1 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
TẠP CHÍ CỦA HIỆP HỘI GIA CẦM VIỆT NAM
SỐ 90 THÁNG 9/2026
Ảnh: C.P
XUẤT KHẨU GIA CẦM
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH >>16-17
POULTRY WORLD MAGAZINE www.tapchigiacam.net
Giá: 30.000 đ
2 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
3 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
4 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
5 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
6 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
7 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
8 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
9 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
10 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
CƠ QUAN CHỦ QUẢN Hiệp hội Gia cầm Việt Nam
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TS. Nguyễn Quý Khiêm Nhà báo Dương Xuân Hùng Nhà báo Đỗ Huy Hoàn TKTS Nguyễn Chi TỔNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP Nhà báo Đỗ Huy Hoàn HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành CỘNG TÁC NỘI DUNG Thu Hồng; Kim Tiến; Thùy Khánh; Anh Thư Nguyễn Hùng; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Lê Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Sao Mai; Quỳnh Nga; Vũ Mưa... MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai TÒA SOẠN P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KĐT An Hưng, phường La Khê, TP Hà Nội. Điện thoại: (024) 320 1068; Fax: (024) 320 1068; Email: thegioigiacam@gmail.com TRỊ SỰ Nguyễn Thanh Đức VĂN PHÒNG TP HỒ CHÍ MINH Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định Điện thoại: 028.62777616 GIẤY PHÉP XUẤT BẢN: Số 543/GP-BTTT ngày 05/12/2016 Số 74/GP-BVHTTDL ngày 14/07/2025 Khuôn khổ: 23 x 30cm Nơi in: Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM) LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: Ngọc Ánh: 0963.555.554 - Bảo Ngọc: 098.999.1977 Vũ Na: 0978.233.492 Email: quangcaoncn@gmail.com Liên hệ đặt báo: Ms: Ngọc Ánh; DĐ: 0963.555.554 Email: phathanhtggc@gmail.com SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936 Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Chi nhánh Tràng An Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 01202001 Địa chỉ ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội
Thưa quý vị bạn đọc! Nếu như trong cả năm 2025, Việt Nam chi gần 2 tỷ USD để nhập khẩu thịt; nhưng mới qua nửa đầu năm 2026, kim ngạch này đã lên tới 1,5 tỷ USD với sản phẩm đa dạng từ thịt heo, gà đến thịt bò, trâu và các loại phụ phẩm sau giết mổ. Không chỉ tăng mạnh về lượng, hàng ngoại còn gây chú ý bởi mức giá thấp, tạo sức ép trực tiếp lên người chăn nuôi trong nước. Trong đó, sản phẩm thịt và phụ phẩm ăn được của gia cầm tới 217.371 tấn, chiếm 36,49% tổng lượng thịt và sản phẩm từ thịt nhập khẩu. Đây là nhóm thịt có khối lượng nhập khẩu lớn nhất trong 7 tháng. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 221,14 triệu USD, giá nhập khẩu bình quân chỉ khoảng 26.500 đồng/kg. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 8, giá gà công nghiệp lông trắng tại khu vực miền Trung và miền Nam chỉ ở mức 25.000 đồng/kg. Giá này rất thấp so với giá thành sản xuất khoảng trên dưới 30.000 đồng/kg với gà lông xuất chuồng. Dù Bộ Nông nghiệp và Môi trường kỳ vọng giá gà sẽ tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh vào quý IV/2026, nhưng cơ quan chức năng cần siết chặt hoạt động nhập khẩu tiểu ngạch; với hàng nhập khẩu chính ngạch, cần kiểm soát chặt vấn đề an toàn thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng cũng như các hộ chăn nuôi trong nước. Ở một khía cạnh khác, trong hành trình đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt mốc 100 tỷ USD, ngành chăn nuôi đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới. Theo các chuyên gia để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần một cuộc chuyển đổi tư duy mạnh mẽ: từ ưu tiên sản lượng sang tập trung vào giá trị gia tăng và hội nhập sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Với nhóm ngành gia cầm, nhu cầu protein toàn cầu tiếp tục tăng và đây là sản phẩm được dự báo chiếm tới 62% phần tăng thêm của tiêu thụ thịt thế giới đến năm 2034, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đáng kể. Như nhận định của Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) Nguyễn Thanh Sơn, ngành gia cầm Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, chuyển dịch từ “tăng trưởng sản lượng” sang “nâng cao giá trị”, thì việc ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi liên kết, đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động phòng bệnh, đã trở thành những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, trang trại. Theo ông Sơn, cấu trúc lực lượng sản xuất ngành gia cầm chắc chắn sẽ trải qua một cuộc đại sàng lọc sâu sắc. Trong đó, các tập đoàn và doanh nghiệp quy mô lớn (bao gồm cả khối FDI và nội địa) sẽ giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt toàn chuỗi. Các hợp tác xã kiểu mới và trang trại chuyên nghiệp sẽ đóng vai trò là lực lượng liên kết vệ tinh. Tựu trung lại, diện mạo của ngành gia cầm Việt Nam trong 5 - 10 năm tới sẽ được định hình bằng 4 từ khóa: “Quy mô lớn hơn, Công nghệ cao hơn, Xanh hơn và Minh bạch hơn”. Để hiểu hơn về những thông điệp này, mời quý độc giả đón đọc bài viết được đăng tải trên ấn phẩm Tạp chí Thế giới Gia cầm phát hành kỳ tháng 9/2026 với tiêu đề: “Ngành gia cầm Việt: Khát vọng nâng tầm năng lực cạnh tranh quốc gia”. Một trong những chủ đề cũng thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng doanh nghiệp, người chăn nuôi đó là những tiến bộ về công nghệ, kỹ thuật trong sản xuất. Vì vậy, trên số báo phát hành kỳ này, Tạp chí tiếp tục cung cấp một số thông tin như: Xu hướng phụ gia mới cho sức khỏe đường ruột gia cầm; Bổ sung thảo dược trong phòng chống bệnh hô hấp ở gà; Ứng dụng công nghệ Expander trong sản xuất thức ăn chăn nuôi… Mời quý độc giả đón đọc! Trân trọng!
BAN BIÊN TẬP
MỤC LỤC 14 Tòa soạn bạn đọc Cuộc chiến không cân sức giữa gà nội và gà ngoại
18 Vấn đề - Chuyên đề Gia cầm: Trụ cột mới của ngành protein động vật 16
22 Thông tin doanh nghiệp J số 1 Dabaco: Thêm kỳ vọng về con giống mới cho người chăn nuôi 26 Thông tin doanh nghiệp Tối ưu FCR, nâng hiệu quả chăn nuôi gà thịt 38
36 Chuyển động VPA Ngành gia cầm Việt: Khát vọng nâng tầm năng lực cạnh tranh quốc gia 48 Thức ăn dinh dưỡng 6 xu hướng phụ gia mới cho sức khỏe đường ruột gia cầm
50
12
TIN TỨC THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Góp ý hoàn thiện quy định quản lý thuốc thú y, giết mổ Sáng 25/8 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật Thú y Việt Nam tổ chức hội thảo góp ý hai dự thảo Thông tư về quản lý thuốc thú y và kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y. Các đại biểu đề nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục đăng ký, lưu hành thuốc thú y, đẩy mạnh thủ tục trực tuyến và làm rõ quy định về nhãn điện tử, kiểm nghiệm, đánh giá tồn dư vaccine trong sản phẩm động vật. Đối với kiểm soát giết mổ, nhiều ý kiến đề nghị phân loại cơ sở theo mức độ nguy cơ, làm rõ việc xử lý động vật, sản phẩm không bảo đảm vệ sinh thú y và tăng cường truy xuất nguồn gốc thông qua kết nối dữ liệu Trung ương - địa phương. Đáng chú ý, đại diện doanh nghiệp đề nghị làm rõ quy định liên quan động vật mắc bệnh dịch tả heo châu Phi, tránh gây khó khăn trong thực tiễn chăn nuôi, giết mổ.
Cần tăng cường quản lý hoạt động sản xuất, nhập khẩu, buôn bán và sử dụng thuốc thú y
Ảnh: ST
NAM LINH
Nông nghiệp giữ mục tiêu tăng trưởng cao cuối năm Mỹ rà soát thuế với mật ong Việt Nam Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tăng trưởng GDP khu vực nông, lâm, thủy sản năm 2026 đạt 4%, trong đó chăn nuôi tăng khoảng 5,02%. Tại cuộc họp ngày 8/9 về kết quả sản xuất 8 tháng và nhiệm vụ 4 tháng cuối năm, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu toàn ngành tiếp tục giữ vững mục tiêu tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực còn dư địa, đặc biệt là chăn nuôi. Trong 8 tháng, sản xuất cơ bản ổn định; tổng đàn heo tăng 4,2%, gia cầm tăng 2,8%, tạo cơ sở duy trì đà tăng trưởng những tháng cuối năm. Ngành chăn nuôi cần tiếp tục phát triển đàn vật nuôi chủ lực, nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm nguồn cung thực phẩm. Theo kịch bản, quý III khu vực nông, lâm, thủy sản phấn đấu tăng 4,15% và quý IV tăng 4,20%, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm.
Theo thông tin từ Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công thương), Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa khởi xướng rà soát hành chính thuế chống bán phá giá đối với mật ong thô nhập khẩu từ Việt Nam. Mật ong thô được rà soát theo mã vụ việc A-552-833, với thời kỳ từ ngày 1/6/2025 đến 31/5/2026. DOC dự kiến lựa chọn các doanh nghiệp xuất khẩu có lượng hàng lớn làm bị đơn bắt buộc, căn cứ số liệu của Cơ quan Hải quan và Bảo vệ biên giới Mỹ. Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mật ong chủ động theo dõi vụ việc, chuẩn bị hồ sơ, số liệu và thực hiện đầy đủ yêu cầu của DOC nếu được lựa chọn. DOC dự kiến ban hành kết luận rà soát muộn nhất ngày 30/6/2027.
Belarus mở rộng thị trường thịt tại Việt Nam
Trung Quốc gia tăng nhập khẩu thức ăn gia súc của Việt Nam
VŨ HẢI
Ngày 25/8 tại Hà Nội, ông Phạm Ngọc Mậu, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tiếp và làm việc với Tham tán thương mại Đại sứ quán Belarus tại Việt Nam Dennis Nikalayeu về hợp tác nông nghiệp, tập trung mở rộng thị trường sản phẩm chăn nuôi. Hiện nay, 4 doanh nghiệp Belarus đã được cấp phép xuất khẩu thịt bò không xương sang Việt Nam. Lô hàng đầu tiên vào thị trường từ tháng 4/2026, nhận phản hồi tích cực; Belarus đang chuẩn bị lô tiếp theo và đề xuất bổ sung doanh nghiệp đủ điều kiện. Hai bên cũng đang xử lý các thủ tục liên quan đến thịt bò đóng hộp, thịt heo và thịt gà. Belarus mong muốn đưa thêm thịt chế biến vào Việt Nam, đồng thời đẩy nhanh hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu. Năm 2025, kim ngạch nông, lâm, thủy sản hai chiều đạt khoảng 10 triệu USD, còn khiêm tốn so với mức đỉnh khoảng 90 triệu USD năm 2021.
THÙY KHÁNH
MINH KHUÊ
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nửa đầu tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 93,8 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến 15/8/2026 kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt hơn 1,3 tỷ USD. Xét về thị trường, thức ăn gia súc và nguyên liệu xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc trong 7 tháng năm 2026, chiếm 55,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 674,5 triệu USD, tăng 108,8% so với cùng kỳ năm 2025. Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Campuchia chiếm 11,4%, đạt 139,4 triệu USD, tăng 45,4% so với cùng kỳ năm 2025. Tiếp đến thị trường Malaysia đạt gần 71,7 triệu USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 5,9%.
XUÂN LAN
TIN TỨC
13
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Việt Nam chi 1,7 tỷ USD nhập khẩu thịt trong 7 tháng Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 595,7 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng và 32,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp lớn nhất, chiếm 20,29% tổng lượng nhập khẩu, với 120,8 nghìn tấn, trị giá 521,28 triệu USD, tăng lần lượt 26,5% và 55,8%. Về cơ cấu, phụ phẩm và thịt gia cầm chiếm 36,49% về lượng; thịt trâu 18,89%; thịt heo 18,82%. Đáng chú ý, Việt Nam nhập 112,09 nghìn tấn thịt heo, trị giá 185,54 triệu USD, tăng 27,1% về lượng nhưng giảm 20,9% về trị giá. Giá nhập khẩu bình quân chỉ 1.638 USD/tấn, giảm 38,4%. Brazil là nguồn cung thịt heo lớn nhất, chiếm 44,5% lượng nhập khẩu, tiếp đến là Nga và Tây Ban Nha. Diễn biến này cho thấy nguồn thịt nhập khẩu tiếp tục gia tăng, trong khi giá thịt heo nhập khẩu giảm đáng kể.
NGUYỆT AN
Xuất khẩu thịt giảm về lượng, tăng giá trị Trong 7 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu 10,7 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 72,06 triệu USD, giảm 17,7% về lượng nhưng tăng 4,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu tới 29 thị trường, trong đó Hồng Kông là thị trường lớn nhất, chiếm 41,07% về trị giá, đạt 29,59 triệu USD. Tuy nhiên, xuất khẩu sang thị trường này giảm 28% về trị giá, chủ yếu là thịt heo sữa và thịt heo nguyên con đông lạnh. Về cơ cấu, thịt heo tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 34,97% về lượng và 44,09% về trị giá. Xuất khẩu mặt hàng này đạt 3,7 nghìn tấn, trị giá 31,77 triệu USD, giảm lần lượt 23,6% và 15,1%. Trong khi đó, xuất khẩu thịt sang Trung Quốc, Pháp, Singapore, Mỹ, Campuchia, Hà Lan và Đức tăng cả về lượng và trị giá, cho thấy dư địa mở rộng thị trường vẫn đáng chú ý đối với ngành chăn nuôi.
XUÂN TRÀ
Thức ăn chăn nuôi tăng giá Từ đầu tháng 9, nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi thông báo điều chỉnh tăng giá bán, tạo thêm áp lực lên chi phí sản xuất của người chăn nuôi. Theo thông tin thị trường, thức ăn cho heo tăng khoảng 200 - 400 đồng/kg, gia cầm 300 - 400 đồng/kg và thức ăn thủy sản 500 - 1.500 đồng/kg. Riêng Woosung Việt Nam và RICO Đồng Nai thông báo tăng 200 đồng/kg đối với các sản phẩm thức ăn gia súc, gia cầm. Nguyên nhân được các doanh nghiệp đưa ra là giá nguyên liệu đầu vào biến động tăng, trong khi nguồn cung một số nguyên liệu chủ lực như ngô, đậu tương, lúa mì có dấu hiệu thắt chặt; chi phí logistics, vận tải quốc tế cũng gia tăng. Thức ăn là khoản chi phí lớn trong chăn nuôi, do đó giá tăng sẽ tác động trực tiếp đến giá thành. Do vậy, người nuôi nên tính toán kỹ hiệu quả kinh tế, kiểm soát lượng thức ăn, nâng cao hệ số chuyển đổi và thận trọng khi mở rộng đàn.
HOÀNG MI
Hiệu quả các mô hình khuyến nông chăn nuôi Trung tâm Khuyến nông Quốc gia vừa kiểm tra thực địa, đánh giá tiến độ, quy trình kỹ thuật, hiệu quả mô hình tại cơ sở
các dự án Khuyến nông Trung ương triển khai tại Thái Nguyên. Tại các mô hình chăn nuôi, đoàn ghi nhận việc triển khai nghiêm túc, đúng quy trình. Đáng chú ý, dự án sản xuất nông nghiệp theo hướng tuần hoàn tại xã Điềm Thụy và Phú Bình có 35 hộ tham gia, với 160 con bò thịt và 1,5 ha ngô; năng suất ngô sinh khối đạt 52 tấn/ha/vụ, bò tăng trọng bình quân 1.181 g/con/ngày. Các mô hình gà H’Mông và heo Hương cũng được đánh giá có triển vọng phát triển sản phẩm đặc sản, OCOP. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đề nghị tiếp tục chuẩn hóa quy trình, tăng cường truyền thông và phát huy vai trò khuyến nông cơ sở để nhân rộng hiệu quả mô hình.
KHÁNH NGUYỄN
Bảo tồn và phát triển nguồn gen gia cầm Mới đây, đoàn công tác của Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đã kiểm tra tiến độ thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ tại tỉnh Cao Bằng. Trong đó, nhiệm vụ thứ nhất là “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen gà xương đen, thịt đen bản địa (gà Mông) tại huyện Bảo Lâm và huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”. Nhiệm vụ thứ hai là “Nghiên cứu bảo tồn phát triển nguồn gen Vịt cỏ mang nhãn hiệu tập thể “Vịt cỏ Trùng Khánh” tỉnh Cao Bằng”. Lãnh đạo Viện đã trực tiếp trao đổi, thống nhất nội dung chuyên môn và chỉ đạo các chủ nhiệm nhiệm vụ triển khai công việc theo kế hoạch, hoàn thiện báo cáo, hồ sơ và các thủ tục liên quan, bảo đảm đầy đủ cơ sở để tổ chức nghiệm thu, kết thúc nhiệm vụ gà Mông trong năm 2026. Với nhiệm vụ Vịt cỏ Trùng Khánh, cần tăng cường tuyển chọn đàn vịt qua từng giai đoạn, chú trọng chỉ tiêu về ngoại hình, mức độ đồng đều, từng bước hình thành, ổn định đàn hạt nhân có chất lượng.
VIỆT HÀ
Phổ biến quy định về quản lý, sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi Ngày 11/9, tại TP Hồ Chí Minh, Cục Chăn nuôi và Thú y tổ chức hội nghị phổ biến các quy định về quản lý, sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Nội dung tập trung vào mục đích sử dụng, kê đơn, bán thuốc, thực hiện, thời gian ngừng thuốc, ghi chép và giám sát, hướng tới kiểm soát toàn bộ quá trình sử dụng và tăng khả năng truy xuất. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu đưa quản lý kháng sinh vào thực hành hằng ngày, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu đủ để theo dõi tình hình sử dụng, kháng thuốc và các nguy cơ liên quan. Qua đó, trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi sử dụng kháng sinh được xác định từ người kê đơn, cơ sở bán thuốc đến cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và cơ quan quản lý. Theo định hướng được trình bày tại hội nghị, việc quản lý đến năm 2030 cần được theo dõi thông qua kế hoạch, kinh phí, năng lực, kết quả xét nghiệm và hồ sơ tuân thủ. Lộ trình được chia thành các giai đoạn: năm 2026 tập trung vào phòng thử nghiệm và kế hoạch cấp tỉnh; giai đoạn 2027 - 2029 chú trọng đào tạo, giám sát và cơ sở dữ liệu; đến năm 2030 mở rộng năng lực và đánh giá mức độ tuân thủ.
NGỌC HÂN
14
TÒA SOẠN BẠN ĐỌC THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC GIỮA GÀ NỘI VÀ GÀ NGOẠI Theo số liệu từ Cục Hải quan gần 217.400 tấn thịt và phụ phẩm gia cầm đã tràn vào Việt Nam chỉ trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng hơn 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Áp lực từ hơn 31.000 tấn thịt gà ngoại đổ bộ mỗi tháng đang đẩy ngành chăn nuôi nội địa vào một cuộc chiến sinh tử bất bình đẳng. Xung quanh câu chuyện này, Tạp chí Thế giới Gia cầm đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam. Gần 217.400 tấn là con số kỷ lục về khối lượng nhập khẩu thịt và phụ phẩm gia cầm chỉ trong 7 tháng đầu năm 2026. Nhìn nhận của ông về điều này như thế nào và ngành chăn nuôi gia cầm trong nước đang phải chịu những áp lực gì từ làn sóng nhập khẩu đó, thưa ông? Số liệu trích dẫn của báo chí từ Cục Hải quan cho thấy, chỉ trong 7 tháng đầu năm 2026, sản lượng thịt và phụ phẩm gia cầm nhập khẩu đã cán mốc gần 217.400 tấn, tăng hơn 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính ra mỗi tháng, thị trường Việt Nam đang phải hấp thụ hơn 31.000 tấn thịt gà ngoại. Con số này chiếm tới 36,5% tổng lượng thịt nhập khẩu các loại của cả nước, khiến thịt gia cầm đang là mặt hàng chăn nuôi bị cạnh tranh khốc liệt nhất hiện nay. Dòng chảy ồ ạt của thịt gà ngoại (đặc biệt là các sản phẩm giá rẻ như đùi gà, cánh gà, gà dai nguyên con đông lạnh) đang tạo ra áp lực dư cung trực tiếp, tác động tiêu cực đến ngành chăn nuôi gia cầm trong nước. Sự tràn ngập của gà nhập khẩu giá rẻ buộc các trang trại nội địa phải hạ giá bán để cạnh tranh, nhiều thời điểm giá bán ra thấp hơn cả chi phí chăn nuôi. Theo Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA), giá gà trắng xuất chuồng tại thủ phủ chăn nuôi miền Nam có thời điểm đã chạm đáy, chỉ còn 22.000 - 24.000 đồng/kg. Với mức giá này, người chăn nuôi nắm chắc phần lỗ từ 5.000 - 7.000 đồng/kg. Tình trạng thua lỗ kéo dài liên tục nhiều tháng qua đang vắt kiệt dòng vốn tái sản xuất của toàn ngành. Mức giá CIF nhập khẩu bình quân chỉ khoảng 26.500 đồng/kg là một con số gây sốc. Theo ông, những yếu tố cốt lõi nào đã đẩy lượng thịt gia cầm ngoại tràn vào Việt
Nam tăng đột biến hơn 40% trong các tháng đầu năm 2026, và vì sao hàng ngoại nhập lại có mức giá “rẻ đến khó tin” như vậy? Trước hết chúng ta cần làm rõ mức giá bình quân 26.500 đồng/kg thịt gà (khoảng hơn 1 USD/kg) là giá CIF (Giá tại cảng Việt Nam). Con số 26.500 đồng/kg không phải là giá của “nguyên một con gà tươi làm sạch”. Đây là mức giá trung bình khi cào bằng tất cả các bộ phận được nhập về, bao gồm cả những phần có giá siêu rẻ. Giá này không đại diện cho “nguyên con gà tươi”, mà là giá trộn lẫn giữa đùi gà đông lạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất (71,5%) cùng với các loại phụ phẩm giá rẻ như xương gà, cổ, cánh, lòng, mề. Mức giá này chưa bao gồm thuế nhập khẩu (thường từ 15 - 20% tùy dòng thuế/ hiệp định thương mại FTA), thuế VAT, chi phí lưu kho lạnh, chi phí kiểm dịch và biên lợi nhuận của doanh nghiệp phân phối nội địa. Khi ra đến thị trường bán sỉ, giá đùi gà ngoại sẽ dao động lên mức 40.000 - 45.000 đồng/kg, và bán lẻ tại chợ/siêu thị là 50.000 - 55.000 đồng/kg. Theo tôi, có 4 yếu tố cốt lõi khiến lượng thịt và phụ phẩm gia cầm nhập khẩu vào Việt Nam tăng đột biến hơn 40% trong 7 tháng đầu năm 2026 và giá nhập khẩu rẻ hơn năm ngoái. Thứ nhất, lộ trình cắt giảm thuế quan từ các Hiệp định thương mại (FTA) chạm mốc ưu đãi sâu. Việt Nam đang bước vào giai đoạn thực thi sâu rộng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, và đặc biệt là các thỏa thuận song phương/ đa phương với các cường quốc chăn nuôi. Lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu đối với thịt gia cầm đông lạnh từ mức 15 - 20% trước đây hiện đang tiến dần về mức 0 - 5%. Thuế giảm sâu khiến giá vốn đóng cửa khẩu (giá
CIF cộng thuế) của hàng ngoại thấp kỷ lục, kích thích các doanh nghiệp đầu mối ồ ạt gom hàng. Thứ hai, sự chuyển dịch dòng giao thương toàn cầu và xu hướng xả kho từ Âu - Mỹ do dư cung tại các nước xuất khẩu. Chuỗi logistics và thương mại gia cầm toàn cầu ghi nhận sự gia tăng sản lượng mạnh mẽ từ các nước lớn như Mỹ, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ hay Ba Lan. Đặc biệt, thị trường Thổ Nhĩ Kỳ xuất sang Việt Nam tăng đột biến về sản lượng. Khi các kho lạnh tại phương Tây bị ứ đọng do tiêu thụ nội địa chậm, các doanh nghiệp ngoại sẵn sàng đại hạ giá phân khúc đùi, cổ, cánh, nội tạng đông lạnh (vốn là phụ phẩm đối với họ). Việc này đẩy mức giá nhập khẩu bình quân tại cảng Việt Nam giảm sâu gần 29% so với cùng kỳ (rơi xuống mức 1,06 $/kg so với bình quân 1,3 $/kg năm ngoái). Giá càng rẻ, lực cầu nhập khẩu từ các thương nhân Việt Nam càng tăng mạnh. Thứ ba, doanh nghiệp nội địa tìm nguồn đạm thay thế nhằm hạ chi phí suất ăn công nghiệp. Chi phí vận hành, logistics và giá thực phẩm tươi sống tại thị trường Việt Nam đang thiết lập mặt bằng giá mới cao hơn. Hệ quả là các doanh nghiệp chế biến sâu (làm giò chả, xúc xích, lạp xưởng) và các đơn vị thầu suất ăn công nghiệp cho công nhân, trường học bị siết chặt biên lợi nhuận. Để giữ nguyên giá suất ăn (ví dụ ở mức 25.000 - 30.000 đồng/suất), các bếp ăn công nghiệp bắt buộc phải từ bỏ thịt gà tươi nội
TÒA SOẠN BẠN ĐỌC
15
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
địa và chuyển dịch đồng loạt sang sử dụng đùi gà, cánh gà ngoại đông lạnh nhằm giảm 40 - 50% chi phí nguyên liệu. Sức cầu lớn từ phân khúc thương mại này đã trực tiếp kéo lượng hàng nhập khẩu tăng vọt. Thứ tư, hệ thống hàng rào kỹ thuật (SPS) của Việt Nam chưa đủ chặt chẽ. So với các nước trong khu vực, hàng rào kỹ thuật và các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với thực phẩm đông lạnh nhập khẩu của nước ta hiện nay vẫn còn tương đối cởi mở. Hệ quả là các quốc gia xuất khẩu dễ dàng đưa các sản phẩm pha cắt đông lạnh, phụ phẩm ăn được (lòng, mề, phao câu) vào Việt Nam mà không gặp phải các rào cản khắt khe về thời hạn sử dụng còn lại, hay các tiêu chuẩn kiểm dịch ngặt nghèo như cách chăn nuôi nội địa đang phải gánh chịu. Sự dễ dàng về thủ tục này đã biến Việt Nam trở thành “vùng trũng” thu hút dòng chảy gia cầm giá rẻ từ khắp nơi trên thế giới. Mức chênh lệch giá giữa gà nội và gà ngoại đang đặt ngành chăn nuôi trước một bài toán sinh tồn. Ông có thể phác họa bức tranh chi phí sản xuất gà thịt hiện nay tại Việt Nam? Với cục diện chênh lệch này, chúng ta phải thay đổi thế nào khi năng lực cạnh tranh về giá gần như đã chạm đáy? Hiện tại, chi phí sản xuất 1 kg gà lông trắng tại Việt Nam dao động trong khoảng 27.000 - 30.000 đồng (tùy thuộc vào tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh và biến động giá nguyên liệu). Trong đó, thức ăn chăn nuôi là 18.900 - 21.000 đồng (chiếm 70%); con giống (gà con 1 ngày tuổi) 3.500 - 4.200 đồng (chiếm 5%); thuốc thú y và vaccine là 1.350 - 1.500 đồng (chiếm 4 - 5%); điện, nước, chất độn chuồng là 1.100 - 1.200 đồng (chiếm 3 4%); nhân công trực tiếp là 800 - 900 đồng (chiếm 3%); khấu hao tài sản và chi phí khác là 1.200 - 1.350 đồng (chiếm 4 - 5%). Nếu so sánh với các nước trong khu vực châu Á, giá thành sản xuất gà trắng của các doanh nghiệp và tập đoàn lớn thuộc ở nước ta vào nhóm tối ưu nhất, được xếp thứ 2/18 quốc gia về khả năng tối ưu chi phí sản xuất. Cụ thể bao gồm: Ấn Độ (1,05 USD/ kg), Việt Nam (1,06 USD/kg), Pakistan (1,07 USD/kg)… Trong khi đó, con số này ở Nhật Bản là 2,07 USD/kg và Brunei là 2,20 USD/kg. Hệ thống sản xuất của các doanh nghiệp và tập đoàn lớn ở nước ta đã đạt đến giới
hạn biên của hiệu quả chi phí, dư địa để giảm giá thành gần như không còn nhiều. Hiện nay, giá bán gà trắng sản xuất trong nước phổ biến như sau: Gà nguyên con móc hàm (đã bỏ đầu, chân, nội tạng) có giá sỉ tại lò mổ dao động từ 38.000 - 45.000 đồng/kg. Giá bán lẻ tại các chợ và siêu thị khoảng 50.000 - 60.000 đồng/kg. Ức gà fillet (không da, không xương) - phần đắt nhất của con gà trắng nội địa - có giá bán lẻ khoảng 60.000 - 80.000 đồng/kg do được các phòng tập gym và chuỗi thực phẩm lành mạnh tiêu thụ mạnh. Đùi gà góc tư tươi có giá bán lẻ dao động từ 65.000 - 80.000 đồng/kg. Cánh gà tươi có giá bán lẻ dao động từ 70.000 - 85.000 đồng/kg. Việc hệ thống sản xuất đã “chạm trần” hiệu quả đồng nghĩa với việc người chăn nuôi Việt Nam không thể cắt giảm giá thành sâu hơn nữa bằng các biện pháp kỹ thuật thông thường. Khi cuộc đua về giá đã không còn lợi thế, ngành chăn nuôi gia cầm trong nước bắt buộc phải chuyển dịch từ chiến lược “đua giá rẻ” sang chiến lược “cạnh tranh bằng sự khác biệt và chuỗi giá trị”. Thứ nhất, xoay trục phân khúc, tránh đối đầu trực diện. Gà nhập khẩu chủ yếu là thịt đông lạnh và các phần phụ phẩm (đùi, cổ cánh, chân, nội tạng ăn được). Do đó, doanh nghiệp nội địa cần tập trung tổng lực vào phân khúc thịt tươi sống (thịt mát) tiêu thụ trong ngày tại các chợ truyền thống và siêu thị - nơi mà hàng đông lạnh nhập khẩu không thể thay thế. Thứ hai, phát huy lợi thế dòng gà bản địa (gà lông màu, gà thả vườn). Người tiêu dùng Việt Nam có thói quen và sở thích ăn thịt gà dai, thơm (gà ta, gà thả vườn) hơn là thịt gà công nghiệp bở trong các bữa ăn gia đình. Đây là vùng đệm an toàn tuyệt đối mà gà ngoại không thể xâm nhập. Cần quy hoạch và tối ưu hóa quy trình nuôi gà lông màu để giảm giá thành, biến đây thành mũi nhọn chiếm lĩnh thị trường nội địa. Thứ ba, khép kín chuỗi cung ứng (Mô hình 3F: Feed - Farm - Food). Đối với các
doanh nghiệp lớn và chuỗi liên kết, cần chuẩn bị tâm thế và nguồn lực cho cuộc cách mạng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp cần chủ động tự chủ nguồn giống chất lượng cao, dinh dưỡng chuẩn, phòng bệnh hiệu quả và đầu tư sâu vào hệ thống nhà máy giết mổ, chế biến hiện đại. Đồng thời, phải thiết lập các tiêu chuẩn quản trị rủi ro nghiêm ngặt và minh bạch hóa dữ liệu chuỗi cung ứng qua Blockchain để bảo vệ thương hiệu. Đối với các hộ chăn nuôi, phải dứt khoát từ bỏ tư duy chăn nuôi tự phát, “được chăng hay chớ”. Người nông dân cần chuẩn bị kiến thức kỹ thuật, chuyển sang chăn nuôi chuyên nghiệp bằng mô hình chuồng kín và tham gia vào các hợp tác xã kiểu mới. Con đường sống còn của nông hộ là trở thành một mắt xích vệ tinh, chia sẻ rủi ro và lợi ích trong chuỗi giá trị khép kín của tập đoàn lớn. Các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đơn độc sẽ bị loại bỏ dần. Xu hướng bắt buộc là phải liên kết chặt chẽ với các tập đoàn lớn theo mô hình gia công hoặc hợp tác xã. Chuỗi liên kết này giúp tự chủ nguồn cám, kiểm soát dịch bệnh, bao tiêu đầu ra và triệt tiêu các khâu trung gian phân phối vốn đang đẩy giá gà từ trang trại đến tay người tiêu dùng lên cao vô lý. Cuối cùng, ngành gia cầm bắt buộc phải tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Thời kỳ chạy theo số lượng, tăng đàn cơ học bằng mọi giá đã khép lại. Tái cấu trúc lúc này là bài toán chuyển dịch toàn diện sang chiều sâu và tự chủ chuỗi cung ứng. Chúng ta cần tập trung tối ưu hóa hiệu suất trên từng đơn vị vật nuôi thông qua công nghệ di truyền, dinh dưỡng chính xác và phòng bệnh hiệu quả. Bên cạnh đó, việc tái cấu trúc phải gắn liền với tối ưu hóa chuỗi giá trị: giảm bớt các khâu trung gian thương lái, chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình chỉ bán thịt tươi sang gia tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.
PV
(Thực hiện)
16
THỜI SỰ THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Ảnh: TTX
XUẤT KHẨU CHĂN NUÔI
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH Trong hành trình đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt mốc 100 tỷ USD, ngành chăn nuôi đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới. Theo các chuyên gia để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần một cuộc chuyển đổi tư duy mạnh mẽ: từ ưu tiên sản lượng sang tập trung vào giá trị gia tăng và hội nhập sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều triển vọng
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong tháng 8/2026 ước đạt 6,47 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước nhưng tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 8 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 49,31 tỷ USD, tăng 7%. Như vậy, ngành nông nghiệp đã hoàn thành khoảng 66,5% mục tiêu cả năm. Riêng xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tăng 30%, đạt 511,9 triệu USD. Riêng sữa và sản phẩm sữa đạt 139,3 triệu USD, tăng 79,2%; thịt và phụ phẩm dạng thịt đạt 154,1 triệu USD, tăng 15,2%. Các chuyên gia cho rằng, ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay vẫn có tiềm năng phát triển, nhờ thị trường nội địa hơn 100 triệu dân, kinh tế tăng trưởng nhanh và khách du lịch lớn, cùng với việc cơ cấu lại ngành chăn nuôi theo các chuỗi liên kết sản
xuất - chế biến ngày càng hoàn thiện và cơ hội mở rộng thị trường qua 17 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA). Mặt khác, Việt Nam xác định chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng, chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất nông nghiệp. Việt Nam đang ưu tiên thu hút đầu tư vào công nghệ, chế biến sâu và chuỗi giá trị nhằm phát triển ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại, bền vững. Ngành chăn nuôi Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ với định hướng phát triển dựa trên công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và chuỗi giá trị, tạo dư địa lớn cho hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư chất lượng cao.
Thay đổi để thích ứng
Chia sẻ tại Hội nghị Kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa xuất nhập khẩu, thương mại điện tử tỉnh Tây Ninh lần thứ IV/2026, các
đại biểu cho rằng, dư địa thị trường vẫn còn, nhưng cạnh tranh bằng sản lượng hoặc giá thấp không còn là hướng đi bền vững. Muốn mở rộng xuất khẩu, doanh nghiệp phải kiểm soát được cả chuỗi, từ nguồn nguyên liệu, sản xuất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến môi trường và khả năng đáp ứng ổn định các đơn hàng. Là địa phương thu hút được rất nhiều dự án đầu tư của không ít doanh nghiệp tập đoàn hàng đầu trên thế giới về chăn nuôi; ông Lê Văn Hẳn, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh cho rằng, trong thời đại kinh tế số, khoảng cách địa lý ngày càng được thu hẹp. Tuy nhiên, khi khoảng cách địa lý không còn là rào cản lớn thì khoảng cách về công nghệ, tiêu chuẩn, năng lực logistics và khả năng cạnh tranh lại trở thành những yếu tố quyết định. Từ đó, Tây Ninh xác định thương mại điện tử không chỉ là một kênh bán hàng mà
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ
17
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
đang trở thành một hạ tầng thị trường mới; logistics không đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ mà ngày càng trở thành năng lực cạnh tranh; còn xuất khẩu không chỉ dừng ở việc đưa hàng hóa ra nước ngoài mà phải hướng tới đưa giá trị của doanh nghiệp và địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đại diện Hội Chăn nuôi Việt Nam, ngành chăn nuôi cần tối ưu hóa giá thành sản xuất từ chi phí thức ăn, con giống đến năng lượng và logistics để gia tăng sức cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu. Ngoài ra, ngành chăn nuôi cần tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình khép kín gồm giống chất lượng cao, giết mổ tập trung, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu xuất khẩu. Trong giai đoạn cuối năm 2026, đầu năm 2027, doanh nghiệp và người chăn nuôi heo và gia cầm cần chuyển trọng tâm từ kích thích tăng đàn sang điều tiết cung cầu, nâng năng suất, giảm giá thành và nâng chất lượng sản phẩm, đây chính là nền tảng cốt lõi giúp ngành chăn nuôi gia tăng sức bền nội địa và từng bước tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị thực phẩm toàn cầu. Theo ông Johan van den Ban, Tổng Giám đốc De Heus Việt Nam & Châu Á, để đóng góp hiệu quả vào mục tiêu 100 tỷ USD xuất khẩu nông nghiệp, chìa khóa không nằm ở việc nỗ lực xuất khẩu số lượng lớn các sản phẩm thô với giá rẻ. Thay vào đó, Việt Nam cần chuyển dịch sang xuất khẩu giá trị cao thông qua thực phẩm có thương hiệu, chế biến sâu và đáp ứng khắt khe các tiêu chuẩn quốc tế. Ngành chăn nuôi có đầy đủ tiềm năng để trở thành động lực tăng trưởng mới. Nếu Việt Nam kiên trì với định hướng nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng hệ sinh thái sản xuất hiện đại, đóng góp của ngành vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp sẽ ngày càng lớn mạnh.
Phát huy thế mạnh chuỗi giá trị
Kinh nghiệm từ các quốc gia có ngành chăn nuôi xuất khẩu thành công cho thấy, sự thịnh vượng của ngành không đến từ các cá thể đơn lẻ mà đến từ sự vận hành đồng bộ của cả chuỗi giá trị. Đó là sự liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích: con giống, dinh dưỡng, chăn nuôi, thú y, giết mổ, chế biến và phân phối. Việc tổ chức chăn nuôi theo chuỗi liên kết, từ thức ăn chăn nuôi đến giết mổ, chế biến sâu để nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế là hướng
BỘ TRƯỞNG BỘ NN&MT TRỊNH VIỆT HÙNG
THỨ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG PHAN THỊ THẮNG
Phải lấy nhu cầu thị trường làm căn cứ để tổ chức lại sản xuất. Xuất khẩu không chỉ là tiêu thụ sản phẩm mà phải đặt trong toàn bộ chuỗi giá trị, nâng cao tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, có thương hiệu và chỉ dẫn địa lý. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức thị trường và liên kết chuỗi, trong khi Nhà nước tập trung kiến tạo thể chế và tháo gỡ điểm nghẽn.
Đa dạng hóa thị trường phải được thực hiện song song với nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu và cải thiện chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp cần từng bước chuyển từ cạnh tranh chủ yếu bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, uy tín và khả năng đáp ứng, đồng thời chủ động tiếp cận sâu hơn vào các hệ thống phân phối quốc tế thay vì chỉ dừng lại ở khâu cung ứng nguyên liệu hoặc gia công.
ÔNG CLEMENS TAN, TỔNG GIÁM ĐỐC JAPFA COMFEED VIỆT NAM
ÔNG VŨ MẠNH HÙNG, CHỦ TỊCH HĐQT TẬP ĐOÀN HÙNG NHƠN
Việc xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam ra thị trường nước ngoài có tiềm năng lớn. Tiềm năng này càng được thúc đẩy bởi cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển ngành chăn nuôi bền vững, kiểm soát dịch bệnh và hỗ trợ đáng kể cho các hoạt động xuất khẩu. Hiện tại, chúng tôi đang hoàn thiện các thủ tục cần thiết và sẵn sàng triển khai kế hoạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi trong tương lai gần.
Thị trường quốc tế cần một hệ thống sản xuất ổn định, minh bạch và có khả năng chứng minh chất lượng trong toàn bộ chuỗi. Với những thị trường yêu cầu cao, từ Halal, châu Âu đến Nhật Bản, doanh nghiệp phải chuẩn hóa từ con giống, thức ăn chăn nuôi, công nghệ trang trại, an toàn sinh học, sức khỏe vật nuôi, chế biến đến truy xuất nguồn gốc. Nếu kết nối là điểm khởi đầu để mở rộng thị trường thì nâng cao năng lực của từng mắt xích mới là điều kiện để doanh nghiệp có thể đi xa và đứng vững trong chuỗi giá trị toàn cầu. Từ thực tiễn gần 30 năm hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi và hợp tác với nhiều đối tác nước ngoài, theo tôi muốn tham gia sâu vào thị trường toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam trước hết phải xây dựng được chuỗi giá trị đạt chuẩn quốc tế.
đi doanh nghiệp Việt Nam cần tiếp tục theo đuổi. Ngày 25/8, tại Tổ hợp CPV Food Bình Phước, C.P. Việt Nam công bố xuất khẩu lô thịt gà chế biến đầu tiên của Việt Nam sang Hàn Quốc. Kết quả này cho thấy hiệu quả của hướng tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết, từ thức ăn chăn nuôi đến sản phẩm cuối cùng, giết mổ và chế biến sâu, nhằm nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu của các thị trường phát triển. Cùng đó, có thể thấy, việc tìm thêm đầu ra quốc tế càng có ý nghĩa trong bối cảnh thị trường đang trở thành một trong những vấn đề được ngành chăn nuôi quan tâm. Việc xuất khẩu lô thịt gà chế biến đầu tiên của Việt Nam sang Hàn Quốc là động lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư công nghệ, củng cố năng lực chế biến sâu, nâng cao giá trị sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu. Ông Montri Suwanposri, Thành viên Hội đồng quản trị CPF, Phó Chủ tịch Hội
đồng quản trị Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam chia sẻ, trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường, khí hậu, phát thải và truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp không thể chỉ quan tâm đến sản lượng và giá thành mà phải tính toán toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ vùng nguyên liệu, công nghệ sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng đến vận chuyển, phân phối và tiêu dùng. Chế biến sâu và xuất khẩu sẽ tiếp tục là trọng tâm đầu tư của C.P trong thời gian tới.
HỒNG HẠNH
18
VẤN ĐỀ - CHUYÊN ĐỀ THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
GIA CẦM
Trụ cột mới của ngành protein động vật Gia cầm đang trở thành một trong những ngành hàng protein có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Chi phí sản xuất tương đối thấp, chu kỳ nuôi ngắn, hiệu quả sử dụng thức ăn cao và khả năng thích ứng với xu hướng tiêu dùng lành mạnh, bền vững đang tạo lợi thế lớn cho các sản phẩm từ gia cầm. Gia cầm ngày càng tiến gần vị thế trung tâm
Thị trường protein động vật đang bước vào một giai đoạn chuyển dịch đáng chú ý, trong đó gia cầm nổi lên như nhóm có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất. Theo dự báo, tiêu thụ thịt gia cầm toàn cầu dự kiến tăng khoảng 21% trong thập kỷ tới, cao hơn đáng kể so với thịt bò, thịt heo và thịt cừu. Đến năm 2034, tiêu thụ thịt gia cầm dự kiến đạt khoảng 173 triệu tấn, chiếm tới 62% phần tăng thêm của tổng tiêu thụ thịt toàn cầu. Hiện nay, gia cầm đang
hưởng lợi từ sự thay đổi trong khẩu vị của người tiêu dùng. Tại nhiều thị trường thu nhập cao, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe, môi trường và giá thành thực phẩm, từ đó có xu hướng chuyển một phần nhu cầu từ thịt đỏ sang thịt gia cầm. Nhận định của Triển vọng Nông nghiệp OECD-FAO cho thấy, thịt gia cầm tiếp tục có mức giá tiếp cận tốt, đồng thời có tỷ lệ protein trên chất béo thuận lợi hơn nhiều loại thịt khác. Đến năm 2034, thịt gia cầm được dự báo cung cấp khoảng 45% lượng protein từ các
loại thịt trong khẩu phần toàn cầu. Lợi thế của gia cầm còn nằm ở đặc tính sản xuất với chu kỳ nuôi ngắn giúp doanh nghiệp có khả năng quay vòng vốn nhanh; hiệu quả chuyển hóa thức ăn cao giúp giảm chi phí đầu vào; mô hình sản xuất công nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn năng suất, dịch bệnh và chất lượng sản phẩm. Theo đánh giá, đây cũng là ngành có khả năng đáp ứng tương đối rộng các khác biệt về văn hóa và tôn giáo trong tiêu dùng thực phẩm. So với thịt heo bị hạn chế ở một số thị trường Hồi giáo và Do Thái giáo, hoặc thịt bò chịu ảnh hưởng bởi tập quán, tôn giáo tại một số quốc gia, thì thịt gia cầm có dư địa thị trường rộng hơn. Trong đó, châu Á sẽ tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. 2026 được dự báo là năm bản lề của ngành chăn nuôi toàn cầu, khi các chu kỳ
▶ Trong bối cảnh nhu cầu protein toàn cầu tiếp tục tăng và gia cầm được dự báo chiếm tới 62% phần tăng thêm của tiêu thụ thịt thế giới đến năm 2034, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đáng kể. Nếu giải quyết tốt các vấn đề nội tại, ngành gia cầm hoàn toàn có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của chăn nuôi và kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong thập kỷ tới.
VẤN ĐỀ - CHUYÊN ĐỀ
19
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
sản xuất bước vào giai đoạn điều chỉnh trong bối cảnh kinh tế, dịch bệnh động vật, địa chính trị và xu hướng tiêu dùng tiếp tục biến động. Tuy nhiên, thịt gà là nhóm duy nhất duy trì được đà tăng trưởng thương mại, nhờ nguồn cung xuất khẩu dồi dào từ Brazil và Trung Quốc. Lợi thế về giá thành, khả năng mở rộng sản xuất nhanh và ít chịu rào cản tôn giáo, văn hóa tiếp tục giúp thịt gà giữ vai trò trụ cột của thương mại thịt toàn cầu.
Vai trò quan trọng trong ngành kinh tế nước nhà
Trong bức tranh nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngành chăn nuôi đóng góp khoảng 25,26% GDP của toàn ngành nông nghiệp; trong đó, gia cầm là một trong những ngành hàng có tốc độ chuyển dịch mạnh nhất từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang sản xuất trang trại, công nghiệp và chuỗi liên kết. Hiện, tổng đàn gia cầm cả nước đạt gần 590 triệu con, đủ khả năng cung ứng khoảng 240.000 tấn thịt gia cầm và gần 22 tỷ quả trứng cho thị trường. Theo đánh giá của Cục Thống kê, chăn nuôi gia cầm vẫn phát triển ổn định, cho thấy vai trò ngày càng rõ của ngành hàng này trong bảo đảm nguồn cung thực phẩm. Không chỉ tạo ra thịt và trứng, chuỗi gia cầm còn tạo ra một hệ sinh thái kinh tế rộng lớn, bao gồm sản xuất giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, vaccine, thiết bị chuồng trại, vận chuyển, giết mổ, chế biến, logistics và phân phối. Vì vậy, tăng trưởng của ngành gia cầm có tác động lan tỏa tới nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế nông nghiệp. Đặc biệt, thị trường trong nước với quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh và nhu cầu thực phẩm tiện lợi ngày càng tăng đang tạo nền tảng tiêu thụ quan trọng. Nếu trước đây thịt gia cầm chủ yếu được bán dưới dạng tươi sống, xu hướng hiện nay đang chuyển dần sang thịt mát, thịt đông lạnh, sản phẩm sơ chế và thực phẩm chế biến. Đây cũng là hướng đi phù hợp với Đề án phát triển công nghiệp giết mổ, chế biến và thị trường sản phẩm chăn nuôi đến năm 2030. Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, ngành gia cầm Việt Nam vẫn định hướng cho xuất khẩu. Đặc biệt, Việt Nam có lợi thế
CÁCH THỊT GÀ “THỐNG TRỊ” BÀN ĂN TOÀN CẦU
Từng bị xem là loại thịt “giá rẻ” và phổ thông, nhưng giờ đây thịt gà đã vượt qua cả thịt bò và thịt heo để trở thành nguồn protein động vật được tiêu thụ nhiều nhất thế giới - một xu hướng phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong kinh tế, lối sống và ngành công nghiệp thực phẩm toàn cầu. Trong phần lớn thế kỷ XX, thịt gà vẫn là lựa chọn tương đối đắt đỏ và không phổ biến bằng nhiều loại thịt khác. Nhưng bước sang thế kỷ XXI, nó đã trở thành nguồn protein được ưa chuộng hàng đầu thế giới và đà tăng trưởng vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại. Dữ liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) cho thấy, gần 80 tỷ con gà đã bị giết mổ trên toàn cầu trong năm 2024, giúp gà trở thành loài động vật có xương sống trên cạn phổ biến nhất hành tinh. Thịt gà đang giành thêm thị phần từ các loại thịt khác tại những thị trường phát triển như Nhật Bản, Canada và một số khu vực ở châu Âu. Trong khi đó, tại nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh, đây đã là nguồn protein được ưa chuộng nhất. Trong hai thập kỷ qua, sản lượng thịt gà toàn cầu tăng khoảng 2 - 2,5% mỗi năm. Tuy nhiên, trong 3 - 4 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng đã vượt 3%. Nguồn: Caliber.az
về vị trí địa lý khi nằm gần các thị trường tiêu thụ lớn của châu Á. Bên cạnh đó, sản phẩm gia cầm còn có thể tiếp cận các phân khúc Halal nếu đáp ứng được yêu cầu về giống, quy trình chăn nuôi, giết mổ, chứng nhận và truy xuất nguồn gốc. Do đó, gia cầm có thể được nhìn nhận không chỉ là một ngành sản xuất thực phẩm mà là một ngành kinh tế nông nghiệp có khả năng kết nối từ đầu vào đến chế biến và thị trường quốc tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn để phát triển bền vững
Dù có nhiều lợi thế, ngành gia cầm vẫn đối mặt với không ít thách thức. Virus cúm gia cầm độc lực cao vẫn là rủi ro thường trực, trong khi mật độ chăn nuôi ngày càng tăng có thể làm tốc độ lây lan dịch bệnh nhanh hơn. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng có thể kìm hãm tăng trưởng ngành gia cầm toàn cầu. Không chỉ vậy, chi phí thức ăn và biến động thị trường hay việc phân mảnh của chuỗi giá trị cũng đang khiến ngành gia cầm không phát huy được hết tiềm năng vốn có. Chưa kể, hiện nay thị trường yêu cầu ngày càng cao về vấn đề môi trường, phúc lợi động vật, sử dụng kháng sinh có trách nhiệm và phát triển xanh.
Đối với Việt Nam, hướng đi phù hợp được nhận định là thúc đẩy mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, tuần hoàn và phát thải thấp, đồng thời tận dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất phân bón, năng lượng hoặc các sản phẩm phụ có giá trị. Về lâu dài, cần hình thành các vùng chăn nuôi gia cầm tập trung gắn với cơ sở giết mổ, chế biến và vùng nguyên liệu thức ăn; khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với hộ chăn nuôi; nâng chất lượng giống và năng suất đàn; tăng cường nghiên cứu vaccine, dinh dưỡng và công nghệ chuồng trại. Cùng đó là xây dựng hệ thống dữ liệu và truy xuất nguồn gốc thống nhất cho ngành gia cầm. Đây là điều kiện quan trọng để kiểm soát dịch bệnh, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở cửa thị trường xuất khẩu. Cơ hội của gia cầm Việt Nam đang rộng mở, nhưng lợi thế về quy mô thị trường sẽ không tự động chuyển thành lợi thế cạnh tranh. Theo nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam: “Để phát triển bền vững, ngành cần chuyển đổi tư duy từ phát triển sản lượng sang phát triển kinh tế gia cầm dựa trên chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Việc tái cấu trúc hệ thống sản xuất, thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết”.
BẢO HÂN
20
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
CHỦ ĐỘNG KIỂM SOÁT SALMONELLA
Bảo vệ chuỗi thực phẩm, nâng cao giá trị gia cầm Việt Ngày 24/8/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam phối hợp Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai tổ chức Hội thảo “Chủ động kiểm soát Salmonella - Bảo vệ chuỗi thực phẩm, nâng cao giá trị gia cầm Việt”. Sự kiện quy tụ đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội, chuyên gia thú y, doanh nghiệp và người chăn nuôi, cùng trao đổi về thực trạng, quy định và các giải pháp kiểm soát Salmonella trong chăn nuôi gia cầm. Kiểm soát từ gốc
Trong bối cảnh yêu cầu về an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm chăn nuôi ngày càng được chú trọng, kiểm soát Salmonella trở thành một trong những vấn đề cần được quan tâm xuyên suốt chuỗi sản xuất. Hội thảo hướng đến cách tiếp cận chủ động, đồng bộ, từ con giống, dinh dưỡng, quản lý sức khỏe đàn, vệ sinh chuồng trại, an toàn sinh học đến giám sát và xét nghiệm. Đây cũng là dịp để các bên trong chuỗi chăn nuôi cập nhật thông tin, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và thảo luận những giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam.
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cho rằng, trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm tại Việt Nam ngày càng thay đổi, chăn nuôi gà đang có nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng của ngành, yêu cầu về quản lý đàn, kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm an toàn sinh học cũng ngày càng được đặt ra rõ nét hơn. Theo ông, Hội thảo là dịp để cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và người chăn nuôi cùng trao đổi về các giải pháp quản lý, cập nhật chính sách và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, qua đó góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia cầm phát triển bền vững.
Trong đó, kiểm soát dịch bệnh cần được thực hiện chủ động, kết hợp giữa các biện pháp an toàn sinh học và những giải pháp sinh học phù hợp trong chăn nuôi. Trong khuôn khổ hội thảo, ThS. BSTY Hồ Mộng Hải, Phó Trưởng Chi cục Thú y vùng 6, đại diện cơ quan quản lý chuyên ngành, đã cập nhật những quy định liên quan đến kiểm soát Salmonella trong chăn nuôi gia cầm. Nội dung giúp doanh nghiệp và người chăn nuôi nắm rõ các yêu cầu, quy trình hiện hành, từ đó chủ động định hướng hoạt động sản xuất phù hợp. Theo ông, kiểm soát Salmonella cần được triển khai xuyên suốt chuỗi sản xuất gồm 4
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
21
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
khâu: trại chăn nuôi - giết mổ - chế biến thị trường, với sự tham gia và giám sát của hệ thống quản lý chuyên ngành thú y. Cách tiếp cận này giúp nhận diện nguy cơ và kiểm soát mối nguy ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý khi phát hiện vấn đề ở sản phẩm cuối cùng. Tại chương trình, PGS.TS. Nguyễn Tất Toàn, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, trình bày chuyên đề “Thực trạng nhiễm Salmonella spp. trong chăn nuôi gia cầm hiện nay”. Từ góc nhìn khoa học và thực tiễn, chuyên đề tập trung phân tích nguy cơ của Salmonella đối với sức khỏe đàn gia cầm, đồng thời cảnh báo khả năng vi khuẩn xâm nhập và tồn lưu trong chuỗi thực phẩm, qua đó tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe con người. Đáng chú ý, tình trạng vi khuẩn kháng thuốc đang trở thành thách thức ngày càng lớn trong chăn nuôi, đặt ra yêu cầu tăng cường các biện pháp phòng bệnh và kiểm soát Salmonella ngay từ đầu chuỗi sản xuất. Thay vì chỉ xử lý khi vấn đề phát sinh, các cơ sở chăn nuôi cần xây dựng chiến lược kiểm soát tổng thể, chú trọng an toàn sinh học, tiêm phòng vaccine, quản lý đàn và các giải pháp phòng bệnh tổng hợp.
Chuyển từ xử lý sang phòng ngừa
Một trong những nội dung trọng tâm của hội thảo là chuyên đề “Chủ động phòng bệnh Salmonella - Hướng đến chăn nuôi bền vững” do BSTY. Nguyễn Minh Đức, Giám đốc Kỹ thuật Công ty Olmix Asialand Việt Nam, trình bày. Theo chuyên gia, kiểm soát Salmonella cần chuyển từ tư duy xử lý khi vấn đề đã phát sinh sang chủ động phòng ngừa và kiểm soát nguy cơ từ sớm. Đây không phải là vấn đề có thể giải quyết bằng một giải pháp đơn lẻ mà cần được triển khai đồng bộ qua nhiều mắt xích, từ chất lượng con giống, dinh dưỡng, sức khỏe đường ruột, vệ sinh chuồng trại, an toàn sinh học đến quản lý đàn hằng ngày. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần hạn chế nguy cơ nhiễm Salmonella mà còn hỗ trợ duy trì sức khỏe vật nuôi, nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế các chi phí phát sinh do dịch bệnh. Trong phần chia sẻ về giải pháp phòng bệnh, đại diện Olmix Asialand Việt Nam giới thiệu một số giải pháp hỗ trợ kiểm soát Salmonella và các vi khuẩn đường ruột trong chăn nuôi. Trong đó, MSP® Antibacteria
được giới thiệu với khả năng hỗ trợ ức chế sự phát triển của vi khuẩn Gram âm và Gram dương, qua đó góp phần kiểm soát nguy cơ xâm nhiễm và phát triển của Salmonella và E. coli từ thức ăn, nước uống. Theo thông tin được chia sẻ tại Hội thảo, giải pháp này còn hỗ trợ giảm pH đường tiêu hóa, kích thích hoạt động của enzyme tiêu hóa và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của hệ vi nhung mao ruột. Sản phẩm sử dụng hai loại muối của axit hữu cơ, được giới thiệu với vai trò hỗ trợ sức khỏe đường ruột và khả năng hấp thu của vật nuôi. Các giải pháp trên được đặt trong chiến lược phòng bệnh tổng hợp, kết hợp giữa an toàn sinh học, quản lý đàn, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe đường ruột và giám sát định kỳ, nhằm kiểm soát nguy cơ Salmonella một cách chủ động và bền vững.
Giám sát và xét nghiệm - mắt xích quan trọng
Bên cạnh các biện pháp phòng ngừa tại trang trại, công tác giám sát và xét nghiệm được xác định là mắt xích quan trọng trong chiến lược kiểm soát Salmonella. Tại Hội thảo, BSTY. Huỳnh Thị Bích Truyền, Giám đốc Công ty TNHH ViphaLab, trình bày chuyên đề “Hỗ trợ giám sát Salmonella bằng các phương pháp xét nghiệm”, tập trung vào phương pháp lấy mẫu, quy trình xét nghiệm và việc ứng dụng kết quả vào thực tế chăn nuôi. Theo đó, chủ động lấy mẫu và theo dõi kết quả xét nghiệm giúp cơ sở chăn nuôi
đánh giá nguy cơ, phát hiện sớm vấn đề và triển khai biện pháp kiểm soát phù hợp, thay vì chỉ phản ứng khi dịch bệnh đã ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế. Phần thảo luận mở nhận được sự quan tâm của đông đảo khách tham dự. Đại diện doanh nghiệp, chuyên gia và người chăn nuôi trực tiếp trao đổi về những thách thức trong kiểm soát Salmonella tại trang trại, từ xác định nguồn nguy cơ, thực hiện an toàn sinh học, giám sát đàn đến lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế. Thông qua Hội thảo, Olmix Asialand Việt Nam mong muốn góp phần thúc đẩy nhận thức và thực hành kiểm soát Salmonella theo hướng chủ động, đồng bộ trong ngành chăn nuôi gia cầm. Đồng thời, doanh nghiệp tiếp tục đồng hành cùng các trang trại và người chăn nuôi trong mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo đảm an toàn chuỗi thực phẩm và hướng đến phát triển bền vững. Olmix Asialand Việt Nam là đơn vị cung cấp các giải pháp cho lĩnh vực chăn nuôi và cây trồng, với các sản phẩm được phát triển từ nguồn nguyên liệu như tảo biển, nấm men và gỗ; đồng thời phân phối vaccine, thuốc thú y và các giải pháp phục vụ lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản. Năm 2026, Olmix chính thức trở thành thành viên của EW Group, mở ra cơ hội tăng cường năng lực nghiên cứu, đổi mới và phát triển các giải pháp khoa học phục vụ sức khỏe vật nuôi bền vững.
OANH THẢO
22
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
J SỐ 1 DABACO
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
THÊM KỲ VỌNG VỀ CON GIỐNG MỚI CHO NGƯỜI CHĂN NUÔI
Trong bối cảnh chi phí đầu vào cao, giá gà thịt biến động và chất lượng con giống trên thị trường chưa đồng đều, sự xuất hiện của những giống gà mới có khả năng tăng trưởng tốt, tiêu tốn thức ăn hợp lý và thích nghi với điều kiện chăn nuôi đang mở thêm lựa chọn cho người nuôi. J số 1 Dabaco là một trong những giống gà mới được kỳ vọng góp phần giải bài toán giảm giá thành, nâng sức cạnh tranh và hướng tới chăn nuôi bền vững. Con giống - điểm nghẽn từ đầu chuỗi
Những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm Việt Nam vẫn luôn duy trì được đà tăng trưởng tốt. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng đàn gia cầm ước tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, với khoảng gần 590 triệu con, trong khi sản lượng thịt gia cầm đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tăng 5,6%. Quy mô sản xuất ngày càng lớn cũng đồng nghĩa yêu cầu về chất lượng con giống ngày càng cao. Tuy nhiên, con giống vẫn là một trong những vấn đề khiến người chăn nuôi quan tâm và nhiều lo lắng hơn cả. Hiện nay, trên thị trường tồn tại không ít nguồn giống, chất lượng và khả năng thích nghi khác nhau. Ở một số mô hình, việc lựa
chọn giống chưa dựa đầy đủ trên các tiêu chí về năng suất, khả năng chuyển hóa thức ăn, sức chống chịu và đầu ra sản phẩm. Trong khi đó, cùng một mức giá thức ăn hay giá bán, sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ đồng đều và hệ số tiêu tốn thức ăn có thể quyết định lãi, lỗ của cả một lứa nuôi. Đối với gà thương phẩm, mỗi ngày nuôi kéo dài đều phát sinh thêm chi phí thức ăn, điện, nước, nhân công và phòng trị bệnh. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải có những giống gà được chọn tạo theo hướng phù hợp hơn với điều kiện chăn nuôi trong nước, đồng thời đáp ứng thị hiếu thị trường. Việc nghiên cứu, cải tiến giống vì thế không chỉ
là câu chuyện của doanh nghiệp sản xuất giống mà trực tiếp liên quan đến khả năng giảm giá thành và nâng sức cạnh tranh của người chăn nuôi.
Lợi ích tối ưu từ J số 1 Dabaco
Nghiên cứu và cải tiến con giống cũng là hướng đi được Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco đặt trọng tâm khi nghiên cứu và đưa J số 1 Dabaco ra thị trường. Theo ông Nguyễn Như Phán, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco, mục tiêu chọn tạo J số 1 được khái quát bằng công thức “2 tăng - 2 giảm”, là tăng chất lượng thịt, tăng năng suất; đồng thời giảm hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và giảm thời gian nuôi.
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
23
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Ra mắt từ tháng 5/2026, J số 1 Dabaco đang được các trang trại thử nghiệm và đánh giá tích cực về khả năng thích nghi, độ đồng đều và hiệu quả sử dụng thức ăn. Ở giai đoạn hơn 80 ngày tuổi, trọng lượng bình quân của gà đạt 2,5 - 2,6 kg/con. Đây là những chỉ tiêu có ý nghĩa trực tiếp đối với bài toán giá thành của người nuôi. Theo tài liệu của doanh nghiệp, các dòng gà giống Dabaco trong những năm qua đã được cải thiện tối ưu về hệ số tiêu tốn thức ăn, FCR khoảng 2,45 - 2,52 kg thức ăn/kg tăng trọng. Với J số 1, thời gian xuất bán được định hướng ở mức hơn 80 ngày tuổi. Tại phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng, gia đình ông Phạm Danh Đạo đã đưa khoảng 3.000 con J số 1 Dabaco vào nuôi thử nghiệm. Trong điều kiện thời tiết nắng nóng, có thời điểm nhiệt độ lên tới 37 38 độ C, đàn gà vẫn cho thấy khả năng thích nghi và độ đồng đều tốt. Tỷ lệ nuôi sống đạt khoảng 95 - 96%, cho thấy khả năng duy trì đàn trong điều kiện thời tiết bất lợi là một điểm đáng chú ý bên cạnh các chỉ tiêu về tăng trưởng và sử dụng thức ăn. Sau khoảng 90 - 100 ngày, đàn gà được xuất bán với chất lượng thịt dai, ngon và nhận được phản hồi tích cực từ thương lái. Theo ông Đạo, J số 1 có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả, lượng thức ăn tiêu tốn hợp lý, đàn gà đồng đều và đáp ứng tốt yêu cầu về ngoại hình cũng như chất lượng thịt. Tại xã Tam Dương, tỉnh Phú Thọ, ông Phạm Anh Tuấn cũng thử nghiệm gà giống J số 1 với lứa đầu tiên 8.000 con. Sau khoảng 90 ngày, đàn gà được xuất bán với FCR khoảng 2,55 - 2,6. Trọng lượng gà trống đạt khoảng 2,9 - 3,2 kg/con, còn gà mái khoảng 2 - 2,2 kg/con. Theo đánh giá của ông Tuấn, đàn gà có năng suất và độ đồng đều cao, ngoại hình, màu sắc phù hợp thị trường. Với lợi nhuận thu được khả quan sau lứa đầu nuôi thử nghiệm, ông Tuấn tiếp tục đưa vào nuôi khoảng 11.000 con. Những kết quả bước đầu này cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý, đó là thay vì chỉ kỳ vọng vào giá bán, người nuôi có thể cải thiện hiệu quả ngay từ khâu đầu tiên của chuỗi sản xuất là lựa chọn con giống.
Xây dựng niềm tin cho tương lai
Thị trường gà lông màu những năm qua không ít lần biến động mạnh, khiến người nuôi khó tính toán hiệu quả. Thực tế cho thấy, dù con giống có chất lượng tốt đến đâu
cũng không thể đứng ngoài quy luật cung cầu. Vì vậy, một giống gà mới không phải là lời giải cho mọi rủi ro thị trường, nhưng có thể trở thành thêm một công cụ giúp người nuôi giảm giá thành và chủ động hơn trong sản xuất. Ở góc độ người chăn nuôi, giá trị của một con giống không chỉ nằm ở kết quả của một lứa nuôi, mà ở khả năng tạo hiệu quả ổn định qua nhiều năm. Nếu giống gà giúp giảm FCR, rút ngắn thời gian nuôi, tăng độ đồng đều của đàn, giảm công chăm sóc và nhân công, những lợi thế đó sẽ được tích lũy qua từng lứa, tạo thành hiệu quả kinh tế bền vững. Quan trọng hơn, một nguồn giống tốt, chất lượng ổn định và giá thành cạnh tranh có thể giúp người nuôi chủ động hơn trong kết nối đầu ra. Đàn gà đồng đều, chất lượng được kiểm soát và chi phí hợp lý, sẽ tạo thêm cơ sở để liên kết với thương lái, đại lý, nhà hàng, bếp ăn, siêu thị… từng bước hình thành các kênh phân phối ổn định. Sản xuất giờ đây không đơn thuần dừng ở việc “nuôi được” mà hướng tới tạo ra sản phẩm gà thịt chất lượng, giá thành hợp lý và có thị trường rõ ràng, giá trị của con giống vì thế sẽ được phát huy xuyên suốt chuỗi. Khi các mắt xích từ giống, chăn nuôi đến tiêu thụ được kết nối, lợi ích không còn bó hẹp trong từng lứa nuôi mà có thể tạo nên một chuỗi giá trị hiệu quả hơn, trong đó người nuôi giữ vai trò chủ động. Đó cũng là cách nhìn rộng hơn về câu chuyện J số 1 Dabaco. Việc đưa một giống gà mới ra thị trường mới chỉ là điểm khởi đầu. Từ các mô hình thử nghiệm, doanh nghiệp tiếp tục thu thập dữ liệu, hoàn thiện quy trình và đánh giá khả năng thích nghi ở nhiều vùng nuôi, trong khi người chăn nuôi cần thời gian để kiểm chứng, lựa chọn và xây dựng niềm tin. “Gieo mầm” không phải là kỳ vọng vào một phép màu, mà là mở ra thêm một lựa chọn mới để người nuôi tối ưu sản xuất và đầu tư dài hạn. Với một nguồn giống mới
→ Phó Giám đốc Nguyễn Như Phán chia sẻ, nghiên cứu và chọn tạo giống cần được xem là một trong những khâu nền tảng của chuỗi chăn nuôi. Khi chi phí đầu vào ngày càng cao, một con giống có khả năng chuyển hóa thức ăn tốt, tăng trưởng ổn định và đáp ứng nhu cầu thị trường sẽ tạo thêm dư địa để người chăn nuôi kiểm soát giá thành.
sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội, cơ hội luôn mở ra cho những người đi đầu. Việc đưa J số 1 vào sản xuất và chủ động xây dựng thị trường tiêu thụ ngay từ giai đoạn đầu không chỉ là bài toán kinh doanh sắc bén, mà sẽ là “phần thưởng” xứng đáng cho những người nuôi biết nắm bắt xu hướng, tích lũy kinh nghiệm, tạo lợi thế khi giống mới được thị trường đón nhận. Một con giống mới hôm nay có thể chỉ là một hạt mầm nhỏ. Nhưng nếu được nghiên cứu đúng hướng, được người nuôi kiểm chứng và được thị trường đón nhận, hạt mầm ấy có thể tạo nên những giá trị lớn hơn trong 5 - 10 năm tới: giúp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo ra sản phẩm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, đó đã là một giá trị thiết thực.
NGỌC ÁNH - THÙY KHÁNH
24
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
20 NĂM VAXXITEK®
Hành trình kiên định bảo vệ sức khỏe đàn gia cầm Ngày 25/8 tại Hà Nội, Công ty TNHH Thuốc Thú y Boehringer Ingelheim Việt Nam tổ chức sự kiện kỷ niệm “VAXXITEK® - 20 năm trọn 1 tình yêu cho gia cầm”. Chương trình là dấu mốc đặc biệt kỷ niệm 20 năm thương hiệu VAXXITEK® đồng hành cùng ngành chăn nuôi gia cầm toàn cầu, đồng thời khẳng định cam kết lâu dài của Boehringer Ingelheim trong việc mang đến những giải pháp phòng bệnh tiên tiến, góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững cho ngành gia cầm Việt Nam. Sự kiện quy tụ đông đảo khách hàng, chủ trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi, chuyên gia thú y, đại diện các hiệp hội ngành hàng
và đối tác trong lĩnh vực gia cầm. Đây là cơ hội để các bên cùng nhìn lại hành trình phát triển của VAXXITEK®, trao đổi về những thách thức hiện nay của ngành và chia sẻ những giải pháp ứng dụng khoa học nhằm nâng cao sức khỏe đàn gia cầm trong bối cảnh sản xuất ngày càng đặt ra nhiều yêu cầu về năng suất, an toàn sinh học và hiệu quả kinh tế. Phát biểu khai mạc chương trình, ThS. BSTY Nguyễn Đức Dũng, Giám đốc Ngành hàng Gia cầm, Boehringer Ingelheim
Animal Health Việt Nam, nhấn mạnh: “Hai mươi năm qua, VAXXITEK® không chỉ là một sản phẩm vaccine mà còn là biểu tượng cho sự đổi mới, cam kết và đồng hành cùng ngành gia cầm trên toàn thế giới. Chỉ với sản phẩm Vaxxitek® HVT+IBD đã có hơn 165 tỷ liều vaccine đã được sử dụng, chúng tôi tự hào khi VAXXITEK® đã góp phần giúp người chăn nuôi nâng cao hiệu quả sản xuất và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn. Hành trình 20 năm này sẽ được tiếp nối liên tục bằng những giải pháp sáng tạo nhằm đáp
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
25
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
ứng những thách thức mới của ngành trong tương lai”. Trong khuôn khổ chương trình, các đại biểu đã được cập nhật bức tranh tổng thể của ngành gia cầm Việt Nam thông qua chuyên đề “Toàn cảnh ngành gia cầm Việt Nam: Kết quả 8 tháng đầu năm 2026, kịch bản phát triển năm 2027 dưới tác động của các chính sách mới” do TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam trình bày. Báo cáo mang đến những góc nhìn chiến lược về xu hướng thị trường, cơ hội phát triển và các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian tới. Tiếp đó, PGS.TS. Nguyễn Văn Giáp, Giảng viên Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chia sẻ chủ đề “Vượt qua áp lực dịch bệnh trong kỷ nguyên năng suất cao”, nhấn mạnh vai trò của phòng bệnh chủ động, quản lý miễn dịch và các giải pháp khoa học trong việc giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và tối ưu hiệu quả sản xuất. Một trong những nội dung trọng tâm của sự kiện là phiên trình bày “Kiến tạo sức khỏe gia cầm bền vững với giải pháp toàn diện” do ThS. BSTY Đỗ Duy Hòa, Quản lý Kỹ thuật Gia cầm, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam, và BSTY Cao Văn Quang, Quản lý Kỹ thuật Gia cầm khu vực phía Bắc, Olmix Asialand Việt Nam thực hiện. Các chuyên gia đã chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn trong việc kết hợp vaccine, quản lý sức khỏe đàn và các giải pháp hỗ trợ nhằm tạo nền tảng miễn dịch vững chắc, giúp gia cầm phát huy tối đa tiềm năng di truyền và năng suất sản xuất. Bên cạnh các phiên tham luận, chương trình tọa đàm mở giữa chuyên gia và chủ trang trại đã tạo cơ hội để khách tham dự trao đổi trực tiếp về những vấn đề thực tiễn trong quản lý dịch bệnh, hiệu quả sử dụng vaccine và định hướng phát triển chăn nuôi bền vững trong thời gian tới. Điểm nhấn đặc biệt của chương trình là Lễ kỷ niệm thương hiệu VAXXITEK® 20 năm ra mắt toàn cầu, nơi các khách mời cùng nhìn lại hành trình phát triển của một trong những thương hiệu vaccine gia cầm tiêu biểu trên thế giới. Trong suốt hai thập kỷ qua, VAXXITEK® đã hiện diện tại nhiều quốc gia và trở thành giải pháp được tin tưởng trong chiến lược kiểm soát các bệnh truyền nhiễm quan trọng trên gia cầm Phát biểu bế mạc sự kiện, bà Đào Thị
ThS. BSTY Nguyễn Đức Dũng, Giám đốc Ngành hàng Gia cầm, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam phát biểu khai mạc
TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam trình bày báo cáo
BOEHRINGER INGELHEIM Boehringer Ingelheim là công ty dược phẩm hoạt động trong lĩnh vực Sức khỏe Con người và Thú y. Với ưu tiên hàng đầu về Nghiên cứu và Phát triển, công ty chú trọng phát triển các giải pháp trong các lĩnh vực y tế chưa được đáp ứng cao. Hoạt động độc lập kể từ khi thành lập vào năm 1885, Boehringer Ingelheim luôn hướng tới tầm nhìn dài hạn, chú trọng tính bền vững trong toàn bộ chuỗi giá trị. Đến nay công ty có 54.500 nhân viên hiện làm việc tại hơn 130 thị trường để xây dựng một tương lai khỏe mạnh hơn, bền vững hơn và công bằng hơn. Là công ty hàng đầu trong lĩnh vực Thú y, Boehringer Ingelheim Animal Health luôn tiên phong nghiên cứu và phát triển các giải pháp đột phá để dự đoán, phòng ngừa và điều trị bệnh cho động vật. OLMIX ASIALAND VIỆT NAM Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam là đơn vị chuyên sản xuất phụ gia thức ăn chăn nuôi, sản phẩm cho cây trồng được chiết xuất từ tảo biển, nấm men, gỗ và phân phối các sản phẩm vaccine, thuốc thú y, thủy sản và từ những thương hiệu uy tín hàng đầu thế giới như Boehringer Ingelheim, Dopharma và Biopharm, Huvepharma. Với định hướng cung cấp giải pháp toàn diện cho ngành chăn nuôi, Olmix Asialand Việt Nam mang đến các sản phẩm và dịch vụ tiên tiến như vaccine công nghệ, giải pháp sát trùng - tẩy trùng, thuốc bổ trợ và thuốc phòng trị nội và ngoại ký sinh trùng trên thú cưng, cùng các dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp. Thông qua các giải pháp phòng và điều trị dịch bệnh hiệu quả tại trang trại, công ty góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, đồng thời đảm bảo sức khỏe và phúc lợi cho vật nuôi cũng như thú cưng. Hương Giang, Giám đốc ngành hàng gia cầm công ty Olmix Asialand Việt Nam, chia sẻ: “Chúng tôi tin rằng sự phát triển bền vững của ngành gia cầm không chỉ đến từ những tiến bộ về công nghệ hay sản phẩm, mà còn từ sự kết nối và hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp, chuyên gia và người chăn nuôi. Sự kiện hôm nay là minh chứng cho cam kết đồng hành lâu dài từ Olmix và Boehringer cùng ngành gia cầm Việt Nam”.
Thông qua sự kiện “VAXXITEK® 20 năm trọn 1 tình yêu cho gia cầm”, Boehringer Ingelheim Animal Health Việt Nam và Olmix Asialand Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là những đối tác tin cậy của ngành chăn nuôi gia cầm, đồng hành cùng người chăn nuôi trong việc kiểm soát dịch bệnh, nâng cao năng suất và hướng tới một tương lai phát triển bền vững.
THÙY KHÁNH
26
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
TỐI ƯU FCR, NÂNG HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI GÀ THỊT Quản lý chặt chẽ từ trước khi nhập đàn, kiểm soát số liệu và kịp thời phát hiện các sai lệch là nền tảng để tối ưu FCR. Thức ăn là chi phí lớn nhất trong chăn nuôi gà thịt, chiếm 50 - 75% tổng chi phí sản xuất. Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) được tính bằng tổng lượng thức ăn sử dụng chia cho tổng trọng lượng hơi thu được; FCR càng thấp thì hiệu quả sử dụng thức ăn càng cao. Khi FCR tăng, chi phí sản xuất tăng; ngược lại, FCR thấp giúp giảm chi phí. Yếu tố then chốt là thực hiện tốt công tác quản lý từ giai đoạn chuẩn bị chuồng trại trước khi nhập đàn đến khi giết mổ. Đối chiếu kết quả thực tế với mục tiêu năng suất là cách hữu ích để đánh giá tình hình đàn. Tuy nhiên, cần duy trì việc ghi chép và rà soát số liệu để xác định mức năng suất thông thường của từng cơ sở, đồng thời tính đến ảnh hưởng của mùa vụ. Khi FCR tăng hoặc có biến động bất thường, cần kiểm tra lại độ chính xác của số liệu trước khi tìm nguyên nhân. Cân tại nhà máy sai lệch, sai sót trong giao nhận thức ăn hoặc thất thoát, mất trộm gà và thức ăn mà không được ghi nhận đều có thể làm sai lệch FCR và ảnh hưởng đáng kể đến đánh giá hiệu quả chăn nuôi.
Chất lượng gà con quyết định FCR
Hiệu quả chuyển hóa thức ăn được quyết định ngay từ trước khi gà con nhập trại. Phôi bị quá nhiệt trong giai đoạn cuối của quá trình ấp có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của đường ruột, từ đó làm giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng trong các giai đoạn sau. Trong quá trình vận chuyển, nhiệt độ và thông gió không phù hợp cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển ban đầu của gà và năng suất về sau. Sau khi nhập đàn, cần tạo điều kiện thuận lợi để gà ăn uống và phát triển đường ruột tốt. Người nuôi cần quan sát biểu hiện của đàn để điều chỉnh điều kiện chuồng nuôi phù hợp, đảm bảo thông thoáng nhưng không có gió lùa, đồng thời giúp gà dễ dàng tiếp cận thức ăn và nước uống. Bên cạnh đó, cần theo dõi độ đầy diều, với mục tiêu trên 95% gà có diều đầy trong vòng 24 giờ sau khi nhập đàn.
Quản lý thức ăn: Giảm hao hụt, tối đa hóa lượng ăn
Bất kỳ yếu tố nào làm giảm lượng thức
ăn thu nhận hoặc gia tăng hao hụt thức ăn đều có thể khiến FCR tăng. Vì vậy, cần bố trí đủ diện tích máng ăn và điều chỉnh độ cao máng hằng ngày, sao cho đáy máng ngang với lưng gà. Không nên đổ thức ăn quá đầy để hạn chế rơi vãi. Thức ăn viên có chất lượng tốt giúp cải thiện FCR, nhưng kích thước viên cũng cần được kiểm soát. Trong giai đoạn sinh trưởng và vỗ béo, viên có đường kính trên 4 mm có thể làm giảm lượng thức ăn thu nhận. Chất lượng vật lý của thức ăn, đặc biệt sau vận chuyển và phân phối, nếu không đảm bảo có thể dẫn đến phân tách thành phần không đồng đều trong các hạt thức ăn. So với thức ăn viên, các hạt mịn khiến gà tiêu tốn nhiều năng lượng hơn khi ăn, đồng thời di chuyển qua đường tiêu hóa nhanh hơn, làm giảm hiệu quả tiêu hóa. Tuy nhiên, gà vẫn cần tiêu thụ phần hạt mịn vì thành phần này thường có hàm lượng khoáng chất cao hơn. Từ 10 12 ngày tuổi, nên tạm ngắt hệ thống máng ăn trong thời gian ngắn mỗi ngày để gà ăn hết thức ăn còn lại và giúp làm sạch máng, đường ống và hệ thống phân phối thức ăn.
27
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Tuy nhiên, không được để gà thiếu thức ăn trong thời gian kéo dài. Do lượng nước uống có mối liên hệ chặt chẽ với lượng thức ăn thu nhận, cần thường xuyên theo dõi mức tiêu thụ nước của đàn. Khi lượng nước uống giảm, gà cũng giảm ăn, kéo theo tốc độ tăng trưởng chậm lại và FCR tăng. Vì vậy, cần đảm bảo nguồn nước mát, sạch và luôn sẵn có, đồng thời bố trí đủ máng uống để gà dễ dàng tiếp cận.
Trọng lượng mục tiêu
<2 kg
Tác động của môi trường
Gà đạt hiệu quả chăn nuôi cao nhất khi được nuôi trong điều kiện nhiệt độ thích hợp. Mức nhiệt tối ưu thay đổi theo tuổi gà và không chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường mà còn chịu ảnh hưởng của độ ẩm và tốc độ gió. Khi điều kiện môi trường nằm ngoài ngưỡng thích hợp, gà phải sử dụng năng lượng từ thức ăn để duy trì thân nhiệt hoặc làm mát cơ thể, thay vì dành cho tăng trưởng. Khi bị stress nhiệt, gà giảm lượng thức ăn thu nhận và tăng lượng nước uống, từ đó làm chậm tốc độ tăng trưởng. Ở những vùng khí hậu nóng, nên khuyến khích gà ăn vào những thời điểm mát trong ngày, sử dụng nguyên liệu có khả năng tiêu hóa cao và đảm bảo thức ăn viên đạt chất lượng tốt.
Chương trình cho ăn: Cân đối dinh dưỡng theo từng giai đoạn
Các chuyên gia dinh dưỡng xây dựng khẩu phần phù hợp với nhu cầu axit amin và năng lượng thay đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng của gà. Nếu không được đáp ứng đầy đủ, gà sẽ tăng lượng ăn để bù đắp, khiến tốc độ tăng trưởng giảm và FCR tăng. Tăng tỷ trọng dinh dưỡng trong khẩu phần có thể cải thiện FCR, nhưng chưa chắc mang lại hiệu quả kinh tế. Do đó, trước khi điều chỉnh tỷ trọng dinh dưỡng, cần tham khảo chuyên gia dinh dưỡng và cân nhắc biên lợi nhuận sau chi phí thức ăn theo điều kiện tttthị trường. Nguyên liệu không đáp ứng giá trị dinh dưỡng theo yêu cầu hoặc bị nhiễm độc tố nấm mốc có thể làm giảm năng suất đàn. Bên cạnh đó, phối trộn không chính xác, nhiễm chéo và nghiền nguyên liệu không đạt yêu cầu cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi.
Hao hụt và dịch bệnh
Gà chết đã tiêu tốn thức ăn nhưng không tạo ra trọng lượng xuất bán, do đó, hao hụt,
2 - 3,5 kg
>3,5 kg
Ngày tuổi kcal/kg Protein thô (%) Lysine tiêu hóa (%) Ngày tuổi kcal/kg Protein thô (%) Lysine tiêu hóa (%) Ngày tuổi kcal/kg Protein thô (%) Lysine tiêu hóa (%)
Khởi đầu
Sinh trưởng
Vỗ béo 1
0-10 2975
11-24 3050
25-Xuất bán 3100
23
21,5
19,5
1,32
1,18
1,08
0-10 2975
11-24 3050
25-39 3100
40-Xuất bán 3125
23
21,5
19,5
18
1,32
1,18
1,08
1,02
0-10 2975
11-24 3050
25-39 3100
40-51 3125
52-Xuất bán 3150
23
21,5
19,5
18
17
1,32
1,18
1,08
1,02
0,96
Vỗ béo 2
Vỗ béo 3
Để biết thêm thông tin, truy cập Trung tâm thông tin Aviagen hoặc quét mã QR
đặc biệt ở giai đoạn cuối của chu kỳ nuôi, có thể tác động đáng kể đến FCR. Các vấn đề sức khỏe như viêm ruột hoại tử, loạn khuẩn đường ruột và cầu trùng, vốn ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc và chức năng đường ruột, cũng có thể khiến FCR tăng đáng kể. Vì vậy, cần thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng, đồng thời tuân thủ chặt chẽ các biện pháp an toàn sinh học và chương trình tiêm phòng để bảo vệ sức khỏe đàn gà.
Trước giết mổ: Hạn chế hao hụt trọng lượng
Gà sẽ giảm trọng lượng khi ngừng ăn và tốc độ hao hụt trọng lượng sẽ tăng nếu thời gian nhịn ăn kéo dài. Thông thường, gà được ngừng cho ăn 8 - 10 giờ trước khi giết
mổ, bao gồm cả thời gian bắt và vận chuyển, nhằm đảm bảo đường tiêu hóa gà không còn gì trước khi giết mổ. Nhịn ăn quá lâu sẽ làm giảm trọng lượng gà khi giết mổ, đồng thời khiến FCR tăng. FCR cao đồng nghĩa với chi phí sản xuất cao hơn. Tình trạng này thường không xuất phát từ một vấn đề lớn duy nhất mà là kết quả của nhiều yếu tố nhỏ cộng lại. Bất kỳ yếu tố nào làm giảm lượng thức ăn thu nhận, tốc độ tăng trưởng hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe và phúc lợi đàn gà đều có thể gây tổn thất kinh tế đáng kể. Vì vậy, cần tăng cường trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ giữa các khâu trong chuỗi sản xuất để kịp thời xử lý những vấn đề có thể làm FCR tăng.
AVIAGEN
28
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Trong chăn nuôi heo hiện đại, nâng cao năng suất sinh sản không chỉ là câu chuyện tăng số con sơ sinh trên mỗi lứa. Điều quan trọng hơn là làm sao để đàn con sinh ra khỏe mạnh, đồng đều, có tỷ lệ sống cao; đồng thời heo nái duy trì được thể trạng tốt, phục hồi nhanh sau sinh và sớm trở lại chu kỳ sinh sản tiếp theo. Để đạt được mục tiêu này, dinh dưỡng cho heo nái cần được nhìn nhận theo hướng toàn diện hơn, đặc biệt là ở những giai đoạn đầu của thai kỳ - thời điểm có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của phôi thai và chất lượng đàn con sau này.
Bài toán cân bằng giữa quy mô lứa đẻ và sức sống heo con
Thực tế cho thấy, tăng số con sơ sinh nhưng không đi cùng với chất lượng đàn con có thể chưa mang lại hiệu quả kinh tế như kỳ vọng. Khi số thai trong tử cung tăng nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng và ôxy cho từng thai bị hạn chế, khối lượng sơ sinh trung bình có thể giảm. Những heo con nhẹ cân thường có sức sống kém hơn, phản xạ bú yếu và dễ gặp bất lợi trong quá trình cạnh tranh sữa với những con khỏe trong cùng đàn. Nếu tình trạng này kéo dài, tỷ lệ hao hụt
trước cai sữa có thể tăng, kéo theo nhiều chi phí hơn cho chăm sóc và điều trị. Quan trọng hơn, sự chênh lệch về trọng lượng ngay từ khi sinh có thể ảnh hưởng đến tính đồng đều của đàn ở những giai đoạn nuôi tiếp theo. Vì vậy, dinh dưỡng cho heo nái không nên chỉ hướng đến mục tiêu “đủ dinh dưỡng để nuôi thai”, mà cần quan tâm đến khả năng duy trì môi trường sinh sản thuận lợi, hỗ trợ phôi thai phát triển và giúp nái duy trì thể trạng trong suốt chu kỳ.
Nuôi dưỡng phôi thai sớm: Chìa khóa vàng cho độ đồng đều của lứa đẻ
Trong những ngày đầu thai kỳ, phôi trải qua quá trình phân chia, phát triển và bám vào niêm mạc tử cung. Trước khi hệ thống trao đổi qua nhau thai hoàn thiện, phôi phụ thuộc đáng kể vào môi trường và nguồn dưỡng chất tại tử cung để tiếp tục phát triển.
Do đó, tình trạng của niêm mạc tử cung và khả năng cung cấp dưỡng chất cho phôi là những yếu tố cần được quan tâm. Khi môi trường tử cung không thuận lợi, nguy cơ phôi phát triển kém hoặc bị tiêu biến có thể gia tăng, ảnh hưởng đến số con thực tế được sinh ra. Bên cạnh đó, stress ôxy hóa cũng là một yếu tố cần lưu ý trong quá trình mang thai. Áp lực chuyển hóa, điều kiện nhiệt độ cao, chất lượng thức ăn hoặc các yếu tố bất lợi từ môi trường có thể làm gia tăng các gốc tự do trong cơ thể. Nếu khả năng chống oxy hóa không đáp ứng đủ, các tế bào có thể chịu tổn thương, từ đó ảnh hưởng đến quá trình phát triển của phôi. Đây cũng là một trong những yếu tố được quan tâm khi lý giải tình trạng heo con có khối lượng sơ sinh không đồng đều. Từ góc độ dinh dưỡng, việc hỗ trợ sức khỏe tử cung, duy trì môi trường thuận lợi
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
cho phôi và tăng khả năng chống chịu với stress ôxy hóa vì vậy có thể góp phần tạo nền tảng tốt hơn cho cả số lượng và chất lượng đàn con.
GARIN F - giải pháp dinh dưỡng hỗ trợ sức khỏe sinh sản cho heo nái
Từ nhu cầu thực tế trong chăn nuôi, Công ty Cổ phần TVOne Việt Nam nghiên cứu và phát triển GARIN F, sản phẩm phụ gia thức ăn chăn nuôi dành cho heo nái, với công thức kết hợp các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên (Phytogenics). GARIN F tập trung vào ba mục tiêu chính trong chăm sóc heo nái: duy trì môi trường tử cung thuận lợi, bảo vệ phôi thai và hỗ trợ nái duy trì thể trạng trong suốt chu kỳ sinh sản. ◆ Hỗ trợ duy trì môi trường tử cung GARIN F chứa Isoflavones (phytoestrogen) cùng các khoáng vi lượng như Mangan (Mn), góp phần hỗ trợ quá trình điều hòa sinh lý sinh sản và duy trì môi trường tử cung phù hợp trong giai đoạn mang thai. Khi môi trường tử cung được duy trì tốt, phôi có điều kiện thuận lợi hơn để bám và tiếp tục phát triển trong những giai đoạn đầu của thai kỳ. Qua đó góp phần duy trì số lượng phôi và nâng cao kết quả sinh sản của heo nái. ◆ Hỗ trợ chống stress ôxy hóa, bảo vệ phôi thai Trong công thức GARIN F, Ginsenosides và peptide lên men góp phần hạn chế sự hình thành và tác động của các gốc tự do (ROS), từ đó giảm áp lực stress ôxy hóa trong cơ thể nái. Kiểm soát tốt stress ôxy hóa giúp bảo vệ tế bào và niêm mạc tử cung trước những tác động bất lợi, đồng thời tạo môi trường thuận lợi hơn cho phôi trong quá trình bám và phát triển. Khi phôi được bảo vệ tốt và phát triển ổn định, nguy cơ chênh lệch về sự phát triển giữa các thai cũng được hạn chế, hướng đến đàn heo con có khối lượng sơ sinh và độ đồng đều tốt hơn. ◆ Hỗ trợ nái duy trì thể trạng trong suốt chu kỳ sinh sản Hiệu quả của một lứa đẻ không chỉ nằm ở số lượng heo con được sinh ra, mà còn ở khả năng phục hồi của nái sau sinh và duy trì năng suất qua các lứa tiếp theo. GARIN F cung cấp các thành phần hỗ trợ dinh dưỡng và chuyển hóa, giúp nái duy trì thể trạng tốt hơn trong giai đoạn mang thai và nuôi con. Đây là tiền đề quan trọng để nái phục hồi sau sinh, sớm trở lại trạng thái sinh sản và tiếp tục bước vào chu kỳ tiếp theo. Năng suất sinh sản của heo nái không chỉ được quyết định bởi số con sinh ra, mà còn nằm ở sức sống, độ đồng đều của đàn con và khả năng phục hồi của nái sau mỗi lứa. Để đạt được hiệu quả bền vững, việc chăm sóc cần bắt đầu từ sớm, đặc biệt là giai đoạn phôi thai hình thành và phát triển trong tử cung. Từ việc duy trì môi trường tử cung, bảo vệ phôi trước stress ôxy hóa đến hỗ trợ nái duy trì thể trạng trong suốt chu kỳ sinh sản, GARIN F được phát triển theo hướng chăm sóc toàn diện cho heo nái. Đây là nền tảng dinh dưỡng giúp người chăn nuôi hướng đến những lứa đẻ khỏe, đàn con đồng đều và khả năng sinh sản ổn định qua nhiều lứa.
TVONE
JAPFA COMFEED VIỆT NAM
Ứng dụng công nghệ giảm áp lực chi phí nguyên liệu Giải pháp này đã được Japfa Comfeed Việt Nam áp dụng tại Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Phú Thọ. Theo đó, doanh nghiệp đã vận hành hệ thống robot tự động gắp và xếp bao cám thành phẩm lên pallet. Mỗi robot có thể thay thế công việc của 5 - 7 lao động bốc xếp, đồng thời giúp giảm tỷ lệ viên cám bị vỡ từ mức 6 7% xuống còn khoảng 2 - 3%. Việc hạn chế tiếp xúc trực tiếp giữa con người với sản phẩm cũng góp phần nâng cao an toàn sinh học trong quá trình sản xuất. Bên cạnh tự động hóa, công nghệ tạo nên sự khác biệt của nhà máy là hệ thống Expander nhập khẩu từ Đức. Công nghệ này sử dụng nhiệt độ và áp suất cao để làm chín hoàn toàn tinh bột và protein. Nhờ đó, vật nuôi tiêu hóa tốt hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm nguy cơ nhiễm vi sinh vật gây bệnh.
NGỌC ANH
CÔNG TY CP NÔNG SẢN PHÚ GIA
Đẩy mạnh ứng dụng AI vào quản lý giống gà Tại trang trại chăn nuôi gà giống Xuân Phú, xã Sao Vàng, Công ty CP Nông sản Phú Gia được xây dựng trên diện tích 16,3 ha, tổng vốn đầu tư 310 tỷ đồng, công suất thiết kế 120.000 con gà bố mẹ/năm. Giai đoạn 1 của dự án đã đi vào hoạt động từ năm 2019; đến nay, các hạng mục đầu tư giai đoạn 2 cơ bản hoàn thành. Hiện trang trại đang nuôi 36.256 con gà bố mẹ, được nhập khẩu từ Đan Mạch. Ông Phạm Thanh Hà, Tổng Giám đốc Công ty chia sẻ, điểm quan trọng của việc ứng dụng AI là các thông tin về đàn vật nuôi, môi trường chuồng nuôi, trọng lượng, lượng thức ăn, nước uống và những chỉ số liên quan được thu thập thường xuyên sẽ tạo thành nguồn dữ liệu phục vụ quản lý. Khi được phân tích dữ liệu, người phụ trách trang trại sẽ có cái nhìn đầy đủ hơn về tình trạng đàn vật nuôi, qua đó kịp thời điều chỉnh quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi quá trình sản xuất được kiểm soát bằng dữ liệu, khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm được nâng lên, đồng thời góp phần củng cố các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm.
BẢO BÌNH
29
30
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
NANO BUBBLE KẾT HỢP OZONE
Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi Áp lực xử lý nước thải trong ngành chăn nuôi
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi theo hướng tập trung và quy mô lớn, vấn đề xử lý nước thải đang trở thành một trong những yêu cầu quan trọng đối với các trang trại hiện đại. Nước thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng cao chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, hợp chất chứa nitơ, vi sinh vật và các chất gây mùi. Nếu không được thu gom và xử lý hiệu quả, nước thải có thể gây ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của cộng đồng xung quanh. Trong những năm gần đây, yêu cầu quản lý môi trường tại Việt Nam ngày càng được chú trọng. Các hành vi xả nước thải không đạt quy chuẩn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Đặc biệt, Nghị định 45/2022/ NĐ-CP quy định các mức xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đồng thời, các quy chuẩn kỹ thuật về nước thải chăn nuôi tiếp tục được hoàn thiện và cập nhật nhằm nâng cao yêu cầu kiểm soát ô nhiễm. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các trang trại: không chỉ đầu tư hệ thống xử lý nước thải, mà còn phải hướng đến các giải pháp có hiệu quả cao, vận hành ổn định và phù hợp với quy mô sản xuất.
Nano Bubble kết hợp Ozone - Giải pháp xử lý tăng cường
Trong bối cảnh đó, công nghệ Nano Bubble kết hợp Ozone (O₃) đang là một giải pháp đáng được quan tâm trong xử lý nước thải chăn nuôi.
Nano Bubble tạo ra các bọt khí có kích thước cực nhỏ, giúp khí được phân tán đồng đều trong nước và tăng diện tích tiếp xúc giữa khí và môi trường nước. Khi kết hợp với Ozone một chất ôxy hóa mạnh - công nghệ này có thể hỗ trợ tăng cường quá trình ôxy hóa các chất ô nhiễm. Ozone được phân tán dưới dạng các bọt khí nhỏ giúp tăng khả năng tiếp xúc với nước thải. Trong điều kiện vận hành phù hợp, quá trình này có thể hỗ trợ xử lý các hợp chất hữu cơ, giảm màu, giảm mùi và kiểm soát một số vi sinh vật. Công nghệ Nano Bubble + Ozone có thể mang lại nhiều lợi ích như tăng hiệu quả truyền khí, tăng khả năng tiếp xúc giữa Ozone và các chất ô nhiễm, hỗ trợ giảm mùi hôi và nâng cao hiệu quả xử lý nước.
Hướng đến việc rút ngắn thời gian xử lý
Một trong những ưu điểm đáng chú ý của Nano Bubble là khả năng tăng cường quá trình phân tán và tiếp xúc khí - nước. So với việc cấp khí thông thường, việc sử dụng các bọt khí có kích thước nhỏ có thể giúp quá trình truyền khí diễn ra hiệu quả hơn. Khi kết hợp với Ozone, công nghệ Nano Bubble có thể hỗ trợ tăng tốc quá trình ôxy hóa trong các công đoạn xử lý phù hợp. Điều này giúp nâng cao hiệu quả xử lý và có tiềm năng rút ngắn thời gian xử lý, đặc biệt đối với những hệ thống cần xử lý lưu lượng nước lớn hoặc cần cải thiện hiệu suất của hệ thống hiện có. Đối với các trang trại đang gặp vấn đề về diện tích xây dựng bể xử lý, thời gian lưu nước hoặc
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Điện thoại: 028.668.101.95~96 Web: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh
hiệu quả xử lý chưa ổn định, việc bổ sung công nghệ xử lý tăng cường có thể là một hướng đi đáng cân nhắc. Nano Bubble kết hợp Ozone là giải pháp có tiềm năng tăng cường quá trình ôxy hóa, hỗ trợ giảm mùi, nâng cao hiệu quả xử lý và tối ưu hóa thời gian vận hành hệ thống nước thải chăn nuôi. Các thí nghiệm đã cho thấy rằng việc ứng dụng nanobubble trong nước uống có thể loại bỏ nhiều loại mầm bệnh có nguồn gốc từ nước ngầm, đồng thời cải thiện sức khỏe đường ruột của
vật nuôi, từ đó giúp giảm đáng kể tình trạng tiêu chảy. Nước chưa qua xử lý được lấy từ nguồn nước ngầm, hồ chứa hoặc sông suối có thể là nguồn phát sinh và lây truyền mầm bệnh. Tuy nhiên, khi nguồn nước này được khử khuẩn và bổ sung oxy bằng công nghệ nanobubble, vật nuôi có thể giảm đáng kể tình trạng tiêu chảy và các bệnh lý liên quan đến chất lượng nước. Những kết quả trên được ghi nhận dựa trên các thử nghiệm thực tế.
B.H.N
THỊ TRƯỜNG
31
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
HÙNG NHƠN
Khép kín chuỗi chăn nuôi, nâng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tại Hội nghị Kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa xuất nhập khẩu, thương mại điện tử tỉnh Tây Ninh năm 2026 diễn ra ngày 5/9, ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Hùng Nhơn nhấn mạnh, một sản phẩm tốt chưa đủ để bước vào những thị trường có tiêu chuẩn cao, mà phía sau đó là một chuỗi sản xuất được kiểm soát đồng bộ từ con giống, thức ăn, trang trại, an toàn sinh học đến chế biến, truy xuất nguồn gốc và môi trường. Theo ông Vũ Mạnh Hùng, sau gần 30 năm hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi và hợp tác với nhiều tập đoàn hàng đầu châu Âu, Hùng Nhơn nhận thấy yêu cầu quan trọng khi tiếp cận các thị trường tiêu chuẩn cao là phải duy trì chất lượng ổn định trên toàn chuỗi. Từ cách tiếp cận này, Hùng Nhơn phát triển chuỗi liên kết theo mô hình “con giống - thức ăn - chăn nuôi - chế biến - tiêu thụ”. Mỗi mắt xích được đảm nhiệm bởi những đối tác có thế mạnh chuyên môn, qua đó hình thành hệ sinh thái sản xuất thay vì các khâu hoạt động riêng lẻ. Trong chuỗi, Hùng Nhơn tập trung đầu tư, phát triển hệ thống trang trại chăn nuôi ứng dụng công nghệ, đáp ứng các yêu cầu về an toàn sinh học và kiểm soát môi trường. De Heus của Hà Lan phát huy hơn 100 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi; Bel Gà của Bỉ cung cấp nguồn gà giống chất lượng cao. Cùng với đó, Big Dutchman của Đức đảm nhiệm các giải pháp công nghệ, thiết bị; Olmix của Pháp và Boehringer Ingelheim của Đức cung cấp các giải pháp về thú y, sức khỏe vật nuôi và an toàn sinh học. Việc kết nối các doanh nghiệp có thế
mạnh ở từng khâu được kỳ vọng giúp chuỗi sản xuất vừa nâng cao năng suất, vừa hướng tới xây dựng hệ tiêu chuẩn thống nhất từ đầu vào đến đầu ra. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Theo ông Vũ Mạnh Hùng, với các thị trường khó tính, chất lượng sản phẩm cuối cùng chỉ là một phần. Doanh nghiệp còn phải chứng minh được sản phẩm được tạo ra như thế nào, nguyên liệu có nguồn gốc từ đâu, quy trình chăn nuôi ra sao và các yêu cầu về an toàn, minh bạch có được bảo đảm hay không. Những định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững Hùng Nhơn De Heus giai đoạn 2026 - 2036. Riêng tại Tây Ninh, hai bên dự kiến phát triển 13 dự án. Khi hoàn thiện, quy mô toàn chuỗi dự kiến đạt 10.000 con heo giống cụ kỵ, 200 triệu con gà giống, 3 triệu con gà đẻ, 1 triệu con gà hậu bị và 25 triệu con gà thịt phục vụ xuất khẩu. Doanh thu kỳ vọng của toàn chuỗi đạt khoảng 2 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, theo ông Hùng, mục tiêu của chiến lược không đơn thuần là mở rộng quy mô đàn nuôi hay tăng công suất sản xuất,
mà quan trọng hơn là hoàn thiện chuỗi giá trị đồng bộ từ sản xuất, chế biến đến thị trường; trong đó doanh nghiệp có khả năng kiểm soát chất lượng, nâng giá trị gia tăng và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Trước đó, ngày 28/8 tại Tây Ninh, trong khuôn khổ Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Tây Ninh năm 2026, UBND tỉnh Tây Ninh Điểm nhấn tại sự kiện là Biên bản thỏa thuận hợp tác giữa Tập đoàn De Heus và Tập đoàn Hùng Nhơn về “Chương trình hợp tác mở rộng liên kết chuỗi De Heus Hùng Nhơn giai đoạn 2026 - 2036”. Một dự án trọng điểm là Tổ hợp trang trại chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao DHN Tây Ninh 2 tại xã Tân Hội đã được đầu tư và đưa vào vận hành. Dự án thuộc nhóm các tổ hợp chăn nuôi gà thịt công nghệ cao có quy mô, công suất hàng đầu Đông Nam Á. Sự kết hợp giữa giống, dinh dưỡng, trang trại, công nghệ và sức khỏe vật nuôi được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát chất lượng, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc, qua đó từng bước đưa chuỗi chăn nuôi của doanh nghiệp tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế.
MINH KHUÊ
32 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Aquaproducts đồng hành cùng Hội thảo “Feeding the future: The one health evolution” tại Thái Lan
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
33
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Aquaproducts (Marine Biotech Vietnam) vừa qua đã tham gia và đồng hành cùng Hội thảo Kỹ thuật Quốc tế “Feeding the Future: The One Health Evolution” diễn ra tại Khách sạn Eastin Grand Hotel Phayathai, Bangkok, Thái Lan. Sự kiện hội tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu cùng đại diện các doanh nghiệp uy tín trong ngành chăn nuôi gia cầm và heo từ khu vực Đông Nam Á và châu Âu. Quy tụ dàn chuyên gia hàng đầu khu vực và quốc tế
Hội thảo “Feeding the Future: The One Health Evolution” được tổ chức với mục tiêu thúc đẩy các giải pháp phát triển chăn nuôi bền vững, tập trung vào mô hình dinh dưỡng sinh thái, giảm đạm và lập trình hệ vi sinh đường ruột giai đoạn sớm cho vật nuôi. Sự kiện quy tụ dàn diễn giả và chuyên gia uy tín từ các viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu Thái Lan cũng như các tập đoàn dinh dưỡng hàng đầu thế giới: ■ PGS. TS. Yuwares Ruangpanit - Khoa Chăn nuôi, Đại học Kasetsart (Thái Lan) chia sẻ về quản lý dinh dưỡng giai đoạn sớm ở gia cầm. ■ TS. Pradeep Padmaja Jayaprasad - Tập đoàn Leiber GmbH (Đức) trình bày chiến lược ứng dụng nấm men chức năng cho chăn nuôi bền vững. ■ Ông Fabrice Manghebati - CEO Manghebati SAS (Pháp) chia sẻ giải pháp chiết xuất thực vật kiểm soát sức khỏe đường ruột và bệnh cầu trùng. ■ TS. Chi Man - Tập đoàn Corbion (Hà Lan) giới thiệu giải pháp Algae Omega-3 DHA nâng cao hiệu suất sinh sản và giá trị thương phẩm. ■ TS. Winai Thongmak - Chuyên gia chăn nuôi heo từ Live Informatics (Thái Lan) phân tích tầm quan trọng của dinh dưỡng sề nuôi con. ■ TS. Yongyuth Theapparat - Đại học Prince of Songkla (Thái Lan) trình bày về trục vi sinh vật - đường ruột (Gut MicrobiomeGut-X Axis).
Aquaproducts chia sẻ giải pháp đạm sinh học và Peptide chức năng
Tại Hội thảo, ông Thomas Levallois, Giám đốc Điều hành của Aquaproducts (Marine Biotech Vietnam) đã có bài trình bày chuyên sâu với chủ đề: “Cải thiện sức khỏe heo con và năng suất đàn heo nái thông qua bổ sung Peptide chức năng trong các giai đoạn sinh sản”. Bài phát biểu tập trung phân tích cơ chế tác động của các chuỗi peptide chiết xuất sinh học từ nguồn nguyên liệu biển (Marine Functional Peptides). Việc bổ sung dòng sản phẩm peptide chức năng giúp nâng cao khả năng hấp thu dinh dưỡng, tối ưu hóa chất lượng sữa nái, đồng thời tăng cường sức đề kháng cho heo con ngay từ giai đoạn đầu đời. Chỉ số / Hiệu quả thực tế từ Peptide chức năng Mục tiêu Aquaproducts Sức khỏe Tăng cường khả năng thu nhận thức ăn trong giai heo nái sinh đoạn nuôi con, giảm tình trạng mất sức và cải sản thiện chỉ số thể trạng (BCS). Tăng trưởng Nâng cao trọng lượng cai sữa, đồng đều đàn heo heo con theo con và giảm tỷ lệ hao hụt trong 21 ngày đầu đời. nái Độ vẹn toàn Cải thiện chiều cao nhung mao đường ruột, hỗ đường ruột trợ phát triển hệ miễn dịch tự nhiên và giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh.
Aquaproducts (Marine Biotech Vietnam)
Là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các giải pháp đạm thủy phân, peptide sinh học từ nguồn phụ phẩm biển bền vững. Với định hướng ứng dụng công nghệ enzym hiện đại, Aquaproducts cung cấp các dòng nguyên liệu giá trị gia tăng cao cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản. Các giải pháp cốt lõi của Aquaproducts bao gồm PEPTITOM, PEPTIMAR và PEPTISALM: ■ Dòng Peptide Chức năng: Tập trung vào việc kích thích bắt mồi, tối ưu hóa quá trình tiêu hóa - hấp thu, nâng cao sức khỏe đường ruột và tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên cho heo, gia cầm và thủy sản. ■ Nguồn đạm sinh học bền vững: Thay thế các nguồn đạm truyền thống bằng giải pháp thủy phân có độ tiêu hóa cao, giúp giảm chi phí công thức thức ăn và thân thiện với môi trường. Website: aquaproducts.org Số điện thoại: +84 (0) 272.3.83.99.88 Email: contact@aquaproducts.org
Định hướng phát triển chăn nuôi xanh
Bên cạnh bài trình bày kỹ thuật, đoàn đại diện Aquaproducts cũng tham gia phiên thảo luận cùng các chuyên gia hàng đầu để thảo luận về chủ đề “Lập trình dinh dưỡng giai đoạn sớm: Đột phá công nghệ hay xu hướng thời hạn?”. Sự tham gia tích cực của Aquaproducts tại thị trường quốc tế khẳng định cam kết của Công ty trong việc cung cấp các giải pháp nguyên liệu dinh dưỡng biển bền vững, đồng hành cùng người chăn nuôi và các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi hướng tới tiêu chuẩn chăn nuôi xanh, không kháng sinh và an toàn thực phẩm.
AQUAPRODUCTS
34
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
35 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
36
CHUYỂN ĐỘNG VPA THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
NGÀNH GIA CẦM VIỆT KHÁT VỌNG NÂNG TẦM NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA Trong bối cảnh ngành gia cầm Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, chuyển dịch từ “tăng trưởng sản lượng” sang “nâng cao giá trị”, thì việc ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi liên kết, đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động phòng bệnh, đã trở thành những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, trang trại. Khi tăng sản lượng không đồng nghĩa với tăng lợi nhuận
Theo báo cáo “Toàn cảnh ngành gia cầm Việt Nam: Sản xuất và thị trường 8 tháng đầu năm 2026, dự báo các kịch bản phát triển năm 2027” của TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA), tổng sản lượng thịt gia cầm trong 8 tháng đầu năm ước đạt khoảng 1,77 triệu tấn, sản lượng trứng dự báo đạt 14,78 tỷ quả. Nguồn cung dồi dào bảo đảm an ninh thực phẩm cho thị trường, nhưng đồng thời cũng tạo sức ép lớn lên giá bán. Thị trường gia cầm năm 2026 chứng kiến 3 giai đoạn biến động rõ rệt: thuận lợi trong tháng 1 - 2, lao dốc từ tháng 3 - 6 và bắt đầu phục hồi vào tháng 7 - 8. Đáng chú ý, có thời điểm giá gà lông trắng giảm sâu xuống mức 20.000 - 24.000 đồng/kg; giá trứng thương phẩm chạm đáy 1.400 - 1.500 đồng/quả. Giá con giống giảm mạnh cũng
phản ánh tâm lý thận trọng, ngại tái đàn của người chăn nuôi. Những biến động này chỉ ra rằng, bài toán của ngành không còn đơn giản là làm thế nào để sản xuất nhiều hơn, mà là làm thế nào để sản xuất hiệu quả hơn, kiểm soát tốt rủi ro và tạo ra giá trị cao hơn.
Nghịch lý “nuôi rẻ nhưng lợi nhuận thấp”
Một điểm nghẽn đáng chú ý trong bức tranh ngành gia cầm hiện nay là Việt Nam đang có lợi thế lớn về chi phí sản xuất nhưng chưa thể chuyển hóa thành lợi nhuận tương xứng. Báo cáo cho thấy, chi phí sản xuất gà lông trắng của Việt Nam khoảng 1,06 USD/kg, tối ưu thứ 2 trong số 18 quốc gia được so sánh. Tuy nhiên, biên lợi nhuận thu về chỉ khoảng 0,08 USD/kg, thuộc nhóm thấp nhất. Trong khi đó, Campuchia có chi phí sản xuất cao hơn Việt Nam
nhưng lại đạt biên lợi nhuận lên tới 0,50 USD/kg. Thực tế này khẳng định cuộc đua giảm chi phí không còn là lời giải duy nhất cho bài toán cạnh tranh. Ngành gia cầm cần chuyển dịch tư duy từ “đua nhau nuôi rẻ” sang “tập trung tạo giá trị cao”. Để làm được điều đó, Chủ tịch VPA Nguyễn Thanh Sơn nhấn mạnh: đổi mới công nghệ, phát triển chuỗi liên kết, chủ động phòng bệnh phải được xem là mắt xích cốt lõi trong toàn bộ chiến lược sản xuất.
“Trọn 1 tình yêu” - Trách nhiệm với tương lai ngành gia cầm
Nhìn từ thông điệp của Boehringer Ingelheim, “Trọn 1 tình yêu cho gia cầm” không chỉ dừng lại ở tình yêu dành cho
CHUYỂN ĐỘNG VPA
37
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
vật nuôi. Ở góc độ vĩ mô, chủ động bảo vệ sức khỏe đàn gia cầm chính là bảo vệ sinh kế bền vững cho người nông dân, bảo đảm nguồn thực phẩm an toàn cho xã hội và đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp. Đây cũng là định hướng chiến lược mà Boehringer Ingelheim Việt Nam cam kết đồng hành cùng ngành hàng gia cầm. Doanh nghiệp cho biết, trong năm 2025 đã đưa về Việt Nam dòng vaccine Vaxxitek® HVT+IBD+ILT. Đây là vaccine vector giúp bảo vệ gà toàn diện trước ba bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gồm Marek, Gumboro và viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT), với khả năng tạo miễn dịch ngay từ giai đoạn gà một ngày tuổi tại nhà máy ấp. Khi ngành gia cầm đang phải đối mặt đồng thời với áp lực bủa vây từ giá cả, chi phí, dịch bệnh đến hội nhập, việc chuyển dịch từ phòng bệnh bị động sang quản trị sức khỏe đàn chủ động là chìa khóa sống còn. Nếu như lợi thế cạnh tranh của thập kỷ trước được xây dựng trên năng lực sản xuất và chi phí thấp, thì bệ phóng của thập kỷ tới phải dựa vào công nghệ, sức khỏe vật nuôi, an toàn sinh học và chế biến sâu. Đó là con đường duy nhất để ngành gia cầm Việt Nam thoát khỏi “bẫy giá rẻ”, hướng tới một diện mạo mới: hiệu quả hơn, xanh hơn và minh bạch hơn.
Công nghệ cao và chuỗi giá trị quyết định sức cạnh tranh
Trong tầm nhìn 5 - 10 năm tới, TS Nguyễn Thanh Sơn khẳng định, ngành gia cầm Việt Nam phải chuyển dịch mạnh mẽ từ “tăng trưởng sản lượng” sang “tăng trưởng giá trị bền vững”. Ở đó, công nghệ cao sẽ trở thành nền tảng cốt lõi giúp đồng thời nâng cao năng suất, kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm và tối ưu hóa lợi nhuận. Song song với công nghệ, ngành cần tập trung xây dựng các chuỗi liên kết khép kín 3F (Feed - Farm - Food), số hóa quy trình sản xuất và tăng cường truy xuất nguồn gốc từ con giống đến sản phẩm cuối cùng. Đây cũng là hướng đi tất yếu để thích ứng với những thay đổi về mặt chính sách dự kiến sẽ tác động mạnh mẽ đến ngành từ năm 2027, khi các quy định về môi trường, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất cấm và quản lý chăn nuôi ngày càng thắt chặt. Đặc biệt,
quản trị môi trường sẽ trở thành một bộ lọc nghiêm ngặt. Những cơ sở không đáp ứng tiêu chuẩn sẽ phải đầu tư nâng cấp toàn diện hoặc đối mặt với nguy cơ bị đào thải khỏi thị trường.
Từ trang trại đến bàn ăn: Quản trị toàn diện chuỗi giá trị
▶ TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam nhấn mạnh, cấu trúc lực lượng sản xuất ngành gia cầm chắc chắn sẽ trải qua một cuộc đại sàng lọc sâu sắc. Trong đó, các tập đoàn và doanh nghiệp quy mô lớn (bao gồm cả khối FDI và nội địa) sẽ giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt toàn chuỗi. Các hợp tác xã kiểu mới và trang trại chuyên nghiệp sẽ đóng vai trò là lực lượng liên kết vệ tinh. Tựu trung lại, diện mạo của ngành gia cầm Việt Nam trong 5 - 10 năm tới sẽ được định hình bằng 4 từ khóa: “Quy mô lớn hơn, Công nghệ cao hơn, Xanh hơn và Minh bạch hơn”.
Một trang trại hiện đại không thể chỉ quan tâm đến năng suất đàn gia cầm. Hiệu quả kinh tế phải được tính toán toàn diện trên cả chuỗi: từ chất lượng con giống, dinh dưỡng, vaccine, an toàn sinh học, môi trường, giết mổ, chế biến cho đến thị trường tiêu thụ. Chủ tịch VPA Nguyễn Thanh Sơn nhận định, ngành gia cầm cần tái cấu trúc từ chiều rộng sang chiều sâu, tiết giảm các khâu trung gian, nâng cao tỷ trọng chế biến sâu và hướng tới tự chủ chuỗi cung ứng. Theo mô hình này, các doanh nghiệp lớn sẽ đóng vai trò dẫn dắt nhờ lợi thế vượt trội về vốn, công nghệ, con giống, thức ăn và hệ thống phân phối. Trong khi đó, các trang trại chuyên nghiệp, hợp tác xã kiểu mới sẽ trở thành những mắt xích vệ tinh vững chắc trong chuỗi giá trị. Đây là quá trình sàng lọc tự nhiên và tất yếu khi các tiêu chuẩn về an toàn sinh học ngày một nâng cao.
Hai dòng sản phẩm, hai hướng phát triển song hành
Một định hướng chiến lược được TS Nguyễn Thanh Sơn đề xuất là phát triển song song hai dòng sản phẩm với mục tiêu thị trường rõ ràng: Tiếp tục giữ vững thị trường nội địa bằng các dòng sản phẩm gà màu (gà bản địa và gà thả vườn chất lượng cao) để giữ vững thị phần trong nước. Đồng thời, dồn lực bứt phá xuất khẩu bằng dòng gà trắng công nghiệp được chế biến sâu. Để hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu bền vững, việc xây dựng các vùng chăn nuôi tập trung an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện tiên quyết. Đây được xem là “tấm vé thông hành” quan trọng giúp gia cầm Việt Nam vượt qua các hàng
rào kỹ thuật khắt khen để tiếp cận các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc và EU. Ở tầm vĩ mô, an toàn dịch bệnh không còn là câu chuyện riêng của từng trang trại, mà chính là năng lực cạnh tranh quốc gia.
Năm 2027: Thời điểm bản lề của những kịch bản
Báo cáo toàn cảnh ngành gia cầm dự báo năm 2027 sẽ là năm bản lề với 3 kịch bản phát triển rõ rệt: - Kịch bản cơ sở (xác suất 55 - 60%). Theo đó, ngành thích ứng ổn định với các quy định mới, sản lượng tăng trưởng 3 - 3,5%. Tổng sản lượng thịt dự kiến đạt khoảng 2,829 triệu tấn và trứng đạt khoảng 23,23 tỷ quả. - Kịch bản tích cực (xác suất 25 - 30%). Quá trình công nghiệp hóa và liên kết chuỗi diễn ra mạnh mẽ, giúp ngành tăng trưởng 4,5 - 5%. Sản lượng thịt đạt khoảng 2,87 triệu tấn và trứng đạt 23,57 tỷ quả. - Kịch bản thách thức (xác suất dưới 15%). Theo đó, nếu chi phí đầu vào tăng mạnh do khủng hoảng địa chính trị bùng phát, dịch bệnh diễn biến phức tạp hoặc quá trình chuyển đổi mô hình gặp rào cản, khiến tăng trưởng giữ ở mức dưới 1,5%. Trong cả 3 kịch bản, năng lực quản trị sức khỏe đàn và kiểm soát dịch tễ luôn là yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của người chăn nuôi.
BAN TRUYỀN THÔNG VPA
38
NHÌN RA THẾ GIỚI
GIA CẦM TOÀN CẦU TĂNG TỐC, VƯỢT XA DỰ BÁO THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Ngành gia cầm toàn cầu đang tăng trưởng mạnh hơn dự báo nhờ nhu cầu và giá bán thuận lợi, trong khi HPAI hạ nhiệt. Dù vậy, sức mua suy yếu và bất ổn thương mại vẫn phủ bóng lên triển vọng cuối năm. Tăng trưởng toàn cầu vượt kỳ vọng
Rabobank dự báo sản lượng gia cầm toàn cầu tăng 3 - 3,5% trong năm 2026, cao hơn các ước tính trước đó. Cơ quan Dịch vụ Nông nghiệp Đối ngoại thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA FAS) hồi tháng 4 dự báo sản lượng tăng khoảng 3%, lên 110,7 triệu tấn. Nhu cầu thịt gia cầm tiếp tục tăng, trong khi số ca HPAI tại nhiều quốc gia có xu hướng giảm, giúp ngành duy trì đà tăng trưởng dù chịu tác động từ các biến động địa chính trị. Cơ quan Nông nghiệp Đối ngoại thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA FAS) dự báo, các nhà sản xuất lớn đều tăng sản lượng, dẫn đầu là Trung Quốc, Brazil, Mỹ và EU. Rabobank cũng đánh giá Nam Phi và Philippines có triển vọng tăng trưởng mạnh. Giá thịt gia cầm cạnh tranh hơn so với thịt bò tiếp tục thúc đẩy tiêu dùng. Tuy nhiên, kinh tế suy yếu và người tiêu dùng ngày càng nhạy cảm với giá có thể làm giảm nhu cầu, đặc biệt tại các thị trường thu nhập thấp. FAO dự báo, thương mại gia cầm toàn cầu tăng 3,1%, lên 17,1 triệu tấn trong năm 2026. Trong quý I, thương mại tăng 3,5%, mức cao kỷ lục. Tuy nhiên, thương mại có thể biến động mạnh nếu Brazil không được EU khôi phục tư cách quốc gia được phép xuất khẩu. Khi đó, giá tại EU có thể tăng, trong khi giá tại Brazil giảm; EU nhiều khả năng sẽ tăng
nhập khẩu từ Trung Quốc và Thái Lan. Xu hướng Trung Quốc gia tăng xuất khẩu cũng đang góp phần định hình lại thị trường. FAO cảnh báo, xung đột tại Iran đã đẩy giá năng lượng tăng và hạn chế nguồn cung phân bón, gây sức ép lên biên lợi nhuận. Rủi ro lạm phát và lãi suất tăng đã giảm nhưng vẫn hiện hữu.
Mỹ tăng sản lượng, lợi nhuận chịu sức ép
USDA FAS nâng dự báo tăng trưởng sản lượng gà thịt Mỹ năm 2026 từ 2% lên 2,9%, tương đương 2,40 triệu tấn. Sản lượng quý I tăng 3,7% và tiếp tục tăng trong quý II. Nhu cầu trong nước vẫn vững, giúp lợi nhuận duy trì tích cực. Tuy nhiên, Rabobank cho rằng lợi nhuận quý II thấp hơn kỳ vọng. Sản lượng được dự báo tiếp tục tăng đến quý IV, khiến giá và biên lợi nhuận khó phục hồi trong ngắn hạn. Giá thịt gà vẫn thấp hơn mức trung bình lịch sử, trong khi chi phí thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu vẫn trong tầm kiểm soát. USDA ước tính xuất khẩu gia cầm Mỹ đạt hơn 3 triệu tấn, giảm 0,8% so với năm 2025, nhưng khả quan hơn dự báo tháng 4 với mức giảm 3%. Xuất khẩu vẫn chịu sức ép do giá kém cạnh tranh, nguồn cung sang Mexico hạn chế bởi cạnh tranh từ Brazil và nhu cầu tại Cuba suy yếu. Các hạn chế liên quan đến HPAI tại Trung Quốc và Nam
Phi cũng ảnh hưởng đến xuất khẩu, dù tình hình đã cải thiện phần nào. Trong khi đó, nhập khẩu gia cầm của Mỹ được dự báo giảm 11,2% trong năm 2026.
Trung Quốc tăng tốc, vươn lên trên thị trường xuất khẩu
Trung Quốc hiện chiếm gần 1/5 sản lượng thịt gia cầm toàn cầu, theo FAO. Dự báo tháng 4 cho thấy sản lượng nước này tăng 5% trong năm 2026. Thực tế, sản lượng quý I đã tăng tới 9,4%, dẫn đến dư cung và được dự báo tiếp tục ở mức cao đến cuối năm. Tiêu thụ trong nước tăng chậm, trong khi giá thịt gia cầm suy yếu trong những tháng đầu năm. Giá thức ăn chăn nuôi thấp hơn phần nào bù đắp cho giá bán giảm, còn đến tháng 6, giá thịt đã phục hồi. Rabobank cho biết, giá thức ăn chăn nuôi tăng trong quý II, nhưng nhiều khả năng giảm trong nửa cuối năm nhờ nguồn cung ngũ cốc dồi dào và nhu cầu từ ngành chăn nuôi heo suy yếu. Trong khi thị trường nội địa tăng trưởng hạn chế, xuất khẩu gia cầm Trung Quốc được dự báo tăng mạnh, tiếp nối xu hướng hai năm qua. Trung Quốc đã chuyển từ nước nhập khẩu ròng sang xuất khẩu ròng vào năm 2024. Xuất khẩu trước đây chiếm khoảng 3 - 5% sản lượng nhưng đã tăng lên 8%, trong khi nhập khẩu tương đương 2 5% mức tiêu thụ. Từ đầu năm đến nay, xuất
39
NHÌN RA THẾ GIỚI THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
khẩu tiếp tục tăng mạnh. Trung Quốc được dự báo vượt Thái Lan về xuất khẩu gia cầm trong năm 2026, với các thị trường trọng điểm gồm Nhật Bản, Hong Kong, Nga và EU.
Brazil bứt phá nhờ nhu cầu nội địa và xuất khẩu
FAS dự báo sản lượng gia cầm Brazil tăng 2%, lên 15,8 triệu tấn. Tuy nhiên, dự báo trong nước của Hiệp hội Protein Động vật Brazil (ABPA) hồi tháng 5 thận trọng hơn, ở mức 15,6 triệu tấn. Giá gà thịt sống tăng trở lại trong tháng 5 sau ba tháng liên tiếp giảm. Các doanh nghiệp giảm số lượng gà con đưa vào nuôi nhằm xử lý tình trạng dư cung. Ngành đang hưởng lợi từ chi phí sản xuất thấp hơn, dù trong 5 tháng đầu năm phải đối mặt với đồng nội tệ tăng giá. Gần đây, đồng tiền này đã giảm một phần mức tăng, hỗ trợ khả năng cạnh tranh xuất khẩu. Dù sản phẩm Brazil trở nên đắt hơn trên thị trường quốc tế, xuất khẩu vẫn đạt kỷ lục trong tháng 5. ABPA cho biết, Brazil xuất khẩu 509.000 tấn, trị giá khoảng 1 tỷ USD, bất chấp khó khăn tại Trung Đông. Trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu tăng 8,7% về lượng và 11,3% về giá trị. ABPA dự báo tổng xuất khẩu thịt gia cầm có thể đạt 5,5 triệu tấn trong năm nay.
EU tăng sản lượng, đối mặt nguy cơ dư cung
Ủy ban châu Âu dự báo sản lượng gia cầm EU tăng 1,4% trong năm nay, thấp hơn mức 1,5% của FAS. Trong nửa đầu năm, các nhà sản xuất gà thịt châu Âu hưởng lợi từ nhu cầu mạnh, giá bán cao hơn và chi phí đầu vào giảm so với mức đỉnh những năm trước. Theo EFSA, số vụ HPAI từ tháng 2 đến tháng 6 tương đương năm trước, nhưng đã giảm so với cuối năm 2025 và dự kiến tiếp tục giảm trong những tháng tới. Sản lượng gà thịt quý I tăng 5,7%, trong khi số gà con đưa vào nuôi cũng tăng trong 4 tháng đầu năm. Rabobank cho biết trong 6 tháng đầu năm, số gà con đưa vào nuôi tăng 6%. Tuy nhiên, sản xuất đang tăng nhanh hơn tiêu thụ, gây áp lực lên giá trong nửa đầu năm. Biên lợi nhuận vẫn dương nhưng chịu sức ép. Trong hai tháng đầu năm, xuất khẩu của EU giảm 6,7%, trong khi nhập khẩu tăng 5%.
ĐAN LINH
Theo InternationalPoultry
Ngành gia cầm Ấn Độ đón “phao cứu sinh” từ Mỹ Thỏa thuận thương mại tạm thời với Mỹ, trong đó giảm hoặc xóa thuế một số nguyên liệu như DDGs và cao lương đỏ, được kỳ vọng giúp Ấn Độ ổn định nguồn cung thức ăn chăn nuôi, kiểm soát chi phí và đáp ứng nhu cầu gia cầm ngày càng tăng. Áp lực nguồn nguyên liệu thức ăn
Ngành gia cầm Ấn Độ tăng trưởng nhanh trong thập kỷ qua, hiện đạt giá trị khoảng 30 tỷ USD và tạo việc làm cho hơn 6 triệu người. Nhờ các doanh nghiệp tích hợp quy mô lớn, mô hình chăn nuôi theo hợp đồng và thị trường nội địa phát triển, Ấn Độ đã trở thành một trong những nước sản xuất gà thịt và trứng hiệu quả nhất thế giới. Tuy nhiên, ngành gia cầm và chăn nuôi đang tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với lĩnh vực trồng trọt, dấy lên lo ngại nguồn nguyên liệu thức ăn trong nước khó đáp ứng ổn định, khiến ngành chăn nuôi dễ chịu tác động từ biến động giá. Thỏa thuận tạm thời về thương mại song phương giữa Ấn Độ và Mỹ, theo hướng cắt giảm hoặc xóa thuế đối với một số mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ, trong đó có bã ngũ cốc sấy khô (DDGs) và cao lương đỏ, được kỳ vọng giúp duy trì nguồn cung nguyên liệu thức ăn trong những năm tới.
Lời giải từ nhập khẩu
Nhiều hiệp hội ngành chăn nuôi ở cấp quốc gia và bang tại Ấn Độ đã cảnh báo về nguồn cung khô đậu tương hạn chế và chi phí tăng. Nhu cầu ngô từ các ngành khác, đặc biệt là sản xuất ethanol, cũng đang tạo thêm áp lực lên nguồn nguyên liệu thức ăn. Theo tài liệu tầm nhìn đến năm 2047 của Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ (CII) về ngành gia cầm, sản lượng gia cầm đang tăng khoảng 8% mỗi năm và có thể tiếp tục tăng tốc. Tuy nhiên, nguồn cung nguyên liệu thức ăn chất lượng cao và chi phí vẫn là những thách thức lớn đối với ngành sản xuất thức ăn hỗn hợp. Khi nhu cầu tăng nhanh hơn
nguồn cung, Ấn Độ sẽ cần đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu từ đầu những năm 2030. Sản xuất trong nước đối với các nguồn năng lượng như ngô và nguồn protein như khô đậu tương thường không đáp ứng đủ nhu cầu của ngành chăn nuôi. Nhập khẩu từ các nhà cung cấp uy tín có thể giúp khắc phục tình trạng này, bảo đảm nguồn protein chất lượng ổn định trong những giai đoạn nguồn cung nội địa khan hiếm. Nếu được sử dụng hợp lý, đậu tương nhập khẩu có thể góp phần ổn định chi phí thức ăn, duy trì chất lượng công thức phối trộn và giúp các nhà sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn của các doanh nghiệp tích hợp và cơ sở chế biến quy mô lớn.
Dân số tăng kéo nhu cầu thịt gia cầm đi lên
Ấn Độ hiện có khoảng 1,4 tỷ dân và dự kiến đạt 1,53 tỷ người vào năm 2047. Quá trình đô thị hóa cùng thu nhập gia tăng sẽ tiếp tục thúc đẩy nhu cầu thịt gia cầm và trứng. Tiêu thụ thịt gia cầm bình quân đầu người được dự báo đạt 15 kg vào năm 2047, trong khi tiêu thụ trứng có thể lên tới 200 quả/người/năm. Để đáp ứng nhu cầu này, đến cuối những năm 2040, Ấn Độ sẽ cần khoảng 38 triệu tấn thức ăn cho gà thịt và 34 triệu tấn thức ăn cho gà đẻ. Trong khi nguồn cung nguyên liệu trong nước khó theo kịp tốc độ tăng trưởng, thỏa thuận thương mại tạm thời với Mỹ mở ra cơ hội tăng nhập khẩu nguyên liệu thức ăn, qua đó hỗ trợ ngành gia cầm Ấn Độ tăng trưởng ổn định và bền vững trong dài hạn.
MI LAN
Theo Agribiz
40
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
41
42
THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
MALAYSIA
Giá trứng tăng do nắng nóng, thức ăn kém chất lượng Giá trứng tại Malaysia tăng mạnh khi sản lượng giảm và chi phí chăn nuôi tăng. Giá trứng loại A hiện khoảng 3,72 USD/khay 30 quả bán buôn và 3,95 USD bán lẻ. Bộ trưởng Nông nghiệp và An ninh Lương thực Mohamad Sabu cho biết, Chính phủ đang phối hợp với Bộ Thương mại Nội địa và Chi phí sinh hoạt để xác định nguyên nhân tăng giá, đồng thời theo dõi nguồn cung, nhằm bảo vệ người tiêu dùng nhưng không ảnh hưởng đến tính bền vững của ngành. Chủ tịch Hiệp hội Thương nhân Trứng Kuala Lumpur và Selangor, Low Hin Ching cho biết, chất lượng thức ăn kém và thời tiết nắng nóng làm giảm năng suất đẻ trứng. Stress nhiệt khiến gà giảm ăn, trong khi thức ăn không ổn định tiếp tục ảnh hưởng đến đàn. Chính phủ chưa công bố mức giảm sản lượng và thời gian giá cao có thể kéo dài.
INDONESIA
Yêu cầu làm rõ nguyên nhân giá gà tăng cao Hiệp hội Nông dân Độc lập Indonesia (Permindo) đề nghị Chính phủ không quy trách nhiệm cho người chăn nuôi về giá gà bán lẻ cao, cho rằng chênh lệch giá có thể phát sinh ở các khâu sau trang trại. Giá gà thịt bán lẻ hiện lên tới 2,15 - 2,26 USD/kg, trong khi giá gà sống tại trang trại khoảng 1,41 USD/kg, mức được Permindo đánh giá là hợp lý để duy trì sản xuất. Trong khi đó, chi phí con giống ở mức 0,45 - 0,48 USD/con, thức ăn 0,53 - 0,56 USD/ kg và tổng chi phí sản xuất 1,33 - 1,36 USD/kg. Chủ tịch Permindo Kusnan cho rằng, Chính phủ cần công khai cơ cấu giá từ trang trại đến người tiêu dùng, gồm chi phí giết mổ, vận chuyển, bảo quản lạnh và biên lợi nhuận của thương lái, nhà phân phối, môi giới. Ông đề nghị tiến hành kiểm toán chuỗi cung ứng dựa trên dữ liệu để xác định khâu làm giá tăng mạnh nhất, thay vì áp dụng chính sách giảm giá tại trang trại dựa trên giả định.
PHILIPPINES
Giá trứng có thể tăng do dịch bệnh Giá trứng tại Philippines được dự báo tăng do dịch bệnh gia cầm làm giảm sản lượng trong khi nhu cầu phục hồi, theo Hiệp hội trứng Philippines (PEBA). Chủ tịch PEBA Francis Uyehara cho biết, các đợt bùng phát viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm gan thể vùi và cúm gia cầm độc lực thấp đang làm thiếu hụt sản lượng, tạo ra tình trạng “khan hiếm nhân tạo” và đẩy giá tăng. Giá trứng cỡ vừa tại trại đã tăng lên 0,11 USD/quả, từ khoảng 0,04 USD vào mùa khô. Giá bán lẻ hiện ở mức 0,13 - 0,15 USD và có thể vượt 0,15 USD nếu giá tại trại tiếp tục tăng, đặc biệt vào mùa lễ hội khi nhu cầu cao. PEBA cũng cảnh báo việc cấp phép vaccine chậm và kêu gọi người nuôi báo cáo dịch bệnh để kiểm soát hiệu quả.
THÁI LAN
Xuất khẩu gà chế biến tăng tháng thứ 8 liên tiếp Xuất khẩu gà chế biến của Thái Lan tăng tháng thứ 8 liên tiếp trong tháng 7, đạt 291,2 triệu USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Nhật Bản, Anh và Hà Lan là những thị trường tăng trưởng chính, theo Bộ Thương mại Thái Lan. Trong 7 tháng đầu năm, xuất
THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
khẩu gà chế biến đạt 1,91 tỷ USD, tăng 6,41%. Tuy nhiên, tổng xuất khẩu thịt gà và sản phẩm từ gà giảm 2,26%, xuống 2,6 tỷ USD. Về sản lượng, Thái Lan xuất khẩu khoảng 665.690 tấn trong giai đoạn này. Nhật Bản là thị trường lớn nhất với 298.574 tấn, tiếp đến là Anh (117.512 tấn), Malaysia (61.678 tấn), Hà Lan (34.520 tấn), Hàn Quốc (29.133 tấn) và Trung Quốc (27.628 tấn).
EU
Giá gà thịt tiếp tục hạ nhiệt Giá gà thịt bình quân tại EU trong tuần 33 đạt 289 EUR/100 kg thịt xẻ, tương đương 2,89 EUR/kg, giảm 4,9% so với một tháng trước và 3,8% so với cùng kỳ năm 2025, dù tăng 2,6% so với tuần trước. Theo Ủy ban châu Âu, sản lượng thịt gia cầm EU trong 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,4% so với cùng kỳ, với Hungary, Romania và Ba Lan ghi nhận mức tăng mạnh. Ba Lan tiếp tục là nhà sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng 21% sản lượng năm 2025. Xuất khẩu gia cầm 4 tháng đầu năm tăng 2,1%, lên 695.407 tấn, trong khi nhập khẩu tăng 7%, đạt 362.326 tấn. Nhập khẩu từ Brazil tăng 31,7%. Giá trứng cũng giảm, với giá trứng loại A bình quân còn 233,62 euro/100 kg, thấp hơn 8,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nhập khẩu trứng tăng mạnh, đặc biệt từ Thổ Nhĩ Kỳ, tăng hơn 2.000%.
ANH
Giá thịt và gia cầm ổn định trong tháng 8 Thị trường thịt và gia cầm tại Anh gần như không biến động trong tháng 8/2026 do thời tiết nóng và kỳ nghỉ hè ảnh hưởng đến sức mua. Theo báo cáo giá bán lẻ của AIMS, giá bình quân 30 sản phẩm thịt bò, cừu, heo và gà tươi của Anh chỉ tăng 0,08%, tương đương 0,01 bảng/kg. Giá thịt bò nạc xay và loại thường lần lượt giảm 1,51% và 0,61%. Giá thịt cừu tăng 0,79%, trong đó giá chân cừu tăng 7,92%, nhưng giá steak và sườn giảm. Thịt heo giảm 1,56%, trong khi giá thịt gà gần như không đổi. So với tháng 8/2025, giá thịt nói chung không thay đổi. Riêng thịt cừu tăng 6,9%, còn thịt bò, heo và gà lần lượt giảm 2,75%, 4,66% và 5,78%. Giá ức gà và fillet đùi giảm mạnh 10,2% và 13,94%, cho thấy thịt gà đang ngày càng được người tiêu dùng lựa chọn thay thế các loại protein khác. AIMS cho biết, giá gà, heo và một số sản phẩm thịt bò giảm phản ánh xu hướng hạ nhiệt sau giai đoạn giá cao, trong khi ngành heo vẫn đối mặt với sức ép đáng kể.
TUẤN MINH Tổng hợp
43
44
THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
THỊ TRƯỜNG GIỐNG GIA CẦM
Sức ép dư cung và bài toán liên kết chuỗi Ngành chăn nuôi gia cầm đang đối mặt với “sức ép kép” khi nguồn cung tiếp tục tăng mạnh gây dư cung cục bộ, trong khi giá thức ăn và thuốc thú y neo cao còn giá bán đầu ra lại bấp bênh. Để trụ vững, theo các chuyên gia, xu hướng tất yếu của thị trường sắp tới là phải hợp tác tạo thành chuỗi liên kết chặt chẽ “ba chân kiềng”: Giống - Thức ăn - Thuốc thú y, nhằm san sẻ chi phí, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh. I. Sản lượng và thị trường giống gia cầm 7 tháng đầu năm 2026
1. Sản lượng đầu con - Gà giống lông màu: Ước tính khoảng 264 - 279 triệu con. Phân khúc này chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 60 - 65% thị phần giống gà nội địa). Mặc dù, giá thịt thương phẩm biến động, các doanh nghiệp lớn và nông hộ vẫn duy trì sản xuất dòng gà ri, gà mía, gà lai chọi phục vụ các tháng cuối năm. - Gà giống lông trắng: Ước tính khoảng 144 - 154 triệu con. Đây chủ yếu là các dòng gà công nghiệp hướng thịt (Cobb, Ross) do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nắm giữ thị phần chính. Nguồn cung giống 1 ngày tuổi tăng mạnh trong quý I (tăng từ 12 - 20% so với cùng kỳ năm trước) gây ra tình trạng dội chợ và giảm giá sâu vào quý II, khiến các trại giống phải giãn tiến độ ấp nở nhẹ vào tháng 6 và tháng 7. - Gà đẻ trứng thương phẩm: Ước tính khoảng 36,5 - 40,2 triệu con, phân bố tập trung mạnh nhất tại miền Bắc và miền Nam nhờ hệ thống các trang trại quy mô công nghiệp lớn. - Vịt giống (Vịt siêu thịt và hướng trứng): Ước tính khoảng 88 - 97 triệu con. Trong giai đoạn quý II, xu hướng người chăn nuôi dịch chuyển mạnh từ nuôi gà sang nuôi vịt thịt khiến lượng sản xuất vịt giống 1 ngày tuổi tăng dồi dào đột biến. Bảng 1: Ứớc tính sản lượng con giống sản xuất 7 tháng đầu năm 2026 Đơn vị tính: Triệu con 1NT Tháng (2026)
Gà Gà Gà giống giống giống Vịt lông lông đẻ giống màu trắng trứng
Tổng sản lượng con giống GC
Tháng 1
42 44,5
83,3 89,4
22 23,5
5,8 6,4
13,5 15
Tháng 2
28 30,5
16,5 18
4,2 4,6
10 11,5
58,7 64,6
Tháng 3
44 46
24 25,5
6,2 6,8
14 15,5
88,2 93,8
Tháng 4
45,5 48
25 26,5
6,5 7,2
15 16,5
92 98,2
Tháng 5
39 41,5
21,5 5 - 5,5 23
13 14
78,5 84
Tháng 6
32 34
17 18,5
4,3 4,8
11,5 12,5
64,8 69,8
Tháng 7
33,5 35
18 19
4,5 4,9
11 12
67 70,9
Tổng lũy kế
264 279
144 154
36,5 40,2
88 97
532,5 570,2
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kiểm dịch; tính toán của VPA
Phân tích diễn biến theo quý 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy: Quý I: Bùng nổ cơ học và chạy đua tái đàn đầu năm. Đây là giai đoạn sản lượng giữ nhịp tăng trưởng nóng. Ngoại trừ tháng 2 sụt giảm ngắn hạn do kỳ nghỉ Tết, lượng giống xuất chuồng của tháng 1 và tháng 3 đều chạm mốc cực đại. Nguyên nhân giá heo hơi neo ở mức cao kỷ lục kích thích các nông hộ và trang trại dịch chuyển dòng vốn sang nuôi gia cầm ngắn ngày để quay vòng vốn nhanh. Khối doanh nghiệp liên kết 3F vận hành tối đa công suất ấp nở nhằm cung ứng cho làn sóng thả nuôi phục vụ thị trường tiêu thụ mùa hè và mùa lễ hội đầu năm. Quý II: Đỉnh điểm sản lượng và khủng hoảng dội chợ. Quý này ghi nhận tổng sản lượng con giống đạt đỉnh cao nhất năm (ước đạt 234,8 - 251 triệu con). Tuy nhiên, đây lại là giai đoạn suy thoái nặng nề nhất về giá trị. Do lượng con giống đổ ra thị trường quá lớn từ quý I và đầu quý II đã tạo nên một cuộc khủng hoảng dư cung thịt và trứng thương phẩm khốc liệt vào tháng 5 và tháng 6. Giá gà lông trắng chạm đáy dưới giá thành sâu (22.000 - 24.000 đồng/kg), giá trứng sập
nguồn về mức 1.200 - 1.400 đồng/quả. Áp lực dội chợ nặng nề buộc các doanh nghiệp phải can thiệp cắt giảm cơ học, hủy bớt lịch ấp trứng vào cuối quý (tháng 6). Quý III: Chủ động thắt chặt nguồn cung - thiết lập đáy sản lượng. Sản lượng toàn quốc đột ngột kéo giảm mạnh, giảm khoảng 20 - 24% so với quý II, đưa tổng lượng DOC xuống mức thấp nhất trong năm (178 - 191,5 triệu con). Sự sụt giảm này không mang tính mùa vụ mà là động thái điều tiết bắt buộc. Khối FDI và các công ty giống nội địa lớn đồng loạt giảm 15% - 20% lượng trứng đưa vào máy ấp, xả bớt trứng giống làm trứng lộn nhằm giảm tải áp lực cung thừa. Thêm vào đó, làn sóng tăng giá cám liên tiếp (đặc biệt là đợt tăng giá đầu tháng 8/2026) khiến tâm lý người nuôi e dè, kéo lùi tốc độ tấp đàn. 2. Thị trường giống gia cầm tháng 7 đầu năm 2026 Phân tích xu hướng thị trường giống 7 tháng đầu năm cho thấy: - Giai đoạn quý I: Nhu cầu vào đàn nuôi thương phẩm sau Tết tăng cao đột biến. Giá con giống tất cả các loại đều chạm mốc đỉnh điểm của chu kỳ. Giống vịt siêu thịt giữ giá khá tốt. - Giai đoạn quý II: Thị trường ghi nhận giá gia cầm thịt thương phẩm giảm sâu toàn quốc. Người chăn nuôi có xu hướng giãn tiến độ hoặc ngừng vào đàn mới, khiến giá con giống 1 ngày tuổi lao dốc, chạm đáy vào khoảng tháng 5 - 6. - Giai đoạn đầu tháng 8 đến tháng 9: Giá gà lông trắng thịt bắt đầu có tín hiệu phục hồi nhẹ do khan hiếm nguồn cung. Các công ty lớn điều chỉnh tăng nhẹ giá giống gà hướng thịt để chuẩn bị cho lứa cuối năm. Thị trường vịt giống chững lại và giữ mức ổn định. Giá bán con giống gia cầm 1 ngày tuổi
45
THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
(DOC) từ tháng 1 - 7/2026 biến động mạnh theo xu hướng cung - cầu, với mức giá trung bình của gà lông màu từ 11.000 - 15.000 đồng/con, gà lông trắng đạt 10.000 - 13.000 đồng/con, và vịt thịt giống đạt 12.000 18.000 đồng/con.
II. Dự báo sản xuất và thị trường giống 5 tháng cuối năm 2026
1. Dự báo 3 xu hướng tiêu thụ thịt thương phẩm cuối năm - Nhu cầu tiêu thụ tăng vọt từ 20 - 25%: Giai đoạn cuối năm trùng với mùa cưới hỏi, lễ hội, tổng kết doanh nghiệp và đặc biệt là dịp Tết. Nhu cầu thịt gia cầm chế biến sẵn, gà cúng tế và vịt quay sẽ đạt đỉnh điểm. - Sự lên ngôi của thịt gà lông màu nội địa: Khác với phân khúc công nghiệp, người tiêu dùng Việt Nam có xu hướng chọn mua gà thả vườn, gà lông màu có chất lượng thịt dai, ngon cho các dịp lễ Tết. Do đó, phân khúc này sẽ có sức mua đột biến. - Áp lực cạnh tranh gay gắt từ thịt heo và thịt nhập khẩu: Giá heo hơi dự báo phục hồi sẽ kéo một phần nhu cầu tiêu dùng quay lại với thịt đỏ. Đồng thời, các chuỗi thức ăn nhanh vẫn ưu tiên sử dụng thịt gà lông trắng nhập khẩu giá rẻ, gây áp lực lên gà công nghiệp trong nước. 2. Tác động cụ thể đến kế hoạch sản xuất giống Dựa trên quy luật tiêu thụ, kế hoạch sản xuất giống 5 tháng cuối năm 2026 (tháng 8 - 12) sẽ biến động rõ rệt theo từng mốc thời gian để kịp chu kỳ xuất chuồng. * Mốc 1: Tháng 8 - Tháng 9 (Vào đàn chuẩn bị cho mùa cưới và Noel) - Tác động đến sản xuất giống: Chu kỳ nuôi gà lông màu thả vườn kéo dài từ 3,5 - 4 tháng. Việc vào đàn giống trong tháng 8 và 9 là thời điểm vàng để kịp xuất chuồng vào dịp Noel và Tết Dương lịch. - Biến động sản lượng: Sản lượng giống tổng thể tăng nhẹ từ 64 - 72 triệu con (tháng 8) lên 70 - 77 triệu con (tháng 9). Người nuôi bắt đầu tăng tốc độ vào đàn sau khi kết thúc tháng 7 Âm lịch. *Mốc 2: Tháng 10 - 11 (Đỉnh điểm “chạy đua” đón Tết Nguyên Đán) - Tác động đến sản xuất giống: Đây là giai đoạn bùng nổ lớn nhất năm của thị trường con giống. Tất cả các hộ chăn nuôi và trang trại lớn đều tập trung thả giống gà lông màu và gà lông trắng chu kỳ ngắn để kịp bán vào
Nguồn: Green Vet
dịp Tết Nguyên Đán (cuối tháng 1 đầu tháng 2 /2027). - Biến động sản lượng: Sản lượng giống gia cầm toàn ngành vọt lên mức cao nhất năm, đạt 79 - 80 triệu con (Tháng 10 - 11). Giá con giống trong giai đoạn này dự báo sẽ bị đẩy lên cao do tình trạng khan hiếm nguồn cung cục bộ tại các lò ấp. - Đối với vịt thịt: Do chu kỳ nuôi ngắn (chỉ từ 45 - 50 ngày), lượng vịt giống vào đàn sẽ duy trì ở mức cao ổn định (13 - 15 triệu con/ tháng) xuyên suốt đến tận giữa tháng 11. * Mốc 3: Tháng 12 (Ngắt tiến độ, giảm đàn rõ rệt) - Tác động đến sản xuất giống: Bước sang tháng 12, nếu tiếp tục vào đàn gà thịt thì thời điểm xuất chuồng sẽ rơi vào tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau (giai đoạn thấp điểm tiêu thụ sau Tết, giá hạ). - Biến động sản lượng: Toàn ngành chủ động phanh gấp, sản lượng giống sụt giảm mạnh xuống mức thấp nhất trong chu kỳ cuối năm, chỉ còn 60 - 67 triệu con (giảm gần 20 - 25% so với tháng 10 - 11). Bảng 2: Số liệu dự báo sản lượng con giống 5 tháng cuối năm 2026 Đơn vị tính: Triệu con (DOC 1 ngày tuổi) Tháng (2026)
Gà giống lông màu
Gà giống lông trắng
Gà giống đẻ trứng
Vịt giống thịt
Tổng sản lượng theo tháng
Tháng 8
32 35
18 20
2,7 3,1
12 14
64,7 72,1
Tháng 9
35 38
19 21
3,0 3,3
13 15
70 77,3
Tháng 10
40 45
21 23
3,4 3,8
15 17
79,4 88,8
Tháng 11
38 42
20 22
3,2 3,6
14 16
75,2 83,6
Tháng 12
30 33
17- 19
2,5 2,8
11 13
60,5 67,8
Tổng 5 tháng
175 193
95 105
14,8 16,6
65 75
349,8 389,6
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kiểm dịch; tính toán của VPA
Bảng 3: Tổng hợp sản lượng giống gia cầm ước tính cả năm 2026 Đơn vị tính: Triệu con (1 ngày tuổi) Loại con giống
Lũy kế 7 tháng đầu năm
Dự báo 5 tháng cuối năm
Tổng sản lượng cả năm 2026
Gà giống lông màu
264 - 279
175 - 193
439 - 472
Gà giống lông trắng
144 - 154
95 - 105
239 - 259
Gà giống đẻ trứng
36,5 - 40,2
14,8 - 16,6
51,3 - 56,8
Vịt giống (Thịt)
88 - 97
65 - 75
153 - 172
TỔNG
532,5 570,2
349,8 389,6
882,3 959,8
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kiểm dịch; tính toán của VPA Năm 2026 là một năm bản lề sàng lọc khốc liệt của thị trường con giống gia cầm Việt Nam. Thị trường dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại công nghiệp chuỗi khép kín. Việc sản lượng tăng quá nhanh trong năm 2026 chính là lý do vì sao ngành chăn nuôi phải xây dựng một kế hoạch thận trọng, siết chặt nguồn cung hoặc đặt mục tiêu tăng trưởng vừa phải (3 - 3,5%) cho năm 2027 để tái thiết lập thế cân bằng kinh tế.
HIỆP HỘI GIA CẦM VIỆT NAM (VPA)
46
KHOA HỌC KỸ THUẬT THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
TIÊM PHÒNG CHÍNH XÁC
Bước tiến mới trong lĩnh vực sức khỏe gia cầm Khi các nhà sản xuất tìm kiếm những giải pháp thay thế, nhằm cải thiện sức khỏe đàn gia cầm, hiệu suất chăn nuôi và hiệu quả vận hành, thì quy trình đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi một cách hiệu quả đã trở thành một yếu tố ngày càng quan trọng trong ngành chăn nuôi gia cầm hiện đại. Tầm quan trọng của khả năng miễn dịch sớm
Những ngày đầu đời là nền tảng cho sức khỏe và hiệu suất của gà trong suốt vòng đời. Việc tiêm phòng hiệu quả trong giai đoạn này giúp kích thích hệ miễn dịch trước khi gà tiếp xúc với các mầm bệnh, từ đó giảm nguy cơ bùng phát dịch bệnh, đồng thời hỗ trợ quá trình tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu suất tổng thể của đàn. Tiêm phòng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý sử dụng kháng sinh một cách có trách nhiệm. Bằng cách giúp ngăn ngừa bệnh tật và tăng cường sức khỏe đàn gia cầm, việc tiêm phòng hiệu quả có thể làm giảm nhu cầu điều trị bằng kháng sinh, hỗ trợ nỗ lực của ngành công nghiệp trong việc chống lại tình trạng kháng kháng sinh (AMR). Mặc dù, tiêm phòng không trực tiếp ngăn ngừa nhiễm trùng Campylobacter, những phát hiện này củng cố một điểm rộng hơn: khi hệ thống chăn nuôi gia cầm trở nên lớn hơn và thâm canh hơn, các biện pháp can thiệp về sức khỏe đàn gia cầm cần phải nhất quán hơn, có thể mở rộng quy mô và mang tính phòng ngừa. Phòng ngừa bệnh tật hiệu quả hơn có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh điều trị, hỗ trợ cả sức khỏe vật
nuôi và các mục tiêu quản lý sử dụng kháng sinh rộng hơn.
những cơ hội để ngành chăn nuôi tiếp tục cải thiện.
Cân bằng giữa tốc độ và sự đồng bộ
Hướng tới tiêm phòng chính xác
Các trại ấp hiện đại xử lý số lượng gà con khổng lồ mỗi ngày, do đó hiệu suất là yếu tố then chốt. Các phương pháp tiêm phòng đã phát triển để đáp ứng nhu cầu này; tùy thuộc vào nguy cơ dịch bệnh và loại vaccine, các nhà sản xuất áp dụng kết hợp nhiều hình thức khác nhau, bao gồm tiêm trong trứng, phun sương, pha vào nước uống và tiêm thủ công, với mỗi phương pháp đều mang lại những ưu điểm riêng biệt. Một thách thức khác đối với phương pháp cho uống vaccine là nhu cầu về nhân lực có chuyên môn để thực hiện quy trình hiệu quả, trong khi thị trường lao động vẫn đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân sự và chi phí ngày càng tăng. Việc tiêm vaccine thủ công cho phép đưa thuốc đến đúng mục tiêu, nhưng lại đòi hỏi nhân lực lành nghề và trở nên ngày càng khó khăn khi quy mô đàn gia cầm gia tăng. Đối với các nhà sản xuất, mục tiêu rất rõ ràng: mỗi cá thể gia cầm cần được nhận đúng liều lượng vaccine vào đúng thời điểm. Việc duy trì sự nhất quán trong quy trình này trên quy mô đàn lớn vẫn là một trong
Một trong những bước tiến quan trọng nhất trong lĩnh vực sức khỏe gia cầm là khái niệm tiêm phòng chính xác cho từng cá thể. Thay vì chỉ coi gia cầm là một phần của cả đàn, các phương pháp tiếp cận chính xác tập trung vào việc đưa đúng liều lượng vaccine đến từng con gà con, đồng thời vẫn duy trì được tốc độ xử lý công nghiệp. Các công nghệ hình ảnh tốc độ cao hiện đang được phát triển nhằm đánh giá từng cá thể gà và xác định vị trí thích hợp để tiêm vaccine; đi kèm với đó là các hệ thống tự động có khả năng thực hiện việc tiêm phòng với độ ổn định cao hơn. Trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy đang được ứng dụng để hỗ trợ các hệ thống này, thông qua việc sử dụng các bộ dữ liệu được xây dựng và kiểm chứng bởi các chuyên gia khoa học và sinh học nhằm nâng cao độ chính xác cũng như độ tin cậy của các quy trình tự động. Sự kết hợp giữa công nghệ hình ảnh, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) mang lại nhiều lợi thế tiềm năng. Trong một nghiên cứu gần đây so sánh hệ thống tiêm vaccine tự động công suất
KHOA HỌC KỸ THUẬT
47
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
cao cho từng cá thể với phương pháp phun vaccine truyền thống trên gà thịt mới nở, những con gà được tiêm riêng lẻ cho thấy hiệu quả tiếp nhận vaccine cao hơn đối với cả vaccine phòng bệnh cầu trùng và viêm phế quản. Nghiên cứu cũng ghi nhận chu kỳ phát triển sớm hơn của ký sinh trùng Eimeria, chỉ số chuyển đổi thức ăn (FCR) được điều chỉnh cải thiện 3 điểm, và trọng lượng cuối cùng trung bình cao hơn 0,11 pound ở nhóm gà được tiêm riêng lẻ. Những kết quả này cho thấy, việc cải thiện tính đồng nhất trong quá trình cấp vaccine cho từng cá thể gà có thể tạo ra sự khác biệt rõ rệt về khả năng đáp ứng vaccine cũng như hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi thương phẩm. Các hệ thống tự động cũng giúp giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công, đồng thời nâng cao tính ổn định và đồng nhất giữa các đợt tiêm chủng. Việc phân liều chính xác còn giúp giảm thiểu lãng phí vaccine và tối ưu hóa việc sử dụng chế phẩm, qua đó hỗ trợ các mục tiêu về cả hiệu quả kinh tế lẫn tính bền vững. Khi các cơ sở ấp nở gia tăng công suất, những công nghệ này sẽ cho phép nhà sản xuất duy trì tốc độ xử lý cao mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng tiêm chủng.
Hướng tới tương lai
Không có phương pháp tiêm phòng duy nhất nào phù hợp cho mọi loại bệnh, hệ thống chăn nuôi hay công thức vaccine. Các kỹ thuật truyền thống sẽ tiếp tục đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ sức khỏe gia cầm trên toàn thế giới. Tuy nhiên, khi AI, thị giác máy tính và tự động hóa ngày càng hoàn thiện, ngành chăn nuôi có cơ hội cải thiện một trong những khía cạnh quan trọng nhất của quy trình tiêm phòng: tính đồng bộ. Các hệ thống tiêm phòng trong tương lai nhiều khả năng sẽ kết hợp hiệu quả đã được kiểm chứng của các loại vaccine hiện nay với những công nghệ phân phối ngày càng chính xác, giúp đảm bảo mỗi con gà con đều nhận được sự bảo vệ như mong muốn. Đối với các nhà sản xuất, điều này có thể mang lại những đàn gà đồng đều hơn, sức khỏe tốt hơn, hiệu quả vận hành cao hơn và khả năng thích ứng tốt hơn trong một môi trường sản xuất ngày càng đòi hỏi khắt khe.
TĂNG SANG Theo Targan
Ánh sáng trong quá trình ấp trứng tác động đến hành vi của gà con Nghiên cứu của Viện Roslin cho thấy, trứng được ấp trong điều kiện có ánh sáng có thể tạo ra gà con tương tác nhiều hơn với môi trường sau khi nở, mở ra hướng nghiên cứu mới về cải thiện phúc lợi và sức khỏe gia cầm từ giai đoạn ấp trứng. Giáo sư Simone Meddle, Viện Roslin, cho biết: “Nghiên cứu cho thấy việc tiếp xúc với ánh sáng trong quá trình ấp có thể định hình hành vi của gà con ở giai đoạn đầu đời. Các nghiên cứu tiếp theo với quy mô lớn hơn có thể đánh giá tính khả thi của việc sử dụng ánh sáng trong quá trình ấp cũng như bố trí các yếu tố làm phong phú môi trường có nơi trú ẩn cho gà con trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp”.
Điều kiện ấp trứng
Các nhà khoa học tại Viện Roslin tiến hành nghiên cứu trên các nhóm trứng được ấp trong những điều kiện khác nhau. Một số trứng được ấp trong bóng tối, trong khi các nhóm khác được tiếp xúc với ánh sáng. Sau khi nở, một số gà con được bố trí một nơi trú ẩn nhỏ, tối trong khu vực nuôi, trong khi các nhóm còn lại không có nơi trú ẩn. Các nhà nghiên cứu sau đó theo dõi hành vi của gà con trong những ngày và tuần tiếp theo. Kết quả cho thấy tất cả gà con đều sử dụng khu vực có mái che để nghỉ ngơi bên trong, dựa vào hoặc đậu trên đó. Tuy nhiên, những gà con được tiếp xúc với ánh sáng khi còn trong trứng tương tác với nơi trú ẩn thường xuyên hơn so với những con được ấp trong bóng tối. Theo nhóm nghiên cứu, những không gian kín, tối và ấm có thể mô phỏng sự chăm sóc của gà mẹ trong những ngày, tuần đầu đời, qua đó giúp giảm căng thẳng và các hành vi không mong muốn như mổ gây tổn thương.
Ảnh hưởng của ánh sáng
Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp, trứng thường được ấp ở điều kiện tối. Ngược lại, khi được gà mẹ ấp tự nhiên, trứng sẽ tiếp xúc với ánh sáng ban ngày khi gà rời khỏi ổ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc cho trứng tiếp xúc với ánh sáng trong quá trình ấp có thể mang lại một số lợi ích cho gà con sau khi nở. Các nghiên cứu trước đây cũng ghi nhận ánh sáng trong giai đoạn ấp giúp cải thiện tỷ lệ nở, hỗ trợ tăng trưởng, giảm căng thẳng và tác động đến quá trình phát triển não bộ. Nghiên cứu này tiếp tục củng cố cơ sở khoa học về hiệu quả của các biện pháp đơn giản như bố trí nơi trú ẩn trong cải thiện phúc lợi gà con, nhờ tạo không gian để nghỉ ngơi, đậu và tách khỏi các con khác khi cần.
Tác động đến tăng trưởng
Đến 4 tuần tuổi, gà mái được ấp trong điều kiện có ánh sáng có khối lượng cơ thể cao hơn so với gà mái được ấp trong bóng tối. Kết quả này có thể có ý nghĩa đối với năng suất trong các hệ thống sản xuất trứng. Việc tiếp xúc với ánh sáng không ảnh hưởng đến thời điểm nở của từng gà con. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng nếu duy trì chu kỳ sáng - tối đều đặn trong quá trình ấp có thể giúp đồng bộ thời điểm nở của cả ổ trứng. Nguyên nhân là trong não gia cầm có các thụ thể nhạy cảm với ánh sáng, tham gia điều hòa nhịp sinh học hằng ngày và có khả năng đáp ứng với tín hiệu ánh sáng ngay cả trước khi gà con nở. Louisa Kosin, Viện Roslin, cho biết: “Hiểu được tác động của ánh sáng trong quá trình ấp đối với hành vi của gà con ở giai đoạn đầu đời mở ra cơ hội tác động đến sự phát triển não bộ, hành vi và phúc lợi của chúng, qua đó có thể mang lại lợi ích cho sức khỏe và năng suất. Quá trình nở chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có tín hiệu ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh và hoạt động của những gà con đang nở ở gần”.
NGUYỄN AN
Theo Thepoultrysite
48
THỨC ĂN DINH DƯỠNG
6
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
xu hướng phụ gia mới cho sức khỏe đường ruột gia cầm
Tại Diễn đàn Dinh dưỡng gia cầm tiên tiến 2026, Giáo sư Julian Wiseman, Đại học Nottingham, đã xác định sáu nhóm phụ gia thức ăn có khả năng định hình các chương trình dinh dưỡng gia cầm không sử dụng hoặc giảm sử dụng kháng sinh trong 5 năm tới.
1
Enzyme thay thế chất hấp phụ mycotoxin
Xu hướng chuyển sang giải độc bằng enzyme đang mở ra một hướng tiếp cận hoàn toàn khác. Thay vì chỉ giữ độc tố lại, enzyme có thể tác động trực tiếp và phá hủy không hồi phục cấu trúc phân tử gây độc. Khi cấu trúc này bị phá vỡ, độc tính cũng được loại bỏ. Wiseman đưa ra một số ví dụ: Laccase ôxy hóa và phá hủy vòng lactone của aflatoxin B1; Lactonase có nguồn gốc từ các loài Clonostachys và Bacillus, thủy phân vòng lactone của zearalenone (ZEN); Dehydrogenase từ các vi khuẩn Gram âm Devosia và Rhizobium ôxy hóa cấu trúc epoxide của deoxynivalenol (DON); Carboxypeptidase từ Lysobacterium và Bacillus cắt liên kết amide của ochratoxin (OTA).
humic hấp phụ mycotoxin và bảo vệ đường ruột 2Axit
Axit humic chiết xuất từ than nâu, than bùn hoặc phân compost là hợp chất phức tạp có khối lượng phân tử lớn, chứa các vòng thơm, nhóm phenol, nhóm carboxyl và quinone. Nhờ đó axit humic có khả năng tạo phức, liên kết với mycotoxin và kim loại nặng tương tự đất sét và các sản phẩm từ thành tế bào nấm men; đồng thời mang hoạt tính chống ôxy hóa, giúp bảo vệ trực tiếp mô đường ruột và gan. Theo Wiseman, giá trị của axit humic không chỉ nằm ở khả năng hấp phụ độc tố mycotoxin mà còn giúp bảo vệ đường ruột và gan nhờ các đặc tính hóa học tự nhiên. Tuy nhiên, khả năng hấp phụ của axit humic khi sử dụng đơn lẻ vẫn có những giới hạn. Vì vậy, axit humic phù hợp hơn khi được sử dụng kết hợp với các giải pháp giảm thiểu mycotoxin khác, thay vì thay thế hoàn toàn các giải pháp này.
3
Alpha-monolaurin dẫn đầu các công thức MCFA
Cấu trúc hóa học quyết định hiệu quả của từng loại axit béo chuỗi trung bình (MCFA). Trong nhóm này, axit lauric (C12) nổi bật nhất, có hoạt tính kháng khuẩn và kháng virus cao hơn axit caproic (C6), caprylic (C8) và capric (C10). Đối với axit lauric, cấu hình alpha của monolaurin là yếu tố quyết định hiệu quả. Alpha-monolaurin (AML) tác động lên màng tế bào vi khuẩn, làm giảm pH nội bào, cản trở quá trình tổng hợp DNA và protein, làm mất ổn định virus có vỏ, đồng thời điều hòa đáp ứng miễn dịch. “AML không chỉ hoạt động tại đường ruột mà còn tác động toàn thân, ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn máu và hệ bạch huyết của vật nuôi”, Wiseman cho
biết. Theo ông, thông qua quá trình tinh chế dầu cọ nhân bằng enzyme, có thể đạt nồng độ AML thương mại từ 60 - 68%. Quá trình nhũ hóa có thể làm tăng thêm hiệu lực của AML. Với AML dạng nhũ hóa, tỷ lệ ức chế vi khuẩn E. coli vượt 87% ở mức bổ sung 600 ppm, trong khi monolaurin glycerol thông thường chỉ đạt dưới 5% ở cùng mức bổ sung. Trong thời gian tới, hướng ưu tiên trong xây dựng công thức là kết hợp AML với các axit béo chuỗi ngắn (SCFA) để tạo phổ tác động rộng, kiểm soát cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Các hỗn hợp AML và SCFA hỗ trợ lẫn nhau, giúp củng cố hàng rào bảo vệ đường ruột, ức chế mầm bệnh và duy trì sức khỏe, sức sống của đàn gia cầm, qua đó trở thành một giải pháp thay thế đã được chứng minh cho chất kháng sinh kích thích tăng trưởng (AGP), theo Wiseman.
NSP và chất nhũ hóa nâng cao khả năng tiêu hóa 4Enzyme
Polysaccharide phi tinh bột (NSP) có cấu trúc rất đa dạng, vì vậy mỗi nhóm cần
THỨC ĂN DINH DƯỠNG
49
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
những hoạt tính enzyme khác nhau để phân giải. Theo Wiseman, xu hướng đang chuyển sang sử dụng hỗn hợp đa enzyme NSPase thay vì các sản phẩm chỉ có một hoạt tính enzyme. Một hướng phát triển đáng chú ý hơn là kết hợp enzyme với chất nhũ hóa thức ăn, gồm sodium stearoyl-2-lactylate (SSL), glycerol monostearate (GMS) và distilled monoglycerides (DMG). Chất nhũ hóa giúp phá vỡ cấu trúc liên kết chặt chẽ của các hạt tinh bột, cải thiện quá trình hồ hóa trong công đoạn xử lý hơi nước và ép viên, đồng thời hạn chế hiện tượng thoái hóa tinh bột sau ép viên. Nhờ đó, diện tích bề mặt cơ chất tiếp xúc với enzyme được mở rộng, tạo điều kiện để enzyme hoạt động hiệu quả hơn.
5
NIR kiểm soát chất ức chế trypsin hiệu quả hơn
Chất ức chế trypsin (TI) trong khô đậu vẫn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhưng chưa được kiểm soát đầy đủ khi xây dựng khẩu phần thức ăn cho gia cầm. TI làm giảm khả năng tiêu hóa protein, trong khi protein không được tiêu hóa đi xuống ruột sau tạo điều kiện cho Clostridium perfringens phát triển, từ đó làm gia tăng nguy cơ viêm ruột hoại tử. Trước đây, trở ngại lớn nhất nằm ở khâu phân tích. Các phương pháp hóa học xác định TI vừa tốn kém, mất thời gian vừa đòi hỏi nhân sự có chuyên môn, khiến việc kiểm tra thường xuyên tại hầu hết các nhà máy thức ăn trở nên khó khả thi. Trong tương lai, quang phổ cận hồng ngoại (NIR) có thể được sử dụng để kiểm tra nhanh hàm lượng TI đồng thời với hàm lượng protein, cho phép đánh giá chất lượng ngay tại dây chuyền với chi phí thấp và thời gian ngắn.
hướng đến các hoạt chất đặc hiệu 6Phytogenic
Theo Wiseman, nghiên cứu về phytogenic đang chuyển từ việc sử dụng các dịch chiết thực vật có tác dụng rộng sang xác định cụ thể những phân tử hoạt tính bên trong tinh dầu. Phytobioactives giải quyết các thách thức về bệnh mà không làm gia tăng nguy cơ kháng thuốc kháng sinh, đồng thời hỗ trợ sức khỏe đường ruột và khả năng sử dụng dưỡng chất.
DŨNG NGUYÊN TheoAllaboutfeed
HOẠT CHẤT SINH HỌC TỪ Ô LIU
Giúp gà thịt vượt qua stress nhiệt Đánh giá hoạt chất sinh học ô liu
Một nghiên cứu gần đây do Đại học Kasetsart (Thái Lan) phối hợp với Lucta thực hiện đã đánh giá tác động của các hoạt chất sinh học từ ô liu (OBs) trên gà thịt nuôi trong điều kiện stress nhiệt. Nghiên cứu không chỉ đánh giá năng suất tăng trưởng mà còn xem xét các chỉ số miễn dịch, tính toàn vẹn đường ruột, các chỉ tiêu phúc lợi vật nuôi và chất lượng thịt. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định liệu OBs có thể cải thiện năng suất và khả năng chống chịu của gà trong điều kiện stress nhiệt hay không, đồng thời đánh giá tác động này trong điều kiện có và không có salinomycin. Thí nghiệm được tiến hành trên 1.000 gà trống Ross 308, một ngày tuổi, được nuôi trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm môi trường cao trong suốt thời gian thí nghiệm. Gà được chia thành 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 10 lần lặp lại (25 con/lần lặp), theo thiết kế thí nghiệm nhân tố 2 × 2 với hai mức bổ sung OBs (0 hoặc 1.200 ppm) và hai mức salinomycin (SAL; 0 hoặc 66 ppm). Thức ăn và nước uống được cung cấp tự do trong 40 ngày. Chỉ số nhiệt - ẩm (THI) duy trì trên 80 trong phần lớn thời gian nghiên cứu, xác nhận gà được nuôi trong điều kiện stress nhiệt đáng kể.
Cải thiện năng suất
Một trong những phát hiện đáng chú ý nhất là tác động tích cực của OBs đối với năng suất tăng trưởng của gà thịt, không phụ thuộc vào sự hiện diện của salinomycin. Những con được bổ sung OBs có khối lượng cơ thể và mức tăng khối lượng cơ thể cao hơn so với nhóm đối chứng, trong khi lượng ăn vào không thay đổi. Điều này dẫn đến hệ số FCR thấp hơn trong toàn bộ giai đoạn thí nghiệm. Ngoài ra, tỷ lệ chết của gà được bổ sung OBs cũng thấp hơn đáng kể.
Hỗ trợ cân bằng miễn dịch
Stress nhiệt không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn làm rối loạn trạng thái cân bằng miễn dịch. Ở gia cầm, tỷ lệ heterophil/
lymphocyte (tỷ lệ H/L) được sử dụng rộng rãi như một chỉ báo về stress sinh lý. Tỷ lệ H/L cao thường phản ánh mức độ stress và tình trạng viêm gia tăng. Gà thịt được bổ sung OBs có tỷ lệ H/L thấp hơn so với nhóm không được bổ sung (2,28 so với 2,63; P < 0,01). Những kết quả này cho thấy OBs có thể giúp cải thiện cân bằng miễn dịch.
Cải thiện phúc phúc lợi và chất lượng thịt
Viêm da bàn chân là một trong những chỉ báo quan trọng về phúc lợi trong chăn nuôi gà thịt và thường liên quan đến chất lượng chất độn chuồng cũng như các rối loạn tiêu hóa. Trong nghiên cứu này, những con được bổ sung OBs có ít tổn thương bàn chân hơn. Một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của hoạt chất sinh học từ ô liu là tác động của chúng đến chất lượng thịt. Gà thịt được bổ sung OBs có tỷ lệ hao hụt dịch nhỏ giọt thấp hơn và mức độ ôxy hóa lipid trong thịt ức giảm. Xét trên phương diện thương mại, điều này đồng nghĩa với khả năng giữ nước của thịt được cải thiện, độ ổn định ôxy hóa tốt hơn và tiềm năng kéo dài thời hạn bảo quản. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự gia tăng hàm lượng axit béo không bão hòa đơn và axit béo không bão hòa đa ở những con được bổ sung chiết xuất bã ô liu. Điều này cho thấy lợi ích tiềm năng không chỉ đối với khả năng chống chịu của vật nuôi mà còn đối với giá trị dinh dưỡng của thịt gia cầm. Hoạt chất sinh học từ ô liu cho thấy tiềm năng lớn như một chiến lược dinh dưỡng tự nhiên giúp gà thịt thích nghi tốt hơn với stress nhiệt. Thông qua hỗ trợ năng suất, cân bằng miễn dịch, phúc lợi vật nuôi và chất lượng thịt, các hợp chất này có thể góp phần xây dựng những hệ thống chăn nuôi gia cầm có khả năng chống chịu tốt hơn và bền vững hơn.
TUẤN VŨ
Theo PoultryWorld
50
THÚ Y THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
BỔ SUNG THẢO DƯỢC TRONG PHÒNG CHỐNG BỆNH HÔ HẤP Ở GÀ Bệnh hô hấp ở gà thường dai dẳng, dễ tái phát và không chỉ xuất phát từ một mầm bệnh. Chuồng nuôi thông thoáng kém, nền ẩm, bụi, khí NH3 cao, mật độ dày, thời tiết thay đổi, dinh dưỡng và sức khỏe đàn đều có thể làm gia tăng nguy cơ. Vì vậy, phòng bệnh cần bắt đầu từ kiểm soát môi trường và quản lý đàn, thay vì chỉ dựa vào thuốc (Swayne, 2020). Đường hô hấp của gà rất nhạy với môi trường. Mũi, khí quản và túi khí hằng ngày phải tiếp xúc với bụi, hơi ẩm, mảnh chất độn, vi sinh vật, nấm, phân khô và khí độc. NH3 làm cay mắt, chảy nước mắt, kích thích niêm mạc mũi - khí quản, làm giảm sức bảo vệ tại chỗ và mở đường cho vi khuẩn kế phát. Bụi chuồng mang theo chất hữu cơ và mầm bệnh, gây kích thích kéo dài. Khi gặp gió lùa, rét đột ngột, nồm ẩm hoặc nóng ẩm, lớp niêm mạc vốn đã yếu càng dễ tổn thương. Bệnh hô hấp vì thế thường kéo dài, chữa dứt triệu chứng rồi vẫn tái phát nếu chuồng vẫn bí, nền vẫn ẩm và khí độc vẫn cao (Bộ NN&PTNT, 2010; Liu et al., 2020).
Dùng kháng sinh đúng quy định
Kháng sinh có vai trò trong điều trị bệnh hô hấp khi xác định có nhiễm khuẩn và tác nhân còn mẫn cảm. Sử dụng đúng thuốc, đúng liều và đủ thời gian có thể giúp kiểm soát bệnh, bảo vệ đàn. Tuy nhiên, kháng sinh không tác động lên virus và không thể thay thế các biện pháp cải thiện điều kiện chuồng nuôi như giảm ẩm, kiểm soát NH3,
bụi và mật độ đàn. Việc sử dụng kháng sinh theo thói quen mỗi khi gà có biểu hiện hô hấp không chỉ làm tăng chi phí mà còn gia tăng nguy cơ kháng thuốc và tồn dư trong sản phẩm (Ghimpețeanu et al., 2022). Giảm sử dụng kháng sinh không đồng nghĩa với bỏ điều trị, mà là hạn chế dùng thuốc khi chưa xác định nguyên nhân và chưa khắc phục các yếu tố bất lợi trong chuồng nuôi.
Thảo dược vai trò hỗ trợ
Thảo dược có thể được sử dụng như một giải pháp hỗ trợ trong phòng bệnh và phục hồi sức khỏe đàn. Tuy nhiên, thảo dược không thay thế chẩn đoán thú y, vaccine hoặc kháng sinh trong trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Một số hoạt chất từ thảo dược có thể góp phần làm giảm kích thích nhẹ ở đường hô hấp, hỗ trợ phản ứng viêm và nâng cao sức chống chịu của đàn. Việc lựa chọn cần dựa trên loại cây, dạng sử dụng, liều lượng và thời điểm phù hợp, tránh xem thảo dược như giải pháp thay thế hoàn toàn cho điều trị. Nhóm cây giàu tinh dầu như sả, bạc hà,
húng quế, hương nhu, khuynh diệp, quế, hồi và gừng được quan tâm trong hỗ trợ sức khỏe đường hô hấp. Các hoạt chất dễ bay hơi có thể góp phần làm giảm kích thích nhẹ và hỗ trợ duy trì trạng thái thông thoáng của đường hô hấp trên. Tuy nhiên, không nên đồng nhất tác dụng này với cơ chế long đờm ở người. Trong thực tế, nhóm sản phẩm này phù hợp hơn với mục đích hỗ trợ khi đàn có biểu hiện hắt hơi, chảy nước mũi hoặc khò khè nhẹ. Việc sử dụng tinh dầu cần đặc biệt thận trọng về nồng độ và phương pháp áp dụng. Nồng độ cao, phun trong chuồng kín hoặc sử dụng trực tiếp lên đàn đang khó thở có thể làm tăng kích ứng đường hô hấp (Zeng et al., 2015). Nhóm thứ hai là cây hỗ trợ phản ứng viêm và phục hồi niêm mạc, gồm nghệ, gừng, xuyên tâm liên, diếp cá, cam thảo và tía tô. Curcumin trong nghệ, gingerol trong gừng, andrographolide trong xuyên tâm liên và nhiều flavonoid trong cây thuốc có tác dụng chống ôxy hóa, điều hòa phản ứng viêm ở mức hỗ trợ (Bộ Y tế, 2017; Đỗ Huy Bích et al., 2006). Những cây này không tiêu diệt mầm bệnh nguy hiểm, nhưng có thể giúp cơ thể gà giảm tổn thương thứ phát, nhất là sau vaccine, sau thay đổi thời tiết, sau vận chuyển hoặc sau một đợt hô hấp nhẹ. Nhóm thứ ba là cây hỗ trợ miễn dịch chung và tiêu hóa như tỏi, gừng, nghệ, quế, chè xanh, diệp hạ châu. Bệnh hô hấp không chỉ ảnh hưởng đến đường hô hấp mà còn có thể kéo theo giảm ăn, giảm uống, rối loạn tiêu hóa và suy giảm thể trạng. Do đó, duy trì đường ruột ổn định, cung cấp nước sạch và khẩu phần đáp ứng đầy đủ Vitamin A, Vitamin E, khoáng chất và axit amin thiết yếu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đàn phục hồi.
THÚ Y
51
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Sử dụng đúng cách
Lợi thế của Việt Nam là có nhiều cây tinh dầu và cây thuốc nhiệt đới như sả, hương nhu, bạc hà, quế, hồi, gừng, nghệ, tỏi, xuyên tâm liên, diếp cá, tía tô. Tuy nhiên, không thể sử dụng hoặc phối trộn tùy ý. Đàn có biểu hiện hô hấp nhẹ có thể ưu tiên nhóm tinh dầu dịu, liều thấp, dùng ngắn ngày; đàn sau vaccine hoặc biến động thời tiết phù hợp hơn với nhóm hỗ trợ chống ôxy hóa, niêm mạc và sức chống chịu. Với đàn hô hấp tái phát, cần điều chỉnh thông gió, nền chuồng và mật độ trước; thảo dược chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Dạng sử dụng cần phù hợp với điều kiện chăn nuôi. Bột thảo dược hoặc premix trộn thức ăn thích hợp dùng theo đợt, trong khi dạng nước uống phù hợp khi cần tác động nhanh hơn. Với hệ thống núm uống, nên sử dụng sản phẩm tan hoàn toàn; nước sắc tự làm cần lọc kỹ, dùng trong ngày và không để cặn gây bẩn hoặc tắc đường ống. Tinh dầu bay hơi hoặc phun hỗ trợ môi trường chỉ là biện pháp phụ. Có thể sử dụng ở nồng độ thấp, thời gian ngắn và trong chuồng thông thoáng để hỗ trợ giảm mùi, làm dịu kích thích nhẹ. Không dùng tinh dầu thay thế thông gió, không phun đậm trong chuồng kín hoặc vào đàn đang há mỏ, vươn cổ thở. Kiểm soát bệnh hô hấp vẫn phải bắt đầu từ chuồng thông thoáng, nền khô, giảm bụi, quản lý tốt phân và duy trì mật độ phù hợp. Khi đàn đã bệnh, cần đánh giá mức độ trước khi sử dụng thảo dược. Trường hợp biểu hiện nhẹ, đàn vẫn ăn uống và tỷ lệ chết thấp, có thể kết hợp biện pháp hỗ trợ với cải thiện thông gió, làm khô nền và theo dõi sát. Nếu bệnh lan nhanh, chết tăng, sưng mặt rõ, khó thở hoặc giảm ăn mạnh, cần chẩn đoán thú y và xử lý theo nguyên nhân; thảo dược chỉ có vai trò hỗ trợ, không được làm chậm điều trị. Về lâu dài, cần chuyển từ sử dụng cây thuốc riêng lẻ sang phát triển sản phẩm có tiêu chuẩn về loài, vùng nguyên liệu, hoạt chất, liều an toàn, độ ổn định và hiệu quả thực địa. Các chỉ tiêu như tỷ lệ ho khò khè, lượng ăn, tăng trọng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ chết, số ngày dùng kháng sinh và chi phí cần được đánh giá cụ thể. Sử dụng đúng, thảo dược có thể góp phần giảm phụ thuộc vào kháng sinh; sử dụng sai chỉ tạo cảm giác an tâm trong khi các yếu tố nguy cơ như chuồng bí, nền ẩm, bụi và khí độc vẫn chưa được khắc phục.
PGS.TS BÙI HỮU ĐOÀN
Chọn enzyme cho thức ăn gia cầm Theo đó, nguyên tắc quan trọng là xác định khẩu phần đang có vấn đề gì về phytate, chất xơ, protein hay tinh bột trước khi lựa chọn enzyme phù hợp. Ngô - ưu tiên phytase và carbohydrase bổ sung enzyme chuyên biệt Ngô là nguồn cung cấp tinh bột và năng lượng chính trong nhiều khẩu phần gà. Tuy nhiên, nguyên liệu này vẫn chứa phytate và một lượng nhất định polysaccharide phi tinh bột (NSP). Phytase thường được sử dụng để giải phóng phốt pho liên kết với phytate, đồng thời giảm tác động của phytate lên protein và khoáng chất. Nếu khẩu phần sử dụng nhiều ngô kết hợp với khô dầu đậu tương, phytase thường là enzyme nền tảng. Có thể phối hợp thêm xylanase hoặc các carbohydrase khác nhằm cải thiện khả năng khai thác năng lượng và chất dinh dưỡng, đặc biệt khi khẩu phần có tỷ lệ nguyên liệu thực vật cao.
Khô dầu đậu tương - phytase và protease
Khô dầu đậu tương là nguồn protein quan trọng nhưng chứa phytate và một số yếu tố kháng dinh dưỡng. Trong trường hợp này, phytase giúp giảm tác động bất lợi của phytate, còn protease hỗ trợ quá trình thủy phân protein. Đối với gà thịt, phối hợp phytase và protease có thể giúp tăng khả năng khai thác protein, acid amin và khoáng chất. Với gà đẻ, việc sử dụng enzyme cần gắn với mục tiêu duy trì năng suất trứng, chất lượng vỏ trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn.
Lúa mì, lúa mạch - ưu tiên xylanase và β-glucanase
Nếu khẩu phần sử dụng nhiều lúa mì, lúa mạch hoặc lúa mạch đen, nhóm enzyme phân giải NSP có vai trò đặc biệt quan trọng. Xylanase phù hợp với khẩu phần giàu arabinoxylan, trong khi β-glucanase thích hợp hơn khi sử dụng nhiều lúa mạch hoặc nguyên liệu có hàm lượng β-glucan cao. Các enzyme này giúp phân giải NSP, giảm độ nhớt của dịch tiêu hóa và tạo điều kiện để enzyme nội sinh tiếp cận tốt hơn với tinh bột, protein và chất béo.
Khẩu phần giàu nguyên liệu họ đậu -
Các nguyên liệu họ đậu có thể chứa nhiều oligosaccharide và NSP. Trong trường hợp này, ngoài phytase, có thể cân nhắc α-galactosidase hoặc mannanase tùy thành phần nguyên liệu. Tuy nhiên, không nên bổ sung enzyme chuyên biệt chỉ dựa trên tên nguyên liệu. Cần dựa vào kết quả phân tích hoặc dữ liệu nguyên liệu của nhà cung cấp để xác định cơ chất thực sự có trong khẩu phần.
Nguyên tắc phối hợp enzyme
Về nguyên tắc, enzyme được lựa chọn theo nguyên liệu trước, sau đó mới điều chỉnh theo đối tượng vật nuôi. Với gà thịt, mục tiêu thường tập trung vào tăng khả năng tiêu hóa năng lượng và acid amin, cải thiện tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn. Một tổ hợp phổ biến có thể gồm phytase + xylanase + protease, sau đó bổ sung thêm β-glucanase hoặc amylase khi khẩu phần có cơ sở để sử dụng. Với gà đẻ, cần chú trọng hơn đến khả năng sử dụng phốt pho, canxi, acid amin và duy trì chất lượng vỏ trứng. Phytase thường giữ vai trò quan trọng, trong khi carbohydrase và protease được lựa chọn tùy nguồn nguyên liệu. Một công thức enzyme hiệu quả nên tuân theo nguyên tắc: Phân tích nguyên liệu → xác định cơ chất → chọn enzyme → xác định mức bổ sung → kiểm tra hiệu quả thực tế. Không nên phối hợp quá nhiều enzyme nếu không có cơ sở về cơ chất tương ứng. Ngoài ra, cần kiểm soát nhiệt độ ép viên, độ ẩm và thời gian xử lý nhiệt, bởi hoạt tính enzyme có thể bị suy giảm trong quá trình sản xuất thức ăn. Điểm quan trọng nhất là enzyme phải được lựa chọn theo khẩu phần chứ không phải theo phong trào. Khi xác định đúng nút thắt của nguyên liệu, việc bổ sung enzyme không chỉ giúp cải thiện tiêu hóa mà còn có thể tạo cơ sở để tối ưu công thức, giảm chi phí dinh dưỡng và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
PHƯƠNG ĐÔNG
52
KHOA HỌC KỸ THUẬT THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Công nghệ Expande đang được rất nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi ứng dụng
Ảnh: Buhler
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ EXPANDER TRONG SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI Trong bối cảnh ngành thức ăn chăn nuôi ngày càng chú trọng hiệu quả sử dụng nguyên liệu, chất lượng viên và an toàn vệ sinh, các công nghệ xử lý nhiệt - cơ học đang được ứng dụng mạnh trong dây chuyền sản xuất. Trong đó, Expander được xem là giải pháp tiền xử lý hiệu quả trước công đoạn ép viên, giúp cải thiện tính chất nguyên liệu, hỗ trợ nâng cao khả năng tiêu hóa và tạo viên thức ăn có độ bền tốt hơn. Công nghệ này đặc biệt phù hợp với các nhà máy sản xuất thức ăn cho heo và gia cầm, nơi yêu cầu cao về năng suất, chất lượng viên và hiệu quả chuyển hóa thức ăn.
Nguyên lý hoạt động
Expander là thiết bị xử lý nguyên liệu bằng sự kết hợp của nhiệt, hơi nước, áp suất và lực cơ học trong thời gian tương đối ngắn. Hỗn hợp nguyên liệu sau nghiền và phối trộn được đưa vào buồng xử lý, tại đây hơi nước và nhiệt làm nguyên liệu mềm hóa, trong khi lực ma sát và áp suất tạo ra sự biến đổi về cấu trúc. Khác với máy ép đùn, Expander thường không sử dụng khuôn để tạo hình sản phẩm
cuối cùng mà đóng vai trò tiền xử lý trước khi ép viên. Sau khi ra khỏi buồng Expander, nguyên liệu tiếp tục được đưa qua máy ép viên để tạo sản phẩm hoàn chỉnh. Tùy loại thiết bị, nguyên liệu và mục tiêu sản xuất, điều kiện nhiệt có thể được điều chỉnh trong phạm vi rộng. Một số quy trình sử dụng mức nhiệt khoảng 90 -1300C, nhưng đây chỉ là khoảng tham khảo, không phải thông số cố định cho mọi công thức. Việc xác định chế độ vận hành cần dựa trên đặc tính nguyên liệu và chất lượng sản phẩm đầu ra. Trong quá trình xử lý, tinh bột được hydrat hóa và hồ hóa ở mức độ nhất định, protein bị biến đổi cấu trúc, đồng thời một
số yếu tố kháng dinh dưỡng và vi sinh vật có thể bị giảm. Chính sự kết hợp giữa tác động nhiệt và cơ học tạo nên giá trị khác biệt của công nghệ này.
Hỗ trợ nâng cao giá trị dinh dưỡng
Một trong những lợi ích đáng chú ý của Expander là khả năng làm thay đổi cấu trúc nguyên liệu, từ đó hỗ trợ quá trình tiêu hóa. Đối với các nguyên liệu giàu tinh bột như ngô, lúa mì hoặc đại mạch, nhiệt và hơi nước giúp tinh bột hấp thu nước và hồ hóa một phần. Cấu trúc tinh bột sau xử lý trở nên thuận lợi hơn cho enzyme tiêu hóa tiếp cận, qua đó có thể cải thiện khả năng sử dụng năng lượng của khẩu phần.
KHOA HỌC KỸ THUẬT
53
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Đối với nguyên liệu protein thực vật, xử lý nhiệt thích hợp có thể làm giảm một số yếu tố kháng dinh dưỡng. Ví dụ, trong khô dầu đậu tương, các chất ức chế enzyme tiêu hóa có thể được giảm thông qua xử lý nhiệt phù hợp. Tuy nhiên, xử lý nhiệt không phải càng mạnh càng tốt. Nếu nhiệt độ quá cao hoặc thời gian lưu quá dài, protein và acid amin có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt thông qua phản ứng Maillard. Một số vitamin, enzyme bổ sung cũng có thể bị suy giảm. Vì vậy, mục tiêu của Expander là đạt mức xử lý tối ưu chứ không phải tối đa hóa nhiệt độ.
Cải thiện chất lượng viên thức ăn
Đây là một trong những lý do quan trọng khiến Expander được bố trí trước máy ép viên. Nguyên liệu sau xử lý có cấu trúc mềm và đồng nhất hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ép. Khả năng liên kết giữa các tiểu phần được cải thiện, giúp viên có độ bền cơ học tốt hơn và giảm tỷ lệ bột sau ép. Đối với những công thức sử dụng nhiều nguyên liệu khó ép hoặc phụ phẩm, Expander có thể giúp cải thiện khả năng tạo viên và duy trì năng suất dây chuyền. Chất lượng viên ổn định cũng giúp giảm hao hụt trong vận chuyển, bảo quản và phân phối. Một số nghiên cứu trên gia cầm cho thấy xử lý Expander kết hợp ép viên có thể cải thiện đặc tính vật lý của viên và khả năng sử dụng năng lượng của khẩu phần. Tuy nhiên, mức độ cải thiện phụ thuộc vào nguyên liệu, kích thước nghiền, công thức và điều kiện vận hành.
Tăng cường an toàn vệ sinh thức ăn
Nhiệt độ cao kết hợp hơi nước, áp suất và lực cơ học cũng giúp giảm tải vi sinh vật trong nguyên liệu và thức ăn. Đây là lợi thế đáng kể trong sản xuất thức ăn hiện đại, khi yêu cầu về an toàn sinh học ngày càng cao. Một quy trình xử lý nhiệt phù hợp có thể góp phần kiểm soát vi sinh vật, giảm nguy cơ đưa mầm bệnh vào chuỗi chăn nuôi và hỗ trợ chương trình an toàn sinh học của trang trại. Tuy nhiên, Expander không thể thay thế hoàn toàn việc kiểm soát nguyên liệu đầu vào. Nguyên liệu bị nấm mốc, nhiễm độc tố nấm mốc hoặc có chất lượng kém vẫn
phải được kiểm soát ngay từ đầu. Đồng thời, nguy cơ tái nhiễm sau xử lý tại hệ thống làm nguội, vận chuyển và đóng bao cũng cần được quản lý.
Quy trình vận hành Expander trong thực tế
Để thiết bị hoạt động ổn định, nhà máy cần xây dựng quy trình vận hành phù hợp với từng nhóm công thức. Trước tiên là kiểm tra và phối trộn nguyên liệu. Nguyên liệu phải được nghiền với kích thước phù hợp và phối trộn đồng đều. Độ ẩm hỗn hợp cần được kiểm soát vì ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình truyền nhiệt và khả năng xử lý trong Expander. Hỗn hợp quá khô khó tạo điều kiện xử lý thích hợp, trong khi quá nhiều ẩm sẽ làm tăng nhu cầu sấy và ảnh hưởng đến công đoạn ép viên. Tiếp theo là bổ sung hơi nước. Hơi nước giúp cung cấp nhiệt và làm mềm nguyên liệu trước khi vào buồng Expander. Hơi cần được phân bố đồng đều, tránh tình trạng một phần nguyên liệu quá ướt trong khi phần khác chưa đạt độ ẩm cần thiết. Khi khởi động thiết bị, cần kiểm tra hệ thống cấp liệu, hơi nước, nhiệt độ, áp suất và tải động cơ. Không nên đưa nguyên liệu vào với công suất tối đa ngay từ đầu mà cần tăng tải từng bước cho đến khi thiết bị đạt trạng thái ổn định. Trong quá trình xử lý, các thông số quan trọng cần theo dõi gồm nhiệt độ, áp suất, lượng hơi, tốc độ cấp liệu, độ ẩm và tải động cơ. Khi một trong các yếu tố này thay đổi, mức độ xử lý nguyên liệu cũng có thể thay đổi theo. Sau khi ra khỏi Expander, nguyên liệu cần được kiểm tra nhanh về nhiệt độ, độ ẩm và trạng thái vật lý trước khi chuyển sang máy ép viên. Nếu nguyên liệu quá nóng hoặc quá ẩm, cần điều chỉnh thông số trước khi tăng công suất. Tại công đoạn ép viên, nguyên liệu sau Expander được đưa qua máy ép để tạo hình. Độ ẩm và nhiệt độ phải được phối hợp với điều kiện vận hành của máy ép để tránh nghẽn khuôn hoặc giảm năng suất. Cuối cùng, viên thức ăn được làm nguội, ổn định độ ẩm và kiểm tra các chỉ tiêu như độ ẩm, độ bền viên, tỷ lệ bột, kích thước và
độ đồng đều trước khi đóng bao hoặc đưa vào silo.
Vận hành theo công thức, không chỉ theo thiết bị
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất khi ứng dụng Expander là không sử dụng một chế độ vận hành cho tất cả các công thức. Công thức giàu tinh bột sẽ có yêu cầu khác với công thức giàu protein hoặc chất béo. Khi thay đổi nguyên liệu, độ ẩm hoặc tỷ lệ dầu, nhà máy cần đánh giá lại chế độ cấp hơi, nhiệt độ, áp suất và tốc độ cấp liệu. Do đó, nhà máy nên xây dựng hồ sơ vận hành cho từng nhóm sản phẩm, ghi nhận các thông số như độ ẩm nguyên liệu, nhiệt độ, áp suất, tốc độ cấp liệu, lượng hơi tiêu thụ, điện năng và chất lượng viên thành phẩm. Dữ liệu này giúp xác định điểm vận hành tối ưu, giảm sự phụ thuộc vào kinh nghiệm của người vận hành.
Kiểm soát để tránh tổn thất dinh dưỡng
Kiểm soát nhiệt là yếu tố quyết định hiệu quả của Expander. Xử lý chưa đủ có thể không đạt mục tiêu hồ hóa tinh bột hoặc giảm yếu tố kháng dinh dưỡng; trong khi xử lý quá mức có nguy cơ làm giảm chất lượng protein, acid amin, vitamin và enzyme. Vì vậy, không nên đánh giá hiệu quả Expander chỉ dựa vào nhiệt độ đầu ra. Cần kết hợp theo dõi độ ẩm, thời gian lưu, áp suất, tải máy và chất lượng sản phẩm sau ép viên. Bên cạnh đó, thiết bị cần được bảo trì định kỳ, đặc biệt là hệ thống cấp hơi, vít tải, buồng xử lý và cảm biến nhiệt độ - áp suất. Sự ổn định của thiết bị có ảnh hưởng trực tiếp đến tính đồng nhất của thức ăn giữa các mẻ sản xuất. Expander không thay thế hoàn toàn công nghệ ép viên hay ép đùn mà đóng vai trò như một mắt xích tiền xử lý nhiệt - cơ học, giúp nhà máy nâng cao hiệu quả của toàn bộ dây chuyền. Lợi ích của công nghệ nằm ở khả năng đồng thời cải thiện tính chất vật lý của nguyên liệu, hỗ trợ tiêu hóa, giảm một số yếu tố kháng dinh dưỡng, nâng cao vệ sinh thức ăn và mở rộng khả năng sử dụng nguyên liệu.
HOÀNG NGÂN
54
MÔ HÌNH THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
TỪ 100 CON GÀ ĐẾN TRANG TRẠI 5 VẠN CON Gần 40 năm gắn bó với con gà, ông Đào Hữu Thuân ở xã Mao Điền, thành phố Hải Phòng từng bước chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang xây dựng trang trại quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và hướng tới sản xuất tuần hoàn.
Khởi đầu với 100 con gà thịt vào năm 1987, đến nay ông Đào Hữu Thuân đã gây dựng được hệ thống 6 khu chuồng trại với tổng diện tích khoảng 7.000 m², duy trì đàn gà đẻ trên 5 vạn con, mỗi năm đưa ra thị trường hàng chục triệu quả trứng. Ông Thuân chia sẻ, để chăn nuôi phát triển bền vững, người nông dân không thể chỉ trông chờ vào kinh nghiệm truyền thống mà phải chủ động quan sát thị trường và điều chỉnh phương thức sản xuất. Năm 2015, ông quyết định chuyển sang nuôi gà đẻ trứng. Đây là quyết định quan trọng, bởi chuyển đổi vật nuôi không đơn thuần là thay đổi giống gà mà kéo theo nhiều yêu cầu mới về kỹ thuật, chuồng trại, chăm sóc, dinh dưỡng, kiểm soát môi trường và tiêu thụ sản phẩm. Từ khu trang trại khoảng 1.000 m² với 2 vạn gà đẻ trứng, quy mô sản xuất của gia đình ông tiếp tục được mở rộng. Đến nay, hệ thống trang trại gồm 6 khu chuồng với tổng diện tích khoảng 7.000 m², đàn gà đẻ được duy trì ở mức trên 5 vạn con. Mỗi năm, mô hình cung cấp cho thị trường hàng chục triệu quả trứng, trở thành nguồn sản phẩm hàng hóa đáng kể của địa phương. Khi đàn vật nuôi ngày càng lớn, bài toán đặt ra không chỉ là chăm sóc gà mà còn phải
kiểm soát tốt môi trường chuồng nuôi, thức ăn, sức khỏe đàn và giảm áp lực lao động thủ công. Vì vậy, cùng với việc mở rộng quy mô, ông Thuân chú trọng đầu tư cơ sở vật chất và từng bước đưa máy móc vào các khâu sản xuất. Tại các khu chuồng, hệ thống bán tự động được đầu tư tương đối đồng bộ, gồm chuồng lạnh, hệ thống nuôi lồng, máy hút gió và thiết bị cung cấp thức ăn. Việc ứng dụng máy móc giúp giảm bớt công việc thủ công, đồng thời hỗ trợ người nuôi kiểm soát tốt hơn điều kiện môi trường trong khu vực chăn nuôi. Với mô hình hàng chục nghìn con gà, việc kiểm soát nhiệt độ, thông thoáng và cung cấp thức ăn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chăm sóc đàn. Công nghệ vì thế không chỉ được ông Thuân xem là giải pháp để giảm sức lao động mà còn là một phần trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất. Một vấn đề khác được gia đình ông đặc biệt quan tâm đó là xử lý chất thải. Phân gà sau khi thu gom được xử lý, ủ với men vi sinh để tạo thành phân bón hữu cơ sử dụng cho cây trồng. Cách làm này góp phần giảm lượng chất thải phát sinh trực tiếp từ hoạt động chăn nuôi, đồng thời tận dụng nguồn
phụ phẩm để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển chăn nuôi theo hướng giảm tác động đến môi trường và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. Không chỉ tập trung vào sản xuất, gia đình ông Thuân cũng từng bước quan tâm hơn đến khâu tiêu thụ. Năm 2020, sản phẩm trứng gà của gia đình được công nhận đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao. Sản phẩm từng được đưa lên sàn giao dịch điện tử VOSO với sự hỗ trợ kết nối tiêu thụ. Từ một khởi đầu rất nhỏ với 100 con gà, sau gần 40 năm, ông Đào Hữu Thuân đã xây dựng được mô hình chăn nuôi gà đẻ quy mô trên 5 vạn con, từng bước cơ giới hóa sản xuất, xử lý chất thải bằng men vi sinh, phát triển sản phẩm OCOP và tạo việc làm cho người lao động. Đặc biệt, năm 2026, ông được bình chọn danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm đổi mới”. Đây là lần thứ hai ông được vinh danh danh hiệu này. Phía sau sự ghi nhận ấy là hành trình dài với nhiều lần chuyển hướng sản xuất. Từ gà thịt sang gà hậu bị rồi gà đẻ trứng, mỗi bước thay đổi đều xuất phát từ yêu cầu thực tế của thị trường và sản xuất.
NAM LINH
MÔ HÌNH
SAUDI ARABIA
THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
Phát triển ngành gia cầm hướng tới tự chủ 90% Saudi Arabia đang đầu tư mạnh để nâng tỷ lệ tự chủ trong sản xuất gia cầm lên 90% vào năm 2030, biến ngành này thành một trụ cột của an ninh lương thực quốc gia. Đẩy mạnh đầu tư nhà nước
Trong vài năm qua, Chính phủ Saudi Arabia đã khuyến khích các hãng sản xuất trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào các trang trại gia cầm thông qua nhiều chính sách ưu đãi, trong đó có các khoản trợ cấp trực tiếp dựa trên sản lượng. Trong khuôn khổ tầm nhìn 2030, Saudi Arabia dành 4,5 tỷ USD cho phát triển ngành gia cầm. Tuy nhiên, những khó khăn tài chính mà quốc gia đang đối mặt khiến triển vọng của các chương trình đầu tư quy mô lớn này trở nên khó đoán định. Thâm hụt ngân sách của Saudi Arabia trong quý I/2025 đã tăng gần gấp 5 lần, lên 15,65 tỷ USD, so với mức 3,30 tỷ USD cùng kỳ năm trước, khi doanh thu từ dầu mỏ giảm 18%, theo số liệu chính thức. Trong bối cảnh giá dầu thô giảm, Quỹ Đầu tư công Saudi Arabia (PIF) đã triển khai các biện pháp cắt giảm chi tiêu ít nhất 20% trong danh mục đầu tư năm 2025. Cho đến nay, tác động đối với ngành gia cầm vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định, nếu giá dầu thô toàn cầu tiếp tục đi xuống, một số dự án quy mô lớn có thể bị xem xét lại, trì hoãn hoặc thậm chí hủy bỏ. Theo bà Nandini Roy, Tư vấn trưở?ng về thực phẩm và đồ uống tại Future Market Insights, dù chưa có dấu hiệu cho thấy Chính phủ sẽ hoàn toàn chấm dứt hỗ trợ, tốc độ phê duyệt các dự án mới, đặc biệt đối với các trang trại gia cầm quy mô nhỏ và vừa, có thể chậm lại.
Giải bài toán khan hiếm nước
Đầu tư trực tiếp không phải là lĩnh vực duy nhất mà ngành gia cầm cần nguồn
55
Saudi Arabia sẽ tiếp tục nâng tỷ lệ tự chủ từ mức 65% lên khoảng 85% trong những năm tới
lực từ nhà nước. Những khoản ngân sách lớn cũng cần được dành để ứng phó với các hệ quả của biến đổi khí hậu, trong đó có tình trạng khan hiếm nước ngày càng nghiêm trọng. Saudi Arabia nhận thức rõ những thách thức về nguồn cung nước và đang đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng, đồng thời thúc đẩy các phương thức sử dụng nước bền vững hơn, chẳng hạn tăng đáng kể tỷ lệ tái sử dụng nước. Tuy nhiên, an ninh nguồn nước vẫn là mối quan tâm chiến lược dài hạn đối với ngành gia cầm Saudi Arabia. Saudi Arabia gần như không có sông hoặc hồ tự nhiên và lượng mưa rất thấp, khiến nước này trở thành một trong những quốc gia khô hạn nhất thế giới. Quốc gia này phụ thuộc lớn vào nước ngầm và khử mặn nước biển, nhưng cả hai nguồn cung đều khó duy trì bền vững trong dài hạn. Các dự báo cho thấy cuộc khủng hoảng nước sẽ tiếp tục nghiêm trọng hơn, với nguy cơ thiếu nước và suy giảm nguồn nước, đặc biệt tại một số khu vực như miền Trung và Tây Nam. Theo bà Roy, Chính phủ đang khuyến khích sử dụng nước thải đã qua xử lý, áp dụng tưới nhỏ giọt cho các loại cây thức ăn chăn nuôi tại địa phương và nhập khẩu ngũ cốc làm thức ăn chăn nuôi nhằm giảm áp lực lên nguồn nước trong nước.
Tiến gần mục tiêu
Trong vài năm qua, Chính phủ Saudi Arabia đã cho thấy nguồn vốn Nhà nước có thể giúp ngành gia cầm phát triển ngay cả trong điều kiện sa mạc khắc nghiệt, khi sản lượng thịt gà và trứng liên tục tăng. Trong giai đoạn 2020 - 2024, sản lượng thịt gà thịt
Ảnh: AI
của Saudi Arabia tăng từ khoảng 800.000 tấn lên 950.000 tấn, tương đương tốc độ tăng trưởng kép hằng năm khoảng 4 - 5%, theo Roy. Sản lượng trứng ăn cũng tăng đáng kể, từ 4,7 tỷ quả năm 2020 lên khoảng 5,5 - 5,6 tỷ quả năm 2024, tương đương mức tăng ổn định 3 - 4%/năm. “Đà tăng trưởng này được thúc đẩy bởi đầu tư có sự hỗ trợ của chính sách, trợ cấp cho cơ sở hạ tầng và thức ăn chăn nuôi, cùng với xu hướng chuyển sang các hệ thống chăn nuôi tích hợp có năng suất cao hơn và tiêu chuẩn phúc lợi động vật tốt hơn”, bà Roy cho biết. Đến năm 2024, Saudi Arabia đã đạt khoảng 65% tự chủ về thịt gia cầm và đang tiến gần tới tự chủ hoàn toàn nguồn cung trứng. Đây là bước tiến đáng kể so với đầu thập niên trước, khi ngành gia cầm nước này còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu, đặc biệt là thịt gia cầm đông lạnh và ướp lạnh từ Brazil và Ukraine. Saudi Arabia sẽ tiếp tục nâng tỷ lệ tự chủ từ mức 65% lên khoảng 85% trong những năm tới, đồng nghĩa với việc ngành gia cầm trong nước sẽ tiếp tục nhận được các khoản đầu tư trong dài hạn. Tuy nhiên, triển vọng này sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến tiếp theo của thị trường dầu thô - một yếu tố đang gây lo ngại. Nguồn cung dầu dồi dào cùng những hệ lụy từ cuộc chiến thương mại có thể đẩy giá dầu thô xuống dưới 40 USD/thùng, theo Goldman Sachs. Khi đó, kế hoạch phát triển ngành gia cầm của Saudi Arabia có nguy cơ phải đối mặt với những đợt cắt giảm ngân sách đáng kể.
VŨ ĐỨC
Theo Thepoultrysite
56 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
MÔ HÌNH THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
57
58 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
59 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026
60 THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 90 - 9/2026