2
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
3
4
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
5
6
thuysanvietnam.com.vn
Ban Biên tập Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ Dương Xuân Hùng, Cố vấn Hoàng Hải Đăng, Thư ký Tòa soạn Phạm Thu Hồng, Nhà báo Trần Thị Kim Tiến, Nhà báo
Thư tòa soạn
Trần Anh Thư, Phóng viên Chủ nhiệm Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ Phụ trách Đỗ Huy Hoàn, Phó Tổng Biên tập Chuyên gia Nguyễn Chu Hồi, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trần Đình Luân, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương, Giáo sư - Tiến sĩ Đào Trọng Hiếu, Tiến sĩ Lê Văn Khoa, Tiến sĩ Nguyễn Duy Hòa, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Bát, Tiến sĩ Hồ Quốc Lực, Tiến sĩ Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Thủy sản Minh Phú Mỹ thuật: Two Nguyễn Trình bày: Phạm Dương Kỹ thuật: Đăng Kiên Hình ảnh: Đăng Kiên Đọc bản in: Anh Thư Tòa soạn: Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan@thuysanvietnam.com.vn Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM Văn phòng Hà Nội: Điện thoại: 0243.7713699 Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội Phòng Quảng cáo: Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993 Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT ISSN: 0866-8043 Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM) Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ
Thưa quý vị bạn đọc, Trong chuỗi sản xuất thủy sản, con giống là khâu đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của cả vụ nuôi. Bên cạnh đó, thị trường ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, lịch sử đàn bố mẹ, tình trạng dịch bệnh và khả năng truy xuất của con giống. Đối với các chuỗi sản xuất hướng đến xuất khẩu, yêu cầu về an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh ngay từ khâu giống càng được đặt lên hàng đầu. Những năm qua, sản xuất giống thủy sản trong nước đã từng bước đáp ứng nhu cầu của các đối tượng nuôi chủ lực và mở rộng sang nhiều loài có giá trị kinh tế. Năng lực sản xuất được cải thiện rõ hơn ở các đối tượng chủ lực như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra, cá rô phi và một số loài thủy sản biển. Tuy nhiên, trên thực tế, hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất giống thủy sản còn thiếu và chưa đồng bộ. Hạ tầng phục vụ nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống bố mẹ trong nước vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, khiến quá trình nâng cao chất lượng và chủ động nguồn giống còn gặp khó khăn. Việc lựa chọn, quản lý và cải thiện di truyền nếu không được thực hiện phù hợp có thể làm suy giảm những tính trạng mong muốn qua các thế hệ. Nguy cơ cận huyết, giảm tốc độ tăng trưởng hoặc khả năng thích nghi vì thế có thể ảnh hưởng đến chất lượng giống về lâu dài. Giống kém chất lượng, không rõ nguồn gốc vẫn xuất hiện, nhất là ở các vùng nuôi nhỏ lẻ. Ngoài ra, dịch bệnh cũng là một trong những vấn đề cần được kiểm soát xuyên suốt quá trình sản xuất giống thủy sản. Mầm bệnh có thể xâm nhập từ đàn bố mẹ, nguồn nước, thức ăn, dụng cụ, con người hoặc phương tiện ra vào cơ sở. Một số đàn giống có thể mang tác nhân gây bệnh nhưng chưa biểu hiện rõ tại thời điểm xuất bán. Nếu không được kiểm tra, sàng lọc phù hợp, mầm bệnh có thể theo con giống vào cơ sở nuôi, làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh và chi phí kiểm soát. “Quản trị rủi ro từ con giống” sẽ là chủ đề chính của Tạp chí Thủy sản Việt Nam phát hành trong tháng 09. Trên số báo này, Tạp chí sẽ thông tin tới bạn đọc thực trạng sản xuất giống thủy sản trong nước, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm tăng khả năng kiểm soát và quản trị rủi ro từ con giống thủy sản. Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 09 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp. Trân trọng! Ban Biên tập
9.2026
7
MỤC LỤC
14
28
50
Kiểm soát rủi ro, nâng cao chất lượng giống thủy sản
Hệ sinh thái: Nền tảng phát triển thủy sản bền vững
Tôm hùm Việt Nam và mục tiêu xuất khẩu tỷ đô
Nguyễn An
Anh Vũ
Thùy Khánh
18
32
52
Bài toán tối ưu hóa hệ thống chứng nhận thủy sản
Ngành tôm sẽ về đích đúng kế hoạch
Châu Âu không thể “đoạn tuyệt” với cá minh thái Nga
Oanh Thảo
Xuân Trường
Khánh Nguyên
20
34
58
Phòng bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết do vi khuẩn trên cá tra
Hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề: Từ đào tạo kỹ năng đến bảo đảm sinh kế
Mối lo khủng hoảng nguồn cung nguyên liệu biển toàn cầu và những đáp án mới
Kim Tiến
Bảo Hân
Hạnh Nguyên
24
48
60
Sử dụng thuốc thú y thủy sản đúng quy định và tránh tồn dư kháng sinh
Mở rộng nguồn lực hỗ trợ trong nuôi trồng thủy sản
Chạy đua tìm nguồn thay thế bột cá trong thức ăn thủy sản
Thái Thuận
Bảo Hân
8
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
9
10 | TIN TỨC - SỰ KIỆN
Mục tiêu xuất khẩu thủy sản 12 tỷ USD trong năm 2026 vẫn khả thi Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nhu cầu tiêu thụ dịp lễ hội và chu kỳ bổ sung tồn kho từ tháng 9 đến cuối năm dự báo giúp kim ngạch xuất khẩu thủy sản tiếp tục duy trì mức cao. Dù vậy, rủi ro chính sách sẽ là yếu tố then chốt quyết định cơ cấu tăng trưởng. Cụ thể, xu hướng đơn hàng tôm tại thị trường Hoa Kỳ phụ thuộc trực tiếp vào kết quả phán quyết thuế chống bán phá giá dự kiến công bố cuối tháng 9. Trong khi đó, động lực xuất khẩu cá tra tiếp tục dựa vào lực cầu từ Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU). Riêng nhóm hải sản khai thác (cá ngừ, mực, bạch tuộc) đối mặt áp lực gia tăng chi phí tuân thủ do các yêu cầu khắt khe về chống khai thác IUU, hệ thống CATCH của EU và truy xuất nguồn gốc. Các chuyên gia nhận định, mục tiêu xuất khẩu vượt 12 tỷ USD trong năm 2026 hoàn toàn khả thi nếu thị trường Trung Quốc giữ đà tiêu thụ và đơn hàng mùa cao điểm không bị gián đoạn. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng quý IV dự báo sẽ chậm hơn các tháng đầu năm, buộc toàn ngành phải nhanh chóng chuyển dịch từ việc chạy đua sản lượng sang tối ưu giá trị gia tăng và nâng cao khả năng chống chịu trước các rào cản thương mại.
Sản lượng thủy sản 8 tháng tăng trưởng nhờ nuôi trồng Theo Cục Thống kê, sản lượng thủy sản tháng 8/2026 ước đạt 991,3 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Động lực chính tiếp tục đến từ lĩnh vực nuôi trồng với lũy kế 8 tháng đạt 4.253,9 nghìn tấn, tăng 6%. Cụ thể, sản lượng cá tra 8 tháng đạt 1.250,7 nghìn tấn (tăng 4,8%) nhờ giá nguyên liệu duy trì ổn định, bảo đảm nguồn cung phục vụ chế biến và xuất khẩu. Các mặt hàng tôm cũng ghi nhận mức tăng trưởng khá nhờ người nuôi đẩy mạnh áp dụng mô hình thâm canh, siêu thâm canh và công nghệ cao; trong đó tôm thẻ chân trắng 8 tháng đạt 806 nghìn tấn (tăng 8,7%) và tôm sú đạt 230,2 nghìn tấn (tăng 4,2%). Đối với lĩnh vực khai thác, dù thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến hoạt động vươn khơi, sản lượng tháng 8 vẫn tăng nhẹ 0,7% (đạt
thuysanvietnam.com.vn 362 nghìn tấn). Tính chung 8 tháng, tổng sản lượng khai thác đạt 2.695,5 nghìn tấn (tăng 0,7%), riêng khai thác biển đóng góp 2.581,1 nghìn tấn (tăng 0,8%). Nhìn chung, nhờ ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ và thị trường tiêu thụ thuận lợi, thủy sản nuôi trồng tiếp tục đóng vai trò chủ lực tạo giá trị gia tăng cho toàn ngành.
Cảnh sát biển Vùng 4 tăng cường tuần tra, chống IUU Ngay sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, tàu CSB 4039 (Hải đội 422, Hải đoàn 42, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4) tiếp tục ra khơi, thực hiện đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) kéo dài từ 15/8 đến 15/9/2026. Quá trình làm nhiệm vụ, lực lượng chức năng tập trung kiểm tra nghiêm ngặt thủ tục hành chính của các phương tiện gồm: giấy chứng nhận đăng ký, giấy phép khai thác, nhật ký khai thác, chứng chỉ chuyên môn, sổ danh bạ thuyền viên và hệ thống thiết bị giám sát hành trình (VMS). Song song với công tác kiểm tra, tổ tuần tra đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân tuân thủ quy định về duy trì tín hiệu VMS, ghi nộp nhật ký, truy xuất nguồn gốc thủy sản và cảnh báo các chế tài xử lý vi phạm. Đại úy Nguyễn Mạnh Cường, thuyền trưởng Tàu CSB 4039 nhấn mạnh, toàn tàu đang duy trì nghiêm hệ thống trực canh nhằm góp phần cùng cả nước quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC). Việc kiểm tra, nhắc nhở liên tục trên biển đã nâng cao ý thức tuân thủ của bà con. Tiêu biểu như ông Trần Văn Cáo, thuyền trưởng tàu cá KG-95959TS đã cam kết chấp hành nghiêm pháp luật, tuyệt đối không đưa tàu vi phạm vùng biển nước ngoài. Đà Nẵng
Siết truy xuất điện tử eCDT trong cao điểm chống IUU Từ ngày 15/8 đến 15/9/2026, Đà Nẵng dồn lực thực hiện tháng cao điểm chống khai thác IUU nhằm đáp ứng các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) và quyết tâm gỡ “thẻ vàng” trong năm 2026. Lực lượng Biên phòng thành phố đang siết chặt kiểm
tra tại các cửa biển, cảng cá; kiên quyết quản lý chặt đội tàu và xử lý dứ t điểm nhóm tàu cá “3 không” (không đăng ký, đăng kiểm, cấp phép). Công tác truy xuất nguồn gốc hải sản qua nền tảng số được xem là nhiệm vụ mấu chốt. Theo ông Phạm Trung Thành, Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Âu thuyền và Cảng cá Đà Nẵng, hiện 100% tàu cập và rời cảng Thọ Quang, Tam Quang đã thực hiện kê khai qua hệ thống điện tử “CDT VN” (eCDT) và nộp đầy đủ nhật ký khai thác. Các lực lượng duy trì trực 24/7 nhằm giám sát minh bạch sản lượng và thành phần loài bốc dỡ. Lãnh đạo UBND thành phố chỉ đạo 100% hồ sơ cấp giấy xác nhận nguyên liệu phục vụ xuất khẩu phải được xử lý trên eCDT. Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu hải sản sang châu Âu được đưa vào diện kiểm tra rủi ro nghiêm ngặt; mọi sai lệch về định mức, sản lượng phải được xác minh và xử lý dứ t điểm, đồng thời duy trì cập nhật dữ liệu chuẩn xác lên hệ thống nghề cá quốc gia VNFishbase. Quảng Trị
Ngư dân trúng đậm cá cơm, cá nục đầu tháng 9 Từ ngày 5 - 7/9/2026, ngư dân khai thác gần bờ tại vùng biển phía Nam tỉnh Quảng Trị (Nam Cửa Việt, Bắc Cửa Việt, Vĩnh Hoàng, Cửa Tùng) liên tục trúng đậm các loại hải sản, đặc biệt là cá cơm và cá nục. Tại các cảng, hoạt động giao thương diễn ra tấp nập với sự tham gia của cả tàu cá ngoại tỉnh. Đối với cá cơm, tàu công suất nhỏ đạt sản lượng 300 - 400 kg/chuyến, trong khi tàu lớn vươn khơi 18 hải lý thu về tới 10 tấn/chuyến. Giá thu mua tại bến dao động từ 17.000 - 20.000 đồng/kg. Tương tự, sản lượng cá nục (nục gai, nục suôn) cũng đạt mức 3 - 4 tấn/chuyến, giá bán 20.000 - 25.000 đồng/kg, giúp mỗi lao động bỏ túi từ 1 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Nguồn cung dồi dào trực tiếp tiếp sức cho các làng nghề truyền thống. Riêng tại xã Cửa Việt, 45 cơ sở hấp cá phơi khô đang hoạt động hết công suất (định mức 3 kg cá tươi cho 1 kg cá khô). Với sản lượng đạt khoảng 15.000 tấn/năm, sản phẩm cá khô Quảng Trị hiện đang cung cấp ổn định cho thị trường miền Bắc và xuất khẩu sang Trung Quốc, góp phần khép kín chuỗi giá trị khai thác, chế biến tại địa phương.
9.2026
TIN TỨC - SỰ KIỆN | 11
Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đạt 8 tỷ USD, tôm đóng vai trò chủ lực Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước đạt 8 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Trong đó, tôm tiếp tục giữ vững vị trí chủ lực với 3,29 tỷ USD (tăng 12,3%), chiếm 41% tổng kim ngạch toàn ngành; bám sát phía sau là mặt hàng cá tra với 1,5 tỷ USD (tăng 9%). Về thị trường, động lực tăng trưởng đang dịch chuyển rõ nét sang khu vực châu Á khi nhu cầu từ Trung Quốc và ASEAN tăng mạnh, bù đắp cho dấu hiệu suy yếu tại Hoa Kỳ và EU. Triển vọng những tháng cuối năm dự báo tiếp tục khả quan nhờ chu kỳ tiêu dùng lễ hội và nhu cầu bổ sung tồn kho. Dù vậy, để duy trì lợi thế, doanh nghiệp cần chú trọng kiểm soát nguồn nguyên liệu, minh bạch chuỗi cung ứng và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về phát triển bền vững. Bên cạnh đà tăng của thủy sản, các nhóm nông sản khác cũng ghi nhận kết quả ấn tượng. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 6,02 tỷ USD (tăng 24,9%), với Trung Quốc là thị trường
Tôm tiếp tục giữ vững vị trí chủ lực với 3,29 tỷ USD (tăng 12,3%), chiếm 41% tổng kim ngạch toàn ngành Ảnh: Hoàng Anh/Theleader.vn lớn nhất chiếm 58,9% thị phần. Cùng lúc đó, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi mang về 511,9 triệu USD (tăng 30%), nổi bật là sự bứt phá của nhóm sữa, thịt và phụ phẩm.
Khánh Hòa
Vĩnh Long
Đồng Nai
95% tôm hùm giống phụ thuộc nhập khẩu, lo ngại hàng lậu
Bứt phá nhờ nuôi tôm thẻ công nghệ cao
Sản lượng thủy sản 8 tháng tăng hơn 7%
Với quy mô hàng trăm nghìn lồng tập trung tại các vùng nuôi trọng điểm như vịnh Cam Ranh, Vân Phong, mỗi năm tỉnh Khánh Hòa cần từ 60 - 70 triệu con tôm hùm giống. Tuy nhiên, nguồn khai thác tự nhiên hiện chỉ đáp ứng được 5% nhu cầu, 95% còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhập khẩu từ Indonesia, Malaysia và Singapore. Từ tháng 7/2023 đến nay, việc các nước siết chặt hoặc cấm xuất khẩu đã khiến nguồn cung đứt gãy, đẩy giá giống tôm hùm xanh lên 50.000 đồng/con và tôm hùm bông hơn 65.000 đồng/con. Lợi dụng tình trạng khan hiếm, hoạt động vận chuyển, buôn bán tôm hùm giống nhập lậu không rõ nguồn gốc diễn biến phức tạp, đe dọa mang theo dịch bệnh ngoại lai và gây tỷ lệ hao hụt lớn cho người nuôi. Trước thực trạng này, UBND tỉnh Khánh Hòa yêu cầu các lực lượng chức năng siết chặt kiểm tra, xử lý nghiêm các đường dây nhập lậu. Để tháo gỡ điểm nghẽn, Chi cục Thủy sản và Biển đảo kiến nghị cấp trung ương sớm đàm phán mở lại các kênh nhập khẩu chính ngạch (đặc biệt từ Indonesia). Đồng thời, địa phương cần bảo vệ hệ sinh thái để phục hồi nguồn giống tự nhiên và đẩy mạnh nghiên cứu sinh sản nhân tạo nhằm chủ động hoàn toàn chuỗi cung ứng trong dài hạn.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường V ĩnh Long, 8 tháng đầu năm 2026, tổng diện tích thả nuôi tôm toàn tỉnh đạt 65.185 ha với sản lượng gần 163.000 tấn. Điểm sáng lớn nhất trong bức tranh thủy sản là 6.325 ha nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao, đạt năng suất 40 - 60 tấn/ha và đóng góp hơn 88.000 tấn (cao gấp 4 - 5 lần phương thức nuôi truyền thống). Các mô hình ứng dụng hệ thống tuần hoàn khép kín, tự động hóa giúp kiểm soát chặt chẽ rủi ro dịch bệnh, mang lại lợi nhuận ròng 500 - 700 triệu đồng/ha/vụ. Dự kiến đến cuối năm 2026, diện tích nuôi tôm công nghệ cao sẽ tiếp tục được mở rộng lên 8.175 ha. Để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, V ĩnh Long đang tập trung hoàn thiện hạ tầng và mời gọi đầu tư vào 4 dự án thủy sản quy mô lớn với tổng diện tích hơn 1.000 ha, tổng vốn dự kiến 345 tỷ đồng. Song song đó, tỉnh đang tích cực kêu gọi xây dựng nhà máy chế biến sâu với công suất 18.000 tấn/năm. Động thái này nhằm đưa tôm nguyên liệu chất lượng cao thâm nhập trực tiếp vào các thị trường xuất khẩu trọng điểm như Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu, qua đó hoàn thiện chuỗi giá trị ngành hàng.
Theo thống kê, hoạt động nuôi trồng thủy sản tại Đồng Nai tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Lũy kế 8 tháng năm 2026, tổng sản lượng nuôi trồng toàn tỉnh đạt hơn 56.900 tấn, tăng hơn 7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, sản lượng cá đóng góp hơn 50.100 tấn (tăng gần 7,3%) và tôm đạt gần 5.500 tấn (tăng khoảng 4,8%). Riêng tháng 8/2026, sản lượng ghi nhận hơn 7.900 tấn, tăng 6,1% so với tháng trước. Toàn địa bàn hiện duy trì hơn 9.100 ha diện tích nuôi trồng, chủ yếu là hình thức ao hồ kết hợp lồng bè, hồ thủy lợi. Nhờ đẩy mạnh mô hình bán thâm canh và thâm canh, nhiều đối tượng như cá lóc, rô đồng đạt năng suất cao từ 40 - 50 tấn/ha. Dù giá bán cá nước ngọt tương đối ổn định, biên lợi nhuận của nông dân đang bị thu hẹp do chi phí thức ăn chăn nuôi và vật tư đầu vào tăng cao so với năm 2025. Nhằm tối ưu hiệu quả kinh tế cho vụ cuối năm và dịp lễ, Tết, người nuôi đang chuyển hướng gia tăng sản lượng nhóm cá đặc sản (cá lăng nheo, lăng vàng, cá chình, cá chép giòn) và các loại cá cảnh có giá trị cao (cá koi). Đồng thời, các trang trại tập trung cải thiện khâu chăm sóc, giảm tỷ lệ hao hụt nhằm hạ giá thành sản xuất, chờ đón đợt tăng cầu của thị trường quý IV. Bình An
12 | TIN TỨC - SỰ KIỆN
Nghị sĩ Mỹ muốn cấm thủy sản từ Trung Quốc vào bàn ăn Quốc hội Hạ Nghị sĩ Đảng Cộng hòa Chris Smith vừa đệ xuất một dự luật mới nhằm cấm thủy sản có nguồn gốc từ Trung Quốc khỏi các cơ sở ăn uống của Quốc hội. Theo dự luật, thủy sản từ Trung Quốc sẽ không được phục vụ tại các cơ sở ăn uống này. Lệnh cấm không chỉ áp dụng với mọi loại thủy sản được khai thác, nuôi trồng hoặc chế biến ở Trung Quốc mà còn với thủy sản được khai thác bởi các tàu đánh bắt do công dân hoặc doanh nghiệp Trung Quốc điều hành hoặc sở hữu. Các cơ sở ăn uống của Quốc hội Mỹ sẽ yêu cầu xác nhận nguồn gốc xuất xứ của thủy sản, bao gồm nơi đánh bắt, thu hoạch, nuôi trồng hoặc chế biến. Dự luật viện dẫn vấn đề lao động cưỡng bức để áp dụng lệnh cấm trên. Theo lập luận của nhà lập pháp, lao động cưỡng bức phổ biến trong chuỗi cung ứng từ khâu đánh bắt, nuôi trồng tới chế biến thủy sản Trung Quốc.
Tôm Ecuador thuận đường vào Trung Quốc Ngày 2/9, các nhà cung cấp Ecuador tiếp tục nâng giá chào sang Trung Quốc, phản ánh tâm lý tự tin hơn của người bán sau Triển lãm Thủy sản và Hải sản Quốc tế Thượng Hải tổ chức cuối tháng 8/2026. Trong khi đó, Trung Quốc đã cho phép 8 doanh nghiệp tôm Ecuador nối lại xuất khẩu, sau thời gian một số cơ sở bị đình chỉ từ tháng 10/2025 hoặc đầu năm 2026. Dù vậy, 6 doanh nghiệp Ecuador khác vẫn nằm trong danh sách bị đình chỉ. Theo các chuyên gia, những diễn biến mới này trực tiếp mở rộng trở lại năng lực cung ứng tôm Ecuador vào Trung Quốc.
Hạn hán đe doạ nguồn lợi thủy sản ở nhiều nước châu Âu Hạn hán kéo dài và nhiệt độ tăng cao trong mùa hè năm 2026 đã khiến mực nước sụt giảm, phá hủy hệ sinh thái trong các hồ ở châu Âu. Các trang trại nuôi cá cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại Hungary, theo ước tính, hơn 1588 ha ao nuôi cá bị can kiệt, ảnh hưởng tới 20 trang trại và khiến 280 tấn cá chết. Ngoài thiệt hại lên tới
thuysanvietnam.com.vn 4,2 triệu USD, các nhà sản xuất cho biết, việc thay thế cá đã mất có thể tốn nhiều năm. Tại Séc, người nuôi cá đã thực hiện các biện pháp khẩn cấp như giảm hoặc ngừng cho ăn để giảm sử dụng ôxy, sục khí cho ao hoặc thoát nước khi cần thiết. Dù mưa đã xuất hiện, theo các quan chức Hiệp hội Thủy sản Séc, vẫn cần có các biện pháp dài hạn để giữ nhiều nước hơn trong các hồ và ao nuôi. Tại Bosnia, mùa hè khô nóng gây ra vấn đề nghiêm trọng với nghề nuôi cá hồi. Theo một chủ trang trại, ngoài việc gia tăng lượng ôxy trong nước, ông buộc phải giảm cho cá ăn, giảm sản lượng để duy trì sự tồn tại của ao nuôi.
Canada có thể kết thúc sớm vụ khai thác cá tuyết Vụ khai thác cá tuyết tại vùng ven bờ Newfoundland và Labrador, Canada có thể kết thúc sớm hơn dự kiến ít nhất hai tuần do đội tàu đã khai thác hết hạn ngạch mùa hè. Cụ thể, Cơ quan Thủy sản và Đại dương Canada DFO cho phép đội tàu ven bờ được phép cập cảng 10.000 pound cá tuyết/tuần, tăng 150% so với mức 4.000 pound của năm 2025. Tính trong cả mùa vụ, hạn ngạch khai thác cá tuyết Bắc Đại Tây Dương là 58.000 tấn, tăng 55% so với 38.000 tấn năm trước. Đến ngày 20/8, sản lượng cập cảng đạt 30.796 tấn, trị giá khoảng 72,6 triệu USD, tương đương 53% hạn ngạch cả năm 2026. Được biết, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của cá tuyết Canada, tiếp đến các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan…
Tại châu Âu, nguồn cung hạn chế đã tác động rõ rệt đến giá. Giá cá tuyết Đại Tây Dương của Na Uy từng vượt 10.000 USD/tấn, mức cao kỷ lục được ghi nhận. Giá cá tuyết đông lạnh và các sản phẩm phi lê cũng chịu áp lực tăng do chi phí nguyên liệu ngày càng cao.
Thủy sản Ấn Độ “thoát khó” ở EU Liên minh châu Âu (EU) đã đưa Ấn Độ vào dự thảo danh sách sửa đổi các nước được tiếp tục xuất khẩu sản phẩm thủy sản nuôi vào thị trường này. Trước đó, theo quy định được công bố, Ấn Độ không nằm trong danh sách các nước thứ ba được phép xuất khẩu sản phẩm có nguồn gốc động vật dùng làm thực phẩm vào EU từ tháng 9/2026. Các quy định mới của EU yêu cầu các nước xuất khẩu bảo đảm động vật và sản phẩm có nguồn gốc động vật đưa vào thị trường EU không sử dụng thuốc kháng vi sinh vật nhằm thúc đẩy tăng trưởng, đồng thời không sử dụng các loại thuốc kháng vi sinh vật được dành riêng cho điều trị ở người. Việc được đưa trở lại dự thảo danh sách là kết quả của các biện pháp tuân thủ mà Ấn Độ triển khai theo Quy định ủy quyền của Ủy ban châu Âu. EU là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 của Ấn Độ. Trong năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Ấn Độ sang EU đạt trên 1,5 tỷ USD, tăng 38,29% về sản lượng và 41,45% về giá trị. Linh Chi
CON SỐ & SỰ KIỆN 12 TỶ USD Là mục tiêu kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành thủy sản hướng tới trong năm 2026. Mục tiêu này được đánh giá là khả thi nhờ nhu cầu tiêu thụ dịp lễ hội và chu kỳ bổ sung tồn kho những tháng cuối năm.
4,25 TRIỆU TẤN Là tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước tính chung 8 tháng năm 2026, tăng 6% so với cùng kỳ. Lĩnh vực này tiếp tục đóng vai trò tạo giá trị gia tăng chủ lực cho toàn ngành.
8 TỶ USD Là kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước trong 8 tháng năm 2026, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tôm tiếp tục đóng vai trò chủ lực với 3,29 tỷ USD, chiếm 41% tổng kim ngạch.
95% Là tỷ lệ tôm hùm giống phục vụ nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa đang phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Việc đứt gãy nguồn cung đang đẩy giá giống lên cao và làm gia tăng nguy cơ buôn lậu.
9.2026
13
14 | TIÊU ĐIỂM
Kiểm soát rủi ro, nâng cao chất lượng giống thủy sản Từ yêu cầu bảo đảm nguồn cung, sản xuất giống thủy sản đang ngày càng chú trọng hơn đến chất lượng, an toàn dịch bệnh và khả năng truy xuất. Sự phát triển của công nghệ chọn tạo, xét nghiệm, kiểm soát môi trường và số hóa dữ liệu đang mở thêm cơ hội nâng cao chất lượng con giống, tăng độ tin cậy và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất, thị trường.
thuysanvietnam.com.vn
Mắt xích quyết định hiệu quả vụ nuôi Trong chuỗi sản xuất thủy sản, con giống là khâu đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của cả vụ nuôi. Một đàn giống có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, đồng đều và thích nghi tốt với điều kiện sản xuất sẽ tạo nền tảng thuận lợi để vật nuôi sinh trưởng, nâng tỷ lệ sống và rút ngắn thời gian đạt kích cỡ thu hoạch. Ngược lại, giống yếu, không đồng đều hoặc mang mầm bệnh có thể làm gia tăng rủi ro ngay từ đầu vụ, kéo theo chi phí phát sinh và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Thực tế sản xuất cho thấy, ngay cả khi áp dụng cùng quy trình kỹ thuật, điều kiện môi trường và loại thức ăn, kết quả giữa các cơ sở nuôi vẫn có thể khác nhau. Chất lượng đầu vào là một trong những yếu tố tạo nên
sự khác biệt đó. Khi con giống có nền tảng sức khỏe và chất lượng di truyền tốt, người nuôi có nhiều điều kiện hơn để quản lý các yếu tố trong suốt vụ sản xuất; ngược lại, những hạn chế hình thành từ con giống rất khó được bù đắp hoàn toàn bằng các biện pháp chăm sóc về sau. Cùng với yêu cầu về năng suất, thị trường ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, lịch sử đàn bố mẹ, tình trạng dịch bệnh và khả năng truy xuất của con giống. Đối với các chuỗi sản xuất hướng đến xuất khẩu, yêu cầu về an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh ngay từ khâu giống càng được đặt lên hàng đầu. Sản xuất giống vì thế đứng trước yêu cầu chuyển từ bảo đảm số lượng sang nâng cao đồng thời chất lượng, độ an toàn và tính minh bạch của nguồn giống.
9.2026
TIÊU ĐIỂM | 15
Tăng năng lực sản xuất Những năm qua, sản xuất giống thủy sản trong nước có bước phát triển, từng bước đáp ứng nhu cầu của các đối tượng nuôi chủ lực và mở rộng sang nhiều loài có giá trị kinh tế. Năng lực sản xuất được cải thiện rõ hơn ở các đối tượng chủ lực như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra, cá rô phi và một số loài thủy sản biển. Sản xuất giống thủy sản đang từng bước chuyển sang quy mô công nghiệp, với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn trong nước và doanh nghiệp FDI. Các cơ sở đầu tư nhỏ lẻ, hoạt động kém hiệu quả, không đủ sức cạnh tranh từng bước được thu hẹp. Hầu hết cơ sở sản xuất giống chấp hành các quy định quản lý, sử dụng giống bố mẹ có nguồn gốc rõ ràng, chú trọng kiểm soát môi trường, dịch bệnh và lợi ích của người nuôi. Nhiều cơ sở còn kết hợp tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ người nuôi nâng cao hiệu quả sản xuất. Hoạt động cung ứng giống cũng ngày càng được tổ chức bài bản, với việc doanh nghiệp chủ động xây dựng thị trường và ký kết với các vùng nuôi. Đối với các đối tượng chủ lực có giá trị kinh tế, tiềm năng xuất khẩu, công nghệ sản xuất giống cơ bản đã được làm chủ, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng. Đáng chú ý, năng lực chọn tạo và nghiên cứu giống trong nước cũng có bước tiến. Từ năm 2010 đến hết năm 2025, ngân sách nhà nước đã đầu tư gần 900 tỷ đồng cho 271 nhiệm vụ khoa học - công nghệ, tập trung vào chọn tạo các giống có tốc độ tăng trưởng nhanh và khả năng kháng bệnh. Cá tra thế hệ G5 được ghi nhận có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 15,4% so với thế hệ G4; một số nghiên cứu đã xác định chỉ thị phân tử liên
Ngành thủy sản đặt mục tiêu năm 2026 sản xuất 390 - 410 tỷ con giống, đồng thời định hướng phát triển mạnh các cơ sở chọn tạo giống bố mẹ trong nước, với kế hoạch đạt 50.000 - 60.000 tôm sú bố mẹ và 150.000 - 200.000 tôm thẻ chân trắng bố mẹ.
quan đến tính trạng kháng bệnh gan thận mủ. Trong lĩnh vực tôm nước lợ, Việt Nam đã chủ động sản xuất đàn tôm sú giống thế hệ G7 và tôm chân trắng thế hệ G8 - G9. Các Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, II và III (nay thuộc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam), đã làm chủ công nghệ sản xuất giống cho 23 loài cá biển giá trị cao; đồng thời sản xuất thành công hàng triệu con giống nhuyễn thể tam bội và tứ bội. Với cá nước lạnh, năm 2025 các đơn vị sản xuất khoảng 6 triệu con giống, đáp ứng trên 40% nhu cầu cá tầm giống trong nước. Những kết quả này cho thấy chất lượng giống ngày càng được chú trọng bên cạnh yêu cầu về số lượng và khả năng đáp ứng nguồn cung. Đây là cơ
sở để nâng cao tính chủ động về nguồn giống và giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài ở một số đối tượng. Tuy nhiên, để chất lượng được duy trì ổn định, vẫn cần giải quyết những hạn chế từ hạ tầng, nguồn bố mẹ đến quản lý sản xuất và kiểm soát dịch bệnh. Điểm nghẽn và rủi ro Hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất giống thủy sản còn thiếu và chưa đồng bộ. Số vùng sản xuất tập trung đáp ứng đồng thời yêu cầu về quy mô, điều kiện kỹ thuật và an toàn sinh học còn hạn chế. Một số vùng đã được đầu tư từ trước nhưng nay xuống cấp, ảnh hưởng đến khả năng tổ chức sản xuất ổn định. Đáng chú ý, hạ tầng phục vụ nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống bố mẹ trong nước
vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, khiến quá trình nâng cao chất lượng và chủ động nguồn giống còn gặp khó khăn. Cơ chế, chính sách phát triển giống thủy sản đã được ban hành nhưng vẫn còn những khoảng trống, chưa tạo được động lực đủ mạnh để thu hút thêm nguồn lực xã hội. Các chính sách liên quan đến đất đai, vốn và đầu tư cho cơ sở sản xuất, vùng giống tập trung cần được quan tâm hơn, nhất là với các dự án có quy mô lớn, yêu cầu đầu tư dài hạn và thời gian thu hồi vốn tương đối dài. Khả năng chủ động tôm bố mẹ từ nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất trong nước còn hạn chế. Hiện khoảng 87% tôm thẻ chân trắng bố mẹ vẫn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, trong khi khoảng 40% tôm sú bố mẹ có nguồn gốc từ khai thác tự nhiên. Nguồn bố mẹ sản xuất trong nước mới đáp ứng một
16 | TIÊU ĐIỂM phần nhu cầu, khiến sản xuất tôm giống vẫn chịu tác động lớn từ nguồn cung bên ngoài và khó chủ động hoàn toàn về chất lượng, số lượng. Việc chấp hành các quy định pháp luật trong sản xuất, ương dưỡng và cung ứng giống đã có nhiều chuyển biến nhưng chưa đồng đều giữa các cơ sở. Một số cơ sở vẫn chưa được kiểm tra, đánh giá và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện theo quy định. Đối với tôm bố mẹ khai thác từ tự nhiên, công tác quản lý cũng gặp khó khăn khi hoạt động khai thác còn nhỏ lẻ, phân tán, một số hộ chưa thực hiện khai báo với cơ quan quản lý, gây khó khăn cho việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng. Giống kém chất lượng, không rõ nguồn gốc vẫn xuất hiện, nhất là ở các vùng nuôi nhỏ lẻ. Công tác quản lý chưa đồng bộ, trong khi nguồn lực thanh tra, kiểm tra chuyên ngành còn hạn chế, khiến việc kiểm soát chất lượng, nguồn gốc giống và xử lý vi phạm chưa đạt yêu cầu. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng con giống. Trước hết là chất lượng đàn bố mẹ. Việc lựa chọn, quản lý và cải thiện di truyền nếu không được thực hiện phù hợp có thể làm suy giảm những tính trạng mong muốn qua các thế hệ. Nguy cơ cận huyết, giảm tốc độ tăng trưởng hoặc khả năng thích nghi vì thế có thể ảnh hưởng đến chất lượng giống về lâu dài. Dịch bệnh là một trong những vấn đề cần được kiểm soát xuyên suốt quá trình sản xuất giống thủy sản. Biến động nhiệt độ, chất lượng nguồn nước và các yếu tố môi trường tác động trực tiếp đến sức khỏe con giống, làm gia tăng nguy cơ bùng phát và lây lan dịch bệnh.
thuysanvietnam.com.vn Mầm bệnh có thể xâm nhập từ đàn bố mẹ, nguồn nước, thức ăn, dụng cụ, con người hoặc phương tiện ra vào cơ sở. Đáng lưu ý, một số đàn giống có thể mang tác nhân gây bệnh nhưng chưa biểu hiện rõ tại thời điểm xuất bán. Nếu không được kiểm tra, sàng lọc phù hợp, mầm bệnh có thể theo con giống vào cơ sở nuôi, làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh và chi phí kiểm soát. Giải pháp nâng chất lượng giống Những rủi ro trong quá trình sản xuất đặt ra yêu cầu phải tăng khả năng kiểm soát ngay từ đàn bố mẹ và từng công đoạn tạo ra con giống. Để thực hiện yêu cầu này, khoa học và công nghệ có thể tham gia sâu hơn vào từng khâu, từ chọn tạo, xét nghiệm, kiểm soát môi trường đến theo dõi và đánh giá chất lượng giống. Các công nghệ xét nghiệm, chọn giống, giám sát chỉ tiêu môi trường và số hóa dữ liệu có thể hỗ trợ cơ sở sản xuất nhận diện sớm rủi ro, điều chỉnh quy trình và kiểm soát chất lượng từng lô giống. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất cần chuẩn hóa quy trình từ đàn bố mẹ, sinh sản, ương dưỡng đến đóng gói và vận chuyển. Nguồn bố mẹ phải có nguồn gốc rõ ràng, được theo dõi về đặc tính di truyền và tình trạng sức khỏe. Điều kiện nước, dinh dưỡng, mật độ ương và an toàn sinh học cần được kiểm soát phù hợp với từng loài, từng giai đoạn. Hồ sơ về nguồn gốc, quá trình sản xuất, kết quả kiểm tra và xuất bán cũng cần được lưu giữ đầy đủ, tạo cơ sở cho đánh giá chất lượng và truy xuất khi cần. Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ từ Nhà nước để các cơ sở sản xuất có điều kiện đầu tư nâng cấp hạ tầng, tiếp cận công nghệ và nâng cao năng lực sản
Cần triển khai đồng bộ các giải pháp Để tiếp tục nâng cao chất lượng giống thủy sản, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ quản lý đàn bố mẹ, sản xuất, ương dưỡng đến kiểm soát khi lưu thông trên thị trường. Trước hết, quản lý chặt nguồn gốc đàn bố mẹ, chú trọng chọn tạo, duy trì đa dạng di truyền và từng bước nâng cao năng lực chủ động về giống bố mẹ trong nước. Với các đối tượng chủ lực, hoàn thiện quy trình sản xuất giống, lựa chọn các dòng có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi với điều kiện môi trường và đáp ứng yêu cầu thực tế của người nuôi. Cùng với đó, kiểm soát an toàn dịch bệnh tại các cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống; thực hiện đầy đủ yêu cầu về an toàn sinh học, chất lượng nước, vệ sinh và phòng ngừa tác nhân gây bệnh. Công tác kiểm dịch cần được thực hiện chặt chẽ, nhất là đối với giống vận chuyển giữa các địa phương. Việc kiểm tra nguồn gốc và xử lý vi phạm cũng phải được thực hiện nghiêm. Về quản lý, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu giống thủy sản, cập nhật thông tin về cơ sở sản xuất, đối tượng, sản lượng và chất lượng giống; từng bước ứng dụng số hóa trong theo dõi, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc. Đây là cơ sở để cơ quan quản lý có thông tin đầy đủ phục vụ dự báo nhu cầu, định hướng sản xuất. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật, nâng cấp hạ tầng vùng sản xuất giống tập trung và phát huy sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất. Qua đó, hình thành nguồn giống chất lượng, an toàn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của ngành thủy sản. Ông Trần Công Khôi Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản (Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường)
xuất. Sự hỗ trợ có thể tập trung vào nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực và kiểm soát dịch bệnh, nhất là đối với các cơ sở còn hạn chế về quy mô và điều kiện đầu tư. Về lâu dài, việc hình thành các trung tâm nghiên cứu, sản xuất và ương dưỡng giống thủy sản quy mô lớn sẽ tạo nền tảng cho quá trình chủ động nguồn giống.
Các trung tâm này không chỉ tạo nguồn giống chất lượng mà còn có thể trở thành đầu mối nghiên cứu, lưu giữ nguồn gen, chọn tạo và chuyển giao công nghệ, qua đó nâng khả năng chủ động nguồn giống và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.
Nguyễn An
9.2026
TIÊU ĐIỂM | 17
18 | TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC
Bài toán tối ưu hóa hệ thống chứng nhận thủy sản “Bền vững” đang dần trở thành yêu cầu phổ biến của thị trường thủy sản, kéo theo sự hiện diện ngày càng lớn của các tiêu chuẩn và chứng nhận. Khi doanh nghiệp phải đáp ứng những yêu cầu khác nhau từ nhiều thị trường và nhóm khách hàng, việc duy trì nhiều hệ thống đặt ra câu hỏi về chi phí, nguồn lực và cách tổ chức đánh giá trong cùng một chuỗi sản xuất.
thuysanvietnam.com.vn
Khi tiêu chuẩn bền vững trở thành xu hướng Trong chuỗi thủy sản, chứng nhận bền vững không chỉ là dấu hiệu nhận diện sản phẩm, mà còn cung cấp cơ sở để người mua xác minh các yêu cầu về môi trường, xã hội, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong sản xuất đã được đánh giá bởi bên thứ ba. Khi các nhà mua hàng và thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến nguồn gốc cũng như phương thức sản xuất, chứng nhận trở thành một trong những cơ sở để doanh nghiệp đáp ứng và chứng minh các yêu cầu của từng thị trường, nhóm khách hàng. Mức độ phổ biến của chứng nhận trong ngành tôm ngày càng rõ. Theo ASC, tại Việt Nam đã có hơn 500 trang trại tôm được chứng nhận, phần lớn là các nhóm hộ nhỏ, với sản lượng tôm nguyên liệu ASC khoảng 50.000 – 55.000 tấn/năm. Bên cạnh đó, 15 nhà máy thức ăn đã được ASC chứng nhận và 5 nhà máy khác đang trong quá trình đánh giá.
Tại châu Âu, số sản phẩm tôm mang nhãn ASC tăng từ khoảng 7.000 sản phẩm năm 2020 lên hơn 11.000 sản phẩm năm 2026. Riêng tại khu vực Benelux và các nước nói tiếng Đức, tỷ lệ sản phẩm tôm bán lẻ mang nhãn ASC được ghi nhận trên 80%, thậm chí có thể lên tới khoảng 90%. Số lượng trang trại, nhà máy và sản phẩm tham gia các chương trình chứng nhận ngày càng tăng, cho thấy các tiêu chuẩn bền vững đang được áp dụng rộng hơn trên thị trường tôm. Khi nhiều nhà cung cấp cùng đáp ứng một tiêu chuẩn, chứng nhận có thể dần trở thành điều kiện để tiếp cận một số thị trường, thay vì chỉ được xem là yếu tố tạo khác biệt. Với một doanh nghiệp xuất khẩu phục vụ nhiều thị trường và nhóm khách hàng, các yêu cầu về tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững có thể không hoàn toàn giống nhau. Đây là một trong những lý do nhiều hệ thống chứng nhận cùng xuất hiện trong một chuỗi sản xuất.
9.2026
TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC | 19
Nhiều bộ tiêu chuẩn, một chuỗi sản xuất ASC, GlobalG.A.P. và BAP có phạm vi, tiêu chí và cơ chế đánh giá riêng. Doanh nghiệp lựa chọn hoặc duy trì các hệ thống này thường dựa trên yêu cầu của từng thị trường, khách hàng hoặc nhóm sản phẩm. Dù áp dụng nhiều tiêu chuẩn, hoạt động sản xuất vẫn diễn ra trên cùng một quy trình vận hành thực tế. Vì vậy, một số nội dung quản lý có thể giao nhau, chẳng hạn dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc, quản lý môi trường, sử dụng đầu vào hay hồ sơ kiểm soát. Tuy nhiên, điểm tương đồng về nội dung không đồng nghĩa với việc các yêu cầu có thể được đáp
từng được đưa vào các sáng kiến phối hợp. ASC và một số tổ chức chứng nhận khác đã phối hợp thử nghiệm đánh giá kết hợp, hướng tới giảm những nội dung đánh giá trùng lặp giữa các hệ thống, trong khi vẫn duy trì các yêu cầu riêng của từng tiêu chuẩn. Điều này cho thấy “hợp nhất” không nhất thiết đồng nghĩa với việc biến nhiều tiêu chuẩn thành một chứng nhận duy nhất. Việc phối hợp có thể được thực hiện ở những mức độ khác nhau, như công nhận một phần kết quả đánh giá, sử dụng dữ liệu đã được xác minh, xây dựng các nội dung đánh giá tương thích hoặc tổ chức đánh giá phối hợp. Những yêu cầu có tính đặc thù
gốc và trách nhiệm trong sản xuất, doanh nghiệp không chỉ phát sinh chi phí cho việc đánh giá và duy trì chứng nhận, mà còn phải đầu tư vào quá trình vận hành. Các khoản đầu tư có thể liên quan đến hạ tầng, công nghệ, quản lý môi trường, sử dụng tài nguyên, điều kiện lao động, hệ thống truy xuất và nhân sự thực hiện. Đối với ngành tôm, những yêu cầu này diễn ra trong bối cảnh doanh nghiệp chịu sức ép về giá, logistics và cạnh tranh nguồn cung. Theo VASEP, 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt khoảng 2,35 tỷ USD, tăng 14,2%. Trong cùng thời gian, doanh nghiệp cũng phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
ứng bằng cùng một bộ hồ sơ hoặc kết quả đánh giá. Một dữ liệu hoặc quy trình đã được thu thập, kiểm soát và xác minh theo yêu cầu của một hệ thống chưa chắc đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hệ thống khác. Doanh nghiệp vì thế có thể vẫn phải duy trì những hồ sơ, bằng chứng hoặc hoạt động đánh giá riêng cho từng chương trình. Ở chiều ngược lại, những điểm giao nhau giữa các hệ thống cũng
vẫn có thể được đánh giá riêng. Với các nội dung có tính tương đồng, mức độ công nhận và sử dụng chung kết quả đánh giá sẽ phụ thuộc vào mức độ tương thích giữa các hệ thống cũng như yêu cầu của từng chương trình.
về truy xuất nguồn gốc và cạnh tranh với các nguồn cung như Ecuador, Ấn Độ và Indonesia. Trong điều kiện đó, giá trị của chứng nhận không nhất thiết được thể hiện bằng một khoản tiền cộng thêm trên mỗi đơn vị sản phẩm. Chứng nhận có thể giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của khách hàng, duy trì thị trường hoặc tiếp cận những phân khúc có yêu cầu cao hơn.
Chi phí không chỉ nằm ở tờ chứng nhận Để đáp ứng các yêu cầu về môi trường, xã hội, truy xuất nguồn
Ở chiều ngược lại, khi doanh nghiệp duy trì nhiều hệ thống chứng nhận, nguồn lực dành cho việc đáp ứng và duy trì các yêu cầu này cũng trở thành một yếu tố trong hoạt động kinh doanh. Chi phí được phân bổ ở đâu trong chuỗi, từ người nuôi, nhà máy đến doanh nghiệp xuất khẩu và khả năng chuyển các khoản chi phí đó vào giá bán đến đâu là những vấn đề liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của chứng nhận. Khi chứng nhận bền vững ngày càng trở thành một phần trong điều kiện tiếp cận thị trường, sự tồn tại của các hệ thống khác nhau có thể phản ánh những yêu cầu riêng từ người mua. Với những nội dung có tính tương đồng, bài toán đặt ra là mức độ phối hợp và công nhận kết quả đánh giá có thể được thực hiện đến đâu, để doanh nghiệp giảm phần công việc trùng lặp mà vẫn bảo đảm những yêu cầu riêng và độ tin cậy của từng tiêu chuẩn.
Oanh Thảo
20
thuysanvietnam.com.vn CHUYÊN TRANG VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT THỦY SẢN - CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
Phòng bệnh gan thận mủ và bệnh xuất huyết do vi khuẩn trên cá tra
Ảnh: Mỹ Hạnh
9.2026
21
Trong quá trình nuôi cá tra, những biến động về môi trường nước, thời tiết và quản lý chưa phù hợp có thể làm gia tăng nguy cơ phát sinh bệnh gan thận mủ, xuất huyết và nhiều bệnh nguy hiểm khác. Nhận diện sớm yếu tố bất lợi và áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng bệnh sẽ giúp hạn chế thiệt hại.
Bệnh gan thận mủ - Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri thuộc họ Enterobacteriaceae. - Loài cảm nhiễm: Các loài cá da trơn, trong đó chủ yếu là cá tra (Pangasianodon hypophthalmus). - Giai đoạn nhiễm bệnh: Cá nhiễm bệnh ở tất cả các giai đoạn nuôi nhưng mẫn cảm nhất là giai đoạn cá giống. - Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bệnh xuất hiện quanh năm trên cá da trơn và tập trung vào 3 tháng đầu mới thả nuôi; bệnh xuất hiện cao điểm là vào mùa mưa lũ nhất là tháng 7, tháng 8 hằng năm. Bệnh có thể xuất hiện nhiều lần trong một vụ nuôi và gây thiệt hại từ 10 - 50% tùy thuộc vào chế độ chăm sóc và quản lý. - Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh xảy ra ở hầu hết các vùng ương giống và nuôi cá da trơn thâm canh. - Phương thức truyền lây: Bệnh lây từ nguồn nước có nhiễm E. ictaluri, từ cá mắc bệnh hoặc cá nhiễm bệnh sang cá khỏe trong cùng một ao, di chuyển từ ao nuôi này sang ao nuôi khác hoặc từ vùng nuôi này sang vùng nuôi khác. Mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể gây nhiễm bệnh cho cá khỏe qua dụng cụ chăm sóc có mang mầm bệnh (như thau, vợt, lưới…). - Dấu hiệu bệnh lý: Thể cấp tính: Cá chết nhanh sau vài ngày, không rõ dấu hiệu bệnh lý bên ngoài.
Cá tra mắc bệnh gan thận mủ
Thể mãn tính: Cá chết rải rác trong vài tuần hoặc kéo dài hơn. Triệu chứng: Ở giai đoạn đầu, triệu chứng của bệnh chưa rõ ràng. Cá bơi lờ đờ, giảm ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, ít phản ứng với những tác động xung quanh. Giai đoạn tiếp theo, cá bệnh có hiện tượng da nhợt nhạt; mặc dù bên ngoài không có những biểu hiện bệnh rõ ràng nhưng bên trong nội tạng xuất hiện nhiều đốm trắng (ổ mủ) trên gan, thận và lách. - Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu bệnh phẩm được xét nghiệm tại các Phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT. Bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas hydrophila Bệnh xuất huyết hay còn gọi là bệnh đốm đỏ, bệnh nhiễm trùng máu do vi khuẩn Aeromonas hydrophila ở cá. - Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila thuộc họ Aeromonadaceae gây ra. - Loài cảm nhiễm: Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus), cá basa (Pangasius bocourti) và một số loài cá nước ngọt. - Mùa vụ xuất hiện bệnh: Ở Việt Nam, bệnh xuất huyết do A. hydrophila có thể xảy ra quanh năm, thường tập trung vào đầu mùa khô và dễ bùng phát khi cá bị stress, đặc biệt sau những đợt mưa (Cục Thủy sản và Kiểm ngư, 2026).
Ảnh: uv-vietnam
- Vùng xuất hiện bệnh: Ở nước ta bệnh xuất hiện ở hầu hết các loài cá nuôi lồng, bè và ao hồ nước ngọt. - Phương thức truyền lây: Bệnh lây từ cá mắc bệnh hoặc cá nhiễm bệnh sang cá khỏe trong cùng một ao nuôi. Mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể gây bệnh trực tiếp cho cá khỏe qua dụng cụ chăm sóc nhiễm bệnh (như thau, vợt, lưới…). Mầm bệnh có thể tồn tại và phát triển trong môi trường nước ao nuôi và di chuyển từ ao này sang ao khác, từ vùng nuôi này sang vùng nuôi khác. Aeromonas hydrophila là vi khuẩn cơ hội, thường gây bùng phát bệnh khi cá bị stress và điều kiện môi trường ao nuôi suy giảm như ô nhiễm hữu cơ, thiếu ôxy hòa tan, biến động nhiệt độ, pH hoặc sau các đợt mưa lớn. - Dấu hiệu bệnh lý: Triệu chứng: Giai đoạn đầu sau khi nhiễm bệnh cá kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên tầng mặt. Da cá thường đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt. Ở giai đoạn tiếp theo, xuất hiện hiện tượng lồi mắt, phù đầu, đốm đỏ trên thân, xuất huyết vây, quanh miệng,
22 mắt và hậu môn. Xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ. Trên vết loét thường có nấm và ký sinh trùng ký sinh. Mắt lồi đục, quanh hốc mắt bị sưng tấy, mất nhớt; hậu môn viêm xuất huyết; bụng trướng to, các vây xơ rách. Bệnh tích: Ruột có thể chứa đầy hơi, gan thận thường bị hoại tử. Xoang bụng xuất huyết, gan tái nhợt, mật sưng to, thận sưng, xuất huyết. Trường hợp cấp tính, khi mổ cá thấy nhiều dịch đỏ lẫn máu ở xoang bụng, xuất huyết nội tạng, cá chết nhiều trong thời gian ngắn. - Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu bệnh phẩm được xét nghiệm tại các Phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT. Phòng bệnh Cục Thủy sản và Kiểm ngư khuyến cáo, các cơ sở nuôi cá thương phẩm cần áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp, quản lý ao nuôi theo quy định của pháp luật về thú y và khuyến cáo của các cơ quan chuyên ngành thú y, thủy sản, trong đó lưu ý một số nội dung sau: - Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định. Mật độ thả nuôi theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo mật độ thích hợp cho cá phát triển tốt. - Sử dụng lượng thức ăn vừa đủ, tránh dư thừa giúp giảm lượng chất thải trong ao
thuysanvietnam.com.vn nuôi, góp phần giảm ô nhiễm môi trường nước, hạn chế sự phát triển và truyền lây của vi khuẩn gây bệnh. - Theo dõi sức khỏe cá hằng ngày (màu sắc, khả năng hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ; kiểm tra màu nước, các chỉ tiêu môi trường, sự xuất hiện của các yếu tố địch hại) để phát hiện sớm, điều chỉnh và xử lý kịp thời, đặc biệt cá ở giai đoạn dưới 5 tháng tuổi và giai đoạn chuyển mùa (Cục Thủy sản và Kiểm ngư, 2026); có thể lấy mẫu định kỳ cá ở giai đoạn này để kiểm tra vi khuẩn trên gan, thận và lá lách. - Tăng cường chăm sóc, sử dụng thức ăn bảo đảm dinh dưỡng, bổ sung vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, chế phẩm sinh học... giúp nâng cao sức đề kháng cho cá. - Chủ cơ sở nuôi cần theo dõi nắm thông tin về tình hình dịch bệnh xảy ra trong khu vực/vùng, tình hình dự báo thời tiết và cảnh báo dịch bệnh của cơ quan chuyên môn để có biện pháp chủ động phòng tránh dịch bệnh. - Chủ cơ sở nuôi cần chú trọng quản lý và hạn chế các yếu tố gây stress cho cá như thay nước đột ngột, biến động nhiệt độ, pH, hàm lượng ôxy hòa tan; điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp trong điều kiện thời tiết bất lợi, nhằm giảm nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh. - Quản lý tốt môi trường nước trong ao nuôi, thực hiện khử trùng định kỳ ao nuôi
Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng
Ảnh: LHV
bằng các loại hóa chất dễ phân hủy, thời gian tồn lưu ngắn; có thể sử dụng các chế phẩm sinh học được phép lưu hành để cải tạo môi trường ao nuôi. - Bố trí ao trữ nước và xử lý khử trùng nước trước khi cấp cho ao nuôi; khử trùng nguồn nước trước khi thải ra ngoài môi trường. - Sử dụng các dụng cụ riêng cho từng ao nuôi và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng. - Tăng cường các biện pháp an toàn sinh học khác trong quá trình nuôi như quản lý người, động vật, phương tiện… ra vào khu vực ao nuôi. Thực hiện vệ sinh, khử trùng khi ra, vào cơ sở. Có biện pháp ngăn chặn các vật chủ trung gian (các loài chim ăn cá) có thể mang tác nhân gây bệnh vào khu vực nuôi. - Cá bệnh, cá chết và chất thải của ao bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng biện pháp phù hợp theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; không vứt cá bệnh, cá chết hoặc chất thải ra môi trường. - Trường hợp ao xảy ra bệnh ở vụ trước, cơ sở nuôi phải xử lý nước đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi xả thải. - Chỉ sử dụng thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam, phù hợp với đối tượng và mục đích sử dụng; đối với sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm khác, sử dụng sản phẩm đáp ứng quy định pháp luật hiện hành. Tuân thủ hướng dẫn sử dụng và thời gian ngừng sử dụng trước khi thu hoạch đối với sản phẩm có quy định. Xây dựng và triển khai kế hoạch giám sát dịch bệnh Giám sát chủ động: Chủ cơ sở nuôi chủ động lấy mẫu xét nghiệm định kỳ hoặc khi có nguy cơ, căn cứ tình hình dịch tễ, giai đoạn nuôi, diễn biến sức khỏe cá và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền. Giám sát bị động: Khi phát hiện cá bị bệnh, chết bất thường chủ cơ sở phải thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền/cơ quan chuyên môn theo quy định và thực hiện hướng dẫn về kiểm tra, lấy mẫu, xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh. Căn cứ vào dấu hiệu bệnh lý, nguy cơ để chỉ định các bệnh cần xét nghiệm để xác định chính xác tác nhân gây bệnh. Xử lý kết quả dương tính:
9.2026 - Chủ cơ sở nuôi cần khai báo/thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền và phối hợp thực hiện các biện pháp cảnh báo, phòng, chống bệnh theo hướng dẫn, hạn chế lây lan trong vùng nuôi. - Cá chết, cá có biểu hiện sắp chết phải được vớt ra ngay khỏi ao nuôi và tiến hành xử lý hoặc tiêu hủy theo các quy định hiện hành. Không được vứt cá mắc bệnh, cá chết ra khu vực xung quanh gây ô nhiễm môi trường và làm lây lan dịch bệnh. - Trường hợp xem xét thu hoạch cá tại ao có bệnh, việc thu hoạch, xử lý và vận chuyển phải thực hiện theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời bảo đảm yêu cầu về thú y, an toàn thực phẩm và thời gian ngừng sử dụng thuốc (nếu có). - Trường hợp cá chưa đạt kích cỡ thương phẩm: + Nếu mẫu cá cho kết quả xét nghiệm dương tính với mầm bệnh nhưng cá không có biểu hiện bệnh lý và vẫn hoạt động bình thường thì tăng cường các biện pháp chăm sóc, bổ sung các loại vitamin, khoáng chất và quản lý tốt chất lượng nước; + Trường hợp mẫu cá có biểu hiện bệnh lý, cho kết quả xét nghiệm dương tính với mầm bệnh, chủ cơ sở phối hợp với cơ quan/cán bộ chuyên môn để lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp như điều trị, thu hoạch hoặc tiêu hủy trên cơ sở tình trạng bệnh, kết quả xét nghiệm, yêu cầu an toàn thực phẩm và quy định hiện hành; + Trường hợp lựa chọn phương án điều trị nên lấy mẫu xác định tác nhân và thực hiện kháng sinh đồ khi phù hợp; việc lựa chọn kháng sinh cần căn cứ kết quả chẩn đoán, kháng sinh đồ (khi có) và hướng dẫn chuyên môn. Chỉ sử dụng kháng sinh khi thật sự cần thiết và khi cá còn khả năng hồi phục, không điều trị kháng sinh đại trà trên diện rộng. Kháng sinh lựa chọn phải là thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam, phù hợp với đối tượng và mục đích sử dụng. Cách sử dụng kháng sinh phải tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất và hướng dẫn chuyên môn phù hợp; + Trường hợp cá chết bất thường, chết tăng nhanh hoặc bệnh diễn biến cấp tính, cơ sở cần báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền/cơ quan chuyên môn để được hướng dẫn xử lý kịp thời; không tự ý sử dụng thuốc, hóa chất hoặc xả nước từ ao bệnh ra môi
23
trường khi chưa thực hiện biện pháp xử lý theo hướng dẫn. - Việc vận chuyển cá từ ao bị bệnh phải thực hiện theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm không làm lây lan dịch bệnh. Cá được vận chuyển đến cơ sở chế biến trong các dụng cụ chuyên dụng, đảm bảo an toàn vệ sinh thú y. Dụng cụ sau khi vận chuyển cá phải được vệ sinh khử trùng theo quy định của pháp luật. - Nước và bùn đáy ao được xử lý (khử trùng) đảm bảo không còn mầm bệnh. Bờ ao, công cụ, dụng cụ, phương tiện chứa đựng cá bệnh phải được vệ sinh, khử trùng, tiêu độc. - Đối với các ao không bị bệnh, cần theo dõi chặt chẽ các chỉ tiêu môi trường, sức khỏe cá; tăng cường chế độ chăm sóc quản lý nâng cao sức đề kháng cho cá; thực hiện
các biện pháp phòng bệnh, hạn chế người qua lại giữa các ao. - Trong quá trình thực hiện kế hoạch giám sát sức khỏe cá nuôi, chủ cơ sở tự đánh giá và điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với yêu cầu thực tế và đáp ứng yêu cầu về giám sát dịch bệnh.
Kim Tiến
Tài liệu tham khảo: Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026), Phụ lục 01. Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên cá da trơn, kèm theo Quyết định số 108/QĐ-TSKN ngày 17 tháng 3 năm 2026.
24
thuysanvietnam.com.vn
Ảnh: Tép Bạc
CHUYÊN TRANG VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT THỦY SẢN - CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
Sử dụng thuốc thú y thủy sản đúng quy định và tránh tồn dư kháng sinh Thuốc thú y thủy sản là một trong những công cụ hỗ trợ người nuôi kiểm soát dịch bệnh và duy trì sức khỏe vật nuôi. Lựa chọn đúng sản phẩm, sử dụng đúng mục đích, liều lượng và thời gian quy định là yêu cầu cần thiết để nâng cao hiệu quả và hạn chế nguy cơ tồn dư trong sản phẩm thủy sản.
9.2026 Lựa chọn thuốc có nguồn gốc rõ ràng Ngay từ khâu lựa chọn sản phẩm, người nuôi cần ưu tiên thuốc có nguồn gốc rõ ràng. Chỉ sử dụng thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam, phù hợp với đối tượng thủy sản, công dụng và hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn. Khi mua, cần kiểm tra đầy đủ thông tin trên bao bì, nhãn sản phẩm, gồm: tên sản phẩm; thành phần, hàm lượng hoạt chất; công dụng; đối tượng và phạm vi sử dụng; thông tin về lưu hành; ngày sản xuất; hạn sử dụng; tên, địa chỉ của đơn vị sản xuất, kinh doanh và các thông tin hướng dẫn sử dụng khác. Đối với thuốc thú y, cần đặc biệt lưu ý hướng dẫn về liều lượng, cách dùng và thời gian ngừng sử dụng trước khi thu hoạch. Chỉ sử dụng sản phẩm có nhãn mác đầy đủ, còn hạn sử dụng và bao bì nguyên vẹn. Không mua các sản phẩm bị mất nhãn, nhãn không rõ thông tin, bao bì rách, biến dạng hoặc không xác định được thành phần và đơn vị chịu trách nhiệm. Trường hợp sản phẩm đã hết hạn sử dụng, thay đổi màu sắc, mùi, trạng thái hoặc có dấu hiệu hư hỏng cũng không được tiếp tục sử dụng, ngay cả khi sản phẩm vẫn còn trong bao bì. Tuyệt đối không sử dụng thuốc thú y cấm sử dụng tại Việt Nam; thuốc thú y không được phép lưu hành tại Việt Nam; thuốc thú y không rõ nguồn gốc, xuất xứ, quá hạn sử dụng; nguyên liệu làm thuốc thú y, nguyên liệu làm thuốc dùng trong y tế và thuốc dùng trong y tế để phòng bệnh, chữa bệnh cho động vật thủy sản. Tuân thủ nguyên tắc “4 đúng” Nguyên tắc “4 đúng” gồm đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc và đúng cách là cơ sở quan
25
trọng để sử dụng thuốc hiệu quả và an toàn. Đúng thuốc: Trước hết là xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và lựa chọn sản phẩm phù hợp với tác nhân, đối tượng thủy sản và điều kiện nuôi. Khi cần điều trị bằng thuốc, người nuôi cần thực hiện theo hướng dẫn sử dụng của sản phẩm và tham khảo cán bộ chuyên môn hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền. Chẩn đoán đúng nguyên nhân giúp lựa chọn biện pháp xử lý hiệu quả, tránh dùng thuốc sai bệnh, gây lãng phí chi phí và gia tăng áp lực lên vật nuôi, môi trường. Đúng liều: Là sử dụng đúng lượng thuốc được hướng dẫn cho khối lượng hoặc sinh khối thủy sản, thể tích nước và thời gian điều trị. Không tự ý tăng liều với quan niệm liều cao sẽ giúp bệnh nhanh khỏi, cũng không giảm liều để tiết kiệm chi phí. Liều không đủ có thể làm giảm hiệu quả điều trị, trong khi quá liều làm tăng nguy cơ ảnh hưởng đến vật nuôi, môi trường và tồn dư thuốc.
Đối với thuốc trộn thức ăn, cần căn cứ lượng thức ăn thực tế và sinh khối thủy sản để tính lượng thuốc phù hợp. Thức ăn sau khi trộn phải được phân bố đồng đều. Khi thủy sản giảm ăn nghiêm trọng, cần cân nhắc phương pháp này vì lượng thuốc thực tế hấp thu có thể không đạt yêu cầu. Đúng lúc: Người nuôi cần sử dụng thuốc vào thời điểm phù hợp với tình trạng bệnh và điều kiện môi trường. Cần phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, xác định nguyên nhân và can thiệp kịp thời; không chờ bệnh diễn
biến nặng mới bắt đầu xử lý, nhưng cũng không nên sử dụng thuốc ngay khi chỉ mới xuất hiện một vài dấu hiệu chưa rõ nguyên nhân. Phát hiện sớm, xác định nguyên nhân và can thiệp đúng thời điểm sẽ giúp nâng cao hiệu quả xử lý. Đặc biệt, cần lưu ý điều kiện môi trường trước và trong quá trình điều trị. Nếu ao đang thiếu ôxy, nhiệt độ quá cao hoặc chất lượng nước biến động mạnh, việc sử dụng thuốc mà không khắc phục các yếu tố bất lợi có thể khiến hiệu quả điều trị thấp. Trong nhiều trường hợp, ổn định môi trường và giảm stress cho vật nuôi là bước cần thực hiện song song với xử lý bệnh. Đúng cách: Là tuân thủ phương pháp sử dụng được hướng dẫn, không tự ý phối trộn nhiều sản phẩm khi chưa xác định khả năng tương tác giữa các hoạt chất. Với thuốc dùng qua thức ăn, cần trộn đúng kỹ thuật để thuốc bám đều và hạn chế thất thoát xuống nước. Với sản phẩm dùng trực tiếp trong môi trường, phải tính toán đúng thể tích nước và bảo đảm điều kiện sử dụng phù hợp. Sử dụng thuốc, sản phẩm xử lý môi trường cần tuân thủ đúng liều lượng, cách dùng và thời gian sử dụng theo hướng dẫn Ảnh: Tép Bạc
26 Không nên tự ý trộn nhiều loại kháng sinh hoặc phối hợp kháng sinh với hóa chất, chất xử lý môi trường khi chưa có hướng dẫn chuyên môn. Việc phối hợp không phù hợp có thể làm giảm tác dụng của thuốc hoặc tạo thêm áp lực lên môi trường nuôi. Sử dụng kháng sinh đúng quy định Kháng sinh là công cụ quan trọng trong điều trị một số bệnh do vi khuẩn, nhưng đây không phải là giải pháp có thể sử dụng cho mọi trường hợp thủy sản bị bệnh. Một nguyên tắc quan trọng là chỉ sử dụng kháng sinh khi đã xác định bệnh có liên quan đến vi khuẩn; không sử dụng kháng sinh để kích thích trưởng hoặc
thuysanvietnam.com.vn dùng thường quy để phòng bệnh; việc sử dụng kháng sinh phải căn cứ vào chẩn đoán, hướng dẫn sử dụng và hướng dẫn chuyên môn phù hợp. Khi thủy sản có dấu hiệu nghi mắc bệnh do vi khuẩn, cần xác định nguyên nhân trước khi lựa chọn thuốc. Trường hợp có điều kiện, nên lấy mẫu xét nghiệm để xác định tác nhân gây bệnh và thực hiện kháng sinh đồ nhằm đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với các hoạt chất. Đây là cơ sở giúp lựa chọn thuốc phù hợp, hạn chế sử dụng kháng sinh không hiệu quả và giảm nguy cơ phát sinh kháng thuốc. Việc lựa chọn kháng sinh cần căn cứ vào tác nhân gây bệnh, kết quả chẩn đoán và kháng
sinh đồ khi có, phổ tác dụng của thuốc và hướng dẫn sử dụng; cần thực hiện theo hướng dẫn chuyên môn. Khi đã xác định được vi khuẩn gây bệnh và có thông tin về mức độ nhạy cảm, ưu tiên lựa chọn hoạt chất có hiệu quả trên tác nhân đó, theo hướng sử dụng phổ hẹp khi phù hợp, thay vì sử dụng kháng sinh phổ rộng trong mọi trường hợp. Trong quá trình điều trị, cần tuân thủ đúng liều lượng, cách dùng và thời gian sử dụng theo hướng dẫn. Không tự ý dừng thuốc khi thủy sản mới bắt đầu có dấu hiệu cải thiện, đồng thời không kéo dài thời gian điều trị khi không có chỉ định. Đặc biệt, cần tuân thủ thời gian ngừng sử dụng kháng sinh trước khi thu hoạch theo quy định hoặc hướng dẫn đối với sản phẩm đã dùng. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm hạn chế tồn dư thuốc trong sản phẩm thủy sản. Xử lý khi điều trị không hiệu quả Nếu thủy sản không cải thiện sau thời gian điều trị theo hướng dẫn, cần đánh giá lại nguyên nhân thay vì tiếp tục sử dụng thuốc theo kinh nghiệm. Trước hết, kiểm tra diễn biến bệnh, tình trạng sức khỏe đàn thủy sản và các yếu tố môi trường như chất lượng nước, ôxy hòa tan, nhiệt độ, lượng thức ăn và khả năng bắt mồi. Nếu nghi ngờ bệnh do vi khuẩn, cần xem xét lại kết quả chẩn đoán. Trường hợp có điều kiện, nên lấy mẫu xét nghiệm, xác định lại vi khuẩn gây bệnh và thực hiện kháng sinh đồ để có cơ sở lựa chọn hoạt chất phù hợp. Với thuốc sử dụng qua thức ăn, cũng cần lưu ý khả năng thủy sản giảm ăn làm lượng thuốc đưa vào cơ thể không đạt yêu cầu. Không tự ý tăng liều, phối hợp nhiều loại kháng sinh, đổi thuốc
hoặc kéo dài thời gian điều trị khi chưa có hướng dẫn chuyên môn. Nếu bệnh tiếp tục diễn biến nặng, tỷ lệ chết tăng hoặc chưa xác định được nguyên nhân, cần liên hệ cán bộ chuyên môn hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để được hướng dẫn. Việc xử lý đúng nguyên nhân không chỉ nâng cao hiệu quả điều trị mà còn hạn chế nguy cơ tồn dư và kháng kháng sinh. Sử dụng sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản đúng quy định Bên cạnh thuốc thú y thủy sản, các sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản cũng được sử dụng để hỗ trợ cải thiện điều kiện ao nuôi. Người nuôi cần lựa chọn sản phẩm đáp ứng quy định pháp luật hiện hành, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và đọc kỹ thông tin về thành phần, công dụng, đối tượng sử dụng, liều lượng trước khi áp dụng. Không nên sử dụng sản phẩm xử lý môi trường một cách tùy tiện hoặc kết hợp nhiều sản phẩm khi chưa xác định rõ khả năng tương tác. Việc sử dụng cần căn cứ vào tình trạng thực tế của ao, các chỉ tiêu môi trường và hướng dẫn của nhà sản xuất. Đặc biệt, không xem sản phẩm xử lý môi trường là biện pháp thay thế cho quản lý chất lượng nước, thức ăn và sức khỏe vật nuôi. Sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng quy định pháp luật hiện hành và bảo đảm an toàn cho thủy sản, người sử dụng và môi trường. Bảo quản thuốc và sản phẩm xử lý môi trường an toàn Bảo quản thuốc thú y thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường đúng điều kiện giúp duy trì chất lượng sản phẩm, hạn chế biến đổi thành phần và tránh nguy cơ sử dụng nhầm. Sau khi mua,
9.2026 người nuôi cần giữ sản phẩm trong bao bì gốc, có nhãn đầy đủ và bảo quản theo điều kiện ghi trên nhãn hoặc bao bì sản phẩm, tránh ánh nắng trực tiếp, nguồn nhiệt và ẩm ướt. Thuốc và sản phẩm xử lý môi trường cần được sắp xếp riêng, có phân loại rõ ràng để thuận tiện kiểm tra và sử dụng. Không đặt chung với thức ăn thủy sản, dụng cụ chứa thức ăn hoặc các vật dụng phục vụ sinh hoạt. Các sản phẩm đã mở bao bì cần được đóng kín sau mỗi lần sử dụng, tránh để tiếp xúc với nước, bụi bẩn hoặc các tác nhân có thể làm thay đổi chất lượng sản phẩm. Người nuôi cần thường xuyên kiểm tra tên sản phẩm, hạn sử dụng, tình trạng bao bì và chất lượng sản phẩm trong quá trình bảo quản. Cần tuân thủ các yêu cầu an toàn ghi trên nhãn, đồng thời bố trí khu vực bảo quản phù hợp, hạn chế nguy cơ đổ vỡ, tiếp xúc trực tiếp hoặc gây ảnh hưởng đến người, vật nuôi và môi trường. Không vứt thuốc, sản phẩm xử lý môi trường và bao bì ra môi trường Trong quá trình nuôi trồng thủy sản, thuốc thú y và sản phẩm xử lý môi trường sau khi sử dụng nếu không được thu gom, xử lý đúng cách có thể trở thành nguồn gây ô nhiễm cho ao nuôi và môi trường xung quanh. Người nuôi không vứt thuốc, sản phẩm xử lý môi trường còn dư, dung dịch đã qua sử dụng hoặc bao bì xuống ao, kênh mương, sông, suối và các khu vực tự nhiên. Đặc biệt, không đổ trực tiếp phần sản phẩm còn thừa ra nguồn nước với mục đích loại bỏ nhanh. Lượng sản phẩm còn lại có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước, hệ sinh vật trong ao và nguồn nước tiếp nhận.
27 Sau khi sử dụng, chai, lọ, túi, can và các loại bao bì thuốc thú y, sản phẩm xử lý môi trường cần được thu gom riêng, không vứt lẫn với rác sinh hoạt hoặc bỏ tùy tiện trên bờ ao. Việc thu gom cần thực hiện ngay sau khi sử dụng để hạn chế nguy cơ bao bì bị cuốn xuống ao hoặc phát tán ra môi trường. Đối với sản phẩm còn dư, người nuôi cần xử lý theo hướng dẫn của nhà sản xuất và quy định hiện hành, không tự ý đổ bỏ hoặc pha loãng rồi xả ra môi trường. Bên cạnh đó, cần chú ý đến dụng cụ và khu vực pha, sử dụng sản phẩm. Không rửa dụng cụ chứa thuốc hoặc sản phẩm xử lý môi trường trực tiếp tại ao nuôi, kênh cấp nước hoặc nguồn nước sinh hoạt. Bao bì sau sử dụng cũng không được tận dụng để chứa thức ăn, nước uống, thuốc hoặc các vật dụng khác trong gia đình. Ghi chép nhật ký Là yêu cầu rất quan trọng đối với cơ sở nuôi hướng tới sản xuất an toàn và truy xuất nguồn gốc. Nhật ký nên thể hiện rõ tên thuốc hoặc sản phẩm, nguồn gốc, ngày sử dụng, đối tượng thủy sản, liều lượng, tổng lượng sử dụng, thời gian điều trị, ngày cuối cùng sử dụng thuốc, thời gian ngừng sử dụng và ngày sớm nhất được phép thu hoạch. Việc ghi chép không nên được thực hiện chỉ để hoàn thiện hồ sơ khi có kiểm tra. Nhật ký là công cụ giúp người nuôi nhìn lại toàn bộ quá trình sản xuất. Qua đó có thể biết ao nào thường xuyên phát sinh bệnh, thời điểm nào phải sử dụng thuốc, loại sản phẩm nào đã sử dụng và hiệu quả ra sao. Nhật ký đầy đủ cũng giúp hạn chế việc sử dụng trùng hoạt chất hoặc lặp lại một loại thuốc trong thời gian ngắn. Khi có vấn
Lựa chọn thuốc, sản phẩm xử lý môi trường có nguồn gốc rõ ràng Ảnh: ST đề về sức khỏe vật nuôi, người nuôi hoặc cán bộ kỹ thuật có thể dựa vào lịch sử điều trị để đưa ra quyết định phù hợp hơn thay vì xử lý theo cảm tính.
Thái Thuận Tài liệu tham khảo: Luật Thủy sản số 18/2017/ QH14 ngày 21/11/2017, và các văn bản sửa đổi, bổ sung còn hiệu lực.
Luật Thú y số 79/2015/QH13 ngày 19/6/2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung còn hiệu lực. Thông tư số 18/2024/TTBNNPTNT ngày 29/11/2024 về Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam, Danh mục thuốc thú y cấm sử dụng tại Việt Nam. Thông tư số 16/2026/TTBNNMT ngày 09/03/2026 quy định về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản.
28 | TƯ VẤN - PHẢN BIỆN
Hệ sinh thái
Nền tảng phát triển thủy sản bền vững Hệ sinh thái quyết định sự tồn tại và phát triển của ngành thủy sản. Không chỉ cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ, nơi ươm dưỡng và nguồn thức ăn cho các loài thủy sinh, hệ sinh thái còn điều hòa môi trường nước, duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ vùng ven biển. Vì vậy, phát triển thủy sản bền vững phải gắn với bảo vệ, phục hồi và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái tự nhiên.
thuysanvietnam.com.vn
9.2026 Cấu trúc của hệ sinh thái Hệ sinh thái là một thể thống nhất gồm quần xã sinh vật và môi trường vô sinh, liên kết với nhau thông qua dòng năng lượng, vòng tuần hoàn vật chất và các quan hệ sinh thái. Xét theo chức năng, hệ sinh thái gồm sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân giải và môi trường vô sinh. Sinh vật sản xuất: Sinh vật sản xuất là các sinh vật tự dưỡng, có khả năng tạo chất hữu cơ từ chất vô cơ nhờ năng lượng ánh sáng hoặc năng lượng hóa học. Trong hệ sinh thái thủy sinh, nhóm này gồm thực vật phù du, tảo bám, rong biển, cỏ biển, thực vật thủy sinh bậc cao và một số vi sinh vật hóa tự dưỡng. Sinh vật tiêu thụ: Sinh vật tiêu thụ là các sinh vật dị dưỡng, sử dụng sinh vật khác hoặc chất hữu cơ có sẵn làm thức ăn. Nhóm này gồm sinh vật tiêu thụ bậc 1 như động vật phù du và cá ăn thực vật; bậc 2 như cá nhỏ, tôm và một số động vật không xương sống; bậc cao như cá lớn, chim ăn cá và các loài săn mồi khác. Sinh vật phân giải: Sinh vật phân giải, chủ yếu là vi khuẩn và nấm, phân hủy xác sinh vật, chất thải và vật chất hữu cơ, giải phóng chất dinh dưỡng vô cơ để sinh vật sản xuất tiếp tục sử dụng. Chúng hoạt động trong nước, bùn đáy, lá mục và xác sinh vật, trong cả điều kiện có ôxy và thiếu ôxy. Cần phân biệt sinh vật phân giải với động vật ăn mùn bã. Giun, một số loài cua, tôm và hải sâm chỉ ăn, nghiền nhỏ vật chất hữu cơ để hỗ trợ quá trình phân hủy nên vẫn thuộc nhóm sinh vật tiêu thụ. Sinh vật phân giải tác động lên vật chất từ mọi bậc dinh dưỡng, góp phần khép kín vòng tuần hoàn vật chất. Môi trường vô sinh: Môi trường vô sinh gồm nước, đất và trầm tích đáy, không khí, ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, sóng, dòng
TƯ VẤN - PHẢN BIỆN | 29 Nhóm SV tiêu thụ
Nhóm SV sản xuất
Nhóm SV phân giải
Môi trường vô sinh: Đất, Nước, Không khí chảy và thủy triều. Nhiệt độ, độ pH, độ trong, ôxy hòa tan và chất dinh dưỡng quyết định sự sinh trưởng, phân bố của sinh vật. Đất và trầm tích đáy là nơi cây bám rễ, sinh vật đáy cư trú, chất dinh dưỡng tích tụ và quá trình phân giải diễn ra. Sóng, dòng chảy và thủy triều vận chuyển vật chất, điều hòa nhiệt độ và kết nối các khu vực sinh thái. Sự tương tác giữa các thành phần của hệ sinh thái Các thành phần của hệ sinh thái thủy sinh liên kết chặt chẽ và tác động qua lại. Sinh vật sản xuất quang hợp, tạo chất hữu cơ và ôxy, đồng thời cung cấp thức ăn, giữ bùn, hạn chế xói lở và ổn định nền đáy. Sinh vật tiêu thụ truyền năng lượng qua các bậc dinh dưỡng, kiểm soát quần thể và có thể cạnh tranh hoặc hỗ trợ lẫn nhau. Rừng ngập mặn và thảm cỏ biển còn là nơi trú ẩn, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài thủy sinh. Vi khuẩn và nấm phân giải xác sinh vật, lá rụng và chất thải, trả lại chất dinh dưỡng cho môi trường. Nhờ đó, vật chất được tuần hoàn, còn năng lượng truyền một chiều qua chuỗi thức ăn và dần tiêu tán dưới dạng nhiệt. Môi trường và sinh vật tác động lẫn nhau: ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, ôxy hòa tan và dòng chảy chi phối đời sống sinh vật; ngược lại, sinh vật làm thay đổi lượng ôxy, phù sa và trầm tích. Khi các mối quan hệ này được duy trì trong khả năng tự điều chỉnh, hệ sinh thái giữ được cân bằng. Nếu vượt quá sức chịu đựng, hệ sinh
thái có thể suy thoái. Chẳng hạn, nước thải giàu dinh dưỡng khiến tảo phát triển quá mức; khi tảo chết và bị phân hủy, ôxy trong nước giảm mạnh, làm cá và sinh vật đáy suy yếu hoặc chết. Hiện tượng này gọi là phú dưỡng. Hệ sinh thái có phải là một hệ thống sống? Hệ sinh thái là một hệ thống sống vì nó có tổ chức, thường xuyên trao đổi với môi trường và có khả năng tự điều chỉnh, thích nghi, phục hồi trong những giới hạn nhất định. Đặc điểm này thể hiện ở ba phương diện: vật chất được tuần hoàn qua quá trình sản xuất, tiêu thụ và phân giải; năng lượng mặt trời được chuyển thành năng lượng hóa học rồi truyền qua các bậc dinh dưỡng; thông tin và cơ chế phản hồi hình thành từ hành vi và sự tương tác giữa sinh vật với môi trường. Khả năng cảm nhận và đáp ứng trước hết thuộc về từng sinh vật. Cá có thể rời vùng thiếu ôxy, thực vật hướng về ánh sáng, động vật thay đổi nơi sống khi nhiệt độ hoặc độ mặn biến động. Khi diễn ra ở nhiều cá thể và loài, các phản ứng này làm thay đổi quần thể, lưới thức ăn và toàn bộ hệ sinh thái. Hệ sinh thái không có cơ quan trung tâm tiếp nhận và xử lý thông tin, cũng không có ý thức hay khả năng suy nghĩ. Phản ứng của hệ thống hình thành từ mạng lưới tương tác và các cơ chế phản hồi giữa các thành phần. Nhờ đó, hệ sinh thái có thể tự điều chỉnh và phục hồi trong một giới hạn nhất định.
Khung pháp lý, thách thức và giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, mạng lưới sông ngòi dày đặc và trên 1 triệu ha đất ngập nước. Vì vậy, bảo vệ hệ sinh thái biển, ven biển và đất ngập nước có ý nghĩa quan trọng đối với đa dạng sinh học, sinh kế và chủ quyền quốc gia. Khung pháp lý nền tảng Luật Đa dạng sinh học năm 2008 quy định bảo tồn và sử dụng bền vững hệ sinh thái tự nhiên; nghiêm cấm lấn chiếm, phá hoại hệ sinh thái và nuôi, trồng loài ngoại lai xâm hại trong khu bảo tồn. Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 yêu cầu gắn quy hoạch, khai thác tài nguyên với bảo vệ môi trường, cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái biển, hải đảo và ven bờ. Luật Thủy sản năm 2017 quy định việc quản lý nguồn lợi và hệ sinh thái thủy sinh tại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và khu bảo tồn đất ngập nước; đồng thời kiểm soát các hoạt động gây ảnh hưởng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngập nước. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 149/QĐ-TTg năm 2022) yêu cầu lồng ghép bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước vào quản lý khu bảo tồn, duy trì chế độ thủy văn tự nhiên và chất lượng nước. Các nghị định chuyên ngành cũng quy định hạn chế sử dụng hóa chất gây suy thoái đất ngập
30 nước và nghiêm cấm hành vi phá hủy hệ sinh thái, gây ô nhiễm trong khu bảo tồn. Theo hướng dẫn thực hiện Công ước Ramsar tại Việt Nam, đất ngập nước quan trọng gồm khu vực có quy mô từ 50 ha ở vùng ven biển, ven đảo hoặc từ 5 ha ở vùng nội địa, đồng thời có hệ sinh thái tự nhiên, kiểu đất ngập nước đặc thù hoặc là nơi sinh sống thường xuyên của các loài đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm. Hạn chế thách thức trong kiểm soát và quản lý hệ sinh thái Sự thiếu đồng bộ trong chính sách và quản lý nhà nước Quản lý còn mang tính đơn ngành, phân tán: Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển chịu sự quản lý của nhiều ngành như tài nguyên và môi trường, nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, xây dựng và du lịch. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến chồng chéo về thẩm quyền hoặc bỏ trống trách nhiệm quản lý. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ: Các quy định về bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý đất đai, tài nguyên nước, rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường chưa được liên kết thành một cơ chế quản lý thống nhất. Một số quy định còn thiếu cụ thể, chưa xác định rõ ranh giới và chế độ quản lý đối với từng loại đất ngập nước. Quy hoạch còn thiếu tính tích hợp: Quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị, giao thông, du lịch, thủy sản và bảo tồn thiên nhiên đôi khi được lập riêng biệt, chưa xem xét đầy đủ mối liên hệ giữa các hoạt động kinh tế với chức năng sinh thái của vùng đất ngập nước. Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế: Việc theo dõi biến động diện tích, chất lượng môi
thuysanvietnam.com.vn trường và đa dạng sinh học chưa được thực hiện thường xuyên. Cơ sở dữ liệu còn phân tán, thiếu cập nhật và chưa được chia sẻ hiệu quả giữa các cơ quan. Nguồn lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu: Kinh phí, nhân lực chuyên môn, thiết bị quan trắc và năng lực thực thi pháp luật tại địa phương còn hạn chế. Một số hành vi lấn chiếm, san lấp, xả thải hoặc khai thác trái phép chưa được phát hiện và xử lý kịp thời. Áp lực từ phát triển kinh tế Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: Nhiều diện tích rừng ngập mặn, bãi triều, đầm phá và cửa sông bị chuyển đổi để xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, cảng biển, cơ sở du lịch, hạ tầng giao thông hoặc vùng nuôi trồng thủy sản. Quá trình này làm thu hẹp và chia cắt sinh cảnh tự nhiên. Ưu tiên lợi ích kinh tế ngắn hạn: Giá trị sinh thái của đất ngập nước như phòng chống bão, chống xói lở, điều hòa nước, hấp thụ carbon và duy trì nguồn lợi thủy sản chưa được tính đầy đủ trong các quyết định đầu tư. Vì vậy, lợi ích trước mắt từ khai thác và chuyển đổi đất thường được ưu tiên hơn lợi ích bảo tồn lâu dài. Ô nhiễm môi trường ngày càng lan rộng: Nước thải sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và nuôi trồng thủy sản chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu được thải vào sông, cửa biển và đầm phá. Chất thải rắn, rác thải nhựa, hóa chất nông nghiệp và dầu mỡ từ hoạt động hàng hải làm suy giảm chất lượng nước và trầm tích. Khai thác tài nguyên quá mức: Đánh bắt thủy sản tận diệt, khai thác con non, sử dụng ngư cụ bị cấm, chặt phá rừng ngập mặn và khai thác cát thiếu kiểm soát làm suy giảm nguồn lợi sinh vật, phá vỡ chuỗi thức ăn và khả năng phục hồi tự nhiên của hệ sinh thái. Sinh kế của cộng đồng còn phụ thuộc lớn vào tài nguyên: Người
dân ven biển thường phụ thuộc trực tiếp vào đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và khai thác tài nguyên tự nhiên. Khi thiếu sinh kế thay thế, việc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác và bảo tồn thường gặp khó khăn. Tác động của biến đổi khí hậu Nước biển dâng và xâm nhập mặn: Nước biển dâng làm ngập các vùng đất thấp, thay đổi độ mặn và chế độ thủy văn, gây suy thoái rừng ngập mặn, bãi triều và các vùng sinh sản của nhiều loài thủy sinh. Gia tăng thiên tai cực đoan: Bão mạnh, mưa lớn, triều cường, lũ lụt, hạn hán và sóng nhiệt xảy ra với cường độ và tần suất khó dự báo hơn. Những hiện tượng này gây xói lở bờ biển, phá hủy sinh cảnh và làm giảm khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái. Không gian thích nghi tự nhiên bị thu hẹp: Khi nước biển dâng, rừng ngập mặn và các sinh cảnh ven biển cần dịch chuyển vào phía đất liền. Tuy nhiên, đê biển, đường giao thông, khu dân cư và công trình xây dựng đã cản trở quá trình dịch chuyển này, tạo ra hiện tượng “dồn ép ven biển”. Thiếu các biện pháp thích ứng linh hoạt: Công tác quản lý vẫn chủ yếu dựa vào các công trình cứng như đê, kè và tường chắn sóng, trong khi chưa chú trọng đúng mức các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ bãi triều và tạo hành lang sinh thái. Dự báo và kế hoạch ứng phó còn hạn chế: Việc lồng ghép các kịch bản biến đổi khí hậu vào quy hoạch và quản lý đất ngập nước chưa đầy đủ. Các kế hoạch thường thiếu cơ chế điều chỉnh linh hoạt khi điều kiện khí hậu, thủy văn và đường bờ biển thay đổi. Các hạn chế có quan hệ và tác động lẫn. Vì vậy, cần áp dụng quản lý tổng hợp, dựa trên hệ sinh
thái, gắn bảo tồn với sinh kế bền vững và thích ứng khí hậu. Giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững Hoàn thiện pháp luật và quy hoạch: Rà soát quy định chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương và đẩy nhanh thành lập các khu bảo tồn biển, khu bảo tồn đất ngập nước. Tăng cường thực thi và giám sát: Kiểm soát hoạt động khai thác, nuôi trồng, xây dựng và xả thải; xử lý nghiêm hành vi khai thác trái phép, phá hủy hệ sinh thái hoặc gây ô nhiễm môi trường nước. Bảo đảm nguồn lực và phục hồi hệ sinh thái: Bố trí ngân sách ổn định, huy động doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nguồn lực quốc tế; ưu tiên phục hồi rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, cửa sông và vùng đất ngập nước quan trọng. Phát huy vai trò cộng đồng: Khuyến khích người dân tham gia quản lý, giám sát và khai thác bền vững; phát triển mô hình đồng quản lý gắn với sinh kế xanh, du lịch sinh thái và nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường. Đẩy mạnh điều tra và ứng dụng khoa học – công nghệ: Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, tăng cường quan trắc và ứng dụng công nghệ số, ảnh viễn thám để theo dõi biến động hệ sinh thái, cảnh báo ô nhiễm và hỗ trợ ra quyết định. Vấn đề cốt lõi để bảo tồn và khai thác bền vững hệ sinh thái vùng ngập nước biển Việt Nam là đồng bộ hóa quy hoạch không gian biển, thiết lập các khu bảo tồn, phục hồi sinh cảnh và phát triển kinh tế sinh thái có sự tham gia của cộng đồng.
Anh Vũ
9.2026
31
32 | CHẾ BIẾN
Ngành tôm sẽ về đích đúng kế hoạch Tuy tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu hạ nhiệt trong ngắn hạn và cùng với đó là những biến số khó dự đoán, nhưng sau 8 tháng đầu năm giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành tôm ước đạt 3,29 tỷ USD, chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Với kết quả trên, nhiều khả năng, ngành tôm vẫn sẽ về đích đúng kế hoạch khi các tháng còn lại cũng chính là cao điểm chế biến, xuất khẩu trong năm.
thuysanvietnam.com.vn
Tăng trưởng và phân hóa Nhìn vào bức tranh tăng trưởng của ngành tôm sau 8 tháng không khó để nhận ra sự phân hóa mạnh giữa các thị trường. Trong khi hai thị trường truyền thống lớn là Mỹ và EU đều sụt giảm thì nhóm thị trường châu Á lại cho thấy có sự tăng trưởng ổn định và khá mạnh. Sự phân hóa trên theo các doanh nghiệp chủ yếu đến từ sự tác động về mặt chính sách thương mại và sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu tôm lớn trên thế giới. Đơn cử như thị trường Mỹ, bên cạnh mức thuế bổ sung 12,5% theo Điều 301, con tôm Việt Nam còn gặp khó khăn về thuế khác là phán quyết sơ bộ về thuế chống bán phá giá (AD) khá cao. Dù phải còn chờ đến phán quyết cuối cùng, nhưng thuế AD cũng đã tác động đáng kể đến tâm lý thận trọng của cả nhà nhập khẩu Mỹ lẫn doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam trong việc ký kết các đơn hàng mới. Riêng thuế bổ sung theo Điều 301 áp cho con tôm Việt Nam được đánh giá là cao hơn các đối thủ cạnh tranh trực tiếp cũng khiến giá tôm Việt Nam kém cạnh tranh. Còn tại thị trường EU, tuy mức giảm 2,7% sau 8 tháng được xem là nhẹ hơn rất nhiều so với thị trường Mỹ, nhưng cũng cho thấy áp lực cạnh tranh giá từ Ecuador, Ấn Độ cùng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chi phí logistics đang ngày càng khắt khe. Trái với Mỹ và EU, thị trường nhóm các nước châu Á lại cho thấy có sự tăng trưởng ổn định, cá biệt một số nước tăng trưởng khá mạnh. Các con số báo cáo từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) một lần nữa khẳng định, thị trường Trung Quốc – Hồng Kông tiếp tục giữ vai trò động lực chính của toàn ngành khi tổng kim ngạch xuất khẩu tôm sang 2 thị trường này sau 8 tháng đạt 1,13
9.2026
CHẾ BIẾN | 33
Ảnh: Thanh Duy
tỷ USD, tăng tới 37,6%. Riêng Nhật Bản và Hàn Quốc đều có sự tăng trưởng ổn định với mức tăng lần lượt là 10% và 16%, trở thành thị trường “an toàn” cho con tôm Việt Nam trong bối cảnh thị trường tôm thế giới nhiều biến động. Điều này cũng cho thấy chiến lược đa dạng hóa thị trường, dịch chuyển trọng tâm sang châu Á đang phát huy hiệu quả rõ rệt trong bối cảnh Mỹ siết chặt chính sách thuế quan. Tiềm ẩn khó khăn và rủi ro Đây cũng là nhận định của hầu hết doanh nghiệp ngành tôm cho giai đoạn tăng tốc cuối năm và một trong số đó chính là biến số từ phán quyết cuối cùng của đợt rà soát thuế chống bán phá giá (dự kiến công bố vào tháng 11/2026). Nếu mức thuế cuối cùng vẫn duy trì ở mức cao, dòng hàng xuất khẩu nhiều khả năng sẽ tiếp tục chuyển hướng mạnh hơn sang châu Á, làm gia tăng nguồn cung tại các
thị trường này và tạo thêm áp lực giảm giá bán, ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Còn tại EU, tiềm ẩn rủi ro cạnh tranh giá gay gắt và các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe hơn. Ngoài ra, rủi ro về tỷ giá, chi phí logistics và biến động giá tôm nguyên liệu trong nước cũng là những yếu tố mà doanh nghiệp luôn dành sự quan tâm đặc biệt. Liên quan đến thuế chống bán phá giá, theo ông Hồ Quốc Lực Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta (một trong 2 bị đơn bắt buộc trong kỳ POR20 này) vẫn có cơ sở để kỳ vọng về một kết quả cuối cùng sẽ tích cực hơn so với kết quả sơ bộ. Ông Lực chia sẻ thận trọng: “Sao Ta sẽ tiếp tục phối hợp đầy đủ, minh bạch với DOC và bảo vệ tốt nhất quyền lợi chính đáng của mình. Chúng tôi chuẩn bị cho cả kịch bản thuận lợi và kịch bản thận trọng, không để hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào một kết quả thuế duy nhất. Tuy nhiên, đây là quá trình thuộc thẩm quyền của Bộ Thương mại Hoa Kỳ nên Sao Ta không muốn đưa ra dự báo cụ thể về mức thuế cuối cùng”. Một rủi ro khác cũng được nhận diện chính là ngành tôm Việt Nam đang trong giai đoạn “lệch trục thị trường” khi chuyển dịch từ sự phụ thuộc vào Mỹ và EU sang dựa nhiều hơn vào Trung Quốc và khu vực châu Á. Theo ông Lực, việc doanh nghiệp chuyển hướng sang thị trường châu Á là một hướng đi quan trọng trong bối cảnh thị trường Mỹ và EU có nhiều biến động. Nhưng khi nhiều doanh nghiệp cùng chuyển hướng, cạnh tranh chắc chắn sẽ tăng và gây áp lực lên giá bán, đặc biệt với sản phẩm phổ thông. “Vì vậy, theo chúng tôi, chuyển thị trường thôi là chưa
đủ. Doanh nghiệp phải đồng thời chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, sản phẩm chế biến sâu, sự ổn định của nguồn cung và uy tín thương hiệu. Đối với Sao Ta, chúng tôi ưu tiên phát triển những phân khúc mà khách hàng đánh giá cao về chất lượng và giá trị gia tăng, thay vì chạy theo sản lượng bằng mọi giá”, ông Lực cho biết thêm. Sẽ về đích đúng kế hoạch Khi được hỏi về khả năng hoàn thành kế hoạch năm 2026, tuy có đôi chút thận trọng, nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều có chung nhận định: “Năm 2026 là một năm có nhiều yếu tố khó dự báo, đặc biệt là chính sách thương mại tại thị trường Mỹ. Tuy nhiên, ngành tôm vẫn tăng trưởng và sẽ hoàn thành kế hoạch”. Cơ sở chính cho nhận định trên chủ yếu đến từ kết quả xuất khẩu 6 tháng đầu năm cùng sự chủ động tăng tốc cho giai đoạn cao điểm cuối năm. Riêng Sao Ta, theo chia sẻ từ ông Hồ Quốc Lực, vẫn duy trì sản xuất, vùng nuôi và thị trường khá ổn định nên sau 6 tháng, lợi nhuận đã đạt khoảng một nửa kế hoạch năm. Ông Lực nhận định: “Vì đặc thù quý III và quý IV thường là giai đoạn kinh doanh tốt hơn, chúng tôi vẫn có cơ sở để phấn đấu hoàn thành kế hoạch lợi nhuận. Doanh thu có thể chịu nhiều biến động hơn, nhưng chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hiệu quả và chất lượng lợi nhuận, chứ không chạy theo doanh thu bằng mọi giá”. Theo quy luật thị trường, những tháng cuối năm (từ tháng 9 đến tháng 12), nhu cầu tiêu thụ tôm tại hầu hết các thị trường đều tăng mạnh do đây là khoảng thời gian có nhiều lễ hội, như: Noel, Tết Dương lịch, Tết Nguyên Đán… nên ngay từ cuối
quý III, các doanh nghiệp đều bước vào cao điểm thu mua, chế biến, xuất khẩu. “Đặc thù của ngành tôm là trong 2 quý cuối năm thường là khoảng thời gian kinh doanh tốt nhất do nhu cầu thị trường tăng mua nhằm phục vụ các lỳ lễ, tết… Thậm chí, đây còn được xem là giai đoạn mang tính quyết định đến kết quả sản xuất cả năm của doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp đều có sự chuẩn bị từ sớm cả về hợp đồng lẫn nguyên liệu, con người… cho giai đoạn này”, ông Lực phân tích. Bước vào mùa cao điểm chế biến, xuất khẩu nhu cầu về tôm nguyên liệu thường tăng cao, kéo theo sự cạnh tranh, đẩy giá tôm trong nước tăng cao. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp hầu hết đều có sự chuẩn bị nguồn tôm nguyên liệu từ khá sớm theo kiểu: “Có xuất, có nhập” để đảm bảo đủ lượng tôm đạt chất lượng cho giai đoạn cao điểm này, nên giá cả vì thế cũng ít có sự biến động mạnh và kéo dài. Riêng năm nay, do giá tôm giảm mạnh và kéo dài ảnh hưởng đến tâm lý người nuôi làm giảm diện tích thả nuôi, nguy cơ nguồn cung tôm thẻ giảm vào cuối năm. Tuy nhiên, theo nhận định của doanh nghiệp, thiếu hụt nguyên liệu nếu có cũng chỉ xảy ra ở cuối năm. Lúc đó, nhu cầu đã không còn cao, nên cũng ít tác động hơn đối với doanh nghiệp. “Riêng Sao Ta có lợi thế nhất định nhờ vùng nuôi của doanh nghiệp và hệ thống liên kết nguyên liệu. Chúng tôi đang chủ động theo dõi sát tình hình nuôi và thu hoạch để cân đối nguyên liệu cho chế biến”, ông Lực tự tin chia sẻ.
Xuân Trường
34 | SINH KẾ NGƯ DÂN
thuysanvietnam.com.vn
Tàu cá không có nhu cầu tiếp tục hoạt động khai thác thủy sản sẽ được hỗ trợ giải bản
Hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề
Từ đào tạo kỹ năng đến bảo đảm sinh kế Chuyển đổi nghề đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng để giảm áp lực khai thác lên nguồn lợi thủy sản, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho ngư dân. Cùng với đó, nhiều địa phương đã xây dựng chính sách hỗ trợ kinh phí ổn định đời sống trong giai đoạn đầu, giúp ngư dân có thời gian thích nghi trước khi chuyển sang công việc và sinh kế mới.
Đào tạo nghề là khâu then chốt Trong quá trình cơ cấu lại ngành thủy sản, việc giảm dần những nghề khai thác tác động lớn đến nguồn lợi đặt ra một bài toán không đơn giản, nếu ngư dân rời nghề khai thác nhưng không có nghề mới và nguồn thu nhập thay thế, chính sách rất dễ gặp khó khăn khi triển khai trên thực tế. Vì vậy, đào tạo nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm và hỗ trợ đời sống đang được nhiều địa phương đặt song song với chính sách giải bản, chuyển đổi nghề đối với tàu cá. Ở cấp Trung ương, ngày 10/3/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 208/ QĐ-TTg phê duyệt Đề án chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái. Định hướng của Đề án không chỉ là giảm số lượng tàu hoặc hạn chế một số nghề khai thác mà còn mở ra
Ảnh: Báo Xây dựng
các hướng sinh kế thay thế như nuôi trồng thủy sản, dịch vụ nuôi trồng, dịch vụ hậu cần nghề cá, nghề khai thác ít ảnh hưởng đến nguồn lợi, nghề cá giải trí, du lịch và các ngành nghề phù hợp với điều kiện từng địa phương. Việc chuyển đổi nghề phải được nhìn nhận như một quá trình chuyển đổi sinh kế, trong đó người dân cần được hỗ trợ từ lúc rời nghề cũ cho tới khi có khả năng tạo thu nhập từ nghề mới. Gia Lai: hỗ trợ đồng thời đào tạo và việc làm Gia Lai là một trong những địa phương xây dựng chính sách tương đối toàn diện. Nghị quyết 27/2025/NQ-HĐND ngày 9/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản đối với tàu cá không có nhu cầu hoạt động hoặc không đủ điều kiện khai thác thủy sản.
9.2026 Theo chính sách này, chủ tàu và các thành viên trong cùng hộ gia đình thuộc diện hỗ trợ khi tham gia đào tạo nghề được hỗ trợ chi phí đào tạo tối đa 3 triệu đồng/người/tháng/khóa học, tiền ăn 900.000 đồng/người/ tháng/khóa học và tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học; thời gian hỗ trợ học nghề tối đa 3 tháng. Không chỉ vậy, chủ tàu và thành viên hộ gia đình có tàu giải bản còn được ưu tiên tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh, được hỗ trợ tiếp cận vốn ưu đãi để tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Đồng thời được ưu tiên tham gia các chương trình, dự án hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và dịch vụ ven biển. Lâm Đồng: hỗ trợ tạo bước “đệm” trong giai đoạn chuyển đổi Theo Nghị quyết 24/2026/NQHĐND ngày 29/5/2026, tỉnh Lâm Đồng quy định chính sách hỗ trợ giải bản tàu cá, chuyển đổi nghề và một số nội dung liên quan đến chủ tàu cá. Nghị quyết có thời gian thực hiện đến hết ngày 31/12/2030. Trong đó, hộ gia đình chủ tàu thuộc diện giải bản được hỗ trợ 3 triệu đồng/hộ/tháng trong 3 tháng để ổn định đời sống trong thời gian chuyển đổi sang sinh kế mới. Khoản hỗ trợ này như một “khoảng đệm” giúp gia đình ngư dân duy trì cuộc sống trong lúc người lao động tham gia đào tạo hoặc tìm kiếm công việc mới. Về đào tạo nghề, Lâm Đồng hỗ trợ 4 triệu đồng/người/khóa học, tiền ăn và sinh hoạt phí 50.000 đồng/người/ngày, tối đa 3 tháng, cùng hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học đối với trường hợp đáp ứng
SINH KẾ NGƯ DÂN | 35
Hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề để ổn định sinh kế Ảnh: VOV
điều kiện về khoảng cách. Người không có nhu cầu đào tạo nghề nhưng chuyển sang ngành nghề khác cũng có chính sách hỗ trợ chuyển đổi một lần. Đắk Lắk: ưu tiên hộ nghèo, cận nghèo và kéo dài thời gian hỗ trợ Ngày 2/7/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND, có hiệu lực từ ngày 13/7/2026 và thực hiện đến hết năm 2030, quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản đối với tàu cá không có nhu cầu tiếp tục hoạt động khai thác thủy sản. Trong đó, nghị quyết ưu tiên xét duyệt đối với hộ hành nghề lâu năm, hộ nghèo và hộ cận nghèo. Mặt khác, thành viên trong hộ gia đình chủ tàu không có nguồn thu nhập riêng, sống chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập từ khai thác thủy sản được hỗ trợ ổn định đời sống bằng tiền tương đương 30 kg gạo/người/tháng, thời gian hỗ trợ 12 tháng. Đối với chuyển đổi nghề, Đắk Lắk yêu cầu người thụ hưởng tham gia đào tạo và được cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học sau thời điểm tàu được giải bản; chi phí đào tạo, tiền ăn và tiền đi lại được thực hiện theo chính sách đào tạo nghề của tỉnh.
Quảng Ngãi: hỗ trợ học nghề và lương thực cho gia đình ngư dân Tại Quảng Ngãi, Nghị quyết 39/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản đối với tàu cá không có nhu cầu hoạt động khai thác thủy sản. Chính sách được thực hiện đến hết ngày 31/12/2026. Theo nghị quyết, chủ tàu được hỗ trợ 5 triệu đồng để học nghề. Đồng thời, chủ tàu và các thành viên sống phụ thuộc trong hộ gia đình được hỗ trợ bằng tiền tương đương 30 kg gạo/người/tháng, trong thời gian 3 tháng, với giá gạo tính theo thời giá trung bình tại địa phương tại thời điểm hỗ trợ. Có thể thấy, chính sách của Quảng Ngãi tiếp cận khá trực diện, giúp hộ gia đình bảo đảm nhu cầu thiết yếu, đồng thời hỗ trợ chủ tàu học nghề để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo. Từ “hỗ trợ tiền” đến xây dựng sinh kế mới Đào tạo nghề là bước đầu, nhưng để ngư dân thực sự chuyển sang nghề mới, cần có phương tiện và nguồn lực đầu tư ban đầu. Từ thực tế này, thành phố Đà Nẵng đã triển khai
chính sách hỗ trợ một phần chi phí chuyển đổi nghề khai thác thủy sản. Theo Nghị quyết số 01/2026/ NQ-HĐND ngày 11/2/2026 của HĐND thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2026 - 2030, chủ tàu chuyển từ nghề lưới kéo sang nghề khai thác khác không thuộc danh mục cấm được hỗ trợ 50% chi phí chuyển đổi nghề, gồm mua mới ngư cụ, trang thiết bị phục vụ khai thác và cải hoán tàu cá, với mức hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng/tàu. Nguyên tắc hỗ trợ là chủ tàu chủ động nguồn vốn để chuyển đổi, sau đó hoàn thiện hồ sơ để được kiểm tra, nghiệm thu và hỗ trợ theo quy định. Chủ tàu cũng phải cam kết sử dụng ngư cụ, thiết bị được hỗ trợ trong thời gian tối thiểu 3 năm; mỗi tàu chỉ được hỗ trợ chuyển đổi nghề một lần. Chính sách này cho thấy việc hỗ trợ chuyển đổi nghề đang được tiếp cận trực tiếp, khoản hỗ trợ đầu tư giúp họ từng bước hình thành sinh kế ổn định, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng giảm tác động đến nguồn lợi thủy sản. Về lâu dài, hiệu quả của chính sách sẽ không chỉ được đo bằng số tàu được giải bản hay số người được đào tạo, mà quan trọng là bao nhiêu ngư dân có thể tạo ra thu nhập ổn định từ nghề mới. Đây là nền tảng để giảm áp lực lên nguồn lợi, đồng thời bảo đảm mục tiêu an sinh cho cộng đồng ngư dân.
Bảo Hân
36
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
37
38
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
39
40
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
41
42
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
43
44
thuysanvietnam.com.vn
SPONSOR
9.2026
45
46
thuysanvietnam.com.vn
HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG THỦY SẢN VIỆT NAM TỔNG QUAN 392,5 tỷ con
là tổng sản lượng con giống thủy sản sản xuất và ương dưỡng năm 2025, đạt 100,8% so với năm 2024
7.343
cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống trên cả nước (giảm 49 cơ sở so với 2024)
71,14%
cơ sở thuộc diện bắt buộc đã được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động
CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỦ LỰC Ngành giống tôm nước lợ Sản lượng giống
167,58 tỷ con (TTCT: 116,89 tỷ con; tôm sú: 50,69 tỷ con). Nguồn tôm bố mẹ Ước cung ứng 189,85 nghìn con. Nguồn trong nước: Đạt mức cao nhất lịch sử với 45,1 nghìn con. Nguồn nhập khẩu (chủ yếu là tôm thẻ): Đạt 112,45 nghìn con (xu hướng
nhập khẩu đang giảm dần qua các năm).
!
Thách thức Tôm sú bố mẹ vẫn phải phụ thuộc lớn vào khai thác tự nhiên; TTCT bố mẹ chủ yếu phải nhập khẩu. Tôm giống lưu thông từ Nam Trung Bộ sang các tỉnh khác còn gặp tình trạng thiếu kiểm dịch và chưa rõ nguồn gốc.
9.2026
47
Ngành giống cá tra Sản lượng giống
4,55 tỷ con
!
13% so năm 2024
Thách thức Chất lượng con giống chưa ổn định, tỷ lệ sống trong quá trình ương dưỡng còn thấp. Mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất giống và chuỗi chế biến còn lỏng lẻo, thiếu tính bền vững. Nguồn cung biến động mạnh gây ra những đợt trồi sụt sản lượng lớn, đẩy giá giống có thời điểm tăng kỷ lục lên trên 80.000 đồng/kg, làm tăng mạnh chi phí sản xuất cá thương phẩm và trực tiếp làm giảm sức cạnh tranh xuất khẩu.
Giống các đối tượng khác
Nhuyễn thể (ngao, hàu Thái Bình Dương)
Cá rô phi/ điêu hồng
Cá truyền thống (mè, trôi, trắm, chép)
Cá biển
Cá nước lạnh
194,81 tỷ con
2,94 tỷ con
2,87 tỷ con
265,95 triệu con
6 triệu con
tăng 2,4% so năm 2024
tập trung phát triển mạnh phục vụ xuất khẩu
tăng 18% so năm 2024
tăng 9,1% so với năm 2024
hơn 40% nhu cầu nuôi thương phẩm trong nước
ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2026 Mục tiêu sản xuất 2026: Đạt 390 - 410 tỷ con giống thủy sản. Tự chủ tôm bố mẹ: Phấn đấu chọn tạo trong nước đạt 50.000 - 60.000 tôm sú bố mẹ và 150.000 - 200.000 tôm thẻ chân trắng bố mẹ. Liên kết chuỗi: Tái cấu trúc sản xuất giống cá tra theo mô hình Giống 3 cấp, đưa doanh nghiệp làm trung tâm liên kết chặt chẽ từ khâu bột - ương giống - nuôi thương phẩm. Hiện đại hóa & Số hóa: - Ứng dụng công nghệ lọc tuần hoàn, hệ thống cảm biến môi trường tự động. - Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giống và hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử.
Số liệu: Cục Thủy sản và Kiểm ngư năm 2025
48 | NUÔI TRỒNG
thuysanvietnam.com.vn
Mở rộng nguồn lực hỗ trợ trong nuôi trồng thủy sản Dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng vẫn đang được lấy ý kiến, trong đó dành nhiều nội dung quan trọng cho lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
Chính sách hỗ trợ chuyển đổi vật liệu lồng bè sẽ góp phần nâng cao hiệu quả nuôi biển
Ảnh: ST
9.2026 Ưu tiên công nghệ Theo Dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản, một trong những nội dung được quan tâm là định hướng hỗ trợ các cơ sở nuôi trồng thủy sản chuyển sang mô hình sản xuất bền vững, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động đến môi trường. Trong đó, các cơ sở đáp ứng điều kiện theo quy định được ưu tiên lồng ghép, bố trí hỗ trợ từ các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nếu áp dụng các công nghệ, phương thức nuôi phù hợp. Các nhóm được ưu tiên hỗ trợ sẽ gồm mô hình nuôi tuần hoàn, ít thay nước và tiết kiệm tài nguyên; nuôi sinh thái, hữu cơ, nuôi kết hợp; đồng thời áp dụng công nghệ giảm phát thải khí nhà kính hoặc tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính theo quy định của pháp luật về môi trường. Theo đánh giá của các chuyên gia, chính sách này sẽ tạo động lực để người nuôi thay đổi phương thức sản xuất. Trong bối cảnh chi phí đầu vào, nguồn nước, năng lượng và yêu cầu về môi trường ngày càng trở thành những yếu tố quyết định hiệu quả nuôi trồng, việc ưu tiên các mô hình tiết kiệm tài nguyên có thể tạo ra lợi ích kép là giảm chi phí sản xuất và giảm áp lực lên môi trường. Tuy nhiên, dự thảo cũng nhấn mạnh việc chính sách hỗ trợ được thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, dự toán và nguồn vốn của từng chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Như vậy, quy định không tạo ra một cơ chế hỗ trợ tự động cho mọi cơ sở đáp ứng điều kiện, mà việc hỗ trợ còn phụ thuộc vào nguồn lực và chương trình cụ thể. Để người dân dễ tiếp cận chính sách hỗ trợ, dự thảo quy định rõ việc quyết định phê duyệt hỗ trợ phải xác định rõ nội dung, mức hỗ trợ, nguồn vốn, vốn đối ứng, chỉ tiêu đầu ra, thời gian duy trì kết quả sau hỗ trợ cũng như trách nhiệm kiểm tra, giám sát. Đây là cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm ngân sách được sử dụng đúng mục tiêu và tránh đầu tư dàn trải. Đối với nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, nuôi thâm canh, các hạng mục được xem xét hỗ trợ gồm hệ thống cấp, thoát, tuần hoàn và xử lý nước; khu cách ly, kiểm soát người, phương tiện, vật tư và động vật thủy sản; hệ thống quan trắc, cảm biến, camera, Internet vạn vật và phần mềm quản lý, cảnh báo môi trường, dịch bệnh. Cùng đó là hệ thống thu gom, xử lý bùn, nước thải, chất thải rắn, tái
NUÔI TRỒNG | 49 sử dụng phụ phẩm, tuần hoàn tài nguyên; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và chia sẻ dữ liệu sản xuất. Tạo động lực cho sản xuất công nghiệp xa bờ Một điểm nhấn khác trong dự thảo là chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển theo hướng công nghiệp, xa bờ, công nghệ cao và gắn với chuỗi giá trị. Trong đó, chính sách sẽ tập trung hỗ trợ những hạng mục mang tính thiết yếu đối với vùng nuôi biển. Các khoản được xem xét gồm hệ thống neo, phao báo hiệu, cảnh báo an toàn và công trình bảo đảm an toàn vùng nuôi; hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo tự động; hệ thống thu gom chất thải, bảo vệ môi trường, tái sử dụng phụ phẩm và ứng phó sự cố. Bên cạnh đó là hạ tầng dịch vụ, bảo quản, sơ chế, vận chuyển dùng chung; hệ thống dữ liệu, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và các công nghệ, thiết bị phục vụ an toàn công trình, an toàn sinh học, thích ứng với sóng, gió. Ngoài ra, dự thảo cũng đặt ra các điều kiện tương đối chặt chẽ đối với dự án được xem xét hỗ trợ. Cụ thể, chủ đầu tư phải có quyết định giao/cho thuê khu vực biển hoặc giấy tờ hợp pháp về sử dụng khu vực biển; hồ sơ đầu tư được phê duyệt; thiết kế đáp ứng yêu cầu về chịu sóng, gió, an toàn công trình và người lao động. Đồng thời, dự án phải có phương án ứng phó thiên tai, sự cố môi trường, quan trắc, thu gom chất thải, bảo hiểm và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Các dự án nuôi xa bờ, ứng dụng công nghệ cao, tự động hóa, nuôi kết hợp và có liên kết theo chuỗi giá trị được ưu tiên xem xét hỗ trợ. Về quy mô, dự thảo quy định dự án nuôi rong biển, nhuyễn thể phải có tổng diện tích
Tăng nguồn lực hỗ trợ tạo động lực để tối thiểu ha;thay dự đổi án phương nuôi lồng trên biển người10 nuôi thức sản xuấtphải có tổng dung tích nuôi tối thiểu Ảnh:10.000 Tepbacm³. Trong đó, dự án rong biển, nhuyễn thể được
hỗ trợ tối đa 10% chi phí hợp lệ nhưng không quá 5 tỷ đồng; dự án nuôi lồng trên biển được hỗ trợ tối đa 10% nhưng không quá 15 tỷ đồng cho mỗi dự án. Cùng với đó, chủ đầu tư phải cam kết duy trì hoạt động và không chuyển nhượng tài sản được hỗ trợ trong ít nhất 5 năm kể từ ngày nghiệm thu, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Quy định này nhằm tránh tình trạng đầu tư để nhận hỗ trợ nhưng không duy trì dự án hoặc chuyển nhượng tài sản ngay sau khi được ngân sách hỗ trợ. Bên cạnh phát triển dự án mới, dự thảo cũng nêu rõ chính sách hỗ trợ chuyển đổi vật liệu lồng bè, bao gồm vật liệu lồng bè, phao, hệ thống neo; thiết kế, lắp đặt, kiểm định; thu gom, vận chuyển, xử lý vật liệu cũ và đào tạo vận hành, bảo dưỡng, an toàn. Trong đó, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ tối đa 50% chi phí hợp lệ, nhưng không quá 1 tỷ đồng cho mỗi dự án. Theo các chuyên gia, chính sách này có ý nghĩa thực tiễn đối với những vùng nuôi đang sử dụng vật liệu không còn phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, an toàn hoặc môi trường. Đồng thời, việc giao UBND cấp tỉnh xây dựng lộ trình chuyển đổi theo từng khu vực nuôi, trên cơ sở khung tiêu chí, danh mục và thời hạn do Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn được đánh giá tạo điều kiện để chính sách được triển khai phù hợp với đặc thù từng địa phương. Phát biểu tại cuộc họp rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản đầu tháng 6 vừa qua, ông Nguyễn Quang Hùng, Phó cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết: Dự thảo Nghị định quán triệt mạnh mẽ chủ trương phân cấp, phân quyền. Theo đó, các bộ, ngành Trung ương tập trung xây dựng chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức và cơ chế giám sát; trong khi địa phương được trao quyền chủ động hơn trong việc xây dựng và triển khai các chương trình, dự án phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng cân đối nguồn lực của từng địa phương.
Bảo Hân
50 | PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
thuysanvietnam.com.vn
Tôm hùm Việt Nam và mục tiêu xuất khẩu tỷ đô Tôm hùm Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn khi nhu cầu thị trường tăng cao và xuất khẩu liên tục lập những dấu mốc mới. Để giữ lợi thế, ngành hàng này cần chuyển từ tăng trưởng nóng sang phát triển theo chiều sâu.
Lợi thế thị trường Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt 858 triệu USD - mức cao nhất từ trước đến nay. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, con số này đã đạt 584,6 triệu USD, tăng hơn 44% so với cùng kỳ. Nếu duy trì đà tăng trưởng, cánh cửa 1 tỷ USD đang trở nên rõ nét. Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng là nghịch lý: ngành hàng có thị trường tốt lại đang phụ thuộc lớn vào nguồn giống bên ngoài, sản xuất còn manh mún, vùng nuôi chịu áp lực môi trường và gần như lệ thuộc vào một thị trường xuất khẩu. Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư tại Hội nghị “Phát triển nuôi và tiêu thụ tôm hùm bền vững”, cả nước có khoảng 303.876 ô lồng nuôi tôm hùm, sản lượng thương phẩm khoảng 14.537 tấn. Tôm hùm Việt Nam đã được tiêu thụ tại hơn 20 thị trường. Riêng 6 tháng đầu
năm nay, sản lượng thương phẩm ước đạt 11.790 tấn, tương đương 81,1% sản lượng cả năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu 584,6 triệu USD trong nửa đầu năm cho thấy, sức bật rất mạnh của ngành hàng. Trong đó, Trung Quốc đạt khoảng 576 triệu USD, chiếm gần như toàn bộ kim ngạch xuất khẩu tôm hùm nước ta. Sức hút của thị trường này không khó lý giải, bởi nhu cầu tiêu thụ tôm hùm sống lớn, khoảng cách địa lý gần, giúp Việt Nam có lợi thế về thời gian và chi phí vận chuyển. Mặt khác tôm hùm xanh với kích cỡ nhỏ và vừa, phù hợp phân khúc tiêu dùng và khả năng quay vòng hàng của hệ thống thương mại. Theo số liệu của VASEP, năm 2025 Trung Quốc nhập khẩu khoảng 69.800 tấn tôm hùm, riêng Việt Nam cung cấp 24.100 tấn, chiếm 34,5%, đứng đầu các nguồn cung được thống kê. Đây là lợi thế, tuy nhiên, sự tập trung quá lớn vào một thị trường cũng đặt ngành hàng trước bài toán “tăng trưởng nhanh nhưng cần tránh phụ thuộc”. Trong cơ cấu sản phẩm, tôm hùm xanh đang giữ vai trò áp đảo. Năm 2025, mặt hàng này chiếm 98,3% kim ngạch xuất khẩu tôm
hùm, đạt 843,2 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2026, tôm hùm xanh tiếp tục chiếm phần lớn giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc. Như vậy, dư địa tăng trưởng của ngành không chỉ nằm ở việc nuôi thêm tôm, mà còn ở khả năng nâng chất lượng, chuẩn hóa vùng nuôi, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Gỡ “điểm nghẽn” Nếu thị trường đang mở ra cánh cửa lớn thì nguồn giống lại là một trong những chiếc khóa khó mở nhất. Cả nước cần khoảng 100 120 triệu con giống tôm hùm mỗi năm, trong khi nguồn giống khai thác tự nhiên trong nước chỉ đáp ứng khoảng 8 - 12 triệu con. Công nghệ sản xuất giống nhân tạo chưa hoàn thiện để có thể triển khai ở quy mô thương mại. Tình trạng này khiến ngành nuôi phụ thuộc đáng kể vào nguồn giống nhập khẩu. Đáng chú ý, trong 6 tháng đầu năm nay, chưa ghi nhận lô tôm hùm giống nhập khẩu chính ngạch phục vụ nuôi thương phẩm. Nguồn cung khan hiếm đã đẩy giá giống lên khoảng 45.000 - 70.000 đồng/ con, tùy loài, kích cỡ và thời điểm. Khánh Hòa cần khoảng 60 - 70 triệu con giống mỗi năm, nhưng nguồn khai thác tự nhiên hiện chỉ đáp ứng 5% nhu cầu. Năm 2025, địa phương nhập khoảng 33,07 triệu con; nhưng 6 tháng đầu năm 2026 lượng nhập khẩu chính ngạch được báo cáo ở mức 0. Ông Hoàng Anh Hào, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản, Biển và Hải đảo Khánh Hòa nhìn nhận, khó khăn căn bản của nghề nuôi hiện nay là khoa học công nghệ chưa làm chủ được quy trình sản xuất giống nhân tạo. Trong khi đó, nguồn giống tự nhiên ngày càng khan hiếm, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, môi trường. Đây không đơn thuần là câu chuyện thiếu một loại vật tư đầu
vào. Khi con giống khan hiếm và giá cao, chi phí sản xuất tăng, rủi ro về chất lượng và nguồn gốc giống cũng tăng theo. Xa hơn, sự phụ thuộc này có thể trở thành điểm yếu của cả chuỗi giá trị nếu nguồn cung từ nước ngoài thay đổi chính sách. Ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hội Thủy sản Việt Nam cho biết, Indonesia hiện là nguồn cung tôm hùm giống quan trọng của nước ta. Do vậy, nên nghiên cứu mô hình liên doanh, đầu tư cơ sở ươm giống tại Indonesia để chủ động hơn về chất lượng và nguồn cung trước khi đưa tôm về Việt Nam tiếp tục dưỡng nuôi. Về dài hạn, các địa phương và cơ quan chuyên môn đề xuất cần có nhiệm vụ khoa học, công nghệ cấp quốc gia làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo. Đây sẽ là giải pháp căn cơ, giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nguồn cung bên ngoài. Khánh Hòa và Đắk Lắk hiện chiếm khoảng 95% sản lượng tôm hùm thương phẩm của cả nước. Quy mô tập trung tạo lợi thế hình thành vùng sản xuất hàng hóa, nhưng đồng thời cũng bộc lộ rõ giới hạn của phương thức phát triển tự phát. Tại một số khu vực, mật độ lồng cao, trong khi thức ăn tươi sống vẫn được sử dụng phổ biến. Chất thải hữu cơ tích tụ, môi trường biến động cùng nguy cơ dịch bệnh có thể khiến thành quả sản xuất bị đảo ngược chỉ sau một vụ nuôi. Với người nuôi, câu chuyện bền vững trước hết bắt đầu từ quyền được sản xuất trong vùng nuôi rõ ràng. Ông Nguyễn Xuân Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản Vạn Ninh, Khánh Hòa cho hay, hợp tác xã đã thu hút hơn 100 hộ với hàng vạn ô lồng trên vịnh Vân Phong. Tuy nhiên, khi chưa được giao mặt nước ổn định, người nuôi không yên tâm đầu tư lâu dài.
9.2026 Một trong những thay đổi quan trọng được kỳ vọng tạo bước ngoặt cho nghề nuôi là thức ăn. Sử dụng cá, vẹm, hàu và các loại thức ăn tươi sống phù hợp với tập quán lâu năm nhưng cũng kéo theo nhiều hệ lụy về chi phí, chất lượng thức ăn, dịch bệnh và môi trường. TS. Mai Duy Minh, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam chia sẻ, đơn vị đã nghiên cứu thức ăn công nghiệp cho tôm hùm xanh và tôm hùm bông. Kết quả, cả hai loài đều chấp nhận thức ăn công nghiệp. Thách thức hiện nay là độ bền của viên thức ăn trong nước mới khoảng 45 - 50 phút. Nhóm nghiên cứu đang hướng tới nâng thời gian này lên 3 - 4 giờ, kết hợp máy cho ăn tự động. Khi thương mại quốc tế chuyển mạnh sang cạnh tranh bằng tiêu chuẩn, một con tôm hùm muốn đi xa cần có đầy đủ thông tin đi cùng. Đó là nguồn gốc giống, cơ sở nuôi, vùng nuôi, quá trình chăm sóc, thức ăn, dịch bệnh,
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG | 51 an toàn thực phẩm và cơ sở đóng gói. Đặc biệt, tôm hùm bông đang đứng trước yêu cầu chứng minh nguồn gốc thế hệ F2 gắn với các quy định bảo tồn loài của thị trường Trung Quốc. Rào cản kỹ thuật này cần được xử lý bằng hồ sơ khoa học, dữ liệu minh bạch và sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp. Tôm hùm là một trong những đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược phát triển nuôi biển quốc gia. Tỷ USD có thể là đích đến, nhưng phát triển bền vững mới là điều kiện để ngành hàng đi được đường dài. Khi người nuôi có vùng sản xuất ổn định, doanh nghiệp có nguồn hàng đạt chuẩn, Nhà nước có công cụ quản lý hiệu quả và thị trường nhìn thấy sự minh bạch trong từng con tôm, lợi thế tự nhiên của biển Việt Nam mới thực sự được chuyển hóa.
Thùy Khánh
Cần tập huấn, hướng dẫn lại cho bà con về kỹ thuật khai thác tôm hùm giống để nâng cao tỷ lệ sống, giảm áp lực đối với nguồn tôm giống nhập khẩu. Đồng thời, tổ chức liên kết vùng nuôi để đăng ký truy xuất nguồn gốc, từ cơ sở nuôi, cơ sở đóng gói đến cơ sở xuất khẩu, bảo đảm minh bạch. Dài hạn, phát triển ngành tôm hùm không thể chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên hay giá bán cao. Nguồn giống phải được kiểm soát, vùng nuôi được quy hoạch, người nuôi phải được tổ chức lại và doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; công nghệ nuôi, quản lý môi trường và truy xuất nguồn gốc cần được xem là những mắt xích quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư
52 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn
Châu Âu không thể
“đoạn tuyệt”
với cá minh thái Nga
Sản lượng chế biến cá minh thái Alaska của Mỹ giảm mạnh, trong khi sản lượng loài cá này ở Nga vẫn tương đối ổn định. Châu Âu vẫn mở cửa với thủy sản từ Nga.
Mỹ không vui, Nga không buồn Dữ liệu từ Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ, trong tuần kết thúc vào ngày 15/8/2026, sản lượng cá minh thái của Mỹ giảm gần 70% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể, các nhà máy Mỹ sản xuất 4.020 tấn phi lê cá minh thái trong tuần, giảm 65,3% so với 11.588 tấn cùng kỳ năm trước. Lũy kế cá minh thái mùa B đạt 43.521 tấn, giảm 29,2%. Xu hướng giảm vẫn chưa thay đổi khiến khoảng thiếu hụt so với năm 2025 đã tăng từ 10.396 tấn một tuần trước đó lên 17.964 tấn. Bức tranh sản lượng cá minh thái Nga vẫn xuất hiện dấu hiệu khả quan. Tính đến giữa tháng 8/2026, sản lượng cá minh thái tại vùng biển Viễn Đông của Nga đạt khoảng 1,538
triệu tấn, cao hơn khoảng 3000 tấn so với cùng kỳ năm 2025. Dù vậy, tại khu vực Đông Bắc biển Okhotsk, sản lượng đang thấp hơn năm trước gần 91.000 tấn, chủ yếu do điều kiện thời tiết bất lợi trong những tháng đầu năm 2026 gây ảnh hưởng đến hoạt động khai thác. Theo một quan chức thủy sản Nga, diễn biến sản lượng nhìn chung ổn định, nhưng có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực khai thác. EU tăng mua từ Nga Dữ liệu của Eurostat cho thấy, trong tháng 6/2026, xuất khẩu cá từ Nga sang EU tăng mạnh, đạt 74,9 triệu euro, mức cao nhất kể từ tháng 11/2024. Mức kim ngạnh này tăng gấp
9.2026
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 53
Tính tới hết tháng 6/2026, Nga là nhà cung cấp phi lê cá minh thái đông lạnh lớn nhất cho thị trường EU, tăng 11% đạt mức 66.000 tấn với giá trị 218 triệu USD.
1,7 lần so với tháng trước và cao hơn 22% so với cùng kỳ năm 2025. Theo RuFish, phần lớn các lô hàng là phi lê cá minh thái và cá tuyết đông lạnh, với tổng kim ngạch trị giá 60,6 triệu euro. Ngoài ra là cá tuyết đông lạnh và cá qua chế biến, với kim ngạch lần lượt là 10,8 triệu euro và 3,2 triệu euro. Năm quốc gia EU nhập khẩu nhiều cá nhất từ Nga gồm Đức, Pháp, Hà Lan, Ba Lan và Đan Mạch. Đức dẫn đầu với kim ngạch 42,3 triệu euro, tiếp đến là Pháp 14,4 triệu euro, Hà Lan 8,4 triệu euro, Ba Lan 4,4 triệu euro và Đan Mạch 2,6 triệu euro. Tính tới hết tháng 6/2026, Nga là nhà cung cấp phi lê cá minh thái đông lạnh lớn nhất cho thị trường EU, tăng 11% đạt
mức 66.000 tấn với giá trị 218 triệu USD. Nguồn cung cá minh thái từ Nga đang là lựa chọn thay thế cho sự suy giảm từ thị trường xuất khẩu Mỹ. Cùng kỳ, nguồn cung phi lê cá minh thái của Mỹ sang EU giảm 15% xuống còn 46.000 tấn và 10% xuống còn 178 triệu USD. Đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá minh thái từ Trung Quốc sang EU đã giảm 15%, còn 19.000 tấn, dù giá trị vẫn đạt 62 triệu USD. Từ giờ tới cuối năm 2026, xu hướng này có thể vẫn tiếp tục duy trì. Theo các chuyên gia, khi nguồn cung cá tuyết và cá hồi thiếu hụt, cá minh thái Alaska là nguyên liệu thay thế quan trọng với các doanh nghiệp chế biến thủy sản Trung Quốc. Điểm tế nhị nằm ở chỗ, chuỗi cung ứng cá minh thái toàn cầu vận hành theo mô hình cố định: cá được đánh bắt tại Nga hoặc Mỹ, chuyển sang Trung Quốc để gia công thành philê, sau đó xuất khẩu sang châu Âu phục vụ thị trường bán lẻ và chuỗi thức ăn nhanh. Trong nửa đầu năm 2026, cá minh thái Alaska đông lạnh tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực từ Nga sang Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu cá minh thái từ Nga sang Trung Quốc đạt 402.000 tấn, tăng 25%, trị giá 699 triệu USD, tăng tới 70%. Phi lê cá minh thái đạt hơn 4.000 tấn, tăng 25%, trị giá 12 triệu USD, tăng 55%. Năm 2025, Trung Quốc nhập khoảng 565.000 tấn cá minh thái đông lạnh nguyên con, 95% trong số đó đến từ Nga, và khoảng hai phần ba lượng philê thành phẩm được xuất sang EU. Khi các nhà chế biến Trung Quốc quan tâm hơn tới cá minh thái để phục vụ thị trường nội địa, EU chỉ còn cách nhập khẩu trực tiếp từ Nga.
Giá nguyên liệu cá minh thái Alaska tăng mạnh Ngay từ đầu tháng 8/2026, giá nguyên liệu cá minh thái Alaska tăng mạnh do nguồn cung cá cỡ lớn khan hiếm, sản lượng khai thác mùa hè thấp và hiệu suất chế biến giảm. Trong tuần từ ngày 3/8 đến 9/8/2026, giá CFR Trung Quốc đối với cá minh thái Alaska nguyên con đã bỏ đầu, bỏ nội tạng (H&G) cỡ 25+ từ Nga tăng thêm 20 USD/tấn. Trong hai tuần trước đó, mức tăng tổng cộng 90 USD/tấn, đồng nghĩa, chỉ trong ba tuần, giá đã tăng 110 USD/tấn, lên mức cao nhất kể từ khi dữ liệu được ghi nhận năm 2005. Giá chào cá minh thái từ biển Bering cũng tăng lên 2.530 USD/tấn, mức cao kỷ lục, trong khi giá cá từ biển Okhotsk tại kho đạt 2.330 USD/tấn. Theo các chuyên gia, giá cá tăng do nguồn cung từ biển Bering đặc biệt hạn chế. Bên cạnh đó, kích cỡ cá khai thác năm 2026 nhỏ hơn, làm giảm sản lượng phi lê và surimi. Theo dữ liệu khai thác từ Nga, sản lượng cá minh thái nguyên con từ đầu năm tăng 47%, nhưng phần lớn mức tăng đến từ cá cỡ nhỏ. Tại châu Âu, nhu cầu đối với cá minh thái H&G và phi lê đông block tăng mạnh. Đã ghi nhận dấu hiệu mua tích trữ, tiếp tục tạo áp lực tăng giá trên thị trường. Trước đó, ngày 23/7/2026, EU đã thông qua gói trừng phạt thứ 21 với Nga. Gói trừng phạt nhằm vào các ngân hàng, hoạt động tiền điện tử, đội tàu vận tải ngầm của Nga và một số nhà máy lọc dầu tại Nga và Belarus. Ban đầu, thủy sản Nga được dự tính là một phần của gói trừng phạt mới nhưng cuối cùng, điều này đã không xảy ra. Các quốc gia như Đức, Pháp, Hà Lan và Ba Lan được cho là phản đối các biện pháp bổ sung đối với thủy sản. Khánh Nguyên
54 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn
Xuất khẩu NLTS đạt gần 49,3 tỷ USD sau 8 tháng Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản (NLTS) ước đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 8, kim ngạch đạt khoảng 6,47 tỷ USD, tăng 3,6%. Trong các nhóm hàng chủ lực, nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%. Đáng chú ý, xuất khẩu thủy sản tháng 8 ước đạt 1,08 tỷ USD, đưa lũy kế 8 tháng lên 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Hà Tĩnh
Giá lươn không bùn giảm sâu Giá lươn không bùn tại Hà Tĩnh giảm mạnh, khiến người nuôi gặp khó khi nhiều diện tích đến kỳ thu hoạch nhưng bán ra không có lãi. Hiện lươn thương phẩm được thương lái thu mua khoảng 40.000 – 60.000 đồng/ kg, giảm 30.000 – 50.000 đồng/kg so với mức 90.000 – 100.000 đồng/ kg cùng kỳ năm 2025. Có thời điểm giá lươn xuống khoảng 40.000 đồng/ kg, sau đó phục hồi lên 60.000 đồng/kg nhưng vẫn chưa đủ bù chi phí sản xuất. Giá giảm trong bối cảnh diện tích nuôi lươn không bùn mở rộng nhanh tại nhiều địa phương, trong khi đầu ra chủ yếu phụ thuộc thương lái, chưa hình thành chuỗi liên kết tiêu thụ ổn định. Nguồn cung tăng nhanh, có thời điểm vượt nhu cầu, tiếp tục gây áp lực lên giá. Quảng Trị
Tôm Hói Hà mất giá vì vận chuyển Tôm nuôi tại vùng Hói Hà, xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị đang chịu bất lợi về giá do địa bàn cách biệt với đất liền. Theo người nuôi, tôm tại đây được thương lái thu mua khoảng 100.000 đồng/kg, trong khi giá thị trường ở mức 130.000 đồng/kg, chênh lệch 30.000 đồng/kg. Vùng nuôi Hói Hà có 35,7 ha đất nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn. Do bị chia cắt bởi sông Nhật Lệ, người dân phải vận chuyển tôm bằng thuyền khoảng 3 km đến bến đò Hà Kiên trước khi đưa lên xe tiêu thụ. Quá trình này làm tăng chi phí, kéo dài thời gian vận chuyển và ảnh hưởng đến độ tươi sống của tôm. Theo người nuôi, giá tôm tại Hói Hà có thể thấp hơn 20.000 – 30.000 đồng/kg so với những vùng khác. Dù năng suất nuôi được cải thiện nhờ ứng dụng kỹ thuật, đầu ra vẫn phụ thuộc nhiều vào thương lái. Người dân mong muốn có tuyến đường kết nối vùng nuôi nhằm giảm chi phí vận chuyển, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và cải thiện giá bán. Lâm Đồng
Ngư dân phấn khởi vào vụ cá nam Bước vào cao điểm mùa cá nam, hoạt động khai thác, thu mua hải sản tại các cảng cá ở Lâm Đồng diễn ra sôi động, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngư dân và lao động nghề biển. Tại Cảng cá La Gi (phường Phước Hội), cá cơm được ngư dân liên tục đưa lên bờ và nhanh chóng chuyển đến các lò hấp. Theo một thương lái, sản lượng cá cơm thu mua những ngày qua đạt khoảng 3 – 5 tấn/ngày. Tại các cảng Phan Thiết, Phú Hải và khu vực Bãi Sau Mũi Né, hoạt động khai thác cũng diễn ra nhộn nhịp. Trong cao điểm vụ cá nam, cá nục suông, nục nhỏ và cá bạc má xuất hiện khá nhiều. Cá nục nhỏ bán xô hiện khoảng 13.000 đồng/kg.
9.2026
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 55
An Giang
Cá linh đầu mùa hút hàng, giá sơ chế hơn 100.000 đồng/kg Mùa nước nổi năm 2026 đến sớm tại khu vực đầu nguồn An Giang, mang theo nguồn lợi thủy sản dồi dào, trong đó cá linh non đang hút hàng. Cá linh non thu mua từ người dân khu vực biên giới hiện có giá 10.000 – 30.000 đồng/kg, tùy kích cỡ. Sau sơ chế, giá tăng lên hơn 100.000 đồng/kg tại vùng đầu nguồn Phú Hữu và khoảng 200.000 – 250.000 đồng/kg khi đưa về các chợ trong tỉnh. Một cơ sở thu mua tại xã Phú Hữu cho biết mỗi ngày thu mua khoảng 300 kg đến 1 tấn cá linh non đã phân loại. Nhu cầu tăng cao, có thời điểm khách đặt 150 – 200 kg cá linh sơ chế/ngày nhưng cơ sở vẫn không đáp ứng đủ. Cá linh non sau sơ chế hoặc giữ sống được tiêu thụ tại các chợ, nhà hàng ở nhiều tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long, TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. Sức mua tăng đang tạo đầu ra thuận lợi, góp phần cải thiện thu nhập cho người dân vùng đầu nguồn trong mùa nước nổi. Đồng Tháp
Ngư dân ấm no nhờ cá linh non Mùa nước nổi về cũng là thời điểm nhiều hộ nuôi thủy sản tại Đồng Tháp chuyển sang nuôi cá linh, đón đầu nhu cầu tiêu thụ và giá bán thường tăng cao. Với thời gian nuôi chỉ hơn một tháng, mô hình vừa tận dụng mặt nước trước vụ nuôi mới, vừa tạo thêm nguồn thu cho người dân. Cá linh ăn rong tảo, phù du và nguồn thức ăn tự nhiên trong ao, phù hợp nuôi luân canh với cá tra. Sản lượng có thể đạt hơn 1 tấn/ha. Những năm trước, cá linh đầu mùa có giá 300.000 – 350.000 đồng/ kg, mang lại lợi nhuận hơn 100 triệu đồng/ha sau khi trừ chi phí. Không chỉ người nuôi hưởng lợi, mùa cá linh còn tạo thêm việc làm cho lao động sơ chế và tiểu thương. Công việc lặt đầu, đuôi, ruột cá mang lại thu nhập khoảng 40.000 đồng/kg; trong khi tiểu thương có mức chênh lệch khoảng 20.000 – 30.000 đồng/kg. Cà Mau
Giá sò huyết giữ mức cao, mô hình nuôi kết hợp tôm mở rộng Mô hình nuôi sò huyết kết hợp tôm quảng canh cải tiến đang được nhiều hộ dân tại Cà Mau lựa chọn, vừa tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong vuông tôm, vừa tạo thêm nguồn thu trên cùng diện tích. Tại xã Năm Căn, diện tích nuôi tôm kết hợp sò huyết hiện đạt khoảng 992,8 ha, trong tổng số 5.180 ha nuôi tôm quảng canh cải tiến kết hợp các loài thủy sản khác. Sò huyết chủ yếu sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên, giúp người nuôi giảm chi phí thức ăn. Sau 7 – 10 tháng, sò đạt kích cỡ thương phẩm và có thể thu hoạch dần theo nhu cầu. Hiện giá sò huyết khoảng 80.000 đồng/kg đối với loại 100 con/kg và 100.000 đồng/kg loại 80 con/kg. Nhờ chi phí đầu vào thấp và có thể thu hoạch từng phần, sò huyết được xem như nguồn “của để dành” trong vuông tôm, giúp hộ nuôi chủ động dòng tiền khi cần. Tuy nhiên, nguồn cung và giá sò huyết vẫn phụ thuộc vào điều kiện môi trường, đặc biệt là diễn biến thời tiết và chất lượng nước. Người nuôi cần chủ động quản lý môi trường để hạn chế hao hụt và duy trì hiệu quả sản xuất. Lan Khuê
56 | GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG
thuysanvietnam.com.vn Canada
Xuất khẩu tôm hùm giảm 5,6% trong nửa đầu năm Xuất khẩu tôm hùm Canada trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm 5,6% về khối lượng do nguồn cung hạn chế và thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tại một số khu vực. Theo Statistics Canada, Canada xuất khẩu 37.428 tấn tôm hùm, trong khi giá trị xuất khẩu chỉ giảm 2,7%, cho thấy giá trị bình quân tăng khoảng 3%. Nguồn cung suy giảm rõ hơn trong cao điểm khai thác mùa xuân. Trong tháng 5 và 6/2026, xuất khẩu lần lượt đạt khoảng 5.722 tấn và 5.637 tấn, đều thấp hơn cùng kỳ năm 2025 và mức trung bình 5 năm.
Có thể kết thúc sớm vụ khai thác cá tuyết Vụ khai thác cá tuyết ven bờ tại Newfoundland và Labrador, Canada có thể kết thúc sớm ít nhất hai tuần do đội tàu nhanh chóng sử dụng hạn ngạch mùa hè, làm dấy lên nguy cơ thiếu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Năm 2026, đội tàu ven bờ được phép cập cảng 10.000 pound cá tuyết/tuần, tăng 150% so với năm 2025. Vụ khai thác bắt đầu ngày 5/7 và dự kiến kéo dài đến 13/9, nhưng với tốc độ hiện nay, hạn ngạch mùa hè có thể được sử dụng hết từ cuối tháng 8. Canada đồng thời nâng hạn ngạch cá tuyết Bắc Đại Tây Dương lên 58.000 tấn, tăng 55% so với năm trước. Đến ngày 20/8, sản lượng cập cảng đạt 30.796 tấn, trị giá khoảng 72,6 triệu USD, tương đương 53% hạn ngạch cả năm. Nếu vụ hè kết thúc sớm, nguồn nguyên liệu chế biến có thể gián đoạn trước khi vụ thu bắt đầu ngày 14/9. Pakistan – Iran
Xung đột Mỹ – Iran khiến thương mại cá ngừ gần như đình trệ Thương mại cá ngừ giữa Pakistan và Iran gần như đình trệ khi xung đột Mỹ – Iran làm gián đoạn khai thác, vận chuyển và nguồn cung nhiên liệu tại khu vực ven biển Balochistan. Iran là thị trường quan trọng của ngư dân Balochistan, với giá cá ngừ cao gấp 6 – 7 lần thị trường Pakistan. Mỗi năm, khoảng 50–60 tấn cá ngừ và các loài tương tự được bán sang Iran, trị giá khoảng 52.900 – 123.300 USD, chủ yếu qua các kênh phi chính thức. Tình hình an ninh khiến nhiều chủ tàu hạn chế đưa hàng đến các cảng Iran gần Balochistan. Hoạt động trao đổi cá lấy xăng, dầu diesel giá thấp từ Iran cũng bị gián đoạn, khiến ngư dân vừa mất đầu ra vừa phải chịu chi phí nhiên liệu cao hơn. Ấn Độ
Người nuôi tôm chịu sức ép từ giá thức ăn Người nuôi tôm Ấn Độ đang chịu áp lực kép khi giá thức ăn tăng trong khi giá tôm tại ao giảm. Từ tháng 2 đến tháng 6/2026, giá thức ăn tôm tại Ấn Độ tăng khoảng 12.000 – 14.000 rupee/tấn, tương đương 145 – 170 USD/tấn. Nguyên nhân chủ yếu đến từ giá nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là bột cá và khô dầu đậu tương. Khoảng 60 – 65% bột cá chất lượng cao sử dụng tại Ấn Độ phải nhập khẩu, trong khi sản lượng đậu tương trong nước giảm khoảng 17%, đẩy giá khô dầu đậu tương tăng khoảng 40%.
9.2026
GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG | 57
Mỹ
Giá nguyên liệu cá minh thái lên mức cao nhất 20 năm Giá cá minh thái Alaska nguyên liệu đang tăng mạnh do nguồn cung cá cỡ lớn khan hiếm, sản lượng khai thác mùa hè thấp và hiệu suất chế biến giảm. Trong tuần 32/2026 (3 – 9/8), giá CFR Trung Quốc cá minh thái Alaska H&G cỡ 25+ từ Nga tăng thêm 20 USD/tấn, sau khi tăng 90 USD/tấn trong hai tuần trước. Sản lượng cá minh thái nguyên con của Nga tăng 47% từ đầu năm, phần lớn là cá cỡ nhỏ, làm giảm hiệu suất chế biến phi lê và surimi. Trong khi đó, nguồn cung cá thịt trắng toàn cầu thắt chặt, thúc đẩy nhu cầu cá minh thái thay thế. Nhu cầu tại châu Âu cũng tăng, tạo thêm áp lực lên giá.
Nghề khai thác cá ngừ albacore chật vật vì giá nhiên liệu cao Mùa khai thác cá ngừ albacore năm 2026 tại Washington, Mỹ đang đối mặt nhiều khó khăn khi giá nhiên liệu tăng, sản lượng thiếu ổn định và số ngư dân tham gia giảm. Tổng chi phí hoạt động của các tàu khai thác tăng hơn 30%, trong đó nhiên liệu là khoản gây áp lực lớn nhất. Để tiếp cận ngư trường, tàu thường phải di chuyển ít nhất 50 dặm ngoài khơi Thái Bình Dương, khiến chi phí nhiên liệu tăng và làm giảm hiệu quả mỗi chuyến biển.
Giá cá rô phi đông lạnh tăng do nguồn nguyên liệu Trung Quốc thắt chặt Giá bán buôn cá rô phi phi lê đông lạnh nhập khẩu từ Trung Quốc tại Mỹ tăng trong tuần 34/2026 (17 – 23/8), với tất cả quy cách tăng khoảng 0,05 USD/pound. Đây là dấu hiệu thị trường bắt đầu đảo chiều sau thời gian dài giá đi ngang hoặc suy yếu. Nguồn nguyên liệu tại Trung Quốc ngày càng hạn chế sau khi giá thấp đầu năm khiến người nuôi giảm thả giống, dẫn đến thiếu cá đạt kích cỡ thu hoạch. Dù hoạt động bán giống tại Hải Nam cải thiện trong tháng 8, chu kỳ nuôi khoảng 6 tháng khiến nguồn cung bổ sung dự kiến chỉ tăng từ tháng 2/2027. Trong 6 tháng đầu năm, nhập khẩu cá rô phi phi lê đông lạnh của Mỹ ước đạt 78,6 triệu pound, giảm gần 16% so với cùng kỳ. Nguồn cung từ Trung Quốc được dự báo tiếp tục hạn chế đến đầu năm 2027. Thị trường thế giới
Sản lượng bột cá, dầu cá chịu sức ép do El Niño Nguồn cung bột cá và dầu cá toàn cầu tiếp tục chịu sức ép khi El Niño ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, đặc biệt tại Peru – quốc gia thường đóng góp khoảng 20% sản lượng bột cá thế giới. Tại Peru, khai thác cá cơm Bắc – Trung nhiều lần gián đoạn trước khi tạm dừng từ ngày 10/6. Đến nay, chỉ khoảng 25% hạn ngạch 1,914 triệu tấn được khai thác, khiến nguồn nguyên liệu biển năm 2026 thấp hơn đáng kể mức trung bình lịch sử. El Niño được dự báo kéo dài đến đầu năm 2027, tiếp tục gây áp lực lên nguồn cung. Chile cũng ghi nhận sản lượng thấp, trong khi nguồn nguyên liệu tại Bắc Âu suy giảm do hạn ngạch cá thu và cá trích giảm. Nguồn cung nửa cuối năm sẽ phụ thuộc vào khai thác tại Morocco, Trung Quốc, Ấn Độ và Oman. Lan Khuê
58 | THỨC ĂN DINH DƯỠNG
thuysanvietnam.com.vn
Mối lo khủng hoảng nguồn cung nguyên liệu biển toàn cầu và những đáp án mới Hiện tượng El Nino đã tác động sâu sắc tới sản lượng đánh bắt ở các quốc gia cung ứng lượng cá cơm chủ yếu để sản xuất bột cá và dầu cá. Thức ăn thủy sản đang đối diện sức ép nguồn cung khắc nghiệt.
Peru kết thúc mùa cá cơm đầu tiên, Chile đạt sản lượng thấp Ngày 19/8/2026, Bộ sản xuất Peru đã thông báo quyết định kết thúc mùa khai thác cá cơm đầu tiên trong năm tại vùng biển phía Bắc và Trung nước này. Sản lượng cá cơm đánh bắt đạt khoảng 460.000 tấn, chỉ đạt khoảng 26% trên hạn ngạch khai thác 1,91 triệu tấn của năm 2026. So sánh với năm 2025, mức sụt giảm càng trở nên rõ rệt. Mùa cá cơm đầu tiên trong năm 2025 ở khu vực này của Peru kết thúc vào ngày 24/7/2025, với sản lượng đạt hơn 2,45 triệu tấn. Nguyên nhân được cho là trong năm 2026, hiện tượng El Nino khiến nước biển ấm hơn, khiến sản lượng giảm mạnh. Viện Nghiên cứu Biển Peru ghi nhận mức nhiệt tại một số vùng biển ở nước này cao hơn thông thường tới 6 độ C. Để bảo vệ nguồn lợi cá cơm, từ tháng 4/2026, hoạt động đánh bắt đã nhiều lần bị đình chỉ. Nhiều tàu đánh bắt công nghiệp không ra khơi kể từ tháng 5/2026. Theo FishingDaily, với khả năng EL Nino sẽ tăng cường và kéo dài tới đầu năm 2027, hoạt động khai
thác có thể sẽ tiếp tục kém hiệu quả. Bộ Sản xuất Peru đã cho phép triển khai cuộc khảo sát quy mô lớn nhằm xác định mật độ, phạm vi phân bố và khả năng khai thác của cá cơm. Kết quả khảo sát là cơ sở cho việc đưa ra các quyết định về dỡ bỏ lệnh cấm hoàn toàn, từng phần hoặc theo từng giai đoạn với cá cơm. Tại Chile, sản lượng khai thác cá cơm cũng đang sụt giảm đáng kể. Theo WorldFishing, Sản lượng đánh bắt trong giai đoạn đầu năm 2026 thấp hơn nhiều so mức ghi nhận cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ cá non cao là lý do khiến hoạt động khai thác tiếp tục bị hạn chế. Diễn biến lạ tại thị trường Trung Quốc Theo Hiệp hội Công nghiệp Thức ăn chăn nuôi Trung Quốc, sản lượng thức ăn thủy sản của nước này trong nửa đầu năm 2026 đạt 11,1 triệu tấn, tăng 17,4% so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng từ khoảng 29,9 triệu tấn lên 31,1 triệu tấn. Đáng chú ý, tiêu thụ bột cá của ngành nuôi trồng Trung Quốc
trong cùng thời gian lại giảm nhẹ so với năm trước. Các chuyên gia đoán định, diễn biến này cho thấy các doanh nghiệp thức ăn có thể đang giảm tỷ lệ bột cá, điều chỉnh công thức hoặc tăng sử dụng các nguồn protein khác để ứng phó với giá cao. Dự trữ bột cá Trung Quốc cũng giảm, một trong những nguyên nhân khiến quốc gia này tăng cường tìm các nguồn cung ứng thay thế. Trong tháng 6/2026, Trung Quốc nhập 25.494 tấn bột cá từ Việt Nam, tăng 55,7% so với cùng kỳ và đưa Việt Nam trở thành nguồn cung bột cá lớn nhất cho Trung Quốc trong tháng. Nhập khẩu từ Ấn Độ cũng tăng 28,5%, lên 16.381 tấn. Theo các chuyên gia, đối với thị trường Trung Quốc, sản lượng nội địa sẽ hỗ trợ thị trường, đặc biệt mùa đánh bắt bắt đầu vào tháng 8 và tháng 9/2026. Tổ chức Bột cá và Dầu cá Thế giới dự đoán, triển vọng cả năm sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào sản xuất trong nửa cuối năm 2026. Sản lượng từ các nhà sản xuất lớn như Morocco, Trung Quốc, Ấn Độ và Oman sẽ quyết định khả năng bù đắp thiếu
hụt nguồn cung ở các quốc gia khác. Tổ chức này ước tính rằng mức tiêu thụ bột cá cho sản xuất thức ăn thủy sản năm 2026 chỉ có thể thấp hơn một chút so với năm 2025. Dinh dưỡng chính xác tạo khác biệt vĩ mô Cung cấp dinh dưỡng vừa đủ cho từng giai đoạn phát triển của cá đang được coi là một trong những giải pháp vượt qua thách thức về thiếu hụt nguyên liệu biển cho ngành nuôi trồng thủy sản.
THỨC ĂN DINH DƯỠNG | 59
Ảnh: istock
9.2026
Sparos, một doanh nghiệp thức ăn thủy sản Bồ Đào Nha thành lập từ năm 2008 đã bền bỉ nghiên cứu về chế độ ăn trong nuôi trồng thủy sản, trong đó có giải pháp dinh dưỡng vi mô cho cá bột và cá giống. TS Luis Conceição, nhà đồng sáng lập của Sparos giải thích, cá mới sinh có kích cỡ từ 2-3 mm. Vì thế, thức ăn cho chúng phải nhỏ hơn 1mm, một số loại chỉ ở khoảng 100-300 micromet, tức là nhỏ như đầu của một chiếc kim. Thức ăn hạt siêu nhỏ phải được phối trộn với công thức
chính xác, phù hợp với kích cỡ miệng cá theo mm, đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng nhưng vẫn hấp dẫn với cá. Tuy nhiên, để tạo ra các công thức thức ăn hạt siêu nhỏ này không phải là một việc đơn giản. Đầu tiên, phải xác định được chính xác nhu cầu dinh dưỡng của cá nuôi trong từng giai đoạn sinh trưởng. Thứ hai, tìm kiếm nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng này, mà vẫn đảm bảo sự hấp dẫn, khả năng hấp thụ của từng loại cá.
Cuối cùng là đảm bảo hạt thức ăn giữ được hình dạng và hàm lượng dinh dưỡng, tránh tình trạng dưỡng chất bị hòa tan quá nhiều vào môi trường nước. Tại Hội nghị TARS 2026, dinh dưỡng chính xác cũng là một trong những vấn đề được đưa ra thảo luận. Theo đó, hiệu quả thức ăn không nên chỉ được đánh giá bằng giá bán trên mỗi kilogram, mà bằng chi phí thức ăn thấp nhất trên mỗi kilogram tăng trọng. Đối với thức ăn cho thủy sản, một loại thức ăn có giá cao
hơn vẫn có thể mang lại hiệu quả tốt hơn nếu giảm hệ số chuyển đổi, cải thiện tỷ lệ sống hoặc rút ngắn thời gian nuôi. Bên cạnh đó, công nghệ chế biến, hệ thống cho ăn thông minh, giám sát và điều chỉnh bằng AI… sẽ giúp cung cấp dinh dưỡng chính xác theo từng loài, từng giai đoạn sinh trưởng và môi trường nuôi.
Hạnh Nguyên
60 | THỨC ĂN DINH DƯỠNG
thuysanvietnam.com.vn
Chạy đua
tìm nguồn thay thế bột cá trong thức ăn thủy sản Khan hiếm nguồn cung bột cá và dầu cá do biến đổi khí hậu và biến động địa chính trị thúc đẩy cuộc chạy đua tìm kiếm các nguồn nguyên liệu và phương pháp tạo ra nguồn nguyên liệu thay thế.
Mi Lan
9.2026 Tiềm năng của bột phụ phẩm gia cầm Một nghiên cứu mới đây trên Tạp chí Khoa học Công nghệ Thức ăn Chăn nuôi đã đánh giá khả năng sử dụng bột phụ phẩm gia cầm (được sản xuất từ các phần phụ phẩm của gia cầm như đầu, chân, nội tạng sạch và các phần thịt vụn) như một thành phần thay thế trong dinh dưỡng cho cá. Theo nghiên cứu, bột phụ phẩm gia cầm có thể thay thế bột cá trong chế độ dinh dưỡng của một số loài cá có vây. Tuy nhiên, nguyên liệu này không thể thay thế trực tiếp cho bột cá do những sự khác biệt nhất định về thành phần protein, axit amin... Chẳng hạn, bột phụ phẩm gia cầm cung cấp hàm lượng protein thô tương đối cao nhưng thành phần axit amin thiết yếu như lysine, methionine và isoleucine có thể chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi. Bên cạnh đó, tổng lượng protein thô không phải lúc nào cũng cung cấp đủ tổng lượng axit amin cần thiết cho cá, điều được cho rằng liên quan tới sự khác biệt về yếu tố đạm phi protein. Vì vậy, muốn gia tăng bột phụ phẩm gia cầm trong dinh dưỡng cho cá, buộc phải chú ý đền cân bằng axit amin tổng thể, thay vì chỉ chú ý để tổng lượng protein thô. Một vấn đề khác, theo nghiên cứu, hàm lượng dinh dưỡng trong bột phụ phẩm gia cầm phụ thuộc vào các nguyên liệu đầu vào. Tỷ lệ xương cao hơn có thể làm tăng hàm lượng tro trong thức ăn chăn nuôi, làm giảm khả năng hấp thụ protein. Ngược lại, bột phụ phẩm gia cầm chất lượng cao, có hàm lượng tro tho thấp có thể khiến giá trị chuyển hóa protein lên tới trên 85% ở một số loài cá. Dù vậy, mức độ thay thế bột cá của bột phụ phẩm gia cầm trong thức ăn cho cá khác nhau theo từng chủng loại. Nghiên cứu chỉ ra, đối với cá tầm lớn, có thể thay thế 24%, với cá tráp biển, cá hồi cầu vồng và cá bơn lần lượt là 28,3%, 73.5% và 75%. Một số nghiên cứu cho rằng, đối với cá rô phi sông Nile, bột phụ phẩm gia cầm có thể thay thể hoàn toàn bột cá. Tuy nhiên, mức độ thích ứng của cá rô phi với tỷ lệ bột phụ phẩm gia cầm được thêm vào thức ăn thay cho bột cá là khác nhau. Trong một nghiên cứu, khi tỷ lệ là 40%, khả năng miễn dịch của cá rô phi sông Nile suy giảm và cá dễ bị căng thẳng hơn trong quá trình sinh trưởng. Những thành phần ngoài protein cũng là vấn đề đáng lưu ý. Bột cá cung cấp các axit
THỨC ĂN DINH DƯỠNG | 61
Ấu trùng ruồi lính đen
béo thiết yếu, DHA và các loại dinh dưỡng chức năng khác… Vì vậy, khi thức ăn được gia tăng lượng bột phụ phẩm gia cầm, hàm lượng axit béo thiết yếu trong thịt cá sẽ thay đổi. Bên cạnh đó, phản ứng miễn dịch, tình trạng căng thẳng ôxy hóa và sức khỏe gan của cá cũng cần được quan sát trong suốt quá trình sinh trưởng. Một số nghiên cứu cũng cảnh báo, chế độ ăn chứa lượng bột phụ phẩm gia cầm cao liên quan tới sự tích lũy dịch gan và hiện tượng không bào hóa quá mức. Vì vậy, công thức thức ăn cho cá hiệu quả cần cân nhắc tới sự cân bằng axit amin, khả năng hấp thụ, sức khỏe cá… chứ không chỉ riêng tốc độ sinh trưởng. Và “chiến binh” ấu trùng ruồi lính đen Song song với cuộc tìm kiếm nguồn protein từ phụ phẩm động vật, những nghiên cứu hướng tới các giải pháp biến thực vật thành nguồn protein tiềm năng đang được tích cực thực hiện. Các nhà khoa học từ Đại học Miami, Mỹ đang thử nghiệm việc sử dụng ấu trùng ruồi lính đen để chuyển đổi dinh dưỡng trong rong mơ trôi nổi thành các thành phần thức ăn cho thủy sản. Dự án được tài trợ khoản kinh phí 320.000 USD hướng tới giải pháp chuyển đổi lượng rong mơ dạt vào bờ biển Miami thành các sản phẩm dinh dưỡng cho ngành nuôi trồng thủy sản, đồng thời, giải quyết thách thức môi trường từ rong mơ trôi dạt với khu vực này. Các nhà khoa học đã thử nghiệm một mô
Ảnh: Shutterstock
hình nuôi ấu trùng ruồi lính đen có thể theo dõi sự chuyển đổi sinh học trong điều kiện được kiểm soát. Họ phát hiện, ấu trùng ruồi lính đen được nuôi trên chất nền thực vật chứa hàm lượng polyphenol, hợp chất hữu cơ tự nhiên có đặc tính chống ôxy hóa và kháng khuẩn mạnh mẽ có thể chuyển các hợp chất chống ôxy hóa từ môi trường nuôi vào sinh khối của chúng. Ấu trùng ruồi lính đen, vì thế, có thể được sử dụng như một thành phần protein thay thế trong thức ăn chăn nuôi và thủy sản. Theo nhóm nghiên cứu, đây không chỉ là nguồn protein bền vững mà còn có thể trở thành một loại “thực phẩm chức năng” với cá nuôi. Thách thức còn lại là việc loại bỏ lượng asen và các chất gây ô nhiễm khác trong rong mơ. Đây là đề tài của một nghiên cứu khác đang tích cực được thực hiện cũng tại Đại học Miami. Theo các chuyên gia, ngành thức ăn thủy sản đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc giảm phụ thuộc vào nguyên liệu biển. Hiện tại, một công thức thức ăn cho cá có thể chưa hơn 20 loại nguyên liệu khác nhau. Nhiều giải pháp thay thế cho bột cá và dầu cá đã và đang được thương mại hóa, bao gồm việc sử dụng bột côn trùng, protein đơn bào, dầu tảo, cây trồng biến đổi gen đơn bào… Khi sử dụng các nguyên liệu thay thế, các nhà khoa học tập trung hơn và các thành phần chức năng nhằm cải thiện khả năng hấp thụ dinh dưỡng, miễn dịch, sức khỏe đường ruột và hiệu quả sử dụng thức ăn của thủy sản nuôi.
62 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Biệt Đội Tứ Siêu VU-S26 về đích mùa 1, vụ mùa bội thu Chỉ sau nửa năm ra mắt, thế hệ tôm giống VUS26 của Tập đoàn Việt Úc đã ghi nhận nhiều kết quả đáng chú ý tại các vùng nuôi trên cả nước. Nổi bật là những ao thả giống Siêu 60 đạt 30 40 con/kg sau 60 ngày, thậm chí có ao về 20 con/kg chỉ sau 89 ngày nuôi. Những kết quả thực tế đang cho thấy khả năng tăng trưởng của đàn tôm trong nhiều điều kiện và mật độ nuôi khác nhau.
60 ngày, nhiều ao cán mốc dưới 40 con/kg Tại Cà Mau, ao của anh Trần Văn Khởi ở Tạ An Khương được cân ở ngày thứ 60, đạt 38,8 con/ kg. Cùng thời điểm, ao anh Kiên Nguyễn tại Năm Căn đạt 38,5 con/ kg, ao anh Huỳnh Thanh Việt tại Vĩnh Hậu đạt 33 con/kg. Tại Phú Mỹ, ao anh Trần Tấn Nhã cũng ghi nhận 38,8 con/kg sau 60 ngày. Tại Vĩnh Long, ao anh Lê Văn Sấm ở Thạnh Hải đạt 35 con/kg ở mốc 60 ngày; ao anh Nguyễn Thái Bình tại cùng khu vực ghi nhận 42 con/kg. Đà tăng trưởng ở mốc 60 ngày cũng được ghi nhận tại nhiều vùng nuôi khác. Tại Đồng Nai, ao anh Nguyễn Huy Bình ở Phước An đạt 42,7 con/kg; tại Đồng Tháp, ao anh Ngô Minh Tuấn ở Tân Phú Đông đạt 48,2 con/kg. Với người nuôi, đạt kích cỡ thương phẩm sớm không đơn thuần là câu chuyện “tôm lớn nhanh”. Mỗi ngày rút ngắn được trên hành trình về size mục tiêu cũng là thêm một ngày tiết giảm thức ăn, điện và công chăm sóc, đồng thời giảm thời gian đàn tôm phải đối mặt với biến động môi
trường, thời tiết và dịch bệnh. Quan trọng hơn, về đích sớm còn tạo dư địa để người nuôi chủ động thu hoạch, tái vụ nhanh hơn và thu hồi vốn sớm hơn – những yếu tố trực tiếp góp phần nâng hiệu quả của một vụ nuôi. Nuôi tiếp sau 60 ngày, tôm còn lớn nhanh? Mốc 60 ngày chưa phải là điểm dừng của hành trình tăng trưởng của Siêu 60. Tại một số ao tiếp tục kéo dài thời gian nuôi trên 90 ngày, đàn tôm vẫn giữ đà lớn nhanh và liên tục tiến tới những size lớn hơn. Đây cũng là giai đoạn không dễ với người nuôi, bởi càng về cuối vụ, áp lực từ sự tích tụ chất hữu cơ, khí độc, dịch bệnh đến chi phí thức ăn, điện và quản lý càng gia tăng theo từng ngày. Thực tế tại nhiều vùng nuôi đang ghi nhận những kết quả đáng chú ý. Tại Kiên Lương, An Giang, ao của anh Võ Minh Thành đạt 18,8 con/kg sau 98 ngày. Tại Mỹ Long, Vĩnh Long, ao anh Bảy Tươi tiếp tục về 16,9 con/kg ở ngày thứ 105. Ở Quách Phẩm, Cà Mau, ao của chú Nam được thả với mật độ 60 con/m². Đến ngày thứ 108, tôm
đạt 19,37 con/kg, năng suất ghi nhận khoảng 2,9 kg/m². Theo chú Nam, Siêu 60 duy trì tốc độ lớn tốt, có giai đoạn mỗi ngày rút khoảng 2 - 3 con/kg. Với đàn tôm ít bệnh và còn khả năng về size, chú quyết định tiếp tục nuôi, hướng tới mốc 15,5 con/kg để tận dụng lợi thế giá bán của tôm cỡ lớn. Tại Bình Đại, Vĩnh Long, anh Lê Phước Lập lựa chọn mật độ nuôi cao hơn, khoảng 150 con/m². Gần ngày nuôi thứ 110, đội ngũ kỹ thuật Việt Úc kéo mẫu và cân trực tiếp tại ao: 4,3 kg tôm đếm được 86 con, tương đương 20 con/ kg. Đàn tôm phát triển khá đồng đều, ít phân đàn, giúp người nuôi thuận lợi hơn trong việc theo dõi tốc độ lớn và chủ động tính toán thời điểm thu hoạch. Nhưng với anh Lập, câu chuyện không chỉ nằm ở việc tôm đạt được size lớn đến đâu, mà còn là mất bao nhiêu ngày nuôi và bao nhiêu chi phí để đi đến size đó. Trong bối cảnh đầu vào tăng trong khi giá tôm chịu nhiều áp lực, tốc độ lớn của con giống càng trở thành một yếu tố đáng cân nhắc trong bài toán giá thành.
9.2026
“Năm nay thức ăn và chi phí đầu vào đều tăng, trong khi giá tôm giảm. Con giống lớn nhanh là một trong những cách thực tế để giảm giá thành cho người nuôi”, anh Lập chia sẻ. Hàng trăm khách hàng thắng lợi vụ mùa bội thu Những kết quả trên không chỉ đến từ một vài ao riêng lẻ. Đến nay, chương trình “Biệt Đội Tứ Siêu VU-S26 - Sải Bước Chân S, Khơi Nguồn Thịnh Vượng” đã thu hút hơn 230 khách hàng tại 21 tỉnh, thành, với gần 120 triệu con giống được đăng ký thả nuôi. Chương trình là một sân chơi sôi nổi dành cho khách hàng Việt Úc tại cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Các ao đạt size 30 con/kg nhận 1
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 63
chỉ vàng; ao đạt size 20 con/kg,
60 nổi bật về tốc độ lớn; Siêu
không giới hạn ngày nuôi, nhận 2 chỉ vàng. Theo đại diện Việt Úc, đến nay 84 chỉ vàng đã được trao cho các khách hàng trên cả nước. Hành trình thắng lợi của những ao tôm cũng được ghi hình trực tiếp và chia sẻ trên fanpage Tập đoàn Việt Úc từ cuối tháng 5/2026. Đến nay, chuỗi nội dung đã thu hút hơn 7 triệu lượt xem, phần nào cho thấy sức hút của những câu chuyện được kể từ chính ao nuôi và kết quả thực tế của người nuôi tôm.
Bền Bỉ hướng đến khả năng thích nghi trước môi trường biến động; Siêu Chống Chịu chú trọng sức chống chịu và tỷ lệ sống; còn Siêu Hạ Mặn hướng đến những vùng nuôi có độ mặn thấp. Đằng sau những ưu thế riêng của từng dòng là quá trình chọn giống được Việt Úc đầu tư liên tục trong hơn 15 năm, với hệ thống dữ liệu phả hệ được tích lũy qua nhiều thế hệ và đặc biệt là bước tiến từ công nghệ Genomics – giải mã di truyền phân tử. Nếu phương pháp chọn giống truyền thống chủ yếu dựa trên thông tin gia đình và các biểu hiện quan sát được, Genomics cho phép đi sâu đến cấp độ từng cá thể thông qua thông tin di truyền.
Quả ngọt từ đột phá công nghệ di truyền Genomics Siêu 60 là một trong bốn dòng tôm giống thuộc thế hệ VU-S26 được Tập đoàn Việt Úc giới thiệu trong năm 2026. Trong đó, Siêu
Nhờ đó, những cá thể mang tiềm năng nổi trội về các tính trạng như tăng trưởng, tỷ lệ sống, khả năng thích nghi hay chống chịu có thể được nhận diện chính xác hơn để phục vụ công tác chọn lọc và phát triển các thế hệ tiếp theo. Trước khi xuống giống, đội ngũ kỹ thuật Việt Úc hỗ trợ khách hàng khảo sát các chỉ tiêu môi trường nước, đánh giá điều kiện ao và tư vấn thời điểm thả phù hợp. Dựa trên nguồn nước, mùa vụ, mật độ và mục tiêu sản xuất của từng hộ, người nuôi cũng được tư vấn lựa chọn dòng VU-S26 phù hợp, đồng thời tiếp tục theo dõi khả năng thích nghi của đàn tôm sau khi thả.
Việt Úc
64 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Giải bài toán tôm chậm lớn
Kéo giảm tỷ lệ nhiễm nặng EHP từ 88,9% xuống 10% Vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) trong ao nuôi tôm không còn là vấn đề mới. Tuy nhiên, điều người nuôi tôm đặc biệt quan tâm hiện nay là: Khi EHP đã xuất hiện, làm thế nào để kiểm soát mức độ nhiễm và hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi?
T
hấu hiểu nỗi lo lớn nhất đó, UniPresident đã phối hợp cùng Viện Nghiên cứu cấp quốc gia triển khai đề tài thực nghiệm chuyên sâu. Thay vì chỉ xác định tôm “có nhiễm hay không”, nghiên cứu tập trung đánh giá mức độ nhiễm thông qua tải lượng EHP, từ đó xem xét mối liên hệ với tốc độ tăng trưởng bình quân ngày (ADG), hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và tỷ lệ sống (SR) của tôm. Không chỉ xác định “có nhiễm”, mà cần biết nhiễm ở mức độ nào? Đây chính là điểm tháo gỡ then chốt cho bài toán tôm còi cọc. Kết quả ghi nhận sau khi sử dụng sản phẩm DEhp PRO thì tỷ lệ tôm nhiễm EHP ở mức độ nặng giảm từ 88,9% xuống còn 10%. Đồng
Hình ảnh tôm bị EHP
Biểu đồ thể hiện cơ chế DEhp PRO thời, so với nhóm tôm bị bệnh nhưng không được dùng sản phẩm, ADG tăng 100%, FCR giảm 41,4% và tỷ lệ sống tăng hơn 20%. Dữ liệu thực chứng này mở ra một tư duy quản lý dịch bệnh hoàn toàn mới: Việc quản lý EHP không nên chỉ dừng ở xác định sự hiện diện của mầm bệnh. Quan trọng hơn, người nuôi cần chủ động kiểm soát tải lượng bào tử EHP (Nhiễm nhẹ: < 1.000 copies/50 ng-DNA;
Nhiễm trung bình: 1.000 - 10.000 copies/50 ng-DNA; Nhiễm nặng: > 10.000 copies/50 ng-DNA), không để bệnh chuyển sang giai đoạn nặng – giai đoạn đà tăng trưởng của tôm bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Hỗ trợ tác động vào cơ chế xâm nhiễm của EHP Để giúp người nuôi kiểm soát tình trạng nhiễm EHP và ngăn bệnh tiến triển nặng, UniPresident mang đến giải pháp DEhp PRO với khả năng tác động vào quá trình phóng ống cực (polar tube) của bào tử EHP - Cơ chế then chốt giúp EHP xâm nhiễm tế bào biểu mô ống gan tụy của tôm. Nói cách khác, DEhp PRO có thể “khóa” cánh cửa xâm nhập của EHP ngay từ giai đoạn đầu. Sản phẩm không chỉ giúp ức chế vi bào tử trùng mà còn bổ sung các dưỡng chất bị EHP lấy đi và làm suy giảm, từ đó giúp cải thiện tốc độ tăng trọng của tôm. Đồng thời, sản phẩm bổ sung các thành phần hỗ
9.2026
65
trợ phục hồi gan tụy và đường ruột, cải thiện khả năng hấp thu dinh dưỡng, duy trì hệ tiêu hóa khỏe mạnh, giúp tôm duy trì lượng thức ăn và thúc đẩy tăng trưởng. Minh chứng hiệu quả từ các ao nuôi thực chiến Một điển hình sử dụng thành công khác ở Quảng Ngãi: - Tại ao nuôi mốc DOC 43: Tôm trong ao nuôi gan tụy teo, ruột nhỏ và mảnh, sức ăn không tăng, có khoảng 20% tôm trống ruột, đứt khúc. Test PCR nhiễm EHP với CT 35.11 vòng. - Sau khi sử dụng DEhp PRO: Tôm sau điều trị duy trì bắt mồi ổn định, sức ăn tăng, hệ thống gan tụy, đường ruột tôm ổn định, tôm rút size ổn (ADG đạt 0,46 g/ngày từ DOC 45 đến DOC 60), điểm thành công cốt lõi là giải pháp đã kiểm soát được tải lượng mầm bệnh ở ngưỡng an toàn, giúp người nuôi bảo toàn thành công đàn tôm. Tất nhiên, kiểm soát EHP không thể dựa vào một giải pháp đơn lẻ. Việc quản lý môi trường, tối ưu hóa dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe gan tụy - đường ruột vẫn cần được triển khai đồng bộ. Dù vậy, các dữ liệu thực nghiệm đã chứng minh: Việc chủ động ngắt đà xâm nhiễm và khống chế tỷ lệ nhiễm nặng chính là “chìa khóa” tạo ra sự khác biệt lớn cho tốc độ lớn của tôm. Qua nghiên cứu này, Uni-President muốn gửi gắm một thông điệp đồng hành đầy thực tế: Nhiễm EHP không đồng nghĩa với thất bại. Khi mầm bệnh được phát hiện sớm, tải lượng được theo dõi và các biện pháp kỹ thuật dinh dưỡng được áp dụng đồng bộ, người nuôi có thể hạn chế thiệt hại, hỗ trợ tôm phục hồi tăng trưởng và nâng cao hiệu quả vụ nuôi. Với kinh nghiệm và hệ thống giải pháp dinh dưỡng toàn diện, Uni-President cam kết đồng hành cùng bà con trong từng giai đoạn nuôi, giúp kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả thực tế tại ao. Để được tư vấn chi tiết, bà con có thể liên hệ đội ngũ Uni-President qua Hotline 02743.732.723, hệ thống đại lý trên toàn quốc hoặc Fanpage chính thức trên Facebook để được hỗ trợ nhanh chóng. Uni-President – Nuôi tôm thành công cùng Mô hình 3 Tốt!
Uni-President
Điển hình thành công DEhp PRO ở Khánh Hòa
Hình tôm nhiễm bệnh ở DOC 43 và Hình tôm sau khi sử dụng DEhp PRO ở DOC 55
66 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
NANOBUBBLE giải pháp tối ưu phân tán khí
Duy trì ôxy hòa tan trong nước Trong nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, ôxy hòa tan (DO) là yếu tố quan trọng đối với hô hấp của tôm, hoạt động của hệ vi sinh và sự ổn định của chất lượng nước. Khi mật độ nuôi và sinh khối tăng cao, nhu cầu ôxy trong ao cũng tăng, đòi hỏi giải pháp cung cấp và duy trì DO hiệu quả.
C
ông nghệ Nanobubble của B.H.N được phát triển nhằm tối ưu quá trình đưa khí vào nước thông qua việc tạo ra các bọt khí có kích thước rất nhỏ. Khi kích thước bọt khí giảm, tổng diện tích bề mặt tiếp xúc giữa pha khí và pha nước có thể tăng lên đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình truyền khí. Công nghệ Nanobubble hướng đến việc tăng hiệu quả sử dụng khí và phân tán khí trong môi
trường nước. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với các hệ thống nuôi có mật độ cao. Trong ao nuôi tôm, hệ thống Nanobubble B.H.N có thể được bố trí tại các khu vực cấp nước, đường tuần hoàn hoặc các vị trí được tính toán dựa trên đặc điểm thủy động lực của ao. Khi kết hợp với hệ thống tuần hoàn và quản lý dòng nước phù hợp, giải pháp có thể hỗ trợ đưa nước giàu ôxy đến những khu vực có nhu cầu ôxy cao, góp phần giảm hiện tượng phân tầng hoặc chênh lệch DO giữa các khu vực trong hệ thống. Duy trì DO 7 - 8 ppm trong ao nuôi tôm Trong thực tế vận hành, B.H.N hướng đến việc duy trì DO ở mức 7 - 8 ppm trong ao nuôi tôm, tùy thuộc vào thể tích nước, mật độ thả, sinh khối, nhiệt độ, độ mặn, tải lượng hữu cơ, thiết kế hệ thống tuần hoàn và cấu hình thiết bị. Mức DO cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hô hấp của tôm, đồng thời hỗ trợ hoạt động của hệ vi sinh vật hiếu khí tham gia phân hủy chất hữu cơ và chuyển hóa các hợp chất Nitơ. Đối với hệ thống nuôi thâm canh, việc kiểm soát DO ổn định cũng giúp người nuôi chủ động hơn trong quản lý thức ăn, sinh khối và chất lượng nước, thay vì chỉ xử lý tình
trạng thiếu ôxy khi DO đã giảm xuống mức nguy hiểm. Tăng DO cho hệ thống tôm giống - lên đến 20 ppm Trong quá trình đóng gói và vận chuyển tôm giống, ôxy hòa tan là yếu tố quan trọng giúp duy trì điều kiện môi trường phù hợp cho tôm. Công nghệ Nanobubble B.H.N có thể hỗ trợ nâng ôxy hòa tan trong nước lên đến 20 ppm, tùy thuộc vào điều kiện vận hành và cấu hình hệ thống. Nước được tăng cường ôxy trước khi đóng gói giúp tạo nguồn nước có hàm lượng ôxy hòa tan cao hơn, hỗ trợ tôm duy trì trạng thái tốt trong quá trình vận chuyển. Việc chủ động nâng DO trước khi đóng tôm có thể góp phần giảm stress trong quá trình vận chuyển, hỗ trợ duy trì sức khỏe của tôm và nâng cao tỷ lệ sống, đặc biệt trong các chuyến vận chuyển kéo dài. Việc lựa chọn công suất máy, lưu lượng nước, vị trí lắp đặt và phương án tuần hoàn cần được
tính toán dựa trên thể tích hệ thống, sinh khối tôm, mật độ nuôi, nhiệt độ, độ mặn, tải lượng hữu cơ và mục tiêu DO. Cách tiếp cận này giúp Nanobubble không chỉ trở thành một thiết bị tạo ôxy mà là một phần của giải pháp quản lý môi trường nước và kiểm soát DO cho nuôi tôm hiện đại. B.H.N sắp ra mắt Probiotic chuyên dụng cho nuôi tôm Giải pháp vi sinh hỗ trợ sức khỏe đường ruột, tiêu hóa và sức đề kháng của tôm, đồng thời hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước và môi trường đáy ao. Với định hướng kết hợp sức khỏe tôm và quản lý môi trường, Probiotic B.H.N hướng đến xây dựng hệ vi sinh ổn định, hỗ trợ tôm phát triển khỏe mạnh và nâng cao hiệu quả nuôi. Probiotic B.H.N – Đường Ruột Khỏe • Tôm Khỏe • Ao Nuôi Ổn Định.
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM Số điện thoại: 028.668.101.95/96 Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
B.H.N
9.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 67
68 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Biện pháp nâng cao năng suất cá kèo thương phẩm Cá kèo khi đưa vào nuôi thương phẩm cá bị hao hụt nhiều, tỷ lệ sống chưa cao, dễ mắc các loại dịch bệnh ảnh hưởng năng suất khi thu hoạch. Do đó cần có những biện pháp giúp nâng cao năng suất cá kèo thương phẩm.
Tổng quan Phong trào nuôi cá kèo thương phẩm ở vùng ven biển thuộc ĐBSCL phát triển và ngày càng mở rộng diện tích. Tuy nhiên cá kèo khi đưa vào nuôi thương phẩm cá bị hao hụt nhiều, tỷ lệ sống chưa cao, dễ mắc các loại dịch bệnh như bệnh xuất huyết lở loét (ghẻ), nấm, ký sinh trùng… dẫn đến cá bị chết nhiều, ảnh hưởng năng suất khi thu hoạch. Cá kèo là loài cá ăn thiên về sinh vật phù du, các loại thực vật sống bám vào nền đáy và mùn bã hữu cơ. Hệ thống tiêu hóa có chiều dài gấp 3 lần chiều dài cơ thể, chứng tỏ đây là loài cá ăn tạp, thiên về thực vật. Biện pháp tăng tỷ lệ sống Kiểm soát môi trường nuôi: Làm tốt khâu xử lý môi trường ao nuôi ban đầu sạch bệnh. Phải có ao chứa nước sạch đạt chuẩn
để sẵn sàng cung cấp nước cho ao nuôi cá kèo mọi thời điểm. Ao nuôi cần thay nước mỗi ngày với mục đích giữ môi trường nước ao sạch, không ô nhiễm từ chất bài thải của cá cũng như không tồn lưu thức ăn dư thừa phân hủy sinh ra khí độc… Khi thả cá giống: Cần chọn giống khỏe mạnh, điều cỡ và thả giống với mật độ nuôi vừa phải không quá 100 con/m². Nhằm hạn chế cá kèo giống bị shock trong quá trình vận chuyển và đổi môi trường sống… bằng cách trước khi thả cá kèo 15 – 20 phút tạt sản phẩm BIO ANTISHOCK for fish vào ao thả cá kèo với liều 2 kg/1.000 m³ nước. Kiểm soát nguồn thức ăn: Cá kèo nuôi bằng thức ăn công nghiệp, thức ăn này không hoàn hảo bằng thức ăn tự nhiên được. Do đó, khi cho cá ăn cần bổ sung thêm BIO NUTRIFISH là tổ hợp
các vitamin, khoáng chất và các acid amin thiết yếu cho cá ăn mỗi ngày; liều dùng 10 mg/kg thức ăn. Mục đích giúp nâng sức khỏe cho cá, cá phát triển đồng đều, hạn chế tỷ lệ phân đàn, mau lớn. Kiểm soát dịch bệnh: Thường xuyên theo dõi mọi hoạt động cá kèo, nhất là khi thay nước cũng như lúc cho cá ăn để sớm phát hiện dấu hiệu bất thường và có biện pháp xử lý ngăn chặn cá bị bệnh kịp thời. Trong quá trình nuôi, cá kèo thường bị nhiễm 2 bệnh sau: Bệnh nấm và các loài ký sinh trùng: Biểu hiện bên ngoài như da cá trở nên sậm màu, cá uốn mình liên tục, bơi lội không định hướng, cá yếu dần và chết rải rác mỗi ngày. Mang cá nhợt nhạt có con mang sung huyết do tổn thương… là do các loài ký sinh như trùng bánh xe (Trichodina sp.) và trùng quả dưa (Ichthyophthyrius sp.) bám trên mang và vây cá. Ngoài ra cũng có trường hợp cá bị nhiễm thêm nấm Fusarium sp, ký sinh trên da và mang cá gây các hiện tượng trên. Điều trị: Bỏ đói cá 1 cữ chiều hôm trước và sáng hôm sau trộn cho cá ăn BIO ANTIPA for aqua (hoạt chất Praziquentel) 2 ngày liên tục với liều 100 g/tấn cá/cữ/ ngày. Sang ngày thứ 3 bổ sung cho cá ăn Vitamin tổng hợp, nhất là BIO SUPER B 12 là chất tạo máu, ngăn chặn cá kèo thiếu máu do bị nhiễm ký sinh trùng. Kết hợp thay nước và xử lý nước mới bằng BIO PARACIDE for aqua (hoạt chất Bronopol) với liều 1 lít/2.000 m³ nước giúp diệt khuẩn và nấm ngoại ký sinh có trong môi trường, ngăn chặn cá kèo tái phát bệnh trở lại.
Bệnh xuất huyết, lở loét do nhiễm khuẩn: Các loài vi khuẩn gây bệnh là Aeromonas sp, Pseudomonas sp, Vibrio sp… Dấu hiệu cá hay tách đàn bơi một chỗ ở các góc ao nuôi, có con mắt sưng to, bụng phình to, cơ 2 bên thân bị phù, nhất là ở gần cuống đuôi. Một số cá bị bệnh nặng, có thể lở loét ra cả bên ngoài ở bụng, gốc vi, đầu… Khi mổ chỗ cơ bị sưng, có nhiều dịch chảy ra, màu hơi đỏ, mùi rất tanh, bong bóng, thận, mật phình to, ruột không có thức ăn. Điều trị: Sử dụng kháng sinh trị bệnh cho cá, tuy nhiên để điều trị bệnh hiệu quả cần lưu ý 2 yêu cầu sau: - Cần phát hiện bệnh sớm và tiến hành điều trị ngay khi cá còn bắt mồi… - Có nhiều kháng sinh như Oxytetracycline, Doxycycline, Flophenicol, Cefotaxim… trị được bệnh nhiễm khuẩn trên cá. Tuy nhiên, hiện nay cá kèo có dấu hiệu kháng một số thuốc kháng sinh, do vậy để điều trị hiệu quả cần lấy mẫu cá kèo bệnh gửi về phòng kiểm nghiệm làm kháng sinh đồ. Từ đó, có thể tìm ra loại kháng sinh nhạy với vi khuẩn gây bệnh để điều trị hiệu quả. Sau liệu trình điều trị kháng sinh 5-7 ngày liên tục thì cá sẽ hết bệnh. Lúc này, cần bổ sung enzyme, men tiêu hóa cũng như Vitamin tổng hợp cho cá ăn, sẽ giúp cá nhanh bắt mồi, mau hồi phục, ít bị tái phát bệnh trở lại.
Đặng Hồng Đức Cố vấn kỹ thuật Công ty liên doanh Bio-Pharmachemie
9.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 69
Bảo vệ gan tụy
Bí quyết của sự thành công Đối với người nông dân nuôi tôm, bên cạnh việc hoạt động bắt mồi của tôm, màu nước nuôi thì hình thái và màu sắc của cơ quan gan tụy là một trong những yếu tố quan trọng nhất đem đến vụ mùa thành công cho người nuôi. Chức năng của gan tụy đối với tôm - Chức năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng; - Chức năng lưu trữ: dự trữ các hạt lipid, glycogen, dinh dưỡng và các khoáng chất; - Giải độc và chống stress khi gặp điều kiện bất lợi; - Tạo máu và hỗ trợ miễn dịch Chức năng ảnh hưởng đến quá trình bài tiết của tôm, thời gian lột xác, sự sinh trưởng và thành thục sinh sản của tôm. Tôm khỏe là tôm có gan tụy đầy và đều; có màu nâu vàng hoặc nâu đen đẹp mắt; khi bóp bể dịch gan màu nâu vàng sệt lại, không chảy và không chai cứng; thấy rõ dạ dày hình hạt gạo có màu đen, nâu đen rõ rệt. Gan tụy tôm nhiễm bệnh thường có màu đỏ, vàng, nhạt đến trắng, đen. Gan bệnh là khi khối gan tụy teo lại có màu đen và bị chai cứng hoặc dai như cao su, ruột tôm rỗng dẫn đến chết rải rác; gan bị hoại tử cấp độ nhẹ có màu vàng, bị nhũn gan, gan hơi sưng đến hoại tử cấp tính thì gan có màu nhạt dần đến trắng, khối gan teo lại, ruột tôm rỗng không có thức ăn hoặc bị đứt đoạn, tôm thường bị mềm vỏ, tỷ lệ tôm chết khá cao thường xảy ra từ khi tôm 10 ngày tuổi. Gan tụy tổn thương là do đâu? Gan tụy là nơi dễ bị tàn phá bởi độc tố nhất. Bên cạnh đó chức
năng gan cũng dễ bị tổn thương do nguyên nhân virus, vi khuẩn từ biến động của môi trường như pH, kiềm, DO, mật độ tảo, nhiệt độ,... Bệnh về gan tụy trên tôm khá nguy hiểm, có thể gây chết hàng loạt 100% ao nuôi nếu không có cách phòng chống và điều trị kịp thời. Do di truyền: Dòng vi khuẩn, virus gây bệnh lây từ bố mẹ cho tôm con. Thức ăn: Vi khuẩn gây bệnh từ thức ăn bị mốc, thức ăn ôi thiu. Quản lý lượng ăn: Do cho tôm ăn quá nhiều, gan tụy tiết enzyme tiêu hóa hoạt động quá mức nên bị tổn thương. Cho tôm ăn quá ít, tôm đói dẫn đến ăn xác tôm bệnh chết, ăn mùn bã hữu cơ. Độc tố môi trường: Ảnh hưởng của khí độc; tảo độc; độc tố từ thuốc và hóa chất trừ sâu, diệt cỏ, diệt giáp xác côn trùng, khí độc. Ngoài ra các yếu tố chất lượng nước bất lợi (pH, DO,...) về môi trường cũng khiến tôm stress và gây ảnh hưởng xấu đến gan tụy của tôm. Các biện pháp bảo vệ gan tụy tôm khỏe Xử lý đáy, phơi ao, diệt khuẩn nước thật kỹ trước khi thả nuôi. Lựa chọn nguồn tôm bố mẹ, tôm giống sạch bệnh.( Kiểm tra bệnh bằng phương pháp PCR) Quản lý tốt chất lượng nước, mật độ tảo, thường xuyên kiểm tra các chỉ tiêu nước để có các
STIMULIV SLP. Sản phẩm hỗ trợ tăng cường hoạt động cho hệ thống gan, ruột cho động vật thủy sản biện pháp kịp thời giảm stress cho tôm. Cho tôm ăn vừa đủ, lựa chọn loại thức ăn phù hợp Áp dụng hệ thống nuôi tuần hoàn kín để tránh bị ô nhiễm từ môi trường. Các biện pháp từ vi sinh: Bổ sung vi sinh có lợi cho đường ruột, hỗ trợ tiêu hóa giảm gánh nặng cho gan tụy; bổ sung vi sinh hỗ trợ xử lý nước và đáy để giảm khí độc tạo môi trường nuôi thuận lợi. Không chỉ vậy khi kết hợp với các sản phẩm hỗ trợ tăng cường chức năng gan sẽ đem lại hiệu quả tối ưu nhất giúp vụ mùa ổn định và thành công. Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả cao, tiết kiệm, an toàn, thân thiện với môi trường. Hiện nay, Công ty Thái Nam Việt đã tìm ra và mang
đến cho người nuôi loại chế phẩm sinh học có khả năng bảo vệ và nuôi dưỡng gan với hiệu quả vượt trội. Được nhập khẩu 100% từ Ấn Độ, sản phẩm STIMULIV SLP./ STIMULIV SL là một loại thảo dược đậm đặc, thành phần chính là Cây kế sữa, góp phần giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh trong quá trình nuôi, có khả năng bảo vệ và tăng cường chức năng gan, hỗ trợ phục hồi mạnh mẽ tế bào gan bị tổn thương, kích thích bắt mồi, tăng cường miễn dịch của tôm. Chỉ với liều dùng tối thiểu 1gram/kg thức ăn đã có thể hỗ trợ bảo vệ hệ thống gan tụy trước các tác nhân gây hại, góp phần duy trì sức khỏe tôm và nâng cao hiệu quả vụ nuôi. Thái Nam Việt
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT SINH HÓA THÁI NAM VIỆT Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, P. Tăng Nhơn Phú, TP. Hồ Chí Minh ĐT: 091 686 5938 - 0853895939 Email: info@thainamviet.com - Website: thainamviet.com
70 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
Sitto Việt Nam
Chính thức ra mắt bộ nhận diện thương hiệu cho 3 ngành kinh doanh chiến lược
M
ột bước tiến quan trọng trong hành trình xây dựng hệ sinh thái Thủy sản - Nông nghiệp - Thú cưng, khẳng định vị thế thương hiệu trên thị trường. Trong bối cảnh toàn ngành đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại, việc xây dựng một hệ thống nhận diện thương hiệu rõ ràng, chuyên nghiệp không còn là lựa chọn - mà là yếu tố sống còn. Một logo tốt không chỉ giúp doanh nghiệp “được nhớ”, mà còn phải “được tin”. Dấu mốc mới trong chiến lược phát triển thương hiệu Bộ logo nhận diện thương hiệu cho 3 ngành hàng chủ lực gồm: Thủy sản (SITTO Aquaculture - SAQ), Nông nghiệp (SITTO Agriculture - SAG) và Thú cưng (SITTO Animal Health - SAH). Đây không chỉ là hoạt động làm mới hình ảnh, mà còn là bước đi chiến lược nhằm đồng bộ hóa hệ thống thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc xây dựng một bộ nhận diện rõ ràng, nhất quán chính là nền tảng để doanh nghiệp phát triển dài hạn. Một hệ sinh thái - Một tầm nhìn - Ba giá trị cốt lõi với bản sắc riêng Bộ logo mới của SITTO được phát triển theo định hướng Master Brand – Sub Brand, đảm bảo tính
thống nhất về tổng thể nhưng vẫn thể hiện rõ đặc trưng từng ngành. Toàn bộ hệ thống sử dụng chung: Font chữ hiện đại, dễ nhận diện, tông màu chủ đạo và biểu trưng riêng biệt cho mỗi lĩnh vực hoạt động, tạo nên sự khác biệt rõ ràng trong nhận diện. SITTO Aquaculture Khẳng định vị thế trong ngành thủy sản Logo SAQ sử dụng hình ảnh con tôm cách điệu, đại diện cho ngành nuôi trồng thủy sản - một trong những lĩnh vực cốt lõi của công ty. Đường nét thiết kế mạnh mẽ, dứt khoát, mang hơi hướng công nghệ, thể hiện định hướng cung cấp giải pháp kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất và tối ưu hiệu quả nuôi trồng. SITTO Agriculture Đồng hành cùng nền nông nghiệp bền vững Ở lĩnh vực nông nghiệp, logo SAG sử dụng hình ảnh chiếc lá, biểu tượng cho sự sinh trưởng, phát triển. Thiết kế mềm mại nhưng hiện đại, phản ánh định hướng phát triển nông nghiệp xanh, nâng cao giá trị nông sản và hướng tới canh tác bền vững. SITTO Animal Health Mang đến sức khỏe và sự hạnh phúc cho thú cưng Logo SAH được thiết kế với
hình ảnh chó và mèo, hai loài vật nuôi phổ biến nhất, cùng phong cách thân thiện, gần gũi. Thông điệp: Đồng hành cùng chủ nuôi, mang đến giải pháp dinh dưỡng và chăm sóc thú cưng chất lượng, an toàn. Giá trị cốt lõi: Đồng bộ Chuyên nghiệp - Bền vững Bộ nhận diện mới mang lại nhiều lợi ích chiến lược cho SITTO Việt Nam: - Tăng độ nhận diện thương hiệu trên toàn bộ hệ thống sản phẩm. - Tạo sự nhất quán trong truyền thông và marketing. - Dễ dàng mở rộng ngành hàng trong tương lai. - Khẳng định hình ảnh chuyên nghiệp trong mắt đối tác và khách hàng. Khẳng định tầm nhìn dài hạn Việc ra mắt bộ logo nhận diện 3 ngành không chỉ là thay đổi về
hình ảnh, mà còn là lời khẳng định cho tầm nhìn phát triển dài hạn của SITTO Việt Nam: - Xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp - thủy sản - thú cưng toàn diện. - Đồng hành cùng người nuôi trồng và người tiêu dùng. - Hướng tới phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Trong thời đại mà thương hiệu đóng vai trò then chốt, việc đầu tư bài bản vào hệ thống nhận diện là bước đi tất yếu. Với bộ logo mới, SITTO Việt Nam không chỉ làm mới hình ảnh mà còn đặt nền móng cho một chiến lược phát triển mạnh mẽ, chuyên nghiệp và bền vững trong tương lai.
Phòng Marketing Công ty TNHH Sitto Việt Nam
9.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 71
72 | THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
thuysanvietnam.com.vn
CPF HYPER MONODON
Dòng tôm sú nuôi mật độ cao trên ao lót bạt đáy Ngày 21/8/2026, C.P. Việt Nam chính thức cung cấp ra thị trường CPF HYPER MONODON - dòng tôm sú chuyên nuôi mật độ cao trên ao lót bạt đáy.
Thách thức từ dịch bệnh EHP Trong bối cảnh dịch bệnh EHP gây ảnh hưởng nghiêm trọng, nhiều trang trại nuôi tôm thẻ trên ao lót bạt đáy đã chịu thiệt hại nặng nề. Khi chưa có phương án cải tạo để tiếp tục đầu tư nuôi, hệ thống ao và cơ sở vật chất sẵn có chưa được tận dụng, gây lãng phí lớn về nguồn lực. Từ thực tế đó, C.P. mong muốn mang đến một giải pháp mới cho các vùng nuôi tôm trên ao lót bạt đáy, vừa tận dụng hệ thống sẵn có mà không phải tốn chi phí cải tạo lại, vừa giải quyết vấn đề bệnh EHP. CPF HYPER MONODON – Giải pháp mới từ C.P. Việt Nam Sau quá trình nghiên cứu, Tập đoàn C.P. đã nghiên cứu thành công và cho ra đời dòng
Sú chuyên nuôi ao bạt đáy mật độ cao CPF HYPER MONODON. Ngoài đặc tính thắng EHP đã được chứng minh trên thị trường qua các thế hệ tôm sú C.P. thời gian qua, CPF HYPER MONODON còn được cải tiến di truyền để có khả năng nuôi mật độ cao, lớn nhanh như tôm thẻ và có thể nuôi đạt kích cỡ lớn từ 10–15 con/kg.
9.2026
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP | 73 Bước tiến mới của ngành tôm Ông Montree Somkaew, Phó Tổng Giám đốc Hệ thống trại sản xuất tôm giống C.P. Việt Nam chia sẻ: “CPF HYPER MONODON là giải pháp mới dành cho các vùng nuôi tôm trên ao lót bạt đáy, giúp tận dụng hệ thống sẵn có mà không phải tốn chi phí cải tạo lại, đồng thời giải quyết vấn đề bệnh EHP. Dòng tôm này có khả năng nuôi mật độ cao, lớn nhanh như tôm thẻ và có thể đạt kích cỡ lớn từ 10–15 con/kg.”
Sự ra đời của CPF HYPER MONODON đánh dấu một bước tiến mới trong công nghệ di truyền tôm sú của C.P., mở thêm hướng đi cho các mô hình nuôi tôm sú công nghệ cao, nâng cao hiệu quả và giá trị cho người nuôi tại Việt Nam.
C.P. Việt Nam
74 | MÔ HÌNH
thuysanvietnam.com.vn
ECUADOR
Mô hình nuôi tôm gắn với phục hồi rừng ngập mặn Từ một trang trại tham gia Chương trình Cải thiện ASC, Agriminigold S.A. đã hoàn tất quá trình nâng cấp và trở thành cơ sở nuôi tôm đầu tiên tại Ecuador đạt chứng nhận ASC đầy đủ sau 16 tháng.
Từng bước nâng cấp mô hình nuôi Đặt tại Estero Chivería, tỉnh El Oro, Agriminigold S.A. hiện sản xuất khoảng 1,7 triệu pound tôm mỗi năm trên diện tích 118 ha. Tháng 3/2025, trang trại bắt đầu tham gia Chương trình Cải thiện ASC (ASC Improver Programme), thay vì hướng tới chứng nhận đầy đủ ngay từ đầu. Trong 16 tháng, Agriminigold tập trung xác định những điểm cần cải thiện trong hoạt động sản xuất, nâng cao năng lực quản lý và triển khai các thay đổi có thể đo lường. Ngày 29/7/2026, sau quá trình đánh giá độc lập do Bureau Veritas thực hiện, trang trại chính thức đạt chứng nhận ASC. Cách làm của Agriminigold đáng chú ý ở việc chia quá trình nâng cấp thành từng bước. Thay vì đầu tư và thay đổi đồng loạt, trang trại xác định các mục tiêu cụ thể, triển khai trong quá trình vận hành và đánh giá kết quả trước khi chuyển sang cấp độ cao hơn. Theo ASC, chương trình cải thiện được thiết kế để hỗ trợ các cơ sở nuôi nâng cao năng lực, kiến thức và thực hành sản xuất trước khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của tiêu chuẩn. Với Agriminigold, quá trình này trở thành một phần trong hoạt động
quản lý trang trại, thay vì chỉ tập trung cho một đợt đánh giá chứng nhận. Một nội dung quan trọng của mô hình là quản lý diện tích rừng ngập mặn liền kề và gắn với vùng nuôi. Agriminigold hiện bảo vệ 126,63 ha rừng ngập mặn hiện hữu và phục hồi thêm 18,12 ha. Tổng diện tích hệ sinh thái ven biển được bảo vệ và phục hồi đạt 144,75 ha, lớn hơn diện tích nuôi tôm của trang trại. Việc duy trì diện tích rừng ngập mặn được thực hiện song song với hoạt động nuôi tôm, tạo vùng sinh thái ven biển được quản lý và bảo vệ lâu dài. Đây cũng là một trong những nội dung cho thấy mô hình không chỉ tập trung vào diện tích mặt nước và sản lượng tôm, mà mở rộng phạm vi quản lý sang hệ sinh thái xung quanh khu vực sản xuất. Kết hợp hiệu quả nuôi và giá trị sinh thái Điểm đáng chú ý của Agriminigold không nằm ở một giải pháp kỹ thuật riêng lẻ, mà ở cách trang trại kết hợp nhiều yếu tố trong cùng một mô hình. Sản xuất tôm được tổ chức trên 118 ha, trong khi diện tích rừng ngập mặn được bảo vệ và phục hồi lên tới 144,75 ha.
Việc đưa bảo vệ hệ sinh thái vào cùng hệ thống quản lý giúp trang trại xác định rõ hơn mối liên hệ giữa vùng nuôi và môi trường xung quanh. Rừng ngập mặn được duy trì như một phần của không gian sản xuất ven biển, thay vì chỉ được xem là khu vực bảo tồn tách biệt. Cùng với đó, quá trình tham gia ASC Improver tạo ra một lộ trình để trang trại rà soát hoạt động sản xuất, xác định những điểm còn hạn chế và từng bước điều chỉnh. Việc đánh giá độc lập sau quá trình cải thiện giúp các kết quả đạt được được kiểm chứng trước khi cấp chứng nhận. Về sản xuất, Agriminigold duy trì sản lượng khoảng 1,7 triệu pound tôm/năm, tương đương hơn 770 tấn. Trong khi đó, chương trình phát triển nguồn nhân lực thông qua Marea Rosa ghi nhận mức tăng 18% sản lượng, cùng cải thiện về hiệu quả sử dụng thức ăn. Những kết quả này cho thấy một mô hình nuôi tôm quy mô thương mại có thể đồng thời theo đuổi các mục tiêu về sản lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và bảo vệ hệ sinh thái. Trong đó, chứng nhận ASC là kết quả của quá trình cải thiện, thay vì mục tiêu duy nhất của mô hình.
Kinh nghiệm từ Agriminigold có thể được tham khảo ở cách tiếp cận theo từng bước. Với những vùng nuôi chưa sẵn sàng đáp ứng ngay các tiêu chuẩn quốc tế, việc xác định các mục tiêu ưu tiên, đo lường kết quả và cải thiện dần có thể giúp giảm áp lực trong quá trình chuyển đổi. Mô hình cũng cho thấy bảo vệ rừng ngập mặn có thể được tích hợp vào hoạt động nuôi tôm thay vì triển khai như một chương trình riêng biệt. Khi diện tích sinh thái được quản lý cùng vùng nuôi, các giá trị về môi trường, hình ảnh sản phẩm và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế có thể được nâng lên đồng thời. Với quy mô 118 ha, sản lượng khoảng 1,7 triệu pound/năm và 144,75 ha rừng ngập mặn được bảo vệ, phục hồi, Agriminigold đang tạo ra một mô hình trong đó sản xuất tôm, quản lý môi trường và phát triển con người được đặt trong cùng một hệ thống. Đây là điểm có giá trị tham khảo đối với các vùng nuôi tôm đang tìm hướng nâng cấp sản xuất theo các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Phương Nhi Theo TheFishsite
9.2026
MÔ HÌNH | 75
Liên kết nâng giá trị tôm càng xanh Cà Mau Tôm càng xanh là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế và còn nhiều dư địa phát triển Ảnh: Báo Thanh niên
Tại xã Vĩnh Phước, Cà Mau, tôm càng xanh đang dần chuyển từ sản phẩm tiêu thụ nội địa sang hàng hóa tham gia chuỗi xuất khẩu. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở thị trường mới mà ở cách doanh nghiệp liên kết với hợp tác xã, hộ dân để hình thành vùng nguyên liệu và ổn định đầu ra cho mô hình lúa - tôm. Đưa tôm càng xanh xuất ngoại Những năm gần đây, mô hình nuôi tôm càng xanh trên địa bàn tỉnh Cà Mau từng bước được người dân quan tâm phát triển với nhiều hình thức sản xuất phù hợp như nuôi kết hợp trong mô hình lúa - tôm, nuôi bán thâm canh, nuôi quảng canh cải tiến và nuôi xen canh với các đối tượng thủy sản khác. Hiện toàn tỉnh có hơn 40.000 ha sản xuất lúa - tôm. Đây được xem là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế, khả năng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên và còn nhiều dư địa phát triển. Tuy nhiên, trong thời gian dài, tôm càng xanh chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường nội địa. Vào thời điểm thu hoạch tập trung, người dân thường phụ thuộc vào thương lái và diễn biến thị trường, khiến giá bán thiếu ổn
định, hiệu quả sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng của vùng nuôi. Trong bối cảnh đó, xã Vĩnh Phước đang trở thành một trong những địa phương tiên phong xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ gắn với xuất khẩu. Hiện địa phương có khoảng 6.500 ha tôm càng xanh xen canh với lúa, năng suất đạt 160 - 200 kg/ha, sản lượng ước 1.200 - 1.300 tấn/năm. Hướng đi mới bắt đầu từ việc doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường thay vì chỉ dừng ở khâu thu mua nguyên liệu. Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu thủy sản Tùng Loan đã liên kết với các hợp tác xã và hộ dân để tổ chức thu mua, đồng thời tìm kiếm đối tác tại thị trường nước ngoài. Đến nay, sản phẩm tôm càng xanh của địa phương đã được xuất khẩu trực
tiếp sang Thái Lan, Australia và Hồng Kông (Trung Quốc), trong đó Thái Lan chiếm khoảng 50 60% sản lượng xuất khẩu. Hiện, hơn 2.000 ha tôm càng xanh trên địa bàn xã đã được ký kết thu mua phục vụ xuất khẩu. Ông Phạm Văn Dụ, ấp Phước Tân, xã Vĩnh Phước hiện có khoảng 5 ha tôm càng xanh xen lúa được doanh nghiệp bao tiêu với giá 90.000 - 100.000 đồng/ kg. Theo ông, mức giá này giúp lợi nhuận cao hơn khoảng 20 30% so với trước khi tham gia liên kết. Hiện doanh nghiệp thu mua bình quân gần 10 tấn tôm sống mỗi ngày từ các đại lý, hợp tác xã và hộ dân tại Cà Mau cùng một số địa phương lân cận; giá thu mua có thời điểm cao hơn thị trường nội địa từ 10.000 - 20.000 đồng/kg.
Gắn kết vùng nguyên liệu Điểm đáng chú ý của mô hình tại Vĩnh Phước là doanh nghiệp không xây dựng vùng nguyên liệu theo hướng tách rời sản xuất hiện có, mà dựa trên nền tảng mô hình lúa - tôm vốn đã thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương. Cách làm này cũng phù hợp với định hướng phát triển sản xuất trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào một đối tượng, mô hình một vụ lúa kết hợp một vụ tôm càng xanh giúp đa dạng hóa nguồn thu trên cùng đơn vị diện tích. Đối với những vùng đất trũng, phèn và chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn ở ĐBSCL, đây được xem là hướng sản xuất có khả năng thích ứng tốt trước những biến động về nguồn nước và độ mặn. Trên nền tảng sản xuất đó, việc hình thành liên kết với doanh nghiệp mở ra thêm dư địa nâng cao hiệu quả cho người dân. Giá trị mang lại không chỉ nằm ở mức giá thu mua cao hơn, mà còn ở việc đầu ra được tổ chức ổn định, giúp hộ nuôi có thêm cơ sở đầu tư, trong khi doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn nguyên liệu. Sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ vì vậy trở thành yếu tố quan trọng để tôm càng xanh phát huy tốt hơn lợi thế của vùng lúa - tôm Cà Mau. Theo ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau, mô hình xuất khẩu tôm càng xanh tại xã Vĩnh Phước đã góp phần nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm của địa phương. Thời gian tới, ngành chức năng sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển bền vững, góp phần nâng cao giá trị ngành thủy sản của tỉnh.
Thanh Hiếu
76 | KHUYẾN NÔNG
thuysanvietnam.com.vn
Ảnh: Shutterstock
Công nghệ 4.0 và bước chuyển nghề nuôi tôm Từ những ao nuôi tại Quảng Ngãi đến vùng nuôi tôm công nghệ cao ở Vĩnh Long, công nghệ 4.0 đang từng bước thay đổi cách người dân quản lý sản xuất. Hệ thống cảm biến, thiết bị cho ăn tự động và quản lý dữ liệu trên điện thoại giúp họ chủ động kiểm soát môi trường, giảm chi phí, hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả nuôi tôm thẻ chân trắng.
Khi ao nuôi “lên tiếng” qua điện thoại Tại Quảng Ngãi, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đang triển khai mô hình “Ứng dụng công nghệ 4.0 trong nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm”, qua đó đưa các thiết bị số vào từng khâu của quá trình sản xuất, từ quản lý môi trường đến cho ăn và phòng ngừa dịch bệnh. Điểm đáng chú ý của mô hình là hệ thống giám sát môi trường được kết nối với điện thoại thông minh. Các chỉ tiêu như pH, ôxy hòa tan, nhiệt độ, độ mặn được cập nhật liên tục, giúp người nuôi nắm bắt diễn biến của ao mà không phải chờ đến khi kiểm tra thủ công hoặc xuất hiện dấu hiệu bất thường mới xử lý. Đây là thay đổi có ý nghĩa đối với nghề nuôi tôm, bởi môi trường nước không đứng yên.
Trong điều kiện thời tiết biến động, chỉ số môi trường có thể thay đổi nhanh, trong khi việc phát hiện muộn thường đồng nghĩa với chi phí xử lý cao hơn và rủi ro lớn hơn. Không chỉ giám sát, mô hình còn ứng dụng máy cho tôm ăn tự động. Việc đưa thiết bị vào quản lý thức ăn giúp người nuôi kiểm soát tốt hơn lượng thức ăn, hạn chế tình trạng cho ăn không phù hợp, đồng thời giảm công lao động. Người nuôi cũng được hướng dẫn sử dụng ứng dụng “Thời tiết Việt Nam Khí tượng Thủy văn” để chủ động cập nhật dự báo, qua đó có phương án ứng phó với mưa bão, nắng nóng và những diễn biến thời tiết bất lợi. Như vậy, công nghệ 4.0 trong mô hình không chỉ là một thiết bị đặt bên ao. Quan trọng hơn, đó
9.2026 là cách tổ chức lại quá trình sản xuất dựa trên dữ liệu, giúp người nuôi chuyển từ phản ứng với rủi ro sang chủ động phòng ngừa. Khuyến nông đi cùng người nuôi Để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả, yếu tố con người vẫn giữ vai trò quyết định. Vừa qua, trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức các lớp tập huấn tại xã Lân Phong, xã Bình Sơn và phường Trà Câu với sự tham gia của cán bộ kỹ thuật, chính quyền địa phương và 60 hộ nuôi tôm. Nội dung tập huấn tập trung vào việc vận hành thiết bị, bao quát toàn bộ quy trình nuôi như cải tạo ao, xử lý nước, lựa chọn và thả giống, quản lý thức ăn, theo dõi môi trường cũng như phòng, chống dịch bệnh. Đây là mắt xích quan trọng để công nghệ không trở thành khoản đầu tư mang tính hình thức. Người nuôi cần hiểu ý nghĩa của từng thông số, biết nhận diện những thay đổi bất thường và có phương án xử lý phù hợp. Ngay sau tập huấn, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra, nghiệm thu con giống và tổ chức thả giống cho các hộ tham gia mô hình. Mô hình được triển khai tại 6 hộ ở phường Trà Câu, xã Lân Phong và xã Bình Sơn, quy mô 2.000 m²/hộ. Các hộ được hỗ trợ tổng cộng 1,8 triệu con giống tôm thẻ chân trắng cỡ P12, có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch và xét nghiệm an toàn dịch bệnh trước khi thả.
KHUYẾN NÔNG | 77 Đầu tư lớn hơn, nhưng quản lý chủ động hơn Nếu mô hình ở Quảng Ngãi cho thấy vai trò của hoạt động khuyến nông trong đưa công nghệ 4.0 đến hộ nuôi, thực tế tại Vĩnh Long cho thấy xu hướng này đang từng bước mở rộng về quy mô. Ông Châu Hữu Trị, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Vĩnh Long chia sẻ, nhiều mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Với mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng hai giai đoạn ứng dụng công nghệ 4.0, hệ thống cảm biến theo dõi liên tục các chỉ số ôxy hòa tan, nhiệt độ, độ mặn và pH. Dữ liệu được truyền trực tiếp đến điện thoại thông minh, giúp người nuôi quản lý ao thuận tiện, giảm chi phí nhân công và hạn chế rủi ro trong sản xuất. Theo ông Trị, việc ứng dụng công nghệ cao cũng tạo nền tảng để Vĩnh Long xây dựng các vùng nuôi hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh mật độ cao tại Vĩnh Long tiếp tục được mở rộng thêm 566 ha, nâng tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao của tỉnh lên gần 6.000 ha. Tại ấp Tân Thành, xã Long Thành, ông Ngô Văn Thới là một trong những người nuôi đã trải qua quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất từ quảng canh cải tiến sang nuôi công nghiệp và hiện nay là ao lót bạt công nghệ cao.
Ao nuôi và thiết bị theo dõi môi trường nuôi tại xã Bình Sơn, Quảng Ngãi Ảnh: TTKNQN
Trên diện tích khoảng 3 ha đất sản xuất, gia đình ông đầu tư 4 ao nuôi với tổng diện tích mặt nước khoảng 5.000 m². Các ao được lót bạt, lắp đặt quạt nước, sục khí, ôxy đáy và hệ thống theo dõi môi trường tự động. Mỗi ao thả hơn 200.000 con giống tôm thẻ chân trắng, mật độ khoảng 300 con/m², cao hơn nhiều so với phương thức nuôi truyền thống mà gia đình từng áp dụng. Ông Thới cho biết, trước đây khi nuôi ao đất, mật độ cao nhất chỉ khoảng 40-50 con/m². Việc chuyển sang mô hình công nghệ cao giúp gia đình nâng mật độ nuôi, đồng thời kiểm soát tốt hơn môi trường ao. Theo ông, nuôi công nghệ cao vốn đầu tư lớn hơn, nhưng đổi lại sẽ chủ động quản lý được môi trường ao nuôi. Trước đây đa phần dựa vào kinh nghiệm, còn hiện nay, nhiều chỉ số được theo dõi trên điện thoại. Khi có biến động, người nuôi sẽ biết sớm để xử lý, hạn chế rủi ro.
Mỗi năm, gia đình ông Thới sản xuất 3 vụ; trong điều kiện thuận lợi, mỗi vụ có thể thu hoạch khoảng 7 tấn tôm thương phẩm/ ao. Có thời điểm, giá bán tôm thẻ chân trắng đạt gần 200.000 đồng/kg, doanh thu mỗi ao đạt hơn 1 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 40% doanh thu. Qua thực tế, có thể thấy, khi dữ liệu thay thế dần sự phỏng đoán, khi cảnh báo đến trước rủi ro và khi mỗi quyết định sản xuất được dựa trên những thông số cụ thể, con tôm không chỉ được nuôi với mật độ cao hơn mà quan trọng là được đặt trong một hệ thống quản lý chủ động. Đây chính là nền tảng để nghề nuôi tôm hướng tới giảm chi phí, hạn chế dịch bệnh và nâng cao hiệu quả theo hướng bền vững.
Thùy Khánh
78 | KHOA HỌC - KỸ THUẬT
thuysanvietnam.com.vn
Kỹ thuật trồng rong sụn đạt năng suất cao Không đòi hỏi đầu tư quá lớn, rong sụn đang được phát triển tại nhiều vùng ven biển. Áp dụng đúng kỹ thuật sẽ giúp rong sinh trưởng nhanh, hạn chế hao hụt và nâng cao năng suất. Lựa chọn khu vực nuôi Khu vực nuôi trồng rong sụn cần đảm bảo môi trường nước sạch, ổn định và phù hợp với đặc tính sinh trưởng của rong. Vùng nước có độ mặn lý tưởng từ 25 - 35‰ giúp rong phát triển tốt, tránh bị phân hủy hay còi cọc. Khu vực ít hoặc không chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước ngọt. Đối với các vùng trồng theo mùa, tránh mùa lũ lụt, xa
các nguồn nước ngọt trực tiếp đổ ra biển. Vùng nuôi trồng có nước di chuyển và lưu thông tốt, thường xuyên với tốc độ dòng chảy vừa phải (lưu tốc trong khoảng 20 40 m/phút). Nên chọn vùng trồng đã có rong biển và cỏ biển phân bố tự nhiên. Đối với các bãi ngang, vùng triều cạn, khi thủy triều rút thấp nhất nước phải còn lại ở độ
sâu ít nhất 0,5 m, đảm bảo rong không bị phơi ra ngoài không khí. Biên độ thủy triều không nên lớn quá 2 m, nếu cao quá sẽ khó khăn trong hoạt động trồng, chăm sóc, thu hoạch. Phương pháp nuôi trồng Có nhiều phương pháp trồng rong sụn phù hợp với từng điều kiện môi trường. Mỗi phương pháp có ưu điểm riêng, tùy thuộc
vào điều kiện môi trường và quy mô sản xuất mà người nuôi lựa chọn hình thức phù hợp: Dàn căng trên đáy (dàn đáy): Đây là hình thức phổ biến khi nuôi rong sụn ở vùng bãi ngang, vùng triều, đầm phá hoặc ven vịnh. Trồng bằng bè hoặc giàn nổi: Với khu vực nước sâu hơn, nền đáy không thuận lợi hoặc cần đưa rong lên tầng nước thích hợp, có thể sử dụng bè nổi.
9.2026 Khung bè thường làm bằng tre hoặc vật liệu nổi, bên dưới bố trí các dây trồng; toàn bộ hệ thống được neo giữ để không bị trôi. Trồng rong sụn trong lồng lưới: Ở vùng biển hoặc vùng gần bờ, có thể trồng rong trong các lồng lưới cao khoảng 1 m, đường kính khoảng 50 cm, đặt cách nhau khoảng 1 m và cách bờ khoảng 20 - 30 m. Cách này giúp ngăn cá từ bên ngoài xâm nhập, đồng thời thoáng khí và dễ kiểm tra, vệ sinh rong hàng ngày. Trồng rong sụn luân canh trong ao nuôi tôm: Có thể trồng rong sụn luân canh trong ao nuôi tôm trong thời gian nghỉ nuôi tôm (thời gian nghỉ > 6 tháng). Mùa vụ Mùa vụ cần căn cứ đặc điểm nhiệt độ, độ mặn và chế độ gió của từng địa phương. Đối với khu vực miền Bắc, rong sụn thường tập trung 3 vụ chính: Vụ 1 từ tháng 3 đến tháng 5; Vụ 2 từ tháng 6 đến tháng 8 và vụ 3 từ tháng 9 đến tháng 11. Ở khu vực Trung và Nam Trung bộ, mùa trồng chính thường kéo dài từ khoảng tháng 10 đến tháng 3 năm sau; mùa phụ rơi vào những tháng có điều kiện nhiệt độ cao hơn. Ở Nam bộ, thời gian sản xuất có thể kéo dài hơn tùy vùng. Chọn giống Nguồn giống rong sụn cần được thu hoạch từ các vùng nuôi ổn định, có điều kiện sinh trưởng tương tự với nơi thả nuôi để tránh tình trạng sốc môi trường. Nếu lấy giống từ các vùng xa hoặc có điều kiện nước khác biệt, rong có thể bị suy yếu, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng. Không nên lấy giống từ những dây rong có biểu hiện bệnh, sinh trưởng chậm hoặc bị tổn thương cơ học. Đặc biệt, không nên sử dụng rong đã bị phơi khô, mất nước kéo dài làm giống cho vụ mới. Chọn các bụi rong khỏe, nhánh xum xuê, nguyên vẹn, không xây
KHOA HỌC - KỸ THUẬT | 79 xát, không có dấu hiệu bệnh, không có rong tạp bám, màu sắc đen, nâu, xanh nâu, xanh (giống màu vỏ ve chai), xanh lục thẫm, mượt, đường kính thân rong 3 - 5 mm, nhánh dài 5 - 7 cm trở lên. Rong giống là những bụi có khối lượng trung bình 100 - 140 g bụi, được tách bẻ hoặc dùng dao bén cắt chọn từ chùm rong lớn và buộc bằng dây nhựa mềm. Khi vận chuyển rong giống từ nơi khác đến khu vực trồng, cần thực hiện các biện pháp che nắng và duy trì độ ẩm nhằm hạn chế rong bị mất nước, ảnh hưởng đến chất lượng giống. Với quãng đường gần, thời gian vận chuyển ngắn, có thể cho rong sau khi vớt vào bao tải dệt và che đậy trong suốt quá trình di chuyển, tránh để rong tiếp xúc trực tiếp với nắng, nóng, gió hoặc nước mưa. Trường hợp vận chuyển quãng đường xa, thời gian kéo dài, cần định kỳ tưới nước biển để duy trì độ ẩm và độ tươi của rong. Nếu vận chuyển đường dài 100 km phải dùng xe tải có thùng lạnh giữ rong giống ở nhiệt độ 20 - 220C. Khi đến nơi trồng lập tức cho rong xuống nước, có thể chuẩn bị một giai lưới đặt dưới nước để cho rong vào giữ cho rong lại sức trước khi đưa ra trồng. Cố định rong giống Rong giống thường được cắt thành từng đoạn có kích thước phù hợp, sau đó buộc trực tiếp vào dây trồng bằng dây mềm hoặc vật liệu không gây tổn thương thân rong. Điểm buộc cần chắc để rong không bị tuột khi có sóng, nhưng không được siết quá chặt. Khi rong tăng trưởng, phần thân và nhánh sẽ lớn nhanh; nếu dây buộc ăn sâu vào mô rong có thể tạo vết thương, làm giảm khả năng phát triển và tạo điều kiện cho sinh vật gây hại xâm nhập.
Quản lý Sau khi xuống giống, cần kiểm tra thường xuyên tình trạng dây, cọc, phao và các điểm buộc. Những bụi rong bị tuột phải được buộc lại; phần rong bị gãy, thối hoặc sinh trưởng kém cần loại bỏ kịp thời. Bổ sung các bụi rong bị gãy mất, sửa lại các cọc bị ngã, lưới bị rách… Phát hiện có nhiều cá ăn rong, phải dùng lưới đánh bắt bớt cá. Thường xuyên loại bỏ rong tạp, các loại cành cây mục, nilon bám vào rong. Bên cạnh đó, cần theo dõi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, độ trong và dòng chảy. Dọn rong tạp thông qua điều chỉnh dây giống khoảng cách mặt nước và thu tỉa theo định kỳ sẽ hạn chế rong tạp ở các giàn bè nuôi trồng. Nhận biết và xử lý rong suy yếu Trong quá trình trồng, rong có thể xuất hiện hiện tượng bạc màu, mềm nhũn, gãy nhánh hoặc giảm tốc độ tăng trưởng. Nguyên nhân liên quan đến môi trường bất lợi, ánh sáng không phù hợp, độ mặn thay đổi đột ngột, dòng chảy yếu, rong bị sinh vật bám hoặc mật độ trồng quá cao. Khi phát hiện rong bất thường, trước hết cần xác định nguyên nhân thay vì xử lý bằng hóa chất. Nếu vấn đề liên quan đến mật độ, nên tỉa bớt rong. Nếu do sinh vật bám, cần làm sạch nhẹ nhàng. Trường hợp hệ thống dây bị chìm hoặc rong tiếp xúc đáy, phải điều chỉnh lại độ cao. Những bụi bị thối nhũn hoặc tổn thương nặng nên được loại
bỏ khỏi khu vực trồng nhằm hạn chế ảnh hưởng đến các bụi khỏe. Không sử dụng rong bệnh làm giống cho vụ tiếp theo. Thu hoạch Chu kỳ sinh trưởng phụ thuộc mạnh vào vùng trồng. Với rong giống ban đầu khoảng 80 - 100 g/bụi, ở điều kiện thuận lợi, rong có thể đạt khoảng 1 kg/bụi và được thu hoạch; tại vùng nước cạn, dòng chảy yếu hoặc trong thời kỳ nhiệt độ cao, thời gian đạt kích thước thu hoạch có thể kéo dài khoảng 2 - 2,5 tháng. Người nuôi không nhất thiết thu toàn bộ một lần. Có thể áp dụng phương thức thu tỉa, giữ lại phần rong khỏe làm giống cho chu kỳ tiếp theo. Cách làm này giúp duy trì vật liệu giống tại chỗ, giảm chi phí mua giống và rút ngắn thời gian tái sản xuất. Sơ chế và bảo quản Sau khi thu hoạch, rong cần được rũ sạch cát, bùn, sinh vật bám và các tạp chất khác. Không nên để rong thành đống quá lâu vì quá trình hô hấp và phân hủy có thể làm giảm chất lượng nguyên liệu. Rong sau sơ chế được phơi hoặc sấy đến độ khô phù hợp. Sân phơi cần sạch, tránh tiếp xúc trực tiếp với đất bẩn và hạn chế lẫn cát, rác. Đây là khâu quan trọng bởi rong sụn khô là nguyên liệu trực tiếp cho chế biến thực phẩm và carrageenan.
Nguyễn Hằng
Rong sụn là loài rong biển nhiệt đới, sinh trưởng tốt trong vùng nước ven biển có độ mặn tương đối ổn định, giàu dinh dưỡng và có sự trao đổi nước thường xuyên. Ở Việt Nam, đối tượng này phù hợp với nhiều khu vực ven biển miền Trung và Nam Trung bộ, đặc biệt tại những vùng vũng, vịnh, đầm phá, bãi triều và khu vực ven đảo ít chịu tác động trực tiếp của sóng gió.
80 | KHOA HỌC - KỸ THUẬT
Bảo vệ thủy sản
mùa mưa bão Trong mùa mưa bão, những biến động đột ngột về môi trường cùng nguy cơ hư hỏng công trình có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống và sức khỏe thủy sản. Quản lý tốt từng khâu trước, trong và sau bão là yêu cầu quan trọng đối với các mô hình ao, lồng bè và bãi triều.
thuysanvietnam.com.vn Kiểm tra trước bão Đối với ao nuôi: Ngay khi có dự báo mưa lớn, bão hoặc áp thấp nhiệt đới, người nuôi phải kiểm tra toàn bộ công trình và chuẩn bị phương án ứng phó. Với ao nuôi, cần kiểm tra bờ bao, cống cấp - thoát nước, đường điện, máy bơm, quạt nước và các thiết bị phục vụ sản xuất. Những vị trí bờ thấp, có nguy cơ sạt lở hoặc tràn nước cần được gia cố sớm. Bờ ao nên được đầm chắc, phát quang cây cỏ ở khu vực xung yếu và kiểm tra các điểm rò rỉ. Cống thoát nước cần bảo đảm hoạt động tốt, có lưới chắn phù hợp để hạn chế thủy sản thoát ra ngoài khi mực nước tăng. Người nuôi cũng cần chuẩn bị máy bơm, nhiên liệu và các vật tư cần thiết để chủ động tiêu nước khi mưa kéo dài. Đối với những ao đang ở giai đoạn cuối vụ, nếu thủy sản đạt kích cỡ thương phẩm và điều kiện thị trường phù hợp, có thể cân nhắc thu hoạch sớm nhằm giảm rủi ro. Không nên để mực nước
quá cao trong ao trước khi bão đổ bộ, nhưng cũng cần duy trì mực nước phù hợp với từng đối tượng và mô hình, tránh làm thủy sản bị sốc do thay đổi đột ngột. Đối với lồng bè: Là hình thức nuôi chịu tác động trực tiếp của gió lớn, sóng và dòng chảy. Khi có bão, áp thấp nhiệt đới hoặc lũ lớn, nguy cơ đứt dây neo, biến dạng khung lồng, rách lưới và thất thoát vật nuôi có thể xảy ra. Trước mùa mưa bão, cần kiểm tra toàn bộ khung lồng, phao nổi, dây neo, dây chằng và hệ thống lưới. Những bộ phận đã xuống cấp cần được thay thế, không nên tiếp tục sử dụng trong điều kiện thời tiết nguy hiểm. Hệ thống neo phải bảo đảm chắc chắn, phù hợp với độ sâu, nền đáy và đặc điểm dòng chảy tại khu vực nuôi. Khi có cảnh báo bão, cần chủ động thu gọn hoặc di chuyển lồng bè đến vị trí an toàn nếu điều kiện cho phép và nằm trong phương án được cơ quan quản lý, địa phương hướng dẫn. Với những vùng nuôi
9.2026 trên sông, cần đặc biệt lưu ý khả năng xuất hiện dòng chảy mạnh, nước đục và rác trôi sau mưa lớn. Lưới lồng cũng cần được kiểm tra kỹ. Lưới quá bẩn làm giảm lưu thông nước, trong khi lưới bị rách tạo nguy cơ thất thoát thủy sản. Tuy nhiên, việc vệ sinh hoặc thay lưới ngay trước khi bão đến cần cân nhắc điều kiện thực tế, tránh làm vật nuôi bị stress do thao tác quá nhiều. Lưu ý với vùng nuôi bãi triều: Trước mùa mưa bão, người nuôi cần kiểm tra, gia cố bờ bao quanh khu nuôi, nhất là những vị trí thấp và thường xuyên chịu tác động của sóng, dòng chảy. Các cống lấy nước, thoát nước cần được kiểm tra để bảo đảm đóng mở thuận lợi. Lưới chắn phải đủ chắc để hạn chế thủy sản thất thoát khi nước dâng hoặc dòng chảy mạnh. Trong quá trình mưa bão Khi mưa bão đang diễn ra, ưu tiên hàng đầu là bảo đảm an toàn cho người và duy trì ổn định công trình nuôi trong khả năng cho phép. Không nên thực hiện các thao tác không cần thiết tại ao, lồng bè khi gió mạnh, sóng lớn hoặc nước chảy xiết. Đối với ao nuôi, cần theo dõi mực nước và tình trạng bờ bao, đặc biệt tại những vị trí thấp, có nguy cơ tràn hoặc sạt lở. Nếu điều kiện an toàn cho phép, chủ động vận hành hệ thống tiêu thoát nước để hạn chế nước dâng quá mức. Tuy nhiên, không nên tháo hoặc cấp nước ồ ạt trong lúc mưa lớn nếu nguồn nước bên ngoài có nguy cơ ô nhiễm hoặc độ mặn biến động mạnh. Trong thời gian mưa kéo dài, cần hạn chế hoặc tạm ngừng cho ăn khi thủy sản giảm hoạt động. Việc tiếp tục cho ăn theo khẩu phần bình thường có thể làm tăng lượng thức ăn dư thừa, chất hữu cơ và gây áp lực lên môi trường. Với những ao có hệ thống quạt
KHOA HỌC - KỸ THUẬT | 81
Cần vận hành quạt nước phù hợp để duy trì hàm lượng ôxy hòa tan Ảnh: Báo Hà Tĩnh
nước, sục khí, cần vận hành phù hợp để duy trì hàm lượng ôxy hòa tan, đặc biệt khi trời âm u kéo dài. Người nuôi nên tăng cường theo dõi ôxy vào ban đêm và gần sáng nếu có thiết bị đo. Đối với lồng bè, không nên cố di chuyển, nâng hạ hoặc thao tác với lồng khi sóng và dòng chảy quá mạnh. Sau khi đã gia cố trước bão, cần hạn chế người ra bè và chỉ kiểm tra khi điều kiện thời tiết cho phép. Nếu lồng bè nằm trong khu vực có nguy cơ chịu tác động trực tiếp của dòng chảy, cần thực hiện phương án di chuyển hoặc hạ thấp lồng theo thiết kế và hướng dẫn kỹ thuật của từng mô hình. Tại vùng nuôi bãi triều, cần đặc biệt lưu ý mực nước, dòng chảy và khả năng tràn qua bờ bao. Khi mưa lớn kết hợp triều cường, nguy cơ nước vượt bờ và cuốn trôi thủy sản tăng cao. Người nuôi cần theo dõi diễn biến thủy triều, chủ động kiểm soát các cửa cống và lưới chắn, đồng thời hạn chế các hoạt động làm xáo trộn nền đáy trong thời điểm dòng chảy mạnh. Trong suốt thời gian mưa bão, không nên tự ý sử dụng hóa chất để xử lý môi trường khi chưa xác định rõ nguyên nhân. Việc bổ sung vôi, khoáng hoặc các sản phẩm xử lý nước cần căn cứ vào điều kiện thực tế và chỉ thực hiện khi bảo đảm an toàn.
Ổn định sau bão Sau khi bão đi qua, việc đầu tiên là kiểm tra an toàn công trình và thống kê thiệt hại. Với ao nuôi, cần kiểm tra bờ, cống, mực nước và khả năng rò rỉ. Với lồng bè, kiểm tra khung, phao, dây neo, lưới và tình trạng thủy sản. Đối với vùng bãi triều, cần đánh giá lại bờ bao, cống, lưới chắn và nền đáy. Nước mưa làm giảm độ mặn, pH và độ kiềm, đồng thời có thể cuốn đất, chất hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật hoặc các chất ô nhiễm từ khu vực xung quanh vào ao. Đặc biệt, tại các ao nuôi tôm ven biển, hiện tượng giảm độ mặn đột ngột có thể khiến vật nuôi bị stress, giảm ăn và tăng nguy cơ mắc bệnh. Do đó, sau mưa cần kiểm tra các chỉ tiêu môi trường quan trọng như nhiệt độ, pH, độ mặn, độ kiềm và hàm lượng ôxy hòa tan. Việc điều chỉnh phải dựa trên kết quả đo thực tế, tránh xử lý theo cảm tính hoặc bổ sung hóa chất với liều lượng cao khi chưa xác định được nguyên nhân. Nếu nước ao bị dâng cao, cần chủ động tháo bớt nước qua hệ thống thoát đã được kiểm soát. Không nên xả nước trực tiếp qua bờ ao hoặc những vị trí có nguy cơ gây sạt lở. Đối với ao nuôi tôm, sau mưa cần theo dõi chặt chẽ hoạt động bắt mồi, đường ruột, phân và các biểu hiện bất
thường để kịp thời điều chỉnh chế độ chăm sóc. Đối với vùng nuôi nhuyễn thể, cần đặc biệt chú ý nguy cơ bị cuốn trôi hoặc vùi lấp do sóng và dòng chảy. Các khu vực nuôi cần được kiểm tra sau bão để xác định mức độ thay đổi nền đáy, độ sâu và tình trạng phân bố của thủy sản. Nếu có hiện tượng bùn đất, rác thải hoặc chất ô nhiễm tích tụ, cần có biện pháp xử lý phù hợp trước khi tiếp tục khai thác hoặc thả nuôi. Tại các vùng nuôi kết hợp, người dân cần chủ động theo dõi độ mặn và chất lượng nước sau mưa. Nước ngọt từ sông, kênh hoặc dòng chảy mặt có thể làm thay đổi nhanh điều kiện môi trường. Khi độ mặn biến động mạnh, cần hạn chế các hoạt động gây thêm stress cho thủy sản và theo dõi sát tình trạng sức khỏe. Không nên vội vàng bổ sung thuốc, hóa chất hoặc thức ăn khi chưa đánh giá môi trường. Các thông số nước cần được kiểm tra trước để có cơ sở điều chỉnh. Nếu nước bị đục, nhiều chất hữu cơ hoặc có dấu hiệu ô nhiễm, cần ưu tiên các giải pháp ổn định môi trường và hạn chế nguồn gây ô nhiễm tiếp tục xâm nhập. Sau mưa, thủy sản thường giảm ăn do stress. Người nuôi nên điều chỉnh lượng thức ăn theo sức ăn thực tế, tránh cho ăn dư thừa. Khi thủy sản bắt đầu hồi phục, có thể tăng dần lượng thức ăn và theo dõi khả năng bắt mồi. Đây cũng là thời điểm cần tăng cường quan sát các dấu hiệu bất thường như bơi lờ đờ, nổi đầu, giảm ăn kéo dài, đổi màu, tổn thương ngoài da hoặc tỷ lệ chết tăng. Nếu nghi ngờ dịch bệnh, cần nhanh chóng lấy mẫu, xác định nguyên nhân và thực hiện biện pháp xử lý theo hướng dẫn chuyên môn.
Nguyễn Hằng
82
thuysanvietnam.com.vn
9.2026
83
84
thuysanvietnam.com.vn