Skip to main content

TSVN 4 (2)

Page 1


Ban Biên tập

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Dương Xuân Hùng, Cố vấn

Hoàng Hải Đăng, Thư ký Tòa soạn

Phạm Thu Hồng, Nhà báo

Dương Nam Anh, Nhà báo

Trần Thị Kim Tiến, Nhà báo

Trần Anh Thư, Phóng viên

Chủ nhiệm

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Phụ trách

Đỗ Huy Hoàn, Phó Tổng Biên tập

Chuyên gia

Nguyễn Chu Hồi, Phó Giáo sư - Tiến sĩ

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Trần Đình Luân, Tiến sĩ

Nguyễn Thanh Phương, Giáo sư - Tiến sĩ

Đào Trọng Hiếu, Tiến sĩ

Lê Văn Khoa, Tiến sĩ

Nguyễn Duy Hòa, Tiến sĩ

Nguyễn Khắc Bát, Tiến sĩ

Hồ Quốc Lực, Tiến sĩ

Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Thủy sản Minh Phú

Mỹ thuật: Two Nguyễn

Trình bày: Phạm Dương

Kỹ thuật: Đăng Kiên

Hình ảnh: Dương Nghĩa

Đọc bản in: Anh Thư

Tòa soạn:

Điện thoại: 028.62777616

Email: toasoan@thuysanvietnam.com.vn

Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM

Văn phòng Hà Nội:

Điện thoại: 0243.7713699

Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội

Phòng Quảng cáo:

Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993

Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn

Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT

ISSN: 0866-8043

Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)

Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ

Thư tòa soạn

Thưa quý vị bạn đọc, Những diễn biến căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông gần đây

đang tạo ra những biến động lớn đối với hệ thống logistics toàn cầu. Khu vực này nằm trên các tuyến hàng hải chiến lược, đặc biệt là eo biển Hormuz và tuyến vận tải nối với kênh đào Suez - những điểm trung

chuyển quan trọng của thương mại thế giới.

Khi xung đột leo thang, nhiều hãng tàu quốc tế bắt đầu hạn chế hoặc

điều chỉnh hành trình qua khu vực rủi ro. Trong một số trường hợp, tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, khiến thời gian vận chuyển kéo dài

thêm từ 10 đến 20 ngày so với thông thường. Điều này gây ra những

khó khăn đáng kể đối với các mặt hàng thủy sản đông lạnh, vốn phụ thuộc nhiều vào chuỗi vận chuyển nhanh và ổn định.

Cùng với đó, chi phí vận tải container lạnh đang có xu hướng tăng. Một số doanh nghiệp cho biết, chi phí vận chuyển có thể tăng thêm khoảng 2.000 - 4.000 USD mỗi container, chưa kể các phụ phí rủi ro và phụ phí nhiên liệu. Giá dầu tăng do căng thẳng khu vực cũng khiến chi phí logistics và chi phí sản xuất trong chuỗi cung ứng thủy sản tăng theo.

Đối với ngành thủy sản, tác động không chỉ dừng ở chi phí vận chuyển tăng cao, làm tăng giá thành và thu hẹp biên lợi nhuận mà còn là nguy

cơ đứt gãy chuỗi lạnh, thiếu nguồn cung cục bộ và biến động giá theo từng phân khúc sản phẩm.

“Bài toán logistics” sẽ là chủ đề chính của Tạp chí Thủy sản Việt Nam phát hành trong tháng 04. Trên số báo này, Tạp chí sẽ thông tin tới bạn

đọc những phân tích, góc nhìn chuyên sâu về biến động logistics toàn

cầu và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế nói chung và ngành thủy sản Việt Nam nói riêng. Cùng với đó là chia sẻ của nhà quản lý, chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp xoay quanh câu chuyện thích ứng, xoay chuyển

cục diện trước áp lực logistics.

Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 04 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống

dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.

Trân trọng! Ban Biên tập

sản giữ nhịp giữa áp lực

Trung Quốc giữ vai trò dẫn dắt thị trường: Cân nhắc

Mở hướng đi đa giá trị cho kinh tế biển

Bảo Hân

“nút thắt” logistics:

bẩy cho tăng trưởng

thủy sản Phan Thảo

Siết chặt chống khai thác IUU sau thanh tra lần thứ 5 của EC

Thùy Khánh

38

LifeStart: Nền tảng cho tăng

trưởng bền vững trong nuôi cá tra giống

Thùy Vân

46

Ngành thủy sản bước vào “cuộc đua dữ liệu” toàn cầu

Lan Khuê

48

Cú sốc logistics : Thị trường thủy sản thế giới đối mặt sóng lớn

Tuấn Minh

54

Vi sinh đường ruột thích ứng mặn: Chìa khóa nuôi tôm bền vững

Vũ Đức

Tăng cường truy xuất nguồn gốc là một trong những khuyến nghị của EC trong chống khai thác IUU

Ảnh: Châu Trần

Siết chặt quản lý IUU, hoàn thiện khung pháp lý

Theo Thông báo số 159/TB-VPCP ngày 31/3, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả triển khai chống khai thác IUU, khẩn trương hoàn thiện kế hoạch thực hiện khuyến nghị của EC và báo cáo giải trình gửi EC trước ngày 10/4/2026. Trọng tâm là hoàn thiện khung pháp lý, trong đó xây dựng

Nghị định xử phạt theo hướng tăng mức phạt, bổ sung đầy đủ hành vi vi phạm, sử dụng dữ liệu VMS làm căn cứ xử lý và bảo đảm tính răn

đe. Đồng thời, Bộ phải ban hành quy định kiểm soát truy xuất nguồn gốc nguyên liệu nhập khẩu, thiết lập hệ thống kiểm soát toàn chuỗi từ khai thác, thu mua, chế biến đến xuất khẩu trước ngày 5/4/2026. Về quản lý đội tàu, yêu cầu rà soát, mở rộng đối tượng lắp VMS, kiểm soát chặt đăng ký, đăng kiểm, mua bán tàu cá và xử lý trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm, hoàn thành trong tháng 4/2026. Các khuyến nghị của EC cũng nhấn mạnh tăng kiểm soát tàu cá, truy xuất nguồn gốc và xử lý nghiêm vi phạm nhằm khắc phục tồn tại trong chống khai thác IUU.

Triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử mới đạt 24,65%

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau một tháng triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) từ 131/3/2026, cả nước mới có 19.806/80.346 tàu

cá thực hiện xuất, nhập cảng trên hệ thống, đạt 24,65%. Đây là mức thấp so với yêu cầu

tại Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT, có hiệu

lực từ 1/3/2026, quy định bắt buộc quản lý tàu

cá rời, cập cảng và xác nhận sản lượng qua eCDT. Nguyên nhân chủ yếu do công tác tuyên truyền tại cơ sở còn hạn chế, kiểm tra xử lý vi phạm chưa nghiêm và hạ tầng cảng cá chưa đáp ứng yêu cầu. Để khắc phục, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương ven biển tăng cường tập huấn, hướng dẫn ngư dân thực hiện khai báo điện tử; bố trí nguồn lực vận hành hệ thống; đồng thời đẩy mạnh kiểm tra, xử lý tàu cá không vào cảng theo quy định. Các địa phương cũng cần rà soát, đầu tư nâng cấp cảng cá theo Quyết định 582/ QĐ-TTg nhằm đảm bảo điều kiện triển khai đồng bộ eCDT, phục vụ truy xuất nguồn gốc và chống khai thác IUU.

Doanh nghiệp thủy sản thích ứng biến động thị trường

Trong bối cảnh chi phí logistics tăng cao, chuỗi cung ứng gián đoạn và biến động địa chính trị, doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đang chủ động tái cấu trúc để thích ứng. Quý I/2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9%, trong đó thủy sản tiếp tục là điểm sáng. Tuy nhiên, cơ cấu thị trường có sự lệch pha khi phụ thuộc lớn vào châu Á, đặc biệt Trung Quốc chiếm 22,1% thị phần, trong khi Hoa Kỳ giảm còn 18,3%, tiềm ẩn rủi ro về đầu ra. Trước áp lực chi phí và thị trường, doanh nghiệp buộc chuyển từ tăng trưởng sản lượng sang nâng cao giá trị, đẩy mạnh chế biến sâu, kéo dài thời gian bảo quản và đa dạng hóa thị trường. Đồng thời, quá trình thực thi các quy định chống khai thác IUU đang thúc đẩy toàn chuỗi thủy sản minh bạch, số hóa dữ liệu từ khai thác đến chế biến, xuất khẩu. Việc tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế được xem là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp tiếp cận các thị trường cao cấp, ổn định đầu ra và nâng cao giá trị gia tăng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Quảng Ninh Đầu tư trung tâm giống thủy sản với số vốn gần 550 tỷ đồng

UBND tỉnh Quảng Ninh đã chấp thuận chủ trương đầu tư Trung tâm sản xuất giống thủy sản Vân Đồn theo hình thức PPP, hợp đồng BOO. Dự án đặt tại đảo Lỗ Hố, đặc khu Vân Đồn, với tổng vốn gần 550 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp đóng góp khoảng 527 tỷ đồng,

ngân sách nhà nước hỗ trợ gần 23 tỷ đồng cho hạ tầng. Trung tâm được thiết kế gồm ba khu sản xuất và ương dưỡng giống chuyên biệt, cùng hệ thống trạm biến áp đảm bảo vận hành. Các đối tượng sản xuất gồm cá chim vây vàng, cá song, cá vược và các loài nhuyễn thể như hàu Thái Bình Dương, tu hài, bào ngư. Công suất thiết kế đạt 8,32 tỷ con giống/năm, sản lượng thương phẩm khoảng 1.600 tấn. Theo lộ trình, đến quý I/2027, dự án sẽ cung ứng tối thiểu 1,5 tỷ con giống nhuyễn thể sạch bệnh. Khi hoàn thành, trung tâm được kỳ vọng bổ sung nguồn giống tại chỗ, giảm chi phí và rủi ro dịch bệnh, góp phần hoàn thiện chuỗi giá trị nuôi biển của địa phương.

Hưng Yên Nông dân xã Thái Thụy vào vụ nuôi thủy sản

Tại xã Thái Thụy, nông dân đang khẩn trương xuống giống vụ nuôi trồng thủy sản xuân hè 2026 theo khung thời vụ, phấn đấu hoàn thành trước ngày 30/4. Toàn xã duy trì diện tích gần 306ha, trong đó nuôi nước lợ hơn 209ha. Riêng HTX Đại Đồng triển khai hơn 100ha, với 40% diện tích nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng và 60% nuôi xen ghép cá song, cua. Vụ này, nhiều hộ nuôi thả mật độ khoảng 50 con/m², dự kiến sau 3 tháng đạt khoảng 2 tấn tôm/ao. Nguồn giống được tăng cường với hơn 3 triệu tôm thẻ chân trắng và 70 vạn tôm sú; tuy nhiên giá giống tăng khoảng 30% so với năm 2025, tôm thẻ trên 500.000 đồng/vạn, tôm sú trên 400.000 đồng/vạn. Địa phương yêu cầu kiểm soát chặt chất lượng giống, môi trường nuôi và phòng dịch, đặc biệt bệnh đốm trắng; đồng thời thực hiện “ba không” trong nuôi trồng. Việc áp dụng kỹ thuật, sử dụng chế phẩm sinh học và nuôi thâm canh được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng và dịch bệnh phức tạp.

Hà Tĩnh Yêu cầu triển khai nghiêm quy định cấm khai thác thủy sản có thời hạn

Sở Nông nghiệp

Quý I/2026, ngành thủy sản tăng trưởng mạnh

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 3 tháng đầu năm 2026, ngành thủy sản duy trì đà tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 2,18 triệu tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nuôi trồng tiếp tục là động lực chính với sản lượng gần 1,3 triệu tấn, tăng 5,4%; riêng tôm đạt gần 230 nghìn tấn, tăng 6,2%, cá đạt 1,62 triệu tấn, tăng 2,8%. Hoạt động khai thác duy trì ổn định với sản lượng gần 887 nghìn tấn, tăng nhẹ 0,2%. Về xuất khẩu, thủy sản đạt 2,62 tỷ USD trong quý I, tăng mạnh 13,3%, cao hơn mức tăng chung 5,9% của toàn ngành nông, lâm, thủy sản (đạt 16,69 tỷ USD). Diễn biến này phản ánh xu hướng chuyển dịch rõ nét sang nuôi trồng thâm canh, ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao giá trị. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng, ngành cần tiếp tục kiểm soát dịch bệnh, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

C9a–C9d, áp dụng thời gian cấm từ ngày 1/3

đến 30/6 hằng năm. Các địa phương phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến quy định

đến ngư dân, đồng thời hướng dẫn chấp hành các hành vi và mức xử phạt theo Nghị định 38/2024/NĐ-CP. Lực lượng chức năng được yêu cầu đẩy mạnh tuần tra, kiểm soát tại vùng ven bờ và nội thủy, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm như khai thác tại khu vực cấm, sử dụng ngư cụ hủy diệt, khai thác loài nguy cấp, quý hiếm. Bên cạnh đó, các xã, phường có tàu cá cần rà soát, thống kê đối tượng bị ảnh hưởng trong thời gian cấm để đề xuất chính sách hỗ trợ phù hợp, gửi về Sở Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 20/4/2026 nhằm tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh xem xét.

Quảng Ngãi

Cá bớp chết hàng loạt, thiệt hại 10 tỷ đồng

Tại Đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), tình trạng cá bớp nuôi lồng bè chết hàng loạt từ cuối tháng 3/2026 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi. Thống kê ban đầu cho thấy hơn 30.000 con cá chết, trọng lượng 4 - 5kg/ con, tương đương khoảng 60 tấn, với tổng thiệt hại ước tính khoảng 10 tỷ đồng. Toàn bộ 57 bè nuôi trong khu vực đều bị ảnh hưởng, trong đó phần lớn cá đã đến kỳ thu hoạch, chuẩn bị xuất bán. Cá có biểu hiện bất thường như bỏ ăn, mất lớp nhớt và ửng đỏ vùng bụng trước

Nuôi trồng tiếp tục là động lực chính của ngành thủy sản

khi chết, sau đó lan nhanh trên diện rộng.

Trước tình hình này, chính quyền địa phương đã khẩn trương kiểm tra, thống kê thiệt hại, đồng thời phối hợp lấy mẫu nước và mẫu cá để xác định nguyên nhân. Do thiếu cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, việc chẩn đoán còn gặp khó khăn. Trước mắt, người nuôi được hướng dẫn xử lý môi trường nước, theo dõi chặt chẽ các lồng còn lại nhằm hạn chế thiệt hại, trong khi nguyên nhân vụ việc tiếp tục được làm rõ.

Cà Mau

 Nắng nóng gây thiệt hại tôm nuôi

Diễn biến nắng nóng kéo dài từ giữa tháng

3 đến đầu tháng 4/2026 với nhiệt độ 37 - 38°C

đang gây thiệt hại lớn cho nuôi tôm tại Cà

Mau. Nhiều diện tích tôm nuôi bị sốc nhiệt, phát sinh bệnh đỏ thân, đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp, dẫn đến hiện tượng tôm nổi đầu, chết rải rác đến hàng loạt. Tại phường Giá Rai, nhiều hộ nuôi buộc phải thu hoạch sớm khi tôm mới đạt kích cỡ 80 - 90 con/kg, giá bán chỉ khoảng 85.000 đồng/kg, khiến phần lớn bị thua lỗ. Nguyên nhân chính là nhiệt độ nước tăng cao, độ mặn biến động và chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn, làm môi trường ao nuôi mất ổn định. Trước tình hình này, cơ quan chuyên môn khuyến cáo người nuôi duy trì mực nước tối thiểu 1,5m, tăng cường quản lý môi trường, bổ sung ôxy, tạo dòng chảy và

sử dụng chế phẩm sinh học nhằm hạn chế rủi ro. Đồng thời, theo dõi sát diễn biến thời tiết, chủ động điều chỉnh kỹ thuật nuôi để giảm thiệt hại trong cao điểm mùa khô.

 Ban hành Kế hoạch phát triển logistic nông nghiệp, thủy sản

Sở Nông nghiệp và Môi trường Cà Mau ban hành Kế hoạch phát triển logistics giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn 2050, nhằm nâng cao giá trị chuỗi thủy sản và giảm chi phí trung gian. Địa phương đặt mục tiêu đến năm 2035 có ít nhất 40% hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp, thủy sản áp dụng giải pháp logistics hoặc quản lý chuỗi cung ứng; đồng thời hình thành hệ thống kho lạnh, cơ sở bảo quản, sơ chế tại vùng sản xuất tập trung và khu vực cảng cá, xây dựng 1–2 mô hình logistics gắn với chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc. Với lợi thế diện tích nuôi trồng thủy sản hơn 420.000ha - lớn nhất cả nước, Cà Mau định hướng thu hút đầu tư trung tâm logistics thủy sản quy mô lớn, gắn với vùng nguyên liệu. Kế hoạch cũng nhấn mạnh phát triển hạ tầng, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và logistics xanh. Việc triển khai được kỳ vọng tháo gỡ điểm nghẽn lưu thông, bảo quản, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản của địa phương.

Ảnh: Nguyễn Trang

Mỹ

Siết khai thác thủy sản bất hợp

pháp qua đạo luật mới

Thượng viện Mỹ vừa nhất trí thông qua Đạo luật FISH, do Thượng nghị sĩ Alaska Dan Sullivan và Thượng nghị sĩ Rhode Island

Sheldon Whitehouse cùng một số đồng tài trợ đề xuất, nhằm chống lại các hoạt động khai thác thủy sản nước ngoài bất hợp pháp, không báo cáo và không được quản lý (IUU).

Luật này cho phép Mỹ lập danh sách đen các tàu vi phạm, tăng cường năng lực tuần tra của Lực lượng Tuần duyên, đồng thời thúc đẩy đàm phán quốc tế và song phương để đạt các hiệp định có thể thực thi.

Venezuela Mất thị trường cua xanh Mỹ

Ba tháng sau khi Cơ quan Quản lý khí quyển và đại dương quốc gia Mỹ (NOAA) thực thi

Luật bảo vệ động vật biển (MMPA) từ ngày 1/1/2026, cua xanh Venezuela vẫn bị cấm cửa vào thị trường Mỹ, trở thành nhà cung cấp lớn duy nhất không có lối ra pháp lý hay cơ chế xem xét lại. Báo cáo từ Maracaibo, tháng 3/2026, cho thấy chỉ 2 trên khoảng 20 cơ sở chế biến còn hoạt động; ngư dân từng kiếm 30 USD/ngày giờ thất nghiệp vô thời hạn. Ngành nghề nuôi và khai thác này, từng tạo sinh kế cho 15.000 người ở 14 đô thị, gần như tê liệt. Cua xanh Venezuela từng chiếm 10% thị phần Mỹ, xuất khẩu 5,9 triệu pound năm 2024, trị giá 75,6 triệu USD. NOAA cho rằng nghề lưới của Venezuela gây rủi ro cao với cá heo, từ chối công nhận tương đương. Trong khi các nhà nhập khẩu Mỹ tìm nguồn thay thế, chính phủ mới ở Venezuela hy vọng tái chứng nhận trong 6 tháng, nhưng lộ trình vẫn chưa rõ ràng.

Canada

Cắt giảm hạn ngạch cua tuyết Newfoundland và vùng Vịnh

Bộ trưởng Thủy sản Canada Joanne Thompson vừa công bố hạn ngạch khai thác cua tuyết 2026 cho Newfoundland và Labrador là 61.004 tấn, trong khi vùng Nam vịnh St. Lawrence chỉ 16.268 tấn. Newfoundland giảm nhẹ 3% so với 2025, nhưng vùng vịnh cắt sâu 11%, đánh dấu năm thứ ba liên tiếp giảm hạn ngạch tại khu vực

cua lớn thứ hai của Canada. Newfoundland vẫn giữ gần mức kỷ lục, với hạn ngạch cao thứ ba trong lịch sử, mang lại hơn 700 triệu USD cho kinh tế tỉnh vào 2025. Tuy nhiên, sự phân bổ hạn ngạch biến động theo khu vực: tăng 4-19% ở một số khu vực, giảm 18-30% ở các khu vực khác. Vùng vịnh giảm mạnh hạn ngạch 16.268 tấn, bao gồm 450 tấn phục vụ khảo sát khoa học.

Indonesia Khởi công trung tâm nghiên cứu tảo biển quốc tế

Indonesia vừa chính thức khởi công Trung tâm Nghiên cứu tảo biển nhiệt đới quốc tế (ITSRC) tại vịnh Ekas, Đông Lombok, đánh dấu bước đi chiến lược nhằm củng cố vị thế quốc gia sản xuất tảo biển lớn nhất thế giới. Hiện chiếm khoảng 75% sản lượng toàn cầu, Indonesia đặt mục tiêu vượt ra khỏi vai trò cung ứng nguyên liệu thô để phát triển các dòng sản phẩm giá trị gia tăng như chất kích thích sinh học, nhựa sinh học và nhiên liệu sinh học. Trung tâm đặt tại Đại học Mataram được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối

trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, đồng thời hỗ trợ nông dân nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng giống. Với sự hợp tác của Đại học California, Berkeley và Viện Gen Bắc Kinh, dự án được xem là bước then chốt giúp Indonesia duy trì nguồn cung tảo biển ổn định, bền vững và nâng tầm chuỗi giá trị trên thị trường toàn cầu.

Hàn Quốc Rót 27 triệu USD, tăng tốc AI hóa ngành thủy sản

Hàn Quốc chính thức khởi động chương trình đầu tư 26,75 triệu USD (40 tỷ won) nhằm thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực thủy sản, đánh dấu bước chuyển mạnh từ nghiên cứu sang thương mại hóa thực tiễn. Sáng kiến do Bộ Đại dương và Thủy sản phối hợp cùng Viện xúc tiến khoa học & công nghệ biển Hàn Quốc (KIMST) triển khai, sẽ hỗ trợ 20 doanh nghiệp trong vòng hai năm. Theo chương trình “Hỗ trợ thương mại hóa nhanh sản phẩm ứng dụng AI”, các dự án phải tạo ra kết quả cụ thể trong 1-2 năm, tập trung vào 7 lĩnh vực chiến lược như kỹ thuật biển, giám sát môi trường, logistics cảng, an toàn hàng hải, nuôi trồng, chế biến thủy sản và công nghiệp sinh học biển. Năm dự án sẽ nhận khoảng 1,34 triệu USD trong một năm, 15 dự án còn lại được cấp 670.000 USD/năm trong hai năm, với yêu cầu doanh nghiệp đối ứng tối thiểu 30% vốn.

2,64 TỶ USD

Là kim ngạch xuất khẩu thủy sản quý I/2026, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, riêng tháng 3/2026 đạt khoảng 927 triệu USD, tăng hơn 5%.

2,18 TRIỆU TẤN

Là tổng sản lượng thủy sản thu hoạch của cả nước trong quý I/2025, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá đạt hơn 1,62 triệu tấn (tăng 2,8%); tôm đạt 0,23 triệu tấn (tăng 6,2%).

10 TỶ ĐỒNG

Là số tiền thiệt hại của người dân Lý Sơn (Quảng Ngãi) do cá bớp chết hàng loạt. Khối lượng thiệt hại ước tính khoảng 60 tấn. Nguyên nhân vẫn chưa được xác định.

80.346 TÀU CÁ

Là số lượng tàu cá thuộc diện phải thực hiện xuất, nhập cảng trên hệ thống eCDT. Tính đến 31/3, cả nước mới có 19.806 tàu cá thực hiện, mới đạt 24,65%.

Tuấn Minh

Thủy sản giữ nhịp giữa áp lực logistics

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều bất ổn, ngành thủy

sản Việt Nam đang đối mặt với sức ép gia tăng từ chi phí

logistics và rủi ro địa chính trị. Điều này không chỉ là thách thức

ngắn hạn, mà còn đặt ra yêu cầu thích ứng sâu hơn nếu ngành

muốn duy trì đà tăng trưởng một cách bền vững.

Logistics không còn là chi phí phụ

Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 11,3 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng quan trọng cho kỳ vọng tăng trưởng trong năm 2026. Tuy nhiên, đà phục hồi này đang chịu tác động ngày càng rõ nét từ những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nếu trước đây logistics chủ yếu được xem là chi phí hỗ trợ, thì nay đã trở thành một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thủy sản. Cước vận tải biển, chi phí container lạnh, lưu kho và trung chuyển nội địa đồng loạt gia tăng không chỉ làm đội chi phí, mà còn khiến cấu trúc giá thành ngày càng phụ thuộc vào chuỗi cung ứng.

Với đặc thù yêu cầu nghiêm ngặt về nhiệt độ và thời gian, doanh nghiệp thủy sản gần như không có nhiều dư địa để xử lý khi chi phí biến động. Vì vậy, mỗi thay đổi trong logistics nhanh chóng chuyển thành áp lực tài chính trực tiếp.

Trong bối cảnh sức cầu chưa đủ mạnh để điều chỉnh giá bán, phần chi phí tăng thêm

đang trực tiếp bào mòn lợi nhuận và làm suy giảm khả năng cạnh tranh. Tác động này không chỉ dừng lại ở khâu vận chuyển, mà lan rộng trên toàn bộ chuỗi giá trị.

Đáng chú ý, chi phí logistics tăng không diễn ra đơn lẻ, mà gắn liền với những biến động địa chính trị ngày càng phức tạp. Căng thẳng tại Trung Đông làm gián đoạn các tuyến vận tải biển, buộc nhiều tàu phải chuyển hướng và kéo dài hành trình. Thời gian giao hàng sang châu Âu và bờ Đông nước Mỹ vì vậy có thể tăng thêm từ 1 – 2 tuần, kéo theo chi phí phát sinh đáng kể.

Song song đó, các thị trường lớn như Mỹ và EU tiếp tục siết chặt tiêu chuẩn nhập khẩu, từ chất lượng sản phẩm đến truy xuất nguồn gốc và yêu cầu phát triển bền vững. Chi phí tuân thủ vì vậy không tăng riêng lẻ, mà cộng hưởng với chi phí logistics, tạo thành áp lực kép đối với doanh nghiệp thủy sản.

Doanh nghiệp “giữ nhịp” trong thế khó Trước những biến động của thị trường,

doanh nghiệp thủy sản buộc phải chủ động điều chỉnh để duy trì hoạt động. Trọng tâm là tối ưu kế hoạch sản xuất, lựa chọn đơn hàng có biên lợi nhuận tốt hơn và chuyển hướng

sang các thị trường gần nhằm giảm chi phí vận chuyển.

Tuy nhiên, đây chủ yếu vẫn là giải pháp ngắn hạn. Khi chi phí đầu vào và logistics đồng loạt gia tăng, dư địa xoay xở của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp.

Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì đơn hàng với biên lợi nhuận thấp để giữ khách hàng và thị phần. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, việc mất đơn hàng không chỉ ảnh hưởng trước mắt mà còn có thể làm suy giảm vị thế trong dài hạn.

Ở khâu vận hành, doanh nghiệp cũng linh hoạt hơn trong tổ chức logistics như điều chỉnh lịch giao hàng, chia nhỏ lô hàng hoặc đàm phán lại với đối tác vận chuyển. Dù vậy, khi vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống logistics quốc tế, khả năng kiểm soát chi phí và thời gian giao hàng vẫn còn hạn chế.

Tác động của chi phí logistics không dừng lại ở khâu xuất khẩu mà đang lan xuống các mắt xích phía dưới, đặc biệt là người nuôi.

Khi doanh nghiệp gặp khó khăn về chi phí, giá thu mua nguyên liệu có xu hướng điều chỉnh, trong khi chi phí đầu vào như thức ăn, con giống và vật tư nuôi trồng vẫn duy trì ở mức cao. Biên lợi nhuận của người nuôi vì vậy bị thu hẹp đáng kể.

Xu hướng thận trọng gia tăng, thể hiện qua việc giảm mật độ nuôi hoặc trì hoãn tái đầu tư. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập trước mắt mà còn có thể tác động đến nguồn cung nguyên liệu trong trung hạn.

“Khoảng trống” trong chuỗi giá trị Một vấn đề đáng chú ý là chi phí logistics gia tăng nhưng lại nằm ngoài khả năng kiểm soát của cả doanh nghiệp và người nuôi. Doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào hãng tàu và các nhà cung cấp dịch vụ logistics quốc tế,

trong khi người nuôi không tham gia vào khâu này nhưng vẫn chịu tác động gián tiếp thông qua biến động giá. Sự lệch pha khiến chi phí phát sinh ở một khâu nhưng lan rộng ra toàn bộ hệ thống.

Bên cạnh đó, sự thiếu liên kết giữa các khâu trong chuỗi cũng làm gia tăng chi phí. Khi thông tin sản xuất và tiêu thụ chưa được chia sẻ đầy đủ, hoạt động logistics khó được tối ưu, dẫn đến lãng phí và phát sinh chi phí không cần thiết.

Bài toán logistics vì vậy không chỉ nằm ở đầu tư hạ tầng, mà cốt lõi là cách tổ chức lại chuỗi sản xuất. Việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và người nuôi, hình thành các chuỗi cung ứng chặt chẽ hơn, sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều phối sản xuất – thu mua – xuất khẩu. Khi thông tin thị trường được minh bạch, chi phí logistics có thể được kiểm soát tốt hơn.

Song song đó, phát triển hệ thống kho lạnh và trung tâm logistics tại các vùng nuôi trọng điểm là yêu cầu cấp thiết nhằm giảm khâu trung gian và rút ngắn thời gian vận chuyển. Việc nâng cao năng lực logistics trong nước, đặc biệt là vận tải lạnh, cũng góp phần giảm phụ thuộc vào đối tác nước ngoài.

Tuy nhiên, nếu thiếu liên kết chuỗi, các giải pháp hạ tầng đơn lẻ sẽ khó mang lại hiệu quả bền vững.

Từ áp lực đến tái cấu trúc Những biến động hiện nay cho thấy logistics không còn là vấn đề riêng lẻ, mà đang tác động đến cách thức vận hành của toàn ngành.

Sức ép chi phí và tiêu chuẩn thị trường buộc ngành thủy sản phải thay đổi mô hình tăng trưởng, từ mở rộng sản lượng sang kiểm soát chuỗi và nâng cao giá trị. Đây không chỉ là phản ứng trước khó khăn, mà có thể trở thành bước chuyển mang tính cấu trúc.

Logistics vì vậy không chỉ là thách thức cần vượt qua, mà còn là điểm khởi đầu cho quá trình tái tổ chức toàn chuỗi giá trị. Không phải chi phí cao làm ngành chững lại, mà chính cách ứng phó mới quyết định ngành sẽ đi xa đến đâu.

Ảnh: Hà Linh

Trung Quốc giữ vai trò

dẫn dắt thị trường

Cân nhắc yếu tố lợi - hại

Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu

thủy sản chủ lực, giúp ngành duy trì tăng trưởng

dương trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến

động. Tuy nhiên, thị trường này cũng tiềm ẩn

những rủi ro nhất định.

Theo thống kê của Hiệp

hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt

Nam (VASEP), xuất khẩu thủy

sản tháng 3/2026 đạt khoảng

927 triệu USD, tăng hơn 5% so với cùng kỳ. Lũy kế quý I đạt 2,64

tỷ USD, tăng gần 8%. Mức tăng

này thấp hơn đáng kể so với nhịp

tăng khoảng 20% của hai tháng

đầu năm, phản ánh rõ hơn sự

biến động của thị trường thế giới.

Động lực tăng trưởng

Đáng chú ý, trong quý I/2026, Trung Quốc giữ vị trí nước nhập

khẩu lớn nhất của thủy sản Việt

Nam, với kim ngạch đạt khoảng 764 triệu USD, tăng gần 45% so với cùng kỳ. Riêng tháng 3, xuất khẩu sang thị trường này đạt hơn 250 triệu USD, tăng trên 50%.

Đây không chỉ là mức tăng cao nhất trong các thị trường

trưởng dương trong bối cảnh nhiều thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đều giảm. VASEP cho rằng, các yếu tố giúp Trung Quốc trở thành động lực xuất khẩu trong quý I gồm mùa vụ, nhu cầu ổn định và lợi thế logistics. Cụ thể, về yếu tố

mùa vụ và tiêu dùng dịp Tết, năm nay Tết Nguyên Đán rơi vào giữa tháng 2, kéo theo nhu cầu nhập khẩu thủy sản, đặc biệt là tôm nguyên con, hải sản sống và sản phẩm phục vụ tiêu dùng cao cấp tăng mạnh từ cuối năm trước và kéo dài sang đầu quý I. Điều này lý giải mức tăng đột biến của các mặt hàng như tôm hùm và một phần tôm nói chung.

Số liệu nhập khẩu cho thấy, Trung Quốc tiếp tục gia tăng nhập khẩu tôm trong hai tháng đầu năm, với mức tăng khoảng 18%. Đáng chú ý, ở phân khúc tôm hùm sống, sự thay đổi về thuế quan và nguồn cung từ Canada đã tạo ra “khoảng trống thị trường”, mở ra cơ hội rõ rệt cho các nhà cung cấp thay thế, trong đó có Việt Nam. Thêm vào đó, lợi thế địa lý kề bên và tính linh hoạt của chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp Việt Nam tận dụng tốt hơn các nhịp tăng ngắn hạn của thị trường này, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm tiêu dùng.

Tuy nhiên, VASEP lưu ý rằng, tăng trưởng mạnh trong quý I cũng mang yếu tố thời điểm. Một phần kim ngạch tăng cao phản ánh nhu cầu tích trữ và phục vụ mùa vụ, hơn là xu hướng tăng trưởng nền dài hạn. Điều này đặt ra yêu cầu phải phân tách rõ giữa tăng trưởng mùa vụ và tăng trưởng thực chất khi đánh giá triển vọng các tháng tiếp theo.

Vai trò dẫn dắt của thị trường

Trung Quốc cũng ảnh hưởng rõ nét tới cơ cấu tăng trưởng của toàn ngành trong quý I. Ở nhóm tôm, tăng trưởng chủ yếu đến từ tôm hùm, sản phẩm có giá trị cao và phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc. Trong khi đó, tôm chân trắng – mặt hàng

chủ lực tại các thị trường Mỹ, EU gần như đi ngang, cho thấy

sự phục hồi chưa đồng đều giữa các phân khúc. Với cá tra, Trung

Quốc cũng tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, góp phần duy

trì mức tăng trưởng ổn định cho

mặt hàng này trong bối cảnh các

thị trường khác còn thận trọng. Ở nhóm thủy sản khác, các

sản phẩm như cua ghẹ, nhuyễn

thể cũng hưởng lợi từ nhu cầu

gia tăng tại các thị trường châu Á; trong đó, Trung Quốc đóng vai

trò quan trọng. Đáng chú ý, xuất

khẩu cá rô phi đang nổi lên như

một điểm sáng của ngành thủy

sản. Tiếp tục đà tăng trưởng cao

của năm 2025, quý I/2026 kim

ngạch xuất khẩu cá rô phi ước

đạt 35 triệu USD, tăng khoảng

190% so với cùng kỳ năm trước.

Tiểm ẩn rủi ro

Theo VASEP, dù mang lại tăng

trưởng tích cực, việc phụ thuộc

lớn vào thị trường Trung Quốc lại

khiến thuỷ sản đối mặt không ít rủi ro. Trước hết, tính biến động

theo chính sách và điều hành

nhập khẩu của Trung Quốc có

thể ảnh hưởng nhanh và mạnh

đến dòng chảy thương mại. Các

thay đổi về kiểm soát biên mậu, tiêu chuẩn chất lượng hoặc nhịp

cấp phép có thể khiến xuất khẩu

biến động trong thời gian ngắn. Ngoài ra, tính mùa vụ cao của

thị trường này khiến nhu cầu

không ổn định quanh năm. Sau

giai đoạn cao điểm đầu năm, nhập khẩu có thể chững lại trong các tháng tiếp theo, đặc biệt nếu

tồn kho nội địa tăng. Bên cạnh

đó, áp lực cạnh tranh với thủy

sản Việt Nam tại Trung Quốc ngày càng gia tăng, nhất là từ các nguồn cung lớn như Ecuador

trong phân khúc tôm nguyên con giá cạnh tranh. Do đó, dù Trung

Quốc là động lực chính trong

ngắn hạn, việc cân đối lại cơ cấu thị trường vẫn là yêu cầu quan

trọng để đảm bảo tăng trưởng

bền vững.

Trong khi Trung Quốc tăng

mạnh, các thị trường chủ lực

khác vẫn chưa phục hồi rõ rệt.

Xuất khẩu sang Mỹ trong quý I giảm hơn 10%. Điểm nghẽn lớn

nhất do cả yếu tố cầu và rào cản

kỹ thuật như Giấy chứng nhận

phân tích (COA) theo quy định của Đạo luật bảo vệ Thú biển

quy định (MMPA) cùng với thuế

chống bán phá giá tôm. Xuất

khẩu sang Nhật Bản và Hàn

Quốc cũng giảm khoảng 10%, phản ánh tiêu dùng chưa cải thiện đáng kể. Trong khi đó, xuất khẩu sang EU gần như đi ngang, cho thấy nhu cầu ổn định nhưng chưa đủ mạnh để tạo tăng trưởng. Tuy nhiên, thị trường này vẫn mở ra cơ hội ở phân khúc cá thịt trắng và các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn bền vững. Ở chiều tích cực, các thị trường như ASEAN, Australia hay một số thị trường mới nổi tiếp tục tăng trưởng, góp phần đa dạng hóa đầu ra. VASEP dự báo, xuất khẩu thuỷ sản trong quý II sẽ tiếp tục tăng trưởng dương nhưng phân hóa rõ rệt theo sản phẩm và thị trường. Theo đó, tôm và cá tra vẫn là trụ cột tăng trưởng.

Trung Quốc (bao gồm Hồng Kông) nhiều khả năng vẫn là thị trường đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, khi yếu tố mùa vụ qua đi, tăng trưởng sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào nhu cầu tiêu dùng thực và khả năng duy trì thị phần của doanh nghiệp Việt Nam. Các phân khúc phù hợp với nhu cầu giá hợp lý – tiện lợi có thể sẽ đóng vai trò quan trọng hơn so với nhóm sản phẩm cao cấp mang tính thời vụ. Mỹ và một số thị trường xuất khẩu truyền thống khác vẫn còn khó khăn. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp cần ưu tiên mở rộng khách hàng, thị trường sang các khu vực có lợi thế vị trí địa lý gần, logistics thuận tiện cùng với lợi thế thuế quan từ hệ thống hiệp định thương mại tự do (FTA) để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng.

Ảnh: Thi Hà
Gỡ “nút thắt” logistics

Đòn bẩy cho tăng trưởng ngành thủy sản

Biến động địa chính trị kéo dài đang làm đảo lộn chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó logistics trở thành “điểm nghẽn” lớn đối với ngành thủy sản Việt Nam. Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu giải được bài toán logistics, ngành thủy sản không chỉ vượt qua khó khăn mà còn tạo đà cho tăng trưởng dài hạn.

Áp lực logistics gia tăng Xung đột leo thang tại Trung Đông đã làm gia tăng rủi ro an ninh tại các tuyến hàng hải trọng yếu. Nhiều hãng tàu buộc phải chuyển hành trình khiến thời gian vận chuyển kéo dài thêm từ 7 - 10 ngày, thậm chí 10 - 20 ngày đối với một số tuyến xa.

Giá cước vận tải biển hiện cũng tăng lên chóng mặt khiến các doanh nghiệp “đau đầu” ứng phó. Theo đại diện một doanh nghiệp thủy sản, giá cước vận tải đặc biệt là container lạnh tăng vọt, với phụ phí phát sinh từ 1.500 - 4.000 USD/container, gây áp lực lớn lên lợi nhuận và chuỗi cung ứng. Nhiều đơn vị phải đối mặt với nguy cơ chậm giao hàng, tăng chi phí sản xuất và rủi ro từ biến động thị trường.

Không chỉ giá cước tăng, một số hãng tàu đã hạn chế hoặc tạm dừng nhận đơn hàng đi Trung Đông, khiến năng lực vận tải sụt giảm đáng kể. Điều này dẫn đến tình trạng gián đoạn cục bộ trong chuỗi logistics toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu thủy sản, lĩnh vực phụ thuộc lớn vào vận tải biển và hệ thống container lạnh. Trong khi thị trường, đặc biệt là các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản đều yêu cầu nghiêm ngặt về thời gian giao hàng và tiêu chuẩn bảo quản. Việc chậm trễ có thể dẫn đến bị phạt hợp đồng, thậm chí mất khách hàng.

Ngành thủy sản có kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 9 - 10 tỷ USD mỗi năm, logistics chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành, ước tính từ 12 - 20%, cao hơn mức trung bình toàn cầu (khoảng 10 - 12%). Riêng đối với sản phẩm

đông lạnh, chi phí vận chuyển và bảo quản có thể chiếm tới 25%.

Một doanh nghiệp xuất khẩu tôm tại Cà Mau cho biết, trong quý I/2026, có lô hàng phải kéo dài thời gian vận chuyển thêm 12

ngày so với kế hoạch, khiến chi phí phát sinh tăng gần 15% và phải giảm giá bán để giữ khách.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng

Thư ký Hiệp hội Chế biến và

Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), khó khăn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu đơn hàng, mà là việc tổ chức vận chuyển. Khi tuyến vận tải bị gián đoạn, toàn bộ kế hoạch xuất

khẩu bị ảnh hưởng.

Doanh nghiệp gồng mình giữ

đơn hàng

Cùng với sự gián đoạn tuyến vận tải, chi phí logistics đang leo thang nhanh chóng, tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp xuất khẩu. Bên

cạnh đó, các khoản phụ phí như phí bảo hiểm chiến tranh, phụ phí

rủi ro, chi phí nhiên liệu… cũng

tăng theo, làm chi phí logistics

ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.

Đại diện VASEP cho biết, đối với những mặt hàng có biên lợi

nhuận thấp như cá tra, tôm đông lạnh, việc chi phí vận tải tăng mạnh có thể khiến doanh nghiệp gần như không còn lãi. Nhiều doanh nghiệp buộc phải chia sẻ chi phí với đối tác hoặc chấp nhận giảm lợi nhuận để giữ thị trường.

Trong bối cảnh cạnh tranh

toàn cầu ngày càng gay gắt, việc tăng giá bán không phải lúc nào cũng khả thi, khiến doanh nghiệp rơi vào thế khó khi vừa phải duy trì đơn hàng, vừa phải kiểm soát chi phí.

Bên cạnh tác động từ bên ngoài, hệ thống logistics trong nước vẫn tồn tại nhiều hạn chế kéo dài. Đáng chú ý là sự thiếu

đồng bộ trong chuỗi cung ứng và hạ tầng logistics lạnh chưa đáp ứng yêu cầu.

Hiện nay, khoảng 70 - 80%

sản lượng thủy sản xuất khẩu tập trung ở khu vực Đồng bằng

sông Cửu Long, nhưng hệ thống

kho lạnh và trung tâm logistics

quy mô lớn tại đây còn hạn chế.

Phần lớn doanh nghiệp phải vận

chuyển hàng lên TP Hồ Chí Minh

để xuất khẩu, làm tăng chi phí từ 10 - 15%.

Theo ước tính, Việt Nam có

khoảng 700 - 800 kho lạnh với

tổng công suất hơn 1 triệu pallet, nhưng phân bố không đồng đều

và thiếu các trung tâm logistics

tích hợp. Trong khi đó, nhu cầu

lưu trữ lạnh của ngành thủy sản và nông sản dự báo tăng 8 - 10% mỗi năm.

“Thách thức từ xung đột Trung Đông là phép thử cho bản lĩnh và sức sáng tạo của ngành. Trong ngắn hạn cần ưu tiên ổn định sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu gắn với tiêu thụ nội địa, về dài hạn phải tái cấu trúc ngành theo hướng nâng cao giá trị và tăng tính tự chủ, nhằm giữ vững vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế trong bối cảnh nhiều bất định toàn cầu”.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng

Chi phí vận tải biển gia tăng gây áp lực lớn cho doanh nghiệp xuất

Một điểm nghẽn khác là sự phụ thuộc lớn vào các hãng tàu nước ngoài. Hiện nay, hơn 90%

thị phần vận tải container quốc

tế của Việt Nam do các hãng tàu nước ngoài nắm giữ. Điều này khiến doanh nghiệp trong nước khó chủ động về giá cước và lịch trình vận chuyển.

Đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, chia sẻ, việc giao hàng chậm không chỉ làm tăng chi phí mà còn ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp. Bởi nếu chậm tiến độ, doanh nghiệp có thể bị phạt hợp đồng, thậm chí mất khách hàng.

Tình trạng thiếu container lạnh cũng bắt đầu xuất hiện khi nhiều container bị “kẹt” tại các khu vực xung đột, không thể quay vòng về châu Á. Điều này khiến nguồn cung container trở nên căng thẳng, đặc biệt trong những thời điểm cao điểm xuất khẩu. Hệ quả là toàn bộ chuỗi cung ứng đều bị ảnh hưởng, buộc doanh nghiệp phải liên tục điều chỉnh kế hoạch sản xuất.

Dưới góc nhìn doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Đạo, Chủ tịch

Hội đồng quản trị kiêm Tổng

Giám đốc Công ty Cổ phần Gò

Đàng (Godaco Seafood), chia sẻ, hiện nay trong cơ cấu xuất khẩu

của Godaco, thị trường Trung

Đông chỉ chiếm khoảng 5 - 10%, do đó chi phí vận chuyển sang khu vực này chưa phải là mối lo quá lớn. Tuy nhiên, một số tuyến vận tải biển đi qua khu vực Trung

Đông đang chịu tác động từ tình

hình xung đột, khiến chi phí vận chuyển có xu hướng tăng.

Chủ động, linh hoạt để vượt khó

Trước những thách thức trên, các chuyên gia cho rằng ngành

thủy sản cần tái cấu trúc hệ

thống logistics theo hướng chủ

động và thích ứng cao hơn với

biến động toàn cầu. Đồng thời, cần xây dựng kế hoạch linh hoạt về thời gian giao hàng, tránh phụ

thuộc vào một tuyến duy nhất.

Theo các chuyên gia, để ứng

phó với tình hình, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa tuyến

vận tải, tăng cường hợp tác với nhiều hãng tàu nhằm đảm bảo năng lực vận chuyển. Ngoài ra, việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực bảo quản và tăng dự trữ hàng hóa cũng là những giải pháp quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro.

Việc mở rộng thị trường sang

Trung Đông, Nam Á, châu Phi cũng giúp phân tán rủi ro. Năm 2025, xuất khẩu thủy sản sang

khu vực Trung Đông tăng khoảng 15 - 20%, cho thấy tiềm năng lớn trong bối cảnh các thị trường truyền thống gặp khó.

Thêm nữa, phát triển logistics lạnh trong nước được xem là chìa khóa để giảm chi phí. Khi các trung tâm logistics được đặt tại Đồng bằng sông Cửu Long có thể giúp giảm 10 - 20% chi phí vận chuyển nội địa.

Như nhận định của bà Lê Hằng, Giám đốc Truyền thông VASEP, khó khăn từ xung đột Trung Đông là thách thức lớn, nhưng cũng là cơ hội để doanh nghiệp nhìn lại và tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng bền vững hơn. Khả năng thích ứng sẽ quyết định năng lực

cạnh tranh trong giai đoạn tới.

Liên kết - Đòn bẩy cho phát triển bền vững

Để giải bài toán logistics một cách căn cơ, vai trò của Nhà

nước và liên kết ngành là yếu tố then chốt. Trong đó, cần có chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng logistics, đặc biệt là kho lạnh và trung tâm logistics tại các vùng nuôi trọng điểm. Việc giảm phí cảng biển, phí lưu container và hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư logistics cũng sẽ góp phần giảm chi phí.

Ông Nguyễn Văn Đạo, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Godaco Seafood: Khó khăn lớn nhất hiện nay là giá xăng dầu liên tục tăng cao, kéo theo hàng loạt chi phí khác gia tăng. Khi giá nhiên liệu tăng, hầu hết các ngành nghề đều chịu tác động, trong đó có ngành thủy sản.

Bên cạnh đó, phát triển đội tàu vận tải biển quốc gia là giải pháp dài hạn để giảm phụ thuộc vào hãng tàu nước ngoài. Hiện nay, đội tàu container của Việt Nam mới chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu vận tải quốc tế, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn. Thêm nữa, cần tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành hàng cũng là một hướng đi quan trọng. Thông qua đó, doanh nghiệp có thể cùng đàm phán với hãng tàu, chia sẻ thông tin và phối hợp vận chuyển, từ đó nâng cao vị thế trên thị trường.

Ngoài ra, việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) như EVFTA, CPTPP cũng sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho logistics thông qua việc đơn giản hóa thủ tục và giảm chi phí. Xung đột Trung Đông đang tạo ra một cú sốc logistics đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với những tác động rõ nét từ chi phí vận tải, thời gian giao hàng đến năng lực chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, việc chủ động thích ứng, nâng cao năng lực và giảm phụ thuộc vào các tuyến vận tải rủi ro sẽ là chìa khóa giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới.

Mở hướng đi đa giá trị cho kinh tế biển

Trong bối cảnh ngành khai thác thủy sản đối mặt

nhiều thách thức, từ suy giảm nguồn lợi đến chi phí sản xuất gia tăng, việc chuyển đổi mô hình sinh kế cho ngư dân đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Tại nhiều địa phương ven biển, mô hình kết hợp dịch

vụ hậu cần nghề cá với du lịch giải trí đang mở ra

hướng đi mới, vừa tận dụng hạ tầng sẵn có, vừa tạo sinh kế bền vững.

Khai thác tiềm năng sẵn có tại

các địa phương

Tại Quảng Ninh, với lợi thế nổi

trội của một tỉnh ven biển đã tạo

thành điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển mô hình kết hợp

dịch vụ hậu cần nghề cá và du lịch giải trí. Nhiều tàu dịch vụ hậu cần

đã được cải hoán để phục vụ du khách trải nghiệm câu mực đêm, kéo lưới, tham quan làng chài.

Theo định hướng của Quảng Ninh, giai đoạn 2026 - 2030 tỉnh sẽ tiếp

tục giảm mạnh tàu khai thác ven bờ, khuyến khích ngư dân chuyển

sang dịch vụ hậu cần, nuôi trồng và du lịch. Các trung tâm hậu cần nghề cá tại Vân Đồn, Cô Tô đang

được đầu tư theo hướng đa chức năng, vừa phục vụ sản xuất, vừa có thể tích hợp dịch vụ du lịch, tham quan, trải nghiệm. Một lãnh đạo ngành nông nghiệp địa phương cho biết, Quảng Ninh định hướng phát triển

kinh tế biển theo hướng giảm khai thác, tăng dịch vụ và giá trị gia tăng. Trong đó, việc kết hợp hậu cần nghề cá với du lịch sẽ tạo thêm sinh kế cho ngư dân và hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù. Ở khu vực miền Trung, Khánh Hòa tận dụng thế mạnh nuôi biển để phát triển du lịch trải nghiệm. Tại Vịnh Nha Trang, hàng trăm bè nuôi tôm hùm, cá biển trở thành điểm đến hấp dẫn. Tàu hậu cần không chỉ vận chuyển thức ăn, con giống mà còn đưa khách tham quan, trải nghiệm thu hoạch và chế biến hải sản ngay trên bè. Tại Quảng Nam, khu vực Cù Lao Chàm phát triển mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng chài. Dịch vụ hậu cần nghề cá được lồng ghép với hoạt động lưu trú, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa, góp phần tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương. Trong khi đó, An Giang, đặc biệt là Phú Quốc, đã Ảnh: Thảo Quyên

hình thành các tour câu cá, câu mực đêm trên chính tàu khai thác hoặc tàu hậu cần cải hoán.

Theo đánh giá chung, việc tận dụng tàu thuyền, cảng cá và kinh nghiệm sản xuất sẵn có giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu, đồng thời tạo ra sản phẩm du lịch mang tính khác biệt.

Tháo gỡ vướng mắc để tận dụng tối đa lợi thế

Thực tế cho thấy, mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá kết hợp du lịch trải nghiệm, du lịch sinh thái mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Tại một số địa phương như Khánh Hòa, An Giang (Kiên Giang cũ), thu nhập từ hoạt động du lịch kết hợp có thể chiếm phần quan trọng trong tổng thu nhập của hộ ngư dân tham gia, thậm chí cao hơn vào mùa du lịch cao điểm. Việc tiêu thụ hải sản ngay trên tàu hoặc tại làng chài cũng giúp nâng giá trị sản phẩm thêm 10 - 20% so với bán buôn truyền thống.

Không chỉ gia tăng thu nhập, mô hình còn góp phần tạo việc làm tại chỗ, giảm tình trạng lao động rời bỏ nghề biển. Đồng thời, khi một bộ phận ngư dân chuyển sang làm dịch vụ, cường lực khai thác giảm, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Ông Nguyễn Văn Hải, một ngư dân tại Phú Quốc, chia sẻ: “Trước đây chỉ đi biển, thu nhập bấp bênh theo mùa. Từ khi kết hợp làm du lịch, mỗi chuyến ra khơi có thêm khách, thu nhập ổn định hơn nhiều, lại không phải đánh bắt quá nhiều như trước”. Tuy nhiên, mô hình vẫn đối mặt không ít rào cản. Đáng chú ý là thiếu hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động tàu cá chở khách. Nhiều tàu chưa đáp ứng tiêu chuẩn an toàn du lịch, trong khi thủ tục cải hoán còn phức tạp. Bên cạnh đó, hạ tầng cảng cá, khu neo đậu ở nhiều nơi chưa

đáp ứng yêu cầu kép. Thêm nữa, vấn đề môi trường tại một số làng chài, đặc biệt là rác thải và nước thải, cũng ảnh hưởng đến trải nghiệm của du khách.

Theo một cán bộ quản lý ngành thủy sản, cần sớm ban

hành quy định cụ thể về tiêu

chuẩn kỹ thuật, an toàn đối với

tàu cá kết hợp du lịch, đồng thời có chính sách hỗ trợ tín dụng để ngư dân cải hoán phương tiện.

Định hướng cho phát triển đa dạng kinh tế biển

Trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững, mô hình kết hợp hậu cần nghề cá với du lịch được

đánh giá là hướng đi phù hợp với xu thế kinh tế biển đa giá trị.

Năm 2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1090/

QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển khai thác thủy

sản hiệu quả, bền vững giai đoạn 2022 - 2025, định hướng 2030,

Chương trình có 6 dự án ưu tiên.

Trong đó, từ năm 2022 - 2030,

Chương trình ưu tiên triển khai

Dự án thí điểm gắn khai thác, dịch vụ nghề cá với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng tại cảng

cá, làng chài, làng nghề truyền

thống ven biển tại các tỉnh như:

Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Kiên Giang.

Theo đó, sẽ xây dựng ít nhất

một mô hình thí điểm du lịch cộng

đồng tại các mỗi địa phương trong giai đoạn 2021 - 2025 và nhân rộng ra các tỉnh, thành phố ven biển có điều kiện phù hợp. Chuyển đổi một số tàu cá khai thác sang phục vụ phát triển du lịch. Hỗ trợ quy hoạch, đầu tư hạ

tầng tại các điểm phát triển du lịch cộng đồng; hỗ trợ xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch; đồng thời

đẩy mạnh công tác truyền thông, quảng bá du lịch cộng đồng.

Nghị quyết về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt

Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 cũng nhấn mạnh yêu

cầu phát triển kinh tế biển theo hướng tổng hợp, đa ngành, trong

đó kết hợp chặt chẽ giữa khai thác, nuôi trồng thủy sản với dịch vụ và du lịch biển.

Theo định hướng này, các ngành mũi nhọn của kinh tế biển

bao gồm khai thác và nuôi trồng thủy sản, dịch vụ logistics, hậu cần nghề cá, du lịch biển và đảo.

Các lĩnh vực trên cần được tổ chức liên kết, bổ trợ lẫn nhau nhằm nâng cao giá trị gia tăng, thay vì phát triển đơn lẻ như trước đây.

Tuy nhiên, để mô hình này phát triển hiệu quả, các tỉnh ven biển cần đồng bộ nhiều giải pháp.

Chẳng hạn, tỉnh Quảng Ninh thúc đẩy phát triển các trung tâm hậu cần nghề cá đa chức năng,

xây dựng làng chài, làng nghề thủy sản thành sản phẩm du lịch. Cùng đó, khuyến khích mô hình nuôi biển kết hợp trải nghiệm và đào tạo kỹ năng du lịch cho cộng đồng ngư dân. Với lượng khách du lịch đạt hàng chục triệu lượt mỗi năm, Quảng Ninh có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh các sản phẩm trải nghiệm nghề cá như câu mực đêm, tham quan làng chài, du lịch nuôi biển. Đây cũng là cơ sở để tỉnh thu hút đầu tư của các doanh nghiệp. Thành phố Đà Nẵng cũng cụ thể hóa chủ trương này thông qua các đề án phát triển cảng cá gắn với du lịch. Điển hình, mô hình tại cảng cá Thọ Quang được quy hoạch thành tổ hợp đa chức năng, kết hợp chợ đầu mối thủy sản, dịch vụ hậu cần và không gian tham quan, trải nghiệm cho du khách. Ngành thủy sản cũng đã và đang định hướng chuyển dịch cũng rất rõ nét trong việc giảm khai thác, tăng dịch vụ và giá trị gia tăng. Việc phát triển đội tàu hậu cần nghề cá không chỉ phục vụ sản xuất mà còn mở rộng sang các hoạt động dịch vụ, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động ven biển. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái biển ngày càng cao, mô hình kinh tế biển xanh cũng được thúc đẩy mạnh mẽ. Theo các chuyên gia, việc kết hợp sản xuất với dịch vụ và du lịch giúp tối ưu hóa khai thác tài nguyên, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường biển. Kết hợp nghề cá với du lịch không chỉ tạo sinh kế mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên và văn hóa biển. Đây không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là nền tảng để tái cấu trúc ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững và giàu giá trị gia tăng.

Hân Các tour câu cá, câu mực đêm tại Phú Quốc thu hút đông du khách trải nghiệm Ảnh: ST

Siết chặt chống khai thác IUU

sau thanh tra lần thứ 5 của EC

Các bộ, ngành và địa phương đang tập trung khắc phục tồn tại, hoàn thiện thể chế, kiểm soát chặt hoạt động khai thác và truy xuất nguồn gốc thủy sản, nhằm tạo chuyển biến thực chất trong quản lý nghề cá, hướng tới gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của EC.

Tập trung khắc phục tồn tại

Lần thanh tra thứ 5 của Ủy ban châu Âu (EC) tại Việt Nam

trong tháng 3/2026 được xem là dấu mốc quan trọng trong hành trình gỡ “thẻ vàng” đối với ngành thủy sản. Kết thúc đợt làm việc, bên cạnh những đánh giá tích cực, Đoàn thanh tra EC cũng chỉ ra nhiều tồn tại cần khắc phục, đặt ra yêu cầu siết chặt hơn nữa công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Trong bối cảnh báo cáo chính thức của EC dự kiến công bố vào ngày 19/4, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai các giải pháp khắc phục theo từng mốc thời gian cụ thể. Nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh tinh thần cầu thị, thẳng thắn nhìn nhận tồn tại, xử lý dứt điểm những vấn đề EC nêu ra, đặc biệt là các nội dung có thể hoàn thành ngay trong ngắn hạn.

Tại buổi làm việc với lãnh

đạo Chính phủ ngày 19/3, ông Fernando Andresen Guimaraes, Trưởng đoàn thanh tra IUU của EC đánh giá, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong hoàn thiện khung pháp lý, quản lý đội tàu và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc, thể hiện quyết tâm hướng tới nghề cá bền vững và kinh tế xanh.

Đặc biệt, cách tiếp cận toàn diện với sự chỉ đạo sát sao từ Chính phủ, sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp đã tạo ra chuyển biến tích cực trong quản

lý nghề cá. Điều này cho thấy, Việt Nam đang đi đúng hướng trong

việc xây dựng ngành thủy sản có trách nhiệm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, EC cũng thẳng thắn chỉ ra một số tồn tại, trong đó nổi

bật là tính minh bạch của nguyên

liệu hải sản tại các nhà máy chế biến xuất khẩu, tình trạng tàu cá

mất kết nối thiết bị giám sát hành

trình, việc chuyển thiết bị giữa

các tàu để né tránh kiểm soát và công tác truy xuất nguồn gốc

chưa đồng bộ.

Bốn nhóm khuyến nghị từ EC

Sau đợt kiểm tra, Đoàn thanh tra EC đã đưa ra các khuyến nghị tập trung vào bốn nhóm

vấn đề trọng tâm, được xem là

định hướng quan trọng để Việt Nam hoàn thiện hệ thống quản lý

nghề cá.

Trước hết là hoàn thiện khung pháp lý. EC đề nghị, bổ sung các chế tài mạnh như tước giấy phép khai thác, tịch thu tàu cá đối với

hành vi vi phạm nghiêm trọng;

đồng thời coi hành vi tháo niêm

phong hoặc chuyển thiết bị giám

sát hành trình là vi phạm nghiêm

trọng cần xử phạt ở mức cao

nhất để tăng tính răn đe.

Thứ hai là quản lý và giám sát

hoạt động tàu cá. Tất cả tàu đã

đăng ký phải được đánh dấu,

quản lý đầy đủ, kể cả khi neo

đậu tại bờ; đồng thời tăng cường

phối hợp liên ngành trong kiểm

soát tàu ra vào cảng và hoạt

động trên biển nhằm ngăn chặn

vi phạm từ sớm.

Thứ ba là truy xuất nguồn gốc

thủy sản khai thác. EC yêu cầu, kiểm soát chặt nguyên liệu từ

cảng đến doanh nghiệp và xuất

khẩu, đặc biệt là hàng vận chuyển

bằng container, đồng thời tăng

cường kiểm tra tại doanh nghiệp

để phát hiện và xử lý việc sử dụng nguyên liệu bất hợp pháp.

Thứ tư là thực thi pháp luật.

EC nhấn mạnh, việc đẩy nhanh

xử lý các tàu cá vi phạm, thống nhất dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương, tăng cường xử

phạt hành chính để bảo đảm tính

nghiêm minh của pháp luật.

Chính phủ chỉ đạo siết chặt

toàn diện

Tiếp thu các khuyến nghị của

EC, Chính phủ đã yêu cầu siết

chặt toàn diện công tác chống

khai thác IUU. Ngày 31/3, Văn

phòng Chính phủ ban hành

Thông báo 159/TB-VPCP truyền

đạt kết luận của Phó Thủ tướng

Trần Hồng Hà tại Phiên họp lần

thứ 33 của Ban Chỉ đạo quốc

gia về chống khai thác IUU, yêu

cầu khẩn trương triển khai các

nhiệm vụ cấp bách nhằm khắc

phục tồn tại theo khuyến nghị

của EC.

Ngày 27/3, nguyên Phó Thủ

tướng Trần Hồng Hà chủ trì

Phiên họp lần thứ 33 với sự tham gia của Bộ Nông nghiệp và Môi

trường cùng các bộ, ngành liên

quan để rà soát tiến độ thực hiện

các nhiệm vụ chống khai thác

IUU sau đợt thanh tra của EC.

Kết luận phiên họp, ông Trần

Hồng Hà giao Bộ Nông nghiệp

và Môi trường chịu trách nhiệm

trước Chính phủ và Thủ tướng

Chính phủ về kết quả triển khai

các nhiệm vụ chống khai thác

IUU, đồng thời trực tiếp chỉ

đạo, đôn đốc việc thực hiện các

khuyến nghị của EC; khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động cụ

thể, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả và đúng tiến độ.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường

chịu trách nhiệm trực tiếp trong

việc xây dựng kế hoạch thực

hiện các khuyến nghị, đồng thời

hoàn thiện báo cáo giải trình gửi

EC theo đúng thời hạn. Báo cáo giải trình phải thẳng thắn, đầy

đủ, không hình thức, xác định rõ các tồn tại và giải pháp khắc

phục cụ thể, khả thi. Đẩy nhanh

dự thảo nghị định xử phạt vi

phạm hành chính lĩnh vực thủy

sản, bổ sung đầy đủ hành vi vi

phạm và tăng mức xử phạt, bảo

đảm tính răn đe.

Bên cạnh đó, cần sớm hoàn thiện quy định về kiểm soát truy xuất nguồn gốc nguyên liệu nhập khẩu, quản lý doanh nghiệp và hệ thống kiểm soát chuỗi khai thác – thu mua – chế biến – xuất

khẩu, nhằm khắc phục những “khe hở” trong quản lý hiện nay. Nguyên Phó Thủ tướng yêu cầu, khẩn trương rà soát nhóm tàu từ 12m đến dưới 15m, bởi đây là đối tượng chưa được quản lý đầy đủ và tiềm ẩn nguy cơ vi phạm cao. Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu mở rộng đối tượng lắp thiết bị giám sát hành trình đối với toàn bộ tàu từ 12m trở lên, ban hành hướng dẫn cụ thể với trường hợp

lý mua bán, chuyển nhượng tàu cá, bảo đảm mọi tàu đều có chủ sở hữu rõ ràng,

quản lý thống nhất. Trường hợp tàu vượt ranh giới vùng biển Việt Nam qua dữ liệu giám sát hành trình phải được xác định là vi phạm và xử lý ngay. Song song với quản lý đội tàu, việc hoàn thiện hệ thống dữ liệu nghề cá cũng được đặt ra với yêu cầu cao hơn. Các cơ sở dữ liệu phải được vận hành thống nhất, cập nhật đầy đủ và liên thông giữa các cơ quan quản lý, bảo đảm thông tin chính xác và kịp thời. Hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử cần kiểm soát toàn bộ chuỗi từ khai thác, thu mua, chế biến đến xuất khẩu, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong từng khâu. Chính phủ yêu cầu các địa phương nâng cao trách nhiệm quản lý tàu cá, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm và kiểm điểm tổ chức, cá nhân liên quan nếu để xảy ra sai phạm. Thời gian từ nay đến khi EC công bố báo cáo chính thức được xem là giai đoạn quyết định, đòi hỏi các bộ, ngành và địa phương triển khai quyết liệt các giải pháp, tạo chuyển biến rõ rệt trong thực tế, mục tiêu lâu dài không chỉ dừng ở việc gỡ cảnh báo “thẻ vàng”, mà còn hướng tới xây dựng nghề cá bền vững, minh bạch. 

TRƯỚC VÀ SAU XUNG ĐỘT ĐỊA

• Xung đột tại Trung Đông (khu vực Biển Đỏ, Eo biển Hormuz) gây chấn động chuỗi logistics toàn cầu.

• Hành trình vận tải bị đảo lộn hoàn toàn, buộc các hãng tàu thay đổi tuyến đường truyền thống.

• Doanh nghiệp xuất khẩu đối mặt với “cú sốc” tăng

chi phí và thời gian giao hàng kéo dài.

2. Chi phí logistics trước xung đột

Cước vận tải biển: Khoảng 2.000 - 2.200 USD/container đi thị trường Trung Đông.

Giá nhiên liệu: Dầu Brent dao động khoảng 70 - 75 USD/thùng (thời điểm trước tháng 3/2026).

Tuyến vận chuyển: Các tàu di chuyển qua lộ trình truyền thống Kênh đào Suez và Biển Đỏ.

70 - 75 USD

4.

Chi phí vận tải: Tăng trung

bình 200 - 300% đối với các tuyến qua khu vực xung đột.

Thời gian vận chuyển: Kéo

dài thêm 7 - 20 ngày tùy thuộc vào khu vực.

Thay đổi tuyến đường: Buộc phải vòng qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi).

1. Tổng quan nhanh
So sánh trước và sau xung đột
Eo biển Hormuz

3. Chi phí logistics sau xung đột

Phụ phí phát sinh:

• Phụ phí chiến tranh (WRS) và phụ phí khẩn

Tăng cước vận tải:

• Cước vận tải biển tăng vọt

gấp 2 - 3 lần.

• Cước vận tải nông sản, gỗ

tăng 25 - 35% .

Doanh nghiệp xuất khẩu: Phụ phí “nuốt trọn” lợi nhuận; nguy cơ bị đối tác ép giá hoặc từ chối nhận hàng do chậm trễ.

cấp (ECS): 1.500 - 4.000 USD/container

• Cước container lạnh (reefer): Tăng thêm 2.000 - 4.000 USD/container.

• Phụ phí chuyển hướng bắt buộc: 800 USD/container.

• Giá nhiên liệu: Dầu Brent tăng lên 80 - 85

USD/thùng (04/03/2026); xăng tại Mỹ tăng 27% so với tháng 3/2025.

5. Tác động chính

Chuỗi cung ứng: Nguy cơ đứt gãy chuỗi lạnh; ùn tắc tại các cảng trung trung chuyển như Jebel Ali.

Xu hướng chi phí logistics toàn

Thị trường thủy sản: Chi phí nhiên liệu tăng đẩy giá nguyên liệu đầu vào lên cao; áp lực lớn đối với các mặt hàng cần bảo quản nghiêm ngặt.

Nâng cao hiệu quả

mô hình tôm - lúa

Mô hình tôm - lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là hướng sản xuất thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt trong bối cảnh xâm

nhập mặn ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, để nâng cao năng suất, chất lượng và đảm bảo tính bền vững, mô hình này vẫn cần những giải pháp đồng bộ từ kỹ thuật, tổ chức sản xuất đến thị trường tiêu thụ.

Mở rộng diện tích

Mô hình nuôi tôm - lúa là một phương thức canh tác kết hợp giữa nuôi tôm và trồng lúa trên cùng một diện tích đất trong năm. Mô hình này đang được áp dụng ở vùng ven biển (nơi chưa có hoặc có hệ thống thủy lợi nhưng chưa hoàn chỉnh), đặc biệt là ở các tỉnh ĐBSCL. Đây là mô hình nuôi tận dụng nước mặn trong mùa khô để nuôi tôm và nước ngọt trong mùa mưa để trồng lúa, hoặc tôm và lúa cùng một địa điểm và thời gian. Đến nay, mô hình có sự phát triển cả về phương thức sản xuất lẫn đa dạng hóa cây, con; đem lại thu nhập cao cho nông dân, nhất là những hộ ở vùng ven biển ĐBSCL. Đáng chú ý, sau năm 2000, sự phát triển nóng của nuôi tôm thâm canh đã gây ra nhiều hệ lụy môi trường như ô nhiễm nguồn nước, suy thoái đất và gia tăng dịch bệnh. Trước những tác động tiêu cực này, nhiều hộ dân đã quay trở lại mô hình tôm - lúa như một lựa chọn an toàn và bền vững hơn, góp phần cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ hệ sinh thái.

Diện tích mô hình tôm - lúa trong vùng tăng nhanh qua các năm. Các tỉnh, thành phố như TP Cần Thơ, An Giang, Cà Mau là những địa phương phát triển mạnh mô hình này. Năm 2026, TP Cần Thơ tiếp tục duy trì, nhân rộng các mô hình tôm - lúa hiệu quả gắn với đầu tư thủy lợi. Tổng diện tích vùng tôm - lúa khoảng 17.700 ha, trong đó lúa chiếm 55%. Vụ tôm - lúa 2025 - 2026, tỉnh An Giang có khoảng 107.000 ha.

Còn tại Cà Mau, diện tích tôm - lúa của địa phương hiện có khoảng 93.000 ha, trong đó, hơn 40.000 ha canh tác sinh thái - hữu cơ. Từ những mô hình thí điểm ban đầu, đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được hàng trăm ha sản xuất “lúa thơm - tôm sạch” theo các tiêu chuẩn trong và ngoài nước như BAP, ASC, GlobalGAP,... Tiên phong trong mô hình này là Hợp tác xã (HTX) tôm - lúa Trí Lực (xã Trí Phải), HTX nông nghiệp tổng hợp Ba Đình (xã Vĩnh Lộc), Liên hiệp HTX lúa thơm - tôm sạch Bạc Liêu (xã Hòa Bình),... Nhiều mô hình canh tác lúa sạch, lúa sinh thái kết hợp nuôi tôm hữu cơ đã mang lại hiệu quả cao, cải thiện thu nhập và bảo vệ hệ sinh thái.

Mô hình sản xuất thông minh

Theo TS Trần Hữu Hiệp - Chuyên gia kinh tế vùng ĐBSCL, ở ĐBSCL tôm - lúa không phải mô hình mới nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn gia tăng, đang trở thành hướng đi tiêu biểu của nông nghiệp xanh, thích ứng tự nhiên.

Thực tế cho thấy, mô hình này mang lại nhiều lợi ích cả về kinh tế, môi trường và xã hội. Về kinh tế, thu nhập từ mô hình tôm - lúa cao hơn đáng kể so với canh tác lúa thuần, có nơi cao gấp 3 - 4 lần. Ngoài ra, sản phẩm tôm và lúa thường đạt tiêu chuẩn “sạch”, “hữu cơ” do hạn chế sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất.

Về môi trường, mô hình tôm - lúa có tính tuần hoàn sinh thái rõ rệt. Sau một vụ nuôi tôm, việc trồng lúa giúp cải tạo đất, giảm độ mặn và cắt

đứt vòng đời của nhiều mầm bệnh. Ngược lại, vụ tôm tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa, hạn chế ô nhiễm môi trường. Mô hình lúa - tôm không chỉ giúp nhiều hộ

dân vươn lên thoát nghèo mà còn trở thành sinh kế bền vững cho hàng chục nghìn hộ nông dân. Nông dân không còn phụ thuộc vào cây lúa đơn thuần mà có thêm nguồn thu từ con tôm, góp phần cân đối kinh tế gia đình. Hơn 5 năm nay, ông Phạm Văn Thuận, ấp Xẻo Gia, xã Vĩnh Bình, tỉnh An Giang chuyển đổi 3 ha mặt nước nuôi tôm quảng canh cải tiến sang mô hình luân canh lúa - tôm càng xanh - tôm thẻ chân trắng, thu nhập từ 300 triệu đồng/năm. Ông Thuận cho hay: “Mùa mưa, tôi rửa mặn, tiến hành gieo sạ lúa. Sau một vụ tôm, chất thải trong đất trở thành nguồn chất dinh dưỡng cho cây lúa, không cần thêm phân bón. Rơm rạ sau khi thu hoạch lúa bị phân hủy sẽ tạo môi trường sống và nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng cho tôm trong vụ nuôi tiếp theo. Nhờ cách làm này, tôi vừa giảm được chi phí sản xuất, vừa tăng hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích canh tác”.

Hiện nay, một số HTX bắt đầu tiếp cận việc xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm tôm - lúa bằng việc kết nối với các doanh nghiệp hình thành các chuỗi liên kết sản xuất.

HTX tôm - lúa Thạnh An (xã Đông Hòa, tỉnh

An Giang) thực hiện ký kết sản xuất lúa - tôm hữu cơ với các doanh nghiệp, giúp các thành viên có đầu ra ổn định. Ông Nguyễn Văn Khánh, Giám đốc HTX tôm - lúa Thạnh An cho biết: “Người tiêu dùng đang có xu hướng chuyển sang sử dụng

các sản phẩm sạch, an toàn, thân thiện môi trường. Nắm bắt điều này, HTX tiếp tục kết nối với doanh nghiệp trong việc sản xuất lúa - tôm theo quy trình sạch, hữu cơ. Tôi mong muốn HTX không chỉ là nơi tập hợp bà con sản xuất, mà còn là cầu nối để đưa sản phẩm của nông dân bước ra thị trường lớn, hướng đến xuất khẩu”.

Tôm - lúa cần cú hích mới Mặc dù mô hình tôm - lúa được đánh giá là phương thức canh tác tuần hoàn, hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, năng suất tôm - lúa hiện nhìn chung vẫn còn thấp.

Ngoại trừ Cần Thơ áp dụng mô hình quảng canh cải tiến nâng cao và bán thâm canh với năng suất tôm đạt khoảng 0,96 tấn/ha, các địa phương khác chỉ đạt từ 0,3 đến 0,5 tấn/ ha. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế về hạ tầng thủy lợi, trình độ kỹ thuật, năng lực quản lý và khả năng tiếp cận khoa học công nghệ. Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi ở nhiều nơi chưa đồng bộ, chưa kiểm soát hiệu quả hạn mặn; giao thông khó khăn làm hạn chế cơ giới hóa; thị trường tiêu thụ biến động mạnh, cạnh tranh cao; liên kết chuỗi giá trị còn yếu, khiến hiệu quả của nhiều mô hình chưa tương xứng với tiềm năng.

Nhằm đánh giá toàn diện vai trò, thuận lợi và thách thức của hệ thống tôm - lúa, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) đã triển khai nghiên cứu cơ bản tại ĐBSCL. Nghiên cứu tập trung phân tích sự dịch chuyển chính sách, đặc điểm kỹ thuật, hiệu quả kinh tế, năng lực của nông dân và cơ quan quản lý, tổ chức sản xuất, thị trường và chuỗi giá trị. Trên cơ sở đó, GIZ đề xuất các giải pháp phát triển bền vững mô hình tôm - lúa theo hướng thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Các giải pháp được đề xuất bao gồm đầu tư đồng bộ hạ tầng thủy lợi, giao thông và điện phục vụ sản xuất; tăng cường chuyển giao khoa học công nghệ; nâng cao năng lực quản lý cho hợp tác xã; xây dựng và củng cố liên kết chuỗi giá trị với doanh nghiệp tiêu thụ; đồng thời hoàn thiện chính sách tín dụng phù hợp với đặc thù sản xuất tôm - lúa.

Chiến sự làm gia tăng chi phí

Theo đánh giá của các doanh nghiệp thủy sản, tác động tiêu

cực từ chiến sự ở Trung Đông

đang ngày một rõ ràng hơn, lớn hơn và khó đoán định hơn. Đó là tình trạng lạm phát, là vật giá tăng ngày càng mạnh… nhưng sức mua và việc làm thì có xu hướng chậm lại.

Ông Võ Văn Phục - Tổng giám

đốc Công ty Cổ phần Thủy sản

sạch Việt Nam cho biết, hàng loạt chi phí đều đã tăng mạnh kể từ khi chiến sự Trung Đông nổ ra đến nay, nhất là chi phí vận chuyển. “Chỉ tính riêng việc giá xăng dầu tăng cao cũng làm cho doanh nghiệp mất đi từ một đến vài tỷ đồng chi phí vận chuyển mỗi tháng. Đó là

chưa kể, cước vận chuyển bằng tàu biển cũng đã tăng vài chục phần trăm mỗi container, rồi chi phí bảo hiểm hàng hóa… đều tăng so với trước khi chiến sự nổ ra”, ông Phục chia sẻ.

Còn theo ông Hồ Quốc LựcChủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, chiến sự ở Trung Đông có sự nhạy cảm và phức tạp hơn nhiều so với một số chiến sự xảy ra gần đây trên thế giới. Nguyên nhân là bởi nó gắn liền với “mạch máu” kinh tế toàn cầu, đó là nguồn cung năng lượng to lớn từ vùng chiến sự này. Điều này thể hiện rất rõ khi chiến sự chỉ mới diễn ra hơn một tháng, nhưng nó đã tác động tiêu cực quá lớn cho toàn cầu, trong đó, thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng

đã và đang hết sức vất vả.

“Hiện tất cả các yếu tố đầu vào cho nghề nuôi, chế biến đều tăng khá mạnh. Riêng doanh nghiệp tôm còn đối diện với chi phí tàu biển tăng mạnh (trên 30%) trong khi giá tiêu thụ sản phẩm lại cầm chừng, mà nguyên nhân chủ yếu

đến từ tác động giá xăng dầu tăng do tác động từ chiến sự trên. Từ đó, tác động làm gãy đổ kế hoạch sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sẽ

giảm mạnh, thậm chí bào mòn

nguồn lực của các cơ sở nuôi, doanh nghiệp chế biến nếu cuộc chiến kéo dài”, ông Lực trăn trở. Vừa qua, tại Hội nghị thường niên diễn ra vào chiều 27/3, ông Nguyễn Văn Hào - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Cần Thơ (CBA), nhận định rằng, xung đột Nga - Ukraina, Iran suốt thời gian qua làm đứt gãy chuỗi cung ứng, đẩy giá dầu tăng cao, kéo theo hàng loạt chi phí trong vận tải, sản xuất và logistics tăng mạnh, gây

áp lực ngày càng lớn đối với cộng

đồng doanh nghiệp. Đó là chưa

kể đến những áp lực khác đến từ

sự thay đổi trong chính sách nhập

khẩu của các thị trường lớn; từ chi phí tiền lương cơ bản, mặt bằng lãi suất đều đã tăng, dẫn đến giá

thành tăng, lợi thế cạnh tranh của

doanh nghiệp giảm.

“Những tác động của tình

hình trên thể hiện rõ qua chi phí, thời gian giao hàng kéo dài, sự sụt giảm đơn hàng ở một số thị trường. Riêng Cần Thơ, với đa số doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực nông, thủy sản, logistics và xuất khẩu thì khó khăn lại càng chồng chất, rủi ro ngày càng lớn”, ông Hào phân tích.

Áp lực ngày càng lớn

Tác động tiêu cực của chiến sự Trung Đông đã len lỏi đến mọi quốc gia, mọi lĩnh vực, ngành nghề. Đối với ngành tôm, điều dễ nhận thấy nhất không chỉ ở giá các loại vật tư đầu vào phục vụ nuôi và chế biến đều tăng mà còn ở giá tôm nguyên liệu liên

tục đi xuống từ đầu tháng 3 đến nay. Theo quy luật, từ cuối tháng

4 trở đi, khi vùng nuôi tôm trọng

điểm khu vực ĐBSCL bước vào

thu hoạch rộ vụ tôm chính, giá tôm mới bắt đầu giảm. Tuy nhiên, năm nay, ngay từ đầu tháng 3, giá tôm đã bắt đầu giảm đến hiện tại vẫn chưa cho thấy có dấu hiệu hạ nhiệt. Theo lý giải của doanh

nghiệp, do tác động của chiến sự Trung Đông làm tăng hầu hết chi phí, nhất là chi phí logictics, trong khi sức mua lại giảm, nên giá bán gần như đứng yên, nên doanh nghiệp cũng hạn chế mua vào vì ít có hợp đồng khiến giá tôm trong nước giảm mạnh trong suốt tháng 3. Việc giá tôm giảm sớm và giảm mạnh đã tác động không

nhỏ đến tiến độ thả giống vụ nuôi mới 2026. Điều này cũng tạo nên “cơn đau đầu” cho doanh nghiệp, vì một khi chiến sự Trung Đông

kết thúc sớm, kinh tế thế giới trở

lại quỹ đạo ban đầu, sức mua tăng

trở lại, doanh nghiệp sẽ không có

đủ nguồn tôm nguyên liệu phục

vụ cho những đơn hàng mới.

Một áp lực khác tuy không mới nhưng dai dẳng, khó có thể đáp

ứng trong ngày một ngày hai đó chính là các quy định mới của chuỗi cung ứng bền vững toàn cầu

tại các thị trường lớn của con tôm

Việt Nam. Đơn cử như thị trường

EU, doanh nghiệp không chỉ phải tuân thủ quy định lao động mà

còn đáp ứng yêu cầu cao về phúc lợi động vật, môi trường, kinh tế tuần hoàn và tỷ lệ bao bì tái chế.

Tại đây, để tiếp cận hệ thống phân phối cao cấp có giá bán cao, đòi hỏi con tôm phải đạt chứng nhận

ASC. Trong khi đó, tỷ lệ tôm đạt tiêu chuẩn ASC của Việt Nam còn thấp so với Ecuador nên việc cạnh tranh càng trở nên khó khăn hơn.

Còn tại thị trường Hoa Kỳ, yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng cao.

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến”

Đó cũng chính là phương châm hành động của doanh nghiệp

trước những tác động tiêu cực

của biến động địa chính trị, kinh

tế trên toàn cầu. Hơn nữa, theo nhận định của doanh nghiệp, trên

bình diện toàn cầu, cuộc đua tôm ngày càng gay gắt. Ecuador và Ấn Độ có lợi thế quy mô lớn, chi phí thấp và hệ thống chứng nhận

quốc tế bài bản. Trong khi đó, con tôm Việt Nam ngoài lợi thế về trình độ chế biến, uy tín chất lượng, thì việc giá thành sản xuất cao, tỷ lệ tôm nuôi đạt chuẩn quốc tế thấp, truy xuất nguồn gốc điện tử chưa đồng bộ… chính là những lực cản của sức cạnh tranh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã không hề ngồi yên than thở, bởi họ biết rằng “khó ta cũng khó người” vì đây là khó khăn chung của cả thế giới. Ông Phục trấn an: “Nếu nhìn vào thực tế sẽ thấy, hiện có nhiều quốc gia còn khó khăn hơn chúng ta rất nhiều. Vì vậy, thay vì ngồi đó than thở, chúng ta hãy tập trung suy nghĩ, tìm cách vượt khó. Hy vọng sắp tới chiến sự khu vực Trung Đông sớm kết thúc, sức mua tăng bật trở lại, giá tôm nguyên liệu sẽ phục hồi, cơ hội rồi sẽ lại đến với doanh nghiệp và người nuôi tôm”. Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Thủy sản Việt Nam, dù sản lượng tôm chế biến, tiêu thụ trong tháng 3 của hầu hết doanh nghiệp đều có sự sụt giảm so với cùng kỳ, nhưng nhìn chung nhịp độ sản xuất vẫn được duy trì. Rõ nét nhất trong cách ứng biến của doanh nghiệp chính là sự chuyển hướng thị trường, tập trung cho các thị trường gần, cước vận chuyển thấp, như: Nhật, Hàn Quốc, Australia, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc… Các doanh nghiệp nhận định đây là những thị trường tiềm năng, là kênh thoát hiểm trong ngắn hạn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh chờ cơ hội khi chiến sự Trung Đông kết thúc sẽ tăng tốc. Bởi theo doanh nghiệp, chỉ cần tận dụng tốt cơ hội thị trường, củng cố chuỗi cung ứng và kiên định với định hướng xanh hóa, số hóa và chế biến sâu, ngành tôm vẫn có khả năng về đích đúng theo kế hoạch.

Xuân Trường

Nhằm chia sẻ cách tiếp

cận này đến người nuôi, Skretting Việt Nam đã tổ chức chuỗi hội thảo tại An Giang và Đồng Tháp, tập trung vào đối tượng nuôi cá tra giống, thu hút sự tham gia của đông đảo hộ nuôi và đối tác trong khu vực.

Tại hội thảo, giải pháp LifeStart – Nền tảng cho tăng trưởng bền vững được giới thiệu như một khái niệm và cách tiếp cận toàn diện, thay vì chỉ là một dòng sản phẩm riêng lẻ, LifeStart tập trung vào giai đoạn đầu đời của cá – thời điểm có ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, khả năng

tăng trưởng và tính ổn định trong suốt chu kỳ nuôi.

Chia sẻ tại sự kiện, ông Duco Onnes, Tổng Giám đốc Nutreco

Việt Nam nhấn mạnh:

“Nếu khởi đầu tốt – dù là con người hay vật nuôi – thì lợi ích sẽ theo suốt cả quá trình phát triển.”

Theo ông, trong khi nhiều mô hình nuôi hiện nay vẫn tập trung cải thiện kết quả ở giai đoạn cuối, thì hiệu quả thực sự lại được định hình từ rất sớm. Khi nền tảng ban đầu chưa đủ vững, người nuôi sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro phát sinh về sau, làm gia tăng chi phí và giảm tính ổn định của vụ nuôi.

Các nội dung trình bày tại hội thảo đã làm rõ vai trò của dinh

dưỡng trong giai đoạn cá giống, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp dưỡng chất mà còn hỗ trợ phát triển hệ tiêu hóa, tăng

cường sức khỏe và khả năng thích nghi của cá trong điều kiện nuôi ngày càng nhiều biến động. Chương trình 75 ngày đầu đời

cũng

được giới thiệu như một

định hướng giúp người nuôi tiếp

cận có hệ thống, từng bước xây

dựng nền tảng vững chắc cho

đàn cá, từ đó cải thiện tính đồng

đều và hiệu quả tăng trưởng.

Trong khuôn khổ hội thảo, một

điểm nhấn đáng chú ý là hoạt

động ký cam kết giữa đại lý, người nuôi và Skretting, thể hiện sự đồng

thuận trong việc áp dụng cách

tiếp cận LifeStart vào thực tế sản

xuất. Mô hình hợp tác này không

chỉ dừng lại ở chia sẻ kiến thức

mà còn hướng đến việc cùng triển khai, theo dõi và đánh giá hiệu quả trong từng giai đoạn nuôi.

Đối với giai đoạn cá tra giống, hai giải pháp dinh dưỡng Micro và MicroP được nhấn mạnh như những công cụ hỗ trợ thiết thực trong việc hiện thực hóa LifeStart. Với hệ dưỡng chất được thiết kế phù hợp với nhu cầu phát triển của cá tra, kết hợp cùng kích thước viên thức ăn tối ưu giúp

tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu, các sản phẩm này góp phần

nâng cao hiệu quả sử dụng thức

ăn và hỗ trợ tăng trưởng ổn định.

Bên cạnh đó, việc sử dụng

nguyên liệu có nguồn gốc thực

vật cùng với hàm lượng vitamin và khoáng chất được bổ sung

hợp lý giúp tăng cường sức khỏe và khả năng chống chịu của cá

trong điều kiện nuôi thâm canh.

Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng vững chắc cho các giai

đoạn phát triển tiếp theo.

Thông qua chuỗi hội thảo, Skretting Việt Nam không chỉ

giới thiệu một cách tiếp cận mới, mà còn thể hiện cam kết đồng

hành cùng người nuôi trong việc

kết nối kiến thức, giải pháp và

thực tiễn sản xuất. Đây được xem

là hướng đi phù hợp trong bối

cảnh ngành cá tra đang hướng tới hiệu quả bền vững và khả năng thích ứng lâu dài.

Skretting là tập đoàn hàng đầu thế giới về sản xuất và cung cấp thức ăn dinh dưỡng cho nuôi trồng thủy sản, trực thuộc tập đoàn Nutreco (Hà Lan). Với mạng lưới rộng khắp, Skretting cung cấp thức ăn chất lượng cao cho hơn 60 loài thủy sản tại hơn 20 quốc gia, đóng vai trò thiết yếu trong chuỗi cung ứng thực phẩm bền vững.

Thùy Vân

“Giải bài toán vụ tôm” bằng khoa học

Việt Úc ra mắt Biệt đội Tứ Siêu VU-S26

lan tỏa đến miền Trung - Bắc

Sau màn ra mắt thu hút đông

đảo người nuôi tại Cần Thơ ngày 22/3/2026, Biệt đội Tứ Siêu VUS26 của Tập Đoàn Việt Úc tiếp tục

sải bước đến với khách hàng khu

vực miền Trung và miền Bắc trong

sự kiện: “Từ nghiên cứu phòng thí nghiệm đến đầm tôm Thịnh

vượng” diễn ra tại Đà Nẵng vào

ngày 05/04 vừa qua.

Không đơn thuần là các dòng sản phẩm mới, đây được xem là lời giải thực tế cho bài toán mà người nuôi tôm luôn trăn trở: nuôi sao cho ổn định hơn, giảm rủi ro và tối ưu hiệu quả từng mùa vụ, từng thời điểm.

Vén màn “Biệt đội Tứ Siêu VU-S26”: 4 dòng tôm – 4 hướng giải cho từng ao nuôi

Tâm điểm của sự kiện là sự xuất hiện của Biệt đội VU-S26 – nơi mỗi dòng tôm được phát triển như một giải pháp riêng, phù hợp với những điều kiện nuôi khác nhau trên thực tế.

Dòng Siêu Bền Bỉ được phát triển cho những vùng nuôi thường xuyên biến động môi trường. Khả năng thích nghi cao và duy trì sức khỏe đàn tôm ổn định giúp giảm áp lực quản lý, đặc biệt trong những giai đoạn thời tiết bất lợi như ở miền Trung, Bắc.

Dòng Siêu 60 nổi bật với tốc độ tăng trưởng nhanh, có thể đạt đến 40 con/kg sau 60 ngày nuôi. Đây là lợi thế giúp người nuôi chủ

hơn trong việc dự đoán sản lượng, lên kế hoạch thu hoạch và tối ưu hiệu quả kinh tế ngay từ đầu vụ.

Dòng Siêu Chống Chịu tập trung vào yếu tố then chốt của mỗi vụ nuôi: tỷ lệ

tôm này giúp người nuôi giảm thiểu rủi ro và gia tăng độ an tâm trong suốt chu kỳ nuôi.

Dòng Siêu Hạ Mặn mở ra cơ hội nuôi hiệu quả tại các vùng độ mặn thấp, nhưng vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng tương đương môi trường mặn cao. Đây là giải pháp đáng chú ý trong bối cảnh

Biệt đội Tứ Siêu VU-S26 của Tập đoàn Việt Úc chính thức ra mắt

đến người nuôi tôm cả nước

Các khách hàng Việt Úc chia sẻ trải nghiệm hành trình đồng hành cùng Tôm giống Việt Úc

Từ miền Nam đến miền Trung, miền Bắc –Giải pháp cho từng vùng nuôi

Việc ra mắt tại Cần Thơ và tiếp nối tại Đà Nẵng không chỉ là hành trình giới thiệu một sản phẩm mới, mà còn thể hiện rõ định hướng của Việt Úc:

đưa giải pháp đến gần hơn với từng vùng nuôi, phù hợp với điều kiện thực tế từ Nam ra Bắc –nơi mỗi ao nuôi đều có những câu chuyện và thách thức riêng.

Trong bối cảnh ngành tôm ngày càng nhiều biến động, từ môi trường, dịch bệnh đến chi phí, việc phát triển con giống dựa trên nền tảng khoa học và dữ liệu không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yếu tố then chốt. Sự xuất hiện của

Biệt đội Tứ Siêu VU-S26 vì thế không chỉ là bước tiến của riêng Việt Úc, mà còn mở ra một cách tiếp cận mới cho toàn ngành, nơi mỗi vụ nuôi được xây dựng trên nền tảng đúng giống, đúng điều kiện và đúng giải pháp.

Với người nuôi, sự thay đổi không nằm

ở lý thuyết, mà ở cách làm thực tế: từ chỗ

Nhà sáng lập, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Việt Úc - Ông Lương Thanh Văn chia sẻ về ý nghĩa của chữ S trong VU-S26

Ông Tôn Thất Đề - CEO, Thành viên HĐQT Việt Úc trao quà cho Đại Lý

phụ thuộc vào kinh nghiệm và may rủi, giờ đây có thể chủ động hơn với những dữ liệu đã được kiểm chứng. Tỷ lệ sống được kiểm soát tốt hơn, kế hoạch sản xuất rõ ràng hơn theo từng mùa vụ, và rủi ro cũng dần được giảm thiểu.

Từ phòng thí nghiệm đến ao nuôi, hành trình của biệt đội Tứ siêu VU-S26 không chỉ dừng lại ở một thành tựu, mà là nỗ lực đưa khoa học trở thành “người bạn đồng hành” cùng bà con trên khắp dải đất hình chữ S. Để rồi, khi mỗi bước chân của người nuôi được đi cùng một nền tảng vững chắc hơn, hành trình ấy không chỉ là nuôi tôm, mà là sải bước chân S, khơi nguồn thịnh vượng cho từng vụ mùa, từng vùng nuôi, và cho cả ngành tôm Việt .

Nền tảng khoa học công nghệ tạo nên khác biệt của Biệt đội Tứ siêu VU-S26

Những tính trạng vượt trội của các dòng tôm trong Biệt đội Tứ Siêu VU-S26 không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là thành quả của một quá trình nghiên cứu di truyền kéo dài hơn 20 năm. Đằng sau mỗi dòng tôm là một hệ thống dữ liệu di truyền được tích lũy, phân tích và chọn lọc qua nhiều thế hệ. Việt Úc đã ứng dụng công nghệ Genomics (hệ gen) kết hợp với trí tuệ nhân tạo (AI) để đi sâu vào phân tích ADN của từng cá thể, từ đó nâng cao độ chính xác trong quá trình chọn giống. Nhờ nền tảng này, việc chọn giống đã có những bước tiến rõ rệt: các mối liên kết huyết thống được xác định chính xác hơn, tỷ lệ sống có thể được đánh giá đến từng cá thể thay vì chỉ ở cấp độ gia đình, đồng thời những cá thể mang đặc tính “siêu tăng trưởng” được phát hiện và đưa vào chương trình chọn lọc một cách hiệu quả. Quan trọng hơn, các tính trạng

được cải thiện riêng lẻ, mà được nâng cao đồng thời, tạo nên

Thị trường tôm 2026

Kỷ nguyên của tư duy kiểm soát trong nuôi tôm

Nhìn bề ngoài, ngành tôm năm 2026 đang có những tín hiệu khởi sắc khi kim ngạch xuất khẩu hồi phục và nhu cầu thị trường thế giới bắt đầu ổn định trở lại. Nghe như một cơ hội lớn, nhưng thực tế, bên trong tầng lớp người nuôi tôm đang diễn ra một cuộc thanh lọc âm thầm nhưng quyết liệt: ngành đang phân tầng cực mạnh. Có những hộ nuôi vẫn đang loay hoay bù lỗ dù tôm đầy ao, trong khi nhóm khác lại thong dong thu lãi lớn. Khoảng cách này đang giãn ra từng ngày, và thực tế cho thấy, lý do không nằm ở con tôm mà nằm ở sự khác biệt trong tư duy quản lý ao nuôi.

Khi kinh nghiệm cũ không còn

đủ sức gánh vác

Nhiều bà con hiện nay vẫn

đang mang những kinh nghiệm của 10 năm trước để áp dụng

cho con tôm của năm 2026. Sai lầm phổ biến nhất là lối nuôi dựa

trên cảm tính: thấy nước đục thì

đánh hóa chất, thấy tôm yếu thì

đổ thuốc, không đo đạc, không ghi chép và thiếu hẳn sự kiểm

soát các chỉ số môi trường.

Trong khi đó, chi phí điện, thức

ăn và con giống liên tục biến

động, ăn mòn dần lợi nhuận.

Nếu cứ tiếp tục phương thức

“trông trời, trông nước” và xử lý

tình huống kiểu đối phó, người nuôi sẽ rất dễ hụt hơi trước áp

lực ngày càng lớn của thị trường.

Làm chủ chỉ số ao nuôi:

“Tấm vé thông hành” đến thị

trường lớn

Trong bối cảnh năm 2026, việc ghi chép nhật ký ao nuôi

hay lựa chọn sản phẩm chính

hãng không còn là việc “làm

cho có”. Mà đây chính là cách để bà con chứng minh quy trình nuôi minh bạch, từ đó nắm thế

chủ động khi thương lượng giá với nhà thu mua. Kiểm soát ao nuôi thực thụ là phải nắm rõ các thông số môi trường và sức khỏe ao tôm mỗi ngày. Khi làm chủ được các con số, bà con không chỉ tối ưu được hệ số FCR – chìa khóa của lợi nhuận, mà còn tạo ra một “hàng rào” an sinh sinh học vững chắc, giúp tôm đủ tiêu chuẩn vào các thị trường khó tính nhất.

Chiến lược “Đi trước một bước” cùng Uni-President Nhìn thấy được thực tế này, tại hội chợ triển lãm VietShrimp Asia 2026 & Aquaculture VietNam 2026, Uni-President đã có bài tham luận giới thiệu về Mô hình nuôi tôm 3 Tốt phiên bản mới –Nuôi tôm theo công thức, là một bước tiến để chuẩn hóa quy trình nuôi tôm thay thế cho sự may rủi. Mô hình trên là sự kết hợp chặt chẽ giữa: Sản phẩm tốt - Hệ sinh thái giải pháp thực chiến: Đây là nền tảng cơ bản được Uni-President cải tiến liên tục để bắt kịp các biến động về dịch bệnh và môi trường. Chúng tôi mang đến hệ thống các sản phẩm toàn diện xử lý các vấn đề về dinh dưỡng –môi trường – sức khỏe con tôm. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa các sản phẩm giúp nâng cao sức đề kháng cho tôm, chống lại các tác nhân gây bệnh, tăng tốc độ lớn, an toàn về đích. Quy trình nuôi tiên tiến: Hướng tới việc tự động hóa tính toán và số hóa việc ghi chép nhật ký ao nuôi. Quy trình này giúp người nuôi kiểm soát mọi biến số

từ môi trường đến lượng sử dụng thức ăn, sản phẩm hỗ trợ nuôi trồng, một cách khoa học nhưng đơn giản, thay thế hoàn toàn lối nuôi dựa trên cảm tính.

Đội ngũ kỹ thuật tận tâm,  lấy

sự thành công của khách hàng làm thước đo giá trị: Tại UniPresident, chúng tôi không chỉ trao đi sản phẩm mà còn trao

gửi một cam kết đồng hành bền chặt. Đội ngũ kỹ thuật luôn sát cánh tại ao, phân tích số liệu và đưa ra những điều chỉnh quy

trình kịp thời nhất. Chúng tôi thấu hiểu rằng, chỉ khi bà con nuôi thành công và tối ưu hóa

được lợi nhuận trên từng mét vuông mặt nước, thì sứ mệnh của Uni-President mới thực sự hoàn thành.

Tương lai thuộc về người nuôi có tầm nhìn

Ngành tôm 2026 không còn

chỗ cho những phương thức nuôi bình thường hay dựa vào may rủi. Thời của tư duy cũ đã

khép lại, nhường chỗ cho kỷ nguyên của sự chuẩn xác. UniPresident Việt Nam cam kết luôn đồng hành cùng bà con, cung cấp những giải pháp rõ nguồn gốc và kỹ thuật thực sự

hiệu quả để biến những thách thức của thị trường thành cơ hội làm giàu bền vững. Hãy cùng chúng tôi làm chủ các chỉ số để biến mỗi vụ nuôi thành kết quả lợi nhuận thực tế nhất. Để được tư vấn chi tiết, bà con có thể liên hệ đội ngũ

Uni-President qua Hotline 02743.732.723, hệ thống đại lý trên toàn quốc hoặc Fanpage chính thức trên Facebook để được hỗ trợ nhanh chóng.

Uni-President - Nuôi tôm thành công cùng Mô hình 3 Tốt!

Uni-President Việt Nam

 Hỏi: Biện pháp chăm sóc tôm càng xanh ương trong ao nổi lót bạt? (Nguyễn

An Hòa, xã Đông Trạch, tỉnh Quảng Trị)

Trả lời:

Trong quá trình nuôi, cần đảm bảo các yếu tố môi trường trong ngưỡng phù hợp.

Đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan duy trì > 4 mg/lít bằng quạt nước hoặc sục khí đáy; pH: giữ ổn định 7 - 8, không dao động quá

0,5 đơn vị trong ngày; Nhiệt độ: 26 - 30 0 C, nên che lưới giảm nắng khi trời gắt; Độ trong: 30 - 40 cm, duy trì bằng cách thay nước định kỳ 20 - 30% và bổ sung vi sinh gây màu nhẹ.

Đặc biệt, phải kiểm soát NH 3 < 0,1 mg/L và NO 2 < 0,5 mg/L. Khi vượt ngưỡng, cần thay nước ngay và bổ sung chế phẩm sinh học xử lý đáy. Quản lý tốt môi trường sẽ giảm stress cho tôm và hạn chế hao hụt.

Trong giai đoạn ương, cần khẩu phần giàu dinh dưỡng cho tôm, đặc biệt là hàm lượng đạm 35 - 40%. Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên kết hợp thêm cá băm nhỏ, ốc, trùn chỉ để kích thích tăng trưởng.

Khẩu phần ăn dao động 10 - 15% trọng lượng thân/ngày, chia làm 3 - 4 lần. Người nuôi nên bố trí sàng ăn (1 sàng/20 - 30 m²) để kiểm soát lượng ăn và điều chỉnh kịp thời. Không cho ăn quá nhiều vì thức ăn thừa sẽ phân hủy, gây độc tố, làm ô nhiễm môi trường và tạo điều kiện cho vi khuẩn Vibrio phát triển, dẫn đến chết rải rác. Ngoài ra, nên định kỳ bổ sung Vitamin C, men tiêu hóa và khoáng vi lượng để tăng sức đề kháng cho tôm. Trong điều kiện ao nổi, dịch bệnh có thể lây lan nhanh nếu không được phòng

ngừa. Định kỳ sử dụng chế phẩm vi sinh để ổn định hệ vi sinh đường ruột và môi trường nước. Hút bỏ cặn đáy, duy trì độ sạch của ao để hạn chế mầm bệnh. Thường xuyên kiểm tra hoạt động, màu sắc, tốc độ lột xác của tôm để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường. Tránh thay nước đột ngột hoặc các tác động mạnh làm tôm bị sốc; Khi tôm giảm ăn hoặc bơi lờ đờ, cần xử lý môi trường ngay và giảm khẩu phần thức ăn. Thực hiện phòng bệnh tổng hợp, không lạm dụng kháng sinh mà ưu tiên biện pháp sinh học sẽ giúp tôm phát triển bền vững và giảm thiểu hao hụt. Ban

“bộ đôi”

Trong những năm gần đây, bệnh vi bào tử trùng EHP (Enterocytozoon hepatopenaei) và hội chứng phân trắng đã trở thành hai yếu tố rủi ro lớn nhất đối với ngành nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam. Đặc biệt, giai đoạn cuối năm 2025 đến đầu năm 2026 ghi nhận diễn biến dịch bệnh phức tạp hơn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nhất là trong điều kiện nuôi vụ nghịch với áp lực môi trường và mầm bệnh gia tăng.

Trong bối cảnh đó, việc “phòng bệnh chủ động” bằng các giải pháp sinh học đang được xem là hướng tiếp cận phù hợp nhằm giảm phụ thuộc vào kháng sinh và nâng cao tính bền vững trong sản xuất.

Giải pháp ứng dụng “Bộ đôi” với 2 sản phẩm ESOMAX và STOP EHPi để phòng chủ động EHP và phân trắng gây chậm

lớn đã được Vinhthinh Biostadt triển khai mạnh mẽ trong năm 2025 và mang lại hiệu quả thực tế cho người nuôi toàn quốc.

Trong giai đoạn từ tháng 9/2025 đến tháng 1/2026, Vinhthinh Biostadt tiến hành Chiến

ESOMAX và STOP EHPi

chương trình khảo sát thực địa trên 156 ao nuôi có áp dụng “Bộ Đôi” tại nhiều vùng nuôi trọng điểm của ĐBSCL. Các ao nuôi được theo dõi trong điều kiện thực tế sản xuất, với hai phương thức áp dụng chính:

- Áp dụng “Bộ đôi” ESOMAX & STOP EHPi

để phòng bệnh chủ động ngay từ đầu (Cho tôm ăn sản phẩm ngay sau khi thả giống).

- Áp dụng “Bộ đôi” ESOMAX & STOP EHPi

để phòng chủ động tùy theo các tình huống có nguy cơ nhiễm bệnh.

Kết quả khảo sát cho thấy hiệu quả vượt trội của phác đồ kết hợp “Bộ đôi” ESOMAX

và STOP EHPi cho 2 tình huống Phòng chủ

động từ đầu sau khi thả giống và phòng chủ động khi thấy nguy cơ nhiễm đều cho kết quả tích cực. Tuy nhiên với tình huống áp dụng phác đồ “Bộ đôi” phòng chủ động từ

đầu sau thả giống thì tốt nhất với kết quả là

80% ao nuôi vượt qua mốc 60 ngày nuôi (giai đoạn nhạy cảm bệnh nhất của vụ nuôi). Đồng thời, 97% ao nuôi không bị nhiễm EHP và hội chứng phân trắng gây chậm lớn.

Đặc biệt kết quả phân tích cho thấy khi ao nuôi có áp dụng “Bộ đôi” kết hợp với mô hình nuôi

được đầu tư & quản lý tốt thì tỷ lệ nhiễm bệnh EHP và phân trắng chậm lớn thấp. Các ao nuôi áp dụng mô hình phòng bệnh 90 ngày Vinhthinh Biostadt có sử dụng “Bộ Đôi” thì tỷ lệ nhiễm EHP, phân trắng gây chậm lớn thấp nhất (chỉ 3%).

Từ kết quả khảo sát thực địa trên các ao nuôi áp dụng phác đồ “Bộ đôi” ESOMAX & STOP EHPi trong phòng ngừa EHP và phân trắng gây chậm lớn, có thể rút ra một số kết luận chính như sau:

1. Phác đồ “Bộ đôi” góp phần nâng cao tỷ lệ ao nuôi vượt qua giai đoạn 60 ngày đầu, đặc biệt trong điều kiện dịch bệnh phức tạp. Áp dụng “bộ đôi” kết hợp nuôi với mô hình nuôi được quản lý chặt, chọn lọc đầu vào tốt và đầu tư ao bài bản sẽ giúp tăng tỷ lệ ao nuôi an toàn vượt DOC 60 và tối ưu hiệu quả phòng bệnh nói chung.

2. Giải pháp “Bộ đôi” cho thấy hiệu quả rõ rệt trong kiểm soát EHP và hội chứng phân trắng, với tỷ lệ phòng bệnh đạt khoảng 90%. Việc áp dụng “Bộ đôi” ngay sau khi thả tôm giống mang lại hiệu quả cao nhất.

“BỘ ĐÔI” ESOMAX & STOP EHPi

 Khống chế vi khuẩn Vibrio gây bệnh gan tụy, phân trắng.

 Ngăn chặn EHP nảy mầm.

 Ngăn chặn sự nhân số lượng EHP trong tế bào gan tụy.

 Tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện tốc độ tăng trưởng.

 Được thử nghiệm tại các trường Đại học ở Thái Lan, Ấn Độ và Trường Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.

 Được ứng dụng rộng rãi trong nuôi tôm ở các nước: Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Ecuador, Việt Nam.

INTERVIEW

Ông Steve Đặng – Giám đốc điều hành

TS. Antonio Garza de Yta – Giám đốc Thương mại của SHRIMPL

Ngành thủy sản

Sau giai đoạn đặt nền móng cho nuôi trồng thủy sản thông minh và bền vững, chuyển đổi số đang bước sang cấp độ mới, nơi dữ liệu và công nghệ quyết định năng lực cạnh tranh. Trao đổi với Tạp chí Thủy sản Việt Nam, ông Steve Đặng – Giám đốc điều hành và TS. Antonio Garza de Yta – Giám đốc Thương mại của

SHRIMPL đã chia sẻ góc nhìn về thách thức của ngành và vai trò của công nghệ trong hướng tới phát triển bền vững.

PV: Theo ông, vì sao chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều tất yếu đối với ngành nuôi trồng thủy sản hiện nay?

Ông Steve Đặng & TS. Antonio Garza de Yta: Trong những năm qua, ngành nuôi trồng thủy sản đã có những bước chuyển mình đáng kể, từ kiểm soát môi trường, cải thiện di truyền, nâng cao trình độ quản lý đến ứng dụng công nghệ trong giám sát chất lượng nước và thiết kế hệ thống nuôi. Nhờ đó, tỷ trọng của ngành trong tổng sản lượng thủy sản toàn cầu đã tăng mạnh, từ khoảng 10% lên hơn 50%. Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng này vẫn tồn tại một “điểm nghẽn” lớn: Khả năng tiếp cận tín dụng và bảo hiểm còn hạn chế. Phần lớn người nuôi hiện nay vẫn chưa có thói quen sử dụng các công cụ quản lý dữ liệu, và chưa

tiếp cận được các nguồn hỗ trợ tài chính lớn

do chưa được bảo hiểm.

Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà trở thành điều kiện tiên quyết.

Đây được xem là chìa khóa để minh bạch hóa dữ liệu sản xuất, qua đó mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn và các sản phẩm bảo hiểm. Nếu thiếu nền tảng số, tiềm năng tăng trưởng của ngành sẽ khó được khai thác đầy đủ.

Cùng với đó, cạnh tranh trong ngành tôm đã chuyển sang quy mô toàn cầu. Những khu vực như Ecuador và GCC (Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh) đang tăng tốc ứng dụng công nghệ số, nhanh chóng tạo ra lợi thế cạnh tranh và nới rộng khoảng cách về hiệu quả sản xuất so với các khu vực khác.

Để không bị tụt lại phía sau, ngành thủy sản cần sớm xây dựng một nền tảng số mang tính liên kết toàn cầu, hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu, tối ưu chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận tài chính và nâng cao hiệu quả quản trị.

PV: Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt là liên quan đến dữ liệu?

Ông Steve Đặng & TS. Antonio Garza de Yta: Thách thức lớn nhất hiện nay chính là dữ liệu, khi khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng thu thập vẫn còn rất lớn.

Dù thị trường đã xuất hiện nhiều giải pháp công nghệ, nhưng hạ tầng dữ liệu quy mô lớn vẫn còn hạn chế và chủ yếu tập trung ở các thị trường phát triển. Ở các mô hình sản xuất quy mô lớn, việc thu thập và xử lý dữ liệu tương đối thuận lợi. Ngược lại, tại các thị trường nhỏ, dữ liệu thường rời rạc, thiếu chuẩn hóa và khó tích hợp, khiến việc số hóa gặp nhiều trở ngại. Nếu không có dữ liệu đủ tin cậy, các phần mềm hay công cụ số sẽ không phát huy hiệu quả. Nói cách khác, dữ liệu chính là nền tảng của toàn bộ quá trình chuyển đổi số.

Đối với Việt Nam, việc xây dựng các hệ thống dữ liệu quy mô quốc gia sẽ đóng vai trò then chốt trong thời gian tới, không chỉ giúp nâng cao năng lực quản lý mà còn tạo điều kiện để ngành phát triển bền vững hơn.

PV: Theo ông, các hộ nuôi tôm quy mô nhỏ nên bắt đầu chuyển đổi số từ đâu để không bị bỏ lại phía sau?

Ông Steve Đặng & TS. Antonio Garza de Yta: Các hộ nuôi tôm quy mô nhỏ nên bắt đầu

chuyển đổi số từ việc liên kết với nhau và chia sẻ dữ liệu, thay vì chỉ tập trung vào công nghệ. Xu hướng toàn cầu hiện nay là tập trung hóa sản xuất, trong khi các hộ nuôi nhỏ đang dần bị thu hẹp do thiếu tổ chức và liên kết. Ở nhiều quốc gia, các hộ nuôi đã chuyển sang hợp tác, cùng chia sẻ thông tin sản xuất. Dù còn nhiều e ngại, việc chia sẻ dữ liệu lại là điều kiện cần

để tiếp cận tài chính và bảo hiểm.

Quan trọng hơn, các hộ nuôi tại Việt Nam cần nhìn nhận mình như một tập thể, cùng cạnh tranh với các quốc gia như Ecuador, Brazil, Indonesia hay Philippines, thay vì cạnh tranh nội bộ. Khi mức độ hợp tác tăng lên, việc áp dụng công nghệ cũng trở nên dễ dàng hơn.

Về giải pháp, các hộ nuôi có thể bắt đầu từ những bước đơn giản như sử dụng thiết bị IoT để thu thập dữ liệu môi trường và sản xuất. Chi phí công nghệ hiện nay đã giảm đáng kể, và ngay cả những công cụ cơ bản như máy tính bảng cũng có thể tạo ra khác biệt rõ rệt trong quản lý.

Nếu không kịp thích nghi, các hộ nuôi nhỏ có nguy cơ bị loại khỏi thị trường, xu hướng đã xuất hiện tại một số quốc gia, nơi sản xuất dần tập trung vào các trang trại quy mô lớn.

PV: Trong 5 - 10 năm tới, ông dự báo những thay đổi nổi bật nhất của ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam sẽ là gì?

Ông Steve Đặng & TS. Antonio Garza de Yta: Trong 5 – 10 năm tới, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn chuyển đổi sâu rộng, với ba xu hướng nổi bật: Ứng dụng AI trên diện rộng, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và tích hợp các dịch vụ tài chính – bảo hiểm vào sản xuất.

Trước hết, AI sẽ dần trở thành công cụ phổ biến trong quản lý và vận hành. Không chỉ giúp người nuôi theo dõi môi trường và tối ưu quy trình sản xuất, AI còn hỗ trợ phân tích dữ liệu, dự báo rủi ro và đưa ra các khuyến nghị mang tính thời gian thực. Khi đó, thách thức lớn nhất không còn là thiếu thông tin, mà là khả năng đặt đúng câu hỏi và khai thác hiệu quả dữ liệu để cải thiện năng suất.

Song song với đó, mối liên kết giữa doanh nghiệp và các hộ sản xuất nhỏ sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Thay vì hoạt động rời rạc, các mắt xích trong chuỗi giá trị sẽ được kết nối và tối ưu hóa, từ con giống, thức ăn, nuôi trồng đến chế biến và phân phối. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, năng suất và hiệu quả chi phí sẽ trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của toàn ngành. Một thay đổi quan trọng khác là sự dịch chuyển từ các nền tảng quản lý đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp. Tầm nhìn không chỉ dừng lại ở việc quản lý trang trại, mà hướng tới kết nối toàn bộ chuỗi giá trị, đồng thời tích hợp các dịch vụ còn thiếu như tài chính và bảo hiểm. Đây sẽ là nền tảng giúp người nuôi giảm rủi ro và tiếp cận tốt hơn với các nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng công nghệ, dù tiên tiến đến đâu, cũng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người. Trong quản lý rủi ro, yếu tố con người vẫn mang tính quyết định. Do đó, việc kết hợp giữa công nghệ, kinh nghiệm thực tiễn và sự tham gia của các tổ chức tài chính, bảo hiểm sẽ là chìa khóa để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành trong thời gian tới.

Cú sốc logistics

Thị trường thủy sản thế giới

đối mặt sóng lớn

Xung đột tại Trung Đông kéo theo sự tắc nghẽn eo biển Hormuz, khiến cước vận tải leo thang và thời gian giao hàng kéo dài, áp lực lan sang nhiều mặt hàng. Trong làn sóng biến động đó, ngành thủy hải sản chịu tác động trực diện nhất do phụ thuộc vào logistics lạnh và tiến độ vận chuyển.

Năng lượng và cước vận tải cùng leo thang

Bước sang tuần thứ tư của xung đột, các đợt không kích và tập kích tên lửa vẫn tiếp diễn trong khi tín hiệu ngoại giao còn mâu thuẫn. Thị trường phản ứng trước hết bằng giá dầu. Có thời điểm dầu Brent tiến sát mốc 100 USD/thùng trước khi điều chỉnh, nhưng mặt bằng giá vẫn cao hơn khoảng 50% so với một tháng trước. Khi gần 1/5 lượng dầu thô toàn cầu đi qua eo biển Hormuz bị đe dọa, thị trường năng lượng lập tức định giá thêm phí rủi ro chiến tranh.

Cú sốc dầu nhanh chóng lan sang vận tải. Hàng loạt hãng tàu lớn như Maersk, CMA CGM, Hapag-Lloyd, COSCO hay OOCL thông báo tạm dừng hoặc đổi hướng tàu, áp dụng phụ phí nhiên liệu khẩn cấp và phụ phí rủi ro chiến tranh. Việc chuyển tuyến vòng qua

Mũi Hảo Vọng kéo dài hành trình 10-15 ngày, đồng nghĩa tăng chi phí nhiên liệu, bảo hiểm, thuê container và lưu kho. Hapag-Lloyd ước tính khủng hoảng Iran khiến hãng này thiệt hại 40-50 triệu USD/tuần và chi phí cuối cùng sẽ được chuyển sang khách hàng. Tác động không dừng ở vận tải biển. Giá diesel và xăng tăng làm chi phí vận tải nội địa

đội lên. Các quốc gia châu Á nhập khẩu hơn

80% dầu thô qua Hormuz buộc phải tính tới biện pháp tiết kiệm năng lượng, trợ giá nhiên

liệu hoặc giải phóng dự trữ chiến lược. Khi chi phí năng lượng tăng, giá phân bón, hóa chất và nguyên liệu hóa dầu cũng leo thang, gây áp lực lên sản xuất nông nghiệp và thực phẩm. Thị trường ngũ cốc phản ứng bằng cách cộng thêm phần bù rủi ro. Trung Đông chiếm tỷ trọng lớn trong nhập khẩu lúa mì, lúa mạch

và ngô; nếu dòng hàng bị gián đoạn hoặc phí bảo hiểm tăng cao, giá lương thực toàn cầu sẽ bị đẩy lên. Phân bón nitrogen vốn có tỷ lệ thương mại lớn đi qua Hormuz đứng trước nguy cơ thiếu hụt, ảnh hưởng tới quyết định gieo trồng và năng suất vụ tới. Chiến sự Iran không chỉ là câu chuyện dầu mỏ, mà là cú sốc dây chuyền lên toàn bộ hệ sinh thái hàng hóa.

Thủy sản gặp rủi ro

Xung đột tại Trung Đông đang phơi bày mức độ mong manh của chuỗi cung ứng thủy sản.

Không giống thép hay ngũ cốc có thể lưu kho dài ngày, cá và tôm phụ thuộc nghiêm ngặt vào chuỗi lạnh và lịch trình vận chuyển chính xác. Theo Seafoodnews, xuất khẩu cá hồi sang khu

vực Trung Đông và Bắc Phi từng tăng trưởng ổn định trong ba năm gần đây. Tuy nhiên, việc đóng cửa cảng, hạn chế không phận và nguy cơ tắc nghẽn tại Hormuz đang đặt các lô hàng tươi sống vào tình thế bấp bênh. Nếu tàu phải chuyển hướng, doanh nghiệp xuất khẩu không chỉ chịu thêm chi phí container lạnh mà còn đối mặt rủi ro mất thị phần khi khách hàng chuyển sang nguồn cung khác. Thị trường tôm cũng chịu tác động gián tiếp nhưng đáng kể. Các nguồn cung lớn cho châu Âu gồm Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam buộc phải tính đến phương án tàu vòng qua châu Phi nếu tuyến Biển Đỏ bị hạn chế. Thời gian vận chuyển kéo dài thêm khoảng hai tuần làm tăng chi phí lưu kho và vốn lưu động. Khi nhu cầu tiêu dùng chưa phục hồi mạnh, bất kỳ sự tăng giá nào do logistics cũng khiến nhà nhập khẩu

thác Thái Bình Dương thấp và căng thẳng kéo dài. Rõ ràng phân khúc này cũng không miễn nhiễm với biến động chi phí vận chuyển và giá nguyên liệu đầu vào.

Đáng chú ý hơn, chi phí thức ăn thủy sản đang chịu áp lực từ giá dầu và hóa chất tăng. Methanol, lưu huỳnh và các dẫn xuất hóa dầu - đầu vào cho phụ gia thức ăn như methionine và vitamin nhập khẩu từ Trung Quốc và EU đồng loạt đi lên. Điều này làm tăng giá thành nuôi trồng, thu hẹp biên lợi nhuận của người nuôi cá và tôm. Nếu tình trạng kéo dài, quyết định thả nuôi có thể bị điều chỉnh, tạo hiệu ứng chậm nhưng sâu lên nguồn cung toàn cầu trong các quý tới.

Tái cấu trúc chuỗi cung ứng

Trước cú sốc Hormuz, câu hỏi đặt ra không chỉ là khi nào chiến sự hạ nhiệt mà là làm thế nào để giảm phụ thuộc vào một nút thắt

địa chính trị. Tại Trung Đông, Ả Rập Saudi và các nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC)

đã sớm triển khai chiến lược đa dạng hóa logistics nhằm giảm rủi ro đơn tuyến.

Ả Rập

- hành lang vận tải

kết hợp cảng biển phía Đông với các cảng phía

Tây trên Biển Đỏ thông qua mạng lưới đường sắt và cao tốc. Khi lưu thông qua Hormuz gặp trục trặc, hàng hóa có thể được trung chuyển qua các cảng như Jeddah hoặc Yanbu, rồi tiếp tục vận tải bằng đường bộ hoặc đường sắt đến các trung tâm phân phối nội địa và khu vực.

Cách làm này không loại bỏ hoàn toàn rủi ro, nhưng giúp duy trì dòng hàng thiết yếu và giảm áp lực phụ thuộc tuyệt đối vào một tuyến biển.

Các nước GCC cũng thúc đẩy phát triển kho bãi và trung tâm logistics nội khối, tạo điều kiện cho hàng hóa được tái phân phối linh hoạt khi một cửa ngõ bị gián đoạn. Trong khủng hoảng hiện tại, việc một số tàu có thể cập cảng phía Tây bán đảo Ả Rập thay vì đi sâu vào Vịnh Ba Tư đã giúp giảm phần nào tắc nghẽn.

Bài học từ mô hình này cho thấy đa dạng hóa hạ tầng và tuyến vận tải là chiến lược dài hạn, không thể thực hiện trong một sớm một chiều. Đối với các quốc gia xuất khẩu thủy sản như Việt Nam, việc mở rộng mạng lưới cảng trung chuyển, đầu tư kho lạnh gần thị trường tiêu thụ và

phí với khách hàng và công cụ phòng hộ giá nhiên liệu là những giải pháp

chế biến sâu, đông lạnh dài ngày hoặc đóng hộp cũng giúp giảm độ nhạy cảm với thời gian vận chuyển. Ở tầm vĩ mô, chính phủ các nước xuất khẩu nên xem xét cơ chế hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, tối ưu thủ tục hải quan và thiết lập kênh thông tin cập nhật về an ninh hàng hải. Các chuyên gia tại Expana cũng nhấn mạnh chiến tranh làm phí bảo hiểm tăng, đồng thời gia tăng rủi ro thanh toán ở các thị trường tái xuất. Doanh nghiệp xuất khẩu thận trọng hơn với hợp đồng giao xa, hạn chế chốt giá kỳ hạn trong bối cảnh cước tàu biến động từng tuần. Tuy nhiên, đây là thời điểm để ngành hàng thủy hải sản xây dựng chuỗi cung ứng linh hoạt và đa tuyến bởi khả năng thích ứng sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh lớn nhất.

Mùa sứa Hải Thịnh nhộn nhịp, giá tăng nhẹ

Những ngày cao điểm, hoạt động khai thác sứa tại xã Hải Thịnh diễn ra sôi động khi tàu thuyền liên tục ra khơi, cập bến với khoang đầy sản phẩm. Sứa năm nay xuất hiện ít hơn so với mọi năm, nhưng bù lại kích thước lớn, chất lượng đồng đều. Hiện giá sứa dao động 12.000 – 18.000 đồng/con, cao hơn mức 10.000 – 15.000 đồng/con của các năm trước, giúp ngư dân cải thiện thu nhập. Trung bình mỗi chuyến biển kéo dài khoảng 4 giờ, một tàu khai thác được 200 – 500 con, tương đương sản lượng hàng chục tấn do mỗi con nặng khoảng 50 kg, có con đạt tới 70 kg. Nhờ đánh bắt gần bờ, cách khoảng 10 hải lý, chi phí nhiên liệu được tiết giảm đáng kể. Sứa sau khi cập bến được thương lái thu mua ngay, đầu ra ổn định. Tuy nhiên, sản lượng sụt giảm phần nào do yếu tố thời tiết và dòng chảy, khiến nguồn cung không dồi dào như các năm trước.

Hà Tĩnh

 Trúng mùa cá trích, ngư dân thu nhập khá

Những ngày cao điểm khai thác, không khí tại các cảng cá ở Hà

Tĩnh trở nên nhộn nhịp khi tàu thuyền liên tục cập bến với khoang đầy hải sản. Cá trích vào mùa, sản lượng ổn định, mang lại nguồn thu đáng kể cho ngư dân. Hiện giá cá trích dao động 15.000 –20.000 đồng/kg, tùy kích cỡ, giúp mỗi chuyến biển vẫn có lãi dù chi phí nhiên liệu tăng. Trung bình, một chuyến đánh bắt đạt từ 1,5 tạ, những ngày trúng đậm có thể lên tới gần 1 tấn. Ngoài cá trích, các loại hải sản như cá mòi, cá bơn, tôm, ghẹ cũng được khai thác với sản lượng khá, giá bán ổn định. Sau khi trừ chi phí, mỗi chuyến biển mang về lợi nhuận khoảng 2 – 3 triệu đồng, thậm chí cao hơn khi nguồn lợi dồi dào. Mùa cá trích kéo dài từ tháng 2 đến tháng 5, trùng với thời điểm nhu cầu tiêu thụ tăng nhờ mùa du lịch biển, tạo đầu ra thuận lợi. Hải sản tươi được thương lái thu mua ngay tại bến giúp ngư dân yên tâm bám biển, tận dụng “mùa vàng” nâng cao thu nhập.

 Ốc, tép đắt hàng, ngư dân thu tiền triệu mỗi ngày

Những ngày gần đây, nhiều loại hải sản như ốc, tép tại Hà Tĩnh trúng mùa, giá bán duy trì ở mức cao, giúp ngư dân ven biển tăng thu nhập đáng kể. Hiện giá tép biển dao động khoảng 20.000 – 30.000 đồng/kg, trong khi một số loại ốc có giá từ 15.000 – 25.000 đồng/ kg, tùy kích cỡ và sản lượng. Nhờ nguồn lợi dồi dào, mỗi chuyến ra khơi ngắn ngày, nhiều ngư dân có thể khai thác từ vài chục đến hàng trăm kg, mang về thu nhập từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng mỗi ngày. Theo ngư dân địa phương, thời điểm này biển lặng, nguồn ốc, tép xuất hiện nhiều gần bờ, giúp giảm chi phí nhiên liệu và tăng hiệu quả khai thác. Hải sản sau khi cập bến được thương lái thu mua ngay với giá ổn định, đầu ra thuận lợi. Tuy nhiên, sản lượng vẫn phụ thuộc lớn vào thời tiết và nguồn lợi tự nhiên. Trong bối cảnh chi phí đầu vào còn biến động, việc duy trì mức giá tốt như hiện nay được xem là yếu tố quan trọng giúp ngư dân ổn định thu nhập.

Quảng Ngãi

Ngư dân thích ứng khi giá dầu tăng cao

Giá nhiên liệu tăng mạnh đang tạo áp lực lớn lên hoạt động khai thác hải sản tại Quảng Ngãi, buộc ngư dân phải chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất để duy trì hiệu quả. Trước chi phí đầu vào gia tăng, nhiều chủ tàu đã rút ngắn thời gian bám biển, lựa chọn ngư trường gần bờ hoặc tổ chức khai thác theo tổ, đội nhằm tiết giảm chi phí nhiên liệu. Một số tàu chuyển hướng khai thác các loài có giá trị kinh tế cao để bù đắp chi phí. Dù sản lượng có sự biến động, giá hải sản tại bến vẫn duy trì ở mức ổn định, giúp ngư dân phần nào cân đối thu – chi. Tuy nhiên, với mặt bằng giá dầu còn cao, lợi nhuận thực tế bị thu hẹp, đặc biệt đối với các tàu công suất nhỏ. Trong bối cảnh đó, việc linh hoạt tổ chức sản xuất và theo dõi sát diễn biến thị trường được xem là giải pháp quan trọng giúp ngư dân duy trì hoạt động khai thác.

ĐBSCL Giá cá tra tăng cao, chi phí vẫn “neo” lợi nhuận

Giá cá tra nguyên liệu tại các tỉnh ĐBSCL đang dao động 33.000 –35.000 đồng/kg, mức cao nhất trong nhiều năm, giúp người nuôi có lãi khoảng 8.000 – 10.000 đồng/kg theo tính toán phổ biến. Tuy nhiên, đà tăng giá chưa đủ sức kéo người nuôi quay lại khi chi phí đầu vào vẫn ở mức cao. Hiện giá thành sản xuất cá tra phổ biến 28.000 – 30.000 đồng/kg, cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước, khiến biên lợi nhuận thực tế bị thu hẹp. Trong đó, thức ăn chiếm tới 70 – 80% giá thành, với mức giá khoảng 13.200 – 13.500 đồng/kg. Với hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 1,5 – 1,6, riêng chi phí thức ăn đã chiếm khoảng 24.000 đồng/ kg cá thành phẩm. Ngoài ra, việc giá thức ăn tăng thêm 1.200 – 1.500 đồng/kg từ đầu tháng 3/2026, cùng biến động của nguyên liệu như bắp, đậu tương, tiếp tục gây áp lực lên chi phí nuôi. Trong bối cảnh đó, dù giá bán khởi sắc, người nuôi vẫn thận trọng, chưa vội tái thả khi rủi ro thị trường và chi phí đầu vào còn nhiều biến động.

An Giang

Thủy sản tăng giá, nông dân thu tiền triệu

Giá nhiều loại thủy sản từ đầu năm 2026 đến nay tăng mạnh, giúp người nuôi cải thiện thu nhập đáng kể. Sò huyết hiện dao động 100.000 – 130.000 đồng/kg, tăng khoảng 30.000 đồng/kg so với trước, mang lại lợi nhuận ổn định cho người nuôi. Với mô hình nuôi dưới tán rừng, sản lượng mỗi tháng khoảng 600 kg/ha, người nuôi có thể đạt thu nhập gần 40 triệu đồng/tháng. Do chi phí thấp, chủ yếu là con giống, mức giá từ 80.000 đồng/kg trở lên đã đảm bảo có lãi. Không chỉ sò huyết, các mặt hàng khác như tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ và cua biển cũng duy trì ở mức cao. Tôm càng xanh loại 1 đạt khoảng 140.000 đồng/kg, loại 2 khoảng 125.000 đồng/kg. Tôm sú, tôm thẻ loại 1 (20 con/kg) dao động 270.000 – 290.000 đồng/kg. Trong khi đó, cua gạch lên tới 550.000 đồng/kg, cua thịt loại 1 khoảng 300.000 đồng/kg. Giá bán tăng cao trong khi đầu ra ổn định đang tạo động lực cho người nuôi, song yếu tố con giống và thời tiết vẫn là biến số ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.

Cá tuyết đông lạnh mất thị phần tại Nhật Bản

Giá cá tuyết đông lạnh nhập khẩu tăng vọt trong năm qua do sản lượng khai thác toàn cầu suy giảm mạnh, khiến lượng nhập vào

Nhật Bản rơi xuống mức thấp kỷ lục. Theo Minato Shimbun, nguồn cung từ Mỹ và Nga gần như biến mất khỏi thị trường nội địa. Cá tuyết Alaska cỡ 9/10 con, đóng block 18-19 kg, đánh bắt bằng câu vàng và sơ chế sẵn, được chào ở mức 1.530 yên/kg (9,58 USD/kg). Tổng lượng nhập khẩu từng đạt khoảng 15.000 tấn/năm trước 2017, giảm còn 10.000 tấn giai đoạn 2018-2021, rồi 5.000 tấn giai đoạn 2022-2024; đến năm 2025 chỉ còn 906 tấn, trong đó Mỹ chiếm 316 tấn. Trước đây, cá Mỹ giữ ưu thế nhờ chất lượng ổn định, song Nga từng vươn lên nhờ giá cạnh tranh. Hiện nhu cầu châu Âu duy trì ở mức cao, đẩy giá từ 4 USD/kg lên hơn 8 USD/kg chỉ trong ba tháng, vượt sức mua của Nhật. Trong bối cảnh nguồn cung chưa cải thiện, thị trường chuyển sang cá nội địa giá rẻ hơn dù chất lượng kém, nhằm duy trì hoạt động chế biến.

Châu Âu

Giá cá tuyết leo thang, nguồn

thắt chặt

Thị trường cá đáy thế giới đang bước vào giai đoạn căng thẳng khi nguồn cung suy giảm đẩy giá tăng mạnh, đặc biệt là cá tuyết. Năm 2025, giá cá tuyết tăng khoảng 20% do các đợt cắt giảm hạn ngạch liên tiếp, buộc người mua tại châu Âu phải dè dặt và chuyển sang các loài có giá mềm hơn. Áp lực nguồn cung chưa có dấu hiệu hạ nhiệt: hạn ngạch tại biển Barents dự kiến tiếp tục giảm trong năm 2026 sau mức thấp kỷ lục năm 2025; khu vực Biển Bắc giảm 44%, còn trữ lượng ở Baltic suy kiệt đến mức gần như cấm khai thác thương mại. Việc siết sản lượng khiến xuất khẩu từ các nhà cung cấp chủ lực như Na Uy sụt giảm, duy trì mặt bằng giá cao. Thương mại cá đáy toàn cầu năm 2025 vì thế đi xuống, khi EU và Trung Quốc giảm nhập cá tuyết đắt đỏ và tìm kiếm lựa chọn thay thế. Xu hướng này đang tạo lợi thế cho các nhà sản xuất chi phí thấp, nổi bật là ngành cá hake của Argentina, trong bối cảnh triển vọng 2026 tiếp tục hạn hẹp và giá khó hạ nhiệt.

Thế giới

Sản lượng bột cá, dầu cá giảm

Thị trường nguyên liệu biển hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận xu hướng trái chiều giữa nguồn cung và nhu cầu. Theo báo cáo của IFFO, sản lượng bột cá và dầu cá trong tháng 1 giảm tại hầu hết các quốc gia thành viên được khảo sát, ngoại trừ khu vực Đan Mạch/Na Uy và Mỹ. Tại Peru, dù hoạt động khai thác ở miền Nam khởi sắc, sản lượng trong tháng 2 vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Đánh giá sinh khối cá cơm tại khu vực Bắc - Trung Peru vẫn đang tiếp diễn; hạn ngạch và thời điểm mở vụ mới dự kiến được công bố trong nửa đầu tháng 4. Trong khi đó, sản xuất nguyên liệu biển nội địa của Trung Quốc tiếp tục trầm lắng. Nhập khẩu bột cá giảm, song nhập khẩu dầu cá chủ yếu phục vụ tiêu dùng trực tiếp lại tăng mạnh so với cùng kỳ. Đáng chú ý, sản lượng nuôi trồng và thức ăn thủy sản tăng trưởng, qua đó dự báo thúc đẩy nhu cầu bột cá quý I, đặc biệt tại thị trường miền Nam Trung Quốc.

Trung Quốc

Nhập khẩu tôm

ổn định trước Tết Nguyên đán

Số liệu mới nhất từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho thấy, lượng tôm nhập khẩu trước Tết Nguyên Đán năm nay duy trì ổn định so với cùng kỳ.

Trong ba tháng từ tháng 12/2025 đến tháng 2/2026, Trung Quốc nhập khẩu 276.615 tấn tôm, tăng 1,9% so với giai đoạn tương ứng năm trước; kim ngạch đạt 1,508 tỷ USD, nhích 1,1%. Dù Tết năm 2025 đến sớm hơn hai tuần, khiến việc so sánh không hoàn toàn tương đồng, con số này cho thấy nhu cầu vẫn được giữ vững bất chấp lo ngại suy giảm kinh tế. Cơ cấu nguồn cung nhìn chung không biến động lớn. Ecuador tiếp tục dẫn đầu với 58% thị phần; Ấn Độ tăng lên 17% và ghi nhận giá trị xuất khẩu tháng 12/2025 đạt 121,9 triệu USD, tăng mạnh 47,2%. Thái Lan, Greenland và Canada giữ tỷ trọng ổn định, trong khi Argentina và Ả Rập Xê Út suy giảm đáng kể. Diễn biến sau kỳ nghỉ sẽ quyết định liệu sức mua có thực sự bền vững trong bối cảnh thị trường thận trọng.

Canada

Giá tôm hùm

sống neo cao

Thị trường tôm hùm sống tiếp tục giữ mặt bằng giá vững khi bước vào mùa xuân - giai đoạn nguồn cung thường khan hiếm nhất năm. Lượng khai thác hạn chế theo mùa nâng đỡ giá tại bến và thị trường bán buôn, song đà tăng hiện chủ yếu do thiếu cung hơn là sức mua cải thiện. Sau kỳ nghỉ lễ, giao dịch vẫn thận trọng. Tôm hùm New England cỡ 1 1/4 lb dao động quanh 15 USD/lb, tương đương năm 2025 và cao hơn khoảng 4,5% so với trung bình 5 năm. Dòng chảy thương mại tiếp tục định hình thị trường. Tháng 1/2026, Mỹ tăng nhập từ Canada 39,5% do tác động thuế quan Trung Quốc trước đó, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn mạnh, tăng 75,5% trước Tết Nguyên đán. Triển vọng phụ thuộc khả năng mở sớm các khu vực Eastern Shore; nếu khởi động sớm, nguồn cung có thể hạ nhiệt ngắn hạn nhưng tiềm ẩn rủi ro thắt chặt cuối vụ, đặc biệt nếu sản lượng Maine chậm nhịp.

Nhật Bản

Nhập khẩu thủy sản tăng vọt trong tháng 2

Theo số liệu sơ bộ do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 27/3, nhập khẩu thủy sản trong tháng 2 đã tăng mạnh cả về lượng lẫn giá trị, phản ánh đà phục hồi rõ nét của nhu cầu tiêu dùng. Tổng khối lượng nhập khẩu, bao gồm cá, nhuyễn thể, bột cá và rong biển, đạt 156.079 tấn, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch tăng 31% lên 169,1 tỷ yên (khoảng 1,06 tỷ USD). Nhiều mặt hàng chủ lực ghi nhận mức tăng ấn tượng. Cá hồi và cá trout tươi, đông lạnh đạt gần 25.000 tấn, tăng 18%, trong đó cá hồi Coho đông lạnh từ Chile tăng 11%, cá hồi sockeye tăng tới 70%, dù cá hồi Đại Tây Dương tươi từ Na Uy giảm 11%. Nhập khẩu cá ngừ đông lạnh tăng 25%, giá trị bật tăng 65%, đáng chú ý là phi lê cá ngừ vây xanh nuôi tại Địa Trung Hải tăng 51%. Tôm đông lạnh tăng 15%, mực tăng hơn gấp đôi. Surimi đông lạnh cũng tăng 19%, với nguồn cung từ Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam đồng loạt mở rộng, cho thấy cấu trúc thị trường đang dịch chuyển mạnh mẽ.

Vi sinh đường ruột thích ứng mặn

CHÌA KHÓA NUÔI TÔM BỀN VỮNG

Nghiên cứu giải trình tự đa hệ gen cho thấy độ mặn chi phối mạnh cấu trúc và chức năng hệ vi sinh đường ruột tôm thẻ chân trắng. Sự tái cấu trúc này gắn với nguy cơ bệnh và cơ chế thích nghi thẩm thấu trong

điều kiện siêu mặn. Kết hợp tiến bộ thức ăn lên men, các phát hiện mở ra hướng tiếp cận mới về dinh dưỡng – sức khỏe, thúc đẩy nuôi tôm bền vững tại vùng độ mặn cao.

Tái cấu trúc hệ vi sinh theo độ mặn

Hệ vi sinh đường ruột giữ vai trò trung tâm trong tiêu hóa, miễn dịch và khả năng thích ứng môi trường của tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên, phản ứng của cộng đồng vi sinh trước biến động độ mặn, đặc biệt trong điều kiện siêu mặn vẫn chưa được hiểu rõ, trong khi nhiều vùng nuôi tại Trung Quốc và các quốc gia châu Á đang phải khai thác ao siêu mặn hoặc đất nhiễm mặn.

Nhóm nghiên cứu do Xiangli Tian và cộng sự thực hiện đã sử dụng kỹ thuật giải trình tự đa hệ gen để phân tích toàn bộ DNA của hệ vi sinh trong ruột tôm nuôi ở ba độ mặn: thấp (L), trung bình (M) và cao (H). Phương pháp này đánh giá đồng thời thành phần loài, mức độ đa dạng và tiềm năng chức năng sinh học mà không cần nuôi cấy vi khuẩn riêng lẻ. Kết quả cho thấy độ đa dạng alpha – chỉ số phản ánh mức phong phú và đồng đều của vi sinh vật đã tăng đáng kể khi độ mặn tăng. Phân tích tọa độ chính (PCoA) ghi nhận sự phân tách rõ rệt giữa ba nhóm độ mặn, chứng tỏ môi trường nước đã tái cấu trúc cộng đồng vi sinh theo những hướng khác nhau. Bảy nhóm vi sinh lõi xuất hiện ở cả ba điều kiện, trong đó năm nhóm thuộc chi Vibrio, cho thấy đây là thành phần trung tâm của hệ

vi sinh đường ruột tôm. Đáng chú ý, phân tích truy vết nguồn vi sinh chỉ ra rằng tỷ lệ vi khuẩn có nguồn gốc từ môi trường xung quanh gia tăng theo độ mặn, hàm ý rằng ở điều kiện siêu mặn, hệ vi sinh đường ruột chịu ảnh hưởng mạnh hơn từ hệ sinh thái ao nuôi.

Nguy cơ bệnh lý và cơ chế bảo vệ thẩm thấu

Phân tích cho thấy cấu trúc vi sinh ở nhóm độ mặn trung bình và cao phức tạp hơn so với nhóm độ mặn thấp, nhưng mức độ ổn định tương đương. Tuy nhiên, nhóm độ mặn thấp lại giàu sinh vật tiềm ẩn gây bệnh như Vibrio và Chryseobacterium, đồng thời tăng cường các chức năng liên quan đến nhiễm trùng và độc lực.

Phát hiện này có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt. Tại các hệ thống nuôi siêu mặn ở vịnh Bột Hải (Trung Quốc) và nhiều vùng ven biển khác, sản lượng thường thấp hơn 20-40% so với điều kiện tối ưu, một phần do mất cân bằng hệ vi sinh và bùng phát bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) do Vibrio gây ra. Việc xác định mức độ gia tăng mầm bệnh trong

điều kiện độ mặn thấp cho phép tăng cường an toàn sinh học, chẳng hạn thông qua giám sát chặt chẽ tổng nitơ amoni (TAN). Các thử nghiệm bổ sung probiotic trước đây cho thấy biện pháp này có thể giúp giảm tổn thất sản lượng 15-30%.

Ngược lại, ở nhóm độ mặn cao, hệ vi sinh biểu hiện sự tăng cường các enzyme quan trọng như proline dehydrogenase, glutamatecysteine ligase và methyltransferase. Những enzyme này tham gia tổng hợp chất hòa tan tương thích – cơ chế then chốt giúp vi khuẩn duy trì cân bằng áp suất thẩm thấu trong môi trường mặn cao. Nói cách khác, thay vì suy yếu, cộng đồng vi sinh trong môi trường siêu mặn đã kích hoạt bộ giáp sinh học để tự bảo vệ.

Dù khác biệt theo độ mặn, các chức năng cốt lõi liên quan đến chuyển hóa năng lượng, tổng hợp protein, bảo vệ thẩm thấu và chống ôxy hóa vẫn duy trì ổn định ở tất cả các nhóm. Điều này cho thấy hệ vi sinh đường ruột có chung chức năng nền bảo đảm duy trì hoạt động sinh lý cơ bản của vật chủ.

Từ góc độ ứng dụng, cơ chế thích nghi ở điều kiện độ mặn cao mở ra khả năng mở rộng nuôi tôm trên đất mặn - kiềm, giảm phụ thuộc nguồn nước ngọt khi xâm nhập mặn gia tăng. Các giải pháp thực tiễn bao gồm phát triển thức ăn bổ sung betaine nhằm tăng cường cơ chế bảo vệ thẩm thấu, hoặc xây dựng tổ hợp probiotic chức năng tương tự Bacillus glennii giúp ổn định hệ vi sinh lõi trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn biến động.

Công nghệ lên men: Tối ưu hiệu suất thức

ăn và miễn dịch

Song song với hướng nghiên cứu về hệ vi sinh đường ruột, nghiên cứu của Caihuan Ke và cộng sự đã làm rõ tiềm năng của công nghệ lên men vi sinh trong sản xuất thức ăn thủy sản.

Quá trình lên men sử dụng vi khuẩn lactic, Bacillus, nấm men và nấm mốc để xử lý nguyên liệu thực vật như khô đậu, khô hạt bông; nguyên liệu động vật như bột thịt xương, protein côn trùng; và nguồn năng lượng như ngô, cám mì. Lên men hiếu khí hoặc kỵ khí trong điều kiện nhiệt độ 30-40°C, độ ẩm 6080% và thời gian 2-10 ngày giúp cải thiện giá trị dinh dưỡng, tăng độ ngon miệng và giảm các yếu tố kháng dinh dưỡng.

Nhiều bằng chứng ghi nhận tăng trưởng cải thiện, hệ miễn dịch được củng cố, hệ vi sinh đường ruột điều hòa tích cực và chất lượng sản phẩm cuối cùng nâng cao. Trong khi giá bột cá tăng và yêu cầu giảm kháng sinh ngày càng nghiêm ngặt, lên men mang lại giải pháp thay thế khả thi, thậm chí có thể thay thế 10-100% bột cá ở một số loài. Về môi trường, quá trình này còn giúp phân hủy độc tố nấm mốc và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, việc ứng dụng trên quy mô công nghiệp vẫn còn hạn chế, đặc biệt đối với giáp xác như tôm và cua – nhóm đối tượng cần thêm dữ liệu thực nghiệm. Để mở rộng triển khai, ngành cần xây dựng cơ sở dữ liệu tham số lên men chuẩn hóa, phát triển hệ thống sản xuất tự động hóa và thực hiện đánh giá kinh tế nhằm xác định hiệu quả đầu tư.

Hướng tiếp cận tích hợp cho nuôi tôm bền vững

Các kết quả nghiên cứu về thích nghi vi sinh theo độ mặn và công nghệ thức ăn lên men cho thấy một điểm hội tụ rõ ràng: tối ưu hóa hệ sinh thái vi sinh là nền tảng của chiến lược dinh dưỡng - sức khỏe hiện đại trong nuôi tôm.

Trong khi biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn gia tăng, chi phí nguyên liệu tăng cao và áp lực dịch bệnh ngày càng lớn, ngành nuôi tôm cần chuyển từ mô hình quản lý phản ứng sang mô hình chủ động dựa trên khoa học vi sinh. Việc hiểu và điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột thông qua kiểm soát môi trường và giải pháp dinh dưỡng chức năng không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn củng cố nền tảng sinh học dài hạn cho tăng trưởng bền vững.

Thích ứng độ mặn và đổi mới công nghệ thức ăn là hai trụ cột bổ trợ trong chiến lược phát triển nuôi tôm công nghệ cao, dựa trên nền tảng khoa học dinh dưỡng và sinh thái vi sinh.

Lên men tối

Giải pháp bứt phá astaxanthin tự nhiên

Sau hơn 5 năm theo đuổi công nghệ lên men tối để sản xuất astaxanthin tự nhiên từ vi tảo, Kuehnle Agro Systems (KAS) đang tiến gần điểm hòa vốn chi phí với astaxanthin tổng hợp, đánh dấu bước ngoặt tái định hình

thị trường phụ gia sắc tố trong ngành thức ăn thủy sản. hay hệ thống quang sinh kín, vi tảo vẫn cần quang hợp, điều này giới hạn mật độ sinh khối, tốc độ tăng trưởng và kéo dài chu kỳ sản xuất, từ đó làm tăng chi phí. KAS phát triển phương pháp lên men tối sử dụng cùng loài vi tảo nhưng nuôi trong điều kiện không ánh sáng, trong các bồn lên men thép không gỉ tương tự công nghệ sản xuất bia hoặc protein lên men chính xác.

Astaxanthin - chất chống ôxy hóa mạnh đồng thời là sắc tố đặc trưng cho cá hồi, cá hồi vân và nhiều loài giáp xác, luôn nằm trong nhóm phụ gia có giá trị cao nhất trong công thức thức ăn thủy sản. Tuy nhiên, trước áp lực ngày càng gia tăng về phát triển bền vững, kỳ vọng của

người tiêu dùng và biên lợi nhuận liên tục bị siết chặt, việc lựa chọn giữa astaxanthin tự nhiên và tổng hợp đã trở thành một quyết định chiến lược mang tính then chốt của doanh nghiệp.

Theo ông Claude Kaplan, Tổng Giám đốc KAS, sau nhiều vòng huy động vốn cùng quá trình mở rộng và tối ưu hóa quy mô sản xuất, công ty hiện tiến gần hơn bất kỳ doanh nghiệp nào trước đây trong việc kéo giảm giá thành astaxanthin tự nhiên xuống mức có thể cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm tổng hợp.

Bài toán khó Haematococcus

Phần lớn astaxanthin tự nhiên trên thị trường được chiết xuất từ vi tảo  Haematococcus pluvialis – loài có hàm lượng astaxanthin cao và hoạt tính sinh học mạnh nhất. Tuy nhiên, nuôi cấy loài vi tảo này bằng công nghệ lên men từ lâu được xem là thách thức kỹ thuật lớn.

Gia nhập KAS năm 2021, Kaplan mang theo nền tảng đa lĩnh vực từ khoa học thực vật, hệ thống thực phẩm, nuôi trồng thủy sản đến thương mại hóa công nghệ và sở hữu trí tuệ. Thời điểm ông tiếp quản, công ty chỉ có ba nhân sự cốt lõi; hiện đội ngũ đã tăng lên tám người và tiếp tục tuyển dụng để đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất.

Thị trường cần astaxanthin tự nhiên

Trên toàn cầu, astaxanthin tự nhiên hiện mới chiếm khoảng 10% nhu cầu của ngành cá hồi, dù một số phân khúc phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn này. Toàn bộ ngành cá hồi Scotland và các sản phẩm cá hồi hữu cơ đều sử dụng astaxanthin tự nhiên, do lợi thế về hình ảnh chất lượng và câu chuyện bền vững phía sau sản phẩm.

Người nuôi mong muốn một giải pháp vừa đảm bảo hiệu suất sinh trưởng, tăng cường sức khỏe vật nuôi, vừa nâng cao giá trị thương mại nhờ yếu tố tự nhiên, nhưng vẫn phải đạt mức chi phí chấp nhận được như sắc tố tổng hợp.

KAS cũng đặc biệt chú ý tới thị trường Trung Quốc, nơi nhu cầu sắc tố đỏ tự nhiên tăng nhanh không chỉ ở nhóm cá hồi mà còn ở các loài cá và giáp xác bản địa. Trong văn hóa tiêu dùng, màu đỏ gắn với may mắn và giá trị cao, do đó mức độ lên màu có thể quyết định sản phẩm được xếp vào phân khúc cao cấp hay đại trà.

Rào cản lớn nhất vẫn là giá thành. Astaxanthin tự nhiên sản xuất từ vi tảo nuôi ngoài trời hoặc trong hệ thống quang sinh học thường có giá cao gấp 10 lần so với sản phẩm tổng hợp. Ngay cả astaxanthin tạo ra bằng lên men vi khuẩn cũng cao hơn 4-5 lần.

Trong khi đó, astaxanthin chiết xuất từ vi tảo được ghi nhận có hoạt tính chống ôxy hóa và kháng viêm vượt trội, là dạng duy nhất được sử dụng trong thực phẩm bổ sung cho người. Tuy nhiên, mức chênh lệch giá hiện nay vượt quá khả năng chi trả của phần lớn người nuôi thủy sản. Lên men tối: Đột phá công nghệ Phần lớn nhà sản xuất astaxanthin từ tảo phụ thuộc vào ánh sáng. Dù nuôi trong ao hở

Đội ngũ KAS tại Hawaii đã mất nhiều năm chọn lọc chủng tảo và tối ưu hóa quy trình. Trước đây, nhiều doanh nghiệp không thể duy trì hàm lượng astaxanthin cao khi chuyển sang điều kiện lên men dị dưỡng. Thành công hiện tại là kết quả của hàng loạt cải tiến nhỏ, liên tục về chủng giống và thông số quy trình.

Thách thức mở rộng quy mô

Khi Kaplan gia nhập, KAS chỉ vận hành bồn lên men 100 lít trong phòng thí nghiệm. Mục tiêu nhanh chóng nâng lên 6.000 lít, tương

đương quy mô tiền công nghiệp tại cơ sở của đối tác sản xuất ở Pháp đã mất nhiều năm thay vì vài tháng như dự kiến.

Công ty liên tục cải thiện hiệu suất chủng tảo, nâng cao độ ổn định và hàm lượng astaxanthin. Dù vậy, một số chỉ tiêu kỹ thuật vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, điều được xem là bình thường trong các ngành công nghiệp dựa trên lên men. Một mắt xích quan trọng khác là thử nghiệm thực địa trên quy mô lớn. Các thử nghiệm ban đầu trên tôm, cá hồi và cá hồi vân chỉ sử dụng vật liệu ở quy mô thử nghiệm do chưa đủ sản lượng công nghiệp. Khi có sản phẩm từ mẻ 6.000 lít, KAS dự kiến phối hợp với khách hàng chiến lược để triển khai các thử nghiệm nuôi thương phẩm quy mô lớn hơn, nhằm chứng minh hiệu quả tăng trưởng, tỷ lệ sống, khả năng chống stress ôxy hóa và chất lượng sắc tố. Năm 2025, KAS ký thỏa thuận phát triển chung với Corbion – tập đoàn hàng đầu thế giới về công nghệ lên men, từng thương mại hóa thành công dầu tảo giàu DHA cho ngành thức ăn thủy sản. Sự hợp tác này giúp KAS tiếp cận hạ tầng, năng lực phân tích và tối ưu hóa quy trình ở cấp độ công nghiệp.

Theo Kaplan, nếu thành công, astaxanthin tự nhiên không còn là sản phẩm ngách mà trở thành tiêu chuẩn mới trong công thức thức ăn thủy sản.

Dũng Nguyên

VINAFIS EXPO 2026

VINAFIS EXPO sẽ diễn ra trong 03 ngày từ

28 - 30/4/2026. Đây là triển lãm quốc tế khoa học công nghệ thủy sản đầu tiên của Việt Nam do Hội

Thủy sản Việt Nam phối hợp với Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức.

Hội chợ là triển lãm có quy mô lớn, bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị của ngành thủy sản Việt Nam với tất cả các lĩnh vực trọng tâm gồm: Máy móc, thiết bị và ngư cụ khai thác; Công nghệ và kỹ thuật nuôi trồng thủy sản; Giống thủy sản; Thành tựu khoa học công nghệ; Dinh dưỡng và phòng bệnh; Logistics và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Sự kiện chính thức diễn ra từ ngày 28/4/2026, tuy nhiên trước đó, Ban Tổ chức VINAFIS EXPO 2026 sẽ thực hiện Lễ hội thả cá truyền thống nhân dịp kỷ niệm 67 năm Ngày truyền thống ngành Thủy sản (1/4/1959 - 1/4/2026). Chương trình do Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức với sự tham gia của Hội Nghề cá các nước trong khu vực và đại diện đại sứ quán các nước. Sự kiện không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản, mà còn là dịp giới thiệu nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Ngày 28/4/2026, VINAFIS EXPO 2026 chính thức diễn ra. Triển lãm có quy mô hơn 450 gian hàng tiêu chuẩn, quy tụ 180 doanh nghiệp trong nước và 70 đơn vị quốc tế. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn bố trí 15 gian hàng miễn phí dành cho hội thành viên, Hội Nghề cá nước ngoài và các tổ chức quốc tế cùng 10 gian hàng đặc biệt trưng bày các sản phẩm tiêu biểu, góp phần giới thiệu những thành tựu nổi bật của ngành thủy sản Việt Nam. Sau Lễ khai mạc sẽ diễn ra Hội nghị Khoa

VINAFIS EXPO 2026 được kỳ vọng sẽ trở thành sự kiện thường niên uy tín của ngành thủy sản Việt Nam Ảnh: BTC

học công nghệ thủy sản toàn quốc lần thứ nhất với chủ đề “Thủy sản Việt Nam - Hợp tác để vươn mình” do Cục Thủy sản và Kiểm ngư và Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức.

Đến 18:00 giờ cùng ngày sẽ diễn ra Lễ trao giải “Chất lượng vàng Thủy sản Việt NamVinafis Award” do Cục Thủy sản Kiểm ngư và Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức với quy mô

500 đại biểu trong nước và quốc tế.

“VinaFiS Award” là giải thưởng duy nhất do Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức xét tặng và trao tặng nhằm tôn vinh, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có sản phẩm, nghiên cứu hoặc đóng góp cho sự phát triển của ngành thủy sản Việt Nam đáp ứng đủ điều kiện được quy định.

Ngoài ra, trong khuôn khổ Hội chợ triển lãm sẽ diễn ra 4 hội thảo chuyên sâu. Bao gồm: Hội thảo “Phát huy giá trị trong nuôi trồng thủy sản - Mô hình kinh doanh và đối tác hợp tác Việt Nam - Hà Lan” do Hội Thủy sản Việt Nam và Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam tổ chức. Hội thảo tập trung giới thiệu cách tiếp cận tích hợp của Hà Lan trong phát triển ngành nuôi trồng thủy sản bền vững và có khả năng chống chịu tại Việt Nam, dựa trên phát triển chuỗi giá trị. Thúc đẩy mô hình hợp tác đồng bộ, có thể mở rộng nhằm hỗ trợ phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam. Hội thảo khoa học: “Dinh dưỡng trong nuôi thủy sản - Tối ưu hóa dinh dưỡng cho cá rô

phi xuất khẩu” do Hội Thủy sản Việt Nam và Hội đồng Xuất khẩu đậu tương Hoa Kỳ tổ chức. Trong đó, các diễn giả sẽ cung cấp các thông tin quý giá về việc phát triển cá rô phi và giải pháp nuôi cá rô phi cung cấp cho thị trưởng ổn định”.

Hội thảo khoa học: “Phát triển nghề cá Việt Nam - Chương trình phát triển nghề cá bền vững - FIP” do Hội Thủy sản Việt Nam và Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu một số tiêu chuẩn quốc tế đến cộng đồng doanh nghiệp thủy sản.

Hội thảo: “Giải pháp số cho phát triển bền vững ngành thủy sản” do Hội Thủy sản Việt Nam, Công ty Navcast Inc (Canada) và Viện Giải pháp kỹ thuật nông nghiệp bền vững đồng tổ chức. Nội dung chính của hội thảo tập trung giới thiệu một số phần mềm và giải pháp có thể áp dụng ngay tại Việt Nam nhằm nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản thông qua việc thiết lập hộ chiếu điện tử của sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm thủy sản xuất khẩu. VINAFIS EXPO 2026 được kỳ vọng sẽ trở thành điểm hẹn thường niên uy tín, góp

Công nghệ bong bóng nano cải thiện nuôi

tôm

Trong những năm gần đây, mô hình nuôi tôm thâm

canh và siêu thâm canh, đặc biệt với giống tôm thẻ chân trắng, đã mang lại năng suất cao nhờ mật độ

thả nuôi lớn. Tuy nhiên, đi kèm với hiệu quả kinh tế là

những thách thức đáng kể về môi trường nước. Chất lượng nước suy giảm không chỉ làm gián đoạn quá

trình sinh trưởng mà còn khiến tôm dễ mắc bệnh,

đặc biệt là các bệnh do vi khuẩn gây ra.

Một trong những tác nhân nguy hiểm nhất trong ao nuôi là vi khuẩn Vibrio sp.. Đây là nhóm

vi khuẩn cơ hội, luôn tồn tại trong môi trường nhưng sẽ bùng phát mạnh khi điều kiện nước xấu đi hoặc sức đề kháng của tôm suy giảm. Sự gia tăng mất kiểm soát của Vibrio là dấu hiệu cảnh báo rủi ro nghiêm trọng đối với sức khỏe đàn tôm. Vì vậy, việc theo dõi mật độ vi khuẩn (PVC – Vibrio Count) trong suốt chu kỳ nuôi là yếu tố then chốt.

Vai trò của ôxy hòa tan và giải pháp công nghệ

Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm là lượng ôxy hòa tan trong nước. Khi ôxy không ổn định, các chất hữu cơ tích tụ sẽ không được phân hủy hiệu quả, dẫn đến tăng nồng độ amoniac – một chất độc nguy hiểm đối với thủy sản.

Để giải quyết vấn đề này, công nghệ bong bóng nano đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Công nghệ này mang lại nhiều

ưu điểm vượt trội:

- Duy trì ôxy hòa tan ổn định:

Bong bóng nano có kích thước siêu nhỏ, tồn tại lâu trong nước, giúp cung cấp ôxy liên tục.

- Loại bỏ chất ô nhiễm: Nhờ

khả năng bám dính và thâm

nhập vào các khe nhỏ, bong bóng nano giúp kéo các chất lơ lửng nổi lên bề mặt.

- Hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ:

Tăng hiệu quả xử lý chất thải, hạn chế tích tụ khí độc như amoniac.

- Cân bằng hệ sinh thái ao

nuôi: Góp phần duy trì môi trường ổn định giữa tôm, nước và mầm bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng cách nuôi tôm thẻ chân trắng trong hệ thống sử dụng bong bóng nano trong vòng 30 ngày. Các bể nuôi được cung cấp khí nano hai lần mỗi ngày.

Sau giai đoạn nuôi, các mẫu nước và mẫu tôm được thu thập

để phân tích:

- Mẫu nước được pha loãng và nuôi cấy vi khuẩn.

- Tôm được mổ vô trùng để lấy gan tụy, nghiền và phân tích.

- Sau 18–24 giờ ủ ở 28–30°C, tiến hành đếm mật độ vi khuẩn Vibrio (PVC).

Kết quả và đánh giá

Kết quả cho thấy:

- Mật độ vi khuẩn Vibrio sp. trong hệ thống sử dụng bong bóng nano thấp hơn đáng kể so với phương pháp sục khí truyền thống.

- Hàm lượng ôxy hòa tan ổn định hơn, không bị dao động lớn.

- Chất lượng nước được cải thiện rõ rệt nhờ cơ chế tuần hoàn và xử lý tự nhiên .

- Môi trường nuôi ít biến động, giúp tôm phát triển khỏe mạnh hơn Khác với máy sục khí thông thường tạo ra bong bóng lớn dễ vỡ và nhanh chóng thoát lên bề mặt, bong bóng nano có độ bền cao, phân bố đều và hiệu quả hơn trong việc duy trì ôxy cũng như làm sạch nước.

Kết luận

Việc ứng dụng công nghệ bong bóng nano trong nuôi tôm

Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N

là một bước tiến quan trọng giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh. Công nghệ này không chỉ cải thiện chất lượng nước mà còn góp phần kiểm soát vi khuẩn gây hại, đặc biệt là Vibrio, từ đó tạo điều kiện tối ưu cho tôm phát triển bền vững. Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản ngày càng hướng đến công nghệ cao và thân thiện môi trường, bong bóng nano được xem là giải pháp tiềm năng giúp người nuôi tối ưu hóa chi phí, tăng năng suất và đảm bảo an toàn sinh học lâu dài.

Theo Tiến sĩ

Gunanti Mahasri, Ir., M.Si.

Khoa Thủy sản và Hàng hải

Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM Số điện thoại: 028.668.101.95/96 Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com

đi mới cho nuôi trồng

sản xanh và bền vững

Nuôi trồng thủy sản là một trong những lĩnh vực sản xuất thực phẩm phát triển nhanh nhất thế giới, cung

cấp gần 50% tổng sản lượng cá cho con người.

Ước tính đến năm 2030, sản lượng thủy sản dự kiến tăng thêm 22%. Hiện nay, sự phát triển

của nuôi trồng thủy sản đòi hỏi sự phát triển

của các công nghệ và thực hành dựa trên cách

tiếp cận có trách nhiệm và bền vững, phù hợp với chiến lược “Chuyển đổi xanh”. Điều này

có nghĩa là thiết kế một hệ thống thực phẩm lành mạnh và thân thiện với môi trường, nơi mà việc sản xuất và chế biến thực phẩm chú trọng hơn đến tính bền vững và sức khỏe người tiêu dùng. Thực tế gần đây, sự quan tâm đến việc sản xuất thức ăn thủy sản tự cung tự cấp bằng cách sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và thực phẩm và phương pháp “không kháng sinh” đã ngày càng tăng. Một số chất thay thế kháng sinh chẳng hạn như các hợp chất từ thực vật (polyphenol) đã được sử dụng lâu dài trong y học ở người nhưng chỉ mới được chú ý đến trong nuôi trồng thủy sản gần đây.

Ngành sản xuất rượu vang là một trong những ngành quan trọng nhất trong lĩnh vực nông nghiệp trên toàn cầu. Vì vậy, phụ phẩm từ nho có hoạt tính sinh học cao đã và đang

được ứng dụng tốt đối với sức khỏe của con người, động vật trên cạn và động vật dưới nước. Hàm lượng hợp chất phenolic cao cùng các hoạt tính chống ôxy hóa và kháng khuẩn

mạnh mẽ được tìm thấy trong hạt nho. Phần

vỏ chứa hàm lượng p -coumaric acid hexoside và proanthocyanins cao nhất.

Bã nho có thể được sử

các chiết xuất có đặc tính chống ôxy hóa, làm chất nền lên men, nhờ vào hàm lượng cao các hợp chất sinh học có hoạt tính chống ôxy hóa mạnh như polyphenol (anthocyanins, flavanols, flavan-3-ols, procyanidins), axit phenolic, resveratrol và chất xơ.

Các polyphenol có nguồn gốc thực vật có thể được đưa vào hệ thống nuôi trồng thủy sản dưới dạng thô thay vì các chiết xuất nên cân nhắc các thành phần hoạt tính sinh học có thể có mặt trong sản phẩm. Polyphenol, chẳng hạn như resveratrol – một hợp chất stilbene phổ biến trong vỏ nho đỏ Vitis vinifera, là polyphenol đa vòng có hoạt tính điều hòa miễn dịch. Các hợp chất phenolic khác như flavanols, axit phenolic và proanthocyanidin có khả năng làm giảm quá trình chết tế bào theo hướng giảm các gốc ôxy hóa hoạt động có nguồn gốc từ ôxy (ROS). Các polyphenol này cũng thực hiện hoạt động loại bỏ các gốc ôxy hóa này và có thể kích hoạt yếu tố NRF2, yếu tố NRF2 này điều chỉnh biểu hiện của nhiều enzym chống ôxy hóa. Vì vậy các hoạt chất polyphenol này được coi là các giải pháp thay thế an toàn và khả thi cho các hợp chất hóa học tổng hợp, góp phần tích cực vào việc cải thiện sức khỏe cá, chất lượng, năng suất và an toàn thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản, đồng thời giảm việc sử dụng hóa chất và kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản.

Nor-Grape là một chiết xuất nho được chuẩn hóa từ các hoạt chất sinh học polyphenol có hoạt tính chống ôxy hóa cao nhất của công ty Norfeed. Nor-Grape được đăng ký độc quyền là phụ gia ở thức ăn chăn nuôi ở EU với liều lượng sử dụng từ thấp 5-100ppm.

Một thử nghiệm được tiến hành nhằm kiểm tra tác dụng tích cực của Nor-Grape đối với stress ôxy hóa trong quá trình sinh trưởng của cá và chất lượng thịt cá (tỷ lệ mất nước khi nấu và quá trình peroxy hóa lipid trong quá trình bảo quản).

Thông tin thử nghiệm -Thời gian thử nghiệm: 9 tuần

-Địa điểm: Pháp

-Loài cá: cá chẽm (dicentrarchus labrax)

-Trọng lượng: 100g

-Nghiệm thức: + Đối chứng: thức ăn cơ bản +Thử nghiệm: thức ăn cơ bản +40 ppm

Norgrape

Kết quả thử nghiệm

Trong điều kiện thử nghiệm này, việc bổ sung Norgrape mang lại các lợi ích thiết thực như sau: tăng cường sự ổn định màng tế bào thông qua việc giảm tỷ lệ rỉ nước sau khi nấu khoảng 25% và bảo vệ cá chống lại stress ôxy hóa trong điều kiện nuôi thông qua việc tăng cường enzyme chống ôxy hóa GPX. Để biết thêm thông tin về các giải pháp phụ gia thảo dược tự nhiên, vui lòng liên hệ qua email contactvn@norfeed.net

Giải quyết vấn đề đất phèn

trong ao nuôi tôm

Trên thế giới hiện nay có khoảng 15 triệu ha đất phèn. Trong đó, diện tích đất nhiễm phèn ở Đồng

Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là

41,1% ở hầu hết các tỉnh: Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang; ĐBSCL đóng góp 71% diện tích nuôi trồng thủy sản và 54% sản lượng thủy sản của cả nước. Đối với các ao nuôi trồng thủy sản ở những vùng đất bị nhiễm phèn, lượng phèn sẽ rò rỉ từ đất vào nước trong quá trình đào ao, thêm vào đó khi trời mưa, nước mưa sẽ rửa trôi phèn từ trên bờ xuống làm cho ao bị nhiễm phèn.

Có 2 loại phèn ảnh hưởng đến ao tôm hiện nay:

- Phèn sắt (nước đỏ): Muối kép của sắt(III) sunfat kết hợp với muối của kim loại kiềm hay amoni. Loại phèn này làm nước đỏ, chân, mang, đuôi tôm vàng.

- Phèn nhôm (nước trong): Muối sunfat kép của kali và nhôm. Khi ao có phèn nhôm, nước rất trong khó lên màu, tôm rất chậm lớn.

Ảnh hưởng của phèn đến sự phát triển của tôm:

- Khó gây màu nước do tảo phát triển chậm, đặc biệt đối với tôm con (PL) ở giai đoạn đầu thì màu nước cực kỳ quan trọng.

- Làm giảm pH trong ao nuôi, mà pH là một trong các yếu tố quan trọng trong quá trình nuôi, tăng độc tính của khí độc. - pH thấp làm tôm stress, kém

ăn, khó lột xác, mềm vỏ, chậm lớn, tôm màu xám đen, hợp chất phèn lơ lửng bám vào mang, cản trở quá trình hô hấp của tôm.

- pH thấp ảnh hưởng đến sự hoạt hóa các Enzyme trong ao.

Từ đó làm cho việc sử dụng các sản phẩm vi sinh hoặc chế phẩm sinh học xử lý nước đáy, bổ sung thức ăn không hiệu quả.

Để hạn chế phèn trong ao ta nên:

Chọn địa điểm xây dựng ao nuôi

ở các vùng đất ít bị nhiễm phèn; chuẩn bị và cải tạo ao nuôi thật kỹ, bón lót vôi đáy ao, sên rửa lại nhiều lần cho sạch trước khi cấp nước vào ao nuôi; xử lý nguồn nước cấp vào thật sạch, nên sử dụng kít

kiểm môi trường để xem có hàm lượng sắt trong nước cấp không.

Cách xử ao bị nhiễm phèn:

1. Lót bạt toàn bộ nền đáy và bờ ao:

Đây là cách sử dụng màng bạt để bao bọc lót xuống đáy ao hồ nuôi tôm. Các vật liệu phổ biến nhất của bạt lót ao nuôi tôm đó chính là

HDPE, PVC và cao su EPDM. Đây

đều là các nguyên liệu nguyên sinh

có độ bền cao đồng thời không gây

dụng. Cách này có tác dụng chính trong ngăn phèn, chống xói mòn, tạo môi trường nuôi hợp vệ sinh, hạn chế rủi ro bệnh tật ở tôm nuôi.

2. Sử dụng hóa chất (EDTA hoặc vôi):

Vôi: Cách xử lý này được rất nhiều hộ nuôi sử dụng. Nhưng là thực tế có những ao độ phèn cao, 1000 m2 phải dùng cả một tấn vôi

mới ngăn chặn được. Đó chính là

điểm hạn chế của cách xử lý này.

Sử dụng số lượng quá lớn, vừa tốn công tạt vừa gây tốn kém chi phí.

Đánh EDTA cũng là một cách hay để ngăn chặn phèn sắt tức thời, phèn nhôm EDTA không có tác dụng nhiều, khi đánh EDTA, nó sẽ làm kết

tủa Fe trong nước, giảm phèn và chìm xuống đáy ao, khi người nuôi quạt nước thì vô tình kéo kết tủa của phèn sắt lên luôn thì nó cứ tồn tại

trong môi trường nước, không hết triệt để, vài ngày phải đánh lại.

Điểm hạn chế của hai cách xử lý này là:

- Chi phí rất cao: Lót bạt, vệ sinh ao bạt, khó gây màu nước, nhân công.

- Sử dụng hóa chất khối lượng lớn gây tốn kém chi phí và công tạt.

- Hóa chất chỉ giải quyết được phèn nhôm, phèn sắt không có tác dụng nhiều.

- Phèn vẫn còn tồn dư trong nước chứ không mất đi, có thể bị xì phèn sau những trận mưa.

3. Sử dụng vi sinh xử lý phèn: Hiện nay, sử dụng vi sinh cũng là cách xử lý phèn trong ao nuôi

tôm được rất nhiều hộ nuôi áp dụng. Vi sinh có thể tồn tại trong môi phường nước phèn giúp ôxy hóa được cả phèn sắt và nhôm, vi sinh sẽ thúc đẩy quá trình chuyển hóa phèn nhanh chóng thành các hợp chất tan được trong nước. Vi sinh cũng có công dụng phân hủy các chất hữu cơ dư thừa, thức ăn, xác tảo, phân... giúp giảm khí độc, giảm mùi hôi của ao nuôi Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm, thân thiện môi trường và hiệu quả cao và kéo dài. Hiện nay, Công ty Thái Nam Việt đã nghiên cứu và phát triển thành công dòng  sản phẩm vi sinh đặc biệt có khả năng phân hủy cả phèn sắt và phèn nhôm trong ao nuôi một cách hiệu quả. Chỉ sau 3 ngày sử dụng, màu nước ao trở nên ổn định, lên màu đẹp tự nhiên, hệ tảo có lợi phát triển, giúp tôm khỏe mạnh và bắt mồi tốt hơn. Đặc biệt, khi xử lý triệt để vấn đề phèn trong ao nuôi, các sản phẩm vi sinh xử lý nước và đáy ao sẽ phát huy hiệu quả tối ưu, giúp môi trường ao nuôi bền vững và hạn chế rủi ro trong suốt vụ nuôi. AQUALUM CONC – sản phẩm vi sinh xử phèn – hiệu quả ngay từ lần đầu tiên sử dụng – hiệu quả cho cả phèn sắt và phèn nhôm: Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:  088 893 6366 hoặc website: www.thainamviet.com để biết thêm thông tin chi tiết.

Thái Nam Việt

Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT SINH HÓA THÁI NAM VIỆT Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, P. Tăng Nhơn Phú A, TP. Thủ Đức, TP.HCM ĐT: 0888 59 63 66

Email: info@thainamviet.com  Website: thainamviet.com

Trước Sau
Trước và sau khi xử lý phèn bằng AQUALUM CONC

Sitto Aqua Herbs

“Lá chắn sinh học” giúp tôm tăng miễn dịch, giảm

rủi ro dịch bệnh trong nuôi thâm canh

Trong bối cảnh ngành nuôi tôm ngày càng phát triển theo hướng thâm canh và siêu thâm canh, người nuôi phải đối mặt với nhiều áp lực môi trường như biến động pH, hàm lượng NH3 cao, mật độ nuôi dày và sự thay đổi thời tiết đột ngột. Những yếu tố này khiến tôm dễ rơi vào trạng thái stress, suy giảm miễn dịch và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm như Vibrio hay EHP, EMS. Do đó, việc tăng cường sức đề kháng cho tôm bằng các giải pháp sinh học đang trở thành xu hướng trong nuôi tôm hiện đại. Một trong những giải pháp được nhiều người nuôi quan tâm hiện nay là SITTO Aqua Herbs – phức hợp thảo dược cao cấp chiết xuất từ nghệ hữu cơ, được nghiên cứu nhằm hỗ trợ tôm tăng cường miễn dịch và thích nghi tốt hơn với điều kiện nuôi thâm canh.

Thảo dược tự nhiên - “lá chắn sinh học”, xu hướng trong nuôi tôm bền vững

SITTO Aqua Herbs được phát triển dựa trên các hoạt chất sinh học từ nghệ hữu cơ chọn lọc (Curcuma longa) – loại thảo dược nổi tiếng với đặc tính chống ôxy hóa, kháng viêm và tăng cường miễn dịch. Nhờ công nghệ chiết xuất hiện đại, các hợp chất sinh học trong nghệ được tối ưu hóa

để hỗ trợ sức khỏe sinh học của tôm nuôi, đặc biệt trong điều kiện môi trường biến động.

Sản phẩm mang lại nhiều lợi ích cho người nuôi như: - Tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên của tôm.

- Tăng khả năng chống chịu mầm bệnh như EMS, EHP, Vibrio.

- Tăng tỷ lệ sống trong mọi

điều kiện nuôi.

- Cải thiện sức khỏe đường ruột.

- Tăng trưởng nhanh hơn.

- Tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR).

- Nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

Điểm nổi bật của SITTO Aqua Herbs là cơ chế kích hoạt hệ miễn dịch tự nhiên của tôm thông qua điều khiển biểu hiện các gen miễn dịch quan trọng.

Kích hoạt hệ miễn dịch từ bên trong

Các nghiên cứu cho thấy

SITTO Aqua Herbs giúp tăng

cường hoạt động của nhiều cơ

chế miễn dịch quan trọng trong cơ thể tôm.

Enzyme Superoxide Dismutase (SOD) giúp giảm các gốc ôxy hóa

tự do (ROS), từ đó hạn chế stress

sinh lý khi tôm gặp biến động

môi trường như pH dao động, khí

độc (NH₃) cao, chuyển mùa, thay nước, mật độ nuôi dày, giảm nguy cơ mắc bệnh EMS, EHP, Vibrio.

Bên cạnh đó, enzyme

Transglutaminase (TG) giúp ổn định cấu trúc tế bào và tăng cường hàng rào bảo vệ tự nhiên, hạn chế sự xâm nhập của mầm bệnh.

Sản phẩm còn kích hoạt

Beta-glucan Binding Protein (BGBP) giúp nhận diện mầm bệnh nhanh hơn và hệ enzyme

Prophenoloxidase (PPO) giúp tạo melanin để bao vây, cô lập, ức chế và tiêu diệt mầm bệnh.

Đặc biệt, SITTO Aqua Herbs còn kích thích cơ thể tôm sản sinh Penaeidin – một peptide kháng khuẩn nội sinh đóng vai trò như “kháng sinh tự nhiên”.

Hiệu quả thực nghiệm tích cực

Các thử nghiệm đánh giá hiệu quả cho thấy SITTO Aqua Herbs

mang lại nhiều kết quả khả quan.

Khả năng sống sót khi thử thách mầm bệnh: Tăng khả năng

kháng bệnh, tăng khả năng sống và cải thiện tốc độ tăng trưởng trong điều kiện môi trường nhiễm

EMS, EHP, Vibrio.

Tăng trọng cơ thể: Tăng 14%, cho thấy khả năng cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng trưởng của tôm. Giúp tôm lớn

nhanh, rút ngắn thời gian nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế. Kích hoạt nhiều gen miễn dịch quan trọng trong cơ thể tôm, tăng cường cơ chế phòng vệ tự nhiên:

- Tăng 58% SOD.

- Tăng 14% TG.

- Tăng 43% BGBP.

- Tăng 11% PPO.

- Tăng 31% Penaeidin.

Những kết quả này cho thấy sản phẩm không chỉ hỗ trợ phòng bệnh mà còn giúp tôm duy trì tăng trưởng ổn định trong điều kiện nuôi thâm canh.

Hướng đến hiệu quả và bền vững

Trong bối cảnh ngành tôm đang hướng đến sản xuất an toàn sinh học và giảm phụ thuộc vào kháng sinh, các giải pháp có nguồn gốc tự nhiên như SITTO Aqua Herbs đang trở thành xu hướng tất yếu.

Việc tăng cường miễn dịch, giảm stress và cải thiện sức khỏe đường ruột giúp tôm phát triển ổn định hơn, từ đó nâng cao tỷ lệ sống, giảm chi phí phòng bệnh, tối ưu hệ số FCR và gia tăng hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

Với nền tảng khoa học rõ ràng và hiệu quả thực nghiệm tích cực, SITTO Aqua Herbs được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những giải pháp hỗ trợ hữu hiệu cho người nuôi tôm trong mô hình nuôi thâm canh hiện đại.

Phòng kỹ thuật Công

Ứng dụng acid hữu cơ trong nuôi tôm thương phẩm

Là một trong những quốc gia

có diện tích và sản lượng nuôi

tôm lớn trên thế giới, mỗi năm

sản phẩm tôm của Việt Nam

được xuất khẩu sang rất nhiều

thị trường với chất lượng và

thương hiệu ngày một nâng cao.

Tuy nhiên, hiện nay, nhu cầu thị

trường trong nước và xuất khẩu

đều đặt các yêu cầu rất cao về

vấn đề ATTP và hạn chế dư lượng

kháng sinh trong sản phẩm tôm

thương phẩm. Do vậy, muốn đẩy

mạnh tiêu thụ, nâng cao giá trị, ngành tôm cần áp dụng các giải

pháp để nâng cao chất lượng sản

phẩm hơn nữa.

ể đáp ứng nhu cầu thị trường hiện nay, Công ty Bio pharmachemie đã cho ra đời sản phẩm BIO

LACTAZYME for Aquaculture New với thành phần chính là tổ hợp các acid hữu cơ dưới dạng dung dịch.

Công dụng BIO LACTAZYME for Aquaculture New ức chế sự phát triển các vi khuẩn Vibrio spp gây bệnh cho tôm, nhất là vi khuẩn Vibrio haveyi là vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho tôm nuôi. Ngoài ra, BIO

LACTAZYME for Aquaculture New cũng còn có tác dụng trong việc kích thích sự phát vi khuẩn có lợi giúp ruột tôm tăng hấp thu, tôm mau lớn.

Cơ chế tác động acid hữu cơ có trong BIO

LACTAZYME for Aquaculture New khi đi vào ruột tôm

Trong đường ruột tôm luôn tồn tại 2 dòng vi khuẩn có lợi và có hại ở ngưỡng cân bằng. Vi khuẩn có lợi phát triển môi trường pH thấp hơn so vi khuẩn có hại Vibrio spp… Trong nuôi tôm công nghiệp, mật độ cao, tôm ăn thức ăn công nghiệp nên ao nuôi rất dễ ô nhiễm và vi khuẩn có hại Vibrio spp phát triển mạnh trong môi trường. Vibrio tìm cách xâm nhập vào cơ thể tôm thông qua con đường ăn, khi vào đường ruột tôm, chúng gia tăng mật độ và gây bệnh cho tôm, ảnh hưởng sức khỏe, năng suất sản lượng tôm nuôi. Do vậy, khi cho tôm ăn BIO LACTAZYME for Aquaculture New có chứa các acid hữu cơ, sẽ làm thay đổi môi trường pH ruột (hạ pH đường ruột), lúc này các vi khuẩn gây bệnh bị ức chế không phát triển và không gây bệnh tôm. Acid hữu cơ tác động đến vi khuẩn gây bệnh bằng cách acid hóa tế bào chất, từ đó cản trở sự phát triển của chúng.

BIO LACTAZYME for Aquaculture New gồm nhiều loại acid hữu cơ kết hợp lại với nhau, mỗi loại acid có những tác dụng khác

nhau, cùng hỗ trợ hợp lực trong việc bảo vệ đường ruột tôm khỏe mạnh hơn, giúp ngăn chặn bệnh đường ruột, bệnh phân trắng, ruột lỏng, phân bị đứt khúc… cũng như gia tăng hấp thu thức ăn, giúp tôm mau lớn…

Acid lactic: Ức chế vi khuẩn Vibirio spp gây bệnh, cải thiện hệ vi sinh có lợi đường ruột; Acid formic: Kích thích tiêu hóa thức ăn, tác động tích cực đến sự tăng trưởng của tôm; Acid propionic: Ngăn cản nấm mốc và vi khuẩn xâm nhập vào thức ăn tôm.

Protein từ chất dịch nấm men Saccharomysec cerevisie: Được thêm vào có tác dụng là nguồn dinh dưỡng cho tôm và các vi sinh vật có lợi trong ruột tôm, giúp chúng hoạt động tốt hơn, hệ tiêu hóa làm việc một cách tích cực và hiệu quả hơn. >> Có thể thấy, sự cộng hưởng của các thành phần có trong BIO LACTAZYME for Aquaculture New sẽ bảo vệ đường ruột tôm nuôi luôn khỏe mạnh, giúp tôm ăn nhiều và mau lớn, đạt năng suất cao.

Đặng Hồng Đức Cố vấn kỹ thuật Công ty liên doanh Bio-Pharmachemie

lô vi sinh ABS sang Bangladesh

Công ty Hải Mã đã chính

thức xuất khẩu thành

công lô hàng vi sinh

ABS sang thị trường

Bangladesh. Sự kiện

đánh dấu mốc quan

trọng trong hành trình

mở rộng thị trường quốc

tế của doanh nghiệp

trong lĩnh vực thuốc

thủy sản.

Theo đại diện Công ty Hải Mã, lô hàng vi sinh

ABS lần này đã đáp ứng

đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng khắt khe từ phía

đối tác nước ngoài. Toàn bộ quá trình sản xuất, kiểm định và vận chuyển được thực hiện nghiêm ngặt, tuân thủ quy trình quản lý chất lượng, nhằm đảm bảo sản phẩm đến tay khách hàng trong điều kiện tốt nhất.

Việc xuất khẩu thành công lô hàng vi sinh ABS sang Bangladesh không chỉ thể hiện năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng các yêu cầu quốc tế của Hải Mã, mà còn góp phần nâng cao uy tín thương hiệu doanh nghiệp trên thị trường thuốc thủy sản. Đây được xem là bước đệm quan trọng để công ty tiếp tục mở rộng hợp tác với các đối tác quốc tế, hướng tới phát triển bền vững trong thời gian tới.

Đại diện Hải Mã cho biết, trong chiến lược phát triển dài hạn, công ty sẽ tiếp tục đầu tư mạnh vào công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Việc mở rộng xuất khẩu sang Bangladesh là tiền đề để

doanh nghiệp tiếp tục thâm nhập

các thị trường tiềm năng khác trong khu vực và trên thế giới.

Sản phẩm vi sinh ABS của

Hải Mã hiện được đánh giá là giải pháp hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản nhờ nhiều ưu

điểm nổi bật:

- Tiết kháng sinh ức chế nhiều vi sinh vật có hại.

- Tạo ra enzyme phân hủy các

chất hữu cơ trong ao nuôi giúp

xử lý nhớt bạt, nhớt đáy, giữ màu nước sáng đẹp trong ao nuôi.

- Xử lý khí độc NH3, NO2.

- Chịu va đập tốt, nhiệt độ thích nghi từ 10- 50 o C nên rất dễ bảo quản ở các điều kiện thông thường.

- Biên độ pH từ 1- 10, độ mặn từ 0 - 45‰. Vì vậy có thể sử dụng ở cả môi trường nước ngọt và nước mặn.

Việc xuất khẩu thành công lô hàng vi sinh ABS sang Bangladesh

một lần nữa khẳng định hướng đi đúng đắn của Công ty Hải Mã trong chiến lược hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thuốc thủy sản khu vực và thế giới.

CÔNG TY TNHH QUỐC TẾ HẢI MÃ Số 855 Đường 2/4 - Phường Bắc Nha Trang - Tỉnh Khánh

Giải pháp sục khí công nghệ cao

cho ao nuôi

Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang chuyển mình theo

hướng công nghệ cao, việc ứng dụng máy móc hiện đại là yếu tố then

chốt để phát triển bền vững.

Kiểm soát rủi ro môi trường bằng giải pháp sục khí khoa học

Trong các mô hình nuôi thâm canh mật độ cao, hàm lượng ôxy hòa tan (DO) và hệ thống dòng chảy đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của tôm, cá. Việc thiếu hụt ôxy cục bộ, đặc biệt là ở tầng đáy, sẽ làm giảm sức ăn, tăng sinh khí độc và gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Do đó, thiết lập hệ thống máy sục khí và quạt nước phân bổ đều khắp diện tích ao là yêu cầu kỹ thuật bắt buộc để kiểm soát môi trường ao nuôi hiệu quả.

Để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe này, hệ thống thiết bị vận hành ao nuôi hiện nay

đã được cải tiến với nhiều công nghệ mới. Cấu tạo bên trong của các thiết bị này sở hữu cụm động cơ cơ khí chính xác, độ kín cực cao cùng vỏ bọc và vật liệu dẫn khí chống ăn mòn.

Thiết kế này giúp máy duy trì khả năng hoạt động liên tục trong môi trường nước lợ, mặn, hạn chế tối đa tiếng ồn và đảm bảo hiệu suất cung cấp ôxy hòa tan luôn ở mức ổn định. Bên cạnh công nghệ sục khí lơ lửng, hệ thống quạt nước tạo dòng bề mặt cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Các tổ hợp quạt nước hiện đại được thiết kế kết hợp hệ thống phao nổi chịu lực đồng bộ. Hệ thống cánh quạt bằng nhựa kỹ thuật đa dạng về kiểu dáng - từ cánh quạt hở truyền thống đến thiết

Chúng tôi trân trọng kính mời Quý khách hàng và Quý đối tác đến tham quan trải nghiệm các giải pháp công nghệ nông nghiệp - môi trường tiên tiến tại gian hàng của chúng tôi trong khuôn khổ Hội chợ Triển lãm Công nghệ Nông nghiệp - Môi trường (VietAgros 2026).

kế cánh kín tối ưu lực cản - giúp khuấy động bề mặt nước mạnh mẽ. Lực nước từ hệ thống

quạt không chỉ làm tăng diện tích tiếp xúc

để trao đổi ôxy mà còn tạo ra dòng chảy vật lý định hướng, giúp gom tụ rác thải và phân

tôm về khu vực hố xi phông ở rốn ao. Đối với

các khu vực cần ôxy sâu, các dòng máy sục khí trục đứng với động cơ đặt nổi trên phao đa hướng cũng được sử dụng để khuếch tán không khí trực tiếp xuống tầng đáy.

Hiệu quả kinh tế từ việc tối ưu hóa vận hành Đứng từ góc độ quản lý trang trại, một giải pháp kỹ thuật hiệu quả phải mang lại lợi ích kinh tế có thể đo lường. Việc lắp đặt đúng cấu hình các thiết bị quản lý và kiểm soát môi trường nước giúp duy trì các thông số lý hóa trong ao ở

định, vật nuôi không bị sốc, từ đó tăng tỷ lệ sống và tăng năng suất.

Đồng thời, ứng dụng các linh kiện và vật tư kỹ thuật chuyên dụng thế hệ mới giúp tối ưu hóa hiệu suất truyền động của motor điện. Năng lượng không bị thất thoát qua nhiệt hay ma sát thừa, từ đó giúp người nuôi giảm chi phí vận hành (đặc biệt là chi phí tiền điện) một cách rõ rệt. Giải pháp cung ứng đồng bộ từ chuyên gia kỹ thuật Để các thiết bị phát huy tối đa hiệu quả, trang trại cần thực hiện một quy trình khảo sát, tư vấn và lắp đặt sát với điều kiện thực tế, bao gồm diện tích, độ sâu và mật độ thả. Nắm bắt nhu cầu này, Công ty TNHH XNK Thiết bị Thủy sản Duyên Việt - đơn vị phân phối đa dạng các dòng máy, bao gồm cả thiết bị từ các thương hiệu như Kalong và FuTi - đã định vị mình là nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật toàn diện cho ngành nuôi tôm và thủy sản. Duyên Việt không chỉ cung cấp các dòng sản phẩm chất lượng cao như máy sục khí, quạt nước, thiết bị kiểm soát môi trường mà còn đem đến một hệ sinh thái dịch vụ đồng bộ. Nhờ kết hợp chặt chẽ giữa khâu tư vấn chuyên môn, cung cấp vật tư chính hãng đến dịch vụ logistics, doanh nghiệp đảm bảo các thiết bị và linh kiện được đưa đến tay khách hàng nhanh chóng, giúp duy trì hoạt động sản xuất liên tục và ổn định. Sự kết hợp giữa máy móc hiện đại và giải pháp kỹ thuật chuẩn xác chính là chìa khóa để người nuôi tối ưu hóa lợi nhuận trong bối cảnh hiện nay. Thủy sản Duyên Việt

Thông

Ao lót bạt đáy thành công

cùng tôm giống sú C.P

Mô hình nuôi tôm sú C.P kết hợp sử dụng GOAL MAX cho thấy hiệu quả

rõ rệt cả về năng suất lẫn chất lượng, mở ra hướng đi bền vững cho người nuôi trong điều kiện dịch bệnh còn nhiều thách thức.

Mở lối mới giữa vùng nuôi nhiều thách thức

Trong bối cảnh nhiều vùng nuôi tại Cà Mau chịu ảnh hưởng nặng từ EHP, anh Phạm Văn Quyền (Cà Mau) đã tìm lại hiệu quả khi chuyển sang nuôi tôm sú C.P trên ao lót bạt đáy.

Sau nhiều vụ nuôi gặp khó khăn do dịch bệnh, anh mạnh dạn thay đổi con giống và áp dụng nuôi trên ao lót bạt đáy, kết hợp cho ăn bằng máy tự động. Kết quả cho thấy tôm sinh trưởng ổn định, sức khỏe tốt, kiểm tra không nhiễm EHP, ngay cả trong khu vực có tỷ lệ nhiễm cao 60–70%.

Tôm sú C.P thích nghi tốt, nuôi mật độ cao Theo anh Quyền, tôm sú C.P có thể nuôi trên ao bạt đáy, cho ăn bằng máy tự động tương tự tôm thẻ. Tôm bơi khỏe, phát triển

đồng đều, chịu được điều kiện thời tiết bất lợi, giúp người nuôi tự tin tăng mật độ và chủ động sản xuất.

GOAL MAX giúp tôm đẹp màu, nâng giá trị

Bên cạnh con giống, anh sử dụng thức ăn

GOAL MAX để bổ sung dinh dưỡng. Chỉ sau khoảng 1 tuần, tôm lên màu rõ rệt, vỏ bóng, thịt chắc; khi luộc có màu đỏ tươi. Nhờ đó,

sản phẩm được thương lái ưa chuộng và đạt giá bán cao.

Hướng đi hiệu quả cho người nuôi Mô hình nuôi tôm sú C.P kết hợp sử dụng

GOAL MAX cho thấy hiệu quả rõ rệt cả về năng suất lẫn chất lượng, mở ra hướng đi bền vững cho người nuôi trong điều kiện dịch bệnh còn nhiều thách thức.

Không chỉ là màu sắc

Panaferd® - lợi thế cạnh tranh

bền vững trong nuôi trồng thủy

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng ưu tiên thực phẩm an toàn và bền vững, phụ gia tự nhiên đang trở thành giải pháp nâng cao giá trị thủy sản. Không chỉ cải thiện màu sắc, Panaferd® còn góp phần tăng sức khỏe, hương vị và năng lực cạnh tranh của tôm nuôi.

Vì bản thân, gia đình và môi trường: Nhu cầu ngày càng tăng đối với thực phẩm an toàn và bền vững

Kỳ vọng của người tiêu dùng đang nhanh chóng tái định hình ngành thực phẩm toàn cầu. Ngày nay, các yếu tố như tính bền vững, minh bạch và an toàn không còn mang tính bổ trợ, mà đã trở thành tiêu chí cốt lõi, tác động trực tiếp đến giá trị thương hiệu, khả năng tiếp cận thị trường và niềm tin của người tiêu dùng. Người mua, nhà bán lẻ và người tiêu dùng cuối ngày càng yêu cầu sản phẩm được sản xuất với mức độ minh bạch cao, giảm thiểu tác động môi trường và sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc gần với tự nhiên. Đối với các doanh nghiệp thực phẩm và nuôi trồng thủy sản, xu hướng này vừa là thách thức, vừa mở ra cơ hội chiến lược. Những doanh nghiệp có khả năng chứng minh nguồn cung có trách nhiệm, ứng dụng giải pháp tự nhiên và truyền thông rõ ràng về cam kết bền vững sẽ có lợi thế trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường đang thay đổi.

Đồng thời, đây cũng là nền tảng để củng cố lòng trung thành của khách hàng và đảm bảo tăng trưởng dài hạn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng. Điều này cho thấy vai trò then chốt của các đổi mới vừa thân thiện môi trường, vừa khả thi về mặt thương mại.

Giải pháp tự nhiên từ đại dương Panaferd® là phụ gia thức ăn có nguồn gốc tự nhiên, được phát triển từ Paracoccus carotinifaciens – một vi sinh vật hiếu khí Gram âm, lần đầu được phân lập vào đầu những năm 1990. Vi sinh vật này có khả năng tự nhiên sản sinh các carotenoid hiếm, trong đó có astaxanthin dạng tự do (3S,3S’) không qua quá trình este hóa. Khác với các sắc tố tổng hợp hoặc phụ gia được xử lý bằng hóa chất, Panaferd® không biến đổi gen (GMO-free), không sử dụng hóa chất và hoàn toàn phù hợp với các mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng hữu cơ, bền vững.

Sản phẩm được sản xuất thông qua quy trình lên men được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo chất lượng ổn định và nguồn cung đáng tin cậy. Nhờ đó, các nhà sản xuất thủy sản có thể đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và mục tiêu phát triển bền vững. Việc sử dụng Panaferd® không chỉ góp phần nâng cao chất lượng tôm mà còn thúc đẩy các thực hành nuôi trồng có trách nhiệm hơn với môi trường.

Tác động kinh doanh của màu sắc tôm

Trong thị trường nuôi tôm hiện đại, màu sắc không chỉ là yếu tố thẩm mỹ mà còn là chỉ số quan trọng quyết định giá trị thương mại và nhận thức của người tiêu dùng. Tôm có màu hồng hoặc đỏ tự nhiên, đậm nét thường được đánh giá là có chất lượng cao, độ tươi tốt và giá trị dinh dưỡng cao hơn.

Ngược lại, màu sắc nhạt hoặc thiếu sức sống có thể làm giảm hình ảnh sản phẩm, suy yếu năng lực cạnh tranh và ảnh hưởng tiêu cực đến giá bán trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Việc bổ sung Panaferd® vào công thức thức ăn giúp tôm phát triển màu sắc hồng tự nhiên, ổn định và đồng đều, phù hợp với kỳ vọng của thị trường, đặc biệt ở các phân khúc cao cấp. Quan trọng hơn, màu sắc không chỉ mang tính cảm quan mà còn tác động trực tiếp đến giá bán, khả năng chấp nhận của thị trường và cơ hội tiếp cận các phân khúc có giá trị gia tăng cao. Trong bối cảnh các nhà chế biến và bán lẻ ngày càng chú trọng đến hình thức sản phẩm, tôm nuôi có sắc tố vượt trội mang lại lợi thế cạnh tranh rõ rệt và có thể đo lường được.

Nâng cao sức khỏe, miễn dịch và tỷ lệ sống của tôm

Tôm thẻ chân trắng ( Penaeus vannamei ) là đối tượng nuôi chủ lực nhưng đặc biệt nhạy cảm với các yếu tố gây stress như biến động nhiệt độ và nhiễm khuẩn. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và chất lượng sản phẩm.

Việc bổ sung Panaferd® – nguồn astaxanthin tự nhiên – trong khẩu phần ăn đã được chứng minh giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống, tăng cường hệ miễn dịch và nâng cao khả năng chống chịu stress.

Các nghiên cứu cho thấy, tôm được bổ

sung Panaferd® có khả năng sống sót cao

hơn trong điều kiện nhiệt độ thấp, đồng thời kháng tốt hơn với vi khuẩn Vibrio. Bên cạnh

đó, sản phẩm còn giúp giảm stress ở cấp

độ tế bào, trong khi vẫn duy trì màu sắc tự nhiên đáp ứng yêu cầu thị trường. Thông qua việc cải thiện sức khỏe và khả năng đề kháng, Panaferd® góp phần giúp người nuôi giảm thiểu tổn thất, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng hiệu quả sản xuất một cách bền vững.

Cải thiện hương vị và sự hài lòng của người tiêu dùng

Không chỉ dừng lại ở yếu tố sức khỏe và hình thức, Panaferd ® còn góp phần nâng cao chất lượng cảm quan của sản phẩm.

Kết quả phân tích mô tả cho thấy, tôm

được cho ăn Panaferd ® với liều cao hơn (5.000 g/tấn thức ăn trong 6 tuần) có hàm lượng các hợp chất tạo vị umami quan trọng tăng lên, bao gồm axit glutamic, axit aspartic và axit 5’-inosinic. So với astaxanthin tổng hợp, Panaferd® giúp tăng hàm lượng axit glutamic 35%, axit aspartic 31% và axit 5’-inosinic tới 248%.

Các hợp chất này đóng vai trò then chốt trong việc tạo nên độ đậm đà của hương vị, qua đó nâng cao mức độ hài lòng của người tiêu dùng. Điều này cho thấy Panaferd® không chỉ tạo giá trị ở khâu nuôi trồng mà còn gia tăng chất lượng sản phẩm ở giai đoạn tiêu dùng cuối cùng. Việc đồng thời cải thiện cả hương vị và hình

đáp ứng tốt hơn kỳ vọng ngày càng cao của người tiêu dùng.

Công cụ chiến lược cho tương lai của ngành nuôi trồng thủy sản

Thành công trong nuôi tôm hiện đại phụ thuộc vào khả năng cân bằng giữa tính bền vững và hiệu quả kinh tế. Panaferd® mang lại sự kết hợp giữa nguồn gốc tự nhiên, hiệu quả đã được kiểm chứng và lợi ích kinh tế rõ ràng.

Tính linh hoạt của sản phẩm cho phép người nuôi giải quyết đồng thời nhiều thách thức như màu sắc, sức khỏe, stress, bệnh tật và hương vị thông qua một giải pháp tích hợp. Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản đang chuyển dịch theo hướng minh bạch, có trách nhiệm và bền vững hơn, những đổi mới như Panaferd ® được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai của ngành. Việc lựa chọn các giải pháp tự nhiên, dựa trên nền tảng khoa học, sẽ giúp ngành thủy sản theo đuổi tăng trưởng bền vững mà không phải đánh đổi hiệu quả, chất lượng hay lợi nhuận, từ đó xây dựng nền tảng phát triển dài hạn trong thị trường toàn cầu đầy cạnh tranh.

Thanh Hóa

Hướng đi bền vững từ nuôi tôm công nghệ cao

Từ mô hình nuôi truyền thống nhiều bấp bênh, ông Lê Văn Phương (thôn Châu Triều, xã Hoằng Châu) đã mạnh dạn đầu tư nuôi tôm công nghệ cao. Nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật và quy trình an toàn sinh học, mô hình không chỉ giúp giảm thiểu dịch bệnh, ổn định sản xuất mà còn mang lại nguồn thu nhập cao, bền vững.

Đổi mới để thích ứng

Trong những năm gần đây, nghề nuôi tôm tại Thanh Hóa chịu nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu, môi trường suy thoái và dịch bệnh diễn biến phức tạp. Những mô hình nuôi quảng canh vốn phụ thuộc lớn vào tự nhiên dần bộc lộ hạn chế: năng suất thấp, rủi ro cao và khó kiểm soát chất lượng. Trước thực tế đó, nhiều nông dân đã không còn lựa chọn “giữ nguyên cách làm cũ”, mà chủ động tìm kiếm hướng đi mới nhằm đảm bảo sinh kế lâu dài.

Câu chuyện chuyển đổi từ nuôi truyền thống sang công nghệ cao của ông Lê Văn Phương, thôn Châu Triều, xã Hoằng Châu là minh chứng rõ nét cho xu hướng này. Ban đầu, gia đình ông lựa chọn nuôi tôm quảng canh bởi chi phí thấp và dễ triển khai. Tuy nhiên, mô hình này

nhanh chóng gặp khó khăn khi thời tiết ngày càng thất thường, nguồn nước không ổn định và dịch bệnh liên tục bùng phát. Những yếu tố ngoài tầm kiểm soát khiến hiệu quả sản xuất giảm sút nghiêm trọng.

Không chấp nhận dừng lại, ông Phương đã chủ động tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, đồng thời tìm hiểu những mô hình nuôi tôm hiện đại đang được áp dụng ở nhiều địa phương. Qua quá trình học hỏi, ông nhận ra rằng chỉ khi ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thì mới có thể kiểm soát được rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế. Từ suy nghĩ đó, ông đã quyết định chuyển đổi sang nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao, dù đồng nghĩa với việc phải đầu tư lớn về vốn và công sức.

Trên diện tích khoảng 5 ha, hệ thống ao nuôi được cải tạo hoàn toàn theo hướng hiện đại. Các ao được lót bạt, trang bị đầy đủ hệ thống quạt nước, sục khí, các thiết bị theo dõi môi trường nước như nhiệt độ, pH hay hàm lượng ôxy, cho phép phát hiện sớm những biến động bất lợi để kịp thời xử lý. Nhờ đó, quá trình nuôi trở nên chủ động hơn, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố tự nhiên như trước. Quy trình nuôi được thực hiện theo hướng an toàn sinh học, nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ lây lan mầm bệnh. Một điểm đáng chú ý khác là phương thức chăm sóc tôm cũng thay đổi rõ rệt. Thay vì sử dụng kháng sinh và hóa chất như cách làm truyền thống, ông Phương ưu tiên các chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước và phân hủy chất thải hữu cơ. Điều này không chỉ giúp giảm ô nhiễm môi trường mà còn nâng cao chất lượng tôm thương phẩm, đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Hướng đi tất yếu Đến nay, mô hình nuôi tôm công nghệ cao của ông Phương đã mang lại kết quả tích cực. Trung bình mỗi năm, sản lượng tôm đạt từ 50 đến 70 tấn, với khoảng 3 vụ nuôi. Nhờ kiểm soát tốt quy trình kỹ thuật, tỷ lệ sống của tôm tăng cao, thời gian nuôi được rút ngắn và chi phí sản xuất được tối ưu. Giá bán ổn định ở mức khá, giúp tổng doanh thu bình quân hàng năm đạt 12 tỷ đồng/năm, trừ chi phí, lợi nhuận đạt 5 tỷ đồng.

Bên cạnh lợi ích kinh tế, mô hình này còn tạo ra tác động tích cực về mặt xã hội. Khi đạt được hiệu quả rõ rệt, ông Phương đã chủ động chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nuôi khác trong khu vực. Sự lan tỏa này góp phần thay đổi nhận thức của người dân, từ chỗ e ngại công nghệ sang mạnh dạn áp dụng những tiến bộ mới vào sản xuất. Thực tế cho thấy, trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản ngày càng cạnh tranh và chịu nhiều tác động từ môi trường, việc chuyển đổi sang mô hình công nghệ cao không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà đã trở thành xu hướng tất yếu. Dù chi phí đầu tư ban đầu lớn, nhưng những lợi ích lâu dài về năng suất, chất lượng và tính ổn định đã chứng minh đây là hướng đi đúng đắn.

Pháp

Hiện thực hóa mô hình nuôi cá hồi RAS 10.000 tấn

Dự án trang trại cá hồi trên cạn công suất 10.000 tấn/năm tại Verdon sur Mer

Ủy ban

tra,

cho các thủ tục cấp phép môi trường và xây dựng. Quyết định này đánh dấu bước tiến quan trọng trong lộ trình phát triển mô hình cá hồi RAS công

nghiệp, khép kín và không kháng sinh tại Pháp.

Vượt cửa ải môi trường

Dự án nuôi và chế biến cá hồi Đại Tây Dương tại Verdon sur Mer do Pure Salmon phát triển vừa nhận được ý kiến đồng thuận từ Ủy ban Điều tra, trong khuôn khổ tham vấn cộng đồng phục vụ cấp phép môi trường và xây dựng. Kết luận này không chỉ ghi nhận sự bài bản và nghiêm ngặt của các nghiên cứu kỹ thuật và đánh giá tác động môi trường được thực hiện suốt nhiều năm, mà còn tạo nền tảng pháp lý vững chắc để dự án bước vào giai đoạn triển khai tiếp theo.

Trọng tâm của dự án là phát triển trang trại cá hồi trên cạn ứng dụng công nghệ nuôi tuần hoàn khép kín (RAS) với tỷ lệ tái sử dụng nước trên 99%, cho phép kiểm soát chặt chẽ toàn bộ môi trường nuôi. Khi vận hành, cơ sở dự kiến đạt công suất tối đa 10.000 tấn cá hồi

Đại Tây Dương mỗi năm; toàn bộ sản lượng sẽ được nuôi, thu hoạch, chế biến và đóng gói tại Pháp nhằm phục vụ thị trường nội địa. Mô hình sản xuất khép kín trong nước được

kỳ vọng góp phần rút ngắn chuỗi cung ứng, giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Bắc

Âu và Nam Mỹ, đồng thời cắt giảm đáng kể dấu chân carbon của sản phẩm.

Theo hồ sơ dự án, việc kiểm soát toàn diện các thông số môi trường trong hệ thống RAS giúp tối ưu phúc lợi động vật thông qua quản lý nghiêm ngặt chất lượng nước, nhiệt độ, ôxy hòa tan và mật độ thả nuôi. Song song đó, mô hình này định hướng sản xuất không sử dụng kháng sinh và thuốc trừ sâu, phù hợp với xu thế tiêu dùng đề cao an toàn sinh học và tính minh bạch của chuỗi giá trị. Trong bối cảnh nuôi cá hồi lồng biển ngày càng chịu sức ép từ dịch bệnh, ký sinh trùng và cạnh tranh không gian sử dụng mặt nước, nuôi tuần hoàn trên cạn được xem là lựa chọn chiến lược nhằm hạn chế tối đa tác động đến hệ sinh thái tự nhiên. Một trong những nội dung được Ủy ban Điều tra đánh giá cao là sự chuẩn bị toàn diện đối với các vấn đề môi trường, đặc biệt là bảo vệ tài nguyên nước ngọt và quản lý nước thải, khi dự án đặt gần khu vực cửa sông nước lợ thuộc tỉnh Gironde. Hệ thống xử lý nước được thiết kế theo chu trình khép kín, tích hợp lọc cơ học, lọc sinh học, khử trùng và tái tuần hoàn toàn bộ lưu lượng, nhờ đó giảm đáng kể nhu cầu cấp nước mới và hạn chế tối đa lượng xả ra môi trường. Phần nước sau xử lý được

kiểm soát nghiêm ngặt trước khi đưa ra khu vực cửa sông, với các thông số kỹ thuật được xây dựng cao hơn yêu cầu pháp lý hiện hành, đồng thời tính đến độ nhạy cảm của hệ sinh thái chuyển tiếp giữa nước ngọt và nước mặn. Lợi ích kinh tế Không chỉ dừng ở yếu tố môi trường, dự án còn được xem là một mắt xích quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế địa phương. Với tổng mức đầu tư khoảng 275 triệu euro và dự kiến tạo ra 250 việc làm trực tiếp, trang trại được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng chủ lực của vùng Médoc. Việc lựa chọn địa điểm nằm trong danh mục khu đất đã được chính phủ Pháp chuẩn bị sẵn về hạ tầng và pháp lý cho các dự án công nghiệp cho thấy định hướng thu hút đầu tư bền vững, rút ngắn thời gian triển khai, đồng thời gắn kết công nghệ cao với phát triển lãnh thổ dài hạn. Ông Stéphane Farouze, nhà sáng lập dự án, cho rằng ý kiến thuận lợi từ Ủy ban Điều tra là bước tiến mang tính quyết định, thể hiện tính vững chắc trong phương án kỹ thuật và cam kết nhất quán về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Ông nhấn mạnh doanh nghiệp sẽ tiếp tục duy trì đối thoại chặt chẽ với các bên liên quan tại địa phương, nhằm bảo đảm dự án được triển khai minh bạch, cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và yêu cầu sinh thái.

Ở phương diện kỹ thuật, Pure Salmon Technology đảm nhiệm vai trò thiết kế toàn bộ trại nuôi, từ cấu hình hệ thống xử lý nước, bố trí dây chuyền công nghệ đến tính toán công suất và lưu lượng vận hành. Phương án thiết kế được phát triển với phúc lợi động vật làm nguyên tắc trung tâm, nhằm bảo đảm hoạt động ổn định, tối ưu hiệu quả sử dụng tài nguyên và duy trì điều kiện sản xuất đồng nhất quanh năm. Đơn vị này sẽ tiếp tục đồng hành về kỹ thuật trong toàn bộ quá trình hiện thực hóa dự án, từ giai đoạn thiết kế chi tiết đến triển khai và vận hành. Sau khi hoàn tất các thủ tục hành chính cần thiết, dự án sẽ được khởi động vào nửa cuối năm 2026 và hướng tới mốc thương mại hóa đầu tiên vào năm 2030.

Khuyến nông thúc đẩy công nghệ số trong

nuôi trồng thủy sản

Ứng dụng công nghệ số đang trở thành xu

hướng tất yếu trong nuôi trồng thủy sản, giúp người nuôi kiểm soát môi trường, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Tại nhiều địa phương, hệ thống khuyến

nông đóng vai trò cầu nối quan trọng, đưa

công nghệ đến gần hơn với nông dân, từng

bước hình thành phương thức nuôi trồng

hiện đại và bền vững.

Khuyến nông mở đường cho chuyển đổi số

Thực tế cho thấy, công nghệ số không thể phát huy hiệu quả nếu thiếu sự đồng hành của hệ thống khuyến nông. Với vai trò là lực lượng trực tiếp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, khuyến nông đang trở thành “cầu nối” giữa khoa học công nghệ và người nuôi thủy sản.

Tại Cà Mau, ứng dụng công nghệ số được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác khuyến nông năm 2026. Kế hoạch triển khai chương trình khuyến nông của tỉnh tập trung vào các nhóm nhiệm vụ như tăng cường thông tin tuyên truyền, xây dựng tài liệu kỹ thuật số, tổ chức tập huấn, tư vấn trực tuyến và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người dân.

Theo định hướng này, hệ thống khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn, xây dựng nền tảng số, giúp người dân tiếp cận kiến thức mọi lúc, mọi nơi. Các video hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu số, website khuyến nông và ứng dụng trực tuyến giúp người nuôi chủ động tiếp cận thông tin sản xuất. Song song với đó, nhiều mô hình thủy sản hiệu quả được xây dựng và nhân rộng. Tiêu biểu như nuôi tôm sú quảng canh cải tiến hai giai đoạn thích ứng biến đổi khí hậu, nuôi tôm sú thâm canh tuần hoàn

tính, nuôi cá kèo liên kết tiêu thụ và nuôi thủy sản kết hợp du lịch sinh thái cộng đồng. Các mô hình này không chỉ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mà còn được hỗ trợ thông tin và quản lý bằng

công nghệ số, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.

Việc đưa công nghệ số vào khuyến nông giúp thay đổi phương thức tiếp cận truyền thống, từ “cầm tay chỉ việc” sang hướng dẫn dựa trên nền tảng dữ liệu và công nghệ, qua đó tăng khả năng tiếp cận tri thức của người dân và nâng cao tính chủ động trong sản xuất.

Công nghệ số thay đổi cách nuôi

Không chỉ Cà Mau, nhiều địa phương khác cũng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong nuôi trồng thủy sản. Tại khu vực miền Trung, hoạt động khuyến nông đang từng bước chuyển từ phương thức truyền thống sang môi trường số, tập trung xây dựng các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết tiêu thụ. Các mô hình ứng dụng máy móc, thiết bị tự động và hệ thống quản lý thông minh đã cho thấy hiệu quả rõ rệt khi giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tăng lợi nhuận cho người sản xuất.

Trong lĩnh vực nuôi tôm, việc ứng dụng công nghệ số và tự động hóa đang tạo ra bước chuyển mạnh mẽ. Các hệ thống cảm biến môi trường giúp giám sát nhiệt độ, pH, ôxy hòa tan; máy cho ăn tự động điều chỉnh khẩu phần; hệ thống sục khí và xử lý nước thông minh duy trì môi trường ổn định; phần mềm quản lý hỗ trợ theo dõi toàn bộ quá trình nuôi.

Những công nghệ này giúp người nuôi giảm đáng kể rủi ro dịch bệnh, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường.

Tại Tây Ninh, mô hình nuôi tôm hai giai đoạn ứng dụng công nghệ 4.0 do Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp triển khai đã mang lại kết quả tích cực. Nhờ hệ thống giám sát tự động và thiết bị điều khiển thông minh, người nuôi có thể theo dõi liên tục các chỉ tiêu môi trường ao nuôi, chủ động xử lý khi có biến động, từ đó giảm rủi ro và nâng cao năng suất. Thực tế khi áp dụng công nghệ số, quá trình nuôi được kiểm soát chặt chẽ hơn, hạn chế dịch bệnh, rút ngắn thời gian sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Người nuôi có thể theo dõi hoạt động của tôm, cá thông qua thiết bị kết nối điện thoại, từ đó điều chỉnh chế độ chăm sóc phù hợp.

Trong quá trình này, cán bộ khuyến nông không chỉ hướng dẫn kỹ thuật mà còn trực tiếp hỗ trợ người dân sử dụng thiết bị, vận hành hệ thống và phân tích dữ liệu. Nhờ đó, công nghệ trở nên dễ tiếp cận hơn và nhanh chóng được nhân rộng. Thông

qua các mô hình điểm, người dân có điều kiện tham quan, học hỏi và từng bước áp dụng công nghệ vào sản xuất, tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng.

Hướng tới ngành thủy sản hiện đại Ứng dụng công nghệ số vừa giúp nâng cao năng suất, đồng thời còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất trong ngành thủy sản. Từ việc dựa vào kinh nghiệm truyền thống, người nuôi đang dần chuyển sang sản xuất dựa trên dữ liệu và công nghệ, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả. Khuyến nông đóng vai trò then chốt trong quá trình này khi trực tiếp tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng mô hình và hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ. Việc ứng dụng internet, phần mềm quản lý, hệ thống cảm biến và tự động hóa đang giúp ngành thủy sản tiến gần hơn tới mô hình sản xuất thông minh. Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn tới là tiếp tục hỗ trợ ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ số và tự động hóa trong nuôi trồng thủy sản; tăng cường đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ cho nông dân; xây dựng các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng địa phương; đồng thời thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, thế nhưng việc ứng dụng công nghệ số trong nuôi trồng thủy sản vẫn gặp không ít khó khăn như hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, chi phí đầu tư cao, cơ sở dữ liệu chưa chuẩn hóa, trình độ tiếp cận công nghệ

của người dân còn hạn chế và cơ chế chính sách hỗ trợ chuyển

đổi số chưa hoàn thiện.

Để khắc phục những hạn chế này, cần tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ đến cơ sở, xây dựng cơ sở dữ liệu nông nghiệp

đồng bộ, đồng thời ban hành chính sách hỗ trợ phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia ứng dụng công nghệ. Đặc biệt, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ khuyến nông được xem là yếu tố quyết định, bởi đây là lực lượng trực tiếp đưa công nghệ đến với người dân và đảm bảo công nghệ được áp dụng đúng cách, hiệu quả.

Trong bối cảnh ngành thủy sản đang hướng tới phát triển xanh và bền vững, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số thông qua hệ thống khuyến nông sẽ tiếp tục là giải pháp quan trọng. Khi công nghệ được đưa đến tận ao nuôi, người dân được hỗ trợ đầy đủ về kỹ thuật và dữ liệu sản xuất, ngành thủy sản sẽ có thêm động lực để chuyển mình theo hướng hiện đại, hiệu quả và thích ứng tốt hơn với yêu cầu của thị trường.

Các loại thức ăn

sử dụng trong nuôi thủy sản

Trong nuôi trồng thủy sản, thức

ăn đóng vai trò then chốt, ảnh

hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng

trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế. Việc hiểu rõ các loại

thức ăn và lựa chọn phù hợp không chỉ giúp vật nuôi phát

triển tốt mà còn góp phần giảm

chi phí, hạn chế dịch bệnh và

bảo vệ môi trường nuôi.

Vai trò thức ăn

Thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của động vật thủy sản. Nếu không có thức ăn thì không có trao đổi chất. Khi đó động vật sẽ chết. Thức ăn có vai trò quyết định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả của nghề nuôi thủy sản.

Trong cùng điều kiện nuôi (môi trường, đối tượng nuôi, các biện pháp kỹ thuật được áp dụng,...) thì thức ăn có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng, đến năng suất và hiệu quả kinh tế.

Thức ăn tự nhiên

Thức ăn tự nhiên là nguồn dinh dưỡng sẵn có trong môi trường nước. Chúng rất quan trọng đối với rất nhiều loài cá, giáp xác và thân mềm, đặc biệt ở giai đoạn đầu đời do chúng có kích thước nhỏ phù hợp với kích cỡ miệng của ấu trùng và rất giàu dinh dưỡng.

Trong nước ao nuôi luôn có thành phần thức ăn tự nhiên đa dạng và phong phú.

Do đó, người nuôi cần bổ sung thêm phân bón, chất dinh dưỡng để phát triển nguồn thức

ăn tự nhiên sẵn có trong thủy vực trước khi thả giống, sẽ giúp tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên góp phần giảm lượng thức ăn nhân tạo cần bổ sung và nâng cao năng suất.

Các loại thức ăn tự nhiên phổ biến gồm: phiêu sinh thực vật (tảo), phiêu sinh động vật (luân trùng, Moina, Daphnia), động vật đáy (giun, ấu trùng côn trùng) và các sinh vật hữu cơ phân hủy. Những nguồn thức ăn này giàu protein, axit béo không no, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự phát triển.

Ưu điểm của thức ăn tự nhiên là dễ tiêu hóa, phù hợp với tập tính bắt mồi của ấu trùng và không gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, nguồn thức ăn này phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, khó kiểm soát về số lượng và chất lượng, do đó thường chỉ đóng vai trò bổ trợ.

Thức ăn tươi sống Thức ăn tươi sống là các loại sinh vật hoặc nguyên liệu chưa qua chế biến, được sử dụng trực tiếp trong quá trình nuôi.

Loại thức ăn này có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là protein, giúp vật nuôi tăng trưởng nhanh, phù hợp với các loài ăn thịt như cá lóc, cá tra, tôm sú. Protein là một thành phần quan trọng giúp thủy sản phát triển cơ bản. Ngoài ra, thức ăn tươi sống còn kích thích khả năng bắt mồi tự nhiên.

Tuy nhiên, nhược điểm lớn của loại thức ăn này là dễ mang theo mầm bệnh, khó bảo quản và có thể gây ô nhiễm môi trường nếu dư thừa. Do đó, việc sử dụng thức ăn tươi sống cần được kiểm soát chặt chẽ về nguồn gốc và vệ sinh.

Thức ăn tự chế (thức ăn phối trộn)

Loại thức ăn này được người nuôi tự chế biến theo quy trình đơn giản. Hiện nay, người nuôi thường sử dụng các nguyên liệu sẵn có như bột cá, cám gạo, bột đậu nành, bột bắp, dầu cá và các premix vitamin,… và phối trộn theo công thức. Sau đó thức ăn có thể được nấu chín rồi cho cá ăn, hoặc được phun nước ẩm rồi đưa vào máy ép viên, phơi khô cho cá ăn dần.

Ưu điểm của thức ăn tự chế là chi phí thấp, tận dụng được nguồn nguyên liệu địa phương và có thể điều chỉnh công thức phù hợp với từng đối tượng nuôi. Đây là lựa chọn phổ biến trong các mô hình nuôi nhỏ lẻ.

Tuy nhiên, nhược điểm là khó đảm bảo cân đối dinh dưỡng nếu không có kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, thức ăn tự chế thường có độ bền kém trong nước, dễ tan rã gây thất thoát và ô nhiễm ao nuôi.

Thức ăn công nghiệp

Thức ăn công nghiệp (thức ăn viên) là loại thức ăn được sản xuất theo quy trình hiện đại từ các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, đảm bảo đầy đủ và cân đối các thành phần dinh dưỡng như protein, lipid, carbohydrate, vitamin và khoáng chất.

Hiện nay, thức ăn công nghiệp được chia thành hai dạng chính: viên nổi và viên chìm. Thức ăn viên nổi phù hợp với các loài ăn tầng mặt như cá rô phi, cá tra; trong khi viên chìm thích hợp với các loài ăn tầng đáy như tôm, cá da trơn.

Thức ăn công nghiệp được sản xuất từ các thành phần nguyên liệu khác nhau như bột cá, khô dầu đậu nành, bột mì, dầu cá, các loại vitamin, enzyme, axit amin và khoáng chất,… Tỷ lệ phối trộn tùy thuộc và nhu cầu

dinh dưỡng ở từng giai đoạn sinh trưởng của các đối tượng nuôi khác nhau. Thức ăn công nghiệp chất lượng cao có thành phần dinh dưỡng cân đối giúp tôm, cá tiêu hóa tốt, khỏe mạnh và lớn nhanh. Thức ăn công nghiệp thường được bổ sung các vitamin, khoáng chất giúp cải thiện hệ tiêu hóa, bảo vệ hệ vi sinh đường ruột, tăng cường khả năng miễn dịch tự nhiên giúp tôm, cá khỏe mạnh và nâng cao tỷ lệ sống. Đồng thời, loại thức ăn cũng được bổ sung chất dẫn dụ tạo mùi vị hấp dẫn kích thích cá, tôm bắt mồi từ đó làm giảm lượng thức ăn thừa trong ao.

Ưu điểm nổi bật của thức ăn công nghiệp là tiện lợi, dễ sử dụng, kiểm soát được khẩu phần ăn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp giúp nâng cao hiệu quả kinh tế.

Tuy nhiên, thức ăn công nghiệp cũng có những hạn chế như: giá thành cao, phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu nguyên liệu, có thể chứa các chất bảo quản, phụ gia hoặc chất cấm gây hại cho thủy sản và người tiêu dùng.

Do đó, việc sử dụng thức ăn công nghiệp cần tuân theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn thủy sản và áp dụng các phương pháp kiểm tra an toàn và quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia.

Nguyên tắc lựa chọn thức ăn

Để đạt hiệu quả cao trong nuôi trồng thủy sản, việc lựa chọn thức ăn cần tuân theo một số nguyên tắc cơ bản.

Trước hết, thức ăn phải phù hợp với loài nuôi. Mỗi loài thủy sản có đặc điểm dinh dưỡng và tập tính ăn khác nhau. Ví dụ, cá

ăn tạp như cá rô phi cần khẩu phần cân đối, trong khi cá ăn thịt như cá lóc cần hàm lượng protein cao. Vì vậy, cần chọn loại thức ăn được thiết kế riêng cho từng đối tượng nuôi. Phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Ở mỗi giai đoạn (cá bột, cá giống, cá thương phẩm), nhu cầu dinh dưỡng thay đổi rõ rệt. Giai đoạn đầu cần thức ăn giàu đạm, dễ tiêu hóa; giai đoạn sau có thể giảm dần hàm lượng protein và tăng năng lượng. Lựa chọn đúng sẽ giúp vật nuôi phát triển tối ưu và giảm hệ số thức ăn. Phù hợp với điều kiện nuôi. Tùy theo mô hình (ao đất, ao lót bạt, lồng bè) và mức độ thâm canh, người nuôi nên chọn loại thức ăn phù hợp. Ví dụ, mô hình nuôi công nghiệp nên ưu tiên thức ăn viên chất lượng cao để kiểm soát môi trường tốt hơn.

Bên cạnh đó, thức ăn phải có nguồn gốc rõ ràng, không bị ẩm mốc, không nhiễm độc tố hay vi sinh vật gây hại. Đối với thức ăn công nghiệp, cần kiểm tra hạn sử dụng, bao bì và tiêu chuẩn chất lượng. Thức ăn kém chất lượng có thể làm giảm tăng trưởng và gây bệnh.

Thức ăn cần đảm bảo đầy đủ các thành phần thiết yếu như protein, lipid, carbohydrate, vitamin và khoáng chất. Sự mất cân đối dinh dưỡng có thể khiến vật nuôi chậm lớn, giảm sức đề kháng hoặc phát sinh bệnh lý.

Ngoài ra, việc cho ăn cần đúng liều lượng và thời điểm. Cho ăn quá nhiều không chỉ gây lãng phí mà còn làm ô nhiễm môi trường nước, trong khi cho ăn thiếu sẽ ảnh hưởng đến năng suất.

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
TSVN 4 (2) by Thủy sản Việt Nam Website - Issuu