Skip to main content

TSVN 8

Page 1


Hội đồng Biên tập

Nguyễn Việt Thắng, Tiến sĩ

Dương Xuân Hùng, Trưởng Ban Biên tập

Đỗ Huy Hoàn, Nhà báo

Hoàng Hải Đăng, Thư ký Tòa soạn

Phạm Thu Hồng, Nhà báo

Dương Nam Anh, Nhà báo

Trần Anh Thư, Phóng viên

Trần Thị Kim Tiến, Phóng viên

Chủ nhiệm

Nguyễn Việt Thắng, Tiến sĩ

Phụ trách

Nguyễn Chu Hồi, Phó Giáo sư - Tiến sĩ

Chuyên gia

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Trần Đình Luân, Tiến sĩ

Đào Trọng Hiếu, Tiến sĩ

Lê Văn Khoa, Tiến sĩ

Nguyễn Duy Hòa, Tiến sĩ

Nguyễn Khắc Bát, Tiến sĩ

Hồ Quốc Lực, Tiến sĩ

Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn

Thủy sản Minh Phú

Mỹ thuật: Two Nguyễn

Trình bày: Phạm Dương

Kỹ thuật: Đăng Kiên

Hình ảnh: Dương Nghĩa

Đọc bản in: Anh Thư

Tòa soạn:

Điện thoại: 028.62777616

Email: toasoan@thuysanvietnam.com.vn

Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa Kao, Q. 1, TP HCM

Văn phòng Hà Nội:

Điện thoại: 0243.7713699

Tầng 3, nhà A7, 10 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội

Phòng Quảng cáo:

Quảng cáo: 028.62777616

Email: nghia@thuysanvietnam.com.vn

Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT

ISSN: 0866-8043

Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV

Lê Quang Lộc (TP HCM)

Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ

Thư tòa soạn

Thưa quý vị bạn đọc,

Năm 2025, đất nước ta long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Cách

mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 – 19/8/2025) và Quốc khánh

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025) trong

bối cảnh cả dân tộc đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.

Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, Việt Nam đã đạt được nhiều

thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực, đánh dấu một giai đoạn phát triển vượt bậc của đất nước. Từ chỗ nghèo nàn, lạc hậu đến một Việt Nam có nền kinh tế được đánh giá là điểm sáng của thế giới; chính trị - xã hội ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao.

Những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực của nước ta sau 80 năm đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“Tự hào vị thế Việt Nam” sẽ là chủ đề chính của Tạp chí Thủy sản Việt

Nam phát hành trong tháng 08. Trên số báo này, Tạp chí sẽ cùng quý bạn đọc nhìn lại chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển của đất nước; hòa chung niềm vui, lòng tự hào trong ngày đại lễ của dân tộc.

Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 08 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.

Trân trọng! Ban Biên tập

32

Từ khơi xa đến bến bờ: Hành trình

làm nghề cá có trách nhiệm

Thùy Khánh

40

Thủy sản Việt Nam và hành trình ra biển lớn

Phan Thảo

Kỷ nguyên mới và hành trình “vượt sóng” của ngành thủy sản

Nuôi trồng thủy sản an toàn trong mùa mưa bão

Nguyễn Hằng

42

Mỹ: Thị trường thủy sản đối mặt vòng xoáy suy thoái

Tuấn Minh

51

Quy hoạch vùng nuôi và bài toán lựa chọn địa hình vùng nuôi tôm tập trung phù hợp

Công nghệ Nano Bubbles: Chìa khóa giúp tôm cá khỏe, nâng cao hiệu quả

56

Triển vọng từ cá rô phi

độ mặn cao

Xuân Trường

58

Tảo biển thúc đẩy tăng trưởng và tích lũy carotenoid ở tôm thẻ

Dũng Nguyên

63

Lồng nhựa HDPE “Chìa khóa xanh” cho nuôi biển bền vững

Thùy Khánh

66

Kỳ tích Tôm Giống Sú C.P. Việt Nam: 16 con/kg sau 140 ngày nuôi

C.P. Việt Nam

68

tại Đồng Bằng

Sông Cửu Long

Nguyễn Thanh Tùng

: Chứng nhận quốc tế về thức ăn thủy sản bền vững

Grobest

Sitto Việt Nam: Kiên định giá trị cốt lõi, vững bước giữa biến động kinh tế toàn cầu

Công ty TNHH Sitto Việt Nam

Xuất khẩu thủy sản tăng tốc trước thuế Mỹ

Trong tháng 7/2025, xuất khẩu thủy sản

Việt Nam đạt 971 triệu USD, tăng 6,1% so với

cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng đầu năm, kim ngạch đạt 6,22 tỷ USD, tăng 17,2%, phản ánh nỗ lực đẩy nhanh đơn hàng sang Mỹ trước khi nước này áp thuế đối ứng từ tháng

8. Thị trường Mỹ tháng 7 giảm 19,6%, chỉ còn 145,8 triệu USD; nguyên nhân do loạt thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp, đặc biệt với tôm. Trong khi đó, Trung Quốc tăng mạnh 31,7% trong tháng, đạt 221,5 triệu USD; lũy kế 7 tháng đạt 1,33 tỷ USD, tăng 42,6%. Các thị trường Nhật Bản, EU, Hàn Quốc và ASEAN cũng ghi nhận tăng trưởng tích cực. Tôm tiếp tục là mặt hàng chủ lực, đạt 2,49 tỷ USD trong 7 tháng, tăng 23,6%, song đối mặt nguy cơ mất thị phần tại Mỹ khi chịu thuế

CBPG sơ bộ 33,29%. Cá tra đạt 1,22 tỷ USD, tăng 11,1%, còn cá ngừ giảm 2,8%, đạt 542 triệu USD do thiếu nguyên liệu và quy định mới. Dự kiến năm 2025, tổng xuất khẩu thủy sản đạt 9 - 9,2 tỷ USD.

Thuế Mỹ 20% tạo sức ép cho

thủy sản Việt

Mỹ chính thức áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam, trong đó có thủy sản, đang tạo áp lực lớn về chi phí và sức cạnh tranh cho doanh nghiệp xuất khẩu. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), mức thuế mới sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá bán, tiến độ giao hàng và lợi nhuận, đặc biệt với các mặt hàng chủ lực như tôm và cá tra. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để ngành thủy sản điều chỉnh chiến lược, chuyển hướng sang sản phẩm chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường. 6 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu cá tra sang Mỹ đạt 175 triệu USD, tăng 10%; trong đó, sản phẩm chế biến sâu đạt 26 triệu USD, tăng 48%, cho thấy doanh nghiệp đã

chủ động gom hàng trước thời điểm áp thuế. VASEP khuyến nghị, doanh nghiệp cần đẩy mạnh khai thác các thị trường thay thế tại châu Âu, Trung Đông và Mỹ Latinh, đồng thời tối ưu chi phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng để duy trì lợi thế cạnh tranh.

Đẩy mạnh tiêu thụ thủy sản nội địa

Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu biến động, thị trường nội địa được xem là giải pháp

chiến lược để duy trì tăng trưởng cho ngành thủy sản Việt Nam. Tại Hội nghị “Thúc đẩy tiêu thụ thủy sản phục vụ nhu cầu trong nước” do Bộ Công Thương tổ chức, các chuyên gia nhận định thị trường nội địa quy mô khoảng 1 tỷ USD nhưng đang bị sản phẩm nhập khẩu chiếm tới 40%. Hiện, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khi thâm nhập thị trường trong nước. Nguyên nhân là sản phẩm đạt chuẩn xuất khẩu có giá cao hơn khoảng 20% so với sản phẩm trôi nổi, trong khi người tiêu dùng vẫn chuộng mua ở chợ truyền thống. Chuỗi cung ứng trong nước còn rời rạc, thiếu kết nối từ sản xuất tới phân phối, chưa tận dụng được lợi thế sân nhà. Bộ Công Thương cho biết đang xây dựng đề án kích cầu tiêu thụ nội địa, tập trung nâng tỷ trọng hàng Việt trong các hệ thống bán lẻ, siêu thị. Cơ quan quản lý sẽ đóng vai trò cầu nối, hỗ trợ doanh nghiệp và nhà phân phối kết nối chuỗi cung ứng, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và ưu tiên tiêu thụ thủy hải sản Việt Nam.

Ra quân cao điểm chống khai thác

IUU

Chiều 4/8, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị quán triệt và triển khai đợt cao điểm phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển. Thời gian qua, lực lượng Cảnh sát biển đã phối hợp với Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư và các địa phương ven biển để giám sát hoạt động tàu cá, tuyên truyền và xử lý nghiêm vi phạm. Hội nghị tập trung bàn giải pháp tăng cường kiểm soát nguồn gốc thủy sản, cải thiện truyền dữ liệu từ tàu cá về bờ, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát khai thác. Các biện pháp trọng tâm gồm: hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, quản lý cơ sở dữ liệu tàu cá, lắp

Hội nghị: Toàn cảnh Hội nghị Quán triệt, chỉ đạo triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU)

Ảnh: La Duy

đặt thiết bị giám sát hành trình, camera cảng cá, và ứng dụng công nghệ hiện đại như máy bay không người lái. Đây là bước đi quyết liệt nhằm kiểm soát IUU, hướng tới mục tiêu sớm gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu đối với thủy sản Việt Nam.

Sơn La Chủ động bảo vệ nuôi cá lồng mùa mưa lũ

Sơn La hiện có hàng nghìn lồng cá nuôi trên các hồ chứa lớn và hàng trăm ha ao nuôi thủy sản, tập trung tại các huyện ven sông Đà như Thuận Châu, Quỳnh Nhai. Chỉ tính 6 tháng đầu năm 2025, sản lượng cá lồng đã đạt hơn 550 tấn. Bước vào mùa mưa lũ, các hộ nuôi đã chủ động gia cố dây neo, thay lưới cũ, vệ sinh lồng thường xuyên, điều chỉnh độ sâu phù hợp mực nước và cung cấp thức ăn tăng sức đề kháng cho cá. Một số HTX còn chủ động che chắn, căng lưới, hạn chế đặt lồng gần khu vực dòng chảy xiết để giảm thiệt hại khi lũ về. Ngành chức năng địa phương khuyến cáo người nuôi cập nhật thời tiết, không ở lại chòi canh khi mưa lớn, thu hoạch sớm lồng cá đạt kích cỡ thương phẩm, gia cố hạ tầng ao nuôi và treo túi vôi phòng dịch bệnh.

Thanh Hóa Siết chặt quản lý tàu cá và minh bạch nguồn gốc thủy sản

Thanh Hóa đang tăng cường kiểm soát tàu cá ra vào cảng nhằm ngăn chặn vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU) và minh bạch nguồn gốc thủy sản. Các tàu trước khi xuất

Mỹ giảm thuế đối ứng cho hàng Việt xuống 20%

Rạng sáng 1/8 (giờ Việt Nam), Nhà Trắng công bố sắc lệnh của Tổng thống Mỹ Donald Trump điều chỉnh thuế đối ứng, trong đó

mức thuế áp cho hàng hóa Việt Nam giảm từ 46% xuống còn 20%. Bộ Công Thương xác nhận đây là kết quả sau nhiều phiên

đàm phán song phương, tập trung vào các nội dung về thuế quan, hải quan, quy tắc xuất xứ, thương mại số và hợp tác chuỗi cung ứng. Theo sắc lệnh, thuế 20% sẽ chính thức áp dụng từ ngày 7/8/2025. Tuy nhiên, các lô hàng đã lên tàu và được thông quan

trước 12:01 sáng 5/10/2025 sẽ vẫn áp dụng mức thuế cũ theo Sắc lệnh 14257. So với các nước trong khu vực, mức thuế 20%

của Việt Nam cao hơn Thái Lan, Malaysia hay Philippines (19%), nhưng thấp hơn Ấn Độ (25%). Ngoài ra, Mỹ áp mức 40% với mọi

hàng hóa bị xác định trung chuyển để né thuế.

bến đều phải được duyệt hồ sơ trên app eCDT VN, ghi sổ theo dõi và trình báo biên phòng

để cấp phép. Hiện, toàn tỉnh có hơn 6.555 tàu cá, trong đó 1.063 tàu dài từ 15m trở lên đã lắp thiết bị giám sát hành trình. Tính chung 7 tháng năm 2025, các cảng cá giám sát khoảng 8.300 tấn thủy sản, tăng 29,2% so cùng kỳ, đồng thời cấp 20 giấy xác nhận nguồn gốc gần 90 tấn mực xuất khẩu. Tuy nhiên, sản lượng giám sát còn thấp do hạ tầng cảng xuống cấp, tàu công suất lớn khó cập cảng, việc ghi nhật ký khai thác của ngư dân hạn chế. Để khắc phục, tỉnh đã đầu tư hơn 9 tỷ đồng nâng cấp các cảng Lạch Hới, Lạch Bạng, Hòa Lộc; hỗ trợ lắp thiết bị giám sát và tuyên truyền ngư dân chấp hành ghi nộp nhật ký.

Đà Nẵng

Xử lý dứt điểm hơn 1.900 tàu cá “3 không”

Sau khi sáp nhập, Thành phố Đà Nẵng có 4.142 tàu cá dài từ 6m trở lên, trong đó hơn 4.000 tàu đã được cấp giấy phép khai thác, đạt 96,7%. Đặc biệt, 100% tàu dài từ 15m hoạt động vùng khơi đã lắp thiết bị giám sát hành trình và được theo dõi chặt chẽ. Dù đạt kết quả tích cực, vẫn còn 135 tàu chưa được cấp phép khai thác. Thành phố đang tiếp tục rà soát, hỗ trợ ngư dân hoàn thiện hồ sơ, đồng thời sẽ xử lý nghiêm các trường hợp không đủ điều kiện, không cho xuất bến khi chưa hợp lệ. Công tác giám sát hành trình cũng được siết chặt, nhất là với các tàu mực khơi – nhóm có nguy cơ vi phạm vùng biển nước ngoài.

Ảnh: Tổng thống Mỹ Donald Trump Ảnh: Reuters

Siết chặt nuôi trồng thủy sản

tự phát tại Cam Ranh

Tình trạng nuôi trồng thủy sản tự phát, tràn lan trên vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) thời gian qua đã gây nhiều hệ lụy, từ lấn chiếm công trình hàng hải đến xâm phạm vùng nước cấm. Có thời điểm, số lồng bè trên vịnh lên tới hơn 100.000 lồng, gây khó khăn cho công tác quản lý, ảnh hưởng môi trường và mỹ quan khu vực. Hiện, lực lượng chức năng đang khẩn trương triển khai di dời các lồng bè ra khỏi vùng nước cấm và sắp xếp vào khu vực được phép nuôi, với tổng diện tích hơn 884 ha tại xã Nam Cam Ranh. Đến giữa tháng 7/2025, vẫn còn 89 hộ nuôi và 5 hộ làm nhà bè vi phạm. Các xã, phường ven vịnh được yêu cầu xử lý dứt điểm, không cho tàu bè vi phạm tiếp tục hoạt động. Song song với việc di dời, Khánh Hòa đang xây dựng quy định quản lý NTTS lồng bè, từ vật liệu, thiết bị, giống, thức ăn đến tiêu chuẩn môi trường.

Đắk Lắk

Xử phạt tàu cá dùng kích điện khai

thác thủy sản

Ngày 2/8, Đồn Biên phòng Hòa Hiệp Nam (Bộ đội Biên phòng Đắk Lắk) cho biết đã xử lý một vụ vi phạm hành chính liên quan hành vi tàng trữ công cụ kích điện để khai thác thủy sản. Trong quá trình tuần tra tại cảng cá Phú Lạc, lực lượng chức năng phát hiện tàu cá PY 31622TS do ông Nguyễn Ba (SN 1992,

xã Tuy An Nam) làm chủ, trên tàu có ba lao động. Kiểm tra thực tế, tổ công tác thu giữ một bộ kích điện tự chế – thiết bị bị cấm sử dụng trong khai thác thủy sản. Chủ tàu bị phạt 12,5 triệu đồng, tang vật bị tịch thu theo Nghị định 38/2024/NĐ-CP. Biên phòng Đắk Lắk khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường tuần tra và tuyên truyền để ngăn chặn hành vi khai thác thủy sản hủy diệt, bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển.

Tây Ninh Đặt mục tiêu 174.000 tấn thủy sản năm 2025

Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh cho biết, năm 2025 tỉnh phấn đấu đạt sản lượng nuôi trồng thủy sản 174.000 tấn. Để hoàn thành kế hoạch, ngành nông nghiệp tập trung chỉ đạo khung thời vụ, lựa chọn phương thức nuôi phù hợp từng vùng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ. Sở cũng triển khai quan trắc môi trường nước vùng nuôi thủy sản nước lợ, thông tin kịp thời kết quả quan trắc và hướng dẫn biện pháp xử lý môi trường. Công tác kiểm dịch giống, giám sát dịch bệnh thủy sản và theo dõi nuôi tôm thẻ ở vùng Đồng Tháp Mười được thực hiện chặt chẽ. Bên cạnh đó, tỉnh tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật nuôi an toàn, phòng dịch bệnh và hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nuôi tuân thủ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện hàng hóa, góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển thủy sản bền vững.

Brazil

Xuất khẩu thủy sản lao đao vì thuế Mỹ

Hiệp hội Thủy sản Brazil (ABIPESCA) vừa cảnh báo nguy cơ mất việc làm và sụt giảm xuất khẩu nghiêm trọng sau khi Mỹ đột ngột nâng thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng thủy sản của Brazil lên 50%. Trong khi thị trường Bắc Mỹ chiếm 70% sản lượng xuất khẩu cá của Brazil, thị trường nội địa lại không đủ sức tiêu thụ, còn cánh cửa châu Âu đã đóng từ năm 2017. Hiệp hội nuôi trồng thủy sản Brazil (Peixe BR) đang kêu gọi đàm phán và bày tỏ lo ngại cạnh tranh gay gắt với các nước đối thủ như Colombia khi thiếu kho lạnh trầm trọng. Nếu tình hình kéo dài, công suất chế biến sẽ giảm, đặc biệt là cá rô phi, khiến sản xuất đình trệ. Năm 2024, cá rô phi Brazil xuất sang Mỹ đạt 10,1 triệu pound, trị giá 51 triệu USD, đứng đầu danh sách các loài thủy sản xuất khẩu.

Ecuador

Ngành tôm kêu gọi hợp tác công - tư

Phòng Thủy sản Quốc gia Ecuador (CNA) ngày 17/7 kêu gọi tăng cường hợp tác giữa khu vực công và tư trước tình trạng tội phạm có tổ chức ngày càng manh động nhắm vào ngành nuôi tôm. CNA cho rằng các cơ quan chức năng vẫn thiếu nguồn lực, công nghệ và thiết bị. Tổ chức này đề xuất khu vực tư nhân tham gia hỗ trợ trực tiếp bằng cách đóng góp cho các đơn vị được phép, đồng thời hưởng ưu đãi thuế. “Việc khu vực tư góp phần đảm bảo an ninh là biểu hiện rõ ràng của trách nhiệm chung,” CNA nhấn mạnh, khẳng định điều này không chỉ tăng năng lực bảo vệ mà còn bảo đảm an toàn cho lao động vùng nguy cơ, giữ vững môi trường sản xuất và duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, CNA cũng lưu ý nỗ lực này sẽ trở nên vô nghĩa nếu hệ thống tư pháp tiếp tục thả tự do cho tội phạm mà không qua quy trình nghiêm ngặt và minh bạch.

Nhật Bản

Nhập khẩu tôm chạm mốc

80.000 tấn

Từ tháng 1 đến tháng 5, Nhật Bản đã nhập

khẩu hơn 80.000 tấn tôm, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, theo số liệu của Bộ Tài chính. Đáng chú ý, lượng tôm chế biến tăng

11%, tôm nước lạnh đông lạnh tăng vọt 29%, trong khi tôm nước ấm gồm tôm thẻ và tôm sú duy trì mức ổn định. Nhập khẩu từ hai nguồn cung chủ lực gồm Ấn Độ và Ecuador đều ghi nhận mức tăng lần lượt 10% và 36%. Dù giá gạo tăng khiến người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, nhu cầu trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống vẫn ổn định nhờ lượng khách quốc tế. Trong bối cảnh nguồn cung tôm đỏ Argentina sụt giảm, tôm nguyên con từ Ecuador ngày càng được ưa chuộng. Một số quốc gia khác như Indonesia, Thái Lan giảm xuất khẩu sang Nhật Bản, trong khi Canada, Greenland và Nga tăng mạnh sản lượng tôm nước lạnh. Giá nhập khẩu trung bình của tôm nước lạnh giảm 9%, còn tôm nước ấm tăng nhẹ 4%.

Argentina

Sản lượng mực Loligo (Doryteuthis gahi) tại quần đảo Falkland (Malvinas) đã giảm tới 50%, khiến đội tàu đánh bắt Tây Ban Nha lo ngại và làm dấy lên cảnh báo môi trường. Dù 16 tàu cấp đông lớn vẫn rời cảng Vigo và Marín để tìm kiếm nguồn mực cung ứng cho châu Âu, nhưng giới chủ tàu đối mặt rủi ro tài chính lớn nếu sản lượng thấp, đặc biệt trong bối cảnh chi phí khai thác ngày càng đắt đỏ. Theo các chuyên gia trong ngành, nguyên nhân có thể đến từ hoạt động khai thác quá mức, nhiệt độ nước biển tăng, và đặc biệt là tác động của các đợt khảo sát địa chấn phục vụ tìm kiếm dầu khí kéo theo nguy cơ phá vỡ chu kỳ sinh học của mực Loligo. Các nhà khoa học

đang kêu gọi đánh giá lại độ chính xác của các báo cáo tác động môi trường và thận trọng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng loài mực Loligo có giá trị thương mại cao.

Ghana

Siết chặt luật thủy sản, chặn đánh bắt trái phép

Quốc hội Ghana vừa nhất trí thông qua Dự luật Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản năm 2025 nhằm mục tiêu nâng cao năng lực quản lý, thúc đẩy khai thác bền vững và siết chặt các hình phạt đối với hành vi đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Theo đó, Ghân sẽ triển khai hệ thống giám sát điện tử, đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt từ EU và Mỹ về truy xuất nguồn gốc thủy sản. Nếu được Tổng thống phê chuẩn, dự luật sẽ chính thức thiết lập Ủy ban Thủy sản Ghana – cơ quan chủ lực trong bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên biển. Hiện, Ghana đang đối mặt nguy cơ “thẻ đỏ” từ EU, đồng nghĩa với lệnh cấm xuất khẩu thủy sản, có thể khiến quốc gia mất trắng hơn 425 triệu USD. Dự luật mới được kỳ vọng sẽ lấp đầy những lỗ hổng pháp lý hiện tại, đưa ngành thủy sản Ghana tiến gần hơn tới chuẩn mực toàn cầu, bảo đảm song song mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển.

Tuấn Minh

6,22 TỶ USD

Là tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 7 tháng năm 2025, tăng trưởn mạnh so với cùng kỳ 2024. Tôm và cá tra vẫn là 2 mặt hàng chủ lực (số liệu từ VASEP).

3,6 - 3,8 TỶ USD

Là tổng kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2025 do VASEP dự báo với kịch bản doanh nghiệp tiếp tục khai thác tốt thị trường châu Á, EU, các nước CPTPP và đẩy mạnh sản phẩm giá trị gia tăng sang Nhật Bản.

5,5 TRIỆU TẤN

Là sản lượng thuỷ sản trên cả nước trong 7 tháng năm 2025, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt hơn 3,9 triệu tấn, tăng 2,8%; tôm đạt hơn 0,9 triệu tấn, tăng 5,6%; thủy sản khác đạt khoảng 0,78 triệu tấn, tăng 2,0%.

20%

Là mức thuế đối ứng của Mỹ dành cho Việt Nam áp dụng từ ngày 7/8/2025, thấp hơn so với mức đưa ra trước đây là 46%.

VỮNG VÀNG VỊ THẾ VIỆT NAM

Một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc

Việt Nam đó là sự thành công của Cách mạng

Tháng Tám năm 1945.

Dưới sự lãnh đạo của

Đảng Cộng sản Việt

Nam và Chủ tịch Hồ Chí

Minh, lần đầu tiên trong

lịch sử, nhân dân ta giành được chính quyền trên phạm vi cả nước, chấm dứt chế độ thực dân phong kiến kéo dài

hàng thế kỷ, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa (nay là nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Tác phẩm tranh bằng bột màu

“Bác Hồ đọc Tuyên ngôn” của

tác giả Nguyễn Dương

Vượt qua thác ghềnh của lịch sử

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh đầy cam go, thách thức. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối diện với muôn vàn khó khăn, hiểm nguy, đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đan xen. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, sáng suốt, kiên định của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện” kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược và kết thúc bằng Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Geneva (ngày 21-71954). Mặc dù Hội nghị Geneva đã thừa nhận về nguyên tắc sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tuy nhiên, với ý đồ can thiệp và xâm lược, Mỹ đã không ký tuyên bố cuối cùng của hội nghị và nhảy vào miền Nam Việt Nam thay chân thực dân Pháp, xâm chiếm miền

Nam bằng chính sách thực dân

mới với chính quyền tay sai Ngô

Đình Diệm. Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam - Bắc với đường giới tuyến quân sự là vĩ tuyến 17.

Từ đây, cùng một lúc, dân tộc ta phải tiến hành hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền. Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, còn ở

miền Nam tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân, trọng tâm là

đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mặc dù gặp vô vàn khó khăn, gian khổ, chịu nhiều mất mát, hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo của

Đảng, dân tộc Việt Nam lại vượt lên, giành hết thắng lợi này đến

thắng lợi khác.

Ở miền Bắc, quân và dân ta đã

hoàn thành cuộc cách mạng dân

tộc dân chủ nhân dân, tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế, cải

tạo quan hệ sản xuất và xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, quân và dân cả nước tiến hành cuộc

kháng chiến chống Mỹ, cứu

nước. Bằng cuộc Tổng tiến công

và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí

Minh lịch sử, quân và dân ta đã

giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn

được giải phóng, Tổ quốc thống

nhất nhưng đất nước ta bị chiến

tranh tàn phá nặng nề, bị bao

vây, cấm vận, tiếp đến là hai cuộc

chiến tranh bảo vệ biên giới phía

Tây Nam và phía Bắc, cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp không còn phù hợp, dẫn

đến khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn chồng chất. Song, với lý tưởng anh hùng cách mạng, sức mạnh của cả dân tộc, nhân dân ta đã bắt tay ngay vào khôi phục nền kinh tế, xã hội sau chiến tranh. Từ những thử nghiệm từng bước trong thực tiễn, Đảng đã đề ra và lãnh đạo công cuộc đổi mới từ năm 1986.

Bằng đường lối đổi mới được Đảng đề ra từ Đại hội VI (tháng 12/1986) và được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội tiếp theo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng.

Mặc dù tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Vững vàng vị thế Việt Nam

Vị thế của đất nước, sau 80 năm, từ chỗ nghèo nàn, lạc hậu

đến một đất nước có nền kinh tế được đánh giá là điểm sáng của thế giới; chính trị - xã hội ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả ấn tượng, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua các giai đoạn. Đến nay, Việt Nam không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn khoảng 1,9%. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ được đẩy mạnh, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục và y tế được quan tâm đầu tư; chất lượng giáo dục được nâng cao; mạng lưới y tế được mở rộng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của người dân. Các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy, đồng thời

Ảnh: Minh Phú

tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới.

Thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển đa dạng các ngành kinh tế, Việt Nam đã vươn lên thành nền kinh tế có quy mô GDP xếp thứ 4 Đông Nam Á, đứng thứ 33 thế giới, sẵn sàng bước vào giai đoạn phát triển mới, hiện thực hóa quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta về việc xây dựng Việt Nam trở thành một nước phát triển, thu nhập cao.

Kiên định với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới. Trong đó, có 11 nước được xác định là đối tác chiến lược toàn diện, 10 nước là đối tác chiến lược và 13 nước là đối tác toàn diện. Việt Nam cũng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Đặc biệt, Việt Nam đã trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 20142016 và 2023-2025. Không chỉ khẳng định là quốc gia có chủ quyền, mà Việt Nam còn là nước có tiếng nói và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Mặc dù bối cảnh thế giới có những biến động phức tạp và

đa chiều, tác động sâu sắc đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhưng Việt Nam đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Sự ổn định chính trị tạo ra một môi trường thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế, xã hội, thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và nâng cao đời sống nhân dân.

Hướng tới tương lai

Ngày nay, Việt Nam đang

đứng trước ngưỡng cửa của giai

đoạn phát triển mới, mang tính quyết định tới sự thành công của nỗ lực vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước phát triển, công nghiệp hiện đại, thu nhập cao.

Chúng ta bước vào giai đoạn phát triển mới với rất nhiều khó

khăn, thách thức, khi các mô hình phát triển cũ đang trở nên

trì trệ, kém hiệu quả. Cuộc Cách

mạng công nghiệp lần thứ tư làm biến đổi nhanh chóng mọi

mặt của kinh tế - xã hội. Chủ

nghĩa bảo hộ đang trỗi dậy tạo ra

nhiều thách thức với nỗ lực hợp

tác kinh tế quốc tế. Nền kinh tế

thế giới trở nên dễ bị tổn thương

hơn bao giờ hết bởi sự đứt gãy

các chuỗi cung ứng toàn cầu do

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Những thành tựu vĩ đại đạt

được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo: từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình

độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm... Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ... ”.

hậu quả của dịch bệnh, thiên tai, căng thẳng thương mại và xung

đột quân sự...

Trước thời cơ, thách thức đan xen, Đảng, Nhà nước ta luôn xác

định tìm mọi cách để tận dụng

những thuận lợi, biến thách thức thành cơ hội phát triển. Đảng đã

ban hành “bộ tứ nghị quyết trụ

cột” để đưa đất nước phát triển

bứt phá, vững vàng bước vào giai

đoạn phát triển mới và “bộ tứ

nghị quyết trụ cột” này đã nhanh

chóng được Quốc hội thể chế

hóa để Chính phủ khẩn trương

triển khai thực hiện.

Những chính sách mới bước

đầu đang phát huy hiệu quả tích

cực với việc tăng trưởng GDP quý II-2025 đạt mức cao nhất so với

cùng kỳ suốt gần 20 năm qua (đạt 7,67%), tạo tiền đề quan

trọng để hướng tới mục tiêu tăng

trưởng 8% trong năm nay và tăng

trưởng hai con số trong những năm tiếp theo.

Những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực của Việt Nam sau 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta không “ngủ quên trên chiến thắng” mà chủ động nhận diện rõ mọi khó khăn, thách thức, biến khó khăn, thách thức thành cơ hội để phát triển. Điều đó tạo niềm tin rất lớn về một tương lai phát triển đầy xán lạn cho nền kinh tế nước nhà.

Ảnh: Istock

Thủy sản Việt Nam và hành trình ra biển lớn

Trong suốt 80 năm qua, ngành nông nghiệp và thủy sản Việt Nam đã trải qua một hành

trình dài đầy thử thách nhưng cũng hết sức tự hào. Từ nền sản xuất tự cung tự cấp, manh mún, nặng tính bao cấp, đến nay, nông nghiệp và thủy sản đã trở thành trụ cột kinh tế, là “bệ đỡ” trong nhiều thời điểm khó khăn và là lĩnh vực giữ vai trò chiến lược trong phát triển đất nước, đặc biệt là bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho hàng chục triệu nông dân và giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển.

Những dấu mốc lịch sử đáng nhớ

Nông nghiệp hoàn thành sứ mệnh

Ngay sau khi giành độc lập năm 1945, nông nghiệp nước ta đứng trước tình cảnh cực kỳ khó khăn với áp lực thiếu giống, thiếu phân bón, thiếu nhân lực, thiên tai và chiến tranh kéo dài. Nhiệm vụ hàng đầu của nông nghiệp nước ta khi đó là đảm bảo đủ lương thực cứu đói cho đồng bào.

Hơn 30 năm kháng chiến giải phóng dân tộc, ngành nông nghiệp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vừa bảo đảm nhu cầu cho người dân vừa cung cấp đầy đủ cho tiền tuyến với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Các phong trào “gió Đại Phong”, “sóng Duyên Hải”, “Cả nước vì tiền tuyến”… đã lan tỏa sâu rộng khắp mọi miền quê, tạo động lực lớn trong phát triển sản xuất. Sau giải phóng, nền nông nghiệp tiếp tục có những bước tiến, tuy nhiên, giai đoạn 19761980, sản lượng lúa trung bình của cả nước mới chỉ đạt khoảng 13 - 14 triệu tấn/năm. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn gạo để đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước.

Năm 1986, tại Đại hội VI, nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu. Nhiều chính sách được ban hành đã mở đầu cho công cuộc đổi mới. Đặc biệt, chính sách khoán 10 đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi người nông dân được trao quyền tự chủ lâu dài về ruộng đất. Đây được coi là động lực lớn cho sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam. Nhờ đó, sản lượng lúa tăng nhanh nhanh chóng, năm 1987 đạt 15,1 triệu tấn và bật lên 32,55 triệu tấn vào năm 2000. Đáng chú ý là năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo, mở ra kỷ nguyên mới

cho ngành nông nghiệp trong

nước, lần đầu tiên Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lúa gạo.

Dần dần, các mặt hàng nông sản

khác như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu, rau quả cũng bắt đầu tham gia thị trường xuất khẩu.

Thủy sản dần chuyển mình

Thời kỳ này, ngành thủy sản

nước ta vẫn chủ yếu mang tính tự nhiên, quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ tiêu dùng của nhân dân. Lĩnh vực khai thác vẫn chỉ ở khu vực gần bờ, nhưng bước đầu hình thành đội ngũ ngư dân bám biển.

Từ năm 1963, các nhà khoa học thủy sản đã cho sinh sản nhân tạo thành công nhiều giống cá như mè, trắm, chép, trôi, rô phi… Sản xuất tôm giống nhân

tạo cũng đạt kết qảu, mở ra triển vọng phát triển nuôi trồng thủy

sản sau này. Những năm 1970, sản phẩm thủy sản đông lạnh

Việt Nam được xuất khẩu sang

thị trường khu vực II (Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông).

Bước sang thập kỷ 80, thủy

sản được coi là một trong những ngành đi tiên phong

trong quá trình đổi mới, chuyển

hướng sang nền kinh tế thị

trường theo định hướng xã

hội chủ nghĩa ở nước ta. Con

đường mới của ngành đã được

mở ra như một hải trình vươn ra

đại dương rộng lớn.

Ngành thủy sản thực sự có

bước chuyển mình mạnh mẽ từ

đầu thập niên 1990. Cụ thể, năm 1993, Hội nghị Ban Chấp hành

Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa

VII xác định xây dựng thủy sản

thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Thủy sản nuôi cũng ngày càng

đa dạng hơn, trên cả 3 lưu vực

là ngọt, mặn, lợ. Riêng về xuất

khẩu, con tôm được coi là mũi

đột phá quan trọng.

Ngành thủy sản tập trung đổi

mới phương thức quản lý chất

lượng sản phẩm, từng bước đáp

ứng yêu cầu của các thị trường

xuất khẩu, tạo dựng uy tín và chỗ

đứng tại các thị trường lớn nhất

trên thế giới.

Năm 1995 được coi là dấu

mốc tăng trưởng ấn tượng của ngành thủy sản. Tổng sản lượng đạt 1,34 triệu tấn, trong đó khai thác hơn 0,928 triệu tấn, nuôi trồng hơn 0,415 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt 550.000 USD. Trong một thập kỷ từ 1980 - 1990, kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta tăng bình quân 48,29%/năm; giai đoạn 19911996, tăng xuất khẩu duy trì ở mức 15,97%/năm.

Mỗi năm, khoảng một nửa sản lượng nông nghiệp của Việt Nam được xuất khẩu, mang về cho đất nước từ 40 - 50 tỷ USD. Nông nghiệp, nông thôn đã trở thành trụ đỡ, là nền tảng vững chắc để bảo vệ đất nước trong những thời điểm gặp khó khăn.

Chủ động đi trước trong hội nhập quốc tế

Những năm đầu của thế kỷ 21 là giai đoạn mang tính bước ngoặt cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Không chỉ đảm bảo trong nước, nông nghiệp đã có đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực toàn cầu. Mỗi năm, nước ta xuất khẩu hơn 6 triệu tấn gạo, tương đương gần 10% tổng lượng gạo xuất khẩu trên thế giới, chỉ sau Ấn Độ và Thái Lan.

Với các mặt hàng nông sản khác, trong những năm gần đây, về khối lượng, Việt Nam luôn là

nước xuất khẩu hạt điều và hạt

Sau 80 năm, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới

Ảnh: Lam Anh

tiêu lớn nhất thế giới, và đứng

thứ hai về xuất khẩu cà phê (sau Brazil), đồng thời nằm trong

top đầu về xuất khẩu rau quả và

sản phẩm gỗ. Mỗi năm, khoảng

một nửa sản lượng nông nghiệp

của Việt Nam được xuất khẩu,

mang về cho đất nước từ 40 -

50 tỷ USD. Nông nghiệp, nông

thôn đã trở thành trụ đỡ, là nền

tảng vững chắc để bảo vệ đất

nước trong những thời điểm

gặp khó khăn.

Từ sau năm 1995, ngành thủy

sản phát triển một cách mạnh mẽ và toàn diện. Sản xuất kinh doanh chuyển biến vượt bậc, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho lao động nghề cá

cả nước, tạo nguồn thu lớn cho

ngân sách quốc gia.

Ngành thủy sản đã chủ động

đi trước trong hội nhập quốc tế, đẩy mạnh việc áp dụng khoa học

công nghệ tiên tiến vào sản xuất, gắn sản xuất nguyên liệu với chế

biến, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Sau hơn 30 năm, thủy sản đã có những bứt phá vượt bậc. Sản lượng năm 2023 gấp 7,1 lần so

với năm 1995, nuôi trồng gấp

hơn 5 lần. Cơ cấu sản lượng

thủy sản có bước chuyển dịch

tích cực, tỷ trọng nuôi trồng

tăng từ 31% năm 1995 lên gần

57% năm 2023. Sản phẩm thủy

sản Việt Nam đã xuất khẩu tới

hơn 170 thị trường, kim ngạch

xuất khẩu lần đầu vượt ngưỡng

1 tỷ USD (năm 1999) và lập kỷ lục gần 11 tỷ USD (năm 2022), đưa Việt Nam vào vị trí thứ 3 trong các nước xuất khẩu thủy

sản lớn nhất thế giới (sau Trung

Quốc và Na Uy).

Tối ưu hóa khoa họccông nghệ trong sản xuất

Cuộc cách mạng trong ứng

dụng khoa học - công nghệ, đi liền với cải cách thể chế, tạo nên bước ngoặt lớn trong nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực trồng lúa.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến năm 2025, Việt Nam đã nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất hơn 1.600 giống lúa mới với năng suất, chất lượng ngày càng cao. Nhờ đó, năng suất lúa

bình quân cả nước đạt khoảng 6,7 - 7,2 tấn/ha, tiếp tục đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu toàn cầu. Tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất đạt trên 97%, còn trong khâu thu hoạch đạt trên 70%. Việc áp dụng máy móc hiện đại giúp giảm sức lao động, rút ngắn thời gian sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm tổn thất sau thu hoạch.

Ngành nông nghiệp chuyển mình theo hướng hiện đại và bền vững. Nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao như nhà kính, nhà màng, công nghệ tưới nhỏ giọt, IoT trong sản xuất nông nghiệp đã được áp dụng. Các chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ được hình thành rõ nét, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh.

Theo đánh giá chung, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, còn trong lĩnh vực sản xuất giống cây trồng, vật nuôi đạt 38%. Khoa học công nghệ đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

Đặc biệt, Nghị quyết số 57NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển

đổi số là các yếu tố quyết định sự phát triển của quốc gia, là nhiệm vụ tiên quyết, là thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển nhanh, bền vững và trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết 57 đặt ra mục tiêu phát triển và tầm nhìn

Vững chắc trong kỷ nguyên xanh

Đến nay, sau 80 năm đồng

hành cùng lịch sử dân tộc, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc. Năm 2024, tăng trưởng GRDP toàn ngành đạt 3,3%; thị trường tiêu thụ nông sản tiếp tục mở rộng

với tổng giá trị xuất khẩu đạt trên 62 tỷ USD; giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp tăng 2,94% so với năm 2023, đóng góp 0,26 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vị thế và là trụ đỡ cho nền kinh tế, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô. Đặc biệt, ngành nông nghiệp đã có bước chuyển đổi mạnh mẽ sang tư duy kinh tế nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và từng bước thay đổi sang “nông nghiệp xanh”.

Một số nông sản của Việt Nam đứng vị thế cao trên thế giới về sản lượng như: Tiêu đứng thứ nhất, cà phê đứng thứ hai, cao su và điều đứng thứ ba, lúa gạo đứng thứ năm và chè đứng thứ sáu.

Tầm nhìn đến năm 2045, ngành nông nghiệp Việt Nam hướng tới nông nghiệp sinh thái, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, có giá trị gia tăng cao, gắn kết chặt chẽ với thị trường trong và ngoài nước, công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản hiện đại, xuất khẩu nhiều loại nông sản đứng hàng đầu thế giới. Ngành thủy sản cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 dựa trên quan điểm “xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế có quy mô và tỷ suất hàng hóa lớn, có thương hiệu uy tín, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, có khả năng cạnh tranh cao và bền vững. Đến năm 2045, “thủy sản là ngành kinh tế thương mại hiện đại, bền vững;

là trung tâm chế biến sâu, thuộc

nhóm ba nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới; giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu

các ngành kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển.

Dù đạt được nhiều thành tựu

quan trọng, ngành nông nghiệp và thủy sản vẫn đang đối mặt

với những thách thức lớn và lâu dài như mô hình sản xuất hộ gia đình vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Sự thiếu liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị khiến chi phí cao, khó kiểm soát chất lượng và dễ tổn thương khi thị trường biến động.

Tình trạng xâm nhập mặn, hạn hán, lũ lụt và sạt lở ngày càng nghiêm trọng, nhất là tại ĐBSCL, vùng trọng điểm sản xuất nông sản và thủy sản của cả nước.

Tình trạng thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng và tính ổn định của sản xuất.

Cùng đó, nhiều sản phẩm chưa

đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của thị

trường xuất khẩu cao cấp. Việc

áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ... còn chậm

và thiếu sự giám sát hiệu quả.

Với riêng thủy sản, khó khăn

nhất vẫn là rào cản từ các thị

trường nhập khẩu, trong đó nổi

bật là cảnh báo “thẻ vàng” IUU

của Ủy ban châu Âu do vấn đề khai thác vi phạm vùng biển

nước ngoài, truy xuất nguồn gốc

còn yếu. Đồng thời, khai thác

gần bờ ngày càng cạn kiệt, trong khi chuyển dịch sang nuôi biển

công nghệ cao chưa đủ mạnh để thay thế…

Trong bối cảnh toàn cầu đầy

biến động, ngành nông nghiệp

và thủy sản Việt Nam càng cần

củng cố vai trò “trụ đỡ”, bảo đảm

lương thực và xuất khẩu, an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo.

Chặng đường 80 năm phát triển của ngành nông nghiệp và thủy sản Việt Nam là hành trình

đầy tự hào. Từ những thửa ruộng

Hành trình phát triển thần

kỳ của nông nghiệp Việt

Nam đã được viết nên bằng

mồ hôi, khát vọng và trí tuệ

của người nông dân, nhà khoa học và cả hệ thống chính trị”.

Ông Lê Minh Hoan, Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên

nghèo, những chiếc thuyền nhỏ,

đến nay chúng ta đã có những

cánh đồng mẫu lớn công nghệ

cao, những vùng nuôi biển hiện

đại vươn ra đại dương, khẳng

định vị thế trên thị trường thế giới.

Ông Lê Minh Hoan, Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, đã từng khẳng định: “Nông nghiệp Việt Nam không chỉ là câu chuyện của lương thực mà còn là văn hóa, sinh thái và giá trị nhân văn. Hành trình phát triển thần kỳ của nông nghiệp Việt Nam đã được viết nên bằng mồ hôi, khát vọng và trí tuệ của người nông dân, nhà khoa học và cả hệ thống chính trị. Thời gian tới, nông nghiệp

Việt Nam sẽ tiếp tục là ngành

kinh tế chủ lực cho sự phát triển

bền vững của đất nước”.

Kỷ nguyên mới và hành trình

“vượt sóng” của ngành thủy sản

Từ mùa Thu lịch sử 1945 đến nay, trong hành trình 80 năm dựng xây và hội nhập của đất nước, ngành thủy sản Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành trụ cột

kinh tế quan trọng và là biểu tượng cho khát vọng vươn ra biển lớn. Bước vào kỷ nguyên mới với nhiều thách thức lớn, ngành vẫn đang nỗ lực khẳng định vị thế

trên bản đồ thủy sản toàn cầu.

“Sóng ngầm” từ thị trường

Một trong những áp lực lớn nhất hiện nay là sự gia tăng mạnh mẽ của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Nhiều quốc gia sản xuất thủy sản như Ecuador, Ấn Độ, Thái

Lan, Indonesia… đang vươn lên nhanh chóng nhờ lợi thế về quy mô sản xuất, công nghệ hiện đại và chính sách hỗ trợ hiệu quả.

Điển hình, Ecuador – quốc gia chỉ mới đẩy mạnh nuôi tôm trong khoảng hai thập kỷ gần đây đã tận dụng triệt để lợi thế chi phí thấp, mô hình nuôi công nghiệp hóa và chuỗi cung ứng tinh gọn để tăng tốc xuất khẩu, đặc biệt vào các thị trường lớn như Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự trỗi dậy của những đối thủ này đang khiến doanh nghiệp Việt

Nam phải gồng mình giữ vững thị phần trong khi biên lợi nhuận ngày càng bị siết chặt.

Song song, yêu cầu từ thị trường toàn cầu cũng đang thay đổi chóng mặt. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến tính trách nhiệm, sản phẩm phải sạch, có thể truy xuất nguồn gốc, thân thiện môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Điều này buộc doanh nghiệp và người nuôi trong nước phải tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị, từ con giống, kỹ thuật nuôi cho đến chế biến và logistics.

Các thị trường xuất khẩu chủ lực như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản ngày càng siết chặt rào cản kỹ thuật. Từ truy xuất nguồn gốc, dư lượng kháng sinh, đến tiêu chuẩn về lao động và môi trường, tất cả đều buộc doanh nghiệp phải đầu

tư nghiêm túc và bài bản.

Đặc biệt, các chính sách mới

như cơ chế điều chỉnh carbon (CBAM), quy định không phá rừng (EUDR)… đang dần mở

rộng sang ngành thủy sản. Dù

chưa áp dụng triệt để, đây đã là

“hồi chuông cảnh báo” cho Việt

Nam về yêu cầu cấp thiết phải xanh hóa sản xuất và minh bạch hóa chuỗi cung ứng.

Thách thức nội tại

Bên cạnh những biến động từ bên ngoài, ngành thủy sản Việt

Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nội tại lâu năm, trong đó, nghiêm trọng nhất là bài toán về thể chế, quản lý khai thác và tuân thủ pháp luật quốc tế.

Một minh chứng rõ ràng là việc bị Ủy ban châu Âu (EC) phạt “thẻ vàng” từ năm 2017 vì chưa đáp

ứng đầy đủ các quy định chống

khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Từ đó đến nay, xuất khẩu thủy sản khai thác sang EU đã giảm đáng kể, với thiệt hại ước tính 500 - 600

triệu USD mỗi năm. Không dừng

lại ở thị trường châu Âu, thẻ vàng

IUU còn khiến các nước khác như

Mỹ, Nhật Bản… tăng cường kiểm soát, làm chậm thời gian thông quan và tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp Việt.

Ngoài ra, ngành thủy sản trong nước còn đang chịu tác động nặng nề bởi biến đổi khí hậu, dịch

bệnh, chất lượng con giống kém

và thiếu hụt lao động có tay nghề cao. Mô hình nuôi nhỏ lẻ, manh mún tại nhiều địa phương vẫn phổ

biến, gây khó khăn cho việc áp dụng công nghệ cao hay chuẩn

hóa quy trình sản xuất. Logistics

chưa phát triển đồng bộ, trong khi chi phí sản xuất từ thức ăn, điện, nước đến vận chuyển ngày một

tăng, khiến năng lực cạnh tranh

của Việt Nam bị bào mòn ngay

trên sân nhà.

Tựu trung lại, bối cảnh hiện nay có thể ví như một “cơn sóng

ngầm” đang âm thầm định hình

lại trật tự thủy sản toàn cầu. Trong làn sóng ấy, nếu không có

bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy

đến hành động, Việt Nam rất dễ

bị tụt lại, thậm chí bị gạt ra khỏi

sân chơi lớn.

Nhưng thách thức, theo một cách nào đó, cũng là phép thử cho bản lĩnh. Nếu nhìn lại hành

trình phát triển trong 40 năm đổi mới và hơn 20 năm hội nhập sâu rộng, có thể tin rằng: Với những nền tảng đã gây dựng và vị thế đã được khẳng định, ngành thủy

sản Việt Nam đủ sức vượt sóng, miễn là chúng ta hành động

quyết liệt, đồng lòng và không

bỏ lỡ thời cơ chuyển mình.

Giữ vững thị phần, khẳng định

vị thế

Ít ai ngờ rằng, chỉ vài chục năm

trước, thủy sản Việt Nam còn là

một ngành nhỏ lẻ, mang tính tự cung tự cấp ở các vùng ven biển, cửa sông. Thế nhưng, kể từ công

cuộc Đổi mới năm 1986, ngành

đã có bước chuyển mình mạnh

mẽ, vươn lên trở thành mũi nhọn xuất khẩu với kim ngạch trên 9 tỷ USD mỗi năm, tạo sinh kế cho hơn 4 triệu lao động.

Từ vùng nuôi tôm công nghiệp

ở ĐBSCL, cảng cá sôi động miền

Trung, đến các nhà máy chế biến

hiện đại ở Hưng Yên, Đồng Nai, Cần Thơ… thủy sản Việt Nam đã hình thành một chuỗi sản xuất quy mô lớn, gắn kết và hội nhập sâu rộng. Nhờ đó, Việt Nam hiện là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn thứ ba thế giới, giữ vị trí hàng

đầu về cá tra và trong nhóm ba nước dẫn đầu về tôm.

Không dừng lại ở vai trò kinh tế, thủy sản Việt Nam còn góp phần khẳng định “quyền lực mềm” quốc gia. Tại các diễn đàn quốc tế như FAO, WTO, APEC, ASEAN hay hội nghị COP về biến đổi khí hậu, Việt Nam không đứng ngoài cuộc. Chúng ta chủ động góp tiếng nói mạnh mẽ cho phát triển bền vững, cam kết chống khai thác IUU và bảo vệ đại dương –một cách tiếp cận không chỉ vì lợi ích quốc gia mà còn vì trách nhiệm toàn cầu. Bên cạnh đó, ngành thủy sản đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng xanh hóa và minh bạch. Nhiều mô hình nuôi trồng tuần hoàn, ứng dụng công nghệ sinh học, giảm phát thải và số hóa chuỗi cung ứng đã được triển khai. Doanh nghiệp Việt không còn chỉ là bên cung cấp nguyên liệu, mà đã vươn lên thành đối tác chiến lược của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu như Walmart, Carrefour, Costco, AEON... Không phải ngẫu nhiên mà thủy sản Việt Nam giữ được vị thế vững vàng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu khốc liệt. Đằng sau những con số xuất khẩu là cả quá trình gây dựng nền tảng pháp lý, nâng cao năng lực tuân thủ và xây dựng uy tín quốc tế suốt nhiều thập kỷ. Cụ thể, trong hơn hai thập kỷ qua, ngành cá tra và tôm Việt

Ảnh: Thanh Huy

Nam liên tục đối mặt với các vụ

kiện chống bán phá giá tại thị

Theo Chiến lược

phát triển thủy sản

Việt Nam đến năm

2030, tầm nhìn đến

năm 2045, phấn

đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng

giá trị sản xuất thủy

sản đạt 3,0 - 4,0%/ năm. Tổng sản

lượng thủy sản sản xuất trong nước đạt

9,8 triệu tấn. Giá trị kim ngạch xuất

khẩu thủy sản đạt 14 - 16 tỷ USD.

trường Hoa Kỳ. Năm 2003, nước này áp mức thuế chống bán phá

giá cao đối với cá tra Việt Nam, dao động từ 37 - 64%. Tuy nhiên,

nhờ nỗ lực theo đuổi các vụ kiện

tại WTO, cải thiện hệ thống dữ

liệu phục vụ điều tra và nâng cao năng lực tuân thủ, nhiều doanh

nghiệp Việt Nam đã từng bước

đạt được mức thuế suất thấp

hơn, thậm chí được hưởng cơ chế

riêng. Trong kết quả rà soát hành

chính gần nhất năm 2025, Công

ty Vĩnh Hoàn – một trong những

doanh nghiệp dẫn đầu được xác

định mức thuế chống bán phá giá

là 0% nhờ cơ chế riêng.

Không chỉ ở thị trường Mỹ, khi

đối mặt với thẻ vàng IUU từ Ủy

ban châu Âu (EC), ngành thủy

sản Việt Nam cũng chứng tỏ

được tinh thần cầu thị và cam

kết cải cách. Nhiều địa phương

đã lắp đặt thiết bị giám sát hành

trình cho tàu cá, kiểm soát sản

lượng tại cảng cá, minh bạch

hóa nguồn gốc khai thác. Nhờ

những nỗ lực đó, Việt Nam giữ

vững được niềm tin từ các nhà

nhập khẩu lớn, dù chưa chính

thức gỡ được thẻ vàng.

Trong khi nhiều quốc gia như Ecuador, Ấn Độ hay Indonesia ưu tiên mở rộng quy mô bằng công nghệ và chi phí thấp, Việt Nam định vị mình theo hướng phát triển bền vững, minh bạch, tuân thủ và trách nhiệm xã hội. Đây là những giá trị ngày càng được thị trường toàn cầu đánh giá cao, thể hiện qua việc nhiều doanh nghiệp Việt đạt các chứng nhận quốc tế như ASC, BAP hay MSC.

Tầm vóc mới, kỳ vọng lớn

Ngành thủy sản Việt Nam đang bước vào một giai đoạn bản lề –nơi giao thoa giữa áp lực và cơ hội. Nhưng chính trong nghịch cảnh, bản lĩnh Việt Nam càng

được hun đúc: Không lùi bước, mà chuyển mình mạnh mẽ. Đây

không chỉ là cuộc đua về công

nghệ, năng suất hay chất lượng, mà còn là cuộc cạnh tranh về tầm nhìn, khả năng thích ứng và khát vọng làm chủ sân chơi toàn cầu. Nhìn lại hành trình đã qua, có thể thấy, chưa bao giờ ngành thủy sản Việt Nam chấp nhận bị cuốn vào thế bị động. Ngược lại, ngành đang lặng lẽ mà kiên định tiến bước, từ đầu tư vào con giống chất lượng cao, hiện đại hóa hạ

tầng nuôi trồng, nâng cấp công nghệ chế biến sâu, số hóa chuỗi cung ứng, cho đến đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế.

Việt Nam hôm nay không chỉ là “cường quốc xuất khẩu” đơn thuần. Một tầm nhìn lớn hơn đang định hình rõ nét: Trở thành trung tâm sản xuất thủy sản bền vững, công bằng, minh bạch của thế giới. Đây không phải là khẩu hiệu, càng không phải giấc mơ xa vời, mà là con đường tất yếu trong kỷ nguyên cạnh tranh bằng uy tín, chất lượng và sự hòa hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu. Để hiện thực hóa khát vọng đó, cần một chiến lược phát triển nhất quán và dài hạn với sự đồng hành thực chất giữa Nhà nước, doanh nghiệp, người nuôi và các tổ chức quốc tế. Nếu đi đúng hướng, ngành thủy sản Việt Nam không chỉ giữ vững vị thế đã có, mà hoàn toàn có thể xác lập một tầm vóc mới,

Quy hoạch vùng nuôi

Và bài toán lựa chọn địa hình

vùng nuôi tôm tập trung phù hợp

Ảnh: Trần Tâm

Trong bối cảnh phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, việc quy

hoạch vùng nuôi tôm tập trung

đóng vai trò then chốt trong việc tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.

Một trong những thách thức trong quá trình quy hoạch là bài toán lựa chọn địa hình vùng nuôi phù hợp, bởi các yếu tố địa chất, thủy văn, hạ tầng và khả năng thích ứng sinh thái ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của hoạt động nuôi trồng. Việc xác định và phân tích các tiêu chí lựa chọn địa hình không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn liên quan đến tầm nhìn chiến lược trong phát triển ngành thủy sản. Gần đây ngành Thủy sản đã ban hành một số quyết định làm cơ sở cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản: QĐ số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021, phê duyệt chiến lược phát triển Thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; QĐ số 1960/QĐ/BNN/TCTS ngày 6/5/2021 Quyết định hành động thực

hiện QĐ số 339/QĐ-TTg và QĐ số 1664/QĐTTg ngày 4/10/2021 phê duyệt đề án phát triên nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo các nguồn tổng hợp, giai đoạn 2022 - 2024, diện tích nuôi tôm tại Việt Nam dao

động ổn định trong khoảng từ 737.000 đến 750.000 ha. Sản lượng tăng từ 1,00 triệu tấn (năm 2022) lên khoảng 1,29 triệu tấn (năm 2024), với mục tiêu đạt 1,3 - 1,4 triệu tấn vào năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu đạt đỉnh 4,3 tỷ USD năm 2022, giảm xuống còn 3,38 tỷ USD (2023), và dự kiến phục hồi lên 3,95 tỷ USD năm 2024, với kỳ vọng đạt 4 - 4,5 tỷ USD trong năm 2025. Sản lượng này có thể bao gồm cả tôm khai thác, tôm nhập khẩu phục vụ chế biến xuất khẩu (vasep.com.vn). Tuy nhiên, năng suất nuôi tăng chậm; sản lượng tăng chủ yếu nhờ mở rộng diện tích hơn là tăng năng suất do áp dụng công nghệ.

Ngành nuôi tôm hiện đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính hệ thống. Trước hết, công tác quy hoạch còn thiếu đồng bộ và tầm nhìn dài hạn. Nhiều vùng nuôi được lựa chọn chưa phù hợp về mặt địa hình, điều kiện sinh thái và khả năng phát triển hạ tầng. Hệ thống cấp - thoát nước, giao thông nội vùng, điện và điều kiện xử lý môi trường còn bất cập, nhiều nơi chưa được đầu tư đúng mức. Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu chuẩn hóa hạ tầng kỹ thuật và chưa gắn với các chuỗi giá trị liên kết. Không những thế, công tác thống kê hiện nay vẫn còn mang tính hình thức, thiếu độ tin cậy và độ phân giải cần thiết cho công tác quản lý. Việc không nắm rõ các chỉ số cơ bản như tổng diện tích nuôi thực tế, sản lượng tôm nuôi, cơ cấu tỷ lệ các hình thức nuôi (quảng canh cải tiến, thâm canh, siêu thâm canh), tỷ lệ diện tích nuôi thâm canh so với tổng diện tích, cũng như năng suất và tốc độ tăng trưởng qua các năm, sẽ gây khó khăn lớn trong việc

xây dựng các chính sách phát triển bền vững. Thiếu hụt dữ liệu chính xác còn khiến cho công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng, giám sát môi trường và hỗ trợ kỹ thuật khó đạt hiệu quả, đồng thời làm suy giảm năng lực phản ứng của ngành trước các biến động về thị trường, dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Ngoài ra, nuôi thâm canh thiếu kiểm soát đang gây áp lực lớn lên môi trường, trong khi dịch bệnh trên tôm diễn biến phức tạp và hệ thống giám sát – cảnh báo còn kém hiệu quả. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn địa hình vùng nuôi phù hợp, gắn với quy hoạch khoa học và đầu tư hạ tầng đồng bộ là điều kiện tiên quyết để tái cấu trúc ngành nuôi tôm. Một trong những yếu tố cốt lõi để chủ động kiểm soát chất lượng môi trường, đảm bảo an toàn sinh học và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm chính là công tác quy hoạch không gian nuôi, đặc biệt là việc lựa chọn địa hình phù hợp. Trong thực tiễn quy hoạch vùng nuôi tôm tập trung, ba dạng địa hình phổ biến được xem xét bao gồm: vùng trung triều (1), vùng cao triều (2) và vùng trên triều (3). Mỗi loại hình mang những đặc điểm sinh thái, thủy văn và chi phí đầu tư khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến mô hình sản xuất và mức độ hiệu quả kinh tế. Vấn đề đặt ra là: đâu là vùng địa hình tối ưu cho phát triển nuôi tôm thâm canh và công nghiệp – những mô hình yêu cầu điều kiện kỹ thuật cao, hạ tầng đồng bộ và khả năng kiểm soát môi trường nghiêm

của thủy triều, giúp giảm chi phí và công sức trong vận hành hệ thống cấp nước. Tuy nhiên, các vùng này cũng tồn tại nhiều hạn chế đáng kể: thường xuyên chịu tác động của sóng gió mạnh, dễ bị xói lở và khó bảo vệ hệ thống ao nuôi; xung đột với rừng ngập mặn, dẫn đến áp lực sinh thái và khó khăn trong công tác chuyển đổi mục đích sử dụng đất; nền đáy ao giàu chất hữu cơ dễ phân hủy gây ô nhiễm, và dễ bị rò rỉ nước do kết cấu đất yếu, làm giảm hiệu quả quản lý chất lượng môi trường nước. Vùng trên triều tuy không có điều kiện tự nhiên thuận lợi để cấp nước trực tiếp theo thủy triều và cần đầu tư hệ thống bơm cấp – thoát nước chủ động, nhưng lại khắc phục

được hầu hết những nhược điểm kể trên. Cụ thể, vùng này ít chịu ảnh hưởng của sóng gió, xa ranh giới rừng ngập mặn nên ít xung đột về không gian sử dụng đất; nền đất thường ổn

định hơn, thuận lợi cho việc xây dựng ao nuôi

có khả năng kiểm soát tốt các yếu tố kỹ thuật như mực nước, độ mặn, pH, chất lượng nước

và xử lý chất thải.

Việc xây dựng ao nuôi tôm dạng ao nổi tại

khu vực trên triều mang lại nhiều lợi ích rõ rệt

về mặt kỹ thuật và quản lý môi trường ao nuôi:

- Thứ nhất, khu vực trên triều ít chịu tác động của thủy triều và thường có nền đất ổn

định, giúp hạn chế sự xâm nhập của các loài

cá hoặc sinh vật đáy có tập tính đào hang như cá rễ cau, cá thòi lòi, cua, còng... Những sinh vật này nếu xuất hiện trong ao sẽ tạo lỗ thông ra ngoài, gây hiện tượng rò rỉ nước. Tình trạng mất nước không kiểm soát được sẽ dẫn đến khó khăn trong việc điều tiết độ sâu của ao, làm biến động các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, độ mặn cũng như lây lan mầm bệnh, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe và tốc độ sinh trưởng của tôm nuôi.

- Thứ hai, ao nổi được thiết kế có bờ cao hơn mặt đất, khi chứa nước sẽ tạo áp lực nén xuống đáy và thành bờ ao. Áp lực này góp phần giảm thất thoát nước qua đáy ao, đặc biệt nếu ao được lót bạt chống thấm hoặc được đầm nén kỹ. Nhờ đó, khả năng giữ nước của ao được nâng cao, giúp ổn định các yếu tố môi trường trong suốt chu kỳ nuôi. - Thứ ba, ao nổi ở vùng trên triều không bị phụ thuộc vào thủy triều trong việc cấp và thoát nước, do đó người nuôi có thể chủ động vận hành hệ thống cấp – xả, nâng cao khả năng kiểm soát môi trường nước và phòng ngừa dịch bệnh. Ngoài ra, vị trí cách ly với

môi trường nước tự nhiên còn giúp giảm thiểu nguy cơ lây lan mầm bệnh và sinh vật ngoại lai vào ao nuôi.

Mô hình ao nổi tại vùng trên triều là một giải pháp kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với xu hướng phát triển nuôi tôm theo hình thức siêu thâm canh và nuôi công nghiệp sử dụng công nghệ cao. Mô hình này giúp tối ưu hóa việc sử dụng không gian và nguồn nước, từ đó tăng hiệu quả sản xuất, giảm thiểu tối đa tác động xấu từ môi trường, hạn chế dịch bệnh, và nâng cao năng suất nuôi tôm. Bằng cách tận dụng vùng trên triều, mô hình ao nổi còn giúp giảm thiểu áp lực lên các vùng ven biển, đồng thời tạo ra môi trường sống lý tưởng cho tôm phát triển.

Quy hoạch vùng nuôi tôm hiện đại được thiết kế theo hướng bài bản, tích hợp, và phân chia thành ba khối chức năng chính: Khối cấp nước: Đây là khu vực chịu trách nhiệm cung cấp nước đầu vào cho toàn bộ hệ thống nuôi. Nguồn nước được lấy từ sông, kênh rạch hoặc biển, sau đó được dẫn qua hệ thống xử lý sơ bộ nhằm loại bỏ tạp chất, mầm bệnh và các yếu tố gây độc, đảm bảo chất lượng nước đầu vào đạt tiêu chuẩn sinh học. Việc quy hoạch khối cấp nước cần bảo đảm khả năng cung cấp ổn định, chất lượng lâu dài và khả năng chống chịu trước các tác động của biến đổi khí hậu hoặc ô nhiễm nguồn nước. Khối ao nuôi và hệ thống mương cấp –thoát nước: Đây là khu vực cốt lõi, nơi diễn ra hoạt động nuôi tôm thương phẩm. Hệ thống ao được thiết kế đi kèm với mương cấp và mương thoát riêng biệt, đảm bảo dòng chảy một chiều, tránh hiện tượng nước cấp và nước thải trộn lẫn. Việc quy hoạch hợp lý hệ thống thủy lực không chỉ giúp duy trì chất lượng môi trường nước ổn định (nhiệt độ, độ mặn, ôxy hòa tan...) mà còn hỗ trợ kiểm soát dịch bệnh và giảm thiểu rủi ro sinh thái. Mô hình ao nổi hoặc ao lót bạt công nghệ cao có

thể được áp dụng nhằm tiết kiệm diện tích, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giảm chi phí vận hành.

Khối xử lý nước thải: Nước thải sau quá trình nuôi sẽ được dẫn về khu xử lý tập trung, nơi áp dụng các công nghệ xử lý sinh học, hóa lý hoặc tuần hoàn sinh thái nhằm loại bỏ chất hữu cơ, chất độc và vi sinh vật gây hại. Hệ thống này đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu tác

Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể và tạo mặt bằng kỹ thuật cho phát triển vùng nuôi tập trung. Chính quyền địa phương cần chủ động huy động các nguồn lực từ khu vực tư nhân thông qua cơ chế đối tác công – tư (PPP), đồng thời thúc đẩy xã hội hóa trong công tác quản lý vùng nuôi. Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp không chỉ góp phần bổ sung nguồn lực tài chính mà còn nâng cao tính hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm trong khai thác, bảo vệ tài nguyên –môi trường và phát triển chuỗi giá trị nuôi tôm bền vững.

Ghi chú

Anh Vũ

(1) Vùng triều là vùng nằm giữa mực nước biển cao nhất và mức xuống thấp nhất của con nước thủy triều cao nhất; phía trên tiếp giáp vùng trên triều, phía dưới với vùng dưới triều.

(2) Vùng cao triều: Là vùng nằm giữa mức nước của con nước triều cao nhất của triều cường (Tc) và mức cao nhất của con nước triều thấp nhất của triều thấp (Tt) ). Vùng cao triều là nơi có thời gian phơi bãi nhiều nhất của vùng triều.

(3) Vùng trên triều: Là vùng nằm phía trên của mức nước thủy triều lên cao nhất của con nước cường trong năm. Vùng này không bị sự tác động của nước thủy triều và thường nằm trong những con đê biển.

Ngày 11/3/2021, phê duyệt chiến lược phát triển Thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

môi trường tự nhiên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái sử dụng nước trong chu kỳ nuôi tiếp theo – đặc biệt quan trọng trong các mô hình nuôi ít thay nước. Bên cạnh ba khối chính, quy hoạch vùng nuôi tôm còn cần tích hợp các khu chức năng hỗ trợ như khu nghiên cứu – đào tạo kỹ thuật, trạm quan trắc – giám sát chất lượng môi trường, khu kho – hậu cần, và các công trình phục vụ quản lý điều hành. Sự đồng bộ và tính liên kết giữa các khu chức năng là yếu tố quyết định hiệu quả vận hành và khả năng mở rộng quy mô sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Cá hô

Thành tựu đột phá trong bảo tồn và tầm nhìn phát triển tại Đồng Bằng

Sông Cửu Long

Cá Hô (Catlocarpio siamensis), một trong những

loài cá nước ngọt có kích thước lớn nhất thế giới,

Với giá trị kinh tế cao và chất lượng thịt thơm ngon, cá Hô luôn là đối tượng được săn đón. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác quá mức cùng những biến đổi môi trường đã khiến nguồn lợi tự nhiên của loài này suy giảm nghiêm trọng. Các nỗ lực sản xuất giống nhân tạo trước đây, dù có những kết quả ban đầu, vẫn còn nhiều hạn chế về tính ổn định và hiệu quả, đặc biệt ở các chỉ tiêu như tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ sống của cá con. Trước thực trạng đó, dự án cấp quốc gia “Hoàn thiện quy trình ương giống và xây dựng mô hình nuôi thương phẩm nguồn gen cá Hô Catlocarpio siamensis)”, mã số NVQG-2020/ DA.06, do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II chủ trì, đã được triển khai nhằm giải quyết các nút thắt kỹ thuật, hướng tới mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững nguồn gen cá quý hiếm này. Bài viết này tổng hợp những thành tựu nổi bật và phân tích định hướng tương lai cho cá Hô dựa trên kết quả của dự án. Một trong những thành công mang tính chiến lược của dự án là việc bổ sung và làm mới nguồn gen cá Hô. Nhận thấy đàn cá bố mẹ hiện có đã lớn tuổi, dự án đã chủ động thu thập các đàn cá mới từ hai tỉnh Đồng Tháp và

An Giang: Đã thu thập thành công 150 con cá Hô hậu bị mới, khối lượng trung bình 3,53,6 kg/con, thu thập 70 con cá Hô bố mẹ hậu bị mới, khối lượng trung bình từ 12 - 20 kg/ con, tỷ lệ sống khi vận chuyển của cả hai đàn cá đều đạt 100%, một thành công lớn trong công tác thuần dưỡng ban đầu.

Sau quá trình nuôi tăng trưởng, đàn cá hậu bị đã đạt khối lượng trung bình 6,9±0,6 kg/con với tỷ lệ sống 72,7%. Đàn cá bố mẹ hậu bị đạt khối lượng trung bình 18,4±3,2 kg/con với tỷ lệ sống 74,3%. Việc làm giàu nguồn gen này có ý nghĩa sống còn, giúp đa dạng hóa di truyền và

đảm bảo một thế hệ bố mẹ trẻ, khỏe mạnh cho công tác sản xuất giống lâu dài.

Dự án đã tạo ra bước nhảy vọt

về hiệu quả trong quy trình sản xuất giống, với các chỉ số kỹ thuật đạt mức ổn định

và vượt trội so với trước đây: Nuôi vỗ thành công: Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục đạt trên 95%.

Hiệu suất sinh sản cao: Tỷ lệ cá tham gia sinh sản đạt 100%, tỷ lệ thụ tinh trung bình 86,2% và tỷ lệ nở lên đến 97%.

Hoàn thiện quy trình ương: Tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống (cỡ 6 - 8 cm/con) đạt trên 70%. Tỷ lệ cá dị hình được kiểm soát ở mức cực kỳ thấp (0,077%).

Với những thành công này, dự án đã sản xuất và thử nghiệm thành công trên 549.000 con cá giống, vượt mục tiêu sản xuất 500.000 con.

Dự án đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao của việc nuôi thương phẩm cá Hô: Năng suất và sản lượng vượt trội: Mô hình nuôi thương phẩm đạt năng suất 1.615 kg/1.000 m2 (tương đương 16,15 tấn/ha).

Tổng sản lượng mô hình đạt 16,1 tấn cá thịt.

Tối ưu hóa sản xuất sau 30 tháng nuôi, cá đạt khối lượng trung bình 3,6±0,8 kg/con, với tỷ lệ sống cao, đạt 75,2%. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) được tối ưu hóa ở mức 2,9. Khẳng

định chất lượng sản phẩm: Phân tích hóa sinh cho thấy thịt cá Hô có hàm lượng protein cao (18±1,4%), lipid thấp (2,2±0,9%), cùng với 17 loại amino acid và 28 loại acid béo có lợi cho sức khỏe. Hiệu quả kinh tế hấp dẫn: Mô hình nuôi thương phẩm có tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí đạt từ 18,8% đến 21,03% mỗi vụ.

Thành công của dự án đã mở ra một chương mới cho loài cá Hô tại Việt Nam. Thương mại hóa và xã hội hóa các quy trình công nghệ đã được chuẩn hóa và sẵn sàng để chuyển giao, nhân rộng ra sản xuất. Bảo tồn thông qua phát triển: Việc phát triển mạnh mẽ nghề nuôi cá Hô sẽ làm giảm áp lực khai thác lên các quần thể hoang dã. Dự án đã mạnh dạn đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét đưa cá Hô ra khỏi danh sách đỏ. Tầm nhìn khu vực thành công tại Việt Nam có thể trở thành mô hình tham khảo cho các quốc gia khác trong lưu vực sông Mekong.

trình ương giống và xây dựng mô hình nuôi thương phẩm nguồn gen cá Hô (Catlocarpio siamensis)” do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II chủ trì đã đạt được những thành tựu mang tính đột phá, hoàn thiện chuỗi công nghệ từ sản xuất giống đến nuôi thương phẩm. Dự án không chỉ thành công trong việc làm giàu nguồn gen, làm chủ công nghệ sinh sản nhân tạo với hiệu suất vượt trội mà còn xây dựng được mô hình nuôi thương phẩm hiệu quả kinh tế cao. Những kết quả này mở ra một tương lai đầy hứa hẹn cho việc bảo tồn, phát triển bền vững và thương mại hóa loài cá “vua” của lưu vực sông Mekong.

Dự án “Hoàn thiện quy trình ương giống và xây dựng mô hình nuôi thương phẩm nguồn gen cá Hô” đã thành công một cách toàn diện. Những kết quả mang tính đột phá này không chỉ giải quyết được các thách thức kỹ thuật mà còn tạo ra một hướng đi bền vững, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển kinh tế, mở ra tương lai tươi sáng cho “vua cá nước ngọt”.

Nguyễn Thanh Tùng

Tài liệu tham khảo

Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề tài cấp nhà nước “Hoàn thiện quy trình ương giống và xây dựng mô hình nuôi thương phẩm nguồn gen cá Hô (Catlocarpio siamensis)”, Mã số: NVQG-2020/DA.06, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, 2024.

Từ khơi xa đến bến bờ

Hành trình làm nghề cá có trách nhiệm

Sau nhiều năm phát triển tự phát, nghề cá Việt Nam đang đứng

trước bước ngoặt sống còn: Chuyển đổi sang khai thác có trách nhiệm để bảo vệ nguồn lợi biển và giữ thị trường xuất khẩu.

Ngư dân trong “ngã rẽ sinh tử” của nghề biển

Gần 8 năm kể từ khi Ủy ban châu Âu (EC)

cảnh báo “thẻ vàng” đối với thủy sản khai

thác của Việt Nam (23/10/2017), toàn ngành

thủy sản bước vào một cuộc chuyển mình chưa từng có. Từ khơi xa cho đến bến bờ, câu

chuyện về nghề cá có trách nhiệm không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành nhu cầu sống còn – cả với ngành xuất khẩu thủy sản và với chính những ngư dân.

Tại cảng cá Sông Đốc (Cà Mau) – một trong những ngư trường lớn nhất cả nước với khoảng 22.000 ngư dân thường xuyên hoạt động, bà Hồ Cẩm Nương, chủ đội tàu gồm 12 chiếc, cho biết tất cả các tàu khai thác và thu mua của gia đình bà đều đã được lắp thiết bị giám sát hành trình VMS. Nhật ký khai thác

được cập nhật đầy đủ, mọi thủ tục xuất, nhập cảng đều được hoàn thiện. “Chỉ khi có đầy

đủ giấy tờ, nguồn thủy sản mới được doanh nghiệp thu mua và chấp nhận truy xuất”, bà Nương khẳng định.

Tương tự, ông Nguyễn Văn Tèo – một

thuyền trưởng ở Rạch Giá (Kiên Giang) – chia sẻ rằng, sau nhiều bài học “đau đớn” từ việc tàu cá bị bắt giữ ở vùng biển nước ngoài, phần lớn ngư dân trong vùng đều ý thức rất rõ về việc chỉ khai thác trong lãnh hải Việt Nam. Những người làm nghề cá không ai muốn mất cả tàu, mất cả sinh kế.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều khó khăn. Ông Trần Văn Lâu (xã Lình Huỳnh, huyện Hòn Đất, Kiên Giang) kể: “Có lần thiết bị VMS trên tàu tôi mất sóng quá 10 ngày, bị phạt hành chính và buộc quay về bờ dù đang mùa đánh bắt chính. Ngốn thêm nhiều chi phí nhiên liệu và nhân công, nhưng phải chấp hành thôi”. Những “lỗ hổng” từ quản lý đến thực thi Ông Trần Đình Luân – Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhìn nhận, Việt Nam có tới hơn 82.000 tàu cá đã được cập nhật trên hệ thống VNFishbase, nhưng vẫn còn hơn 17.000 tàu chưa đăng ký, đăng kiểm hay cấp phép khai thác. Đây là lỗ hổng khiến việc kiểm tra, kiểm soát tàu hoạt động trên biển

trở nên cực kỳ khó khăn.

Nhiều địa phương chưa thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Trung ương, xử phạt tàu vi phạm chưa đủ sức răn đe, thậm chí buông lỏng quản lý. Tình trạng “tàu ma”, tàu khai thác sai vùng, không cập cảng đúng quy định

vẫn tiếp diễn, làm chậm quá trình cải thiện hình ảnh nghề cá trong mắt quốc tế. Đáng lo ngại hơn, từ đầu năm 2025 đến nay, vẫn có ít nhất 11 tàu cá Việt Nam với 72 ngư dân bị bắt giữ vì vi phạm vùng biển nước ngoài. Vụ va chạm nghiêm trọng giữa tàu KG95441-TS (Kiên Giang) với lực lượng thực thi Thái Lan ngày 24/2 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín Việt Nam. Đây cũng là lý do khiến EC quyết định lùi đợt thanh tra lần thứ 5 tại Việt Nam (dự kiến diễn ra từ tháng 3/2025).

Nhiều địa phương hiện vẫn triển khai các quy định về IUU (khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định) một cách hình thức. Cán bộ cơ sở chưa được đào tạo bài bản, việc kiểm tra – xử lý còn lỏng lẻo. Trong khi đó, EC giữ lập trường cứng rắn, yêu cầu Việt Nam phải kiểm soát hoàn toàn tình trạng tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài thì mới xem xét tháo gỡ “thẻ vàng”.

Nghề cá có trách nhiệm: Bắt đầu từ cộng đồng Giữa những khó khăn đó, không ít mô hình chuyển đổi đã cho thấy tín hiệu tích cực. Tại xã Tam Giang (huyện Núi Thành, Quảng Nam) nay là Đà Nẵng, mô hình “đồng quản lý nghề cá ven bờ” giúp hơn 200 hộ ngư dân thay đổi cách tiếp cận với biển. Không còn đánh bắt tự phát, người dân được tập huấn bảo vệ nguồn lợi, phân vùng khai thác, cùng nhau giám sát và tái tạo môi trường sống cho thủy sản.

Mô hình này hiện đang được nhân rộng tại nhiều tỉnh như Khánh Hòa, Kiên Giang… với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như WWF (Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên), IUCN (Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế). Khi cộng đồng ngư dân được trao quyền, họ có trách nhiệm hơn với vùng biển quê mình - một cách quản lý linh hoạt, sát thực tế hơn nhiều so với những mệnh lệnh hành chính đơn thuần.

Việt Nam hiện có khoảng 91.000 tàu cá, trong đó gần 70% là tàu công suất nhỏ hoạt động ven bờ. Đây là nhóm có nguy cơ khai thác tận diệt cao nhất do đánh bắt không kiểm soát, thiếu trang thiết bị, chịu nhiều áp lực mưu sinh. Rất nhiều vùng biển ven bờ đã cạn kiệt nguồn lợi, gây xung đột giữa ngư dân và chính quyền trong bảo vệ nguồn tài nguyên biển. PGS.TS Nguyễn Chu Hồi – Phó Chủ tịch thường trực Hội Thủy sản Việt Nam cảnh báo: “Nếu không chuyển đổi, 10 năm nữa sẽ không

còn cá để đánh”. Theo ông, bên cạnh kiểm soát khai thác, cần đẩy mạnh phát triển nuôi biển công nghiệp như một hướng đi bền vững. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Đề án phát triển nuôi biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Tuy nhiên, con đường này không dễ đi. Vốn đầu tư lớn, yêu cầu kỹ thuật cao, hạ tầng vùng nuôi còn yếu – tất cả đang là rào cản với phần lớn ngư dân. Định hướng xanh cho nghề biển Cục trưởng Trần Đình Luân khẳng định: “Để duy trì sự minh bạch trong khai thác và tạo sinh kế bền vững cho ngư dân, cần chiến lược toàn diện từ chính sách đến thực thi. Không chỉ vì mục tiêu gỡ thẻ vàng, mà vì tương lai của nghề cá nước ta”.

Trong chiến lược phát triển ngành thủy sản, Cục Thủy sản – Kiểm ngư đang hướng tới quy hoạch lại đội tàu, giảm cường lực khai thác ở cả ba vùng biển Bắc – Trung – Nam. Đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ sinh kế thay thế cho ngư dân không còn phù hợp với nghề truyền thống: phát triển du lịch sinh thái biển, làng nghề cá, nuôi biển công nghệ cao…

Các ứng dụng công nghệ như VMS, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc điện tử cũng được khuyến khích triển khai rộng khắp, tạo ra sự minh bạch và dễ dàng kiểm soát hơn trong hoạt động nghề cá.

Thực tế cho thấy, chính ngư dân đang là người chịu thiệt hại nặng nề nhất nếu nguồn lợi biển suy kiệt. Nhưng họ cũng chính là người quyết định sự hồi sinh của đại dương –nếu sẵn sàng thay đổi. Cuộc chuyển đổi sang nghề cá có trách nhiệm không thể diễn ra trong ngày một ngày hai mà là một hành trình dài, cần sự vào cuộc đồng bộ từ nhà nước đến doanh nghiệp, từ chính sách đến cơ sở, từ mỗi con tàu đến mỗi người dân bám biển. Và như mọi hành trình lớn lao khác, nó bắt đầu từ những bước đi nhỏ: lắp thiết bị giám sát, ghi nhật ký khai thác, tuân thủ luật pháp, và quan trọng nhất – thay đổi tư duy “đánh bắt bằng mọi giá” sang sống hài hòa với biển, với thiên nhiên.

Thùy Khánh

Nuôi trồng thủy sản an toàn

trong mùa mưa bão

Khí hậu ngày càng khắc

nghiệt, thiên tai, bão lũ

đang có chiều hướng

tăng cả về số lượng và

cường độ. Chủ động

thích ứng với các hiện

tượng thời tiết cực đoan

chính là yếu tố quan

trọng để người nuôi

trồng thủy sản “đứng

vững” trước bão lớn.

Thiên tai khắc nghiệt

Việt Nam nằm trong vùng khí

hậu nhiệt đới gió mùa, thường

xuyên chịu ảnh hưởng của bão

và áp thấp nhiệt đới. Đặc biệt,

các trận dông lốc đi kèm bão

thường xuất hiện bất ngờ với

gió giật cấp 8 - 10, gây thiệt hại

lớn. Sự xuất hiện bất thường của

dông, lốc, cuồng phong trong

mùa mưa bão có nguyên nhân

sâu xa từ biến đổi khí hậu toàn

cầu. Nhiệt độ trung bình tăng

cao làm biến đổi trạng thái và

lưu chuyển của khí quyển, thúc

đẩy hình thành các cơn dông mạnh, cuồng phong với cường

độ lớn hơn trước. Các chuyên

gia khí tượng nhấn mạnh, hiện

tượng ENSO (El Nino - La Nina)

đang trong trạng thái trung tính

nên dự báo năm nay thời tiết sẽ

khó lường, không quá cực đoan

như các năm trước nhưng vẫn có

nhiều đợt dông lốc, mưa đá cục

bộ nguy hiểm

Theo Trung tâm Dự báo Khí

tượng Thủy văn Quốc gia, mùa

bão năm nay bắt đầu từ tháng 6

và kéo dài đến tháng 11, với các đợt mưa lớn tập trung ở miền Bắc từ tháng 6, chuyển dần xuống miền Trung vào cuối năm. Đặc

biệt, trong giai đoạn chuyển giao từ trạng thái ENSO trung tính, các cơn bão có thể xuất hiện rải rác với quỹ đạo khó dự đoán, gây nguy cơ cao về lũ lụt và sạt lở đất tại các vùng núi và đồng bằng ven biển. Dự kiến sẽ có 11 - 13 cơn bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, trong đó 4 - 6 cơn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền, tập trung ở miền Trung và Nam Bộ.

Đằng sau những cơn bão, thiệt hại mà những người nuôi

trồng thủy sản phải gánh chịu vô

cùng lớn, không thể lường trước.

Không chỉ phá hủy hạ tầng, mưa bão còn làm thay đổi đáng kể

chất lượng nước tại các vùng

nuôi trồng, gây ra những tác

động tiêu cực lâu dài.

Theo Trung tâm Quan trắc môi

trường và Bệnh thủy sản miền

Bắc, bão lũ tác động trực tiếp đến các hoạt động nuôi trồng thủy sản, gây thiệt hại lớn cho người

nuôi. Nhữ ng cơn mưa lớn, kéo dài làm thay đổi môi trường nuôi theo chiều hướng xấu. Nhữ ng sự thay đổi này làm động vật thủy sản giảm sức đề kháng và mẫn cảm hơn với các tác nhân gây bệnh có sẵn trong nước như k ý sinh trùng, vi khuẩn, virus,... từ đó dễ dẫn đến dịch bệnh và giảm hiệu quả nuôi thủy sản. Ngoài ra, mưa lũ còn phá hủy các công trình nuôi trồng như bờ ao, lồng bè, đăng chắn,... từ đó làm thất thoát vật nuôi ra ngoài môi trường, gây thiệt hại cho người nuôi.

Sẵn sàng ứng phó

Trước diễn biến bất thường của thời tiết, nhằm bảo vệ sản xuất trong mùa mưa lũ, người nuôi cũng đã có được sự chuẩn bị kỹ từ sớm, từ xa. Điển hình như tại Ninh Bình, nhờ sự

Ông Trần Văn Sỹ, thôn Duyên Hà, xã Nam Lý đã có gần 15 năm kinh nghiệm nuôi cá lồng trên sông. Ông cho biết, lo ngại nhất của các hộ nuôi cá lồng là hoàn lưu mưa sau bão, vì mưa to, nước lũ thượng nguồn mang lượng lớn phù sa đổ về làm thay đổi áp lực dòng chảy và môi trường nước, làm ảnh hưởng lớn đến các lồng cá trên sông. Mưa lớn sau cơn bão số 3 (Yagi) xảy ra vào tháng 9/2024 khiến lũ trên sông Hồng qua địa phận Hà Nam (cũ) dâng rất cao, vượt mức báo động 3, gia đình ông Sỹ đã bị mất hơn 10 tấn cá do nước lũ chảy xiết làm rách lưới, cá tràn ra ngoài và nhiều lồng cá bị chết do suy yếu vì nước lũ, thiệt hại gần 1 tỷ đồng.

Rút kinh nghiệm, năm nay, trước khi bước vào mùa mưa bão, ông Sỹ đã chú trọng kiểm tra, gia cố lại hệ thống lồng nuôi, đầu tư thêm thùng phao nổi, thay mới hệ thống lưới cũ, rách của các lồng cá. Được dự báo cơn bão số 3 sẽ đổ bộ vào đất liền, trong đó khu vực tỉnh Ninh Bình là trọng tâm, có mưa to đến rất to, ông Sỹ đã chủ động giăng lưới che kín các lồng cá, bổ sung thêm thuốc bổ, dinh dưỡng để tăng sức đề kháng cho đàn cá trước khi bão về. Đồng thời, đối với những lồng cá đã đạt trọng lượng để xuất bán, ông cũng khẩn trương tiến hành thu hoạch để giảm thiểu tổn thất nếu mưa lũ xảy ra. Còn tại vùng nuôi thủy sản xã Quảng Chính, tỉnh Thanh Hóa có hơn 50 hộ dân phát triển nuôi trồng khoảng 176 ha. Mặc dù là vùng quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản song việc đầu

tư hạ tầng, các vùng nuôi trồng chưa đồng bộ. Đặc biệt là khu vực chuyển đổi ruộng thấp trũng, vùng ven sông vào mùa mưa bão vẫn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, mất an toàn. Do đó, Hợp tác xã dịch vụ và nuôi trồng thủy sản Quảng Chính đã tham mưu cho UBND

xã hướng dẫn, hỗ trợ các hộ nuôi cần quan tâm thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn ao, đầm và nhà màng, nhà lưới nuôi thủy sản. Sẵn sàng nguồn vật tư sản

xuất, thuốc phòng chống dịch bệnh trên đối tượng nuôi trồng trong mùa mưa bão.

Hay như ông Nguyễn Cường, chủ trại tôm trên địa bàn xã An Châu, tỉnh Nghệ An cho biết: “Theo dõi thông tin bão trên báo cho thấy, cơn bão số 3 với cường độ gió giật mạnh, có thể cấp 11 - 12. Tuy nhiên, đối với Nghệ An sẽ nhẹ hơn, nhưng gia đình vẫn

không chủ quan. Trước khi bão vào, gia đình tăng cường dây neo giữ khung nhà lưới. Đối với lưới che, theo thiết kế sẽ chịu được

gió cấp 8, do đó gia đình luôn túc trực theo dõi, bố trí nhân lực, nếu

gió giật mạnh, sẽ kịp thời tháo dây để kéo lưới xuống, nhằm

đảm bảo an toàn”.

Ngoài ra, nhiều địa phương

cũng đã chủ động nâng cấp hạ

tầng từ đầu mùa mưa. Hạ tầng

không chỉ là bờ bao hay cống rãnh, mà còn là tổng hòa của ao đìa, hệ thống điện, trạm bơm, nhà che thiết bị, hệ thống xử lý

nước, kênh mương cấp thoát,... tất cả phải được quy hoạch đồng bộ, khoa học.

Chủ động thích ứng

Một mùa mưa bão nữa lại về, cũng như nhiều ngành sản xuất nông nghiệp khác, thủy sản là lĩnh vực rất dễ bị “tổn thương”. Vì vậy, toàn ngành thủy sản đang tập trung kế hoạch ứng phó mưa, bão.

Kinh nghiệm từ các cơn bão lớn cho thấy, việc ứng phó cần mang tính chiến lược và dài hạn. Do đó, các hộ nuôi nên chủ

động tham gia vào các hợp tác xã để tăng cường khả năng phối hợp và tiếp cận nguồn lực. Cần

nghiên cứu và từng bước chuyển

đổi sang các mô hình nuôi có khả năng chống chịu cao hơn như hệ thống lồng bè hiện đại, hệ thống

nuôi bằng vật liệu HDPE, chịu

được sóng gió, giảm thiểu thiệt

hại do thiên tai và cải thiện hiệu

quả nuôi trồng.

Đối với nuôi trồng thủy sản vùng nội đồng, thiệt hại do bão

chủ yếu đến từ mưa lớn gây ngập

úng, dòng nước sông, suối chảy

mạnh khiến lồng, bè bị cuốn trôi.

Vì vậy, người nuôi cần đặc biệt

chú trọng đến việc chằng giữ, gia cố lồng bè, giảm mật độ nuôi thủy sản. Với những ao nuôi nội đồng cần hạ thấp mực nước để tránh mưa lớn nước tràn; khơi thông các dòng chảy, bảo đảm tốc độ tiêu úng nhanh chóng.

Ngoài ra, cần chuẩn bị thuốc bổ để tăng cường sức khỏe thủy sản, vôi bột, thuốc kháng sinh, các chế phẩm sinh học giúp làm sạch môi trường, ổn định pH trong ao nuôi,… Bên cạnh đó, tại thời điểm xảy ra bão Yagi vào năm trước, có rất nhiều thủy sản đã đạt đến kích cỡ thương phẩm, thậm chí quá kích cỡ, tuy nhiên vẫn chưa được bán. Nguyên nhân là do thời điểm trước bão giá chưa tốt như kỳ vọng, người nuôi muốn giữ lại để dành tới vụ thu hoạch trước Tết Nguyên đán. Do vậy, thiệt hại càng nặng nề. Vì thế, với phương châm “xanh nhà hơn già đồng”, ngành chức năng khuyến cáo người nuôi nên thu hoạch những thủy sản đã đạt kích cỡ thương phẩm nhằm hạn chế thất thoát, thiệt hại do bão lũ gây ra. Quan trọng nhất, việc xây dựng một quỹ tài chính dự phòng là yêu cầu cần thiết để đảm bảo khả năng phục hồi sản xuất sau thiên tai. Quỹ này sẽ giúp các doanh nghiệp và người nuôi có thể nhanh chóng khắc phục thiệt hại, duy trì hoạt động kinh doanh và ổn định đời sống. Nguyễn

Mỹ

Thị trường thủy sản

đối mặt vòng xoáy suy

thoái

Thị trường thủy sản Mỹ đối mặt sóng gió mới khi Tổng thống Donald Trump đe dọa áp thuế trở lại, kéo theo nguy cơ sức mua suy yếu và giá giảm sâu cùng mối lo ngại về niềm tin thị trường và triển vọng kinh tế ảm đạm.

Cơn địa chấn thuế quan

Chỉ cách đây không lâu, nhiều người còn tin rằng, ngành thủy sản đã vượt qua cơn địa chấn thuế quan mà Tổng thống Trump tạo ra. Nhưng thực tế xoay chuyển chóng mặt khi ông đe dọa áp thuế lên rô phi Brazil, cá tra, cá ngừ, tôm Việt Nam và cả thủy sản Canada. Kịch bản “thoát hiểm thuế” giờ phải viết lại từ đầu. Điều đáng ngại nhất không chỉ là các mặt hàng bị nhắm tới, mà là cách ra quyết định đầy bất định: không mục tiêu rõ ràng, chủ yếu nhằm củng cố quyền lực chính trị. Khi chính sách thương mại chỉ phục vụ lợi ích cá nhân thay vì dựa trên phân tích thiệt hơn, quan hệ quốc tế trở nên mong manh, còn ngành thủy sản Mỹ rơi vào vòng xoáy bất ổn kéo dài, dễ tổn thương trước bất kỳ cơn khủng hoảng mới nào.

Với 25% GDP toàn cầu, Mỹ sở hữu sức mua khổng lồ. Cùng đó, đồng USD đang suy yếu, đầu tư nước ngoài giảm, hạ tầng công nghiệp lạc hậu. Một cuộc suy thoái toàn diện chưa xảy ra, nhưng sự xói mòn đang diễn ra âm ỉ và thủy sản không nằm ngoài vòng ảnh hưởng.

Tuy nhiên, thủy sản chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cán cân thương mại Mỹ (11% thị phần toàn cầu so với 25% GDP), giúp ngành tránh được sự đứt gãy quy mô lớn như thép hay ô tô. Phần lớn giao dịch vẫn diễn ra ngoài nước Mỹ, với EU, Trung Quốc, Nhật Bản và Na Uy chiếm gần 50% thị trường. Ngoài ra, Mỹ tăng nhập từ các nguồn “an toàn” như Canada (27%, tăng 22% giá trị), Chile (14%) và Na Uy (8%, tăng 45%). Chuỗi cung ứng phục hồi tốt nhưng vẫn dễ tổn thương nếu mối quan hệ MỹCanada xấu đi, đặc quyền thuế quan có thể biến mất.

Tháng 4 và tháng 5, dù đối mặt đe dọa thuế, tổng nhập khẩu

thủy sản Mỹ vẫn tăng 3,6% so với trung bình lịch sử, cho thấy

chuỗi cung ứng hoạt động hiệu

quả. Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu giảm 5,1%, phản ánh nhu cầu tiêu

dùng đang suy yếu. Giá cá hồi Đại

Tây Dương giảm 18,4%, cá ngừ

đông lạnh giảm 17%, tôm hùm sống giảm 13% là những biểu

hiện rõ rệt của hiện tượng cầu

yếu. Ngược lại, các loại cá khan

hiếm như tuyết cod hay haddock vẫn tăng giá theo đúng quy luật

thị trường: thiếu hàng, giá sẽ lên.

Nguồn cung thay đổi

Chuỗi cung ứng Mỹ đã linh

hoạt xoay sở để tránh bị “bóp

nghẹt” bởi các lệnh thuế nhắm

vào Trung Quốc. Trong số 20 sản

phẩm thủy sản chủ lực, 10 mặt hàng ghi nhận thay đổi nhà cung

cấp trên 15% trong tháng 4 và tháng 5 so với các năm trước.

Ở các danh mục vốn lệ thuộc nặng vào Trung Quốc, đa số đã

kịp đa dạng hóa: thị phần Trung

Quốc trong nhập khẩu cá minh

thái Alaska giảm từ 93% xuống 79%, phần còn lại được Canada và Indonesia bù đắp. Cá rô phi

đông lạnh từ Trung Quốc giảm

từ 58% xuống 35%, bù bởi Đài

Loan và Việt Nam.

Một số mặt hàng khác vẫn ổn

định. Tôm – mặt hàng nhập khẩu

lớn nhất ghi nhận mức tăng 9%

về sản lượng dù nguồn cung dịch

chuyển nhẹ. Dù giá trị nhập giảm 3,3%, đây vẫn là mức sụt tương

đối nhẹ.

Cá hồi - mặt hàng lớn thứ hai, giữ vững sản lượng nhưng giá trị nhập khẩu giảm 10%. Trong thời gian này, Na Uy giành thêm thị phần

từ Chile, dù cả hai nằm cùng mức thuế. Sản lượng cá hồi tươi nhập

khẩu không đổi nhưng giá trị giảm

sâu 18%, với Anh và Quần đảo

Faroe chiếm thị phần từ Canada nhờ yếu tố chi phí sản xuất và kinh

tế hơn là tác động thuế.

Mặc dù nguồn cung vững, nhu cầu tiêu dùng đang chững lại.

Tôm hùm và cua giữ được độ ổn

định về nguồn cung, nhưng giá

tôm hùm giảm vì nhu cầu yếu.

Canada tránh “xả hàng” tôm

hùm sống vốn không bán được sang Mỹ do cầu kém, thay vào đó

đẩy sang chế biến đông lạnh. Kết

quả, nhập khẩu tôm hùm đông

lạnh tăng 24% trong tháng 4-5, nhưng giá trị giảm 6%. Nguy cơ

áp thuế dồn lại ở các sản phẩm

như cá rô phi, cá ngừ đông lạnh, cá tra và cá minh thái Alaska

từ Trung Quốc - chiếm khoảng

16,7% tổng nhập khẩu Mỹ.

Đe dọa thị trường toàn cầu Mối nguy lớn nhất hiện nay

không nằm ở mức thuế cụ thể, mà là sự điều hành thương mại

đầy bất định từ Tổng thống Trump. Chính quyền tuyên bố áp

thuế 20% với hàng hóa Việt Nam, trong khi phía Việt Nam khẳng định hai bên đã đạt thỏa thuận ở mức 11%. Tuy nhiên, không có bất kỳ văn bản chính thức nào được xác nhận và trong một môi trường thiếu minh bạch như vậy, ngay cả các thỏa thuận đã công bố cũng trở nên vô nghĩa. Dữ liệu tháng 4 và 5 cho thấy, ngành thủy sản đã phản ứng nhanh để giảm thiểu tác động trực tiếp của thuế quan. Nguồn cung từ Trung Quốc được thay thế bằng các thị trường khác. Chuỗi cung ứng trở nên linh hoạt chưa từng có.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là nửa bức tranh. Dù sản lượng giữ vững, giá trị xuất khẩu lại giảm mạnh: cá hồi tươi mất 18,4%, cá ngừ đông lạnh giảm 17%, tôm hùm sống giảm 13%. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy người tiêu dùng đang thắt chặt chi tiêu. Cầu yếu mới là rủi ro dài hạn mà không chuỗi cung ứng nào có thể khắc phục. Các phân khúc cao cấp chịu ảnh hưởng nặng nề: cua tuyết mùa xuân không đạt mức giá kỳ vọng. Nếu cơn hỗn loạn thuế quan gây ra lạm phát hoặc làm giảm tiêu dùng, thủy sản sẽ khó thoát khỏi vòng xoáy suy thoái.

Thách thức thực sự không chỉ là mức thuế 50% mới đánh vào thịt bò xay hay cà phê Brazil. Đó là sự suy giảm lòng tin người tiêu dùng, bất ổn kinh tế và nhu cầu sụt giảm. Khi giá burger và cà phê tăng, người tiêu dùng cũng sẽ cắt giảm chi tiêu cho cả thủy hải sản. Theo Expana, ngành thủy sản không thể chỉ trông cậy vào chuỗi cung ứng linh hoạt mà cần một nền kinh tế ổn định và một chính quyền có trách nhiệm để duy trì nhu cầu bền vững.

Vĩnh Long Sản lượng thủy sản đạt gần 452.000 tấn

Từ đầu năm đến nay, tỉnh Vĩnh Long

ghi nhận tổng sản lượng thủy hải sản

đạt gần 452.000 tấn, tương đương

46,5% kế hoạch năm. Diện tích thả

nuôi đạt hơn 89.800 ha, chiếm 82%

kế hoạch, với 1.421 hộ/cơ sở được cấp

giấy đăng ký nuôi, trong đó có 90 cơ

sở nuôi lồng, bè. Ngành nông nghiệp

tỉnh tiếp tục hỗ trợ nông dân thả nuôi theo lịch thời vụ, phòng chống dịch

bệnh trên tôm sú, tôm thẻ và cải tạo ao hồ. Song song đó, tỉnh đẩy mạnh

triển khai các giải pháp chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU), góp phần gỡ “Thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu. Toàn tỉnh hiện có 4.648 tàu cá

đăng ký, trong đó 2.242 tàu đã lắp thiết bị giám sát hành trình (đạt 99%), bao gồm cả các tàu ngừng hoạt động hoặc đang thi hành án. Vĩnh Long cũng đang tích cực thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển

Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Cần Thơ

 Cá giống bắt đầu tăng giá

Dù nước lũ chưa về và sức mua chưa tăng mạnh, giá nhiều loại cá giống đã tăng đáng kể so với những tháng trước và cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu do vùng ĐBSCL dự báo không có lũ lớn, nông dân tiếp tục canh tác lúa vụ 3 nên giảm nhu cầu nuôi cá trên đồng, chuyển sang nuôi ao, mương, vèo. Hiện giá cá giống sặc rằn (loại 120 – 150 con/kg) dao động 160.000 – 180.000 đồng/kg, tăng mạnh so với mức 120.000 – 150.000 đồng/kg năm trước. Cá trê vàng, rô, chép (100 – 150 con/kg) có giá 100.000 – 140.000 đồng/kg, mức cao nhất trong nhiều năm. Rô phi, mè hoa, mè vinh, trắm cỏ, chạch quế và cá hường (80 – 120 con/kg) có giá 70.000 – 90.000 đồng/kg. Cá vồ đém (lồng 12 – 16) giá 1.500 – 2.000 đồng/con; cá chim trắng 500 – 600 đồng/con; cá chạch lấu (dài > 1 tấc) 5.000 – 6.500 đồng/con; cá lóc (lồng 10 – 12) 800 – 1.000 đồng/con. Dự báo, giá cá giống có thể tiếp tục neo cao nếu nhu cầu tăng vào cuối mùa mưa.

 Giá lươn thịt ổn định, nguồn giống dồi dào, mở ra cơ hội đầu tư

Hiện giá lươn thịt tại Cần Thơ dao động từ 85.000 – 90.000 đồng/ kg, ổn định so với cùng kỳ năm trước. Một số hộ nuôi tại địa phương áp dụng mô hình nuôi lươn không bùn với sản lượng bình quân 1 tấn/bồn/ năm. Với 10 bồn nuôi, tổng sản lượng đạt khoảng 10 tấn lươn thịt/năm. Bên cạnh đó, nguồn lươn giống sản xuất tại chỗ đang dồi dào, giá từ 2.500 – 3.000 đồng/con, đáp ứng tốt nhu cầu tái đàn và mở rộng mô hình tại khu vực ĐBSCL. Trung bình mỗi năm, một cơ sở có thể cung ứng khoảng 500.000 con giống ra thị trường. Đây là tín hiệu tích cực cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ, hợp tác xã và thanh niên nông thôn đang tìm hướng khởi nghiệp trong lĩnh vực thủy sản. Mô hình nuôi lươn không bùn được đánh giá là ít rủi ro, quay vòng vốn nhanh và phù hợp với điều kiện chăn nuôi hộ gia đình.

An Giang Cá giống tăng giá

cục bộ trước mùa nước nổi

Nông dân An Giang đang bước vào giai đoạn chuẩn bị thả nuôi cá trên ruộng mùa nước nổi, kéo theo giá một số loại cá giống tại các xã Giồng Riềng, Ngọc Chúc, Tân Hiệp tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể, cá mè tăng 5.000 – 10.000 đồng/kg, hiện dao động 85.000 –90.000 đồng/kg; cá chép có giá 90.000 – 95.000 đồng/kg. Một số loại cá giống khác vẫn giữ mức giá ổn định: cá rô 100.000 đồng/kg, cá trê

vàng 120.000 đồng/kg, cá lóc con (kích cỡ 8 – 10 mm) từ 700 – 1.000 đồng/con. Đối với các loài đặc sản, như lươn và rắn ri voi giống, giá hiện cũng ổn định do sức mua chững lại. Cụ thể, lươn giống có giá 3.000 – 4.000 đồng/con, rắn ri voi giống (loại 15 ngày tuổi) dao động 30.000 – 50.000 đồng/con. Dự báo, nếu mực nước đầu nguồn tiếp tục dâng cao, giá cá giống có thể nhích lên trong những tuần tới.

Khan hàng, cua gạch loại 1 chạm mốc 700.000 đồng/kg

Giá cua gạch loại 1 tại tỉnh Cà Mau hiện dao động 650.000 – 700.000 đồng/kg, cao gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân là do nguồn cung sụt giảm trong khi nhu cầu từ thị trường Trung Quốc tăng mạnh. Tại xã Cái Nước, thương lái thu mua cua gạch loại 1 tại vuông nuôi với mức giá cao nhất lên tới 700.000 đồng/kg. Cua gạch loại 2 cũng ghi nhận mức tăng đáng kể, dao động từ 350.000 – 500.000 đồng/kg. Hiện nay, phần lớn sản lượng cua gạch trên thị trường là cua còn sót lại từ vụ thu hoạch cuối tháng 5. Trong khi đó, vụ nuôi mới vừa được thả giống và dự kiến cần thêm 3 – 4 tháng nữa mới có thể thu hoạch, khiến nguồn cung càng trở nên khan hiếm. Dự báo trong ngắn hạn, giá cua gạch nhiều khả năng tiếp tục giữ ở mức cao do thị trường vẫn trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa.

Sản lượng và giá muối giảm mạnh, người làm muối gặp khó

Từ đầu vụ muối năm 2025 đến nay, người làm muối tại tỉnh Gia Lai đang đối mặt với nhiều khó khăn do thời tiết thất thường và giá cả bấp bênh. Nắng nóng xen kẽ mưa rào khiến thời gian phơi muối bị rút ngắn, sản lượng giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái. Giá muối tại ruộng hiện chỉ còn khoảng 1.300 đồng/kg đối với muối sản xuất trên nền trải bạt và 1.100 đồng/kg đối với muối sản xuất trên nền đất — giảm từ 800 – 1.100

đồng/kg so với mức trung bình 2.000 – 2.200 đồng/kg năm 2024. Thu nhập của các hộ làm muối ước giảm gần 30% so với năm trước, trong khi vụ muối vẫn chưa kết thúc. Dự báo, nếu thời tiết tiếp tục bất ổn, nguồn thu từ muối năm nay sẽ tiếp tục gặp nhiều trở ngại.

Cà Mau

EU, Anh Nhập tôm đạt kỷ lục trong tháng 5/2025

Theo số liệu mới công bố, tổng lượng tôm nhập khẩu vào khu vực EU và Anh trong tháng 5/2025 đạt 63.869 tấn, ghi nhận mức kỷ lục trong vòng 10 năm và vượt 27,5% so với mức trung bình 5 năm gần nhất. So với tháng 4, mức tăng là 19,1%, còn so với cùng kỳ năm ngoái là 9,7%.

Sức tiêu thụ mùa hè và nhu cầu nghỉ lễ đã góp phần tạo cú hích mạnh mẽ cho thị trường. Ecuador tiếp tục giữ vững vị trí số 1, chiếm 40% tổng lượng nhập, với 25.679 tấn, tăng 41,7% so với cùng kỳ. Ấn Độ và Việt Nam lần lượt đứng thứ hai và ba, đóng góp 14% và 10%. Đáng chú ý, xuất khẩu tôm Việt Nam trong tháng 5 tăng mạnh 27,9%, cho thấy nhu cầu ngày càng lớn đối với sản phẩm tôm chế biến giá trị gia tăng từ Việt Nam. Ngược lại, tôm tự nhiên gặp khó khi nhập khẩu tôm đỏ Argentina giảm 17,5% trong tháng 5, do các tàu đông lạnh phải nằm bờ vì ngư dân đình công kéo dài.

Hàn Quốc Giá

Tính đến giữa tháng 7/2025, thị trường cá minh thái đông lạnh tại

Hàn Quốc ghi nhận sản lượng nhập khẩu giảm 10% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng giá trung bình tăng tới 11%. Cụ thể, từ tháng 1 đến tháng 6, Hàn Quốc nhập 59.054 tấn cá minh thái với tổng giá trị gần như không đổi ở mức 63,59 triệu USD, tương đương 1,08 USD/kg, tăng từ mức 0,97 USD/kg năm 2024. Nga vẫn là nguồn cung cấp chủ lực với gần 97% thị phần, giá trung bình 1,06 USD/kg. Mỹ và Trung Quốc chiếm tỷ lệ nhỏ hơn với giá lần lượt 1,62 và 1,73 USD/kg. Trong nước, giá bán buôn có điều chỉnh nhẹ: cá minh thái cỡ 6 giảm 3,4% còn khoảng 43.000 won (30,96 USD); cỡ 7 ở mức 39.500 won (28,44 USD). Thị trường Hàn Quốc đang cho thấy phản ứng linh hoạt trước nguồn cung thắt chặt và chi phí nhập khẩu tăng cao.

Trung Quốc, Brazil

Giá cá rô phi đối mặt áp lực giảm

Tại Trung Quốc, giá cá rô phi loại 500-800g ở Quảng Đông và Hải Nam vẫn ổn định trong tuần 28, nhưng giới chuyên gia cảnh báo giá có thể giảm do lo ngại từ thị trường Mỹ - nơi đang có nhiều bất ổn liên quan đến chính sách thuế. Mặc dù mức thuế với cá rô phi Trung Quốc đã giảm từ 179% xuống 55%, tình trạng thiếu đơn hàng sau đầu tháng 7 khiến nhiều nhà máy cắt giảm thu mua, gây áp lực lên giá nguyên liệu thô. Các nhà sản xuất Trung Quốc buộc phải tìm đến thị trường thay thế như châu Âu, Trung Đông và châu Phi, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ nội địa. Tại Brazil, giá cá rô phi tháng 6 sụt giảm do nhu cầu nội địa chững lại trong mùa đông - xu hướng thường thấy tại Nam Bán cầu. Giá tại các vùng sản xuất lớn như Tây Paraná, Grandes Lagos và Bắc Paraná đều giảm nhẹ. Ngoài ra, xuất khẩu cá rô phi của Brazil cũng giảm tháng thứ ba liên tiếp, dù tổng lượng xuất khẩu 6 tháng đầu năm vẫn tăng 40% so với cùng kỳ 2024, cho thấy tiềm năng dài hạn từ thị trường quốc tế vẫn

Thế giới

Giá cá ngừ vằn

lao dốc trước áp lực thuế và chi phí

Tại Bangkok (Thái Lan), giá cá ngừ vằn đã rơi xuống dưới mốc 1.500 USD/tấn do lo ngại về chính sách thuế quan từ Mỹ và cạnh tranh ngày càng gay gắt từ Ecuador. Một số hợp đồng được ký ở mức 1.490-1.550 USD/tấn, tuy nhiên các nhà máy đóng hộp vẫn khó chốt giá ổn định ở mức 1.500 USD/tấn. Tại Manta (Ecuador), giá cũng giảm còn 1.6001.650 USD/tấn do sản lượng đánh bắt dồi dào và tàu cá bị chấm dứt trợ cấp nhiên liệu – yếu tố chiếm tới 36% chi phí hoạt động của ngành cá ngừ nước này. Ở Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, dù sản lượng đánh bắt giảm, giá cá ngừ vằn vẫn ổn định lần lượt ở mức 1.300 và 1.350 EUR/tấn. Tuy nhiên, các nhà máy tại Tây Ban Nha đang âm thầm gây sức ép lên giá, kéo mức giao dịch về gần 1.500 EUR/tấn. Dự báo thị trường cá ngừ sẽ còn biến động khi tồn kho cao và các chính sách thương mại chưa rõ ràng.

Trung Quốc Giá mực ống tăng do biến động nguồn

cung toàn cầu

Tháng 6/2025, chỉ số giá mực ống Trung Quốc tăng 1% lên 281,07 điểm, bất chấp dư cung ở Tây Nam Đại Tây Dương. Nguyên nhân chính là Peru đột ngột đóng cửa ngư trường Đông Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương siết khai thác. Giá mực tăng tại ba khu vực gồm Đông Nam Thái Bình Dương (+2%), Tây Bắc Thái Bình Dương (+0,4%) và Ấn Độ Dương (+2%), trong khi Tây Nam Đại Tây Dương giảm 6% do Argentina bội thu. Dự báo tháng 7, giá có thể chững hoặc giảm nhẹ vì tồn kho tăng sau đợt gom hàng trước lệnh cấm. Trong bối cảnh đó, ngành mực hướng tới phát triển bền vững: Peru nâng hạn ngạch, kiểm

soát ngư cụ và sản lượng, trong khi Trung Quốc kêu gọi hợp tác quốc tế về khai thác có trách nhiệm và bảo vệ nguồn lợi lâu dài.

Nga, Mỹ

Giá trứng cá minh thái giảm do nguồn cung lớn

Nửa đầu năm 2025, tổng sản lượng trứng cá minh thái đông lạnh của Nga và Mỹ đạt khoảng 56.000-57.000 tấn, vượt mốc 50.000 tấn năm thứ ba liên tiếp. Mỹ ghi nhận mức tăng 7% lên 21.000 tấn, trong khi Nga giữ mức 35.000-36.000 tấn. Giá đấu thầu trứng cá vụ mới tại cả hai nước đều giảm, nhất là với loại cao cấp. Trong khi đó, loại trứng nhỏ, chất lượng thấp, được dùng làm nguyên liệu cho thị trường giá rẻ chỉ giảm nhẹ, khiến khoảng cách giá giữa các sản phẩm bị thu hẹp. Tại Hàn Quốc, giá trứng cá loại tiêu chuẩn (STD) của Nga giảm so với cùng kỳ, dao động quanh 5 USD/kg trong tháng 5, nhỉnh hơn mức 4 USD/kg năm ngoái. Trứng nhỏ và loại dưới chuẩn ở mức 3-4 USD/kg, không biến động nhiều. Tại Mỹ, giá STD bình quân đạt 1.090 yên/kg (~7,34 USD), giảm 100 yên so với năm ngoái. Các loại nhỏ và Mizuko giảm khoảng 70 yên. Nguyên nhân chính là tồn kho cao từ năm 2023 và nguồn cung dư thừa kéo dài.

Công nghệ Nano Bubbles

Chìa khóa giúp tôm cá khỏe, nâng cao hiệu quả chăn nuôi

Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đối mặt với nhiều thách thức như ô nhiễm môi trường nước, dịch bệnh lan rộng và hiệu quả nuôi trồng ngày càng giảm sút, Công ty TNHH B.H.N đang từng bước tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ Nano Bubble vào các trang trại nuôi tôm, nuôi cá tại Việt Nam. Đây được xem là một giải pháp đột phá, bền vững, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng trong ngành nuôi trồng thủy sản hiện đại.

Nano Bubble – Giải pháp công nghệ mới cho nuôi trồng thủy sản

Nano Bubble là công nghệ tạo ra các bọt khí siêu nhỏ (nhỏ hơn 200 nanomet), khó có thể nhìn thấy bằng mắt thường, có khả năng phân tán đều và lơ lửng trong nước trong thời gian dài. So với các thiết bị sục khí truyền thống, Nano Bubble có hiệu suất chuyển hóa oxy cao hơn gấp nhiều lần, giúp nâng cao lượng oxy hòa tan (DO) trong nước lên mức ổn định từ 6 – 8 ppm, kể cả ở tầng đáy ao. Khi môi trường nước được cải thiện, vật nuôi như tôm và cá sẽ khỏe mạnh hơn, tăng sức đề kháng và phát triển nhanh hơn. Hơn nữa, bọt khí nano còn hỗ trợ quá trình phân hủy chất hữu cơ, hạn chế mùi hôi, giảm thiểu khí độc như NH3 và H2S – vốn là nguyên nhân chính gây bệnh cho thủy sản.

Ứng dụng thực tế và tiềm năng nhân rộng

Thời gian qua, công ty B.H.N đã áp dụng thành công công

nghệ Nano Bubble tại một số

trang trại nuôi tôm tại Việt Nam.

Kết quả ban đầu cho thấy sự cải thiện rõ rệt về môi trường nước, tỷ lệ sống của con giống tăng, chi phí thuốc giảm và thời gian nuôi được rút ngắn.

Đây là tín hiệu tích cực, mở ra hướng đi mới cho việc nhân rộng mô hình Nano Bubble ra toàn quốc, đặc biệt tại các vùng nuôi trọng điểm như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Khánh Hòa và Bình Định – nơi có điều kiện tự

nhiên phù hợp và đang đối mặt với áp lực ô nhiễm ngày càng lớn.

Cam kết đồng hành và hỗ trợ

từ B.H.N

Không chỉ cung cấp thiết bị

Nano Bubbles chất lượng cao, Công ty TNHH B.H.N còn cam kết

đồng hành cùng người nuôi thông

qua dịch vụ khảo sát thực tế, lắp

đặt, hướng dẫn vận hành và hỗ

trợ kỹ thuật trong suốt quá trình

sử dụng. Mục tiêu của B.H.N là

không chỉ bán thiết bị, mà mang

đến giải pháp toàn diện giúp

người nuôi tăng năng suất, giảm chi phí và bền vững dài lâu.

Với phương châm “Công nghệ

vì một ngành thủy sản xanh

và sạch”, B.H.N kỳ vọng Nano

Bubbles sẽ trở thành một phần

không thể thiếu trong mỗi trang

trại nuôi tôm, cá hiện đại tại Việt

Nam, góp phần vào sự phát triển

bền vững của ngành thủy sản

nước nhà trong thời kỳ hội nhập.

Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96

Website: bhnenc.com

Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Phước Kiển, Huyện Nhà Bè, TP. HCM

GROBEST VIỆT NAM TIÊN PHONG ĐẠT CHUẨN ASC

Chứng nhận quốc tế

về thức ăn thủy sản bền vững

Ngày 25/6/2025, Grobest chính thức được công nhận là nhà máy thức ăn tôm đầu tiên tại Việt Nam, và thứ 10 trên thế giới đạt chứng nhận quốc

tế ASC, tiêu chuẩn cho thức ăn thủy sản đáp ứng yêu cầu về môi trường, xã hội và truy xuất nguồn gốc. Đây là thành tựu không chỉ khẳng định vai trò tiên phong của Grobest trong ngành dinh dưỡng

thủy sản, mà còn góp phần thúc đẩy ngành tôm

Việt phát triển bền vững hơn.

Chứng chỉ ASC – Chuẩn mực

toàn cầu về nuôi trồng thủy

sản có trách nhiệm

Chứng nhận ASC (Aquaculture

Stewardship Council) là hệ thống

tiêu chuẩn quốc tế uy tín trong

ngành thủy sản, đảm bảo sản

phẩm an toàn, có thể truy xuất nguồn và đáng tin cậy. Để đạt

được chứng nhận này, nhà máy

sản xuất thức ăn chăn nuôi cần

chứng minh toàn bộ quy trình

sản xuất, hệ thống quản lý và

hiệu suất vận hành đáp ứng yêu

cầu về bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội do Hội đồng Quản

lý Nuôi trồng Thủy sản đề ra. Quy trình kiểm toán ASC được xem là nghiêm ngặt bậc nhất hiện nay, kéo dài từ vài tháng đến cả năm.

Ngoài năng lực vận hành, một nhà máy đạt chuẩn ASC phải đáp ứng nhiều nguyên tắc khắt khe như tuân thủ pháp luật, đảm bảo quyền lợi người lao động,

được truy xuất rõ ràng, có nguồn gốc bền vững và không bao gồm thành

chuyển đổi sang nguồn thức ăn tuân thủ tiêu chuẩn ASC như Grobest.

Grobest – Nhà máy thức ăn tôm đạt chuẩn ASC đầu tiên tại Việt Nam

Trước yêu cầu truy xuất nguồn gốc khắt khe từ thị trường, Grobest tiên phong trở thành nhà máy thức ăn tôm đầu tiên tại Việt Nam , và thứ 10 trên thế giới đạt chứng nhận ASC, trong lần đánh giá đầu. Khi nhiều nhà máy trong và ngoài nước vẫn đang trong quá trình hoàn thiện để đáp ứng các tiêu chuẩn, Grobest đã sớm xây dựng hệ thống vận hành đồng bộ, được đầu tư bài bản, đạt chuẩn quốc tế.

Thành quả này là kết tinh của một hành trình đầy nỗ lực, kiên định và chiến lược mà Grobest theo đuổi. Grobest đã vượt qua bài toán khó, cân bằng chi phí và giá trị bền vững, khi kiên định lựa chọn nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc bền vững, hợp pháp và không gây tổn hại đến môi trường. Bên cạnh đó, Grobest cũng chủ động thúc đẩy các đối tác trong chuỗi cung ứng cùng cam kết lựa chọn nguyên liệu rủi ro thấp, tuân thủ pháp luật và đảm bảo trách nhiệm xã hội.

Hành trình đạt chuẩn ASC của Grobest là quá trình huy động toàn diện nguồn lực, liên tục rà soát quy trình và kiên trì đào tạo nội bộ. Thành công này đạt được nhờ cam kết từ Ban Lãnh đạo, khi

việc đạt chứng nhận quốc tế được xem là mục tiêu quan trọng trong chiến lược dài hạn của Grobest.

Nỗ lực được định hướng bởi bốn giá trị mà Grobest luôn kiên định: chính trực, hợp tác,

đổi mới và phát triển bền vững. Chính trực và hợp tác là nguyên tắc xuyên suốt, qua việc Grobest tuân thủ nghiêm ngặt Bộ Quy tắc Ứng xử, pháp luật hiện hành và cam kết minh bạch trong chuỗi cung ứng. Yếu tố đổi mới và bền vững thấm nhuần trong cách Grobest vận hành đội ngũ gần 1.000 nhân sự với tinh thần đề cao hợp tác, hướng đến mục tiêu phát triển lâu dài.

Không chỉ tập trung cải tiến công thức dinh dưỡng, Grobest còn thúc đẩy các giải pháp nuôi hiệu quả và an toàn sinh học, không phụ thuộc kháng sinh trong chuỗi sản xuất. Từ năm 2018, Grobest liên tục khẳng định cam kết đổi mới qua loạt dấu ấn: Top Thương hiệu Vàng Việt Nam 2022, Doanh nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản tốt nhất tại Vietstock Awards 2023, Grofarm - mô hình nuôi tôm công nghệ cao cùng sản phẩm ADVANCE PRO được công nhận là tiến bộ kỹ thuật năm 2024. Trong đợt nâng cấp 2025, Grobest sử dụng bột cá cao cấp từ Peru và Chile, kết hợp cùng phụ gia độc quyền giúp tăng sức đề kháng tự nhiên cho tôm, giảm tồn dư đáy ao và duy trì chất lượng môi trường nuôi.

Trở thành nhà máy thức ăn tôm đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận ASC, Grobest khẳng định năng lực cung ứng theo chuẩn quốc tế, tự tin đồng hành cùng người nuôi chinh phục thị trường toàn cầu. Trước thách thức cần chuyển đổi sang nguồn thức ăn đạt chuẩn ASC trước thời hạn 31/10/2025, thức ăn Grobest là giải pháp tối ưu cho các hộ nuôi và công ty chế biến thủy sản cần duy trì chứng nhận ASC cũng như nâng cao chất lượng chuỗi giá trị sản phẩm.

Grobest Việt Nam tiên phong đạt chuẩn với Chứng nhận ASC

Triển vọng

Tôm sú, tôm thẻ chân

trắng là đối tượng nuôi mang lại giá trị kinh tế cao, được xem là đối tượng nuôi

trọng điểm của ngành thủy sản

Việt Nam nói chung và khu vực nuôi tôm trọng điểm ĐBSCL nói

riêng, nhưng thường phải đối

mặt dịch bệnh và điều kiện nuôi

bất lợi và mấy năm gần đây phải cạnh tranh gay gắt với các cường quốc nuôi tôm khác. Trong khi

đó, cá rô phi được đánh giá là

đối tượng dễ nuôi hơn, không đòi hỏi nhiều kỹ thuật, thời gian nuôi

cũng tương đương vụ tôm và thị

trường tiêu thụ khá lớn, kể cả

thị trường khó tính Halal. Không

những thế, nuôi cá rô phi còn là

giải pháp hỗ trợ tốt cho việc cải

tạo môi trường ao tôm nước lợ, mà không cần đầu tư thêm cơ sở

vật chất, con người. Nhắc đến con cá rô phi, tôi

lại nhớ đến TS. Trần Đình Luân – Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư. Trước đây, khi còn là Phó giám đốc Sở NN&PTNT Sóc

Trăng (nay là TP. Cần Thơ), TS. Luân từng có ý tưởng phát triển nghề nuôi cá rô phi cho vùng nước lợ, theo cơ cấu một vụ nuôi tôm trong mùa nắng và một vụ nuôi cá rô phi trong mùa mưa. Theo TS. Luân, nếu thực hiện tốt cơ cấu nuôi này, môi trường nuôi sẽ được cải thiện đáng kể, giúp hạn chế dịch bệnh và tăng khả năng thành công cho vụ tôm. Tuy nhiên, điều TS. Luân băn khoăn lúc này là làm sao có được con giống tốt, đáp ứng các tiêu chí: tăng trọng nhanh, tỷ lệ phi lê cao, hệ số tiêu thụ thức ăn (FCR) thấp… và đặc biệt là phải có liên kết trong khâu tiêu thụ sản phẩm.

Cá rô phi được mệnh danh là “máy lọc nước sinh học” với khả năng sử dụng tảo sợi, tảo đa bào, rong cỏ, mùn bã hữu cơ và một số động vật nhỏ làm thức ăn, nhớt cá làm giảm mật độ Vibrio sp trong

Khi bối cảnh ngành tôm luôn trong tình trạng vượt

khó, một số doanh nghiệp ngành tôm mạnh dạn

mở hướng đi mới cùng con cá rô phi nước mặn

không chỉ giúp “giảm tải” cho ngành tôm, mà còn

được đánh giá là rất phù hợp cả về điều kiện kỹ

thuật, kinh tế, cũng như thị trường xuất khẩu.

nước rất hiệu quả. Do đó, những ao nuôi tôm lâu năm bị lão hóa, ao có nhiều ốc đinh, mọc rong hay ao bị dịch bệnh liên tục nếu thả cá rô phi vào sẽ giúp thay đổi môi trường, cách ly mầm bệnh. Đối với các vùng nuôi tôm nước

lợ khu vực ĐBSCL, cá rô phi có thể thả nuôi gần như quanh năm, nhưng theo các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, chất lượng cá rô phi sẽ tốt hơn khi được nuôi trong môi trường có độ mặn từ 10

- 20 phần nghìn.

Theo kết quả khảo sát, đánh

giá của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, việc phát triển nuôi cá rô phi là rất tiềm năng

bởi cá rô phi phù hợp với nhiều

vùng nuôi của tỉnh, có thị trường tiêu thụ lớn, có hiệu quả kinh tế

lẫn môi trường và đặc biệt là có

thể hỗ trợ tốt cho nuôi tôm thông

qua việc làm sạch môi trường và

hạn chế dịch bệnh trên tôm. Đó

cũng là lý do để Công ty Cổ phần

Chế biến Thủy sản Tài Kim Anh

đề xuất với lãnh đạo tỉnh phát

triển vùng nuôi cá rô phi phục vụ

chế biến xuất khẩu vào ngày 5/3 vừa qua, theo hình thức liên kết, tiêu thụ giữa công ty và người nuôi, với diện tích lên đến 700 ha trong giai đoạn đầu tiên. Điều đó cho thấy, tiềm năng phát triển cá rô phi của Sóc Trăng là rất lớn, nếu được phát huy tốt sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao

thu nhập người dân và giá trị kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh. Không phải đợi đến bây giờ mà trước đây, ngoài một số đối tượng nuôi tiềm năng ở vùng mặn, lợ như: tôm thẻ, tôm sú, cá chẽm, cá kèo, cá bông lau… con cá rô phi cũng được ngành nông nghiệp tỉnh rất quan tâm, bởi cá rô phi có thị trường tiêu thụ lớn, nuôi có hiệu quả kinh tế lẫn hỗ trợ tốt cho nuôi tôm thông qua việc làm sạch môi trường và hạn chế dịch bệnh trên tôm. Đây cũng là là đối tượng thủy sản khá

gần gũi, đóng góp tích cực cho

sự thành công của nghề nuôi

tôm nước lợ và có tiềm năng phát

triển khá lớn, đạt tiêu chuẩn xuất

khẩu nhất là trên nền diện tích

nuôi tôm nước lợ. Người viết vẫn

còn nhớ, ngay từ năm 2019, trên

địa bàn huyện Trần Đề, TX. Vĩnh

Châu… cũng đã có hộ liên kết với

Công ty TNHH Khoa Kỹ sinh vật

Thăng Long nuôi cá rô phi để chế

biến xuất khẩu.

Việc phát triển nghề nuôi cá

rô phi hiện nay là rất phù hợp, vì ngoài các lợi thế trên, vấn đề con giống cũng đã được cải thiện rất nhiều và ngay trên địa bàn tỉnh, hiện đang có một khu sản xuất giống cá rô phi chất lượng cao của Công ty TNHH Khoa kỹ sinh vật Thăng Long. Riêng vấn đề tiêu thụ, ngoài một số đơn vị trong và ngoài tỉnh đang thu mua, Công

ty Cổ phần Chế biến thủy sản Tài Kim Anh đang hoàn thiện việc xây dựng nhà máy chế biến và sẵn sàng hợp tác, liên kết tiêu thụ với người nuôi, với dự kiến sản lượng tiêu thụ giai đoạn đầu khoảng 200 tấn cá nguyên liệu/ngày và sau đó là 400 - 500 tấn cá/ngày. Ngoài việc tiêu thụ cá thương phẩm cho người nuôi, công ty còn liên kết với các đối tác trong và ngoài nước để cung ứng con giống, thức ăn… đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý. Việc Công ty Cổ phần Chế biến thủy sản Tài Kim Anh xây dựng nhà máy chuyên chế biến các sản phẩm cá rô phi có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần giải quyết nguồn lao động và tiêu thụ cá rô phi cho người dân địa phương. Không chỉ có Công ty Cổ phần Chế biến thủy sản Tài Kim Anh mà trên địa bàn tỉnh hiện cũng có một vài doanh nghiệp khác đang thử nghiệm nuôi cá rô phi trong môi trường độ mặn khá cao để chế biến sản phẩm giá trị gia tăng, chinh phục những thị trường khó tính, nhưng có giá bán cao. Điển hình là Công ty Cổ phần Thủy sản sạch Việt Nam vừa có vụ nuôi cá rô phi ở độ mặn từ 10-20 phần ngàn rất thành công. Đặc biệt, chất lượng cá rô phi nuôi ở độ mặn cao này đã được các chuyên gia của Đoàn làm dự án xuất khẩu cá rô phi cho Bộ Nông nghiệp Mỹ đánh giá là ngon nhất trong số cá rô phi mà họ được ăn thử. Hiện công ty đã xây dựng xong nhà xưởng, quy trình chế biến và cũng đã có được hợp đồng xuất khẩu cá rô phi đầu tiên, mở ra hy vọng mới cho người dân vùng mặn lợ khu vực ĐBSCL.

và tích lũy carotenoid ở tôm thẻ

Bổ sung carotenoid từ các loài tảo hoặc hợp

chất riêng biệt vào khẩu phần ăn có thể cải

thiện tăng trưởng và tăng cường màu sắc thương phẩm cho tôm thẻ chân trắng.

Các loài thủy sản phải

hấp thu carotenoid từ thức ăn do không

thể tổng hợp nội sinh. Việc bổ sung carotenoid giúp nâng cao giá trị dinh dưỡng và cải thiện ngoại hình thương phẩm

của tôm, trong đó vi tảo và tảo biển là nguồn cung giàu lutein, zeaxanthin và astaxanthin đang

được quan tâm trong sản xuất thức ăn thủy sản.

Ngành nuôi tôm đang đối mặt với áp lực chi phí và biên lợi nhuận giảm, khiến việc phát triển khẩu phần hiệu quả, đặc biệt với các chất bổ sung tăng trưởng và chất lượng ngày càng cấp thiết. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về mối liên hệ giữa loại tảo, dạng carotenoid và mức độ tích lũy trong cơ thể tôm vẫn còn hạn chế.

Xây dựng nghiên cứu

Tôm thẻ chân trắng giống, được cung cấp bởi Công ty Chia-Tai Ningbo (Trung Quốc),

đã trải qua giai đoạn thích nghi

kéo dài 14 ngày trong hệ thống nuôi có sục khí liên tục tại cơ sở

thử nghiệm của Đại học Ningbo.

Tiếp theo, một thí nghiệm cho

ăn kéo dài tám tuần được tiến

hành trong hệ thống nước biển

tuần hoàn trong nhà sử dụng các

loại thức ăn thử nghiệm. Tổng cộng 540 cá thể tôm giống, với trọng lượng trung bình 2,60 ± 0,20 gam, được phân bố ngẫu nhiên vào 18 bể sợi thủy tinh hình trụ (thể tích 400 lít, chứa 250 lít nước biển), với mật độ thả là 30 con mỗi bể.

5 công thức thức ăn thử nghiệm được xây dựng, trong đó bổ sung 3% tảo nâu (Saccharina japonica – nhóm SJ; Sargassum fusiforme – nhóm SF), tảo đỏ (Neoporphyra haitanensis –nhóm NH) hoặc 0,1% carotenoid tinh khiết (zeaxanthin – nhóm ZT; fucoxanthin – nhóm FX). Mỗi loại thức ăn được phân phối ngẫu nhiên cho ba bể lặp lại. Tôm giống được cho ăn ba lần mỗi

ngày, với lượng thức ăn tương

ứng 6-8% khối lượng cơ thể. Kết thúc thí nghiệm, 3 cá thể tôm từ mỗi bể được chọn ngẫu nhiên và mổ trên đá lạnh để thu mẫu các mô gồm cơ (đốt thứ hai), vỏ ngoài và tuyến gan tụy.

Các mẫu mô cùng loại từ mỗi

bể được gộp lại và bảo quản để phân tích hàm lượng carotenoid và axit béo. Mỗi nhóm thức ăn có ba bể lặp lại, đảm bảo tính lặp cho từng nghiệm thức.

Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bổ sung bột tảo vào khẩu phần ăn đã cải thiện rõ rệt hiệu quả tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng. Cụ thể, trọng lượng cuối

kỳ, tăng trọng tuyệt đối (WG) và tốc độ tăng trọng (WGR) của các nhóm tôm được bổ sung tảo (gồm nhóm SJ, SF và NH) cao hơn khoảng 1,2-1,3 lần so với nhóm đối chứng. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng đặc hiệu (SGR) ở các nhóm bổ sung tảo cũng cao

hơn khoảng 1,2 lần so với nhóm không bổ sung.

Đặc biệt, việc bổ sung các sắc tố zeaxanthin và fucoxanthin cho thấy hiệu quả vượt trội hơn, với WGR và SGR lần lượt cao hơn khoảng 1,65 và 1,3 lần so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, giữa các nhóm bổ sung carotenoid không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ tiêu tăng trưởng.

Về tỷ lệ sống, không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thí nghiệm và đối chứng, ngoại trừ nhóm NH có tỷ lệ sống thấp hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng. Để đánh giá sự thay đổi màu sắc, các thông số màu bề mặt của tôm được đo lường. Kết quả cho thấy các loại thức ăn có bổ sung bột tảo

sung vượt mức 100 mg/kg, trong

đó astaxanthin là sắc tố thể hiện rõ hiệu quả sinh trưởng. Ngược lại, khi sử dụng với liều lượng thấp, hiệu quả không rõ ràng. Tuy nhiên, nhiều tài liệu chỉ công bố hàm lượng carotenoid

được bổ sung trong công thức thức ăn, mà không tính đến tổn thất trong quá trình chế biến. Trên thực tế, các sắc tố carotenoid dễ bị phân hủy do nhiệt độ cao và ánh sáng trong suốt quá trình sản xuất thức ăn, làm giảm đáng kể hàm lượng thực tế trong sản phẩm cuối cùng. Một số nghiên cứu cho biết hàm lượng astaxanthin thực tế trong thức ăn cho tôm có thể giảm gần một nửa so với lý thuyết. Do đó, hàm lượng carotenoid thực tế trong thức ăn có thể chênh lệch lớn so với lượng công bố ban đầu.

Theo kết quả nghiên cứu, bổ sung carotenoid giúp tôm sống có màu đậm hơn và sau khi nấu chín chuyển sang màu đỏ rực

nhờ giải phóng astaxanthin. Màu sắc tôm sống chịu ảnh hưởng bởi phức hợp giữa astaxanthin và protein crustacyanin; hàm lượng astaxanthin càng cao, màu càng

đậm. Khi nấu, phức hợp này bị phá vỡ, giải phóng astaxanthin tự do, tạo màu đỏ đặc trưng.

Ở tôm thẻ chân trắng, việc bổ sung tảo biển và zeaxanthin giúp tăng hàm lượng astaxanthin, từ đó cải thiện đáng kể màu sắc. Dữ

liệu nghiên cứu cũng khẳng định

mối tương quan chặt chẽ giữa

lượng carotenoid trong thức ăn và mức tích lũy trong cơ thể tôm.

Trung bình, mỗi đơn vị carotenoid bổ sung giúp tôm tăng 9,51 đơn vị carotenoid trong mô.

Carotenoid chủ yếu phân bố

ở lớp vỏ và tuyến gan tụy, trong khi cơ thịt không có sự thay đổi

đáng kể. Astaxanthin tự do tập

trung nhiều nhất ở lớp vỏ – bộ

phận đóng vai trò hàng rào bảo

vệ trước stress môi trường nhờ

khả năng chống ôxy hóa mạnh, đồng thời giúp tôm điều chỉnh

sắc tố phù hợp với nền đáy môi

trường sống.

Triển vọng

Đây là nghiên cứu đầu tiên

ứng dụng công nghệ UPLCMS – một kỹ thuật phân tích có

độ chính xác cao, thường được

sử dụng trong phân tích thực phẩm, độc chất học và các xét nghiệm sinh học, nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại bột tảo và carotenoid khi bổ sung vào

khẩu phần ăn đến hiệu suất tăng

trưởng và khả năng tích lũy sắc tố của tôm thẻ chân trắng.

Kết quả cho thấy, cả 5 loại phụ gia dinh dưỡng đều cải thiện rõ

rệt tăng trưởng của tôm. Đồng

thời, hàm lượng carotenoid trong khẩu phần có mối tương quan thuận đáng kể với mức tích lũy sắc tố trong mô tôm, trong đó lớp vỏ ngoài là vị trí tích lũy chính. Đáng chú ý, bột tảo  N. haitanensis và zeaxanthin là hai thành phần có hiệu quả cao nhất trong việc thúc đẩy tích lũy

carotenoid, được xác định lần lượt là loại bột tảo và hợp chất carotenoid có hiệu quả vượt trội. Bên cạnh đó, quá trình tích lũy sắc tố ở từng mô diễn ra thông qua dạng carotenoid tự do và ester của astaxanthin. Những phát hiện này chứng minh việc định hướng bổ sung carotenoid thông qua lựa chọn loài tảo hoặc hợp chất carotenoid phù hợp có thể cải thiện hiệu quả sắc tố cho tôm. Nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung làm rõ cơ chế sinh tổng hợp và chuyển hóa carotenoid trong cơ thể tôm, hướng đến tối ưu hóa công thức thức ăn và nâng cao chất lượng sắc tố thông qua điều chỉnh sinh học có hệ thống.

Dũng Nguyên

Ảnh: RM

Nucleotide

Phụ gia tăng cường sức khỏe đường ruột cho tôm

Bổ sung nucleotide ngoại sinh vào khẩu

phần ăn là hướng đi đầy triển vọng, giúp

tăng khả năng tiêu hóa, củng cố miễn dịch và cải thiện sức chống chịu đường

ruột ở các loài thủy sản, đặc biệt là tôm.

Trong các hệ thống nuôi thâm canh mật độ cao hiện nay, thủy sản thường xuyên chịu áp lực từ môi trường và mầm bệnh, làm suy giảm khả năng tổng hợp nucleotide nội sinh –hợp chất thiết yếu cho tái tạo biểu mô, tiêu hóa và miễn dịch.

Trước thực trạng đó, việc bổ sung nucleotide ngoại sinh vào khẩu phần ăn đang trở thành xu hướng, đặc biệt trong giai đoạn tăng trưởng nhanh hoặc khi vật nuôi gặp stress sinh học. Với vật nuôi thủy sản, bổ sung nucleotide có liên hệ chặt chẽ với khả năng miễn dịch niêm mạc và tái tạo biểu mô ruột, hỗ trợ chống lại các tác nhân gây bệnh như EHP trên tôm. MicroHarvest, công ty công nghệ sinh học tại Đức, đã phát triển HILIX, sản phẩm protein đơn bào thu được từ quá trình lên men vi khuẩn biển. Giàu nucleotide tự do và peptide hòa tan, HILIX là giải pháp dinh dưỡng lý tưởng, phù hợp với định hướng bền vững của ngành thức ăn thủy sản.

Với nguồn nucleotide ổn định và dễ hấp thu, HILIX giúp bù đắp những thiếu hụt trong khẩu phần thông thường, nhất là khi sinh tổng hợp nội sinh bị suy giảm do stress hoặc tăng trưởng. Sản phẩm này hỗ trợ duy trì tính toàn vẹn biểu mô ruột, tăng cường miễn dịch và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn ở nhiều loài nuôi.

Thử nghiệm đối kháng với EHP Thí nghiệm được thực hiện tại

Phòng thí nghiệm ShrimpVet (Việt Nam) trên tôm thẻ chân trắng  Penaeus vannamei giai đoạn hậu ấu trùng, với trọng lượng trung bình ban đầu khoảng

1,36 gram. Tôm được thả nuôi trong

bể thể tích 350 lít, mật độ 50 con mỗi nhóm, lặp lại 5 lần cho mỗi nghiệm thức. Thí nghiệm bao gồm hai nhóm: Nhóm đối chứng được cho ăn khẩu phần cơ bản, trong khi nhóm xử lý được bổ sung 0,08% HILIX vào cùng khẩu phần nền.

Từ ngày 15 đến ngày 21, phân chứa ký sinh trùng  Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) được trộn phủ lên viên thức ăn sau giai đoạn cho ăn chuẩn

bị kéo dài 14 ngày. Sau đó, tôm được tiếp tục theo dõi trong 28 ngày để đánh giá tỷ

lệ sống, tăng trưởng, hệ số chuyển hóa thức ăn và mức độ đồng đều về kích cỡ.

Cải thiện sức khỏe đường ruột và

hiệu suất tăng trưởng

Tỷ lệ sống của tôm trong nhóm bổ sung HILIX đạt 70,8%, cao hơn đáng kể so với mức 60,4% ở nhóm đối chứng, tương ứng mức cải thiện 17,22%. Tôm được nuôi bằng khẩu phần có bổ sung HILIX đạt

trọng lượng trung bình cuối kỳ là 10,68g, trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 9,27g. Tốc độ tăng trưởng đặc hiệu (SGR) của nhóm HILIX đạt 4,04% mỗi ngày, cao hơn so với mức 3,77% ở nhóm không bổ sung. Ngoài ra, tôm ăn HILIX còn có kích cỡ đồng đều hơn, với hệ số biến thiên (CV) về kích thước chỉ ở mức 14,16%, so với 20,98% ở nhóm đối chứng.

Đáng chú ý, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) cũng được cải thiện rõ rệt, giảm từ 1,25 ở nhóm đối chứng xuống còn 1,02 ở nhóm HILIX, một bước tiến giúp gia tăng hiệu quả sản xuất trong nuôi trồng thủy sản.

Những cải thiện này có thể lý giải từ

việc hoạt tính enzyme tiêu hóa được tăng cường, theo kết quả của một nghiên cứu trước đó tại Đại học Kasetsart (Thái Lan, 2023). Trong thử nghiệm này, HILIX cho thấy khả năng kích hoạt mạnh mẽ các enzyme tiêu hóa như lipase và chymotrypsin, trong đó lipase đóng vai trò hấp thu chất béo, còn chymotrypsin hỗ trợ hấp thu protein. Kết quả vượt trội trên bắt nguồn từ cơ chế tác động trực tiếp của nucleotide ngoại sinh lên sức khỏe đường ruột và miễn dịch của tôm. Nucleotide trong HILIX được hấp thu nhanh tại đường tiêu hóa, kích thích biểu hiện enzyme tiêu hóa và góp phần duy trì hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh. Đồng thời, nucleotide điều hòa đáp ứng miễn dịch, giúp tôm tăng cường đề kháng với các tác nhân gây bệnh như EHP. Đặc biệt, trong điều kiện stress khi quá trình tổng hợp nội sinh bị ức chế thì việc bổ sung nucleotide ngoại sinh cân đối từ HILIX càng trở nên thiết yếu.

Giải pháp dinh dưỡng toàn diện

Việc bổ sung HILIX ở tỷ lệ 0,08% vào khẩu phần nuôi thủy sản mang lại những cải thiện rõ rệt và có thể định lượng được về sức khỏe đường ruột, tốc độ tăng trưởng, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và khả năng kháng bệnh. Nhờ cung cấp nguồn nucleotide tự do ổn định, bền nhiệt và dễ hấp thụ, HILIX thúc đẩy hoạt động của các enzyme tiêu hóa và tăng cường sức đề kháng của hệ miễn dịch. Trong bối cảnh sức khỏe đường ruột đang trở thành tâm điểm trong các

giải pháp dinh dưỡng thủy sản hiện đại, HILIX nổi bật như một lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học, góp phần thúc đẩy nuôi trồng thủy sản phát triển theo hướng bền vững và hiệu quả. Không chỉ mang lại lợi ích sinh lý học thể hiện qua các thử nghiệm lâm sàng, sản phẩm còn góp phần nâng cao hiệu quả vận hành ngay tại trang trại. Những chỉ số cải thiện về FCR và tốc độ tăng trưởng đồng đều không chỉ là con số trên báo cáo, mà trực tiếp giúp tiết kiệm chi phí thức ăn và tối ưu hóa hoạt động thu hoạch. Đồng thời, khả năng tăng cường kháng bệnh giúp giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh, đáp ứng các quy định khắt khe về dư lượng tại các thị trường xuất khẩu khó tính. Những lợi thế kết hợp này không chỉ khẳng định vai trò dinh dưỡng của HILIX, mà còn nâng tầm giá trị chiến lược của sản phẩm trong chuỗi cung ứng thủy sản.

Trong xu hướng thị trường ngày càng yêu cầu cao về tính minh bạch, trách nhiệm với môi trường và hiệu quả chức năng của nguyên liệu thức ăn, HILIX là đại diện tiêu biểu cho dòng sản phẩm thế hệ mới vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa mang lại hiệu quả kinh tế đã được khoa học kiểm chứng. Hiệu quả ổn định của HILIX trên nhiều loài và trong nhiều điều kiện nuôi khác nhau càng củng cố vị thế của sản phẩm trong các chiến lược dinh dưỡng thủy sản cho tương lai.

Cá chạch lấu

Giải pháp kinh tế mới trong chuyển đổi mô

hình thủy sản nông hộ

Nhờ áp dụng mô hình nuôi cá chạch lấu

trong bể nổi và công nghệ tuần hoàn

nước, nhiều nông dân ở Tây Ninh và Lâm

Đồng đã vươn lên làm giàu với lợi nhuận

thu về hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Thành công nhờ kỹ thuật

hiện đại

Từng loay hoay với các mô hình thủy sản truyền thống, giờ đây, anh Nguyễn Phúc Mến (phường

Bình Minh, tỉnh Tây Ninh) đã trở thành điển hình trong phong trào làm kinh tế từ cá chạch lấu. Bằng cách nuôi trong bể nổi lót bạt và áp dụng quy trình bán công nghiệp, mô hình của anh Mến không chỉ cho thu nhập cao mà còn thu hút sự quan tâm của nhiều đoàn nông dân từ khắp Đông Nam Bộ đến tham quan, học hỏi.

Khởi đầu năm 2019, sau một thời gian học hỏi kỹ thuật nuôi tôm thẻ trong bể nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long, anh Mến mạnh dạn đầu tư 6 bể nuôi nổi, diện tích 176 m²/bể, thả 28.000 con giống cá chạch lấu. Với kiến thức tích lũy và sự đồng hành kỹ thuật từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh, anh từng bước kiểm soát hiệu quả quy trình nuôi: xử lý nước trước khi thả cá, đảm bảo ôxy đầy đủ bằng hệ thống máy tạo ôxy, theo dõi sát quá trình phát triển của cá.

Với giá bán dao động từ 200.000 – 260.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, mô hình này mang về lợi

nhuận khoảng 40.000 – 50.000

đồng/kg. Hiện nay, anh Mến duy trì 12 ao nổi, sản lượng trung bình

1,5 tấn/vụ, cho thu nhập ít nhất

700 triệu đồng mỗi năm.

Theo bà Hồ Ngọc Trâm, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh, cá chạch lấu không những dễ nuôi, ít dịch bệnh mà còn không bị ràng buộc bởi thời vụ. Đặc biệt, cá càng lớn càng có giá trị. Nuôi trong mô hình bể lót bạt giúp dễ dàng kiểm soát môi trường, phòng bệnh, nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng thương phẩm.

“Tây Ninh có lợi thế nguồn nước dồi dào, hệ thống thủy lợi phong phú. Với sự hỗ trợ từ

khuyến nông, bà con có thể tiếp cận mô hình này dễ dàng, kể cả

với những hộ ít vốn – chỉ cần xử lý

nước tốt, bổ sung ôxy đầy đủ thì

cá sẽ phát triển khỏe mạnh”, bà

Trâm chia sẻ.

Không chỉ Tây Ninh, tại xã Hàm

Thuận Nam (tỉnh Lâm Đồng), mô

hình nuôi cá chạch lấu cũng đang

chứng minh hiệu quả kinh tế nhờ

ứng dụng công nghệ tuần hoàn

nước. Anh Trần Thế Diễn – một hộ

nông dân từng thất bại với cách

nuôi truyền thống, đã chuyển

mình khi mạnh dạn áp dụng

hướng dẫn kỹ thuật từ Trung tâm

Khuyến nông địa phương.

Với ao nuôi 1.000 m², anh

Diễn thả 600 con cá giống, kết hợp hệ thống lọc tuần hoàn, thay nước định kỳ, duy trì nhiệt độ ao từ 26 - 28 0 C. Cá được cho ăn 2 lần/ngày bằng cám công nghiệp, dưới ao thả ống tre để cá tụ đàn - đúng theo tập tính sinh học của loài cá này.

Sau khoảng 10 tháng, anh thu hoạch 1,2 tấn cá thương phẩm, giá bán 160.000 - 200.000 đồng/ kg, lợi nhuận đạt trên 90 triệu đồng mỗi vụ. “Giai đoạn đầu cá có thể hao hụt, nhưng từ tháng thứ ba, khi cá quen môi trường, tỷ lệ sống tăng rõ rệt. Nuôi cá chạch lấu không khó, chỉ cần kiên trì và làm đúng kỹ thuật”, anh Diễn cho biết.

Mở hướng cho nghề nuôi thủy sản bền vững

Nuôi cá chạch lấu là hướng đi mới trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp địa phương, không chỉ giúp người dân tăng thu nhập mà còn góp phần đa dạng hóa các loài thủy sản nước ngọt.

Thành công bước đầu của cá chạch lấu đang khích lệ các địa phương nghiên cứu mở rộng sang các đối tượng tiềm năng khác như cá chình bông, cá thát lát, cá bống tượng… ứng dụng công nghệ lọc tuần hoàn nhằm tối ưu nguồn nước và bảo vệ môi trường. Điểm sáng đáng chú ý là sự đồng hành chặt chẽ của hệ thống khuyến nông từ tư vấn mô hình, chuyển giao kỹ thuật đến hỗ trợ giống, thức ăn và đầu ra. Điều này đã tạo dựng niềm tin và động lực để nông dân dám thay đổi, tiếp cận với mô hình nông nghiệp hiện đại, tiết kiệm chi phí và thân thiện với sinh thái. Từ một loài cá từng ít được chú ý, cá chạch lấu nay trở thành “át chủ bài” trong chiến lược nuôi thủy sản giá trị cao ở nhiều địa phương. Khi nông dân có kiến thức, có sự đồng hành kỹ thuật và có thị trường đầu ra ổn định, mô hình cá chạch lấu không chỉ là câu chuyện làm giàu – mà còn là hành trình phát triển bền vững, xanh và hiện đại của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Minh Khuê

CHUYÊN TRANG CÓ SỰ TÀI TRỢ CỦA TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA

Lồng nhựa HDPE

“Chìa khóa xanh” cho nuôi biển bền vững

Với nhiều ưu điểm về hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi

trường và khả năng nhân rộng, mô hình nuôi cá biển

bằng lồng nhựa HDPE đang được triển khai tại nhiều

địa phương ven biển.

Mở tiềm năng biển bằng công

nghệ nuôi hiện đại

Tận dụng lợi thế vùng biển

rộng lớn với hơn 140 đảo và nguồn lợi thủy sản phong phú, An Giang – một trong những địa phương ven biển phía Nam đang đẩy mạnh nuôi biển bằng lồng nhựa HDPE. Mô hình này đang chứng minh hiệu quả cả về năng suất, chất lượng lẫn khả năng

nhân rộng.

Tại các vùng biển như Kiên Hải, Phú Quốc, Hòn Nghệ, Sơn Hải…, người dân đã thay thế lồng gỗ truyền thống bằng lồng HDPE để nuôi các loài cá có giá trị cao như cá bớp, cá mú, cá chim vây vàng, cá chẽm. Tính đến cuối năm 2024, toàn tỉnh có hơn 4.290 lồng bè, sản lượng đạt khoảng 4.241 tấn/năm.

Bà Huỳnh Tuyết Hạnh, hộ nuôi tại Phú Quốc cho biết, với 15 lồng nuôi cá bớp và cá mú trân châu, sau khi trừ chi phí mỗi năm có thể thu lãi 500–600 triệu đồng. “Nuôi bằng lồng HDPE giúp hạn chế rủi ro do thời tiết, chủ động được đầu ra nếu biết liên kết với doanh nghiệp”, bà Hạnh chia sẻ.

Song song với đó, nghề nuôi

nhuyễn thể như sò huyết, vẹm xanh, nghêu, hến biển cũng phát

triển mạnh tại An Biên, An Minh, Hòn Đất, Kiên Lương, Hà Tiên…

với diện tích hơn 23.300 ha, sản lượng đạt 96.600 tấn/năm. Một

số hộ còn mở rộng sang nuôi ngọc trai, hàu, ốc hương.

Khuyến nông – cánh tay nối

dài giúp người dân đổi mới

công nghệ

Đồng hành cùng người nuôi là

hệ thống khuyến nông từ trung

ương đến địa phương. Tại Hải

Phòng, Trung tâm Khuyến nông

quốc gia phối hợp cùng Khuyến

nông thành phố triển khai mô

hình nuôi cá song bằng lồng

HDPE tại đặc khu Cát Hải với quy

mô 315 m³.

Ngày 17/5/2025, đơn vị đã tổ chức bàn giao con giống cho hộ

ông Lưu Xuân Tuyển – người trực

tiếp thực hiện mô hình. Cán bộ kỹ

thuật hỗ trợ vệ sinh lồng bè, hướng

dẫn quy trình thả giống đúng kỹ

thuật nhằm tăng tỷ lệ sống và

đảm bảo điều kiện môi trường

thích hợp cho cá phát triển. Dự

kiến, đến tháng 12/2025, mô

hình sẽ cho thu hoạch với năng

suất hơn 15 kg/m³.

Tại An Giang, Trung tâm

Khuyến nông tỉnh cũng triển khai 20 điểm nuôi cá biển bằng lồng

HDPE với diện tích hơn 3.700 m² trong năm 2025. Cùng với việc cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật, đơn vị còn tổ chức tập huấn về

Luật Thủy sản, khuyến khích sử dụng thức ăn công nghiệp thay cá tạp, giảm thiểu rác thải nhựa và liên kết chuỗi, hướng tới phát

triển nuôi biển bền vững.

Dù tiềm năng lớn, nhưng nuôi

biển bằng lồng HDPE vẫn đối

mặt nhiều thách thức, đặc biệt

chi phí đầu tư cao là rào cản lớn.

Theo bà Trần Thị Hội – Giám đốc HTX nông dân Thanh Hoa (Kiên Hải), giá mỗi lồng nhựa HDPE lên

tới hàng chục triệu đồng, khiến

nhiều hộ khó tiếp cận nếu không

có chính sách vay vốn ưu đãi

hoặc hỗ trợ trả góp.

Ngoài ra, hạ tầng vùng nuôi

còn thiếu đồng bộ, công nghệ

ứng dụng chưa cao, quy mô sản

xuất vẫn nhỏ lẻ. Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại một số khu vực cũng đang ảnh hưởng

đến hiệu quả sản xuất.

Nhằm tháo gỡ khó khăn, giai đoạn 2024–2025, UBND tỉnh An Giang đã phê duyệt chủ trương cho 5 doanh nghiệp đầu tư nuôi biển với tổng diện tích gần 2.910 ha, vốn hơn 1.110 tỷ đồng. Chính quyền địa phương cũng đẩy mạnh kêu gọi đầu tư vào các khâu còn thiếu như sản xuất giống, chế biến sâu, xuất khẩu. Đồng thời, đề xuất chính sách đặc thù hỗ trợ nông dân ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số; tích hợp quy hoạch nuôi biển vào phát triển kinh tế địa phương, hướng tới hiện đại hóa toàn diện ngành thủy sản. Các chuyên gia nhận định, nuôi biển bằng lồng nhựa HDPE không chỉ là bước tiến kỹ thuật mà còn là giải pháp chiến lược nâng cao giá trị sản phẩm, hạn chế rủi ro và bảo vệ môi trường. Nếu được tổ chức sản xuất theo chuỗi – từ giống, thức ăn đến tiêu thụ thì mô hình này sẽ giúp ngành nuôi biển Việt Nam bứt phá, trở thành trụ cột kinh tế ven biển trong tương lai không xa.

Thùy Khánh

CAT bổ nhiệm ông Sam May

Trung tâm Công nghệ

Nuôi trồng Thủy sản (CAT) vừa công bố bổ nhiệm ông Samuel May

vào vị trí Trưởng bộ phận Dịch vụ Di truyền

khu vực Mỹ và Canada, đánh dấu bước đi tiếp

theo trong chiến lược mở rộng và đẩy mạnh các giải pháp di truyền

tiên tiến cho ngành thủy sản toàn cầu.

Ông Sam May mang đến cho CAT nền tảng khoa học vững chắc cùng

bề dày kinh nghiệm thực tiễn

trong các lĩnh vực nghiên cứu san hô, di truyền cá hồi và chọn

giống trong nuôi trồng thủy sản.

Niềm đam mê với di truyền học

đến với ông từ thời đại học, sau một khóa học về di truyền quần thể. Từ đó, ông quyết tâm theo

đuổi con đường học thuật, hoàn

thành chương trình tiến sĩ ngành di truyền và sau đó giữ vai trò

quản lý chương trình chọn giống

cá hồi của Bộ Nông nghiệp Hoa

Kỳ (USDA) tại bang Maine. Tại đây, ông tập trung phát triển các

giải pháp như bảo tồn lạnh, tối

ưu hóa tính trạng và duy trì đa dạng di truyền nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của

chương trình giống.

Gia nhập CAT, ông Sam kỳ vọng có thể đóng góp nhiều hơn cho ngành bằng các ứng dụng thực tế. “Tôi muốn chuyển từ lý thuyết học thuật sang các giải pháp có tác động rõ rệt. CAT chính là nơi tôi có thể làm điều đó – làm việc

đa loài, giải quyết những vấn đề

phức tạp và hỗ trợ khách hàng

đạt được những bước tiến về di truyền”, ông chia sẻ.

Ông cũng đánh giá cao văn

hóa hợp tác và tinh thần đổi mới

tại CAT – đơn vị hiện đang quản lý

hơn 20 chương trình chọn giống cho hơn 12 loài thủy sản. Với bộ công cụ hơn 50 giải pháp di truyền cùng chuyên môn sâu về genotyping, chỉnh sửa gen, phân tích dữ liệu và chiến lược chọn

giống định lượng, CAT đang cung

cấp các giải pháp “đo ni đóng

giày” giúp khách hàng tối ưu hiệu suất, tăng cường tính bền vững và nâng cao giá trị sản xuất.

“Ông Sam sẽ là mảnh ghép quan trọng giúp chúng tôi tăng

cường hỗ trợ khách hàng tại Bắc

Mỹ,” bà Klara Verbyla, Phó Chủ tịch phụ trách Cải tiến Di truyền tại CAT cho biết. “Kinh nghiệm

đa dạng của ông ấy giúp rút ngắn khoảng cách giữa công nghệ di truyền hiện đại và thực tiễn sản xuất – điều mà khách hàng của chúng tôi rất cần”.

Trên cương vị mới, ông Sam sẽ đồng hành cùng các doanh nghiệp thủy sản trong việc triển khai công nghệ chọn giống, phân tích dữ liệu và đưa ra các quyết định tối ưu trong chiến lược giống.

Theo ông, di truyền là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất để ngành nuôi trồng giải bài toán về tăng trưởng, kháng bệnh và phát triển bền vững. “Áp dụng đúng công cụ, người nuôi có thể tạo ra đàn cá khỏe mạnh, tăng trưởng nhanh và đáp ứng thị trường ngày càng khắt khe hơn”, ông nói.

Trong bối cảnh ngành thủy sản toàn cầu đang đối mặt với nhiều thách thức về môi trường và sản xuất, CAT tiếp tục khẳng

định vai trò tiên phong bằng

cách mang đến những giải pháp di truyền hiệu quả, dễ ứng dụng và mang lại giá trị thực tiễn cao cho người nuôi.

Về CAT

Trung tâm Công nghệ Nuôi trồng Thủy sản (Center for Aquaculture Technologies –CAT) là đơn vị tiên phong trong ứng dụng công nghệ di truyền cho ngành thủy sản. CAT cung cấp giải pháp toàn diện – từ chọn giống, giải trình tự gen đến chỉnh sửa gen – giúp đối tác nâng cao hiệu quả, tối ưu nguồn lực và phát triển bền vững thông qua chiến lược Next-Gen Breeding™. CAT

 Website: https://aquatechcenter.com

 Liên hệ truyền thông: Emma Crolla – Giám đốc Marketing

 Email: ecrolla@aquatechcenter.com

 Điện thoại: +44 7901 671831

Trong ngành nuôi trồng thủy sản, thời gian là vàng. Mỗi ngày, mỗi giờ đều là yếu tố quyết định đến năng suất và lợi nhuận của người nông dân. Và hôm nay, chúng ta sẽ cùng khám phá một câu chuyện thành công vang dội, một “kỳ tích” được tạo nên từ sự kết hợp giữa công nghệ tiên tiến về di truyền học chọn giống và tâm huyết của người nuôi tôm.

quả ngoài mong đợi. Vụ tôm sú

vừa qua của anh không chỉ bội thu về sản lượng mà còn thiết lập một kỷ lục về tốc độ tăng trưởng.

Kỳ tích ấn tượng

Bằng việc chọn thả tôm giống sú CPF SUPER MONODON, Kết

hợp sử dụng thức ăn công nghệ dinh dưỡng đột phá LEXUS từ

C.P. Việt Nam. trong vụ nuôi này anh Tuấn vô cùng ngỡ ngàng với

tấn tôm . Đây là một kỷ lục tốc

độ lớn nhanh vô cùng xuất sắc

từ tôm sú siêu tăng trưởng C.P. Việt Nam.

Anh Lưu Văn Tuấn, tại Bình Đại tỉnh Vĩnh Long, một người nông dân với hơn 15 năm kinh nghiệm nuôi tôm, đã

kết quả đạt được. Hiện tại Chỉ sau 140 ngày thả nuôi, đàn tôm

đạt được một kết

Nhấc vó tôm lên, anh Tuấn cho biết thêm: “Tôm lớn nhanh đồng nghĩa với việc rút ngắn được chu kỳ nuôi, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và tiết kiệm được rất nhiều chi phí. Quan trọng nhất là, với kích cỡ 16 con/kg, giá bán cực kỳ tốt, giúp tôi thu về lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với các vụ trước”. “Tôi tin rằng yếu tố then chốt chính là chất lượng con giống. Tôm sú C.P. thực sự có sức đề kháng tốt, tốc độ tăng trưởng vượt trội. Cùng với quy trình chăm sóc đúng kỹ thuật, tôi hoàn toàn tự tin vào sản phẩm này. Tôi Kỳ tích

của anh Tuấn đang đạt kích cỡ 16 con/kg. Với sản lượng hơn 3

Giải pháp hiệu quả Có dịp gặp gỡ anh Tuấn vào tháng 7/2025, chúng tôi được anh dẫn đến khu nuôi tôm sú và chia sẻ: “Vụ này tôi nuôi tôm sú giống của C.P. Thật sự là tôi cũng bất ngờ với kết quả đạt được. Chỉ sau 140 ngày nuôi, tôm đã đạt kích cỡ 16 con/kg. Đây là tốc độ lớn nhanh kỷ lục từ trước đến nay mà tôi từng nuôi được”.

Tôm giống sú CPF SUPER MONODON đạt kích cỡ 16 con/kg

sau 140 ngày nuôi

cũng muốn chia sẻ kinh nghiệm này đến bà con để cùng nhau làm giàu”.

Câu chuyện của anh Tuấn là minh chứng sống động cho chất lượng vượt trội của tôm sú giống CPF SUPER MONODON. Với khả năng tăng trưởng đột phá, tôm sú C.P. không chỉ giúp rút ngắn chu kỳ nuôi, giảm rủi ro mà còn tối đa hóa lợi nhuận cho người nông dân. Hãy để tôm sú C.P.

đồng hành cùng bạn trên con đường làm giàu. Đầu tư vào chất

lượng con giống là đầu tư vào

tương lai thịnh vượng của bạn.

Xin cám ơn anh Tuấn và Quý

khách hàng trên khắp cả nước đã

luôn tin yêu, đồng hành cùng C.P.

Việt Nam, kính chúc anh và Quý

khách hàng có những vụ mùa

thành công, thắng lợi hơn nữa.

C.P. Việt Nam

Trang trại nuôi tôm sú theo mô hình CPF COMBINE của anh Tuấn

kinh tế toàn cầu

Năm 2025, nhiều biến

động khó lường trong bức tranh kinh tế toàn

cầu. Lạm phát tại các nước phát triển, xung đột chính trị vẫn chưa hạ nhiệt, khiến giá nguyên liệu đầu vào, chi phí vận tải, tỷ giá ngoại tệ liên tục thay đổi. Người nông dân đang đối mặt với chi phí sản xuất tăng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh mùa vụ và đặc biệt áp lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, giá cả nông sản không được tốt. Trong bối cảnh đó, Sitto Việt Nam – thương hiệu đến từ Thái Lan với 25 năm đồng hành cùng nông dân Việt – vẫn kiên định với sứ mệnh “Cung cấp giải pháp – Đầu tư bền vững”, thể hiện bản lĩnh một doanh nghiệp

tiên phong trong xu hướng công nghệ xanh ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Thích ứng thị trường – Đổi mới công nghệ

6 tháng đầu năm 2025, thị trường vật tư nông nghiệp ghi

Kỹ thuật hướng dẫn nông dân kiểm tra dư lượng Cd trong đất trồng Sầu riêng

nhận sức tiêu thụ chậm do thời

tiết thất thường, giá nông sản

đầu ra biến động. Tuy vậy, Sitto

Việt Nam vẫn giữ vững được thị

phần nhờ hệ thống phân phối ổn

định và danh mục dầy cộm các sản phẩm chất lượng cao, đáp

ứng đa dạng nhu cầu đa dạng từ

cây ăn trái, lúa, rau màu đến nuôi tôm, nuôi cá. Trong đó các dòng sản phẩm sinh học như Sitto EM, Rhodo Baccil, Rhodo phos, Sitto

Fulvix, Humic Total, Ultra Green, Sitto OM... tiếp tục được người tiêu dùng tin tưởng nhờ hiệu

quả thực tế và độ an toàn cao, phù hợp xu thế canh tác sạch, hướng tới xuất khẩu bền vững.

Song song đó, Sitto Việt Nam tăng cường ứng dụng công nghệ chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, quản lý thông minh, hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Tăng tốc trong 05 tháng cuối năm – Định hướng bền vững, đồng hành cùng nông dân

Bước vào những tháng cuối năm 2025, Sitto Việt Nam tập

trung vào ba trụ cột chiến lược: Mở rộng thị phần: Đẩy mạnh hoạt động thị trường tại các tỉnh miền Tây và miền Bắc, đồng thời xúc tiến xuất khẩu sản phẩm sang các nước trong khu vực. Nâng cấp dịch vụ kỹ thuật và truyền thông số: Tăng cường đội ngũ nhân sự số, triển khai chuỗi nội dung kỹ thuật trên nền tảng số, chia sẻ giải pháp phòng bệnh, chăm sóc cây trồng, thủy sản trong mùa mưa bão.

Đầu tư R&D và phát triển sản phẩm xanh: Phối hợp cùng với tập đoàn Sitto Thái Lan, các viện nghiên cứu trong nước, nghiên cứu sản phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe như: không cadimi, không kháng sinh, không tồn dư hóa chất.

Khẳng định vai trò thương hiệu – Đồng hành lâu dài cùng nhà nông Việt

Sitto không đơn thuần là nhà cung cấp sản phẩm, mà là đối tác phát triển toàn diện, đồng hành cùng nông dân từ khâu cải tạo đất, xử lý nước, đến tăng đề kháng cây trồng, vật nuôi, mang lại năng suất và giá trị kinh tế toàn diện cho nhà nông. Bằng tinh thần trách nhiệm, sự cam kết và thích ứng, Sitto Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc trên hành trình nông nghiệp bền vững, vì một Việt Nam xanh, sạch và giàu mạnh. Công ty TNHH Sitto Việt Nam Phòng Marketing

Xác

Dalacyst

Đồng hành cùng sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản Việt

Nam

với sản phẩm trứng

Artemia giàu dưỡng chất

Khi ngành nuôi trồng

thủy sản Việt Nam

tiếp tục duy trì đà tăng

trưởng ấn tượng, nhu

cầu về các giải pháp dinh

dưỡng chất lượng cao,

bền vững và hiệu quả

kinh tế trở nên cấp thiết

hơn bao giờ hết. Trong

bối cảnh giá đầu vào leo

thang và yêu cầu quản

lý tài nguyên ngày càng

khắt khe, dinh dưỡng

tiên tiến và nguyên liệu

thức ăn đổi mới đang

dần trở thành trọng tâm.

Trứng Artemia cao cấp của

Dalacyst chính là một giải pháp

nổi bật – mang đến nguồn dưỡng

chất thiết yếu giúp vật nuôi phát

triển khỏe mạnh, đồng thời thúc

đẩy mô hình nuôi bền vững trong dài hạn.

Artemia – “thức ăn sống vàng” cho ấu trùng thủy sản

Trứng Artemia, thường được gọi là trứng tôm nước mặn, từ lâu đã được xem là thức ăn sống

lý tưởng cho giai đoạn ấu trùng của tôm, cá và các loài giáp xác.

Nhờ giá trị dinh dưỡng cao và dễ sử dụng, Artemia là nguyên liệu

không thể thiếu trong các trại

giống trên toàn thế giới.

Dalacyst tự hào cung cấp nguồn trứng Artemia vượt trội về chất lượng – được sản xuất qua

quy trình nghiêm ngặt, đảm bảo giá trị dinh dưỡng tối ưu và khả năng nở đồng đều.

Ưu điểm dinh dưỡng vượt trội

của trứng Artemia Dalacyst:

- Hàm lượng protein cao (5060%): Giúp tăng trưởng nhanh và phát triển khối cơ ở ấu trùng.

- Giàu chất béo và axit amin

thiết yếu: Cung cấp năng lượng tập trung và nền tảng phát triển toàn diện.

- Bổ sung vitamin và vi khoáng:

Hỗ trợ hệ miễn dịch và tăng cường sức sống.

- Kích thích bản năng săn mồi

tự nhiên: Nauplius màu cam sống động sau khi nở kích thích

hành vi bắt mồi, giúp ấu trùng ăn mạnh và hấp thụ tốt.

- Nở đồng đều trong 24 - 48 giờ:

Đảm bảo nguồn thức ăn tươi sống

ổn định, dễ quản lý cho người nuôi.

Hướng tới mô hình nuôi trồng

thủy sản bền vững

Ngành thủy sản Việt Nam

đang tích cực tìm kiếm các giải

pháp giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu tác động môi trường. Với nguồn nguyên liệu được khai thác bền vững từ các hồ muối nội địa tại Kazakhstan, Dalacyst cam kết mang đến chuỗi cung ứng thân thiện với môi trường. Việc sử dụng trứng Artemia chất lượng cao không chỉ cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn, giảm lãng phí mà còn giúp nâng cao năng suất tổng thể tại trang trại. Ấu trùng khỏe mạnh, được nuôi bằng dinh dưỡng đầy đủ, có sức đề kháng tốt hơn, ít phụ thuộc vào các biện pháp can thiệp khác – góp phần xây dựng hệ thống nuôi ổn định và hiệu quả hơn.

Dalacyst tự hào đồng hành cùng tầm nhìn của Việt Nam về một ngành thủy sản hiện đại, hiệu quả và bền vững. Trứng Artemia của chúng tôi không đơn thuần là một loại thức ăn –mà là khoản đầu tư chiến lược cho sức khỏe và lợi nhuận lâu dài của đàn nuôi.

 Liên hệ hợp tác: WhatsApp: +7 776 377 3000 Email: office.dalacyst@gmail. com

Dinh dưỡng

Nhân

tố cốt lõi cho nuôi thủy sản bền

vững

Trong xu hướng phát triển NTTS theo hướng thâm

canh, dinh dưỡng ngày càng được coi là yếu tố then chốt quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm và sức khỏe vật nuôi. Việc bổ sung đúng và đủ các vi chất thiết yếu không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển dài hạn của mô hình nuôi.

Theo các chuyên gia, vitamin, axit amin, khoáng chất và enzyme là những hợp chất không thể thiếu trong khẩu phần ăn, bởi thủy sản không thể tự tổng hợp hoặc tổng hợp không đủ để đáp ứng nhu cầu sinh lý. Nhận thức rõ điều này, nhiều doanh nghiệp đã chủ động phát triển các dòng sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt, giúp giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn trong ao nuôi.

Một trong những sản phẩm nổi bật hiện nay là PROLOT AQUA – chế phẩm vi sinh thế hệ mới, được đánh giá là giải pháp vàng trong quản lý ao nuôi. Với công thức cải tiến, Prolot Aqua có khả năng thích nghi cao với những ao nuôi có độ pH, độ mặn và độ kiềm

biến động lớn – những yếu tố ngày càng phổ biến trong bối cảnh biến

đổi khí hậu. Sản phẩm giúp ổn

định hệ vi sinh, ức chế vi khuẩn có hại như Vibrio, giảm tích tụ bùn đáy – nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm và phát sinh dịch bệnh. Đặc biệt, các chủng vi sinh trong Prolot

Aqua không mang gen biến đổi, đảm bảo an toàn sinh học, không

gây bệnh ngược lại cho vật nuôi và hiệu quả rõ rệt trong việc kiểm

soát Luminous Bacteria – tác nhân

gây bệnh phát sáng trên tôm.

Bên cạnh đó, dòng sản phẩm

AQUA GP là lựa chọn tối ưu cho các mô hình nuôi thâm canh, nhờ sự kết hợp cân đối giữa khoáng chất đa lượng, vi lượng, vitamin, axit amin và probiotics. AQUA GP

giúp tăng trọng nhanh, nâng cao chất lượng thịt, cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), đồng thời tăng cường khả năng hấp thu canxi – photpho và sức đề kháng cho vật nuôi.

Đối phó với stress – mối nguy thường gặp trong các giai đoạn nhạy cảm như giao mùa, thu hoạch hay thay đổi môi trường – cũng là một phần quan trọng trong chiến lược dinh dưỡng. VITON được phát triển để hỗ trợ kiểm soát stress bằng cách cân bằng ion, tăng cường miễn dịch và giảm shock. Sản phẩm chứa kali clorua và natri – hai thành phần đóng vai trò then chốt trong điều hòa áp suất thẩm thấu và trao đổi chất.

Tương tự, LEX AQUA C mang

lại giải pháp chủ động trong việc

phòng ngừa stress và các bệnh tiềm ẩn. Sản phẩm hỗ trợ duy trì

chu kỳ lột xác ổn định, cải thiện

tốc độ tăng trưởng, nâng cao sức

khỏe tổng thể và chất lượng thịt –đặc biệt phù hợp với các mô hình

nuôi ở mật độ cao.

Không dừng lại ở đó, bảo vệ

chức năng gan – cơ quan chuyển hóa quan trọng nhất – cũng là yếu tố được chú trọng. OPTILIV, với thành phần chiết xuất từ thảo dược tự nhiên, mang đến hiệu quả rõ rệt trong việc kích thích, bảo vệ và tái tạo gan. Đây là hướng đi phù hợp với nhu cầu ngày càng cao về

sản phẩm thủy sản an toàn, sạch

và không dư lượng kháng sinh.

Trong khi đó, LIQUI-ZYME

Aqua – dòng enzyme tiêu hóa

chuyên biệt – hỗ trợ chuyển hóa

các dưỡng chất khó hấp thu, vô

hiệu hóa yếu tố kháng dinh dưỡng và tăng cường hiệu suất tiêu hóa nguyên liệu có nguồn gốc thực vật. Nhờ đó, vật nuôi tăng trưởng nhanh hơn và người nuôi giảm được chi phí thức ăn – một trong những khoản chi lớn nhất trong nuôi trồng thủy sản. Nhìn chung, các sản phẩm dinh dưỡng thế hệ mới không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn thể hiện xu hướng tiếp cận nuôi trồng thủy sản hiện đại – chính xác – bền vững. Sự kết hợp giữa dinh dưỡng khoa học, quản lý môi trường ao nuôi và kiểm soát sức khỏe vật nuôi sẽ là chìa khóa để nâng cao giá trị và năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Seven Hills Trading được thành lập vào năm 2017, có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh, là nhà phân phối uy tín các sản phẩm ngũ cốc, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, sản phẩm thủy

uy tín trong khu vực.

Seven Hills

bọt khó tan trong ao tôm

Màng bọt xuất hiện và lâu tan trên mặt ao nuôi tôm là dấu hiệu cảnh báo môi

trường nước đang xấu đi. Hiện tượng này thường liên quan đến độ nhớt cao,

nước chứa nhiều chất lơ lửng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tăng trưởng

của tôm, thậm chí có thể gây thiệt hại nếu không được xử lý kịp thời.

Nguyên nhân

Tảo nở hoa: trong điều kiện thuận lợi (dư thừa chất hữu cơ, mất cân bằng dinh dưỡng Nitơ và Phospho), các loài tảo độc như tảo lam, tảo giáp, tảo mắt, tảo đỏ… phát triển mạnh, tảo nở hoa, sẽ sản sinh ra nhiều chất độc gây nhớt nước ao, tạo váng bọt khó tan.

Tảo chết (sụp tảo): nếu pH nước không ổn định, độ kiềm thấp hoặc diệt tảo không đúng cách sẽ làm tảo chết đồng loạt, gây ô nhiễm nước ao nuôi tạo váng bọt khó tan. Trong quá trình phân hủy yếm khí lớp bùn bã hữu cơ từ đáy ao nuôi đã làm sản sinh các khí độc như H2S, CH4, NH3, NO2… Các khí sản sinh sẽ kết hợp lượng ôxy hòa tan trong nước để chuyển hóa thành dạng ít độc hơn và  sẽ nhanh chóng phóng thích khỏi môi trường. Khi lượng chất thải hữu cơ tích tụ đáy ao nhiều, quá trình phân giải yếm khí xảy ra mạnh, khí độc sẽ gia tăng hình thành váng bọt trong ao. Nước ao nuôi có pH cao và nhiệt độ cao khả năng gây độc cho tôm càng gia tăng.

Sự phát triển của các vi sinh

vật dạng sợi khi xảy ra sự mất cân bằng dinh dưỡng. Các vi sinh vật này có khả năng sinh ra các hợp chất kỵ nước kết nối với bọt khí tạo váng bọt, đồng thời, khi chết đi, các vi sinh vật này

sẽ phóng thích các chất bề mặt sinh học gây nhớt nước, sự hình thành váng bọt càng gia tăng.

Chất rắn lơ lửng làm nước bị

PROCOZOLL

Một dạng tổng hợp của 5 loại enzyme: Protease, Amylase, Cellulase, Lipase, Urease, giúp khống chế tảo độc và bùn bã hữu cơ.

Xử lý sạch váng bọt chỉ sau 12h sử dụng

nhớt, bị đục, lợn cợn dẫn đến sự

hình thành váng bọt, có 2 nguyên

nhân chính:

Nguyên nhân từ tự nhiên:

- Đất trên bờ ao bị rửa trôi vào mùa mưa; Các hạt keo đất sét lơ

lửng không lắng tụ (vô cơ); Sự

hoạt động mạnh mẽ của động vật

thủy sản, vi sinh vật cũng có thể làm đục nước ao nuôi, đặc biệt là

những ao nuôi mật độ cao.

Nguyên nhân từ con người:

- Sử dụng vôi kếm chất lượng, nhiều tạp chất để khử chua, tăng

độ kiềm; Ao nông hoặc sên vét ao không kỹ cũng làm nước bị đục; Lượng thức ăn dư thừa và chất thải tôm nhiều nhưng không được xử lý.

Tác hại

Là điều kiện thuận lợi để lây

truyền các bệnh trên tôm

AQ 6S

Vi sinh chuyên xử lý tảo, chất hữu cơ dư thừa và bùn đáy ao nuôi, với các loài vi khuẩn như

B. subtilis, B.amyloliquefaciens, B.pumilus,…, Xử lý nhớt bạt và bọt dơ nhanh chóng

Tôm thiếu ôxy để hô hấp

Tôm ăn kém, giảm ăn và bỏ ăn hoàng loạt

Tôm còi cọc, chậm lớn, dễ nhiễm bệnh, giảm năng suất

Trong điều kiện nước đục, tôm giảm ăn, hạn chế sự phát triển các loài tảo có lợi, giảm ôxy hòa tan, cản trở hô hấp.

Cách xử lý

Ổn định mật độ tảo trong ao bằng cách duy trì các chỉ tiêu pH, độ kiềm ổn định.

Quản lý chặt chẽ việc cho ăn, giảm lượng thức ăn dư thừa. Loại bỏ chất thải bùn đáy ra khỏi ao bằng cách thay nước, hút bùn và xi phông đáy ao. Gia cố kỹ bờ ao, ao nuôi phải có độ sâu phù hợp

hợp nước đục, cần xác định nước đục vô cơ hay hữu cơ để có cách xử lý thích hợp, bằng cách lấy 1 lượng nước thích hợp cho vào xô hoặc bình thủy sinh, để yên sau 1 tuần, nếu nước vẫn đục thì là

nguyên nhân là do chất hữu cơ. Sử dụng chế phẩm sinh học: Chế phẩm vi sinh: các chủng vi khuẩn có lợi Bacillus spp. có khả năng phân hủy bùn đáy và chất hữu cơ dư thừa trong nước. Giải pháp từ Thái Nam Việt Hiện tượng váng bọt ảnh hưởng rất lớn đến vụ nuôi, do đó, cần xử lý kịp thời và kiểm soát tốt các yếu tố gây ra hiện tượng này. Chế phẩm Enzyme đậm đặc với hoạt lực mạnh sẽ xử lý váng bọt cũng như chất hữu cơ dư thừa chỉ sau 12h sử dụng, việc bổ sung chế phẩm vi sinh sau đó sẽ duy trì hiệu quả kiểm soát chất lượng nước trong suốt quá trình nuôi, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao năng suất.

Thái Nam Việt

dụng Beta-Glucan và Manan

Oligosaccharides

trong nuôi tôm

Sức đề kháng kém hay

môi trường suy thoái là

những nguyên nhân khiến

dịch bệnh trên tôm diễn

biến ngày càng phức

tạp. Do đó, các nhà khoa

học đã không ngừng tìm

kiếm những chất bổ sung

để nâng cao hệ miễn

dịch cho tôm. Trong đó, Beta-Glucan và Mannan

Oligosaccharides là giải

pháp được nhiều người

lựa chọn nhờ mang lại

hiệu quả cao.

Sản

việc đào thải và loại bỏ sinh vật lạ

gây hại cho tôm. Đặc biệt là các

loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng

gây bệnh.

Chất kích thích miễn dịch là

những hợp chất tự nhiên hỗ trợ

việc củng cố hệ thống miễn dịch

của sinh vật chủ, giúp ngăn chặn

sự xâm nhập của vi khuẩn hoặc

ký sinh trùng. Các chất này có

sản phẩm BIO-ACTIVIT FOR SHRIMP với thành phần chính là Beta-Glucan và Mannan Oligosaccharides ở dưới dạng dung dịch.

xuất ra melanin sẽ bao phủ và tiêu diệt tế bào vi khuẩn, sau đó phóng thích ra ngoài lớp vỏ kitin. Trong quá trình thực bào, các gốc ôxy nguyên tử, gốc hydroxyl và hydrogen peroxide cũng được sinh ra, đây là những chất ôxy hóa mạnh có vai trò tiêu diệt vi khuẩn.

Công dụng của Mannan

Oligosaccharides: Mannan

Oligosaccharides được trích ly từ vách tế bào nấm men

Củng cố hệ miễn dịch

Hệ miễn dịch (Immune System) là một hệ thống bao gồm các tế bào, mô và cơ quan trong cơ thể đóng vai trò bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng và các kháng nguyên lạ gây bệnh từ bên ngoài.

Hệ thống miễn dịch của tôm là một hệ thống tự nhiên, không đặc hiệu, tức là bất kỳ tác nhân lạ nào cũng được phản ứng lại y như nhau và không có khả năng ghi nhớ. Bao gồm miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể, cả hai

cơ chế cùng giúp đỡ nhau trong

thể được áp dụng cho vật chủ

thông qua cả đường cho ăn và

đường tiêm.

Để đảm bảo sức khỏe nội tại

của tôm, người nuôi cần áp dụng

các biện pháp hỗ trợ nhằm kích

thích các phản ứng miễn dịch.

Điều này đặt ra yêu cầu sử dụng

các hợp chất bổ sung, giúp tôm

phát triển khả năng tự bảo vệ

mình chống lại các mầm bệnh mà

không phải sử dụng thuốc kháng sinh để phòng và điều trị bệnh.

Ngăn ngừa bệnh hiệu quả

Công ty liên doanh BioPharmachemie xin giới thiệu

Công dụng của Beta-Glucan (β-Glucan): Là chất bổ sung sinh học giúp tăng cường miễn dịch tự nhiên của con tôm, ngăn ngừa sự xâm nhập mầm bệnh từ bên ngoài như vi khuẩn, virus.

Cơ chế tác động của BetaGlucan lên hệ miễn dịch của tôm:

Đối với miễn dịch dịch thể:

Beta-Glucan kích thích quá trình sản sinh các peptid kháng khuẩn AMPs (antimicrobial peptides) như là crustin, lectin, lysozyme,...) từ đó làm tăng khả năng kháng khuẩn.

Đối với miễn dịch tế bào: Beta-Glucan kích thích quá trình melanin hóa (melamization) và gia tăng quá trình thực bào (phagocytosis). Các bạch cầu có hạt (granular leucocyte) sản

Saccharomyces cerevisiae. Các nghiên cứu chứng minh được rằng Mannan Oligosaccharides có ảnh hưởng tích cực đến tình trạng sức khỏe đường ruột, giúp phòng vệ và ngăn vi khuẩn làm hại đường ruột của tôm. Ngoài ra, Beta-Glucan và Mannan Oligosaccharides còn giúp tăng cường quá trình hô hấp, kích thích tiêu hóa, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn. Tóm lại, sản phẩm BIOACTIVIT FOR SHRIMP là sản phẩm sinh học giúp ngừa bệnh hiệu quả cho tôm, tôm ăn nhiều và mau lớn.

Liều dùng: Có thể sử dụng cho tôm giống và tôm nuôi thương phẩm.

- Tôm giống: Tùy từng giai đoạn có thể cho ăn trực tiếp hoặc trộn thức ăn.

- Tôm thương phẩm: 7 ml/kg thức ăn.

Sản phẩm giúp tôm tăng sức đề kháng sau 7 - 10 ngày sử dụng.

Đặng Hồng Đức

Cố vấn kỹ thuật Công ty liên doanh Bio-Pharmachemie

phẩm BIO ACTIVIT for shrimp trên ao tôm

HỎI - ĐÁP

 Hỏi: Cá tra có dấu hiệu bỏ

ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước, vây đuôi bị xuất huyết, đã chết nhiều con. Hỏi nguyên nhân và biện pháp khắc phục?

(Phan Đức Mạnh, tỉnh An Giang)

Trả lời:

Theo mô tả, có thể cá tra đã bị bệnh gan thận mủ. Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Edwardsiella tarda, E. Ictaluri Edwardisella là vi khuẩn gram âm, hình que mảnh, kích thước 1 x 2 - 3 mm, không sinh bào tử, chuyển động nhờ vành tiêm mao. Bệnh thường xuất hiện vào thời điểm giao mùa, nắng mưa xen kẽ. Bệnh do vi khuẩn gây ra nên có thể điều trị bằng kháng sinh. Sử dụng Florphenicol hoặc Doxycycline liều lượng 3 - 5 g/100 kg cá/ngày, cho ăn liên tục trong 7 ngày. Có thể bổ sung thêm Vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho cá với liều lượng 2 - 3 g/100 kg cá/ngày, cho ăn liên tục trong 5 ngày. Thuốc được trộn vào thức ăn viên có bao bọc bằng chất kết dính.

Để phòng bệnh, cần chọn con giống khỏe mạnh, không nhiễm bệnh; Sát trùng các dụng cụ như lưới, vợt, sọt, ống dây bằng

Chlorine 10 - 15 g/m3 trong 30 phút, rửa nước sạch và phơi khô sau khi sử dụng. Cá chết được vớt ra khỏi ao càng sớm càng tốt. Không vứt cá chết bừa bãi ra sông, trên mặt đất, cần được chôn vào hố cách ly có rải vôi bột để tiệt trùng. Vào mùa dịch

bệnh không nên cho cá ăn cá

tạp tươi sống. Thức ăn cần

được nấu chín hoặc sử dụng

thức ăn viên. Cùng với đó, quản

lý tốt chất lượng nước ao nuôi,

đảm bảo các yếu tố nằm trong

ngưỡng phát triển của cá.

 Hỏi: Tại sao cần bẻ càng

tôm càng xanh đực? Xin tư vấn

kỹ thuật bẻ càng hiệu quả?

(Nguyễn Nam Thắng, tỉnh

Vĩnh Long)

Trả lời:

Tôm càng xanh đực thường

lớn nhanh hơn tôm cái và có giá

trị kinh tế cao hơn. Tuy nhiên, tôm càng xanh đực cũng có xu hướng hung dữ hơn, thường cắn nhau để giành thức ăn và

lãnh thổ. Điều này có thể dẫn

đến hao hụt do ăn thịt lẫn nhau,

đặc biệt là trong những ngày lột

xác. Do đó, việc bẻ càng tôm

càng xanh đực là một biện pháp

kỹ thuật được áp dụng để hạn

chế tình trạng ăn thịt lẫn nhau,

giúp tôm sinh trưởng và phát

triển tốt hơn, tăng kích cỡ và cải

thiện màu sắc khi thu hoạch.

Thời điểm bẻ càng tôm càng

xanh đực thường là khi tôm đạt

kích thước từ 2,5 - 3 cm. Vị trí

bẻ càng nên ở khớp gần cơ thể

để tạo điều kiện cho tôm tự bỏ

càng một cách tự nhiên. Sau khi bẻ càng, cần chăm sóc tôm cẩn thận để tránh nhiễm trùng.

Cách bẻ càng như sau: Dùng

lưới kéo tôm lên khỏi mặt nước.

Để tôm nằm ở tư thế ngửa. Kéo mạnh đôi càng về phía đuôi

tôm. Sau khi càng tôm được

bẻ xong thì tiến hành thả tôm

xuống ao tiếp tục nuôi. Khi bẻ càng xong, tôm sẽ bắt đầu lột xác trong khoảng 1 - 2 tuần. Trong thời gian này, tôm cần

được chăm sóc cẩn thận, đảm

bảo đủ thức ăn, ôxy và môi

trường nước sạch. Sau khi tôm

lột xác, càng tôm mới sẽ mọc ra trong khoảng 3 - 4 tháng.

Khi bẻ càng tôm, cần cắt càng ở vị trí khớp gần cơ thể để

tôm có thể tự bỏ càng một cách

tự nhiên. Không nên cắt càng

tôm ở vị trí khớp xa cơ thể, vì có thể làm đứt gân cơ, khiến tôm

bị thương và khó phục hồi. Nên bẻ càng tôm vào lúc sáng sớm

hoặc chiều mát để tôm có thời gian phục hồi sức khỏe.

 Hỏi: Có những loại thức ăn nào cho tôm thẻ chân trắng?

(Trần Thanh Hải, tỉnh Cà Mau)

Trả lời:

Thức ăn là một trong những yếu tố quan trọng cần lưu ý trong quá trình nuôi tôm, so với các nhu cầu khác của ao thì chi phí thức ăn chiếm 40 - 70% chi phí sản xuất. Hiện, có 3 loại thức ăn cho tôm được sử dụng phổ biến nhất.

Thức ăn tự nhiên: Là loại thức ăn có nguồn gốc tự nhiên, có sẵn trong ao nuôi, không qua chế biến trước. Thức ăn tự nhiên này có thể là các phiêu sinh vật (thực vật và động vật phù du), mùn bã hữu cơ, các thực vật,… đã được chuẩn bị trước đó trong

quá trình cải tạo ao nuôi. Các loại hình nuôi tôm truyền thống thường dựa vào loại thức ăn tự nhiên này. Trong khi đó, ở các trang trại bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh, thức ăn tự nhiên thường được sử dụng như một dạng thức ăn bổ sung. Thức ăn công nghiệp: Được sản xuất và cung cấp bởi các nhà sản xuất thức ăn. Việc sử dụng các loại thức ăn công nghiệp cho tôm cần phải xem xét đến giá trị dinh dưỡng, hiệu quả của việc hấp thụ và khả năng giúp cho tôm tăng trưởng. Do đó, một loại thức ăn cho tôm được xem là tốt cần phải bao gồm các yếu tố sau: Giá trị dinh dưỡng; Nguyên liệu không có độc và được nghiền nhuyễn để tôm có thể hấp thụ và tiêu hóa tốt hơn; Có mùi thơm để hấp dẫn tôm ăn theo quy định (2 giờ); Khả năng bền trong nước tốt để thức ăn không bị hư, các chất vitamin và khoáng không bị thất thoát ra bên ngoài và đặc biệt không làm ô nhiễm môi trường nước, đáy ao bị bẩn; Dây chuyền sản xuất thức ăn công nghiệp cho tôm phải hiện đại, và có khả năng chế biến được nhiều kích cỡ thức ăn khác nhau: thức ăn dạng viên nhỏ hoặc lớn để phù hợp với tôm nuôi,…

Thức ăn tự chế: Được sản xuất từ nguồn nguyên liệu sẵn có như ốc, cá tạp, phụ phẩm nông nghiệp.

Hưng Yên

Khởi nghiệp từ nuôi trồng

thủy sản

Anh Nguyễn Xuân Sứ, xã Thái Ninh, tỉnh Hưng

Yên, là một thanh niên tiêu biểu tạo dựng

thành công tại chính quê hương với mô hình

nuôi tôm theo hướng công nghệ cao có hợp tác, liên kết.

công nghệ cao và năm 2016. Theo đó, ao nuôi được thiết kế, bố trí nổi trên lưng chừng mặt

ruộng với đầy đủ hệ thống cống

cấp, thoát nước, quạt cung cấp ôxy cho tôm,...

Anh Sứ chia sẻ: “Nuôi trồng

thủy sản nói chung, nuôi tôm nói riêng là nghề truyền thống của các xã ven biển. Tuy nhiên,

hình thức nuôi quảng canh tiềm

ẩn nhiều rủi ro do khó kiểm soát

dịch bệnh, sản lượng thấp và tốn nhiều nhân công. Khi bắt tay vào nuôi tôm công nghệ cao, tôi gần

như phải học lại từ kỹ thuật nuôi

tôm, cách quản lý ao, công thức

chế độ dinh dưỡng đến cách

nuôi từ 4 - 5 vụ, sản lượng đạt 1015 tấn/ha/vụ, mang lại lợi nhuận khoảng 400 - 500 triệu đồng. Hiện, anh Sứ đang tạo việc làm cho 5 - 10 lao động địa phương.

Liên kết cùng phát triển

Gian nan không nản chí

Xác định nuôi trồng thủy sản là mũi nhọn trong phát triển kinh tế, thời gian qua, xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, từ đầu tư hạ tầng kỹ thuật đến khuyến khích người dân chuyển đổi mô hình, ứng dụng công nghệ cao.

Là một trong những hộ tiên phong, anh Nguyễn Xuân Sứ mạnh dạn đầu tư 5 ha nuôi tôm

phòng bệnh cho tôm. Mặc dù đã

không ít lần thất bại, mất ăn mất

ngủ vì thua lỗ nhưng tôi không

cho phép mình bỏ cuộc, bởi tôi tin, nếu kiên trì và làm đúng

hướng chắc chắn sẽ thành công.

Sau nhiều năm nỗ lực, mô hình nuôi tôm công nghệ cao của tôi

đã đem lại thu nhập ổn định”.

Đến nay, mô hình nuôi tôm

công nghệ cao của anh Sứ có diện tích 2 ha với 9 ao nuôi tôm.

Trung bình mỗi năm gia đình anh

Được biết, không chỉ phát triển kinh tế, anh Sứ còn thành lập Hợp tác xã (HTX) Thanh niên nuôi trồng thủy sản và Dịch vụ thương mại Tiến Đạt vào năm 2021, với 7 thành viên tham gia, duy trì 31 ngành nghề. HTX đã tích cực hỗ trợ các thành viên trong chuyển giao khoa học kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm, liên kết giúp nhau phát triển mô hình kinh tế, tiêu thụ, quảng bá sản phẩm.

Ngay từ khi thành lập, HTX cử thành viên đi tập huấn, nắm vững

quy trình nuôi tôm công nghệ cao. Về kỹ thuật nuôi, các thành viên HTX đều được trang bị kiến thức về cách chọn giống và thả giống, thức ăn và chế độ cho ăn, quy trình chăm sóc và quản lý ao nuôi. Việc tuân thủ đúng kỹ thuật nuôi giúp diện tích nuôi tôm của các xã viên HTX bảo đảm năng suất, hiệu quả kinh tế, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường. Anh Giang Văn Triệu, thành viên HTX cho biết: “Năm 2024, tham gia vào HTX đã giúp tôi thay đổi tư duy về nuôi trồng thủy sản. Từ diện tích 2.000 m2 nuôi tôm quảng canh, tôi đã chuyển sang theo mô hình công nghệ cao. Thời gian đầu, tôi đã được các thành viên trong HTX hỗ trợ, cùng nhau trao đổi về kỹ thuật nuôi, các giải pháp phòng, chống dịch bệnh. Từ 1 vụ mỗi năm ở hình thức nuôi tôm quảng canh, đến nay, với mô hình nuôi tôm công nghệ cao, tôi có thể luân canh 3 - 4 vụ/năm. Đặc biệt, từ chỗ phụ thuộc hoàn toàn bởi thời tiết, thì nay bằng phương pháp nuôi tôm công nghệ cao, tôm nuôi có thể sinh trưởng bình thường và được an toàn ngay cả trong mùa đông, cũng như cao điểm nắng nóng”. Được biết, tham gia HTX, thành viên phải thực hiện đúng quy trình sản xuất thời vụ, bảo đảm con tôm sản xuất ra sạch. Mỗi năm diện tích nuôi tôm của các thành viên HTX cung ứng ra thị trường trên 100 tấn TTCT.

Thanh Hiếu

Nhật Bản

Nuôi

biển

thông minh từ dữ liệu

vệ tinh

Công nghệ vệ tinh đang mở ra kỷ nguyên mới

cho nuôi biển, giúp giám

sát môi trường, tối ưu

vận hành và hướng tới

mô hình thủy sản bền vững toàn cầu.

Nền tảng dữ liệu biển từ vũ trụ

Dữ liệu vệ tinh đang trở thành công cụ đột phá giúp định hình lại ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững và hiệu quả hơn. Umitron, hãng công nghệ có trụ sở tại Nhật Bản, là một trong những đơn vị tiên phong khai thác tiềm năng này. Theo ông Ken Fujiwara, đồng sáng lập kiêm Giám đốc điều hành Umitron, công nghệ vệ tinh không chỉ hỗ trợ giám sát hiện tại mà còn là chìa khóa kết nối ngành nuôi biển với vũ trụ trong tương lai. Xuất thân là kỹ sư hàng không vũ trụ từng tham gia phát triển vệ tinh quan sát Trái đất, ông Fujiwara nhận ra đại dương chiếm phần lớn diện tích hành tinh nhưng chưa được khai thác hiệu quả về mặt dữ liệu. Khát vọng bảo tồn biển và phát triển lương thực bền vững đã thôi thúc ông thành lập Umitron, với sứ mệnh xây dựng mô hình nuôi biển bền vững cho Trái đất. Trong bối cảnh ngành nuôi biển đối mặt với nhiều rủi ro từ

môi trường, dịch bệnh đến biến

động thị trường, dữ liệu vệ tinh,

đặc biệt là công nghệ viễn thám

cho phép theo dõi đại dương

một cách chính xác và liên tục.

Điều này giúp người nuôi dự báo

tốt hơn, tối ưu hóa sản lượng, lao

động và chi phí.

Tại Ehime (Nhật Bản), Umitron

đã triển khai phao đo dữ liệu môi

trường biển kết hợp nền tảng

PULSE, giúp người nuôi truy

cập thông tin thời gian thực để

điều chỉnh quy trình cho ăn, xử lý bệnh, ứng phó thời tiết và bảo vệ tài sản. Phiên bản nâng cao của PULSE còn tích hợp AI và dữ liệu vệ tinh 30 năm, phục vụ các mục tiêu quy hoạch không gian nuôi, đánh giá rủi ro và lập bản

đồ “carbon xanh” – nền tảng cho một ngành nuôi biển hiện đại, an toàn và gắn kết chặt chẽ với hành tinh xanh.

Dữ liệu vệ tinh đóng vai trò then chốt trong toàn bộ chuỗi giá

địa phương, tăng độ chính xác và khả năng ứng dụng thực tiễn.

Triển vọng nuôi biển bền vững Ngành hàng không vũ trụ đang chuyển từ mô hình sử dụng vệ tinh đơn lẻ cỡ lớn sang triển khai các chùm vệ tinh nhỏ hoạt động đồng thời. Xu hướng này mở ra bước ngoặt trong quan sát đại dương, với khả năng cập nhật dữ liệu thường xuyên và cung cấp kết nối internet tốc độ cao ngay cả

quản lý vận hành. Ngay từ khâu

đầu tiên, thông tin từ vệ tinh hỗ

trợ lập bản đồ bờ biển và phân

tích điều kiện tự nhiên, giúp xác

định vị trí nuôi phù hợp.

Sau khi chọn địa điểm, dữ liệu môi trường và khí hậu trong nhiều thập kỷ được phân tích để

đánh giá khả năng thích nghi

của loài nuôi, lựa chọn thiết bị

phù hợp và đảm bảo an toàn vận hành. Trong quá trình nuôi, dữ liệu thời gian thực và dự báo các yếu tố như nhiệt độ nước, ôxy hòa tan, mật độ tảo... giúp

điều chỉnh lượng thức ăn tối ưu

và giảm thiểu rủi ro.

Umitron cũng hợp tác với chính quyền và các viện nghiên cứu nhằm tích hợp thêm dữ liệu

chính xác, dễ dự đoán và có thể lặp lại. Ông Ken Fujiwara nhận định rằng, với dự báo môi trường biển ngày càng chính xác và mạng lưới kết nối toàn cầu, hoạt động nuôi trồng ở những vùng xa xôi từng bị xem là bất khả thi sẽ trở nên khả thi và hiệu quả. Ông chia sẻ: “Dù nhân loại có thể mở rộng sự sống ra ngoài vũ trụ, tôi tin rằng phần lớn trong số 10 tỷ người vẫn sẽ sống trên Trái đất. Umitron hướng tới cung cấp đủ thực phẩm cho dân số ngày càng tăng, đồng thời bảo vệ đại dương thông qua mô hình nuôi biển bền vững.” Trong “con tàu không gian Trái đất”, việc thấu hiểu và ứng phó kịp thời với các biến động toàn cầu là điều sống còn. Công nghệ vệ tinh chính là chìa khóa, giúp cung cấp dữ liệu đại dương theo thời gian thực, hỗ trợ hành động kịp thời và hiệu quả trên quy mô toàn cầu.

Một trong những giải pháp nổi bật của Umitron là nền tảng trực tuyến PULSE, tích hợp dữ liệu từ hơn 30 nguồn vệ tinh và phao cảm biến toàn cầu. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hệ thống này cung cấp phân tích hằng ngày về 7 thông số môi trường đại dương cốt lõi.

Kỹ thuật nuôi cá chình thương phẩm trong ao đất

Nuôi cá chình trong ao đất là một phương pháp

hiệu quả để tận dụng diện tích mặt nước sẵn có,

mang lại giá trị kinh tế cao. Để thành

công, cần chú trọng đến

việc chuẩn bị ao, chọn giống, chăm

sóc và quản lý ao

nuôi, cũng như phòng bệnh cho cá.

Ảnh: Gia Bách

Yêu cầu ao nuôi Để xây dựng được ao nuôi cá

chình phù hợp, cần phải tuân thủ

những tiêu chí sau đây:

- Ao nuôi nên chọn ở vùng có nguồn nước trong sạch, dồi dào.

Nguồn nước ngọt sạch, không bị nhiễm bẩn do chất thải của các ngành sản xuất và sinh hoạt.

Đảm bảo lượng nước cung cấp

cho ao nuôi kể cả trong mùa khô

hạn. Tốt nhất là nước sông

hoặc suối.

- Hình dạng ao phổ biến

hiện nay là hình tròn, vuông

và chữ nhật. Thông thường, ao nuôi cá chình có diện tích khoảng

1.500 - 1.200 m2.

- Bờ ao chắc chắn, giữ được mực nước trong ao ổn định. Bờ ao cao hơn mặt nước lúc cao nhất 60 cm trở lên, trơn

để tránh xây xát, trên đỉnh

bờ cần có gờ nhỏ vào trong

5 - 6 cm, xây gạch hoặc có

gờ lưới không cho cá vượt ra khỏi ao.

- Ao có độ sâu từ đáy đến mặt nước từ 1,5 - 1,8 m. Đáy ao là cát hoặc cát bùn, bờ và đáy ao không thẩm lậu, rò rỉ, tháo và lấy nước thuận tiện, gần nguồn điện để chạy máy sục khí hoặc chế biến thức ăn cho cá.

- Mỗi ao cần có hai cống cấp nước và thoát nước. Cống có thể làm bằng gỗ, bê tông hay xây bằng gạch nhựa tròn. Cống cấp cách mặt nước 60 - 80 cm và hướng vào phía trong 30 - 40 cm để nước chảy góp phần tăng ôxy.

Chuẩn bị ao - Sên vét bùn đáy, lấp kín hang hốc, lỗ mọi đáy ao còn lớp bùn loãng nhiều nhất là 0,1 m. Vì cá chình có tập tính chúi sâu xuống bùn khi có tiếng động mạnh. Rào lưới xung quanh bờ ao, phòng tránh cá thoát ra ngoài. Bón vôi bung CaO từ 715 kg/100 m2 để nâng pH đất, diệt tạp và mầm bệnh. Phơi nền đáy ao 3 - 7 ngày.

- Sau khi cải tạo ao xong tiến hành lấy nước vào ao. Nước trong ao lắng sau khi lắng và xử lý khoảng 3 ngày có thể đưa vào ao nuôi qua túi lọc bằng vải kate. Kiểm tra pH, khi pH đạt 7 - 8 thì tiến hành bón phân gây màu. Khoảng 5 - 7 ngày thấy nước có màu xanh nõn chuối thì tiến hành thả giống.

- Lưu ý, trước khi thả giống, cần kiểm tra chất lượng nước trong ao, đảm bảo các chỉ tiêu nằm trong ngưỡng như: Hàm lượng ôxy hòa tan >5 mg/lít; pH 6,5 - 7,5; nhiệt độ 24 - 32 0 C; độ trong 30 - 40 cm, độ mặn 0 - 10‰; độ kiềm 20 - 60 mg/lít; NH3 < 0,1 mg/lít.

Thả giống

Lựa chọn mua giống ở những cơ sở ương giống từ giai đoạn cá con, cá còn nhỏ đã được trại ương qua nhiều giai đoạn giúp chất lượng cá giống đảm bảo yêu cầu.

Chọn con giống khỏe mạnh, không bị trầy xước, da cá bóng, cá bơi lội nhanh.

Cá chình giống thả nuôi trong ao, tùy điều kiện và trình độ kỹ thuật của từng hộ gia đình mà lựa chọn mật độ cũng như kích thước phù hợp. Có thể tham khảo mật độ 1 - 1,5 con/m2 Thời điểm thả giống không có bất thường về thời tiết như mưa bão, áp thấp nhiệt đới, sương muối, rét đậm, rét hại,... Không có những bất thường về nguồn

nước của các sông rạch ở khu

vực nuôi như: màu nước có biến đổi đột ngột, không xuất hiện

màu nước lạ; không bị ô nhiễm hóa chất, thuốc trừ sâu,… Cá về đến ao nuôi cần được tắm bằng nước muối 2 - 3% khoảng 5 - 10 phút để loại bỏ ký sinh trùng bám vào cá hoặc thuốc tím KMnO 4 15 - 20 ppm khoảng 15 - 20 phút.

Trước khi thả giống phải ngâm bao chứa cá xuống ao từ 10 - 20 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong bao và bên ngoài môi trường nước.

Vị trí thả nơi đầu nguồn nước vào. Khi thả, cần mở miệng bao, cho nước từ từ vào bao. Để cá trong ao bơi ra ngoài, không

được đổ ngay cá ra khỏi bao chứa. Đếm số cá đã chết để tính tỷ lệ hao hụt.

Trong hai ngày đầu, không cho cá ăn để cá thích nghi với môi trường mới. Thường xuyên kiểm tra, vớt bỏ cá chết và đếm số lượng (nếu có). Nếu số lượng cá chết nhiều, phải tìm nguyên nhân để có hướng xử lý thích hợp, kịp thời. Thả bù số lượng bằng lượng cá chết.

Thức ăn

- Thức ăn tươi sống có thể cá để đông lạnh, phải được giã

đông và làm sạch và cắt ra vừa với kích cỡ miệng cá.

- Thức ăn chế biến phải có hàm lượng protein cao 45 - 50% và bổ sung các loại axit amin

cần thiết. Đồng thời, thức ăn cần

đảm bảo tính kết dính cao để

không tan trong nước gây lãng

phí và ô nhiễm môi trường nuôi.

Ngoài ra, cần cho thêm một ít

chất dẫn dụ để cá chình nhanh chóng tập trung đến ăn như dịch của giun, dịch của cá, bột gan, bột thịt nhuyễn thể.

- Lượng cho ăn khoảng 5 - 7% trọng lượng thân cá chình trong ao.

- Hàng ngày nên cho ăn 2 lần vào

6 - 7 giờ và 17 - 18 giờ. Cho ăn qua sàng để quản lý thức ăn dư thừa.

- Sau 1 - 2 giờ cho ăn, cần kiểm tra sàng, nếu sau 1 giờ mà cá ăn hết thì nên tăng lượng thức ăn.

- Cá thường ăn mạnh vào những ngày nắng tốt, và giảm ăn vào những ngày trời âm u có mưa, lặng gió.

- Sàng cho ăn nên đặt ở vị trí giữa hoặc gần đáy, nhưng cũng có thể để sát tầng mặt để tiện quan sát hoạt động bắt mồi của cá. Bên trên sàng cho ăn nên che ánh nắng mặt trời.

- Sau khi cho ăn phải vớt thức ăn thừa, cọ rửa sàng ăn, phơi khô.

- Thức ăn cần tươi, sạch (tránh mua thức ăn đã qua xử lý hóa chất). Tùy vào thời tiết, giai đoạn cụ thể mà điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Không nên thay đổi thức ăn một cách đột ngột mà phải thay đổi từ từ.

Quản lý

- Định kỳ 7 - 10 ngày nên thay nước với lượng không quá 20% nước trong ao, duy trì mực nước trong ao, ổn định pH bằng cách bón vôi.

- Hàng ngày theo dõi chặt chẽ các yếu tố môi trường ao nuôi, nhất

là lúc 5 - 6 giờ sáng và những giờ cho cá ăn và có biện pháp xử lý kịp thời. Các yếu tố cần đảm bảo nằm

trong ngưỡng sinh trưởng của cá

như: pH: khống chế ở 7 - 8,5; Nhiệt độ thích hợp từ 25 - 280C; hàm lượng ôxy hòa tan: duy trì từ 3 mg/ lít trở lên; Độ trong: điều chỉnh độ trong thích hợp ở 30 - 40 cm.

- Kiểm tra tốc độ sinh trưởng

của cá: Định kỳ hàng tháng bắt ngẫu nhiên 30 cá, cân khối lượng, đo chiều dài từng cá và khối lượng chung.

- Định kỳ phân cỡ cá 1 tháng/ lần, tách con lớn, con nhỏ nuôi riêng để cá đồng đều và chóng lớn. Trước khi phân cỡ để cá nhịn từ 1 - 2 ngày, lùa ao để cá bài tiết hết thức ăn trong bụng, dùng sàng nhẵn để phân loại cá, không dùng tay bắt cá.

Thu hoạch

- Ao nuôi cá chình mỗi năm có thể thu hoạch vài lần, thu hoạch toàn bộ vào mùa hè. Trước khi thu hoạch, ngừng cho cá ăn 1 - 2 ngày. Về mùa hè khi nhiệt độ cao, nên tiến hành thu hoạch trước bình minh. Thao tác đánh bắt cẩn thận, tránh để cá bị xây xát.

- Tháo nước ao còn 40 - 60 cm thì thuận tiện cho việc kéo lưới thu hoạch. Dùng lưới kéo 2 - 3 lần trước khi xả cạn ao bắt toàn bộ. Trước khi vận chuyển luyện cá trong giai 1 ngày.

- Cá thịt trước khi vận chuyển

ra thị trường được nuôi tạm 2 - 3 ngày để cá thải hết phân và một phần nhớt, do đó giảm ô nhiễm nước trong túi vận chuyển, nên nâng cao tỷ lệ sống của cá khi vận chuyển.

- Sau khi nuôi tạm cần hạ nhiệt độ trước khi vận chuyển. Hạ nhiệt độ chia làm 2 - 3 lần, mỗi lần chênh lệch không quá 5 - 70 C. Nhiệt độ cuối cùng phù hợp là dưới 10 0 C. Vận chuyển

Có hai cách vận chuyển cá chình được sử dụng phổ biến hiện nay:

Dùng túi nilon bơm ôxy: Dùng cho vận chuyển xa. Sử dụng túi nilon 2 lớp, cỡ túi 32 x 20 x 60 cm có thể vận chuyển 8 - 10 kg cá, nước lạnh 0,5 - 1 kg và đá lạnh 0,5 - 1 kg. Sau khi cho cá vào túi thì cho nước và đá vào, đẩy không khí trong túi ra rồi bơm ôxy xong buột miệng chặt miệng túi. Cho 2 túi vào 1 thùng xốp bỏ đá 4 phía. Đóng kín thùng xốp rồi vận chuyển bằng xe lạnh. Vận chuyển khô trong thùng gỗ có tưới nước: Sử dụng trong trường hợp quãng đường vận chuyển gần, chia làm 4 - 5 khoang thùng gỗ buộc thành một khối. Mỗi khoang đựng 3 - 4 kg cá, mỗi khối khoảng 20 kg.

Sử dụng sàng ăn để quản lý tốt thức ăn Ảnh: Nguyễn Trinh

Phòng bệnh hoại tử thần kinh trên cá biển

Bệnh hoại tử thần kinh do virus trên cá biển (VNN - Viral

Nervous Necrosis), là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, gây ra bởi virus Betanodavirus thuộc họ

Nodaviridae. Bệnh đặc biệt nguy hiểm ở giai đoạn cá giống và cá con, có thể gây chết hàng loạt, đặc biệt ở nhiệt độ cao, và ảnh hưởng lớn đến ngành nuôi trồng thủy sản.

Nguyên nhân

Bệnh do virus thuộc giống Betanodavirus, họ Nodaviridae gây ra. Virus Betanodavirus gây bệnh hoại tử thần kinh trên cá biển có hình cầu, đường kính 26 - 32 nm, không có màng bao, cấu trúc di truyền là ARN chuỗi đơn (+ARN). Khi xâm nhập vào cơ thể cá, virus sẽ ký sinh trong tế bào chất của tế bào thần kinh trong não và trong võng mạc mắt là bệnh cấp tính hoặc thứ cấp tính.

Bệnh thường xuất hiện ở giai đoạn ấu trùng cá giống từ 10 ngày tuổi cho đến giai đoạn cá giống dưới 20 ngày tuổi và trên cá biển nuôi lồng. Bệnh xuất hiện dấu hiệu không rõ ràng có thể chết hàng loạt sau 3 - 7 ngày khi có dấu hiệu nhiễm bệnh. Tỷ lệ chết 70 - 100% ở cá hương 2,5 - 4 cm, khi cá lớn (15 cm) tỷ lệ chết giảm còn 20%.

Đường lây truyền: Virus gây bệnh VNN ngoài lây truyền theo chiều dọc (từ mẹ sang con). Bên cạnh đó, virus có thể lây truyền theo trục ngang như qua dòng nước, lây truyền từ cá thể bị bệnh sang cá thể khỏe mạnh trong cùng một bể, chúng có thể lây lan qua các dụng cụ vận chuyển cá và các sản phẩm từ cá bị nhiễm virus từ nơi này đến nơi khác.

Đặc điểm dịch tễ Đối tượng nhiễm bệnh: Hiện nay, trên thế giới đã có khoảng 30 loài cá biển thuộc 16 họ nhiễm VNN, đặc biệt thường gặp ở cá nuôi lồng như cá song điểm đai (Epinephelus malabaricus) - Thái Lan; cá song mỡ (E. tauvina) - Singapore; cá song vân mây (E. moara) và cá song chấm đỏ (E. akaara) - Nhật Bản; cá song bảy sọc (E. septemfasciatus) - Hàn Quốc, Nhật Bản; cá song lưng gù (Cromileptes altivelis) - Indonesia. Ở Việt Nam các loài cá song (Epinephelus spp) nuôi lồng trên vịnh Hạ Long thường gặp bệnh hoại tử thần kinh.

Mùa vụ xuất hiện bệnh: Ở Việt Nam hiện nay bệnh VNN có gần như quanh năm và bùng phát mạnh từ tháng 5 đến tháng 10, đặc biệt khi mưa nhiều. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của bệnh là 25 - 30ºC.

Triệu chứng

Cơ quan đích của Betanodavirus thường xuất hiện mô não và võng mạc cá bị bệnh. Dấu hiệu bệnh lý điển hình của cá nhiễm VNN là các biểu hiện thần kinh như: bơi lội không bình thường (bơi vòng tròn, bơi ngửa, bơi hỗn loạn không định hướng,…), bỏ ăn, da tối màu, trương bóng hơi và tỷ lệ chết lớn.

Giai đoạn cấp tính thường xuất hiện tại các trại ương giống ấu trùng (từ 10 ngày tuổi đến 25 ngày tuổi). Cá giống bỏ ăn, cá chết rải rác, bơi không bình thường, bơi lội mạnh không định hướng, đầu lao xuống dưới. Cá chết và hấp hối hầu hết bóng hơi trương phồng, có sự xung huyết trong. Cá bệnh hoạt động yếu đầu treo trên mặt nước hoặc nằm dưới đáy bể hoặc đáy lồng. Nhiều cá có màu đen và thường bơi chậm chạp. Triệu chứng tăng dần khi cả quần đàn nhiễm bệnh. Cá chết sau khoảng từ 3 ngày đến 5 ngày khi có dấu hiệu bệnh.

Trong lồng, cá lớn (trên 150 g) bị bệnh VNN có ít triệu chứng hơn và tỷ lệ chết giảm. Cá thường chuyển màu đen và bơi chậm chạp với bóng hơi trương phồng và có thể hoặc không có vết bệnh ở đầu. Giải phẫu cơ quan nội tạng bình thường và ruột không có thức ăn.

Cá bệnh hoạt động yếu đầu treo trên mặt nước hoặc dưới đáy bể hoặc đáy lồng, triệu chứng tăng dần khi cả quần đàn nhiễm bệnh. Cá chết sau khoảng từ 3 đến 5 ngày sau khi có dấu hiệu bệnh.

Bệnh tích

Cá chết và sắp chết hầu hết bóng hơi trương phồng, xung huyết trong.

Phương pháp chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng: Dựa vào các triệu chứng của bệnh.

Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Lấy mẫu thực hiện xét nghiệm bằng phản ứng Realtime PCR.

Phòng bệnh

Bệnh do virus gây ra nên hiện chưa có thuốc điều đặc hiệu, vì vậy cần áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh tổng hợp để hạn

Chọn nguồn gốc thức ăn rõ ràng, đảm bảo vệ sinh và bảo quản đúng cách để tránh lây nhiễm bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi Ảnh: An Lâm

chế sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh hoặc có thể sử dụng vaccine để phòng bệnh VNN. Không để cho cá bị stress do các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi. - Đối với các cơ sở sản xuất giống, lựa chọn cá bố mẹ không mang virus bằng cách kiểm tra trứng cá trước khi cho cá đẻ bằng kỹ thuật PCR. Sát trùng bể ương và dụng cụ bằng Chlorine 100 ppm 1 tuần/lần và rửa kỹ lại bằng nước sạch trước khi sử dụng. Loại bỏ những đàn cá bột khi đã phát hiện VNN dương tính (+) thông qua kỹ thuật PCR.

- Đối với nuôi cá lồng bè, chọn mua cá biển giống tại các cơ sở đã được cấp giấy đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống, giống có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, giống đã qua kiểm dịch. Có thể bố trí khu vực nuôi riêng, cách ly các đàn cá mới thả để theo dõi.

- Mặc dù thả giống kích cỡ nhỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, nhưng do nguy cơ của bệnh VNN gây tác hại lớn ở giống cỡ nhỏ, vì vậy khuyến cáo người nuôi thả giống cỡ lớn để hạn chế tác hại của bệnh VNN.

- Thường xuyên theo dõi sức khỏe đàn cá nuôi, có thể giảm mật độ nuôi trong giai đoạn giao mùa, hạn chế tối đa các tác động có thể làm xây xước cá - là điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, nấm tấn công.

- Vệ sinh khu vực nuôi, khơi thông dòng chảy giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cục bộ.

- Nếu có điều kiện, nên sử dụng các loại thức ăn công nghiệp thay thế thức ăn tươi sống. Trong trường hợp sử dụng thức ăn tươi sống, cần lưu ý chọn nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo vệ sinh và bảo quản đúng cách để tránh lây nhiễm bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi. Ngoài ra trong quá trình ương dưỡng, nuôi thường xuyên sử dụng tỏi, Beta - Glucan và

Vitamin C trộn vào thức ăn cho cá. Vào thời điểm dịch bệnh thường bùng phát, bổ sung thêm Vitamin C để tăng sức đề kháng cho cá, liều lượng 20 - 30 mg/kg cá/ngày, mỗi tháng cho ăn một đợt từ 7 - 10 ngày. - Đối với các ô lồng có dấu hiệu bị nhiễm bệnh, có khu vực nuôi cách ly với các ô lồng khác (nếu có thể), treo các túi thuốc đầu nguồn nước, hoặc tắm cho cá để diệt khuẩn khu vực bè nuôi và điều trị các bệnh do nấm, vi khuẩn, ký sinh trùng. Sử dụng các thuốc sát khuẩn để vệ sinh dụng cụ nuôi (lưới, lồng, vợt,…). Lưu ý: Do đặc thù cá biển nuôi tại khu vực nuôi hở nên cần bố trí khu vực nuôi cá khỏe mạnh và khu vực điều trị cá bệnh cho phù hợp, tránh lây nhiễm chéo.

- Các loại thức ăn, thuốc, hóa chất, sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường phải nằm trong danh mục được phép sử dụng; bảo quản, sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và được ghi chép, lưu giữ kết quả; không sử dụng thức ăn, thuốc, hóa chất hết hạn, nhãn sản phẩm không rõ hoặc không có nhãn sản phẩm.

- Định kỳ lấy mẫu cá chẩn đoán bệnh VNN để có biện pháp ngăn ngừa.

- Theo dõi các diễn biến về thời tiết và các thông báo kết quả giám sát dịch bệnh thủy sản trong khu vực của các cơ quan chuyên môn để xây dựng kế hoạch và áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh của cơ sở cho phù hợp.

- Khi có dấu hiệu bệnh lý xảy ra cần giảm 50% lượng thức ăn hàng ngày, di chuyển cách ly ao cá giống, cá bệnh ra khỏi khu vực nuôi, hàng ngày, phải với hết cá chết trong lồng đem chôn hoặc đem đun chín.

Nguyễn Hằng

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
TSVN 8 by Thủy sản Việt Nam Website - Issuu