Giá tôm thế giới đã giảm liên tục trong gần ba thập kỷ, song sản lượng toàn cầu vẫn tăng mạnh, vượt mốc 6 triệu tấn mỗi năm.

Theo ông Robins McIntosh, Phó Chủ tịch điều hành Tập đoàn CPF (Thái Lan), điều này không đồng nghĩa mô hình nuôi tôm châu Á “bị phá vỡ”, mà đang bị hiểu sai. “Sản lượng vẫn tăng dù giá giảm cho thấy những người nuôi đúng cách vẫn có lãi, trong khi những mô hình kém hiệu quả ngày càng gặp khó”, ông nhận định.

Châu Á hiện vẫn là trung tâm sản xuất tôm lớn nhất thế giới, với hai mô hình chủ đạo là nuôi thâm canh và siêu thâm canh. Theo ông Robins, thách thức cốt lõi của châu Á không nằm ở công nghệ mà ở xu hướng đẩy mật độ nuôi vượt quá sức chịu tải sinh học. Điều này làm gia tăng tích tụ nitơ, CO2, suy giảm ôxy hòa tan và bùng phát vi khuẩn,

khiến tôm bị stress và tỷ lệ sống giảm mạnh.

Bất lợi về điều kiện tự nhiên cũng làm trầm

trọng thêm vấn đề, trái ngược với điều kiện khí hậu ôn hòa, ổn định tại Ecuador. Thực tiễn cho thấy, kiểm soát stress là chìa khóa hiệu quả kinh tế. Khi mật độ nuôi tại châu Á tăng lên 300 - 450 con/m² giai đoạn 2020 - 2022, tỷ lệ thất bại vượt 25%. Ngược lại, các trại giảm mật độ về 100 - 120 con/m² từ năm 2023 vẫn duy trì năng suất cao, tỷ lệ sống phục hồi lên khoảng 85% và tỷ lệ thất bại giảm xuống dưới 2%. Thông điệp được rút ra rõ ràng: trong bối cảnh giá thấp kéo dài, kiểm soát stress chính là con đường sinh lời bền vững cho ngành tôm châu Á.

Từ ao nuôi đến chuỗi giá trị

Trong bức tranh đầy thách thức đó, nhiều mô hình mới đang hình thành, cho thấy con đường thích ứng của ngành tôm không chỉ nằm ở ao nuôi, mà còn ở cách tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị.

Tại Thái Lan, mô hình nuôi của hai chị em Yanisa và Khemika Klomsuwan (tỉnh Krabi) được xem là minh chứng rõ nét cho sự thay đổi tư duy. Trước đây, trang trại gia đình của họ đối mặt với dịch bệnh, chi phí cao và năng suất thấp do nuôi dựa nhiều

vào kinh nghiệm. Bước ngoặt đến khi họ chuyển sang mô hình quản lý công nghiệp, vận hành dựa trên quy trình chuẩn, dữ liệu và kỷ luật sản xuất.

Theo Yanisa, chu kỳ nuôi cũ kéo dài 120 ngày nhưng chỉ đạt khoảng 23 tấn/0,16 ha, tăng trưởng chậm và thiếu dữ liệu về tỷ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Việc thay nước thường xuyên để xử lý chất thải vừa tốn kém vừa gia tăng rủi ro sinh học. Khi tái cấu trúc, mục tiêu được đặt ra là rút ngắn chu kỳ xuống 90 - 110 ngày, đạt 5 - 8 tấn/0,16 ha và nâng tỷ lệ thành công lên 80%. Nền tảng của mô hình mới là an toàn sinh học nghiêm ngặt và giám sát liên tục. Nhờ đó, chu kỳ nuôi rút ngắn, sản lượng tăng gấp ba, tăng trưởng ngày vượt 0,4 g và chi phí được kiểm soát tốt hơn, ngay cả khi giá tôm ở mức thấp. Quan trọng hơn, mô hình đáp ứng các yêu cầu về bền vững và truy xuất nguồn gốc của thị trường quốc tế. Ở quy mô quốc gia, Ecuador tiếp tục là trường hợp điển hình khiến ngành tôm toàn cầu phải nhìn lại. Với khoảng 220.000 ha nuôi, sản lượng năm 2025 dự kiến đạt 1,76 triệu tấn, tăng 17% so năm trước. Theo ông Pablo Montalbetti, Giám đốc chiến lược thị trường Vitapro-Alicorp, tăng trưởng này đến

từ sự kết hợp giữa lợi thế tự nhiên, tổ chức sản xuất quy mô lớn và đổi mới liên tục.

Ecuador nuôi với mật độ thấp, chỉ 1618 con/m², nhưng đạt tăng trưởng cao, FCR khoảng 1,3. Chuỗi giá trị cũng dịch chuyển mạnh sang chế biến sâu, với tỷ lệ sản phẩm chế biến tăng từ 28% năm 2019 lên 55% hiện nay, đồng thời đa dạng hóa thị trường sang Mỹ và EU. Sự tích hợp ngày càng chặt chẽ giữa người nuôi và nhà máy chế biến giúp ổn định nguồn cung và giảm biến động giá, dù quốc gia này vẫn đối mặt với rủi ro về chính trị, chi phí và khí hậu.

Thị trường, thương hiệu và cánh cửa 2026

Nếu sản xuất là nền tảng, thì thị trường chính là nơi quyết định tương lai ngành tôm trong năm 2026. Trung Quốc, thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, đang thay đổi nhanh chóng. George Ding Changwei, Tổng

Giám đốc Hong Kong Fisheries Holding, nhận định: “Trung Quốc đang phụ thuộc ít hơn vào khối lượng và nhiều hơn vào chất

lượng, thương hiệu và niềm tin”. Trong vài năm qua, nhập khẩu TTCT của

Trung Quốc tăng về lượng nhưng giảm về giá

trị, phản ánh sự cạnh tranh khốc liệt. Tuy nhiên, nửa đầu năm 2025 cho thấy tín hiệu

ổn định hơn, khi 420.000 tấn tôm nhập khẩu

đạt giá trị khoảng 2,3 - 2,4 tỷ USD. Ding cho rằng cơ hội không còn nằm ở việc đẩy thêm

hàng hóa giá rẻ, mà ở việc đáp ứng thị hiếu

mới của người tiêu dùng trẻ, quan tâm đến an toàn thực phẩm, dinh dưỡng và bền vững. Thị trường Trung Quốc cũng đang mở rộng theo chiều không gian và phân khúc. Các đô thị nội địa với tầng lớp trung lưu mới nổi trở thành động lực tăng trưởng, trong khi phân khúc cao cấp sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và thương hiệu mạnh. Sự phát triển của logistics và thương mại điện tử, với khả năng giao hàng trong ngày, càng thúc đẩy xu hướng này.

Đối với các nhà sản xuất châu Á, bài học cho năm 2026 là rõ ràng. Cạnh tranh bằng giá thấp ngày càng khó khi Ecuador vẫn giữ lợi thế chi phí và quy mô. Con đường khả thi hơn là tái cấu trúc mô hình nuôi theo hướng giảm stress, kiểm soát dịch bệnh, tối ưu chi phí và gắn chặt với thị trường thông qua chế biến, thương hiệu và chứng nhận.

Bước sang 2026, ngành tôm toàn cầu không thu hẹp nhưng sẽ phân hóa mạnh, mở ra cơ hội cho những doanh nghiệp thích ứng nhanh và định vị đúng thị trường.

VŨ ĐỨC

Áp lực mở cơ hội

 ZURIDAH MERICAN

Tổng Biên tập Aqua Culture

Asia Pacific

Ngành tôm toàn cầu bước vào năm mới trong tâm thế nặng trĩu lo âu. Dư cung kéo dài, nhu cầu phục hồi chậm, thuế quan và dịch bệnh đan xen đã tạo nên một bức tranh đầy thách thức. Tuy nhiên, nhìn sâu vào các biến động hiện tại, có thể thấy những khe hở trong khủng hoảng đang mở ra cơ hội tái cấu trúc cho toàn bộ chuỗi giá trị, đồng nghĩa quốc gia và doanh nghiệp nào thích nghi nhanh hơn sẽ giành lợi thế.

Những tín hiệu cảnh báo đã xuất hiện từ cuối năm 2024. Dù giá tôm có cải thiện nhẹ trong nửa sau năm, nhu cầu tiêu thụ vẫn không theo kịp nguồn cung. Tại TARS 2025, sản lượng tôm Ecuador năm 2025 dự báo đạt 1,65 triệu tấn, trong khi Ấn Độ tiếp tục khẳng định mục tiêu 1 triệu tấn. Đây là hai đầu tàu sản xuất lớn, và khi cả hai cùng mở rộng, áp lực lên thị trường không thể tránh khỏi.

Ngay từ đầu năm, tâm điểm thảo luận của ngành đã xoay quanh chính sách thuế của Mỹ và vai trò của Trung Quốc như một thị trường nhập khẩu then chốt. Thuế quan không chỉ là rào cản thương mại, mà đang trở thành yếu tố định hình lại dòng chảy thương mại toàn cầu.

Chuỗi cung ứng tôm đã có những dịch chuyển rõ rệt. Trước nguy cơ Mỹ áp thuế, nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu sớm. Ấn Độ vẫn giữ thế mạnh ở phân khúc giá trị gia tăng, nhưng mức thuế lên tới 50% khiến khả năng cạnh tranh bị bào mòn đáng kể. Ecuador, với mức thuế chỉ khoảng 10%, được xem là ứng viên tiềm năng để gia tăng thị phần tại Mỹ, dù quá trình chuyển dịch này có thể mất hơn một năm để thực sự phát huy hiệu quả.

Indonesia từng được kỳ vọng sẽ tận dụng giai đoạn tái phân bổ nguồn cung, song sự cố liên quan đến Cs137 đã nhanh chóng dập tắt triển vọng ngắn hạn, kéo theo mất niềm tin từ thị trường. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nổi lên như một lựa chọn “an toàn” hơn nhờ hệ thống sản xuất ổn định và kinh nghiệm ứng phó với biến động. Một trong số ít tín hiệu tích cực của ngành đến từ mặt trận chi phí. Giá nguyên liệu thức ăn thủy sản đang hạ nhiệt rõ rệt.

Việc Peru nâng hạn ngạch khai thác cá cơm đã kéo giá bột cá giảm mạnh. Song song đó, khô đậu giảm giá do tồn kho cao và nhu cầu yếu từ Trung Quốc, trong khi giá ngô được dự báo tiếp tục giảm nhờ vụ mùa thuận lợi nhất kể từ năm 2019. Điều này giúp người nuôi phần nào “dễ thở” hơn sau thời gian dài bị bào mòn lợi nhuận. Sự giảm giá của nguyên liệu truyền thống cũng làm thay đổi vị thế của các thành phần thay thế như protein đơn bào hay bột côn trùng. Đáng chú ý, một số nhà sản xuất SCP cho biết họ đang chuyển hướng từ vai trò “thay thế” sang “nguyên liệu chức năng”, cho thấy bài toán mở rộng quy mô có thể không còn là nút thắt lớn như trước đây. Ở khía cạnh dài hạn, di truyền và giống vẫn là điểm nghẽn then chốt của ngành tôm châu Á. Thành công của Ecuador với đàn tôm bố mẹ được phơi nhiễm toàn bộ mầm bệnh đã thu hút sự quan tâm lớn, song mô hình này chưa thể dễ dàng sao chép. Dù các nhà cung cấp giống liên tục quảng bá những dòng tôm khỏe, tỷ lệ thành công thực tế tại nhiều vùng nuôi châu Á vẫn thấp. Mục tiêu đạt được SPT song song với SPF đầy hứa hẹn nhưng còn xa vời.

Dịch bệnh tiếp tục là “đám mây đen” bao trùm ngành nuôi trồng thủy sản. Bệnh TPD ảnh hưởng nặng đến khâu ương giống tại Việt Nam, trong khi các bệnh kinh điển như đốm trắng hay hội chứng chết sớm ngày càng diễn biến phức tạp ở nhiều quốc gia châu Á. Những lời kêu gọi tăng cường giám sát dịch bệnh theo hướng hợp tác, bài bản hơn cho thấy ngành đang dần nhận ra rằng không một quốc gia nào có thể đơn độc giải quyết bài toán này.

Bức tranh toàn cảnh của ngành tôm toàn cầu vì thế không chỉ là câu chuyện của khủng hoảng. Trong áp lực dư cung, thuế quan và dịch bệnh, các cơ hội tái cấu trúc đang lộ diện: từ tối ưu chi phí, đầu tư R&D, cải thiện giống, đến xây dựng hệ sinh thái hợp tác theo chuỗi giá trị. Và chính trong giai đoạn khó khăn này, những nền sản xuất có tầm nhìn dài hạn sẽ xác lập vị thế cho chu kỳ tăng trưởng tiếp theo. 

Ngành TTCT toàn cầu đang bùng nổ với 6 “ông lớn” Ecuador, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Thái Lan, mỗi nước theo đuổi chiến lược riêng từ tăng sản lượng, đa dạng xuất khẩu đến nâng cao giá trị và bền vững, tạo nên cuộc cạnh tranh cả về số lượng lẫn chất lượng.

Ecuador: Tốc độ tăng trưởng

nhanh nhất thế giới

Ecuador tiếp tục giữ vị thế là quốc gia có ngành TTCT phát triển nhanh nhất trong số các quốc gia có ngành nuôi trồng thủy sản quy mô lớn toàn cầu. Theo số liệu FAO và báo cáo ngành, sản lượng TTCT Ecuador đạt khoảng 700.000 - 750.000 tấn trong năm 2025, duy trì mức tăng trưởng ổn định , dù tốc độ tăng có chậm lại so với các năm trước. Điểm mạnh của Ecuador là mô hình nuôi thâm canh ven biển quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, phần lớn là các trang trại sử dụng hệ thống tuần hoàn nước, kiểm soát môi trường chặt chẽ, tự động hóa quy trình cho ăn và theo dõi sức khỏe tôm. Những cải tiến này giúp tăng năng suất mà vẫn giảm thiểu rủi ro dịch bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Về thị trường, Ecuador là nhà xuất khẩu TTCT số một sang Mỹ và Liên minh châu Âu, chiếm hơn 30% thị phần nhập khẩu TTCT tại

EU. Nhờ chính sách hỗ trợ xuất khẩu, cơ sở hạ tầng cảng hiện đại và tiêu chuẩn chất

lượng quốc tế, tôm Ecuador luôn được chuỗi bán lẻ cao cấp ưa chuộng. Các sản phẩm tôm Ecuador hiện nay bao gồm tôm đông lạnh, tôm lột vỏ, và các loại tôm chế biến giá trị gia tăng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường Mỹ và EU.

Trung Quốc: Ông lớn sản xuấtNhập khẩu khổng lồ

Trung Quốc là quốc gia sản xuất TTCT lớn thứ hai thế giới, nhưng đồng thời cũng là nhà nhập khẩu tôm lớn nhất toàn cầu, phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và chế biến xuất khẩu. Năm 2024, sản lượng TTCT của Trung Quốc đạt khoảng 450.000 tấn, tập trung chủ yếu tại các tỉnh ven biển phía Nam như Quảng Đông, Hải Nam và Phúc Kiến.

Mô hình nuôi tôm của Trung Quốc đa dạng, từ nuôi bán thâm canh và thâm canh quy mô vừa đến các trang trại tích hợp chế biến và logistics. Chính phủ Trung Quốc đang thúc đẩy tăng cường xuất khẩu sang ASEAN, EU và Nhật Bản, mặc dù nhu cầu nội

địa có biến động do người tiêu dùng chuyển sang các loại thủy sản khác.

Ngoài sản lượng, Trung Quốc chú trọng phát triển các sản phẩm tôm giá trị gia tăng, như tôm đông lạnh chế biến sẵn, tôm lột vỏ, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Sự kết hợp giữa sản xuất lớn, thị trường nội địa dồi dào và xu hướng xuất khẩu chất lượng cao giúp Trung Quốc duy trì vị thế chiến lược trong ngành nuôi tôm toàn cầu.

Ấn Độ: Phục hồi và đa dạng hóa xuất khẩu

Ấn Độ nổi tiếng với TTCT cỡ lớn và chất lượng ổn định. Năm 2024, sản lượng TTCT của Ấn Độ đạt khoảng 650.000 tấn, đánh dấu sự phục hồi sau giai đoạn bị tác động bởi dịch bệnh và áp lực từ thuế quan Mỹ.

và kiểm soát dịch bệnh, giúp nâng cao hiệu

quả sử dụng nước và giảm rủi ro sinh học.

Bên cạnh sản lượng, Ấn Độ cũng đang

đầu tư vào công nghệ sinh học, tôm sạch

bệnh SPF và các sản phẩm tôm chế biến giá

trị gia tăng, nhằm củng cố vị thế xuất khẩu

quốc tế. Sự phục hồi sản lượng kết hợp với

đa dạng hóa thị trường xuất khẩu tạo đà để

Ấn Độ duy trì vị trí hàng đầu trong ngành nuôi tôm trong những năm tới.

Việt Nam: Tăng trưởng mạnh mẽ với hướng bền vững

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng tăng trưởng mạnh nhất trong ngành TTCT toàn cầu, với sản lượng ước đạt khoảng 650.000 - 700.000 tấn trong năm 2025. Ngành tôm Việt Nam tập trung vào sản phẩm bền vững, chất lượng cao và giá trị gia tăng, nhằm cạnh tranh trực tiếp với Ecuador và Ấn Độ tại EU và Mỹ.

Các mô hình nuôi phổ biến tại Việt Nam bao gồm tuần hoàn và thâm canh cải tiến, kết hợp kiểm soát môi trường nước và dịch bệnh, giảm thiểu tác động môi trường. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng áp dụng chuỗi truy xuất nguồn gốc và chứng nhận ASC/GlobalGAP, tăng sức cạnh tranh cho các sản phẩm xuất khẩu.

Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ, EU và Nhật Bản, đồng thời đẩy mạnh tôm chế biến sẵn, tôm đông lạnh lột vỏ và tôm chế biến ăn liền. Sự kết hợp giữa sản lượng tăng trưởng, chất lượng cao và định hướng bền vững giúp Việt Nam nổi bật trên bản đồ nuôi tôm thế giới.

Indonesia: Xuất khẩu giá trị gia tăng dẫn đầu

Indonesia là quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu tôm chế biến giá trị gia tăng, đặc biệt là các sản phẩm tôm lột vỏ, tôm nấu chín và tôm đông lạnh chế biến sẵn. Năm 2024, sản lượng TTCT Indonesia đạt khoảng 450.000 tấn, với kế hoạch nâng sản lượng và xuất khẩu trong những năm tới.

Mô hình nuôi tôm chủ yếu là thâm canh ven biển với trang trại quy mô vừa, kết hợp công nghệ quản lý môi trường nước và kiểm soát dịch bệnh. Chính quyền Indonesia thúc đẩy chương trình đào tạo nông dân, cải tiến thức ăn và nuôi bền vững, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Indonesia tập trung vào thị trường xuất khẩu châu Á, Mỹ và EU, lợi thế cạnh tranh là khả năng cung cấp tôm giá trị gia tăng với chi phí hợp lý, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Sự kết hợp giữa sản lượng ổn định và sản phẩm chế biến đa dạng giúp Indonesia giữ vị trí quan trọng trên thị trường tôm toàn cầu.

Thái Lan: Truyền thống lâu đời và xuất khẩu bền vững

Sản lượng TTCT của Thái Lan ước đạt 270.000 - 390.000 tấn trong năm 2025. Dù trước đây từng dẫn đầu xuất khẩu tôm toàn cầu, sản lượng có giảm nhẹ do dịch bệnh và cạnh tranh quốc tế, nhưng Thái Lan vẫn duy trì vị thế quan trọng trong ngành nuôi tôm khu vực Đông Nam Á.

Ngành tôm Thái Lan nổi bật với mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh ven biển, kết hợp kiểm soát dịch bệnh, quản lý chất lượng nước và hệ thống cho ăn cải tiến. Nước này cũng chú trọng phát triển sản phẩm tôm giá trị gia tăng, như tôm đông lạnh, tôm lột vỏ và tôm chế biến sẵn, phục vụ thị trường xuất khẩu EU, Mỹ và Nhật Bản. Điểm mạnh của Thái Lan không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở truyền thống lâu đời trong ngành và chuỗi xuất khẩu bền vững, với chứng nhận quốc tế như HACCP và ASC, giúp sản phẩm tôm Thái Lan được các nhà nhập khẩu lớn tin tưởng. So với Mexico, Thái Lan sản lượng lớn hơn, trong khi Mexico có lợi thế gần thị trường Mỹ và chi phí sản xuất thấp hơn, tạo nên sự phân hóa chiến lược trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ Latinh.

TUẤN MINH

 Trong bối cảnh nhu cầu tiêu

thụ TTCT tiếp tục tăng trên

phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại

các thị trường trọng điểm như Mỹ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản, các quốc gia dẫn đầu được dự báo sẽ tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm chế biến cao cấp và áp dụng những mô hình nuôi bền vững hơn.

4 thị trường nhập khẩu lớn nhất

Năm 2025, xuất khẩu tôm Việt Nam tiếp tục ghi nhận những chuyển dịch đáng chú ý về thị trường, trong đó bốn thị trường nhập khẩu lớn nhất giữ vai trò quyết định đến tăng trưởng toàn ngành.

1. Trung Quốc - Hồng Kông

Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc

được Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu

Thủy sản Việt Nam (VASEP) dẫn lại, năm 2025 đánh dấu cột mốc quan trọng khi kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Quốc - Hồng Kông lần đầu tiên vượt ngưỡng 1 tỷ USD. Trong cả năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 123 nghìn tấn tôm sang thị trường này, đạt giá trị 1,24 tỷ USD, tăng 48,4% về lượng và 63,3% về trị giá so năm 2024, cho thấy sức tiêu thụ mạnh mẽ và ổn định tại thị trường trọng điểm khu vực châu Á.

Tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc - Hồng Kông được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, trong đó có nhu cầu tiêu thụ tôm ngày càng cao, lợi thế địa lý gần và sự

gia tăng nhập khẩu các sản phẩm thủy sản giá trị cao. Riêng trong tháng 11/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 108 triệu USD, giảm nhẹ so tháng trước nhưng vẫn tăng gần 27% so cùng kỳ năm 2024, phản ánh nhu cầu ổn định đối với tôm sống, tươi và đông lạnh.

Đáng chú ý, tôm hùm trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đạt 817 triệu USD, tăng hơn gấp đôi so năm 2024 và chiếm gần như toàn bộ kim ngạch xuất khẩu tôm hùm của Việt Nam ra thị trường quốc tế. Xếp sau là tôm sú - mặt hàng cao cấp truyền thống, trong đó Trung Quốc - Hồng Kông tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất. Tôm sú Việt Nam chủ yếu phục vụ phân khúc nhà hàng, khách sạn, dịch vụ ăn uống cao cấp, cũng như nhóm người tiêu dùng có yêu cầu khắt

khe về chất lượng, kích cỡ và độ tươi ngon. Sự tăng trưởng ấn tượng này không chỉ khẳng định vị thế của tôm Việt Nam tại thị trường Trung Quốc - Hồng Kông mà còn mở ra cơ hội thúc đẩy các dòng sản phẩm chế biến giá trị cao, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu và sức cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam trong khu vực và trên thị trường quốc tế.

2. Mỹ

Trong 11 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt 754 triệu USD, tăng 7% so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường chịu áp lực lớn nhất đối với doanh nghiệp xuất khẩu, khi cùng lúc phải đối mặt với mức thuế chống bán phá giá POR19 ở mức cao và các

Ảnh: PTC

chính sách thương mại mới. Những yếu tố này làm gia tăng chi phí tuân thủ, đẩy giá xuất khẩu lên cao và khiến tôm Việt Nam suy giảm lợi thế cạnh tranh so nguồn cung từ Ecuador và các quốc gia Nam Á.

Dù vậy, nhu cầu tiêu thụ tôm tại thị

trường Mỹ vẫn duy trì tương đối ổn định, đặc biệt đối với các sản phẩm tôm chế biến sâu và sản phẩm giá trị gia tăng - phân khúc vốn là thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam.

Nửa cuối năm 2025, hoạt động xuất

khẩu tôm sang Mỹ mang tính “phòng thủ” rõ nét, khi nhiều doanh nghiệp chủ động đẩy nhanh tiến độ giao hàng trước thời điểm các mức thuế mới chính thức có hiệu lực. Trong trường hợp kết quả cuối cùng của kỳ rà soát

POR19 không có điều chỉnh theo hướng tích cực, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Mỹ trong quý I/2026 được dự báo sẽ tiếp tục chịu áp lực suy giảm.

3. Liên minh châu Âu (EU)

EU tiếp tục là thị trường trọng điểm của tôm Việt Nam với mức tăng trưởng ổn định trong năm 2025. Theo VASEP, kim ngạch xuất khẩu tôm sang EU tính đến giữa tháng 12/2025 đạt hơn 562 triệu USD, tăng 22% so cùng kỳ năm trước; ước tính cả năm đạt gần 590 triệu USD. Đà tăng trưởng tập trung chủ yếu tại các thị trường Đức, Bỉ và Hà Lan, được thúc đẩy bởi sự thiếu hụt nguồn cung tôm sú từ Ấn Độ và Indonesia trong một số thời điểm, cùng với xu hướng tiêu dùng chuyển dịch sang các sản phẩm chế biến có chứng nhận bền vững. Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do tiếp tục tạo dư địa thuận lợi cho tôm Việt Nam gia tăng hiện diện tại thị trường EU. Nhu cầu tiêu thụ tôm tại EU duy trì ở mức ổn định, trong đó Nam Âu và khu vực Tây Bắc Âu là hai vùng thị trường chủ lực, chiếm hơn 95% tổng lượng tôm nhập khẩu

của toàn khối. Sức mua bền bỉ tại các khu vực này tạo nền tảng tương đối thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của các quốc gia cung ứng, bao gồm cả Việt Nam, trong bối cảnh thị trường thủy sản toàn cầu vẫn còn nhiều biến động.

Tuy nhiên, xét về cơ cấu nguồn cung vào EU, Ecuador vẫn giữ vị trí áp đảo với sản lượng hơn 203.700 tấn, tăng 37% so cùng kỳ. Ấn Độ xếp thứ hai với khoảng 51.500 tấn, tăng 33%, trong khi Việt Nam đứng thứ ba, đạt gần 46.000 tấn, tăng 12%. Dù khoảng cách giữa Việt Nam và Ấn

Độ không quá lớn, nhưng chênh lệch so với Ecuador tiếp tục bị nới rộng, cho thấy áp lực cạnh tranh tại thị trường EU ngày càng gia tăng.

4. Nhật Bản

Nhật Bản tiếp tục duy trì vị trí trong nhóm các thị trường nhập khẩu tôm lớn

Việc nhận diện rõ

nhu cầu và xu hướng của từng thị trường không chỉ phản ánh vị thế tôm Việt Nam trên bản đồ thương mại toàn cầu, mà còn là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chiến lược sản xuất và xuất khẩu phù hợp trong giai đoạn tới.

của Việt Nam, với kim ngạch đạt 535 triệu USD, tăng 13% so năm trước. Đáng chú ý, các sản phẩm tôm chế biến phục vụ kênh bán lẻ ghi nhận mức tăng trưởng khả quan.

Cùng với Australia, Anh và Canada, Nhật Bản góp phần củng cố vai trò của khối CPTPP trong bối cảnh thị trường Mỹ và EU có nhiều biến động.

Bước vào năm 2026, hoạt động xuất khẩu tôm đối mặt với nhiều yếu tố bất

định, khiến triển vọng tăng trưởng trong

ngắn hạn trở nên thận trọng. Các rào cản về thuế tại thị trường Mỹ, sức ép cạnh tranh tại Trung Quốc, cùng mặt bằng chi phí đầu vào trong nước ở mức cao tiếp tục tác động

đến kết quả xuất khẩu trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chủ động mở rộng thị trường ngoài các khu vực truyền thống, tận dụng cơ hội từ CPTPP, EU và Trung Đông, đồng thời đẩy mạnh các dòng sản phẩm chế biến, giá trị gia tăng, ngành tôm vẫn có cơ hội duy trì đà tăng trưởng trong năm 2026.

PHƯƠNG NHI

Doanh nghiệp

Top doanh nghiệp xuất khẩu tôm hàng đầu năm 2025

2025 là năm khẳng định vị thế của các doanh nghiệp lớn ngành thủy sản trong đó có nhóm hàng tôm, khi đã chủ động điều chỉnh chiến lược, đẩy mạnh cơ cấu lại thị trường,… Cùng điểm lại những thương hiệu doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực xuất khẩu tôm của Việt Nam năm qua.

1. Stapimex

Công ty CP Thủy sản Sóc

Trăng (Stapimex) là một trong những doanh nghiệp lâu đời về nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu tôm tại Việt Nam. Năm 2025, Stapimex vẫn duy trì phong độ khi đứng đầu danh sách top các doanh nghiệp xuất khẩu tôm hàng đầu của

Việt Nam. Với giá trị kim ngạch

đạt 309,8 triệu USD, chiếm 2,75% tỷ trọng xuất khẩu thủy

sản của Việt Nam. Stapimex

được thành lập từ năm 1978, trụ sở tại tỉnh Sóc Trăng (nay là

TP Cần Thơ). Vốn điều lệ hiện

đạt 77,5 tỷ đồng, trong khi vốn

chủ sở hữu cuối năm 2024 vượt

3.000 tỷ đồng. Riêng lợi nhuận

sau thuế chưa phân phối lũy

kế hơn 1.100 tỷ đồng. Năm 2025, Stapimex đặt kế hoạch

sản lượng thành phẩm 25.000

tấn, tương đương 2 năm gần nhất.

2. Minh Phú

Theo thông tin từ Công ty

CP Tập đoàn Thủy sản Minh

Phú, năm 2025, kim ngạch

xuất khẩu tôm của Minh Phú

dự kiến đạt 282,7 triệu USD và

tôm Minh Phú hiện gần như có

mặt tại hầu hết các thị trường

lớn trên thế giới. Minh Phú

tập trung phát triển sản phẩm

giá trị gia tăng, sản phẩm cao

cấp để cạnh tranh với các quốc gia khác như: Ấn Độ, Ecuador;

đồng thời đẩy mạnh các mô hình nuôi tôm xanh - sạch, kinh tế tuần hoàn, tôm sinh thái, tôm - rừng, tôm - lúa,… Năm 2025, Minh Phú và Công ty TNHH De Heus đã ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển bền vững chuỗi giá trị ngành tôm Việt Nam. Theo thỏa thuận hợp tác, De Heus sẽ liên kết với Minh Phú - doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm hàng đầu

Việt Nam, hiện đang triển khai mô hình chuỗi giá trị tôm bao gồm: sản xuất giống và dinh

dưỡng, kỹ thuật nuôi, chế biến đến xuất khẩu, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng thị trường toàn cầu.

3. Minh Phú - Hậu Giang

Công ty CP Thủy sản Minh Phú - Hậu Giang là thành viên của Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hàng đầu Việt Nam và khu vực. Công ty được thành lập ngày 18/11/2013 trên cơ sở cổ phần hóa Công ty TNHH Chế biến Thủy sản Minh Phú - Hậu Giang. Trong quá trình hoạt động, Công ty luôn chú trọng đầu tư vào công nghệ nhằm chiếm lĩnh vị trí dẫn đầu về xuất khẩu tôm trong Tập đoàn Thủy sản Minh Phú. Công ty chuyên sản xuất tôm tẩm bột và tempura, tập trung xuất khẩu sang các thị trường lớn như

Nhật Bản, với mục tiêu tự động hóa và áp dụng nuôi tôm công nghệ cao (probiotic) để tăng hiệu quả và bền vững, đóng góp lớn vào sản lượng tôm chế biến của Minh Phú. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm của công ty đạt 259,4 triệu USD.

4.

CASES

Thành lập năm 1996 với tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, đến năm 2006 được tư nhân hóa, Công ty CP Chế biến và Dịch vụ Thủy sản Cà Mau (CASES) hiện vận hành sáu nhà máy chế biến tôm, surimi và mực nang trên khắp các tỉnh khu vực ĐBSCL, với hơn 4.500 công nhân. Năm 2024, CASES ghi nhận doanh số 180 triệu USD thì năm 2025, đạt 198,5 triệu USD. Năm qua, CASES đã đầu tư từ 5 đến 6 triệu USD

để xây dựng một nhà máy mới nhằm mở rộng năng lực sản xuất tôm giá trị gia tăng. Cơ sở

mới, đang được xây dựng tại

tỉnh Cà Mau gần hai nhà máy

tôm hiện có của Công ty, là một phần trong chiến lược của

CASES, nhằm duy trì khả năng

cạnh tranh trên thị trường toàn

cầu. Điều này đặc biệt quan

trọng khi các nhà cung cấp

cạnh tranh, như Ecuador và Ấn

Độ, chuyển sang các sản phẩm

tôm có biên lợi nhuận cao hơn.

Cơ sở mới sẽ tập trung vào sản

xuất tôm duỗi (nobashi), đồ ăn

kèm sushi, các sản phẩm tẩm

bột và các sản phẩm có giá trị

gia tăng từ tempura. Sản lượng

ban đầu dự kiến đạt 2.000

tấn trong năm đầu tiên, bổ

sung vào sản lượng hàng năm

hiện tại của công ty là khoảng

15.000 tấn các sản phẩm hàng hóa, chẳng hạn như tôm đông

lạnh để đầu.

5. Sao Ta

Khép lại năm 2025 với nhiều khó khăn, biến động, nhất là những tác động bất lợi đến từ

thị trường Mỹ ảnh hưởng nhiều

đến ngành tôm Việt Nam; Công ty CP Thực phẩm Sao Ta vẫn có kết quả kinh doanh tích cực, với doanh thu ngành hàng tôm đạt 194,1 triệu USD. Kết quả này

đến từ việc công ty có tầm nhìn

bao quát, chiến lược rõ ràng, năng lực triển khai và thực thi

chính sách hiệu quả, có khả

năng chống chịu và phản ứng

linh hoạt trước những biến

động bất lợi và bất ngờ từ thị

trường. Công ty đã dịch chuyển

từ thị trường truyền thống

Mỹ sang Nhật Bản, đồng thời

đẩy mạnh chế biến sâu trước

động thời kỳ đổi mới” cùng nhiều Huân chương Lao động.

6. Tài Kim Anh

áp lực tôm giá rẻ tại Ecuador.

Hiện nay, thị trường Mỹ chiếm khoảng 33% tổng giá trị xuất

khẩu của Sao Ta, tiếp đến là Nhật Bản với 28%, Anh 17%, châu Âu 4%, phần còn lại thuộc về các thị trường khác. Có thể thấy, sau 30 năm hình thành và phát triển, Sao Ta luôn là thương hiệu vững mạnh, đứng top đầu ngành chế biến xuất khẩu thủy sản nói chung cũng như lĩnh vực cung ứng tôm nói riêng. Với sự tăng trưởng ổn định cùng nỗ lực theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững trong tiến trình dài, Sao Ta là một trong số ít doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản được VCCI và ban ngành liên quan công nhận nằm trong Top 100 doanh nghiệp Việt bền vững liên tục 6 năm 2020 - 2025. Đặc biệt, Sao Ta vinh dự được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao

Công ty CP Chế biến Thủy sản Tài Kim Anh là một doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm lớn tại Sóc Trăng (nay là TP Cần Thơ), nổi tiếng với các sản phẩm tôm sú, TTCT, tôm hồng chất lượng cao được chế biến đa dạng (sống, chín, nobashi, sushi, tẩm bột) và xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Mỹ, Hàn Quốc, Canada, UAE,... Công ty không chỉ tập trung vào sản xuất mà còn tự xây dựng vùng nuôi tôm riêng, đảm bảo truy xuất nguồn gốc và đạt các chứng nhận quốc tế, khẳng định vị thế là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu tôm hàng đầu Việt Nam, nhận nhiều khen thưởng từ nhà nước. Ngày 19/12/2025, Công ty đã vinh dự được Bộ Công thương trao tặng Bằng khen cho doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong hoạt động xuất khẩu năm 2024. Năm 2025, Tài Kim Anh tiếp tục nằm trong nhóm các doanh nghiệp xuất khẩu tôm hàng đầu, với kim ngạch đạt 128,9 triệu USD, đóng góp đáng kể vào tổng giá trị xuất khẩu của toàn ngành tôm. Công ty cũng là một thương hiệu điển hình cho xu hướng dịch chuyển rõ nét sang phân khúc chế biến sản phẩm sâu, giá trị gia tăng cao, đồng thời tận dụng tốt thị trường Trung Quốc - nơi nhu cầu đang phục hồi nhanh và yêu cầu kỹ thuật linh hoạt hơn so với các thị trường truyền thống.

 Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản

Việt Nam (VASEP), năm 2025, ngành thủy sản

Việt Nam mang về khoảng 11,3 tỷ USD kim ngạch

xuất khẩu, tăng hơn 12% so năm trước. Trong đó, con tôm tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Động lực tăng trưởng đến từ nhu cầu phục hồi tại Mỹ, Nhật Bản, EU, và sự bứt phá của tôm hùm.

VÂN ANH
Doanh nghiệp
Ảnh: Minh Phú

Linh hoạt vượt sóng thị trường

Bức tranh ngành tôm 2026 được đánh giá phụ thuộc nhiều biến số, đặc biệt là hàng rào thuế quan, rào cản kỹ thuật, xu hướng tiêu dùng và cơ cấu thị trường.

Đối diện áp lực

Ngành thủy sản Việt Nam nói chung và con tôm nói riêng bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động thích ứng và phát triển bền vững, sau một giai đoạn tái cơ cấu mạnh mẽ từ sản xuất đến thị trường. Trọng tâm không chỉ là tăng trưởng kim ngạch, mà còn là phát triển xanh, minh bạch, có trách nhiệm với môi trường, nguồn lợi và cộng đồng ngư dân.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định, năm 2026 sẽ là giai

đoạn đầy thách thức đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong nửa đầu năm, khi các rào cản thuế quan và kỹ thuật gia tăng. Cụ thể, ngành thủy sản sẽ chịu tác động từ kết quả rà soát thuế chống bán phá giá tôm của Mỹ, dự kiến công bố vào tháng 2/2026, với khả năng không thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, từ năm 2026, nhiều chuỗi bán lẻ lớn tại EU và

Anh yêu cầu tôm nước ấm phải

được gây ngất hoàn toàn (thường

bằng điện) trước khi ngâm đá, thay thế phương pháp sốc lạnh truyền thống. Quy định này đã

được các nhà bán lẻ như Tesco, Marks & Spencer, Sainsbury’s hay Waitrose đưa vào chính sách mua hàng, gắn trực tiếp với điều kiện duy trì tư cách nhà cung cấp. Điểm khác biệt của rào cản này là không thể xử lý bằng giấy tờ hay chứng thư đơn thuần. Doanh nghiệp buộc phải đầu tư lại công nghệ thu hoạch và sơ chế, thay đổi quy trình vận hành và kiểm soát chặt chẽ hơn khâu

vận chuyển tôm sống. Chi phí đầu tư cho một dây chuyền gây ngất điện là không nhỏ trong bối cảnh biên lợi nhuận ngành tôm ngày càng bị thu hẹp. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), phúc lợi động vật không còn là câu chuyện hình ảnh hay trách nhiệm xã hội thuần túy, mà đang trở thành điều kiện tham gia cuộc chơi tại thị trường EU. Với ngành tôm Việt Nam, thách thức không chỉ nằm ở chi phí đầu tư, mà ở việc

làm sao để quá trình chuyển đổi không tạo ra khoảng cách quá lớn giữa doanh nghiệp lớn và khối SMEs, lực lượng chiếm tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu. Mặt khác, thị trường thế giới phục hồi chậm, xung đột địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng khiến nhu cầu tiêu thụ thiếu ổn định. Chi phí đầu vào, logistics,... vẫn cao, trong khi các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, môi trường ngày càng khắt khe. Cạnh tranh từ các quốc gia sản xuất lớn như Ecuador, Ấn Độ tiếp tục gây sức ép lên giá và thị phần, buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc và nâng cao giá trị gia tăng. VASEP nhận định, các chính sách thuế quan, thương mại và rào cản kỹ thuật của Mỹ có thể tiếp tục khiến các nhà xuất khẩu trên thế giới thận trọng và tính đến phương án chuyển dịch thị trường. Xu hướng này

đồng thời tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn tại các thị trường khác như EU, Trung Quốc, ASEAN và Trung Đông.

Chủ động, linh hoạt

Trước những thách thức nêu trên, ngành thủy sản nói chung và sản phẩm tôm nói riêng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là nâng cao khả năng đáp ứng các hàng rào kỹ thuật, đa dạng hóa thị trường và đẩy mạnh phát triển sản phẩm chế biến sâu.

Theo TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, tiêu thụ thủy sản toàn cầu giai đoạn 2025 - 2034 được dự báo tăng khoảng 11%/năm, với xu hướng ưu tiên các sản phẩm

bền vững, tiện lợi và thân thiện môi trường. Đây là phân khúc

Việt Nam có lợi thế lớn, đặc biệt trong bối cảnh đã ký kết

17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và tiếp tục mở rộng mạng

lưới FTA.

Các doanh nghiệp cần tận

dụng hiệu quả các chính sách

hỗ trợ về thuế, phí, lãi suất; chủ

động xây dựng phương án chia

sẻ chi phí thuế quan với đối tác, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi

số, chuyển đổi xanh và thực hành ESG nhằm nâng cao năng

lực cạnh tranh.

Ở góc độ đối ngoại, Thứ

trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn

Minh Hằng cho rằng, thế giới đang chứng kiến 03 xu hướng

lớn gồm xanh hóa, số hóa và bảo đảm an ninh lương thực gắn

với an ninh địa chính trị. Trong thời gian qua, nhiều quốc gia

đã đề xuất hợp tác sâu hơn với

Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm nguồn cung lương thực - thực phẩm, mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản.

Giữ

vững thị trường Mỹ

Ở góc nhìn khác, dù xuất

khẩu thủy sản sang Mỹ trong năm 2025 chỉ tăng nhẹ khoảng 4,9%, đạt hơn 1,9 tỷ USD, nhưng thị trường này vẫn chiếm gần 17% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Do đó, Mỹ vẫn là

thị trường chiến lược mà doanh nghiệp Việt Nam khó có thể thay thế trong ngắn hạn.

Theo ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm Sao Ta, những rủi ro đối với con tôm Việt Nam ở thị trường Mỹ là hiện hữu và không khó để nhận diện. Thuế đối ứng đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào

Mỹ, trong đó có con tôm hiện là 20%. Nhưng thực ra mức thuế này cao thấp chưa nói lên tất cả, cái quan tâm hơn là so sánh mức thuế cùng mặt hàng với các

đối thủ lớn. Hiện giờ mức thuế tôm của Ấn Độ (chiếm gần 40% lượng tôm nhập vào Mỹ) là 50%, nên rõ ràng là lợi thế cho tôm

Việt Nam vẫn còn.

Ông Lực nhận định, điều

đáng lo nhất chính là thuế AD với mức phán quyết sơ bộ đối với tôm Việt Nam lên đến 35,29%, cao hơn rất nhiều so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Tất nhiên, thuế AD đối với tôm Việt

Nam ở mức nào sẽ phải còn chờ phán quyết cuối cùng của Bộ

Thương mại Mỹ (DOC), dự kiến diễn ra vào ngày 16/2 tới.

Để giữ vững vị thế cho con tôm Việt Nam tại thị trường Mỹ, ông Võ Văn Phục, Tổng Giám đốc

Công ty CP Thủy sản sạch Việt

Nam (Vinacleanfood) cho rằng, các doanh nghiệp cần tập trung

bán mạnh vào phân khúc thị

phần cao cấp và các sản phẩm tôm không bị thuế AD và VCD (thuế chống trợ cấp) tác động như tôm bao bột, tôm chiên, tôm phối chế,... vốn là lợi thế của các doanh nghiệp tôm Việt Nam. Trong khi đó, ông Hồ Quốc Lực lưu ý, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược hoạt động theo hướng bền vững để tăng lợi thế, sức cạnh tranh. Hoạch định sách lược thị trường linh hoạt, dự phòng rủi ro ở bất cứ thị trường nào, nhất là Mỹ. Luôn coi trọng việc truy xuất nguồn gốc, các quy chế như: Lao động, môi trường, giảm phát thải và giải pháp cân bằng phát thải.

Dù năm 2026 được dự báo còn nhiều khó khăn, song với các giải pháp căn cơ đang được triển khai, ngành thủy sản Việt Nam vẫn hướng tới mục tiêu duy trì tăng trưởng, tạo nền tảng cho mục tiêu xuất khẩu 14 - 16 tỷ USD vào năm 2030.

CẢNH NGHI

 Năm 2026 được dự báo là phép thử về bản lĩnh chiến lược của doanh nghiệp tôm. Khả năng trụ vững của ngành sẽ phụ thuộc vào việc khai thác hiệu quả các thị trường ổn định, kiểm soát rủi ro tại Mỹ và nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

DINH DƯỠNG THỦY SẢN

Kỷ nguyên phân tử và AI

Nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang bước vào kỷ nguyên dinh dưỡng chính xác, khi tăng trưởng không còn dựa vào bột cá mà vào công nghệ sinh học, khoa học phân tử và trí tuệ nhân tạo nhằm hướng tới phát triển bền vững.

Cuộc cách mạng

dinh dưỡng phân tử

Trong vòng hai mươi năm trở lại đây, nuôi trồng thủy sản đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng hiếm có trong lịch sử ngành thực phẩm. Sản lượng toàn cầu tăng từ 42 triệu tấn năm 2002 lên 130,9 triệu tấn vào năm 2022, song hành với sự cải tiến mạnh mẽ về công nghệ nuôi và quản lý cho ăn. Đặc biệt, hệ số chuyển đổi thức ăn đã giảm đáng kể, phản ánh sự gia tăng hiệu quả sinh học và kinh tế của toàn ngành. Trong bối cảnh thức ăn chiếm gần hai phần ba tổng chi phí sản xuất, những tiến bộ trong nghiên

cứu dinh dưỡng đóng vai trò quyết định.

Sự chuyển dịch lớn nhất

diễn ra ở cấu trúc nguyên liệu

thức ăn. Từ chỗ phụ thuộc gần

như tuyệt đối vào bột cá và dầu cá, ngành đã từng bước mở rộng sang các nguồn protein

thay thế như phụ phẩm động

vật, nguyên liệu thực vật và protein đơn bào. Ở nhiều công

thức thức ăn thương phẩm

hiện nay, tỷ lệ nguyên liệu có

nguồn gốc từ cá đã giảm xuống

dưới 10%, chủ yếu chỉ còn được

duy trì ở các giai đoạn nhạy

cảm như ương giống, nuôi bố

mẹ hoặc giai đoạn hoàn thiện

chất lượng thịt.

Song song với thay đổi về nguyên liệu là cuộc cách

mạng về tư duy khoa học. Dinh

dưỡng thủy sản không còn

dừng lại ở việc xác định tỷ lệ protein, lipid hay năng lượng tối ưu cho tăng trưởng, mà đã tiến sâu vào cấp độ phân tử và tế bào. Các nghiên cứu về gen thụ thể vị giác cho thấy hành vi ăn và khả năng chấp nhận thức ăn thực vật ở cá chịu sự chi phối trực tiếp của các gen cảm nhận vị umami. Việc điều chỉnh các gen này có thể làm thay đổi chiến lược chuyển hóa năng lượng, mở ra tiềm năng giảm phụ thuộc vào khẩu phần giàu protein và lipid.

Những tiến bộ trong hiểu biết về cảm nhận axit amin, đặc biệt là vai trò của các con đường mTOR và GCN2, đã giúp giải thích cách cá điều hòa chuyển hóa protein khi nguồn đạm trong khẩu phần thay đổi. Điều này mang ý nghĩa then chốt trong bối cảnh protein thực vật với cấu trúc axit amin mất cân đối đang thay thế dần bột cá. Đồng thời, các phát hiện về chuyển hóa lipid, khả năng tổng hợp axit béo không no chuỗi dài và vai trò của DHA trong điều hòa viêm đã đặt nền móng cho các chiến lược dinh dưỡng vừa hiệu quả vừa thân thiện môi trường.

Tổng thể, giai đoạn này

đánh dấu sự chuyển dịch căn bản của dinh dưỡng thủy sản, từ một ngành khoa học ứng dụng dựa trên thử nghiệm tăng trưởng sang một lĩnh vực khoa học tích hợp, nơi sinh học phân tử, sinh lý học và công nghệ cùng hội tụ để tối ưu hóa hiệu quả nuôi.

Tiến bộ và thách thức

Nghiên cứu dinh dưỡng thủy sản được hình thành từ những năm 1950, với các công trình đặt nền móng cho việc xác định nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của nhiều loài nuôi chủ lực. Trong nhiều thập kỷ, tăng trưởng, hiệu suất thức ăn và các chỉ số enzyme là thước đo chính để đánh giá khẩu phần.

Tuy nhiên, hai mươi năm gần

đây chứng kiến bước nhảy

vọt về phương pháp luận, khi sinh học phân tử và sinh học

tế bào được ứng dụng rộng rãi, đưa lĩnh vực này bước sang kỷ nguyên dinh dưỡng phân tử.

Việc giải mã các gen và protein điều hòa chuyển hóa dinh dưỡng cho thấy cá có những cơ chế độc đáo so với động vật trên cạn, một phần do quá trình nhân đôi bộ gen trong tiến hóa. Sự phức tạp này giúp cá có khả năng thích nghi linh hoạt với môi trường và khẩu phần, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn trong việc hiểu đầy đủ chức năng của từng gen và con đường chuyển hóa. Bên cạnh đó, các cơ chế điều hòa đa tầng, đặc biệt là biến đổi sau dịch mã, đã được xác định là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả sử dụng dinh dưỡng.

Ở cấp độ tế bào, mối tương tác giữa lưới nội chất, ty thể và giọt lipid ngày càng được quan tâm, bởi đây là trung tâm điều phối chuyển hóa năng lượng và lipid. Stress tế bào, rối loạn chức năng ty thể hay mất cân bằng trao đổi lipid không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng mà còn liên quan trực tiếp đến bệnh lý chuyển hóa và sức

khỏe tổng thể của vật nuôi.

Song song đó, các dạng chết tế

bào có kiểm soát như tự thực hay ferroptosis được chứng

minh có vai trò điều hòa tích

lũy lipid và khả năng thích

nghi với stress dinh dưỡng.

Dù đạt nhiều tiến bộ về lý thuyết, thực tiễn sản xuất vẫn

đối mặt với hàng loạt thách thức. Cơ sở dữ liệu về nhu cầu

dinh dưỡng chính xác theo loài, giai đoạn phát triển và

điều kiện môi trường vẫn

chưa hoàn chỉnh. Công nghệ chế biến thức ăn, đặc biệt là

ép đùn, có ảnh hưởng sâu sắc

đến độ ổn định và khả năng

tiêu hóa dưỡng chất, song các

thông số tối ưu vẫn thiếu sự tiêu chuẩn hóa. Việc thay thế hoàn toàn bột cá vẫn là bài toán khó, bởi protein thực vật dù rẻ hơn nhưng bị hạn chế bởi yếu tố kháng dinh dưỡng và khả năng tiêu hóa không đồng đều.

Trong bối cảnh đó, phụ gia

chức năng, thức ăn lên men và thức ăn có tác dụng điều hòa

chuyển hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng. Chúng không chỉ giúp bù đắp hạn chế của nguyên liệu thay thế mà còn mở ra hướng tiếp cận mới, nơi thức ăn không đơn thuần là nguồn dinh dưỡng mà còn là

công cụ quản lý sức khỏe và hiệu quả sản xuất.

Dinh dưỡng chính xác và bền vững

Sự mở rộng bền vững của nuôi trồng thủy sản trong tương lai phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng giảm phát thải, tối ưu hóa sử dụng dinh dưỡng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm. Trong bối cảnh đó, thức ăn carbon thấp, công nghệ giảm thải và quản lý cho ăn chính xác nổi lên như những trụ cột chiến lược. Việc lựa chọn nguyên liệu thức ăn không chỉ còn dựa trên giá thành và giá trị dinh dưỡng, mà còn phải tính đến dấu chân carbon trong toàn bộ vòng đời sản phẩm. Protein đơn bào, bột côn trùng và các nguồn nguyên liệu mới có khả năng chuyển hóa chất thải thành protein chất lượng cao đang được xem là lời giải tiềm năng, dù vẫn còn thách thức về chi phí và quy mô sản xuất. Song song đó, các giải pháp enzyme, axit hữu cơ và công nghệ lên men giúp cải thiện khả năng tiêu hóa và giảm thất thoát nitơ, phốt pho ra môi trường.

Công nghệ sinh học hiện đại đang đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa dinh dưỡng chính xác. Các mô hình tế bào, công nghệ giải trình tự gen, phân tích proteome, metabolome và hệ vi sinh đường ruột cho phép hiểu sâu hơn mối liên hệ giữa khẩu phần, chuyển hóa và sức khỏe vật nuôi. Đặc biệt, chỉnh sửa gen bằng CRISPR/Cas9 mở ra triển vọng cải thiện hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và khả năng chống chịu stress, dù vẫn còn những rào cản về kỹ thuật, pháp lý và chấp nhận xã hội. Trong dài hạn, tương lai của dinh dưỡng thủy sản nằm ở sự hội tụ giữa khoa học phân tử, công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Các cơ sở dữ liệu lớn về nhu cầu dinh dưỡng, kết hợp với hệ thống cho ăn thông minh dựa trên IoT và AI, sẽ cho phép tối ưu hóa khẩu phần theo thời gian thực. Đây không chỉ là chìa khóa nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn là nền tảng để nuôi trồng thủy sản trở thành ngành sản xuất thực phẩm bền vững, đóng góp thiết thực vào an ninh lương thực toàn cầu trong thế kỷ XXI.

DŨNG NGUYÊN (Theo Aquaculture)

CHẤT LƯỢNG TÔM GIỐNG

Yếu tố then chốt

Chất lượng tôm giống luôn là yếu tố quyết định sự thành công của vụ nuôi. Trong bối cảnh ngành tôm đặt mục tiêu tự chủ nguồn giống và phát triển bền vững, việc nhận diện rõ thách thức và triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng tôm giống là yêu cầu cấp bách hiện nay.

“Nền móng” chuỗi giá trị

Trong chuỗi giá trị ngành tôm, tôm giống

được xem là “mắt xích đầu tiên” nhưng có vai trò quyết định đến hiệu quả của toàn bộ quá trình nuôi thương phẩm. Chất lượng tôm giống không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, khả năng kháng bệnh của tôm nuôi mà còn chi phối chi phí sản xuất, năng suất, lợi nhuận và mức độ rủi ro của người nuôi.

Thực tiễn sản xuất đã chứng minh, dù áp dụng mô hình nuôi tiên tiến, đầu tư lớn

cho hạ tầng, thức ăn và quản lý môi trường, nhưng nếu con giống không đảm bảo chất

lượng thì rủi ro dịch bệnh, tỷ lệ sống thấp và hiệu quả kinh tế kém là điều khó tránh

khỏi. Bởi vậy, tôm giống luôn được coi là “nền móng” của chuỗi giá trị ngành tôm.

Theo ông Trần Công Khôi, Trưởng Phòng

Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, quan điểm “nhất giống, nhì môi, tam mồi, tứ kỹ” đã khẳng định rõ vị trí trung tâm của con giống trong sản xuất tôm nước lợ. Trong các mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh công nghiệp, tôm giống chất lượng cao là điều kiện tiên quyết, kết hợp với việc kiểm soát tốt các yếu tố môi trường, thức ăn, dịch bệnh và kỹ thuật nuôi để tạo nên thành công của vụ nuôi.

Không chỉ với nuôi thâm canh, vai trò của tôm giống sạch bệnh còn thể hiện rõ ở các mô hình nuôi quảng canh cải tiến, tôm - rừng, tôm - lúa. Trong những mô hình này, mức độ đầu tư đầu vào thấp hơn, ít can thiệp kỹ thuật, do đó con giống khỏe mạnh, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên càng trở nên

quan trọng. Việc sử dụng tôm giống chất lượng cao, kết hợp với những cải tiến trong quy trình nuôi đã giúp nhiều địa phương nâng cao tỷ lệ sống, năng suất và chất lượng tôm thương phẩm, qua đó gia tăng hiệu quả kinh tế và tính bền vững của mô hình nuôi. Những năm gần đây, lĩnh vực sản xuất tôm giống nước lợ ở nước ta đã có bước phát triển đáng kể về quy mô. Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, hiện cả nước có khoảng 1.910 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ. Ước tính năm 2025, sản lượng tôm giống sản xuất đạt 167,58 tỷ con, tăng 5,4% so năm 2024; trong đó, TTCT đạt 116,89 tỷ con và tôm sú đạt 50,69 tỷ con. Bên cạnh đó, nguồn cung tôm bố mẹ cho sản xuất giống cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực. Năm 2025, sản lượng tôm bố

mẹ cung cấp cho sản xuất giống đạt khoảng 189,85 nghìn con, tương đương 100,03% so năm 2024. Đáng chú ý, tỷ lệ tôm bố mẹ

được sản xuất trong nước tiếp tục tăng qua các năm, dao động từ 21,3 - 45,1 nghìn con/ năm, trong đó năm 2025 ghi nhận mức cao nhất với khoảng 45,1 nghìn con. Điều này cho thấy những nỗ lực ban đầu trong việc giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và từng bước nâng cao tính tự chủ của ngành giống tôm Việt Nam.

Thách thức

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song ngành sản xuất tôm giống nước lợ vẫn đang đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là vấn đề chủ động nguồn tôm bố mẹ.

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn làm

chủ được nguồn tôm bố mẹ, nhất là đối với

TTCT. Phần lớn TTCT bố mẹ vẫn phải nhập

khẩu từ nước ngoài. Dù các lô tôm bố mẹ

nhập khẩu đều được chứng nhận đảm bảo

theo quy định, song thực tế cho thấy chất

lượng tôm bố mẹ chưa thật sự ổn định. Việc kiểm soát chất lượng từ nước xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, dẫn đến rủi ro về khả năng

sinh sản, chất lượng đàn con và nguy cơ

mang mầm bệnh tiềm ẩn.

Sản xuất tôm giống trong nước cũng

bộc lộ nhiều hạn chế mang tính hệ thống. Các vùng sản xuất giống tập trung, đáp ứng

đồng thời yêu cầu về quy mô và an toàn sinh

học hiện vẫn còn ít. Nhiều cơ sở sản xuất

giống hình thành tự phát, phân tán, xen

kẽ với khu dân cư hoặc vùng nuôi thương phẩm, làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch

bệnh và khó kiểm soát chất lượng. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng tại không ít vùng sản xuất giống đã xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp.

Một vấn đề đáng lo ngại khác là công tác quản lý chất lượng tôm giống trên thị trường chưa đồng bộ. Hiện vẫn còn một số cơ sở sản xuất, ương dưỡng chưa được kiểm tra, đánh giá và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động theo quy định. Tình trạng lưu thông tôm giống không rõ nguồn gốc, chưa qua kiểm dịch vẫn còn tồn tại, đặc biệt vào các thời điểm cao vụ thả nuôi. Số lượng cơ sở sản xuất tôm giống đạt tiêu chuẩn hiện vẫn còn hạn chế. Phần lớn các cơ sở nhỏ lẻ chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, quy trình kỹ thuật và an toàn sinh học. Trong khi đó, tâm lý của một bộ phận người nuôi vẫn ưa chuộng giống giá rẻ, dẫn đến việc các cơ sở nhỏ lẻ, đầu tư thấp, bán giống với giá rẻ và nhiều hình thức khuyến mãi có cơ hội tồn tại và

cạnh tranh không lành mạnh với các cơ sở đạt chuẩn. Hệ quả là khi người nuôi sử dụng giống kém chất lượng, năng suất và hiệu quả kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đồng thời làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

Hướng tới tự chủ

Để nâng cao chất lượng tôm giống và đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành tôm, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược và lâu dài. Trước hết, việc chủ động nguồn tôm bố mẹ cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Nhà nước phải tăng cường đầu tư cho các chương trình nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất tôm bố mẹ trong nước, từng bước giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Đồng thời, có cơ chế hỗ trợ cụ thể để các địa phương và doanh nghiệp tiếp cận nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao, ổn định.

Theo kế hoạch của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, đến năm 2030, ngành tôm sẽ duy trì công suất hiện có, hiện đại hóa hạ tầng và phấn đấu có ít nhất 50% cơ sở sản xuất giống đạt chuẩn an toàn dịch bệnh. Cả nước dự kiến hình thành hơn 10 cơ sở chọn tạo, sản xuất tôm bố mẹ, với khả năng cung ứng từ 200.000 - 250.000 con/năm. Mục tiêu sản lượng giống đạt 160 - 200 tỷ con/năm, trong đó TTCT 120 - 150 tỷ con và tôm sú 4050 tỷ con, hướng tới sự tự chủ và phát triển bền vững.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Thứ

trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Phùng Đức Tiến yêu cầu các địa phương, đơn vị, hiệp hội và cơ sở sản xuất giống tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm. Trước hết, cần đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghiên cứu, sản xuất và ương dưỡng giống theo hướng hiện đại, đủ năng lực

chọn tạo giống bằng công nghệ tiên tiến. Bộ khuyến khích doanh nghiệp và các tổ

chức khoa học tham gia nghiên cứu, phát triển giống, đặc biệt tại các địa phương trọng điểm như Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, An Giang.

Bên cạnh đó, các địa phương cần chủ động quy hoạch quỹ đất phù hợp, tạo điều kiện để doanh nghiệp liên kết với Viện nghiên cứu, trường đại học trong chọn tạo và sản xuất tôm bố mẹ. Đồng thời, khuyến khích đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất TTCT bố mẹ tại khu vực miền Trung, nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp. Việc nghiên cứu chọn tạo các dòng tôm bố mẹ tăng trưởng nhanh, kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ góp phần đảm bảo nguồn cung giống chất lượng cao cho nuôi thương phẩm. Đặc biệt, công tác quản lý chất lượng cần được siết chặt. Các cơ sở sản xuất giống phải được kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thực hiện kiểm dịch và công bố tiêu chuẩn chất lượng giống theo quy định. Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về chất lượng, nguồn gốc giống là yêu cầu bắt buộc.

NGUYỄN HẰNG

 Nâng chất lượng tôm giống chính là đầu tư cho tương lai ngành tôm. Khi “khâu đầu” được kiểm soát tốt, hiệu quả và tính bền vững của nghề nuôi tôm sẽ được đảm bảo lâu dài.

CÔNG NGHỆ CAO

Chìa khóa nâng giá trị tôm Việt

Ứng dụng công nghệ cao đang mở ra hướng đi mới cho ngành tôm Việt Nam, giúp tăng năng suất, chất lượng và khả năng kiểm soát rủi ro. Tuy nhiên, để công nghệ thực sự trở thành “chìa khóa” nâng giá trị con tôm, vẫn cần tháo gỡ những nút thắt về vốn, hạ tầng, nhân lực và thị trường tiêu thụ.

Hiệu quả vượt trội

Trong bối cảnh ngành tôm Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, nuôi tôm công nghệ cao được xem là một trong những giải pháp then chốt. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức sản xuất, mà còn là bước chuyển quan trọng từ tư duy “nuôi nhiều - rủi ro cao” sang “nuôi thông minh - kiểm soát chặt chẽ - hiệu quả bền vững”.

Nuôi tôm công nghệ cao là phương pháp canh tác hiện đại, ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào toàn bộ quy trình sản xuất, từ khâu thiết kế ao nuôi, chọn

giống, quản lý thức ăn đến kiểm soát môi trường và phòng, chống dịch bệnh. Trong mô hình này, người nuôi không chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống mà còn sử dụng các thiết bị và công nghệ hiện đại như hệ thống cho ăn tự động, cảm biến theo dõi các chỉ tiêu môi trường (pH, nhiệt độ, ôxy hòa tan, độ mặn,…), phần mềm quản lý dữ liệu ao nuôi theo thời gian thực. Bên cạnh yếu tố công nghệ, hạ tầng vùng nuôi cũng được thiết kế khoa học và theo hướng khép kín. Các ao chức năng được phân chia rõ ràng, gồm ao nuôi thương phẩm, ao lắng, ao chứa nước sạch, ao xử lý nước thải. Quy trình cấp - thoát nước được

tách biệt, giúp hạn chế tối đa nguy cơ lây lan mầm bệnh từ môi trường bên ngoài. Nhờ đó, mô hình nuôi tôm công nghệ cao không chỉ giúp kiểm soát tốt điều kiện nuôi mà còn giảm thiểu đáng kể rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp.

Thực tế cho thấy, nhiều địa phương trên cả nước đã và đang chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình nuôi tôm công nghệ cao bởi tính ổn định và khả năng thâm canh vượt trội so với phương thức truyền thống. Các mô hình tiêu biểu như nuôi tôm theo quy trình 2 - 3 giai đoạn, nuôi tôm công nghệ biofloc, nuôi tôm trong nhà kính, nhà lưới theo quy trình tuần

hoàn khép kín,… ngày càng được nhân rộng và chứng minh hiệu quả rõ rệt.

Hiện nay, diện tích nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 21.708 ha, dù chỉ chiếm 2,9% tổng diện tích nuôi tôm cả nước nhưng lại đóng góp tới hơn 501.000 tấn, tương đương 39,2% tổng sản lượng tôm. Với năng suất bình quân đạt 23,2 tấn/ha/ năm, cao gấp nhiều lần phương thức truyền thống, mô hình này cùng với nuôi thâm canh đang giữ vai trò trụ cột trong chiến lược gia tăng giá trị ngành tôm Việt Nam.

Chưa đạt kỳ vọng

Mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, song nuôi tôm công nghệ cao hiện nay vẫn đối mặt với không ít khó khăn, khiến việc nhân rộng mô hình chưa đạt như kỳ vọng.

Trước hết, rào cản lớn nhất là vấn đề vốn đầu tư. Nuôi tôm công nghệ cao đòi hỏi chi phí ban đầu rất lớn cho hạ tầng ao nuôi, hệ thống điện, nước, trang thiết bị công nghệ, con giống chất lượng cao,… Trong khi đó, đa số hộ nuôi tôm có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế, khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Không ít trường hợp dù có nhu cầu vay vốn nhưng không đáp ứng được điều kiện vay do thiếu tài sản thế chấp hoặc đã thế chấp tại các tổ chức tín dụng khác.

Bên cạnh vốn, nguồn nhân lực cũng là một “điểm nghẽn” đáng kể. Nuôi tôm công nghệ cao không chỉ cần lao động mà còn đòi hỏi đội ngũ có kiến thức về sinh học, môi trường, công nghệ thông tin và khả năng vận hành hệ thống kỹ thuật hiện đại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn nhân lực chất lượng cao am hiểu sâu về khoa học - kỹ thuật trong ngành tôm vẫn còn thiếu và yếu, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Điều này khiến nhiều hộ nuôi e ngại khi tiếp cận các mô hình mới, đồng thời hạn chế khả năng lan tỏa của nuôi tôm công nghệ cao.

Một thách thức khác là đầu ra sản phẩm. Sản xuất tôm công nghệ cao thường cho sản lượng lớn trong thời gian ngắn, trong khi thị trường tiêu thụ vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bài toán “được mùa mất giá” chưa

được giải quyết triệt để, giá tôm nguyên

liệu biến động mạnh, thị trường xuất khẩu

cạnh tranh gay gắt. Trong một số thời điểm, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với mức độ đầu tư khiến người nuôi dè dặt mở rộng

sản xuất.

Đặc biệt, không thể không nhắc đến yếu tố tâm lý của người nuôi. Thực tế, thời gian qua, không ít hộ nuôi tôm thua lỗ, thất bại, thậm chí phải cầm cố, thế chấp tài sản. Điều này khiến nhiều người nuôi rơi vào tâm lý hoang mang, lo ngại rủi ro, dù nhận thấy

nuôi tôm công nghệ cao có hiệu quả nhưng vẫn chưa dám mạnh dạn đầu tư.

Ngoài ra, chất lượng con giống, điều kiện cơ sở hạ tầng vùng nuôi, đặc biệt là hệ thống thủy lợi và điện, cũng là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả nuôi tôm công nghệ cao. Nhiều vùng nuôi chưa có hệ thống cấpthoát nước riêng biệt, nguồn điện không ổn định, làm gia tăng chi phí sản xuất và rủi ro trong quá trình nuôi.

Giải pháp tháo gỡ

Để ngành tôm Việt Nam có thể “bứt phá” trong giai đoạn tới, phát triển nuôi tôm công nghệ cao cần được xác định là hướng đi chiến lược nhằm hiện thực hóa các mục tiêu: gia tăng sản lượng, tiết kiệm diện tích nuôi, giảm giá thành sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thực tế cho thấy, nuôi tôm công nghệ cao đã chứng minh hiệu quả tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, để mô hình này phát triển bền vững và được nhân rộng, rất cần sự đồng hành của các chính sách phù hợp.

Trước hết, cần tiếp tục rà soát và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ về vốn, đơn giản hóa thủ tục vay, tạo điều kiện để người nuôi dễ dàng tiếp cận các nguồn tín dụng. Đồng thời, cần cải thiện cơ chế triển khai hoạt động vay và cho vay theo hướng linh hoạt hơn. Việc xem xét mô hình liên kết chuỗi vốn - nông dân - công nghệ - thiết bị có thể là giải pháp giúp phân bổ rủi ro hợp lý, tạo điều kiện để các ngân hàng mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là nuôi tôm công nghệ cao. Song song đó, cơ quan quản lý ở cả trung ương và địa phương cần có chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ mới trong nuôi tôm. Đặc biệt, cần tạo điều kiện để các doanh

 Nuôi tôm công nghệ cao là giải pháp toàn diện giúp người nuôi chủ động kiểm soát môi trường ao nuôi, nâng cao hiệu quả sản xuất và đảm bảo chất lượng tôm thương phẩm. Với quy trình khép kín, hiện đại, mô hình này góp phần giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm chi phí và hướng đến phát triển bền vững cho ngành tôm Việt Nam.

nghiệp, Viện nghiên cứu trong nước phát triển và làm chủ công nghệ, giảm phụ thuộc vào thiết bị nhập khẩu. Việc mở rộng nuôi tôm công nghệ cao đối với các hộ dân cũng cần được triển khai một cách thận trọng. Thông qua các kênh khuyến nông, khuyến ngư, các chương trình tập huấn, nâng cao nhận thức, người nuôi cần được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và hiểu rõ mức độ rủi ro của nghề nuôi tôm. Đây là yếu tố mang tính quyết định đến thành bại của mô hình.

Bên cạnh đó, các cấp chính quyền cần chủ động tổ chức trình diễn, giới thiệu và chuyển giao các tiến bộ khoa học - công nghệ mới để người nuôi dễ dàng tiếp cận và áp dụng. Việc nhân rộng các mô hình hiệu quả, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệphợp tác xã - người nuôi, đồng thời đầu tư hạ tầng dùng chung sẽ góp phần giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Cuối cùng, để nuôi tôm công nghệ cao phát triển bền vững, cần có các giải pháp ổn định đầu ra và giá cả cho con tôm Việt Nam, qua đó tạo niềm tin cho doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi yên tâm đầu tư lâu dài, từng bước hình thành chuỗi giá trị tôm hiện đại, hiệu quả và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

NAM CƯỜNG

Đa dạng mô hình nuôi tôm

hiện đại

Ảnh: Grobest

Nhiều mô hình nuôi tôm hiện đại đã và đang được triển khai tại Việt Nam, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng tính an toàn sinh học và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành tôm.

TLSS (Thang Long Smart System)

Là mô hình nuôi tôm công nghệ cao của Tập đoàn Thăng

Long xây dựng và hiện đang được phát triển tại nhiều địa phương trên khắp cả nước. TLSS là mô hình nuôi TTCT nhiều giai đoạn với phương thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh được thực hiện trên ao bạt. Năm 2025 đánh dấu bước phát triển nổi bật của mô hình TLSS, với tỷ lệ thành công đạt tới 84% (số liệu được cập nhật từ 01/12/2024 - 20/10/2025). Nhờ áp dụng mô hình TLSS, nhiều hộ nuôi và trang trại trên khắp cả nước đã đạt năng suất cao, ổn định dịch bệnh và tiết giảm đáng kể chi phí sản xuất. Trong thời gian tới, Tập đoàn Thăng Long sẽ tiếp tục mở xây dựng mô hình TLSS cho các đối tượng khác như tôm sú, cá điêu hồng, cá lóc.

CPF-Combine

Là phát minh của Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam. CPFCombine là sự kết hợp nhiều giải pháp quan trọng như an toàn sinh học (dùng chế phẩm sinh học ngăn ngừa vật chủ trung gian, dùng vi sinh khống chế dịch bệnh), môi trường nuôi sạch (nguồn nước đầu vào và đáy ao được xử lý sạch), sử dụng con giống sạch bệnh và dùng thức ăn chất lượng tốt. Đặc biệt, tôm được thu hoạch từ mô hình CPF-Combine đều có thể chế biến xuất khẩu vì

có chất lượng tốt, không có dư lượng kháng sinh. Với công nghệ này, tôm được nuôi theo 3 giai đoạn. Giai đoạn tôm con nhỏ, sẽ được nuôi trong bể chứa với dung tích nước nhỏ, nhờ vậy không tốn diện tích ao nuôi. Khi tôm lớn lên

sẽ được đưa sang ao nuôi có dung tích lớn hơn. Việc chia ra

nuôi nhiều giai đoạn như vậy sẽ giúp kiểm soát dịch bệnh tốt hơn. Thời gian nuôi trong ao ngắn, giúp tiết kiệm được diện tích ao nuôi, quay vòng các lứa nhanh, lại đảm bảo phòng dịch bệnh, tỷ lệ chết thấp, tôm lớn nhanh hơn. Không những thế, CPF-Combine còn giúp người dân nuôi TTCT đạt kích cỡ lớn (có thể đạt 15 con/kg) để có giá bán cao hơn, lợi nhuận tốt hơn. Đồng thời, giảm thời gian mỗi vụ nuôi trong ao xuống chỉ còn 2 - 3 tháng.

Nuôi tôm “3 Tốt”

Mô hình nuôi tôm “3 Tốt”

được Công ty TNHH UniPresident Việt Nam nghiên cứu và triển khai trong bối cảnh môi trường nuôi suy thoái, dịch bệnh trên tôm ngày càng phức tạp, trong khi khả năng đầu tư cải tạo đồng bộ ao nuôi của nhiều hộ nuôi còn hạn

chế. Trước thực tế đó, mô hình được xây dựng theo hướng đơn giản, dễ áp dụng nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả, chú trọng tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí sản xuất, đơn giản hóa xử lý môi trường, đồng thời nâng cao khả năng kiểm soát rủi ro và phòng ngừa dịch bệnh. Mô hình có tính linh hoạt cao, phù hợp với nhiều quy mô nuôi khác nhau, từ hộ nhỏ lẻ đến trang trại lớn. Bên cạnh đó, các nội dung kỹ thuật trong mô hình luôn được Uni-President Việt Nam cập nhật, hoàn thiện nhằm đáp ứng điều kiện nuôi thực tế và góp phần phòng, chống hiệu quả các bệnh nguy hiểm như TPD, EHP.

MPBio

Công nghệ MPBio 5 trong 1 với việc mô phỏng môi trường tự nhiên, nuôi bằng nước biển có độ mặn cao; kết hợp kiểm

soát môi trường nuôi bằng các

công nghệ số, giám sát ao nuôi

24/24 giờ và ra quyết định

dựa trên dữ liệu; hạn chế sử dụng các loại kháng sinh; và thu hoạch, vận chuyển tôm

sống đến nhà máy chế biến.

Công nghệ này được Công ty CP

Tập đoàn Thủy sản Minh Phú nghiên cứu, đã thử nghiệm từ 2022 và ghi nhận thành công.

Công nghệ sử dụng toàn bộ vi sinh đối kháng để ức chế mầm bệnh, dùng vi sinh để tăng

cường sức khỏe miễn dịch của tôm và xử lý nước trong ao.

Nuôi tôm theo công nghệ này không phải xử lý nước. Công nghệ có thể giúp nâng tỷ lệ sống của tôm lên mức 80%, cao hơn nhiều so với các phương

pháp nuôi truyền thống. Diện tích mặt nước thả giống cũng được gia tăng từ 30% lên 60%, giúp nâng cao khả năng phát triển của tôm. Công nghệ giúp giảm chi phí sản xuất tới 50% và tăng lợi nhuận từ 10 - 20% so mô hình nuôi tôm cũ.

GROFARM PRO

Là mô hình nuôi tôm công nghệ cao, bền vững mang lại vụ nuôi “Năng suất cao - Chi phí thấp”. Ra mắt năm 2020, sau 5 năm triển khai tại nhiều vùng nuôi trọng điểm, mô hình GROFARM, hiện được nâng cấp thành GROFARM PRO đã chứng minh được hiệu quả vượt trội. GROFARM PRO được Công ty TNHH Grobest Industrial (Việt Nam) phát triển như một hệ sinh thái nuôi tôm thông

minh, kết hợp khoa học, công nghệ và dinh dưỡng tối ưu

trong suốt chu trình nuôi. Mô hình tập trung vào 7 yếu tố cốt

lõi: hệ thống nuôi phù hợp, con giống chất lượng, chương

trình dinh dưỡng tối ưu, dịch

vụ kỹ thuật Mobile Lab, ứng dụng công nghệ mới, hướng đến hiệu quả và sự bền vững.

Hạ tầng nuôi của GROFARM

PRO được thiết kế và xây dựng

linh hoạt, phù hợp với từng khu vực và điều kiện thực tế của từng hộ nuôi. Nhờ quy

trình kiểm soát nghiêm ngặt, mô hình đạt tỷ lệ thành công trên 92%.

TOMGOXY TM

Công ty CP RYNAN

Technologies Vietnam đã phát

triển và vận hành thành công

mô thức nuôi TTCT siêu thâm canh giàu ôxy công nghệ số TOMGOXY TM dựa trên sự sáng tạo tích hợp các công nghệ vật lý, hóa học, sinh học và kỹ thuật số. TOMGOXY TM giải quyết các vấn đề chính của ngành tôm, gồm năng suất thấp, dư lượng kháng sinh cao dẫn tới không đạt chuẩn, chi phí sản xuất cao, lãng phí nguồn tài nguyên đất và nước,… Khác biệt của mô hình là sự thay đổi hệ thống tuần hoàn nước, thay dòng chảy rối thành dòng chảy tầng để giảm sự thất thoát ôxy hòa tan. Đồng thời, những chiếc máy sục khí quen thuộc trong các ao nuôi tôm được thay thế bằng máy tạo ôxy (đưa ôxy tinh khiết vào nước để ôxy tan ở nồng độ cao hơn bão hòa).

Ao nuôi tôm theo mô thức siêu thâm canh giàu ôxy công nghệ số TOMGOXY TM chỉ gồm có mái nổi, hệ thống tạo dòng nước cho tôm ăn và hệ thống cung cấp ôxy cho tôm.

CTU-RAS

Từ năm 2018, nhóm nghiên cứu của Đại học Cần Thơ đã phát triển mô hình CTU-RAShệ thống nuôi tôm tuần hoàn hoàn chỉnh, không thay nước

trong suốt vụ nuôi, chỉ bổ sung 10 - 20% lượng nước và có thể tái sử dụng liên tục cho ba vụ mỗi năm. Hệ thống được thiết kế theo nguyên lý cân bằng sinh học, gồm khu nuôi tôm chính chiếm 70 - 75% diện tích và khu lọc sinh học chiếm 25 - 30%. Trong đó, cá rô phi xử lý chất lơ lửng, giá thể sinh học chuyển hóa amoni, nitrit, nitrat, còn rong câu hấp thu các hợp chất nitơ và phốt pho dư thừa. Kết quả thực nghiệm cho thấy CTU-RAS mang lại hiệu quả rõ rệt về kỹ thuật, kinh tế và môi trường, góp phần giảm ô nhiễm, nâng cao an toàn sinh học, tiết kiệm thức ăn, khoáng và hóa chất, đồng thời thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Mô hình có thể vận hành linh hoạt tại cả vùng ven biển và nội địa, cung cấp tôm sạch, tươi sống cho thị trường và dễ dàng tích hợp công nghệ thông minh. Hiện CTU-RAS đã được triển khai tại Sóc Trăng (nay là TP Cần Thơ) và Cà Mau với mật độ nuôi 300 con/m³. Song song đó, Đại học Cần Thơ đã tổ chức nhiều khóa tập huấn, góp phần đưa mô hình vào thực tiễn sản xuất.

THANH HIẾU
Ao nuôi tôm siêu thâm canh giàu ôxy công nghệ số Ảnh: RYNAN
nuôi siêu thâm canh trong hệ thống CTU-RAS Ảnh: ĐHCT

TIÊN PHONG CHẤT LƯỢNG

ĐỘT PHÁ THÀNH CÔNG

Năm 2025 được xem là một dấu mốc quan trọng của C.P. Việt Nam trong lĩnh vực thủy sản, khi doanh nghiệp liên tục tạo dấu ấn bằng việc ra mắt nhiều sản phẩm, giải pháp và mô hình nuôi mới. Từ tôm giống, thức ăn, chế phẩm sinh học đến các mô hình nuôi tổng hợp, những giải pháp này đang được kiểm chứng rõ nét qua thực tiễn sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và hướng đến phát triển bền vững cho người nuôi tôm tại các vùng nuôi trọng điểm.

Tôm giống CP: Ghi dấu ấn kỷ lục thu hoạch kích cỡ lớn 10,9 con/kg

Tháng 2/2025, tôm giống CPF TURBO

G21 được giới thiệu ra thị trường. Dòng tôm này được phát triển từ nguồn tôm bố mẹ chọn lọc tại Trung tâm Nghiên cứu Tôm Bố

Mẹ C.P. Thái Lan, hướng đến khả năng tăng trưởng tốt, sức khỏe ổn định và phù hợp với

định hướng nuôi kích cỡ lớn.

Thực tiễn qua quá trình nuôi thương

phẩm đã minh chứng rõ nét hiệu quả vượt

trội của dòng tôm giống CPF TURBO G21, với

những kết quả thu hoạch rất ấn tượng về kích cỡ. Anh Lê Văn Phước (xã Bình Đại, tỉnh

Vĩnh Long) đạt tôm size 10,9 con/kg và chị

Lâm Thúy Linh (phường Vĩnh Châu, TP Cần

Thơ - trước đây thuộc Sóc Trăng) đạt size 11,7 con/kg.

Những kết quả này khẳng định tôm giống CPF TURBO G21 là dòng tôm giống

có khả năng nuôi tôm đạt kích cỡ lớn một cách ổn định, tạo nền tảng vững chắc cho hiệu quả sản xuất thương phẩm trong thực tế.

Thức ăn tôm CP: Công nghệ dinh dưỡng đột phá Bên cạnh tôm giống, các dòng thức ăn của C.P. Việt Nam tiếp tục tạo dấu ấn rõ nét trong thực tiễn nuôi, khi nhiều mô hình ghi nhận tôm đạt kích cỡ thương phẩm 20 - 30 con/kg và duy trì hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở mức rất thấp, chỉ từ 1,06 - 1,15, qua đó khẳng định hiệu quả kinh tế vượt trội cho người nuôi. Trong số đó, mô hình của anh Trương Rô Sa (TP Cần Thơ) đạt size 24 con/kg với FCR 1,06; anh Quách Hoàng Dũng (tỉnh Cà Mau) đạt size 25 con/kg, FCR 1,14. Theo từng giai đoạn nuôi, PRO-55 là

dòng thức ăn dinh dưỡng chuyên biệt cho tôm con, tập trung hỗ trợ chức năng gan và đường ruột, qua đó tạo nền tảng sinh lý vững chắc, giúp tôm hấp thu dinh dưỡng hiệu quả và phát triển khỏe mạnh ngay từ giai đoạn đầu vụ.

GOAL MAX 3 NHANH được sử dụng trong giai đoạn cuối vụ, hỗ trợ cải thiện màu sắc, kích cỡ và chất lượng tôm thương phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường khi xuất bán.

Công nghệ sinh học tiên tiến, ưu việt

NITRA CLEAN là chế phẩm sinh học được sử dụng nhằm hỗ trợ kiểm soát các chỉ tiêu NH3/NH4+ và NO2- trong ao nuôi, qua đó giúp tôm có môi trường sống tối ưu, thuận lợi cho quá trình tăng trưởng trong suốt vụ nuôi.

Khách hàng về đích size lớn thành công với tôm giống CPF TURBO G21

CPF COMBINE PLUS - Mô hình nuôi tổng hợp

CPF COMBINE PLUS là mô hình nuôi tôm

được xây dựng theo hướng quản lý tổng hợp, kết hợp giữa thiết kế ao nuôi, kiểm soát môi trường, dinh dưỡng theo giai đoạn và quản lý sức khỏe tôm. Quy trình được chuẩn hóa giúp người nuôi dễ theo dõi và chủ động điều chỉnh trong suốt vụ nuôi.

Tại Vĩnh Long, mô hình cho thấy hiệu quả thực tế. Anh Lê Văn Giàu với 14 ao nuôi thu hoạch gần 80 tấn tôm, đạt cỡ 32 con/ kg sau 66 ngày nuôi. Anh Nguyễn Quốc

Lịnh thành công với 15 ao nuôi, tổng sản

lượng 84,6 tấn, lợi nhuận ghi nhận 3,9 tỷ đồng. Hiện mô hình đang được triển khai và nhân rộng tại nhiều địa phương. Những kết quả ghi nhận trong năm 2025 khẳng định vai trò tiên phong của

C.P. Việt Nam trong việc kiến tạo các sản phẩm và giải pháp mang giá trị thực tiễn

cao, đáp ứng trực tiếp nhu cầu sản xuất của người nuôi tôm. Bước sang năm 2026, C.P. Việt Nam tiếp tục định

Khách hàng Trương Rô Sa với kết quả thu hoạch size 24 con/kg, FCR 1,06
Thức ăn dinh dưỡng dành cho tôm con PRO-55 Siêu vi sinh kiểm soát khí độc
Thức ăn thúc tôm GOAL MAX
Anh Nguyễn Quốc Lịnh và anh Lê Văn Giàu thành
COMBINE PLUS

Giải pháp vi sinh toàn diện

cho ao nuôi

Với định hướng “Giải pháp vi sinh toàn diện”, Công ty Thái Nam Việt cung cấp các dòng chế phẩm vi sinh được tuyển chọn theo từng mục tiêu sử dụng, nhằm hỗ trợ người nuôi xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh trong quá trình nuôi trồng thủy sản. Các chủng vi sinh được phát triển phù hợp với môi trường nước ngọt, lợ và mặn, có khả năng hoạt động ổn định ở độ mặn từ 30 - 40 ppt, một số chủng chuyên biệt có thể thích nghi ở mức 50 - 60 ppt.

Ức chế mầm bệnh và vi khuẩn có hại

Các chế phẩm vi sinh có khả năng ức chế sự phát triển của mầm bệnh và vi khuẩn có hại trong môi trường nước nuôi cũng như trong hệ thống đường ruột vật nuôi, qua đó góp phần giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, hạn chế hao hụt và nâng cao năng suất các vụ nuôi.

Hiệu quả của các sản phẩm do Công ty Thái Nam Việt cung cấp đã được kiểm chứng thông qua các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và đánh giá thực tế tại ao nuôi. Người nuôi vui lòng tham khảo thêm tại web: thainamviet.com.

Phân hủy mùn bã hữu cơ, cải tạo chất lượng nước

Việc phân hủy mùn bã hữu cơ trong ao nuôi góp phần cải thiện chất lượng môi trường nước, tạo điều kiện nuôi tương đối ổn định, hạn chế mầm bệnh và tiệm cận với các đặc điểm của môi trường tự nhiên, phù hợp cho tôm, cá, ếch sinh sống và sinh trưởng.

Đối với môi trường nước, sau khoảng 3 ngày sử dụng trong ao đất nuôi tôm, nước ao có xu hướng trở nên trong hơn, nhẹ - sáng, xuất hiện màu xanh đọt chuối. Trong mô hình nuôi tôm ao bạt, nước ao sau 3 ngày sử dụng thường đạt trạng thái trong, nhẹ - sáng, với màu trà hoặc màu tảo khuê đặc trưng. Đối với các ao nuôi cá tra, cá lóc và ếch, tình trạng mùi hôi, tanh trong nước giảm rõ rệt sau khoảng 3 - 5 ngày sử dụng.

Ở khu vực nền đáy ao, cả ao đất và ao trải bạt đáy, quá trình phân hủy chất hữu cơ giúp đáy ao xuất hiện lớp bùn xám sau 3 - 5 ngày sử dụng trong các mô hình nuôi tôm, cá và ếch. Đối với ao nuôi tôm trải bạt, hiện tượng nhớt bạt đáy được giảm hoặc loại bỏ đáng kể, hạn chế trơn trượt trong quá trình di chuyển, đồng thời giảm nhu cầu chà rửa bạt định kỳ trong suốt vụ nuôi và sau khi thu hoạch. Nhờ đó, người nuôi không cần sử dụng các hóa chất có tính axit mạnh như HCl để vệ sinh bạt sau mỗi vụ nuôi.

Công ty TNHH Công nghệ - Kỹ thuật - Sinh hóa Thái Nam Việt (Thái Nam Việt) là đơn vị đại diện và phân phối độc quyền tại Việt Nam các sản phẩm vi sinh và chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thủy sản, trồng trọt và xử lý môi trường, được chuyển giao từ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vi sinh và công nghệ sinh học, gồm:

GENESIS BIOSCIENCES LLC., MỸ

BIONETIX INTERNATIONAL CORP., CANADA

SCD PROBIOTICS LLC., MỸ

ASTEBIO LLS., MỸ

DVS BIOLIFIE CO., LTD., ẤN ĐỘ

ALGEA A.S LLC., NAUY

Các sản phẩm đã được thử nghiệm và ứng dụng tại nhiều cơ sở nuôi trồng, bao gồm trang trại nuôi thương phẩm, trại sản xuất giống tôm, ao nuôi cá, ếch, ốc hương và cá cảnh thương mại. Phạm vi triển khai trải rộng tại nhiều địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Tây Ninh, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, cũng như các vùng nuôi nước ngọt trọng điểm tại ĐBSCL. Việc ứng dụng các chế phẩm vi sinh góp phần hỗ trợ người nuôi nâng cao hiệu quả sản xuất và quản lý chi phí trong quá trình nuôi.

Bên cạnh đó, quá trình xử lý mùn bã hữu cơ còn góp phần giảm thiểu và hạn chế sự phát sinh của các khí độc trong ao nuôi, qua đó duy trì chất lượng nước ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm, cá và ếch phát triển trong suốt quá trình nuôi.

Tăng cường miễn dịch, hỗ trợ tăng trưởng vật nuôi

Việc bổ sung các chế phẩm phù hợp góp phần nâng cao sức đề kháng cho tôm, cá, ếch, giúp vật nuôi hồi phục nhanh hơn sau quá trình điều trị bệnh và duy trì trạng thái sức khỏe ổn định. Đồng thời, việc cung cấp khoáng chất dinh dưỡng và vitamin cần thiết hỗ trợ thúc đẩy quá trình sinh trưởng, giúp vật nuôi tăng kích cỡ trong thời gian ngắn.

Hình A: Kết quả kiểm mẫu EHP

Hình B: Kết quả kiểm mẫu tôm sau 7 ngày sử dụng BATENDO - sản phẩm chuyên xử lý EHP - tôm không còn bị EHP và phát triển bình thường sau đó

Thông qua việc cải thiện khả năng chuyển hóa và hấp thu dinh dưỡng, vật nuôi có điều kiện phát triển tốt hơn, tăng trọng nhanh và góp phần cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Bên cạnh đó, màu sắc của tôm, cá trở nên đồng đều và bóng hơn, hoạt động linh hoạt, khả năng bắt mồi và lượng thức ăn tiêu thụ được cải thiện. Hiệu quả sử dụng thường được ghi nhận rõ sau khoảng 3 ngày áp dụng.

THÁI NAM VIỆT

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Công nghệ - Kỹ thuật - Sinh hóa Thái Nam Việt Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, phường Tăng Nhơn Phú, TP Hồ Chí Minh

ĐT: 0888 59 63 66 - 0888 69 36 39 - 0916865938

Email: info@thainamviet.com

Website: thainamviet.com

Tôm bị nhiễm EHP
Tôm bị nhiễm ký sinh trùng

10 NĂM ĐỒNG HÀNH CÙNG NGƯỜI NUÔI TÔM VIỆT

Đón đầu xu hướng thổi khí

Turbo 2026

Qua những chuyến tham quan học hỏi của Aqua Mina tại nhiều nước trên thế giới trong năm 2025. Chúng tôi đã nhìn thấy hướng đi bền vững cho thủy sản Việt Nam bằng việc cải thiện chất lượng quản lý, thiết lập mục tiêu rõ ràng, thiết kế trại nuôi chuẩn từ đó kết hợp sử dụng những thiết bị tiên tiến để tối ưu nhân lực, tiết kiệm điện năng và sử dụng nguồn nước hiệu quả để không tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh.

Ứng dụng AI và công nghệ cao vào nuôi trồng thủy sản đang

trở thành hướng đi hiệu quả ở

Trung Quốc - nơi có sản lượng

nuôi trồng thủy sản và những

trại giống đứng đầu thế giới.

Aqua Mina cam kết đồng hành

cùng Người nuôi tôm Việt Nam

bằng những sản phẩm thiết bị

công nghệ hiện đại và chất lượng

cao. Trên hành trình phát triển

bền vững và ứng dụng công nghệ

nhằm nâng cao chất lượng cũng

như sản lượng nuôi trồng hướng

tới nền kinh tế hiện đại hóa nông

nghiệp của ngành thủy sản nước

nhà. Trải qua hành trình 10 năm hình thành và phát triển, đội

ngũ kỹ sư Tommy của chúng tôi luôn tìm tòi, học hỏi và sáng tạo không ngừng bằng các sản phẩm

thiết bị nuôi trồng chất lượng đã

được hàng nghìn hộ dân cả nước và hàng trăm công ty đầu ngành tin dùng. Bên cạnh đó, chúng tôi tự hào là Doanh nghiệp Việt Nam duy nhất đã xuất khẩu sản phẩm

thiết bị thủy sản tới hơn 30 nước trên thế giới. Một trong những sản phẩm nổi bật của Aqua Mina trong năm 2026 phải kể đến là Máy thổi khí Turbo, ứng dụng công nghệ siêu động cơ trong sản xuất máy bay nhằm làm tăng hiệu suất vận hành so với máy thổi khí “súp

lăng” truyền thống. Có thể nói

đây là sự thay thế tất yếu cho hệ thống máy thổi khí cũ trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển của ngành tôm Việt Nam hiện nay và tương lai bởi các ưu điểm nổi bật của nó.

Máy thổi khí Turbo iAqua giúp tiết kiệm lên tới 40% điện năng tiêu thụ nhờ hiệu suất vượt trội và hệ thống cảm biến, biến tần vận hành tự động. Ngoài ra, sản phẩm được Aqua Mina việt hóa với bảng điều khiển bằng tiếng Việt dễ dàng sử dụng cho người nuôi tôm. Bên cạnh đó, khách hàng có thể sử dụng ứng dụng để điều khiển máy từ điện thoại dễ dàng.

Sản phẩm được bảo hành chính hãng lên tới 24 tháng duy nhất

tại Aqua Mina. Hiện sản phẩm đã

được lắp đặt và sử dụng rộng rãi

tại các tỉnh như: Cà Mau, Bạc Liêu (cũ), Bến Tre (cũ), Vũng Tàu (cũ),

Bình Định (cũ), Quảng Ninh,...

Đối tác mà Aqua Mina lựa chọn chính là Công ty Công nghệ

Sinh học Kuaiyu Hải Nam một công ty dẫn đầu về công nghệ nuôi trồng tại Hải Nam. Với hệ thống nhà máy hiện đại, đội ngũ

kỹ sư chuyên môn lành nghề, quy trình sản xuất tự động giúp

đảm bảo chất lượng sản phẩm ở mức tối ưu nhất.

Aqua Mina hân hạnh trở thành Nhà phân phối độc quyền các sản phẩm iAqua tại Việt Nam.

Chúng tôi sẽ mang tới cho Người nuôi tôm Việt nam sản phẩm công nghệ hiện đại với dịch vụ bảo hành, bảo trì và sửa chữa tốt nhất hiện nay.

Cùng với máy thổi khí Turbo, Aqua Mina còn mang tới sản phẩm Máy đếm cá với độ chính xác lên tới 99%. Nhờ sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, nhận

diện và loại bỏ các con giống

đã chết giúp tăng số lượng đếm

chính xác hơn. Máy đếm cá có

thể sử dụng trong các trại cá

giống với độ linh động các size

cá khoảng từ 1 mm tới 20 cm. Số

lượng tối đa mỗi lần đếm lên tới

10.000 con và lịch sử các lần đếm

được ghi nhận đầy đủ giúp quản

lý số lượng giống tốt hơn.

Công nghệ xử lý nước đầu

vào bằng tia UV được iAqua phát triển thông qua ứng dụng

công nghệ quang học nước HOD

dựa trên nguyên lý sợi quang và

hiện tượng phản xạ toàn phần (TIR) để hướng dẫn tia UV trong khoảng xử lý. Nhờ vậy ánh sáng UV được phân bố đồng đều trên mọi điểm khi chiếu xạ, giúp nâng cao hiệu quả khử trùng và tiết kiệm năng lượng so với các hệ UV thông thường.

Dự kiến các sản phẩm trên sẽ được Aqua Mina trưng bày tại VietShrimp 2026, từ 1820/3/2026 tại SECC, TP Hồ Chí Minh.

Máy thổi khí Turbo sử dụng tại các tỉnh
Máy đếm tôm cá và đèn UV
Bà Trương Thị Lệ Dung và ông Lưu Quốc Hưng tại
AQUA MINA

Hiệu quả in vitro của SANACORE ® GM đối với EHP

Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) là vi bào tử trùng gây bệnh phổ biến trên tôm nuôi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng và hiệu quả sản xuất. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả in vitro của SANACORE® GM đối với EHP.

Bối cảnh và mục tiêu

- Hội chứng phân trắng (WFS) là nguyên nhân chính gây thất bại đáng kể trong các vụ nuôi tôm tại các quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ.

- Các đợt bùng phát có liên quan đến các yếu tố thuộc về nuôi thâm canh (mật độ cao, tỷ lệ cho ăn cao, nhiệt độ nước,...).

- Bào tử vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) đã được tìm thấy trong phân trắng - tỷ lệ nhiễm 1 EHP trong các ao bị nhiễm WFS có thể lên tới 96% (Rajendran và cộng sự, 2016).

- Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả in vitro của SANACORE® GM trong việc ức chế sự nảy mầm bào tử 2 của EHP.

Vật liệu và phương pháp

Nghiên cứu này được thực hiện tại Centex Shrimp (Đại học Mahidol, Thái Lan). Tôm nhiễm bào tử EHP được thu thập từ hai nguồn: tỉnh Chanthaburi (Lô 1) và tỉnh Pathum Thani (Lô 2). Tôm được thuần dưỡng trong khoảng nhiệt độ 28 - 29°C có sục khí trong phòng thí nghiệm trong hai ngày trước khi gan tụy được thu thập và sử dụng để tinh sạch bào tử EHP theo Aldama-Cano và cộng sự, 2018 (Bảng 1). Số lượng bào tử (bào tử/µL)

SANACORE® GM được pha loãng trong nước cất để đạt được nồng

độ 3 và 6 g/L. Một lượng mẫu tổng cộng 100 μL được lấy ra sau khi

lắc trộn bằng máy vortex, cho vào các ống vi ly tâm riêng biệt và giữ

ở nhiệt độ phòng (~25°C). Thử nghiệm ức chế bào tử EHP được thực

hiện bằng cách thêm bào tử EHP đã tinh sạch vào các lượng mẫu

trên để đạt nồng độ cuối cùng là 104 bào tử/100 μL phản ứng. Các

phản ứng được ủ trong 120 phút ở nhiệt độ phòng (~25°C). Tỷ lệ

nảy mầm được kiểm tra lặp lại ba lần bằng cách sử dụng Phloxin B.

Nước cất khử trùng được sử dụng làm đối chứng. Sự nảy mầm hoặc

khả năng sống của bào tử được đánh giá thông qua sự phóng ống

cực3 từ bên trong vi bào tử trùng (Hình 1).

Cơ chế phóng ống cực này được ký sinh trùng sử dụng để xâm nhiễm vào tế bào vật chủ và hoàn thành vòng đời. Phân tích biến thiên một chiều (ANOVA) được thực hiện (kiểm định PostHoc LDS) bằng phần mềm SPSS phiên bản 22. Kiểm định phạm vi đa biến của Duncan được áp dụng để so sánh bội nhằm so sánh sự khác biệt về giá trị trung bình giữa các nghiệm thức (P ≤ 0,05).

Hình 1

Kết quả và thảo luận

Kết quả cho thấy tỷ lệ nảy mầm của các nhóm đối chứng (nước cất) lần lượt là 61% và 80% từ lô bào tử thứ nhất và thứ hai (Bảng 1). Ở cả Lô 1 và Lô 2, SANACORE® GM tại nồng độ 3 và 6 g/L đã ức chế hoàn toàn4 và có ý nghĩa thống kê sự nảy mầm của bào tử (Hình 2).

Germination rate - Tỷ lệ nảy mầm: Là một chỉ số sinh học định lượng, thể hiện phần trăm số lượng bào tử chuyển từ trạng thái nghỉ sang trạng thái hoạt động (phóng ống cực để bắt đầu quá trình xâm nhiễm) trên tổng số bào tử có trong mẫu kiểm tra. Trong ngành nuôi trồng thủy sản, tỷ lệ nảy mầm của bào tử EHP là thông số then chốt để đánh giá nguy cơ bùng phát dịch bệnh và hiệu quả của các sản phẩm xử lý môi trường hoặc phụ gia thức ăn. Một sản phẩm có khả năng ức chế tỷ lệ nảy mầm càng cao thì khả năng ngăn chặn sự lây lan của hội chứng phân trắng (WFS) càng lớn. Các kết quả trên cho thấy, SANACORE® GM có tiềm năng làm giảm khả năng sống của bào tử EHP trong đường tiêu hóa của tôm, từ đó làm giảm mức độ nghiêm trọng của hội chứng phân trắng.

ADISSEO

Trong nuôi trồng thủy sản, để đảm bảo năng suất ổn định và hiệu quả kinh tế bền vững là một nền tảng sức khỏe ít được nhìn thấy nhưng có vai trò quan trọng: hệ miễn dịch tự nhiên hoạt động hiệu quả, khả năng đáp ứng stress tốt, cùng với sự toàn vẹn về cấu trúc và chức năng của các mô, cơ quan.

Adisseo cung cấp các giải pháp chuyên biệt theo từng loài cá và tôm, tập trung nâng cao sức bền sinh học (resilience), giúp vật nuôi duy trì trạng thái khỏe mạnh, hỗ trợ người nuôi chủ động quản lý sức khỏe và tối ưu hiệu quả sản xuất.

Turn resilience into predictable performance!

1. Prevalence (Tỷ lệ nhiễm/Tỷ lệ hiện mắc): Chỉ số đo lường tỷ lệ các trường hợp (ví dụ: ao nuôi hoặc cá thể tôm) mắc một căn bệnh cụ thể trong một quần thể tại một thời điểm nhất định.

2. Spore germination (Sự nảy mầm bào tử): Quá trình sinh học khi bào tử chuyển từ trạng thái nghỉ sang trạng thái hoạt động để bắt đầu quá trình xâm nhiễm vào tế bào vật chủ.

3. Discharge of the polar tube (Sự phóng ống cực): Một cơ chế sinh học đặc trưng của vi bào tử trùng, trong đó một ống cực được phóng ra để đâm xuyên và bơm vật chất di truyền vào tế bào vật chủ.

4. Completely inhibited (Ức chế hoàn toàn): Trạng thái mà tác nhân thử nghiệm ngăn chặn được toàn bộ 100% quá trình sinh học mục tiêu (trong trường hợp này là sự nảy mầm của bào tử).

GIẢM CHI PHÍ - TĂNG LỢI NHUẬN Giải pháp từ chế phẩm lên men

MEN CAHOPE & MEN TOMHOPE

của New Hope Vĩnh Long

Trong bối cảnh giá thức ăn thủy sản liên tục biến động, chi phí thuốc và xử lý môi trường ngày càng tăng cao, bài toán “nuôi sao cho hiệu quả, giảm hao hụt, tối ưu lợi nhuận” đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của bà con nuôi cá, nuôi tôm. Thực tế sản xuất cho thấy, phần lớn rủi ro và chi phí phát sinh đều bắt nguồn từ đường ruột yếu, khả năng tiêu hóa kém và môi trường ao nuôi mất cân bằng.

Nhận diện rõ vấn đề cốt lõi này, Công ty TNHH New Hope

Vĩnh Long đã nghiên cứu và phát triển dòng chế phẩm lên men thế hệ mới - MEN CAHOPE cho cá và MEN TOMHOPE cho tôm - nhằm hỗ trợ tôm, cá khỏe từ bên trong, giảm phụ thuộc vào kháng sinh và thuốc điều trị.

Chế phẩm lên men - xu hướng bền vững trong nuôi trồng thủy sản MEN CAHOPE và MEN TOMHOPE được tạo ra bằng công nghệ lên men kết hợp vi sinh vật có lợi, enzyme và các chất hỗ trợ chức năng, giúp cung

cấp men tiêu hóa và hệ vi sinh

đường ruột một cách hiệu quả.

Nhờ đó, sản phẩm góp phần cải thiện khả năng hấp thu thức ăn, bảo vệ gan - ruột, tăng cường miễn dịch và nâng cao tỷ lệ sống cho tôm, cá.

Đối với thủy sản, đặc biệt là cá và tôm, hệ tiêu hóa còn nhiều hạn chế:

- Nhiều loài cá không có răng, tuyến nước bọt hoặc dạ dày.

- Tôm, cá có đường tiêu hóa ngắn, thời gian phản ứng enzyme và tiêu hóa, hấp thụ ngắn.

- Thành ruột mỏng, dễ tổn thương, chức năng bảo vệ yếu.

Chính vì vậy, việc bổ sung men vi sinh và enzyme tiêu hóa từ bên ngoài đóng vai trò then chốt trong việc ổn định sức khỏe đàn nuôi.

Thành phần nổi bật - tác động đa chiều

MEN CAHOPE và MEN TOMHOPE chứa hệ enzyme tiêu hóa như Protease, Amylase, Lipase , giúp hỗ trợ tiêu hóa, giảm tải gan, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và tăng tốc độ tăng trưởng; đồng thời bổ sung β-Glucan, Peptide, Taurine nhằm tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng tự nhiên.

Bên cạnh đó là hệ vi sinh có lợi gồm Bacillus, Lactobacillus, Saccharomyces, giúp:

- Cân bằng hệ vi sinh đường ruột.

- Tăng nhung mao ruột, thành ruột dày và cải thiện tình trạng phân nổi trên cá.

- Ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn và viêm ruột.

- Góp phần điều chỉnh, ổn định chất lượng nước ao nuôi.

Hiệu quả thực tế ghi nhận

Qua quá trình sử dụng thực tế tại nhiều ao nuôi, chế phẩm lên men của New Hope Vĩnh Long mang lại những kết quả tích cực:

- FCR giảm từ 5 - 10%, tiết kiệm đáng kể chi phí thức ăn.

- Tỷ lệ sống tăng 10 - 20%, đàn nuôi đồng đều, khỏe mạnh.

- Chi phí thuốc điều trị bệnh trên cá giảm đến 50%.

- Chi phí cải tạo nước ao nuôi tôm giảm đến 20%

- Gan, ruột tôm, cá khỏe hơn, khả năng chống chịu stress môi trường tốt hơn.

Đặc biệt, sản phẩm phù hợp với nhiều đối tượng nuôi như cá lóc, cá thát lát, cá điêu hồng, cá tra, ếch (MEN CAHOPE) và TTCT, tôm sú (MEN TOMHOPE).

Đồng hành cùng bà con nuôi trồng thủy sản

Với định hướng “nuôi khỏegiảm chi phí - tăng lợi nhuận”, New Hope Vĩnh Long không chỉ cung cấp sản phẩm mà còn đồng hành cùng bà con thông qua đội ngũ kỹ thuật tư vấn miễn phí, sát thực tế ao nuôi.

Chương trình ưu đãi “Mua 10 tặng 1” đang diễn ra rất hấp dẫn, cũng là một phần trong cam kết hỗ trợ người nuôi tiếp cận giải pháp chất lượng với chi phí hợp lý.

MEN CAHOPE & MEN

TOMHOPE - giải pháp chế phẩm lên men bền vững, giúp tôm, cá khỏe từ bên trong, môi trường ổn định hơn và lợi nhuận bền vững hơn cho bà con nuôi trồng thủy sản.

New Hope Vĩnh Long - vì nông dân mưu lợi, vì người dùng tạo phúc!

NEW HOPE VĨNH LONG

Trước khi sử dụng MEN CAHOPE Sau khi sử dụng MEN CAHOPE

CÔNG NGHỆ NANO BUBBLE

Đột phá trong nuôi trồng thủy sản

“Chúng tôi không điều trị bệnh. Chúng tôi thiết kế môi trường nước nơi dịch bệnh không thể tồn tại”.

Giới thiệu

Trong bối cảnh nhu cầu thủy

sản toàn cầu tăng nhanh, ngành nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như nâng cao hiệu quả sản xuất, duy

trì sự ổn định chất lượng nước và kiểm soát dịch bệnh. Công nghệ nano bubble - sử dụng các bọt khí siêu nhỏ có đường kính chỉ

80 - 200 nanomet - đang nổi lên như một giải pháp đầy tiềm năng, mang lại những lợi ích vượt trội cho các hệ thống nuôi trồng thủy sản hiện đại.

Tối ưu hóa hàm lượng ôxy hòa tan. Một trong những ưu điểm nổi bật của nano bubble là khả năng tối ưu hàm lượng ôxy hòa tan (DO) trong nước. Nhờ kích thước cực nhỏ, các bọt khí này có diện tích bề mặt rất lớn, giúp tăng đáng kể hiệu quả trao đổi khí. Ôxy được giữ lại lâu hơn và phân bố đồng đều khắp ao nuôi, góp phần duy trì DO ổn định - yếu tố then chốt cho sự sống, tăng trưởng và quá trình trao đổi chất của tôm cá. Nhờ đó, vật nuôi giảm stress, hấp thu dinh dưỡng tốt hơn và năng suất nuôi trồng

được cải thiện rõ rệt.

Giảm chi phí vận hành.

Việc duy trì mức ôxy tối ưu bằng công nghệ nano bubble cũng giúp giảm đáng kể chi phí vận hành. Không giống như các

hệ thống sục khí truyền thống tiêu tốn nhiều điện năng và cần bảo trì thường xuyên, hệ thống

nano bubble hoạt động hiệu quả với lưu lượng khí thấp nhưng

vẫn đảm bảo phân bố khí sâu và đồng đều. Điều này giúp người

nuôi tiết kiệm chi phí điện năng, nhiên liệu và bảo dưỡng thiết bị.

Cải thiện chất lượng nước và ổn định môi trường. Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp ôxy, nano bubble còn góp phần ổn định môi trường ao nuôi và nâng cao chất lượng nước. Các bọt khí siêu nhỏ thúc đẩy quá trình phân hủy chất hữu cơ, hạn chế sự tích tụ của amoniac và các khí độc khác - những nguyên nhân chính gây stress và bệnh cho thủy sản. Môi trường nước sạch và cân bằng cũng

tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có lợi phát triển, giúp duy trì cân bằng sinh thái trong ao nuôi. Phòng ngừa dịch bệnh và nâng cao sức khỏe thủy sản. Công nghệ nano bubble còn giúp giảm nguy cơ dịch bệnh và tăng

sức đề kháng cho thủy sản. Điều

kiện nước ổn định, ít biến động pH và nồng độ khí độc thấp tạo ra môi trường bất lợi cho vi khuẩn và virus gây bệnh. Đối với các đối

tượng nhạy cảm như tôm sú, TTCT

và cá giống, nano bubble giúp

giảm tỷ lệ chết do bệnh, nâng cao tỷ lệ sống và rút ngắn chu kỳ nuôi.

Công nghệ nano bubble đang tạo nên cuộc cách mạng trong nuôi trồng thủy sản, với những ưu điểm vượt trội như tối ưu khí hòa tan, giảm chi phí vận hành, ổn định môi trường nước, phòng ngừa dịch bệnh

suất nuôi trồng

và nâng cao năng suất. Đây là giải pháp bền vững, phù hợp với xu hướng nuôi trồng thủy sản hiện đại, giúp người nuôi nâng cao hiệu quả kinh tế đồng thời hướng tới sản xuất thủy sản an toàn, chất lượng cao và thân thiện với môi trường.

Máy Tạo Siêu Bọt Khí Nano Bubble Công Suất NN22-250

Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N

chính thức ra mắt vào đầu năm 2026. Hệ thống sở hữu thiết kế công suất lớn với lưu lượng 250 m³/giờ (1.100 GPM). Máy vận hành hoàn toàn tự động, cấp khí trực tiếp không cần máy nén khí, giúp đảm bảo hoạt động ổn định, nâng cao hiệu quả năng lượng và giảm đáng kể chi phí bảo trì. B.H.N

Số điện thoại: 028.668.101.95/96

Website: bhnenc.com

Email: bhnenc@gmail.com

Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh

Nano Bubbles giúp tôm phát triển toàn diện, tăng trưởng nhanh, nâng cao hiệu

Dấu

ấn thế hệ

nông dân nuôi tôm công nghệ cao

Từ những người lao động nghèo, từng bươn chải mưu sinh đủ nghề, ông Nguyễn Chí Linh (Cà Mau), ông Võ Văn Sơn (Khánh Hòa) đã vươn lên trở thành những nông dân tiêu biểu, làm chủ các mô hình nuôi tôm công nghệ cao, mang lại doanh thu từ hàng chục đến gần trăm tỷ đồng mỗi năm. Thành công của họ không chỉ được đo bằng những con số ấn tượng, mà còn thể hiện ở tư duy sản xuất hiện đại, tinh thần tiên phong và sự sẻ chia bền bỉ với cộng đồng.

Ông Nguyễn Chí Linh, ấp Bờ Cảng, xã Long Điền, tỉnh Cà Mau

Ảnh: An An

Ông Nguyễn Chí Linh: Từ hai bàn tay trắng đến trang trại tôm 50 ha

Trong danh sách 63 Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2025, ông Nguyễn Chí Linh, xã Long Điền, tỉnh Cà Mau (địa phận huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu trước sáp nhập) nổi lên như một hình mẫu tiêu biểu của ý chí tự lực và khát vọng làm giàu bằng nông nghiệp công nghệ cao. Ít ai biết rằng, trước khi trở thành “ông chủ” của hệ thống trang trại tôm hiện đại bậc nhất khu vực miền Tây, ông Linh từng trải qua những năm tháng vô cùng gian khó. Từ chạy xe ôm, buôn bán tôm nhỏ lẻ tại các chợ đến bươn chải trên các vuông tôm truyền thống, chính thực tiễn ấy đã giúp ông tích lũy kinh nghiệm thị trường và thấu hiểu sâu sắc những rủi ro của nghề nuôi tôm.

Ở tuổi ngoài 50, khi nhiều người chọn sự ổn định, ông Linh quyết định “chơi lớn”,

dồn toàn bộ vốn liếng và vay mượn để đầu tư mô hình nuôi TTCT siêu thâm canh trong nhà màng. Đây được xem là hướng đi táo bạo, song đầy triển vọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và rủi ro dịch bệnh ngày càng gia tăng.

Hiện nay, ông Linh quản lý tổng diện tích nuôi trồng khoảng 50 ha, toàn bộ ao nuôi đều được lót bạt đáy, trang bị hệ thống sục khí công suất lớn, kiểm soát môi trường nước tự động và quy trình xử lý chất thải nghiêm ngặt nhằm bảo vệ môi trường. Nhờ áp dụng kỹ thuật nuôi gối đầu và quản lý khoa học, doanh thu hằng năm của trang trại đạt xấp xỉ 90 tỷ đồng, mang lại lợi nhuận ròng trên 10 tỷ đồng. Điều khiến ông Nguyễn Chí Linh được cộng đồng kính trọng và Hội Nông dân Việt

Nam đánh giá cao không chỉ nằm ở quy mô tài sản, mà còn ở tinh thần sẻ chia. Với quan niệm “muốn đi xa phải đi cùng nhau”, ông tích cực hướng dẫn kỹ thuật, vận động người dân xung quanh chuyển đổi sang mô hình nuôi tôm trải bạt, thậm chí hỗ trợ vốn cho các hộ khó khăn.

Theo ông Linh, khi cả vùng cùng nuôi

tôm sạch, đúng kỹ thuật, thương hiệu tôm địa phương mới được nâng cao, người nuôi

mới tránh được tình trạng bị ép giá. Trang trại của ông hiện cũng tạo việc làm ổn định cho hàng chục lao động địa phương, giúp nhiều gia đình có thu nhập bền vững ngay trên chính quê hương mình.

Ông Võ Văn Sơn:

Kinh tế đa ngành trên vùng

cát trắng khô cằn

Cũng là Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2025, ông Võ Văn Sơn (Khánh Hòa) được biết đến với mô hình kinh tế tổng hợp hiệu quả cao, mang lại doanh thu và lợi nhuận hàng chục tỷ đồng mỗi năm.

Xuất phát điểm là một tài xế xe khách, ông Sơn mạnh dạn chuyển hướng sang nuôi trồng thủy sản khi nhận thấy tiềm năng to lớn của nuôi tôm công nghệ cao trên cát trắng ven biển. Bằng sự kiên trì, dám nghĩ dám làm và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật, ông đã biến những vùng cát khô cằn thành các ao tôm cho năng suất vượt trội.

Mô hình của ông Sơn là sự kết hợp chặt chẽ giữa nuôi tôm công nghiệp trên cát, nuôi ốc hương thương phẩm và kinh doanh thức ăn thủy sản, hình thành chuỗi giá trị khép kín. Trong đó, kỹ thuật kiểm soát chất lượng nước, xử lý nước thải và quản lý thức ăn được xem là yếu tố then chốt giúp giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Bước ngoặt lớn đến vào năm 2005, khi ông Sơn quyết định chuyển sang nuôi TTCT - đối tượng nuôi đòi hỏi kỹ thuật cao và chi phí đầu tư lớn. Từ diện tích ban đầu chỉ 2 ha, đến nay trang trại của ông đã mở rộng lên gần 50 ha, bao gồm ao nuôi siêu thâm canh, ao lắng và ao xử lý nước.

Chia sẻ về bí quyết thành công, ông Sơn cho biết, người dân ở đây chủ yếu nuôi tôm theo cách truyền thống, chỉ sau 2 - 2,5 tháng đã thu hoạch. Với phương pháp này, tôm chỉ đạt kích cỡ khoảng 100 con/kg, giá bán thấp nên lợi nhuận không cao.

Khác với số đông, ngay từ những ngày đầu, ông quyết định kéo dài thời gian nuôi lên hơn 3 tháng để tôm đạt cỡ 50 - 60 con/ kg, cho thu nhập cao hơn. Đồng thời, ông luôn ưu tiên giữ môi trường ao nuôi sạch, không ô nhiễm - yếu tố then chốt giúp nâng cao chất lượng tôm và duy trì năng suất ổn định. Chính chiến lược bền vững này đã giúp ông gặt hái thành công suốt nhiều năm qua.

Hiện, mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Sơn trở thành một trong những điển hình lớn nhất vùng. Với diện tích khoảng 20 ha, gia đình ông thả nuôi 2 vụ/ năm, đạt bình quân năng suất khoảng 15 tấn/ha, tổng sản lượng khoảng 600 tấn. Giá bán tôm dao động từ 150.000 - 200.000 đồng/kg (khoảng 50 con/kg), giúp tổng doanh thu vượt 45 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí vẫn lãi hơn 12 tỷ đồng.

Hình ảnh người nông dân điều hành trang trại tôm bằng tư duy doanh nghiệp, thậm chí từng được biết đến là người nông dân đầu tiên sở hữu xe Mercedes-Maybach S450 để phục vụ công việc - đã trở thành biểu tượng cho sự đổi thay của nền nông nghiệp hiện đại. Ông Võ Văn Sơn nhiều lần được vinh danh Nông dân Việt Nam xuất sắc (các năm 2016, 2017 và 2025).

Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Sơn còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật cho hàng trăm hộ nuôi tôm trong vùng. Đặc biệt, ông mở đại lý cung cấp thức ăn thủy sản cho bà con mua trả chậm, không tính lãi, góp phần giúp nhiều hộ vượt khó, ổn định sản xuất và hình thành vùng nuôi tôm phát triển bền vững.

VŨ MƯA

 Với những đóng góp cho sự phát triển quê hương, đất nước, ông Nguyễn Chí Linh (Cà Mau), ông Võ Văn Sơn (Khánh Hòa) vinh dự là 3 trong số 63 Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2025, được tôn vinh tại chương trình “Tự hào Nông dân Việt Nam 2025” do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức.

Hòa

MÔ HÌNH NUÔI TÔM 2035

Ao nuôi bước vào kỷ nguyên số

Khi biến đổi khí hậu làm gia tăng rủi ro môi trường, ngành nuôi tôm buộc phải thay đổi. AI, IoT và dữ liệu đang mở ra mô hình nuôi mới, giúp chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị chủ động, đặt nền móng cho ngành tôm bền vững đến năm 2035.

Từ tăng trưởng đến sinh tồn

Trong hai thập kỷ qua, ngành nuôi tôm với giá trị thương mại cao, chuỗi cung ứng toàn cầu hóa và nhu cầu tiêu thụ ngày càng mở rộng, đã vươn lên thành một trong những ngành sản xuất thủy sản năng động nhất. Tuy nhiên, chính tốc độ tăng trưởng nhanh cũng khiến nuôi tôm trở nên mong manh hơn trước những cú sốc môi trường. Khi biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất nắng nóng, mưa cực đoan, xâm nhập mặn và axit hóa nguồn nước, các mô hình nuôi tôm truyền thống vốn dựa nhiều vào kinh nghiệm và phản

ứng sau khi sự cố xảy ra ngày càng bộc lộ giới hạn.

Thực tế, dịch bệnh bùng phát, sụt giảm tăng trưởng, tỷ lệ sống thấp và chi phí sản xuất leo thang đang trở thành “bình thường mới” tại nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm trên thế giới. Trong bối cảnh đó, câu hỏi không còn là liệu ngành tôm có cần thay đổi hay không, mà là thay đổi nhanh đến mức nào để kịp thích ứng. Biến đổi khí hậu tác động đến nuôi trồng thủy sản không chỉ theo một chiều, mà thông qua tổ hợp các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đan xen. Nhiệt độ nước tăng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của tôm, làm thay đổi nhu cầu dinh dưỡng, tốc độ sinh trưởng và khả năng miễn dịch. Trong khi đó, sự suy giảm

ôxy hòa tan và biến động pH lại tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển mạnh hơn. Với các mô hình quản lý truyền thống, người nuôi thường chỉ can thiệp khi tôm đã giảm ăn, hoặc xuất hiện dấu hiệu bệnh lý rõ rệt. Khi đó, chi phí xử lý thường rất cao, hiệu quả thấp và rủi ro lan rộng ra toàn ao, thậm chí cả vùng nuôi. Trong một môi trường ngày càng biến động nhanh và khó dự đoán, cách tiếp cận “chữa cháy” này không còn phù hợp. Điều ngành nuôi tôm cần là khả năng nhìn thấy rủi ro trước khi nó trở thành khủng hoảng, và đây chính là điểm khởi đầu của mô hình nuôi dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.

AI trong nuôi tôm

Kỷ nguyên AIoT

Đến năm 2035, ao nuôi tôm sẽ không còn là một không gian “đóng”, mà trở thành một hệ sinh thái số hóa, nơi mọi biến động của môi trường nước và sinh trưởng vật nuôi đều được theo dõi liên tục. Hệ thống cảm biến IoT sẽ đóng vai trò như giác quan thu thập dữ liệu thời gian thực về nhiệt độ, ôxy hòa tan, pH, độ mặn, độ đục và sinh khối tôm.

Trên nền dữ liệu đó, các nền tảng trí tuệ nhân tạo sẽ đảm nhiệm vai trò “bộ não”, phân tích xu hướng, phát hiện bất thường và dự báo kịch bản rủi ro. Trong nuôi tôm, AI có thể tối ưu lượng thức ăn và thời điểm cho ăn nhằm giảm hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), hạn chế ô nhiễm đáy ao và giảm phát thải. Đồng thời, các mô hình học máy

còn giúp nhận diện sớm dấu hiệu stress hoặc bệnh thông qua hành vi bơi, phân bố đàn và tốc độ bắt mồi.

Khác với các ngành công nghiệp khác, AI trong nuôi tôm phải hoạt động trong một hệ sinh học phức tạp và nhạy cảm. Điều này

đòi hỏi các mô hình phải không ngừng học hỏi, tự điều chỉnh và thích nghi với từng

điều kiện nuôi cụ thể, từ ao đất, ao lót bạt

đến hệ thống tuần hoàn khép kín.

Một trong những chuyển biến quan

trọng nhất của nuôi tôm tương lai là khả năng liên kết dữ liệu môi trường với kết quả sinh học. Khi hàng triệu điểm dữ liệu

được thu thập qua nhiều vụ nuôi, AI có thể

xác định mức độ ảnh hưởng tương đối của từng yếu tố như nhiệt độ, ôxy hòa tan hay độ mặn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm.

Việc hiểu rõ các mối tương quan này giúp người nuôi không chỉ phản ứng, mà còn chủ động điều chỉnh. Chẳng hạn, khi hệ thống dự báo nhiệt độ nước tăng kéo dài kết hợp với ôxy thấp - một kịch bản rủi ro cao cho TTCT - người nuôi có thể sớm tăng cường sục khí, điều chỉnh mật độ hoặc thay đổi khẩu phần ăn trước khi thiệt hại xảy ra.

Trong bối cảnh khí hậu ngày càng khó lường, khả năng dự báo và mô phỏng kịch bản trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi, giúp các trang trại duy trì sản lượng ổn định và kiểm soát chi phí.

Nuôi tôm thông minh - con đường tất yếu

Biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là bài toán kinh tế. Nhiệt độ cao và thời tiết cực đoan làm gia tăng dịch bệnh, kéo theo chi phí thuốc, hóa chất và rủi ro mất trắng. Theo ước tính

toàn cầu, ngành nuôi trồng thủy sản mất hàng chục tỷ USD mỗi năm do các gián

đoạn liên quan đến khí hậu, trong đó nuôi tôm chịu tác động đặc biệt nặng nề.

Sự bất ổn này còn lan sang thị trường, khiến giá thành sản xuất biến động, lợi nhuận khó dự đoán và khả năng tiếp cận tín dụng của người nuôi suy giảm. Trong bối cảnh đó, mô hình nuôi tôm dựa trên dữ liệu không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là công cụ quản trị rủi ro và ổn định tài chính.

Đến năm 2035, người nuôi tôm không còn đơn thuần là người vận hành ao nuôi, mà trở thành nhà quản lý hệ thống phức hợp giữa sinh học, công nghệ và kinh tế. Năng lực đọc hiểu dữ liệu, đánh giá cảnh báo AI và đưa ra quyết định chiến lược sẽ quan trọng không kém kinh nghiệm thực địa.

Bên cạnh đó, tư duy hệ thống sẽ giúp người nuôi cân bằng giữa mục tiêu sản lượng, phúc lợi vật nuôi và bền vững môi trường. Đây là sự thay đổi căn bản về vai trò, đòi hỏi đào tạo bài bản và các chương trình chứng nhận mới cho lực lượng sản xuất tương lai.

Hạ tầng công nghệ của nuôi tôm 2035 sẽ xoay quanh các nền tảng giám sát thời gian thực, trí tuệ nhân tạo và mô hình học máy. Đặc biệt, khái niệm “bản sao số của ao nuôi” mở ra khả năng mô phỏng tác động của biến đổi khí hậu, thay đổi mật độ, hay điều chỉnh chiến lược cho ăn trước khi áp dụng ngoài thực tế.

Thông qua các mô hình này, người nuôi có thể thử nghiệm kịch bản tăng nhiệt độ 1 - 2°C, thay đổi độ mặn hay ôxy, từ đó lựa chọn giải pháp tối ưu với chi phí thấp nhất và rủi ro nhỏ nhất.

Một bước tiến đột phá khác là sự xuất hiện của các hệ thống robot bầy đàn tự vận hành trong nuôi trồng thủy sản. Được trang bị cảm biến sinh học, thị giác máy và công nghệ thủy âm, các robot này có thể giám sát hành vi tôm, chất lượng nước, thậm chí phát hiện sớm điểm nóng mầm bệnh hoặc hư hỏng hạ tầng ao nuôi. Trong điều kiện khí hậu biến động, đây có thể trở thành lớp cảnh báo sớm hiệu quả, đặc biệt khi kết hợp với mạng lưới cảm biến cố định. Để mô hình nuôi tôm thông minh trở thành hiện thực, vai trò của chính phủ và hợp tác ngành là không thể thiếu. Các chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng IoT, trợ cấp công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng với khung pháp lý về dữ liệu và an ninh thông tin sẽ quyết định tốc độ chuyển đổi của toàn ngành.

Bên cạnh đó, việc xây dựng các mạng lưới chia sẻ dữ liệu vùng nuôi, hệ thống cảnh báo sớm dịch bệnh và rủi ro môi trường sẽ giúp giảm chi phí quản lý và nâng cao sức chống chịu chung của ngành tôm.

Khi khí hậu ngày càng khó đoán định, nuôi tôm không thể tiếp tục dựa vào may rủi và kinh nghiệm đơn lẻ. Mô hình nuôi dựa trên trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và tự động hóa không chỉ là xu hướng công nghệ, mà là chiến lược sinh tồn của toàn ngành.

Đến năm 2035, những hệ thống nuôi tôm có khả năng dự báo, học hỏi và thích nghi sẽ là những hệ thống tồn tại và phát triển. Phần còn lại, nếu chậm chuyển đổi, sẽ ngày càng bị đẩy ra khỏi cuộc chơi toàn cầu hóa khốc liệt của ngành thủy sản.

DŨNG NGUYÊN (Theo Thefishsite)

Chiều cuối năm về bên mẹ

Chiều cuối năm tôi về bên mẹ

Chạy lon ton như trẻ lên mười

Khoe áo mới rộn tiếng cười tuổi nhỏ

Bếp nhà quê hong sợi khói lên trời.

Chiều cuối năm tôi về bên mẹ

Hương bánh quê trong gió thoảng mơ màng

Cội mai vàng ngẩn ngơ trong nắng

Trổ trùng trùng nhánh nhớ mùa Xuân.

Chiều cuối năm tôi về bên mẹ

Đếm thời gian trên tóc trắng mênh mông

Bao lì xì đỏ thơm nồng hương Tết

Câu chúc Xuân thắm đượm nghĩa tình.

Chiều cuối năm tôi về bên mẹ

Nghe tháng năm xưa quanh quẩn chỗ mẹ ngồi

Làn tóc trắng xổ tung trong gió

Tết lại về nỗi nhớ đơm xanh…

Trồng hoa Tết

Trồng hoa như một thú vui

Mỗi khi Xuân đến nơi nơi rộn ràng

Trước màu nắng mới chói chang

Tiếng chim ca hát ngân vang trên cành.

Gió Xuân thổi nhẹ mát lành

Thanh âm quen thuộc khúc tình yêu thương

Làm sao thiếu một khoảng sân

Mùa hoa khoe sắc hương thơm tỏa đầy.

Vui tươi với cuộc sum vầy

Cùng bên mái ấm bao lời đổi trao

Trà ngon vị bánh ngọt ngào

Đậm đà tình nghĩa bấy lâu mong chờ.

Khoảng sân lấp lánh màu hoa

Thỏa niềm mong đợi vào ra từng ngày

Mừng Xuân đón Tết đang về

Nghe từng cảm xúc thầm thì qua đây. THÙY LINH

NGUYÊN KHỐI

Tự khúc mùa Xuân

Về qua ngõ vắng mùa Xuân

Có mùa hoa nở trước sân rộn ràng

Gió lùa ngọn khói vừa tan

Bánh quê thơm những mênh mang đợi chờ.

Xuân về rộn rã tuổi thơ

Tiếng cười vấp vỡ bên bờ đê xưa

Người về xóm nhỏ hay chưa

Bếp nhà lửa ấm mẹ vừa nhóm lên.

Còn đây nỗi nhớ không tên

Có mùa Xuân cũ về bên hiên nhà

Cha ngồi nhắc chuyện đã qua

Tháng năm gửi lại xót xa phận mình.

Xuân về từ phía bình minh

Thấy trong ký ức cuộc tình lên xanh

Tôi về bên mẹ quẩn quanh

Với mùa Xuân mới yên lành quê hương.

LUYẾN NHỚ

Ngựa trong đời sống văn hóa

Việt Nam

Trong các vật nuôi, ngựa là loài có ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị biểu tượng cao. Nó thể

hiện vai trò gần gũi mà quan trọng, tạo nên những ảnh hưởng mạnh mẽ, đa dạng và tích cực trong

đời sống văn hóa Việt Nam.

Do được sử dụng phổ biến, lâu dài, mang giá trị vật chất đa dạng và mật thiết, nên ngựa cũng tạo giá trị tinh thần phong phú, ảnh hưởng sâu rộng đến tâm linh và đời sống văn hóa nghệ thuật của người Việt Nam. Tín

ngưỡng cổ truyền quan niệm có nhiều vị thần cưỡi ngựa du hành hoặc cùng ngựa góp sức tạo ra, điều chỉnh, chuyển hóa 5 bản nguyên thế giới: kim (kim loại), mộc (cây cối), thủy (nước), hỏa (lửa), thổ (đất).

Ở nhiều địa phương, ngựa là hiện thân của may mắn, hạnh phúc, mơ thấy ngựa hoặc ra ngõ gặp ngựa là điềm may hoặc gặp được người đang cần tìm. Tại các đình, đền, chùa, hai bên thường thờ hai con ngựa gỗ giống nhau nhưng khác màu (một con màu trắng, con kia màu đỏ), tượng trưng cho uy linh, sự tôn nghiêm và tính cân xứng.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, hình ảnh ngựa xuất hiện vừa phổ biến, đa dạng lại vừa hấp dẫn, sáng tạo. Chúng ta gặp “ngựa” (mã) ở đủ mọi lĩnh vực ngôn từ: tự nhiên và xã hội, lý thuyết sách vở và giao tiếp thực tiễn.

Ngựa được lấy làm đối tượng cho hàng nghìn câu ngạn ngữ, phương ngữ, tục ngữ, thành ngữ, ca dao, rất sinh động và giàu ý nghĩa, thực sự là tinh hoa của xử thế và nghệ thuật. Ngựa cũng là hình ảnh đẹp đi vào

thơ, được nhiều thi sĩ yêu chuộng, tạo nên những bài thơ nổi tiếng: “Con ngựa bỏ ở chân thành” của Nguyễn Du, “Người đẹp trên mình ngựa” của Ninh Tốn,... Ngựa xuất hiện trong âm nhạc, có ở không ít ca khúc được thính giả say mê, chẳng hạn bài hát “Lý ngựa ô” vui nhộn và tình tứ.

Ngựa trở thành nhân vật, phương tiện hoặc đề tài trung tâm của nhiều truyền thuyết, truyện kể, sự tích độc đáo. Kỳ vĩ nhất là truyền thuyết “Thánh Gióng”, nói về sức mạnh, công lao của người, của ngựa trong truyền thống giữ nước oai hùng. Vào đời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân tràn vào xâm lược nước ta. Cậu bé tên Gióng truyền tâu vua cử thợ đúc cho mình một con ngựa sắt khổng lồ. Gióng cưỡi lên, ngựa bỗng hí vang, phun ra lửa, phi như vũ bão đưa Gióng vào chiến trận, đánh tan quân thù. Dẹp xong giặc, Gióng cùng ngựa bay lên trời, để lại tới ngày nay vết chân ngựa là những ao hình tròn nối nhau liên tiếp ở Sóc Sơn (Hà Nội) và những bụi tre do ngựa phun lửa vào nên ngả màu vàng óng (gọi là tre “đằng ngà”) ở Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ (Bắc Ninh)!

Hình ảnh ngựa trở nên sinh động, gần gũi hơn qua những trò chơi và lễ hội truyền thống. Trẻ em ta thuở xưa đến tận bây giờ

vẫn thích thú chơi trò “Cưỡi ngựa vật nhau”: hai đội, mỗi đội gồm 4 đứa với 3 đứa kết thành một “con ngựa”, 1 đứa là “kỵ sĩ”; hai “ngựa” diễu quanh sân, những người xem đi theo sau cổ vũ và cùng hát câu: “Nhong nhong ngựa ông đã về/Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn”; sau khi diễu ba vòng, mọi người tản ra xếp thành hình tròn để hai “kỵ sĩ” trên “ngựa” bá cổ vật nhau, bên nào không vững, ngã xuống đất trước là bên ấy thua. Thanh niên thì ngoài đua ngựa còn tổ chức trò phi ngựa bắn cung, múa trên lưng ngựa, cưỡi ngựa nấu cơm,... như một hình thức sinh hoạt văn hóa - thể thao hấp dẫn, khỏe khoắn, đồng thời cũng tạo nhịp cầu giao lưu, kết bạn, kết duyên. Các lễ hội dân gian tại nhiều nơi có cưỡi hoặc rước ngựa rất tưng bừng, náo nhiệt: hội Gióng, hội Kẻ Giá, hội Bà Chúa Ngựa,... Ở một phương diện khác, tĩnh lặng nhưng phong phú, bền vững là hình tượng ngựa trong kiến trúc, tạo hình, trang trí. Ngựa được thể hiện đa dạng trên tranh, bia, miếu, đình, đền, chùa, nhà thờ, cung điện, công sở,… với đủ loại chất liệu: đất, đá, vữa, đồng, gỗ, mực,... và bằng nhiều kỹ thuật: tạc, đắp, nặn, chạm, khắc, đúc, nung, vẽ,...

MÓN LÌ XÌ VÔ GIÁ

Cậu châm điếu thuốc rồi ngồi bất động. Trong đêm chỉ còn tiếng rít

khe khẽ của cậu hòa lẫn tiếng thút thít của mợ, mỗi lúc một thưa dần. Rồi như không kìm được cơn tức tưởi, mợ quay sang, giọng bật lên: - Chứ ông tính để vậy hoài sao? Tiền đâu trả chủ vườn, tiền đâu trả lái? Tết nhất tới nơi rồi đó!

Mợ vừa nói vừa đấm thùm thụp vào lưng cậu, như thể cậu là người gây ra tất cả. Cậu nghiêng người tránh, môi mấp máy muốn nói gì đó rồi lại im lặng. Tiếng thở dài bị nén sâu vào lồng ngực, để mặc đêm buông xuống nặng trĩu.

Mới mấy hôm trước thôi, vườn cúc của cậu còn rực vàng, thẳng tắp theo từng luống. Vậy mà giờ đây tan hoang: cành gãy, chậu đổ, đất nứt toác. Mấy trăm chậu cúc giờ chưa đến trăm chậu còn nguyên, mà cây cũng xấu đi nhiều. Miền Trung vừa gánh liền hai cơn bão, quê tôi có nơi còn nằm trọn trong tâm bão. Người còn lo chưa xong, huống hồ chi là vườn bông.

- Thôi thì của đi thay người… - cậu chép miệng, xoa đầu tôi, giọng nhẹ tênh. Nhưng tôi biết, trong lòng cậu đang rối bời.

Cậu tôi nối nghiệp nhà ngoại từ thuở còn trẻ, sống bằng nghề trồng cúc và tắc bán Tết. Mỗi năm, trước Tết vài tháng, tôi lại theo cậu ra vườn gieo cúc. Cậu tỉ mẩn chỉ tôi cách chọn cây con: cây nào khỏe, cây nào yếu; lỡ mua trúng lô không đều thì phải phân loại, cây cao thấp, rễ mạnh yếu trồng riêng, để chúng không tranh nhau mà chết dần. Tôi thích nhìn cậu chăm vườn. Từ lúc tưới nhẹ luống đất đã chuẩn bị sẵn, đến khi dùng dầm nhỏ trồng cây, rồi dặn dò:

- Trồng xong nhớ ấn chặt gốc, phủ rơm mềm hoặc mùn rác lên cho giữ nước.

Những chậu cúc cứ thế lớn dần, tạo thành khu vườn vàng rực. Trước Tết non tháng, tôi trở lại, ngỡ ngàng khi những

luống cúc bé xíu ngày nào đã cao ngang vai. Cậu tách chúng ra từng chậu, dùng que nhỏ định hình, hoa bung nở mát mắt. Gần Tết, vườn cậu lúc nào cũng rộn ràng. Các dì ra tạo cành, tưới nước, bón phân. Khách đến xem hoa, chủ vườn ghé đặt trước, lái buôn cũng tấp nập, đặt cọc nửa tiền để giữ hàng. Gương mặt ai cũng hớn hở. Thấy tôi lững thững đi dạo, cậu cười trêu:

Chộp vài pô đăng lên phây-bút cho nóng, cho người ta biết mà tới ủng hộ vườn cậu.

Ảnh: BVH

Vậy mà bão đến, không chừa một ai. Hai cơn bão liên tiếp trong vòng một tuần cuốn phăng tất cả, khi Tết đã cận kề. Cậu sững người mất cả ngày, rồi lại gượng dậy, cùng cả nhà lao vào “cứu cây”. Nhà ngoại chia làm hai: một nửa dọn dẹp chậu vỡ, kiểm tra cây còn sót lại; nửa kia tỉa tót, chăm sóc những cây còn hy vọng.

Gần như quá nửa đã mất trắng, nhưng cậu vẫn động viên:

- Còn nước còn tát. Cố làm cho mấy cây còn lại cho đàng hoàng, bán cho người ta cũng phải có tâm.

Dẫu cố gắng, số cây giao cho chủ vườn và lái vẫn không đủ. Mất sạch tiền vốn. Người ta thông cảm, cậu chỉ cười hiền:

- May là không mất cái tiếng. Nẫu hiểu do thiên tai, năm sau người ta lại đặt.

Còn lại vài chục chậu, cậu mợ đem ra chợ bán rẻ mấy ngày giáp Tết. Hoa không còn đẹp như ban đầu, nhưng người gặp nạn thương nhau, cũng bán được chút ít lo bánh kẹo. Chỉ còn lại đúng hai chậu, cậu giữ lại chưng trong nhà.

Tết năm ấy không đủ đầy như mọi năm, nhưng đêm giao thừa, cậu vẫn gọi tôi vào, dúi phong bao lì xì vào tay. Tôi lắc đầu, muốn cậu giữ lại mà trang trải, nhưng cậu bế thốc tôi vào lòng, giọng trầm ấm:

- Trong đời, ai cũng có lúc gặp khó khăn. Quan trọng là phải bình tĩnh mà đối diện. Có buồn cũng không giải quyết được gì, chi bằng cố lạc quan, tìm cách. Dù không vẹn toàn, nhưng ít ra mình không hối hận vì đã không thử. Nghĩ kỹ coi, cậu đâu chỉ mất, mà cũng học được nhiều điều đó chứ.

Ngoài sân, gió Xuân se lạnh. Trong nhà, nồi bánh chưng sôi lục bục. Tôi thấy lòng mình ấm lạ. Giữa cái Tết chông chênh ấy, tôi hiểu rằng mình vừa nhận được từ cậu một món lì xì vô giá. BIỆN BẠCH NGỌC

TÔM NGÀY TẾT

Hương vị sum vầy

Trên mâm cỗ Tết của người Việt, con tôm xuất hiện giản dị mà thân thương, gắn với nếp sinh hoạt và khẩu vị của từng vùng miền. Ở miền Trung, tôm chua là món ăn quen thuộc mỗi độ Xuân về. Những con tôm tươi được ướp cùng nước mắm, đường, ớt, lên men vừa đủ để tạo nên vị mặn mòi pha chua ngọt, cay nồng như một lời chào năm mới đậm đà, mở đầu cho những bữa cơm sum họp gia đình ngày đầu Xuân.

Với người miền Nam, tôm hiện diện theo

cách nhẹ nhàng, tươi mát hơn. Những đĩa gỏi cuốn tôm thịt xanh mướt rau sống, hồng

tươi màu tôm luộc thường xuất hiện trong

các bữa tiệc Tết như một điểm nhấn thanh

đạm giữa mâm cỗ đầy đặn.

Bên cạnh đó, tôm khô món ăn giản dị mà

đậm vị vẫn âm thầm góp mặt trong nhiều

nhà và ký ức Tết xưa. Không thể thiếu trong mâm cỗ đoàn viên là những chiếc nem rán vàng ruộm, trong đó tôm băm hòa quyện cùng thịt, mộc nhĩ, miến dong hay món tôm hấp nước dừa ngọt ngào tạo nên hương vị quen thuộc của những bữa tiệc Tết đông đủ. Không chỉ ở Việt Nam, tôm còn là món

Trong không khí rộn ràng ngày Tết, khi gian bếp mỗi gia đình Việt ấm lên bởi hương khói sum vầy, những món ăn từ tôm lặng lẽ hiện diện trên mâm cỗ đầu Xuân như biểu tượng của sung túc, may mắn và đoàn viên. Không chỉ gắn bó với bữa cơm Tết truyền thống, con tôm Việt còn góp mặt trong nhiều món ăn đầu năm của các quốc gia trên thế giới, trở thành sợi dây kết nối văn hóa ẩm thực và gửi gắm ước vọng về một năm mới an lành, đủ đầy. hiện trên bàn tiệc năm mới, thể hiện sự trân trọng những sản vật từ biển và ước vọng về sự sung túc. Ở miền Nam nước Mỹ, tôm lại gắn với các món ăn truyền thống như shrimp boil hay hầm cùng đậu mắt đen, những món ăn mang ý nghĩa cầu tài lộc, thịnh vượng trong ngày đầu năm của cộng đồng người Mỹ gốc Phi và Cajun. Từ mâm cỗ Tết Việt đến bàn tiệc năm mới của nhiều quốc gia, con tôm hiện diện không chỉ như một món ăn, mà còn là biểu tượng văn hóa của sự đủ đầy, sum vầy và niềm tin vào những điều tốt đẹp phía trước. Trong sắc Xuân rộn ràng, hương vị của tôm đã góp phần kết nối truyền thống với hiện đại, đưa con người xích lại gần nhau hơn trong khoảnh khắc khởi đầu của năm mới. KHÁNH NGUYỄN

bữa cơm đầu năm, gợi nhớ hương vị quê

ăn mang nhiều ý nghĩa trong các bữa tiệc đầu năm của nhiều nền văn hóa. Ở Trung Quốc, tôm thường được chế biến thành các món hấp, xào trong dịp Tết Nguyên đán. Với cộng đồng người Hoa, đặc biệt ở miền Nam Trung Quốc và hải ngoại, tôm được xem là biểu tượng của niềm vui và hạnh phúc, bởi cách phát âm gợi liên tưởng đến tiếng cười, ngụ ý một năm mới rộn ràng, nhiều may mắn. Tại các quốc gia Bắc Âu như Đan Mạch, Na Uy, món salad tôm lạnh thường xuất

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
Issuu converts static files into: digital portfolios, online yearbooks, online catalogs, digital photo albums and more. Sign up and create your flipbook.