1 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
SỐ108 104THÁNG THÁNG12/2025 4/2025 SỐ
ĐẶC SAN CỦA HIỆP HỘI CHĂN NUÔI GIA CẦM VIỆT NAM GIA CẦM VIỆT NAM
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN
NÂNG TẦM
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Ảnh: Masan
SẢNBÀIPHẨM GIẢI TOÁNCHĂN CUNGNUÔI - CẦU >> 18-19 >> 20-21
Special Issue Animal Farming Special Issue Animal Farming www.nguoichannuoi.vn www.nguoichannuoi.vn
Giá: 30.000 đ Giá: 30.000 đ
2 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
3 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
4 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
5 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
6 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
7 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
8
THƯ BẠN ĐỌC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
ĐẶC SAN
Thưa quý vị bạn đọc!
CƠ QUAN CHỦ QUẢN Hiệp hội Gia cầm Việt Nam HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TS. Nguyễn Quý Khiêm Nhà báo Dương Xuân Hùng Nhà báo Đỗ Huy Hoàn Thư ký tòa soạn Nguyễn Chi TỔNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP Nhà báo Đỗ Huy Hoàn HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành CỘNG TÁC NỘI DUNG Thu Hồng; Vũ Mưa; Kim Tiến; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Thùy Khánh; Sao Mai; Quỳnh Nga... MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn KỸ THUẬT VI TÍNH: Phạm Dương TÒA SOẠN P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KDT An Hưng, phường Hà Đông, Hà Nội. Điện thoại: 0243 77 11 756; Email: nguoichannuoivn@gmail.com Website: nguoichannuoi.vn TRỊ SỰ Nguyễn Thanh Đức GIẤY PHÉP XUẤT BẢN: 156/GP-XBĐS Khuôn khổ: 24,5 x 31 cm Nơi in: Công ty TNHH MTV Quân đội I và Công ty Cổ phần In Sao Việt LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: Ms. Ánh: 0963 555 554 Ms. Ngọc: 098 999 1977 Ms. Na: 0978 233 492 Email: quangcaoncn@gmail.com LIÊN HỆ ĐẶT BÁO: Ms. Ngọc Ánh: 0963 555 554 Email: phathanhtggc@mail.com SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936 Tên tài khoản ngân hàng: TẠP CHÍ THẾ GIỚI GIA CẦM Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Tràng An Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 012022001 Địa chỉ Ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội Ấn phẩm sử dụng sản phẩm giấy thân thiện với môi trường.
Nhân lực đóng vai trò then chốt trong nông nghiệp, là lực lượng trực tiếp sản xuất, ứng dụng công nghệ cao, quản lý kinh doanh, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật, giúp tăng năng suất, chất lượng, đáp ứng thị trường, đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững. Tuy nhiên, nguồn lực cho ngành hàng này được đánh giá là vừa thiếu, vừa yếu. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, nhiều ngành xương sống của nông nghiệp như khoa học đất, khoa học cây trồng, chăn nuôi… đều khó thu hút nguồn nhân lực trẻ, dù nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp là rất lớn. “Điểm nghẽn” về nhân lực đang kìm hãm sự phát triển của ngành chăn nuôi, đặc biệt trong bối cảnh các yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát dịch bệnh ngày càng gắt gao. Chính vì vậy, việc hoàn thiện chính sách để phát triển nguồn nhân lực cho các ngành hàng này là vô cùng cấp bách, nhất là với lực lượng nhân lực chất lượng cao. Bài toán cung - cầu nguồn nhân lực cho ngành nông nghiệp nói chung trong đó có chăn nuôi được các cấp, bộ, ngành và doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nhấn mạnh, cần chuẩn hóa các chương trình đào tạo và tăng cường các nguồn lực, phương thức đào tạo theo hướng xã hội hóa phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Chia sẻ về vấn đề này, TS. Bùi Huy Doanh, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhận định, để thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao, ngành chăn nuôi cần một hệ thống chính sách toàn diện, tập trung vào cả đãi ngộ lẫn môi trường làm việc cạnh tranh, đủ hấp dẫn. Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ, xây dựng cơ chế phù hợp, giúp doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo phát triển đội ngũ nhân lực tại chỗ có trình độ cao. Việc liên kết chặt chẽ giữa các bên sẽ giúp đồng hành trong đào tạo, sử dụng và nâng cao nhân lực. Một thực tế khác trong sản xuất chăn nuôi tháng cuối năm này đó là nỗi lo dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả heo châu Phi (ASF). Số liệu mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy chỉ riêng 11 tháng năm 2025, cả nước ghi nhận khoảng 2.495 ổ dịch ASF tại 34 địa phương, buộc phải tiêu hủy khoảng 1,23 triệu con; riêng tháng 11 có 402 ổ dịch ở 31 tỉnh - mức tiêu hủy lớn nhất từng ghi nhận đối với dịch này. Mới đây, Vietnam Report đã công bố top 10 doanh nghiệp uy tín ngành hàng thức ăn chăn nuôi năm 2025, từ danh sách này có thể thấy, năm 2025, ngành hàng này đã trải qua giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ, chuyển mình từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình tích hợp, bền vững và thông minh. Sự phục hồi của thị trường đi kèm với yêu cầu cấp thiết về Chuyển đổi số và áp dụng Chiến lược ESG (Môi trường, Xã hội, Quản trị), đặt ra thách thức và cơ hội lớn cho các doanh nghiệp dẫn đầu. Từ năm 2026, nếu ai thích ứng được xu hướng số và ESG, thì sẽ là “người ở lại” giành sân chơi cho mình. Đây là một trong những nội dung chính được cập nhật trên số báo phát hành kỳ tháng 12/2025 của Đặc san Người Chăn nuôi, mời quý độc giả đón đọc! Trân trọng!
MỤC LỤC
9
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
12 Văn bản cuộc sống Sửa Luật Thuế GTGT: Gỡ điểm nghẽn về thuế cho doanh nghiệp 20 Vấn đề chuyên đề Chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
14
22 Nhìn ra thế giới Philippines: Ngành gia cầm bùng nổ nhờ nhu cầu tăng vọt
34 VietAgros 2026 Thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh
42
38 Thông tin doanh nghiệp Kiểm soát kháng sinh trong chăn nuôi gà: Hướng đi bền vững từ Dabaco 53
10
TIN TỨC & SỰ KIỆN NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Top 10 công ty thức ăn chăn nuôi uy tín năm 2025 Danh sách này được xây dựng dựa trên nguyên tắc khoa học, khách quan và độc lập. Các doanh nghiệp được xếp hạng theo ba tiêu chí chính gồm năng lực tài chính, uy tín truyền thông và kết quả khảo sát các bên liên quan thực hiện trong giai đoạn tháng 10 đến 11/2025. Theo đó, các doanh nghiệp góp mặt trong top 10 năm 2025 gồm: De Heus; GreenFeed Việt Nam; Cargill Việt Nam; Japfa Comfeed Việt Nam; Sunjin Vina; Dinh dưỡng Á Châu (VNF); Dinh dưỡng Hồng Hà; Thức ăn gia súc Lái Thiêu; Thức ăn thủy sản Mekong và Thức ăn chăn nuôi Vina - Hà Nam. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí trong nhóm 8 thị trường thức ăn chăn nuôi lớn nhất thế giới. Tính tới 11/2025, xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng tới 36,5% so với cùng kỳ. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tăng trưởng ấn tượng nhất, chiếm hơn 45% kim ngạch.
Nguồn: Vietnam Report
VÂN ANH
Nâng cao kiểm kê phát thải khí nhà kính trong chăn nuôi Đây là chủ đề của hội nghị diễn ra ngày 27 - 28/11 tại Hà Nội, do Viện Chăn nuôi chủ trì, nhận tài trợ từ Chính phủ New Zealand. Dự án kéo dài 3 năm (2023 - 2025), nhằm cải thiện độ chính xác, minh bạch của dữ liệu phát thải khí nhà kính (KNK) trong chăn nuôi - ngành đóng góp quan trọng vào tổng lượng phát thải quốc gia. Trong khuôn khổ dự án, hơn 50 cán bộ và nhà khoa học được đào tạo về kiểm kê KNK theo chuẩn IPCC; bộ công cụ Tier 1 và Tier 2 cùng hệ số phát thải quốc gia Tier 2 cho bò và heo được phát triển; thí điểm MRV triển khai tại nhiều tỉnh. Đây là cơ sở để xây dựng các mô hình chăn nuôi ít phát thải, hướng tới nền nông nghiệp tuần hoàn và bền vững tại nước ta.
MINH KHUÊ
Siết kiểm soát dịch bệnh động vật để bảo vệ sức khỏe cộng đồng Tại phiên thảo luận về Dự án Luật sửa đổi một số điều của 15 luật thuộc lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đại biểu Quốc hội GS.TS Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh kiểm soát dịch bệnh động vật phải được coi là “tuyến phòng thủ đầu tiên” của y tế công cộng. Cùng đó, đưa ra cảnh báo nguy cơ dịch bệnh mới nổi và tình trạng kháng kháng sinh gia tăng, khi hơn 70% bệnh truyền nhiễm ở người có nguồn gốc từ động vật. Từ thực tiễn chống cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi, đại biểu
đề xuất chuẩn hóa năng lực thú y cơ sở, huy động viện, trường tham gia mạng lưới thú y quốc gia và thống nhất tiêu chí cấp chứng chỉ hành nghề thú y. Đây được xem là nền tảng để xây dựng hệ thống thú y hiện đại, chủ động ứng phó dịch bệnh trong bối cảnh biến động mới.
KHÁNH NGUYỄN
Trung Quốc đề xuất đưa mô hình chăn nuôi công nghệ cao vào Việt Nam Trong chuyến công tác tại Bắc Kinh (26 - 28/11), Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đã làm việc với lãnh đạo Tập đoàn Muyuan, doanh nghiệp chăn nuôi hàng đầu Trung Quốc. Tại đây, đại diện Muyuan giới thiệu mô hình kinh tế tuần hoàn “lợn nuôi ruộng - ruộng nuôi lợn”, tận dụng chất thải làm phân bón và dùng cây trồng làm thức ăn, giúp giảm ô nhiễm và tiết kiệm chi phí. Doanh nghiệp cũng trình bày mô hình trại lợn trong nhà cao tầng, đang được chú ý tại Trung Quốc nhờ khả năng kiểm soát môi trường và tăng an toàn sinh học. Muyuan mong muốn hợp tác cùng Công ty CP Nông nghiệp BAF triển khai mô hình này tại Việt Nam, với dự án chăn nuôi công nghệ cao dự kiến đặt tại Tây Ninh. Bộ trưởng Trần Đức Thắng ghi nhận các đề xuất và giao các đơn vị chuyên môn nghiên cứu để hỗ trợ nhà đầu tư theo đúng quy định.
VIỆT ANH
Hơn 500 sinh viên tham gia diễn đàn hành động chống kháng thuốc Sự kiện diễn ra ngày 18/11 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam do Cục Chăn nuôi và Thú y phối hợp FAO, WHO và Khoa Thú y tổ chức, với sự hỗ trợ của Quỹ Fleming (Anh Quốc). Tại diễn đàn, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y Nguyễn Thu Thủy cảnh báo, tình trạng lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi khiến vi sinh vật kháng thuốc lan rộng, tạo rủi ro trực tiếp cho sức khỏe người dân. Bà nhấn mạnh thanh niên, đặc biệt là sinh viên thú y, sẽ là lực lượng quyết định thực hành sử dụng kháng sinh an toàn trong tương lai. Các chuyên gia quốc tế mô tả kháng thuốc là “cuộc khủng hoảng thầm lặng”, đòi hỏi hợp tác liên ngành theo cách tiếp cận Một sức khỏe. Nhiều hoạt động tương tác như tọa đàm, thiết kế poster, trò chơi giáo dục đã giúp sinh viên hiểu sâu hơn tầm quan trọng của việc sử dụng kháng sinh có trách nhiệm, góp phần xây dựng lực lượng trẻ chủ động tham gia kiểm soát kháng thuốc.
NAM LINH
HÀ NỘI
Ban hành mức hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật theo nghị quyết mới Trong kỳ họp thứ 28, HĐND TP Hà Nội đã thông qua nghị quyết quy định mức hỗ trợ khắc phục thiệt hại do dịch bệnh động vật. Nghị quyết nêu rõ mức hỗ trợ cho các cơ sở chăn nuôi trên cạn như trâu, bò, ngựa, dê là
TIN TỨC & SỰ KIỆN
11
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
50.000 đồng/kg thịt hơi; cừu, hươu sao 55.000 đồng/kg; heo 40.000 đồng/kg; gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu 35.000 đồng/kg; chim cút 20.000 đồng/kg và đà điểu 50.000 đồng/kg. Trứng gia cầm được hỗ trợ 20.000 đồng/kg. Người tham gia phòng chống dịch bệnh cũng được hỗ trợ theo ngày công, tùy đối tượng và ngày làm việc. UBND cấp xã chủ động bố trí kinh phí từ nguồn dự phòng và báo cáo cấp trên khi vượt quá 50%.
xanh và nghiên cứu chính sách nhân rộng giai đoạn 2025 - 2030. Sở Công Thương xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ, trong khi Sở Khoa học và Công nghệ giám sát việc sử dụng nhãn hiệu, ngăn chặn vi phạm sở hữu trí tuệ.
TRẦN VÂN
HÀ TĨNH
Đánh giá hiệu quả mô hình chăn VŨ PHƯƠNG nuôi hươu sao tại xã Cẩm Lạc
BẮC NINH
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi Tại tỉnh Bắc Ninh, các chủ trang trại đã tích cực ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Ngành nông nghiệp khuyến khích phát triển mô hình trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ chuồng kín, máng ăn uống tự động, đệm lót sinh học và xử lý chất thải để giảm chi phí và tăng năng suất. Toàn tỉnh hiện có 1.895 trang trại ứng dụng công nghệ chuồng kín, máng ăn, uống tự động, trong đó 6 cơ sở tự động hóa hoàn toàn và khoảng 300 cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giống. Công tác cải tiến giống cũng đạt nhiều kết quả với các giống heo siêu nạc, gia cầm siêu thịt, siêu trứng và nhiều giống bản địa được phục tráng. Bắc Ninh hiện có 3.000 trang trại, 9 cơ sở đạt VietGAP và nhiều chuỗi liên kết lớn.
Sáng 28/11, Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh tổ chức hội thảo tổng kết Dự án “Xây dựng mô hình chăn nuôi hươu sao tại xã Cẩm Lạc”. Dự án triển khai từ năm 2024 với 5 hộ dân tham gia, nuôi 35 con hươu trên diện tích chuồng trại hơn 300 m², bước đầu đạt hiệu quả cao. Đàn hươu sinh trưởng, phát triển tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng địa phương; 14/15 hươu đực đã cắt nhung đạt 0,7 - 0,9 kg/con, đàn hươu đã sinh sản 17 con. Hội thảo tập trung chia sẻ kinh nghiệm, thảo luận quy trình quản lý, ứng dụng công nghệ và định hướng nhân rộng mô hình, xây dựng thương hiệu sản phẩm, đồng thời đề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ nhằm phát triển kinh tế nông thôn bền vững trên địa bàn.
Phát triển nhãn hiệu “Thịt heo trà xanh tinh hoa” UBND tỉnh Thái Nguyên vừa ban hành chỉ đạo về quản lý, sử dụng và phát triển nhãn hiệu “Thịt heo trà xanh tinh hoa Thái Nguyên”, đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận. Trường Đại học Nông Lâm Đại học Thái Nguyên được giao chủ trì tổ chức hội nghị công bố nhãn hiệu trước ngày 5/12 và xây dựng quy chế quản lý, chuyển quyền sử dụng cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ chăn nuôi đủ điều kiện trong tháng 12/2025. Các cơ quan truyền thông tỉnh sẽ quảng bá sản phẩm trên các nền tảng, nhấn mạnh chất lượng và giá trị kinh tế - xã hội. Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn mô hình chăn nuôi heo bằng thức ăn bổ sung chè
Đẩy mạnh chuẩn hóa và phát triển bền vững ngành yến sào An Giang là địa phương dẫn đầu cả nước với 4.475 nhà yến - nghề nuôi yến phát triển nhanh nhờ điều kiện sinh thái thuận lợi, sản lượng năm 2025 dự kiến đạt 35 tấn. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh kéo theo nhiều hạn chế như xây dựng tự phát, phát loa dẫn dụ sai quy định, thiếu liên kết chuỗi, sản phẩm chưa truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng chưa đồng bộ. Chính quyền An Giang đang siết chặt quản lý theo Nghị định 13/2020, kiểm soát tiếng ồn, giám sát dịch bệnh, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu sang Trung Quốc. Tỉnh đã có 5 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và hơn 1.200 nhà yến được kiểm tra an toàn dịch bệnh. Song song đó, Hiệp hội Yến sào Việt Nam đang thúc đẩy chuẩn hóa tiêu chuẩn quốc gia cho toàn bộ sản phẩm yến nhằm nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh.
BẢO TRÂM
CẦN THƠ
Hướng tới xuất khẩu chăn nuôi bền vững TP Cần Thơ đang tập trung phát triển
THÙY DƯƠNG chăn nuôi theo hướng sinh học, an toàn, quy
TÂY NINH
Tiêu hủy 89 tấn heo nhiễm dịch tả HÀ MY heo châu Phi
THÁI NGUYÊN
AN GIANG
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh, trong tuần cuối tháng 11/2025, tỉnh đã phát hiện thêm một ổ dịch tả heo châu Phi tại xã Phước Vinh, với 29 con heo tại một trại nuôi có dấu hiệu bệnh lý. Kết quả xét nghiệm xác nhận dương tính với virus dịch tả heo châu Phi, toàn bộ đàn heo đã phải tiêu hủy với trọng lượng hơn 1,3 tấn. Từ đầu năm 2025, dịch đã lan ra 39 hộ dân tại 22 xã, phường, tiêu hủy tổng cộng 2.435 con heo, tương đương gần 89 tấn. Hiện còn ba ổ dịch ở các xã Bình Đức, Long Cang và Phước Vinh chưa qua 21 ngày. Chi cục Nông nghiệp đang phối hợp với chính quyền địa phương để khoanh vùng và tổ chức vệ sinh, tiêu độc khử trùng, cùng với việc tuyên truyền người dân về các biện pháp an toàn sinh học nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan.
HUYỀN LINH
mô lớn, ứng dụng công nghệ 4.0 để phục vụ thị trường nội địa và hướng tới xuất khẩu. Đến tháng 10/2025, tổng đàn vật nuôi của thành phố tăng trưởng ấn tượng: đàn heo đạt hơn 491.000 con (+8%), bò gần 63.000 con (+5%), gia cầm trên 15,9 triệu con (+11%). Toàn thành phố có 1.110 trang trại, trong đó nhiều trang trại đã áp dụng VietGAP, đảm bảo an toàn sinh học, giảm phát thải và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời, 23 trang trại liên kết với doanh nghiệp lớn, ổn định đầu ra. Công nghệ 4.0 được ứng dụng trong chuồng kín, cảm biến nhiệt độ, độ ẩm, giám sát sức khỏe vật nuôi, giúp giảm chi phí, kiểm soát dịch bệnh và tăng năng suất. Người chăn nuôi cũng tuân thủ nghiêm ngặt tiêm phòng và quản lý đàn. Ông Nguyễn Tấn Nhơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, cho biết thời gian tới ngành Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ sẽ tiếp tục đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc.
NGỌC LAN
12
VĂN BẢN CUỘC SỐNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
SỬA LUẬT THUẾ GTGT
Gỡ điểm nghẽn về thuế cho doanh nghiệp Ngày 11/12/2025, Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT (GTGT). Việc sửa đổi lần này được nhiều đại biểu và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao. Cấp bách và cần thiết
Sáng 8/12, tiếp tục kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT. Dự thảo Luật tập trung sửa đổi ba nội dung chính, nhằm giải quyết triệt để các bất cập thực tiễn; trong đó, đảm bảo chính sách thuế đồng bộ cho thức ăn chăn nuôi được cộng đồng người chăn nuôi, doanh nghiệp quan tâm. Cụ thể, đưa sản phẩm nông nghiệp vào diện không phải tính thuế GTGT nhưng vẫn được khấu trừ đầu vào, nội dung đã được quy định ổn định từ năm 2014, cụ thể là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua bán các sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản (chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường) cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải tính thuế GTGT. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ không phải tính thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ. Quy định này đã được thực hiện ổn định nhiều năm và không làm ảnh hưởng đến số thu ngân sách nhà nước. Việc sửa đổi sẽ giảm gánh nặng thủ tục hành chính, đồng thời góp phần lớn trong việc hỗ trợ hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, vì doanh nghiệp không phải ứng trước tiền để nộp thuế rồi lại làm thủ tục hoàn thuế, tránh lãng phí thời gian và chi phí cơ hội.
Giảm gánh nặng cho doanh nghiệp
Ngày 11/12/2025, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT với nhiều điểm mới. Cụ thể: - Sửa đổi quy định về sản phẩm nông sản, Chính phủ đã chỉnh sửa về mặt kỹ thuật soạn thảo, về cách thể hiện tại Luật Thuế GTGT năm 2016 đã được thực hiện ổn định qua nhiều năm. - Sửa đổi quy định về phế phẩm, phụ
phẩm, phế liệu, đây là nội dung chỉnh lý về mặt kỹ thuật soạn thảo để đảm bảo minh bạch chính sách, góp phần khuyến khích việc thu hồi, tái sử dụng phụ phẩm, phế phẩm của các sản phẩm nông nghiệp; tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành nông nghiệp, qua đó góp phần giảm tác động tiêu cực đến môi trường. - Sửa đổi quy định về thức ăn chăn nuôi là để đảm bảo sự đồng bộ giữa các loại hàng hóa có cùng mục đích sử dụng như thức ăn chăn nuôi, dược liệu; đồng thời cũng đảm bảo công bằng giữa thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước và thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Từ đó, tạo động lực giúp doanh nghiệp giảm giá bán để hỗ trợ cho người chăn nuôi. - Đối với điều kiện hoàn thuế, Chính phủ đã bổ sung nội dung về đánh giá tác động, trong đó đã có báo cáo và tỷ lệ hồ sơ hoàn thuế theo quy định hiện hành. Việc bãi bỏ quy định này góp phần rút ngắn thời gian hoàn thuế cho doanh nghiệp, đảm bảo đúng trách nhiệm và quyền lợi riêng rẽ của bên mua và bên bán. Việc hoàn thuế sẽ thực hiện thống nhất theo quy định của Luật Quản lý thuế vừa được Quốc hội thông qua, đảm bảo
hiệu quả, chặt chẽ. Đối với nội dung đảm bảo chính sách thuế đồng bộ cho thức ăn chăn nuôi, Chính phủ trình Quốc hội lược bỏ nội dung “sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, dược liệu thì áp dụng thuế suất GTGT theo mức thuế suất quy định cho sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản” đang quy định tại khoản 5, Điều 9, Luật Thuế GTGT số 48 để đảm bảo việc áp dụng thuế GTGT đồng bộ theo quy định của pháp luật về thức ăn chăn nuôi, bảo đảm bình đẳng với thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, do thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không chịu thuế, còn thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước có thuế GTGT đầu vào 5% nên phải tính vào chi phí làm tăng giá bán. Quy định này sẽ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất nông nghiệp nhất là trong bối cảnh ngành nông nghiệp bị ảnh hưởng nhiều từ hệ quả của thiên tai, mưa lũ kéo dài.
VÂN ANH
VĂN BẢN CUỘC SỐNG
13
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
VPA kiến nghị gỡ "ách tắc" về thủ tục công bố thức ăn chăn nuôi Ngày 8/12, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) có văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Chăn nuôi và Thú y kiến nghị tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến công bố thông tin và thay đổi thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi bổ sung. Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ và Quyết định số 2303/QĐ-BNNMT ngày 23/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch UBND cấp tỉnh được phân quyền quản lý một số lĩnh vực về chăn nuôi thú y. Trong đó, cơ quan chức năng cấp tỉnh chịu trách nhiệm giải quyết các thủ tục hành chính gồm: (1) Công bố thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung sản xuất trong nước; (2) Công bố lại thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung; (3) Thay đổi thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung; (4) Công bố thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung nhập khẩu. Tuy nhiên, theo phản ánh của một số doanh nghiệp thành viên VPA, quá trình thực hiện các thủ tục này tại một số địa phương đang gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do các tỉnh chưa được phân quyền sử dụng phần mềm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời chưa có hệ thống phần mềm chuyên ngành kết nối với cổng thông tin điện tử của Bộ. Do vướng mắc kỹ thuật, Sở Nông nghiệp và Môi trường tại một số địa phương không thể triển khai tiếp nhận hồ sơ công bố và gia hạn thông tin sản phẩm thức ăn bổ sung trước khi lưu thông trên thị trường. Điều này đang ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất, kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng trong nước và quốc tế. Trước thực tế trên, VPA đề nghị Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm có hướng dẫn thống nhất cho các địa phương để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục công bố thông tin sản phẩm theo đúng quy định, đảm bảo tiến độ đưa sản phẩm ra thị trường.
BAN TRUYỀN THÔNG VPA
VĂN BẢN MỚI ☐ Ngày 13/11/2025, HĐND TP Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết 26/2025/ NQ-HĐND, đưa ra mức hỗ trợ cho các cơ sở chăn nuôi và lực lượng tham gia phòng chống dịch, nhằm giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh động vật gây ra. Theo nghị quyết, các đối tượng được thụ hưởng gồm cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa (không thuộc lực lượng vũ trang) đang hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản. Ngoài ra, những người trực tiếp tham gia công tác khắc phục dịch bệnh động vật theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 116/2025/NĐ-CP cũng được xem xét hỗ trợ. Đối với cơ sở sản xuất và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực chăn nuôi - thủy sản, mức hỗ trợ được tính theo từng loại vật nuôi. Cụ thể: trâu, bò, ngựa, dê được hỗ trợ 50.000 đồng/kg hơi; heo 40.000 đồng/kg hơi; gà, vịt, ngan 35.000 đồng/kg hơi… Với lực lượng tham gia trực tiếp phòng chống dịch, mức hỗ trợ được chia theo hai nhóm. Người không hưởng lương ngân sách được hỗ trợ 400.000 đồng/người/ngày làm việc và 500.000 đồng/người/ngày vào ngày nghỉ, lễ, Tết. Đối với người đang hưởng lương từ ngân sách, mức hỗ trợ lần lượt là 150.000 đồng/người/ngày thường và 300.000 đồng/người/ngày cho các ngày nghỉ, lễ, Tết. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/12/2025 ☐ Ngày 25/11/2025, UBND tỉnh Lạng Sơn có Công văn số 2643/UBNDKTCN chỉ đạo việc triển khai thực hiện đối với các dự án trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND các xã, phường rà soát lại toàn bộ quy hoạch đất đai, xây dựng, vùng sản xuất, rà soát từng vị trí, khu vực quy hoạch chăn nuôi đã được phê duyệt đến năm 2030; Chủ trì, phối hợp với UBND các xã, phường rà soát, cập nhật điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất cho phù hợp với định hướng phát triển chăn nuôi, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, bền vững, không ảnh hưởng đến nguồn nước, môi trường không khí và đời sống dân cư; hoàn thành rà soát, đề xuất phương án điều chỉnh các khu vực quy hoạch chăn nuôi báo cáo UBND tỉnh, đồng gửi Sở Tài chính. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường của các dự án trang trại chăn nuôi đã được chấp thuận chủ trương đầu tư; xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định. Hướng dẫn việc khuyến khích phát triển trang trại chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa, tập trung, áp dụng công nghệ cao, an toàn sinh học, xây dựng vùng an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm… ☐ Ngày 12/12/2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 239/CĐ-TTg yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh tiêu dùng, phục vụ nhu cầu Tết của nhân dân. Trong đó, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan, địa phương tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu, nhất là dịp cuối năm và đầu năm mới, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường quốc tế trong dịp lễ Giáng sinh và Tết Dương lịch. Khai thác có hiệu quả các FTA mà Việt Nam là thành viên, đẩy nhanh tiến độ đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại song phương, đa phương với các đối tác nhiều tiềm năng; tiếp tục đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng với Mỹ theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước khẩn trương khắc phục hậu quả bão lũ, triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu hiệu quả, linh hoạt; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu; chú trọng các hoạt động phát triển, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng.
14
THEO DÒNG THỜI SỰ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
GIAN NAN KHÔI PHỤC NGÀNH CHĂN NUÔI SAU MƯA LŨ Mưa bão và lũ quét đã để lại những hậu quả nặng nề cho ngành chăn nuôi tại nhiều địa phương. Hàng trăm nghìn con gia cầm, hàng nghìn con gia súc bị chết, cuốn trôi; hệ thống chuồng trại bị hư hỏng, môi trường chăn nuôi ô nhiễm nghiêm trọng. Việc khôi phục sản xuất đang trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với người dân, chính quyền cũng như toàn ngành. Sinh kế người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Theo thống kê từ các địa phương, Thái Nguyên là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng trong đợt lũ lần này với giá trị thiệt hại ước tính hơn 75,8 tỷ đồng. Toàn tỉnh ghi nhận khoảng 8.000 con heo và 356.000 con gia cầm bị chết hoặc cuốn trôi. Không chỉ vậy, nhiều cơ sở vật chất và vật tư phục vụ chăn nuôi như kho thức ăn, máy móc cũng bị ngập nước, hơn 1,6 triệu liều vaccine bị hư hỏng. Tại khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là Đắk Lắk, nhiều xã, phường bị thiệt hại nặng. Theo ước tính sơ bộ của Cục Quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong đợt mưa lớn từ ngày 16 23/11, toàn tỉnh có trên 3,2 triệu con gia súc và gia cầm bị thiệt hại, tập trung chủ yếu là các trang trại và hộ nuôi gà, vịt, heo quy mô nhỏ tại các vùng Cư M'gar, Krông Ana, Buôn Đôn... Riêng phường Đông Hòa báo cáo thiệt hại lên tới hơn 44 tỷ đồng, với hàng nghìn con heo, gia cầm bị chết; hàng trăm chuồng trại bị cuốn trôi hoặc hư hỏng hoàn toàn. Một số điểm ghi nhận hơn 4.400 xác động vật được thu gom và xử lý chỉ trong vài ngày sau lũ. Ở miền Trung, hàng loạt chuồng trại bị cuốn trôi, hàng trăm nghìn con gia súc, gia cầm chết, nhiều hộ dân mất trắng sau bão số 10. Chỉ riêng tại Nghệ An và Thanh Hóa, thiệt hại ngành chăn nuôi đã lên tới hàng trăm tỷ đồng, đẩy nhiều gia đình chăn nuôi vào cảnh khốn khó. Ngành chăn nuôi Nghệ An ghi nhận tổn thất lớn với 990 con gia súc, hơn 305.000 con gia cầm chết, trên 2.400 chuồng trại hư hỏng. Còn tại tỉnh Thanh Hóa, mưa lũ do bão số 10 đã làm chết 158 con gia súc, 56.570 con gia cầm, gây thiệt hại cho 100 đàn ong và làm hư
hỏng hàng chục chuồng trại. Nhiều hộ chăn nuôi rơi vào cảnh mất trắng. Mưa lũ không chỉ gây thiệt hại trực tiếp về vật nuôi, mà môi trường bị ô nhiễm bởi xác động vật, bùn đất và chất thải khiến nguy cơ bùng phát dịch bệnh tăng cao. Cùng với đó, nguồn cung thịt, trứng, gia cầm giảm mạnh, ảnh hưởng đến thị trường và khiến giá các mặt hàng chăn nuôi có xu hướng tăng cục bộ.
Tập trung phục hồi sản xuất
Tại một buổi họp báo mới đây, bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, cho biết trước tình hình thiệt hại trong lĩnh vực chăn nuôi, Cục đã tham mưu Bộ Nông nghiệp và Môi trường xuất cấp vaccine và hóa chất từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ Thái Nguyên, gồm 27.000 liều vaccine lở mồm long móng type O, 55.000 liều vaccine dịch tả heo cổ điển và 1 tấn Sodium Chlorite 20%. Cục cũng tổng hợp nhu cầu hỗ trợ các tỉnh bị ảnh hưởng sau lũ. Chi cục Chăn nuôi và Thú y Đà Nẵng đã xuất cấp cho 84 xã, phường có chăn nuôi của thành phố gần 23,4 tấn hóa chất, trong đó có 10 tấn để vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường và khẩn trương tiêm phòng vaccine cho đàn vật nuôi; hỗ trợ gần 13,4 tấn cho các địa phương thực hiện công tác phòng chống dịch, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để khôi phục sản xuất chăn nuôi một cách an toàn nhất. Lãnh đạo các địa phương vận động người dân không giấu dịch; không mua bán, vận chuyển heo bệnh, heo chết; không giết mổ, tiêu thụ; không sử dụng thức ăn thừa chưa qua xử lý nhiệt và không vứt heo chết ra môi trường. Chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để khi được phép tái đàn sẽ thực hiện chăn nuôi an toàn, ngăn ngừa dịch bệnh tái phát, gây thiệt hại cho người chăn nuôi.
Việc khôi phục ngành chăn nuôi sau mưa lũ là một quá trình phức tạp, tốn kém và chịu nhiều rủi ro. Thứ nhất, chi phí tái đàn cao trong khi nhiều hộ vừa mất trắng tài sản nên không còn vốn để đầu tư trở lại. Chi phí con giống, thức ăn, thuốc thú y cũng đang có xu hướng tăng do nhu cầu lớn sau thiên tai. Cùng đó, chuồng trại hư hỏng nặng, nhiều hộ phải xây dựng lại từ đầu, việc phục hồi hạ tầng chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Thêm nữa, nguy cơ dịch bệnh cao sau thiên tai khiến việc tái đàn phải làm thận trọng. Trong khi đó, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, chiếm tỷ lệ lớn ở các vùng bị thiệt hại, thường thiếu phương tiện khử trùng, thiếu kiến thức về an toàn sinh học và thiếu khả năng tiếp cận vốn vay chính sách. Điều này dẫn đến phục hồi chậm và không đồng đều giữa các vùng, gây ảnh hưởng chung đến khả năng cung ứng thực phẩm. Ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam bày tỏ, thiệt hại do mưa bão vừa qua rất lớn, mức độ chính xác còn phải chờ cơ quan chức năng thống kê, nhưng việc tổ chức sản xuất, phục hồi sau mưa lũ là hết sức quan trọng không chỉ đáp ứng nhu cầu trước, trong mà cả sau Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Dương thì nguồn cung thịt sẽ không ảnh hưởng nhiều. Việc phục hồi sản xuất cùng không quá khó khăn vì hiện nay ngành chăn nuôi chủ yếu ở quy mô trang trại nên sẽ mất ít thời gian hơn trước rất nhiều.
Giải pháp thiết thực hỗ trợ người chăn nuôi
Để ngành chăn nuôi sớm trở lại hoạt động ổn định, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó bao gồm cả biện pháp ngắn hạn lẫn dài hạn. Việc khẩn cấp trước mắt là thu gom, xử lý
THEO DÒNG THỜI SỰ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
xác động vật và vệ sinh môi trường để ngăn ngừa dịch bệnh phát sinh. Vấn đề này đặc biệt quan trọng vì đây là điều kiện tiên quyết để tái đàn an toàn. Cùng với đó, Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nên kịp thời hỗ trợ con giống, thức ăn, thuốc thú y cho các hộ bị thiệt hại nặng. Nhiều mô hình hỗ trợ như tặng heo nái, cung cấp gà giống, hỗ trợ thức ăn 1 - 2 tháng đầu đang được triển khai ở Đắk Lắk, Quảng Trị và cho thấy hiệu quả thiết thực. Thêm vào đó, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Chính sách Xã hội có thể xem xét khoanh nợ, giãn nợ và cho vay mới lãi suất thấp để giúp người dân có điều kiện tái đầu tư sản xuất. Đây là giải pháp vô cùng cần thiết để người dân tái thiết sản xuất sau khi mất trắng tài sản và không ít hộ chăn nuôi vẫn còn ngập trong nợ. Tại nhiều địa phương, Chi cục Chăn nuôi - Thú y các tỉnh cũng khuyến cáo người dân, để tái đàn, cần lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, được cung cấp bởi những cơ sở cung ứng có uy tín, có giấy chứng nhận kiểm dịch; tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine theo quy định. Đồng thời, thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, không tái đàn khi chưa đảm bảo về môi trường và an toàn dịch bệnh. Chia sẻ tại hội nghị Hội nghị phục hồi
➢ Theo Cục Quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), riêng cơn bão số 10 (Bualoi) đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi làm khoảng 6.600 con gia súc (trâu, bò, heo) và khoảng hơn 1 triệu con gia cầm bị chết hoặc cuốn trôi, hơn 4.400 chuồng trại và thiết bị hư hỏng. Bão số 11 mặc dù chưa thống kê đầy đủ, nhưng tính đến ngày 14/10 đã có 19.200 con gia súc và 1,3 triệu con gia cầm bị chết, cuốn trôi.
sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, sau bão lũ, các địa phương Bắc Ninh, Thái Nguyên và Nghệ An đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần có hướng dẫn, chỉ đạo thời gian tới tập trung phát triển chăn nuôi gia cầm, đây là vật nuôi phù hợp có chu kỳ nuôi ngắn, đáp ứng số lượng và sản lượng nhanh nhất phục vụ nhu cầu thực phẩm của nhân dân. Đợt mưa lũ vừa qua cho thấy tính dễ tổn thương của ngành chăn nuôi trước biến đổi khí hậu và thiên tai cực đoan. Mặc dù thiệt hại rất lớn, nhưng với sự vào cuộc của chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng, các địa phương hoàn toàn có thể phục hồi ngành chăn nuôi theo hướng an toàn, bền vững và giảm thiểu rủi ro. Điều quan trọng là triển khai hỗ trợ kịp thời, đồng thời xây dựng chiến lược dài hạn nhằm tăng khả năng chống chịu cho người dân và toàn ngành trước các thách thức ngày càng lớn trong tương lai.
BẢO HÂN
15
KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC Trong kỷ nguyên của nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông minh và hội nhập toàn cầu, đòi hỏi cấp thiết về một mô hình nguồn nhân lực đảm bảo
“Trí tuệ - Chất lượng - Hội nhập” Bộ Nông nghiệp và Môi trường có: Hơn 25.000 nhân sự
24%
Trong đó, khoảng 6.000 cán bộ nghiên cứu khoa học, chiếm 24%, đang trực tiếp tham gia nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
76%
43 cơ sở đào tạo trực thuộc, gồm:
5
11
25
1 1
Trường đại học
Học viện
Trường cao đẳng
Cơ sở đào tạo cán bộ công chức
Viện khoa học, công nghệ được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học Cả nước hiện có khoảng 50 cơ sở đào tạo Đại học có các chuyên ngành về nông nghiệp, lâm nghiêp, thủy sản và thuỷ lợi.
3 thực trạng chính của nguồn nhân lực ngành nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Thiếu kỹ năng chuyển đổi số và quản trị chuỗi giá trị. Thiếu kỹ năng chuyển đổi số và quản trị chuỗi giá trị.
Tư duy sản xuất nhỏ lẻ, phi thị trường còn phổ biến.
TĂNG TỐC BỨT PHÁ Nhu cầu Đến năm 2025: ngành nông nghiệp cần 10.000 cán bộ quản lý; 80.000 cán bộ HTX; 100.000 nông dân có trình độ đào tạo; 60.000 người làm dịch vụ kỹ thuật, sản xuất kinh doanh vật tư.
Mục tiêu đến năm 2030: Phấn đấu đạt bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho khoảng 1,5 triệu lao
động nông thôn trên cả nước. Tỷ lệ lao động nông nghiệp được đào tạo đạt trên 70%. Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) của nhóm ngành nông, lâm, thủy sản từ 4,6% (năm 2020) lên 10% (năm 2030). Các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tuyển sinh bình quân hàng năm: 200 nghiên cứu sinh; 2.500 học viên cao học; 20.000 sinh viên đại học; 8.000 sinh viên cao đẳng, 20.000 học sinh trung cấp và 40.000 học sinh sơ cấp.
8 giải pháp trọng tâm phát triển nguồn nhân lực: Nâng cao nhận thức và quyết tâm chính trị
Đổi mới chương trình, phương thức đào tạo
Đổi mới thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù
Thực hiện chuyển đổi số toàn diện
Sắp xếp, hiện đại hóa cơ sở giáo dục
Huy động nguồn lực cho phát triển giáo dục
Phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học
Đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế.
18 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHÌA KHÓA NÂNG TẦM NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM Nguồn nhân lực được xem là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi trong giai đoạn chuyển đổi số, hội nhập và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, lực lượng lao động trong ngành vẫn đang chịu nhiều hạn chế về số lượng lẫn chất lượng, đòi hỏi những giải pháp mạnh mẽ để đổi mới công tác đào tạo và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu - doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Nhân lực mỏng, yếu và thiếu sự đồng bộ
Trong bức tranh chung của nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi là lĩnh vực có tính chuyên môn hóa cao, đòi hỏi lao động được đào tạo bài bản. Dù vậy, lực lượng nhân sự phục vụ cho sản xuất, quản lý và nghiên cứu chăn nuôi hiện nay vẫn còn bất cập. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng miền núi và các tỉnh trung du, hệ thống thú y cơ sở mỏng, thậm chí có nơi vị trí thú y xã bị kiêm nhiệm. Thiếu cán bộ kỹ thuật trực tiếp giám sát dịch bệnh khiến công tác kiểm soát đàn vật nuôi, tiêm phòng, xử lý ổ dịch gặp khó khăn. Dịch tả heo châu Phi bùng phát mạnh tại Hà Tĩnh thời gian qua đã gây ra thiệt hại lớn trong sản xuất chăn nuôi. Trong đó, việc thiếu cán bộ thú y cơ sở là một nguyên
nhân khiến công tác phòng chống dịch gặp khó khăn. Xã Cẩm Bình (tỉnh Hà Tĩnh) có diện tích hơn 33km2, trong khi cả xã chỉ có 1 cán bộ bán chuyên trách phụ trách lĩnh vực chăn nuôi - thú y. Tình trạng này khiến việc phòng, chống dịch tại cơ sở trở nên bị động, lúng túng. Dịch bệnh không được kiểm soát từ sớm dẫn đến lây lan nhanh, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Xã Chư Sê (Gia Lai) hiện quản lý gần 34.000 con gia súc và khoảng 750.000 con gia cầm. Thế nhưng, sau sáp nhập, toàn bộ thú y viên cơ sở đã nghỉ việc, xã không còn cán bộ chuyên trách nào theo dõi đàn vật nuôi. Không chỉ thế, theo đánh giá của nhà chuyên môn, nguồn nhân lực ngành chăn nuôi Việt Nam đang thiếu trầm trọng nhân
lực chất lượng cao, có chuyên môn sâu để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, tự động hóa, số lượng kỹ sư chăn nuôi - thú y có khả năng làm việc trong mô hình trang trại công nghệ cao vẫn còn hạn chế... Cùng đó, nhiều chương trình đào tạo chưa kịp thời cập nhật với xu thế phát triển như trí tuệ nhân tạo trong quản lý trang trại, IoT chăn nuôi, dinh dưỡng tối ưu hóa bằng dữ liệu lớn… Điều này dẫn đến khoảng cách lớn giữa yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và năng lực thực tế của sinh viên. Những tồn tại trên cho thấy “điểm nghẽn” lớn về nhân lực đang kìm hãm sự phát triển của ngành chăn nuôi, đặc biệt trong bối cảnh các yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát dịch bệnh ngày càng gắt gao.
VẤN ĐỀ - CHUYÊN ĐỀ
19
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
➢ Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhấn mạnh: Chuẩn hóa các chương trình đào tạo và tăng cường các nguồn lực, phương thức đào tạo theo hướng xã hội hóa phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
được đẩy mạnh. Việc xây dựng các bài giảng trực tuyến, mô hình mô phỏng 3D - VR, thư viện học liệu số sẽ giúp người học tiếp cận kiến thức linh hoạt hơn, đặc biệt có lợi cho nông dân và lao động ở vùng xa. Ngoài ra, mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực chăn nuôi sẽ tạo điều kiện để sinh viên, kỹ sư và giảng viên tiếp cận công nghệ tiên tiến từ các quốc gia có ngành chăn nuôi phát triển như Hà Lan, Israel, Australia, Nhật Bản. Các chương trình trao đổi, thực tập sinh hay liên kết đào tạo kỹ sư chất lượng cao sẽ giúp Việt Nam có đội ngũ nhân lực tinh nhuệ hơn trong tương lai.
Cần sự chung tay giữa nhà trường và doanh nghiệp Nâng cao chất lượng nhân lực từ đổi mới đào tạo
Để khắc phục tình trạng thiếu hụt và nâng cao trình độ nhân lực, ngành chăn nuôi cần triển khai hàng loạt giải pháp mạnh mẽ, mang tính tổng thể từ đào tạo ban đầu tới đào tạo lại. Trước tiên, cần thiết thực hiện đổi mới chương trình và phương thức đào tạo. Cụ thể, các trường đại học, cao đẳng cần rà soát toàn diện giáo trình, cập nhật kiến thức mới về chăn nuôi thông minh, quản lý đàn bằng công nghệ số, dinh dưỡng chính xác, an toàn sinh học và xử lý môi trường trong chăn nuôi tuần hoàn. Tỷ lệ thực hành, thực tập phải được tăng lên, gắn trực tiếp với doanh nghiệp, trang trại quy mô lớn để sinh viên được tiếp xúc thực tế ngay từ khi học. Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ giảng viên cũng đóng vai trò then chốt. Giảng viên cần được tham gia các khóa bồi dưỡng trong và ngoài nước, cập nhật các công nghệ mới như AI, IoT, phân tích dữ liệu, kỹ thuật giống vật nuôi, công nghệ vaccine. Việc mời chuyên gia doanh nghiệp và chuyên gia quốc tế giảng dạy các chuyên đề cũng giúp chất lượng đào tạo tiệm cận hơn với chuẩn mực quốc tế. Một giải pháp quan trọng khác là đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động hiện hữu. Đây là nhóm lao động đông đảo, quyết định trực tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Các khóa đào tạo ngắn hạn, lớp tập huấn tại địa phương về quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, kỹ thuật chăn nuôi hữu cơ, xử lý chất thải, vận hành thiết bị tự động sẽ giúp nâng cao năng lực của chủ trang trại và công nhân chăn nuôi. Bên cạnh đào tạo trực tiếp, ứng dụng chuyển đổi số vào đào tạo nhân lực cũng cần
Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2045, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nhân lực, đồng thời hệ thống chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi số nông nghiệp đang được Nhà nước ưu tiên nguồn lực. Các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp lớn trong nước cũng sẵn sàng tham gia vào quá trình đào tạo với vai trò đối tác chiến lược. Đại diện Công ty CP Nông nghiệp BAF Việt Nam cho biết, Công ty đặt ra mục tiêu đến năm 2030 đạt 10 triệu heo xuất chuồng/ năm, tương ứng với khoảng 14.000 - 15.000 nhân sự. Với lực lượng lớn như vậy nếu chỉ trông chờ vào các kênh tuyển dụng thông thường thì sẽ thiếu hụt. Hơn nữa, theo vị này, hiện nay các cơ sở đào tạo mới tập trung đào tạo chủ yếu kỹ sư chăn nuôi, bác sĩ thú y, trong khi công nhân, công nhân kỹ thuật, chiếm tới 75 - 80% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp ngành chăn nuôi lại gần như bị bỏ ngỏ. Bên cạnh đó, Công ty cũng hợp tác với 7 trường đại học lớn trên cả nước (Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Nông - Lâm TP Hồ Chí Minh, Đại học Nông - Lâm Thái Nguyên, Đại học Nông - Lâm Huế, Đại học Cần Thơ, Đại học Tây Nguyên...) xây dựng chương trình “Ươm mầm tài năng”, nhằm chọn lọc sinh viên để đào tạo theo chương trình được thiết kế riêng, tiếp cận sớm quy trình kỹ thuật chăn nuôi của doanh nghiệp. Tất cả những yếu tố trên cho thấy rằng phát triển nhân lực chăn nuôi không thể là nhiệm vụ của riêng trường học hay cơ quan quản lý, mà cần sự phối kết hợp chặt chẽ của cả hệ sinh thái bao gồm trường đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và chính quyền địa phương.
Trong đó, trường đại học và cơ sở đào tạo có trách nhiệm đổi mới giáo trình, cung cấp kiến thức nền tảng và kỹ năng cơ bản. Doanh nghiệp cung cấp môi trường thực hành, chuyển giao công nghệ và phản hồi chuẩn đầu ra. Viện nghiên cứu hỗ trợ bằng các công nghệ mới, mô hình thử nghiệm và nghiên cứu chuyên sâu. Các cơ quan quản lý ban hành cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn nghề nghiệp và hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Chỉ khi bốn chủ thể này phối hợp đồng bộ, ngành chăn nuôi mới có thể xây dựng được đội ngũ nhân lực đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi trong tương lai. Với định hướng đúng và sự vào cuộc của toàn ngành, chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đủ năng lực dẫn dắt quá trình hiện đại hóa trong những năm tới.
PHAN THẢO
➢ Chính phủ cần sớm ban hành “Chiến lược phát triển nhân lực và nhân tài cho nông nghiệp công nghệ cao cho Việt Nam”; theo đó cần cụ thể hóa chiến lược này bằng các kế hoạch, dự án ưu tiên phát triển các cơ sở đào tạo nghề nghiệp trọng điểm về nông nghiệp công nghệ cao. Ưu tiên phát triển hệ thống trường đại học và viện nghiên cứu trọng điểm về nông nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt ưu tiên và đãi ngộ đội ngũ giảng viên, chuyên gia giỏi trong nước và quốc tế tham gia đào tạo nguồn nhân lực này. Chính phủ cần có chính sách xã hội hóa kỹ thuật và công nghệ cao trong nông nghiệp gắn với chuyển đổi số để đa số nông dân có thể tiếp cận, học, thực hành thành thạo các kỹ thuật sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Đây là yêu cầu rất cần thiết để phổ biến và thực hiện thành công có hiệu quả nền nông nghiệp công nghệ cao của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
GIẢI BÀI TOÁN CUNG - CẦU Trong bối cảnh chăn nuôi đang chuyển mạnh sang mô hình hiện đại và ứng dụng công nghệ, yêu cầu về nhân lực chất lượng cao trở nên đặc biệt quan trọng. Đây được xem là “chìa khóa” giúp ngành chăn nuôi Việt Nam nâng năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Xoay quanh vấn đề này, phóng viên Đặc san Người Chăn nuôi đã có cuộc trao đổi với TS Bùi Huy Doanh, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, để lắng nghe những chia sẻ chuyên sâu về thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho ngành. PV: Theo ông, nhân lực chất lượng cao đóng vai trò như thế nào trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi Việt Nam? TS Bùi Huy Doanh: Nhân lực chất lượng cao giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi Việt Nam. Trước hết, đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn vững giúp tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật - từ di truyền, dinh dưỡng, thú y đến công nghệ số và tự động hóa. Nhờ đó, năng suất được nâng cao, chất lượng sản phẩm cải thiện, đồng thời chi phí sản xuất giảm, giúp doanh nghiệp gia tăng lợi thế cạnh tranh. Thứ hai, nhân lực chất lượng cao là nền tảng để hình thành chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ hiện đại, đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế. Đây chính là yếu tố quyết định để sản phẩm chăn nuôi Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu
trong nước mà còn tăng sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Thứ ba, đội ngũ chuyên gia và cán bộ kỹ thuật giỏi đóng vai trò dẫn dắt đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển các mô hình chăn nuôi bền vững, hữu cơ, kinh tế tuần hoàn và tăng cường năng lực phòng chống dịch bệnh. Họ cũng góp phần nâng cao hiệu quả quản trị trang trại, vận hành công nghệ tự động và phân tích dữ liệu, giúp doanh nghiệp dự báo rủi ro, tối ưu hóa chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm. PV: Ông đánh giá thế nào về chất lượng đào tạo nhân lực chăn nuôi hiện nay tại các cơ sở giáo dục và viện nghiên cứu? TS Bùi Huy Doanh: Nhiều cơ sở đào tạo như Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, Đại
học Cần Thơ, Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên… đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nhân lực cho ngành chăn nuôi. Trong những năm gần đây, các trường đã tập trung mạnh vào đổi mới đào tạo gắn với thực tiễn; đồng thời hợp tác chặt chẽ với viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển giống và ứng dụng công nghệ số. Xu hướng quốc tế hóa trong đào tạo chăn nuôi - thú y cũng ngày càng rõ nét, điển hình như dự án KOICA - VNUA, hợp tác giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA), nhằm nâng cấp cơ sở vật chất, cải tiến chương trình giảng dạy và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ quản lý, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật tiên tiến. Nhờ đó, giảng viên, sinh viên và cán bộ kỹ thuật có nhiều cơ hội tiếp cận công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu về chăn nuôi an toàn, bền vững. Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự mất cân đối giữa số lượng, phân bố nhân lực và nhu cầu
tuyển dụng. Nhiều sinh viên tốt nghiệp mong muốn làm việc tại các đô thị lớn, trong khi cơ hội nghề nghiệp chủ yếu nằm ở các khu vực chăn nuôi trọng điểm xa trung tâm. Thời gian làm việc và chế độ đãi ngộ ở các trang trại có nhiều chuyển biến tích cực và hấp dẫn nhưng vẫn chưa thu hút tốt được nguồn nhân lực. PV: Theo ông, những điểm mạnh và điểm yếu lớn nhất của nguồn nhân lực ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay là gì? TS Bùi Huy Doanh: Về điểm mạnh, đội ngũ nhân lực ngành chăn nuôi có trình độ chuyên môn tốt, khả năng tiếp cận nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng hiệu quả công nghệ số, tự động hóa, AI, phân tích dữ liệu và hệ thống quản lý trang trại. Ngoài ra, họ chăm chỉ, cần cù, dễ thích nghi và được hỗ trợ thực hành thông qua sự tham gia của doanh nghiệp, giúp sinh viên cọ xát với công nghệ tiên tiến ngay từ khi học. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của ngành vẫn còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu hụt và phân bố không đồng đều giữa các vùng, chưa đáp ứng hết nhu cầu thực tiễn. Chương trình đào tạo cần tiếp tục cải tiến để theo kịp thị trường lao động và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, một bộ phận lao động còn hạn chế ngoại ngữ, kỹ năng mềm, kỹ năng quản trị và xử lý tình huống thực tế. PV: Hiện ngành chăn nuôi đang thiếu hụt nhân lực ở những chuyên môn nào, và nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là gì, thưa ông? TS Bùi Huy Doanh: Ngành chăn nuôi hiện thiếu đáng kể nhân lực có chuyên môn sâu trong các lĩnh vực như: dinh dưỡng thiết kế khẩu phần tối ưu; di truyền - chọn lọc gen và ứng dụng công nghệ phân tử; quản lý giống; quản lý trang trại công nghệ cao; cũng như kỹ thuật số trong chăn nuôi. Nguyên nhân chủ yếu gồm: sinh viên còn e ngại làm việc tại các trang trại xa trung tâm, môi trường lao động đòi hỏi cường độ cao; một số chương trình đào tạo chưa tạo đủ
TS BÙI HUY DOANH
“Ngành chăn nuôi không chỉ cần tăng số lượng lao động có trình độ cao mà còn phải xây dựng chương trình đào tạo đa ngành, kết hợp kỹ thuật - công nghệ - quản trị, để đảm bảo nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh quốc tế trong thời gian tới”.
cơ hội phát triển chuyên môn sâu cho sinh viên giỏi; số lượng thí sinh đăng ký vào khối ngành Nông - Lâm - Ngư giảm mạnh những năm gần đây, trong khi nhu cầu tuyển dụng từ doanh nghiệp tăng nhanh; cùng với việc quy mô chăn nuôi của doanh nghiệp mở rộng mạnh, dẫn đến khoảng cách cung - cầu nhân lực ngày càng lớn. PV: Vậy, các doanh nghiệp chăn nuôi đang gặp những khó khăn gì trong việc tuyển dụng và sử dụng nhân lực chất lượng cao, thưa ông? TS Bùi Huy Doanh: Hiện nay, các doanh nghiệp chăn nuôi đang đối mặt nhiều thách thức trong tuyển dụng và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Việc tìm kiếm kỹ sư, bác sĩ thú y có trình độ chuyên môn vững, thành thạo quy trình chăn nuôi công nghiệp hay quản lý trang trại có kinh nghiệm thực tế không hề dễ dàng. Một số lao động trẻ còn e ngại làm việc tại các trang trại xa trung tâm hoặc phải theo ca kíp, dẫn đến khó giữ chân nhân sự giỏi. Bên cạnh đó, tình trạng “nhảy việc” sau khi được đào tạo cũng khá phổ biến, khiến doanh nghiệp phải liên tục đầu tư chi phí đào tạo nhưng chưa có hiệu quả lâu dài. Nhu cầu về nhân lực còn hạn chế khi phải đáp ứng các yêu cầu mới của chăn nuôi hiện đại, như chuyển đổi số, tự động hóa, vận hành hệ thống công nghệ thông minh và áp dụng tư duy liên ngành kết hợp công nghệ - sinh học - quản lý. PV: Theo ông, nhu cầu nhân lực chất lượng cao của ngành chăn nuôi trong 5 - 10 năm tới sẽ thay đổi như thế nào, thưa ông? TS Bùi Huy Doanh: Trong 5 - 10 năm tới, nhu cầu nhân lực chất lượng cao trong ngành chăn nuôi dự báo sẽ tăng mạnh và đa dạng hơn, tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu như quản lý an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh, dinh dưỡng, di truyền giống, cũng như
quản lý và vận hành trang trại công nghệ cao. Những vị trí này không chỉ đòi hỏi chuyên môn vững, mà còn cần khả năng ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và phân tích dữ liệu để nâng cao hiệu quả sản xuất. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập thị trường quốc tế, yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm, giảm phát thải CO₂ và phát triển chăn nuôi bền vững đang tạo ra nhu cầu về những nhóm nhân lực mới. Chẳng hạn, chuyên gia vaccine, chuyên gia chế phẩm sinh học, chuyên gia dinh dưỡng chính xác, chuyên gia phúc lợi động vật và các chuyên gia triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ trở thành những vị trí rất quan trọng. PV: Ông có thông điệp gì muốn gửi tới các nhà quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để cùng chung tay nâng cao chất lượng nhân lực của ngành? TS Bùi Huy Doanh: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là trách nhiệm chung của toàn ngành. Nghị quyết 71/NQTW của Bộ Chính trị đã xác định rõ yêu cầu cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp để phát triển nhân lực có kỹ năng nghề cao, đồng thời nâng tầm giáo dục đại học nhằm đào tạo nhân lực trình độ cao, nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Đây là cơ sở quan trọng để các viện, trường đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo. Theo đó, các cơ quan quản lý cần hoàn thiện chính sách, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn; các cơ sở đào tạo phải đổi mới chương trình, tăng thực hành, thực tập và hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp; doanh nghiệp cần coi đầu tư cho con người là chiến lược dài hạn và chủ động tham gia đào tạo. Khi ba trụ cột cùng đồng hành, ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ xây dựng được đội ngũ nhân lực vững mạnh, đủ năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập. Trân trọng cảm ơn ông!
KIM TIẾN
(Thực hiện)
22
NHÌN RA THẾ GIỚI NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
PHILIPPINES
Ngành gia cầm bùng nổ nhờ nhu cầu tăng vọt Ngành gia cầm Philippines dự báo bùng nổ năm 2026, nhờ vaccine mới, an toàn sinh học cải thiện, nhu cầu tiêu dùng cao, với sản lượng tăng 7% và nhập khẩu mở rộng, trở thành động lực tăng trưởng cho cả ngành thực phẩm. Đổi mới công nghệ và chi phí hợp lý
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Philippines, sản lượng thịt gà sẽ đạt 1,81 triệu tấn trong năm 2026, tăng 7% so với năm 2025. Động lực chính là việc thương mại hóa vaccine Volvac B.E.S.T. chống cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) và áp dụng các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt, bao gồm chuồng kín, giám sát sức khỏe định kỳ và vệ sinh nghiêm ngặt. Chi phí nguyên liệu đầu vào giảm cũng góp phần thúc đẩy sản lượng. Giá trung bình ngô vàng và khô đậu giảm 23% trong nửa đầu năm 2025, giúp các hộ chăn nuôi bớt gánh nặng chi phí. Theo Cục thống kê Philippines, chi phí thấp đã góp phần đưa sản lượng gia cầm tăng 9% trong nửa đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước.
Nhập khẩu, đa dạng nguồn cung và chính sách hỗ trợ
Nhập khẩu gia cầm dự kiến đạt 560.000 tấn trong năm 2026, nhờ gỡ bỏ lệnh tạm ngưng sản phẩm từ Australia, Nhật Bản, Brazil, Pháp và 6 bang của Mỹ từng bị ảnh hưởng HPAI. Brazil vẫn là nhà cung cấp chính, phục hồi mạnh sau lệnh cấm tạm thời. Trong tháng 8/2025, xuất khẩu từ Brazil tăng vọt lên 19.747 tấn, tăng 2.375% so với mức thấp kỷ lục tháng 7. Hơn 60% nhập khẩu từ Brazil là thịt xay cơ học (MDM), quan trọng với ngành chế biến, chỉ chịu thuế 5% đến năm 2028. Mỹ, nhà cung cấp lớn thứ hai, chủ yếu
xuất khẩu đùi gà và dự kiến tăng khối lượng sau khi nối lại thương mại từ sáu bang. Argentina, Ba Lan, Hungary cùng một số cơ sở tại Nga và Bồ Đào Nha cũng được công nhận hoặc mở rộng chứng nhận, đa dạng hóa nguồn cung cho Philippines. Chính phủ Philippines đang đánh giá các đề xuất “khu vực hóa” từ các nước xuất khẩu, nhằm giới hạn lệnh cấm nhập khẩu chỉ ở vùng dịch, thay vì toàn quốc. Chính sách này phù hợp hướng dẫn của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH), cân bằng giữa an toàn sinh học và thương mại. Áp dụng vaccine nhanh chóng, cải thiện hiệu quả sản xuất, mở rộng dịch vụ ăn uống và đa dạng hóa nguồn nhập khẩu đang tạo nền tảng cho ngành gia cầm Philippines tăng trưởng bền vững trong năm 2026. Xu hướng ổn định trong sản xuất, tiêu thụ và quan hệ đối tác quốc tế giúp đảm bảo nguồn cung đáng tin cậy, hỗ trợ giá cả ổn định và thúc đẩy hiện đại hóa ngành.
Động lực tăng trưởng
Ngành gia cầm Philippines được thúc đẩy bởi ba yếu tố chính: dân số tăng nhanh, giá gà rẻ hơn các protein khác và sự mở rộng của các chuỗi nhà hàng chuyên về gà. Dân số Philippines tăng khoảng 1,5%/ năm, cùng dự báo tăng trưởng GDP 6% trong năm 2026, làm gia tăng thu nhập khả dụng và mở rộng nhóm tiêu dùng protein động vật. Tăng đô thị hóa giúp tiếp cận thịt gà tươi và chế biến sẵn qua kênh bán lẻ hiện đại và
chuỗi lạnh. Gà luôn rẻ hơn thịt heo và bò khoảng 40%, trở thành lựa chọn protein hàng đầu cho các hộ gia đình nhạy cảm với giá cả. Người tiêu dùng Philippines ngày càng ưu tiên thực phẩm lành mạnh, giàu protein, ít chất béo, với hơn 60% khảo sát cho biết quan tâm đến thành phần dinh dưỡng tốt cho sức khỏe. Sự phát triển của chuỗi cửa hàng ăn nhanh và nhà hàng giới hạn dịch vụ chuyên về gà cũng thúc đẩy nhu cầu. Các chuỗi dự kiến mở rộng gần 9% trong năm 2026, đồng thời hợp đồng cung cấp thực phẩm ổn định mang lại cơ hội thị trường vững chắc cho nhà sản xuất. Thịt gà chế biến sẵn và gà nấu nhanh ngày càng được ưa chuộng. Nhập khẩu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định nguồn cung và giá cả. Việc gỡ bỏ lệnh cấm và công nhận các nhà cung cấp mới (Brazil, các bang Mỹ, Argentina…) giúp đa dạng hóa chuỗi cung ứng, đảm bảo khối lượng nhập khẩu ổn định khi sản xuất trong nước biến động. Các yếu tố khác bao gồm thay đổi lối sống đô thị, ưu tiên sản phẩm tiện lợi, chế biến sẵn, tiến bộ công nghệ, và chương trình chính phủ hỗ trợ năng suất trang trại, quản lý dịch bệnh. Nhu cầu tiêu dùng tiếp tục được thúc đẩy, đặc biệt khi ngành heo gặp khó khăn do dịch tả heo châu Phi (ASF), khiến nhiều hộ gia đình chuyển sang gà như nguồn protein thay thế.
TUẤN MINH
(Theo AsiaAgribiz)
NHÌN RA THẾ GIỚI
23
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
INDONESIA
Chiến lược phục hồi ngành heo Ngành nuôi heo Indonesia phục hồi sau dịch tả heo châu Phi (ASF), tập trung tái lập đàn, nâng cấp di truyền và củng cố an toàn sinh học, vừa bảo đảm nguồn cung trong nước vừa mở rộng xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Nhân tố an ninh lương thực
Sauland Sinaga, Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi Indonesia (AMI) khẳng định, nuôi heo là mắt xích thiết yếu trong hệ thống thực phẩm quốc gia. Sản lượng tại các tỉnh có sự khác biệt, nhưng ngành này đóng góp đáng kể vào sinh kế địa phương và nguồn cung protein. Dù chịu tác động nặng nề từ dịch ASF, thịt heo vẫn được tiêu thụ nhiều tại nhiều tỉnh, khiến việc phục hồi ngành trở nên cấp thiết cho an ninh lương thực. Theo ông Sauland Sinaga, tiềm năng kinh tế của ngành vẫn mạnh mẽ. Thị trường nội địa cần khoảng 1,2 triệu con heo mỗi năm, trong khi xuất khẩu, đặc biệt sang Singapore, đang dần hồi phục với mục tiêu 365.000 con/ năm. Các khu công nghiệp mỏ như Morowali và Halmahera cũng tạo nhu cầu khoảng 5.000 tấn thịt heo mỗi năm. Giá trị ngành ước đạt khoảng 360 triệu USD mỗi năm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phục hồi và nâng cao khả năng chống chịu.
Tái đàn và nâng cấp di truyền
Một bước đi quan trọng trong kế hoạch phục hồi là tái đàn. Ông Sinaga cho biết, Indonesia đặt mục tiêu tái lập 4,5 triệu con heo, trong đó có 510.000 nái. Để củng cố năng lực sinh sản, khoảng 51.000 nái mới, chiếm 10% tổng số, sẽ được bổ sung hàng năm.
Kế hoạch cũng đặt mục tiêu tỷ lệ tái đàn 10% mỗi năm (khoảng 25.000 con/năm) nhằm xây dựng lại đàn trong khi dần giảm rủi ro tái phát dịch. Để thúc đẩy tiến bộ di truyền, Indonesia nhập khẩu heo ông bà (GPS), heo bố mẹ (PS) và tinh trùng đông lạnh. Các cải tiến di truyền này, đặc biệt từ Đan Mạch, dự kiến sẽ tăng năng suất đáng kể, nâng số heo con trung bình mỗi lứa từ 8,2 lên 16 con. Tiêm vaccine đóng vai trò trung tâm trong việc đảm bảo tái đàn bền vững. Ngành đặt mục tiêu cung cấp 4 triệu liều vaccine ASF mỗi năm, bảo vệ cả đàn sinh sản và nuôi thịt. Ông Sinaga cho biết, Indonesia đã thử nghiệm vaccine Avac ASF sống, được phép sử dụng có giới hạn. Kết quả sơ bộ cho thấy vaccine có thể cung cấp miễn dịch kéo dài 4 - 6 tháng, mở ra hy vọng ổn định đàn heo tại các vùng nguy cơ cao.
Thức ăn an toàn - “Chìa khóa” bền vững
Basilisa P. Reas, Giám đốc Kỹ thuật của Hội đồng Xuất khẩu đậu nành Mỹ (USSEC) nhấn mạnh rằng, khi đàn heo được phục hồi, chú trọng đến an toàn sinh học thức ăn là điều cực kỳ quan trọng nhưng thường bị đánh giá thấp. Bà Reas cho rằng, bảo vệ thức ăn khỏi ô nhiễm là bước cần thiết cho sản xuất bền
vững. Các biện pháp phòng ngừa như kiểm toán nhà cung cấp, chứng nhận không mầm bệnh, xử lý nhiệt, và lưu trữ có kiểm soát hiệu quả hơn nhiều so với phản ứng khi đã xảy ra ô nhiễm. Ngoài ra, phân tách nghiêm ngặt trong sản xuất, quy trình vệ sinh và giao hàng an toàn cũng giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh. An toàn sinh học thức ăn còn liên quan đến bền vững môi trường. Nuôi chính xác giúp heo nhận đủ axit amin cần thiết, giảm lãng phí và khí thải nhà kính. Nguyên liệu chất lượng cao liên tục, như bã đậu nành Mỹ, cải thiện hiệu suất thức ăn và tăng cường miễn dịch, giúp đàn heo khỏe mạnh và chống chịu tốt hơn với dịch bệnh. Như vậy, dinh dưỡng không chỉ là yếu tố sinh lợi mà còn là trụ cột của sức khỏe đàn heo. Indonesia đang từng bước khôi phục ngành nuôi heo sau cú sốc dịch ASF, kết hợp giữa tái đàn, nâng cấp di truyền, tiêm phòng vaccine và đảm bảo an toàn sinh học thức ăn. Chiến lược này không chỉ bảo vệ sinh kế nông dân mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và an ninh lương thực quốc gia.
VŨ ĐỨC
(Theo LivestockMagazine)
24
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Việt Nam nhập khẩu thịt vượt 800.000 tấn Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, từ tháng 1 đến tháng 10/2025, Việt Nam nhập khẩu 811.300 tấn thịt và sản phẩm thịt, đạt kim ngạch 1,62 tỷ USD, tương đương khoảng 52.000 đồng/kg. So với cùng kỳ 2024, lượng nhập khẩu tăng 15,3% và giá trị tăng 14,4%. Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung ứng lớn nhất, chiếm 18,52% tổng lượng nhập, tương đương 150.200 tấn với trị giá hơn 535 triệu USD. Bên cạnh nguồn hàng từ Ấn Độ, doanh nghiệp Việt Nam cũng mở rộng nhập khẩu từ Nga, Mỹ, Brazil, Canada, Ba Lan, Tây Ban Nha và Trung Quốc. Trong cơ cấu nhập khẩu, thịt và phụ phẩm gia cầm tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất với 36,33% về lượng; tiếp đó là thịt trâu đông lạnh chiếm gần 17% về lượng nhưng chiếm hơn 30% về giá trị. Thịt heo tươi hoặc đông lạnh đứng thứ ba với gần 20% về lượng và gần 22% về giá trị; thịt bò chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, chỉ khoảng 3,79% lượng nhập khẩu. Ngoài ra, nhóm phụ phẩm ăn được của heo, trâu, bò cũng chiếu tỷ trọng gần 19% về lượng.
10 tháng, Việt Nam nhập 159.400 tấn thịt heo Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, 10 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã nhập 159.400 tấn với giá trị 358,3 triệu USD. Đây là mức tăng trưởng rất mạnh, đạt 95,7% về lượng và 90,8% về giá trị so với năm 2024. Giá nhập khẩu bình quân đạt 2.240 USD/tấn, tương đương khoảng 58.300 đồng/kg, giảm nhẹ 2,7%. Thịt heo được nhập từ 25 thị trường khác nhau, trong đó Nga, Brazil, Canada, Đức và Tây Ban Nha là nhóm cung cấp chủ lực. Theo ông Nguyễn Kim Đoán, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, ngành chăn nuôi trong nước đang chịu tác động cùng lúc của hai yếu tố: nguồn cung nội địa dồi dào và lượng thịt nhập khẩu tăng mạnh, trong khi sức tiêu thụ lại ở mức thấp. Điều này khiến giá heo hơi giảm sâu, đẩy người nuôi vào cảnh thua lỗ.
Xuất khẩu thức ăn gia súc 10 tháng năm 2025 tăng 35,5% Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc tháng 10/2025 tăng 9,5% so với tháng 9/2025 và tăng mạnh 52,7% so với tháng 10/2024, đạt trên 148,2 triệu USD. Tính chung 10 tháng năm 2025 xuất khẩu nhóm hàng này đạt trên 1,15 tỷ USD, tăng 35,5% so với 10 tháng năm 2024. Nhìn chung, xuất khẩu thức ăn gia súc trong 10 tháng năm 2025 sang đa số thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thức ăn gia súc xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc, chiếm 45% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 518,92 triệu USD, tăng 54,4% so với 10 tháng năm 2024; trong đó riêng tháng 10/2025 đạt gần 74,82 triệu USD, tăng 20,6% so với tháng 9/2025 và tăng mạnh 102,7% so với tháng 10/2024.
Giá heo bật tăng trở lại Ngày 19/12, thị trường heo hơi trong nước tiếp tục ghi nhận đà tăng rõ rệt tại nhiều địa phương phổ biến ở mức 64.000 - 67.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giá lên mức cao so với những tuần trước. Hoạt động thu mua sôi động trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ cuối năm tăng mạnh đã khiến giá heo hơi tại nhiều khu vực duy trì xu hướng đi lên. Như tại miền Bắc, giá heo hơi tăng mạnh và giữ ở mức cao nhất cả nước. Nhiều địa phương ghi nhận mức thu mua
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
phổ biến từ 64.000 - 67.000 đồng/kg, trong đó một số khu vực đã chạm mốc 67.000 đồng/kg. Lượng heo xuất chuồng được tiêu thụ nhanh, phản ánh sức mua lớn từ thương lái và các cơ sở giết mổ. Xét theo chu kỳ lịch sử, giá thường bật tăng mạnh sau khi giảm sâu vì dịch bệnh; năm nay bức tranh đó lặp lại trong bối cảnh cung sụt giảm và cầu cuối năm tăng mạnh, đặc biệt giai đoạn cao điểm tiêu thụ trước Tết.
HẢI PHÒNG
Giá trị sản xuất toàn ngành chăn nuôi ước đạt 13.047 tỷ đồng Năm 2025, lĩnh vực chăn nuôi trên địa bàn thành phố Hải Phòng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi giá trị sản xuất tăng trưởng khá, công tác phòng chống dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, quy mô đàn vật nuôi và sản lượng tiếp tục duy trì ổn định, đáp ứng mục tiêu đề ra. Theo Chi cục Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng), năm 2025 hoạt động chăn nuôi của thành phố tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực. Giá trị sản xuất toàn ngành ước đạt 13.047 tỷ đồng, tăng 3,42% so với năm 2024 và vượt 1,04% so với kế hoạch đề ra. Đến nay, toàn thành phố có 3.890 trang trại chăn nuôi, trong đó gồm 1.012 trang trại chăn nuôi heo (25 trang trại quy mô lớn, 288 trang trại quy mô vừa, 699 trang trại quy mô nhỏ) và 2.878 trang trại chăn nuôi gia cầm (3 trang trại quy mô lớn, 644 trang trại quy mô vừa, 2.131 trang trại quy mô nhỏ).
BẮC NINH
Người chăn nuôi Yên Thế cung cấp cho thị trường 3 4 triệu con gà mỗi năm Nhờ khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh, chăn nuôi gà đồi trở thành mũi nhọn trong phát triển kinh tế của xã Yên Thế. Hiện tại, mỗi năm người chăn nuôi trên địa bàn xã cung cấp ra thị trường 3 - 4 triệu con gà, sản lượng trứng đạt trên 3 triệu quả, giá trị sản xuất khoảng 300 400 tỷ đồng với gần 100 hộ chăn nuôi thường xuyên quy mô từ 1.000 con/lứa trở lên. Chăn nuôi phát triển, đời sống của người dân xã Yên Thế ngày càng khấm khá, thu nhập trung bình của người dân trong năm 2025 ước đạt 57 triệu đồng/ người; tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã ngày càng giảm, cuối năm 2025 xuống còn 1,28%. Hiện tại, tổng đàn gia cầm, thủy cầm của xã duy trì ổn định từ 1,3 - 1,5 triệu con, trong đó đàn gà ổn định 1 - 1,1 triệu con; cơ cấu giống gà theo hướng đa dạng sản phẩm; tổng đàn điều chỉnh hợp lý từng thời điểm trong năm nhằm phù hợp yêu cầu thị trường.
ANH VŨ
(Tổng hợp)
25
26
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Diễn biến giá trứng loại A tại Châu Âu Nguồn:Europa
TÂY BAN NHA
Dịch tả heo xuất hiện sau 30 năm Tây Ban Nha xác nhận rằng, hai con heo rừng được tìm thấy đã chết trong công viên Collserola, cách Barcelona 21 km, đã có kết quả xét nghiệm dương tính với dịch tả heo châu Phi. Những nỗ lực kiểm soát dịch bệnh đã được tăng cường vào ngày 30/11, với 300 cảnh sát và các đặc vụ nông thôn được triển khai, tiếp theo là sự hỗ trợ của 117 thành viên của đơn vị khẩn cấp quân sự UME của Tây Ban Nha vào ngày 1/12. Bộ trưởng Nông nghiệp Tây Ban Nha Luis Planas cho biết, khoảng một phần ba giấy chứng nhận xuất khẩu thịt heo của nước này đã bị chặn do dịch bệnh, dù cho đến nay chưa có trang trại nào bị ảnh hưởng.
Nhập khẩu thịt heo và phụ phẩm của Trung Quốc Từ tháng 1 - 9/2025 Nguồn: 333
PHÁP
Thị trường thức ăn chăn nuôi tăng trưởng trở lại Trong niên vụ 2024/25, sản lượng thức ăn chăn nuôi của Pháp tăng 19,5 tấn (0,9%) so với niên vụ trước. Cụ thể, sản lượng thức ăn cho gia súc tăng 1,8%, đạt 5,5 triệu tấn, trong đó 3,9 triệu tấn cung cấp cho các trang trại chăn nuôi bò sữa. Sản lượng thức ăn hỗn hợp dành cho heo chỉ giảm 0,42% xuống còn hơn 4,2 triệu tấn, một sự ổn định sau nhiều năm sụt giảm mạnh do ngành chăn nuôi heo của Pháp tiếp tục thu hẹp. Doanh số thức ăn chăn nuôi gia cầm tăng 1,2%, với sản lượng 8,1 triệu tấn. Sản lượng thức ăn cho cừu và dê đạt 760.000 tấn, tăng 1,73%; sản lượng thức ăn cho thỏ là 185.000 tấn, giảm 6,9% do ngành này liên tục suy giảm. Dự kiến, sản lượng thức ăn chăn nuôi của Pháp sẽ tiếp tục tăng thêm, đạt 20 triệu tấn trong niên vụ 2025/26.
HÀN QUỐC
Lần đầu tiên xuất khẩu thịt heo tươi sang Singapore Tổng mức sử dụng kháng sinh trên heo được ghi nhận trong eMB năm 2024 Nguồn: eMB, AHDB
Hàn Quốc vừa lần đầu tiên xuất khẩu thịt bò và thịt heo sang Singapore, đánh dấu cột mốc quan trọng sau 10 năm đàm phán. Chuyến hàng đầu tiên gồm 4,5 tấn thịt trị giá 280 triệu won (khoảng 190.000 USD) được vận chuyển sau khi hai nước ký thỏa thuận chính thức về xuất khẩu. Thỏa thuận này mở ra thị trường cho thịt bò cao cấp “hanwoo” và thịt heo của Hàn Quốc, đặc biệt là từ đảo Jeju, nơi đã được Tổ chức Thú y Thế giới công nhận là vùng an toàn về bệnh lở mồm long móng (FMD) vào tháng 5/2025. Singapore là quốc gia có tiêu chuẩn nhập khẩu rất nghiêm ngặt. Đối với thịt heo và các sản phẩm chăn nuôi khác, Singapore yêu cầu bằng chứng chứng minh khu vực xuất khẩu không có dịch lở mồm long móng, được chứng nhận bởi Tổ chức Thú y Thế giới.
INDONESIA
Đầu tư 1,2 tỷ USD xây dựng nhà máy thức ăn chăn nuôi Indonesia dự kiến sẽ đầu tư 1,2 tỷ USD để xây dựng thêm các nhà máy thức ăn. Dự án dự kiến sẽ được triển khai theo 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, Bộ Nông nghiệp Indonesia sẽ lựa chọn 12 địa điểm để xây dựng nhà máy. Giai đoạn 2, Bộ sẽ xây thêm 18 nhà máy. Nhà máy đầu tiên dự kiến khởi công vào năm 2026. Địa điểm xây dựng nhà máy ưu tiên thuộc Kalimantan, Sulawesi và Papua - những khu vực thường xuyên thiếu hụt thức ăn chăn nuôi; các khu vực có sản lượng thức ăn chăn nuôi dồi dào sẽ được giảm công suất, do chính phủ đặt
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
mục tiêu cân bằng nguồn cung, giảm chênh lệch giữa các vùng. Song song đó, Bộ Nông nghiệp nước này đã công bố kế hoạch áp dụng giá mua ngô cố định từ nông dân và giá bán lẻ tối đa cho người chăn nuôi nhằm đảm bảo ổn định giá cả và tăng cường bảo vệ người nông dân. Ngoài ra, mục đích của dự án là thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng sản xuất thức ăn chăn nuôi của Indonesia. Sản lượng thức ăn chăn nuôi của Indonesia sẽ tăng từ 26 - 28 triệu tấn vào năm 2024 lên 35 - 40 triệu tấn vào năm 2026.
NEWZEALAND
Tháng 10, xuất khẩu thịt đỏ đạt 827 triệu USD Theo Hiệp hội Công nghiệp Thịt Newzealand (MIA), xuất khẩu thịt đỏ của quốc gia này đạt 827 triệu USD vào tháng 10, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2024. Giá trị xuất khẩu sang các thị trường lớn đều tăng, trong đó Mỹ đạt 196 triệu USD, tăng 36%; EU đạt 159 triệu USD, tăng 31%; Anh đạt 64 triệu USD, tăng 130% và Canada 52 triệu USD, tăng 55%. Chỉ riêng thị trường Trung Quốc giảm 8%. Trong tháng 10, Newzealand đã xuất khẩu 27.239 tấn thịt cừu với giá trị 390 triệu USD; 24.718 tấn thịt bò, với giá trị 285 triệu USD.
AUSTRALIA
Sản lượng dê đạt cao kỷ lục Cục Thống kê Australia (ABS) mới đây đã công bố dữ liệu chính thức về hoạt động giết mổ và sản xuất thịt dê trong quý III của quốc gia này. Cụ thể, đã có hơn 1 triệu con dê (gồm 993.034 con dê trưởng thành và 23.763 con dê non) được giết mổ. Đây là con số kỷ lục từng được ghi nhận, vượt qua mức cao trước đó được thiết lập vào quý I năm nay. Sản lượng thịt dê vì thế cũng đạt mức kỷ lục, với 16.225 tấn.
BỈ
Giá trứng tăng cao Việc loại bỏ dần nuôi gà bằng lồng ở Bỉ, do quy định về phúc lợi động vật nghiêm ngặt hơn, làm giảm đáng kể năng suất của ngành trứng nước này. Tổ chức Landsbond Pluimvee cảnh báo việc chuyển đổi sang các hệ thống thay thế gần như là không thể do các yêu cầu pháp lý về khí hậu và môi trường ngày càng được thắt chặt. Nguồn cung giảm nhanh chóng trong khi nhu cầu trứng tăng lên hàng năm khiến giá trứng tăng cao. Hiện, giá trứng gà thả vườn nâu nặng 62,5 g là 18,46 eurocent (hơn 560.000 đồng), cao hơn gần 300% so với 5 năm trước. Giá trứng dự báo sẽ đạt đỉnh trong thời gian tới và sẽ không quay lại mức thấp như trước nữa.
HÀ LAN
Giá sữa tách béo và giá phô mai giảm Giá sữa tách béo cô đặc đã có sự phục hồi nhẹ trong những tuần gần đây, nhưng hiện đã giảm xuống còn 1,10 euro/kg, dự báo còn xuống dưới 1 euro/kg quanh dịp Giáng sinh. Thị trường sữa bột tách béo hiện tương đối ổn định, với giá trung bình dao động quanh mức 2.000 euro/tấn. Tuy nhiên, một số nhà giao dịch tin rằng giá có thể giảm hơn nữa. Giá phô mai Gouda non và mozzarella đang giảm xuống còn 2,9 euro/kg và dự kiến sẽ giảm tiếp trong tháng đầu tiên của năm 2026.
ĐỨC DŨNG
(Tổng hợp)
27
28
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
30
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
MÁY PHÂN LOẠI TRỨNG
Giải pháp tối ưu cho trang trại hiện đại Trong bối cảnh ngành chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển, nhu cầu nâng cao năng suất và tối ưu hóa chất lượng sản phẩm trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đặc biệt với các trang trại quy mô vừa và lớn, việc phân loại trứng thủ công không chỉ tốn nhiều nhân công mà còn dễ xảy ra sai sót. Đây chính là lý do máy phân loại trứng ra đời - một bước tiến công nghệ giúp tự động hóa toàn bộ quá trình, mang lại sự chính xác, tốc độ và hiệu quả vượt trội. Máy phân loại trứng hiện đại hoạt động dựa trên hệ thống cảm biến thông minh, motor truyền động ổn định và phần mềm điều khiển tối ưu. Trứng sau khi đưa lên băng tải sẽ được máy tự động nhận diện kích thước, trọng lượng, độ sạch, thậm chí phát hiện vết nứt vi mô mà mắt thường khó nhìn thấy. Dựa trên các thông số này, máy sẽ nhanh chóng phân chia trứng vào từng cấp độ khác nhau như: loại nhỏ, trung bình, lớn, hoặc loại đặc biệt (theo size mà chúng ta muốn phân loại). Điểm nổi bật của dòng máy này là tốc độ xử lý cực nhanh, mỗi giờ có thể phân loại hàng nghìn quả trứng, giúp tiết kiệm đến 70 80% thời gian so với phân loại thủ công. Nhờ độ chính xác cao, máy cũng đảm bảo sự đồng đều trong từng lô sản phẩm, giúp nâng cao giá bán và uy tín thương hiệu của trang trại. Không chỉ tối ưu hiệu suất, máy phân loại trứng còn được thiết kế thân thiện và dễ sử dụng. Quy trình vận hành rất đơn giản, chỉ cần thực hiện vài thao tác cơ bản để máy bắt đầu hoạt động ổn định. Hệ thống cảnh báo giúp phát hiện lỗi và hướng dẫn xử lý ngay lập tức, hạn chế tối đa rủi ro trong quá trình vận hành. Đặc biệt, thiết kế nhỏ gọn, inox chống gỉ và dễ vệ sinh khiến máy phù hợp với nhiều không gian trang trại khác nhau. Bên cạnh đó, việc ứng dụng máy phân loại trứng còn giúp giảm thiểu chấn động gây nứt vỏ, đảm bảo trứng giữ được độ tươi và chất lượng tối ưu khi đến tay người tiêu dùng. Các trang trại sử dụng máy đều ghi nhận năng suất tăng đáng kể, trong khi chi phí nhân công và tỷ lệ hư hỏng giảm mạnh. Có thể nói, máy phân loại trứng không chỉ là thiết bị hỗ trợ, mà là một giải pháp chiến lược cho những trang trại hướng đến mô hình sản xuất hiện đại, chuyên nghiệp và bền vững. Trong thời kỳ công nghiệp hóa nông nghiệp, đầu tư vào công nghệ chính là chìa khóa mở ra sự cạnh tranh và tăng trưởng lâu dài.
B.H.N
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96 Website: bhnenc.com Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: DP-18, Dragon Parc 2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh
32
HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
33
34
VIETAGROS 2026 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
15 - 17/4
VIETAGROS 2026
THÚC ĐẨY XU HƯỚNG
TIÊU DÙNG XANH
INFO@VIETAGROS.VN
HOTLINE (+84) 832 688 086
VIETAGROS 2026
35
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Trong xu thế phát triển hiện nay, sản xuất và tiêu dùng xanh không chỉ là lựa chọn của xã hội hiện đại mà còn là hướng đi tất yếu để xây dựng nền kinh tế bền vững. Nông nghiệp xanh - tiêu dùng xanh
Ở nước ta, ngành nông nghiệp đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ với nhiều mô hình sản xuất an toàn, tuần hoàn, thân thiện môi trường. Đó cũng là nền tảng quan trọng để người tiêu dùng tiếp cận với những sản phẩm nông nghiệp xanh, chất lượng và đáng tin cậy. Xu hướng tiêu dùng xanh ở nước ta ngày càng phát triển, khi người tiêu dùng ngày càng ưu tiên sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường và các thương hiệu có trách nhiệm với xã hội. Thói quen tiêu dùng thay đổi từ đó thúc đẩy sản xuất nông nghiệp xanh phát triển mạnh mẽ hơn. Cùng với sự chuyển đổi tư duy của người dân, những năm gần đây, nhiều chính sách phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững của Đảng và Nhà nước được ban hành đã tạo ra bước tiến quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Theo công bố của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2024 đạt 62,5 tỷ USD, mức cao kỷ lục. Các mặt hàng như gạo, cà phê, trái cây, thủy sản tiếp tục duy trì vị thế trên thị trường xuất khẩu. Cùng với đó, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) có hơn 16.500 sản
phẩm đạt từ 3 sao trở lên, góp phần định hình thương hiệu nông sản Việt. Nhiều địa phương đã chủ động chuyển đổi mô hình canh tác, giảm sử dụng hóa chất, tăng cường ứng dụng công nghệ cao, hướng đến sản xuất sạch và thân thiện môi trường.
Kiến tạo - kết nối
Sự đồng hành của 4 chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân và người tiêu dùng dần mở ra nhiều cơ hội trong hành trình phát triển nông nghiệp xanh ở nước ta. Nhận thức được điều này, Hội chợ triển lãm Quốc tế Công nghệ Nông nghiệp và Môi trường - VietAgros 2026 ra đời với mục tiêu trở thành cầu nối quan trọng giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân, cùng hướng tới một nền nông nghiệp xanh, bền vững. Hội chợ trưng bày, giới thiệu nhiều sản phẩm, dịch vụ, công nghệ trong lĩnh vực thủy sản. Bên cạnh đó, những ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, kết quả nghiên cứu mới nhất trong và ngoài nước cũng sẽ xuất hiện tại VietAgros 2026, giúp khách tham quan có thể tiếp cận và lựa chọn những sản phẩm phù hợp, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
VietAgros 2026 tạo cơ hội thúc đẩy, mở rộng quan hệ hợp tác giao lưu kinh tế, quảng bá thương hiệu, giới thiệu, tôn vinh những sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế; trên cơ sở đó, củng cố vững chắc vị thế, khai thác hiệu quả thị trường nội địa và xuất khẩu. Đặc biệt, Hội chợ còn là diễn đàn mở cho ngành thủy sản. Tại đây, người chăn, doanh nghiệp, nhà quản lý và nhà khoa học có thể trao đổi, kết nối, chia sẻ, phổ biến kiến thức, nhằm hướng tới một mục tiêu chung là xây dựng một nền thủy sản xanh, bền vững tại Việt Nam. Hội chợ triển lãm Quốc tế Công nghệ Nông nghiệp và Môi trường - VietAgros 2026 sẽ diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 15 đến 17/4/2026 tại Công viên Sông Hậu, phường Cái Khế, TP. Cần Thơ. Với quy mô 250 gian hàng cùng 4 phiên Hội thảo và chương trình “Tôn vinh doanh nghiệp uy tín, cam kết hành động vì cộng đồng”, Hội chợ dự kiến sẽ thu hút trên 10.000 lượt khách trong nước và quốc tế tới tham dự.
CHUNG LINH
36
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
QPB
Bước tiến chiến lược cùng Arbor Acres tại Pakistan Quality Poultry Breeders (QPB) đang khẳng định vị thế dẫn đầu thị trường giống gia cầm Pakistan với lứa Arbor Acres ông bà thứ 60, đánh dấu gần ba thập kỷ hợp tác bền bỉ cùng Aviagen. Cột mốc mới thể hiện chiến lược phát triển dài hạn và cam kết chất lượng của doanh nghiệp.
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
37
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Q
uality Poultry Breeders (QPB), doanh nghiệp đặt trụ sở tại Islamabad, đã đạt một dấu mốc quan trọng với lứa gà giống Arbor Acres® ông bà thứ 60, minh chứng rõ nét cho gần 30 năm đồng hành và phát triển cùng Aviagen®. Hành trình của QPB với Arbor Acres bắt đầu năm 1996 với lứa 5.000 gà giống ông bà đầu tiên. Từ nền tảng ban đầu đó, Công ty từng bước trở thành một trong những nhà cung cấp giống bố mẹ uy tín nhất Pakistan, hiện cung ứng hơn 3 triệu gà giống/năm cho các trang trại và hệ thống chăn nuôi trên toàn quốc. Sự tăng trưởng vững vàng của tầng lớp trung lưu, nhu cầu tiêu thụ thịt gà hằng ngày và triển vọng GDP khả quan nhờ cơ cấu dân số trẻ đã tiếp thêm động lực cho đà mở rộng của ngành gia cầm Pakistan, đồng thời củng cố cam kết của QPB trong việc phát triển thương hiệu Arbor Acres tại thị trường này. Đón đầu nhu cầu ngày càng tăng,
QPB mới đây đã đưa vào vận hành trang trại gà ông bà thứ năm thuộc sở hữu Công ty, góp phần tăng cường nguồn cung nội địa cho dòng giống Arbor Acres có sức khỏe và hiệu suất vượt trội. Trong chuyến thăm văn phòng Aviagen tại Bangkok, đội ngũ sáng lập QPB gồm tiến sĩ Mohammed Amjad - Tổng Giám đốc điều hành; tiến sĩ Akram Sarosh Giám đốc điều hành và Giám đốc vận hành Jahanzaib Amjad đã ký kết thỏa thuận cung ứng gà ông bà mới, tiếp tục khẳng định tầm nhìn dài hạn và sự gắn bó của hai bên đối với tương lai ngành gia cầm Pakistan. “Arbor Acres vẫn là giống gà được ưa chuộng nhất tại Pakistan. Chúng tôi tự hào nuôi dưỡng mối quan hệ gần 30 năm với Aviagen, để QPB luôn mang đến thị trường nguồn giống bố mẹ dẫn đầu về chất lượng và hiệu suất” - ông Jahanzaib Amjad chia sẻ. Ông DeWet Nortje, Giám đốc
kinh doanh khu vực APAC của Aviagen, nhận định: “Sức mạnh của Arbor Acres đến từ trọng tâm phát triển bền vững và phúc lợi vật nuôi mà đội ngũ nghiên cứu đặt vào từng cá thể. Chúng tôi vui mừng khi những cam kết này cùng sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia hiện trường tiếp tục tạo giá trị gia tăng rõ rệt cho khách hàng tại Pakistan”.
LIÊN HỆ TRUYỀN THÔNG: Dominic Elfick Tel: +61 409 828482 Email: delfick@aviagen.com
38
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
KIỂM SOÁT KHÁNG SINH TRONG CHĂN NUÔI GÀ
Hướng đi bền vững từ Dabaco Trong bối cảnh ngành chăn nuôi Việt Nam đang tiến tới chuẩn hóa theo hướng an toàn - bền vững, vấn đề kiểm soát sử dụng kháng sinh trong sản xuất gia cầm trở thành yêu cầu cấp thiết. Việc lạm dụng kháng sinh không chỉ làm gia tăng nguy cơ kháng kháng sinh ở người, mà còn ảnh hưởng tới uy tín của sản phẩm chăn nuôi Việt trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhận thức rõ trách nhiệm đó, Công ty gà giống Dabaco đã triển khai chương trình Kiểm soát kháng sinh có điều kiện, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp từ sử dụng vaccine phòng bệnh và tạo môi trường cân bằng, hài hòa gần với tự nhiên, thiết lập vành đai an toàn sinh học trong và bên ngoài chuồng nuôi đến bên trong bằng dinh dưỡng, nhằm đảm bảo đàn gà khỏe mạnh tự nhiên, giảm tối đa nhu cầu can thiệp bằng thuốc. 1. Kiểm soát từ gốc: An toàn sinh học bằng thảo dược tự nhiên Thay vì phụ thuộc vào hóa chất, Dabaco ứng dụng các giải pháp an toàn sinh học
ngoài chuồng trại dựa trên cây trồng bản địa giàu tinh dầu: Sả, lá lốt, hương nhu… được trồng quanh khu vực trang trại giúp xua đuổi muỗi, ruồi, côn trùng - tác nhân mang mầm bệnh nguy hiểm. Thảo dược có tinh dầu tự nhiên giúp tạo môi trường sạch khuẩn, giảm áp lực mầm bệnh xâm nhập đàn gà. Kết hợp đồng bộ cùng quy trình khử trùng, kiểm soát người - xe - dụng cụ theo chuẩn ISO. Việc đưa yếu tố sinh học tự nhiên vào hệ thống an toàn sinh học giúp hạn chế tối đa nguy cơ phát sinh dịch bệnh - nguyên nhân
chính khiến trang trại phải dùng tới kháng sinh. 2. Sức khỏe đàn gà được xây từ bên trong: Chương trình dinh dưỡng tùy chỉnh Một trụ cột quan trọng trong chương trình kiểm soát kháng sinh của Dabaco là dinh dưỡng tùy chỉnh (Customized Nutrition): Khẩu phần được thiết kế riêng theo mỗi giống gà, từng giai đoạn phát triển, từng mục tiêu sản xuất. Tối ưu tiêu hóa - miễn dịch, giúp gà khỏe mạnh, tăng sức đề kháng tự nhiên. Tăng sức khỏe đường ruột, tăng tỷ lệ hấp thu dưỡng chất, giảm lãng phí qua phân, giảm
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
39
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
các bệnh tiêu hóa như: cầu trùng, ecoli, viêm ruột hoại tử… và các bệnh hô hấp: CRD, ORT… đây là những bệnh lý thường phải dùng kháng sinh điều trị. Tăng cường hệ miễn dịch nội sinh (phát triển tối ưu hệ thống kháng thể không đặc hiệu); Tăng đồng đều, giảm hao hụt, nâng cao năng suất và chất lượng gà giống thương phẩm. Nhờ dinh dưỡng phù hợp “đúng nhu cầu - đủ liều lượng và đúng thời điểm” nên giải tỏa tối đa tiềm năng di truyền giống, đàn gà khỏe mạnh hơn, đẻ cao và thời gian khai thác dài hơn, giảm nhu cầu dùng kháng sinh xuống mức tối thiểu. Gà giống thương phẩm có kháng thể nội sinh khỏe và kích hoạt đáp ứng miễn dịch vaccine sớm và tốt hơn. 3. Kháng sinh chỉ dùng khi cần thiết và có kiểm soát Dabaco áp dụng nguyên tắc “4 đúng” khi sử dụng kháng sinh: Đúng bệnh; Đúng liều; Đúng thời điểm; Đúng thời gian ngừng thuốc. Tất cả được giám sát bởi đội ngũ bác sĩ thú y chuyên môn cao, đảm bảo tuân thủ khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Qua đó, giảm chi phí kháng sinh 90% và hạn chế nhờn kháng sinh ở gà giống thương phẩm. 4. Hướng tới ngành chăn nuôi bền vững và minh bạch hơn Khai thác sức mạnh của thảo dược tự nhiên, nâng tầm dinh dưỡng, và kiểm soát kỹ thuật thú y chặt chẽ, Dabaco hướng tới mục tiêu: - Giảm phụ thuộc vào kháng sinh trong chăn nuôi; - Tạo ra gà giống khỏe mạnh, là khởi đầu cho chuỗi an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng; - Đồng hành cùng người chăn nuôi trong xu hướng “nông nghiệp sạch - thực phẩm chuẩn” của Việt Nam.
DABACO
ÔNG NGUYỄN NHƯ PHÁN
Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco Dabaco đã xây dựng phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 3 được Bộ Y tế công nhận, đồng thời dự kiến đầu tư Trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học hàng đầu cả nước để chủ động ứng phó với dịch bệnh mới nổi. Chỉ có đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành mới giúp doanh nghiệp và nông dân vượt qua áp lực cạnh tranh, hội nhập bền vững. Từ đó, một số giải pháp hạn chế sử dụng kháng sinh được đưa ra, bao gồm: Sử dụng vaccine phòng bệnh và tạo môi trường cân bằng, hài hòa gần với tự nhiên, thiết lập vành đai an toàn sinh học trong và bên ngoài chuồng nuôi. Giải pháp dinh dưỡng “3Đ”, trong đó, phân tích nhu cầu dinh dưỡng thực tế theo từng giai đoạn sinh trưởng và thực tế môi trường để cung cấp “đúng nhu cầu” - “đủ liều lượng” - “đúng thời điểm”, từ đó, tăng sức khỏe đường ruột, tăng hấp thu dưỡng chất. Hơn 10 năm trước, Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco đã tiên phong tiến hành chọn lọc, phục tráng, nhân thuần một số giống gà nội có nhiều ưu điểm vượt trội. Đến nay, các giống gà đã được cải thiện rõ rệt về mặt năng suất, tỷ lệ đẻ, chất lượng thịt, trọng lượng, sản lượng trứng, đặc biệt là giống gà Mía số 1 - Dabaco. Hiện, năng suất trứng của gà Mía số 1 - Dabaco đạt 230 - 240 quả/mái mỗi năm, tương đương so với các giống gà ngoại. Bên cạnh đó, giống gà này còn hội tụ đủ những yếu tố của loại gà đặc sản như: ngoại hình đẹp, bắt mắt (màu lông, màu da, màu chân), mào cờ, chất lượng thịt thơm ngon, thớ thịt dai…
➢ Hiện nay, việc sử dụng rộng rãi kháng sinh trong chăn nuôi ở Việt Nam làm gia tăng sự hiện diện của các vi khuẩn kháng thuốc. Bên cạnh đó, việc bán thuốc kháng sinh không theo đơn hay trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản mà không được giám sát về chuyên môn cho thấy thuốc kháng sinh đang được sử dụng một cách thiếu trách nhiệm gây ảnh hưởng không nhỏ đến an toàn thực phẩm và sức khỏe con người. Theo thống kê của ngành nông nghiệp thì có đến 75% kháng sinh trong chăn nuôi được nhập khẩu từ Trung Quốc, nhưng không được quản lý chặt chẽ trong tiêu thụ. Do đó, có tình trạng nhiều loại kháng sinh cấm hoặc hạn chế sử dụng vẫn được nhập khẩu và buôn bán tự do. Tình trạng kháng thuốc kháng sinh đang trở thành vấn đề quan ngại hàng đầu của Tổ chức Y tế Thế giới, trong đó Việt Nam được xếp vào “một trong những nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất trên thế giới". Kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi ở nước ta với 3 mục đích là trị bệnh, phòng bệnh, kích thích tăng trưởng. Việc bổ trợ thường xuyên một lượng kháng sinh liều thấp vào thức ăn, nước uống giúp diệt vi khuẩn có hại, làm giảm chi phí thức ăn, tăng khả năng hấp thụ, giúp vật nuôi tăng trưởng đã từng được cho là giải pháp tốt, nhưng hiện nay nhiều nước trên thế giới đã hạn chế, kiểm soát hoặc cấm sử dụng vì những tác động tiêu cực của nó. Về nguyên lý, khi một loại kháng sinh được sử dụng nhiều lần, vi khuẩn sẽ trở nên thích nghi, “nhờn” với loại kháng sinh đó khiến các chủng vi khuẩn sinh ra biến thể mới để vô hiệu hóa tác dụng của thuốc.
40
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
TCOLI
GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT TOÀN DIỆN E. COLI BẰNG TINH DẦU THỰC VẬT Tiêu chảy do E. coli là một trong những thách thức nghiêm trọng mà người chăn nuôi heo phải đối mặt, bởi tác động kinh tế lớn mà dịch bệnh này gây ra. Để kiểm soát tốt bệnh tiêu chảy, bên cạnh việc đảm bảo vệ sinh chuồng trại, điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý thì việc lựa chọn đúng phác đồ phòng và điều trị là yếu tố quyết định hiệu quả. Một trong những giải pháp hữu hiệu đến từ thương hiệu TVONE Việt Nam là sử dụng sản phẩm phụ gia thức ăn chăn nuôi chiết xuất từ thực vật - TCOLI. Sản phẩm được phát triển như một giải pháp thay thế kháng sinh hiệu quả, sử dụng tối ưu tổ hợp các tinh dầu thực vật có chức năng kháng khuẩn mạnh.
Tiêu chảy do E. coli: Thách thức kinh tế lớn
Trong chăn nuôi heo, tiêu chảy do E. coli là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất mà người chăn nuôi phải đối mặt. Thiệt hại mà bệnh gây ra là rất lớn, bao gồm sự gia tăng tỷ lệ bệnh, tỷ lệ chết và giảm tăng trọng
đáng kể. Mức độ nghiêm trọng của bệnh được thể hiện qua các con số: Tỷ lệ bệnh tiêu chảy do E. coli ở heo con theo mẹ có thể lên đến 100%; Tỷ lệ chết dao động từ 5% đến 100%; Thiệt hại kinh tế ước tính có thể lên đến 20.000 USD/năm/500 nái nếu tính một heo cai sữa giá khoảng 40 USD và tỷ lệ chết từ 2 - 7% . Bệnh tiêu chảy do E. coli xảy ra chủ yếu ở heo con theo mẹ và sau cai sữa. Đặc biệt, chủng gây bệnh chính là Enterotoxigenic E. coli (ETEC) thường hoạt động mạnh mẽ nhất trong giai đoạn từ 21 đến 42 ngày tuổi (heo nặng khoảng 7 - 15 kg). Vì sao heo con dễ mắc bệnh tiêu chảy? Heo con rất mẫn cảm và dễ mắc tiêu chảy
do E. coli bởi chúng phải trải qua nhiều giai đoạn stress quan trọng, làm suy yếu hàng rào bảo vệ đường ruột và hệ miễn dịch. - Stress cai sữa: Đây là giai đoạn khủng hoảng khi heo con bị tách mẹ, thay đổi từ sữa mẹ sang thức ăn khô, chuyển chuồng mới, ghép đàn mới, và chịu stress kỹ thuật, stress nhiệt. - Stress thức ăn và dinh dưỡng: Sự thay đổi từ sữa lỏng sang thức ăn khô đặc, hoặc dư thừa protein trong thức ăn là nguyên nhân hàng đầu. Protein dư thừa vượt quá khả năng tiêu hóa, cùng với việc giảm hoạt tính enzyme và thiếu HCl, dẫn đến tăng pH dạ dày, loạn khuẩn ruột. Protein không tiêu hóa hết sẽ được vi khuẩn gây bệnh sử dụng
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
41
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
để sinh độc tố (NH3, H2S) và làm tổn thương niêm mạc ruột.
Cơ chế gây bệnh
Vi khuẩn E. coli (ETEC) bám chặt vào niêm mạc ruột nhờ các yếu tố kết bám (F4, F5, F6, F41) và sản sinh độc tố (ST và LT). Các độc tố này kích hoạt phản ứng hóa học trong tế bào ruột, gây rối loạn điện giải và khiến nước bị mất ồ ạt vào lòng ruột (mất nước gây tiêu chảy nặng).
TCOLI - giải pháp kiểm soát toàn diện E. coli bằng tinh dầu thực vật
Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ 01/01/2026, kháng sinh sẽ không còn được phép sử dụng trong TĂCN với mục đích phòng bệnh. Trước đó, Việt Nam đã từng bước siết chặt: năm 2018 cấm dùng kháng sinh kích thích sinh trưởng, nay tiến tới loại bỏ hoàn toàn kháng sinh phòng bệnh. Động thái này phù hợp với xu thế quốc tế. Liên minh châu Âu (EU) đã áp dụng lệnh cấm từ năm 2006, nhiều quốc gia ASEAN như Thái Lan, Indonesia cũng đang thực thi. Đây là yêu cầu tất yếu trong chiến lược chống kháng kháng sinh (KKS), bảo đảm an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng. Trước lộ trình siết chặt sử dụng kháng sinh, nhiều doanh nghiệp đã chủ động thay đổi, thử nghiệm và tung ra các giải pháp thay thế; đẩy mạnh nghiên cứu công thức thức ăn không kháng sinh, bổ sung phụ gia sinh học, enzyme; đầu tư chuỗi chăn nuôi khép kín nhằm kiểm soát dịch bệnh. Trong bối cảnh đó, TCOLI được phát triển như một giải pháp thay thế kháng sinh hiệu quả, sử dụng tối ưu tổ hợp các tinh dầu thực vật có chức năng kháng khuẩn mạnh. Thành phần chính của TCOLI bao gồm: Cinnamaldehyde, Thymol, Eugenol, Carvacrol. Cơ chế tác động độc đáo: Tiêu diệt E. coli và bảo vệ niêm mạc ruột TCOLI không chỉ đơn thuần là tiêu diệt vi khuẩn mà còn can thiệp vào nhiều cơ chế bệnh lý, mang lại hiệu quả kép. Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn E. coli phá vỡ màng tế bào: TCOLI làm mất ổn định lớp kép phospholipid của màng tế bào vi khuẩn, phá vỡ tính toàn vẹn và thay đổi tính thấm, gây rò rỉ vật liệu nội bào. Rối loạn nội bào: Các loại tinh dầu trong TCOLI xâm nhập vào tế bào vi khuẩn qua các vết nứt gãy, tác động với chất nội bào gây rối loạn trao đổi chất và thay đổi hoạt tính các enzyme quan trọng cho
quá trình tổng hợp, sao chép và sửa chữa của vi khuẩn. Thu gom vi khuẩn: TCOLI giúp thu gom và dọn dẹp vi khuẩn E. coli gây bệnh trong đường ruột, khiến chúng bị bất hoạt và thải ra ngoài theo phân. Ngăn chặn màng biofilm - Một điểm mạnh vượt trội của TCOLI là khả năng ngăn cản sự hình thành màng biofilm của vi khuẩn E. Coli. Vi khuẩn gây bệnh thường hình thành màng biofilm để bám vào nhau, bảo vệ chúng khỏi môi trường khắc nghiệt, trao đổi gen và giảm nhẹ gánh nặng trao đổi chất. Quan trọng hơn, màng biofilm là hàng rào chống lại sự xâm nhập của kháng sinh và làm cho vi khuẩn có khả năng kháng thuốc cao hơn từ 10 đến 1.000 lần so với vi sinh vật đơn lẻ. Việc TCOLI ngăn chặn sự hình thành màng biofilm giúp tăng hiệu quả kiểm soát vi khuẩn. Chống viêm và bảo tồn niêm mạc ruột tiêu chảy luôn gây ra tình trạng viêm hệ thống dạ dày ruột, làm giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn. Các hoạt chất trong TCOLI (đặc biệt là Carvacrol, Thymol, Cinnamaldehyde) có tác dụng kháng viêm mạnh mẽ bằng cách ức chế lipoxygenase và cyclooxygenase - hai enzyme quan trọng trong quá trình hoạt hóa
➢ TCOLI là giải pháp toàn diện để kiểm soát tiêu chảy do E. coli ở heo con tập ăn và heo con sau cai sữa. TCOLI hoạt động như một “đội ngũ dọn dẹp” tinh nhuệ, vừa loại bỏ vi khuẩn gây bệnh bằng cách phá hủy lớp bảo vệ của chúng và ngăn chặn khả năng kháng thuốc (biofilm), vừa sửa chữa và bảo vệ “nhà máy” tiêu hóa (niêm mạc ruột), giúp heo con vượt qua giai đoạn stress cai sữa một cách khỏe mạnh và đạt được tăng trưởng tối ưu.
phản ứng viêm. Nhờ cơ chế kháng viêm, chống ôxy hóa, TCOLI bảo toàn sự toàn vẹn của niêm mạc ruột và giữ cho nhung mao khỏe mạnh. Điều này đảm bảo quá trình tiêu hóa và hấp thu diễn ra bình thường, giúp heo con nhanh chóng phục hồi và phát triển.
Thông tin liên hệ: Công ty Cổ phần TVOne Việt Nam Điện thoại: 024 320 13789 Hotline: 0967 388 606 Email: contact@tvonevietnam.vn Địa chỉ: Tầng 23 khối B, Tòa nhà Sông Đà, số 18 Phạm Hùng, Phường Từ Liêm, TP Hà Nội
TVONE VIỆT NAM
42
KHOA HỌC KỸ THUẬT
KỸ THUẬT CHĂM SÓC BÒ ĐẺ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Một số trường hợp bác sỹ thú y hoặc người nuôi hỗ trợ cho bò đẻ. Ảnh: pennlive
Trong chăn nuôi bò cái sinh sản, người chăn nuôi khi đã chọn được những con nái đẻ tốt và có thành tích sinh sản cao thì cần làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý đàn nái thời điểm mang thai và sau khi sinh con để giảm thiểu rủi ro, rút ngắn khoảng cách lứa đẻ/năm, nâng cao tỷ lệ đẻ/năm và từ đó sẽ giúp cho các nhà chăn nuôi đạt được hiệu quả năng suất cao nhất trong quá trình đầu tư. Chuồng nuôi
Chuồng nuôi bò chờ đẻ bố trí ở nơi yên tĩnh, tránh gây xáo động, sân vận động cho bò phải thoáng, bằng phẳng, cống rãnh không được quá sâu, bờ ngăn cách sân và chuồng không quá cao. Tuyệt đối không được gần nơi có chó thả rông. Tốt nhất là có người biết chuyên môn trực đỡ đẻ cho bò và phải trực 24 giờ/ngày. Trước khi đưa bò về chuồng đẻ cần phải vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, đảm bảo nền chuồng cao ráo, không trơn. Máng ăn, máng uống cần được cọ rửa sạch sẽ; chuẩn bị đệm lót chuồng cho bò đẻ; tắm chải rửa sạch các phần trên cơ thể bò.
Quan sát chẩn đoán bò sắp đẻ
Bò sắp đẻ đi lại nặng nề, bước chân không chính xác, bầu vú căng, mông sụt, âm hộ sưng to, có dịnh nhờn chảy ra. Bò có biểu hiện đau đớn, đi lại khó khăn, tâm trạng bồn chồn, hay đứng lên nằm xuống, hay đái dắt, đuôi thường cong lên. Người nuôi bò đẻ quan sát thấy các hiện
tượng trên phải rửa sạch phần thân sau bò cái, lau khô, sát trùng bộ phận sinh dục bên ngoài của bò, cho bò vào chuồng đẻ đã chuẩn bị sẵn, có lớp cỏ khô sạch lót nền dày 3 - 5 cm. Đồng thời cần chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ cho bò, báo cho bác sỹ thú y biết.
Chuẩn bị dụng cụ
Nước ấm, muối, thuốc sát trùng, khăn lau khô, mềm, dao, panh, dây thừng, chỉ, kim khâu, kìm mỏ vịt, chậu, khay... Tất cả dụng cụ trên sát trùng trước khi dùng. Trước khi bò đẻ, nên mời bác sĩ thú y đến khám, xác định vị trí ngôi thai xem có thuận không, nếu không thuận phải tìm cách xoay thai lại cho thuận. Trường hợp không xoay thai được phải chuẩn bị phương án can thiệp. Dụng cụ can thiệp gồm: cưa dây, dao, kéo chuyên dùng, kìm mỏ vịt, kim, chỉ khâu, thuốc kháng sinh, thuốc sát trùng...
Phương pháp đỡ đẻ
Khi đỡ đẻ cho bò phải giữ tuyệt đối yên tĩnh. Để bò đẻ tự nhiên là phương pháp tốt
nhất, tuy nhiên trong những trường hợp thai quá to thì để đẻ tự nhiên sẽ rất lâu, bò mẹ phải rặn đẻ nhiều bị mất sức nên cần có sự hỗ trợ của bác sỹ thú y hoặc người nuôi. Rửa sạch tay bằng xà phòng, cồn, mang bao tay (vô trùng). Bò đẻ bình thường: Sau khi vỡ bọc nước ối (nếu bọc nước ối không tự vỡ, người nuôi phải chọc nhẹ làm rách bầu nước ối cho hở miệng, mũi của bê, tránh làm bê ngạt thở) khi thấy 2 chân trước và đầu bê nhô ra khoảng 15 - 20 phút mà bò không tự đẻ được thì phải hỗ trợ bằng cách dùng tay kéo nhẹ thai ra. Hỗ trợ bò đẻ: Người đỡ đẻ hoặc bác sỹ thú y dùng tay cầm 2 chân trước của bê kéo nhẹ theo nhịp rặn đẻ, kéo theo chiều dọc thân bê, tuyệt đối không kéo sai với nhịp rặn đẻ của bò mẹ. Trường hợp bê quá to mà khung xương chậu bò mẹ quá hẹp phải tăng người kéo bê, tránh để lâu gây mất sức bò mẹ. Trường hợp không thể dùng biện pháp kéo bê ra được phải mời bác sỹ thú y giỏi, có kinh nghiệm phẫu thuật để lấy bê ra, hoặc cắt bê thành từng mảnh trong dạ con để cứu bò mẹ. Sau khi bê được đẻ ra, lấy khăn sạch và
KHOA HỌC KỸ THUẬT
43
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
mềm để móc hết những chất nhầy trong mũi, miệng ra giúp bê hô hấp dễ dàng. Tiến hành cắt rốn cho bê, để bê cho bò mẹ liếm đến khô, sau đó cho bê vào cũi và cho ăn sữa đầu trong vòng 1 giờ ngay sau khi bò đẻ. Cũi bê được lót bằng rơm khô, cỏ khô mềm và sạch. Nếu bò đẻ vào thời tiết lạnh thì cần sưởi ấm cho bò mẹ và bê con, chuồng trại che chắn kín gió.
Phương pháp cắt dây rốn
Dùng ngón trỏ và ngón cái vuốt máu, dịch trong dây rốn theo chiều từ trong ra ngoài, dùng kéo đó được sát trùng cắt dây rốn (để 5 cm). Giữ chuồng và cũi nuôi luôn khô sạch để chống viêm rốn.
Chăm sóc bò sau đẻ
Bò mẹ sau khi đẻ cho uống nước ấm có pha muối 2% và thức ăn dễ tiêu. Bò đẻ thường mất thời gian 4 - 6 giờ và ra nhau thai khoảng 30 - 60 phút, chậm thì 2 - 3 giờ tự động ra, nếu sau 1 ngày không thấy nhau ra hết (gọi hiện tượng sót nhau) thì phải mời cán bộ thú y can thiệp, không nên tự ý móc nhau nguy hiểm đến tính mạng bò mẹ. Dùng nước muối sinh lý 0,9%, thuốc tím 0,1% thụt rửa tử cung, lau rửa mép âm đạo, rửa bầu vú bằng nước xà phòng ấm trước khi cho bê bú, cân bê trước khi cho bú sữa đầu và cho bú càng sớm càng tốt, chậm nhất là 1 giờ sau khi đẻ. Sau khi bò đẻ, cần theo dõi tình trạng sức khỏe bò mẹ về màu sắc, lượng và mùi dịch hậu sản; kiểm tra thân nhiệt bò mẹ ngày 2 lần (sáng, chiều) liên tục trong 2 - 3 ngày đầu để kịp thời can thiệp trong trường hợp bò mẹ bị sốt, viêm vú, viêm tử cung,… Sau khi đẻ 3 - 4 ngày nếu bò bình thường thì cho bò ăn khẩu phần tăng dần về thức ăn tinh, cỏ ở giai đoạn này thường chưa cho bò ăn hết khẩu phần. Sau 10 ngày cho bò ăn bình thường. Trong thời gian 15 - 20 ngày đầu sau khi đẻ có thể cho bò mẹ ăn thêm cháo (0,5 - 1 kg thức ăn tinh/con/ngày) và 30 - 40 g muối ăn + 30 - 40 g bột xương, có đủ cỏ non xanh ăn tại chuồng. Những ngày sau, trong suốt thời gian nuôi con, một ngày cho bò mẹ ăn 35 - 40 kg cỏ tươi, 1 - 2 kg rơm 11 và 1,5 - 2 kg thức ăn tinh hỗn hợp để bò mẹ phục hồi sức khỏe, nhanh động dục lại để phối giống. Nếu bò đẻ không có sữa cần lấy sữa của bò mẹ không bị bệnh hoặc pha sữa bột cho bê bú. Sau khi bú 7 - 10 ngày sữa đầu thì chuyển sang chế độ nuôi bê từ 0 - 6 tháng tuổi. Luôn chú ý cung cấp đầy đủ nước sạch cho bò uống (30 - 80 lít/con/ngày).
THANH HIẾU
Đảm bảo an toàn cho gia cầm sau bão lũ Vệ sinh chuồng trại, môi trường
Khi nước rút, người nuôi nhanh chóng tiến hành thu dọn sạch bùn, đất, phân, rác thải trôi dạt; đối với rác thải là phân, chất độn chuồng, rác hữu cơ cần thực hiện xử lý bằng biện pháp sinh học hoặc đào sâu chôn chặt, đốt để hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường và các loại mầm bệnh. Khẩn trương thu gom và xử lý xác gia cầm chết để hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm môi trường. Xác động vật phải được chôn kỹ ở những nơi cao ráo không bị ngập nước, trước khi chôn lấp phải tiến hành dùng vôi bột hoặc các thuốc sát trùng như Han Iodine, Chloramin B… rải lên xác chết. Hố chôn sau khi lấp cần được phun tiêu độc khử trùng trên khắp bề mặt. Tiến hành sửa chữa, gia cố chuồng trại chăn nuôi, hệ thống nước, hệ thống xử lý nước thải (nếu đã bị hư hỏng). Cọ rửa toàn bộ tường xây, vách ngăn, nền chuồng, phương tiện, dụng cụ chăn nuôi bằng nước sạch; khơi thông cống, rãnh thoát nước, hố chứa phân, chất thải để tránh nước mưa chảy ngược vào chuồng nuôi. Tiến hành phun tiêu độc, khử trùng chuồng nuôi và khu vực chăn nuôi 2 lần/tuần bằng thuốc sát trùng; rắc vôi bột hoặc phun các loại thuốc sát trùng toàn bộ lối đi, hành lang, cổng, đường đi và phương tiện. Nên chọn những loại thuốc sát trùng có hoạt phổ rộng và có tác dụng diệt trùng nhanh, hoạt lực kéo dài, ổn định.
Chăm sóc gia cầm
Thay thế hoặc bổ sung thêm chất độn chuồng để giữ ấm cho gia cầm, đặc biệt là đối với gia cầm giai đoạn nuôi úm. Cung cấp thức ăn, nước uống đảm bảo chất lượng và số lượng phù hợp với từng lứa tuổi gia cầm. Bổ sung vitamin, premix khoáng, B-Complex, men tiêu hóa… cho đàn gia cầm để nâng cao sức đề kháng. Triển khai tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine cho đàn gia cầm theo hướng dẫn cơ quan thú y. Bổ sung chế phẩm sinh học vào thức ăn, nước uống và làm đệm lót chăn nuôi gia cầm. Kiểm tra kỹ khâu bảo quản thức ăn vì sau bão, lũ thời tiết ẩm thấp, mưa dột làm thức ăn hay bị ẩm mốc để phát hiện kịp thời cần loại bỏ ngay, tuyệt đối không cho gia cầm ăn. Thường xuyên cập nhật bản tin dự báo thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng để có các phương án dự phòng và xử lý kịp thời. Tích cực chăm sóc đàn vật nuôi để tăng khả năng chống chịu đối với tác động do thay đổi lớn về thời tiết cũng như có biện pháp khắc phục hiệu quả khi mưa bão, lũ lụt hoặc dịch bệnh xảy ra. Người nuôi cần chấp hành các quy định về phòng, chống dịch bệnh của chính quyền địa phương và quy định của pháp luật về thú y.
LÊ LOAN
SÁCH
"71 câu hỏi đáp về chăn nuôi bò sữa" Chăn nuôi bò sữa nông hộ đang phát triển mạnh do nhu cầu tiêu thụ sữa trong nước ngày càng tăng nhanh và ngành hàng này đem lại lợi ích kinh tế lớn cho nông dân. Tuy nhiên, chăn nuôi bò sữa không thể theo hình thức quảng canh như các loại gia súc bản địa, mà đòi hỏi người nuôi phải có đầu tư lớn, ý chí làm giàu, có hiểu biết nhất định về kỹ thuật, và kỹ năng cần thiết trong thực hành. Cuốn sách “71 câu hỏi đáp về chăn nuôi bò sữa” sẽ cung cấp những kiến thức bổ ích đối với những cán bộ làm công tác phát triển chăn nuôi bò sữa và nhất là bà con nông dân đang và sẽ chăn nuôi bò sữa. Nội dung cuốn sách gồm 6 phần: Phần 1: Những vấn đề chung; Phần 2: Xây dựng chuồng trại nuôi bò sữa; Phần 3: Giống bò sữa và chọn bò nuôi lấy sữa; Phần 4: Thức ăn và kỹ thuật chăn nuôi bò sữa; Phần 5: Kỹ thuật khai thác và bảo quản sữa; Phần 6: Kỹ thuật phòng và trị bệnh cho bò sữa. Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành!
THẢO ANH
44
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Giải pháp thú y kiểm soát bệnh Circovirus (PCV2) trên heo Bệnh do Circovirus heo (PCV2) là tác nhân gây suy giảm miễn dịch mạnh, làm heo dễ mắc các hội chứng hô hấp - tiêu hóa ghép và giảm hiệu quả chăn nuôi. Kiểm soát PCV2 vì vậy cần một hệ thống giải pháp thú y tập trung, dễ triển khai và phù hợp với tình trạng lưu hành virus của từng trại. Tối ưu chương trình vaccine PCV2
Vaccine là giải pháp cốt lõi trong kiểm soát Circovirus, nhưng hiệu quả phụ thuộc lớn vào thời điểm tiêm và đồng bộ trong đàn. Heo con thường được tiêm từ 14 - 21 ngày tuổi, tùy mức kháng thể mẹ truyền. Những trại có lưu hành PCV2 mạnh, tăng bệnh ghép hoặc cai sữa sớm nên ưu tiên tiêm ở 14 ngày để kịp tạo miễn dịch chủ động trước giai đoạn stress cai sữa. Ở trại có dịch PRRS hoặc suyễn, có thể dùng vaccine phối hợp nhằm giảm thao tác và hạn chế stress. Heo nái cần được gây miễn dịch tốt để truyền kháng thể sang heo con. Tiêm nhắc trước khi phối giống hoặc trước khi đẻ 2 - 4 tuần giúp nâng mức kháng thể sữa đầu, giảm tỷ lệ nhiễm sớm ở heo con. Đàn hậu bị nhập về cần được tiêm hoàn chỉnh ít nhất 2 liều trước khi đưa vào sử dụng nhằm đồng bộ miễn dịch với đàn nái hiện hữu.
Giảm áp lực virus bằng vệ sinh - sát trùng chuẩn hóa
PCV2 tồn tại rất bền với môi trường, vì vậy giảm mật độ virus là yêu cầu bắt buộc để duy trì hiệu quả vaccine. Chuồng cần được làm sạch theo trình tự: Dọn phân và chất độn, ngâm tẩy rửa bằng chất tẩy, xịt rửa áp lực cao rồi mới sát trùng bằng hóa chất có phổ diệt virus không vỏ bọc. Thời gian tiếp xúc hóa chất tối thiểu 30 phút và chuồng cần được để trống 3 - 7 ngày. Trong khu heo cai sữa - heo thịt, mô hình “cùng vào - cùng ra” giúp hạn chế lây chéo giữa các lứa tuổi. Hạn chế trộn heo từ nhiều nguồn, vì đây là yếu tố làm tăng đột biến tải lượng virus. Bên cạnh đó, thường xuyên vệ sinh máng ăn, núm uống và hệ thống thông gió để loại bỏ bụi và chất hữu cơ chứa virus.
Quản lý môi trường nuôi để giảm kích hoạt bệnh
PCV2 thường bùng phát mạnh khi heo bị stress nhiệt, ẩm hoặc thông khí kém. Chuồng
nuôi phải duy trì nhiệt độ ổn định, tránh chênh lệch ngày - đêm quá lớn, đặc biệt ở heo con và heo cai sữa. Hơi lạnh thổi trực tiếp vào heo làm giảm miễn dịch, tăng nguy cơ nhiễm ghép suyễn và Pasteurella, từ đó làm bệnh PCV2 nặng hơn. Thông khí cần đủ lưu lượng để giảm khí độc và bụi, nhưng không gây gió lùa. Nền chuồng phải khô và độ ẩm không quá 70%. Mật độ nuôi cần điều chỉnh theo từng giai đoạn, tránh dồn ép, vì mật độ cao làm tăng cơ hội tiếp xúc virus và tăng stress xã hội.
Kiểm soát bệnh ghép - yếu tố quyết định hạn chế thiệt hại
Mức độ trầm trọng của bệnh PCV2 phụ thuộc nhiều vào bệnh ghép, nhất là PRRS, Mycoplasma hyopneumoniae và viêm phổi màng phổi. Trang trại cần duy trì lịch vaccine PRRS và suyễn hợp lý, không tiêm quá nhiều loại vaccine trong thời gian ngắn để tránh ức chế miễn dịch. Khi heo có biểu hiện ho kéo dài, gầy nhanh, hạch to hoặc sốt rải rác, cần lấy mẫu PCR để xác định PCV2 và tác nhân ghép. Kháng sinh không tác động lên PCV2 nhưng có vai trò kiểm soát nhiễm khuẩn cơ hội như Streptococcus, Haemophilus và Pasteurella. Việc lựa chọn thuốc phải dựa trên kết quả kháng sinh đồ hoặc tình hình mầm bệnh tại trại để tránh lạm dụng.
Dinh dưỡng và bổ trợ miễn dịch
Heo nhiễm PCV2 thường có chức năng tiêu hóa kém, dễ mắc rối loạn đường ruột. Khẩu phần cần giàu năng lượng dễ tiêu, bổ sung enzyme tiêu hóa và hạn chế thay đổi đột ngột. Một yếu tố quan trọng là kiểm soát mycotoxin; độc tố nấm như DON, fumonisin và zearalenone làm suy giảm miễn dịch, tăng
mức độ mẫn cảm với PCV2. Do đó, chất hấp phụ độc tố nên được bổ sung liên tục trong mùa mưa và trong các lô thức ăn có nguy cơ nhiễm cao. Các chất tăng cường miễn dịch như Vitamin E, selen, beta-glucan hoặc nucleotides giúp heo đáp ứng vaccine tốt hơn và giảm mức độ tổn thương mô lympho khi nhiễm PCV2. Với heo cai sữa, có thể bổ sung chất điện giải - vitamin trong 2 - 3 ngày sau cai để giảm stress.
Tăng cường an toàn sinh học - nền tảng kiểm soát PCV2 lâu dài
An toàn sinh học cần tập trung vào ba điểm: Hạn chế mầm bệnh từ bên ngoài, giảm lan truyền trong trại và giữ người - dụng cụ luôn được khử trùng. Khu vực nhập giống phải có khu cách ly tối thiểu 14 ngày, xét nghiệm PCV2 và PRRS trước khi nhập đàn. Dụng cụ chăm sóc từng khu phải dùng riêng, không sử dụng chung giữa các lứa tuổi. Người vào trại cần thay đồ, tắm sát trùng và đi theo một chiều từ heo nhỏ đến heo lớn. Kiểm soát chuột, chim và côn trùng giúp giảm sự lây lan gián tiếp của virus. Xe vận chuyển cám, heo và phân phải được khử trùng bánh xe và khoang chứa trước khi vào khu vực nuôi.
PHẠM HẢI
KHOA HỌC KỸ THUẬT
45
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CƠ TRẮNG Ở GIA SÚC Bệnh cơ trắng (White Muscle Disease - WMD) là rối loạn thoái hóa cơ do thiếu Vitamin E và selenium, chủ yếu gặp ở bê, nghé, dê và cừu non. Do tổn thương xảy ra trên cơ tim và cơ xương, việc điều trị đòi hỏi phải được tiến hành sớm và có chiến lược bổ sung dinh dưỡng chính xác. Nguyên tắc điều trị bệnh
Điều trị chỉ có hiệu quả khi tổn thương cơ chưa tiến triển đến giai đoạn hoại tử không hồi phục, đặc biệt ở thể cơ tim. Mục tiêu là phục hồi hệ thống chống ôxy hóa, giảm stress ôxy hóa trong tế bào cơ và ổn định tuần hoàn - hô hấp cho con non. Bổ sung selenium và Vitamin E dạng tiêm: Tiêm selenium kết hợp vitamin E là biện pháp cốt lõi. Các chế phẩm chứa natri selenite và alpha-tocopherol acetate được sử dụng phổ biến vì cho tác dụng nhanh và có sinh khả dụng cao. Ở bê và nghé, liều tiêm thường tương đương 0,044 mg Se/kg thể trọng; ở dê và cừu non có thể dùng 0,25 - 0,5 ml/con tùy chế phẩm. Tiêm bắp một lần, sau đó theo dõi đáp ứng trong 24 - 48 giờ. Thể cơ xương thường cải thiện rõ: con non đứng vững hơn, giảm run cơ, bú tốt và tăng vận động. Lưu ý không tiêm quá liều vì selenium có độc tính cao, gây rối loạn hô hấp và thoái hóa gan.
Hỗ trợ tim và tuần hoàn
Những trường hợp có biểu hiện suy hô hấp hoặc suy tuần hoàn cần dùng thuốc trợ tim (như cafein natri benzoat) để tăng co bóp cơ tim và ổn định nhịp. Những gia súc non mất nước hoặc bỏ bú kéo dài cần được truyền dịch glucose - điện giải nhằm đảm
bảo hoạt động cơ tim và cải thiện chuyển hóa năng lượng. Chuồng úm phải được giữ ấm và khô, hạn chế vận động mạnh trong 2 - 3 ngày đầu để tránh làm tổn thương cơ tiếp diễn. Con vật nằm nhiều cần xoay trở định kỳ để tránh chèn ép cơ. Việc tái khám là quan trọng: Nếu sau 48 72 giờ không cải thiện, cần xem xét các bệnh khác như nhiễm trùng huyết hoặc tiêu chảy mất nước gây yếu cơ, nhằm tránh nhầm lẫn với cơ trắng. Trường hợp thể cơ tim nặng thường tiên lượng kém dù điều trị đúng phác đồ do tổn thương không thể phục hồi.
Chiến lược phòng bệnh chủ động
Phòng bệnh cơ trắng mang tính chiến lược, đặc biệt ở những trang trại nuôi gia súc non tại vùng đất nghèo selenium. Mấu chốt nằm ở bổ sung selenium - vitamin E đúng chuẩn, kết hợp với cải thiện chất lượng thức ăn và môi trường nuôi. Bổ sung selenium trong khẩu phần; Nhu cầu selenium ở gia súc non dao động 0,1 0,3 ppm trong thức ăn hỗn hợp. Ở những vùng đất thiếu Se, cần bổ sung qua premix hoặc khoáng liếm. Các dạng selenium hữu cơ (selenium yeast) cho hiệu quả hấp thu cao và an toàn hơn so với dạng vô cơ, đặc biệt cho con mẹ mang thai. Đảm bảo Vitamin E đầy đủ: Vitamin E
dễ bị phá hủy bởi ánh sáng, nhiệt độ và quá trình ôxy hóa lipid. Do đó, thức ăn cần được bảo quản trong kho mát và khô. Mức bổ sung Vitamin E vào khẩu phần nên đạt 50 - 100 IU/kg thức ăn cho gia súc non. Với con cái mang thai, mức 100 - 150 IU/kg giúp tăng dự trữ qua nhau thai và sữa non, từ đó bảo vệ con sinh ra không bị thiếu hụt. Tiêm phòng dinh dưỡng cho mẹ mang thai: Bổ sung Se - Vitamin E cho mẹ trong 4 - 6 tuần trước khi đẻ là giải pháp hiệu quả nhất để giảm bệnh cơ trắng ở con non. Tiêm dự phòng cho con non 2 - 4 tuần tuổi cũng được áp dụng tại vùng khan hiếm selenium hoặc đàn có tiền sử bệnh. Việc tiêm lặp lại định kỳ 3 - 4 tháng một lần có thể cần thiết ở dê và cừu sinh sản.
Quản lý chất lượng thức ăn và môi trường
Thức ăn giàu chất béo cần được trộn kèm chất chống ôxy hóa để giảm hư hỏng. Cỏ khô, cỏ ủ phải đảm bảo chất lượng; thức ăn mốc hoặc ôi dầu sẽ làm giảm Vitamin E tự nhiên. Chuồng nuôi sạch, khô và ấm giúp giảm stress, hạn chế nguy cơ bệnh. Con non phải được bú đủ sữa đầu trong 6 giờ đầu đời để tăng khả năng chống ôxy hóa và nâng cao miễn dịch.
HOÀNG YẾN
46
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
TÁO BÓN Ở HEO NÁI
Kẻ thù tiềm ẩn trong giai đoạn cận sinh Táo bón ở heo nái là một thách thức phổ biến nhưng thường bị xem nhẹ trong quản lý sinh sản. Tình trạng giảm nhu động ruột, tích tụ phân khô và khó thải phân không chỉ gây khó chịu cho nái mà còn kéo theo hàng loạt hậu quả nghiêm trọng: tăng nguy cơ viêm tử cung, viêm đường sinh dục, đẻ khó, thời gian đẻ kéo dài và giảm hấp thu dinh dưỡng ở giai đoạn quyết định. Nguyên nhân
Thay đổi sinh lý ở giai đoạn gần sinh: Trong những tuần cuối thai kỳ, sự gia tăng kích thước tử cung gây chèn ép ruột, làm giảm nhu động và kéo dài thời gian lưu thức ăn trong ống tiêu hóa. Đồng thời, thay đổi nội tiết (tăng progesterone) gây làm chậm nhu động ruột, tạo điều kiện hình thành phân khô. Giảm lượng nước uống: Heo nái cận sinh cần lượng nước lớn để duy trì trao đổi chất, làm mềm phân và hỗ trợ tiết sữa non. Bất kỳ giảm sút nào - dù nhỏ đều nhanh chóng dẫn tới táo bón. Các nguyên nhân phổ biến gồm: thay đổi hệ thống nước khi chuyển chuồng, lưu lượng thấp, cặn bẩn tích tụ trong núm uống, hoặc nước có vị lạ khiến nái giảm uống. Khẩu phần thiếu chất xơ hoặc xơ kém chất lượng: Chất xơ là yếu tố trung tâm của chức năng ruột. Tuy nhiên, nhiều khẩu phần cho nái chửa vẫn thiếu xơ hòa tan hoặc chứa xơ khó lên men, làm giảm lượng nước giữ trong phân. Ngoài ra, khẩu phần giàu năng lượng nhưng nghèo xơ kéo dài thời gian lưu cặn bã trong ruột. Căng thẳng khi chuyển nái sang phòng đẻ: Stress khi di chuyển, thay đổi môi trường, thay đổi thức ăn hoặc thay đổi thói quen chăm sóc đều có thể ức chế nhu động ruột. Tình trạng này đặc biệt rõ trong 2 - 3 ngày đầu sau khi nhập chuồng đẻ.
Các giải pháp cốt lõi
Dưới đây là những chiến lược đã được áp dụng thành công tại các trang trại thương phẩm quy mô lớn, thể hiện hiệu quả rõ rệt trong việc kiểm soát táo bón và cải thiện kết quả sinh sản. Ghi chép và theo dõi dữ liệu - nền tảng của quản lý táo bón: Việc duy trì hồ sơ chi tiết về sức khỏe, lượng nước uống, hành vi ăn, loại thức ăn, thay đổi chuồng và tình trạng phân giúp người quản lý nhận diện
các xu hướng bất thường. Sự suy giảm lượng nước uống hoặc lượng thức ăn trong 24 - 48 giờ đầu khi chuyển chuồng là tín hiệu cảnh báo sớm của táo bón. Theo dõi này cũng giúp đánh giá hiệu quả của từng công cụ can thiệp, cho phép điều chỉnh phác đồ phù hợp với từng đàn hoặc từng giai đoạn. Chuyển heo nái sang phòng đẻ một cách “êm”: Quá trình di chuyển nái vào phòng đẻ cần diễn ra bình tĩnh, không gây xáo trộn và được thực hiện đủ sớm (trước ngày dự sinh 5 - 7 ngày). Điều này giúp nái thích nghi dần với môi trường mới, ổn định hành vi ăn uống và giảm nguy cơ ức chế nhu động ruột. Các điểm quản lý quan trọng: Không thay đổi khẩu phần quá đột ngột; Chuồng đẻ phải sạch, khô, nhiệt độ phù hợp để giảm stress; Giảm tiếng ồn và tránh gây hoảng loạn cho nái khi nhập chuồng; Tối ưu hóa chất lượng và lưu lượng nước uống: Nước là yếu tố then chốt trong cơ chế làm mềm phân. Thực tế cho thấy nhiều trang trại sử dụng hai hệ thống nước riêng biệt: một cho khu chửa và một cho chuồng đẻ điều này dẫn đến giảm lượng nước uống tức
thời trong vài ngày đầu sau chuyển chuồng. Để khắc phục: • Kiểm tra lưu lượng núm uống, đảm bảo từ 1,5 - 2 lít/phút; • Đảm bảo hệ thống cung cấp đủ nước khi tất cả nái ăn cùng thời điểm; • Định kỳ vệ sinh đường ống để tránh mùi lạ và vi khuẩn phát triển; • Có thể bổ sung chất điện giải hoặc chất kích thích uống nước trong 24 - 48 giờ sau nhập chuồng. Thói quen cho ăn ổn định và đều đặn: Nhịn đói hoặc giảm bữa làm chậm nhu động ruột và thúc đẩy táo bón. Nái cần được cho ăn: Đúng giờ; Đủ lượng; Không để thời gian trống dài giữa các bữa.Tại nhiều trang trại, việc điều chỉnh cho ăn theo độ béo của nái cũng ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa, do đó cần có quy trình đánh giá thể trạng (BCS) rõ ràng. Chế độ ăn giai đoạn gần sinh: Khẩu phần cận sinh phải được thiết kế hướng đến giảm táo bón, ổn định đường ruột và duy trì năng lượng đủ. Các điểm quan trọng: Giảm nhẹ năng lượng và tăng chất xơ hòa tan (như bã
KHOA HỌC KỸ THUẬT
47
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
đậu nành, cám mì, pectin). Bổ sung dầu thực vật hoặc chất béo dễ tiêu để cải thiện độ trơn của phân. Sử dụng phụ gia sinh học hoặc khoáng nhằm điều chỉnh hệ vi sinh và nhu động. Điều chỉnh công thức theo đặc điểm từng trang trại - đặc biệt phải dựa trên ghi chép dữ liệu. Sử dụng chất xơ - chìa khóa kiểm soát chức năng ruột: Chất xơ thúc đẩy nhu động ruột, giữ nước và tạo cấu trúc phân tốt. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không nằm ở việc có bổ sung hay không, mà ở tối ưu loại xơ, liều lượng và độ hòa tan. • Xơ hòa tan giúp tăng độ nhớt và giữ nước (premix pectin, β-glucan); • Xơ không hòa tan giúp kích thích cơ học lên thành ruột (cám gạo, bã mì); • Tỷ lệ xơ tổng trong khẩu phần nái cận sinh nên đạt 6 - 8%, trong đó xơ hòa tan chiếm 1 - 1,5%. Vì đáp ứng giữa các đàn khác nhau, nghiên cứu ứng dụng tại chính trang trại là cách tối ưu nhất để xác định liều phù hợp. Sử dụng probiotic - cải thiện nhu động và giảm stress tiêu hóa: Nấm men hoạt tính (Saccharomyces cerevisiae, S. boulardii) đã chứng minh hiệu quả trong: Cân bằng hệ vi sinh; Tăng sức khỏe biểu mô ruột; Ngăn ngừa táo bón; Tăng tiêu hóa năng lượng ở giai đoạn cuối thai kỳ. Việc kết hợp probiotic với chất xơ hòa tan tạo hiệu ứng hiệp đồng, giúp cải thiện rõ rệt cấu trúc phân của nái. Magnesium sulfate; Magnesium sulfate có tác dụng nhuận tràng nhờ khả năng kéo nước vào lòng ruột, làm mềm phân và thúc đẩy thải phân ra ngoài. Đây là giải pháp được dùng rộng rãi vì giá thành thấp, dễ áp dụng, tác dụng nhanh trong 24 - 36 giờ. Liều dùng cần được điều chỉnh dựa trên thể trạng nái và tình trạng phân thực tế, tránh lạm dụng gây tiêu chảy hoặc mất nước. Mỗi hệ thống chăn nuôi có điều kiện hoàn toàn khác nhau về loại thức ăn, nguồn nước, thiết kế chuồng và giống nái. Vì vậy, không có một công thức chung cho tất cả. Khuyến nghị quan trọng: Thiết kế các thử nghiệm nhỏ trong trang trại; theo dõi biến động phân, lượng nước uống, số ca đẻ khó và viêm tử cung; phân tích dữ liệu để chọn tổ hợp giải pháp hiệu quả nhất Cách tiếp cận dựa trên thực nghiệm này giúp tăng độ chính xác khi lựa chọn chiến lược phòng táo bón, đồng thời nâng cao phúc lợi động vật, giảm biến cố sản khoa và tăng lợi nhuận tổng thể.
PHƯƠNG ĐÔNG
Các nguyên tắc chính về an toàn sinh học trong nuôi heo 1. Đối với chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi - Cải tạo chuồng nuôi, bảo đảm thoáng mát, nền cao ráo, thoát nước tốt. - Có hố/chậu chứa thuốc sát trùng hoặc rắc vôi bột trước cửa chuồng, lối vào khu vực chăn nuôi, trước cổng nhà. - Có rãnh thoát nước (để bỏ vôi vào nước) xung quanh khu vực chuồng nuôi. - Có tường, lưới hoặc bạt che xung quanh, bảo đảm che kín để ngăn chim, chuột, các loài gặm nhấm khác, côn trùng, động vật nuôi khác không xâm nhập vào trong chuồng nuôi. - Tách biệt chuồng nuôi heo với khu sinh hoạt của gia đình, với chuồng nuôi động vật khác và khu vực công cộng. - Có ủng/dép, dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ để vệ sinh chuồng nuôi sử dụng riêng trong khu vực chăn nuôi (không mang giày dép, dụng cụ ở bên ngoài vào); sử dụng riêng dụng cụ chăn nuôi cho mỗi khu chuồng và phải được vệ sinh, khử trùng trước và sau khi sử dụng; dụng cụ chứa đựng thức ăn thừa, thức ăn thu gom từ nhà hàng/bếp ăn phải được vệ sinh khử trùng trước và sau khi sử dụng. - Không sử dụng kim tiêm, xi lanh chung cho các chuồng nuôi. - Phát quang bụi rậm, dọn dẹp sạch khu vực xung quanh chuồng nuôi. 2. Kiểm soát người và phương tiện - Có biện pháp kiểm soát, hạn chế tiếp xúc với heo, không cho người ngoài, thương lái, xe vận chuyển heo hoặc thức ăn chăn nuôi vào khu vực chuồng nuôi. - Nếu bắt buộc phải vào khu vực chuồng nuôi: + Người: Thay quần áo hoặc mặc quần áo bảo hộ, vệ sinh khử trùng tay, thay ủng/dép sử dụng riêng trong khu vực chuồng nuôi; + Phương tiện: Khử trùng toàn bộ phương tiện, đặc biệt là bánh xe, gầm xe bằng dung dịch sát trùng. 3. Kiểm soát thức ăn và nước uống - Không dùng thức ăn thừa, thức ăn thu gom từ nhà hàng/bếp ăn, đặc biệt thức ăn thừa có chứa thịt heo, sản phẩm từ heo. - Sử dụng thức ăn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo chất lượng, an toàn, không bị mốc, đóng vón (không dùng thức ăn thừa từ các trang trại/hộ nuôi đã bị bệnh DTLCP); nên
để bao thức ăn ở ngoài khu vực chuồng nuôi và sử dụng vật dụng chứa đựng (xô, chậu...) để chuyển thức ăn vào cho heo. - Không sử dụng thức ăn thô xanh (rau, bèo...) được lấy ở những khu vực đang có dịch bệnh ASF; nếu bắt buộc dùng, phải đun sôi, nấu chín. - Nguồn nước sạch cho heo uống hoặc vệ sinh chuồng: Ưu tiên nước sạch đã qua xử lý (nước giếng, nước máy); tuyệt đối không dùng nguồn nước có nguy cơ đã bị ô nhiễm (nước ao, hồ, sông, suối...); vệ sinh máng ăn/ máng uống và thay nước uống hàng ngày. 4. Vệ sinh, sát trùng, quản lý chất thải chăn nuôi - Dọn phân, chất thải hằng ngày, ủ kỹ hoặc che đậy kín, rắc/ trộn vôi bột; tuyệt đối không xả nước thải, chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý ra môi trường. - Khử trùng chuồng nuôi từ 2 - 3 lần/tuần bằng thuốc sát trùng có bán trên thị trường (Virkon-S, Iodine, Chlorine...) theo hướng dẫn của nhà sản xuất. - Giữ chuồng thoáng, nền chuồng luôn khô ráo, giảm ẩm ướt để hạn chế côn trùng. - Vệ sinh, khử trùng chuồng trại sạch sẽ sau mỗi lứa nuôi, rắc vôi và để trống chuồng 2 - 3 tuần. 5. Kiểm soát côn trùng, động vật trung gian - Lắp lưới chắn ruồi, muỗi; đặt bẫy diệt chuột, côn trùng khác. - Không để thức ăn, phân thải hở ngoài trời để tránh thu hút côn trùng. - Không để các loại vật nuôi khác (trâu, bò, dê, cừu, chó...) vào khu vực nuôi heo. 6. Quản lý đàn heo - Nguyên tắc nuôi “cùng nhập - cùng xuất”, không nhập thêm heo trong thời gian nuôi. - Tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine theo hướng dẫn của cơ quan chức năng và bổ sung dinh dưỡng, vitamin cho heo. - Theo dõi sức khỏe đàn heo hằng ngày: nếu có biểu hiện sốt, bỏ ăn, tím tai, chết đột ngột... phải báo ngay cho nhân viên thú y hoặc chính quyền xã. - Không giết mổ, bán chạy heo bệnh, heo chết vì làm dịch bệnh lây lan nhanh. (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh)
48
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
HỎI - ĐÁP ☐ Hỏi: Những giống heo đực nào thường được sử dụng trong trại chăn nuôi heo sinh sản để sản xuất heo nuôi thịt? Trả lời: Giống Duroc: Heo Duroc có nguồn gốc từ Mỹ nhưng nay đã được chăn nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Giống heo này nổi tiếng cho năng suất thịt cao với tỷ lệ nạc khá lớn. Heo Duroc có thân hình vững chắc, lông có màu nâu vàng nhạt đến nâu sẫm, bốn chân to khỏe, vững chắc, ngực sâu, rộng, mông vai phát triển và cân đối, mõm thẳng, tai to ngắn, ở phần tai trước cụp, gập về phía trước, chất lượng thịt tốt. Chân thấp, chắc khỏe, bốn móng ở mỗi chân màu đen huyền, khi lai có màu vàng nhạt và có những đốm bông đen (thường ở đùi, mông và bụng). Heo Pietrain: Heo đực giống Pietrain là giống heo siêu nạc có nguồn gốc từ Bỉ, nổi tiếng với tỷ lệ nạc cao nhất thế giới, thịt đỏ đẹp, dăm bông phát triển tốt. Heo đực Pietrain có kích thước lớn, có thể đạt 270 - 350 kg khi trưởng thành. Chúng có lông da trắng đan xen lẫn từng đám đen trắng không đồng đều trên cơ thể, tai thẳng đứng, đầu to vừa phải, mõm thẳng, 4 chân thẳng, mông nở, lưng rộng, đùi to. Thích nghi kém ở khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Chúng thường được sử dụng để lai tạo với các giống heo khác, đặc biệt là heo cái Duroc, nhằm cải thiện năng suất thịt và chất lượng sản phẩm. Heo đực PiDu: Lai giữa đực Pietrain và cái Duroc (con lai PiDu). Con lai PiDu đực được tuyển lựa để tạo dòng đực cuối rất được nhà chăn nuôi ưa chuộng thay vì phải dùng đực cuối Pietrain hay Duroc nuôi năng suất kém, chậm lớn, khó nuôi. ☐ Hỏi: Chuồng trại trong chăn nuôi bò sữa cần đáp ứng tiêu chuẩn gì? Trả lời: Hiện, phần lớn chuồng trại nuôi bò sữa ở nước ta từ thời xưa thường có xu hướng sát vách nhà ở, diện tích chuồng
hẹp do cải tiến từ chuồng bò thịt hoặc xây cất tam, mái chuồng thấp (thường dưới 3 m). Do đó, giảm khả năng lưu thông khí, làm nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng luôn ở mức cao ngay cả vào ban đêm, dẫn đến bò sữa nuôi luôn ở tình trạng thân nhiệt cao làm ảnh hưởng tới sức khỏe, năng suất, chất lượng sữa. Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò sữa thì một trong những việc đầu tiên cần làm ngay là cải tạo hoặc xây mới chuồng đúng theo yêu cầu kỹ thuật phù hợp với địa bàn chăn nuôi. Trước hết, chuồng trại phải phù hợp với quy hoạch địa phương, chuồng nên cách xa nhà ở, xa nguồn nước mặt tối thiểu 100 m hoặc xử lý chất thải bằng hệ thống biogas nhằm đảm bảo sức khỏe cho gia đình và cộng đồng (giảm mùi hôi, ruồi, muỗi…). Xác định quy mô đàn để tính toán diện tích cần xây dựng. Xung quanh chuồng nuôi nên trồng cây xanh có nhiều tán để tạo bóng mát, góp phần làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi. Chọn những khu đất cao, không bị ngập. Làm nền cao hơn mặt đất tối thiểu 40 cm, có độ nhám để tránh bò bị trơn trượt, xây nghiêng về rãnh thoát nước 2 - 3% để không bị đọng nước làm hư móng bò và làm nền chuồng dễ bong tróc. Nếu có điều kiện tốt nhất nên trang bị đệm lót cho đàn bò. Nên xây chuồng làm 2 mái (mái đôi), nơi thấp nhất tối thiểu 3 m, cao nhất trên 4 m sao cho góc nghiêng mái khoảng 20 - 240, là góc lấy gió tốt để tăng độ thông thoáng và lưu chuyển không khí trong chuồng nuôi. Mùa hè nhiệt độ vào buổi trưa có thể lên đến 350C. Vì vậy, việc thiết kế chiều ngang chuồng khá lớn sẽ làm hạn chế đối lưu không khí, thiết kế < 10 - 12 m là phù hợp. Mái chuồng làm bằng lá, tôn, ngói, Fibro xi măng… để đảm bảo vệ sinh mái chuồng nên làm bằng tôn, trang bị thêm tấm cách nhiệt để giảm nhiệt độ trong chuồng vào buổi trưa. Hiện nay, có rất nhiều hộ nuôi còn chưa chú ý đến việc làm mát cho bò. Tuy nhiên, vào mùa nắng nóng nhiệt độ cao khiến bò phải sử dụng quá nhiều năng lượng để hạ nhiệt làm mát cơ thể. Do đó, phần năng lượng được chuyển hóa để sản xuất sữa đã bị giảm đáng kể. Chính vì vậy, việc tạo môi trường chuồng trại mát mẻ sẽ giúp các hộ nuôi thu
được nhiều sữa hơn. Có thể xây dựng hệ thống giảm stress nhiệt như quạt, hệ thống phun sương… cho bò. Qua đó, bò không bị stress, giảm thiểu những tình trạng nóng, chảy nhớt, thở mạnh, kém ăn, mệt mỏi… ☐ Hỏi: Dê bị bệnh viêm vú thì xử lý như thế nào? Trả lời: Khi dê bị viêm vú do nhiễm vi khuẩn gây bệnh có thể điều trị như sau: - Dùng nước muối nóng vệ sinh bầu vú và núm vú sạch sẽ. - Sau đó nhúng núm vú, chỗ vú bị xước vào cồn Iodine 10% 1 lần/ngày/5 - 7 ngày liền. - Dùng 1 trong các thuốc có hoạt chất sau: Amoxycillin hoặc Flofenicol hoặc Doxycillin, tiêm bắp 1 lần/ngày/5 ngày liền. Liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. - Dùng thuốc Cafein + Vitamin B1, C tiêm bắp 1 lần/ngày/3 ngày liền. Liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. - Cho uống chất điện giải Gluco - C 10 ngày liền. - Dùng thuốc Catosal 10% tiêm bắp 1 lần/ ngày/5 ngày liền. - Bổ sung Vitamin ADE + B - Complex, khoáng chất premix vào thức ăn cho ăn 1 tháng liền. - Vệ sinh tiêu độc chuồng nuôi bằng dung dịch thuốc sát trùng để diệt mầm bệnh ngoài môi trường. Khi bệnh nặng nên sử dụng một số kháng sinh tiêm bắp nhằm hạn chế, hay tiêu diệt mầm bệnh, ngăn chặn không cho xuất hiện các triệu chứng toàn thân. Tuy nhiên các độc tố sản sinh ra khi vi khuẩn chết sẽ phá hỏng bầu vú và làm dê chết. Do vậy, chăm sóc dê chu đáo sau và trong thời gian điều trị viêm vú là rất cần thiết. Vì dê bị viêm phải được vắt sữa ít nhất 3 lần/ngày. Rửa bầu vú bằng nước nóng (chườm) có tác dụng giảm sưng và viêm. ☐ Hỏi: Xin tư vấn các biện pháp chăm sóc vật nuôi mùa Đông? Trả lời: Chuồng nuôi phù hợp với đối tượng, lứa
KHOA HỌC KỸ THUẬT
49
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
HỎI - ĐÁP tuổi vật nuôi, đảm bảo đủ ấm nhưng vẫn phải đủ thông thoáng, sạch sẽ. Mật độ nuôi hợp lý, đặc biệt chú ý chuồng úm gia súc, gia cầm non. Dùng bóng/chụp sưởi điện là tốt nhất; khi đốt sưởi bằng củi, trấu, mùn cưa, cần có ống dẫn khói lên cao, ra khỏi chuồng nuôi, không để khói vào chuồng nuôi sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi. Thức ăn đầy đủ, đảm bảo chất lượng và số lượng. Đặc biệt đối với gia súc ăn cỏ (trâu, bò, dê, ngựa), dễ bị thiếu thức ăn vì mùa đông, cây, cỏ phát triển chậm. Do đó, người chăn nuôi cần chủ động trồng, dự trữ thức ăn thô xanh như phơi khô, ủ chua cỏ, cây ngô, rơm và các phụ phẩm nông nghiệp khác. Thông thường, lượng thức ăn thô, xanh cần cho 1 gia súc bằng khoảng 10%, lượng thức ăn tinh bằng 1% khối lượng cơ thể. Những gia súc chưa quen ăn thức ăn tinh thì cần cho gia súc ăn ít một, tăng dần đến 1% (trong khoảng 5 - 7 ngày). Khi nhiệt độ xuống thấp hơn 10C thì nhu cầu năng lượng tăng thêm 1 2%. Tùy đối tượng vật nuôi, điều kiện thời tiết, có thể điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Đối với gia súc, gia cầm nuôi chăn thả hoặc bán chăn thả, những ngày mưa và rét hoặc nhiệt độ dưới 120C không nên chăn, thả gia súc, gia cầm nhưng chuồng nuôi đảm bảo đủ diện tích cho vật nuôi vận động. Đối với gà, chỉ nên thả vườn (có kiểm soát) sau khi gà được 35 ngày tuổi, nhiệt độ trên 150C, thời gian thả từ 9 giờ đến 16 giờ khi không có mưa. Đối với gia súc, khi nhiệt độ trên 120C, thời gian có thể thả từ 8 giờ đến 16 giờ khi không có mưa, nơi có thức ăn. Nên thả gia súc ở những nơi thuận tiện cho việc di chuyển để đề phòng khi gặp thời tiết bất lợi, nơi chăn thả không có các hố to hoặc rãnh sâu. Gia súc cần được giữ ấm bằng cách mặc áo ấm trước khi đưa chúng ra ngoài, đặc biệt những gia súc yếu và non. Nên có người trông gia súc trong thời gian chăn thả để kịp thời ứng phó khi có bất lợi.
BAN KHKT
GÓC CHUYÊN GIA
Phòng bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò Nguyên nhân
Bệnh viêm da nổi cục còn được gọi là bệnh da sần, là bệnh truyền nhiễm do một loại virrus thuộc họ Poxviridae gây ra trên trâu, bò. Thời gian ủ bệnh trung bình khoảng 4 - 14 ngày Bệnh lây chủ yếu qua côn trùng chích hút như muỗi, ruồi, ve; bệnh cũng có thể lây truyền do vận chuyển trâu, bò mang mầm bệnh; tiếp xúc trực tiếp; sử dụng chung máng uống, qua sữa, tinh dịch…Virus không gây bệnh trên người.
Triệu chứng
- Con vật sốt cao, có thể trên 410C, bỏ ăn, suy nhược và gầy yếu. - Hình thành các nốt sần có đường kính từ 2 - 3 cm, đặc biệt là ở da đầu, cổ, chân, bầu vú, cơ quan sinh dục và đáy chậu trong vòng 48 giờ sau khi bắt dầu phản ứng sốt. Các nốt sần này có hình tròn, chắc và nhô cao trên da, mô dưới da và đôi khi cả các cơ bên dưới. - Giảm khả năng tiết sữa rõ rệt ở gia súc đang cho con bú; viêm mũi, viêm kết mạc và tiết nhiều nước bọt. - Sưng hạch trước vai, hạch sau đùi, ở miệng xuất hiện các mụn nước, vết loét hoại tử. Chân và các bộ phận vùng bụng khác của cơ thể, như bao da, ức, bìu và âm hộ, có thể bị tiết dịch, khiến con vật không muốn di chuyển. - Các nốt sần lớn có thể bị hoại tử và cuối cùng là xơ hóa và tồn tại trong vài tháng; để lại các vết sẹo.
Phòng bệnh
Khi chưa có dịch xảy ra: - Thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học để chủ động chống dịch bệnh. - Thường xuyên theo dõi, phát hiện gia súc có dấu hiệu bất thường để kịp thời xử lý. - Đối với vùng có dịch bệnh và các vùng lân cận, vùng nguy cơ cao sử dụng vaccine viêm da nổi cục đã được cơ quan Nhà nước cấp đăng ký lưu hành để tạo miễn dịch khẩn cấp cho toàn bộ đàn trâu bò theo khuyến cáo thú y. - Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, thu gom thức ăn thừa, phân rác thải. Định kỳ thực hiện vệ sinh tiêu độc chuồng trại, máng ăn uống bằng các hóa chất tiêu độc khử trùng như Iodine, benkocid, BKA, vôi bột… Phát quang bụi rậm, không để nước tù đọng, phân rác ô nhiễm. Sử dụng các thuốc đặc hiệu để tiêu diệt côn trùng. - Nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý tốt đàn gia súc; bổ sung thêm các khoáng chất, vitamin tăng sức đề kháng cho trâu bò. Hạn chế khách tham quan, các phương tiện ra vào trại. - Không buôn bán, nhập trâu bò không rõ nguồn gốc, chưa qua kiểm dịch. Thực hiện nuôi cách ly và theo dõi sức khỏe đàn trâu bò sau khi nhập theo đúng quy định. Khi có dịch xảy ra: - Phát hiện và báo ngay với cơ quan thú y địa phương khi trâu, bò có triệu chứng. Tuyệt đối không giấu dịch; không mua bán vận chuyển, không giết mổ; không vứt xác trâu, bò bệnh và chết ra môi trường; - Nuôi nhốt trâu, bò tại các khu vực có trâu bò mắc bệnh, nghi mắc bệnh. - Thực hiện tổng vệ sinh, phun thuốc sát trùng, thuốc diệt côn trùng, ruồi, muỗi, ve, mòng,... liên tục trong vòng 3 tuần tại khu vực có trâu bò bị bệnh, nghi bị bệnh. - Khoanh vùng dịch và lập chốt để kiểm soát việc vận chuyển trâu, bò ra, vào vùng dịch. Tiến hành tiêu hủy đối với trâu, bò bị bệnh.
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA
50
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
BỆNH HÔ HẤP PHỨC HỢP Ở HEO VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Bệnh hô hấp phức hợp ở heo (PRDC) là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Nhận diện sớm và áp dụng biện pháp điều trị phù hợp đóng vai trò then chốt trong việc giảm tỷ lệ chết và nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Nguyên nhân
PRDC trên heo không phải là bệnh mới, bệnh thường xảy ra do sự kết hợp của nhiều mầm bệnh trên đường hô hấp trong cùng một thời điểm gồm các mầm bệnh khởi phát. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể xếp vào 2 nhóm chính như sau: Do vi sinh vật: Virus: virus gây bệnh giả dại, virus gây bệnh Tai xanh, virus gây bệnh cúm, circovirus…; Vi trùng: Actinobacillus pleuropneumoniae (APP), Bordetella bronchiceptica, Haemophilus parasuis, Pasteurella multocida, Streptococcus suis, Salmonella cholera suis, Mycoplasma…; Ký sinh trùng: Do giun phổi, do sự di hành của ấu trùng giun tròn. Các yếu tố môi trường và chăm sóc quản lý: Điều kiện sống và môi trường chăn nuôi có ảnh hưởng lớn đến mức độ bùng phát của PRDC. Những yếu tố môi trường sau đây góp phần làm tăng nguy cơ phát sinh PRDC: Mật độ đàn cao: Khi mật độ chăn nuôi quá dày, khả năng lây lan bệnh cao hơn, tạo điều kiện cho PRDC bùng phát. Thông gió kém: Không khí không được lưu thông đúng cách gây tích tụ các tác nhân gây bệnh và tăng độ ẩm, khiến vi khuẩn và virus dễ dàng phát triển. Thay đổi thời tiết: Thời tiết lạnh hoặc ẩm ướt làm giảm sức đề kháng của heo, tăng nguy cơ nhiễm bệnh hô hấp.
Đặc điểm dịch tễ
PRDC là nguyên nhân gây ra các tổn thất kinh tế lớn do làm chậm quá trình tăng trưởng, tăng tỷ lệ tử vong và giảm chất lượng thịt heo. Heo nhiễm PRDC thường phải chịu sự suy yếu lâu dài về thể chất, đồng thời dễ mắc thêm các bệnh nhiễm trùng thứ phát khác. Thời điểm: Bệnh thường xảy ra khi thời tiết thay đổi. Đối tượng: Bệnh xảy ra chủ yếu ở heo sau cai sữa và heo vỗ béo, tỷ lệ bệnh tương ứng ở 2 nhóm heo có thể lên đến 53 - 58% và 42 - 47% (Ruggeri et al., 2020). Cơ chế: Khi heo tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh như PCV2, PRRS hoặc Mycoplasma hyopneumoniae, hệ miễn dịch của chúng bị suy yếu. Điều này mở đường cho các tác nhân thứ phát, bao gồm nhiều loại vi khuẩn và virus khác, xâm nhập và gây bệnh. Cơ chế tấn công đồng thời của nhiều tác nhân gây bệnh này tạo ra một hội chứng phức hợp, trong đó các triệu chứng bệnh đan xen và làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe của heo.
Triệu chứng
Bệnh có thời gian nung bệnh ngắn từ 5 7 ngày và thường xảy ra ở thể cấp tính. Đặc trưng của bệnh đường hô hấp là heo ho, sốt cao, khó thở, thở thể bụng, chảy nhiều dịch mũi, giảm ăn hoặc bỏ ăn, xuất hiện các điểm,
mảng tím trên da, đặc biệt là phần tai. Một vài trường hợp có thêm triệu chứng chảy máu mũi. Để phân biệt bệnh viêm phổi do Mycoplasma thì heo ho to từng cơn dài 7 - 10 tiếng, ho mọi lúc: sáng sớm, chiều tối, sau khi ăn, bị rượt đuổi…
Bệnh tích
Bệnh tích phổi ghi nhận phổi bị nhục hóa, xẹp, có nhiều đốm xuất huyết, cứng và có màu đỏ sẫm, đôi khi có mủ. Bên cạnh các bệnh tích viêm phổi dính sườn, xoang bao tim tích nước, tràn dịch màng phổi và xoang bụng và viêm khớp cũng được ghi nhận.
Chẩn đoán
Để chẩn đoán được bệnh, cần phải có chi tiết các dấu hiệu lâm sàng trên heo như tuổi, tỷ lệ mắc bệnh trong đàn, tỷ lệ chết, lịch tiêm phòng, đáp ứng điều trị của heo, các triệu chứng, các bệnh tích đặc biệt là bệnh tích trên phổi...
Phòng bệnh
Về cơ bản chiến lược phòng bệnh hô hấp phức hợp trên heo dựa trên 3 nhóm biện pháp: tiêm phòng các bệnh nguy hiểm liên quan đến bệnh lý trên đường hô hấp; tăng cường công tác quản lý của trại trên tất cả các phương diện và sử dụng kháng sinh để phòng và trị bệnh.
THÚ Y
51
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Giải pháp tiêm phòng thật sự quan trọng và hữu ích đối với các trại có vấn đề nghiêm trọng về bệnh vì sẽ làm giảm được áp lực vi sinh vật gây bệnh theo thời gian. Tiêm đầy đủ vaccine để phòng các bệnh truyền nhiễm, kể cả vaccine ngừa bệnh hô hấp khi heo còn khỏe mạnh. Nên chọn vaccine hô hấp loại đa giá. Tạo ra điều kiện môi trường tốt nhất cho heo: mật độ nuôi, quy mô đàn, môi trường (vệ sinh tiêu độc, nhiệt độ, ẩm độ, nồng độ khí NH3, bụi, thông thoáng…). Thực hiện việc sát khuẩn chuồng trại, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi thường xuyên để kiểm soát mầm bệnh trong và ngoài khu vực chăn nuôi. Tránh gây stress cho heo, nhập heo vào cùng lượt và xuất ra cùng lượt. Đảm bảo thức ăn đầy đủ dinh dưỡng cho heo trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Lưu ý, cần bổ sung 50 - 100 IU Vitamin E/1 tấn thức ăn nếu trong đàn heo có biểu hiện của bệnh hô hấp. Cung cấp đầy đủ nước sạch mọi lúc cho heo uống. Chủ động áp dụng và chỉ nên sử dụng kháng sinh ở các giai đoạn, thời điểm heo dễ bị stress nhất (chuyển chuồng, chuyển giai đoạn nuôi, thay đổi cám, thời tiết thất thường...). Để phòng bệnh, tốt nhất là sử dụng kháng sinh qua thức ăn, nước uống. Một số kháng sinh được sử dụng phổ biến trong phòng chống bệnh hô hấp phức hợp trên heo như: Doxycycline, Tetramycin hoặc Timicosin. Sau mỗi đợt dùng kháng sinh, nên bổ sung chế phẩm sinh học để cung cấp vi khuẩn có lợi, tăng sức đề kháng và giảm khí độc trong chuồng nuôi. Định kỳ kiểm tra sức khỏe đàn heo và xử lý sớm khi phát hiện triệu chứng bất thường.
Điều trị
Kháng sinh là một phần quan trọng trong điều trị PRDC khi vi khuẩn đã xâm nhập vào hệ hô hấp của heo. Một trong những kháng sinh hiệu quả cho điều trị PRDC như: TULACIN (dùng ngày đầu tiên trong liệu trình điều trị), sau đó 1 ngày dùng AMOX-LA tiêm buổi sáng và buổi chiều dùng chế phẩm có CEFTIOFUR tiêm bắp theo chỉ dẫn trên bao bì sản phẩm. Lưu ý, việc sử dụng kháng sinh cần tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ thú y để đảm bảo an toàn và hiệu quả. Đồng thời, việc sử dụng kháng sinh đúng cách sẽ giảm nguy cơ kháng thuốc trong tương lai.
NAM CƯỜNG
Xử lý bệnh viêm phổi trên bê, nghé Triệu chứng
Bệnh tiến triển rất nhanh, thời gian ủ bệnh chỉ từ 3 - 5 ngày. Bê, nghé có những biểu hiện: sốt cao 41 - 420C, sốt liên tục trong 3 - 5 ngày; ăn kém hoặc bỏ ăn, niêm mạc mắt đỏ sẫm, chảy nước mắt, nước mũi. Khi sốt cao bê, nghé thường có biểu hiện run rẩy, co giật, đi xiêu vẹo hoặc nằm liệt một chỗ. Bê, nghé khó thở, thở nhanh, biểu hiện ho tăng dần, khi ho chảy nhiều bọt khí, chảy dãi. Trường hợp nặng hơn có dịch mủ chảy ra từ miệng mũi. Một số bê, nghé bị bệnh có biến chứng viêm ruột, ỉa chảy do bê, nghé nuốt đờm dãi có chứa vi khuẩn vào đường tiêu hóa.
Bệnh tích
Bê, nghé thường chết trong khoảng thời gian 3 - 5 ngày với tỷ lệ chết cao (80 - 100%). Phổi phù thũng, tụ huyết, xuất huyết đỏ. Trong phế quản, khí quản có nhiều bọt khí hoặc dịch mủ. Màng phổi dính vào lồng ngực và màng tim, trong xoang ngực có nhiều dịch màu vàng.
Phòng bệnh
Tiêm phòng đầy đủ hàng năm các loại bệnh truyền nhiễm có thể gây hại cho bê, nghé và đàn gia súc. Bê, nghé mới sinh ra cần phải cho bú sữa đầu vì trong sữa đầu có nhiều loại khoáng thể cần thiết giúp cho bê, nghé tăng cường sức đề
kháng của cơ thể. Chuồng trại luôn khô thoáng, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè và kín ấm trong mùa đông. Định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi bằng các loại thuốc: Benkocid, HanIodin, Vikon,… Tẩy ký sinh trùng đường tiêu hóa cho bê, nghé. Ngoài tất cả các biện pháp trên ra, cần lưu ý khi xuất nhập bê, nghé cần phải kiểm dịch nghiêm ngặt. Trong quá trình nuôi, bổ sung đầy đủ khoáng, vitamin giúp cân đối dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi.
Điều trị bệnh
Bệnh viêm phổi do vi khuẩn gây nên vì vậy biện pháp chữa trị hiệu quả nhất là sử dụng kháng sinh, người nuôi có thể sử dụng một trong các kháng sinh có hoạt chất như: Kanamycin 10%, Tiamulin 10%. Ngoài thuốc điều trị, cần kết hợp dùng các thuốc trợ sức, trợ lực như: Cafein, B - Complex và Vitamin C. Sau từ 2 - 3 ngày điều trị mà bệnh không giảm thì ngoài việc sử dụng kháng sinh, cần tiến hành tẩy ký sinh trùng cho bê, nghé. Thông thường sau từ 3 - 5 ngày điều trị bê, nghé sẽ khỏi bệnh. Bên cạnh đó, cần chăm sóc tốt, cung cấp dinh dưỡng đầy đủ cho bê, nghé.
NGUYỄN HẰNG
BÁCH KHOA THƯ
Thỏ giày tuyết (Lepus americanus) Là giống thỏ có chiều dài 36 - 46 cm, thích nghi với mùa đông khắc nghiệt. Loài thỏ này có bộ lông trắng muốt như tuyết vào mùa đông và đổi dần sang nâu khi tuyết tan vào mùa xuân. Mất khoảng 10 tuần để bộ lông của chúng đổi màu hoàn toàn. Thỏ giày tuyết thường được tìm thấy trong các khu rừng phía Bắc, trên các khu rừng núi cao, chúng thích nơi có những tầng cây bụi dày đặc, các khu rừng trẻ. Chúng phân bố ở phía Bắc bờ Bắc Băng Dương. Dọc theo vùng núi Bắc Mỹ, chúng có mặt ở phía Nam như Virginia và New Mexico. Thỏ giày tuyết kiếm ăn vào ban đêm, dọc theo những con đường mòn để ăn các loại cây bụi, cỏ, cây nhỏ. Chúng nhút nhát và hay lẩn trốn, dành phần lớn thời gian trong ngày ẩn trong hang, có khi dùng hang của hải ly núi để làm hang của mình. Như đa số loài thỏ, thỏ giày tuyết đẻ khá nhiều, 2 - 3 lứa/năm, 1 - 8 con/lứa.
LÊ LOAN
52
DINH DƯỠNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
TINH DẦU KINH GIỚI OREGANO CHỐNG STRESS NHIỆT CHO GÀ THỊT Biến đổi khí hậu và nhiệt độ toàn cầu gia tăng đang đặt gà thịt trước nguy cơ stress nhiệt nghiêm trọng. Tinh dầu oregano tự nhiên (OEO) nổi bật như giải pháp hỗ trợ sức khỏe đường ruột, cải thiện tăng trưởng và nâng cao khả năng sống sót cho đàn gà trong điều kiện nắng nóng khắc nghiệt. Stress nhiệt ảnh hưởng tới gà thịt
Sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu làm stress nhiệt trở thành một thách thức ngày càng nghiêm trọng trong chăn nuôi gà thịt hiện đại. Những dòng gà hiệu suất cao, nhờ khả năng sinh trưởng nhanh và tốc độ trao đổi chất cao, càng dễ bị tổn thương do sản sinh nhiệt nội tại nhiều hơn và khả năng điều hòa thân nhiệt hạn chế. Nhiệt độ lý tưởng để gà duy trì sức khỏe và hiệu suất là 18 - 22°C. Gà không có tuyến mồ hôi, vì vậy khi nhiệt độ vượt quá vùng nhiệt tối ưu, chúng buộc phải kích hoạt các cơ chế hành vi và sinh lý nhằm tản nhiệt, từ thở nhanh, giãn cánh, tắm cát cho đến giảm vận động. Khi cơ chế điều hòa nhiệt thất bại, gà dễ gặp phải stress oxy hóa, dẫn đến các vấn đề về đường ruột, thay đổi hệ vi sinh vật, tăng tính thấm thành ruột, và nguy cơ vi khuẩn gây bệnh xâm nhập máu cao hơn. Các biểu hiện điển hình của stress nhiệt ở gà thịt gồm giảm ăn, suy giảm miễn dịch, tăng trưởng kém, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp và trong trường hợp nghiêm trọng, dẫn đến tử vong.
Giải pháp từ thảo dược
Tinh dầu oregano tự nhiên (OEO) chứa tới 100 hợp chất hoạt tính, hoạt động hiệp lực để mang lại các đặc tính được khoa học chứng minh: kháng khuẩn, chống viêm, điều hòa miễn dịch và chống ôxy hóa. Những đặc tính này đặc biệt quan trọng trong việc duy trì sức khỏe đường ruột, giúp gà cải thiện hiệu suất sinh trưởng và khả năng chống chịu stress nhiệt. OEO đã được chứng minh giúp duy trì hệ vi sinh vật đường ruột cân bằng và cấu trúc ruột khỏe mạnh. Phụ gia này cũng có hiệu quả mạnh mẽ chống lại các tác nhân gây bệnh phổ biến trong chăn nuôi gà như Salmonella enteritidis và E. coli, đặc biệt trong điều kiện nhiệt độ cao và ruột rò rỉ. Nhiều nghiên cứu học thuật và thực
nghiệm thương mại đã chứng minh lợi ích của OEO trong việc cải thiện hiệu suất gà thịt dưới điều kiện stress nhiệt. Nghiên cứu tại Romania (2018, Turcu et al.): 60 gà con Cobb 50 ngày tuổi được nuôi với chế độ ăn cơ bản đến ngày 14, sau đó chia thành hai nhóm: nhóm đối chứng (chỉ chế độ ăn cơ bản) và nhóm bổ sung tinh dầu oregano 0,01%. Gà được nuôi trong phòng thí nghiệm với nhiệt độ 32°C, độ ẩm 36%, thức ăn và nước uống tự do đến ngày 42. Kết quả cho thấy nhóm gà bổ sung OEO có giảm đáng kể Enterobacteriaceae và E. coli, đồng thời tăng mạnh số lượng Lactobacilli. Hệ vi sinh cecum cũng cải thiện rõ rệt. Nghiên cứu IBNA, Romania (2018, Vlaicu et al.): 40 gà con Cobb 500 ngày tuổi được phân nhóm tương tự và nuôi đến ngày 42. Kết quả ghi nhận tăng trưởng và lượng ăn hàng ngày tốt hơn ở nhóm được bổ sung OEO. Hai nghiên cứu này khẳng định tác dụng kháng khuẩn của OEO hỗ trợ hệ vi sinh khỏe mạnh, cải thiện tăng trưởng và lượng ăn ở gà nuôi trong điều kiện stress nhiệt. Nghiên cứu thương mại tại Mỹ: Khoảng 80.500 gà Ross 708 được nuôi trong 4 chuồng đến trọng lượng mục tiêu 4,5 kg (60 - 62 ngày tuổi). Một chuồng được bổ sung OEO dạng lỏng tự nhiên (Orego-Stim Liquid) 300 ml/1000 L nước uống trong 5 ngày cuối trước khi đưa đi giết mổ, ba chuồng còn lại không bổ sung. Nhiệt độ dao động 31 - 39°C, độ ẩm 57 - 87%. Kết quả cho thấy, nhóm gà được bổ sung OEO giảm 56% số lượng gà chết khi đến nhà máy so với nhóm không bổ sung trong thời
kỳ stress nhiệt. Điều này chứng minh khả năng cải thiện tỷ lệ sống sót và lợi nhuận trang trại nhờ OEO.
Quản lý stress nhiệt
Quản lý stress nhiệt ở gà thịt đòi hỏi một chiến lược đa chiều, bao gồm điều chỉnh môi trường, chế độ dinh dưỡng và quản lý sức khỏe. Bổ sung OEO tự nhiên có thể trở thành phần cốt lõi trong kế hoạch này, nhờ khả năng duy trì vi sinh đường ruột, tăng sức đề kháng và cải thiện hiệu suất sinh trưởng trong thời kỳ nắng nóng. Sản phẩm Orego-Stim đã có mặt trên thị trường toàn cầu hơn 25 năm, hỗ trợ sức khỏe đường ruột gà và cung cấp giải pháp tự nhiên, hiệu quả kinh tế. Sản phẩm có cả dạng bột và dạng lỏng, dễ dàng bổ sung qua thức ăn hoặc nước uống, phù hợp với cả stress nhiệt cấp tính và mãn tính. Tinh dầu oregano tự nhiên là giải pháp tiềm năng, khoa học chứng minh, giúp gà thịt duy trì sức khỏe đường ruột, cải thiện tăng trưởng và khả năng sống sót trong điều kiện stress nhiệt, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại.
DŨNG NGUYÊN
(Theo Allaboutfeed)
DINH DƯỠNG
53
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
QUẢN LÝ ABC-4
Chìa khóa dinh dưỡng cho heo con sau cai sữa Quản lý khả năng liên kết axit ở pH 4 (ABC-4) trong khẩu phần giúp duy trì môi trường dạ dày lý tưởng, ổn định đường ruột và tăng trưởng, đặc biệt quan trọng khi heo con được cai sữa sớm, dễ gặp tình trạng tiêu chảy. Tầm quan trọng của ABC-4 sau cai sữa
Heo con cai sữa sớm thường phải đối mặt với nhiều thách thức do hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện. Quá trình chuyển từ chế độ ăn lỏng sang rắn, khả năng tiết hydrochloric acid thấp, lên men lactic hạn chế cùng với thói quen ăn uống không đều đặn khiến heo con chịu căng thẳng sau cai sữa. Những yếu tố này làm tăng pH dạ dày, ảnh hưởng đến hoạt động của pepsin vốn cần môi trường axit lý tưởng (pH 2 - 3,5), dẫn đến tiêu hóa protein kém, tiêu chảy và nguy cơ phát triển vi sinh vật gây hại cao hơn. Một trong những hướng tiếp cận hứa hẹn là quản lý khả năng liên kết axit của khẩu phần, nhằm duy trì môi trường dạ dày axit. Khi khẩu phần có khả năng đệm thấp, pH dạ dày được giữ ở mức tối ưu, từ đó hỗ trợ tiêu hóa và tăng trưởng heo con. Khái niệm này được định lượng thông qua ABC-4, là lượng acid (mEq HCl/kg thức ăn) cần thiết để hạ pH khẩu phần xuống 4. Duy trì pH dưới ngưỡng này vừa ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây hại vừa tối ưu hóa tiêu hóa protein.
Nguyên liệu, ABC-4 và ảnh hưởng đến tiêu hóa
Nguyên liệu chăn nuôi khác nhau có giá trị ABC-4 rất khác nhau. Các bữa ăn giàu protein như đậu nành, hạt cải hay bột cá, cũng như các nguồn khoáng như canxi, natri và kẽm, thường có ABC cao. Khi được sử dụng trong khẩu phần, chúng hấp thụ lượng lớn acid dạ dày, làm suy yếu khả năng phòng vệ tự nhiên của dạ dày. Ngược lại, các loại axit hữu cơ có giá trị ABC âm, giúp bù đắp tác động tiêu cực của nguyên liệu có khả năng đệm cao. Trong các phụ gia khoáng, ZnO là trường hợp đặc biệt với giá trị ABC-4 cao nhất, lên đến 16.321 mEq HCl/kg. Khi ZnO được sử dụng ở liều dược lý hoặc một số nguồn canxi được bổ sung, khả năng liên kết axit của khẩu phần tăng mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến tiêu hóa protein và sức khỏe đường ruột.
Việc quản lý ABC-4 trong khẩu phần đã được nghiên cứu như một giải pháp thay thế ZnO liều dược lý. Nghiên cứu tại Đại học Kansas, Mỹ (KSU) chỉ ra rằng phạm vi ABC4 tối ưu là 200 - 300 mEq HCl/kg, với khuyến nghị cụ thể cho từng giai đoạn: 200 - 250 mEq cho pha 1 (0 - 10 ngày sau cai sữa) và 250 - 300 mEq cho pha 2 (11 - 24 ngày). Duy trì ABC-4 trong phạm vi này giúp ổn định chức năng dạ dày và tăng trưởng heo con, là lựa chọn khả thi để thay thế ZnO liều cao mà vẫn đảm bảo hiệu quả.
PZnO và ứng dụng trong khẩu phần ABC-4 tối ưu
PZnO (Potentiated Zinc Oxide, Animine, Pháp) đã được chứng minh qua hơn 30 nghiên cứu toàn cầu nhờ sở hữu các đặc tính vật lý và hóa học ưu việt. Các đặc tính này gồm mật độ trung gian, kích thước hạt lớn và diện tích bề mặt cao, giúp tăng cường khả năng kháng khuẩn và sinh khả dụng, từ đó PZnO hiệu quả ở liều thấp hơn nhiều so với ZnO thông thường (3 - 4 kg/tấn). Trong một nghiên cứu kéo dài 24 ngày, KSU đã kết hợp khẩu phần ABC-4 thấp với việc tăng liều PZnO. Kết quả cho thấy việc bổ sung PZnO giúp tăng đáng kể trọng lượng trung bình hàng ngày (ADG) và lượng ăn, đặc biệt trong pha 1. Heo con sử dụng PZnO hoặc ZnO liều cao đều có phân rắn chắc, độ ẩm khô trên 26%, phản ánh sự ổn định đường ruột. Nghiên cứu này chứng minh rằng PZnO liều thấp theo quy định EU có thể đạt hiệu quả tương đương ZnO liều dược lý về tăng trưởng, lượng ăn, hiệu quả sử dụng
thức ăn và kiểm soát tiêu chảy, đồng thời duy trì ABC-4 khoảng 250 mEq HCl/kg. Một nghiên cứu bổ sung tại Tây Ban Nha được tiến hành với PZnO 150 ppm theo quy định EU, kết hợp các mức ABC-4 khác nhau gồm 180/220, 253/280, 327/340 và 400/400 mEq HCl/kg cho pha 1 và pha 2. Kết quả cho thấy cân nặng và ADG của heo con giảm dần khi ABC-4 tăng, với heo con trong khẩu phần có ABC-4 thấp nhất duy trì tăng trưởng tốt nhất. Lượng ăn tự nguyện trong pha 2 cũng giảm khi ABC-4 cao hơn, cho thấy hiệu suất thấp không chỉ do hấp thu dinh dưỡng mà còn do heo con ăn ít hơn. Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) không thay đổi đáng kể, điều này cho thấy khả năng chuyển hóa thức ăn vẫn ổn định mặc dù tăng trưởng và lượng ăn thay đổi. Chỉ số phân phản ánh tác động của khẩu phần ABC-4 cao đến sức khỏe đường ruột. Khi ABC-4 vượt mức 400 mEq HCl/kg, heo con gặp tình trạng phân lỏng và tiêu chảy nhiều nhất. Mặc dù độ ẩm phân không thay đổi nhất quán, pH phân tăng tuyến tính theo ABC-4, cho thấy hoạt động lên men hậu môn giảm, dẫn đến sản xuất acid béo dễ bay hơi (VFA) thấp hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây hại phát triển. Số lượng tổng vi khuẩn Enterobacteria cũng có xu hướng tăng, ủng hộ quan sát về việc tiêu chảy gia tăng và pH phân cao ở các khẩu phần có khả năng đệm quá mức.
Ứng dụng thực tiễn
Để áp dụng vào thực tiễn, người chăn nuôi cần quản lý cẩn thận các nguyên liệu có khả năng liên kết axit và lựa chọn khoáng phù hợp trong khẩu phần. Việc sử dụng PZnO theo mức quy định của EU cho phép đạt ABC-4 tối ưu, duy trì tăng trưởng và giảm tiêu chảy, đồng thời giảm phụ thuộc vào ZnO liều cao và kháng sinh. Đây là hướng đi bền vững giúp bảo vệ sức khỏe heo con sau cai sữa, đồng thời đảm bảo hiệu suất chăn nuôi.
MI LAN
(Theo Feed&Additives)
54
MÔ HÌNH NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
Nuôi gà công nghệ cao kết hợp thảo dược mở hướng đi bền vững Ứng dụng chuồng kín thông minh, quy trình VietGAHP cùng kỹ thuật bổ sung thảo dược truyền thống, mô hình nuôi 6.000 con gà Ai Cập của ông Nguyễn Hoàng Tuấn (xóm Yên Thế, xã Đô Lương, Nghệ An) đang tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Chăn nuôi công nghệ cao
Cách đây vài năm, khi còn chăn nuôi nhỏ lẻ, gia đình ông Nguyễn Hoàng Tuấn từng đối mặt với hàng loạt khó khăn như: vốn đầu tư hạn chế, kỹ thuật chăm sóc chưa bài bản khiến tỷ lệ sống của gà thấp, năng suất trứng không ổn định. Sau 4 năm tích lũy kinh nghiệm, ông Tuấn quyết định làm mới toàn bộ quy trình sản xuất bằng công nghệ cao và chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP. Bước ngoặt lớn đầu tiên là hệ thống chuồng kín thông minh được đầu tư đồng bộ. Nhờ công nghệ tự động kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, không khí lưu thông, đàn gà luôn được sống trong điều kiện ổn định - yếu tố quyết định giúp hạn chế sốc nhiệt trong môi trường thời tiết cực đoan miền Trung. Theo ông Tuấn, từ khi chuyển sang chuồng kín, tình trạng chết rải rác hay gà giảm đẻ do thay đổi thời tiết gần như không còn. Cùng với việc cải thiện môi trường sống, quy trình chăm sóc cũng thay đổi hoàn toàn. Qua sự hỗ trợ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông Nghệ An, ông Tuấn áp dụng tiêu chuẩn VietGAHP, sử dụng hệ thống cho ăn, uống tự động và camera giám sát giúp theo dõi đàn gà 24/7. Nhờ quản lý chính xác lượng thức ăn theo từng giai đoạn, đàn gà phát triển đồng đều, hạn chế thất thoát thức ăn, tiết kiệm chi phí nhân công nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng tối ưu. Điểm nổi bật tạo nên sự khác biệt của mô hình là kỹ thuật bổ sung thảo dược kết hợp men vi sinh nhằm tăng đề kháng tự nhiên cho đàn gà. Thay vì phụ thuộc thuốc thú y, ông Tuấn tự chế biến các loại thảo dược quen thuộc như tỏi, gừng, nghệ, lá trầu không. Mỗi đợt bổ sung kéo dài 5 - 7 ngày với liều lượng cụ thể: 0,5 - 1 g tỏi/con/ngày; gừng và nghệ mỗi loại 0,3 g/con/ngày; lá trầu không 0,5 g/con/ngày. Men vi sinh được bổ sung 3 - 5 ngày/đợt với liều 1 - 2 g/con/ngày. Các nguyên liệu được xay nhuyễn, pha
nước cho gà uống theo từng chu kỳ lặp lại 2 tuần/lần. Nhờ quy trình này, đường ruột gà được ổn định, sức đề kháng tăng mạnh, tỷ lệ mắc bệnh giảm rõ rệt, giúp hạn chế tối đa sử dụng kháng sinh. “Từ khi dùng thảo dược kết hợp men vi sinh, đàn gà khỏe hơn, trứng đều hơn, chất lượng cũng được người mua tin tưởng”, ông Tuấn chia sẻ. Hiệu quả dễ thấy nhất là năng suất trứng đạt trung bình 200 quả/mái/năm. Trứng bổ sung thảo dược có chứng nhận VietGAHP được thị trường ưa chuộng, giá cao hơn mặt bằng chung, dao động 3.500 - 3.700 đồng/ quả, cao điểm lễ, Tết lên đến 4.000 đồng/quả.
Triển vọng nhân rộng
Với 6.000 mái/lứa, tổng thu mỗi năm đạt khoảng 3,8 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí thức ăn (1,55 tỷ đồng) và các khoản khác gồm thuốc thú y, vaccine, khấu hao chuồng trại, giống, nhân công và thảo dược (1,67 tỷ đồng), lợi nhuận ước trên 580 triệu đồng/năm. Không chỉ mang lại nguồn thu ổn định, mô hình còn tạo việc làm thường xuyên cho lao động địa phương, góp phần phát triển kinh tế nông thôn. Trang trại thường xuyên đón tiếp nông dân trong và ngoài tỉnh đến tham quan, học hỏi. Ông Tuấn mong muốn, nhiều hộ cùng làm để tạo ra vùng trứng sạch của Đô Lương, hướng tới thương hiệu địa phương. Trong đợt bão số 10 vừa qua, trang trại bị hư hỏng chuồng trại, máy móc và mất điện kéo dài. Dù tốn kém nhưng gia đình vẫn ưu tiên khắc phục nhanh chóng để bảo vệ đàn
gà. Nhờ vậy, sức khỏe và tỷ lệ đẻ hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Thời gian tới, ông Tuấn dự định mở rộng quy mô và mong muốn tiếp tục nhận được hỗ trợ từ các chương trình khuyến nông, khoa học công nghệ, dự án liên kết để nâng cao giá trị sản phẩm và tham gia chuỗi tiêu thụ bền vững. Đánh giá về hiệu quả mô hình, bà Lê Thị Lý, Trưởng phòng Kinh tế xã Đô Lương nhận định, mô hình của ông Nguyễn Hoàng Tuấn là điển hình tiêu biểu trong phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững. Việc kết hợp công nghệ cao và thảo dược giúp giảm chi phí, hạn chế dịch bệnh và tăng giá trị sản phẩm, phù hợp định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của địa phương. Từ hiệu quả thực tế, mô hình nuôi gà VietGAHP kết hợp thảo dược của ông Nguyễn Hoàng Tuấn được xem là hướng đi khả thi để nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hiện đại tại Nghệ An. Đây cũng là kinh nghiệm quan trọng để các địa phương nhân rộng, nhằm xây dựng nền chăn nuôi an toàn, chất lượng và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
MINH KHUÊ
MÔ HÌNH
55
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
ÚM GIA CẦM CHÍNH XÁC
Bí quyết tạo đàn gà năng suất cao Nhiệt độ - yếu tố sống còn
Những ngày đầu trong chuồng úm quyết định khả năng phát triển của gà trong suốt chu kỳ nuôi. Gà con chưa thể tự điều hòa thân nhiệt trong tuần đầu sau nở, khiến chúng đặc biệt nhạy cảm với nhiệt độ môi trường. Nghiên cứu của Yahav và cộng sự (2001) cho thấy, sốc nhiệt trong giai đoạn này có thể làm suy giảm hệ miễn dịch và hạn chế tăng trưởng. Việc đo nhiệt độ khoang huyệt cần được thực hiện ít nhất mỗi ngày trong bốn ngày đầu tiên. Đặt nhiệt độ úm theo mức cố định phổ biến hiện nay là không đủ, bởi nhu cầu nhiệt của gà thay đổi tùy theo tuổi gà bố mẹ, nhiệt độ vận chuyển, mức độ vận động, độ ẩm và nhiều yếu tố khác. Chỉ khi tinh chỉnh nhiệt độ dựa trên các điều kiện thực tế mới có thể giảm stress, đảm bảo tỷ lệ sống cao và khởi đầu thuận lợi cho đàn gà.
Thức ăn và “cửa sổ cơ hội” dinh dưỡng
Những giờ và ngày đầu sau nở mở ra một “cửa sổ cơ hội” dinh dưỡng cực kỳ quan trọng, quyết định khả năng phát huy tối đa tiềm năng di truyền của gà hiện đại (Ravindran, 2003). Trong giai đoạn này, gà chuyển từ nguồn dinh dưỡng dự trữ trong noãn hoàng sang thức ăn bên ngoài, chủ yếu là hỗn hợp thức ăn khởi đầu. Hệ tiêu hóa non nớt phải thích nghi nhanh để tiêu hóa các dưỡng chất phức tạp hơn. Việc gà tiếp cận thức ăn và nước sớm không chỉ cung cấp năng lượng mà còn kích thích sự phát triển của đường tiêu hóa, từ đó nâng cao khả năng hấp thụ dinh dưỡng trong các tuần tiếp theo. Noãn hoàng chứa nhiều phân tử sinh học quý giá, đặc biệt là kháng thể mẹ, có giá trị hơn nhiều so với việc sử dụng làm nguồn năng lượng đơn thuần (Dibner, 1999). Lipid trong noãn hoàng cũng đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc màng tế bào và cung cấp phospholipid, choline hay triglyceride. Bởi vậy, việc gà tiếp cận thức ăn bên ngoài ngay sau nở giúp giảm lãng phí các dưỡng chất này, đồng thời kích thích phát triển niêm mạc ruột, tăng chiều cao villus và diện tích bề
mặt hấp thu, cải thiện khả năng miễn dịch và giảm tính thấm của ruột với mầm bệnh. Khả năng tiêu hóa và hấp thu của gà con còn phụ thuộc vào chất lượng thức ăn đầu tiên. Kích thước viên mảnh hoặc khả năng tiêu hóa kém sẽ làm hạn chế hiệu quả phát triển đường ruột, từ đó ảnh hưởng đến biểu hiện tăng trưởng tối đa của gà broiler hiện đại (Ravindran, 2003). Thậm chí, một phần tử vong và bệnh tật sớm không chỉ do mất nước hay đói mà chủ yếu xuất phát từ việc gà không ăn ngay sau khi xuống chuồng (Xin & Lee, 1997).
Dinh dưỡng tối ưu và thách thức nguyên liệu
Các chuyên gia dinh dưỡng gia cầm thường xây dựng khẩu phần đặc thù dựa trên nguyên liệu địa phương hoặc có sẵn. Tuy nhiên, không phải nguyên liệu nào cũng có khả năng tiêu hóa cao, đặc biệt trong những giờ và ngày đầu khi hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện. Kim và cộng sự (2021) chỉ ra rằng 30% dinh dưỡng trong khẩu phần bị thải ra ngoài mà không được hấp thụ, điều này làm ảnh hưởng đến sự phát triển hệ vi sinh vật đường ruột và khả năng miễn dịch của gà. Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng khi kháng sinh bị loại bỏ hoặc giảm trong khẩu phần ăn. Giải pháp thực tiễn là rút ngắn thời gian tiếp cận thức ăn khởi đầu và cung cấp các dưỡng chất dễ tiêu hóa càng sớm càng tốt. Một số nhà chăn nuôi đã phát triển khẩu phần tiền khởi đầu chuyên biệt, nhưng các rào cản thương mại như chi phí và tần suất giao hàng khiến việc áp dụng rộng rãi còn
hạn chế. Hiện nay, phương pháp phổ biến là bổ sung thức ăn ngay thời điểm thả gà xuống chuồng, thường rải trên khay hoặc giấy trong khu vực úm để gà tiếp cận và ăn được ngay.
Nước - thiết yếu nhưng thường bị bỏ qua
Nước là thành phần thiết yếu, tham gia vào tiêu hóa, điều hòa thân nhiệt và chuyển hóa. Nếu không được cung cấp đầy đủ, gà con có thể mất tới 10% trọng lượng cơ thể trong 24 giờ đầu. Nguồn nước phải được kiểm tra định kỳ để đảm bảo sạch và không chứa mầm bệnh. Hệ miễn dịch của gà con chưa hoàn thiện, vì vậy chất lượng nước tác động trực tiếp đến sức khỏe trong những ngày đầu. Sẵn có nước và dễ tiếp cận ngay thời điểm thả gà là bắt buộc. Nghiên cứu của May và cộng sự (1997) cho thấy, thiếu nước trong 48 giờ đầu làm giảm tăng trọng đáng kể và tăng tỷ lệ chết. Thường các nhà chăn nuôi tin rằng gà vẫn uống nước đầy đủ, nhưng cần đo đạc cụ thể qua các chỉ số như mức đầy diều để xác thực. Đồng hồ đo nước truyền thống thường không đủ nhạy trong giai đoạn này do lượng tiêu thụ rất nhỏ. Chỉ khi các yếu tố từ nhiệt độ, thức ăn, dinh dưỡng chuyên biệt đến nước và quản lý mảng phụ trợ được kết hợp nhịp nhàng, gà con mới thực sự chuyển từ cá thể mong manh thành đàn gà năng suất cao, đáp ứng kỳ vọng của ngành chăn nuôi hiện đại. Úm chính xác không chỉ là một bước kỹ thuật, mà là nền tảng cho thành công bền vững trong toàn bộ chu kỳ nuôi.
MI LAN
(Theo PoultryAsia)
57 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
58 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
59 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025
60 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 108 - 12/2025