Skip to main content

CON TOM 169 (1)

Page 1

CON TÔM THÁNG 12/2025

ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM

VIETNAM SHRIMP NEWS THÁNG 12/2025

Ảnh: Shutterstock

XUẤT KHẨU TÔM

BỨT PHÁ NGOẠN MỤC ĐỒNG HÀNH CÙNG TÔM VIỆT www.contom.vn

(16-17)


2

CON TÔM THÁNG 12/2025


CON TÔM THÁNG 12/2025

3


4

CON TÔM THÁNG 12/2025


CON TÔM THÁNG 12/2025

5


6

CON TÔM THÁNG 12/2025


CON TÔM THÁNG 12/2025

7


8 THƯ BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 12/2025

Đặc san CON TÔM Hội Thủy sản Việt Nam

Thưa Quý vị bạn đọc! Năm 2025 sắp khép lại với nhiều tín hiệu tích cực cho ngành tôm Việt Nam, cả về sản xuất trong nước lẫn thị trường xuất khẩu. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 11 tháng đầu năm 2025, sản lượng tôm cả nước đạt hơn 1,41 triệu tấn, tăng 5,5% so cùng kỳ năm trước. Mặc dù gặp nhiều thách thức lớn từ thời tiết bất thường và nguy cơ dịch bệnh, các vụ nuôi tôm năm 2025 vẫn đạt kết quả như kỳ vọng, đặc biệt tại ĐBSCL và một số tỉnh ven biển. Nhiều mô hình thâm canh, ứng dụng công XUẤT KHẨU TÔM nghệ cao được triển khai rộng rãi, giúp tăng năng suất, kiểm soát dịch bệnh và tối ưu chi phí. Nhờ đó, người (16-17) nuôi phấn khởi với sản lượng cao, chất lượng ổn định, giá bán thuận lợi, mang lại thu nhập đáng kể và củng cố niềm tin vào nghề. Hoạt động xuất khẩu tôm cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của tôm Việt trên thị trường quốc tế. Lũy kế 11 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt hơn 4,3 tỷ USD, tăng 21% và là mức cao nhất từ trước đến nay. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) dự báo xuất khẩu tôm cả năm có thể lập kỷ lục mới, khoảng 4,6 tỷ USD; toàn ngành thủy sản dự kiến cán mốc 11,2 - 11,3 tỷ USD, mức cao nhất trong lịch sử. Những kết quả này không chỉ khẳng định nỗ lực và sáng tạo của người nuôi, mà còn phản ánh hiệu quả các chính sách hỗ trợ, việc chuyển đổi mô hình nuôi và ứng dụng công nghệ tiên tiến của ngành. Thành công của năm 2025 là động lực quan trọng để ngành tôm tiếp tục phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả sản xuất và giá trị xuất khẩu trong những năm tiếp theo. Đây là những nội dung chính của Đặc san Con Tôm phát hành tháng 12/2025. Ngoài ra, trong số này vẫn là các chuyên trang, chuyên mục cập nhật tình hình nuôi tôm trong nước và thế giới, kỹ thuật nuôi, thông tin thị trường, hoạt động doanh nghiệp,… Rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý bạn đọc! Trân trọng! CON TÔM THÁNG 12/2025

PHỤ TRÁCH PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi BAN BIÊN TẬP Dương Xuân Hùng, Trưởng Ban Biên tập Đỗ Huy Hoàn, Nhà báo Phạm Thu Hồng, Nhà báo Dương Nam Anh, Nhà báo THƯ KÝ TÒA SOẠN Kim Tiến CỘNG TÁC NỘI DUNG Minh Thanh, Hải Đăng, Vũ Mưa, Anh Thư, Lê Cung, Phạm Duy Tương, Phan Thanh Cường, Nguyễn Anh, Lê Hoàng Vũ, Mai Xuân Trường KỸ THUẬT VI TÍNH Phạm Dương TÒA SOẠN Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan.contom@gmail.com Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội Điện thoại: 0243.7713699 LIÊN HỆ QUẢNG CÁO VIETNAMMEDIA Communication Co., Ltd. Điện thoại: (028) 62.777.616 DĐ: 0944.663.828 Email: nghia@thuysanvietnam.com.vn ĐẶT MUA TẠP CHÍ Điện thoại: (024) 3.771.1756 Email: vuna@thuysanvietnam.com.vn TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG Tên tài khoản: CÔNG TY TNHH TRUYỀN THÔNG VIETNAMMEDIA Số 8614227979 Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV) - Chi nhánh Bà Chiểu Ấn phẩm LHNB

VIETNAM SHRIMP NEWS

ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM

Ảnh: Shutterstock

CHỦ NHIỆM TS Nguyễn Việt Thắng

THÁNG 12/2025

BỨT PHÁ NGOẠN MỤC ĐỒNG HÀNH CÙNG TÔM VIỆT www.contom.vn

BAN BIÊN TẬP

Hộp thư Tòa soạn luôn hoan nghênh sự đóng góp và các bài viết đặc sắc về ngành tôm từ các CTV, bạn đọc gần xa. Thư và bài vở xin gửi về: Tạp chí Thủy sản Việt Nam - Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan.contom@gmail.com Hoặc liên hệ trực tiếp theo số điện thoại: 0374 099 498 (Ms. Kim Tiến) Website: www.thuysanvietnam.com.vn  www.contom.vn


CON TÔM THÁNG 12/2025

NỘI DUNG

Theo dòng thời sự T14-15: Ngành tôm về đích sớm

Vấn đề - Sự kiện T16-17: Xuất khẩu tôm: Bứt phá ngoạn mục

Tòa soạn - Bạn đọc T18-19: Duy trì mạch sản xuất trong nuôi trồng thủy sản

Thị trường xuất khẩu T24-25: Vững đà tăng trưởng, đối diện thách thức

14

Nhìn ra thế giới T30-31: Tôm sú và hành trình hồi sinh nhờ đổi mới di truyền

Thức ăn - Dinh dưỡng T36-37: Nguyên liệu sinh học mới: Bước tiến sức khỏe tôm

Khoa học - Kỹ thuật T38: Đánh giá chất lượng tôm giống qua kính hiển vi T39: Biện pháp xử lý bệnh đường ruột trên tôm T40: Giải pháp mới cho ao nuôi lót bạt đáy bị EHP nhiều vụ

Thông tin doanh nghiệp

38

T42-43: Uni-President Việt Nam: Hành trình 2025, sát cánh và phát triển bền vững T44-45: Công nghệ treo khí nén (Air Bearing): Lời giải cho bài toán “năng lượng xanh” và tối ưu chi phí trong nuôi tôm công nghệ cao T46-47: Thái Nam Việt: Nhà tài trợ vàng Hội chợ VietAgros 2026 T48: Nano Bubble: Công nghệ cho ngành tôm hiện đại

Mô hình điển hình T52: Tôm, cua Cà Mau: Thương hiệu vươn xa từ đất Mũi T53: Thái Lan: Trại nuôi tôm thông minh đạt chuẩn ASC

Đồng hành cùng nhà nông T54-55: Chuẩn bị nguồn nước đạt chuẩn trước khi thả tôm

54

9


10 TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 12/2025

QUẢNG NINH

QUẢNG NGÃI

Kiên trì với loài tôm bản địa

Hỗ trợ người dân khôi phục sản xuất

Tại thôn An Biên 2 (xã Lê Lợi, TP Hạ Long), anh Hoàng Trung Dũng đang duy trì mô hình nuôi tôm sú trên diện tích 7 ao với tổng mặt nước 3,5 ha, kèm hệ thống xử lý và cấp nước đảm bảo an toàn sinh học. Dù không phổ biến như TTCT, tôm sú vẫn được anh lựa chọn nhờ sức đề kháng tốt và giá trị thương phẩm cao. Mỗi vụ nuôi kéo dài 8 - 9 tháng, mật độ được kiểm soát chặt để đạt size 15 - 17 con/kg. Năm nay, thời tiết bất thường với mùa lạnh kéo dài và lượng mưa giảm mạnh khiến độ mặn tăng lên 34 - 35‰. Tuy nhiên, nhờ xử lý nước kỹ lưỡng, ao nuôi của anh vẫn sạch bệnh, không xuất hiện EHP như nhiều vùng lân cận. Tôm sú hiện có giá 450.000 - 550.000 đồng/kg, cao hơn TTCT. Tuy nhiên, giá cả tương đối bấp bênh khiến lợi nhuận không ổn định. Dù vậy, anh Dũng vẫn kiên trì với loài tôm bản địa có sức đề kháng tốt, xem đây là hướng đi bền vững trong bối cảnh thời tiết và dịch bệnh ngày càng khó lường.

Các đợt mưa lớn vừa qua đã gây thiệt hại nặng cho nhiều hộ nuôi tôm ven biển Quảng Ngãi. Trước tình hình này, cán bộ Trung tâm Khuyến nông Quảng Ngãi đã nhanh chóng xuống cơ sở, hướng dẫn người dân vệ sinh ao nuôi, sử dụng chế phẩm sinh học và khử trùng nguồn nước. Mới đây, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cũng khảo sát và hướng dẫn quy trình xử lý ao nuôi sau mưa lũ cho người nuôi tôm xã An Phú. Các chuyên gia khuyến cáo rằng, tại những vùng thường xuyên bị ngập lụt do mưa bão, bà con nên áp dụng mô hình nuôi nhiều giai đoạn (2 - 3 giai đoạn/năm), đồng thời tránh thả giống vào thời điểm xảy ra mưa bão cực đoan để giảm rủi ro. Người nuôi cần cải tạo ao đúng quy trình; trước khi cấp nước trở lại, ao phải được xử lý kỹ để loại bỏ vi khuẩn và virus gây hại. Để tiêu diệt mầm bệnh, cần sử dụng chế phẩm sinh học đạt chất lượng kết hợp các loại hóa chất khử trùng phù hợp nhằm đảm bảo an toàn cho vụ nuôi tiếp theo.

THANH HÓA

ĐẮK LẮK

Nhân rộng nuôi tôm công nghệ cao

Thủ phủ tôm hùm lao đao sau mưa lũ

Tỉnh Thanh Hóa đang ghi nhận những bước phát triển ấn tượng trong ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, với các mô hình ứng dụng công nghệ cao ngày càng được nhân rộng. Theo thống kê của Chi cục Biển Đảo và Thủy sản Thanh Hóa, tính đến giữa tháng 11/2025, toàn tỉnh đã có 420 ha tôm sú đạt chứng nhận hữu cơ, 1.000 ha TTCT thâm canh theo hướng VietGAP và 4.200 ha nuôi tôm theo phương thức hữu cơ. Đặc biệt, mô hình nuôi TTCT công nghệ cao đang phát triển mạnh mẽ tại các xã như Tân Tiến, Hoàng Châu, Vạn Lục, Tiên Trang và phường Ngọc Sơn. Với khoảng 250 ha áp dụng công nghệ cao, năng suất tôm tại đây đạt từ 25 đến 30 tấn/ ha mỗi vụ. Bên cạnh các hộ nuôi tôm truyền thống, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã đã gia nhập lĩnh vực nuôi trồng thủy sản công nghệ cao. Điều này giúp hình thành chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ, thúc đẩy chuyển đổi từ quy mô nuôi nhỏ lẻ sang sản xuất quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

Đợt mưa lũ lịch sử vừa qua đã khiến hơn 20 triệu con tôm hùm nuôi tại phường Sông Cầu bị chết do ngập nước. Thiệt hại nặng nề này không chỉ xóa sạch nguồn thu của hàng nghìn hộ nuôi, mà còn làm đứt gãy chuỗi cung ứng từ người nuôi đến thương lái và doanh nghiệp xuất khẩu. Một số hợp đồng xuất khẩu buộc phải hủy do sản lượng và chất lượng tôm không đảm bảo. Rơi vào cảnh trắng tay, nhiều hộ nuôi kiến nghị chính quyền sớm có chính sách hỗ trợ khẩn cấp như khoanh nợ, giãn nợ, hỗ trợ tái đầu tư và cung cấp nguồn vốn duy trì sản xuất. Người dân lo ngại rằng nếu không được trợ giúp kịp thời, nguy cơ phá sản là rất lớn, và nghề nuôi tôm hùm - sinh kế chính của địa phương có thể bị xóa sổ. Trước mức độ thiệt hại nghiêm trọng, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có sự vào cuộc nhanh chóng và mạnh mẽ của chính quyền để giúp người nuôi tôm vượt qua khủng hoảng, bảo vệ cả mùa vụ hiện tại lẫn tương lai nghề nghiệp của họ.

ĐÀ NẴNG

KHÁNH HÒA

Tập trung chăm sóc tôm phục vụ thị trường Tết

Trung tâm sản xuất tôm giống chất lượng cao của cả nước

Thời điểm này, nông dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đang tập trung chăm sóc tôm để cung ứng thị trường Tết. Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm, nhiệt độ xuống thấp cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh tấn công. Theo ông Trần Công Định, Trưởng phòng Kinh tế, hạ tầng, đô thị phường Quảng Phú, để hạn chế rủi ro, người nuôi cần thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, nắm vững kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ khoa học. Đồng thời, quản lý chặt chẽ lượng thức ăn cho tôm hằng ngày, bổ sung thêm Vitamin C vào thức ăn để tăng khả năng chống chọi của tôm khi thời tiết thay đổi đột ngột. Ông Huỳnh Tấn Đạo, Giám đốc điều hành Nam An Farm (thôn Hòa Bình, xã Tam Anh) cho biết: “Những ngày này, tôm nuôi trong 20 ao phát triển tốt. Dự kiến vụ Tết sắp tới, trang trại sẽ cung ứng ra thị trường khoảng 50 tấn TTCT. Chúng tôi chú trọng tăng cường dinh dưỡng tạo miễn dịch tốt cho tôm, bổ sung men vi sinh vào ao nuôi để ổn định môi trường nước”.

Nghề sản xuất giống thủy sản tại Khánh Hòa hình thành từ những năm 1990. Đến nay, địa phương đã trở thành trung tâm lớn của cả nước về sản xuất tôm giống nước lợ, cung ứng khoảng 25 30% tổng sản lượng giống tôm quốc gia. Toàn tỉnh hiện có gần 500 cơ sở sản xuất tôm giống với năng lực cung ứng hơn 45 tỷ con giống mỗi năm. Trong đó, 14 cơ sở đã được chứng nhận an toàn dịch bệnh, nhiều cơ sở đạt các tiêu chuẩn quốc tế như BAP, GlobalGAP. Khánh Hòa cũng là nơi tập trung của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực giống tôm, những thương hiệu góp phần nâng cao uy tín con giống Việt Nam trên thị trường khu vực. Hai vùng quy hoạch sản xuất giống tập trung với quy mô gần 300 ha cùng vùng chuyên biệt sản xuất tôm bố mẹ gia hóa đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành. Bước sang năm 2026, Khánh Hòa đặt mục tiêu giữ vững và nâng tầm vị thế trung tâm sản xuất tôm giống chất lượng cao của cả nước.

NAM CƯỜNG

THẢO ANH

DIỆU CHÂU

THANH HIẾU

NGUYỄN AN

NGUYỄN HẰNG


TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 12/2025

CÀ MAU

Tôm tiếp tục là mặt hàng chủ lực của địa phương Cà Mau, địa phương được xem là “thủ phủ” tôm của cả nước tiếp tục ghi dấu ấn mạnh mẽ trong năm 2025 khi ngành tôm duy trì đà tăng trưởng ổn định và vượt các chỉ tiêu đề ra. Năm 2025, sản lượng tôm Cà Mau ước đạt 594.851 tấn, vượt mục tiêu và tăng 5,2% so năm trước, tiếp tục là nhóm sản phẩm chủ lực đóng góp lớn nhất cho kinh tế địa phương. Trong bối cảnh tỉnh đạt mức tăng trưởng GRDP 8% và hoàn thành 17/22 chỉ tiêu kinh tế - xã hội, ngành tôm tiếp tục giữ vai trò trụ cột của khu vực nông - lâm - thủy sản, vốn chiếm gần 35% cơ cấu kinh tế Cà Mau. Năm 2025 ghi nhận sự bứt phá trong hoạt động nuôi trồng với nhiều mô hình công nghiệp, siêu thâm canh và công nghệ cao được mở rộng. Các vùng nuôi đạt chuẩn quốc tế như ASC, BAP và Organic ngày càng tăng, góp phần nâng cao giá trị thương hiệu tôm Cà Mau trên thị trường xuất khẩu. Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt 904.338 tấn, tăng 7,4% so cùng kỳ.

Ngành tôm Cà Mau duy trì đà tăng trưởng ổn định và vượt các chỉ tiêu đề ra

Ảnh: ST

Kết quả năm 2025 cho thấy tôm tiếp tục là “đòn bẩy” quan trọng giúp địa phương duy trì tăng trưởng bền vững và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. DUY MẠNH

LÂM ĐỒNG

AN GIANG

Sớm hoàn thiện khu sản xuất giống thủy sản Chí Công

Giữ vững vị thế dẫn đầu trong sản xuất tôm càng xanh

Dự án Khu sản xuất giống thủy sản tập trung Chí Công - giai đoạn 1 được Bộ NN&PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phê duyệt từ tháng 10/2013 với quy mô 90 ha, tổng mức đầu tư hơn 127 tỷ đồng. Dự án đã hoàn thành thi công vào cuối năm 2019. Từ năm 2019 đến 2020, tỉnh Lâm Đồng đã phân lô đất cho 5 doanh nghiệp để triển khai các dự án sản xuất tôm giống công nghệ cao. Tuy nhiên đến nay, Dự án vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc. Để kịp thời tháo gỡ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng ông Lê Trọng Yên yêu cầu Ban Quản lý dự án nông nghiệp khảo sát kỹ lưỡng các hạng mục cần tiếp tục đầu tư từ ngân sách tỉnh. Đồng thời, giao Sở Nông nghiệp và Môi trường làm rõ các vấn đề liên quan đến giá thuê đất và các chính sách để thu hút đầu tư. Cùng với đó, tỉnh Lâm Đồng cũng sẽ phối hợp với Hiệp hội Tôm để lựa chọn các doanh nghiệp có năng lực ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất giống tôm.

Theo số liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, tỉnh tiếp tục đứng đầu cả nước về sản xuất tôm càng xanh, với gần 40.000 ha diện tích nuôi và sản lượng dự kiến năm 2025 đạt khoảng 19.450 tấn. Mô hình lúa - tôm, tập trung chủ yếu ở vùng U Minh Thượng, đã được người dân áp dụng hơn mười năm qua và chứng minh hiệu quả vượt trội so với độc canh cây lúa truyền thống. Tại các địa phương, người nuôi tuân thủ quy trình an toàn sinh học, hạn chế tối đa thuốc hóa học và sử dụng rất ít thức ăn công nghiệp, nhờ đó tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng cao. An Giang đặt mục tiêu đến năm 2030 ổn định hơn 117.000 ha vùng sản xuất lúa - tôm. Tỉnh đang chỉ đạo tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, từ con giống, vật tư đầu vào, nuôi thương phẩm đến chế biến và tiêu thụ, đồng thời tăng cường liên kết thông qua hợp tác xã và doanh nghiệp nhằm bảo đảm cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm cho người dân.

LÊ LOAN

TP HỒ CHÍ MINH

THÁI THUẬN VĨNH LONG

Hiệu quả với quy trình nuôi 3 giai đoạn Tại huyện Cần Giờ, khu vực thường xuyên chịu tác động của nhiều loại dịch bệnh - anh Nguyễn Thanh Thể vẫn duy trì hiệu quả nuôi tôm nhờ tư duy khoa học và cách vận hành bài bản. Hiện anh sở hữu 10 ao nuôi, trong đó nhiều ao được mua lại từ các hộ đã bỏ nghề. Khi tiếp quản, anh tập trung đánh giá mầm bệnh, cải tạo lại toàn bộ hệ thống xử lý nước và đầu tư mạnh cho khâu lọc với ba ao chứa, xử lý clo và kiểm tra thông số trước khi cấp nước. Quy trình nghiêm ngặt giúp hạn chế dịch bệnh. Trong mô hình nuôi ba giai đoạn, tôm được ương - tiền nuôi - nuôi thương phẩm theo mật độ giảm dần, tỷ lệ sống đạt 90%. Vụ gần nhất, bốn ao của anh cho sản lượng 20 tấn sau 111 ngày, chi phí 110.000 đồng/kg, trong khi giá bán đạt 230.000 - 240.000 đồng/kg. Nhờ kết hợp kỹ thuật, kiểm soát nước chặt chẽ và đầu ra ổn định, anh Thể trở thành một trong những nông dân tiêu biểu của Cần Giờ trong bối cảnh ngành tôm nhiều biến động. HUYỀN THƯƠNG

Tiên phong áp dụng mô hình hiện đại Ông Đặng Văn Bảy (ấp Đại Thôn, xã Thạnh Phong) được xem là người tiên phong phát triển mô hình công nuôi tôm công nghệ tại địa phương. Hơn 20 năm trước, ông chỉ có vài ao đất nhỏ lẻ, nhưng nhờ tiếp cận thông tin kỹ thuật, học hỏi từ các lớp tập huấn và tư vấn từ các chuyên gia, ông quyết định chuyển đổi toàn bộ ao đất sang mô hình công nghệ cao. Mỗi ha trang trại của ông chỉ bố trí khoảng 1.500 m² cho ao nuôi trực tiếp, phần còn lại là ao xử lý, ao ương, ao chứa nước. Hệ thống tạo ôxy chạy liên tục, các chỉ số như mật độ tảo, pH, độ mặn được theo dõi hằng ngày. Nhờ kiểm soát môi trường tốt, tôm lớn nhanh, ít bệnh, năng suất gấp ba lần cách nuôi cũ. Tôm thường đạt size 30 - 40 con/kg sau hơn hai tháng. Doanh thu tăng mạnh qua từng năm. DUY AN

11


12 TIN TỨC

THÁI LAN

Phục hồi sản lượng tôm nuôi nhằm chiếm thị trường Mỹ Ngành tôm Thái Lan đang trải qua 13 năm trì trệ với sản lượng duy trì ở mức 250.000 - 270.000 tấn/năm. Trước cơ hội lớn từ thị trường Mỹ, khi Ấn Độ phải chịu thuế nhập khẩu trên 60% khiến 300.000 tấn tôm bị “khai tử”, Hiệp hội Tôm Thái Lan phát động chiến dịch phục hồi ngành tôm thông qua “Chương trình quốc gia” năm 2026, với mục tiêu nâng sản lượng lên 400.000 tấn và đạt giá trị xuất khẩu 100 tỷ baht. Kế hoạch dựa trên ba trụ cột: Chính phủ hỗ trợ, quản lý yếu tố sản xuất và huy động nông dân. Hiệp hội đề xuất thúc đẩy Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với EU, Anh, Hàn Quốc, giảm thuế nhập nguyên liệu, cấp vốn vay ưu đãi để hiện đại hóa trang trại, đồng thời tăng ngân sách nghiên cứu kiểm soát dịch bệnh như hội chứng đốm trắng và phân trắng. Ngoài ra, nhu cầu nội địa cao và giá bán tăng 10 - 15% giúp nông dân mạnh dạn tái thả giống, tạo động lực hồi sinh toàn ngành. MỸ

Thủy sản mở rộng thị phần tại Philippines Mỹ đang tìm cách tận dụng thay đổi chính sách hạn ngạch thủy sản để mở rộng xuất khẩu sang Philippines, nơi thị phần hiện dưới 1%. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đánh giá thị trường thủy sản nhập khẩu của Philippines trị giá khoảng 1 tỷ USD, trong khi sản lượng nội địa suy giảm trung bình 2%/năm. Với mức tiêu thụ bình quân 23,7 kg/người và dân số dự kiến tăng thêm 1 triệu người mỗi năm, nhu cầu nhập khẩu dự kiến tăng thêm 23.700 tấn/ năm, và đến 2055 sẽ cần thêm 735.000 tấn. Các chính sách mới, như cấp giấy chứng nhận nhập khẩu 25.000 -22.000 tấn thủy sản đa chủng loại, mở ra cơ hội cho xuất khẩu Mỹ. USDA khuyến nghị tập trung vào sản phẩm chất lượng cao như cá hồi, tôm, cua, sò, mực, kết hợp chương trình marketing và hợp tác với địa phương để nâng tầm thương hiệu, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Philippines. ECUADOR

Dẫn đầu xuất khẩu tôm toàn cầu với doanh thu hơn 7 tỷ USD Ecuador tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thế giới về xuất khẩu tôm, với doanh thu vượt 7 tỷ USD, theo dữ liệu tháng 11/2025 của Trademap và Latinometrics. Thành công này nhờ nhu cầu tăng cao từ Mỹ, châu Âu và Trung Quốc, cùng với cải tiến công nghệ, tăng sản lượng và đa dạng hóa thị trường trong hai thập kỷ qua. Năm 2023, tôm vượt qua chuối trở thành mặt hàng phi dầu mỏ quan trọng nhất, đóng góp đáng kể vào cán cân thương mại quốc gia. Trong 9 tháng đầu 2025, Ecuador đạt doanh thu 6,204 triệu USD, củng cố vị thế trên thị trường quốc tế. Với dân số dưới 19 triệu, Ecuador thậm chí vượt Ấn Độ về xuất khẩu tôm, mở ra cơ hội trong thị trường truyền thống của châu Á. Sự phát triển của ngành tôm còn thúc đẩy đầu tư công nghệ nuôi trồng, tạo việc làm và tăng cường sản xuất tại các tỉnh ven biển, khẳng định Ecuador là nhà cung cấp tôm hàng đầu thế giới.

CON TÔM THÁNG 12/2025

 Giá bột cá tại Peru tiếp tục tăng, bất chấp hạn ngạch khai thác cá cơm mùa thứ hai năm 2025 ở khu vực Bắc - Trung chỉ đạt 1,63 triệu tấn. Thị trường bột cá sôi động hơn trong tháng 10, với mức tăng 6,9% so tháng trước và 35% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính do hạn ngạch tạm thời ban đầu chỉ 500.000 tấn, giảm tới 80% so năm 2024. Tuy nhiên, hạn ngạch chính thức cuối cùng do Bộ Sản xuất Peru (PRODUCE) xác định là 1,63 triệu tấn, dựa trên đánh giá của Viện Hải dương học Peru (IMARPE), phản ánh các điều kiện khai thác bền vững và quản lý có trách nhiệm.  Doanh số bán lẻ tôm tại Mỹ những tuần gần đây giảm mạnh, đánh dấu mùa tiêu thụ dịp lễ yếu nhất trong 5 năm qua. Theo dữ liệu của Circana, giá trị bán hàng trong giai đoạn tuần 40 - 46 giảm khoảng 6% so cùng kỳ năm trước, trong khi khối lượng tiêu thụ ước tính sụt gần 13%. Mức tiêu thụ hiện tại thấp hơn bất kỳ năm nào kể từ 2020. Dù một số nhà cung cấp vẫn ghi nhận doanh số ổn định hoặc cải thiện, nhưng nhìn chung thị trường vẫn thu hẹp, với những lợi ích tại một số khu vực bị bù trừ bởi thua lỗ ở những nơi khác.  Nhân dịp kỷ niệm 7 năm thành lập, Banco Guayaquil, Kampi và Kemin AquaScience đã gia nhập Sustainable Shrimp Partnership (SSP), một sáng kiến hợp tác nhằm thúc đẩy phát triển ngành tôm bền vững tại Ecuador. Việc tham gia này mở rộng phạm vi hợp tác, mang đến những góc nhìn và năng lực mới, từ công nghệ trí tuệ nhân tạo đến quản lý chuỗi giá trị. Các đối tác khẳng định cam kết phát triển bền vững, minh bạch, tôn trọng môi trường và tạo cơ hội tăng trưởng cho ngành tôm, đồng hành cùng các doanh nghiệp khác như Adisseo, BIOLAN, Cargill và Corbion.  Các nhà nghiên cứu từ Đại học Exeter cho biết, nuôi tôm sú trong bể kín trên đất liền có thể mở ra hướng phát triển ngành thủy sản bền vững tại Anh. Phương pháp này sử dụng diện tích đất ít hơn 50 lần so với sản xuất thịt heo hoặc bò, đồng thời tạo việc làm và cung cấp thực phẩm tươi ngon, giàu dinh dưỡng. Dự án UK Sustainable King Prawn Project áp dụng hệ thống khép kín, sử dụng năng lượng tái tạo và mô hình kinh tế tuần hoàn, hướng tới giảm phát thải carbon, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao an ninh lương thực. Nếu được triển khai rộng rãi, mô hình này còn giúp giảm nhập khẩu và giảm áp lực lên môi trường.


TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 12/2025

PANAMA

Xuất khẩu đạt kỷ lục nhờ TTCT Từ đầu năm đến tháng 9/2025, xuất khẩu Panama đạt 754,9 triệu USD, mức cao nhất trong 9 tháng kể từ 2010, nhờ chiến lược đa dạng hóa và động lực thương mại bền vững, theo số liệu từ Intelcom (Bộ Thương mại và Công nghiệp MICI). Điểm sáng tăng trưởng này là ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là TTCT, trở thành trụ cột trong thương mại phi khoáng sản của Panama. Thị trường xuất khẩu Mỹ dẫn đầu với 118,3 triệu USD (15,7%), theo sau là Đài Loan 93 triệu USD (12,3%), khẳng định vị thế đối tác quan trọng của ngành nông thủy sản Panama. Hà Lan tiếp tục là cửa ngõ vào EU với 64,3 triệu USD (8,5%), trong khi các thị trường khác gồm Trung Quốc đại lục, Mexico, Ấn Độ, Costa Rica, Cuba và Thái Lan. Mối quan hệ thương mại Panama - Đài Loan bền vững nhờ FTA 2004, giúp TTCT được miễn thuế. Ngoài tôm, Panama còn xuất khẩu bột cá, dầu mỡ, phế liệu nhôm, đường mía, rượu rum và cà phê sang Đài Loan. CHÂU ÂU

Tiêu thụ thủy sản giảm, giá vẫn đắt Theo báo cáo thị trường thủy sản EU 2025, giá tôm, cá vẫn tăng trong khi nhu cầu hộ gia đình giảm tiếp tục tác động mạnh đến thị trường EU năm 2024. Mặc dù sức mua ít hơn 5%, các hộ gia đình vẫn chi tổng cộng 62,8 tỷ EUR cho các loại tôm, cá; phản ánh lạm phát kéo dài. Mức giảm mạnh nhất xảy ra tại Tây Ban Nha, Italia, Pháp, Bồ Đào Nha và Đức, nơi chiếm phần lớn tiêu thụ thủy sản EU. Trên thị trường thương mại, xuất khẩu tăng nhẹ lên 8,25 tỷ EUR trong khi khối lượng giảm còn 2,2 triệu tấn, khiến thâm hụt thương mại EU giảm 2%, xuống 21,61 tỷ EUR. Bên trong EU, trao đổi nội khối giảm nhẹ 1%, với cá hồi và cá tuyết chiếm gần 40% giá trị. Tự cung tự cấp thủy sản cũng cải thiện, đạt 38,1%, mức tăng đầu tiên kể từ 2018, nhờ sản lượng ổn định và tiêu dùng giảm, trung bình 22,88 kg/người, trong đó thủy sản khai thác và thủy sản nuôi lần lượt chiếm 16,35 kg và 6,53 kg. MA RỐC

Mở rộng nuôi tôm RAS ở vùng khô hạn Ma Rốc vừa chính thức khánh thành dự án nuôi tôm “Arade Eco Aquaculture” tại Skoura El Hadra, tỉnh Rehamna. Đây là mô hình nuôi tôm tiên tiến, áp dụng hệ thống tuần hoàn kín RAS, kết hợp ương giống và nuôi thương phẩm TTCT trên cạn. Tổng vốn đầu tư vượt 100 triệu dirham (10,8 triệu USD), dự kiến sản xuất 400 tấn tôm/ năm và tạo 45 việc làm trực tiếp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Bộ Ngư nghiệp Ma Rốc đánh giá dự án mở ra bước tiến mới trong xây dựng mô hình nuôi thủy sản bền vững, phù hợp điều kiện vùng khô hạn. Trước đó, Bộ Ngư nghiệp cũng ký kết ba dự án nuôi trồng thủy sản tại Essaouira, bao gồm hai dự án nuôi tảo dự kiến 10.000 tấn/năm và một dự án nuôi cá 600 tấn/năm, với tổng vốn trên 33 triệu dirham (3,56 triệu USD) và khoảng 65 việc làm trực tiếp, khẳng định cam kết đa dạng hóa và phát triển bền vững kinh tế xanh tại Ma Rốc. TUẤN MINH

 Taprobane Seafoods vừa trở thành công ty đầu tiên tại Sri Lanka được DNV chứng nhận theo tiêu chuẩn GlobalG.A.P. Aqua, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quản lý môi trường và hệ thống thức ăn đạt chuẩn quốc tế. Chứng nhận này không chỉ nâng cao uy tín với người mua, đối tác và người tiêu dùng, mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu vào các thị trường cao cấp yêu cầu minh bạch và bền vững. Công ty cũng cải thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc thức ăn, đồng thời hợp tác chặt chẽ với các nhà cung cấp để phát triển sản phẩm tôm có tác động môi trường thấp, đảm bảo phúc lợi động vật và mang lại lợi ích cho cộng đồng.  Nhà máy thức ăn thủy sản Ban Bueng của CPF tại Thái Lan vừa được chứng nhận ASC, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc nâng tầm chuỗi cung ứng tôm của Thái Lan theo tiêu chuẩn bền vững quốc tế. CPF cam kết đảm bảo minh bạch và truy xuất được ở mọi giai đoạn sản xuất, từ nguồn nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng, đồng thời ứng dụng công nghệ và đổi mới toàn hệ thống. Bên cạnh đó, nhà máy triển khai nhiều sáng kiến bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tái tạo và thúc đẩy phúc lợi cộng đồng, củng cố vị thế của tôm Thái Lan trên thị trường toàn cầu.  Thành phố Toledo, Philippines vừa khánh thành nhà máy chế biến tôm trị giá 300 triệu PHP, nhằm thúc đẩy sản xuất tôm nội địa, giảm nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu. Do Gideon De Oro Seafood vận hành, cơ sở dự kiến tạo việc làm cho 250 - 300 lao động, ưu tiên người dân địa phương, đồng thời hỗ trợ thu nhập bán thời gian cho phụ nữ và sinh viên. Nhà máy có khả năng xử lý 200 tấn tôm mỗi tháng, trang bị kho lạnh 900 tấn và hệ thống năng lượng mặt trời 1 MW, đảm bảo giá ổn định và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu quốc tế. Dự án còn kết nối các trang trại địa phương, góp phần tăng cường chuỗi giá trị thủy sản ở phía tây Cebu.  Tôm nước lạnh Na Uy bứt phá tại Trung Quốc, khi thị phần tăng từ 2% lên 27% trong năm 2025, đạt 6.200 tấn chỉ trong ba quý đầu năm. Đà tăng mạnh nhờ Trung Quốc áp thuế 25% lên hải sản Canada, tạo cơ hội lớn cho nhà xuất khẩu Na Uy. Tuy nhiên, nguồn cung hạn chế và sản lượng khai thác thấp tại Biển Barents có thể kìm hãm tăng trưởng. Dù vậy, Na Uy đang nổi lên là đối thủ đáng gờm của Canada - nhà cung cấp tôm nước lạnh lớn nhất cho Trung Quốc. 

13


14 THEO DÒNG THỜI SỰ

CON TÔM THÁNG 12/2025

Ngành tôm về đích sớm Trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, ngành tôm Việt Nam vẫn ghi nhận những tín hiệu tích cực khi hoàn thành sớm nhiều chỉ tiêu quan trọng. Kết quả này đến từ sự chủ động trong sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi xuất khẩu, tạo nền tảng cho tăng trưởng ổn định trong thời gian tới.

Thành công của năm 2025 là động lực quan trọng để ngành tôm tiếp tục phát triển bền vững

Thành công ngoài mong đợi

Vụ tôm nước lợ năm 2025 đã chính thức khép lại với kết quả vượt xa kỳ vọng, ghi nhận một năm thành công cùng nhiều tín hiệu tích cực cho ngành tôm Việt Nam. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau 11 tháng, sản lượng tôm cả nước đạt hơn 1,41 triệu tấn, tăng 5,5% so cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu cũng đạt trên 4,3 tỷ USD và nhiều khả năng sẽ xác lập kỷ lục mới, chạm mốc 4,6 tỷ USD vào cuối năm. Báo cáo từ các địa phương trọng điểm nuôi tôm tại ĐBSCL cho thấy sản lượng năm 2025 hầu hết đều đạt hoặc vượt kế hoạch, cao hơn so cùng kỳ. Điển hình là tỉnh Cà Mau, sau khi hợp nhất với Bạc Liêu, có tổng diện tích nuôi tôm hơn 433.500 ha, sản lượng thu hoạch sau 11 tháng ước đạt 518.500 tấn, tăng 7,3%. Tại TP Cần Thơ, sản lượng TTCT đạt 205.200 tấn, hoàn thành 100% kế hoạch, trong khi tôm sú ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, đạt 24.500 tấn, tăng gần 35% so cùng kỳ. Những con số này đã góp phần quan trọng vào thành công chung của ngành tôm trong năm 2025.

Để thấy rõ giá trị của kết quả đạt được, cần nhìn lại những diễn biến xuyên suốt vụ nuôi. Theo đánh giá của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025 là một năm đầy thách thức đối với ngành tôm. Trong nước, dịch bệnh trên tôm nuôi kéo dài suốt 5 tháng đầu năm, thời tiết cực đoan với mưa lũ trên diện rộng đã gây thiệt hại cục bộ và ảnh hưởng đến sản lượng. Trên thị trường quốc tế, biến động kinh tế, các rào cản thương mại và kỹ thuật ngày càng khắt khe, cùng với áp lực cạnh tranh gia tăng, tiếp tục đặt ngành tôm trước nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, sự chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành của Bộ, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn, cùng với khả năng thích ứng của doanh nghiệp và người nuôi, đã phát huy hiệu quả rõ nét. Đặc biệt, giá tôm duy trì ở mức cao trong suốt năm đã tạo thêm động lực để người nuôi mạnh dạn thả nuôi, ứng dụng công nghệ cao, qua đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Những yếu tố này đã góp phần giúp hầu hết các chỉ

Ảnh: Tiến Anh

tiêu chủ yếu của vụ nuôi, từ diện tích đến năng suất và sản lượng, đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.

Dư địa và nút thắt cần tháo gỡ

Ở khía cạnh thị trường, những chuyển dịch trong xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành tôm. Nhu cầu thực phẩm tiện lợi, giàu protein ngày càng gia tăng, cùng với sự phát triển của nuôi trồng quy mô lớn và công nghệ chế biến hiện đại, đang tạo cơ hội để tôm Việt Nam nâng cao giá trị xuất khẩu và mở rộng thị phần ở các phân khúc trung và cao cấp. Các dự báo cho thấy tiềm năng tăng trưởng của thị trường tôm vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, theo ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, thách thức lớn nhất của ngành tôm Việt Nam hiện nay vẫn nằm ở những hạn chế nội tại. Quy hoạch vùng nuôi chưa hợp lý khiến dịch bệnh diễn biến phức tạp, kéo theo giá thành sản xuất cao, thậm chí cao hơn khoảng 30% so với Ấn Độ và gấp


CON TÔM THÁNG 12/2025

đôi Ecuador, làm suy giảm năng lực cạnh tranh. Ông cho rằng, nếu giải quyết được bài toán dịch bệnh và tổ chức lại vùng nuôi một cách khoa học, con tôm Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên vị trí dẫn đầu trên thị trường thế giới. Từ góc độ quản lý, nhằm tháo gỡ những nút thắt này, ông Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết ngành thủy sản đang đẩy mạnh tái cấu trúc không gian sản xuất theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu. Trọng tâm là rà soát, điều chỉnh quy hoạch vùng nuôi, kiểm soát mật độ thả nuôi, hạn chế phát triển tự phát nhằm giảm thiểu ô nhiễm và rủi ro thiên tai. Song song đó, việc đầu tư hạ tầng cho các vùng nuôi trọng điểm, triển khai hệ thống quan trắc tự động, ứng dụng công nghệ số và tự động hóa trong giám sát môi trường đang được tăng cường. Đặc biệt, phát triển chuỗi giá trị gắn kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi, bảo đảm cân đối cung - cầu, chia sẻ rủi ro và nâng cao khả năng chống chịu của toàn chuỗi được xác định là hướng đi then chốt. Về dài hạn, ngành thủy sản toàn cầu nói chung và ngành tôm nói riêng đang dịch chuyển theo hướng ổn định hơn, đa dạng hóa sản phẩm, phát triển bền vững và tái cân bằng dòng chảy thương mại, đồng thời gia tăng đầu tư vào các sản phẩm thủy sản giá trị cao. Dẫu vậy, những bất ổn địa kinh tế, địa chính trị cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các quốc gia sản xuất lớn như Ấn Độ, Ecuador hay Indonesia vẫn là thách thức không nhỏ. Trước bối cảnh đó, bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký VASEP, khuyến nghị doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tái cơ cấu thị trường, tập trung phát triển sản phẩm giá trị gia tăng, đẩy mạnh đầu tư công nghệ chế biến và nâng cao các tiêu chuẩn bền vững nhằm duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn.

Tìm hướng đi mới

Khép lại vụ tôm nước lợ năm 2025, có nhiều khía cạnh cần được nhìn nhận, song nổi bật nhất vẫn là tinh thần “vượt khó về đích thành công”. Kết quả này không chỉ

THEO DÒNG THỜI SỰ

mang lại niềm tự hào cho toàn ngành mà còn mở ra nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi, thảo luận nhằm tìm kiếm những hướng đi phù hợp và hiệu quả hơn cho năm 2026 một năm được dự báo sẽ đối mặt với không ít thách thức. Chính vì vậy, dù đạt được những thành quả đáng ghi nhận, tâm lý thận trọng, những trăn trở và lo lắng vẫn hiện hữu trong chuỗi giá trị ngành tôm. Đó cũng là lý do để các bên liên quan tự nhắc nhau không quá lạc quan, bởi phía trước vẫn còn nhiều khó khăn cần chủ động ứng phó. Ngay sau khi kết thúc vụ nuôi 2025, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu rà soát, điều chỉnh chiến lược sản xuất. Chia sẻ về kết quả của đơn vị mình, ông Võ Văn Phục, Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy sản sạch Việt Nam (Vinacleanfood), cho biết dù vụ nghịch chưa đạt như kỳ vọng, song doanh nghiệp đã tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quan trọng, từ lựa chọn đối tượng nuôi, thời điểm thả giống đến công tác phòng ngừa dịch bệnh. Trên cơ sở đó, Vinacleanfood dự kiến sẽ đầu tư mạnh hơn vào vùng nuôi trong thời gian tới, đặc biệt chú trọng tuân thủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc của các thị trường nhập khẩu. Cụ thể, doanh nghiệp xác định ba đối tượng nuôi chủ lực. Trong đó, vụ chính tiếp tục tập trung vào TTCT; vụ nghịch bổ sung thêm tôm sú theo mô hình nuôi mật độ cao. Riêng cá rô phi được nuôi ở độ mặn từ 10 - 20‰ theo quy trình riêng nhằm đạt kích cỡ lớn, bảo đảm chất lượng, đáp ứng các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU,... Anh Huỳnh Xuân Diện, Giám đốc hợp tác xã nuôi tôm năng suất cao Tân Hưng (Cà Mau), cho biết sau thời gian thử nghiệm thành công mô hình nuôi cá rô phi kết hợp với tôm, từ vụ nuôi 2026, hợp tác xã sẽ mở rộng diện tích áp dụng, đồng thời chuyển giao quy trình cho các thành viên và các hộ nuôi trong khu vực có nhu cầu. Trong khi đó, tại TP Cần Thơ, trước hiệu quả nổi bật của dòng tôm sú thế hệ mới, nhiều hộ nuôi ao đất quy mô nhỏ cho biết sẽ lựa chọn đối tượng này cho vụ sản xuất sắp tới. XUÂN TRƯỜNG

 “Thời gian qua, thiên tai khốc liệt, dịch bệnh kéo dài đã bộc lộ rõ những hạn chế trong tổ chức sản xuất thủy sản. Tuy nhiên, chính từ những khó khăn đó, các giải pháp mang tính căn cơ, dài hạn đang dần được hình thành, hướng tới một nền sản xuất an toàn hơn, thích ứng tốt hơn và phát triển bền vững trong tương lai”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.

CON SỐ

4,3 tỷ USD

Là giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm 11 tháng đầu năm 2025, tăng 21% so cùng kỳ năm trước.

Là sản lượng tôm nuôi của tỉnh Quảng Ninh 11 tháng đầu 27 năm 2025, chiếm nghìn khoảng 25 - 27% tấn sản lượng toàn ngành thủy sản.

80 ha

Là diện tích nuôi tôm vụ Đông của Hưng Yên hiện nay.

20 hộ

Là số hộ tham gia dự án thí điểm nuôi TTCT ứng dụng công nghệ Biofloc tại Quảng Trị.

Là diện tích tôm nuôi của Khánh Hòa bị ảnh hưởng nặng 157 ha do mưa lớn kéo dài và lũ lịch sử tại miền Trung - Tây Nguyên.

15


16 VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

CON TÔM THÁNG 12/2025

XUẤT KHẨU TÔM

Bứt phá ngoạn mục Năm 2025 ghi dấu một giai đoạn đặc biệt khó khăn của ngành nông nghiệp Việt Nam khi cả nước phải gồng mình trước những trận bão lũ lịch sử. Tuy nhiên, vượt lên mọi thách thức, ngành tôm vẫn đạt được những con số xuất khẩu ấn tượng, vượt ngoài dự đoán.

Kết quả ấn tượng

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu thủy sản 11 tháng đầu năm 2025 đạt 10,5 tỷ USD, tăng 14,6% so cùng kỳ năm trước. Riêng ngành tôm, tháng 11/2025 ghi nhận giá trị xuất khẩu 385 triệu USD, tăng gần 12% so cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu tôm cả nước đạt hơn 4,3 tỷ USD, tăng 21% và là mức cao nhất từ trước đến nay. Ngoài sự tăng trưởng xuất khẩu của TTCT (TTCT chiếm gần 65% tổng kim ngạch) và tôm sú thì xuất khẩu tôm hùm cũng đóng vai trò quan trọng trong bức tranh cuối năm. Xuất khẩu tôm hùm tăng mạnh trong tháng 10/2025, đạt 93 triệu USD, tăng 75% so cùng kỳ năm trước. Kim ngạch 10 tháng đầu năm 2025 đạt 712 triệu USD, tăng tới 135% so cùng kỳ năm trước. Tôm hùm xanh

xuất khẩu đạt 700 triệu USD và tăng 141% sau 10 tháng.

Các thị trường cùng tăng trưởng mạnh

Trong bối cảnh xung đột và chiến tranh diễn biến phức tạp trên toàn cầu, kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn khiến nhu cầu tiêu dùng sụt giảm. Tuy nhiên, nhờ lợi thế về giá cạnh tranh, chất lượng ổn định và nguồn cung dồi dào, tôm Việt Nam vẫn giữ vững thị phần tại các thị trường trọng điểm và tiếp tục là lựa chọn ưu tiên của người tiêu dùng quốc tế. Theo thống kê, nhiều thị trường xuất khẩu chủ lực của tôm Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Trong đó, thị trường Trung Quốc tăng mạnh 31%, đạt 2,23 tỷ USD; khối CPTPP tăng 24%, đạt 2,84 tỷ USD. Thị trường Thái Lan tăng 22%, đạt 281,6 triệu USD; Liên minh châu Âu (EU) tăng gần 12%, đạt 1,1 tỷ USD, trong khi thị trường Mỹ tăng 8,1%, đạt 1,778 tỷ USD.

Đáng chú ý, Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng nổi bật của xuất khẩu tôm. Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, lũy kế đến hết tháng 10/2025, kim ngạch nhập khẩu tôm của thị trường này đạt khoảng 4,3 tỷ USD, tăng 10% so cùng kỳ năm trước. Mức tăng này diễn ra trong bối cảnh sản lượng nuôi tôm nội địa của Trung Quốc chỉ tăng khoảng 1%, cho thấy xu hướng tiêu dùng đang dịch chuyển theo hướng chấp nhận chi tiêu cao hơn cho các sản phẩm tôm nhập khẩu, qua đó đẩy giá bán bình quân tăng lên. Cùng với đó, giá tôm tại thị trường Trung Quốc tiếp tục duy trì đà tăng khi lượng tôm Ecuador xuất khẩu sang thị trường này giảm 1%, song giá trị xuất khẩu lại tăng tới 9% so năm 2024.

Tận dụng lợi thế địa lý

Với lợi thế vị trí địa lý gần kề, tôm Việt Nam có ưu thế rõ rệt khi xuất khẩu


VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

CON TÔM THÁNG 12/2025

Ngành tôm đẩy mạnh tái cấu trúc không gian sản xuất theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu

Thời cơ của năm 2026

Ảnh: Shutterstock

sang thị trường Trung Quốc nhờ chi phí vận chuyển và lưu kho thấp, góp phần nâng cao sức cạnh tranh. Tính đến ngày 15/11/2025, kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Trung Quốc Hồng Kông đạt khoảng 1,2 tỷ USD, tăng 60% so cùng kỳ năm trước; riêng thị trường Trung Quốc đại lục ghi nhận mức tăng 66%. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ tại Trung Quốc gia tăng, đặc biệt đối với các sản phẩm tôm hùm và tôm sú cỡ lớn, tôm Việt Nam tiếp tục đáp ứng tốt các yêu cầu về giá cả và chất lượng. Dù tôm sú Ấn Độ gia tăng hiện diện trên thị trường, người tiêu dùng Trung Quốc vẫn dành sự tín nhiệm cao đối với tôm sú Việt Nam. Bên cạnh đó, sự tương đồng về văn hóa và tập quán tiêu dùng, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán, đã thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm tại Trung Quốc tăng mạnh vào những tháng cuối năm, góp phần tạo cú hích quan trọng cho xuất khẩu tôm Việt Nam. Không chỉ tại Trung Quốc, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong đó, TTCT tăng trên 15% và chiếm hơn 22% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này.

Năm 2026 được dự báo sẽ tiếp tục là năm tăng trưởng tích cực của ngành tôm Việt Nam, với kỳ vọng thiết lập những cột mốc mới về xuất khẩu. Bên cạnh việc duy trì vững chắc các thị trường trọng điểm, ngành tôm được cho là sẽ mở rộng mạnh sang các thị trường thuộc khối CPTPP và Trung Đông, nơi Việt Nam có lợi thế đáng kể từ các ưu đãi thuế quan. Cùng với đó, sau giai đoạn đầu tư bài bản, Việt Nam sẽ đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm thủy sản giá trị gia tăng, theo hướng bền vững và đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm tại các thị trường châu Âu và Mỹ. Xu hướng này phù hợp với dự báo thị trường tôm đông lạnh toàn cầu sẽ tăng trưởng trung bình khoảng 5,8%/năm trong giai đoạn 2025 - 2035, trong đó nhóm sản phẩm giá trị gia tăng ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Tuy nhiên, bước sang năm 2026, ngành tôm cũng đối mặt với thách thức từ diễn biến thời tiết cực đoan. Năm 2025 ghi nhận khoảng 20 cơn bão, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và nguy cơ này được dự báo có thể tiếp diễn. Thực tế cho thấy, lũ lụt năm 2025 đã gây thiệt hại nặng nề cho các vùng nuôi tôm tại Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á. Theo Hiệp hội Tôm Thái Lan, khoảng 13.000 hộ nuôi tôm bị ảnh hưởng, với tổng thiệt hại ước tính không dưới 285 tỷ baht (tương đương 8,91 tỷ USD), trong đó nhiều trang trại bị hư hỏng nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng và thiết bị nuôi trồng. Tại Việt Nam, mưa lũ năm 2025 không tác động lớn đến các tỉnh phía Nam - trung tâm sản xuất chủ lực của ngành tôm, song lại gây ảnh hưởng đáng kể đến các tỉnh

Ảnh: Văn Sỹ

miền Trung, nơi ngành thủy sản đang phát triển mạnh trong những năm gần đây. Đặc biệt, vùng nuôi tôm hùm tại miền Trung chịu thiệt hại nặng, với hàng chục nghìn lồng nuôi bị bão lũ tàn phá. Để bảo đảm nguồn cung tôm hùm trong năm 2026, rất cần các chính sách kịp thời, quyết liệt nhằm hỗ trợ người nuôi sớm khôi phục sản xuất. Trong bối cảnh giá tôm thế giới nhiều khả năng tiếp tục xu hướng tăng, việc khắc phục hậu quả mưa bão năm 2025, chủ động mở rộng diện tích nuôi, tối ưu thời điểm thu hoạch và nâng cao năng lực chế biến sẽ là những giải pháp quan trọng giúp ngành tôm Việt Nam gia tăng khả năng ứng phó và tích lũy nguồn lực cho giai đoạn tới. Bên cạnh đó, việc sáp nhập đơn vị hành chính cũng mở ra dư địa phát triển mới cho các vùng nuôi trọng điểm. Sau hợp nhất, tỉnh Cà Mau hiện có diện tích nuôi tôm trên 420.000 ha, sản lượng đạt hơn 900.000 tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu ước khoảng 2,5 tỷ USD trong năm 2025. Những tín hiệu tích cực này đang tạo thêm động lực để người nuôi và doanh nghiệp tiếp tục đồng hành, hướng tới những kết quả nuôi trồng và xuất khẩu khả quan hơn trong năm 2026. NGUYÊN ANH

 VASEP dự báo xuất khẩu tôm cả năm 2025 có thể lập kỷ lục mới, đạt khoảng 4,6 tỷ USD; toàn ngành thủy sản dự kiến cán mốc 11,2 - 11,3 tỷ USD, mức cao nhất trong lịch sử.

17


18 TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 12/2025

Duy trì mạch sản xuất trong nuôi trồng thủy sản Ba cơn bão liên tiếp và mưa lũ sau bão đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất thủy sản tại nhiều địa phương phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Bên cạnh việc khôi phục sản xuất, ngành thủy sản cùng các tỉnh phía Bắc đang tích cực thực hiện giải pháp đảm bảo an toàn cho thủy sản nuôi trong mùa Đông được dự báo khắc nghiệt.

Người nuôi tôm hùm cần nguồn trợ lực lớn để khôi phục lại sản xuất

Tái thiết sản xuất sau bão

Theo báo cáo thiệt hại cụ thể tại các địa phương, cơn bão số 13 đã khiến ngành thủy sản các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên thiệt hại với tổng diện tích ước 632 ha và hơn 22.321 ô lồng bị hư hại. Sau khi bão đi qua, ngày 13/11/2025, Cục Thủy sản và Kiểm ngư ban hành Văn bản số 2934/TSKN-NTTS gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III về triển khai các giải pháp khôi phục sản xuất sau bão số 13. Theo đó, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk chỉ

đạo các đơn vị chức năng bám sát tình hình thực tế, khẩn trương triển khai các giải pháp khắc phục thiệt hại, khôi phục sản xuất nuôi trồng thủy sản. Cụ thể, hướng dẫn cơ sở sản xuất nuôi trồng thủy sản thu gom, xử lý chất thải, thủy sản chết; tiêu độc, khử trùng theo quy định, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường, không phát sinh dịch bệnh tại các vùng nuôi bị ảnh hưởng. Khẩn trương tiêu thoát nước ngập úng; phối hợp với các đơn vị của Bộ và địa phương quan trắc, giám sát môi trường vùng nuôi, cung cấp thông tin, khuyến cáo kịp thời, hỗ trợ người dân trong quá trình khôi phục sản xuất.

Ảnh: Tuấn Anh

Cùng đó, khẩn trương khôi phục cơ sở vật chất, bổ sung đàn bố mẹ tại các cơ sở sản xuất giống để chủ động nguồn cung giống tại chỗ. Tổng hợp nhu cầu giống, vật tư đầu vào, xây dựng kế hoạch khôi phục và phát triển sản xuất phù hợp điều kiện thực tế (bao gồm: sản xuất giống, cung ứng thức ăn, sản phẩm xử lý môi trường và vật tư thiết yếu khác). Hướng dẫn người nuôi khẩn trương tu sửa, gia cố ao, đầm và các công trình phụ trợ, khôi phục hạ tầng đầu mối (cấp thoát nước, điện, giao thông,...) bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, an toàn và sẵn sàng sản xuất; đồng thời rà soát toàn bộ hoạt động nuôi, đặc biệt khu vực nuôi tôm hùm, nuôi lồng bè trên biển, hướng dẫn khắc phục

hư hại, sắp xếp lại vị trí, mật độ nuôi hợp lý, chăm sóc, phục hồi đàn thủy sản còn lại, chuẩn bị vật tư, thiết bị, nguyên liệu để kịp thời thả giống khi điều kiện cho phép, nhất là đối với các đối tượng nuôi có chu kỳ ngắn phục vụ tiêu dùng dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán. Ngoài ra, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng đề nghị các địa phương chủ động phối hợp với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III và các đơn vị có chức năng liên quan của địa phương tổ chức quan trắc môi trường, đánh giá chất lượng môi trường nước các vùng nuôi trọng điểm tại các địa phương chịu sự ảnh hưởng của bão, lũ, làm căn cứ hướng dẫn người dân khôi phục và bố trí lại sản xuất phù hợp sau bão.

Tăng cường phòng, chống rét cho thủy sản nuôi

Theo dự báo của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, các đợt không khí lạnh sẽ hoạt động mạnh từ tháng 11/2025 đến tháng 3/2026, gây rét đậm, rét hại trên diện rộng. Nhiệt độ giảm thấp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của thủy sản nuôi; riêng khu vực miền núi phía Bắc có khả năng xuất hiện sương muối, băng giá. Ngày 4/12/2025, Cục Thủy sản và Kiểm ngư ban hành Văn bản số 3325/TSKN-NTTS đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố phía Bắc và Bắc Trung Bộ tăng cường phòng,


TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 12/2025

chống rét trong sản xuất, nuôi trồng thủy sản. Trong đó, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị các Sở thường xuyên cập nhật và phổ biến kịp thời các bản tin dự báo thời tiết, đặc biệt là thông tin về không khí lạnh và rét đậm, rét hại; thông báo rộng rãi để các cơ sở sản xuất giống, ương dưỡng và nuôi thủy sản chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, thực hiện biện pháp phòng, chống rét phù hợp. Chỉ đạo các đơn vị chuyên môn bám sát thực tế tại địa phương để hỗ trợ người nuôi triển khai các biện pháp kỹ thuật phòng, chống rét phù hợp với từng đối tượng và điều kiện nuôi; đồng thời tổ chức thống kê diện tích, đối tượng nuôi, lượng giống đã thả và sản lượng dự kiến nhằm phục vụ điều hành sản xuất và xây dựng phương án ứng phó khi xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài. Cùng đó, rà soát nhu cầu và năng lực sản xuất, cung ứng giống thủy sản trên địa bàn để chủ động kế hoạch bố trí nguồn giống phục vụ tái sản xuất sau mùa Đông. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch và triển khai các giải pháp bảo đảm cung ứng đủ giống chất lượng, đúng thời vụ ngay từ đầu năm 2026, hạn chế thiếu hụt giống ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất. Chủ động triển khai hoặc phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện quan trắc môi trường vùng nuôi, theo dõi chặt chẽ các thông số môi trường và diễn biến dịch bệnh để cảnh báo sớm nguy cơ phát sinh rủi ro; thực hiện nghiêm các khuyến cáo tại bản tin quan trắc môi trường của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I và các hướng dẫn kỹ thuật kèm theo. Đồng thời, tổ chức hướng dẫn và phổ biến các biện pháp phòng, chống rét cho thủy sản nuôi theo nội dung chi tiết tại Phụ lục kèm theo, bảo đảm người nuôi nắm rõ và áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu thiệt hại trong các đợt rét đậm, rét hại. BẢO HÂN

VĂN BẢN MỚI  Ngày 13/11/2025, HĐND TP Hải Phòng thông qua Nghị quyết số 26/2025/ NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật trên địa bàn thành phố. Nghị quyết này quy định chi tiết khoản 3 Điều 12 Nghị định số 116/2025/ NĐ-CP ngày 5/6/2025 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật. Đối tượng áp dụng là doanh nghiệp nhỏ và vừa (không bao gồm các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) có hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản trên địa bàn TP Hải Phòng và người tham gia khắc phục dịch bệnh động vật theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP. Trong đó, với lĩnh vực thủy sản: Tôm hùm giống: 10.000 đồng/ con; Tôm giống (TTCT, tôm sú, tôm rảo) từ giai đoạn hậu ấu trùng Postlarvae 12 trở lên: 10.000.000 đồng/1 triệu con; Diện tích nuôi tôm sú quảng canh (nuôi tôm lúa, tôm sinh thái, tôm rừng, tôm kết hợp): 9.000.000 đồng/ha; diện tích nuôi tôm sú bán thâm canh, thâm canh: 12.000.000 đồng/ha; Diện tích nuôi TTCT: 9.000.000 đồng/ha (mật độ nuôi từ 30 - dưới 50 con/m²); 20.000.000 đồng/ha (mật độ nuôi từ 50 - 100 con/m²); 30.000.000 đồng/ha (mật độ nuôi từ trên 100 - 250 con/m²); 50.000.000 đồng/ ha (mật độ nuôi từ trên 250 con/m²); Diện tích nuôi tôm rảo quảng canh: 9.000.000 đồng/ha; diện tích nuôi tôm rảo bán thâm canh, thâm canh: 12.000.000 đồng/ha. Cùng đó, đối với với doanh nghiệp nhỏ và vừa (không bao gồm các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) có

hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản bị thiệt hại do dịch bệnh động vật được hỗ trợ bằng mức quy định tại Điều 6 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP; Điều 5 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 và các văn bản liên quan.  Ngày 14/11/2025, HĐND tỉnh Quảng Ninh thông qua Nghị quyết số 84/2025/NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2025 2030. Nghị quyết này quy định mức hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật theo khoản 3 Điều 12 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ. Mức hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật, sản phẩm động vật đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (không bao gồm các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) có hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Trong đó, động vật, sản phẩm động vật hỗ trợ bằng 1,5 lần mức hỗ trợ quy định tại Điều 6 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Cụ thể, cá giống (cá biển, cá truyền thống, cá rô phi, cá nước lạnh): 15.000 đồng/kg; Hải sản nuôi lồng, bè: 15.000 đồng/kg. Mức hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa có hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản bị thiệt hại do dịch bệnh động vật: hỗ trợ bằng 1 lần mức quy định tại Điều 6 Nghị định số 116/2025/NĐ-

CP. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2025 đến hết ngày 31/12/2030.  Ngày 19/11/2025, Thủ tướng Chính phủ ra Công điện số 221/CĐ-TTg về tập trung ưu tiên giữ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy xuất khẩu. Trong đó, Thủ tướng đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; tăng cường hơn nữa về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát chặt chẽ hướng dòng vốn tín dụng vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng, gắn với bảo đảm chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu. Bộ Công Thương tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu, nhất là dịp cuối năm và đầu năm mới; Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Đẩy nhanh tiến độ đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại song phương, đa phương với các đối tác nhiều tiềm năng; tiếp tục đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng với Mỹ theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy mạnh công tác đàm phán mở cửa thị trường, công nhận lẫn nhau về an toàn thực phẩm giúp mở cửa thị trường cho các chủng loại trái cây, rau quả có thế mạnh của Việt Nam; Xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu sản phẩm, cấp mã số vùng trồng, vùng nuôi, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa chặt chẽ; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp,... 

19


20

CON TÔM THÁNG 12/2025


CON TÔM THÁNG 12/2025

21


22

CON TÔM THÁNG 12/2025


CON TÔM THÁNG 12/2025

23


24 THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

CON TÔM THÁNG 12/2025

Xuất khẩu tôm đạt 4,3 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm 2025, tăng 21% so cùng kỳ năm trước

Ảnh: Lê Minh/Báo ảnh Việt Nam

Vững đà tăng trưởng, đối diện thách thức Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm được dự báo thiết lập kỷ lục mới. Tuy nhiên, ngành tôm 2026 sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là với thị trường Mỹ.

Tăng trưởng ấn tượng

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), lũy kế đến hết tháng 11/2025, xuất khẩu tôm đạt 4,3 tỷ USD, tăng 21% so cùng kỳ năm trước, tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chính của toàn ngành thủy sản. Riêng tháng 11, kim ngạch đạt 393 triệu USD, tăng 14%. Trung Quốc - Hồng Kông vẫn là thị trường dẫn đầu với 1,2 tỷ USD, chiếm hơn 28% tổng kim ngạch tôm Việt Nam và tăng tới 59% so cùng kỳ. Dù giá trị tháng 11 đạt 108 triệu USD, giảm so tháng 10 nhưng so cùng kỳ vẫn tăng gần 27%, phản ánh nhu cầu ổn định của thị trường này đối với các mặt hàng tôm sống, tươi và đông lạnh.

Khối CPTPP tiếp tục là khu vực tăng trưởng tích cực, đạt 1,2 tỷ USD trong 11 tháng, tăng 32%. Tại nhóm thị trường này, Nhật Bản duy trì vị trí quan trọng với giá trị 535 triệu USD, tăng 13% và đặc biệt ghi nhận mức tăng của các sản phẩm tôm chế biến phục vụ kênh bán lẻ. Australia, Anh và Canada cũng duy trì đà tăng ổn định, góp phần củng cố triển vọng của khu vực CPTPP trong giai đoạn thị trường Mỹ và EU biến động mạnh. Tại thị trường Mỹ, xuất khẩu tôm đạt 754 triệu USD, tăng 7% trong 11 tháng, dù tháng 11 chỉ mang về 52 triệu USD, giảm 7% do tác động từ các biện pháp phòng vệ thương mại của Mỹ. Xuất khẩu trong

các tháng cuối năm chậm lại là hệ quả của việc doanh nghiệp đã đẩy mạnh giao hàng từ tháng 8 và 9 khi Mỹ công bố mức thuế chống bán phá giá sơ bộ POR19 ở mức cao. Dù vậy, nhu cầu vẫn ở mức khả quan, đặc biệt đối với các sản phẩm giá trị gia tăng, vốn là lợi thế của Việt Nam. Thị trường EU cũng ghi nhận sự phục hồi đáng kể. Giá trị xuất khẩu 11 tháng đầu năm đạt 540 triệu USD, tăng 21%, với mức tăng mạnh ở Đức, Bỉ và Hà Lan. Nhu cầu nhập khẩu tại khu vực này được thúc đẩy bởi sự thiếu hụt nguồn cung tôm sú từ Ấn Độ và Indonesia trong một số thời điểm, cũng như xu hướng chuyển dịch sang các sản phẩm chế biến có chứng nhận bền vững.


THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

CON TÔM THÁNG 12/2025

Sản phẩm tôm tươi sống được ưa chuộng tại nhiều thị trường

Về cơ cấu sản phẩm, TTCT vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối với 2,8 tỷ USD, tương đương 64,8% tổng kim ngạch. Tôm sú đạt 426 triệu USD, tăng 4%, chủ yếu nhờ đóng góp ổn định từ các thị trường châu Á và một phần EU, song vẫn chịu áp lực cạnh tranh lớn từ nguồn cung giá rẻ hơn. Điểm nhấn nổi bật nhất của năm 2025 là sự tăng trưởng đột phá của nhóm tôm loại khác, đạt trên 1 tỷ USD, tăng tới 74%. Đây là kết quả trực tiếp từ sự bùng nổ xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc, đặc biệt là phân khúc tôm sống và cao cấp. Sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm cho thấy khả năng thích ứng nhanh của ngành trước nhu cầu thị trường, đồng thời làm tăng giá trị bình quân của xuất khẩu trong năm. Trung Quốc tiếp tục là thị trường có mức tăng trưởng mạnh nhất của tôm Việt Nam trong năm 2025. Không chỉ dẫn đầu về kim ngạch, thị trường này còn đặc biệt ưu chuộng các sản phẩm sống, tươi, chủ yếu là tôm hùm với kim ngạch ghi nhận tăng trưởng 3 con số. TTCT chế biến cũng tăng mạnh, phản ánh sự dịch chuyển tiêu dùng tại các đô thị lớn. Tuy nhiên, cạnh tranh tại thị trường này đang gia tăng nhanh chóng. Ecuador và Ấn Độ duy trì lợi thế ở phân khúc giá rẻ, trong khi Thái Lan và Việt Nam cạnh tranh trực tiếp ở phân khúc cao cấp và chế biến. Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lý gần, giúp rút ngắn thời gian giao hàng và linh hoạt theo biến động nhu cầu. Tuy vậy, sự thay đổi liên tục trong chính sách hải quan, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát biên mậu của

Ảnh: VASEP

Trung Quốc đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải nâng chuẩn quản lý và tuân thủ. Mỹ là thị trường đối mặt nhiều thách thức nhất trong năm 2025 khi chịu tác động đồng thời của thuế chống bán phá giá POR19 sơ bộ ở mức cao và thuế đối ứng theo chính sách thương mại mới. Chi phí tuân thủ gia tăng khiến giá TTCT Việt Nam xuất sang Mỹ trong quý III tăng lên mức 12,8 - 14,1 USD/kg, còn tôm sú tăng lên mức 17,9 - 20,4 USD/kg. Điều này tạo áp lực cạnh tranh đáng kể so với Ecuador và các nhà cung cấp Nam Á.

Đối diện thách thức

Bước sang năm 2026, xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ dự báo sẽ đối diện với nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất mà doanh nghiệp tôm Việt Nam phải đối diện trong ngắn hạn là kết quả rà soát hành chính POR19 đối với tôm đông lạnh xuất khẩu sang Mỹ. Kết quả sơ bộ do Bộ Thương mại Mỹ công bố cho thấy, biên độ thuế chống bán phá giá lên tới 35,29%. Phán quyết cuối cùng dự kiến được đưa ra vào đầu năm 2026 sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu trong năm 2026. Nếu mức thuế sơ bộ không thay đổi, sẽ không chỉ gây áp lực tài chính lớn mà còn ảnh hưởng đến khả năng duy trì thị trường của ngành tôm trong năm tới. Chưa hết, tôm Việt Nam còn chịu tác động từ thuế đối ứng mà Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump áp dụng trong năm 2025 lên nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam.

VASEP nhận định, dù xuất khẩu năm 2025 vẫn tăng nhẹ, dự báo bức tranh quý I/2026 không mấy sáng sủa khi doanh nghiệp đối mặt áp lực lớn từ thuế, chi phí tuân thủ và tình hình sản xuất trong nước nhiều khó khăn. Rủi ro thuế chống bán phá giá là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến triển vọng thị trường. Trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng siết chặt, việc chủ động chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch hồ sơ và nâng cao quản trị tuân thủ được coi là giải pháp thiết yếu giúp doanh nghiệp giảm rủi ro pháp lý, duy trì niềm tin với nhà nhập khẩu và tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài. Cụ thể, các doanh nghiệp cần chủ động làm việc với nhà nhập khẩu Mỹ để thống nhất quy trình cung cấp dữ liệu, hỗ trợ kiểm tra hồ sơ và xây dựng phương án chia sẻ rủi ro. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cũng sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào Mỹ và phân tán rủi ro thuế quan. Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty CP thực phẩm Sao Ta cho biết, động thái áp thuế đối ứng và thuế chống bán phá giá của Mỹ đối với tôm Việt Nam có thể sẽ “nhẹ nhàng” hơn sau khi đánh giá ngành sản xuất trong nước của họ không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi tôm nhập khẩu, trong khi nhu cầu trong nước vẫn ở mức cao. Do đó, Mỹ sẽ vẫn là thị trường trọng điểm của ngành tôm trong năm 2026. LÃNG UYỂN

25


26 GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 12/2025

Xuất khẩu tôm thiết lập kỷ lục mới Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), tháng 11/2025, Việt Nam thu về gần 990 triệu USD từ xuất khẩu thủy sản, tăng 6,6% so cùng kỳ năm trước. Nhiều sản phẩm chủ lực có mức tăng trưởng tốt như tôm tăng 11,7%, lên 385 triệu USD; cá tra tăng 9,7%, đạt 196 triệu USD. Lũy kế 11 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt hơn 10,5 tỷ USD, tăng 14,6% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, tôm mang về 4,3 tỷ USD, tăng 21% so cùng kỳ; cá tra tăng 9%, đạt 2 tỷ USD. Dựa trên kết quả 11 tháng và triển vọng cuối năm, VASEP dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ lập kỷ lục mới với giá trị 11,2 - 11,3 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tôm có kết quả cao nhất từ trước tới nay với trên 4,6 tỷ USD.

Tôm sú Việt Nam được ưa chuộng tại Trung Quốc Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, tôm Việt Nam sang thị trường Trung Quốc - Hồng Kông tiếp tục bứt phá. Tính đến ngày 15/11/2025, kim ngạch đạt khoảng 1,2 tỷ USD, tăng 60% so cùng kỳ năm trước; riêng thị trường Trung Quốc đại lục tăng 66%. Việt Nam nhờ đó củng cố vị thế trong nhóm nhà cung cấp tôm quan trọng tại thị trường này. Bên cạnh tôm hùm - mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc, tôm sú Việt Nam tiếp tục giữ lợi thế rõ rệt tại Trung Quốc Hồng Kông - thị trường số 1 của tôm sú Việt Nam. Xu hướng tăng giá trị nhập khẩu, trong khi sản lượng chỉ tăng rất nhẹ, cho thấy người tiêu dùng Trung Quốc sẵn sàng chi cho sản phẩm cao cấp hơn, chế biến tiện lợi hơn. Điều này mở ra dư địa cho các dòng sản phẩm tôm sú chất lượng cao, tôm chế biến sâu, tôm đóng gói mang thương hiệu Việt Nam.

Giá nguyên liệu tôm ít biến động Trong những ngày đầu tháng 12/2025, giá tôm nguyên liệu tại một số tỉnh biến động nhỏ, còn lại ổn định. Tại Quảng Trị, chỉ có giá nguyên liệu tôm đất cỡ 40 - 50 con/kg giảm 50.000 đồng/kg so những ngày đầu tháng 11/2025 và đạt 350.000 đồng/kg, còn các cỡ tôm khác ổn định; Tôm bộp cỡ 45 - 50 con/kg đạt 420.000 đồng/kg; Tôm sú cỡ 20 - 30 con/kg đạt 430.000 đồng/kg; Tôm hùm cỡ 3 - 5 con/kg đạt 1.250.000 đồng/kg; TTCT cỡ 30 - 40 con/kg đạt 250.000 đồng/kg. Còn tại Đắk Lắk, giá nguyên liệu tôm sú tiếp tục ổn định so những ngày đầu tháng 11/2025, riêng giá TTCT tăng nhẹ, cụ thể giá nguyên liệu TTCT cỡ 100 con/kg tăng 2.000 đồng/kg, đạt mức 104.000 đồng/kg. THANH HÓA

Mùa ruốc biển được giá Từ sáng sớm tại các làng biển ở Thanh Hóa đã rộn ràng không khí ra khơi đánh bắt ruốc biển. Thời điểm này, ruốc theo luồng nước vào gần bờ, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân đánh bắt bằng bè mảng nhỏ. Mỗi chuyến ra khơi, bà con đánh bắt được trung bình từ 1,2 đến 1,5 tạ ruốc. Với những lao động khỏe mạnh, một ngày có thể đi biển đến ba chuyến. Không chỉ trúng mùa, ruốc biển năm nay còn được giá cao. Nếu như những tháng trước, giá ruốc chỉ dao động từ 8.000 - 10.000 đồng/kg thì hiện nay, ngay tại bãi biển, ruốc tươi được thương lái thu mua với giá từ 15.000 - 18.000 đồng/kg, có thời điểm lên tới 22.000 đồng/kg, tùy kích thước ruốc to hay nhỏ. Nhờ đó, thu nhập của ngư dân được cải thiện đáng kể.


GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 12/2025

TP HỒ CHÍ MINH

Giá tôm hùm bông tăng vọt Giá tôm hùm bông tại thị trường TP Hồ Chí Minh đã liên tục leo thang kể từ đầu năm, hiện đạt mức 2 - 2,8 triệu đồng/kg, tăng khoảng 20 - 35% so cùng kỳ năm trước. Tình trạng này xuất phát từ sự sụt giảm nghiêm trọng về nguồn cung. Khảo sát tại các cửa hàng hải sản cho thấy, tôm hùm bông loại trên 1 kg được niêm yết gần 2,8 triệu đồng/kg, trong khi loại dưới 1 kg có giá khoảng 2,5 triệu đồng/kg. Nguyên nhân chính của đợt tăng giá này đến từ sự sụt giảm nguồn cung tại các vùng nuôi lớn do ảnh hưởng mưa lũ kéo dài khiến tôm hùm chết hàng loạt. Bên cạnh yếu tố thời tiết, cơ cấu nuôi trồng cũng có sự thay đổi. Nhiều hộ dân đã chuyển từ nuôi tôm hùm bông sang tôm hùm xanh. ĐỒNG THÁP

Người nuôi đạt mức lợi nhuận cao nhờ giá tôm lập đỉnh Những ngày đầu tháng 12/2025, giá TTCT nuôi công nghệ cao tại tỉnh Đồng Tháp duy trì ở mức rất cao, với loại 30 con/kg đạt 200.000 đồng/kg và loại 25 con/kg lên đến 220.000 đồng/kg. Với mặt bằng giá này, người nuôi thu lãi hơn 80.000 đồng/kg tôm, mức lợi nhuận được đánh giá là cao nhất trong vòng 5 năm qua. Theo ông Ngô Minh Tuấn, chủ gần 40 ha ao nuôi tôm công nghệ cao tại cù lao Tân Phú Đông, giá TTCT tăng mạnh xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung, tình trạng lũ lụt đã khiến diện tích nuôi tôm bị thu hẹp đáng kể, làm giảm sản lượng cung ứng cho thị trường. Trong khi đó, khu vực ĐBSCL đã kết thúc vụ thu hoạch, khiến nguồn tôm thương phẩm càng trở nên khan hiếm. Ngoài ra, thời gian gần đây, TTCT thường xuyên bị nhiễm bệnh, dẫn đến năng suất giảm, góp phần làm mất cân đối cung - cầu và đẩy giá tăng cao. CÀ MAU

 Nông dân trúng mùa tôm càng xanh Những ngày này, người dân trên địa bàn tỉnh Cà Mau đang khẩn trương thu hoạch vụ tôm càng xanh nuôi kết hợp trong ruộng lúa. Ông Danh Dêl (xã Biển Bạch) cho biết: “Thời tiết năm nay thuận lợi nên tôm càng xanh nuôi kết hợp trong ruộng lúa rất nhanh lớn. Sau khi trừ hết chi phí, vụ nuôi này gia đình ông đã thu lãi hơn 60 triệu đồng”. Tôm càng xanh sau khi thu hoạch, người dân sẽ vận chuyển vào nhà để rửa sạch bùn và bán cho thương lái với giá 90.000 - 120.000 đồng/kg (tùy loại). Sau đó, thương lái sẽ cho tôm càng xanh vào thùng nhựa, chạy ôxy và vận chuyển đi bán cho các nhà hàng và quán ăn.

 Thương lái tranh nhau mua cá kèo, tôm đất Giữa tháng 12, cá kèo thiên nhiên trên thị trường tỉnh Cà Mau được thương lái đến tận nhà của người dân thu mua 200.000 đồng/kg và bán ra thị trường với giá 280.000 đồng/kg; cá kèo nuôi loại 40 con/kg giá bán tại chợ 220.000 đồng/kg. Một loại đặc sản khác của tỉnh Cà Mau là tôm đất được thương lái thu mua với giá 130.000 đồng/kg và bán ra thị trường với giá 180.000 đồng/kg. Theo lý giải của thương lái, giá cá kèo và tôm đất tăng mạnh trong những ngày gần đây là do hút hàng nên các cơ sở kinh doanh đẩy mạnh thu mua 2 loài đặc sản trên để làm khô cung ứng ra thị trường dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán sắp tới. ANH VŨ

27


28 GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 12/2025

Thị trường tôm đông lạnh toàn cầu tăng trưởng mạnh đến năm 2035 Thị trường tôm đông lạnh toàn cầu được dự báo bước vào giai đoạn tăng trưởng tích cực trong thập kỷ tới, nhờ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tiện lợi và protein chất lượng cao ngày càng gia tăng. Theo dự báo, giá trị thị trường sẽ tăng từ khoảng 18,74 tỷ USD năm 2025 lên gần 32,85 tỷ USD vào năm 2035, tương đương mức tăng hơn 75%, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) ước đạt 5,8%. Động lực chính đến từ xu hướng tiêu dùng hiện đại, sự mở rộng của nuôi trồng thủy sản, cùng tiến bộ trong công nghệ cấp đông, chế biến và bảo quản. Trong năm 2025, kênh bán lẻ tiếp tục dẫn đầu với khoảng 58,7% thị phần, phản ánh vai trò ngày càng lớn của siêu thị và đại siêu thị trong phân phối sản phẩm tôm đông lạnh. Về cơ cấu sản phẩm, phân khúc tôm đã bóc vỏ và bỏ chỉ lưng (Peeled & Deveined) chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 46,3%. Xét theo khu vực, châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và châu Âu là các thị trường tăng trưởng trọng điểm. ECUADOR

Tôm vượt dầu mỏ, trở thành mặt hàng xuất khẩu số một Trong 9 tháng đầu năm, tôm lần đầu tiên vượt dầu mỏ để trở thành mặt hàng xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho Ecuador, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong cơ cấu thương mại của quốc gia này. Theo Ngân hàng Trung ương Ecuador, giá trị xuất khẩu tôm tăng 19,5% so với cùng kỳ, trong khi sản lượng tăng 13,6%. Ở chiều ngược lại, doanh thu FOB từ dầu mỏ giảm khoảng 20%, sản lượng xuất khẩu giảm hơn 8%. Ngành tôm tăng trưởng nhờ áp dụng công nghệ, cải thiện con giống rút ngắn chu kỳ nuôi, cùng các biện pháp an toàn sinh học hạn chế dịch bệnh. Chất lượng sản phẩm ổn định và định hướng phát triển bền vững giúp tôm Ecuador duy trì sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Về thị trường xuất khẩu, Ecuador đang từng bước giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc khi tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường này giảm từ gần 60% xuống khoảng 40%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Mỹ vẫn duy trì tăng trưởng, dù chịu tác động từ các biện pháp thuế bổ sung tạm thời. Chính phủ Ecuador cũng đẩy mạnh mở cửa thương mại, tìm kiếm và đa dạng hóa thị trường nhằm củng cố đà tăng trưởng của các mặt hàng xuất khẩu ngoài dầu mỏ. THÁI LAN

Đặt mục tiêu nâng sản lượng tôm lên 400.000 tấn vào năm 2026 Ngành tôm Thái Lan đang thúc đẩy kế hoạch phục hồi quy mô lớn, với mục tiêu nâng sản lượng lên 400.000 tấn vào năm 2026, so với mức hiện nay khoảng 250.000 - 270.000 tấn. Theo Hiệp hội Tôm Thái Lan, việc Ấn Độ, đối thủ cạnh tranh lớn nhất, đang chịu mức thuế nhập khẩu hơn 60% tại Mỹ có thể tạo ra khoảng trống thị trường lên tới 300.000 tấn. Trong khi đó, tôm Thái Lan hiện chỉ chịu thuế khoảng 19%, tạo lợi thế tương đối trong ngắn hạn. Tuy nhiên, mục tiêu tăng mạnh sản lượng được đánh giá là đầy thách thức. Sản lượng tôm Thái Lan từng vượt 600.000 tấn năm 2011 nhưng đã suy giảm kéo dài do dịch bệnh, chi phí sản xuất cao và hệ thống nuôi lạc hậu. Dự báo năm 2025, sản lượng chỉ duy trì quanh 270.000 tấn. Từ tháng 1 - 10/2025, xuất khẩu tôm đạt 112.000 tấn, tăng 6% so cùng kỳ. Cả năm 2025, xuất khẩu dự kiến đạt khoảng 126.000 tấn, với giá trị khoảng 30 tỷ baht, cho thấy đà phục hồi còn chậm và phụ thuộc lớn vào cải cách chính sách cũng như diễn biến thương mại quốc tế.


GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 12/2025

ẤN ĐỘ

 Ngành tôm tăng tốc mở rộng thị trường Trước tác động từ việc Mỹ tăng thuế nhập khẩu, ngành tôm Ấn Độ chủ động giảm phụ thuộc vào thị trường này và đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa xuất khẩu. Trong 5 tháng đầu năm tài chính 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 2,43 tỷ USD, tăng 18% so cùng kỳ, khối lượng 348.000 tấn, tăng 11%. Tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường ngoài Mỹ tăng từ 51% lên 57%, đạt 1,38 tỷ USD, tăng 30%. Thuế nhập khẩu tại Mỹ tăng từ 18% lên gần 58%, giảm sức cạnh tranh. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất ngoài Mỹ, trong khi xuất khẩu sang Việt Nam và Bỉ đều tăng gấp đôi, phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của các trung tâm chế biến và tái xuất. Việc mở rộng sang EU, Nga và châu Á được kỳ vọng giúp ngành tôm Ấn Độ duy trì đà tăng trưởng trong nửa cuối năm.

 Duy trì đà tăng xuất khẩu tôm nhờ EU và Trung Quốc Bất chấp môi trường thương mại biến động, ngành tôm Ấn Độ giữ sức bật trong 9 tháng đầu năm 2025. Lũy kế đến hết tháng 9, xuất khẩu đạt 535.000 tấn (+2%), kim ngạch 3,815 tỷ USD (+10%). Thị trường Mỹ là điểm trừ lớn, với xuất khẩu tháng 9 giảm tới 33% do thuế cao và nhu cầu suy yếu; tổng lượng 9 tháng giảm 3% xuống 214.000 tấn. Ngược lại, EU và Trung Quốc là động lực chính. EU tăng nhập khẩu 79% trong tháng 9, đạt 81.200 tấn trong 9 tháng (+37%), dẫn đầu bởi Bỉ, Đức và Pháp. Xuất khẩu sang Trung Quốc phục hồi mạnh, tăng 76% trong quý III, đạt 104.700 tấn (+4%). Tôm sú và các sản phẩm chế biến tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ đạo của ngành. MỸ

Nhập khẩu tôm giảm mạnh trong tháng 8/2025 do thuế đối ứng Tháng 8/2025, sản lượng tôm nhập khẩu của Mỹ chững lại khi Washington áp thuế đối ứng, đánh dấu tháng giảm đầu tiên sau chuỗi tăng trưởng liên tục từ đầu năm. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2025, Mỹ nhập 546.621 tấn tôm, tăng 14% so cùng kỳ, với kim ngạch 4,55 tỷ USD, tăng 22%. Riêng tháng 8, nhập khẩu giảm 9% về khối lượng và 6% về giá trị. Hầu hết nhóm sản phẩm đều sụt giảm: tôm bóc vỏ, tôm chín/ướp và tôm tẩm bột giảm 6 - 18%; tôm nguyên liệu còn vỏ giảm sâu nhất, tới 15%. Về nguồn cung, Ấn Độ và Ecuador dẫn đầu, nhưng tăng trưởng tháng 8 chậm lại. Indonesia và Việt Nam giảm mạnh, riêng Việt Nam giảm tới 46%, kéo kết quả 8 tháng xuống âm 3%. Thái Lan duy trì sản lượng nhỏ nhưng ổn định. EU

Tăng nhập khẩu tôm Trong 9 tháng đầu năm, EU nhập 332.097 tấn tôm đông lạnh và tôm giá trị gia tăng, tăng 18% so cùng kỳ, cho thấy nhu cầu vẫn cao. Riêng tháng 9, khối lượng đạt 41.771 tấn (+9%), giá trị nhập khẩu 256 triệu euro (+9%), đưa tổng giá trị 9 tháng lên 2,1 tỷ euro (+22%) nhờ giá bình quân tăng. Các khu vực nhập khẩu chính đều tăng nhưng tốc độ giảm: Nam Âu 24.756 tấn (+12%), Tây Bắc Âu 15.079 tấn (+1%), Đông Âu tăng mạnh 61% nhưng quy mô nhỏ. Xét theo sản phẩm, tôm đông lạnh đạt 36.688 tấn (+9%), tôm giá trị gia tăng 5.083 tấn (+15%), nhưng đều thấp hơn nhịp tăng các tháng trước. LAN KHUÊ

29


30 NHÌN RA THẾ GIỚI

CON TÔM THÁNG 12/2025

Tôm sú và hành trình hồi sinh nhờ đổi mới di truyền Những đột phá về di truyền tôm sú cùng khả năng sinh trưởng vượt trội trong các ao nuôi TTCT bỏ hoang đang mở ra cơ hội phục hồi mạnh mẽ, hứa hẹn tạo cú hích toàn cầu cho ngành tôm trong những năm tới.

Triển vọng tích cực

Theo báo cáo Global Aquaculture Outlook 2026 của Rabobank, ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang dần ổn định sau những năm biến động. Mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành tôm được dự báo sẽ chậm lại vào năm 2026 so năm 2025 nhưng triển vọng vẫn khá tích cực. Rabobank dự báo sản lượng tôm nuôi toàn cầu sẽ tăng khoảng 3% mỗi năm trong giai đoạn 2025 - 2026, trong đó Ecuador tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu nhờ đầu tư mạnh mẽ vào năng lực chế biến và cải tiến thức ăn. Tại châu Á, sản lượng tôm đang dần ổn định sau hai năm biến động mạnh. Trung Quốc được dự báo tăng 6% nhờ mở rộng nuôi trồng nội địa và hợp nhất các cơ sở ương giống, tạo ra một giai đoạn hiện đại hóa cơ cấu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh lâu dài. Ngược lại, tăng trưởng tại Ấn Độ dự kiến chỉ đạt 2%, còn Việt Nam khoảng 1%. Trong khi đó, Mexico tiếp tục mở rộng sản lượng nhờ lợi thế tiếp cận thị trường Mỹ không thuế và nhu cầu nội địa mạnh. Một xu hướng nổi bật là sự quan tâm trở lại với tôm sú. Sản lượng tôm sú toàn cầu dự kiến tăng 4% trong năm 2025 và 6% vào năm 2026, khi người nuôi tìm kiếm lợi nhuận tốt hơn trước áp lực chi phí sản xuất TTCT ngày càng cao. Báo cáo cho biết: “Những cải tiến về di truyền cùng việc mở rộng thị trường tôm bố mẹ đang giúp người nuôi dễ dàng tiếp cận giống tôm sú chất lượng cao, đặc biệt tại Ấn Độ và Việt Nam”. Mặc dù nhu cầu tôm đã vượt dự báo, đặc biệt tại châu Âu với mức tăng doanh số trên 10% bất chấp giá tăng, Rabobank cảnh báo rằng năm 2026, nhu cầu có thể suy giảm do thuế nhập khẩu của Mỹ và các nhà phân phối tích trữ lượng lớn tôm đông lạnh trước

Tôm sú ít bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh hơn so với TTCT

khi thuế có hiệu lực. Tuy nhiên, khảo sát của Rabobank với các nhà sản xuất cho thấy niềm tin vào thị trường toàn cầu đang dần cải thiện, với kỳ vọng giá nguyên liệu giảm và điều kiện kinh tế thuận lợi hơn. Đáng chú ý, xu hướng áp dụng các biện pháp bền vững trong ngành tôm ngày càng phổ biến: tỷ lệ nhà sản xuất cải thiện phúc lợi động vật đã tăng từ 59% lên 79%, trong khi 72% thực hiện các giải pháp giảm thiểu tác động môi trường. Những nỗ lực này không chỉ góp phần nâng cao tính bền vững của ngành mà còn mang lại lợi thế về giá bán cho những người nuôi đi tiên phong.

Kỳ vọng tôm sú

Trong bối cảnh thị trường TTCT đang bão hòa, tôm sú đang hồi sinh mạnh mẽ

Ảnh: Globalseafood

nhờ những cải tiến đột phá về di truyền. Ông Robins McIntosh, Phó Chủ tịch Điều hành Tập đoàn Charoen Pokphand (CP) Foods, nhận định: “Tôi chưa từng chứng kiến tôm sú phát triển nhanh như hiện nay. Tại miền Nam Thái Lan, sau 100 ngày, tôm đạt trung bình 35 g; 145 ngày đạt 65 g; và 200 ngày đạt 85 g. Tốc độ tăng trưởng này vượt trội so với mọi ghi nhận trước đây”. Thử nghiệm cho thấy giống tôm sú mới có tốc độ tăng trưởng tương đương, thậm chí vượt trội so với TTCT, đồng thời vẫn giữ được khả năng kháng bệnh cao. Ông McIntosh giải thích: “Bệnh đốm trắng có thể ảnh hưởng đến tôm sú, nhưng tại các ao ở miền Nam Thái Lan, chúng tôi không ghi nhận tác động nào. Các dịch bệnh khác như Vibrio, EHP hay các bệnh do virus cũng


NHÌN RA THẾ GIỚI

CON TÔM THÁNG 12/2025

không gây thiệt hại, nhờ đó tỷ lệ sống của tôm rất cao, ngay cả ở những khu vực mà TTCT thường thất bại”. Với khả năng tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và mật độ thả lên tới 90 con/m², giống tôm mới mang lại hiệu quả ấn tượng. Trong khi phương pháp nuôi tôm sú truyền thống khó đạt 6 - 7 tấn/ha, giống mới cho phép thả 90 con/m² và áp dụng biện pháp thu tỉa, đạt sản lượng tới 15 tấn/ha với tôm cỡ 65 g, tỷ lệ sống trên 80% và FCR dưới 1,7. Những kết quả này mang đến niềm hứng khởi lớn cho người nuôi. Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay lại nằm ở thị trường. McIntosh cảnh báo: “Vấn đề không phải ở năng suất mà là tìm được thị trường tiêu thụ. Một phần sản phẩm được bán nội địa, một phần xuất sang Trung Quốc, nhưng vẫn chưa có thị trường lớn ổn định. Nếu không có kênh xuất khẩu, nhiều người nuôi còn ngần ngại thả giống”. Dù vậy, sản lượng tôm sú đang tăng nhanh. Thái Lan dự kiến đạt 30.000 tấn trong năm nay, và con số này có thể mở rộng lên 50.000 - 60.000 tấn nếu thị trường xuất khẩu được phát triển. Tương tự, tại Ấn Độ, Trung Quốc và Malaysia, tôm sú cũng đang dần khôi phục vị thế trong những ao nuôi TTCT thất bại. Ông McIntosh kỳ vọng sớm đưa tôm sú CP vào thị trường Ấn Độ bởi điều kiện nuôi thuận lợi và nhu cầu tiêu thụ cao. Khả năng kháng bệnh là một ưu thế nổi bật của tôm sú, nhất là tại các khu vực châu Á do Vibrio và EHP thường gây thiệt hại nghiêm trọng cho ao nuôi. “Tôm sú ít bị ảnh hưởng hơn so với TTCT, giúp tỷ lệ sống cao hơn. Tuy nhiên, việc mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu vẫn là yếu tố then chốt”, ông McIntosh nhấn mạnh. Nhờ cải tiến di truyền, quản lý ao nuôi hiệu quả và sự quan tâm của người nuôi, tôm sú đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ, hứa hẹn góp phần làm thay đổi cục diện ngành tôm toàn cầu. Ngành nuôi trồng thủy sản thế giới đang dần bước vào giai đoạn ổn định và đa dạng hơn. Các tiến bộ về di truyền, quản lý thông minh cùng sự chú trọng đến phát triển bền vững đang mở ra triển vọng tích cực. Mặc dù vẫn còn đối mặt với những thách thức về thị trường và thuế nhập khẩu, ngành tôm đã chứng minh khả năng phục hồi nhanh, mang đến hy vọng cho năm 2026 với năng suất cao, chi phí hợp lý và nhiều cơ hội thị trường mới. TUẤN MINH

ẤN ĐỘ

Tôm sú vượt sóng trở lại thị trường toàn cầu Sau nửa đầu 2025 gặp nhiều khó khăn do thả giống muộn, xuất khẩu tôm sú Ấn Độ đã hồi phục mạnh từ giữa năm.

Xuất khẩu hồi phục

Nửa đầu năm 2025, xuất khẩu tôm sú của Ấn Độ giảm gần 40% so cùng kỳ, chủ yếu do thả giống chậm. Theo Vaishnavi Aquatech, nông dân năm nay bắt đầu thả giống muộn hơn một tháng so với lịch thông thường, khiến thu hoạch bị chậm lại, xu hướng này thể hiện rõ trong số liệu xuất khẩu. Tuy nhiên, từ tháng 7 trở đi, xuất khẩu bắt đầu hồi phục. Số liệu chính thức của Bộ Thương mại Ấn Độ cho thấy xuất khẩu tháng 7 tăng gần 90% so cùng kỳ năm trước. Xu hướng này tiếp tục trong các tháng 8 và 9. Dự kiến đến cuối năm 2025, xuất khẩu tôm sú Ấn Độ sẽ đạt 42.000 - 45.000 tấn. Sự phục hồi sản xuất và xuất khẩu này mở ra triển vọng thực sự cho một “cơn sốt tôm sú” mới. Các chuyên gia nhận định, nếu xu hướng tăng trưởng được duy trì, năm tới có thể chứng kiến sản lượng và giá trị xuất khẩu đạt đỉnh, khẳng định vị thế Ấn Độ trên bản đồ tôm sú toàn cầu.

Thánh địa tôm sú Gujarat

Nông dân Gujarat đang chiếm vị thế đặc biệt trong ngành tôm Ấn Độ. Ngành nuôi tôm tại bốn huyện phía Nam gồm Surat, Navsari, Valsad và Bharuch tập trung và phát triển mạnh, với tổng diện tích khoảng 4.000 ha. Surat đóng vai trò trung tâm thương mại, là nơi đặt trụ sở của hầu hết các công ty lớn, trong khi các huyện còn lại chủ yếu hỗ trợ sản xuất. Khí hậu khu vực chỉ cho phép một vụ nuôi duy nhất, kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10, hoặc muộn nhất là tháng 11. Điều kiện này lý tưởng để tôm sú cỡ lớn phát triển, đạt cỡ U15 chỉ trong 5 - 6 tháng. Nhờ đó, tôm Gujarat nổi bật với kích cỡ ấn tượng và hình thức bắt mắt, mang nét đặc trưng khó tìm thấy ở các nguồn cung khác. Điều kiện thủy triều thuận lợi giúp nước nuôi tương đối sạch, tải lượng vi khuẩn Vibrio thấp, giảm nhu cầu sử dụng hóa chất hay kháng sinh. Tôm thường được nuôi với

Ảnh: VASEP

mật độ thấp 10 - 25 PL/m² trong ao lớn 0,5 - 1 ha. Nông dân Gujarat áp dụng kỹ thuật chăm sóc bài bản, thức ăn chất lượng cao để đạt kết quả tối ưu. Sản lượng hiện khoảng 25.000 tấn/năm nhưng có thể tăng lên 40.000 tấn trong tương lai. Một điểm khác biệt của Gujarat là mức độ tập trung cao: 10 nhóm nông dân hàng đầu kiểm soát 80 - 90% tổng sản lượng, mỗi nhóm quản lý 400 - 600 ha, sản xuất 1.600 - 2.400 tấn/năm, với chuỗi cung ứng ngắn, phối hợp tốt, đảm bảo chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Triển vọng thị trường

Các chuyên gia dự báo tốc độ hồi phục của tôm sú Ấn Độ sẽ khác nhau: một số nhận định tăng trưởng từ từ, đạt 75.000 - 100.000 tấn trong 3 - 5 năm tới; số khác lạc quan hơn, tin rằng tốc độ có thể nhanh hơn. Các chiến lược nuôi cũng đang cải tiến như sử dụng tôm giống PL của Unibio, nuôi hai vụ ngắn thay vì một vụ dài; hoặc dùng tôm PL Vaishnavi Aquatech nuôi mật độ cao và thu tỉa. Tuy nhiên, sự mở rộng nhanh mà không có phát triển thị trường tương ứng có thể dẫn đến dư thừa nguồn cung. Sự phục hồi tôm sú Ấn Độ kết hợp đa dạng hóa thị trường và quảng bá đặc tính nổi bật của tôm sú Gujarat, để sản phẩm không chỉ quay lại mà còn khẳng định vị thế tôm cỡ lớn cao cấp trên thị trường toàn cầu. DŨNG NGUYÊN

(Theo Shrimpinsight)

31


32

CON TÔM THÁNG 12/2025

THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP


CON TÔM THÁNG 12/2025

33


34

CON TÔM THÁNG 12/2025


CON TÔM THÁNG 12/2025

35


36 THỨC ĂN - DINH DƯỠNG

CON TÔM THÁNG 12/2025

NGUYÊN LIỆU SINH HỌC MỚI

Bước tiến sức khỏe tôm Trước áp lực giảm kháng sinh và tăng hiệu quả bền vững, ngành tôm đang hướng đến những hợp chất sinh học thế hệ mới nhằm củng cố miễn dịch và năng suất. Nghiên cứu mới cho thấy sự kết hợp các dưỡng chất từ tảo nâu, nấm men và cây ô liu có thể tạo đột phá trong tăng trưởng và khả năng chống chịu bệnh của TTCT.

Các hợp chất sinh học mới

Khác với các loài có hệ miễn dịch thích nghi, tôm chỉ dựa vào miễn dịch bẩm sinh - một hệ thống phòng vệ tổng quát gồm các hàng rào vật lý, miễn dịch tế bào - dịch thể và cơ chế nhận diện phân tử gây bệnh. Những đáp ứng như thực bào, bao vây tác nhân xâm nhập, hoạt hóa enzyme prophenoloxidase (PPO) hay giải phóng peptide kháng khuẩn đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy hệ miễn dịch này có mức độ tinh vi cao hơn nhận định trước đây, thậm chí thể hiện một dạng ghi nhớ miễn dịch giúp tôm phản ứng tốt hơn trước các mối đe dọa tái diễn. Khi ngành tôm đang chịu áp lực phải tối ưu tăng trưởng, kiểm soát chi phí và hạn chế kháng sinh, các hợp chất hoạt tính sinh học như alginate, β-glucan, fucoidan, nucleotide, polyphenol và triterpene đang được quan tâm mạnh mẽ. Những hợp chất này xuất phát từ tảo nâu Macrocystis integrifolia, nấm men Saccharomyces cerevisiae và cây ô liu (Olea europaea), mỗi thành phần giữ một vai trò riêng trong việc duy trì miễn dịch và sức khỏe đường ruột của tôm.

Alginate, một polysaccharide của tảo nâu, đã được chứng minh kích thích đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu và tăng biểu hiện các gen liên quan đến miễn dịch, đồng thời giúp tôm cải thiện khả năng kháng virus WSSV. β-glucan từ nấm men hoạt hóa hàng loạt cơ chế miễn dịch như thực bào, tạo các gốc ôxy phản ứng và tăng cường hệ PPO. Fucoidan, loại polysaccharide giàu sunfat trong tảo nâu, thể hiện hoạt tính mạnh mẽ đối với vi khuẩn và virus nhờ cấu trúc phân tử giàu nhóm sunfat và acid uronic. Nucleotide đóng vai trò thiết yếu trong phân chia tế bào và phục hồi mô, đặc biệt quan trọng khi tôm chịu stress, tăng trưởng nhanh hoặc khi khẩu phần chứa nhiều protein thực vật. Nghiên cứu của Burrells et al. (2001) cho thấy nucleotide có khả năng kích hoạt cả miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu, điều mà β-glucan không thể làm được. Polyphenol và triterpene từ cây ô liu hỗ trợ kiểm soát viêm, chống ôxy hóa và duy trì tính toàn vẹn đường ruột, từ đó cải thiện chuyển hóa và sức khỏe chung của vật nuôi. Tảo nâu Macrocystis integrifolia đặc biệt nổi bật nhờ tỷ lệ fucoidan/alginate cao

và sự hiện diện của laminarin - một dạng β-glucan có hoạt tính miễn dịch mạnh. Trong khi đó, nucleotide chủ yếu thu được từ nấm men S. cerevisiae, còn cây ô liu lại phong phú về các hợp chất thực vật có hoạt tính sinh học. Hiệu quả của những hợp chất này phụ thuộc lớn vào kỹ thuật chiết tách, bởi phương pháp xử lý quyết định khả năng hấp thu và tác động sinh lý của chúng trong thức ăn thủy sản.

Hiệu ứng hiệp đồng

Nhằm đánh giá mức độ cộng hưởng của các hợp chất này, nhóm nghiên cứu của Bioiberica Animal Nutrition (Tây Ban Nha) đã phối hợp cùng ShrimpVet (Việt Nam) triển khai thử nghiệm trên TTCT. Ba nguồn nguyên liệu chính gồm bột tảo nâu Macrocystis integrifolia, nucleotide tự do từ Saccharomyces cerevisiae và chiết xuất ô liu giàu polyphenol - triterpene được kết hợp theo nhiều công thức khác nhau. Các khẩu phần này được thử nghiệm trong hệ thống tuần hoàn RAS để đánh giá tăng trưởng, đồng thời tôm cũng được thách thức bằng Vibrio parahaemolyticus, tác nhân gây bệnh


THỨC ĂN - DINH DƯỠNG

CON TÔM THÁNG 12/2025

AHPND có thể khiến tôm chết đến 100% chỉ sau hơn một tháng nuôi. Trong thử nghiệm cho ăn kéo dài 56 ngày, các nhóm tôm sử dụng khẩu phần bổ sung hoạt chất sinh học đều cho kết quả tăng trưởng vượt trội so với đối chứng. Trọng lượng cuối, sinh khối, tăng trọng và tốc độ tăng trưởng đặc hiệu (SGR) đều cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê. Hai công thức NF500 (500 ppm Nucleotide Aqua) và NFAO (1.000 ppm Nucleoforce Performance) tạo ra cải thiện rõ rệt nhất về sinh khối, SGR, lượng ăn và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), trong đó NFAO đạt FCR thấp nhất cho thấy hiệu quả sử dụng thức ăn tối ưu nhất. Một số tổ hợp như NFAL (1.000 ppm Nucleoforce Immunity) còn thể hiện mức tiêu thụ thức ăn cao hơn đáng kể, phản ánh sức ăn và chuyển hóa tốt hơn. Ở thử nghiệm thách thức với Vibrio, các kết quả càng thể hiện rõ hiệu quả miễn dịch của các hợp chất sinh học. Nhóm đối chứng dương, tức bị nhiễm bệnh nhưng không có bổ sung dinh dưỡng hỗ trợ, chỉ đạt tỷ lệ sống 30,63%, trong khi đối chứng âm (không nhiễm bệnh) đạt hơn 88%. Các nhóm có bổ sung đơn lẻ đều cho thấy sự cải thiện nhất định, nhưng nổi bật nhất là hai tổ hợp nucleotide kết hợp với chiết xuất ô liu hoặc kết hợp với tảo nâu. Hai tổ hợp này đạt tỷ lệ sống lần lượt 55,80% và 59,61%, cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng dương và chứng tỏ hiệu ứng hiệp đồng đáng kể giữa các hợp chất.

Hướng đi mới cho dinh dưỡng tôm bền vững

Những kết quả thực nghiệm này đã được Bioiberica đăng ký sáng chế, phản ánh tiềm năng ứng dụng rộng rãi của các hợp chất sinh học trong thức ăn thủy sản. Việc bổ sung nguyên liệu từ tảo nâu, nấm men và cây ô liu giúp tôm tăng trưởng nhanh hơn, khỏe mạnh hơn và chống chịu tốt hơn trước Vibrio parahaemolyticus, một trong những mầm bệnh nguy hiểm nhất của ngành tôm hiện nay. Sự kết hợp của các dưỡng chất tự nhiên không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn phù hợp với định hướng phát triển bền vững và xu thế kinh tế tuần hoàn. Đây được xem như một bước chuyển quan trọng trong việc thay thế dần các nguyên liệu truyền thống bằng những giải pháp dinh dưỡng tiên tiến hơn, an toàn và thân thiện hơn với môi trường, đồng thời khẳng định cam kết của ngành đối với sức khỏe, chất lượng và hiệu quả vận hành toàn chuỗi. DŨNG NGUYÊN

(Theo Hector Monterde, Bioiberica Animal Nutrition)

MỸ

Thức ăn lỏng tích hợp probiotic bảo vệ tôm giống trước Vibrio Hãng dinh dưỡng Zeigler tại Mỹ vừa ra mắt dòng thức ăn lỏng thế hệ mới EZ Larva Ultra và EZ Artemia Ultra, được bổ sung probiotic Bacillus dạng vi bao, giúp tăng cường miễn dịch, nâng cao tỷ lệ sống của tôm giống và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế cho các trại giống trên toàn cầu.

Công nghệ vi bao giữ trọn hoạt lực probiotic

Zeigler vừa công bố bước tiến mới trong dinh dưỡng cho trại giống tôm với dòng thức ăn lỏng Ultra cải tiến - EZ Larva Ultra và EZ Artemia Ultra. Điểm nổi bật của các sản phẩm này là công nghệ vi bao bằng quy trình lạnh, giúp bảo toàn hoàn toàn hoạt lực của probiotic Bacillus trong quá trình vận chuyển. Khi đến ruột tôm, probiotic phát huy tác dụng ức chế các chủng Vibrio gây bệnh, bảo vệ đường ruột và tăng cường khả năng miễn dịch tự nhiên của tôm. Theo Zeigler, công thức thức ăn nâng cấp này không chỉ giúp tăng tỷ lệ sống mà còn đem lại sự ổn định cho đàn tôm giống, từ đó mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho trại giống thông qua năng suất ấu trùng tôm (PL) cao hơn và đàn tôm đồng đều, khỏe mạnh. Để kiểm chứng tác dụng của probiotic và các phụ gia chức năng trong việc bảo vệ tôm trước Vibrio, Zeigler đã thiết lập một phòng thí nghiệm thách thức mầm bệnh chuyên biệt. Phòng thí nghiệm này cho phép thực hiện các thử nghiệm nhạy, lặp lại và đáng tin cậy trên ấu trùng tôm và tôm giống, tạo cơ sở khoa học vững chắc để đánh giá hiệu quả của thức ăn dạng lỏng Ultra. Trong nghiên cứu đầu tiên, tôm được cho ăn EZ Larva Ultra từ giai đoạn Zoea 1 đến Mysis 3 và EZ Artemia Ultra từ Zoea 3 đến PL10, với mức sử dụng 50% theo phác đồ. Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống của tôm tăng 33% so nhóm đối

chứng không sử dụng probiotic. Nghiên cứu thứ hai thử nghiệm thức ăn dạng lỏng Ultra ở hai mức 50% và 25% phác đồ. Khi cho ăn 50%, tỷ lệ sống tăng 34%, còn ở mức 25%, tỷ lệ sống vẫn cao hơn 23% so đối chứng. Những kết quả này khẳng định khả năng vượt trội của dòng Ultra trong việc bảo vệ tôm trước các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là Vibrio.

Ứng dụng tại trại giống thương mại

Hiệu quả của EZ Larva Ultra và EZ Artemia Ultra cũng được chứng minh tại một trại giống thương mại ở châu Á. Khi cho tôm ăn EZ Larva Ultra hằng ngày từ Zoea 2 đến Mysis, tỷ lệ chết ở giai đoạn PL7 giảm 7,6% khi tôm bị thách thức dịch bệnh. Việc thay thế 25% Artemia nauplius bằng EZ Artemia Ultra cũng giảm tỷ lệ chết từ 7,3% đến 12,7% tùy vào mật độ chủng Vibrio gây bệnh, cho thấy hiệu quả bảo vệ rõ rệt. Nhờ tỷ lệ sống cao hơn và đàn PL khỏe mạnh, các trại giống có thể tăng sản lượng tôm giống mỗi vụ, đồng thời giảm thiệt hại do AHPND và các chủng Vibrio khác. Điều này không chỉ nâng cao năng suất mà còn cải thiện lợi nhuận, giúp trại giống đạt hiệu quả kinh tế bền vững. Zeigler nhấn mạnh rằng việc phát triển các dòng thức ăn lỏng tích hợp probiotic là minh chứng cho cam kết lâu dài của công ty trong việc tối ưu hóa tỷ lệ sống, tăng cường miễn dịch cho tôm giống và tạo ra giá trị kinh tế đo lường được. Các dòng EZ Larva Ultra và EZ Artemia Ultra được kỳ vọng sẽ trở thành giải pháp quan trọng giúp các trại giống nâng cao năng suất, giảm thiệt hại do bệnh và đảm bảo đàn tôm khỏe mạnh, đồng đều từ giai đoạn ấu trùng đến tôm giống ở các kích cỡ khác nhau. VŨ ĐỨC

(Theo Aquafeed)

37


38 KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 12/2025

Đánh giá chất lượng tôm giống qua kính hiển vi Sử dụng kính hiển vi giúp người nuôi nhận diện chính xác chất lượng con giống ngay từ đầu vụ. Dựa trên các tiêu chí quan trọng, phương pháp này hỗ trợ lựa chọn đàn tôm khỏe mạnh, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả.

Những dụng cụ cần thiết để thực hiện phương pháp này là kính hiển vi, ống hút bắt tôm và vợt nhỏ đường kính 30 mm. Thực hiện bằng cách bắt mẫu ngẫu nhiên khoảng 30 - 50 con tôm giống và quan sát chúng qua kính hiển vi.

Hình thái

Gan tụy

Soi nguyên phần đầu ngực tôm dưới kính hiển vi để quan sát gan tụy. Gan tụy tốt phải to, sậm màu (do giọt lipid khúc xạ ánh sáng nên luôn sậm màu), có nhiều giọt dầu. Ngược lại, nếu gan tụy nhỏ và màu trắng, có ít giọt dầu thì có thể tôm đã bị nhiễm bệnh.

Tôm giống kém chất lượng có kích thước nhỏ Đường ruột hơn so với tuổi tôm (hay Nếu kiểm tra tôm ngay còn gọi là tôm bị ngắn tại trại thì yêu cầu thành đòn hơn), ví dụ tôm giống ruột giữa phải có giọt PL10 nhưng có kích thước Chất lượng con giống luôn là vấn đề được người nuôi quan tâm Ảnh: Kemin dầu. Giọt dầu là dấu hiệu nhỏ hơn 9 mm. Không bị dị của dinh dưỡng tốt, tôm tật như cụt râu, cong thân,… (tỷ tuổi. Số gai trên chủy nên > 4, 6 (là đốt không có chân bơi). được cho ăn đầy đủ. Rất nhiều lệ tôm bị dị hình phải dưới 1%). ít nhất phải đạt 3,5 gai thì mang Theo tiêu chuẩn thì chiều rộng trường hợp trong đường ruột mới khá hoàn thiện, có thể điều cơ : chiều rộng ruột = 4:1. Lưu ý: tôm có một đường màu đen, kéo Ngoại sinh vật bám chỉnh được áp suất thẩm thấu cơ phải đầy vỏ khi quan sát chỉ dài từ dạ dày đến ruột sau. Đó là do chất lượng thức ăn kém hoặc Quan sát các mắt và các khi chuyển vào nước nuôi. Khi tiêu này. tôm ăn chất đáy. Ruột rỗng có phần phụ (như chân bơi, chân xem gai chủy, nên xác định độ thể do căng thẳng hoặc bệnh. bò) dưới kính hiển vi (từ 10X - đồng đều của số gai trên chủy. Cơ lưng 40X). Kiểm tra sự hiện diện của Số gai chủy dao động lớn cho Là quan sát phần cơ dọc theo sinh vật bám như trùng loa kèn, thấy tình trạng dinh dưỡng mặt trên của ruột, từ phía sau Sắc tố vi khuẩn dạng sợi. Tôm đạt tiêu không cân đối của tôm hoặc ao gan tụy đến trước đuôi. Cơ này Các hạt sắc tố ở tôm giống chuẩn này thì không có sự hiện nuôi thường bị bệnh. phải đầy vỏ, liền mạch và trong nằm dọc theo đường bụng nên diện của sinh vật bám, mắt tôm suốt. Cơ không đầy, chứng tỏ quan sát bằng mắt thường thấy sáng và sạch. Có thể kết hợp Phụ bộ hay các tôm giống bị thiếu dinh dưỡng tôm có một vạch đen, cách quan sát các đốm vỏ trên tôm. khoảng, dọc mặt dưới thân và hoặc bệnh. chân bơi chân bò Tôm bị ngoại sinh vật bám cơ trong suốt. Tế bào sắc tố co Các bộ phận này phải đảm hoặc các đốm trên vỏ thường bảo đầy đủ. Đầu các chân bò Mang cụm, có hình ngón tay là tôm do tình trạng nước bể ương phải có kẹp (càng) hoặc đầu Là chỉ tiêu quan trọng nhất khỏe mạnh, nếu phân tán có thể xấu. Nếu tôm không bị ngoại nhọn. Các chân bơi phải đủ đốt, khi quan sát dưới kính hiển vi. do bệnh hoặc căng thẳng, màu sinh bám quá nhiều thì sẽ đầu các chân bơi phải có lông. Nếu mang chưa phát triển hoàn của tế bào sắc tố biểu thị tình được làm sạch vào lần lột xác Tôm giống không có bộ phận thiện, khả năng điều chỉnh trạng sức khỏe tôm. Màu nâu tiếp theo. nào trên cơ thể bị hoại tử. áp suất thẩm thấu của tôm sẽ sắt gỉ/xám tro/xám tro đen là thấp, tôm dễ bị sốc khi thả vào khỏe mạnh, màu vàng là trung Số gai trên chủy ao nuôi. Mang hoàn thiện có bình, màu dương là yếu bệnh. Tỷ lệ cơ và ruột M:G Gai chủy và mang tôm có sự Quan sát chiều rộng chỗ lớn nhánh chính đã phân nhánh phát triển tương đồng theo độ nhất của cơ và ruột tại đốt thứ cấp 2 dài. NGUYỄN HẰNG


KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 12/2025

Biện pháp xử lý bệnh đường ruột trên tôm Bệnh đường ruột ở tôm khá phổ biến với các biểu hiện bệnh như phân trắng, đứt khúc, trống ruột, phân loãng,... kéo dài có thể dẫn đến hư gan tụy của tôm. Bệnh thường xảy ra ở tôm nuôi sau 1 tháng, nhiều nhất vào giai đoạn 60 - 90 ngày tuổi. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh làm giảm năng suất và chất lượng tôm nuôi.

Nguyên nhân

- Nhiễm vi khuẩn Vibrio spp: Khi chất lượng nước kém, mật độ Vibrio tăng cao, xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh cho tôm. Hầu hết các chủng Vibrio đều có khả năng gây bệnh, khi vào đường ruột, vi khuẩn phá hủy thành ruột gây viêm, tôm không ăn được dẫn đến trống ruột, đứt khúc. - Nhiễm ký sinh trùng Gregarine (trùng 2 tế bào): Khi tôm ăn phải ký chủ của loài Gregarine này như nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, giun nhiều tơ, ốc,... sẽ bị ấu trùng xâm nhập vào ruột, phát triển thành dạng trưởng thành, sống ký sinh và bám vào thành ruột. Khi mật độ Gregarine dày đặc sẽ làm tắc nghẽn ruột, hình thành những tổn thương ở đường ruột tạo điều kiện cho tác nhân cơ hội tấn công gây bệnh cho tôm nuôi. - Thức ăn: Tôm ăn thức ăn bị ẩm mốc, nhiễm khuẩn gây ngộ độc cho tôm; Tôm ăn phải tảo độc trong ao như tảo lam, loài tảo độc này sẽ tiết độc tố làm tê liệt lớp biểu bì mô ruột, làm ruột không hấp thu được thức ăn, tôm yếu và bị bệnh. - Môi trường: Thời tiết thất thường như mưa nắng kéo dài cũng làm cho tôm yếu, bỏ ăn làm cho ruột trống; Chất lượng nước kém: nước đục, nhiều bọt dơ, tảo tàn, tảo nở hoa, khí độc,... làm cho tôm stress, ăn kém hoặc bỏ ăn.

AQ - 6S Vi sinh xử lý môi trường Chế phẩm vi sinh chuyên xử lý tảo, chất hữu cơ dư thừa và bùn đáy ao nuôi, ức chế triệt để Vibrio spp.,…

AQUAFEED/AQUAMEDICA Men đường ruột Ức chế phân trắng, phân loãng, trống ruột, đứt khúc sau 3 ngày

Tác hại

mầm bệnh trong đường ruột tôm: Bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học:  Chế phẩm vi sinh: Ổn định hệ vi khuẩn đường ruột, tăng mật độ vi khuẩn có lợi trong đường ruột tôm; chủng vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng; vi sinh xử lý nước và đáy ao nuôi để phân hủy chất hữu cơ, thức ăn dư thừa.  Chế phẩm enzyme: Enzyme hỗ trợ tiêu hóa, enzyme cắt tảo độc, xử lý nước ao ô nhiễm hữu cơ.

Bệnh không gây chết hàng loạt trong thời gian ngắn, nhưng sẽ làm tôm bị bệnh mãn tính, khó điều trị. Tôm bị bệnh, bỏ ăn, không bắt mồi, còi cọc, không lớn, hoạt động yếu gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm nuôi.

Biện pháp phòng bệnh

- Kiểm soát tốt chất lượng nước: Diệt khuẩn định kỳ, xử lý chất hữu cơ dư thừa, bùn đáy ao, tảo độc, thường xuyên kiểm tra hàm lượng ôxy hòa tan (> 4 ppm), tốt nhất là 5 ppm (kích thích tôm ăn khỏe, lớn nhanh, ít bị bệnh tấn công). - Kiểm soát chất lượng thức ăn và lượng cho ăn: Đảm bảo thức ăn sạch, không lẫn tạp chất, không bị ẩm mốc, hạn chế lượng thức ăn dư thừa gây ô nhiễm hữu cơ. - Tăng sức đề kháng và diệt

BATENDO Chế phẩm vi sinh đặc hiệu chuyên ức chế ký sinh trùng

Đề xuất giải pháp từ Công ty Thái Nam Việt

Mặc dù việc điều trị bệnh đường ruột có thể mang lại hiệu quả nhanh chóng, nhưng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của tôm nuôi, vì vậy biện pháp phòng bệnh vẫn được ưu tiên. Việc sử dụng chế phẩm sinh học không chỉ giúp kiểm soát bệnh hiệu quả mà còn đảm bảo sự tăng trưởng và sức khỏe của tôm, hạn chế thiệt hại và nâng cao năng suất. THÁI NAM VIỆT

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Công nghệ - Kỹ thuật - Sinh hóa Thái Nam Việt Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, phường Tăng Nhơn Phú, TP Hồ Chí Minh ĐT: 0888 59 63 66 - 0888 69 36 39 - 0916865938 Email: info@thainamviet.com Website: thainamviet.com

39


40 KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 12/2025

Giải pháp mới cho ao nuôi lót bạt đáy bị EHP nhiều vụ Không chỉ giúp các vùng nuôi ao đất phục hồi từ dịch bệnh EHP, thời gian gần đây tại các khu nuôi lót bạt đáy bị EHP nhiều vụ, tôm giống sú CP đã trở thành trợ thủ đắc lực cùng bà con nuôi tôm vượt qua căn bệnh nan giải nhiều năm qua và gặt hái những vụ mùa thắng lợi.


KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 12/2025

Thực tế từ mô hình của anh Nguyễn Ngọc Sơn

Tại xã Lịch Hội Thượng (TP Cần Thơ), anh Nguyễn Ngọc Sơn từng liên tiếp thất bại trong mô hình nuôi TTCT công nghệ cao do mắc bệnh EHP và phân trắng. Sau khi được đội kỹ thuật C.P. tư vấn chuyển sang thả CPF SUPER MONODON, anh ghi nhận kết quả vượt ngoài mong đợi: sau hơn ba tháng nuôi, tôm đạt cỡ 30 - 40 con/kg, phát triển ổn định, không xuất hiện EHP hay phân trắng. Mô hình ao bạt đáy vận hành thuận lợi nhờ ứng dụng máy cho ăn tự động, giúp việc quản lý tương tự như nuôi TTCT. Tôm ăn khỏe, ruột đầy và săn chắc, vỏ sáng bóng, tăng trưởng đồng đều.

Anh Nguyễn Ngọc Sơn (TP Cần Thơ)

Nền tảng giống tạo nên sự khác biệt

CPF SUPER MONODON là dòng tôm sú đã trải qua hơn mười năm chọn lọc, nổi bật với khả năng thắng EHP, tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và thích ứng đa dạng mô hình. Chính nền tảng giống vượt trội này đã giúp mô hình ao bạt đáy của anh Sơn đạt hiệu quả bền vững sau nhiều vụ nuôi thất bại trước đó.

Góc nhìn từ C.P. Việt Nam

Theo anh Phan Quốc Việt, Giám đốc kinh doanh C.P. Việt Nam tại TP Cần Thơ, nhiều khu vực nuôi tôm khác cũng đang thành công với giống tôm sú CPF SUPER MONODON trên cả ao đất và ao bạt, đặc biệt ở những vùng từng chịu ảnh hưởng kéo dài bởi EHP. Trường hợp của anh Sơn được xem là minh chứng rõ nét cho khả năng mở rộng tôm sú vào mô hình ao bạt đáy, góp phần gia tăng sự lựa chọn an toàn và hiệu quả cho người nuôi. Thành công từ mô hình ao bạt đáy cho thấy tôm sú CPF SUPER MONODON đang trở thành giải pháp phù hợp cho nhiều hộ nuôi, giúp nâng cao tính ổn định và hiệu quả kinh tế trong từng vụ nuôi. C.P. VIỆT NAM

Tôm sú CP nuôi trên ao lót bạt đáy sử dụng máy cho ăn tự động

Anh Sơn cùng đội ngũ C.P. Việt Nam thăm khu nuôi tôm trên ao lót bạt đáy

41


42 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

UNI-PRESIDENT VIỆT NAM

Hành trình 2025, sát cánh và phát triển bền vững Năm 2025 ghi nhận một hành trình đầy thách thức đối với ngành nuôi trồng thủy sản khi liên tục phải ứng phó với dịch bệnh, những biến đổi khắc nghiệt của khí hậu và áp lực gia tăng từ thị trường xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, Uni-President đã sát cánh cùng người nuôi, triển khai nhiều dự án thí điểm hiệu quả và các hoạt động hỗ trợ thiết thực, nhằm biến khó khăn thành cơ hội phát triển. Những nỗ lực này không chỉ là hoạt động kinh doanh, mà còn phản ánh một triết lý bền vững, hướng tới tối ưu hiệu quả và lợi ích lâu dài cho người nuôi.

Đại hội khách hàng 2025: Tri ân và cam kết

Khép lại năm 2025 đáng nhớ, hoạt động Đại hội Khách hàng thường niên của Công ty TNHH Uni-President Việt Nam được tổ chức tại Quảng Đông, Trung Quốc. Sự kiện đã quy tụ gần 500 khách hàng và đối tác thân thiết, tạo nên một không gian ấm cúng, ý nghĩa.

Đại hội không chỉ là dịp để Uni-President gửi lời tri ân sâu sắc đến những người nuôi đã tin tưởng và đồng hành suốt thời gian qua, mà còn là diễn đàn quan trọng để lắng nghe những chia sẻ, kinh nghiệm thực tế từ chính bà con. Thông qua sự kiện này, UniPresident khẳng định mối quan hệ hợp tác không chỉ dừng lại ở giao dịch, mà còn là

sự gắn kết bền chặt và cùng nhau hướng tới tương lai nuôi trồng bền vững. “Chúng tôi luôn xem người nuôi tôm, cá là những đối tác trung tâm trong chiến lược phát triển. Phương châm của Uni-President là tập trung nghiên cứu kỹ thuật nuôi tiên tiến, cung cấp những sản phẩm hỗ trợ chất lượng cao với mức giá hợp lý, giúp bà con


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

nuôi tôm, nuôi cá đạt lợi nhuận tối đa. Mục tiêu cuối cùng là cùng nhau xây dựng một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, tạo nên con đường phát triển lâu dài, thịnh vượng cho thủy sản Việt Nam”, ông Liou Hai Hua, Phó Tổng Giám đốc Uni-President Việt Nam chia sẻ.

Giải pháp mới cho vụ mùa thắng lợi

Trong thời điểm chuẩn bị sang năm mới, Uni-President tiếp tục mang đến những giải pháp đột phá, bền vững ra mắt người nuôi. TP100 - Khởi đầu trăm phần trăm: Sản phẩm thức ăn cao cấp chuyên biệt cho tôm giống, được nghiên cứu với công thức dinh dưỡng đặc biệt để bảo vệ gan tụy và đường ruột tôm gièo còn non nớt, phòng tránh hiệu quả các bệnh như TPD và EMS ngay từ giai đoạn đầu. Với kích thước hạt tối ưu, tăng cường dưỡng chất, TP100 đảm bảo tôm giống có sự khởi đầu khỏe mạnh nhất. X-NO2 - Ổn định môi trường nước, làm giảm NO2 hiệu quả: Sản phẩm vi si được đánh giá là công cụ hiệu quả trong việc kiểm soát khí độc trong ao nuôi - vấn đề luôn là thách thức đối với người nuôi tôm. Nhiều hộ nuôi tại khu vực Tây Nam Bộ đã áp dụng và ghi nhận kết quả tích cực: môi trường ao nuôi trở nên lành mạnh hơn, sức khỏe tôm, cá được cải thiện, đồng thời giúp giảm chi phí chăm sóc và quản lý ao.

Chắp cánh niềm tin, hướng tới 2026 đầy hứa hẹn

Năm 2025 với nhiều nỗ lực đã khép lại bằng sự kiện Đại hội khách hàng thành công rực rỡ. Những thành tựu đạt được trong năm cũ sẽ là nền tảng vững chắc để Quý khách hàng cùng Uni-President Việt Nam tiến bước vào năm 2026 với những bức phá vượt bật hơn nữa. Chúng tôi tin rằng, với sự đồng hành tận tâm và những giải pháp kỹ thuật tiên tiến, người nuôi thủy sản Việt Nam sẽ hoàn toàn tự tin bước vào vụ nuôi, nâng cao cả năng suất lẫn chất lượng thành phẩm thủy sản, tạo sức cạnh tranh vững vàng với các quốc gia trong ngành trên thị trường quốc tế. Để tìm hiểu thêm về các giải pháp và quy trình nuôi tôm hiệu quả, bà con có thể liên hệ với đội ngũ nhân viên Uni-President qua số HotLine 02743.732.723, hệ thống đại lý trên toàn quốc, hoặc gửi tin nhắn trực tiếp qua Fanpage chính thức trên Facebook, để được lắng nghe và hỗ trợ trong thời gian sớm nhất. Uni-President - Luôn đồng hành và hỗ trợ quý khách! UNI-PRESIDENT VIỆT NAM

Ông Liou Hai Hua, Phó Tổng Giám đốc Uni-President Việt Nam phát biểu tại Đại hội

43


44 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

CÔNG NGHỆ TREO KHÍ NÉN (AIR BEARING)

Lời giải cho bài toán “năng lượng xanh” và tối ưu chi phí trong nuôi tôm công nghệ cao TÁC GIẢ: DOLIC VÀ CỘNG SỰ CHUYÊN MỤC: KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ THỦY SẢN

Chi phí điện năng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất tôm thẻ chân trắng thâm canh. Bài viết phân tích lịch sử tiến hóa của thiết bị sục khí đáy, từ công nghệ Roots Blower truyền thống đến bước đột phá mới nhất: Máy nén khí Dolic sử dụng công nghệ Treo khí nén.

1. Sự tiến hóa của công nghệ cấp khí đáy

Trong 3 thập kỷ qua, công nghệ cấp khí đã trải qua 3 cuộc cách mạng lớn nhằm giải quyết bài toán: Làm sao tạo ra nhiều khí nhất với ít điện năng nhất? • Thế hệ 1: Máy thổi khí Roots (Roots Blower) Đây là dòng máy phổ biến nhất tại Việt Nam nhờ cấu tạo đơn giản. Hoạt động dựa trên cặp rotor “cánh khế” quay ngược chiều. - Hạn chế: Ma sát cơ khí lớn, sử dụng dây đai truyền động gây thất thoát năng lượng.

Hiệu suất sinh khí thấp (chỉ khoảng 1.3 - 1.4 m³/phút cho mỗi kW điện), tiếng ồn lớn (>90dB) và rủi ro rò rỉ hơi dầu xuống ao. • Thế hệ 2: Máy nén khí Vòng bi Gốm (Ceramic Bearing) Sự ra đời của động cơ tốc độ cao (~20.000 vòng/phút) sử dụng vòng bi gốm thay cho bi thép đã cải thiện đáng kể hiệu suất. - Hạn chế: Dù giảm ma sát, vòng bi gốm vẫn là tiếp xúc vật lý. Sau 15.000 - 20.000 giờ vận hành, vòng bi bị mài mòn, buộc phải thay thế với chi phí đắt đỏ. Ngoài ra, máy vẫn cần bơm mỡ bôi trơn định kỳ.

• Thế hệ 3: Công nghệ Treo khí nén (Air Foil Bearing - Ứng dụng trên máy DOLIC). Đây là công nghệ được chuyển giao từ tuabin máy bay phản lực. Khi trục động cơ quay ở tốc độ siêu cao (>30.000 vòng/phút), áp lực khí xung quanh trục sẽ nâng trục “bay lơ lửng” trên một lớp đệm khí. - Đột phá: Hoàn toàn không ma sát (Non-contact). Không ma sát đồng nghĩa với việc toàn bộ điện năng được chuyển hóa thành sức gió, không bị tiêu hao thành nhiệt năng vô ích.

2. Phân tích hiệu quả từ số liệu thực tế

Chúng tôi thực hiện phép so sánh đối chứng giữa 3 dòng máy đại diện cho 3 thế hệ công nghệ tại cùng mức công suất danh định 15kW và áp suất làm việc 30kPa (độ sâu nước ~2m). Dữ liệu đầu vào: 1. Máy Roots Blower (Dòng BE150H): Tiêu thụ ~15.3 kW điện, tạo ra 22 m³ khí/phút. 2. Máy Vòng bi Gốm (Ceramic): Tiêu thụ 15 kW điện, tạo ra trung bình 24 m³ khí/phút. 3. Máy DOLIC (Treo khí nén DL15): Tiêu thụ 15 kW


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

điện, tạo ra 34 m³ khí/phút. Cùng một lượng điện tiêu thụ, máy DOLIC tạo ra lượng khí gấp 1.5 lần so với máy Roots và gấp 1.4 lần so với máy Vòng bi Gốm.

3. Mô phỏng bài toán kinh tế trong 3 năm

Để thấy rõ “lỗ hổng tài chính” mà các công nghệ cũ gây ra, chúng ta sẽ quy đổi lượng khí chênh lệch ra tiền điện. • Giả định vận hành: Máy chạy 24/24 giờ. Một năm nuôi 3 vụ. • Giá điện sản xuất: Tạm tính 2.000 VNĐ/kWh. • Mục tiêu so sánh: Chi phí điện năng để tạo ra cùng một lượng khí là 34 m³/phút (chuẩn của máy DOLIC) trong vòng 3 năm. Để máy Roots và máy Bi gốm tạo ra được 34 m³ khí/phút như DOLIC, chúng cần tiêu tốn công suất thực tế lớn hơn nhiều so với 15kW. Cụ thể: • Máy Roots cần: (34 : 22) x 15.3 = 23.6 kW • Máy Bi Gốm cần: (34 : 24) x 15 = 21.25 kW

4. Những lợi ích cộng thêm

1. An toàn sinh học tuyệt đối: Do không có ma sát, máy DOLIC không cần bất kỳ giọt dầu hay mỡ bôi trơn nào. Điều này

loại bỏ hoàn toàn nguy cơ rò rỉ hơi dầu vào đường ống khí, giúp môi trường nước luôn sạch, giảm rủi ro bệnh gan tụy/đường ruột cho tôm do ô nhiễm khí độc. 2. Giảm thiểu tiếng ồn: Máy Roots hoạt động như một “cối xay lúa” với tiếng ồn >90dB, gây stress cho tôm và ảnh hưởng sức khỏe người lao động. Máy DOLIC hoạt động êm ái dưới 70dB. 3. Bảo trì “0 Đồng”: Trong suốt 3 năm vận hành mô phỏng ở trên, máy Roots cần thay dây curoa và nhớt hộp số ít nhất 6 lần. Máy Bi gốm cần thay thế vòng bi (bearing) tốn kém

QUY TRÌNH LỰA CHỌN THIẾT BỊ PHÙ HỢP VỚI MÔ HÌNH CỦA QUÝ KHÁCH HÀNG  Bước 1: Khách hàng cung cấp ảnh nhãn/mã máy đang vận hành. - Mục đích: xác định các thông số kỹ thuật chính gồm áp suất làm việc (kPa), công suất định mức (kW/HP) và lưu lượng khí (m³/h).  Bước 2: Khách hàng cung cấp thông tin hệ thống đường ống khí hiện hữu, bao gồm: Đường kính ống, chiều dài tuyến ống, số nhánh phân phối và độ sâu cấp khí.  Bước 3: Khách hàng xác định mục tiêu duy trì nồng độ ôxy hòa tan (DO) trong ao nuôi. - Đơn vị: mg/L, phù hợp với đối tượng và mật độ nuôi.  Bước 4: Trên cơ sở các dữ liệu thu thập, công ty sẽ phân tích điều kiện vận hành, tính toán nhu cầu cấp khí thực tế và đề xuất cấu hình/phiên bản thiết bị phù hợp, đảm bảo duy trì DO theo mục tiêu, đồng thời tối ưu hiệu suất và tiêu thụ điện năng.

ít nhất 1 lần. Với DOLIC, chi phí bảo trì gần như bằng 0 (chỉ cần vệ sinh/thay tấm lọc gió).

5. Kết luận

Sự chuyển dịch từ công nghệ cơ khí ma sát sang công nghệ Treo khí nén không ma

sát là bước tiến tất yếu của nghề nuôi tôm hiện đại. Với khả năng tiết kiệm hơn 300 triệu đồng chi phí năng lượng trong 3 năm cho mỗi đầu máy, máy nén khí DOLIC khẳng định lợi thế về hiệu quả, độ bền và tính bền vững. 

Chúng tôi trân trọng kính mời Quý Khách hàng và Quý Đối tác đến tham quan, trải nghiệm các giải pháp công nghệ nông nghiệp – môi trường tiên tiến tại gian hàng của chúng tôi trong khuôn khổ Hội chợ Triển lãm Công nghệ Nông nghiệp – Môi trường (VietAgros 2026), diễn ra từ ngày 15–17/4/2026 tại Cần Thơ. Rất hân hạnh được đón tiếp Quý vị tại các gian hàng A10 – A29 – A30.

45


46 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

Nhà tài trợ vàng Hội chợ VietAgros 2026 Hưởng ứng chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại quy mô lớn. TP Cần Thơ với vị trí trung tâm vùng ĐBSCL tiếp tục là ưu tiên của các đơn vị tổ chức cũng như doanh nghiệp.

Thái Nam Việt là nhà cung cấp chuyên nghiệp các sản phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học có hàm lượng và chất lượng cao từ Hoa Kỳ, Canada, Ấn Độ và Na Uy sử dụng cho: Xử lý nước thải môi trường, công nghiệp xả thải đạt tiêu chuẩn sinh thái cho động vật thủy sinh môi trường tự nhiên; Nuôi trồng thủy sản: tôm, cá, ốc hương, ếch, lươn,…; Chăn nuôi gia súc gia cầm: heo, gà, chim

TP Cần Thơ là hạt nhân phát triển vùng ĐBSCL

cút,…; Khoa học cây trồng: phân bón vi sinh - cải tạo đất, ức chế nấm, sâu bệnh cho cây trồng và xử lý nước thải công nghiệp: nhà máy chế biến thủy sản, nhà máy sản xuất bột sắn, nhà máy sản xuất nước trái cây, bia,… Với phương châm “dùng tự nhiên để cải thiện tự nhiên” chúng tôi luôn nghiên cứu, cải tiến và phát triển sản phẩm “giải quyết vấn đề mục tiêu”

ngay trong ao hồ nhằm ức chế mầm bệnh và vi khuẩn có hại, cải thiện tốt hơn nhu cầu môi trường sống trong sạch tự nhiên theo yêu cầu của khách hàng và luât định. Đại diện doanh nghiệp cho biết, sự tin yêu và đánh giá cao của người nuôi là động lực để Thái Nam Việt không ngừng nghiên cứu và tiếp cận khoa học công nghệ để phát triển sản phẩm mới chất lượng - hiệu

Ảnh: Q.T


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

Thái Nam Việt là nhà cung cấp chuyên nghiệp các sản phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học

quả - chi phí thấp và phục vụ tốt hơn cho bà con. Và để bà con có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm của doanh nghiệp, Thái Nam Việt luôn lựa chọn những điểm đến gần với người nông dân nhất trong chiến lược phát triển sản phẩm. Năm 2026, Thái Nam Việt lựa chọn TP Cần Thơ, trung tâm kinh tế, văn hóa vùng ĐBSCL, để đưa sản phẩm đến với bà con nuôi trồng thủy sản, thông qua Hội chợ Triển lãm Quốc tế công nghệ nông nghiệp và môi trường (VietAgros) diễn ra vào tháng 4 năm 2026. VietAgros 2026 là nơi hội tụ của các nhà quản lý, nhà khoa học, các chuyên gia, tổ chức, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong nước, quốc tế hoạt động trong lĩnh vực thủy sản và nông nghiệp. Sự kiện được kỳ vọng là diễn đàn lớn để các bên gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, đề ra giải pháp, giới thiệu các ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đảm bảo môi trường sản xuất, nuôi, sản phẩm chế biến, bảo quản, quản lý dịch bệnh, xử lý rác thải,… đáp ứng mọi tiêu chuẩn. Sự kiện nhận được sự đánh giá cao của nhà quản lý và sự ủng hộ nhiệt thành của các doanh nghiệp ngay từ khi bắt đầu khởi xướng. Hội chợ cũng là cơ hội để nâng cao nhận

thức, nhận diện giá trị và chất lượng sản phẩm nông nghiệp và môi trường ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới, chuyển đổi số của người tiêu dùng, hướng tới thói quen tiêu dùng xanh, bền vững. VietAgros 2026 hướng tới mục tiêu xây dựng hình ảnh

sản phẩm ngành nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới, chuyển đổi số; nâng cao uy tín và lợi thế cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và môi trường gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và thế giới. Đồng thời, tạo sự công bằng cho các doanh nghiệp, hợp

tác xã, hộ sản xuất trong lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi được tiếp cận và quảng bá thương hiệu, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước thông qua các nền tảng số. Với mục tiêu như thế, Ban Tổ chức VietAgros đã lựa chọn Cần Thơ để triển khai nhằm hiện thực hóa mọi kỳ vọng. TP Cần Thơ là trung tâm nông nghiệp quan trọng, đóng vai trò là động lực kết nối, sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản cho toàn vùng ĐBSCL, tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, lúa chất lượng cao và các mô hình nông nghiệp thông minh, ứng dụng khoa học - công nghệ để nâng cao giá trị nông sản và thích ứng với biến đổi khí hậu,… Thành phố là địa điểm lý tưởng để doanh nghiệp đẩy mạnh chương trình xúc tiến thương mại, mở rộng hợp tác, mở rộng thị trường với con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất.

Thái Nam Việt với phương châm “dùng tự nhiên để cải thiện tự nhiên” sẽ mang đến cho bà con những sản phẩm chất lượng cao, hiệu quả tối ưu và an toàn cho từng ao đầm nuôi trồng thủy sản, phù hợp với xu thế chung của thế giới và hướng đi của ngành thủy sản. Thái Nam Việt trân trọng kính mời các doanh nghiệp bạn, bà con nuôi trồng thủy sản đến tham quan gian hàng của Công ty trong Hội chợ VietAgros 2026 diễn ra từ ngày 15 - 17/4/2025 tại gian hàng D21 - D22 - D23 - D24.

PV

47


48 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

NANO BUBBLE

Công nghệ cho ngành tôm hiện đại Trong bối cảnh ngành nuôi tôm ngày càng đòi hỏi kỹ thuật cao và quản lý môi trường nước chặt chẽ, công nghệ Nano Bubble (bọt khí siêu mịn) đang nổi lên như một giải pháp đột phá giúp cải thiện chất lượng nước, tăng tỷ lệ sống và nâng cao năng suất ao nuôi. Đây là công nghệ cung cấp ôxy trực tiếp và hiệu quả hơn so với các phương pháp sục khí truyền thống, từ đó mang lại giá trị kinh tế bền vững cho người nuôi. Nano Bubble là những bọt khí có kích thước siêu nhỏ, chỉ từ 80 – 200 nanomet, nhỏ hơn hàng trăm lần so với bọt khí thường. Nhờ kích thước cực nhỏ, bọt khí nano có khả năng lơ lửng trong nước hàng giờ đến hàng tuần mà không nổi lên bề mặt như bọt khí lớn. Điều này giúp ôxy được phân tán đồng đều khắp ao, từ mặt nước đến đáy ao – nơi hệ thống sục khí thông thường khó chạm tới. Một trong những lợi ích lớn nhất của công nghệ Nano Bubble là tăng hàm lượng ôxy hòa tan (DO) trong nước một cách ổn định. Ôxy dồi dào giúp tôm khỏe mạnh, ăn mạnh, tiêu hóa tốt và phát triển đồng đều. Tôm được cung cấp đủ ôxy sẽ giảm stress, tăng sức đề kháng và hạn chế các bệnh đường ruột, đốm trắng hoặc tình trạng nổi đầu vào ban đêm Không chỉ cung cấp ôxy, Nano Bubble còn có khả năng phân hủy chất hữu cơ, hạn chế khí độc như NH3, H2S và thúc đẩy sự phát triển của hệ vi sinh có lợi. Nhờ đó, môi trường ao nuôi sạch hơn, ít mùi hơn và ổn định hơn. Đây là yếu tố quan

trọng đặc biệt trong mô hình nuôi mật độ cao, nơi áp lực môi trường lớn khiến hệ thống sục khí truyền thống đôi khi không đáp ứng kịp. So với quạt nước và máy sục khí thường, máy tạo Nano Bubble mang lại hiệu quả vượt trội nhờ các lý do sau: Hiệu suất ôxy cao hơn: Bọt khí nano tan nhanh và nhiều hơn, giảm thất thoát ôxy lên bề mặt. Tiết kiệm điện: Thay vì phải chạy nhiều quạt nước hoặc dàn sục khí công suất lớn, máy nano bubble tiêu thụ điện thấp nhưng hiệu quả cao. Phân tán ôxy đều toàn ao: Các bọt khí siêu mịn giúp ôxy len xuống tận đáy, tạo dòng chảy nhẹ nhàng, tránh phân tầng ôxy – điều mà sục khí truyền thống khó đạt được. Giảm sốc tôm: Dòng chảy nano êm hơn, không gây xáo trộn mạnh, phù hợp cả với ao mới thả và tôm ở giai đoạn nhạy cảm. Cải thiện màu nước và chất lượng nền đáy: Ôxy được cung cấp liên tục giúp kiểm soát tảo độc, giảm tích tụ bùn và hạn chế khí độc bốc lên. Có thể nói, Nano Bubble đang trở thành xu hướng tất yếu trong ngành tôm công nghệ cao. Những hộ nuôi áp dụng máy tạo Nano Bubble đã ghi nhận tăng tỷ lệ sống 10 - 20%, cải thiện trọng lượng thu hoạch, đồng thời giảm đáng kể chi phí điện và chi phí xử lý nước. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc đầu tư vào công nghệ chính là đầu tư cho sự bền vững. B.H.N

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96 Website: bhnenc.com Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh


CON TÔM THÁNG 12/2025

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

49


50 HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

Doanh nghiệp chủ động tăng tốc sản xuất Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), lũy kế 11 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt hơn 10,5 tỷ USD, tăng 14,6% so cùng kỳ. Về thị trường, khối CPTPP chiếm tỷ trọng cao nhất (27,2%) và tăng 24,3%; Trung Quốc - Hồng Kông tăng 30,6%; EU tăng 11,9%. Mỹ đạt 1,78 tỷ USD, tăng 8,1% nhưng có dấu hiệu chậm lại trong quý IV. Kết quả này phản ánh xu hướng chuyển dịch rõ nét sang các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng và biên lợi nhuận cao hơn. Nhiều doanh nghiệp chủ động đẩy mạnh sản xuất, nâng cao quản trị vùng nuôi, đồng thời đầu tư công nghệ chế biến nhằm cải thiện chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tôm và cá tra tiếp tục đóng vai trò chủ lực nhờ chi phí hợp lý, khả năng đáp ứng đơn hàng lớn và linh hoạt điều chỉnh cơ cấu sản phẩm theo nhu cầu thị trường.

Doanh nghiệp linh hoạt điều chỉnh sản phẩm theo nhu cầu thị trường

Ảnh: VASEP

Đà tăng trưởng tích cực trong năm 2025 cho thấy ngành thủy sản Việt Nam đang từng bước khẳng định năng lực thích ứng trước những biến động của thị trường quốc tế. HUYỀN THƯƠNG

VIỆT ÚC - PHÙ MỸ

C.P. VIỆT NAM

Tăng cường kết nối, phát triển nguồn nhân lực chất lượng Bứt phá nhờ công nghệ nuôi tôm hiện đại Sáng 03/12/2025, Bà Pimonrat Reephattanavijitkul - Chief People Officer, Tập đoàn C.P. cùng Ban lãnh đạo C.P. Việt Nam đến thăm và làm việc với Trường Đại học Lạc Hồng (LHU), một trong những đơn vị có mối quan hệ hợp tác chiến lược lâu dài với C.P. Việt Nam trong lĩnh vực nhân sự và đào tạo. Tại buổi làm việc, hai bên trao đổi về mô hình kết nối doanh nghiệp của Nhà trường và các hoạt động hỗ trợ sinh viên, đồng thời thảo luận cởi mở về việc tiếp tục phát huy, mở rộng hợp tác trong đào tạo, tuyển dụng và phát triển thế hệ trẻ. Thông qua hợp tác với các cơ sở giáo dục, đào tạo, C.P. Việt Nam mong muốn tạo thêm cơ hội để sinh viên tiếp cận môi trường thực tiễn, rèn luyện kỹ năng, đồng thời tăng cường kết nối với nguồn nhân lực trẻ phù hợp, cùng đóng góp những giá trị tích cực cho cộng đồng. Trong khuôn khổ hợp tác với LHU, đến nay, C.P. Việt Nam tiếp nhận đào tạo và tạo cơ hội việc làm cho hơn 400 cựu sinh viên LHU ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Nhờ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và ứng dụng công nghệ cao trong tất cả các khâu, từ sản xuất con giống đến chăm sóc, quản lý dịch bệnh, Công ty TNHH Việt Úc - Phù Mỹ (xã An Lương, tỉnh Gia Lai, thuộc Tập đoàn Việt Úc) đã tạo đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Ông Nguyễn Hoài Nam, Giám đốc sản xuất công ty, cho biết: “Hiện công ty đã thu hoạch tôm nuôi vụ thứ 2 trong năm trên 60% diện tích, với sản lượng đạt 1.000 tấn. Sản phẩm đạt chất lượng cao, đồng đều, màu sắc đẹp và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nhờ đó bán được giá cao và tiêu thụ hết ngay sau thu hoạch. Phần diện tích còn lại khoảng 400 tấn sẽ được thu hoạch trong thời gian tới, dự kiến tổng doanh thu vụ này đạt khoảng 200 tỷ đồng, lãi ròng 70 tỷ đồng”. Bên cạnh lợi ích kinh tế, khu phức hợp còn tạo việc làm ổn định cho 150 lao động, mang lại thu nhập cao và góp phần phát triển kinh tế địa phương. NAM CƯỜNG

NGUYỄN HẰNG

SKRETTING VIETNAM

MINH PHÚ

Hợp tác sản xuất thức ăn tôm chứa bột côn trùng

Hợp tác nâng cao vị thế tôm Việt Vừa qua, tại TP Hồ Chí Minh, Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú và Công ty TNHH De Heus chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển bền vững chuỗi giá trị ngành tôm Việt Nam. Theo thỏa thuận, De Heus sẽ cung cấp các giải pháp dinh dưỡng tiên tiến, thức ăn thủy sản chất lượng cao cùng dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho Minh Phú, đồng thời Minh Phú sẽ sử dụng sản phẩm thức ăn tôm do De Heus cung cấp tại các vùng nuôi trong hệ thống. Ngoài ra, hai bên còn hợp tác triển khai các chương trình thử nghiệm, chuyển giao công nghệ, phát triển vùng nuôi và nâng cao giá trị sản phẩm tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Sự liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích - từ sản xuất giống, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu đến các yếu tố hỗ trợ như thức ăn, chế phẩm, vật tư và kỹ thuật - sẽ tạo nên một chuỗi giá trị bền vững, đảm bảo đầu ra ổn định và nâng cao vị thế ngành tôm Việt Nam. DUY MẠNH

Vừa qua, Skretting Vietnam và Entobel chính thức công bố hợp tác chiến lược. Theo đó, dòng thức ăn tôm thương mại đầu tiên tại Việt Nam có chứa bột côn trùng (H-Meal) đã được đưa vào sản xuất. Một trong những lo ngại lớn nhất của người nuôi tôm khi thay đổi thành phần thức ăn là tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Tuy nhiên, kết quả thử nghiệm thực tế từ Skretting cho thấy, tôm sử dụng dòng thức ăn chứa H-Meal duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và hiệu quả chuyển hóa tương đương với các nguồn nguyên liệu biển truyền thống. Đáng chú ý, các thành phần tự nhiên có trong bột côn trùng như chitin và axit lauric được ghi nhận mang lại các tác dụng chức năng, hỗ trợ sức khỏe đường ruột và tăng sức đề kháng cho tôm nuôi. Sản phẩm thức ăn tôm thương mại chứa H-Meal đã bắt đầu được sản xuất từ tháng 11/2025. Đại diện Skretting cho biết, kế hoạch mở rộng ứng dụng sang các đối tượng nuôi và thị trường khác sẽ được triển khai trong thời gian tới.

THÁI THUẬN


HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 12/2025

SAO TA

NAM AN FARM

Sản lượng tôm suy giảm

Đẩy mạnh sản xuất tôm sạch phục vụ thị trường Tết

Công ty CP Thực phẩm Sao Ta (FMC) ghi nhận doanh thu tháng 11/2025 đạt 16,16 triệu USD, giảm 12% so cùng kỳ năm trước và giảm 39% so tháng 10/2025. Cả sản lượng tôm và nông sản tiêu thụ đều suy giảm, trong bối cảnh doanh nghiệp đối mặt áp lực thuế xuất khẩu sang Mỹ và biến động nguồn nguyên liệu. Theo báo cáo, sản lượng tôm thành phẩm trong tháng 11/2025 đạt 1.984 tấn, tăng 32% so cùng kỳ năm trước nhưng giảm 23% so tháng 10 (2.570 tấn). Sản lượng tiêu thụ tôm thành phẩm đạt 1.490 tấn, giảm 9% so cùng kỳ. Trong khi đó, mảng nông sản thành phẩm sản xuất được 52 tấn, tăng 23% so cùng kỳ, nhưng giảm 60% so với tháng 10 (132 tấn). Sản lượng tiêu thụ nông sản thành phẩm đạt 29 tấn, giảm mạnh 69% so cùng kỳ. Trước đó, tháng 10, Sao Ta ghi nhận doanh thu hợp nhất 26,47 triệu USD, tăng 13,8% cùng kỳ. Doanh nghiệp cho biết các vùng nuôi tôm trong tháng 11 đã hoàn tất việc thả nuôi ở khu mới và sẽ tiếp tục thả giống ở khu nuôi cũ khi điều kiện thời tiết thuận lợi.

Ông Huỳnh Tấn Đạo, Giám đốc điều hành Nam An Farm (thôn Hòa Bình, xã Tam Anh, TP Đà Nẵng), cho biết những ngày này tôm nuôi tại trang trại đang phát triển ổn định, tỷ lệ sống cao. Dự kiến vụ Tết sắp tới, trang trại sẽ cung ứng ra thị trường khoảng 50 tấn TTCT, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh dịp cuối năm. Theo ông Đạo, định hướng sản xuất chủ đạo của Nam An Farm để đón đầu thị trường Tết là tập trung vào truy xuất nguồn gốc, sản xuất sạch, an toàn và có trách nhiệm với môi trường. Trang trại xây dựng quy trình nuôi khép kín, từng bước thay thế hoàn toàn kháng sinh bằng chế phẩm sinh học. Hiện Nam An Farm cũng đầu tư nâng cấp hệ thống ao nuôi và thiết bị kiểm soát chất lượng nước, giúp giảm rủi ro dịch bệnh và nâng cao năng suất. Với quy trình nuôi an toàn và minh bạch, Nam An Farm kỳ vọng mùa vụ Tết năm nay sẽ đạt kết quả cao, góp phần đưa sản phẩm tôm sạch của địa phương đến gần hơn với người tiêu dùng.

OTANICS

NGỌC CHÂU

Tham dự Thai Aqua Expo 2025

Ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc nâng cao năng suất

Ngày 2 - 4/12, Công ty CP Công nghệ Otanics đã tham dự Thai Aqua Expo 2025. Tại đây, gian hàng của Otanics đã trở thành điểm nhấn sôi động thu hút đông đảo khách tham quan và trải nghiệm. Khách đến tham quan không chỉ được trực tiếp trải nghiệm trọn bộ giải pháp công nghệ tối ưu của Otanics mà còn có cơ hội kết nối cùng đối tác, khách hàng và những người cùng chung tầm nhìn. Có mặt ở Hội chợ năm nay, Otanics tập trung giới thiệu những giải pháp giúp nâng cao hiệu quả nuôi tôm, quản lý tối ưu chuỗi sản xuất và mang lại trải nghiệm thuận tiện, thông minh cho người sử dụng. Đồng thời, thương hiệu cũng nhấn mạnh cam kết phát triển bền vững trong ngành thủy sản, hướng tới giá trị lâu dài cho cộng đồng. Sự hiện diện tại Thai Aqua Expo 2025 khẳng định vị thế tiên phong của Otanics trong lĩnh vực công nghệ thủy sản, đồng thời lan tỏa thông điệp mạnh mẽ về đổi mới sáng tạo và bền vững, mở ra những cơ hội hợp tác mới và nâng tầm ngành tôm Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Cách đây 15 năm, ông Nguyễn Ngọc Châu, Giám đốc Công ty TNHH Ngọc Châu (xã Đề Gi, tỉnh Gia Lai) bắt đầu nuôi TTCT thâm canh trên diện tích 8,2 ha. Tuy nhiên, sau vài vụ nuôi, các ao liên tục gặp dịch bệnh và ô nhiễm nguồn nước. Trước tình hình đó, năm 2016, ông Châu quyết định chuyển dần sang áp dụng công nghệ Semi-Biofloc và duy trì ổn định cho đến nay. Công nghệ Semi-Biofloc giúp cải thiện dinh dưỡng, tăng khả năng lọc nước, đảm bảo an toàn sinh học, từ đó giảm thiểu dịch bệnh và ô nhiễm. Nhờ điều kiện nuôi được kiểm soát tốt, tôm phát triển nhanh và tỷ lệ thành công cao hơn. Ông Châu chia sẻ, dù chi phí đầu tư ban đầu cho mô hình Semi-Biofloc khá lớn, nhưng hiệu quả mang lại rất rõ rệt, tỷ lệ thành công lên đến 80%. Vụ nuôi đầu năm 2025, tôm của ông đạt kích cỡ cao nhất 19 con/kg. Nếu nuôi theo cách truyền thống năng suất chỉ khoảng 30 tấn/ha, nhưng với mô hình công nghệ cao có thể đạt 60 - 70 tấn/ha, mang lại giá trị kinh tế vượt trội.

GROWMAX

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

Đạt giải “Gian hàng đẹp” tại Ngày hội cua Cà Mau 2025

Tổ chức Ngày Hội Nghề nghiệp 2025

Tại lễ bế mạc Ngày hội Cua Cà Mau lần thứ II năm 2025, Tập đoàn Thủy sản Công nghệ cao GrowMax xuất sắc giành Giải nhất hạng mục “Gian hàng đẹp”, ghi nhận nỗ lực đầu tư, sáng tạo và tính chuyên nghiệp của đơn vị trong sự kiện năm nay. Gian hàng GrowMax nổi bật với thiết kế hiện đại, nội dung chuyên sâu và cách giới thiệu trực quan. Các hạng mục trưng bày bao gồm sa bàn mô phỏng toàn bộ quy trình nuôi tôm công nghệ cao - an toàn sinh học, khu trải nghiệm mẫu thức ăn chất lượng, tôm giống siêu tăng trưởng và chế phẩm sinh học hiệu quả. Khách tham quan còn có cơ hội gặp gỡ trực tiếp đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật để được tư vấn chuyên môn. Chỉ trong vài ngày, gian hàng của GrowMax đã thu hút hàng chục nghìn lượt khách, bao gồm đại lý, hộ nuôi, doanh nghiệp, chuyên gia và các cơ quan quản lý trong nước, cùng nhiều khách quốc tế, góp phần khẳng định uy tín và sức ảnh hưởng của GrowMax trên thị trường thủy sản công nghệ cao.

Ngày 5/12, tại Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã diễn ra Ngày Hội Nghề nghiệp 2025. Tại ngày hội, đã có gần 4.500 vị trí tuyển dụng cho sinh viên với 60 gian hàng của 53 doanh nghiệp được trưng bày. Các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng tại ngày hội đa dạng ở nhiều lĩnh vực như: Chăn nuôi thú y, Thủy sản, Nông học, Cơ khí, Công nghệ thực phẩm, Lâm nghiệp,… Đây là hoạt động thường niên do nhà trường phối hợp cùng các tổ chức, doanh nghiệp uy tín nhằm giới thiệu các cơ hội việc làm tới sinh viên toàn trường. Các ứng viên tham gia sẽ được trực tiếp phỏng vấn, nhận hồ sơ từ các gian hàng tuyển dụng. Theo Ban Tổ chức, đây là hoạt động hết sức thiết thực nhằm tạo cầu nối nhân lực giữa Doanh nghiệp - Nhà trường - Sinh viên. Những năm qua, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vững vị thế là nhà cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao hàng đầu trong lĩnh vực Nông - lâm - ngư nghiệp.

LÊ LOAN

DIỆU CHÂU

ĐĂNG KHÔI

THANH HIẾU

THẢO ANH

NGUYỄN AN

51


52 MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH

CON TÔM THÁNG 12/2025

TÔM, CUA CÀ MAU

Thương hiệu vươn xa từ đất Mũi Nhắc đến Cà Mau, không ai không nghĩ đến hai “đặc sản vàng” làm rạng danh vùng đất này: Cua và tôm. Không chỉ là sản vật thiên nhiên trù phú, mà đây còn là biểu tượng cho sự khéo léo, cần cù và sáng tạo của người dân vùng đất Mũi.

Đổi thay ở những vùng tôm

Những năm qua, người dân xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau đã mạnh dạn ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, chuyển đổi phương thức sản xuất, từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập. Điển hình là với mô hình nuôi tôm - cua khép kín an toàn sinh học. Mô hình đã mang lại thu nhập tăng 60 - 70% so với trước. Là người tiên phong thực hiện và thành công với mô hình nuôi tôm - cua khép kín an toàn sinh học; ông Lâm Thành Ðông, ấp Xẻo Lớn chia sẻ, từ hộ nuôi ban đầu với diện tích 4 ha, đến nay mô hình được 8 hộ dân trong ấp nhân rộng, với tổng diện tích 24 ha. Ưu điểm của quy trình là hạn chế thay nước, ao nuôi được kiểm soát nghiêm ngặt, tôm và cua phát triển khỏe mạnh, năng suất bình quân đạt 520 kg tôm và 50 kg cua/ha mỗi năm, thu nhập tăng 60 - 70% so với trước. Còn với ông Huỳnh Thanh Sự, là một trong những gương mặt tiêu biểu trong phong trào “Nông dân sản xuất, kinh

doanh giỏi” tại khóm 9, phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau thì mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến hai giai đoạn thích ứng biến đổi khí hậu mà ông đang áp dụng không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần khẳng định hướng phát triển bền vững cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng cực Nam Tổ quốc. Ông Sự chia sẻ, trên tổng diện tích 7 ha đất sản xuất, ông bố trí hợp lý các hạng mục: 2.000 m² làm ao ương vèo, 1.500 m² làm ao lắng xử lý nước, diện tích còn lại dành cho khu nuôi quảng canh kết hợp tôm, cua và các mô hình nuôi cá khác (cá chình, cá bống tượng,…). Mật độ ương 80.000 con/2.000 m², thả cua xen kẽ với mật độ 10 - 15 con/m² và thực hiện thả gối vụ để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, hạn chế dịch bệnh. Với tổng chi phí đầu tư chỉ 100 triệu đồng/7 ha/năm, mô hình của ông cho doanh thu bình quân trên 1 tỷ đồng/năm từ nhiều sản phẩm: tôm sú, cua biển, cá chình, cá bống tượng,…

 Thương hiệu “Tôm Cà Mau” và “Cua Cà Mau” không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập người dân. Việc phát triển theo chuỗi - từ giống, nuôi, chế biến đến thị trường - giúp Cà Mau tự tin vươn ra thị trường quốc tế, khẳng định vị thế vùng đất Mũi trên bản đồ thủy sản Việt Nam.

Cà Mau sẽ phát triển hơn nữa các mô hình sinh thái bền vững

Ảnh: Hoàng Lân

VÂN ANH

Để thương hiệu đặc sản vươn xa

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Cà Mau, tỉnh đã xây dựng 62 ha mô hình nuôi cua tiêu chuẩn, áp dụng probiotic trong mô hình tôm - cua để giảm rủi ro dịch bệnh, nâng cao chất lượng thịt và tỷ lệ sống. Đồng thời, địa phương tập trung phát triển vùng nuôi quảng canh kết hợp tôm sinh thái, hướng đến nguồn nguyên liệu an toàn, có thể truy xuất nguồn gốc và đạt chứng nhận quốc tế như ASC nhằm gia tăng giá trị thương phẩm. Được biết, từ đầu năm 2025 đến nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường Cà Mau đã tập huấn cho hàng nghìn hộ nuôi cua theo quy trình bán thâm canh, nuôi cua kết hợp nuôi tôm quảng canh cải tiến; đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho hơn 4.000 hộ nuôi cua trong tỉnh, hướng dẫn cho nhiều hợp tác xã nuôi cua thực hiện các điều kiện, quy trình nuôi theo các tiêu chuẩn được thị trường quan tâm; xây dựng mô hình nuôi cua đạt chuẩn,… Hiện, toàn tỉnh có khoảng 418.000 ha nuôi cua kết hợp, năng suất bình quân 0,1 tấn/ha/năm, sản lượng hơn 41.800 tấn/ năm. Tới đây tỉnh tiếp tục thành lập thêm nhiều hợp tác xã, với diện tích nuôi cua từ 100 ha mỗi hợp tác xã trở lên; xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ nhằm tăng giá trị và tăng sức cạnh tranh.


CON TÔM THÁNG 12/2025

MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH

THÁI LAN

Trại nuôi tôm thông minh đạt chuẩn ASC Sarika Farm tại tỉnh Chachoengsao là hình mẫu nuôi tôm hậu COVID-19 của Thái Lan, tiên phong đạt chứng nhận ASC. Nhờ mô hình ao nhỏ thâm canh tuần hoàn, ứng dụng probiotics và công nghệ quản lý thông minh, trang trại đạt 150 tấn trên 4,32 ha trong năm 2024.

Kiểm soát sinh khối linh hoạt

Trong ngành nuôi tôm Thái Lan, Khun Chalee Jitprasong được xem là một trong những gương mặt thành công tiêu biểu. Sarika Farm của ông tại huyện Bang Pakong, tỉnh Chachoengsao, được đánh giá là mô hình kiểu mẫu nhờ kiên trì đổi mới phương thức nuôi sau đại dịch COVID-19 và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững để đạt chứng nhận Năm 2024, trang trại ghi nhận sản lượng 150 tấn quốc tế ASC. Thành công hiện tại đánh dấu bước Trang trại thông minh chuyển mình mạnh mẽ so giai đoạn 2020 Nguồn nước tại trang trại được xử lý qua 2022. Bước ngoặt đến từ quyết định tái cấu hệ thống lọc sinh học trong ao lắng, nuôi trúc toàn diện mô hình nuôi: chuyển sang các loài cá nước ngọt như rô phi, cá trê, cá ao nhỏ 0,16 ha giúp kiểm soát dễ dàng hơn; chép và cá tra nhằm hấp thu chất hữu cơ vận hành hệ thống khép kín không thay dư thừa. Sau đó, nước được khử trùng bằng nước; thường xuyên sử dụng probiotics để Chlorine và tái sử dụng hoàn toàn, không xả xử lý nước và bổ sung vào thức ăn; đồng thải ra môi trường. Mực nước ao nuôi luôn thời thả trực tiếp tôm giống PL9 tăng trưởng duy trì ở mức 1,8 m và chỉ bổ sung khi cần nhanh với mật độ 187 con/m². thiết, trong khi trang trại tuyệt đối không Ông Chalee nhấn mạnh rằng trong nuôi sử dụng hóa chất suốt toàn bộ chu kỳ nuôi. tôm, tỷ lệ sống quan trọng hơn kích cỡ hay Độ mặn được giữ ổn định 8 - 12 ppt, còn sản lượng. Ông dẫn chứng trang trại Khun probiotics giúp cân bằng pH và kiểm soát sự Tawi ở Surat Thani, đạt 4.000 tấn/năm phát triển của tảo. với tỷ lệ sống ổn định 90%, nhờ sử dụng Trang trại vận hành theo mô hình thông probiotics và giảm mật độ xuống 31 con/ minh, ứng dụng công nghệ HydroNeo với m² trong ao 0,96 ha. Ngược lại, mô hình hệ thống cảm biến nước chính xác và động thâm canh của Chalee áp dụng mật độ cao, cơ tiết kiệm điện, giúp giảm 30% chi phí thu hoạch tôm cỡ 80 con/kg nhưng vẫn đạt năng lượng. Công nghệ biofloc được duy năng suất cao nhờ kiểm soát sinh khối qua trì ổn định với pH 7,5 - 8, chênh lệch ngày thu tỉa. Sarika Farm nuôi 9 ao với mật độ - đêm không vượt 0,2. Nhờ kiểm soát môi 125 - 187 con/m², chỉ lót HDPE bờ ao, đáy trường hiệu quả, FCR đạt 1,1, tốc độ tăng trải sỏi hạn chế khuấy bùn, giúp ổn định trưởng trung bình 0,2 g/ngày cho đến khi carbon và amoniac, duy trì môi trường sạch. tôm đạt 30 g.

Probiotics chìa khóa thành công

Chiến dịch giảm kháng sinh trong nuôi tôm tại Thái Lan, cùng với những thất bại trước đại dịch, đã thúc đẩy nông dân chuyển sang sử dụng probiotics. Câu lạc bộ nuôi tôm tại Chachoengsao tự sản xuất năm chủng probiotics giúp giảm chất hữu cơ, amoniac, nitrat và kiểm soát vi khuẩn gây bệnh EMS cùng hội chứng phân trắng. Câu lạc bộ tổ chức Ảnh: Sarika Farm chương trình đào tạo ba tháng tại Bộ Thủy sản về giám sát chất lượng, cải tiến công thức và kiểm định sản phẩm, với chứng nhận từ cơ quan nhà nước. Các trung tâm probiotics chỉ phục vụ hội viên, thể hiện tinh thần đoàn kết mà Chalee nhấn mạnh: “Không sát cánh, chúng ta không thể tồn tại trong ngành này”. Probiotics chủ yếu sử dụng cho ao nuôi, có thể phủ ngoài thức ăn nhưng không phù hợp trộn vào thức ăn viên do kém chịu nhiệt. Sản phẩm có dạng lỏng hoặc bột, và gần 90% trang trại tại Chachoengsao sử dụng thường xuyên. Đại học Mahidol hỗ trợ kiểm định, trong khi Trung tâm Công nghệ sinh học và Kỹ thuật di truyền Thái Lan (BIOTEC) nghiên cứu, phân lập các chủng bản địa như Lactobacillus paracasei và Bifidobacterium animalis. Kết hợp kiểm soát sức khỏe tôm bằng PCR, định kỳ đánh giá chất lượng nước và ứng dụng probiotics đã giúp tăng sản lượng khoảng 7% và nâng tỷ lệ thành công từ 30 - 50% lên 80%. DŨNG NGUYÊN

(Theo AsiaAquaculture)

53


54 ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG

Ảnh: Dsm-firmenich

CON TÔM THÁNG 12/2025

Chuẩn bị nguồn nước đạt chuẩn trước khi thả tôm Xử lý nước trước khi thả tôm là khâu quan trọng quyết định hiệu quả nuôi. Việc áp dụng đúng quy trình giúp loại bỏ mầm bệnh, ổn định môi trường ao nuôi và tạo điều kiện cho tôm phát triển khỏe mạnh ngay từ đầu vụ.

Chuẩn bị ao lắng

Đối với nuôi tôm thâm canh công nghiệp, đòi hỏi phải có ao lắng để chứa nước trước khi cấp vào ao nuôi. Thông thường nước trước khi được bơm vào ao nuôi cần được xử lý trước ở ao lắng, thao tác này giúp loại bỏ các tạp chất, sinh vật gây hại đến sự phát triển của tôm. Xây dựng ao lắng thường bằng 20 - 25% diện tích ao nuôi để làm trong nước trước khi bơm nước vào ao nuôi. Nên xây ao nuôi có diện tích nên từ 0,5 - 1 ha, những ao có diện tích nhỏ thì nước ao dễ bị biến đổi theo điều kiện nuôi, ao có diện tích quá lớn thì gây khó cho việc chăm sóc và quản lý ao. Ao có dạng tròn hoặc vuông, độ sâu 1 - 1,5 m, trung bình 0,8 - 1,2 m, độ dốc từ cống đến đáy cuối ao 2%. Người nuôi chú ý nên cải tạo và lấy nước cho ao lắng trước khi cải tạo ao nuôi

trong 20 - 30 ngày. Cấp nước vào ao lắng qua túi lọc bằng vải dày nhằm loại bỏ rác, ấu trùng, tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp xâm nhập. Để lắng từ 10 - 20 ngày. Nhờ đó, các chất hữu cơ có đủ thời gian, phân hủy thành muối dinh dưỡng cho tảo phát triển, đồng thời giảm bớt mật độ của các vi khuẩn gây bệnh. Có thể chạy quạt nước để cung cấp thêm ôxy hòa tan thúc đẩy quá trình phân hủy của vật chất hữu cơ. Thời gian lắng càng lâu càng hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện vùng nuôi bị nhiễm bệnh chết sớm (EMS). Nếu không có ao lắng thì dùng ngay ao nuôi làm ao lắng.

Xử lý mầm bệnh trong nước

Khi nước trong ao lắng được làm sạch và tiêu diệt tối ưu các sinh vật gây hại trong nước thì tiến hành bơm nước từ ao

lắng sang ao nuôi để chuẩn bị thả tôm. Ở đây, nước cũng cần được bơm qua túi lọc bằng vải kate để loại bỏ địch hại, sinh vật cạnh tranh hoặc vật chủ trung gian mang mầm bệnh như cua còng, tôm, tép,… Mực nước ao lý tưởng là 1,3 - 1,4 m, tạo không gian đủ lớn để tôm hoạt động và giúp ổn định môi trường nuôi. Chạy quạt nước liên tục 2 - 3 ngày rồi tiến hành diệt tạp bằng bột bã trà (saponin), rễ cây thuốc cá (rotenone) hoặc các loại hóa chất chuyên dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Thời điểm saponin cho hiệu quả cao nhất là từ 4 - 6 giờ sáng. Lưu ý, phải ngâm saponin trong nước khoảng 12 giờ rồi mới sử dụng và sau 3 ngày từ khi diệt tạp mới được thả tôm post. Nếu sản phẩm thuốc diệt tạp chỉ chứa saponin tự nhiên, không pha thêm hóa chất độc hại, thì cá sẽ chết sau khoảng


ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG

CON TÔM THÁNG 12/2025

3 - 4 giờ. Nên tăng liều sử dụng khi độ mặn của nước ao thấp hơn 10‰. Để xử lý ốc đinh hoặc rong đáy có thể dùng sunphat đồng (CuSO4) với nồng độ xử lý là 2 - 3 ppm. Hai ngày sau khi diệt tạp, tiến hành diệt khuẩn để loại trừ mầm bệnh có trong nước ao. Chlorine, TCCA, BKC, thuốc tím KMnO4, Formol, Iodine hay PVP-Iodine hiện là những chất diệt khuẩn được dùng phổ biến nhất. Trong đó, Chlorine được dùng phổ biến nhất với liều xử lý là 25 - 30 ppm (25 - 30 kg/1.000 m³). pH càng cao, hàm lượng chất hữu cơ càng nhiều thì cần phải tăng liều xử lý của Chlorine. Cho chạy quạt và sục khí liên tục trong vòng 3 - 5 ngày để phân hủy dư lượng hóa chất diệt khuẩn trong ao. Sau đó tiến hành kiểm tra dư lượng hóa chất bằng thuốc thử.

Gây màu

Trong quá trình xử lý nước ao nuôi, gây màu nước là thao tác cuối cùng trước khi tiến hành thả tôm. Màu nước giữ vai trò rất quan trọng trong nuôi tôm. Màu nước ao đạt chuẩn sẽ cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm trong giai đoạn mới thả nuôi, góp phần tạo sự thoải mái cho tôm săn mồi, giảm stress, ngăn ánh nắng mặt

trời chiếu xuống đáy. Người nuôi có thể áp dụng một trong những biện pháp dưới đây nhằm mục đích gây màu nước, duy trì mật độ tảo trong ao, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm giống. Phương pháp thứ nhất: Gây màu nước bằng cám gạo, bột cá, bột đậu nành. Tiến hành ủ hỗn hợp trên theo tỷ lệ 2:1:2. Gồm 2 kg cám gạo hoặc cám ngô + 1 kg bột cá + 2 kg bột đậu nành và trộn đều hỗn hợp trên sau đó nấu chín, ủ kín từ 2 - 3 ngày là dùng được. Liều lượng 3 - 4 kg/1.000 m3 nước, bón liên tục trong 3 ngày, cho đến khi ao lên màu đẹp, đạt độ trong 30 - 40 cm thì tiến hành thả giống. Phương pháp thứ 2: Gây màu bằng mật rỉ đường, cám gạo, đậu nành. Người nuôi ủ hỗn hợp trên theo tỷ lệ 3:1:3. Gồm 3 kg mật rỉ đường + 1 kg cám gạo hoặc cám ngô + 3 kg bột đậu nành và trộn đều hỗn hợp sau đó ủ kín trong 12 giờ là dùng được. Liều lượng 2 - 3 kg/1.000 m3 nước, bón liên tục trong 3 ngày, cho đến khi ao lên màu đẹp, đạt độ trong 30 - 40 cm thì tiến hành thả giống. Phương pháp thứ 3: Gây màu nước bằng vi sinh với công thức 1 L EM gốc + 1 L mật rỉ đường + 2 kg cám gạo + 10 g muối + 46 L nước sạch (ủ kín trong 5 - 7 ngày) cho ra

 SÁCH KỸ THUẬT

 Không lấy nước vào ao lắng khi nước ngoài kênh/mương có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa; nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh; nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm. Không diệt tạp trong ao nuôi khi đã diệt tạp ở ao lắng. 50 L EM thứ cấp. Sử dụng 10 L EM thứ cấp đánh cho 1.000 m³, 2 ngày đánh 1 lần, chạy quạt liên tục đến khi màu nước ao lên xanh nõn chuối hoặc bã trà, đạt độ trong 30 - 40 cm thì tiến hành thả giống. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến với nhiều ưu điểm như tăng hiệu quả an toàn với môi trường và giá thành rẻ. Tăng cường vi sinh có lợi trong ao nuôi, giúp tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu của tôm. Tăng cường khả năng tiêu hóa và hấp thụ các loại thức ăn, kích thích tăng trưởng. Tiêu diệt các vi sinh vật có hại trong ao. Lưu ý, người nuôi cần kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường nước ao nuôi đảm bảo trong ngưỡng thích hợp trước khi thả giống.

THÁI THUẬN

 BÁCH KHOA THƯ

Tôm súng lục

ĐỘNG VẬT PHÙ DU

Thành phần loài và tiềm năng đối với nuôi thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long Với hệ thống sông ngòi chằng chịt và các loại hình thủy vực đa dạng, ĐBSCL là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt là về thành phần và cấu trúc các nhóm động vật phù du. Cuốn sách “Động vật phù du: Thành phần loài và tiềm năng đối với nuôi thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long” là tài liệu chuyên khảo có giá trị trong lĩnh vực sinh học thủy sản. Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu thành phần loài, sự đa dạng và biến động của các nhóm động vật phù du trong các thủy vực tự nhiên và ao nuôi ở ĐBSCL. Thông qua các dữ liệu khoa học hệ thống, cuốn sách góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học, làm nền tảng cho quan trắc sinh học, tuyển chọn các loài động vật phù du tiềm năng và định hướng phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản tại ĐBSCL. Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành! NAM CƯỜNG

Hay còn gọi Alpheidae, một sát thủ tí hon có khả năng tạo ra những “phát bắn” bong bóng với tiếng nổ to hơn cả súng trường và nhiệt độ nóng hơn bề mặt Mặt Trời. Thoạt nhìn, tôm súng lục có vẻ ngoài khá khiêm tốn, với kích thước chỉ từ 3 - 5 cm. Sở dĩ loài tôm này có tên là súng lục bởi chúng săn mồi bằng cách dùng càng tạo ra một phát đạn bong bóng đủ để giết chết con mồi. Chúng quả là đối thủ cạnh tranh đáng gờm với những con cá voi khổng lồ với danh hiệu “kẻ ồn ào nhất đại dương”. Bằng cách kẹp càng lại, chúng tạo ra một bóng khí nổ mạnh ở khoảng cách 4 cm từ càng. Khi rời khỏi càng, bóng khí này lao đi với tốc độ 97 km/h và tạo ra tiếng nổ đủ để làm tê liệt rồi giết chết những con cá nhỏ. Với vũ khí độc đáo này, tôm súng lục là một minh chứng đáng kinh ngạc cho sự sáng tạo vô tận của tự nhiên, một sát thủ tí hon nhưng lại mang trong mình sức mạnh của một vụ nổ siêu thanh. LÊ LOAN

55


56 HỎI - ĐÁP

CON TÔM THÁNG 12/2025

HỎI - ĐÁP  Hỏi: Những lưu ý khi lựa chọn thức ăn công nghiệp cho tôm? (Thái Huy Hoàng, xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa) Trả lời: Khi lựa chọn thức ăn tôm, yếu tố đầu tiên cần quan tâm là màu sắc, mùi đặc trưng của chúng. Màu sắc yêu cầu từ vàng nâu đến nâu. Có mùi đặc trưng của nguyên liệu phối chế, không có mùi mốc và mùi lạ khác. Thức ăn không bị vón cục, và có độ đồng đều cao. Trong giai đoạn tôm cỡ 0,1 - 8 g có thể sử dụng thức ăn dạng mảnh hoặc dạng viên, khi tôm > 8 g, chỉ sử dụng thức ăn dạng viên. Thức ăn viên có hình trụ, bề mặt mịn, kích thước đáp ứng được đối với kích cỡ miệng tôm. Với thức ăn dạng mảnh, yêu cầu các hạt đều nhau, bề mặt mịn, kích cỡ phù hợp. Ngoài ra, thức ăn đạt chất lượng có tỷ lệ vụn, nát nhỏ hơn 1%. Độ bền là một trong những yếu tố quan trọng trong chế biến thức ăn cho tôm. Người nuôi có thể thử độ bền bằng cách lấy khoảng 5 g thức ăn cho vào cốc thủy tinh có chứa nước trong để yên trong vài phút. Sau đó, cứ khoảng 15 phút dùng đũa khuấy nhẹ một vòng rồi quan sát. Nếu hầu hết các viên thức ăn vẫn còn giữ nguyên hình dạng và có thể cầm nhẹ lên mà không bị vỡ nát là thức ăn chưa bị rã. Độ bền của viên thức ăn được tính bằng số giờ quan sát kể từ khi thả thức ăn vào cốc thủy tinh chứa nước cho đến khi hầu hết các viên thức ăn vẫn còn giữ nguyên hình dạng ban đầu. Độ bền theo tiêu chuẩn quy định không nhỏ hơn 2 giờ.  Hỏi: Các dòng probiotic thường dùng để cải thiện FCR trong nuôi tôm? (Trần Nam Khánh, xã Tuy Phong, tỉnh Lâm Đồng) Trả lời: Trong thực tế nuôi tôm, nhiều dòng probiotic đã được ứng dụng với mục đích cải thiện tiêu hóa và hạ FCR. Bacillus spp. là nhóm phổ biến nhất, gồm Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis, Bacillus coagulans. Các dòng này có ưu điểm tạo bào tử bền vững, sống sót tốt trong đường ruột và môi trường ao, đồng thời sản sinh nhiều enzyme ngoại bào giúp phân giải thức ăn. Lactobacillus spp. (như Lactobacillus plantarum, Lactobacillus casei) thường được dùng làm chế phẩm trộn vào thức ăn. Chúng tạo môi trường axit nhẹ trong ruột, ức chế vi khuẩn gây hại, đồng thời hỗ trợ hấp thu khoáng và vitamin. Saccharomyces cerevisiae là dòng nấm men probiotic có khả năng cung cấp nucleotide, vitamin nhóm B và kích thích miễn dịch. Khi bổ sung vào khẩu phần, nấm men giúp tăng cường sức khỏe đường ruột, cải thiện tốc độ tăng trưởng và làm giảm lượng thức ăn tiêu thụ trên mỗi đơn vị trọng lượng tăng thêm. Nitrosomonas, Nitrobacter và một số vi khuẩn quang dưỡng (Rhodopseudomonas spp.) cũng được xếp vào nhóm probiotic môi trường. Chúng tham gia chuyển hóa chất thải, giảm độc tố trong ao nuôi, nhờ đó gián tiếp giúp tôm ăn khỏe và tiêu hóa tốt hơn.

 Hỏi: Các loại khoáng chất bổ sung trong nuôi tôm? (Trần Trường Sơn, xã Phan Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) Trả lời: Canxi (Ca) và Magie (Mg): Đây là hai khoáng chất chủ lực cho quá trình hình thành và tái tạo vỏ. Thiếu canxi, tôm chậm lột, vỏ mỏng hoặc bị biến dạng. Magie lại liên quan trực tiếp đến sự cứng chắc và đàn hồi của vỏ. Trong thực tiễn, có thể dùng Dolomite (CaMg(CO₃)₂) hoặc vôi nung CaO/Ca(OH)₂. Liều lượng: Dolomite 20 - 30 kg/1.000 m² sau khi cải tạo ao, định kỳ 7 - 10 ngày bón lại 10 - 15 kg/1.000 m². Thời điểm bổ sung sau mỗi lần thay nước hoặc khi pH biến động. Đặc biệt, trước và sau khi tôm lột xác, nên tạt thêm 2 - 3 kg Dolomite/1.000 m² để giúp vỏ nhanh cứng. Kali (K): Kali đóng vai trò trong cân bằng áp suất thẩm thấu, giúp tôm chống sốc khi độ mặn thay đổi và hỗ trợ hệ thần kinh hoạt động bình thường. Trong nuôi tôm, thường sử dụng KCl (Kali clorua) liều lượng 2 - 4 kg/1.000 m³ nước, định kỳ 10 - 15 ngày/ lần. Thời điểm khi tôm có biểu hiện bơi lờ đờ sau thay nước, mưa lớn hoặc độ mặn dao động nhanh. Bổ sung ngay sau những đợt mưa để tránh hiện tượng mềm vỏ và tôm bỏ ăn. Natri (Na): Natri giúp điều chỉnh cân bằng điện giải, hỗ trợ hệ thần kinh và cơ bắp. Thiếu natri, tôm dễ bị yếu cơ, cong thân hoặc chết rải rác sau mưa. Trong ao nuôi, có thể sử dụng muối hột để bổ sung liều lượng 2 - 3 kg muối/1.000 m³, hòa tan trước khi tạt. Áp dụng khi độ mặn ao giảm đột ngột, sau mưa lớn hoặc khi cần ổn định áp suất thẩm thấu cho tôm đang lột xác. Photpho (P): Photpho cần thiết cho sự tăng trưởng, vì tham gia vào quá trình tạo năng lượng ATP và cấu tạo xương vỏ. Thức ăn công nghiệp có bổ sung P, nhưng trong điều kiện nuôi thâm canh, lượng này thường không đủ. Có thể bổ sung bằng DAP (Diammonium phosphate) hoặc chế phẩm khoáng hữu cơ chứa photpho với lượng 1 - 2 kg/1.000 m³ nước, định kỳ 15 ngày/lần. Thời điểm trước giai đoạn tôm tăng trưởng mạnh (sau 30 ngày tuổi), hoặc khi thấy tôm chậm lớn, vỏ mỏng. Kẽm (Zn), Sắt (Fe), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Selen (Se): Nhóm vi khoáng này tuy cần với lượng nhỏ nhưng lại có vai trò quan trọng trong hệ enzyme, miễn dịch và chống ôxy hóa. Thường khó bổ sung trực tiếp qua môi trường, nên cần bổ sung qua thức ăn bằng premix khoáng hữu cơ. Liều lượng 2 - 3 g premix/kg thức ăn, cho ăn liên tục 5 - 7 ngày trong tháng. Tăng cường bổ sung khi thời tiết biến động, tôm yếu, hoặc đang trong giai đoạn lột xác hàng loạt. Silic (Si): Silic ít được chú ý nhưng lại cần thiết để ổn định cấu trúc vỏ kitin. Thường bổ sung gián tiếp qua Dolomite hoặc khoáng tổng hợp. Tùy sản phẩm, thường 3 - 5 kg/1.000 m³ nước, định kỳ 15 ngày/lần. BAN KHKT


CON TÔM THÁNG 12/2025

HỎI - ĐÁP

57


58

CON TÔM THÁNG 12/2025


CON TÔM THÁNG 12/2025

59


60

CON TÔM THÁNG 12/2025


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
CON TOM 169 (1) by Thủy sản Việt Nam Website - Issuu