Skip to main content

TSVN 3 (1)

Page 1


Ban Biên tập

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Dương Xuân Hùng, Cố vấn

Đỗ Huy Hoàn, Trưởng Ban Biên tập

Hoàng Hải Đăng, Thư ký Tòa soạn

Phạm Thu Hồng, Nhà báo

Dương Nam Anh, Nhà báo

Trần Thị Kim Tiến, Nhà báo

Trần Anh Thư, Phóng viên

Chủ nhiệm

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Phụ trách

Nguyễn Chu Hồi, Phó Giáo sư - Tiến sĩ

Chuyên gia

Phạm Anh Tuấn, Tiến sĩ

Trần Đình Luân, Tiến sĩ

Nguyễn Thanh Phương, Giáo sư - Tiến sĩ

Đào Trọng Hiếu, Tiến sĩ

Lê Văn Khoa, Tiến sĩ

Nguyễn Duy Hòa, Tiến sĩ

Nguyễn Khắc Bát, Tiến sĩ

Hồ Quốc Lực, Tiến sĩ

Lê Văn Quang, Chủ tịch Tập đoàn Thủy sản Minh Phú

Mỹ thuật: Two Nguyễn

Trình bày: Phạm Dương

Kỹ thuật: Đăng Kiên

Hình ảnh: Dương Nghĩa

Đọc bản in: Anh Thư

Tòa soạn:

Điện thoại: 028.62777616

Email: toasoan@thuysanvietnam.com.vn

Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP HCM

Văn phòng Hà Nội:

Điện thoại: 0243.7713699

Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, TP Hà Nội

Phòng Quảng cáo:

Quảng cáo: 0243.7713699 - 083.661.5993

Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn

Giấy phép xuất bản: 69/GP-BTTT

ISSN: 0866-8043

Nơi in: In tại Công ty TNHH MTV

Lê Quang Lộc (TP HCM)

Giá bán: 50.000đ - Giá PDF: 10.000đ

Thư tòa soạn

Thưa quý vị bạn đọc,

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong tháng 2/2026 đạt khoảng 707

triệu USD, chỉ tăng 8% so với cùng kỳ năm trước và đúng kịch bản đã dự báo trước đó. Lũy kế 2 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản

đạt 1,7 tỷ USD, tăng 20,2%.

Giới phân tích nhận định, kết quả này cho thấy đà phục hồi của ngành

vẫn được duy trì khá tốt sau tháng 1 tăng mạnh, mặc dù sang tháng 2 tốc độ đã chậm lại rõ rệt ở một số mặt hàng và thị trường chủ lực.

Ngay từ quý I/2026 đã có nhiều biến động về chính sách thuế quan

và rào cản kỹ thuật tại Mỹ, cùng với những thách thức logistics do xung

đột tại Trung Đông. Dự báo, trong tháng 3/2026, xuất khẩu thủy sản

Việt Nam nhiều khả năng vẫn duy trì tăng trưởng, nhưng sự phân hóa giữa các thị trường và mặt hàng sẽ rõ nét hơn.

Mỹ vẫn là thị trường quan trọng nhưng không còn là động lực tăng trưởng trong năm nay. Trung Quốc được đánh giá sẽ tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của ngành thủy sản. Tuy vậy, thị trường Trung Quốc có nhiều tiềm năng nhưng cạnh tranh cũng sẽ không dễ dàng, bởi không chỉ Việt Nam mà nhiều nước khác sẽ coi Trung Quốc là thị trường mục tiêu xuất khẩu thủy sản.

“Vững nội tại, giữ thị phần” sẽ là chủ đề chính của Tạp chí Thủy sản Việt Nam phát hành trong tháng 03. Trên số báo này, Tạp chí sẽ thông tin tới bạn đọc những phân tích, góc nhìn chuyên sâu về câu chuyện giữ thị phần tại các thị trường trọng điểm, trong bối cảnh ngành thủy sản phải đối mặt với nhiều thách thức.

Ngoài ra, Tạp chí Thủy sản Việt Nam số 03 còn cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, thị trường thủy sản trong và ngoài nước; thức ăn dinh dưỡng; những mô hình nuôi trồng hiệu quả; cách phòng, chống dịch bệnh thủy sản; cùng các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.

Trân trọng! Ban Biên tập

Nuôi tôm đen ruột chắc phân: Dễ nhưng không dễ

Tập đoàn Việt Úc bước

đột phá 2026: Từ dữ liệu di truyền, biệt đội tôm giống dần lộ diện Việt Úc

Vai trò của Acid Gallic trong kiểm soát vi bào tử trùng trong nuôi tôm

KAO 67

Công nghệ Nanobubble:

pháp nâng cao hiệu quả nuôi tôm cá tại Việt Nam

B.H.N

Mỹ siết chặt kiểm soát thủy sản nhập khẩu

Từ đầu tháng 3/2026, các cơ quan quản lý

Mỹ gồm FDA và NOAA tăng cường kiểm soát thủy sản nhập khẩu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và môi trường. FDA tiếp tục duy trì hệ thống cảnh báo nhập khẩu và cơ chế tạm giữ hàng hóa ngay tại cửa khẩu (DWPE) đối với các đơn vị không tuân thủ quy định HACCP hoặc sản phẩm có nguy cơ nhiễm vi sinh vật gây bệnh. Số liệu thực tế cho thấy xuất khẩu thủy sản sang Mỹ tháng 2/2026 giảm mạnh 25,7%, đạt khoảng 80,8 triệu USD. Tính chung hai tháng đầu năm, kim ngạch sang thị trường này đạt 209,3 triệu USD, giảm 3% so với cùng kỳ. Tôm tiếp tục là mặt hàng bị từ chối nhập khẩu nhiều nhất do dư lượng kháng sinh cấm. Bên cạnh đó, chương trình SIMP và Luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) cũng đặt ra các yêu cầu khắt khe về nguồn gốc khai thác. Trước tình hình này, VASEP khuyến nghị doanh nghiệp cần kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật. Việc chủ động nâng cao năng lực quản lý chuỗi cung ứng là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ uy tín thủy sản Việt Nam.

Cước vận tải biển tăng mạnh vì xung đột Trung Đông

Biến động tại Trung Đông đang khiến chi phí vận tải biển trên hành lang Á - Âu tăng mạnh, tạo áp lực lớn đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nhiều hãng tàu hạn chế đi qua khu vực rủi ro ở Biển Đỏ - kênh đào Suez, buộc phải chuyển hướng vòng qua Mũi Hảo Vọng. Việc thay đổi tuyến vận chuyển khiến thời gian hành trình kéo dài thêm 7 - 14 ngày, kéo theo chi phí nhiên liệu và logistics tăng cao. Đáng chú ý, cước vận tải tuyến châu Á – Dubai đã tăng gần gấp đôi so với trước, trong khi phụ phí rủi ro chiến tranh dao động từ 1.500 - 4.000 USD/container. Với ngành thủy sản, chi phí này trực tiếp làm tăng giá thành xuất khẩu, trong khi nhiều hợp đồng đã ký trước nên doanh nghiệp khó điều chỉnh giá. VASEP cảnh báo, ngoài chi phí tăng, nguy cơ thiếu container lạnh, chậm giao hàng và gián đoạn chuỗi lạnh cũng đang gia tăng. Đây là rủi ro lớn đối với các lô hàng

thủy sản đông lạnh, có thể dẫn đến vi phạm

tiến độ giao hàng và ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu.

Một số doanh nghiệp thủy sản tạm dừng xuất khẩu sang Trung Đông

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), căng thẳng tại Trung

Đông đang khiến một số doanh nghiệp thủy sản trong nước tạm dừng xuất khẩu sang khu vực này do rủi ro vận tải và thiếu chuyến tàu.

Dù nhu cầu nhập khẩu thực phẩm vẫn ở mức

cao và các đơn hàng chưa bị hủy, việc giao

hàng hiện gặp nhiều trở ngại, thậm chí tạm thời không thể vận chuyển. Một số lô hàng xuất khẩu sang Israel phải chuyển cảng sang

Ai Cập để tiếp nhận và vận chuyển tiếp bằng đường bộ, làm phát sinh thêm chi phí và kéo dài thời gian giao hàng. Trong bối cảnh đó, một số ngành hàng như cá tra xuất khẩu sang

Trung Đông đang tạm ngừng, trong khi tiêu thụ tại một số thị trường khác cũng chậm. Ngoài khó khăn về vận tải quốc tế, doanh nghiệp còn chịu áp lực chi phí trong nước khi giá nhiên liệu tăng, khiến chi phí vận chuyển container đường bộ tăng khoảng 500.000 đồng/container 40 feet. Theo VASEP, nếu xung đột kéo dài, chi phí sản xuất và logistics tăng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu.

Tháng 3/2026, xuất khẩu được dự

báo tiếp tục tăng trưởng

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu thủy sản hai tháng đầu năm 2026 đạt 1,7 tỷ USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Riêng tháng 2, giá trị xuất khẩu đạt 707 triệu USD, tăng 8%. Ngành thủy sản vẫn duy trì đà phục hồi

ổn định dù tốc độ tăng trưởng ở một số mặt hàng bắt đầu chậm lại. Về mặt hàng, tôm đạt

689,5 triệu USD, tăng 20%; cá tra đạt 331,4 triệu USD, tăng 28%. Đáng chú ý, thị trường

Trung Quốc và Hồng Kông tăng mạnh 54%, trở thành động lực tăng trưởng chính. Ngược lại, xuất khẩu sang Mỹ giảm 3% do chịu tác động từ thuế nhập khẩu bổ sung 10% và kết quả rà soát thuế chống bán phá giá POR19

đối với tôm. Dự báo tháng 3/2026, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng nhưng phân hóa mạnh theo thị trường. Tuy nhiên, VASEP khuyến

cáo nhóm hàng tôm và hải sản cần đặc biệt thận trọng với các rào cản kỹ thuật tại thị trường Mỹ.

Nuôi trồng thủy sản tăng trong tháng 2/2026

Theo số liệu thống kê, sản lượng thủy sản cả nước trong tháng 2/2026 đạt khoảng 665,4 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nuôi trồng thủy sản đạt 381,4 nghìn tấn, tăng 5,2%, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng ngành, trong khi sản lượng khai thác đạt 284 nghìn tấn, giảm 1,4% do hoạt động đánh bắt bị gián đoạn bởi kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán. Khai thác biển trong tháng đạt 266,9 nghìn tấn, giảm 1,3%, gồm 205,2 nghìn tấn cá, 9,8 nghìn tấn tôm và 51,9 nghìn tấn thủy sản khác. Ở lĩnh vực nuôi trồng, cá tra và tôm tiếp tục là hai sản phẩm chủ lực. Sản lượng cá tra đạt 128,6 nghìn tấn, tăng 5,7% nhờ giá nguyên liệu duy trì ở mức cao và thị trường tiêu thụ ổn định. Sản lượng tôm đạt 62,3 nghìn tấn, tăng 7,4%, trong đó tôm thẻ chân trắng đạt 39,6 nghìn tấn và tôm sú đạt 17,7 nghìn tấn. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản cả nước đạt khoảng 1,28 triệu tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy nuôi trồng thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong những tháng đầu năm.

Quảng Ninh

Lập 11 điểm kiểm soát tàu cá chống IUU

UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định 749/QĐ-UBND về việc thiết lập tạm thời các điểm kiểm tra, kiểm soát tàu cá tại các bến, cảng và khu neo đậu tránh trú bão trên địa bàn tỉnh nhằm tăng cường quản lý hoạt động khai thác thủy sản và thực hiện các nhiệm vụ chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Theo quyết định, toàn tỉnh sẽ thiết lập 11 điểm kiểm soát tại các khu vực bến cá, cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão như Bến Giang (phường Hà An), bến cá tạm (phường Cao Xanh), khu neo đậu tránh trú bão Cái Xà Cong – cảng cá Hòn Gai, khu neo đậu tránh trú bão Cẩm Thủy, cảng cá Cái Rồng (đặc khu Vân Đồn), khu neo đậu tàu cá đảo Cô Tô và một số khu neo đậu tại Tiên Yên, Đầm Hà,

EC thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác IUU tại

Việt Nam

Từ ngày 10 đến 19/3/2026, Đoàn thanh tra của Ủy ban châu Âu (EC) chính thức thực hiện đợt kiểm tra lần thứ 5 về chống khai thác IUU tại Việt Nam. Đây là kỳ kiểm tra quan trọng nhằm đánh giá kết quả thực hiện các khuyến nghị từ tháng 10/2023, làm cơ sở để EC xem xét gỡ bỏ “thẻ vàng” cho thủy sản nước ta. Đoàn tập trung vào 5 nhóm khuyến nghị: khung pháp lý, quản lý đội tàu, giám sát tàu cá, truy xuất nguồn gốc và thực thi pháp luật. Từ ngày 10 đến 14/3, Đoàn thực địa tại TP Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Đắk Lắk để làm việc với Ban chỉ đạo IUU, kiểm tra các cảng cá, doanh nghiệp chế biến và hệ thống giám sát tàu cá. Dự kiến ngày 19/3, EC sẽ trao đổi kết quả thanh tra sơ bộ với Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Việt Nam đặt mục tiêu phối hợp chặt chẽ, chuẩn bị hồ sơ dữ liệu thống nhất để đạt kết quả khả quan nhất trong nỗ lực gỡ cảnh báo. Nỗ lực gỡ “thẻ vàng” IUU của Việt Nam sẽ được EC đánh giá qua lần kiểm tra này Ảnh: P.H.

Đường Hoa, Quảng Hà và Mũi Ngọc – cảng

Núi Đỏ. Tại các điểm này, tổ kiểm tra, kiểm soát do UBND các xã, phường, đặc khu thành lập sẽ trực thường xuyên để kiểm soát tàu cá ra vào bến, hướng dẫn ngư dân ghi nhật ký khai thác, xác nhận sản lượng qua hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT) và tổng hợp báo cáo định kỳ phục vụ công tác quản lý nghề cá.

Hải Phòng

Thúc đẩy phát triển ngành nuôi biển

Thành phố Hải Phòng hiện có hơn 12.000 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nuôi cá biển trên 7.500 ha, tập trung chủ yếu tại khu vực quần đảo Cát Bà. Hoạt động nuôi biển hiện có 133 cơ sở, gồm 118 cơ sở nuôi cá lồng bè và 15 cơ sở nuôi nhuyễn thể giàn bè. Nhằm thúc đẩy phát triển ngành nuôi biển, Hải Phòng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, trong đó Nghị quyết 51/2025/NQ-HĐND cho phép hỗ trợ 30% chi phí đầu tư cơ sở nuôi trồng công nghệ cao như lồng bè, hệ thống cấp thoát nước, thiết bị và hạ tầng sản xuất, tối đa 300 triệu đồng/ha hoặc 300 triệu đồng cho mỗi cơ sở nuôi lồng bè. Người nuôi cũng được hỗ trợ 30% chi phí con giống, thức ăn và vật tư sản xuất, tối đa 70 triệu đồng/ha. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2045 hình

thành ngành công nghiệp nuôi biển đạt trình

độ tiên tiến, từng bước chuyển từ nuôi ven bờ

sang nuôi biển mở, ứng dụng công nghệ cao và đóng góp trên 60% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản.

Vĩnh Long Tăng cường phòng, chống dịch bệnh thủy sản năm 2026

Trước nguy cơ dịch bệnh trên tôm nuôi gia tăng, ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đang triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh thủy sản năm 2026 nhằm bảo vệ sản xuất và giảm thiểu rủi ro cho người nuôi. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, các đơn vị chuyên môn sẽ tăng cường giám sát dịch bệnh và môi trường nuôi, đẩy mạnh quan trắc và cảnh báo sớm các yếu tố môi trường tại vùng nuôi tôm. Các chỉ tiêu như độ mặn, pH, ôxy hòa tan, độ kiềm, NH3 và NH4 sẽ được theo dõi định kỳ để kịp thời cảnh báo, giúp người nuôi chủ động điều chỉnh kỹ thuật sản xuất. Bên cạnh đó, ngành chức năng cũng siết chặt quản lý con giống, thức ăn và

vật tư đầu vào, đồng thời tổ chức tập huấn, tuyên truyền nhằm nâng cao kỹ thuật phòng bệnh cho người nuôi tôm. Năm 2026, Vĩnh Long đặt mục tiêu phát triển khoảng 71.300 ha nuôi tôm nước lợ với sản lượng dự kiến 314.700 tấn. Việc chủ động triển khai các biện pháp giám sát dịch bệnh và quản lý sản xuất được kỳ vọng sẽ góp phần ổn định sản xuất và nâng cao

Cà Mau

Mưa trái mùa gây thiệt hại lớn muối và thủy sản

Mưa trái mùa xuất hiện liên tục từ cuối tháng 2/2026 đã gây thiệt hại lớn cho sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Cà Mau. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, toàn tỉnh có khoảng 1.522 ha ruộng muối của 787 hộ dân bị ảnh hưởng, ước thiệt hại khoảng 10.758 tấn muối, trị giá gần 13 tỷ đồng. Nhiều ruộng muối đang trong giai đoạn kết tinh đã bị mưa làm tan hoàn toàn, khiến công sức sản xuất trong nhiều tháng của diêm dân gần như mất trắng. Ngoài sản xuất muối, mưa trái mùa cũng làm môi trường ao nuôi thủy sản biến động mạnh. Lượng mưa lớn khiến độ mặn giảm nhanh, các yếu tố pH, nhiệt độ và độ kiềm thay đổi đột ngột, làm tôm dễ bị sốc và tăng nguy cơ phát sinh các bệnh nguy hiểm như đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp. Trước tình hình trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau đã thành lập tổ thẩm định hồ sơ

Canada

Nguồn lợi cua tuyết có thể chạm

đáy vào năm 2028

Đánh giá nguồn lợi do Bộ Thủy sản và Đại dương Canada (DFO) công bố ngày 24/2 cảnh báo sinh khối cua tuyết tại Newfoundland và Labrador có nguy cơ giảm xuống mức thấp

kỷ lục vào năm 2028 do nhiệt độ đại dương gia tăng, trong khi số lượng cua cái trưởng thành và cua cỡ nhỏ suy giảm. Dù tổng sinh khối hiện vẫn ổn định nhờ khu vực 3LNOnơi chiếm khoảng 90% sản lượng cua vẫn

được xếp loại khỏe mạnh, nhiều khu vực khác đang có dấu hiệu suy giảm. Cụ thể, các vùng 2HJ và 3PS được đánh giá ở mức thận trọng, còn 3K đã rơi vào trạng thái nguy cấp, buộc cơ quan quản lý phải hạn chế khai thác

ở mức thấp nhất.

Thế giới

Chuỗi thủy sản bền vững ghi nhận gần 7.800 cải tiến

Năm 2025 ghi nhận bước tiến rõ rệt của các doanh nghiệp tham gia chương trình chứng nhận Global Seafood Alliance với hai bộ tiêu chuẩn Best Aquaculture Practices (BAP) và Best Seafood Practices (BSP). Tổng cộng 7.808 cải tiến

đã được ghi nhận tại các cơ sở sản xuất trên toàn cầu, cho thấy nỗ lực ngày càng lớn của ngành trong thúc đẩy chuỗi cung ứng thủy sản có trách nhiệm và bền vững. Đến cuối năm, sản lượng được chứng nhận ở cấp nhà máy đã vượt 3,2 triệu tấn. Các chương trình chứng nhận của Global Seafood Alliance cũng tăng trưởng 3%, đạt 4.308 đơn vị tại 45 quốc gia, gồm 563 nhà máy chế biến, 3.223 trang trại nuôi, 364 trại giống và 158 nhà máy thức ăn. Hơn 200 doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ ăn uống tiếp tục cam kết thu mua từ các cơ sở đạt chuẩn BAP, với tỷ lệ duy trì chứng nhận lên tới 86%.

Mỹ

Doanh thu thủy sản tăng nhờ giá bán

Doanh thu ngành thủy sản Mỹ năm 2025 tăng chủ yếu nhờ giá bán cao hơn và xu hướng tiêu thụ các sản phẩm giá trị cao, trong khi sản lượng tiêu thụ gần như không

tăng. Báo cáo công bố ngày 26/2 của ACT

Capital Advisors cho thấy chi tiêu thủy sản bình quân đầu người tăng, dù tổng khối lượng tiêu thụ chỉ đi ngang hoặc giảm nhẹ. Các sản phẩm tiện ngày ngày càng được ưa chuộng, đặc biệt trong nhóm người tiêu dùng trẻ. Báo cáo cũng cho biết chính sách thuế quan của Mỹ trong năm 2025 đã tác động đáng kể đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Thuế nhập khẩu khiến nguồn hàng từ một số nhà cung cấp giảm, góp phần đẩy giá bán lẻ các mặt hàng chủ lực như tôm, cua và cá hồi lên cao. Trong khi đó, nguồn cung từ các nghề cá khai thác bền vững vẫn duy trì ổn định, còn nuôi trồng thủy sản tiếp tục cải thiện về tính bền vững và hiệu quả vận hành.

Ấn Độ

Uttar Pradesh rót 168 triệu USD phát triển

thủy sản

Bang Uttar Pradesh đang đẩy mạnh phát triển thủy sản với các đề xuất đầu tư trị giá khoảng 1.407 crore rupee (tương đương 168,8 triệu USD), dự kiến tạo hơn 2.000 việc làm trong những năm tới, đặc biệt tại Varanasi, Barabanki và Amethi. Các dự án tập trung xây dựng nhà máy chế biến cá, sản xuất thức ăn thủy sản, phát triển hạ tầng logistics, chuỗi lạnh và các trang trại nuôi công nghệ cao nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị và giảm tổn thất sau thu hoạch. Nhiều cam kết đầu tư được đưa ra tại lễ hội thủy sản Meen Mahotsav cuối tháng 2, cùng với các đề xuất trước đó tại diễn đàn Matsya Nivesh Shikhar Sammelan. Một

CON

SỐ & SỰ KIỆN

11,3 TỶ USD

Là tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản trong 2 tháng đầu năm 2026, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu thủy sản đạt 1,76 tỷ USD, tăng 23,3%.

86.000 TÀU CÁ

Là số lượng tàu cá của cả nước tính đến đầu tháng 3/2026. Trong đó, hơn 30.000 tàu có chiều dài từ 15m, hơn 98% số tàu này đã hoàn thành việc lắp đặt thiết bị VMS.

số doanh nghiệp lớn như Godrej Agrovet Limited và Oro Sundaram Foods and Feeds Private Limited tham gia đầu tư vào lĩnh vực thức ăn và chế biến thủy sản.

Nhật Bản Hỗ trợ phát triển thủy sản tại vùng sản xuất cá lớn nhất Philippines

Nhật Bản phối hợp với FAO triển khai dự án kéo dài hai năm nhằm xây dựng chuỗi giá trị thủy sản bền vững tại Bangsamoro Autonomous Region in Muslim Mindanao (BARMM) của Philippines, khu vực hiện đóng góp hơn 30% tổng sản lượng cá của cả nước. Với bờ biển rộng, nguồn nước giàu dinh dưỡng và đa dạng sinh học biển phong phú, BARMM được đánh giá có tiềm năng lớn cho phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản. Dự án tập trung hỗ trợ các hộ sản xuất quy mô nhỏ qua đào tạo kỹ thuật, thúc đẩy nuôi các loài có giá trị cao và gia tăng giá trị. Ngày 10/2, Tham tán nông nghiệp Nhật Bản Akasaka Hidenori đã thăm các điểm triển khai tại Tawi-Tawi, làm việc với chính quyền BARMM và nông dân. Ông cũng khảo sát kế hoạch xây dựng các trại giống hải sâm, rong biển, bào ngư tại Panglima Sugala và kiểm tra tiến độ phục hồi trại giống nước ngọt tại Bongao. Theo Đại sứ quán Nhật Bản, việc quản lý hiệu quả và bền vững nguồn lợi biển sẽ góp phần tăng cường an ninh lương thực và sinh kế cho cộng đồng địa phương.

1,28 TRIỆU TẤN

Là sản lượng thủy sản cả nước trong 2 tháng đầu năm 2026, tăng 2,9%. Con số này cho thấy nuôi trồng thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong những tháng đầu năm.

27.020 ĐỒNG/LÍT

Là giá dầu diesel được niêm yết vào ngày 13/3, tăng 46,3% so với tháng trước đó là 18.463 đồng/lít. Trước đó, dầu diesel lên 30.239 đồng/lít vào ngày 7/3. Giá dầu tăng cao do biến động xăng dầu quốc tế.

Tuấn Minh

Giá nhiên liệu tăng

Nỗi lo tàu nằm bờ

Ảnh: Nguyen Minh Tam

Thời gian gần đây, biến động của thị

trường năng lượng khiến giá xăng dầu trong nước liên tục tăng và duy trì ở mức cao. Đối với ngành thủy sản, đặc biệt là khai thác biển, nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất. Khi giá dầu tăng, mỗi chuyến ra khơi trở thành một phép tính đầy rủi ro, khiến nhiều ngư dân lo ngại tàu phải nằm bờ. Không chỉ dừng lại ở hoạt động khai thác, tác động của giá nhiên liệu còn lan rộng đến nuôi trồng và toàn bộ chuỗi cung ứng thủy sản.

Áp lực từ những chuyến biển

Trong cơ cấu chi phí của nghề cá, nhiên liệu được xem như “mạch máu” của hoạt động khai thác. Đối với nhiều tàu đánh bắt xa bờ, chi phí xăng dầu thường chiếm từ 40 – 60% tổng chi phí cho mỗi chuyến biển. Vì vậy, mỗi biến động của giá nhiên liệu đều tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động khai thác.

Thực tế cho thấy, với các tàu khai thác xa bờ, lượng dầu tiêu thụ cho một chuyến biển kéo dài từ 10 đến 20 ngày có thể lên tới vài nghìn lít. Chỉ cần giá dầu tăng thêm vài nghìn đồng mỗi lít, tổng chi phí cho chuyến biển đã tăng thêm hàng chục triệu đồng.

Trong khi đó, giá bán hải sản lại phụ thuộc vào thị trường và không phải lúc nào cũng tăng tương ứng với chi phí đầu vào. Điều này khiến nhiều chủ tàu phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định ra khơi. Nếu sản lượng đánh bắt không đạt kỳ vọng, chuyến biển có thể rơi vào tình trạng thua lỗ.

Tại một số địa phương ven biển, nhiều chủ tàu cho biết họ buộc phải tính toán lại kế hoạch khai thác. Một số tàu giảm số chuyến ra khơi, rút ngắn thời gian đánh bắt hoặc tạm thời neo đậu để tránh rủi ro khi chi phí nhiên liệu tăng cao.

Việc tàu cá phải nằm bờ không chỉ khiến chủ tàu thất thu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của lao động đi biển. Khi tàu không thể ra khơi, nguồn thu nhập của nhiều thuyền viên cũng bị gián đoạn.

Nuôi trồng thủy sản chịu tác động Không chỉ lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy sản cũng chịu ảnh hưởng đáng kể từ biến động giá nhiên liệu.

Trong nhiều mô hình nuôi hiện nay, đặc biệt là nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, việc vận hành ao nuôi phụ thuộc rất nhiều vào các thiết bị cơ giới như quạt nước, máy sục khí, máy

bơm và hệ thống quản lý môi trường. Những thiết bị này hoạt động gần như liên tục trong suốt vụ nuôi, khiến chi phí năng lượng trở thành một khoản chi đáng kể.

Khi giá xăng dầu tăng, chi phí vận hành các thiết bị sử dụng nhiên liệu cũng tăng theo. Đồng thời, giá cước vận chuyển thức ăn thủy sản, con giống và các loại vật tư đầu vào khác cũng có xu hướng tăng.

Điều này khiến tổng chi phí sản xuất của người nuôi tăng lên đáng kể. Trong bối cảnh giá bán thủy sản không phải lúc nào cũng ổn định, việc chi phí đầu vào tăng liên tục khiến biên lợi nhuận của người nuôi bị thu hẹp.

Đối với các hộ nuôi quy mô nhỏ, vốn đầu tư hạn chế, áp lực chi phí có thể khiến họ phải giảm mật độ thả nuôi hoặc tạm hoãn kế hoạch sản xuất. Một số vùng nuôi cũng ghi nhận chi phí vận chuyển tôm cá giống tăng lên đáng kể do giá nhiên liệu cao, làm tăng thêm gánh nặng tài chính ngay từ đầu vụ nuôi.

Tác động lan rộng trong chuỗi cung ứng Giá nhiên liệu tăng không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động khai thác và nuôi trồng mà còn lan rộng đến toàn bộ chuỗi cung ứng thủy sản. Chi phí vận chuyển nguyên liệu từ cảng cá đến nhà máy chế biến, cũng như chi phí đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

đều tăng theo giá nhiên liệu.

Đối với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản, chi phí logistics vốn đã chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí sản xuất. Khi chi phí vận chuyển tăng, áp lực cạnh tranh trên thị trường cũng trở nên lớn hơn, đặc biệt trong bối cảnh thị trường thủy sản toàn cầu ngày càng cạnh tranh.

Bên cạnh tác động trực tiếp từ giá nhiên liệu, những biến động địa chính trị tại một số khu vực trên thế giới cũng đang tạo thêm áp lực đối với hoạt động logistics của ngành thủy sản.

Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang khu vực

Trung Đông đã tăng từ khoảng 197,7 triệu USD năm 2020 lên hơn 401,1 triệu USD vào năm 2025. Trong đó, cá tra là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch gần 176 triệu USD, tiếp đến là cá ngừ khoảng 94,4 triệu USD và tôm hơn 54 triệu USD.

Tuy nhiên, căng thẳng tại khu vực Trung Đông đang khiến một số tuyến vận tải biển quốc tế phải điều chỉnh hành trình, buộc tàu đi vòng qua châu Phi thay vì các tuyến hàng hải truyền thống.

Đối với các mặt hàng thủy sản đông lạnh, việc kéo dài thời gian vận chuyển không chỉ làm chậm tiến độ giao hàng mà còn làm tăng đáng kể chi phí logistics. Một số doanh nghiệp cho biết chi phí vận chuyển container lạnh có thể tăng thêm từ 2.000 – 4.000 USD mỗi container, chưa kể các phụ phí nhiên liệu và rủi ro vận tải.

Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh kế hoạch giao hàng hoặc thay đổi cảng trung chuyển nhằm duy trì hoạt động xuất khẩu và kiểm soát chi phí logistics.

Cần giải pháp ổn định lâu dài

Trước những tác động ngày càng rõ rệt của biến động giá nhiên liệu, nhiều ý kiến cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ ngư dân và người nuôi trồng thủy sản. Một trong những giải pháp được đề cập là tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ nhiên liệu cho tàu cá khai thác xa bờ, giúp giảm bớt áp lực chi phí cho ngư dân. Bên cạnh đó, việc khuyến khích áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng và cải tiến thiết bị khai thác cũng có thể góp phần giảm tiêu hao nhiên liệu.

Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, việc phát triển các mô hình nuôi tiết kiệm năng lượng, ứng dụng công nghệ quản lý môi trường ao nuôi hiệu quả cũng là hướng đi cần được khuyến khích. Ngoài ra, cải thiện hệ thống logistics và giảm chi phí vận chuyển trong chuỗi cung ứng cũng sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của ngành thủy sản.

Nghề cá không chỉ là một ngành kinh tế mà còn gắn liền với đời sống và sinh kế của hàng triệu người dân ven biển. Đối với nhiều ngư dân, mỗi chuyến ra khơi không chỉ là hoạt động sản xuất mà còn là cách để duy trì cuộc sống của gia đình. Vì vậy, những biến động của giá nhiên liệu, dù chỉ là một phần trong bức tranh lớn của nền kinh tế, vẫn có thể tạo ra tác động sâu rộng đối với cộng đồng làm nghề biển.

Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới còn nhiều biến động, việc xây dựng các giải pháp dài hạn nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu, nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng cường khả năng thích ứng của ngành thủy sản là điều cần thiết.

Chỉ khi những con tàu vẫn tiếp tục ra khơi và người dân còn gắn bó với nghề, ngành thủy sản mới có thể phát triển ổn định và bền vững trong tương lai.

Hoàn thiện hành lang pháp lý trong lĩnh vực thủy sản

Mới đây, Cục Thủy sản và Kiểm ngư - cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đã xây dựng dự thảo nghị định thay thế quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

Việc xây dựng nghị

định mới thay thế quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản không chỉ nhằm khắc phục

những bất cập của thực tiễn quản lý, mà còn được kỳ vọng

tăng tính răn đe của pháp luật, góp phần ngăn chặn khai thác

thủy sản bất hợp pháp và bảo vệ

bền vững nguồn lợi biển.

Rà soát, hoàn thiện quy định

xử phạt

Thực tiễn quản lý trong những

năm qua cho thấy, các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực thủy sản đã góp phần

quan trọng trong việc thiết lập

kỷ cương pháp luật, nâng cao ý

thức chấp hành của tổ chức, cá

nhân hoạt động trong ngành

thủy sản.

Tuy nhiên, cùng với sự phát

triển của ngành và yêu cầu quản

lý ngày càng cao, một số quy

định đã bộc lộ những điểm chưa

thật sự phù hợp với thực tiễn. Bên

cạnh đó, hệ thống pháp luật liên quan cũng có nhiều thay đổi, đòi

hỏi các quy định về xử phạt phải

được rà soát, cập nhật để bảo

đảm tính thống nhất và đồng bộ.

Trên cơ sở đó, Cục Thủy sản

và Kiểm ngư đã xây dựng dự thảo nghị định thay thế quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

Việc ban hành nghị định mới nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm các quy định xử phạt phù hợp hơn với thực tiễn quản lý và hoạt động sản xuất trong lĩnh vực thủy sản.

Bổ sung đối tượng, hoàn thiện thuật ngữ pháp lý Một

Dự thảo nghị định được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định của Nghị định 38/2024/NĐCP, đồng thời cập nhật những nội dung đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 301/2025/ NĐ-CP.

hợp với thực tiễn khi nhiều hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản hiện nay được tổ chức theo mô hình tổ hợp tác.

Việc bổ sung đối tượng này cũng nhằm bảo đảm tính thống nhất với quy định của Luật Hợp tác xã, qua đó khắc phục khoảng trống pháp lý trong quá trình xử lý vi phạm.

Bên cạnh đó, dự thảo nghị định cũng rà soát, điều chỉnh một số thuật ngữ và cách diễn đạt trong các điều khoản để bảo đảm rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành. Việc chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý được đánh giá là yếu tố quan trọng nhằm tránh cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng pháp luật tại các địa phương.

Tiếp thu nhiều ý kiến

Trong quá trình xây dựng dự

thảo nghị định, cơ quan soạn thảo đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi từ các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức liên quan.

Theo tổng hợp của cơ quan

soạn thảo, dự thảo đã được gửi xin ý kiến tới 58 cơ quan, tổ chức. Đến nay, đã có 34 cơ quan, đơn vị gửi văn bản góp ý với 197

ý kiến cụ thể đối với nhiều nội dung của dự thảo.

Các ý kiến góp ý tập trung vào việc làm rõ phạm vi điều chỉnh, hoàn thiện quy định về đối tượng áp dụng, cũng như bảo đảm tính khả thi trong quá trình thực hiện tại địa phương.

Trên cơ sở các ý kiến này, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu,

tiếp thu và giải trình để tiếp tục chỉnh lý dự thảo nghị định, bảo

đảm vừa đáp ứng yêu cầu quản lý, vừa phù hợp với thực tiễn hoạt

động của ngành thủy sản.

Tăng hiệu quả quản lý, hướng tới nghề cá bền vững

Việc hoàn thiện quy định xử

phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực thủy sản được xem là một

trong những giải pháp quan trọng

nhằm nâng cao hiệu lực quản lý

nhà nước đối với ngành thủy sản.

Các quy định rõ ràng, đồng bộ

sẽ giúp cơ quan chức năng tăng

cường kiểm tra, giám sát và xử lý

kịp thời các hành vi vi phạm, đặc biệt là những hành vi khai thác thủy sản trái phép, vi phạm quy

định về bảo vệ nguồn lợi.

Ngoài ra, việc hoàn thiện hệ thống chế tài cũng góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản. Hoàn thiện các quy định xử phạt vi phạm hành chính không chỉ là yêu cầu từ thực

Xuân Hòa
Ảnh: MariusLtu

Nâng

cao

sức mạnh nội tại và chiến lược dài hạn

Năm 2026 mở ra trong bối cảnh ngành thủy sản Việt

Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, vừa kế thừa thành quả phục hồi mạnh mẽ của năm 2025, vừa đối diện những yêu cầu khắt khe hơn về cạnh tranh, tiêu chuẩn và phát triển bền vững.

Thành quả trong gian khó 2025 được xem là năm bứt phá của thủy sản Việt Nam sau giai đoạn nhiều biến động do suy giảm kinh tế toàn cầu và gián đoạn chuỗi cung ứng. Tổng sản lượng thủy sản cả

nước ước đạt gần 10 triệu tấn, trong đó nuôi trồng tiếp tục đóng vai trò động lực chính, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu sản xuất.

Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2025 đạt trên 11,3 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay, góp phần quan trọng vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 70,09 tỷ USD và thặng dư thương mại hơn 20,7 tỷ USD của toàn ngành. Các mặt hàng chủ lực như tôm, cá tra, cá ngừ, mực - bạch tuộc duy trì đà tăng trưởng ổn định tại nhiều thị trường lớn.

Thành quả này không chỉ đến từ sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng thế giới mà còn phản ánh những cải cách nội tại của ngành. Cơ quan quản lý chuyên ngành đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm mạnh điều kiện kinh doanh, triển khai hệ thống chứng nhận điện tử và tăng cường số hóa dữ liệu nghề cá. Hệ thống giám sát hành trình tàu cá, truy xuất nguồn gốc điện tử và các nền tảng quản lý trực tuyến giúp nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao từ thị trường nhập khẩu.

Cùng với đó, việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định thương mại tự do như EVFTA và CPTPP đã tạo lợi thế cạnh tranh đáng kể về thuế quan cho thủy sản Việt Nam. Nhiều dòng thuế giảm sâu hoặc về 0% giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần, đặc biệt tại châu Âu và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Những kết quả trên tạo nền tảng quan trọng để ngành thủy sản bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động hơn, định hình rõ hơn chiến lược tăng trưởng bền vững và nâng cao chất lượng.

Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, kỷ lục mới của ngành thủy sản là kết quả của sự xoay trục thị trường linh hoạt và bản lĩnh vượt khó trong một năm đầy thử thách.

Khẳng định vị thế trên thị trường thế giới Sau hơn ba thập kỷ hội nhập, thủy sản Việt Nam đã vươn lên nhóm các quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Việt Nam hiện nằm

trong top 3 nước xuất khẩu tôm lớn nhất và là quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu cá tra. Tôm tiếp tục là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao nhất của ngành thủy sản. Lợi thế của tôm Việt Nam cả ở sản lượng và khả năng chế biến sâu, cung ứng các sản phẩm

đáp ứng xu hướng tiêu dùng tiện lợi. Trong khi

cá tra là sản phẩm mang tính chiến lược của Việt Nam khi duy trì vị thế ổn định tại Trung

Quốc, Mỹ và EU. Bên cạnh đó, cá ngừ, mực, bạch tuộc và các loại hải sản biển góp phần đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu, đặc biệt tại

Nhật Bản và EU.

Sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tại nhiều thị trường, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh về giá mà còn dần khẳng định vị thế ở phân khúc giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, vị thế này không phải là bất biến. Cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, đặc biệt từ các quốc gia có lợi thế về quy mô và chi phí như Ấn Độ, Ecuador, Indonesia hay Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, ngành thủy sản Việt Nam đang chuyển dần từ chiến lược sản lượng lớn - giá cạnh tranh sang chất lượng cao - giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như ASC, BAP, HACCP, ISO hay các yêu cầu về trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường đã trở thành điều kiện tiên quyết để

hay kim ngạch xuất khẩu, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng thích ứng với xu thế tiêu dùng xanh, minh bạch và có trách nhiệm.

Hóa giải những thách thức

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, ngành thủy sản vẫn đối mặt với nhiều thách thức cả trong sản xuất lẫn xuất khẩu.

Trước hết, đó là rào cản kỹ thuật và thương mại ngày càng gia tăng. Các thị trường lớn như Mỹ, EU hay Nhật Bản siết chặt quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường và phúc lợi động vật. Đặc biệt là quy định liên quan đến bảo vệ động vật biển có vú trong Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) của Mỹ, “thẻ vàng” IUU do Ủy ban châu Âu áp dụng đối với hoạt động khai thác hải sản của Việt Nam vẫn là rào cản lớn. Trong khi đó, các quốc gia như Ấn Độ, Ecuador và Indonesia đang tăng mạnh sản lượng tôm với giá thành thấp, tạo sức ép trực tiếp lên thị phần của tôm Việt Nam tại Mỹ và EU. Cạnh tranh không chỉ diễn ra Năm 2026, ngành thủy sản đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 11,5 tỷ USD. Đây là con số được đánh giá là phù hợp với bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay. Về dài hạn, ngành hướng tới cột mốc 16 tỷ USD.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến: Mục tiêu xuất

khẩu thủy sản năm 2026 đạt 11,5 tỷ USD là thách thức nhưng khả thi nếu

toàn ngành chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, chế biến sâu và phát triển bền vững.

về giá mà còn ở năng lực cung ứng và tiêu chuẩn chất lượng.

Thêm nữa, chi phí sản xuất và logistics còn neo ở mức cao. Giá thức ăn, con giống và vận chuyển vẫn chịu tác động từ biến động thị trường quốc tế. Trong khi đó, quy mô sản xuất còn phân tán, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ khiến hiệu quả không thể tối ưu. Chưa kể, tác động của biến đổi khí hậu và rủi ro môi trường đang ngày một rõ rệt. Nước biển dâng, xâm nhập mặn, dịch bệnh trên tôm cá, ô nhiễm nguồn nước… đang đặt ra áp lực lớn cho cả nuôi trồng và khai thác.

Tuy nhiên, nhìn về nội lực, ngành thủy sản Việt Nam vẫn sở hữu những lợi thế chiến lược quan trọng giúp duy trì vị thế toàn cầu. Với hơn 3.200 km bờ biển và hệ thống sông ngòi dày đặc, Việt Nam có điều kiện thuận lợi cho cả nuôi trồng và khai thác. Trong khi đó, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có hệ thống nhà máy chế biến thủy sản hiện đại. Khả năng chế biến sâu, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng là lợi thế nổi bật của sản phẩm thủy sản nước ta so với nhiều đối thủ cạnh tranh.

Hơn nữa, với việc tham gia nhiều hiệp định

thương mại tự do, đặc biệt là EVFTA, CPTPP và RCEP đã tăng thêm lợi thế của sản phẩm thủy sản khi góp phần giảm thuế nhập khẩu, mở

rộng thị trường và tăng lợi thế cạnh tranh. Còn doanh nghiệp thủy sản Việt Nam rất linh hoạt trong điều chỉnh nhanh cơ cấu sản phẩm và thị trường khi có biến động. Đây là yếu tố quan trọng giúp ngành duy trì tăng trưởng trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều rủi ro. Về định hướng phát triển lâu dài, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chia sẻ, quan điểm xuyên suốt của ngành là không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp; quản trị hiệu quả tài nguyên và giải quyết căn bản các vấn đề ô nhiễm môi trường. Vì vậy, thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục rà soát, điều chỉnh các luật, chính sách để phù hợp với thực tiễn, cải cách hành chính và yêu cầu phát triển mới, trong đó khoa học - công nghệ được xác định là động lực trực tiếp cho sản xuất, thu hoạch, sơ chế và chế biến sâu.

Chiến lược mở rộng thị trường

Trước bối cảnh cạnh tranh và biến động toàn cầu, chiến lược mở rộng thị trường năm 2026 của ngành thủy sản Việt Nam tập trung vào ba trụ cột chính là đa dạng hóa thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển bền vững.

Bên cạnh Mỹ, EU và Nhật Bản, ngành thủy sản đang tăng cường khai thác tiềm năng tại

Trung Đông, Nam Mỹ, châu Phi và khu vực

Nam Á. Các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, tham gia hội chợ quốc tế được đẩy mạnh nhằm tìm kiếm đối tác mới và mở rộng kênh phân phối.

Cùng với đó, nhiều doanh nghiệp đang đầu tư vào sản phẩm tiện lợi, đóng gói sẵn, phù hợp xu

hướng tiêu dùng hiện đại. Đồng thời, chú trọng phát triển thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra, cá ngừ.

Ngoài ra, việc khắc phục triệt để các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu để gỡ “thẻ vàng” IUU tiếp tục là nhiệm vụ cấp bách, mang tính quyết định đối với khả năng mở rộng thị trường EU và nâng cao uy tín quốc tế.

“Chúng ta quyết tâm xây dựng một nghề cá minh bạch, có trách nhiệm và phát triển bền vững để sớm đưa ngành thủy sản trở lại quỹ đạo xanh”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.

Một trong những trọng tâm của năm 2026 là bảo đảm nguồn nguyên liệu trong nước. Chính vì thế, việc quy hoạch vùng nuôi tập trung, kiểm soát dịch bệnh, phát triển nuôi biển công nghiệp và nuôi trồng theo chuẩn quốc tế là giải pháp để tránh tình trạng thiếu hụt nguyên liệu cục bộ, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo số liệu của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong tháng 1/2026 đạt khoảng 1,01 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng khả quan, cho thấy đà phục hồi và mở rộng thị trường đang được duy trì ổn định. Tuy nhiên, ngành thủy sản hiện đang chịu áp lực khi những ngày cuối tháng 2 và đầu tháng 3/2026, bước leo thang nghiêm trọng của xung đột Iran - Israel với yếu tố can dự của Mỹ. Căng thẳng quân sự chuyển hóa thành cú sốc vận tải và bảo hiểm hàng hải tại Trung Đông - khu vực giữ vai trò then chốt trong lưu thông năng lượng và hàng hóa toàn cầu.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, tác động đối với ngành thủy sản không chỉ dừng ở chi phí vận chuyển tăng cao mà còn là nguy cơ đứt gãy chuỗi lạnh, thiếu nguồn cung cục bộ và biến động giá theo từng phân khúc sản phẩm.

Khó khăn là vậy, nhưng với nền tảng đã được củng cố cùng chiến lược mở rộng thị trường bài bản và linh hoạt, thủy sản Việt Nam vẫn đầy kỳ vọng vào một giai đoạn tăng trưởng mới ổn định hơn, giá trị hơn và bền vững hơn.

Ảnh: PTC

Áp lực thị phần của ngành thủy sản Việt Nam

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu liên tục biến động, câu chuyện giữ thị phần của

thủy sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là bài toán xuất khẩu, mà còn là phép thử về

năng lực cạnh tranh, thích ứng và phát triển bền vững của toàn ngành.

Thủy sản Việt Nam hiện có mặt tại hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch đã tiệm cận mốc 1112 tỷ USD mỗi năm, tuy nhiên, ở hầu hết thị trường, nhất là thị trường lớn như Mỹ, Trung

Quốc, EU, chúng ta đều phải đối diện với sự cạnh tranh quyết liệt từ các cường quốc xuất khẩu khác.

Trong ngành tôm, Ecuador nổi lên mạnh mẽ nhờ quy mô nuôi công nghiệp lớn, giá thành thấp và chính sách hỗ trợ logistics hiệu quả. Ấn Độ duy trì vị thế quan trọng tại Mỹ nhờ sản lượng dồi dào. Indonesia và Thái Lan cũng không ngừng cải thiện chất lượng và xây dựng thương hiệu. Còn ở phân khúc cá thịt trắng, cá tra Việt Nam vẫn giữ lợi thế riêng, nhưng cạnh tranh với các sản phẩm thay thế như cá tuyết, cá minh thái vẫn hiện hữu. Điều này đồng nghĩa, nếu không cải thiện năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, thị phần của Việt Nam rất dễ bị thu hẹp. Một trong những yếu tố quyết định để giữ thị phần là sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu. Tại

Mỹ, quy định theo Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) yêu cầu hoạt động khai thác phải tương đương với tiêu chuẩn của nước này. Tại EU, việc Việt Nam vẫn chưa gỡ bỏ được “thẻ vàng” IUU là rào cản lớn về hình ảnh và thủ tục.

Trong bối cảnh đó, cơ quan quản lý cùng các địa phương ven biển đã tăng cường kiểm soát tàu cá, giám sát hành trình, hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc điện tử. Doanh nghiệp buộc phải đầu tư mạnh hơn cho chứng nhận quốc tế.

Một thay đổi quan trọng trong chiến lược giữ thị phần là chuyển hướng từ mở rộng sản lượng sang nâng cao giá trị gia tăng. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào chế biến sâu, phát triển sản phẩm tiện lợi, đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện đại. Các sản phẩm tôm tẩm bột, cá tra fillet cao cấp, thực phẩm đông lạnh đóng gói nhỏ lẻ… giúp mở rộng phân khúc khách hàng và cải thiện biên lợi nhuận.

Đồng thời, việc tận dụng hiệu quả các Hiệp

định Thương mại tự do như EVFTA hay CPTPP giúp thủy sản Việt Nam duy trì lợi thế thuế quan so với các đối thủ chưa có FTA tương tự.

Giữ thị phần không chỉ là bảo vệ thị trường đang có, mà còn là phân tán rủi ro. Sự phụ thuộc quá lớn vào một hoặc hai thị trường lớn có thể khiến toàn ngành bị tổn thương nếu chính sách thay đổi hoặc nhu cầu suy giảm.

Vì vậy, chiến lược hiện nay là mở rộng sang những khu vực có nhu cầu gia tăng và ít rào cản kỹ thuật hơn, tạo nền tảng ổn định và linh hoạt cho xuất khẩu.

Cùng với đó, thị trường nội địa gần 100 triệu dân cũng dần được doanh nghiệp quan tâm hơn. Bởi khi xuất khẩu gặp khó, tiêu thụ

trong nước có thể góp phần ổn định sản xuất, giảm áp lực tồn kho.

Giữ thị phần còn gắn liền với năng lực duy trì nguồn cung ổn định. Nếu chi phí sản xuất của Việt Nam cao hơn đối thủ, lợi thế cạnh tranh sẽ suy giảm. Do đó, việc tái cơ cấu nuôi trồng theo hướng công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, nuôi sinh thái… trở thành yêu cầu tất yếu.

Thủy sản hiện không chỉ là ngành kinh tế, mà còn là một phần thương hiệu quốc gia của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Giữ thị phần vì thế không chỉ là mục tiêu kinh doanh, mà còn là uy tín. Muốn vậy, ngành cần kiên định con đường phát triển bền vững, minh bạch và có trách nhiệm. Khi người tiêu dùng toàn cầu ngày càng quan tâm đến yếu tố môi trường và đạo đức trong sản xuất, những quốc gia đáp ứng tốt tiêu chuẩn xanh sẽ có lợi thế dài hạn. Câu chuyện thị phần là hành trình chuyển mình từ cạnh tranh bằng giá sang chất lượng, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, từ xuất khẩu đơn thuần sang xây dựng hình ảnh quốc gia sản xuất thủy sản có trách nhiệm. Trong cuộc đua toàn cầu đầy biến động, giữ được thị phần đã là thành công, nhưng giữ bằng chất lượng và sự bền vững mới là thành công lâu dài.

Đẩy mạnh chuyển đổi nghề cho ngư dân ven biển

Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản ngày càng suy

giảm và yêu cầu phát triển nghề cá bền vững trở nên

cấp thiết, nhiều địa phương trên cả nước đang triển

khai các chương trình chuyển đổi nghề cho ngư dân.

Giải pháp này không chỉ nhằm giảm áp lực khai thác, phục hồi nguồn lợi, mà còn mở ra hướng sinh kế cho

cộng đồng ven biển.

Áp lực lớn từ suy giảm

nguồn lợi

Những năm gần đây, tình trạng

khai thác quá mức đã khiến nguồn

lợi thủy sản biển Việt Nam suy giảm

đáng kể. Theo kết quả điều tra của

các viện nghiên cứu thủy sản, giai

đoạn 2000 - 2005, trữ lượng hải

sản vùng biển Việt Nam khoảng

4,82 triệu tấn, với khả năng khai

thác cho phép từ 2,1 - 2,4 triệu tấn

mỗi năm. Tuy nhiên, đến giai đoạn

2016 - 2020, trữ lượng này chỉ còn

khoảng 3,95 triệu tấn, giảm 9,5%

so với giai đoạn 2011 - 2015 và giảm tới 22,1% so với giai đoạn

đầu những năm 2000. Đáng chú

ý, nguồn lợi hải sản tầng đáy suy giảm nhanh hơn, phản ánh rõ áp lực từ hoạt động khai thác kéo dài.

Trong khi đó, sản lượng khai thác hàng năm vẫn rất lớn, từ 3,6 - 3,8 triệu tấn, vượt ngưỡng cho phép. Trước thực trạng này, Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu chuyển đổi mạnh mẽ hoạt động khai thác. Theo đó, ngành thủy sản sẽ chuyển đổi khoảng 2.000 tàu cá hoạt động ở vùng ven bờ và vùng lộng sang các nghề khác như nuôi trồng, dịch vụ hậu cần, nghề cá giải trí hoặc các ngành nghề phù hợp với định hướng phát triển của từng địa phương. Giai đoạn 20262030, dự kiến tiếp tục chuyển đổi thêm khoảng 4.000 tàu cá. Việc giảm cường lực khai thác không chỉ là yêu cầu về bảo vệ

phát triển ngành thủy sản bền vững, lâu dài (giảm đánh bắt xa bờ vốn nhiều rủi ro và tăng cường

nuôi trồng, chế biến sâu, tạo việc

làm, sinh kế, góp phần nâng cao

đời sống vật chất, tinh thần của người dân); vừa gỡ thẻ vàng IUU

theo khuyến cáo của EU. Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ

Nông nghiệp và Môi trường

chuẩn bị đề án tổng thể phát

triển ngành thủy sản bền vững,

Trong các cuộc họp của Ban Chỉ đạo Quốc

gia về chống khai thác IUU, Thủ tướng Phạm

Minh Chính nhiều lần nhấn mạnh rằng, chuyển

đổi nghề cho ngư dân không chỉ là giải pháp

kinh tế, mà còn là bước chuyển về nhận thức.

Việc này giúp người dân thoát khỏi tư duy bám

biển bằng mọi giá, mở ra hướng phát triển mới

bền vững hơn, đồng thời góp phần bảo vệ tài

nguyên biển cho các thế hệ tương lai.

trong đó tập trung vào các giải

pháp dài hạn như quản lý chặt

đội tàu, kiểm soát sản lượng khai

thác, ứng dụng công nghệ trong

sản xuất, đồng thời đẩy mạnh nuôi trồng và chế biến thủy sản.

Theo người đứng đầu Chính

phủ, chuyển đổi nghề không chỉ

Theo thống kê đến cuối năm

2025, toàn tỉnh có 2.556 tàu cá với sản lượng khai thác khoảng

68.000 tấn mỗi năm. Tuy nhiên, hơn một nửa số tàu cá hoạt

động ven bờ, gây áp lực lớn lên nguồn lợi thủy sản tại khu vực này. Ngoài ra, một số nghề khai thác như lưới kéo, lưới rê vùng

khơi được đánh giá có nguy cơ

tác động tiêu cực đến hệ sinh

thái biển. Vì vậy, việc chuyển đổi sang các nghề thân thiện hơn với môi trường là yêu cầu cấp thiết.

Trong khi đó, tỉnh An Giang cũng đang xây dựng đề án

chuyển đổi nghề cho các ngư

dân có tàu cá bị cắt giảm hoặc

không đủ điều kiện hoạt động

khai thác. Chính quyền địa

phương yêu cầu các cơ quan chuyên môn khảo sát nhu cầu

thực tế của người dân để xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp, giúp ngư dân ổn định cuộc sống

sau khi chuyển đổi.

Song song với đó, nhiều địa phương đã ban hành nghị quyết hỗ trợ giải bản tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề, vay vốn và giới thiệu việc làm cho ngư dân.

nguồn lợi mà còn là bước đi cần thiết để tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng bền vững, hiệu quả hơn.

Chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ

Trước yêu cầu cấp bách này, Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo nhằm thúc đẩy chuyển đổi nghề cho ngư dân. Tại phiên họp lần thứ 32 của Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác IUU diễn ra ngày 3/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh mục tiêu phát triển nghề cá theo hướng bền vững, đồng thời tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” Ủy ban châu Âu đối với thủy sản Việt Nam.

Thủ tướng nêu rõ, mục tiêu kép, mục tiêu cao nhất là vừa

nhằm giảm áp lực khai thác mà

còn giúp nâng cao đời sống của

ngư dân, hướng tới một ngành

thủy sản hiện đại, có trách nhiệm

với môi trường và nguồn lợi biển.

Các địa phương chủ động

triển khai

Thực hiện chủ trương chung, nhiều địa phương đã xây dựng

các chương trình, dự án chuyển

đổi nghề cho ngư dân.

Ngày 05/01/2026, UBND tỉnh

Đắk Lắk đã phê duyệt Dự án

“Chuyển đổi nghề trong khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Đắk

Lắk”, nhằm cơ cấu lại hoạt động

khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn

lợi, phục hồi hệ sinh thái và ổn

định sinh kế lâu dài cho ngư dân.

Mở ra nhiều hướng sinh kế mới

Một trong những nội dung quan trọng của các chương trình chuyển đổi nghề là tạo ra những

lựa chọn sinh kế mới phù hợp

với điều kiện địa phương và khả năng của ngư dân.

Dự án của tỉnh Đắk Lắk đề xuất

chuyển đổi từ các nghề khai thác có nguy cơ cao sang các ngành

nghề thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện thực tế

của địa phương, bao gồm: Lĩnh

vực nông nghiệp - thủy sản: nuôi

từng vùng. Kết

sát sẽ giúp xác định rõ số lượng người có nhu cầu chuyển đổi, ngành nghề phù hợp và các chính sách hỗ trợ cần thiết. Theo các chuyên gia, chuyển đổi nghề cho ngư dân là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương. Bên cạnh chính sách hỗ trợ tài chính, điều quan trọng là thay đổi tư duy sản xuất của người dân, từ khai thác tận thu sang khai thác có trách nhiệm và bảo tồn nguồn lợi. Khi các chính sách chuyển đổi nghề được triển khai đồng bộ, gắn với đào tạo nghề, hỗ trợ sinh kế và phát triển thị trường lao động, ngành thủy sản Việt Nam sẽ từng bước giảm áp lực khai thác, phục hồi nguồn lợi và nâng cao giá trị gia tăng. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng để xây dựng nghề cá hiện đại, có trách nhiệm, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và từng bước tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của ngành thủy sản và kinh tế biển Việt Nam.

trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi biển xa bờ), dịch vụ hậu cần nghề cá, chế biến và bảo quản thủy sản. Lĩnh vực dịch vụ - du lịch: du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn biển, dịch vụ ăn uống, lưu trú và trải nghiệm văn hóa làng chài. Lĩnh vực phi nông nghiệp: thương mại, dịch vụ logistics, lao động tại các khu - cụm công nghiệp ven biển phù hợp với tay nghề của ngư dân. Để hỗ trợ quá trình chuyển đổi, các chính sách ưu đãi cũng được triển khai như hỗ trợ chi phí học nghề, hỗ trợ tiền ăn, đi lại trong thời gian đào tạo, hỗ trợ lương thực trong giai đoạn đầu chuyển

Quyết tâm gỡ “thẻ vàng” EC, định hình nghề cá bền vững

Sau gần 9 năm nỗ lực khắc phục cảnh báo

“thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC), công

tác chống khai thác IUU của Việt Nam đang

bước vào giai đoạn quyết định. Từ chỉ đạo

quyết liệt của Chính phủ đến các biện pháp

siết chặt quản lý tàu cá tại địa phương, nhiều

giải pháp đồng bộ đang được triển khai

nhằm hướng tới một ngành thủy sản minh

bạch, có trách nhiệm và phát triển bền vững.

Giai đoạn then chốt

Trong tháng 3/2026, Đoàn

thanh tra của Ủy ban châu Âu (EC) làm việc tại Việt Nam nhằm

kiểm tra việc thực hiện các quy

định chống khai thác hải sản

bất hợp pháp, không báo cáo và

không theo quy định (IUU). Đây là đợt thanh tra lần thứ 5 của EC đối với công tác chống khai thác IUU của Việt Nam trong gần một

thập kỷ qua. Kết quả kiểm tra có ý

nghĩa đặc biệt quan trọng, có thể

quyết định việc EC gỡ “thẻ vàng” hoặc nâng lên cảnh báo “thẻ đỏ”

đối với thủy sản Việt Nam. Thời gian qua, Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU đã tổ chức nhiều cuộc họp nhằm rà soát tiến độ thực hiện các khuyến nghị của EC và thúc đẩy

việc triển khai tại các địa phương ven biển. Các cuộc họp được tổ chức thường xuyên, kết nối trực tuyến từ trụ

Trước đó, Thủ tướng đã ban hành Công điện số 18/CĐ-TTg yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp chống khai thác IUU, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu liên quan đến quản lý nghề cá; thực hiện nhiệm vụ một cách nghiêm túc, thực chất và thường xuyên, tránh tình trạng làm theo phong trào hoặc chỉ tập trung xử lý trước các đợt kiểm tra. Triển khai chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tăng cường kiểm tra, rà soát việc thực hiện các khuyến nghị của EC tại nhiều địa phương ven biển.

Theo báo cáo của Bộ, hệ thống quản lý đội tàu cá đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hiện nay, 100% tàu cá (hơn 80.000 tàu) đã được đăng ký và cập nhật trên hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VNFishbase. Các tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, đặc biệt là tàu “3 không” (không đăng ký, không đăng kiểm, không giấy phép), cũng được kiểm soát chặt chẽ và giao lực lượng tại cơ sở theo dõi vị trí neo đậu.

Công tác kiểm soát tàu cá ra vào cảng và giám sát sản lượng khai thác tiếp tục được siết chặt. Trong một tuần cao điểm gần đây, lực lượng chức năng đã kiểm tra 10.745 lượt tàu rời cảng và 6.666 lượt tàu cập cảng, đồng thời giám sát gần 7.800 tấn thủy sản thông qua hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử.

Hoạt động truy xuất nguồn gốc thủy sản – một trong những nội dung trọng tâm trong các

khuyến nghị của EC tiếp tục

được đẩy mạnh. Các cơ quan quản lý đã cấp nhiều giấy xác nhận, chứng nhận nguồn gốc đối

với sản phẩm thủy sản khai thác, đồng thời thẩm định hồ sơ nhập

khẩu theo đúng quy định.

Đáng chú ý, thời gian gần đây

không phát sinh thêm tàu cá vi

phạm vùng biển nước ngoài, cho thấy hiệu quả bước đầu của các

biện pháp kiểm soát và nâng cao

nhận thức của ngư dân. Để duy

trì kết quả này, các địa phương ven biển tiếp tục siết chặt quản

lý hoạt động khai thác.

Địa phương siết chặt quản lý khai thác

Nhằm bảo đảm việc thực hiện

các khuyến nghị của EC được

triển khai thống nhất trên phạm

vi cả nước, ngày 2/3, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã có văn bản yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi

trường các tỉnh, thành phố ven

biển khẩn trương rà soát, hoàn

thiện hồ sơ, dữ liệu liên quan đến

quản lý nghề cá.

Các địa phương cần chuẩn bị

báo cáo đầy đủ, số liệu logic, bảo đảm thống nhất với dữ liệu trên hệ thống VNFishbase; đồng

thời hoàn thiện hồ sơ đăng ký,

đăng kiểm, cấp giấy phép khai

thác thủy sản; danh sách tàu cá

xóa đăng ký; hồ sơ xử lý vi phạm

IUU và dữ liệu giám sát tàu cá

qua hệ thống thiết bị giám sát

hành trình.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư

cũng yêu cầu, kiểm soát chặt

chẽ tàu cá xuất – nhập cảng, bảo

đảm 100% tàu thuộc diện bắt

buộc lắp thiết bị giám sát hành

trình duy trì kết nối liên tục; kiên quyết không cho xuất bến đối với

tàu cá không đủ điều kiện hoạt

động hoặc mất kết nối thiết bị

giám sát hành trình, đồng thời xử

lý dứt điểm các tàu cá “3 không”.

Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi

trường, nhiều địa phương ven biển đã triển khai các giải pháp

mạnh nhằm kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản. Điển hình như

tại tỉnh Đắk Lắk, công tác chống khai thác IUU được triển khai theo phương châm “đối diện, không đối phó”.

Toàn tỉnh hiện có gần 2.600

tàu cá được đăng ký trên hệ thống dữ liệu quốc gia, trong đó

100% tàu cá có chiều dài từ 15 m trở lên đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS).

Theo Ban Quản lý cảng cá

Đông Tác, từ năm 2024 đến nay 100% tàu cá ra vào cảng

được kiểm soát; hơn 700 lượt tàu đã thực hiện thủ tục xuất, nhập cảng trên hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử

eCDT. Địa phương đã xóa đăng

ký gần 650 tàu cá không còn đủ

điều kiện hoạt động, đồng thời

giao chính quyền cấp xã trực tiếp

quản lý, giám sát các tàu chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý. Lực

lượng công an và biên phòng

cũng tăng cường phối hợp kiểm

tra, xử lý các hành vi vi phạm.

Cùng với sự vào cuộc của các cơ quan quản lý, nhận thức của

ngư dân về khai thác thủy sản bền vững cũng dần thay đổi.

Nhiều chủ tàu đã chủ động ghi chép nhật ký khai thác, duy trì thiết bị giám sát hành trình và thực hiện đầy đủ quy định về truy xuất nguồn gốc. Theo ngư dân, việc tuân thủ các quy định

này không chỉ giúp quản lý hoạt

động khai thác minh bạch hơn mà còn góp phần nâng cao giá trị thủy sản khi xuất khẩu.

EU ghi nhận nỗ lực của

Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam đang

đẩy mạnh các giải pháp khắc

phục khuyến nghị của EC và

hoàn thiện quản lý nghề cá, các

đối tác châu Âu cũng ghi nhận

những nỗ lực tích cực từ phía

Việt Nam.

Tại cuộc gặp với đại sứ và

đại biện của Liên minh châu Âu

cùng các nước thành viên EU tại

Hà Nội đầu tháng 3/2026, Thủ

tướng Phạm Minh Chính cho biết, Việt Nam đang triển khai quyết liệt các biện pháp hoàn

thiện khuôn khổ pháp lý, kiểm soát nguồn gốc thủy sản và giám sát hoạt động tàu cá. Việt Nam cũng bày tỏ sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của EC, đồng thời đề nghị các nước EU ghi nhận nỗ lực của Việt Nam và ủng hộ việc sớm gỡ bỏ cảnh báo “thẻ vàng”. Các đại diện EU đánh giá cao quyết tâm của Việt Nam trong chống khai thác IUU, đồng thời mong muốn hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác nhằm phát triển nghề cá bền vững. Quá trình khắc phục cảnh báo “thẻ vàng” của EC không chỉ là yêu cầu từ phía đối tác thương mại mà còn là cơ hội để Việt Nam tái cấu trúc ngành thủy sản theo hướng bền vững. Theo định hướng của Chính phủ, ngành thủy sản sẽ từng bước giảm áp lực khai thác tự nhiên, tăng cường nuôi trồng và chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng, đồng thời tạo sinh kế ổn định cho ngư dân. Như Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chống khai thác IUU không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của đối tác quốc tế mà còn vì danh dự và uy tín của quốc gia, cũng như sự phát triển lâu dài của ngành thủy sản Việt Nam. Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị cùng cộng đồng doanh nghiệp và ngư dân, nước ta đang từng bước khẳng định quyết tâm xây dựng một ngành thủy sản minh bạch, có trách nhiệm và phát triển bền vững trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng.

LỢI THẾ, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP

Hồ chứa nước ngọt là tài nguyên đa mục tiêu (tưới tiêu, cấp nước, phát điện, điều tiết lũ, du lịch) và đồng thời có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản, góp phần tạo sinh kế và gia tăng giá trị sử dụng nước. Tuy

nhiên, phát triển thủy sản còn bất cập về phối hợp liên ngành, phân bổ không gian và kiểm soát môi trường, nên cần có tầm nhìn tổng thể để

phát triển hiệu quả, bền vững.

Việt Nam có khoảng 7.315 công trình thủy lợi/đập (gồm 592 đập dâng và 6.723 hồ chứa) và khoảng 685 hồ/ đập thủy điện. Diện tích mặt nước hồ ước trên 400.000 ha (≈ 4.000 km²), trong đó 75 - 80% là hồ nhỏ và vừa. Dung tích trữ nước phân bố không đều: 10 hồ lớn nhất chiếm trên 42% tổng dung tích của gần 7.000 hồ; hồ lớn nhất là Hòa Bình (~9,45 tỷ m³).

Khung quản lý nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên hồ chứa vận hành theo hai cấp: Trung ương quy định nguyên tắc và điều kiện chung, tỉnh cụ thể hóa thành kế hoạch triển khai theo địa bàn. Nền tảng pháp lý gồm Luật Thủy sản 2017 và các nghị định hướng dẫn (NĐ 26/2019, cập nhật NĐ 37/2024) về cấp phép, vùng nuôi (kể cả lồng/bè), môi trường, giống và thức ăn; đồng thời chịu ràng buộc bởi Luật Thủy lợi 2017 (sử dụng mặt nước) và Luật Tài nguyên nước 2023 (chất lượng nước, xả thải, chức năng cấp nước - môi trường). Ở cấp tỉnh, văn bản chủ yếu là đề án/kế hoạch

nuôi cá lồng trên hồ thủy điện và kế hoạch thực hiện các chương trình bảo vệ–phát triển nguồn lợi đến 2030.

Hồ chứa tập trung nhiều ở miền núi phía Bắc.

Nhóm 23 tỉnh có tiềm năng hiện có khoảng 29.000 lồng; sản lượng 9 tháng 2023 khoảng 36,4 nghìn tấn, năng suất thường 15 - 21 kg/ m³. Thách thức lớn là quản trị đa mục tiêu mặt nước, hạ tầng và quy hoạch không gian.

Các Quyết định của Chính phủ đã tạo cơ sở pháp lý và định hướng quan trọng cho khai thác kinh tế hồ chứa. Tuy nhiên, khung chính sách hiện nay vẫn chưa được cụ thể hóa thành hệ giải pháp khả thi cho phát triển thủy sản: nội dung dàn trải, thiếu tiêu chí kỹ thuật,

và đặc biệt thiếu các dự án đa ngành làm “đầu kéo” theo chuỗi giá trị.

Điểm nghẽn lớn là chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất cho quản trị hồ chứa, khiến một hoạt động kinh tế có thể bị chi phối bởi nhiều luật và nhiều cơ quan, phát sinh chồng chéo thủ tục và xung đột mục tiêu sử dụng (thủy lợi - thủy điện - cấp nước - bảo tồn - du lịchthủy sản), làm tăng chi phí tuân thủ, kéo dài cấp phép và giảm hiệu lực giám sát. Đồng thời, đánh giá tác động ngoại sinh lên hệ sinh thái hồ chứa còn yếu, nên việc xác định sức tải môi trường, mật độ nuôi, vị trí lồng/bè và chuẩn xả thải thiếu cơ sở khoa học, đẩy rủi ro sang giai đoạn vận hành. Nhiều địa phương khai thác thủy sản còn bất cập, gây suy kiệt nguồn lợi; trong khi hoạt động bổ sung, tái tạo nguồn lợi thiếu căn cứ về cơ sở thức ăn, tầng nước, đối tượng thả và sự phù hợp điều kiện sinh thái dẫn đến hiệu quả thấp. Đồng thời, nhiều nơi chưa có (hoặc chưa chi tiết) quy hoạch/phân vùng không gian trên hồ, ven hồ và vùng hạ lưu cho phát triển thủy sản, dẫn đến phát triển tự phát theo nơi neo đậu thuận tiện, chồng lấn mục tiêu sử dụng, khó cấp phép - kiểm tra và tạo “khoảng trống quản lý” cho các hoạt động kém bền vững. Câu hỏi đặt ra là: Nuôi cá lồng bè trên hồ chứa có vừa hiệu quả kinh tế vừa bền vững môi trường không? Muốn trả lời, cần hiểu đúng bản chất hồ chứa và các cơ chế khiến hệ thống dễ vượt ngưỡng chịu tải. Hồ chứa là một “ thung lũng ngập nước” nhân tạo, chịu chi phối bởi địa hình dốc, lưu vực nhỏ/ vừa, dòng chảy

Chất lượng nước đáy hồ đồng thời chịu ba nguồn tải chính: (i) xói mòn, rửa trôi lưu vực mang theo bùn mịn và dinh dưỡng N - P; (ii) sinh khối trong hồ (tảo/thực vật thủy sinh) bùng phát rồi phân hủy, tiêu thụ ôxy và tạo bùn hữu cơ; (iii) nước thải sinh hoạt ven hồ giàu BOD/COD, N, P và vi sinh, thúc đẩy phú dưỡng. Sự cộng hưởng này làm hồ dễ rơi vào vòng xoáy tăng tải hữu cơ, tăng dinh dưỡng, tăng bồi lắng, khiến rủi ro môi trường tăng theo mùa. Các hồ sâu còn dễ phân tầng nhiệt, ôxy vào mùa nóng (tầng đáy thiếu ôxy), và khi mưa lớn/gió mạnh có thể đảo trộn, kéo dinh dưỡng từ đáy lên, kích hoạt tảo nở hoa và biến động ôxy nhanh.

Đáng chú ý là nội tải, khi đáy hồ tích lũy bùn hữu cơ và trở nên yếm khí, phospho có thể được giải phóng từ trầm tích, bùn đáy trở lại cột nước, nên hồ vẫn có thể tiếp tục phú dưỡng ngay cả khi giảm được dòng vào từ lưu vực; đồng thời bồi lắng làm giảm dung tích hữu ích và tạo “điểm nóng” thiếu ôxy ở vịnh kín/nhánh cụt.

Trong bối cảnh đó, nuôi lồng/bè sẽ bổ sung thêm tải thải thường xuyên (phân cá, thức ăn dư, sinh hoạt người nuôi; và rủi ro thuốc, hóa chất nếu quản lý kém). Khi nền đáy đã tích lũy hữu cơ, lồng/bè dễ trở thành “giọt nước tràn ly”, đẩy hồ vượt sức tải, làm tăng nguy cơ ô nhiễm, dịch bệnh, thiếu ôxy, cá chết và xung đột với chức năng cấp nước và các mục tiêu sử dụng khác.

Phát triển thủy sản hồ chứa như thế nào là bền vững?

Hồ chứa là hệ sinh thái nhân tạo nhưng vận hành như một “hồ tự nhiên có điều tiết”. Nó đồng thời phục vụ tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt, thủy điện, du lịch. Do vậy, nuôi thủy sản không thể chạy theo sản lượng thuần túy. Một khung tiếp cận là chia thành 3 trụ cột: - Bảo vệ, tái tạo nguồn lợi: phát triển thủy sản theo cấu trúc tầng nước và chuỗi thức ăn. Cần coi hồ chứa như một hệ sinh thái nhiều tầng: tầng mặt - tầng giữa - tầng đáy, mỗi tầng có nguồn thức ăn và nhóm sinh vật chủ

đạo. Trọng tâm là tạo điều kiện để các loài

bản địa có giá trị kinh tế phát triển tự nhiên, qua đó “khai thác sinh học” nguồn thức ăn sẵn có thay vì bơm dinh dưỡng từ thức ăn công nghiệp vào hồ.

Nguyên tắc sinh thái cốt lõi: (i) Đa dạng

chức năng ăn, kết hợp nhóm ăn động thực vật phù du, nhóm ăn thực vật thủy sinh, nhóm

ăn sinh vật đáy… nhằm “khép vòng” vật chất trong hệ; (ii) Ưu tiên loài bản địa: phù hợp điều kiện thủy văn, nhiệt độ, chất lượng nước

địa phương; giảm rủi ro xâm lấn và dịch bệnh; (iii) Tái tạo nguồn lợi đi kèm bảo vệ nơi sinh sản: vùng ven bờ, bãi đẻ, thảm thực vật thủy sinh… là “nhà trẻ” của hệ sinh thái, cần được khoanh vùng bảo vệ.

Muốn vậy cần thiết phải: (1) Điều tra hiện trạng: thành phần loài, nguồn thức ăn tự nhiên, vùng sinh sản, điểm nóng phú dưỡng, dòng chảy, trao đổi nước; (2) Quy hoạch “vùng bảo tồn - vùng khai thác - vùng nuôi”: không thể để lồng bè và khai thác tự do chồng lấn khu vực nhạy cảm; (3) Thả bổ sung có kiểm soát (nếu áp dụng): thả theo mùa, theo cỡ giống, theo loài mục tiêu; gắn với cơ chế giám sát để tránh thả tràn lan rồi “đánh bắt tận diệt”.

Có thể nói, hiện nay chưa kiểm soát được khai thác và không bảo vệ vùng sinh thái then chốt, thì bổ sung nguồn giống để “tái tạo nguồn lợi” không thể đem lại hiệu quả mong muốn và chỉ là phô diễn, hình thức, lãng phí. - Nuôi lồng bè kết hợp du lịch và ẩm thực trên cơ sở kiểm soát sức tải sinh học Nuôi lồng-bè có lợi thế về tận dụng mặt nước, tạo cảnh quan, dịch vụ (ẩm thực, trải nghiệm), nhưng điểm yếu là xả thải trực tiếp (phân cá, thức ăn dư, chất hữu cơ) xuống hồ. Vì vậy, mô hình này chỉ có thể gọi là bền vững khi vận hành theo 3 điều kiện bắt buộc: (i) Giới hạn mật độ nuôi theo sức tải môi trường; (ii) Bố trí lồng theo thủy động lực vùng nước; (iii) Quản lý chặt vật tư đầu vào, đặc biệt là thức ăn.

Rủi ro cần nêu rõ (điểm có thể làm “đánh sập” mô hình): Rủi ro cao do khó kiểm soát biến động sinh thái, nhất là giai đoạn giao mùa (nhiệt độ, phân tầng đảo trộn, ôxy hòa tan, tảo nở hoa). Rủi ro lan truyền: sự cố tại một điểm nuôi có thể ảnh hưởng cả vùng nước, gây xung

đột với mục tiêu cấp nước và du lịch.

Nếu phát triển du lịch ẩm thực gắn lồng bè: Coi lồng bè là “sản phẩm có quota môi trường” (giới hạn số lồng, tổng sinh khối, khu vực nuôi), đi kèm tiêu chuẩn vận hành và cơ chế kiểm tra độc lập; ưu tiên hướng “ít lồng - chất lượng cao - giá trị cao”, thay vì “nhiều lồng - giá rẻ - rủi ro lớn”. - Phát triển mô hình nuôi ao/bể ven hồ và vùng hạ lưu là chìa khóa kiểm soát Điểm mạnh của mô hình này nằm ở khả năng kiểm soát. Khác với lồng bè, nơi chất thải đi thẳng xuống hồ, nuôi ao/bể ven hồ cho phép thiết kế một chuỗi xử lý để cắt tải ô nhiễm trước khi thải ra môi trường hoặc tái sử dụng. Ưu thế cốt lõi của “khối nuôi trên bờ” là chủ động quản lý nước, nước thải. Giảm rủi ro dịch bệnh: có thể cách ly, khử trùng, kiểm soát sinh vật trung gian; dễ áp dụng an toàn sinh học. Tăng khả năng thích ứng giao mùa: dễ điều chỉnh mật độ, chế độ cho ăn, sục khí, thay nước, che chắn nhiệt.

Cấu phần kỹ thuật theo logic “xử lý trước - xả sau”: (1)Thu gom chất rắn (phân, thức ăn dư) bằng lắng/ lọc; (2) Xử lý hữu cơ - amoni: bể sinh học/giải pháp sinh học phù hợp quy mô; (3) Quản lý bùn: định kỳ hút bùn, ủ - xử lý; (4) Tái sử dụng nước (nếu có điều kiện): tuần hoàn một phần, hoặc dùng tưới cây nông nghiệp sau xử lý; (5) Xả trả hồ/hạ lưu: đạt ngưỡng chất lượng nước mục tiêu và có giám sát. Mô hình này “bền vững hơn” về mặt chính sách vì: Nó giảm ngoại ứng, thay vì chuyển chi phí ô nhiễm cho cả hồ và cộng đồng, mô hình buộc cơ sở nuôi nội hóa chi phí xử lý. Đổi lại, cơ sở nuôi có lợi về ổn định sản xuất, giảm rủi ro sốc môi trường, và dễ tiêu chuẩn hóa chất lượng. Đặc biệt, tại vùng hạ lưu, nước thải từ ao nuôi sau xử lý có thể được tận dụng làm nguồn dinh dưỡng cho cây trồng, qua đó tăng cường liên kết giữa thủy sản và nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải CO2 . Tóm lại, để phát triển thủy sản hồ chứa theo hướng bền vững cần quản trị theo vùng sinh thái, theo sức tải, đồng thời phối hợp mô hình sản xuất: (i) Vùng lõi sinh thái: ưu tiên bảo vệ và tái tạo nguồn lợi, hạn chế nuôi thâm canh; (ii) Vùng nuôi lồng/bè: nên cấp phép hoạt động theo kinh tế chuỗi (thủy sản - du lịch - ẩm thực) và giới hạn trong sức tải môi trường; tuân thủ quy chuẩn đầu vào (giống, thức ăn, vật tư) và lựa chọn vị trí phù hợp với thủy động lực; (iii) Vùng ven hồ và hạ lưu: phát triển ao/bể và hệ thống xử lý nước thải/ chất thải để làm “bộ giảm tải” cho toàn hồ. Vì vậy, phát triển bền vững không dựa chủ yếu vào “chọn giống tốt” hay “tăng mật độ”, mà phải thiết kế mô hình nuôi sao cho tải thải không vượt khả năng tiếp nhận của hồ, và rủi ro sinh thái được quản trị chủ động thay vì phó mặc cho thời tiết.

 Hỏi: Quy trình cải tạo ao nuôi cá trắm cỏ? (Phan Thế Hoàng, xã Chí Minh, tỉnh

Hưng Yên)

Trả lời:

Ao nuôi cá trắm cỏ có diện tích khoảng

400 - 1.000 m2 là thích hợp nhất. Ao nuôi

phải quang đãng, không bị cớm rợp, bờ ao chắc chắn không rò rỉ, đáy ao bằng phẳng có lớp bùn dày khoảng 15 - 20 cm. Ao nuôi cần thiết kế các cống cấp và thoát nước đặt so le. Mực nước trong ao giao động khoảng

1 - 1,2 m, nước quá nông hoặc quá sâu đều ảnh hưởng tới sự phát triển của cá. Rào lưới xung quanh để tránh các loài giáp xác, côn trùng truyền bệnh xâm nhập vào ao nuôi.

Nguồn nước cung cấp cho ao phải sạch, không bị ô nhiễm bởi các nguồn chất thải, nước thải sinh hoạt, nước thải của các nhà

máy ở khu công nghiệp, pH 6,5 - 7,5, hàm

lượng ôxy hòa tan duy trì từ > 4 mg/lít.

Sau mỗi vụ nuôi nên tiến hành tháo cạn, dọn sạch cỏ, tu sửa bờ, vét bùn (nếu lượng bùn quá nhiều nên vét bớt, chỉ để lại lớp bùn từ 15 - 20 cm). Bón vôi để diệt cá tạp và các mầm bệnh. Lượng vôi bón từ 7 - 10 kg/100 m2 đáy ao. Vôi được rắc đều lên mặt đáy ao và các thành bờ sau đó phơi nắng từ 2 - 3 ngày rồi mới cho nước vào ao. Nước lấy vào ao phải được lọc qua đăng hoặc lưới có mắt nhỏ để ngăn chặn cá dữ, cá tạp xâm nhập theo dòng nước vào ao. Tiến hành gây màu nước, khi nước ao có màu xanh nõn chuối hoặc màu vỏ đỗ thì thả giống. Trước khi thả giống cần kiểm tra các yếu tố môi trường đảm bảo nằm trong ngưỡng thích hợp.

 Hỏi: Xin tư vấn các biện pháp quản lý ao nuôi ghép tôm sú với cá dìa? (Thái Văn

Hoàng, xã Quảng Trường, tỉnh Thanh Hóa)

Trả lời:

Nuôi ghép tôm sú với cá dìa, để hạn chế ô nhiễm nên sử dụng thức ăn công nghiệp dạng hạt, viên, lượng thức ăn hàng ngày

đối với tôm từ 2 - 10% tổng trọng lượng đàn tôm nuôi. Cho tôm ăn ngày 3 - 4 lần, lượng thức ăn buổi sáng và tối nhiều hơn buổi trưa. Hàng ngày dùng sàng ăn để kiểm tra. Sàng

ăn có kích cỡ 1 x 1 m hoặc có thể 0,8 x 0,8 m, thường 1 sàng/1.000 m2. Thời điểm kiểm

tra là sau 2 - 3 giờ cho ăn (với tôm nhỏ hơn 10 g, 1 - 3 tháng) và 1,5 - 2 giờ với tôm cỡ lớn (20 g trở lên, trên 3 tháng nuôi).

Đối với cá, dùng thức ăn viên nổi cho vào khung nổi cho cá ăn với tỷ lệ 2 -3% trọng lượng thân. Nên cho cá ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát. Cho cá ăn từ từ để chúng bắt mồi, sau khi cho cá ăn 15 - 30 phút mà trong khung hết thức ăn là vừa, tùy tình hình thực tế mà điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Lưu ý, cá dìa có thể cạnh tranh thức ăn với tôm vì thế cần cho cá ăn trước sau đó mới cho tôm ăn, đồng thời tăng cường thức ăn cho tôm vào buổi tối vì lúc này cá không bắt mồi.

 Hỏi: Xin tư vấn các biện pháp phòng ngừa bệnh phân trắng trên tôm? (Nguyễn Văn Trường, xã Phú Lâm, tỉnh An Giang)

Trả lời:

Quản lý tốt môi trường ao nuôi: Thực hiện tốt quy trình cải tạo ao. Duy trì tảo ở mật độ thích hợp và độ trong của nước 30 - 40 cm; độ sâu nước trong ao 1,2 - 1,5 m. Chủ động nguồn nước sạch để cấp vào ao. Định kỳ thay nước ao nuôi ngăn chặn sự phát triển của tảo độc. Theo dõi, quản lý chặt chẽ các yếu tố môi trường; Duy trì hệ thống quạt nước sao cho hàm lượng ôxy hòa tan trong ao nuôi luôn ở mức lớn hơn hoặc bằng 4 ppm (đặc biệt là vào buổi tối). Sử dụng vi sinh định kỳ như EM, vi sinh xử lý đáy để hạn chế khí độc, làm sạch môi trường trong ao nuôi và ức chế vi khuẩn có hại gây bệnh. Thức ăn: Lựa chọn những loại thức ăn chuyên dùng cho tôm, đảm bảo chất lượng, đầy đủ chất dinh dưỡng. Thức ăn đúng kích cỡ cho từng giai đoạn nuôi với liều lượng phù hợp, tránh trường hợp dư thừa gây ô nhiễm môi trường ao nuôi. Thức ăn phải được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh khu vực ẩm ướt. Không sử dụng thức ăn bị nấm, mốc; hạn chế sử dụng thức ăn tươi. Quản lý sức khỏe tôm: Sử dụng ít nhất từ 1 sàng ăn trở lên để kiểm tra sức khỏe tôm nuôi và điều chỉnh khẩu phần ăn cho hợp lý. Hàng ngày quan sát hoạt động bắt mồi và sức khỏe của tôm trong ao, xem biểu hiện bên ngoài của tôm thông qua màu sắc, phụ bộ, thức ăn trong ruột,… để xử lý. Tăng cường bổ sung Vitamin C, men tiêu hóa đường ruột, khoáng chất cần thiết.

Trong 30 ngày đầu không nên thay nước mà chỉ cấp nước bổ sung do nước bốc hơi và thẩm lậu, chỉ cấp thêm từ 10 - 20% nước từ nguồn nước sạch, độ mặn ổn định ít chênh lệch. Từ tháng thứ 2 trở đi có thể thay nước, mỗi lần thay nước cần kiểm tra chất lượng nước. Lượng nước thay nên từ 20 - 30% lượng nước ao. Sau mỗi lần thay nước cần kiểm tra lại các yếu tố trong nước ao như: pH, độ mặn,... pH thích hợp để tôm, cá phát triển tốt pH từ 7,5 - 8,5. Khi dao động độ chênh lệch trong ngày lớn hơn 0,5 thì phải xử lý bằng vôi nông nghiệp (CaCO3), hoặc vôi Dolomite với lượng 20 kg/1.000 m3 hòa nước tạt đều khắp mặt ao. Khi pH > 8,5 cần thay nước trong ao, lượng thay khoảng 20 - 30%. Khi pH < 7,5, cần bón vôi nông nghiệp với lượng 10 - 20 kg/1.000 m3 điều chỉnh pH đạt yêu cầu. Tốt nhất người nuôi nên định kỳ bón bột đá vôi CaCO3, Dolomite để tăng hệ đệm cho ao nuôi (thường 7 - 10 ngày bón 1 lần, lượng 10 - 20 kg/1.000 m3). Trong quá trình nuôi cần giữ độ trong từ 30 - 40 cm, nếu độ trong thấp 20 - 25 cm thì nên thay nước để giảm mật độ tảo. Cần lắp đặt hệ thống quạt nước để bổ sung ôxy hòa tan trong nước đảm bảo hàm lượng ôxy luôn > 4 mg/lít, tạo dòng chảy gom thức ăn dư thừa và chất thải tập trung lại một chỗ, làm sạch khu vực cho ăn, giúp giải phóng một số khí độc trong ao nuôi,… Trong suốt vụ nuôi cần giữ mực nước ao tối thiểu 0,8 - 1 m, tốt nhất nên 1,2 - 1,5 m. Sau những cơn mưa lớn phải tháo bỏ lớp nước mặt ra ngoài tránh độ mặn giảm đột ngột, đồng thời dùng máy quạt nước tạo dòng chảy đối lưu tầng mặt tầng đáy, hạn chế sự phân tầng của nước ao nuôi. Định kỳ 10 - 15 ngày dùng Zeolite nhằm hấp thu một phần khí độc, hạn chế độ đục và làm sạch đáy ao do xác tảo và các chất hữu cơ gây ra, tạo môi trường ổn định. Các loại khí độc trong nước phải kiểm soát ở mức H s S < 0,03 mg/lít, NH3 < 0,1 mg/lít.

NHỮNG VIỆC CẦN LÀM

Năm 2025, xuất khẩu thủy sản lập kỷ lục mới nhưng ngành thủy sản cần khẩn trương vượt qua rào cản kỹ thuật và sức ép cạnh tranh để duy trì vị thế.

tăng 12,4% so với 2024 Cá tra 2,2 tỷ USD

 Quy định truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, tiêu biểu là "thẻ vàng" IUU của EU và Lệnh 280 của Trung Quốc.

 Áp lực từ thuế chống bán phá giá và thuế đối ứng tại thị trường Mỹ.

 Sức ép cạnh tranh gay gắt về giá và thị phần từ tôm Ấn Độ, Ecuador và Indonesia.

 Chi phí sản xuất, giá thức ăn chăn nuôi và cước vận tải quốc tế neo ở mức cao.

 Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn làm giảm năng suất nuôi trồng.

SẢN VIỆT NAM

847 nhà máy chế

biến quy mô công

nghiệp, đáp ứng tốt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm

LỢI THẾ GIẢI PHÁP GIỮ THỊ PHẦN Hưởng lợi thế về

Lợi thế cạnh tranh

vượt trội về các

sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng cao

Kiểm soát chặt chẽ đội tàu và truy xuất nguồn gốc

để quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU.

Chủ động cập nhật quy định nhập khẩu mới (như

Lệnh 280) để duy trì mã số xuất khẩu.

Tự chủ nguồn con giống và đầu tư công nghệ chế biến sâu để tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Ứng dụng chuyển đổi số và thương mại điện tử vào quản lý chuỗi cung ứng.

Chuyển dịch sang mô hình nuôi trồng xanh, giảm phát thải và đáp ứng tiêu chuẩn bền vững. 01 02 03 04 05 IUU

Chuyển đổi số

KIỂM SOÁT

RỦI

RO, GIA TĂNG GIÁ TRỊ

Biến đổi khí hậu, dịch bệnh và tiêu chuẩn thị trường ngày càng cao đang đặt ngành nuôi trồng thủy sản trước nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, chuyển

đổi số trở thành hướng đi tất yếu nhằm nâng cao năng suất, kiểm soát rủi ro và gia tăng giá trị sản phẩm.

Áp lực kép

Trong nhiều năm qua, nuôi trồng thủy sản đã khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của nông nghiệp Việt Nam, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu và tạo sinh kế cho hàng triệu lao động ven biển, vùng đồng bằng. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng là không ít thách thức ngày càng rõ nét.

Tại ĐBSCL - “thủ phủ” nuôi tôm và cá tra của cả nước - những năm gần đây liên tục chứng kiến hạn hán, xâm nhập mặn và thời tiết biến động bất thường. Chỉ một đợt thiếu ôxy đột ngột hay biến động pH ngoài ngưỡng an toàn cũng có thể khiến người nuôi thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Trong khi đó, phương thức quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, quan sát bằng cảm tính đang bộc lộ nhiều hạn chế trước môi trường sản xuất ngày càng phức tạp. Không chỉ chịu áp lực từ tự nhiên, ngành thủy sản còn phải đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế. Các thị trường lớn như Liên minh châu Âu và Mỹ yêu cầu minh bạch toàn bộ chuỗi sản xuất, từ con giống, thức ăn, quy trình nuôi đến khâu thu hoạch, chế biến. Nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, kiểm soát tồn dư kháng sinh và bảo vệ môi trường, sản phẩm có thể bị từ chối hoặc áp thuế cao. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà trở thành nhu cầu cấp thiết. Ứng dụng công nghệ số giúp người nuôi theo dõi môi trường theo thời gian thực, quản lý quy trình sản xuất bằng dữ liệu thay vì cảm tính, đồng thời tạo ra sự minh bạch cần thiết để hội nhập sâu vào thị trường toàn cầu. Có thể nói, chuyển đổi số chính là “tấm phao” giúp ngành thủy sản đứng vững trước những con sóng lớn của thời đại.

Từng bước đi vào thực tiễn Thời gian qua, bức tranh chuyển đổi số trong thủy sản đã xuất hiện nhiều điểm sáng, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi tôm công nghệ cao ở khu vực ĐBSCL. Nhiều trang trại đã đầu tư hệ thống cảm biến đo pH, độ mặn, nhiệt độ và ôxy hòa tan, truyền dữ liệu trực tiếp về điện thoại thông minh. Khi các chỉ số vượt ngưỡng an toàn, hệ thống sẽ phát cảnh báo để người nuôi kịp thời xử lý, giảm thiểu rủi ro. Cùng với đó, máy cho ăn tự động cũng ngày càng phổ biến. Thay vì người nuôi phải rải

Chuyển đổi số đang từng bước thay đổi phương thức quản lý trong nuôi trồng thủy sản. Từ giám sát môi trường bằng cảm biến, hệ thống cho ăn tự động đến nhật ký nuôi điện tử, dữ liệu sản xuất được số hóa giúp người nuôi kiểm soát rủi ro tốt hơn và nâng cao hiệu quả kinh tế.

thức ăn thủ công, thiết bị sẽ phân phối theo lịch trình cài đặt sẵn và định lượng chính xác, thậm chí kết hợp camera quan sát để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp với nhu cầu thực tế của tôm, cá. Việc này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí - vốn chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất - mà còn hạn chế ô nhiễm đáy ao do thức ăn dư thừa. Ở một số địa phương, nhật ký nuôi điện tử đã được triển khai thay cho sổ ghi chép truyền thống. Dữ liệu về con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản được lưu trữ tập trung, tạo thuận lợi cho truy xuất nguồn gốc khi xuất khẩu. Một số doanh nghiệp lớn còn xây dựng nền tảng quản lý xuyên suốt từ vùng nuôi đến nhà máy chế biến, tích hợp dữ liệu kiểm nghiệm chất lượng và chứng nhận an toàn. Nhờ đó, quy trình sản xuất trở nên minh bạch hơn, giảm rủi ro trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại hoặc sự cố an toàn thực phẩm.

Trong lĩnh vực nuôi biển, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư lồng nuôi công nghiệp có khả năng chịu sóng gió, tích hợp hệ thống giám sát từ xa. Cảm biến môi trường, thiết bị định vị GPS và camera dưới nước giúp theo dõi sức khỏe cá chim, cá hồng, cá mú mà không cần túc trực liên tục. Hướng tới nuôi trồng thông minh

Dù đã có những bước tiến nhất định, chuyển đổi số trong thủy sản Việt Nam vẫn chưa diễn ra đồng đều. Bài toán chi phí là rào cản đầu tiên. Để đầu tư hệ thống cảm biến, phần mềm quản lý hay thiết bị tự động hóa, người nuôi phải bỏ ra khoản vốn không nhỏ. Với những

Bên cạnh đó là khoảng trống về kỹ năng số. Không ít người nuôi, đặc biệt là những hộ lớn tuổi, chưa quen sử dụng thiết bị thông minh hay phân tích dữ liệu môi trường. Khi không hiểu rõ cách khai thác thông tin, công nghệ có thể trở thành gánh nặng thay vì công cụ hỗ trợ. Hạ tầng internet và điện ở một số vùng ven biển, hải đảo cũng chưa ổn định, ảnh hưởng đến việc vận hành hệ thống giám sát trực tuyến. Để khắc phục những hạn chế này, cần một chiến lược tổng thể với sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp và người nuôi. Trước hết, chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho mô hình nuôi ứng dụng công nghệ cao sẽ giúp giảm áp lực vốn ban đầu, tạo

xây dựng khung pháp lý và tiêu chuẩn chung cho hệ thống dữ liệu ngành thủy sản sẽ đảm bảo tính thống nhất và khả năng kết nối giữa các địa phương, doanh nghiệp. Song song với đó, đào tạo và nâng cao năng lực số cho người nuôi là yếu tố then chốt. Các chương trình tập huấn về vận hành thiết bị, phân tích dữ liệu môi trường và quản lý sản xuất bằng phần mềm cần được triển khai rộng rãi, gắn với thực tiễn vùng nuôi. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ sẽ giúp chuyển giao kiến thức một cách hiệu quả hơn. Đầu tư hạ tầng số tại vùng nuôi cũng là điều kiện tiên quyết. Internet băng thông rộng và nguồn điện ổn định sẽ đảm bảo hệ thống giám sát hoạt động liên tục, chính xác. Đồng thời, việc thúc đẩy liên kết chuỗi và chia sẻ dữ liệu giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và phân phối sẽ giúp quá trình truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng diễn ra thông suốt. Về lâu dài, khuyến khích doanh nghiệp công nghệ trong nước phát triển các giải pháp “may đo” cho điều kiện Việt Nam sẽ giúp giảm chi phí và tăng khả năng phổ cập. Khi hệ sinh thái công nghệ nội địa được củng cố, ngành thủy sản sẽ chủ động hơn trong hành trình số hóa.

Việc liên tục giữ vững tốc độ tăng trưởng cũng như vị thế trên thị trường thế giới cho thấy, các doanh nghiệp ngành tôm vẫn không hề chủ quan, mà luôn không ngừng củng cố, nâng cao sức mạnh nội tại, tận dụng tốt các cơ hội nhằm tăng sức cạnh tranh, giảm rủi ro trước các rào cản thuế quan và phi thuế quan để hướng đến mục tiêu minh bạch và phát triển bền vững.

Nâng cao đẳng cấp chế biến

Đây cũng chính là một trong

những sức mạnh nội tại mạnh

mẽ, giúp ngành tôm không

những khắc phục được điểm cốt

lõi về yếu giá thành, mà còn vượt qua cả những rào cản thuế quan

và phi thuế quan. Có lẽ ai cũng

biết, giá thành tôm Việt Nam

thuộc hàng cao nhất thế giới, nên giá bán vì thế cũng cao hơn

các nước khác, nhưng sản phẩm

tôm Việt Nam vẫn được người tiêu dùng thế giới chấp nhận. Đó là nhờ ở kỹ thuật và tay nghề chế biến. Các mặt hàng chế biến sâu như: tôm Nobashi, tôm tẩm bột tươi và chiên, cùng với các mặt hàng phối chế khác để gia tăng giá trị sản

gia tăng nguồn nguyên liệu đạt chất lượng có thể cung cấp cho thị trường EU, Mỹ, Nhật… và cũng đáp ứng mục tiêu truy xuất thuận lợi của thị trường này. Đồng thời, nhờ vào uy tín trên thương trường, nên con tôm Việt Nam được nhiều khách hàng biết đến và có cơ hội tiếp cận các kênh tiêu thụ cao cấp, có giá bán cao.

Theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, các doanh nghiệp ngành tôm Việt Nam làm rất tốt việc thuyết phục khách hàng EU về chất lượng và an toàn thực phẩm nên vị thế tôm Việt Nam ngày càng nâng cao ở thị trường này. Do đó, để củng cố sức mạnh này, chúng ta cần tạo ra nhiều hơn nữa nguồn tôm nguyên liệu đạt các tiêu chuẩn do EU đặt ra.

Những phân khúc thị trường cao cấp tại EU, Mỹ hay Nhật Bản đều có được giá tốt và ổn định, trong khi đây cũng chính là lợi thế lớn của các doanh nghiệp chế biến tôm Việt Nam. Cũng chính nhờ lợi thế này đã giúp doanh nghiệp lẫn người nuôi tôm vượt qua những thời khắc khó khăn nhất của thị trường để duy trì vị thế trong top 3 cho ngành tôm, đưa sản phẩm tôm Việt Nam có mặt được tại hầu hết thị trường khó tính như: EU, Nhật Bản, Mỹ và cả siêu thị của Hàn Quốc. Trong đó, thị trường Nhật không chỉ có các yêu cầu cao về an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc… như những thị trường khác, mà còn ở tính thẩm mỹ trong từng sản phẩm, nhưng tôm Việt Nam vẫn chiếm thị phần áp đảo ở thị trường này.

Minh bạch, trách nhiệm và bền vững

Đây không còn là sự lựa chọn mà là tất yếu không thể đảo

ngược đối với doanh nghiệp khi

hầu hết các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc…

đều đã đang siết các chặt các

tiêu chuẩn về môi trường – xã

hội – quản trị (ESG). Tuy nhiên, nói như ông Hồ Quốc Lực – Chủ

tịch HĐQT Công ty Cổ phần

Thực phẩm Sao Ta, các tiêu

chuẩn trên đều rất khó, nhưng

nếu doanh nghiệp đạt được thì

sức tiêu thụ sẽ rất lớn, khả năng

cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ

rất cao. Hay nói một cách khác, một khi doanh nghiệp luyện

thành công “bí kíp” này, cùng với

một giá thành sản phẩm hợp lý

sẽ đủ sức cạnh tranh với mọi đối thủ trên mọi thị trường khó tính nhất hiện nay. Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều khách hàng EU yêu cầu sản phẩm tôm phải có chứng nhận ASC – chứng nhận toàn cầu đối với việc nuôi trồng

thủy sản có trách nhiệm. Trong khi hiện tại, chỉ một số ít doanh nghiệp lớn, có khả năng đầu tư trại nuôi đạt tiêu chuẩn này, nên

dù đã có lợi thế FTA hay sản phẩm giá trị gia tăng nhưng tốc

độ tăng trưởng xuất khẩu tôm

Việt Nam tại EU vẫn rất chậm.

Trong bối cảnh các biện pháp

phòng vệ thương mại ngày càng

siết chặt, việc chủ động chuẩn

hóa dữ liệu, minh bạch hồ sơ

và nâng cao quản trị tuân thủ

được coi là giải pháp thiết yếu

giúp doanh nghiệp giảm rủi ro

pháp lý, duy trì niềm tin với nhà

nhập khẩu và tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài. Việc chuẩn hóa

dữ liệu phục vụ các kỳ rà soát

thuế, xây dựng hệ thống truy

xuất đồng bộ và nâng cao tính

minh bạch trong giao dịch là

rất quan trọng. Việc tối ưu danh

mục sản phẩm theo hướng tập

trung vào các mặt hàng ít chịu

thuế chống bán phá giá cũng

là giải pháp giúp duy trì dòng

xuất khẩu trong bối cảnh biến

động. Đa dạng hóa thị trường

xuất khẩu cũng sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào Mỹ và phân tán rủi ro thuế quan.

Một vấn đề nữa góp phần làm nên sức mạnh nội tại cho ngành tôm, đó là phát triển theo hướng xanh. Đây cũng chính là con đường ngành tôm đang đi tới đế nâng cao tính cạnh tranh không chỉ bằng chất lượng, mà còn ở sự minh bạch và bền vững. Cũng theo ông Hồ Quốc Lực, chỉ có con đường xanh hóa mới giúp ngành tôm vượt qua các rào cản kỹ thuật và môi trường ngày càng khắt khe của thị trườn và quan trọng hơn là xây dựng được niềm tin lâu dài với người tiêu dùng và nhà nhập khẩu quốc tế. Từ hướng đi đó, các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ngày càng chuyển đổi mạnh mẽ hơn theo hướng tiết kiệm, nâng cao giá trị, giảm dấu chân carbon, thông qua các hành động cụ thể, như: tiết kiệm năng lượng, nước và nguyên liệu, áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn; xử lý nước thải đạt chuẩn cao, tái sử dụng phụ phẩm (vỏ tôm, đầu tôm) cho thức ăn chăn nuôi, phân bón, chitosan, collagen…; giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời áp mái; đảm bảo tiêu chuẩn lao

động, an sinh xã hội, xây dựng môi trường làm việc nhân văn và bền vững.

Cần chuẩn hóa khâu nuôi

Lợi thế về chế biến sản phẩm

giá trị gia tăng cũng đặt ra một

thách thức khác, đó chính là chuẩn hóa nguồn tôm nguyên liệu. Đây là một thách thức

không nhỏ, khi mà phần lớn các mô hình nuôi tôm đều có diện tích nhỏ lẻ, rất khó cho việc áp dụng kho học công nghệ nuôi

mới, đặc biệt là khâu số hóa để minh bạch dữ liệu vùng nuôi.

Theo bà Cao Xuân Thu Vân –Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã

Việt Nam, ngành thủy sản Việt Nam không còn ở giai đoạn cạnh tranh đơn thuần bằng sản

lượng hay ưu thế về chi phí lao động mà đã thực sự bước vào cuộc đua của sự minh bạch, trách nhiệm và tính bền vững cốt lõi. Đây là con đường tất yếu bởi các thị trường nhập khẩu thủy sản chủ lực của Việt Nam liên tục thiết lập các rào cản kỹ thuật phi thuế quan nghiêm ngặt. Do đó, con đường tất yếu là chuyển đổi số, để sản phẩm thủy sản Việt Nam khi đến tay người tiêu dùng trên toàn thế giới không chỉ mang theo hương vị giá trị tài nguyên bản

phát huy tối đa sức mạnh nội tại nhằm đưa xuất khẩu tôm Việt Nam tiến xa hơn, bền vững hơn cần nâng cao hơn nữa chính sách quản lý chất lượng trong nuôi trồng thủy sản để tạo ra ngày càng nhiều nguồn tôm nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn từ các nước nhập khẩu. Bên cạnh đó, cần tổ chức lại sản xuất theo mô hình hợp tác gắn với liên kết chuỗi và áp dụng số hóa, để giảm tối đa số hộ nuôi nhỏ lẻ. Chỉ có như vậy, mới giúp tăng thêm sản lượng tôm đạt các tiêu chí của chuỗi cung ứng toàn cầu, đáp ứng đầy đủ yêu cầu truy xuất nguồn gốc nhằm nâng tầm con tôm Việt. Một yếu tố không kém phần quan trọng là sự chung tay của tất cả các doanh nghiệp để đảm bảo ủy tín về chất lượng, an toàn thực phẩm, trách nhiệm của nhà cung cấp cùng nhau xây dựng thương hiệu tôm Việt Nam tại thị trường trọng điểm.

VINAFIS EXPO 2026

Hội tụ cơ hội, đánh thức giá trị

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư

(Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngành thủy sản Việt Nam đang

bước vào giai đoạn phát triển mới theo hướng hiện đại, bền vững, có trách nhiệm và hội nhập sâu rộng

với chuỗi giá trị toàn cầu. Trong

bối cảnh đó, việc tăng cường kết

nối, trao đổi thông tin, giới thiệu

công nghệ, sản phẩm, giải pháp

quản lý và phát triển chuỗi giá trị

thủy sản là yêu cầu rất cần thiết.

Nhằm tạo diễn đàn giao lưu, hợp tác

hiệu quả cho cộng đồng thủy sản trong nước và quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có chủ trương đồng ý để Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức Triển lãm

Thủy sản Quốc tế - VINAFIS EXPO 2026 từ 28

- 30/4/2026 tại Trung tâm triển lãm SECC TP. Hồ Chí Minh; đồng thời giao Cục Thủy sản và Kiểm ngư là đơn vị đầu mối phối hợp với Hội thủy sản Việt Nam để tham gia và hỗ trợ các hoạt động.

Việc tổ chức Triển lãm Thủy sản Quốc tếVINAFIS EXPO 2026 là một hoạt động thiết thực nhằm không chỉ là nơi giới thiệu những thành tựu của ngành thủy sản thời gian qua, các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm công nghệ, chuyển giao công nghệ mới, tiên tiến để áp dụng cho ngành thủy sản, đánh giá tiềm năng, thế mạnh cũng như khó khăn, thách thức trong thời gian tới mà còn là diễn đàn kết nối về chính sách - khoa học - doanh nghiệpthị trường, góp phần thúc đẩy hợp tác, đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành thủy sản Việt Nam và khu vực.

Sự kiện chuyên ngành có ý nghĩa quan trọng này, quy tụ các tổ chức, doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà quản lý và đối tác trong lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến, thương mại, công nghệ, thiết bị và dịch vụ thủy sản trong nước và quốc tế.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư ủng hộ chủ trương của Hội Thủy sản Việt Nam về tổ chức Triển lãm Thủy sản Quốc tế - VINAFIS EXPO 2026 và mong muốn các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản tích cực tham gia sự kiện với các hình thức như: Đơn vị trưng bày, giới thiệu sản phẩm - công nghệ, dịch vụ; tham quan, kết nối giao thương, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác đầu tư; đại biểu tham dự và diễn giả tại các hội thảo, tọa đàm quốc tế.

Sự tham gia của quý vị sẽ góp phần quan trọng vào thành công chung của triển lãm, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững, hiệu quả và có trách nhiệm của ngành thủy sản Việt Nam.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức sự kiện này theo đúng quy định của Nhà nước, đồng thời tin tưởng rằng VINAFIS EXPO 2026 sẽ là điểm nhấn quan trọng, mang lại nhiều giá trị thiết thực cho cộng đồng thủy sản Việt Nam và nâng tầm ảnh hưởng của thủy sản Việt Nam trên trường

Tầm quan trọng của việc giữ

màu nước trong ao tôm

Màu nước trong ao nuôi tôm là màu sắc nước nhìn thấy

được ban ngày dưới ánh nắng mặt trời. Màu nước ao lý

tưởng để giúp tôm thẻ chân trắng (TTCT) phát triển tốt, cho màu sắc thương phẩm đẹp là màu nâu đậm (màu cafe nhạt) hoặc màu vàng đục (màu bã trà); đây cũng là màu nước ao giàu khoáng chất thiết yếu cho TTCT, ngoài ra trong nước còn có hiện diện các loài tảo lục (Chlorophyta), tảo khuê (Bacillariophyta) hay gọi tảo silic phát triển ưu thế, là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm nuôi.

Vai trò của màu nước

Trong nuôi TTCT công nghiệp, giữ màu sắc nước ao đạt chuẩn rất quan trọng, ngoài việc giúp ngăn chặn ánh nắng xuyên thấu đáy ao, ngăn chặn rong, tảo đáy, còn giữ ổn định hệ đệm trong ao, các chỉ số môi trường, nhất là nhiệt độ nước ao ổn định. Bên cạnh đó, trong nước ao đạt chuẩn còn có các khoáng chất cần thiết cho tôm. TTCT có tốc độ tăng trưởng nhanh nên chu kỳ lột xác ngắn. Sau mỗi đợt lột xác, tôm có khả năng hấp thu khoáng chất trong môi trường nước rất tốt, nhờ đó tôm săn chắc và cho màu sắc đẹp.

Ngoài ra, nước ao đạt chuẩn còn có một lượng tảo có lợi là tảo lục, tảo khuê… đây là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm. Tảo có trong nước ao tôm còn giữ vai trò như hệ thống lọc sinh học vô cùng quan trọng giúp ổn định các thông số môi trường… Đó là lý do người nuôi cần phải gây màu nước và giữ màu sắc nước ao ổn định trong suốt vụ nuôi tôm.

Cách gây màu nước và duy trì

Có nhiều phương pháp gây

màu nước khác nhau như bón

phân NPK, Urê hoặc sử dụng bột

cá, bột đậu nành… Tuy nhiên, với các phương pháp này, màu

nước sẽ lên nhiều loài tảo không tốt cho sức khỏe tôm. Đồng thời

kích thích tảo phát triển quá

mức, dẫn dến hiện tượng tảo tàn, gây ô nhiễm môi trường ao nuôi.

Một phương pháp nữa là tạt khoáng kèm chế phẩm vi sinh để

gây màu nước. Kết quả là màu nước ao có lên nhưng lên với tốc

độ khá chậm. Chính vì vậy, mong muốn của người nuôi là làm thế nào để gây màu nước một cách hiệu quả, duy trì màu nước bền trong suốt quá trình nuôi.

Giải pháp từ BIO Hiện, theo ghi nhận thực tế, nhiều người nuôi đã áp dụng phương pháp gây màu nước sau đây và cho hiệu quả tốt. Cụ thể:

Nước đưa vào ao lắng lọc và xử lý diệt khuẩn đạt chuẩn để thả tôm.

Sau 3 – 5 ngày diệt khuẩn, nước này sẽ được cấp sang ao nuôi và trước khi thả tôm giống khoảng 12 giờ, sử dụng sản phẩm gây màu

BIO POND COLOR for Aqua (liều

500 g/2.000 m³) hòa vào trong

nước và tạt đều lên khắp mặt nước ao, màu sắc nước sẽ hình thành màu nâu đậm sẵn sàng để thả tôm.

Khi thả TTCT cần duy trì hàm

lượng ôxy hòa tan thường xuyên

ở mức > 5 ppm và tôm ở giai đoạn đầu (khoảng 20 ngày đầu) nên

tạt kèm khoáng đa và vi lượng

BIO PREMIX FOR SHRIMP NEW mỗi ngày 1 lần, liều 2 kg/1.000

m³ nước. Sau khi thả tôm 12 giờ kế tiếp tạt kèm chế phẩm vi sinh BIO BACIPRO for Aqua hoặc BIO SUPER BAC để cung cấp vi khuẩn có lợi giúp cạnh tranh, lấn át vi khuẩn có hại cũng như giúp tảo, phiêu sinh phát triển ổn định và hấp phụ một phần khí độc như NH3, H2 S, NO2 có trong nước ao; các khí độc này do tôm bài thải, do xác tảo, thức ăn thừa… gây ra. TTCT nuôi với mật độ cao, cần làm sạch môi trường nước ao nuôi mỗi ngày bằng cách xi phông nước trong ao tôm (khoảng 2 lần/ ngày) để hút các chất bài thải của tôm, xác tảo, thức ăn thừa… ra ngoài và cấp nước mới (sạch) từ ao sẵn sàng bù vào ao nuôi; do vậy màu nước trong ao cũng sẽ giảm dần cho nên người nuôi theo dõi độ trong của nước nếu > 35 cm thì tạt kèm sản phẩm gây màu BIO POND COLOR for Aqua và chế phẩm vi sinh; chu kỳ sử dụng thường từ 5 đến 10 ngày dùng 1 đợt gây màu ao nuôi tôm. Độ trong thích hợp nuôi TTCT công nghiệp với mật độ cao trên 200 con/m³ nước hiện nay là 25 – 35 cm (tùy mật độ tôm thả trong ao nuôi). Việc duy trì màu nước ao nuôi đạt chuẩn trong suốt quá trình nuôi tôm sẽ góp phần giữ ổn định hệ đệm, giảm một phần khí độc như NH3, H2 S, NO2 … phát sinh trong quá trình nuôi, giúp tôm giảm stress, tôm sẽ phát triển nhanh đều cỡ, săn chắc và cho màu sắc đẹp, góp phần tăng năng suất và giá thành tôm nuôi khi thu hoạch.

Đặng Hồng Đức Cố vấn kỹ thuật Công ty liên doanh Bio-Pharmachemie

Nuôi tôm đen ruột chắc phân

Dễ nhưng không dễ

Trong nuôi tôm hiện nay, khi theo dõi sức khỏe ao

tôm, điều đầu tiên bà con quan tâm không phải là

kích cỡ hay màu sắc, mà chính là gan tụy và đường

ruột. Một con tôm có đường ruột đen rõ, liền mạch từ

đầu đến cuối thân, phân chắc, không đứt khúc, không nát - đó là những dấu hiệu đầu tiên của một đàn tôm

khỏe mạnh, tiêu hóa tốt và tăng trưởng ổn định.

“Đen ruột - chắc phân” từ lâu đã

trở thành tiêu chí cơ bản để đánh

giá chất lượng đàn tôm. Tuy nhiên, nói thì dễ, làm được lại không hề đơn giản.

Khi đường ruột là “trung tâm

sức khỏe” của con tôm

Trong suốt quá trình nuôi,

đường ruột tôm liên tục chịu tác

động từ nhiều yếu tố:

- Biến động môi trường: pH, kiềm, nhiệt độ, khí độc

- Chất lượng thức ăn và tốc độ

tăng trưởng

- Áp lực vi khuẩn gây hại trong

ao

- Sự thay đổi mật độ tảo, hiện

tượng sập tảo

- Giai đoạn chuyển mùa, giao mùa

Chỉ cần một trong những yếu tố trên mất cân bằng, hệ

tiêu hóa của tôm sẽ phản ứng

ngay: ruột nhạt màu, đứt khúc, phân lỏng, kéo sợi, thậm chí

các triệu chứng có thể kéo dài nhiều ngày.

Khi tiêu hóa kém, khả năng hấp thu dinh dưỡng giảm, tôm chậm lớn, FCR tăng, nguy cơ

bệnh đường ruột và gan tụy gia tăng. Lúc này, việc bổ sung Enzyme tiêu hóa chất lượng cao không còn là “có thì tốt”, mà trở thành giải pháp thiết yếu.

Super EZ - Giải pháp hướng đến “đen ruột chắc phân” Sản phẩm Enzyme tiêu hóa Super EZ được phát triển với định hướng rõ ràng: Hỗ trợ tối đa chức năng tiêu hóa - cân bằng hệ vi sinh - bảo vệ đường ruột.  Hàm lượng protease cao

Protease hoạt lực mạnh giúp phân giải protein hiệu quả, tăng cường khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng. Nhờ đó: - Giảm tồn dư thức ăn trong ruột - Hạn chế phân lỏng, phân nát

- Cải thiện tốc độ tăng trưởng

và hệ số FCR

 Vi khuẩn axit lactic hoạt

tính mạnh

Bổ sung lợi khuẩn giúp:

- Cạnh tranh với vi khuẩn có hại

- Cân bằng hệ vi sinh đường

ruột

- Tăng cường miễn dịch tự nhiên

Sự kết hợp giữa Enzyme hoạt lực cao và lợi khuẩn chọn lọc giúp duy trì môi trường ruột

ổn định, hỗ trợ tôm giữ được

đường ruột đen rõ, phân chắc, hạn chế các vấn đề thường gặp về tiêu hóa.

Enzyme trên thị trường rất nhiều - nhưng chất lượng mới là yếu tố quyết định

Hiện nay, sản phẩm Enzyme tiêu hóa không thiếu. Tuy nhiên, sự khác biệt nằm ở:

- Hoạt lực Enzyme thực tế

- Độ ổn định trong môi trường ao nuôi

- Chủng lợi khuẩn sử dụng

- Tính đồng nhất và kiểm soát chất lượng

Super EZ được Uni-President VN nhấn mạnh vào hiệu quả thực tế tại ao nuôi , thay vì chỉ dừng ở thông số kỹ thuật. Mỗi lô sản phẩm đều được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng và hoạt tính, đảm bảo tính ổn định khi sử dụng.

Điển hình thực tế từ ao nuôi Ghi nhận thực tế tại một số ao nuôi ở Hà Tĩnh cho thấy sau thời gian sử dụng, gan tụy đậm màu hơn, ruột rõ và đầy, phân chắc, ít tan rã; lượng chất thải phân rã giảm, góp phần ổn

định môi trường đáy ao. Trong khi đó, ao đối chứng cùng giai đoạn ghi nhận ruột nhỏ hơn, phân dính và dễ rã, áp lực xử lý môi trường cao hơn.

Bước sang giai đoạn tôm tăng trưởng mạnh từ tháng thứ 3,

việc duy trì hệ tiêu hóa ổn định không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là một chiến lược kinh tế bền vững. Khi đường ruột

khỏe, tôm tăng trưởng đều, môi trường được kiểm soát tốt hơn và mỗi kilogram tôm thương phẩm trong năm 2026 đều đạt giá trị tối ưu.

“Nuôi tôm đen ruột chắc phân - dễ nhưng không dễ” bởi phía sau đó là cả một quá trình quản

lý kỹ thuật bài bản. Với Super EZ, chúng tôi mong muốn đồng hành cùng bà con trên hành trình xây dựng đàn tôm khỏe mạnh từ bên trong - bắt đầu từ hệ tiêu hóa vững chắc.”

Với kinh nghiệm và hệ thống giải pháp dinh dưỡng toàn diện, Uni-President cam kết đồng hành cùng bà con trong từng giai đoạn nuôi, giúp kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả thực

tế tại ao.

Để được tư vấn chi tiết, bà con có thể liên hệ đội ngũ Uni-President qua Hotline 02743.732.723, hệ thống đại lý

trên toàn quốc hoặc Fanpage chính thức trên Facebook để

được hỗ trợ nhanh chóng.

Uni-President – Nuôi tôm thành công cùng Mô hình 3

Tốt!

Trong hơn hai thập kỷ qua, khi

ngành tôm Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu, một chương

trình nghiên cứu dài hạn về di truyền chọn giống đã âm thầm

được xây dựng tại Việt Nam.

Từ những dữ liệu đầu tiên về

hệ gen tôm thẻ chân trắng đến

các thế hệ chọn giống kế tiếp, chương trình này đã dần tích lũy

một kho dữ liệu di truyền có giá

trị cho ngành nuôi tôm.

Sau hơn 20 năm đầu tư liên tục, Tập

đoàn Việt Úc cho biết chương trình

nghiên cứu đang bước vào một giai

đoạn mới, khi những tín hiệu đầu tiên của các bước tiến di truyền bắt đầu xuất hiện.

Một phần những tiến triển này dự kiến sẽ

được chia sẻ lần đầu tại VietShrimp 2026 –sự kiện được xem là một trong những điểm

hẹn công nghệ quan trọng của ngành tôm

Việt Nam.

Nguồn dữ liệu di truyền lớn từ Nền tảng hơn 20 năm nghiên cứu tôm bố mẹ

Trong nhiều năm, việc phụ thuộc vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu khiến ngành tôm Việt

Nam đối mặt với không ít thách thức. Nguồn tôm bố mẹ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng con giống mà còn quyết định năng suất nuôi và sự phát triển bền vững của toàn ngành.

Chính vì vậy, việc làm chủ nền tảng di truyền luôn được xem là bài toán chiến lược dài hạn. Ngay từ những năm đầu phát

triển, Việt Úc đã lựa chọn hướng đầu tư vào chương trình nghiên cứu tôm bố mẹ dựa trên nền tảng di truyền học và chọn giống qua nhiều thế hệ.

Mục tiêu của chương trình là phát triển các dòng tôm có khả năng thích nghi tốt hơn với điều kiện môi trường nuôi tại Việt Nam, đồng thời cải thiện các tính trạng quan trọng như tốc độ tăng trưởng, sức khỏe và tính ổn định của đàn giống.

Sau hơn hai thập kỷ, dữ liệu di truyền của nhiều thế hệ tôm đã được ghi nhận, phân tích và chuẩn hóa liên tục. Kho dữ liệu này không chỉ giúp các nhà nghiên cứu theo dõi sự phát triển của từng dòng tôm mà còn tạo nền tảng khoa học cho các bước cải tiến di truyền trong tương lai.

Gia tăng đầu tư vào công nghệ và nghiên cứu Trong những năm gần đây, chương trình nghiên cứu của Việt Úc tiếp

như phân tích hệ gen, sinh học phân tử và tin sinh học. Đây là những công cụ dùng trong các chương đánh giá di truyền, chọn giống hiện đại nhất thế giới, được áp dụng ở các quốc gia tiên tiến nhằm nâng cao độ chính xác trong quá trình chọn giống. Đặc biệt, việc kết hợp kho dữ liệu di truyền tích lũy suốt hơn 20 năm với các công cụ phân tích dữ liệu hiện đại và trí tuệ nhân tạo đang mở ra khả năng nhận diện các tính trạng di truyền quan trọng với độ chính xác cao hơn trước đây.

Thông qua các mô hình phân tích dữ liệu và hệ thống đánh giá di truyền qua nhiều thế hệ, các nhà nghiên cứu có thể theo dõi sự cải thiện của từng dòng tôm, đồng thời dự báo tiềm năng di truyền của các thế hệ tiếp theo. Điều này giúp quá trình chọn giống trở nên khoa học và hiệu quả hơn so với các phương pháp truyền thống.

Một dấu mốc quan trọng trong chiến lược nghiên cứu của Việt Úc là việc xây dựng Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Di truyền và Hệ Gen với hệ thống trang thiết bị hiện đại. Trung tâm này được thiết kế để phục vụ các hoạt động phân tích di truyền, đánh giá hệ gen và nghiên cứu những tính trạng quan trọng trong nuôi tôm.

Sự đầu tư bài bản vào hạ tầng nghiên cứu giúp các nhà khoa học rút ngắn thời gian phân tích, nâng cao độ chính xác trong đánh giá và đẩy nhanh chu kỳ cải tiến di truyền qua từng thế hệ.

Những tín hiệu mới từ chương trình chọn giống

Sau nhiều năm cải tiến di truyền qua từng thế hệ, chương trình chọn giống hiện đang ghi nhận những tín hiệu tích cực. Theo đại diện Việt Úc, một số dòng tôm trong chương trình đã cho thấy sự cải thiện ở các tính trạng quan trọng như tốc độ tăng trưởng, khả năng thích nghi với môi trường nuôi và tính ổn định của đàn giống.

Những kết quả này phản ánh hiệu quả của quá trình chọn lọc di truyền lâu dài, đồng thời cho thấy tiềm năng tạo ra các thế hệ tôm giống chất lượng cao hơn cho ngành nuôi tôm Việt Nam.

Trong bối cảnh ngành tôm đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và những yêu cầu ngày càng cao từ thị trường, việc đầu tư vào nền tảng di

Tương lai của con giống tôm không nằm ở may mắn - mà ở khoa học dữ liệu và di truyền học.

Ông Tôn Thất Đề CEO Tập đoàn Việt Úc

truyền được xem là một trong những chìa khóa quan trọng cho sự phát triển bền vững.

Với chiến lược đầu tư dài hạn vào khoa học, dữ liệu và nghiên cứu di truyền, Việt Úc đang từng bước xây dựng nền tảng cho các thế hệ tôm giống phù hợp hơn với điều kiện nuôi tại Việt Nam.

Những tiến triển mới nhất từ chương trình nghiên cứu này dự kiến sẽ được chia sẻ lần đầu tại VietShrimp 2026. Đây được xem là cơ hội

liệu, công nghệ hệ gen

và các phương pháp chọn giống hiện đại đang góp phần thay đổi cách phát triển nguồn giống. Các nội dung được chia sẻ tại sự kiện sẽ tập trung vào nền tảng công nghệ, phương pháp nghiên cứu và định hướng phát triển của chương trình chọn giống dài hạn mà Việt Úc đang triển khai.

Tập đoàn Thăng Long

Tăng trưởng đến từ sự tin yêu của khách hàng

Năm 2025 khép lại, đánh dấu một hành trình đầy biến động

nhưng cũng vô cùng tự hào của ngành thủy sản Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không thể phủ nhận

những thách thức khách quan đã tác động trực tiếp đến từng ao nuôi, từng trang trại, từng

ó là áp lực từ giá cá thương phẩm duy trì ở mức thấp kéo dài, cùng sự bùng phát của các loại dịch bệnh nguy hiểm trên tôm như vi bào tử trùng (EHP), bệnh tôm thủy tinh (TPD) hay phân trắng (WF), gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người nuôi. Tuy nhiên, trong bối cảnh đầy khó khăn đó, Tập đoàn Thăng Long đã khẳng định bản lĩnh kiên cường, không chỉ đứng vững trước sóng gió mà còn tạo nên một kỳ tích tăng trưởng vượt bậc, thiết lập những cột mốc mới đầy tự hào cho doanh nghiệp.

Cột mốc 830.000 tấn thức ăn – Khẳng định

vị thế dẫn đầu

Vượt lên trên những rào cản của thị trường, Tập đoàn Thăng Long đã đạt được mức tăng trưởng ấn tượng hơn 22% . Đặc biệt, chúng ta chính thức xác lập kỷ lục mới với 830.000 tấn thức ăn thủy sản cung ứng ra thị trường trong năm 2025.

Đây không đơn thuần là một con số thống kê, mà còn là minh chứng rõ nét cho niềm tin của bà con nông dân dành cho thương hiệu Thăng Long. Với kết quả này, Tập đoàn tiếp tục củng cố vị thế là một trong những doanh nghiệp top đầu dẫn dắt thị trường thức ăn thủy sản tại Việt Nam, góp phần ổn định nguồn cung và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành thủy sản nước nhà.

Chiến lược kinh doanh: Lấy chất lượng và kỹ thuật làm trụ cột

Thành công của Thăng Long trong năm 2025 không đến từ may mắn, mà là kết quả của một chiến lược kinh doanh nhất quán và bền bỉ:

1. Chất lượng làm nền tảng

Tập đoàn kiên định mục tiêu cung cấp những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, giúp tôm cá tăng cường sức đề kháng, rút ngắn thời gian nuôi và tối ưu hóa hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR).

Nhờ đó, người nuôi có thể giảm chi phí sản xuất, ngay cả trong giai đoạn giá bán đầu ra thấp vẫn duy trì được mức lợi nhuận ổn định. Đây được xem là lợi thế cạnh tranh quan trọng mà Thăng Long đã duy trì xuyên suốt từ khi thành lập đến nay.

2. Dịch vụ kỹ thuật là ưu thế cạnh tranh Nuôi trồng thủy sản hiện nay ngày càng đòi hỏi cao về mặt kỹ thuật. Trước những yêu cầu của ngành, đội ngũ kỹ sư của Tập đoàn không ngừng nghiên cứu và xây dựng nhiều mô hình nuôi phù hợp với từng khu vực và từng đối tượng nuôi, tiêu biểu như:

- Mô hình nuôi tôm thẻ nhiều giai đoạn TLSS

- Mô hình nuôi tôm thẻ trên ao đất TLSS547

- Mô hình nuôi tôm sú năng suất cao TLSSSU20

- Mô hình nuôi cá lóc trong gièo TLSS-LOC Chúng tôi thấu hiểu rằng sản phẩm tốt phải đi kèm với giải pháp nuôi hiệu quả Với đội ngũ hơn 670 nhân viên, phần lớn

được đào tạo chuyên sâu về nuôi trồng thủy sản và bệnh học thủy sản, Tập đoàn đã triển khai tư vấn trực tiếp tại các vùng nuôi, hướng dẫn các mô hình nuôi an toàn sinh học, giúp khách hàng hạn chế dịch bệnh và nâng cao tỷ lệ thành công.

Hệ sinh thái toàn diện – Sẵn sàng cho mọi thách thức

Bên cạnh lĩnh vực thức ăn, sự tăng trưởng

đồng bộ của các mảng khác đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cho Tập đoàn.

1. Con giống

Với phương châm con giống giữ vai trò nền tảng của thành công, đội ngũ kỹ sư tại các trại sản xuất giống đã lựa chọn đàn bố mẹ khỏe mạnh cùng nguồn thức ăn SFP sạch bệnh, giàu dinh dưỡng.

Nhờ đó, các trại giống của Tập đoàn đã cung cấp ra thị trường 2,78 tỷ con giống trong năm 2025, tăng trưởng 47% so với năm trước.

2. Chế phẩm sinh học

Dù mới tham gia thị trường trong vài năm gần đây, nhưng nhờ chất lượng và hiệu quả thực tế của sản phẩm, mảng chế phẩm sinh học của Tập đoàn Thăng Long đã đạt mức tăng trưởng trên 150% so với năm 2024 .

Với hệ thống 5 nhà máy trải dài trên toàn quốc và sự đa dạng về chủng loại sản phẩm,

Thăng Long đảm bảo phục vụ tối ưu nhu cầu của người nuôi từ giai đoạn giống đến khi thu hoạch, cho hầu hết các đối tượng nuôi thủy sản ở Việt Nam hiện nay (tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá lóc, cá điêu hồng, cá chẽm, cá chim, cá mú, ếch, cá tra…).

Hướng tới năm 2026: Vững bước vươn xa Những thành tựu của năm 2025 chính là bước đệm vững chắc để Tập đoàn Thăng Long tự tin bước vào năm mới Bính Ngọ 2026. Với định hướng tiếp tục đầu tư mạnh vào công nghệ và nghiên cứu – phát triển, Ban lãnh

De

Heus hoàn tất thành công việc

mua lại CJ Feed & Care, đánh dấu bước

mở rộng chiến lược tại châu Á

Bước đi chiến lược này đánh dấu một c ột mốc quan

trọng trong chiến lược phát triển dài hạn của De Heus, đồng thời khẳng định cam kết của Tập đoàn trong việc đồng hành cùng người chăn nuôi tại châu Á. Thương vụ này giúp De Heus tăng cường sự hiện diện tại các thị trường trọng điểm như Việt Nam, Indonesia và Campuchia, đồng thời mở rộng sang hai thị trường chiến lược mới bao gồm Hàn Quốc và Philippines. Qua đó, De Heus đã mua lại tổng cộng 17 nhà máy thức ăn chăn nuôi cùng các hoạt động trong chuỗi giá trị chăn nuôi trên toàn khu vực.

gia tăng lợi nhuận. Chúng tôi vô cùng trân trọng mối quan hệ hợp tác lâu dài với người chăn nuôi, nhà phân phối và các đối tác, đồng thời cam kết mang đến những sản phẩm, dịch vụ, kiến thức và giải pháp tối ưu. Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ của Chính phủ các quốc gia sở t ạ i dành cho chúng tôi trong hành trình phát triển ngành chăn nuôi tại các thị trường này. Kết nối chuỗi giá trị để

Đồng hành vững mạnh – kiến

tạo giá trị khác biệt trên từng trang trại

Sự phát triển bền vững bắt

đầu từ nơi quan trọng nhất, đó

là các trang trại chăn nuôi. Việc

kết hợp bề dày kinh nghiệm và chuyên môn vững chắc của De Heus và CJ Feed & Care giúp

đội ngũ của chúng tôi có thêm nguồn lực mạnh mẽ để hỗ trợ người chăn nuôi địa phương chuyên nghiệp hóa quy trình sản xuất, nâng cao hiệu suất và

tăng trưởng bền vững, hợp tác dài hạn Với mục tiêu đồng hành và hỗ trợ người chăn nuôi, De Heus luôn chủ động kết nối các đối tác trong toàn bộ chuỗi giá trị đạm động vật. Thông qua việc hợp tác chặt chẽ với các đối tác chiến lược, chúng tôi không ngừng tạo điều kiện để khách hàng tiếp cận nguồn giống chất lượng cao, bằng cách đầu tư vào các trang trại heo và gia cầm giống ông bà, cụ kỵ trên khắp châu Á. Qua đó, De Heus hướng tới việc nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi cho khách hàng, đồng thời góp phần gia tăng khả năng cạnh tranh cho ngành chăn nuôi tại các thị trường mà chúng tôi đang hoạt động. Sự kết hợp giữa các giải pháp di truyền tiên tiến, con giống đẳng cấp quốc tế, sản phẩm thức ăn chăn nuôi chất lượng cao cùng các dịch vụ hỗ trợ toàn diện về dinh dưỡng, kỹ thuật chăn nuôi và thú y sẽ giúp người chăn nuôi – khách hàng

TẬP ĐOÀN HOÀNG GIA DE HEUS

De Heus Animal Nutrition, có trụ sở tại Hà Lan, được thành lập từ năm 1911, thuộc sở hữu và được điều hành bởi gia đình De Heus. Là đối tác đáng tin cậy trong lĩnh vực dinh dưỡng vật nuôi qua bốn thế hệ, sau hơn một thế kỷ phát triển, De Heus đã vươn lên trở thành một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới về dinh dưỡng vật nuôi với hoạt động tại hơn 20 quốc gia, sở hữu hơn 100 nhà máy sản xuất tại Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ cùng mạng lưới xuất khẩu đến hơn 50 quốc gia. Với đội ngũ hơn 10.000 nhân viên trên toàn cầu, De Heus hỗ trợ hàng ngàn nông dân chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản - những người sản xuất thịt, sữa, trứng và cá - thông qua việc cung cấp thức ăn chăn nuôi chất lượng cao, chuyên môn

dinh dưỡng và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật phù hợp với từng trang trại. Trụ sở chính của Tập đoàn được đặt tại Ede, Hà Lan.

Với sứ mệnh “Nuôi dưỡng thế hệ tương lai”, De Heus cam kết đóng góp vào việc đảm bảo nguồn thực phẩm an toàn, bổ dưỡng, bền vững và có giá cả phải chăng cho dân số toàn cầu đang ngày càng gia tăng.

Mỗi ngày, chúng tôi nỗ lực tối ưu hóa hiệu quả chuyển hóa thức ăn thành protein động vật, với mục tiêu duy nhất là nâng cao hiệu quả kinh doanh cho khách hàng – những người sản xuất thịt, sữa, trứng và cá. Chúng tôi không chỉ cung cấp sản phẩm chất lượng cao mà còn mang đến các dịch vụ và kiến thức chuyên sâu về dinh dưỡng vật nuôi, kỹ thuật chăn nuôi và khoa học vật nuôi, giúp khách hàng nâng cao hiệu quả và tiếp cận tiến bộ công nghệ. Đây chính là khác biệt mà De Heus tạo ra và

đang đóng góp tích cực vào quá trình chuyên nghiệp hóa ngành chăn nuôi cũng như nuôi trồng thủy sản tại địa phương.

của chúng tôi – đạt được thành công bền vững và hiệu quả kinh tế vượt trội.

Song song đó, chúng tôi sẽ tiếp tục ưu tiên hỗ trợ khách hàng về đầu ra của vật nuôi, trứng, cá và sữa cho các nhà máy giết mổ, doanh nghiệp chế biến và các thương lái. Bên cạnh đó, nhờ hợp tác với các ngân hàng đối tác chiến lược, chúng tôi đã phát triển thêm nhiều sản phẩm tài chính mới để đồng hành cùng khách hàng. De Heus cam kết đặt lợi ích của khách hàng lên hàng

đầu, đồng thời xây dựng các hệ sinh thái nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho khách hàng. Ông Gabor Fluit, Tổng Giám

đốc Tập đoàn Hoàng gia De Heus, chia sẻ: “Thương vụ này

đánh dấu một cột mốc quan

trọng trong chiến lược dài hạn

Thông qua hợp tác chặt chẽ với nông dân, hệ thống đại lý và các đối tác chiến lược, De Heus không ngừng mở rộng đầu tư vào chuỗi giá trị nông nghiệp – thực phẩm của Việt Nam

nhằm củng cố vị thế của chúng

tôi tại châu Á. Bằng việc kết

hợp chuyên môn vững chắc và

mối quan hệ khách hàng của

CJ Feed & Care với kinh nghiệm hơn một thế kỷ của De Heus

trong lĩnh vực dinh dưỡng động

vật và quản lý trang trại, chúng

tôi có thể thúc đẩy tăng trưởng

và mang lại nhiều giá trị hơn nữa

cho người chăn nuôi trong khu

vực. Chúng tôi sẽ cùng nhau kiến

tạo một tương lai nơi người chăn

nuôi và cộng đồng của họ có thể

DE HEUS VIỆT NAM

Kể từ khi gia nhập thị trường Việt Nam vào năm 2008, De Heus đã không ngừng thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ để trở thành một trong những nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn và thành công nhất tại Việt Nam.

Giá trị cốt lõi của De Heus nằm ở việc cung cấp các sản phẩm thức ăn chăn nuôi chất lượng cao cùng với các dịch vụ lấy khách hàng làm trung tâm như: quản lý trang trại, chăm sóc sức khỏe vật nuôi, an toàn sinh học, giảm sử dụng kháng sinh và tư vấn thiết kế trang trại. Kết hợp với sự đầu tư chiến lược vào lĩnh vực giống vật nuôi và vai trò tích cực trong hợp tác chuỗi giá trị, De Heus đã đóng góp đáng kể vào quá trình chuyên nghiệp hóa ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản độc lập tại Việt Nam.

Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ:

Truyền thông quốc tế: Giám đốc Marketing, Truyền thông & Phát

triển bền vững Tập đoàn: jbelt@deheus.com

Truyền thông trong nước: cindy.ha@deheus.com

phát triển mạnh mẽ, và đóng góp vào sự phát triển bền vững, lâu

dài của ngành đạm động vật.”

Ông Johan van den Ban, Tổng

Giám đốc De Heus Việt Nam & châu Á, chia sẻ: “ Việt Nam tiếp tục là thị trường trọng điểm trong chiến lược của chúng tôi tại châu Á. Cột mốc quan trọng này càng củng cố cam kết của

chúng tôi trong việc hỗ trợ ngành chăn nuôi đang phát triển nhanh chóng của Việt Nam, đồng thời nâng cao khả năng cung cấp các

giải pháp tích hợp toàn diện – từ thức ăn chất lượng, con giống vượt trội đến dịch vụ tại trang trại và hỗ trợ tài chính. Thông qua việc hợp tác chặt chẽ với người chăn nuôi, đại lý, nhà đầu tư và các đối tác công, cùng sự hợp tác từ các đối tác chiến lược như Topigs Norsvin, Bel Gà, Orvia và Tập đoàn Hùng Nhơn, De Heus tiếp tục đầu tư vào chuỗi giá trị nông nghiệp – thực phẩm, giúp đảm bảo nguồn cung ổn định về con giống chất lượng cao, bao gồm heo con, gà giống một ngày tuổi và vịt giống một ngày tuổi, đồng thời thúc đẩy việc tuân thủ các quy định và các hoạt động thân thiện với môi trường trên toàn khu vực.”

Deheus

De Heus - Hùng Nhơn

Kiến tạo chuỗi giá trị nông nghiệp

minh

bạch cho thập niên phát triển mới

Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chuyển mạnh

sang hướng xanh, minh bạch và hội nhập quốc tế,

việc xây dựng các chuỗi giá trị tích hợp đang trở

thành xu hướng tất yếu. Hợp tác chiến lược giữa

De Heus và Hùng Nhơn giai đoạn 2026–2036 được

kỳ vọng góp phần hình thành hệ sinh thái chăn nuôi

hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi nước ta.

Hình thành mô hình liên kết nông nghiệp quy mô lớn

Nông nghiệp Việt Nam đang

bước vào giai đoạn chuyển đổi

sâu rộng, khi yêu cầu về chất

lượng, truy xuất nguồn gốc và

phát triển bền vững ngày càng

trở nên cấp thiết. Do vậy, việc

xây dựng các chuỗi giá trị nông

nghiệp khép kín, ứng dụng công

nghệ cao và liên kết chặt chẽ

giữa các thành phần trong chuỗi

đang trở thành hướng đi tất yếu.

Một trong những mô hình tiêu biểu cho xu hướng này là sự hợp tác giữa De Heus – tập đoàn dinh

dưỡng vật nuôi hàng đầu thế giới đến từ Hà Lan – và Hùng Nhơn Group – doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.

Hai doanh nghiệp đã công bố

chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững giai đoạn 2026–2036, tái khẳng định cam kết đầu tư lâu dài tại Việt Nam và đồng hành cùng người chăn nuôi trong quá trình hiện đại hóa ngành chăn nuôi.

Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, nông nghiệp Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, trong đó vai trò của khu vực doanh nghiệp ngày càng được khẳng

định. Theo ông, bên cạnh hệ thống chính sách và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, các doanh nghiệp đang trở thành lực lượng dẫn dắt quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hình thành các chuỗi liên kết sản xuất bền vững.

“Sự hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn là mô hình tiêu biểu trong việc xây dựng chuỗi sản xuất chăn nuôi hiện đại, ứng dụng công nghệ cao và bảo đảm an toàn sinh học”, Thứ trưởng khẳng định.

Ông cũng cho rằng, khi các doanh nghiệp, ngân hàng, hợp tác xã và người nông dân cùng tham gia vào chuỗi liên kết, năng suất và chất lượng sản phẩm sẽ được nâng cao, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển nông nghiệp xanh và bền vững. Tham dự sự kiện, ông Kees van Baar, Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam chia sẻ, Hà Lan và Việt Nam có

nhiều tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là trong phát triển chăn nuôi, quản lý chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị sản phẩm.

“Những mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước, như sự hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn Group, đang góp phần thúc

đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao tính minh bạch của chuỗi sản xuất và tạo ra các sản phẩm thực phẩm an toàn, bền vững cho thị trường”, ông nhấn mạnh.

Hình thành hệ sinh thái chăn nuôi – chế biến quy mô lớn

Trên thực tế, hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn Group đã

được triển khai từ nhiều năm

trước thông qua hàng loạt dự án chăn nuôi công nghệ cao tại khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Hai bên hiện đang triển

khai 15 dự án tại Tây Ninh và khu vực Tây Nguyên với tổng vốn đầu

tư khoảng 12.400 tỷ đồng.

Trong đó, tỉnh Tây Ninh được xác định là địa bàn trọng điểm của chuỗi liên kết với 12 dự án, tổng vốn đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng, đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành hệ sinh thái chăn nuôi – chế biến – xuất khẩu quy mô lớn.

Các dự án này được xây dựng theo mô hình chăn nuôi công nghiệp hiện đại, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp như tự động hóa trong quản lý trang trại, hệ thống kiểm soát an toàn sinh học nghiêm ngặt và các tiêu chuẩn sản xuất quốc tế.

Khi toàn bộ hệ thống đi vào vận hành, chuỗi dự án dự kiến đạt quy mô 80 triệu gà giống mỗi năm, 25 triệu gà thịt phục vụ xuất khẩu mỗi năm và 10.000 con heo cụ kỵ, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.

Điểm nhấn đáng chú ý trong chuỗi dự án là nhà máy giết mổ

và chế biến gia cầm công nghệ

cao, sử dụng dây chuyền hiện đại từ châu Âu, đáp ứng nhiều tiêu

chuẩn quốc tế như Halal, ISO

22000 và FSSC 22000. Không

chỉ góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm chăn nuôi, dự án này còn mở ra cơ hội lớn

để sản phẩm gia cầm Việt Nam tiếp cận các thị trường xuất khẩu có yêu cầu khắt khe.

Việt Nam trong chiến lược

toàn cầu của De Heus

Ông Gabor Fluit, Tổng Giám

đốc Tập đoàn Hoàng gia De Heus cho biết, Việt Nam hiện là

một trong những thị trường quan trọng nhất của tập đoàn trên toàn cầu. Sau khi De Heus hoàn

tất việc tiếp nhận hoạt động của

CJ Feed & Care tại châu Á, vai trò

của Việt Nam trong chiến lược phát triển của tập đoàn càng trở nên nổi bật.

“Chúng tôi nhìn thấy ở Việt

Nam rất nhiều tiềm năng phát triển. Dù còn không ít thách thức, nhưng nếu nhìn về dài hạn, đây là thị trường có cơ hội rất lớn cho ngành chăn nuôi và nông nghiệp”, ông bày tỏ.

Thời gian tới De Heus sẽ tiếp tục phát triển các chuỗi liên kết trong ngành chăn nuôi thông qua hợp tác với những đối tác chiến lược tại Việt Nam, trong đó

Hùng Nhơn là một trong những

đối tác quan trọng. Bên cạnh

đó, tập đoàn sẽ mở rộng các mô hình sản xuất ứng dụng công

nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả và giá trị cho toàn bộ chuỗi.

Một yếu tố khác được lãnh đạo

De Heus đặc biệt nhấn mạnh là vai trò của hệ thống tài chính.

Theo ông Gabor, để chuỗi giá trị phát triển bền vững, cần có sự tham gia của các ngân hàng và tổ chức tài chính nhằm hỗ trợ

người chăn nuôi tiếp cận nguồn vốn và công nghệ.

Ở góc độ điều hành tại khu vực, ông Johan van den Ban – Tổng

Giám đốc De Heus Việt Nam và

châu Á cho rằng, phát triển chuỗi

giá trị bền vững là nền tảng cho

sự phát triển lâu dài của ngành

chăn nuôi Việt Nam.

Ông Johan cho biết, De Heus sẽ tiếp tục đầu tư vào hệ thống con giống chất lượng cao và cung cấp các giải pháp dinh dưỡng, kỹ thuật giúp người

chăn nuôi giảm chi phí sản xuất.

Trong bối cảnh ngành chăn nuôi

đang đối mặt với nhiều rủi ro như dịch bệnh, biến động thị trường và yêu cầu ngày càng cao về an toàn sinh học, việc xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ trở nên đặc biệt quan trọng. Thông qua các chuỗi liên kết này, người chăn nuôi có thể cải thiện hệ thống trang trại, nâng cao tiêu

chuẩn an toàn sinh học và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.

Minh bạch hóa chuỗi giá trị “từ trang trại đến bàn ăn” Ông Vũ Mạnh Hùng – Chủ tịch Hội đồng quản trị Hùng Nhơn Group cho rằng, minh bạch hóa chuỗi giá trị là yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Theo đó, toàn bộ các khâu từ sản xuất thức ăn chăn nuôi, con giống, trang trại đến chế biến và xuất khẩu cần được kết nối thông tin và quản lý minh bạch.

“Chúng tôi hướng tới từng bước ứng dụng chuyển đổi số để người tiêu dùng, cơ quan quản lý và báo chí có thể kiểm chứng rõ ràng nguồn gốc sản phẩm,” ông cho biết.

Ông nhấn mạnh thêm, sự tham gia của các doanh nghiệp FDI không phải là sự cạnh tranh mà là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam học hỏi công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, để chuỗi liên kết phát triển bền vững, nông dân và hợp tác xã cần cam kết minh bạch và tôn trọng hợp đồng, bởi uy tín là yếu tố quan trọng để duy trì hợp tác lâu dài.

Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ, các mô hình liên kết quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và minh bạch hóa chuỗi giá trị đang trở thành hướng đi tất yếu. Sự hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn vì vậy không chỉ mang ý nghĩa đối với hai doanh nghiệp, mà còn được kỳ vọng góp phần định hình mô hình chuỗi giá trị chăn nuôi hiện đại cho Việt Nam trong thập niên phát triển mới.

Thùy Khánh (Bài và ảnh)

Xung đột Trung Đông rung chuyển chuỗi cung ứng

Năm 2026 mở đầu bằng một cú sốc địa chính trị lớn khi chiến sự giữa Mỹ, Israel và Iran leo thang, kéo theo những biến động

mạnh trên thị trường năng lượng và vận tải biển toàn cầu. Việc nhiều hãng tàu lớn tạm dừng hoặc chuyển hướng tuyến qua eo biển Hormuz, nơi chiếm khoảng 20% lưu lượng dầu thô thế giới, đã khiến chi phí nhiên liệu và cước vận chuyển quốc tế tăng trở lại sau giai đoạn ổn định ngắn ngủi cuối năm 2025. Đối với ngành thủy sản, tác động không nằm ở nguồn cung nguyên liệu mà chủ yếu ở khâu logistics. Nhiều tuyến vận chuyển từ châu Á sang châu Âu buộc phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng thay vì qua Biển Đỏ và kênh đào Suez, khiến thời gian vận chuyển kéo dài thêm từ một đến hai tuần. Điều này đặc biệt bất lợi đối với các mặt hàng thủy sản tươi và đông lạnh có vòng đời thương mại ngắn. Xuất khẩu cá hồi sang khu vực Trung Đông và Bắc Phi, thị trường tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2023-2025, đang đối mặt với nguy cơ gián đoạn khi nhiều cảng biển trong khu vực tạm thời đóng cửa hoặc hạn chế tiếp nhận container lạnh. Trong khi đó, thị trường tôm tuy chưa chịu tác động trực tiếp về nhu cầu, nhưng các nhà xuất khẩu lớn như Việt Nam, Ấn Độ và Indonesia vẫn phải đối mặt với chi phí vận chuyển cao hơn và thời gian giao hàng kéo dài khi các tàu container tránh tuyến Biển Đỏ.

Ở chiều ngược lại, một số phân khúc lại có cơ hội tăng trưởng. Cá ngừ đóng hộp, mặt hàng có giá phải chăng và thời hạn bảo quản dài, đang ghi nhận nhu cầu tăng tại nhiều thị trường Trung Đông trong bối cảnh người tiêu dùng ưu tiên các sản phẩm thực phẩm dự trữ. Tuy nhiên, về tổng thể, xung đột địa chính trị đang tạo ra một phụ phí rủi ro mới cho thương mại thủy sản toàn cầu, từ chi phí bảo hiểm chiến tranh cho container đến biến động giá nhiên liệu.

Bất ổn chính sách thuế Mỹ Song song với căng thẳng địa chính trị, thị trường thủy sản toàn cầu còn chịu tác động từ những biến động trong chính sách thuế của Mỹ - thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới.

Sau gần một năm ngành thủy sản dần thích nghi với các mức thuế mới được áp dụng

trong năm 2025, phán quyết của tòa án Mỹ cho rằng, nhiều mức thuế trong chính sách thương mại của chính quyền Tổng thống

Donald Trump có thể không hợp pháp đã bất ngờ đưa thị trường quay trở lại trạng thái bất định. Chính sự thiếu chắc chắn này, chứ không chỉ bản thân mức thuế, đang gây ra những tác động sâu rộng hơn đối với chuỗi cung ứng thủy sản.

Theo các chuyên gia thị trường, tác động của sự bất định này thậm chí còn nghiêm trọng hơn bản thân mức thuế, bởi nó làm tê liệt các quyết định đầu tư và marketing trong chuỗi cung ứng thủy sản. Một khảo sát của Interactive Advertising Bureau (IAB) cho thấy 94% nhà quảng cáo tại Mỹ lo ngại thuế quan sẽ khiến chi tiêu quảng cáo bị cắt giảm , trong khi 45% doanh nghiệp dự định giảm ngân sách quảng cáo do rủi ro thương mại. Điều này đặc biệt bất lợi đối với thủy sản - nhóm protein có giá cao nhất so với thịt gà, thịt heo hay thịt bò vốn phụ thuộc nhiều vào các chương trình khuyến mại để duy trì sức tiêu thụ. Các nhà nhập khẩu và bán lẻ Mỹ phụ thuộc rất lớn vào khả năng dự báo chi phí trước nhiều tháng để lên kế hoạch quảng cáo, khuyến mại và ký hợp đồng nhập khẩu. Khi mức thuế có thể thay đổi bất cứ lúc nào, giá nhập khẩu trở nên khó dự đoán, khiến nhiều doanh nghiệp không dám cam kết mức giá cho các chương trình khuyến mại trong tương lai.

Thị trường tôm là ví dụ rõ nét nhất cho tác động của chính sách thuế bất định. Tôm chiếm tới 94% lượng nhập khẩu trong phân khúc tôm đông lạnh bán lẻ tại Mỹ, nhưng giá bán lẻ trong tháng 1/2026 đã tăng khoảng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lượng tiêu thụ giảm 11%. Sự kết hợp giữa giá cao và thiếu các chương trình khuyến mại đã khiến nhu cầu suy yếu rõ rệt, thậm chí ngay cả trong những giai đoạn mua sắm cao điểm.

Sự bất ổn về thuế còn làm thay đổi cán cân cạnh tranh giữa các nhà cung cấp. Năm 2025, khi các đối thủ châu Á chịu mức thuế cao hơn, Ecuador đã tận dụng cơ hội để tăng mạnh xuất khẩu tôm sang Mỹ, với kim ngạch tăng khoảng 26% so với năm 2024, đồng thời vươn lên trở thành nhà cung cấp lớn nhất theo từng tháng. Tuy nhiên, khi các mức thuế bổ sung đối với tôm Ấn Độ

ràng, lợi thế này có thể nhanh chóng thay đổi, khiến thị trường tôm tiếp tục đối mặt với rủi ro biến động.

Kỷ nguyên quản trị rủi ro

Trong bối cảnh địa chính trị và chính sách thương mại đều khó dự đoán, năm 2026 được dự báo sẽ là giai đoạn ngành thủy sản toàn cầu chuyển sang mô hình kinh doanh thận trọng hơn, với trọng tâm là quản trị rủi ro chuỗi cung ứng.

Trước hết, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đang tìm cách đa dạng hóa thị trường thay vì phụ thuộc quá lớn vào Mỹ hoặc châu Âu. Các thị trường Trung Đông, Đông Nam Á và Nam Mỹ dù quy mô nhỏ hơn lại được xem là những điểm đến bổ sung giúp giảm rủi ro thương mại.

Thứ hai, chiến lược logistics cũng đang được điều chỉnh mạnh. Nhiều nhà xuất khẩu tăng dự trữ hàng tại các trung tâm phân phối ở gần thị trường tiêu thụ, nhằm giảm thiểu rủi ro chậm trễ vận chuyển. Đồng thời, việc ký hợp đồng vận tải dài hạn hoặc sử dụng nhiều tuyến vận chuyển thay thế cũng trở thành xu hướng phổ biến.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến quản trị chi phí và tối ưu hóa chuỗi giá trị, từ cải thiện hiệu quả nuôi trồng đến đầu tư vào công nghệ bảo quản, chế biến sâu và sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Những sản phẩm có thời hạn bảo quản dài, linh hoạt về vận chuyển như thủy sản đóng hộp hoặc chế biến được dự báo sẽ tiếp tục tăng thị phần trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu thiếu ổn định.

Dù đối mặt với nhiều thách thức, nhu cầu tiêu thụ thủy sản toàn cầu về dài hạn vẫn được đánh giá tích cực nhờ xu hướng tiêu dùng thực phẩm lành mạnh và nguồn cung protein bền vững. Tuy nhiên, năm 2026 có thể sẽ là một năm thử thách đối với ngành, khi các doanh nghiệp buộc phải thích nghi nhanh với một môi trường thương mại ngày càng phức tạp và khó dự đoán.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 17,1% trong 2 tháng đầu năm 2026

Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2026 đạt 11,3 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với giá trị đạt 6,09 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ. Xuất khẩu thủy sản đạt 1,76 tỷ USD, tăng 23,3%, ghi nhận mức tăng khá nhờ nhu cầu ổn định từ nhiều thị trường nhập khẩu. Bên cạnh đó, lâm sản đạt kim ngạch 2,82 tỷ USD, tăng 7,4%. Đáng chú ý, nhóm sản phẩm chăn nuôi đạt 140,7 triệu USD, tăng mạnh 84,3% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù giá trị tuyệt đối chưa lớn, nhưng mức tăng trưởng này cho thấy tiềm năng mở rộng của ngành chăn nuôi trong hoạt động xuất khẩu.

khẩu tôm khởi sắc đầu năm

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), tháng 1/2026, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 379,6 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy tín hiệu phục hồi tích cực của đơn hàng ngay từ đầu năm. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ các thị trường châu Á. Trong đó, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất với kim ngạch 129,6 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ. Nhật Bản đạt 44,8 triệu USD, tăng 31%, nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng trước dịp Tết Nguyên đán. Xuất khẩu sang Mỹ đạt 43,8 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ nhưng giảm nhẹ so với tháng trước.

Hà Tĩnh

Ngư dân trúng đậm cá trích gần bờ

Những ngày gần đây, ngư dân tại các xã ven biển Thạch Lạc và Đồng Tiến (Hà Tĩnh) liên tiếp khai thác được nhiều cá trích trong các chuyến biển gần bờ, mang lại nguồn thu khá trong thời điểm đầu năm. Theo ghi nhận, cá trích sau khi được gỡ khỏi lưới sẽ được rửa sơ bằng nước biển và tập kết tại bờ để bán cho thương lái. Giá thu mua hiện dao động khoảng 9.000 – 12.000 đồng/kg, tùy loại và thời điểm. Với sản lượng từ vài trăm kg đến gần 1 tấn mỗi chuyến, nhiều tàu thuyền có thể thu về vài chục triệu đồng.

Thanh Hóa

 Sứa biển vào mùa, giá 25.000 – 30.000 đồng/con

Những ngày đầu tháng 3, sứa biển xuất hiện nhiều tại các xã ven biển Thanh Hóa, tạo nguồn thu đáng kể cho ngư dân địa phương. Theo ghi nhận, giá sứa tươi hiện dao động khoảng 25.000 – 30.000 đồng/con, giúp nhiều tàu thuyền nhỏ thu về tiền triệu chỉ sau vài giờ ra khơi.Tại khu vực phường Nam Sầm Sơn, sứa năm nay dạt vào gần bờ nên việc khai thác khá thuận lợi. Mỗi chuyến biển kéo dài khoảng 3 – 4 giờ, một thuyền nhỏ 3 lao động có thể vớt được hơn 200 con sứa. Với mức giá hiện tại, mỗi chuyến đi có thể mang lại nguồn thu vài triệu đồng, góp phần cải thiện thu nhập cho ngư dân trong giai đoạn đầu năm. Dù giá trị kinh tế không cao bằng một số loài hải sản như cá thu hay cá chim, sứa biển có ưu điểm là dễ khai thác, chi phí thấp và ít rủi ro.

 Ngư dân vào mùa cá trích đầu năm

Những ngày đầu năm, ngư dân tại các làng chài ven biển Thanh Hóa

bước vào vụ khai thác cá trích với không khí nhộn nhịp. Theo ghi nhận, cá trích xuất hiện nhiều gần bờ nên việc khai thác khá thuận lợi. Với những thuyền nhỏ chỉ 2 lao động, mỗi chuyến biển có thể đánh bắt gần

2 tạ cá; những ngày biển thuận, sản lượng có thể đạt tới vài tấn. Hiện cá trích được thương lái thu mua với giá khoảng 14.000 – 20.000 đồng/ kg. Với mức giá này, mỗi chuyến ra khơi ngư dân có thể thu về khoảng

2 triệu đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 1 triệu đồng, góp phần tạo động lực để bà con tiếp tục bám biển trong mùa khai thác đầu năm.

Đà Nẵng

Ngư dân gặp khó vì giá nhiên liệu tăng

Những ngày gần đây, giá nhiên liệu tăng cao khiến nhiều ngư dân Đà Nẵng gặp khó khi bước vào vụ khai thác hải sản đầu năm 2026. Với hơn 4.200 tàu thuyền các loại, trong đó có nhiều tàu công suất lớn chuyên khai thác dài ngày trên biển, nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu của địa phương rất lớn. Theo các chủ tàu, chi phí nhiên liệu hiện tăng mạnh khiến mỗi chuyến biển phải gánh thêm khoản chi đáng kể. Đối với tàu khai thác xa bờ, chi phí phát sinh có thể lên tới vài chục triệu đến cả trăm triệu đồng mỗi ngày, làm giảm đáng kể hiệu quả kinh tế của chuyến biển. Trước áp lực chi phí, nhiều tàu cá đang tạm thời neo đậu tại cảng vì lo ngại thua lỗ nếu ra khơi. Ngư dân cho biết nếu giá nhiên liệu tiếp tục duy trì ở mức cao, không ít tàu buộc phải nằm bờ, ảnh hưởng đến thu nhập của chủ tàu và lao động đi biển.

ĐBSCL

Giá cá tra thương phẩm và cá giống cùng tăng

Những tháng đầu năm 2026, thị trường cá tra tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận xu hướng tăng giá rõ rệt. Cá tra nguyên liệu cỡ 0,8 – 1 kg/con hiện được thu mua ở mức 33.000 – 35.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 5.000 – 7.000 đồng/kg so với cuối năm 2025. Với chi phí sản xuất bình quân khoảng 24.000 – 26.000 đồng/kg, người nuôi có thể đạt lợi nhuận khoảng 8.000 – 10.000 đồng/kg. Cùng với cá thương phẩm, giá cá tra giống cũng tăng mạnh do nguồn cung hạn chế. Thời tiết lạnh và biến động khí hậu khiến tỷ lệ hao hụt trong quá trình ươm giống cao, làm nguồn giống trên thị trường trở nên khan hiếm. Hiện cá giống cỡ 100 con/kg có giá khoảng 1.000 đồng/con, trong khi loại 30 – 35 con/kg đạt 70.000 – 75.000 đồng/kg, có thời điểm vượt 90.000 đồng/kg.

Đồng Tháp

Giá cá tra nguyên liệu tăng

Tại Đồng Tháp, giá cá tra nguyên liệu những ngày gần đây tiếp tục nhích lên, dao động khoảng 33.500 – 34.000 đồng/kg, tăng khoảng 1.000 đồng/ kg so với hai tuần trước. Mức giá này giúp nhiều hộ nuôi cá trên địa bàn phấn khởi. Theo người nuôi, hoạt động thu mua của các doanh nghiệp chế biến đang duy trì ổn định nhờ đơn hàng xuất khẩu khá thuận lợi trong những tháng đầu năm. Nhu cầu nguyên liệu tăng đã góp phần đẩy giá cá tra tại địa phương đi lên, tạo thêm động lực cho người nuôi tiếp tục thả nuôi trong thời gian tới.

Trung Quốc Giá mực ống lao dốc

Chỉ số giá mực tại Trung Quốc đang bước vào giai đoạn điều chỉnh mạnh khi nguồn cung tăng cao và nhu cầu quốc tế chậm lại. Theo dữ liệu từ công ty Zhejiang Zhoushan, tính đến ngày 13/2/2026, chỉ số giá mực tại bốn ngư trường khai thác xa bờ chính đều giảm đáng kể so với mức đỉnh năm 2025. Mức giảm mạnh nhất ghi nhận tại khu vực Ấn Độ Dương với 36,01%, tiếp theo là Đông Nam Thái Bình Dương giảm 35,29%, nơi cung cấp chủ yếu loài mực khổng lồ Dosidicus gigas –nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến xuất khẩu của Trung Quốc. Trong khi đó, khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, nơi khai thác mực

Nhật Bản Todarodes pacificus, giảm 14,72%, còn Tây Nam Đại Tây

Dương - nguồn cung mực Argentina Illex argentinus chỉ giảm 8,49%.

Các chuyên gia cho rằng thị trường đang bước vào chu kỳ quen thuộc: sản lượng tăng, tồn kho tích lũy và giá điều chỉnh khi nhu cầu chậm lại. Diễn biến giá trong nửa cuối năm 2026 sẽ phụ thuộc vào sản lượng

khai thác, tồn kho tại Trung Quốc và tốc độ phục hồi tiêu thụ tại các thị trường châu Á và châu Âu.

Xuất khẩu tôm lập kỷ lục Ngành tôm Ấn Độ ghi dấu mốc lịch sử năm 2025 khi kim ngạch xuất khẩu đạt 5,66 tỷ USD, tăng 14% so với năm trước, trong khi sản lượng đạt 796.374 tấn, tăng 9%. Đà tăng trưởng mạnh nhất diễn ra từ tháng 3 đến tháng 7, với tháng 5 đạt sản lượng cao nhất năm, gần 78.800 tấn. Tuy nhiên, nhu cầu từ Mỹ suy yếu khiến xuất khẩu tháng 12 giảm 9% về lượng và 12% về giá trị. Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất của tôm Ấn Độ với 276.348 tấn, nhưng lượng nhập giảm 9% do áp lực thuế quan. Sự sụt giảm này được bù đắp nhờ tăng trưởng tại các thị trường khác. Trung Quốc nhập 154.291 tấn, tăng 10%; EU tăng mạnh 39% lên 119.748 tấn; Việt Nam tăng đột biến 61% đạt 69.292 tấn; Nhật Bản tăng 6%. Cơ cấu sản phẩm cũng chuyển dịch sang giá trị cao hơn khi tôm thẻ chân trắng vẫn chiếm chủ lực với hơn 605.000 tấn, còn tôm sú tăng mạnh 36%. Sản phẩm tôm chế biến tăng 14%, cho thấy xu hướng mở rộng thị trường và nâng cấp giá trị đang giúp ngành tôm Ấn Độ duy trì đà tăng trưởng.

Nhật Bản

Giá cá ngừ đông lạnh bứt phá, cá tươi giảm giá

Tuần 9/2026 (23/2-1/3), thị trường cá ngừ tại Toyosu ở Tokyo ghi nhận sự phân hóa rõ rệt giữa phân khúc cá tươi và cá đông lạnh. Theo World Food Network, giá cá ngừ vây xanh đông lạnh tăng mạnh 38% so với tuần trước, trở thành phân khúc cao cấp tăng giá mạnh nhất từ đầu năm. Ngược lại, cá ngừ vây xanh tự nhiên tươi tiếp tục suy yếu do nhu cầu tiêu thụ mùa đông thấp. Giá đấu trung bình cá trên 40 kg tại Toyosu giảm xuống 55,35 USD/kg, thấp hơn 10% so với tuần trước. Nguồn cung cũng dịch chuyển từ vùng Aomori xuống Fukushima, song nhiều lô cá cỡ nhỏ vẫn khó tiêu thụ. Trong khi đó, nguồn cá ngừ vây xanh đông lạnh từ vùng biển Ireland và Bắc Đại Tây Dương giúp giá tăng mạnh, cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ trong thị trường cá ngừ cao cấp của Nhật Bản.

Italy

Tăng tốc xuất khẩu cá ngừ nhờ thị trường Trung Quốc

Italy đang ghi nhận động lực tăng trưởng mới trong xuất khẩu hải sản chế biến khi nhu cầu mạnh từ Trung Quốc thúc đẩy doanh số của các doanh nghiệp nội địa. Tập đoàn cá ngừ đóng hộp Callipo Group hàng đầu của Italy cho biết thị trường Trung Quốc là động lực tăng trưởng lớn nhất trong chiến lược mở rộng quốc tế. Theo tạp chí Food World, Callipo vừa công bố kế hoạch đầu tư 15 triệu euro (khoảng 16,2 triệu USD) để nâng cấp và mở rộng năng lực sản xuất, hướng tới mục tiêu doanh thu 112 triệu euro vào năm 2025, tăng so với 100 triệu euro năm trước. Mảng hải sản đóng hộp tiếp tục giữ vai trò trụ cột với doanh thu 93,2 triệu euro, tăng 4,5% và sản lượng đạt 9.640 tấn. Riêng tại Trung Quốc, doanh số năm 2025 đạt 8,7 triệu euro, tăng mạnh 39,1% so với cùng kỳ; 95% trong số đó đến từ các sản phẩm mang thương hiệu Callipo.

Mỹ

 Nhập khẩu tôm giảm tốc

Nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 12/2025 giảm khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tổng khối lượng các dòng sản phẩm giảm khoảng 11%. Tuy nhiên, lũy kế cả năm 2025 vẫn cao hơn khoảng 4% so với năm 2024. Xu hướng theo nguồn cung có sự phân hóa rõ rệt: nhập khẩu từ Ấn Độ giảm 19% dù có dấu hiệu phục hồi theo tháng; Ecuador tăng mạnh 25% nhờ nhu cầu cao đối với một số dạng sản phẩm; Indonesia giảm sâu tới 71% do tạm ngừng xuất khẩu từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 11; trong khi Việt Nam tăng 17% trong tháng nhưng vẫn thấp hơn khoảng 9% so với cùng kỳ năm trước. Giá tôm trên thị trường tăng khoảng 7% so với cùng kỳ, dẫn đầu là Ấn Độ (+13%), Indonesia (+9,3%) và Ecuador (+3,7%). Bước sang quý I/2026, các mô hình dự báo nhập khẩu tôm của Mỹ sẽ tiếp tục giảm nhưng ở mức một chữ số, trong bối cảnh giá thị trường đã tăng khoảng 20% so với năm trước, qua đó phần nào kìm hãm nhu cầu tiêu thụ.

 Giá cá ngừ vây vàng đông lạnh duy trì ổn định

Nhập khẩu cá ngừ vây vàng đông lạnh của Mỹ trong năm 2025 duy trì ổn định, tiếp tục bám sát xu hướng của 5 năm gần đây. Tổng lượng nhập khẩu đạt 91,9 triệu pound, giảm 3,5% so với năm 2024 nhưng vẫn nằm trong biên độ quen thuộc của thị trường. Nguồn cung chủ yếu đến từ Indonesia và Vietnam, hai quốc gia tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn và duy trì nhịp xuất khẩu ổn định bất chấp những điều chỉnh về chính sách thương mại. Trước đây, cá ngừ từ Indonesia chịu thuế 19% và từ Việt Nam 20%, song nhiều khả năng mức thuế mới theo Section 122 tariffs đã thay thế cơ chế cũ, chuyển sang khung thuế thống nhất khoảng 10%. Dù là thay đổi về cấu trúc chính sách, tác động bước đầu được đánh giá chủ yếu mang tính thủ tục và thị trường đã nhanh chóng thích ứng. Diễn biến đáng chú ý nhất là giá nhập khẩu hầu như ít biến động. Giá trung bình năm 2025 đạt 4,89 USD/pound, so với 5,12 USD năm 2024 và 5,56 USD năm 2023. Sự ổn định này một phần nhờ các nhà cung cấp quốc tế chủ động điều chỉnh giá và biên lợi nhuận, qua đó hạn chế việc chuyển chi phí sang người mua tại Mỹ.

Phụ gia tăng cường sức khỏe

nâng cao lợi nhuận nuôi cá hồi vân

Trước áp lực chi phí, môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, sức khỏe cá đang trở thành yếu tố then chốt quyết định hiệu quả và lợi nhuận trong nuôi cá hồi. Bổ sung phụ gia chức năng giúp tăng miễn dịch, cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm rủi ro dịch bệnh.

Ngành nuôi cá hồi chịu sức ép lớn cả về kinh tế lẫn quy định quản lý, bao gồm biến động giá bột cá và dầu cá, các quy định xả thải ngày càng nghiêm ngặt và điều kiện khí hậu cực đoan gia tăng. Trong bối cảnh này, các chỉ số thành công truyền thống như tổng sản lượng sinh khối không còn đủ để đảm bảo lợi nhuận. Thay vào đó, trọng tâm đã chuyển sang hiệu quả sản xuất, tính ổn định và khả năng bảo toàn biên lợi nhuận. Việc cải thiện hiệu quả sinh học đồng thời giảm thiểu rủi ro trở thành ưu tiên hàng đầu trong nuôi cá hồi, với sức khỏe vật nuôi đóng vai trò cốt lõi.

Chìa khóa hiệu quả và lợi nhuận

Trước đây, sức khỏe cá trong nuôi cá hồi vân thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ dịch bệnh. Khi xảy ra dịch, người nuôi xử lý như những sự kiện riêng lẻ bằng kháng sinh hoặc các biện pháp điều trị khác. Tuy nhiên, trong hệ thống nuôi cá hồi quy mô công nghiệp hiện đại, cách tiếp cận này không còn phù hợp. Sức khỏe cá hiện được hiểu là một trạng thái sinh lý liên tục, quyết định mức độ hiệu quả mà cá có thể chuyển hóa thức ăn thành tăng trưởng, đồng thời tác động trực tiếp và tích lũy lên hiệu quả kinh tế.

Do chi phí thức ăn chiếm hơn một nửa tổng chi phí sản xuất, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) trở thành chỉ số tài chính then chốt, trong đó tình trạng sức khỏe của cá là yếu tố ảnh hưởng lớn. Tác động càng trở nên nghiêm trọng khi các vấn đề sức khỏe xuất hiện ở giai đoạn cuối chu kỳ nuôi. Tỷ lệ chết trong giai đoạn nuôi thương phẩm, đặc biệt khi cá gần đạt kích cỡ thu hoạch, có thể gây tổn thất kinh tế rất lớn. Tại nhiều trại nuôi cá hồi vân, rủi ro này thường tăng cao vào cuối mùa xuân và mùa hè, khi nhiệt độ nước tăng, mật độ sinh khối lớn và áp lực dịch bệnh từ các vi khuẩn như  Lactococcus garvieae trở nên mạnh hơn.

Bệnh lactococcosis, chủ yếu do

Lactococcus garvieae gây ra, phổ biến tại châu Âu và biểu hiện dưới dạng nhiễm trùng huyết xuất huyết cấp tính với tỷ lệ chết cao. Dịch bệnh thường bùng phát khi nhiệt độ nước vượt 16-18°C. Trong các đợt bùng phát tự nhiên, tỷ lệ chết có thể lên tới 70%, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi (Khalil và cộng sự, 2024).

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến diễn biến của các thách thức sức khỏe này. Là loài cá nước lạnh, cá hồi vân đặc biệt nhạy cảm với nhiệt độ cao; nhiệt độ tăng không chỉ làm giảm khả năng hòa tan ôxy trong nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Đồng thời, tình trạng thiếu ôxy kéo dài làm giảm lượng thức ăn tiêu thụ, ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và làm suy yếu hệ miễn dịch, khiến cá dễ mắc bệnh hơn. Trong những điều kiện như vậy, ngay cả các rối loạn sức khỏe nhỏ cũng có thể nhanh chóng chuyển thành suy giảm năng suất hoặc gia tăng tỷ lệ chết. Sự cộng hưởng giữa bệnh lactococcosis và stress nhiệt là ví dụ điển hình cho mối tương tác này (Khalil và cộng sự, 2024).

Phụ gia tăng sức khỏe Thức ăn chức năng bổ sung các phụ gia tăng cường sức khỏe đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi nhằm cải thiện khả năng chống chịu của cá, đồng thời giảm stress và áp lực dịch bệnh. Các phụ gia sức khỏe như axit hữu cơ hoặc phytobiotics (chiết xuất thảo dược) thường có thành phần phức tạp và nhiều cơ chế tác động khác nhau. Việc xây dựng sức bền sinh học cho cá cần bắt đầu từ giai đoạn sớm của chu kỳ nuôi, vì vậy việc bổ sung phụ gia sức khỏe mang tính phòng ngừa là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả đầu tư vào chiến lược quản lý sức khỏe. Về lâu dài, các biện pháp phòng ngừa này giúp ổn định sản xuất và duy trì lợi nhuận.

Hiện, hãng dinh dưỡng Adisseo đang cung cấp các sản phẩm hỗ trợ cá tăng cường khả năng chống chịu, giảm mức độ nhiễm bệnh và thích ứng tốt hơn với các thách thức trong quá trình nuôi. Việc nâng cao năng lực miễn dịch của cá hồi vân qua bổ sung phòng ngừa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì giúp tăng cường hệ phòng vệ tự nhiên của cá, giảm mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng và hạn chế tổn thất kinh tế trong nuôi trồng thủy sản. Lợi ích phòng ngừa của việc bổ sung phụ gia thể hiện rõ qua khả năng giảm mức độ nghiêm trọng của nhiễm bệnh. Trong một thử nghiệm kéo dài 8 tuần, việc sử dụng giải pháp sức khỏe của Adisseo trên cá hồi vân đã cải thiện đáng kể hiệu suất tăng trưởng: khối lượng cuối tăng 8%, tốc độ tăng trưởng đặc hiệu (SGR) tăng 9% và FCR giảm 12% so với nhóm đối chứng.

Sau khi gây nhiễm thử nghiệm bằng phương pháp ngâm với vi khuẩn Lactococcus garvieae, tỷ lệ chết lũy kế sau 14 ngày giảm từ 60% ở nhóm đối chứng xuống còn 40% ở nhóm được bổ sung phụ gia, tương đương mức cải thiện tỷ lệ sống lên tới 50% (Chen và cộng sự, 2025).

Các kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó cho thấy giải pháp của Adisseo giúp cá hồi vân kiểm soát stress và nhiễm trùng tốt hơn thông qua việc tăng cường khả năng chống ôxy hóa, nâng cao số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin, đồng thời cải thiện năng lực chống ôxy hóa của gan thông qua sự gia tăng hoạt động của các enzyme GPx và GR. Bên cạnh đó, sức khỏe đường ruột cũng được cải thiện rõ rệt với chiều cao nhung mao ruột lớn hơn, hoạt tính enzyme tiêu hóa tăng lên và hệ vi sinh đường ruột ổn định hơn, với tỷ lệ vi khuẩn có hại như  Aeromonas,  Yersinia,  Acinetobacter và  Streptococcus giảm xuống, trong khi vi khuẩn có lợi như  Lactobacillus gia tăng (Yarahmadia và cộng sự, 2023).

Các kết quả này cho thấy, phụ gia dinh dưỡng tăng cường sức khỏe không chỉ cải thiện hiệu suất tăng trưởng mà còn nâng cao khả năng chống chịu bệnh của cá.

Khoản đầu tư chiến lược Ngành nuôi cá hồi vân hiện đại vận hành trong bối cảnh chịu nhiều ràng buộc sinh học và kinh tế, trong đó hiệu quả và tính ổn định là yếu tố then chốt quyết định lợi nhuận. Trong hệ thống này, sức khỏe cá trở thành yếu tố sản xuất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng thức ăn, tỷ lệ sống và chất lượng sản phẩm.

Các chiến lược phòng ngừa dựa trên thức ăn chức năng, an toàn sinh học và quản lý môi trường giúp tăng cường sức bền sinh học của cá và giảm áp lực dịch bệnh. Khi được áp dụng như một phần của cách tiếp cận tích hợp, các phụ gia dinh dưỡng tăng cường sức khỏe có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng, qua đó bảo vệ hiệu suất sản xuất và giá trị kinh tế của ngành nuôi cá hồi.

Vai trò của Acid Gallic trong kiểm soát

vi bào tử trùng trong nuôi tôm

KAO đã hợp tác với Viện Nghiên

cứu Nuôi trồng Thủy sản

ShrimpVet tại Việt Nam để đánh

giá hiệu quả thực tế của giải pháp

này đối với vi bào tử trùng EHP.

EHP: Sát thủ thầm lặng bào mòn lợi nhuận

Trong số các tác nhân gây bệnh đe dọa ngành nuôi trồng thủy sản, vi bào tử trùng

Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) đã trở thành nguyên nhân chính gây ra sự bất ổn về tài chính. Khác với các loại virus và vi khuẩn gây bệnh cấp tính, EHP là “sát thủ thầm lặng” tấn công trực tiếp vào gan tụy, gây suy yếu cấu trúc các cơ quan tiêu hóa, dẫn đến tình trạng chậm lớn nghiêm trọng và sự phân đàn mạnh mẽ về kích cỡ tôm. Trên phạm vi toàn cầu, ước tính EHP gây thiệt hại hàng tỷ USD mỗi năm, đặc biệt là tại khu vực châu Á. Tại Việt Nam, nơi xuất khẩu tôm là trụ cột của nền kinh tế, tình trạng tôm chậm lớn và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) tăng cao do EHP đã đẩy chi phí sản xuất lên đáng kể, thường khiến các vụ nuôi rơi vào tình trạng không có lợi nhuận. Cuộc khủng hoảng này càng trở nên trầm trọng hơn khi EHP đóng vai trò tiền đề cho sự xuất hiện của bệnh phân trắng (WFD) trong ao nuôi. Khi EHP làm suy giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho vi khuẩn Vibrio tấn công thứ cấp, các tổn thương sinh lý hệ quả và bệnh phân trắng sẽ dẫn đến tỷ lệ tử vong tăng cao, có thể lên tới 30%. Mối quan hệ cộng hưởng này làm suy giảm nghiêm trọng khả năng trao đổi chất và tỷ lệ sống, biến EHP trở thành một trong những tác nhân gây bệnh khó kiểm soát và tốn kém nhất trong nghề nuôi tôm hiện đại.

Gallic Acid: Giải pháp mới trong kiểm soát EHP

Trong bối cảnh ngành nuôi tôm đang dần loại bỏ việc sử dụng các hóa chất độc hại, các chất phụ gia thức ăn có nguồn gốc tự nhiên đang trở thành lựa chọn hàng đầu để tăng cường miễn

dịch và phòng chống dịch bệnh. Xu hướng tìm

kiếm các giải pháp bền vững và thân thiện với môi trường đã thúc đẩy sự quan tâm đối với các hợp chất có nguồn gốc thực vật (phytogenic) trong tương lai của ngành nuôi tôm.

Gallic Acid - một hợp chất hữu cơ phenolic được tìm thấy chủ yếu dưới dạng gallotannin trong ngũ bội tử, lá trà và các loại trái cây như nho, lựu - đã khẳng định vai trò là một tác nhân kháng khuẩn và chống ôxy hóa mạnh mẽ. Mặc dù hiệu quả của hợp chất này trên gia súc, gia cầm đã được chứng minh rõ rệt, nhưng tiềm năng ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản vẫn là một lĩnh vực mới đầy hứa hẹn.

Nhận diện được khoảng trống này, KAO đã giới thiệu GA-100 BIO (dạng bột Acid Gallic), một giải pháp đột phá cho nuôi trồng thủy sản bền vững. Được sản xuất bằng công nghệ lên men vi sinh độc quyền, loại Acid Gallic có nguồn gốc từ đường này đảm bảo độ tinh khiết cao và chất lượng ổn định. Đây là một sự đổi mới kịp thời nhằm đối phó với các tác nhân gây bệnh thách thức như EHPvốn thường không được phát hiện cho đến khi gây ra thiệt hại đáng kể. Việc tích hợp GA-100 BIO vào các chiến lược cho ăn chủ động giúp người nuôi hướng tới mô hình sản xuất bền vững, tận dụng các hợp chất có hoạt tính sinh học để bảo vệ tôm khỏi

Hiệu quả của Acid Gallic trong việc đối phó với EHP KAO đã hợp tác với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản ShrimpVet tại Việt Nam để đánh giá hiệu quả thực tế của giải pháp này đối với vi bào tử trùng EHP. Mục tiêu của nghiên cứu là thử nghiệm khả năng hỗ trợ tỷ lệ sống và duy trì tăng trưởng của sản phẩm GA-100 BIO (nguồn gốc từ acid gallic) trên tôm thẻ chân trắng trong điều kiện gây nhiễm ký sinh trùng EHP. Do EHP rất khó điều trị một khi đã xâm nhiễm hoàn toàn, nhóm nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng sản phẩm như một chất phụ gia thức ăn chức năng. Bột acid gallic được phối trộn trực tiếp vào thức ăn tôm với các liều lượng xác định nhằm kiểm chứng giả thuyết: việc “tăng cường nội lực” từ bên trong sẽ giúp tôm có khả năng chống chịu tốt hơn. Nghiên cứu được thực hiện trong hệ thống bể 350L, sử dụng tôm giống có trọng lượng ban đầu khoảng 1g và nuôi trong 50 ngày. Phương pháp gây nhiễm được thực hiện qua đường miệng - con đường lây truyền phổ biến nhất của EHP trong ao nuôi - bằng cách cho tôm ăn viên thức ăn có bao phủ phân tôm đã nhiễm EHP trong vòng 7 ngày. Tỷ lệ sống và Khả năng kháng bệnh Sau giai đoạn gây nhiễm, nhóm “Đối chứng dương” (không xử lý) xuất hiện các

triệu chứng lâm sàng điển hình của EHP như: Đường ruột rỗng, vỏ mềm và mô gan tụy nhợt nhạt. Ngược lại, các nhóm được

bổ sung GA-100 BIO cho kết quả khả quan hơn rõ rệt. Kết thúc 28 ngày sau gây nhiễm, nhóm tôm sử dụng GA-100 BIO với liều lượng 2.0% đạt tỷ lệ sống trên 80%, cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng.

Hiệu suất tăng trưởng

Kết quả đáng chú ý nhất được ghi nhận ở

khả năng tăng trưởng và độ đồng đều về kích cỡ. Mặc dù EHP vốn nổi tiếng với việc gây ra tình trạng phân đàn, GA-100 BIO đã giúp giảm thiểu tác động này thông qua:

- Tăng trọng vượt trội: Nhóm bổ sung 2.0% GA-100 BIO đạt trọng lượng cuối và tổng sinh khối cao nhất.

- Cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn: Nhóm tôm này có hệ số chuyển đổi thức ăn (cả FCR kinh tế và FCR sinh học) thấp hơn đáng kể, cho thấy khả năng chuyển hóa thức ăn thành sinh khối hiệu quả hơn dù đang trong điều kiện nhiễm EHP.

- Độ đồng đều kích cỡ cao: Trong khi nhóm

đối chứng tăng trưởng không đều, các nhóm

sử dụng GA-100 BIO (0.5% và 2.0%) duy trì hệ

số biến thiên (CV) thấp hơn, phản ánh sự tăng

trưởng ổn định - một yếu tố then chốt quyết

định giá trị thương phẩm khi thu hoạch.

Khả năng ức chế nhiễm trùng

Khi phân tích mẫu gan tụy bằng phương pháp qPCR để xác định tác động của GA100 BIO lên mật độ tác

Hình 3. Các chỉ số tăng trưởng của tôm (tỷ lệ sống, tăng trọng, tăng trưởng sinh khối, ADG, SGR, FCR) trong thử nghiệm gây nhiễm EHP có bổ sung GA-100 BIO.

Hình 4. Mật độ hạt vi bào tử trùng EHP trong gan tụy được xác định bằng phương pháp PCR định lượng (qPCR) tại thời điểm 28 ngày sau gây nhiễm.

BIO vào chu kỳ sản xuất tiếp theo. Công ty TNHH Kao Việt Nam Phòng 10.1-10.2, tòa nhà E-town 2, 364 Cộng Hòa, P. Tân Bình, TP.HCM.  Hộp thư TVKH: tuvankhachhang@kaovn.com.vn

 Điện thoại: +84 (28) 3810 9099  Số hotline: +84 901670731 - Mr. Lê Viết Lâm Anh https://www.kao.com/vn/support

Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất

Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh rằng Acid Gallic mang lại lợi ích kép: Vừa thúc đẩy hiệu suất tăng trưởng của tôm, vừa hỗ trợ xây dựng “hàng rào sinh học” chống lại sự xâm nhiễm của EHP. Đối với các nhà nuôi trồng, việc chuyển đổi sang sử dụng các chất bổ sung có cơ sở khoa học này có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn thông qua tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cải thiện và độ đồng đều tối ưu khi thu hoạch. Mặc dù nghiên cứu này đánh giá một cột mốc quan trọng, ngành nuôi tôm cần tiếp tục đổi mới các giải pháp dinh dưỡng để thích ứng với sự biến đổi liên tục của các tác nhân gây bệnh. Đây chính là thời điểm để chuyển dịch từ chiến lược quản lý bị động sang mô hình dinh dưỡng chủ động và bền vững.

Giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi tôm cá

Nuôi tôm cá là một trong những ngành thủy sản

quan trọng tại Việt Nam, đóng góp lớn cho nguồn thực phẩm và xuất khẩu. Tuy nhiên, quá trình nuôi

tôm cá hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức như chất lượng nước suy giảm, nguy cơ dịch bệnh

và chi phí thức ăn ngày càng tăng. Trong bối cảnh

đó, công nghệ Nanobubble (bong bóng nano) đang trở thành một giải pháp hiện đại giúp cải thiện môi

trường nuôi và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Những thách thức trong nuôi tôm cá hiện nay

Chất lượng nước chưa ổn định

Trong các ao nuôi cá mật độ cao, lượng chất thải hữu cơ và thức ăn dư thừa dễ làm giảm lượng ôxy hòa tan trong nước. Đồng thời, các khí độc như NH3, H2S hay NO2 có thể tích tụ ở đáy ao, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tốc độ phát triển của tôm cá.

Nguy cơ bùng phát dịch bệnh

Môi trường nuôi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn và mầm bệnh phát triển. Nếu chất lượng nước không được kiểm soát tốt, cá dễ bị stress, giảm sức đề kháng và phát sinh nhiều loại bệnh gây thiệt hại cho người nuôi.

Hiệu quả sử dụng thức ăn

chưa cao

Thức ăn chiếm phần lớn chi phí trong nuôi tôm cá. Khi tôm cá không tiêu thụ hết hoặc khả năng

toàn hơn. Công

hấp thụ dinh dưỡng kém, thức ăn dư thừa sẽ phân hủy trong nước, làm ô nhiễm môi trường ao nuôi và gia tăng chi phí sản xuất.

Tăng cường ôxy hòa tan và cải thiện môi trường nước

Nanobubble là các bong bóng khí có kích thước siêu nhỏ ở mức nanomet, có khả năng tồn tại lâu

và phân tán đều trong nước. Nhờ đó, công nghệ này giúp tăng hiệu quả hòa tan ôxy, cải thiện quá trình sục khí và duy trì môi trường

nước ổn định cho ao nuôi

Hỗ trợ kiểm soát vi khuẩn và mầm bệnh

Nanobubble có khả năng

tạo ra các phản ứng ôxy hóa tự

nhiên, giúp ức chế sự phát triển

của vi khuẩn và phá vỡ màng

sinh học – nơi trú ẩn của nhiều

mầm bệnh. Điều này góp phần

giảm sự phụ thuộc vào kháng

sinh và giúp môi trường nuôi an

Nâng cao hiệu quả sử dụng

thức ăn

Môi trường nước giàu ôxy giúp tôm cá tăng cường trao đổi chất, cải thiện khả năng tiêu hóa và

hấp thụ dinh dưỡng. Nhờ đó, tôm cá phát triển nhanh hơn, giảm

lượng thức ăn dư thừa và hạn chế ô nhiễm trong ao nuôi.

Hướng đến nuôi cá bền vững

tại Việt Nam

Việc ứng dụng công nghệ

Nanobubble trong nuôi tôm cá

không chỉ giúp cải thiện chất

lượng nước và giảm nguy cơ dịch

bệnh mà còn nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất và bảo vệ

môi trường. Đây được xem là một

giải pháp công nghệ tiên tiến, phù

hợp với xu hướng phát triển nuôi

trồng thủy sản hiện đại và bền vững tại Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành nuôi trồng thủy sản, Công ty TNHH B.H.N

đã nghiên cứu và chế tạo thành công bộ tạo Nanobubble thế hệ

Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96

Website: bhnenc.com

mới – Model NN22-250. Thiết bị có công suất lên đến 250 m³/giờ, giúp tạo ra lượng bong bóng nano dồi dào, nhanh chóng nâng cao nồng độ ôxy hòa tan trong nước. Nhờ công suất lớn và khả năng khuếch tán ôxy hiệu quả, NN22250 giúp rút ngắn thời gian tăng ôxy hòa tan, cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi, tạo môi trường sống ổn định cho tôm, cá và các loài thủy sản. Đồng thời, thiết bị còn hỗ trợ giảm tích tụ khí độc và chất hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả nuôi trồng.

Với thiết kế tối ưu, vận hành ổn định và phù hợp với nhiều mô hình nuôi khác nhau, Nanobubble NN22-250 là giải pháp công nghệ hiện đại giúp người nuôi thủy sản nâng cao hiệu quả sản xuất và hướng tới phát triển bền vững.

B.H.N

Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, Đường Nguyễn Hữu Thọ, Xã Nhà Bè, TP.HCM

ty TNHH Shrimpharmaqua chuyên cung cấp,

phối

NHÂN VIÊN KINH DOANH VĂN PHÒNG:

- Số lượng: 03 người

- Địa điểm làm việc: Văn phòng công ty - TP. Hồ Chí Minh

 Mô tả công việc:

- Tư vấn, giới thiệu sản phẩm, chương trình bán hàng

đến khách hàng qua điện thoại, Zalo…; Chăm sóc khách hàng cũ, hỗ trợ tìm kiếm khách hàng mới; Cập nhật thông tin sản phẩm, giá cả, chương trình khuyến mãi; Lên đơn hàng, theo dõi đơn hàng và hỗ trợ công nợ; Phối hợp với

bộ phận thị trường để phát triển hệ thống đại lý; Có khả năng đi công tác khi cần (có hỗ trợ phí công tác).

 Yêu cầu:

- Tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng, Đại học ngành Thủy

Sản và các ngành liên quan; Kỹ năng giao tiếp tốt, chủ động trong công việc; Trung thực, có tinh thần trách nhiệm, gắn bó lâu dài.

 Quyền lợi:

- Lương cơ bản + % doanh số…; Được đào tạo kiến thức sản phẩm và kỹ năng bán hàng; Tham gia đầy đủ các chế độ BHYT, BHXH, BHTN; Được thưởng lễ, Tết và hưởng các chế độ nghỉ phép năm, lễ tết theo quy định của Nhà nước.

nhu cầu mở rộng thị trường và phát triển hệ thống kinh doanh năm 2026, Công ty cần tuyển các vị trí sau: Hồ sơ ứng tuyển gửi về: CÔNG TY TNHH SHRIMPHARMAQUA

NHÂN VIÊN KINH DOANH

THỊ TRƯỜNG:

- Số lượng: 05 người

- Khu vực làm việc: Các tỉnh khu vực Miền Tây

 Mô tả công việc:

- Tìm kiếm và phát triển đại lý, khách hàng mới, farm nuôi; Chăm sóc hệ thống khách hàng hiện có; Giới thiệu sản phẩm trực tiếp tại khu vực phụ trách; Triển khai chương trình bán hàng, quảng bá thương hiệu công ty; Báo cáo, cập nhật tình hình thị trường phục vụ kế hoạch

kinh doanh

 Yêu cầu:

- Ưu tiên ứng viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực thủy sản; Giao tiếp tốt, có kỹ năng thuyết trình và chịu được áp lực công việc; Năng động, chịu khó, có tinh thần trách nhiệm, gắn bó lâu dài; Sẵn sàng đi công tác tỉnh.

 Quyền lợi:

- Lương cơ bản + phụ cấp + % doanh số…; Thưởng theo hiệu quả kinh doanh; Được công ty cung cấp xe đi lại phục vụ công việc; Hỗ trợ chi phí công tác; Tham gia đầy đủ các chế độ BHYT, BHXH, BHTN; Được thưởng lễ, Tết và hưởng các chế độ nghỉ phép năm, lễ tết theo quy định của Nhà nước.

Số 80 Đường D2, Khu Dân Cư Hà Đô, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

 ĐT: 0828.393.456  Email: shrimpharmaqua@gmail.com

Nhận hồ sơ trực tiếp hoặc qua email.

người nuôi Việt

Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam tăng trưởng mạnh

mẽ nhưng đối diện với nhiều thách thức và tiềm ẩn nhiều biến

động, ADM luôn kiên định với mục tiêu nâng cao chất lượng

sản phẩm và dịch vụ, đồng hành cùng người nuôi xây dựng mô

hình nuôi hiệu quả và bền vững với môi trường. Với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực dinh dưỡng vật nuôi trên toàn cầu, ADM

liên tục đầu tư vào nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên

tiến nhằm tối ưu hóa giải pháp dinh dưỡng cho từng loài nuôi.

Tại Việt Nam, ADM cung cấp các giải pháp dinh dưỡng toàn diện gồm

thức ăn chất lượng cao cho từng giai đoạn phát triển của tôm, cá nước ngọt, cá nước lạnh và cá biển, song hành cùng hệ thống dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật xuyên suốt quá trình nuôi. Những dịch vụ nổi bật như Phòng phân tích chất lượng nước và xét nghiệm bệnh di động, Công nghệ nuôi tôm BIOSIPEC, Giải pháp xử lý và giám sát chất lượng nước… đều được phát triển dựa trên nền tảng khoa học vững chắc và được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế nuôi trồng tại Việt Nam. Đồng thời, ADM cũng đã liên tục đầu tư các chương trình nghiên cứu dinh dưỡng chuyên biệt và phát triển các giải pháp nuôi mới cho các đối tượng nuôi chủ lực của Việt Nam.

Nước sạch, tôm lớn nhanh, năng suất cao và bền vững với Bactosafe

Trong những năm gần đây, men vi sinh (probiotics) đã được chứng minh là một trong những giải pháp hiệu quả giúp cải thiện tiêu hóa, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng, và ổn định chất lượng nước từ đó trở thành lựa chọn đáng tin cậy hướng đến một ngành nuôi trồng thủy sản bền vững.

BACTOSAFE là bộ ba giải pháp vi sinh chuyên biệt đã được ADM nghiên cứu và phát triển giúp hỗ trợ quản lý chất lượng nước và đáy ao trong toàn bộ chu kỳ nuôi, từ trại giống - ao ương - nuôi thương phẩm: BACTOSAFE H: Tối ưu chất lượng nước và

tăng cường sức khỏe đường ruột trong giai đoạn giống.

BACTOSAFE P: Ổn định các chỉ tiêu nước, giảm độc tố ao nuôi trong giai đoạn thương phẩm, giúp vật nuôi sinh trưởng tốt.

BACTOSAFE S: Đẩy nhanh quá trình phân hủy sinh học lớp bùn đáy, cải thiện môi trường ao nuôi và giảm rủi ro ô nhiễm đáy.

Việc ứng dụng men vi sinh trong nuôi thủy sản không chỉ góp phần giảm phụ thuộc vào kháng sinh, mà còn thúc đẩy hiệu quả sinh học, cải thiện sức khỏe vật nuôi và nâng cao năng suất.

BACTOSAFE được thiết kế phù hợp cho nhu cầu sử dụng tại các trại nuôi, giúp người nuôi dễ dàng áp dụng trong từng giai đoạn nuôi và tối ưu hiệu quả quản lý ao và hiện đã có mặt tại thị trường Việt Nam (Quy cách: gói 200 g; 5 gói/hộp 1 kg).

Công nghệ nuôi tôm thâm canh: Biosipec ADM đã phát triển công nghệ nuôi tôm thâm canh BIOSIPEC theo mô hình khép kín, không thay nước, tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc an toàn sinh học nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro mầm bệnh. Công nghệ này đã được nghiên cứu và kiểm chứng tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Thủy sản Châu Á, đặt tại Nhà Bè (TP.HCM), cho thấy hiệu quả vượt trội trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh. Bằng cách tối ưu đồng thời hiệu quả kỹ thuật, chi phí đầu tư và tính khả thi khi áp dụng ngoài thực tế, BIOSIPEC mang đến một giải pháp bền vững. Công nghệ này giúp người

nuôi xây dựng hệ thống nuôi tôm đạt chuẩn an toàn sinh học, đặc biệt phù hợp trong bối cảnh áp lực dịch bệnh ngày càng gia tăng và yêu cầu phát triển bền vững trở nên cấp thiết.

ADM x Vietshrimp Asia 2026

ADM tự hào thông báo sẽ tham dự tại Vietshrimp Asia 2026 (Booth E14), sự kiện quy tụ các doanh nghiệp, chuyên gia và giải pháp hàng đầu trong ngành dinh dưỡng thủy sản tại Châu Á. Tại sự kiện năm nay, ADM Việt Nam mang đến hệ sinh thái giải pháp dinh dưỡng toàn diện cho thủy sản, gia súc, gia cầm và thú cưng, thể hiện năng lực nghiên cứu, sản xuất cùng sứ mệnh thúc đẩy phát triển bền vững của ngành dinh dưỡng vật nuôi tại Việt Nam. ADM chào đón Quý khách cùng tham gia sự kiện đặc biệt này với nhiều hoạt động hấp dẫn: Gặp & trao đổi với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực DDVN của ADM; Cập nhật xu hướng mới nhất giúp tăng năng suất - giảm rủi ro - tối ưu chi phí; Tìm hiểu bộ giải pháp dinh dưỡng chuyên biệt cho từng loài vật nuôi (thủy sản, gia súc, gia cầm); Tham gia mini-game và nhận quà tặng hấp dẫn từ ADM. Đặc biệt, vào ngày 19/03/2026, Tiến sĩ Phạm Minh Anh (Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển DDVN Châu Á) sẽ trình bày chủ đề: “Cải thiện hiệu suất nuôi tôm bằng công nghệ BIOSIPEC”, mang đến cho Quý khách một góc nhìn chuyên sâu và cách thức ứng dụng công nghệ nuôi tôm hiệu quả.

Nguồn

 TS. Nguyễn Duy Hòa

Giám đốc kỹ thuật toàn cầu ngành hàng Empyreal ® 75, Tập đoàn Cargill

Empyreal ® 75, nguồn đạm bắp đậm đặc tinh khiết và tiêu hóa cao (CPC), được sản xuất từ Nhà máy xay sát bắp của Tập đoàn Cargill tại Bang Nebraska – Bắc Mỹ, rất thích hợp cho các loài ăn thiên động vật, chẳng hạn như cá biển, cá hồi, cá tầm và các loài cá dữ nước ngọt như cá lóc và cá chình hay lươn vì những loài này đòi hỏi thức ăn đạm cao, ít carbohydrate (đặc biệt thấp về tinh bột) cũng như rất thấp về tro. Empyreal ® 75 có hàm lượng đạm tối thiểu 75%, carbohydrate thấp (5.3%), và tinh bột rất thấp (tối đa 1%), và tro cũng rất thấp (1.3%). Empyreal ® 75 chứa hàm lượng cao axít amin, đặc biệt methionine (1.7%), glutamic acid (15.29%), leucine (12.63%), proline (6.68%)— và giàu dinh dưỡng tăng cường sức khỏe (carotenoids, polyphenols, phytosterols, inositol, Omega-6: linoleic acid). Thêm vào đó, nó không có kháng dưỡng, nó đáp ứng các yêu cầu về nguyên liệu “Tự nhiên” theo định nghĩa của Hiệp hội quan chức kiểm soát thức ăn chăn nuôi của Mỹ (AFFCO) và được thiết lập bởi Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (US FDA) chẳng hạn như “không chứa gluten”. Empyreal ® 75 được sản xuất theo dây chuyền thiết bị đạt chứng chỉ FSSC 22000 và ISO 22000 và được chứng nhận KOSHER và HALAL. Vì thế, Empyreal ® 75 là nguồn đạm tuyệt vời cho thức ăn thủy sản bền vững. Trong nhiều trường hợp, nó linh động tạo khoảng trống trong công thức giúp chọn lựa đúng các loại tinh bột chức năng từ lúa mì, bột mì, khoai mì, tấm để đảm bảo độ kết dính và độ nổi cho viên thức ăn ép đùn. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu và thử nghiệm đánh giá Empyreal ® 75 trên các loài cá biển khác nhau về độ tiêu hóa, hiệu quả tăng trưởng và hiệu quả kinh tế khi thay thế bột cá trong thức ăn thương mại.

Độ tiêu hóa Empyreal ® 75 trên cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss)

Một thức ăn tham khảo hoàn chỉnh đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng được phối trộn với nguyên liệu thử nghiệm (Empyreal ® 75) theo tỷ lệ 70:30 ratio (theo trọng lượng khô) để tạo thức ăn thử nghiệm. Yttrium oxide được đưa vào thức ăn để đánh dấu. 10 cá trọng lượng 700g được thả trong bể 500L, 3 lần lặp lại. Cá được

Biểu kiến của từng dinh dưỡng trong thức ăn và trong nguyên liệu

tính theo công thức của Kleiber 1961, Forster 1999.

Bảng 1. Độ tiêu hóa Biểu kiến Empyreal ® 75 trên cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss)

Nghiên cứu tiêu hóa Empyreal® 75 này được thực hiện tại Trung tâm Công nghệ Cá USDA-ARS ở Bozeman, MT, như một phần của Dự án Ngũ cốc cho Cá hồi để đánh giá nguyên liệu dùng trong thức ăn cá hồi. Mặc dù hiệu quả sử dụng một nguyên liệu là mục tiêu chính của chúng tôi để đánh giá Empyreal® 75, nhưng độ tiêu hóa cũng đã được đánh giá. Kết quả cho thấy Empyreal® 75 là loại đạm có khả năng tiêu hóa cao (89%) và tiêu hóa axit amin cao, khoảng 90% (Bảng 1).

Thay thế bột cá bởi Empyreal® 75 lên hiệu quả tăng trưởng cá cam Nhật bản (Seriola quinqueradiata) Cá cam là loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao ở Nhật Bản. Thử nghiệm được tiến hành tại Trạm nghiên cứu sinh học; Đại học Kochi trong thời gian 8 tuần, trong các bể chứa

nghiệm thức Empyreal® 75 ở mức 7,5% và 15% (Bảng 2) thay thế bột cá; thức ăn được cân bằng dinh dưỡng đảm bảo độ đạm và độ béo như nhau.

Bảng 2. Công thức thức ăn của 3 nghiệm thức

Notes: E75 is Empyreal® 75

Kết quả sau 8 tuần thử nghiệm được trình bày ở Bảng 3 & 4. Trọng lượng cá ban đầu (IBW) giữa các nghiệm thức là khác biệt không ý nghĩa. Tuy nhiên, cá từ nghiệm thức 7.5% Empyreal® 75 đạt tăng trọng cao hơn (tăng 58%) và khác biệt ý nghĩa. Lượng ăn (FI) và lượng ăn hàng ngày (DFI) khác biệt không ý nghĩa giữa các nghiệm thức. Nghiệm thức 7.5% Empyreal® 75 khác biệt ý nghĩa về tăng trọng cao hơn, Hệ số thức ăn thấp hơn, và tăng trưởng đặc biệt cao hơn so với nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức 15% Empyreal® 75. Dựa trên kết quả của thử nghiệm này, việc giảm bột cá bằng cách bổ sung 7,5% Empyreal® 75 trong thức ăn cá cam đã cải thiện đáng kể năng suất. Chi phí sản xuất cho mỗi kg cá được sản xuất ở nhóm 7,5% và 15% Empyreal® 75 là 133,92 Yên và 179,60 Yên, so với đối chứng là 197,50 Yên/kg sản xuất. Xét cả FCR và mức tăng trưởng đã mang lại lợi ích kinh tế vượt trội khi Empyreal® 75 được dùng 7,5% trong công thức thức ăn.

Bảng 3. Hiệu quả trọng lượng và các chỉ tiêu

Hiệu quả của Empyreal® 75 hoặc đạm động vật trên cá bơn (Olive Flounder)

Cá bơn Olive Flounder (Paralichthys olivaceus) là loài nuôi trồng thủy sản quan trọng ở Hàn Quốc. Nhu cầu dinh dưỡng và khả năng dung nạp các nguồn đạm thay thế của nó chưa được biết rõ. Bột cá thường chiếm hơn 50% trong thức ăn thương mại của loài này khiến thức ăn trở nên đắt đỏ và không bền vững. Thử nghiệm tập trung vào hiệu quả tăng trưởng của cá bơn khi cho ăn khẩu phần có bột cá, Empyreal® 75 hoặc bột gia cầm và đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đạm thay thế. Thử nghiệm chỉ thay thế bột cá trực tiếp bằng nguyên liệu đạm, thức ăn không được cân bằng dinh dưỡng. Thức ăn đối chứng (60% bột cá – 54% đạm, 20% béo), Thức ăn thay bột cá bằng Empyreal® 75 (30% bột cá/30% Empyreal 75 – 53% đạm, 13% béo) và Thức ăn thay bột cá bằng bột gia cầm (45% bột cá/15% bột gia cầm – 47% đạm, 10% béo) được cho ăn hai lần mỗi ngày. Kết thúc cá được cân và chi phí sản xuất được đánh giá vào cuối 12 tuần (3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức). Thử nghiệm được tiến hành tại Đại học

Juju, Hàn Quốc. Cần nhìn nhận mặc dù các nghiệm thức không cân bằng đạm, béo hay năng lượng, kết thúc thí nghiệm sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về năng suất giữa các nghiệm thức thức ăn bột cá (đối chứng) và thức ăn thay bột cá bằng Empyreal® 75 trong khi thức ăn thay bột cá bằng bột gia (PBM) cầm hiệu quả giảm khác biệt ý nghĩa về thống kê (P<0,05) so với thức ăn đối chứng. Thức ăn Empyreal® 75 có mức tiết kiệm đầu tư cao nhất (154,20 USD/tấn cá) và phần trăm chênh lệch đầu tư lớn hơn so với thức ăn đối chứng (29,10%) trong khi thức ăn bột gia cầm có mức tiết kiệm đầu tư thấp hơn thức ăn Empyreal® 75 (chỉ đạt $88,86) và phần trăm chênh lệch đầu tư so với đối chứng cũng thấp hơn thức ăn Empyreal® 75 (chỉ đạt 16,80%). Năng suất và sức khỏe tổng thể của cá nuôi rất tốt (Bảng 5).

Bảng 5. Tăng trưởng

FBW: trọng lượng cuối (g); Tăng trọng (WG) (%) = 100 x (trọng lượng cuối bình quân – trọng lượng đầu bình quân/trọng lượng đầu bình quân; Hệ số thức ăn (FCR) = trọng lượng khô thức ăn /tăng trọng ướt (g); Hiệu quả sử dụng đạm (PER) = tăng trọng ướt /tổng đạm.

Liều lượng tối ưu của Empyreal® 75 trong thay thế bột cá cho thức ăn cá chẽm Châu á (Lates calcarifer) 5 thức ăn có cùng độ đạm (44%) và cùng độ béo (12%). Thức ăn thử nghiệm 0%, 5%, 7,5%, 10% và 12,5% Empyreal® 75 thay bột cá từ thức ăn đối chứng (Control) ở Bảng bên dưới (Bảng 6). Cá (1,34 ± 0,04g) được phân ngẫu nhiên vào 20 bể (200 con/bể) với 4 lần lặp

lại cho mỗi nghiệm thức và cho ăn 62 ngày. Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu Gondol-Bali, Indonesia và sau đó, liều tối ưu Empyreal® 75 được xác định từ thí nghiệm đầu tiên này đã được áp dụng trong thức ăn thương mại để tiếp tục thí nghiệm cho giai đoạn ương và nuôi thương phẩm tại Trang trại thương mại PT Bali Barramundi, quận Patas, Gerokgak – Indonesia.

Bảng 6. 5 thức ăn thử nghiệm cho giai đoạn cá hương

Theo Bảng 7, cá nhận được Empyreal® 75 (CPC) từ 5% đến 12,5% có sinh khối và trọng lượng cơ thể cuối cùng cao hơn đáng kể so với đối chứng. Tỷ lệ tối ưu là 10%. Hệ số thức ăn khác biệt không ý nghĩa so với đối chứng khi so đối chứng với 5% và 7,5% Empyreal® 75 nhưng 10% và 12,5% Empyreal® 75 thấp hơn ý nghĩa so với đối chứng. Hệ số tăng trưởng nhiệt và phần trăm tăng trọng được tối ưu hóa ở mức 10% Empyreal® 75. Chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng của cá cũng thấp nhất ở lô 10% Empyreal® 75 so với các nghiệm thức khác (Hình 1). Sau đó, liều tối ưu 10% Empyreal® 75 đã được triển khai tại một nhà máy sản xuất thức ăn thương mại để thay thế bột cá trong thức ăn thương mại thông thường (thức ăn đối chứng) và tiếp tục thử nghiệm cho giai đoạn ương dưỡng (40 ngày) trong bể ương cá giống (nursery) và cho giai đoạn nuôi thương phẩm (grow-out) trong lồng nuôi thương phẩm (120 ngày).

Kết quả từ cả giai đoạn giống và giai đoạn nuôi thịt cũng cho thấy thức ăn Empyreal® 75 10% gia tăng trọng lượng cuối cao hơn ý nghĩa, hệ số thức ăn cũng thấp hơn và tỷ lệ sống cao hơn (Bảng 8 & 9) so với thức ăn đối chứng.

Liều 10% Empyreal® 75 cũng được chứng minh là có chi phí thức ăn trên mỗi kg tăng trọng của cá

Ghi chú: Biomass: sinh khối; FBW: trọng lượng cuối, FCR: hệ số thức ăn; TGC: Hệ so611 tăng trưởng nhiệt; PWG: % tăng trọng; SR : survival rates (%).

Kết luận & đề xuất Empyreal® 75 là nguồn protein tuyệt vời cho các loài cá ăn thiên động vật, đã được chứng minh qua các loài cá biển khác nhau và nó cũng cung cấp giải pháp bền vững để thay thế bột cá. Liều lượng sử dụng 7,5% đến 10% trong công thức thức ăn mang lại kết quả vượt trội về tăng trọng, sinh khối, tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn, đồng thời giảm chi phí thức ăn trên mỗi kg cá được sản xuất. Cargill

đạm cao cấp thay thế

Đạm đậu nành đậm đặc (Soy

Protein Concentrates), đậu nành

lên men (Fermented Soy) và đạm

bắp thuần khiết (Empyreal 75)

hay đạm bắp lên men (MOTIV)

đáp ứng được chất lượng và hàm

lượng dinh dưỡng cao.

Nhu cầu nguyên liệu thay thế bột cá

Bột cá sử dụng trong thức ăn thủy sản và gia súc ngày càng thiếu hụt so với nhu cầu do sự tăng trưởng ngành công nghiệp thức ăn vật nuôi. Tuy nhiên, cho đến nay do hạn chế về nguồn nguyên liệu đầu vào và công nghệ sản xuất nên nhiều nguồn nguyên liệu đang được nghiên cứu cho thay thế bột cá vẫn chưa đáp

ứng được 4 chỉ tiêu đòi hỏi của một nguyên liệu dùng cho sản xuất thức ăn vật nuôi:

Chất lượng cao về dinh dưỡng, đặc biệt axit amin để đảm bảo thay thế bột cá vẫn giữ

được hiệu quả của vật nuôi (tăng trọng, tỷ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn…).

Tính ổn định cao về chất lượng để đảm bảo cho việc giữ vững chất lượng thức ăn đối với vật nuôi và đòi hỏi của khách hàng.

Sự sẵn có về sản lượng đủ lớn để đảm bảo không thiếu hụt trong quá trình sản xuất thức ăn một khi nhà máy thức ăn quyết định sử dụng nguyên liệu.

Sự dịch vụ chuyên nghiệp toàn cầu –nguyên liệu cần có sự dịch vụ chuyên nghiệp toàn cầu để đảm bảo sự cung ứng chất lượng tốt nhất và dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.

Cho đến nay chỉ có các loại đạm đậu nành đậm đặc (Soy Protein Concentrates), đậu nành lên men (Fermented Soy) và đạm bắp thuần khiết (Empyreal 75) hay đạm bắp lên men (MOTIV) đáp ứng được 4 tiêu chuẩn trên. Tuy nhiên, các loại đạm đậu nành chỉ cho thấy hiệu quả cao trên các loài thủy sản nước ngọt nhưng không hiệu quả  trên cá

do hàm lượng cao carbohydrate và các kháng dưỡng saponins, lectins và phytates trong đậu nành nên các loài cá biển hay giai đoạn giống (starters) của một số vật nuôi dễ bị ảnh hưởng tiêu cực đường ruột. Empyreal 75 là dòng đạm cao cấp và tinh khiết nhờ sử dụng công nghệ enzymes rửa trôi hầu hết tinh bột và một số độc tố nấm mốc (mycotoxins) nên chất lượng đạm vô cùng tuyệt hảo nhờ sự tinh khiết, tiêu hóa cao và không chứa kháng dưỡng nên rất thích hợp cho các loài cá biển, cá giống nước ngọt, heo con, gà con và thú cưng (thức ăn mèo, chó).

Thành phần dinh dưỡng và lợi ích của đạm bắp đậm đặc cao cấp Empyreal 75

Protein: tối thiểu 75%;  Lipid: tối thiểu 2%; Tinh bột: tối đa 1%; Tro thấp (khoảng 1%); Sắc tố xanthophyll: 287 ppm; Linoleic acid: 2,55%; không có kháng dưỡng (Lectin, Glycinin, BetaConglycinin). Hàm lượng axit amin tuyệt vời để phối hợp với các nguồn đạm đậu nành và protein khác, đặc biệt rất cao về các amino axit chức năng ngon miệng và sức khỏe cho vật nuôi như Glutamic acid/Glutamine (15,29%) và Methionine (1,7%), Leucine (12,6%) và Proline (6,68%). Nguồn năng lượng tiêu hóa (cho vật nuôi thủy sản) hay năng lượng trao đổi (cho gia súc và gia cầm) rất cao, chiếm 80% năng lượng tổng cũng như hầu hết amino axit tiêu hóa trên 90%. Ngoài ra, Empyreal 75 không chứa các kháng dưỡng nên không tác động tiêu cực đến các loài thủy sản ăn thiên động vật (như cá biển) hay các giai đoạn non như cá giống, heo con, gà con. Nguồn nguyên liệu đầu vào là loại bắp cao cấp chứa ít độc tố nấm mốc và một phần độc tố nấm mốc cũng được rửa trôi bằng enzymes nên rất an toàn cho vật nuôi. Empyreal 75 được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm của Mỹ (FDA) chứng nhận an toàn cho thức ăn vật nuôi cùng với các Chứng nhận FSSC 22000, ISO 22000, Kosher & Halal đảm bảo cho việc xuất khẩu đến các Quốc gia đạo Hồi.

Hàm lượng và cách dùng Empyreal 75 cho các loài vật nuôi

Các loài thủy sản: Hàm lượng có thể dùng

từ 5% đến 30% trong công thức để thay thế bột cá hoặc để phối hợp tốt nhất các nguồn đạm cho sự cân bằng amino axit cho các loài cá biển ở tất cả các giai đoạn hay cho cá giống nước ngọt. Cá thịt nước ngọt có thể dùng 2,5% đến 5% tùy công thức và hiệu quả chi phí thức ăn so với hiệu quả nuôi. Gia súc và gia cầm: Heo con, gà con hay gà đẻ có thể dùng 3% đến 5% để thay thế hay giảm bớt bột cá cũng như giảm bớt lượng đậu nành nhằm khống chế tác động tiêu cực của kháng dưỡng từ tổng lượng đậu nành trong công thức và nhằm giảm tỷ lệ tiêu chảy cho heo con. Hàm lượng cao của các axit amin sức khỏe và carotenoids (287 ppm Xanthophyll) trong Empyreal 75 cũng giúp cho heo chống stress nhiệt và sức khỏe hơn, da và lông bóng mượt và hồng hào hơn và ở gà đẻ cho lòng đỏ trứng màu đậm, đẹp hơn. Cách dùng cho vật nuôi thủy sản: Chúng ta nên phối hợp 1,5% đến 2,5% các dịch đạm thủy phân của tôm, cá hay dịch mực để giữ được mùi vị thức ăn khi thay bột cá và tăng thêm dầu cá và một số L-amino axit để cân bằng dinh dưỡng HUFA/PUFA cũng như amino axit cho nhu cầu vật nuôi. Một số loài cá biển cần cân nhắc thêm Taurine và Tryotphan khi dùng Empyreal 75 để thay bột cá.

Cách dùng cho vật nuôi gia súc và gia cầm: Cần phối hợp thêm các loại dầu/béo có chứa nhiều axit béo mạch trung (đặc biệt Lauric axit như trong dầu dừa) để giúp tăng hiệu quả sức khỏe heo con tốt hơn, ngoài ra bổ sung nhiều L-lysine vì hàm lượng Lysine trong Empyreal 75 thấp.

Cargill

trong ao tôm giống và tôm thịt

Trong sản xuất giống và nuôi tôm thương phẩm, nấm

và vi khuẩn có hại là nguyên nhân gây thiệt hại nặng

nề cho vụ nuôi. Đặc biệt như nấm đồng tiền (nấm

chân chó) trong các ao nuôi lâu năm, nấm gây dính

chân trong sản xuất giống và vi khuẩn có hại gây

bệnh cho tôm nuôi.

Nguyên nhân

- Nấm đồng tiền hay còn gọi là nấm chân chó, thực chất là một

loại địa y chứ không đơn thuần là một loại nấm. Nấm đồng tiền có

mùi tanh nồng, thường bám chặt vào bạt, đất, đá, nhá cho ăn và

các dụng cụ trong ao nuôi. Chúng

thường xuất hiện ở những vùng

có độ mặn cao, ở các ao nuôi lâu năm, ao không được cải tạo kỹ.

Cùng với sự dư thừa chất hữu cơ, tảo nở hoa hay tảo tàn làm kích

thước nấm tăng lên nhanh chóng.

- Nấm gây dính chân tôm giống

thường xuất hiện ở giai đoạn Zoea 2. Khi nước cấp vào bể ương chưa

được xử lý kỹ, cho ăn tảo khô quá sớm hoặc kiểm soát lượng tảo cho ăn không chặt chẽ dẫn đến dư thừa chất hữu cơ tạo điều kiện cho nấm phát triển.

- Ngoài môi trường nước và bùn đáy ao, những nơi nấm bám vào cũng là nơi cư trú cho các loài vi khuẩn có hại gây bệnh.

Tác hại

- Nấm đồng tiền có mùi tanh rất hấp dẫn với tôm nên tôm dễ dàng ăn phải các cá thể nấm này. Khi vào trong đường ruột, nấm sẽ sản sinh ra độc tố gây bệnh đường ruột làm tôm bỏ ăn, từ đó tôm ốp thân, còi cọc, chậm lớn và có thể chết.

- Ở giai đoạn Zoea 2, khi bị nấm gây dính chân, ấu trùng tôm không thể di chuyển để bắt mồi, không thể chuyển giai đoạn dẫn

đến chết.

- Khi tôm ăn phải các cá thể nấm có vi khuẩn cư trú, các vi

khuẩn có hại này sẽ là tác nhân

cơ hội gây bệnh khi tôm đã bị

bệnh đường ruột.

Cách xử lý

- Đối với các ao đã từng bị

nhiễm nấm đồng tiền, bắt buộc

khâu tẩy nấm và tiêu diệt bào tử

nấm cần được chú trọng và xử

lý một cách triệt để trước khi thả

tôm, kết hợp với việc sử dụng chế

phẩm vi sinh xử lý nước nhằm ức

chế vi khuẩn có hại và bổ sung lợi

khuẩn cho môi trường.

- Đối với ao nuôi đang có tôm:

 Đặc biệt lưu ý khi dùng biện

pháp cơ học như chà, tẩy các cá thể nấm, vì khi làm việc này có thể vô tình làm cho các bào tử nấm phát tán mạnh hơn và các cá thể nấm khi bị chà bong tróc ra sẽ phát sinh độc tố khi tôm ăn phải.

 Giảm và kiểm soát lượng thức ăn cho ăn, bổ sung các dưỡng chất hỗ trợ hệ tiêu hóa tôm.

 Nâng cao độ đục hoặc mực nước nhằm làm giảm ánh sáng, ngăn cản cản sự quang hợp của nấm sẽ làm nấm chết.

 Tăng cường quạt nước, sụt khí.

 Tránh cho ăn gần bờ.

 Biện pháp sinh học: Bổ sung chế phẩm vi sinh ức chế nấm và vi khuẩn có hại.

- Đối với nấm gây dính chân

ấu trùng ở giai đoạn Zoea 2:

 Xử lý kỹ nguồn nước cấp vào bể ương.

 Kiểm soát chất lượng thức

ăn và lượng cho ăn để hạn chế

chất hữu cơ dư thừa.

 Quản lý chặt chẽ môi trường nước trong bể ương.

 Định kỳ si phông đáy.

 Biện pháp sinh học: dùng

chế phẩm vi sinh xử lý nguồn

nước cấp và môi trường nước

trong quá trình ương nhầm ức

chế vi khuẩn có hại và bổ sung

lợi khuẩn để xử lý lượng chất hữu

cơ dư thừa trong bể.

Đề xuất giải pháp từ

Thái Nam Việt

Việc phát hiện sớm nấm xuất

hiện trong ao sẽ giúp cho việc xử

lý nhẹ nhàng và hiệu quả hơn.

Sử dụng chế phẩm sinh học

để khống chế nấm và vi khuẩn mang lại hiệu quả cao và không

gây ảnh hưởng xấu đến môi

trường nước, đảm bảo sức khỏe và sự phát triển cho ấu trùng và tôm nuôi, hạn chế được tổn thất cho vụ nuôi.

AQ-6S

Vi sinh chuyên xử lý chất hữu cơ dư thừa - ức chế triệt đển Vibrio spp., với các loài vi khuẩn như Bacillus subtilis, B. pumilus, B. amyloliquefaciens…

PROCOZOLL

Enzyme đậm đặc giúp phân hủy mạnh mẽ các chất hữu cơ lơ lửng, kiểm soát tảo với các loại enzyme như Protease, Amylase,..

SLUDGE REMOVER TABLET

Vi sinh dạng viên nén chuyên xử lý nhớt bạt - ức chế nầm đồng tiền sau 24 - 48h với các chủng vi khuẩn hoạt lực mạnh như B. amyloliquefaciens B.subtilis, B. pumilus,…

Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu và giảm phát thải khí nhà kính, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao đang trở thành hướng đi tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam.

Với hơn 30 năm phát triển, Công ty Cổ phần Vật tư Khoa học Kỹ thuật - LASI là đơn vị tiên phong trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng giải pháp công nghệ thủy sản, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy nuôi thủy sản thông minh và hướng tới phát triển thủy sản bền vững.

Hơn 30 năm đồng hành cùng nền khoa học - công nghệ Việt Nam

Thành lập năm 1995, LASI hợp tác với nhiều hãng công nghệ quốc tế để tư vấn, cung cấp và chuyển giao các hệ thống thiết bị khoa học kỹ thuật cho nhiều Bộ, ngành và dự án trên cả nước. Doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực như khí tượng thủy văn, môi trường

nước, năng lượng tái tạo, nông nghiệp và thủy sản thông minh.

Hiện nay, LASI phát triển hệ sinh thái công nghệ toàn diện gồm:

- Tích hợp và sản xuất thiết bị khoa học kỹ thuật

- Phát triển phần mềm chuyên dụng

- Hệ thống quan trắc và giám sát môi trường

- Chuyển giao công nghệ và đào tạo kỹ thuật

Giải pháp công nghệ cho nuôi trồng thủy sản công nghệ cao

Từ kinh nghiệm nghiên cứu và tích hợp công nghệ đa lĩnh vực, LASI xây dựng hệ thống giải pháp công nghệ thủy sản tối ưu vận hành trang trại và kiểm soát môi trường nuôi.

Hệ thống quản lý trang trại SMART IoT: hệ thống giám sát và điều khiển trang trại theo thời gian thực. Các cảm biến môi trường như DO, nhiệt độ, pH,… được kết nối với bộ điều khiển trung tâm để tự động điều chỉnh thiết bị vận hành. Thực nghiệm cho thấy hệ thống có thể giúp tiết kiệm 25-30% điện năng vận hành.

Giải pháp năng lượng tái tạo cho trang trại: hệ thống pin mặt trời bán tải nhằm tối ưu chi phí điện năng trong mô hình nuôi trồng thủy sản công nghệ cao. Nguồn điện mặt trời được ưu tiên cấp cho trang trại, kết hợp cùng hệ thống dự phòng.

Phần mềm quản lý sức khỏe vật nuôi: Ứng dụng AI do LASI phát triển cho phép phân tích hình ảnh để đo kích thước, ước tính trọng lượng và nhận diện dấu hiệu bệnh của vật nuôi.

Công nghệ xử lý và giám sát môi trường nước: hệ thống xử lý nước Lamella kết hợp Ozone, giúp nâng cao hiệu quả xử lý, giảm diện tích hệ thống và ổn định môi trường nuôi. Bên cạnh đó, công nghệ phân tích mật độ tảo và phiêu sinh động vật giúp kiểm soát cân bằng sinh học và phát hiện sớm rủi ro môi trường.

Đồng hành cùng ngành thủy sản hướng tới phát triển bền vững Trước yêu cầu ngày càng cao từ thị trường quốc tế, việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành yếu tố then chốt của ngành thủy sản. Với hệ sinh thái giải pháp công nghệ thủy sản, LASI cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp thúc đẩy nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, phát triển nuôi thủy sản thông minh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển thủy sản bền vững, giảm phát thải và nâng cao giá trị xuất khẩu.

CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ

KHOA HỌC KỸ THUẬT - LASI

Trụ sở chính: Tòa nhà LASI - 345 Kim

Mã, phường Giảng Võ, Hà Nội Văn phòng Hà Nội: Lô M1 KDTM Yên

Hoà, Yên Hoà, Hà Nội

Văn phòng Cần Thơ: Số 01 đường B16, Khu dân cư 91B, Phường Tân An, Thành phố Cần Thơ

Điện thoại: 024 3771 2880

Website: www.lasi.com.vn

Email: info@lasi.com.vn

Lasi

Bứt phá vụ nghịch

Thu hoạch gần 200 tấn tôm kích cỡ

Vượt qua nhiều thách thức của vụ nghịch, mô hình nuôi của ông Đặng Văn Bảy (Vĩnh Long) đạt sản lượng gần 200 tấn tôm kích cỡ lớn, cho thấy hiệu quả của việc quản trị ao nuôi chủ động và áp dụng kỹ thuật đồng bộ.

Hiệu quả từ quản lý ao nuôi chủ động

Vụ nghịch luôn được xem là giai đoạn nhiều thách thức đối với người nuôi tôm do thời tiết biến động, mưa trái mùa kéo dài, môi trường ao nuôi dễ mất ổn định và nguy cơ dịch bệnh gia tăng. Trong bối cảnh đó, mô hình nuôi của ông Đặng Văn Bảy xã Thạnh Phong, tỉnh Vĩnh Long) đã ghi nhận kết quả nổi bật với

sản lượng thu hoạch gần 200 tấn tôm thương phẩm, tạo dấu ấn đáng chú ý trong khu vực. Với hơn 10 năm gắn bó cùng nghề, ông Đặng Văn Bảy cho biết áp lực dịch bệnh như TPD, EHP trong những năm gần đây vẫn còn lớn. Tuy nhiên, nhờ chủ động kiểm soát kỹ thuật ngay từ đầu vụ, quá trình nuôi năm nay diễn ra ổn định hơn so với trước.

Chủ động từ đầu vụ

Theo ông Bảy, việc giám sát môi trường được thực hiện xuyên suốt tại trung tâm CP SOLUTION CENTER , giúp theo dõi chặt chẽ các chỉ tiêu quan trọng và kịp thời xử lý khi có biến động.

Quy trình nuôi được thực hiện đồng bộ từ khâu chuẩn bị ao, chọn giống đến chăm sóc

và quản lý dinh dưỡng. Việc tuân thủ quy trình kỹ thuật giúp hạn chế rủi ro thường gặp trong vụ nghịch như biến động độ mặn, khí độc hay áp lực vi khuẩn.

Nhờ đó, tôm phát triển đồng đều, tỷ lệ sống cao và hạn chế rủi ro thường gặp trong vụ nghịch. “Hầu hết các ao đều thu hoạch được, sản lượng đạt như kỳ vọng”, ông Bảy chia sẻ.

Tăng trưởng và chất lượng

Một điểm đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng

được cải thiện rõ rệt. Tôm đạt kích cỡ 30 con/ kg sau khoảng 85 ngày nuôi. Khi tôm đạt cỡ 35 – 40 con/kg, mô hình chuyển sang sử dụng thức ăn GOAL MAX nhằm tăng cường màu sắc và độ chắc vỏ.

Theo ghi nhận, tôm có màu sắc đồng đều, vỏ sáng, thịt chắc và được thương lái đánh giá cao. Hiện khoảng 90% sản lượng được xuất bán ôxy ra thị trường Hà Nội,phân khúc yêu cầu cao về kích cỡ và chất lượng cảm quan.

Việc rút ngắn chu kỳ nuôi không chỉ giúp giảm áp lực rủi ro cuối vụ mà còn góp phần tối ưu chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Hướng đi bền vững

Thành công của mô hình cho thấy trong điều kiện vụ nghịch nhiều thách thức, việc quản trị ao nuôi theo hướng chủ động, kết hợp giải pháp kỹ thuật và dinh dưỡng phù hợp đóng vai trò then chốt.

Mô hình của ông Đặng Văn Bảy được xem là minh chứng thực tế cho xu hướng nuôi bài bản, kiểm soát rủi ro tốt và gia tăng giá trị thương phẩm trong bối cảnh ngành tôm ngày càng đòi hỏi cao về hiệu quả và chất lượng.

C.P. Việt Nam

Thành công

từ nuôi lươn công nghệ cao

Từng không có nền tảng về nông nghiệp, anh Phạm

Ngọc Dung (phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh) đã

lựa chọn hướng đi khác biệt khi đầu tư nuôi lươn

không bùn theo phương thức siêu thâm canh. Sau

hơn 5 năm phát triển, mô hình này mang lại doanh

thu trên 6,6 tỷ đồng mỗi năm, trở thành điểm nhấn

trong chuyển dịch cơ cấu thủy sản tại Hà Tĩnh.

Tổ chức sản xuất theo chuỗi

khép kín

Khác với cách nuôi truyền

thống phụ thuộc nhiều vào ao bùn tự nhiên, toàn bộ lươn tại cơ sở của anh Dung được nuôi trong bể composite. Giá thể nhân tạo bằng dây nilon thay thế bùn

đáy, vừa tạo nơi trú ẩn cho lươn, vừa giúp môi trường nuôi thông

thoáng, hạn chế tích tụ chất thải.

Nhờ đó, mật độ nuôi được nâng

cao nhưng vẫn đảm bảo kiểm

soát dịch bệnh.

Hệ thống cấp - thoát nước

được thiết kế đồng bộ, thực hiện thay nước hằng ngày sau khi

cho ăn. Các chỉ số môi trường

như nhiệt độ, pH được theo dõi thường xuyên. Thức ăn sử dụng

Mỗi năm trang trại

kết hợp giữa cám công nghiệp và nguồn tươi sống như giun quế, cá xay, trứng gà, đảm bảo cân

đối dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển.

Phương pháp nuôi này giúp đàn lươn sinh trưởng đồng đều, rút ngắn thời gian nuôi và giảm tỷ lệ hao hụt. Hiện mỗi năm trang trại cung ứng ra thị trường khoảng 60 - 70 tấn lươn thương phẩm, giá bán bình quân 100.000 đồng/kg. Tổng doanh thu từ nuôi thương phẩm, sản xuất giống và dịch vụ đi kèm đạt xấp xỉ 6,6 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 40%.

Gian nan không hề nản Ít ai biết, trước khi gắn bó với con lươn, anh Dung từng kinh doanh xe máy, buôn bán hàng hóa và làm nhân viên kinh doanh bia. Năm 2019, khi mô hình nuôi lươn không bùn còn khá mới tại

địa phương, anh quyết định đầu tư thử nghiệm.

Giai đoạn đầu không ít lần thất bại. Do thiếu kinh nghiệm và quy trình kỹ thuật chưa hoàn thiện, lươn thường mắc bệnh đường ruột, hô hấp; môi trường nước biến động khiến tỷ lệ hao hụt cao. Thay vì bỏ cuộc, anh dành thời gian nghiên cứu tài liệu, tham quan học hỏi và từng bước điều chỉnh quy trình nuôi theo hướng kiểm soát chặt chẽ

từ đầu vào đến khâu chăm sóc.

Việc chuẩn hóa kỹ thuật - từ xử lý nước, lựa chọn mật độ thả nuôi

đến chế độ dinh dưỡng và phòng

bệnh - đã tạo nền tảng để mô

hình vận hành ổn định. Khi quy

trình được tối ưu, hiệu quả kinh tế dần rõ nét.

Chủ động con giống, mở rộng liên kết

Không dừng lại ở nuôi thương

phẩm, anh Dung đầu tư sản xuất

giống nhằm chủ động nguồn cung và kiểm soát chất lượng. Mỗi năm, cơ sở xuất bán khoảng

3 triệu con giống với giá 3.0004.000 đồng/con. Việc chủ động giống không chỉ giảm chi phí đầu vào mà còn tạo thêm nguồn thu đáng kể. Song song đó, anh phát triển mạng lưới liên kết với các hộ nuôi tại địa phương và các tỉnh lân cận. Hình thức hợp tác bao gồm cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật và cam kết thu mua sản phẩm. Nhờ vậy, nhiều hộ dân yên tâm mở rộng sản xuất, hạn chế rủi ro về thị trường. Hiện, mô hình còn tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 15 lao động địa phương, thu nhập bình quân 5 - 7 triệu đồng/tháng. Sự tham gia của lực lượng thanh niên góp phần hình thành đội ngũ lao động có tay nghề, từng bước chuyên nghiệp hóa nghề nuôi lươn.

Thực tế sản xuất cho thấy, nuôi lươn không bùn trong bể composite phù hợp với quy mô hộ và trang trại vừa, đặc biệt ở những nơi quỹ đất hạn chế. So với phương thức truyền thống, mô hình này có nhiều ưu điểm như tiết kiệm nước, giảm ô nhiễm môi trường, thuận lợi trong kiểm soát dịch bệnh và từng bước có thể áp dụng cơ giới hóa.

Với cách tổ chức sản xuất theo hướng khép kín và liên kết chuỗi, mô hình nuôi lươn không bùn của anh Phạm Ngọc Dung đang chứng minh tính khả thi cả về kinh tế lẫn kỹ thuật. Đây được xem là gợi ý đáng tham khảo cho các địa phương đang tìm kiếm giải pháp phát triển thủy sản thâm canh theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.

Công ty công nghệ sinh học BarAlgae đang phát triển một mô hình sản xuất vi tảo mới dựa trên tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, nhằm cung cấp nguồn thức

ăn ổn định, chất lượng cao cho các trại giống thủy sản tại các trung tâm nuôi trồng lớn trên thế giới.

Quy mô công nghiệp

Theo ông Omri Sharir, Phó Chủ tịch phụ trách phát triển kinh doanh và marketing của BarAlgae, doanh nghiệp kiên định với nguyên tắc không biến đổi gen (GMO) và đã xây dựng một hệ thống nuôi cấy hoàn toàn mới, tập trung vào các chủng vi tảo tự nhiên có giá trị dinh dưỡng cao.

Trong những năm qua, BarAlgae đã thành công trong việc thuần hóa và mở rộng quy mô sản xuất hơn 12 loài vi tảo khác nhau. Toàn bộ quá trình được triển khai trong một cơ sở sản xuất dạng mô-đun, nơi đặt 48 hệ thống quang sinh học hoạt động độc lập.

Theo Sharir, phần lớn các doanh nghiệp trong lĩnh vực này chỉ sản

xuất được một đến ba loài vi tảo. Việc BarAlgae phát triển thành

công hơn chục loài đã mang lại lợi thế linh hoạt rất lớn, cho phép công ty tạo ra nhiều dòng sản phẩm khác nhau, phù hợp với nhu

cầu của từng đối tượng nuôi.

Điểm đặc biệt của nền tảng sản xuất này nằm ở mức độ tự động hóa cao. Hệ thống vận hành hoàn

thường tốn nhiều nhân lực, chi phí và dễ xảy ra biến động về chất lượng. Do đó, BarAlgae đã phát

triển các sản phẩm vi tảo đóng

gói sẵn, giúp trại giống có thể sử dụng ngay mà không cần duy trì hệ thống nuôi tảo riêng. Chỉ với vài mililit sản phẩm đông lạnh, trại

giống có thể thay thế lượng vi tảo

được nuôi trong hàng tấn nước.

Người vận hành chỉ cần rã đông và

bổ sung trực tiếp vào các bể ương, giúp tiết kiệm đáng kể nhân công, chi phí và rủi ro vận hành.

Sản phẩm vi tảo của BarAlgae

còn cung cấp khẩu phần dinh

dưỡng cân bằng hơn cho ấu trùng, qua đó giúp cải thiện tỷ lệ sống và

hiệu quả sản xuất của trại giống.

Công ty cũng phát triển một công

cụ tính toán trực tuyến, cho phép các kỹ thuật viên dễ dàng xác định

có nguồn cung vi tảo tại chỗ thay vì phụ thuộc vào sản phẩm đông lạnh nhập khẩu.

toàn tự động và được điều khiển

bằng trí tuệ nhân tạo. Khi các

thông số sinh học ban đầu được

thiết lập, hệ thống sẽ liên tục tối

ưu hóa quy trình nuôi cấy mỗi

ngày, giúp tăng tốc độ mở rộng

quy mô sản xuất đồng thời đảm

bảo tính ổn định của sản phẩm.

Hiện nay, BarAlgae đang phát

triển sản phẩm cho ba lĩnh vực

chính gồm mỹ phẩm, thực phẩm

bổ sung và nuôi trồng thủy sản.

Trong đó, riêng lĩnh vực thủy sản

đã chiếm khoảng 55% tổng sản

lượng bán ra của công ty.

Đối với ngành giống thủy sản, vi tảo của BarAlgae chủ yếu được

cung cấp cho các trại giống dưới

dạng paste đông lạnh. Sản phẩm

có thể là vi tảo đơn chủng hoặc

hỗn hợp nhiều loài, tùy theo nhu

cầu dinh dưỡng của từng đối

tượng nuôi. Hiện công ty đã cung

cấp sản phẩm cho nhiều khách

hàng tại Địa Trung Hải, Mỹ Latinh và Đông Nam Á.

Theo Sharir, vi tảo là thành phần

không thể thiếu trong giai đoạn

ấu trùng của tôm và cá biển. Tuy

nhiên, việc tự nuôi tảo tại trại giống

liều lượng sử dụng phù hợp cho từng hệ thống ương nuôi.

Các thử nghiệm do nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản thực hiện cũng cho thấy, vi tảo nguyên vẹn mang lại hiệu quả sinh trưởng cao hơn so với các nguyên liệu tảo đã qua chế biến.

Nhờ những lợi thế này, BarAlgae tin rằng thị trường trại giống sẽ tiếp tục mở rộng đối với các sản phẩm vi tảo thương mại. Dù đây là một ngành vốn khá thận trọng trong việc tiếp nhận công nghệ mới, nhưng các trại giống sẽ sẵn sàng thay đổi khi nhận thấy lợi ích kinh tế rõ ràng từ tỷ lệ sống cao hơn đến rủi ro thấp hơn.

Chiến lược mở rộng toàn cầu

Sau giai đoạn đầu xuất khẩu sản phẩm từ cơ sở sản xuất tại Israel, BarAlgae đang xem xét xây dựng các nhà máy sản xuất

trực tiếp tại những trung tâm nuôi

trồng thủy sản lớn trên thế giới.

Theo ông Omri Sharir, trong quá trình cung cấp sản phẩm cho các thị trường như India và Ecuador, công ty thường xuyên nhận được phản hồi rằng khách hàng muốn

Hiện BarAlgae đang tiến hành các cuộc đàm phán với nhiều đối tác lớn nhằm xây dựng các cơ sở sản xuất hiện đại ngay tại trung tâm của các vùng nuôi trồng thủy sản. Công ty kỳ vọng nhà máy quốc tế đầu tiên có thể đi vào hoạt động vào cuối năm 2026. Đặt nhà máy tại địa phương không chỉ giúp giảm chi phí logistics và rào cản pháp lý, mà còn cho phép cung cấp vi tảo tươi sống thay vì dạng đông lạnh. Đây được xem là bước tiến quan trọng bởi vi tảo sống có thể mang lại thêm nhiều lợi ích sinh học cho hệ thống ương giống. Để thúc đẩy kế hoạch mở rộng, BarAlgae đang tìm kiếm nguồn vốn đầu tư lên tới vài triệu USD. Phần lớn nguồn vốn sẽ được sử dụng để xây dựng các cơ sở sản xuất mới tại các khu vực nuôi trồng thủy sản trọng điểm. BarAlgae sẽ trực tiếp tham gia vận hành các nhà máy cùng đối tác nhằm đảm bảo sản phẩm đạt cùng tiêu chuẩn nghiêm ngặt như các dòng vi tảo được cung cấp cho ngành mỹ phẩm và thực phẩm chức năng. Mục tiêu cuối cùng của công ty là xây dựng một mạng lưới cung ứng vi tảo ổn định, chất lượng cao tại từng khu vực nuôi trồng. Theo Sharir, các trại giống thực chất không muốn trở thành nhà sản xuất tảo. Điều họ cần là những ấu trùng khỏe mạnh và phát triển nhanh. Bằng cách cung cấp nguồn vi tảo ổn định, chất lượng cao dù ở dạng đông lạnh hay tươi sống, Algae kỳ vọng sẽ giúp các trại giống tập trung vào năng lực cốt lõi, đồng thời góp phần định hình tương

Khuyến

ngư thúc đẩy tiến

trình

chuyển đổi xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức tạp, chi phí sản xuất tăng

và yêu cầu thị trường ngày càng

khắt khe, ngành thủy sản Việt

Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng

tích cực trong năm 2025. Kết

quả này có sự đóng góp quan

trọng của hoạt động khuyến ngư

thông qua nhiều mô hình chuyển

giao kỹ thuật, liên kết sản xuất

và cơ giới hóa hiệu quả.

Dấu ấn quan trọng

Năm 2025, tổng sản lượng

thủy sản cả nước đạt khoảng

9,78 triệu tấn, tăng 1,1% so với năm 2024; kim ngạch

xuất khẩu ước đạt 11,3 tỷ USD, tăng 12%, cho thấy sự phục hồi tích cực của ngành

sau giai đoạn khó khăn của

thị trường toàn cầu.

Kết quả này đạt được trong bối cảnh sản xuất thủy

sản đối mặt nhiều thách

thức như biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, chi phí

đầu vào tăng cao và yêu cầu

ngày càng khắt khe của thị

trường về chất lượng, truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh

đó, cảnh báo “thẻ vàng”

đối với khai thác hải sản

bất hợp pháp, không báo

cáo và không theo quy định

cũng đặt ra yêu cầu siết

chặt quản lý nghề cá. Trước

những thách thức đó, hoạt

động khuyến nông - khuyến

ngư tiếp tục phát huy vai trò

cầu nối giữa khoa học công

nghệ và thực tiễn sản xuất.

Một trong những điểm nổi

bật của hoạt động khuyến

ngư trong năm qua là việc

đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật trong nuôi trồng

thủy sản. Nhiều mô hình

nuôi tiên tiến được triển khai và nhân rộng tại các địa

phương như nuôi tôm - lúa, tôm - rừng hữu cơ, nuôi tôm

công nghệ Grofarm, nuôi tôm 2 - 3 giai đoạn hay nuôi cá lồng bè HDPE trên biển. Những mô hình này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần giảm thiểu tác động tới môi trường và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Cùng với đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất như VietGAP, các quy trình quản lý dịch bệnh và xử lý môi trường nuôi đã giúp nâng cao nhận thức của người nuôi về sản xuất bền vững. Thông qua các lớp tập huấn và hoạt động tư vấn kỹ thuật, nhiều nông ngư dân đã thay

tư duy sản xuất, chủ

áp  Mô hình nuôi tôm công nghệ cao Grofarm tại Cà Mau. Ảnh: Grobest

dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả.

Hoạt động khuyến ngư cũng góp phần thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, kết nối người dân với doanh nghiệp và hợp tác xã.

Nhờ vậy, nhiều sản phẩm thủy sản sạch được mở rộng thị trường tiêu thụ, thu nhập của người nuôi tăng 2050% so với trước.

Bên cạnh nuôi trồng, các mô hình khuyến ngư còn thúc đẩy cơ giới hóa trong khai thác và chế biến thủy sản.

Việc ứng dụng các thiết bị như đèn LED cho nghề lưới vây, tời thủy lực thu lưới, hầm bảo quản lạnh CPF đã giúp nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí và cải thiện điều

kiện làm việc cho ngư dân.

Đáng chú ý, mô hình sử

dụng đèn LED cho nghề

lưới vây cho thấy hiệu quả

rõ rệt khi giảm 30 - 60% lượng nhiên liệu tiêu thụ cho máy phát điện. Trong khi đó, thiết bị thu lưới cơ giới giúp giảm 2 - 3 lao động trên tàu, rút ngắn thời

gian thao tác và nâng cao hiệu quả khai thác.

Định hướng 2026

Bước sang năm 2026 - năm

đầu tiên triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai

đoạn 2026 - 2030, ngành thủy sản đứng trước yêu cầu

mới về phát triển xanh, thích

ứng biến đổi khí hậu và nâng

cao năng lực cạnh tranh trên

thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh đó, hệ

thống khuyến nông – khuyến

ngư xác định tiếp tục đổi

mới phương thức hoạt động, bám sát thực tiễn sản xuất

và nhu cầu của người dân,

góp phần thúc đẩy chuyển

đổi xanh trong ngành thủy

sản.

Theo kế hoạch của Trung

tâm Khuyến nông Quốc gia,

hoạt động khuyến ngư thời

gian tới sẽ tập trung chuyển

giao các mô hình sản xuất

hiệu quả, thân thiện với môi

trường, ưu tiên những mô

hình có khả năng thích ứng

với biến đổi khí hậu và phù

hợp với điều kiện của từng

vùng sinh thái.

Các mô hình nuôi trồng

thủy sản sinh thái, nuôi kết

hợp, nuôi tuần hoàn và nuôi

ứng dụng công nghệ cao

sẽ tiếp tục được nhân rộng.

Không những vậy, khuyến ngư còn hướng tới việc tăng

cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, kết nối người

dân với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khuyến nông, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn, kỹ năng tư vấn và khả năng tiếp cận công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất thủy sản hiện đại. Tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý và chuyển giao kỹ thuật, giúp người dân tiếp cận nhanh hơn với thông tin khoa học, thị trường và các tiến bộ công nghệ.

Ngành tiếp tục đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP) trong chuyển giao công nghệ và nhân rộng các mô hình sản xuất tiên tiến, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi biển và nuôi tôm ven biển - những lĩnh

vực được xác định có tiềm năng lớn trong chiến lược phát triển thủy sản của Việt Nam.

Ông Hoàng Văn Hồng –Phó Giám đốc Trung tâm

Khuyến nông Quốc gia chia sẻ, năm 2026 là năm khởi động kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030. Trong bối cảnh ngành thủy sản đứng trước yêu cầu cấp bách về phát triển xanh và thích ứng biến đổi khí hậu, hoạt động khuyến nông sẽ tiếp tục bám sát thực tiễn sản xuất, đồng hành cùng người dân, đồng thời triển khai các nhiệm vụ theo Chiến lược phát triển khuyến nông giai đoạn 2026 - 2030 và Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Khánh Nguyễn

Kỹ thuật nuôi tu hài bằng giàn treo cố định

Tu hài là một loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Chúng có thể thích nghi với môi trường nước trong

với độ mặn ổn định, có thủy triều lên xuống hay ở các vùng bãi bùn cửa sông nước lợ.

Vị trí

Địa điểm được lựa chọn nằm trên các eo, vụng, vịnh, kín sóng gió có nước lưu thông, dòng chảy 0,2 - 0,5 m/s, có độ sâu nhất

định, độ sâu thấp nhất khi nước triều xuống trung bình khoảng 3 m. Độ mặn quanh năm của nước từ 28‰ trở lên. Độ trong của nước trên 2,5 m. Nước lưu thông tốt, thành phần thực vật phù du phong phú, nước không bị ngọt hóa, không bị ô nhiễm bởi các ngành sản xuất, và chất thải khu dân cư, không có nguồn nước ngọt đổ vào.

Chuẩn bị lồng, giàn treo

Dùng lồng (khay) nhựa cỡ 50 x 35 x 12 cm, đáy và thành khay có các khe thông nước. Đáy lồng lót một lớp lưới 2a = 1 mm, lưới bao

thành lồng có cỡ mắt 2a = 20 mm, lồng có nắp thì không cần dùng lưới nếu không có nắp thì dùng lưới 2a = 20 - 25 mm, dây quang là dây nilon có đường kính 5 - 7 mm, dây treo lồng là dây nilon có đường kính 7 - 10 mm, dùng kéo cắt lưới và dùng kim khâu lưới vào

lồng, đổ cát và mảnh vụn vỏ nhuyễn thể vào lồng có độ dày 8 - 10 cm.

Để làm giàn treo, cần dùng cọc gỗ đóng thẳng hàng và chắc chắn xuống đáy, khoảng cách giữa các cọc 1,5 - 2 m. Dùng dây thép buộc các cây gỗ giằng ngang thân và đầu cọc tạo ra giàn treo vững chắc, giàn làm vuông góc với chiều dòng chảy của nước. Đặc biệt lưu ý là giàn phải ở nơi có độ sâu trên 5 m so với mép sóng hoặc dưới mức nước ròng nhất (mặt 0 Hải đồ) 0,5 m. Thả giống

Chọn giống: Con giống được mua từ các cơ sở sản xuất giống hoặc các cơ sở thu gom

giống ngoài tự nhiên đảm bảo một số tiêu chí sau: Giống khỏe mạnh, đồng đều về kích cỡ, vỏ màu trắng ngà, qua vỏ nhìn rõ đường thức ăn có viền đen bên trong, khi thả vào nước sau 3 - 5 phút xúc tu thò ra khỏi vỏ để xi phông. Giống để nuôi thương phẩm là loại giống cấp 2 có chiều dài vỏ từ 2,5 - 3 cm. Tuy nhiên, theo kết quả của một số nghiên cứu, người nuôi có thể cân nhắc thả giống kích cỡ 4 - 5 cm để tăng sức đề kháng cho tu hài trong quá trình nuôi và giảm thời gian nuôi và rủi ro dịch bệnh vì tu hài nuôi thường mắc bệnh ở giai đoạn giống cỡ 2 - 3 cm.

Mùa vụ: Từ tháng 4 - 6 hàng năm.

Mật độ: Từ 30 - 50 con/lồng, tương đương 200 - 300 con/m2 .

Vận chuyển: Con giống được vận chuyển từ cơ sở sản xuất đến vị trí nuôi bằng hai hình thức:

Vận chuyển hở: Dùng thùng xốp cỡ: 50 x 40 x 30 cm, rải lớp cát mịn 10 cm dưới đáy, cấp nước lên trên cát cao 20 cm sau đó đưa giống vào và sục khí trong quá trình vận chuyển. Mật độ vận chuyển: Một thùng xốp như trên từ 2.000 con đến 2.500 con/ thùng (cỡ giống 2,5 - 3 cm).

Vận chuyển kín: Túi nilon cỡ 25 x 60 cm chứa 1,5 - 2 lít nước định lượng tu hài và đóng túi bơm ôxy cột chặt xếp vào thùng xốp ổn

định nhiệt độ trong quá trình vận chuyển. Mật độ vận chuyển: một túi như trên từ 500 con đến 800 con/túi (cỡ giống 2,5 - 3 cm).

Thả giống: Cho cát vào lồng dày 7 - 8 cm. Treo lồng dưới nước sao cho mặt lồng vẫn không chìm dưới mặt nước. Lấy ngón tay chọc xuống cát làm thành các lỗ đều trên mặt cát và thả vào mỗi lỗ 1 con. Không được thả những con giống đã bị vỡ vỏ. Buộc nắp lồng và từ từ thả xuống, đáy lồng cách mặt bãi từ 0,3 - 0,5 m.

Quản lý, chăm sóc

Mỗi tháng định kỳ kéo lồng nuôi lên 2 lần để kiểm tra, làm vệ sinh lồng, loại bỏ hết vật lạ trong lồng, dùng bàn chải đánh rửa sạch

mặt ngoài lồng.

Lấy tay bới cát xuống đến độ sâu ½ độ dày của lớp cát, nếu phát hiện chỗ có cát màu đen, dấu hiệu ở đó có thể có một số tu hài bị chết, phải loại bỏ tu hài chết và thay cát mới. Kiểm tra giây buộc cũng như dây treo lồng, nếu bị cua hoặc cá làm rách lưới hoặc có nguy cơ dứt dây thì cần thay ngay. Bên ngoài

lồng có các loại động vật như sun, hà bám gây hại cho lồng nuôi thì cần dùng dao đẽo gọt để loại bỏ, tuy nhiên nếu do sun, hà và quá trình nuôi lâu ngày làm hư hỏng vật liệu cần phải kiểm tra và thay thế.

Những ngày có mưa to, độ mặn thay đổi ảnh hưởng đến môi trường sống, người nuôi cần thiết phải thả dây treo sâu tới mức có thể. Đồng thời thực hiện phương pháp di dời sang bãi nuôi dự phòng nơi có độ mặn cao hơn để duy trì qua mùa mưa nếu như vùng nuôi có độ mặn giảm xuống dưới 25‰, chờ đến khi môi trường trở lại bình thường thì kéo trở lại vị trí nuôi và cố định dây treo ở mức quy định. Sau mưa 1 ngày, cần kiểm tra nếu có sự cố phải xử lý ngay.

Kiểm tra sinh trưởng 1 lần/tháng, lấy ngẫu nhiên 3 lồng nuôi treo, đếm số con còn lại đo tính chiều dài, rộng, cao và tính tỷ lệ sống so với lần kiểm tra trước. Từ hai tháng nuôi trở đi cần thêm cát vào lồng đến khi thu hoạch thì cát cách mặt lồng 5 cm là đủ.

Phòng bệnh

Trong quá trình nuôi, tu hài thường bị bệnh sưng vòi. Bệnh này xuất hiện ở cả tu hài giống bé (kích thước khoảng 2 mm), tu hài giống lớn (kích cỡ khoảng 2 - 3 cm), tu hài kích cỡ thương phẩm với tỷ lệ chết trong đợt dịch lên đến 100% với dấu hiệu

đặc trưng của bệnh là vòi tu hài bị sưng, bọng nước và bong tróc (Phan Thị Vân và cộng sự, 2013; 2014; Trương Thị Mỹ Hạnh và cộng sự, 2014; 2015).

Nguyên nhân chính gây bệnh sưng vòi bước đầu được xác định là do tác nhân VLPs (Virus-like particles) ký sinh trong phần vòi của tu hài bệnh (Phan Thị Vân và cộng sự, 2014; Trương Thị Mỹ Hạnh và cộng sự, 2014; 2015), song việc phân loại và định danh VLPs, con đường lây nhiễm và lan truyền của tác nhân gây bệnh VLPs cũng như các điều kiện phát sinh bệnh sưng vòi vẫn chưa được làm sáng tỏ. Do đó, khi đã mắc bệnh, việc điều trị là kém thả thi.

Vì vậy, để phòng bệnh, người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp chăm sóc, quản lý.

Đồng thời lưu ý, chọn cát nuôi tu hài với tỷ lệ 70% vỏ nhuyễn thể và 30% cát, trong đó cát

được xử lý trước khi nuôi để loại bỏ vi khuẩn gây bệnh, ký sinh,... bằng Chlorine 30 ppm trong 24 giờ và trung hòa bằng Thiosulphate (tỷ lệ1:1) sau đó phơi nắng.

Tu hài là đối tượng có thể nuôi ở nhiều hình thức khác nhau Ảnh: ST

Bên cạnh đó, cần duy trì mật độ thả hợp lý, theo dõi chặt chẽ các yếu tố môi trường nước như nhiệt độ, độ mặn, và khẩn trương thu hoạch hoặc san thưa mật độ khi cần thiết để tránh thiệt hại. Khi phát hiện tu hài chết, cần thu gom và xử lý ngay để tránh lây lan, đồng thời vệ sinh khu vực nuôi.

Thu hoạch

Thông thường một vụ nuôi kéo dài khoảng 15 - 18 tháng từ khi thả giống ra ương đến khi thu hoạch. Người nuôi nên thu hoạch tu hài vào giai đoạn tuyến sinh dục phát triển (khoảng từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau). Tuy nhiên, tu hài là đối tượng có giá trị kinh tế cao và là đặc sản quý hiếm do vậy khi thu hoạch phụ thuộc rất lớn vào thị trường tiêu thụ. Người nuôi cũng có thể cân nhắc thu theo nhu cầu của thị trường để tránh phải bảo quản với thời gian lâu tu hài sẽ gầy và hao hụt.

Có thể thu tỉa hoặc thu toàn bộ và thả vào một giai đặt dưới nước trước khi vận chuyển đến thị trường.

Nên thu hoạch tu hài vào ban ngày khi thủy triều rút xuống giúp việc quan sát và nhặt tu hài sẽ dễ dàng hơn, tránh bị lãng phí hoặc bỏ sót tu hài.

Trên cơ sở kiểm tra hàng ngày, dự tính sản lượng tu hài có thể thu được để bố trí nhân lực, dụng cụ, biện pháp bảo quản và vận chuyển sản phẩm cho phù hợp.

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook