HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành
CỘNG TÁC NỘI DUNG
Thu Hồng; Kim Tiến; Thùy Khánh; Anh Thư Nguyễn Hùng; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Lê Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Sao Mai; Quỳnh Nga; Vũ Mưa...
MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai
TÒA SOẠN
P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KĐT An Hưng, phường La Khê, TP Hà Nội.
Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định Điện thoại: 028.62777616
GIẤY PHÉP XUẤT BẢN:
Số 543/GP-BTTT ngày 05/12/2016
Số 74/GP-BVHTTDL ngày 14/07/2025
Khuôn khổ: 23 x 30cm
Nơi in: Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO:
Ngọc Ánh: 0963.555.554 - Bảo Ngọc: 098.999.1977
Vũ Na: 0978.233.492
Email: quangcaoncn@gmail.com
Liên hệ đặt báo: Ms: Ngọc Ánh; DĐ: 0963.555.554
Email: phathanhtggc@gmail.com
SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936
Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV), Chi nhánh Tràng An
Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 01202001
Địa chỉ ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội
Thưa quý vị bạn đọc!
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu an toàn thực phẩm ngày càng cao, Việt Nam đang định hình lại chiến lược phát triển chăn nuôi theo hướng xanh - sạch - carbon thấp. Ngành đang đẩy mạnh: Giảm phát thải methane từ chăn nuôi; Tái chế phụ phẩm làm thức ăn, giảm ô nhiễm môi trường; Phát triển năng lượng sinh học từ chất thải chăn nuôi; Ứng dụng IoT, AI trong giám sát sức khỏe vật nuôi.
Với lĩnh vực gia cầm, một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp lớn cho an ninh thực phẩm, đang có sự chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình chăn nuôi truyền thống sang sản xuất xanh; từ “chuồng trại nông hộ” đến trang trại công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn sinh học; từ “phòng dịch bằng kinh nghiệm” đến “quản trị bằng dữ liệu”, đó là hành trình của một ngành đang tự đổi mới mình để hòa cùng dòng chảy của Cách mạng công nghiệp 4.0 và tầm nhìn Net Zero 2050.
Như nhận định của TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm
Việt Nam (VPA), một chuyên gia đầu ngành, chúng ta không còn chỉ biết
đến “con gà, quả trứng” theo cách sản xuất truyền thống. Năm 2024 - 2025 ghi dấu bước chân thần tốc của các doanh nghiệp thành viên vào kỷ nguyên đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chăn nuôi xanh. Những trang trại thông minh, những quy trình giảm phát thải và mô hình kinh tế tuần hoàn không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành hơi thở tại hàng trăm cơ sở hội viên. Các doanh nghiệp đã chọn con đường khó - con đường bền vững để bảo vệ tương lai của ngành.
Các doanh nghiệp đầu ngành (như C.P. Việt Nam, De Heus, Tafa Việt...) đang tiên phong áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để chuẩn hóa chuỗi giá trị. Đây là những doanh nghiệp đang nỗ lực số hóa quản lý, sử dụng nền tảng thông minh (như SAP Net Zero) để đo lường và theo dõi lượng phát thải thực tế trên toàn chuỗi cung ứng; Áp dụng hệ thống quản lý ISO 22000, GlobalGAP và các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc (TCVN 13166) để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Chuyển đổi sang sản xuất xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để ngành gia cầm phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng ngày càng cao của thị trường. Như nhận định của Chủ tịch VPA, ngành gia cầm Việt Nam muốn vươn xa phải đầu tư đồng bộ từ chuỗi sản xuất xanh đến xây dựng thương hiệu. Cụ thể: Chăn nuôi sạch - công nghệ cao: Ứng dụng IoT, AI, tự động hóa để quản lý sản xuất, tối ưu năng suất, và truy xuất sản phẩm; Đóng gói và bảo quản tiêu chuẩn quốc tế: Đầu tư nhà máy đạt chuẩn HACCP, ISO, HALAL, để trứng, thịt gia cầm Việt có hộ chiếu toàn cầu; Mô hình ESG & tuần hoàn xanh: “Feed - Farm - FoodFertilizer - Future” giảm phát thải, tái tạo tài nguyên, tạo hình ảnh trứng thịt gia cầm Việt sạch và an toàn.
Có thể thấy, sản xuất xanh và bền vững đã trở thành xu hướng tất yếu của ngành gia cầm Việt ở hiện tại và tương lai. Đây cũng là chủ đề xuyên suốt của ấn phẩm Tạp chí Thế giới Gia cầm phát hành kỳ tháng 3 này, mời quý độc giả đón đọc.
Bên cạnh đó, tiếp theo dòng chảy của thị trường gia cầm trong nước và quốc tế, trong số báo phát hành kỳ này, Tạp chí tiếp tục cập nhật đến bạn đọc những thông tin về tình hình chăn nuôi gia cầm sau Tết, diễn biến thị trường cũng như những công nghệ kỹ thuật cùng mô hình sản xuất tiêu biểu.
Trân trọng!
BIÊN TẬP
MỤC LỤC
Ngành chăn nuôi tìm động lực tăng trưởng mới
Theo thông tin tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh và phát triển chăn nuôi bền vững do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ
chức ngày 12/3 tại Hà Nội, chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước
nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức từ dịch bệnh, biến động thị trường và áp lực cạnh tranh quốc tế.
Những năm gần đây, ngành đang chuyển dịch mạnh từ mô
hình chăn nuôi nhỏ lẻ sang sản xuất trang trại, quy mô tập trung, ứng dụng công nghệ và kiểm soát dịch bệnh tốt hơn. Bên cạnh đó, việc phát triển chăn nuôi xanh, giảm phát thải, gắn sản xuất với chế biến và thị trường đang trở thành xu hướng chủ đạo.
Các doanh nghiệp và người chăn nuôi được khuyến khích tăng
cường liên kết chuỗi, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng
các tiêu chuẩn quốc tế nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Chủ
trì Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng
Đức Tiến nhấn mạnh, phát triển chăn nuôi theo chuỗi giá trị,
2 tháng, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 140,7 triệu USD
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại buổi họp báo thường kỳ tháng 3/2026 cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 2 tháng đầu năm 2026 đạt 11,3 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt hơn 6 tỷ USD, tăng 17,1%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 140,7 triệu USD, tăng 84,3%. Lĩnh vực chăn nuôi ghi nhận tín hiệu tích cực khi chăn nuôi gia cầm tiếp tục duy trì tăng trưởng nhờ chu kỳ nuôi ngắn và khả năng quay vòng vốn nhanh, tổng đàn gia cầm ước tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.
MỘC LAN
Tháng 2, chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi tăng trưởng tốt
Mới đây, theo thông báo của Cục Thống kê, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2026 tăng 1,14% so với tháng trước, chủ yếu do tác động của nhu cầu Tết Nguyên đán. So với cùng kỳ năm 2025, CPI tháng 2 tăng 3,35%, đưa mức tăng bình quân hai tháng đầu năm 2026 lên 2,94%, trong khi lạm phát có mức tăng cao hơn ở mức 3,47%. Trên thị trường, chỉ số giá thịt heo tăng 7,43%, do nguồn cung chưa hoàn toàn phục hồi sau giai đoạn tái đàn chậm, trong khi nhu cầu đối với các sản phẩm (như thịt ba chỉ, sườn non, giò chả) phục vụ Tết tăng rất cao. Không nằm ngoài xu thế, giá thịt gia cầm tăng 2,58%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,61%; giá trứng các loại tăng 0,31%.
HUYỀN LINH
Kỷ niệm 33 năm thành lập hệ thống Khuyến nông
Việt Nam
Sáng 2/3/2026, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức Lễ kỷ niệm 33 năm thành lập Hệ thống Khuyến nông Việt Nam (2/3/1993 - 2/3/2026), với sự tham dự của lãnh đạo và toàn thể cán bộ, viên
kiểm soát hiệu quả dịch bệnh và thúc đẩy liên kết sản xuất - tiêu thụ sẽ là hướng đi quan trọng để ngành chăn nuôi nước ta phát triển ổn định và bền vững trong giai đoạn tới.
chức trong hệ thống. Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Phó Giám đốc Trung tâm Lê Minh Lịnh nhấn mạnh 5 thành tựu nổi bật: khuyến nông là lực lượng nòng cốt chuyển giao khoa học kỹ thuật, bảo đảm an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo; thúc đẩy sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh; đào tạo đội ngũ nông dân chuyên nghiệp; tăng cường hợp tác quốc tế; đồng thời là cầu nối “bốn nhà”, thúc đẩy phát triển cộng đồng bền vững. Hướng tới tương lai, hệ thống khuyến nông được kêu gọi tiếp tục đổi mới mạnh mẽ với tinh thần “Ở đâu có nông dân, ở đó có khuyến nông” - không chỉ là khẩu hiệu mà là trách nhiệm và sứ mệnh của người cán bộ khuyến nông đối với bà con nông dân cả nước.
thức ăn
Ông Phạm Kim Đăng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y cho biết, xung đột Nga - Ukraine, xung đột ở Trung Đông, Mỹ áp thuế đối ứng đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất, trong đó có ngành chăn nuôi và thú y. Đặc biệt là xung đột ở Trung Đông gây ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề logistics (làm chậm 15 - 20 ngày vận chuyển và tăng 30 - 50% chi phí), ảnh hưởng trực tiếp đến việc nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi và làm tăng chi phí sản xuất. Trong khi đó, Việt Nam, phụ thuộc 60 - 70% nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu (khoảng 22 - 24 triệu tấn/năm), đang đối mặt với rủi ro chi phí tăng, nhưng có thể giảm nhẹ tác động bằng cách đa dạng hóa nguồn cung và tăng sản xuất nội địa.
THIÊN LÝ
Chìa khóa thay đổi diện mạo ngành chăn nuôi từ công nghệ
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong những năm gần đây, doanh nghiệp đã tiếp cận nhiều công nghệ mới như giống,
NAM LINH
thức ăn, xử lý môi trường và kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới công nghệ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Một hướng đi quan trọng là phát triển công nghiệp sinh học, thay vì chỉ dừng ở công nghệ sinh học truyền thống. Việc ứng dụng các kỹ thuật di truyền, công nghệ phôi, vi sinh và công nghệ tế bào có thể tạo ra bước đột phá về giống vật nuôi. Cùng đó, chuyển đổi số được xem là công cụ quan trọng để quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thị trường minh bạch trong quá trình này. Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế cũng giúp ngành tiếp cận công nghệ mới, đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường xuất khẩu.
XUÂN LAN
Hội thảo Khoa học Chăn nuôi và Thú y toàn quốc 2026
Hội thảo Khoa học Chăn nuôi và Thú y toàn quốc 2026 do lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì sẽ diễn ra ngày 27 - 28/3, theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến trên nền tảng số; với khoảng 750 đại biểu tham dự. Tại phiên toàn thể, các đại biểu sẽ tập trung thảo luận những nội dung trọng tâm như: tổng kết kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y giai đoạn 2021 - 2025; định hướng xây dựng chương trình khoa học và công nghệ trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030; cập nhật các tiến bộ mới về giống vật nuôi, công nghệ sinh học, dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi, công nghệ vaccine và quản lý dịch bệnh. Thông qua hội thảo lần này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kỳ vọng sẽ thúc đẩy kết nối giữa “ba nhà” gồm nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp, nhằm tăng cường hợp tác nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất; đồng thời góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách và xác định các nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng tâm phục vụ mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả và hội nhập quốc tế.
HỒNG HẠNH
GÓC NHÌN
“Chìa khóa xanh” giảm phát thải cho ngành trứng
☐ TIẾN SĨ VINCENT GUYONNET
Chuyên gia tư vấn ngành gia cầm, Poultry International
Hiện nay, khoảng 75% lượng khí nhà kính gắn với sản
xuất trứng có nguồn gốc từ sản xuất nguyên liệu thức ăn.
Đáng chú ý, riêng việc sử dụng phân bón nitơ tổng hợp
đã chiếm khoảng 10,6% tổng phát thải khí nhà kính của nông nghiệp toàn cầu. Trong con số này, 39% phát sinh từ quá trình sản xuất phân bón, 2% từ vận chuyển và tới
58% từ khâu bón trực tiếp trên đồng ruộng.
Chính vì vậy, giảm phụ thuộc vào phân bón nitơ tổng hợp đang được xem là một hướng đi quan trọng để hạ thấp phát thải của nông nghiệp nói chung và ngành trứng nói riêng. Phân gà có thể trở thành một giải pháp thay thế hiệu quả. Bởi, đây là nguồn phân bón hữu cơ chi phí thấp, từ lâu đã được ghi nhận mang lại nhiều lợi ích cho cây trồng, giúp cải thiện sinh trưởng và tăng năng suất.
Dù vậy, việc sử dụng phân gà vẫn tồn tại nhiều trở ngại, chủ yếu xuất phát từ phương pháp xử lý truyền thống, tiềm ẩn nhiều rủi ro mầm bệnh hay dư lượng kháng sinh. Trước những hạn chế đó, các công nghệ xử lý phân gà thế hệ mới đang mở ra hướng tiếp cận hoàn toàn khác. Một trong những giải pháp được đánh giá cao là hệ thống lên men hiếu khí trong bể đứng. Trong đó, phân gà được đưa vào từ phía trên bể, nơi quá trình lên men hiếu khí diễn ra với nhiệt độ cao. Nhiệt sinh ra trong quá trình này đủ để tiêu diệt mầm bệnh, dư lượng kháng sinh cũng như ấu trùng ruồi tồn tại trong phân. Bên trong bể có các cánh khuấy lớn giúp đảo trộn và di chuyển phân từ từ xuống đáy. Nhờ đó, toàn bộ khối phân được xử lý đồng đều và chuyển hóa thành phân compost hữu cơ chỉ sau khoảng bảy ngày. Một hệ thống tự động kiểm soát việc cung cấp ôxy để tối ưu hóa quá trình lên men, đồng thời thu gom và khử mùi các khí phát sinh như ammonia hay hydrogen sulfide trước khi thải ra môi trường. So với phương pháp ủ đống truyền thống, công nghệ lên men theo phương thẳng đứng mang lại hiệu quả môi trường vượt trội. Lượng phát thải methane và ammonia có thể giảm hơn 90%. Đồng thời, quá trình này còn làm tăng khả năng cố định carbon trong phân compost, nghĩa là giữ lại nhiều carbon hơn trong đất để cây trồng hấp thụ thay vì giải phóng ra khí quyển dưới dạng carbon dioxide. Hệ thống xử lý khép kín giúp giảm đáng kể diện tích lưu trữ phân tại trang trại và hạn chế nguy cơ ô nhiễm nước ngầm. Phân compost sau khi xử lý có thể bán ra thị trường như một loại phân bón hữu cơ thương mại.
Kiểm soát tốt quá trình lên men phân gà mang lại hiệu quả kép trong chiến lược giảm phát thải của ngành trứng: cắt giảm trực tiếp lượng khí nhà kính phát sinh từ chất thải chăn nuôi; thay thế một phần phân bón hóa học trên đồng ruộng.
Nếu mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 là đích đến, ngành trứng có thể lựa chọn hai con đường. Một là chờ đợi những đột phá trong công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon trong tương lai. Hai là chủ động áp dụng các giải pháp đã sẵn sàng ngay từ hôm nay, như công nghệ biến phân gà thành nguồn đầu vào “xanh” cho nông nghiệp. Ở góc độ dài hạn, phân gà xử lý thành phân bón hữu cơ còn có thể trở thành mắt xích quan trọng giúp ngành trứng tiến gần hơn tới mô hình kinh tế tuần hoàn, phù hợp với định hướng phát triển bền vững. ☐
Hiệu quả mô hình nuôi gà lấy trứng ở Tiểu đoàn 42
Tiểu đoàn 42, Lữ đoàn 23 (Quân khu 7) đang triển khai hiệu quả mô hình nuôi gà lấy trứng, nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn và cải thiện đời sống cho cán bộ, chiến sĩ. Mô hình được triển khai từ tháng 6/2025 với 250 con gà, sau đó mở rộng lên hơn 500 con vào cuối năm 2025. Nhờ tổ chức chăm sóc bài bản, áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, đàn gà phát triển ổn định, sản lượng trứng hiện đạt khoảng 440 quả/ ngày, đáp ứng nhu cầu thực phẩm của đơn vị. Sau 8 tháng triển khai, mô hình thu được gần 60.000 quả trứng, doanh thu gần 150 triệu đồng, lợi nhuận gần 30 triệu đồng.
Trao hơn 8.000 gà giống hỗ trợ nông dân Đà Nẵng
khôi phục sinh kế
Ngày 9/3, Báo Tuổi Trẻ phối hợp Thành Đoàn Đà Nẵng và Công ty CP GREENFEED trao hỗ trợ con giống cho các hộ dân khó khăn tại xã Duy Xuyên, TP Đà Nẵng, giúp người dân khôi phục chăn nuôi sau thiên tai. Dịp này, 55 hộ dân được nhận 8.250 con gà giống, 440 bao thức ăn chăn nuôi và 55 kg thuốc thú y, tổng trị giá hơn 513 triệu đồng. Mỗi hộ được hỗ trợ 150 con gà giống cùng vật tư chăn nuôi cần thiết. Chương trình nằm trong hoạt động “Tiếp sức đồng bào miền Trung - miền Bắc tái thiết cuộc sống sau bão lũ” do GREENFEED và Báo Tuổi Trẻ triển khai. Trước đó, chương trình
đã hỗ trợ 1 tỷ đồng tiền mặt cho 100 hộ dân tại các xã của Đà Nẵng.
HOÀNG VÂN
nuôi nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ trên địa bàn. Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi; thực hiện nghiêm kiểm tra, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch đối với động vật, sản phẩm động vật vận chuyển ra ngoài tỉnh, hướng dẫn tiêu hủy các lô hàng bị bắt giữ do buôn bán, vận chuyển trái phép theo quy định. Sở Công thương chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan đẩy mạnh kiểm soát thị trường, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp buôn bán giống vật nuôi chưa qua kiểm dịch hoặc không rõ nguồn gốc.
NAM LINH
THANH HÓA
Triển khai tiêm phòng gia súc, gia cầm đợt 1/2026
Thực hiện tháng tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2026, các địa phương trên toàn tỉnh Thanh Hóa sẽ đồng loạt tiêm phòng trong tháng 3 và 4, phấn đấu hoàn thành trước ngày 30/4. Đối tượng tiêm gồm trâu, bò, dê, heo, gia cầm, chó và mèo với các loại vaccine như viêm da nổi cục, lở mồm long móng, dịch tả heo châu Phi, tụ dấu heo và dại. Ngành nông nghiệp tỉnh yêu cầu, các địa phương chuẩn bị đầy đủ vaccine, nhân lực, đồng thời tăng cường tuyên truyền, vệ sinh tiêu độc khử trùng và kiểm soát vận chuyển động vật nhằm chủ động phòng, chống dịch bệnh.
THÙY KHÁNH
BẮC NINH
Nỗ lực bảo tồn giống gà Hồ “tiến vua”
Tại tổ dân phố Lạc Thổ (phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), người dân đang nỗ lực gìn giữ nguồn gen gà Hồ - giống gà quý từng được dùng làm vật phẩm tiến vua và là hình tượng trong tranh dân gian Đông Hồ. Hiện địa phương duy trì khoảng 1.000 gà Hồ, trong đó 50% là gà sinh sản. Giống gà này có hình thể đặc trưng, trọng lượng lớn, thịt thơm ngon nhưng thời gian nuôi dài, ít nhất một năm mới xuất bán. Do năng suất sinh sản thấp và quy mô chăn nuôi chủ yếu trong nông hộ nhỏ lẻ, việc bảo tồn giống gà quý đang đối mặt nguy cơ suy thoái nguồn gen. Để khuyến khích gìn giữ giống bản địa, hằng năm Lạc Thổ tổ chức Hội thi gà Hồ vào ngày 10/2 âm lịch, đồng thời đẩy mạnh quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.KHÁNH NGUYỄN
HƯNG YÊN
Siết chặt kiểm soát nhập lậu giống vật nuôi
UBND tỉnh Hưng Yên vừa yêu cầu các sở, ngành và địa phương tăng cường các biện pháp ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm tình trạng vận chuyển, buôn bán giống vật nuôi và sản phẩm giống vật
HÀ
TĨNH
Tăng cường phòng dịch sau ổ dịch cúm gia cầm H5N1 Ổ dịch được phát hiện tại thôn 1, xã Cẩm Xuyên. Thống kê của cơ quan chuyên môn, 27/123 hộ chăn nuôi tại khu vực này có gia cầm ốm, chết. Tổng cộng 902 con gia cầm đã được tiêu hủy để khoanh vùng, dập dịch, gồm 872 con gà và 30 con ngan. Kết quả xét nghiệm cho thấy có mẫu gia cầm dương tính với virus cúm A/H5N1. Sau khi phát hiện ổ dịch, lực lượng y tế và thú y đã phối hợp triển khai tiêu độc, khử trùng môi trường, đồng thời tăng cường tuyên truyền, giám sát sức khỏe những người có tiếp xúc với gia cầm bệnh. Người dân được khuyến cáo không sử dụng gia cầm ốm, chết và tuân thủ các biện pháp phòng bệnh nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm.
HÀ PHƯƠNG
QUẢNG TRỊ Năm
2026, phát triển đàn gia cầm đạt 10,3 triệu con
Năm 2026, ngành nông nghiệp phấn đấu phát triển tổng đàn gia súc, gia cầm đạt: Đàn trâu 47.000 con, đàn bò 147.000 con, heo 470.000 con, gia cầm 10,3 triệu con. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 153.000 tấn. Để đạt được mục tiêu tổng đàn đề ra, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh tăng cường kiểm soát, khống chế có hiệu quả các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn vật nuôi, thủy sản, hạn chế thiệt hại kinh tế cho người dân. Chi cục phấn đấu kiểm soát trên 90% số lượng động vật, sản phẩm động vật vận chuyển ra khỏi địa bàn cấp tỉnh. Kết quả tiêm phòng vaccine cho đàn gia súc, gia cầm đạt 100% trong diện tiêm tính theo tổng đàn thực tế tại các địa phương.
MINH KHUÊ
GIA LAI
Thúc đẩy phát triển chuỗi chăn nuôi công nghệ cao từ dự án DHN
Ngày 11/3, đoàn công tác của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Gia Lai do Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại
dẫn đầu đã đến thăm và làm việc tại dự án Trang trại chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao DHN Gia Lai (xã Ia Le) của Tập đoàn Hùng Nhơn liên doanh với Tập đoàn De Heus đầu tư và phát triển, với tổng mức đầu tư gần 1.000 tỷ đồng.
Chuyến làm việc nhằm đánh giá hiệu quả triển khai dự án sau khi hoàn thành đầu tư, đồng thời trao đổi định hướng mở rộng chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao tại địa phương trong giai đoạn tới.
Dự án được triển khai với mục tiêu xây dựng khu vực Tây Nguyên trở thành trung tâm cung cấp con giống chất lượng cao, an toàn dịch bệnh, qua đó góp phần hiện đại hóa ngành chăn nuôi và phát triển
chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao tại địa phương.
Theo chủ trương đầu tư, dự án được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 hoàn thành và đưa vào vận hành trong quý IV/2024; giai đoạn 2 dự kiến hoàn thành vào quý IV/2026. Tuy nhiên, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương cùng năng lực triển khai của nhà đầu tư, giai đoạn 2 đã hoàn thành và chính thức đưa vào vận hành từ tháng 2/2026, sớm hơn 10 tháng so với tiến độ cam kết trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Báo cáo với đoàn công tác, ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch Tập đoàn Hùng Nhơn cho biết, sau khi vận hành đồng bộ cả hai giai đoạn, năng lực sản xuất của dự án ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ. Cụ thể, sản lượng heo hậu bị dự
trong năm 2026 và tiếp tục tăng lên khoảng 3.740% vào năm 2027 khi trang trại đạt công suất ổn định. Sản lượng heo cai sữa cũng tăng đáng kể, dự kiến đạt khoảng 32.448 con vào năm 2026, tăng khoảng 247% so với năm trước và tiếp tục tăng khoảng 422% trong năm 2027. Bên cạnh đó, sản phẩm heo thịt sẽ bắt đầu được cung ứng ra thị trường từ năm 2026 sau khi dự án vận hành đồng bộ cả hai giai đoạn.
“Việc gia tăng quy mô sản xuất không chỉ khẳng định hiệu quả của mô hình chăn nuôi công nghệ cao mà còn giúp địa phương chủ động nguồn giống chất lượng, giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ các tỉnh khác. Đồng thời, sự xuất hiện của các dòng giống F1 chất lượng cao từ dự án được kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy các cơ sở chăn nuôi trong khu vực nâng cấp công nghệ, cải tiến quy trình quản lý và nâng cao chất lượng con giống, từ đó góp phần hiện đại hóa ngành chăn nuôi khu vực Tây Nguyên”, ông Vũ Mạnh Hùng chia sẻ.
Song song với mục tiêu phát triển kinh tế, dự án cũng đặc biệt chú trọng công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Toàn bộ hệ thống vận hành được thiết kế theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Trong đó, chất thải chăn nuôi được xử lý thông qua hệ thống biogas công nghệ cao kết hợp ủ compost, chuyển hóa thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, dự án đang đẩy mạnh đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời áp mái, hướng tới mục tiêu cung cấp khoảng 30% nhu cầu điện năng từ nguồn năng lượng tái tạo. Giải pháp này góp phần giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời xây dựng mô hình “chăn nuôi xanh” gắn với phát triển bền vững.
Ngoài hiệu quả kinh tế, dự án còn tạo ra nhiều giá trị xã hội cho địa phương. Hiện dự án đang tạo việc làm ổn định cho khoảng 100 lao động, với mức thu nhập bình quân khoảng 12 triệu đồng/người/tháng.
Doanh nghiệp cũng thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo kỹ thuật chăn nuôi theo tiêu chuẩn quốc tế như GlobalGAP và ISO, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động địa phương. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ nhân lực có tay nghề, đáp ứng yêu cầu của mô hình chăn nuôi công nghệ cao.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng tích cực triển khai các hoạt động trách nhiệm xã hội tại địa phương, như hỗ trợ xây dựng nhà
tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, chăm lo cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn và đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trường học. Phát biểu tại buổi làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Thái Đại Ngọc đánh giá cao nỗ lực của doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án, đồng thời ghi nhận những
Người chăn nuôi cần thận trọng khi tái đàn
Sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ngành chăn nuôi gia cầm cả nước nhìn chung duy trì ổn định, nguồn cung thực phẩm được bảo đảm và giá cả không biến động lớn. Nhiều địa phương đã bắt đầu tái đàn phục vụ chu kỳ sản xuất mới. Tuy nhiên, việc tái đàn đang được khuyến nghị thực hiện theo hướng thận trọng, gắn với an toàn sinh học và liên kết chuỗi.
Nhiều địa phương bắt đầu tái đàn
Thời điểm trước và trong Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng gia cầm tăng cao cũng thúc đẩy các cơ sở chăn nuôi mở rộng quy mô sản xuất. Hiện, nhiều địa phương trên cả nước đã bắt đầu bước vào giai đoạn tái đàn gia cầm để chuẩn bị cho các chu kỳ sản xuất mới trong năm 2026.
Tại những vùng chăn nuôi trọng điểm, các trang trại và doanh nghiệp đang tích cực khôi phục đàn gà, vịt sau khi xuất bán lượng lớn phục vụ thị trường Tết.
Tại tổ Chu Trinh 5, phường Tân Giang (tỉnh Cao Bằng), sản xuất đã sớm nhộn nhịp trở lại. Trước đây, gia đình anh Trường duy trì từ 20 - 30 con heo thịt mỗi lứa. Tuy nhiên, từ sau bùng phát dịch tả heo châu Phi năm 2025, gia đình anh Trường đã chủ động chuyển hướng sang phát triển đàn gia cầm. Trong dịp Tết vừa qua, hơn 200 con gà ri lai đạt trọng lượng từ 2,2 - 3 kg/con của gia đình đã được thương lái thu mua toàn bộ.
Hiện anh đang chuẩn bị cho lứa mới.
Cũng tại Tổ Chu Trinh 5, gia đình chị
Hoàng Thị Liễu cũng duy trì mô hình nuôi gà ri lai theo hướng hàng hóa. Dịp Tết vừa
qua, chị xuất bán gần 1.000 con gà thương phẩm, mang lại nguồn thu đáng kể. Ngay sau đó, chị tiếp tục nhập hơn 200 con gà giống và dự kiến mở rộng quy mô lên 300 trong thời gian tới.
Tại tỉnh Cao Bằng, tình hình tương tự cũng diễn ra tại nhiều xã khác, như Trường Hà, Hòa An, Hà Quảng, Thạch An hay Đông Khê, bà con đều tích cực chuẩn bị chuồng trại để tái đàn sau Tết.
Ở khu vực Tây Nguyên, một số địa phương cũng chủ động kế hoạch phát triển chăn nuôi gia cầm ngay từ đầu năm. Các trang trại tập trung và hộ chăn nuôi được khuyến khích tái đàn có kiểm soát, đồng thời áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học để hạn chế nguy cơ dịch bệnh.
Nhiều địa phương cũng chú trọng phát triển các mô hình chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghệ cao và liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ. Các mô hình nuôi gà an toàn sinh học, gà thả vườn theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc chăn nuôi theo chuỗi khép kín đang ngày càng được mở rộng.
Song song với việc tái đàn, các cơ quan chuyên môn cũng tăng cường công tác kiểm
➢ Các chuyên gia trong ngành khuyến cáo người chăn nuôi cần cân nhắc kỹ về quy mô tái đàn, bám sát diễn biến
thị trường và khả năng tiêu thụ để tránh rủi ro khi giá gia cầm biến động.
soát dịch bệnh và hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi cho người dân. Việc tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm, vệ sinh chuồng trại và kiểm soát nguồn giống được đặc biệt chú trọng nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh trong giai đoạn giao mùa.
Ở một số địa phương từng chịu ảnh hưởng của thiên tai trong năm 2025, người chăn nuôi cũng đang từng bước khôi phục sản xuất. Các chương trình hỗ trợ giống, kỹ thuật và vốn vay đang giúp nhiều hộ chăn nuôi nhanh chóng tái đàn, ổn định sinh kế.
Đối mặt nhiều khó khăn, thách thức Mặc dù có nhiều tín hiệu tích cực trong những tháng đầu năm 2026, ngành chăn
Ảnh: KNQG
nuôi gia cầm vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức.
Trước hết là nguy cơ dịch bệnh trên đàn gia cầm vẫn luôn hiện hữu. Các loại dịch bệnh như cúm gia cầm, Newcastle hay một số bệnh truyền nhiễm khác có thể bùng phát nếu công tác phòng dịch không được thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân thường là thời điểm dễ phát sinh dịch bệnh trên vật nuôi.
Bên cạnh đó, biến động thị trường cũng là yếu tố khiến nhiều hộ chăn nuôi còn dè dặt trong việc mở rộng sản xuất. Đồng thời, áp lực cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu cũng là một thách thức lớn. Việt Nam vẫn nhập khẩu một lượng đáng kể thịt và phụ phẩm gia cầm từ nhiều quốc gia với giá thành tương đối thấp, gây sức ép lên thị trường trong nước, đặc biệt đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.
Ngoài ra, mặc dù giá thức ăn chăn nuôi đã giảm so với giai đoạn trước, chi phí sản xuất của người chăn nuôi vẫn ở mức cao so với khả năng cạnh tranh của nhiều hộ nhỏ lẻ. Việc phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu cũng khiến ngành chăn nuôi dễ bị ảnh hưởng khi thị trường thế giới biến động.
Một thách thức khác là quá trình chuyển đổi từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, công nghiệp vẫn diễn ra chậm ở nhiều địa phương. Không ít hộ chăn nuôi vẫn sản xuất theo quy mô nhỏ, thiếu liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ nên dễ gặp rủi ro về thị trường.
Trước bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng ngành chăn nuôi gia cầm cần tiếp tục thúc đẩy phát triển theo hướng bền vững hơn. Trong đó, việc tăng cường chăn nuôi an toàn sinh học, phát triển các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ và nâng cao chất lượng sản phẩm được xem là những giải pháp quan trọng.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho rằng, người chăn nuôi cần tránh tâm lý “được giá là nuôi nhiều”, việc tái đàn phải dựa trên dự báo cung cầu, khả năng tiêu thụ và năng lực tài chính của từng cơ sở. Chăn nuôi theo chuỗi giá trị, có hợp đồng liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp, siêu thị sẽ giúp giảm rủi ro. Nếu tái đàn ồ ạt khi giá chưa ổn định, nguy cơ dư cung, giảm giá là rất lớn.
BẢO HÂN
Tóm tắt tình hình sản xuất và tiêu thụ trứng toàn cầu năm 2025 và dự báo năm 2026
Sản xuất trứng toàn cầu
Tổng sản lượng năm 2025 ước tính đạt 99 triệu tấn, tăng hơn gấp đôi so với mức 46 triệu tấn vào năm 1995. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục thống trị ngành trứng, chiếm khoảng 48,6 - 58,8% thị phần toàn cầu. Trong đó, Trung Quốc duy trì vị thế là quốc gia sản xuất trứng lớn nhất thế giới, đóng góp hơn 1/3 tổng sản lượng toàn cầu. Trong năm 2025, Mỹ đã phải đối mặt với thách thức lớn từ dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI), khiến đàn gà đẻ sụt giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm vào giữa năm 2025 (~285 triệu con). Sản lượng giảm 4,4% so với năm 2024. Liên minh châu Âu (EU) sản xuất tăng nhẹ, ước xuất khẩu tăng khoảng 2 -3% nhờ nhu cầu nội khối mạnh mẽ. Ấn Độ đã nổi lên như một nhà xuất khẩu tiềm năng, lần đầu tiên xuất khẩu trứng sang Mỹ vào tháng 3/2025 để bù đắp sự thiếu hụt nguồn cung tại đây.
Tiêu thụ trứng thế giới Tổng lượng tiêu thụ trứng toàn cầu chạm mốc 1,3 nghìn tỷ quả trong năm 2025, với tốc độ tăng trưởng 2,5%/năm, nhanh hơn gấp đôi tốc độ tăng trưởng dân số (1,1%). Trong đó, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nhất với mức sử dụng hơn 500 tỷ quả trong năm 2025. Pháp ghi nhận mức tiêu thụ kỷ lục là 237 quả/người tăng 10 quả so với năm 2024, nhờ ưu thế giá rẻ trong bối cảnh kinh tế biến động. Mexico và Nhật Bản duy trì mức tiêu thụ cao nhất thế giới với hơn 300 quả/người/năm. Mỹ tiêu thụ giảm nhẹ xuống còn 258,9 quả/người do nguồn cung thắt chặt và giá tăng. Tại Mỹ, giá trứng đã tăng khoảng 20% trong năm 2025.
Dự báo thị trường toàn cầu năm 2026
Dự báo thị trường trứng thế giới dự kiến đạt giá trị từ 167,39 tỷ USD đến 311,23 tỷ USD tùy theo phạm vi thống kê, với tốc độ tăng trưởng hàng năm (CAGR) khoảng 5,56 - 6,8%. Tổng sản lượng trứng thương phẩm dự kiến tăng khoảng 4,6% so với năm 2025. Tuy nhiên, nguồn cung vẫn chưa ổn định hoàn toàn do ảnh hưởng kéo dài của dịch cúm gia cầm (HPAI) tại Mỹ và châu Âu, có thể mất đến hết năm 2026 để phục hồi hoàn toàn công suất và đặc biệt do ảnh hưởng tiêu cực của chiến sự ở Trung Đông có thể khiến giá thành trứng bị đội lên.
Tổng lượng tiêu thụ toàn cầu dự báo đạt 75,5 triệu tấn. Người tiêu dùng có xu hướng chuyển dịch mạnh sang các loại trứng có giá trị gia tăng như trứng hữu cơ, trứng không dùng lồng (cage-free) và trứng bổ sung dinh dưỡng. Do giá trứng tươi (trứng vỏ) biến động mạnh trong giai đoạn 2024 - 2025, các đơn vị dịch vụ thực phẩm dự kiến sẽ tiếp tục ưu tiên sử dụng trứng lỏng, trứng bột hoặc trứng đông lạnh để ổn định chi phí. Giá trứng vỏ truyền thống được dự báo sẽ dao động ổn định hơn trong khoảng 1 - 2 USD/tá tại các thị trường lớn, nhưng có thể tăng cục bộ theo mùa hoặc do các đợt dịch bệnh mới.
Dự báo tại thị trường Việt Nam năm 2026
Nhu cầu tiêu thụ trứng ở Việt Nam dự kiến đạt 563.000 tấn, tăng trưởng bình quân 1,6% mỗi năm. Nhu cầu tăng cao (khoảng 5 - 10%) trong các dịp cao điểm như Tết Nguyên đán 2026.
Năm 2026 sẽ là năm bão hòa về số lượng nhưng nâng cấp về chất lượng. Người chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ gặp khó khăn về giá, trong khi các trang trại công nghệ cao kiểm soát được chi phí, chất lượng sẽ có lợi nhuận ổn định.
NGUYỄN THANH SƠN (Tổng hợp từ tài liệu nước ngoài)
Nguồn: IPWA
Sức hút của chăn nuôi nhân đạo
Chăn nuôi nhân đạo nhằm đảm bảo phúc lợi động vật đang là xu thế chăn nuôi hiện đại, nhân văn, thu hút được sự quan tâm của cả người nuôi và người tiêu dùng.
Luật hóa tính nhân văn
Sự phát triển thái quá của nền chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn với mô hình khép kín và chỉ chú ý tới năng suất đã để lại những hệ lụy như phụ thuộc quá nhiều vào thức ăn công nghiệp, nguy cơ vật nuôi bị nhiễm bệnh và tồn dư hóa chất trong sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là việc chăn nuôi giết mổ thiếu tính nhân đạo ngày càng bị lên án và nó tạo ra một làn sóng tẩy chay sản phẩm tại nhiều nơi trên thế giới.
Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) cho rằng, phúc lợi động vật là việc phản ảnh tình trạng sức khỏe thể chất, tâm lý và khả năng thích nghi của động vật với môi trường sống của chúng. Phúc lợi động vật là trạng thái thể chất và tinh thần của động vật khi chúng
sống trong môi trường phù hợp và không bị đau khổ.
Những năm gần đây, phúc lợi động vật tập trung vào việc đánh giá và thực thi đảm bảo điều kiện sống tốt nhất có thể cho động vật trong quá trình sản xuất. Hội đồng Phúc
lợi Động vật Nông nghiệp Anh (FAWC) đã
đưa ra 5 tiêu chí và được áp dụng rộng rãi, bao gồm: Tự do khỏi đói khát (Cung cấp đầy
đủ dinh dưỡng và nước sạch), Tự do khỏi khó chịu (Môi trường sống phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng loài), Tự do khỏi đau đớn và bệnh tật (Chương trình phòng bệnh hiệu quả), Tự do thể hiện hành vi tự nhiên (Cung cấp không gian và điều kiện cho hành vi tự nhiên), Tự do khỏi sợ hãi và căng thẳng (Tránh các yếu tố gây stress).
Thị trường được hình thành
Xã hội càng phát triển thì tính nhân văn càng được đề cao, nên việc nhanh chóng mở rộng thị trường của sản phẩm chăn nuôi nhân đạo đảm bảo phúc lợi động vật đang ngày được quan tâm.
Hầu hết xu hướng sản phẩm đều do các tập đoàn lớn dẫn đầu và hiện nay các tập đoàn đa quốc gia như Unilever, Nestlé và McDonald’s đã yêu cầu nhà cung cấp tuân thủ các tiêu chuẩn sản xuất chú trọng phúc lợi động vật. Họ tránh việc sản phẩm bị tẩy chay do nhà cung cấp nguyên liệu là những người ngược đãi động vật. Để minh bạch quá trình ngược đãi hay không ngược đãi vật nuôi sẽ cần có những cơ quan giám sát, cấp giấy kiểm định và từ
đó đã hình thành nhiều tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này. Các sản phẩm chứng nhận chăn nuôi nhân đạo sẽ có sức cạnh tranh lớn trên thị trường. Hội thảo “Phúc lợi động vật, phát triển chăn nuôi bền vững và xuất khẩu” được Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam (VFAEA) tổ chức, khuyến cáo một số nhà thu mua, nhãn hàng lớn, chuỗi bán lẻ trên thế giới đang tăng tỷ lệ thu mua sản phẩm trứng gà được chứng nhận phúc lợi động vật, hay cam kết loại bỏ dần thịt heo được nuôi trong lồng nhốt mà chỉ mua thịt heo được nuôi từ mô hình chăn nuôi phúc lợi động vật. TS Cù Thị Thiên Thu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, từ năm 2018 châu Âu có thông điệp rõ ràng: “Chấm dứt kỷ nguyên nuôi con vật nhốt lồng trong trang trại”. Những nghiên cứu cũng cảnh báo tỷ lệ mắc ung thư ngày càng gia tăng, khiến người ta đặt đâu hỏi “thức ăn, thực phẩm con người nạp vào cơ thể có thực sự tốt?”.
Rõ ràng việc chăn nuôi công nghiệp, nuôi nhốt thúc đẩy tăng trọng có nguy cơ sản phẩm chăn nuôi bị tồn dư kháng sinh, việc vật nuôi luôn bị stress sẽ cho ra sản phẩm ít chất lượng.
Phúc lợi động vật đã được luật hóa tại Mỹ từ năm 1976, châu Âu năm 2007, Hàn Quốc năm 2014, Trung Quốc năm 1998,
Luật Thú y Việt Nam năm 2015 và Luật Chăn nuôi năm 2018, trong đó, quy định chi tiết đến phúc lợi vật từ chăn nuôi cho đến vận chuyển, giết mổ.
Lợi ích kinh tế
Hiện, Việt Nam có hàng chục trang trại đã được cấp chứng nhận quốc tế về chăn nuôi nhân đạo đảm bảo phúc lợi động vật. Sự khác biệt dễ nhìn thấy đó là về mật độ chăn nuôi, nếu các trang trại hiện nay mỗi m2 nuôi 20 con gà, thi chăn nuôi nhân đạo chỉ nuôi 7 con/m2, với không gian được tăng lên gấp 3 lần. Điểm tích cực khác đó là các vật nuôi được sinh sống phát triển gần với tập quán tự nhiên như nơi kiếm thức ăn, chỗ đẻ và ấp trứng, không gian để chúng vui chơi…
Theo tính toán của các trang trại, chi phí đầu tư cho chăn nuôi nhân đạo cao hơn từ 30 - 35% so với chi phí đầu tư chăn nuôi theo kiểu công nghiệp nuôi nhốt dày đặc, nhưng bù lại giá bán sản phẩm cao hơn 30% nên vẫn khả thi.
Công ty TNHH Nông nghiệp Nhất Thống (thương hiệu Everyday Organic), nuôi hơn 1.000 con gà và 300 con vịt, trung bình mỗi con có 4 m2 để vui chơi. Doanh nghiệp Vĩnh Thành Đạt đang thực hiện mô hình nuôi gà không lồng, với quy mô 6.000 con gà, mỗi ngày cho ra 5.000 quả trứng.
➢ Một số quy định về phúc lợi động vật trên thế giới:
- Luật Phòng chống ngược đãi động vật năm 1986 - bảo vệ phúc lợi của
động vật ở Victoria và áp dụng bình
đẳng cho tất cả các loài, bao gồm cả gia cầm nuôi.
- Quy định Phòng chống ngược đãi
động vật năm 2019 - điều chỉnh các
hoạt động cụ thể, bao gồm cả việc vận
chuyển động vật.
- Quy định Phòng chống ngược đãi
động vật (Gia cầm nuôi) năm 2016mô tả các yêu cầu cụ thể về chuồng
trại nuôi gà đẻ trứng.
Công ty chuẩn bị 1.100 ổ đẻ và 1.000 m sào đậu cho 6.000 con gà ở trang trại tại Đồng Nai. Thức ăn, nước uống cho gà cũng không chưa chất kháng sinh, đạm động vật (ngoại trừ động vật chuyển thể).
Thay đổi về quan điểm kinh doanh
Nếu trước đây, việc đánh giá tiêu chí kinh doanh chủ yếu dựa trên số lượng sản phẩm, lợi nhuận, việc làm, đóng thuế thì ngày nay việc kinh doanh hiệu quả còn phải được công nhận dựa vào các tiêu chí nhân văn, cụ thể trong ngành chăn nuôi đó là việc chăn nuôi nhân đạo, đảm bảo phúc lợi động vật.
Thống kê cho thấy, EU đã cấm nuôi gà đẻ trong chuồng lồng từ năm 2012, 11 bang
của Mỹ đã có lệnh cấm nuôi gà đẻ trong chuồng lồng. New Zealand đã cấm nuôi gà đẻ trong chuồng lồng từ năm 2023, Australia đưa ra lộ trình chuyển đổi và đạt 100% nuôi gà đẻ theo phúc lợi động vật vào năm 2036. Các quy định ngày càng cụ thể hơn, chẳng hạn EU hiện chỉ cho phép nuôi heo nái trong cũi tối đa 28 ngày trong thời gian mang thai; Anh cấm nuôi nhốt heo nái mang thai trong cũi, chỉ cho phép nuôi cũi đẻ 7 ngày trước khi sinh. Brazil đã ban hành quy định yêu cầu ngành chăn nuôi chuyển từ nuôi heo nái mang thai trong cũi sang nuôi heo nái theo nhóm và phải đạt mục tiêu này ở tất cả các trang trại vào năm 2045.
Trong chiến lược phát triển chăn nuôi của Việt Nam đến năm 2030, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt mục tiêu sẽ có khoảng 20% gà được chăn nuôi nhân đạo. Ngoài ra, chăn nuôi heo cũng đang được xem xét đưa vào chăn nuôi theo tiêu chuẩn này. Đây cũng là xu hướng của thời đại. Ở một góc nhìn khác thì việc chăn nuôi nhân đạo sẽ giúp người nuôi cảm thấy nhẹ lòng hơn, tránh cảm giác “sát sinh” trong quá trình chăn nuôi và ngành chăn nuôi sẽ thu hút được nhiều nhân lực và trí thức trẻ tham gia. Thậm chí có nhiều người chăn nuôi nhân đạo đã dần hạn chế nuôi gà thịt để chuyển sang nuôi gà lấy trứng như xu hướng của nhiều quốc gia lân cận. Rõ ràng, giới trẻ ngày nay quan tâm nhiều hơn về tính nhân văn trong chăn nuôi và việc phát triển chăn nuôi đảm bảo phúc lợi động vật sẽ ngày càng phát triển.
CẦM VIỆT
Sản xuất xanh và bền vững
Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, thị trường cạnh tranh khốc liệt và nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, bài toán đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung lĩnh vực gia cầm (một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp lớn cho an ninh thực phẩm) nói riêng không chỉ là tăng sản lượng mà còn phải xây dựng một hệ sinh thái hiện đại, bền vững và an toàn. Đó chính là sự chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình chăn nuôi truyền thống sang sản xuất xanh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050 theo cam kết quốc gia.
Áp lực chuyển đổi từ thực tiễn
Những năm gần đây, tổng đàn gia cầm cả nước luôn duy trì ở mức cao, sản lượng thịt và trứng tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước mở rộng xuất khẩu.
Theo thống kê của Hiệp hội Gia cầm Việt
Nam, năm 2025, tổng đàn gia cầm có mặt thường xuyên khoảng 585 triệu con, tổng số gia cầm giống mà Hiệp hội sản xuất được khoảng 530 - 550 triệu con (chiếm 65 - 70% thị phần cả nước), trong đó giống gà lông màu khoảng 310 triệu con, gà giống lông trắng 120 triệu con; vịt giống 100 triệu con. Sản lượng thịt hơi các loại đạt khoảng 6 triệu tấn. Trong đó, thịt gia cầm đạt hơn 2 triệu tấn, sản lượng trứng đạt trên 20 tỷ quả, tăng 5,3%. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng quy mô sản xuất, vấn đề phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn
nuôi, mùi hôi, nước thải và sử dụng năng lượng trong chuỗi sản xuất ngày càng được quan tâm.
Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) cho biết, dù gia cầm có mức phát thải thấp hơn nhiều so với các loại vật nuôi khác như heo, trâu, bò, song khi xét trên quy mô hàng trăm triệu con, lượng phát thải tích lũy không hề nhỏ. Ước tính ngành chăn nuôi gia cầm đóng góp khoảng 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực chăn nuôi toàn cầu. Các nguồn phát thải chính bao gồm quản lý phân và chất thải; phát thải gián tiếp từ sản xuất và vận chuyển thức ăn chăn nuôi (chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 45% trở lên trong tổng dấu chân carbon của ngành gia cầm nếu tính theo chuỗi cung ứng); tiêu thụ điện, nước và nhiên liệu trong vận hành trang trại, giết mổ, chế biến.
Để giảm phát thải khí nhà kính trong ngành gia cầm tại Việt Nam, theo ông Sơn, các giải pháp kỹ thuật và quản lý tập trung vào bốn trụ cột chính: xử lý chất thải, tối ưu hóa dinh dưỡng, chuyển đổi năng lượng và xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn.
Chìa khóa giảm phát thải từ đổi mới công nghệ
Ông Sơn cho biết: “Dấu ấn lớn nhất chính là sự chuyển mình mãnh liệt trong tư duy của các doanh nghiệp của VPA. Chúng ta không còn chỉ biết đến “con gà, quả trứng” theo cách sản xuất truyền thống. Năm 2024 - 2025 ghi dấu bước chân thần tốc của các doanh nghiệp thành viên vào kỷ nguyên đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chăn nuôi xanh. Những trang trại thông minh, những quy trình giảm phát thải và mô hình kinh tế tuần hoàn không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành hơi thở tại hàng trăm cơ sở hội viên. Các doanh nghiệp đã chọn con đường
- CHUYÊN
khó - con đường bền vững để bảo vệ tương lai của ngành”.
Cũng theo ông Sơn, nhờ tối ưu điều kiện nuôi, gia cầm sinh trưởng tốt hơn, giảm tỷ lệ hao hụt, rút ngắn thời gian nuôi, từ đó giảm lượng thức ăn tiêu thụ và giảm phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm. Các doanh nghiệp đầu ngành (như C.P. Việt Nam, De Heus, Tafa Việt) đang tiên phong áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để chuẩn hóa chuỗi giá trị. Đây là những doanh nghiệp đang nỗ lực số hóa quản lý, sử dụng nền tảng thông minh (như SAP Net Zero) để đo lường và theo dõi lượng phát thải thực tế trên toàn chuỗi cung ứng; Áp dụng hệ thống quản lý ISO 22000, Global GAP và các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc (TCVN 13166), đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm từ 6070% chi phí sản xuất và là nguồn phát thải gián tiếp lớn trong chuỗi giá trị. Vì vậy, việc tối ưu khẩu phần dinh dưỡng, sử dụng enzyme, phụ gia sinh học, thay thế kháng sinh bằng chế phẩm vi sinh không chỉ giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi mà còn góp phần giảm phát thải. Khi FCR được cải thiện, lượng thức ăn cần thiết để sản xuất một kg thịt hoặc một quả trứng đã giảm xuống, đồng nghĩa với giảm phát thải gián tiếp từ khâu sản xuất nguyên liệu thức ăn. Theo nghiên cứu, chỉ cần giảm 1% protein thô trong khẩu phần có thể giảm tới 102 kg khí thải /tấn thịt gia cầm. Nhiều nhiều tập đoàn như: C.P, De Heus, Dabaco… đã tăng cường nghiên cứu sử dụng nguyên liệu trong nước, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn, qua đó giảm chi phí vận chuyển đường dài và giảm lượng khí thải liên quan đến logistics. Phát triển vùng nguyên liệu nội địa cũng giúp tăng tính chủ động và bền vững cho toàn ngành. Song song đó, việc kiểm soát chặt chẽ sử dụng kháng sinh và hóa chất không chỉ đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm mà còn góp phần bảo vệ hệ sinh thái đất, nước và sức khỏe cộng đồng.
Kinh tế tuần hoàn ngành gia cầm
Giảm phát thải không chỉ là cắt giảm khí nhà kính, mà còn là xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn, trong đó chất thải của khâu này trở thành đầu vào của khâu khác. Ông Nguyễn Thanh Sơn cho biết, thay vì coi chất thải là gánh nặng, sản xuất xanh
ÔNG NGUYỄN THANH SƠN
“Với sự đồng hành của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, sự chủ động của doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ Nhà nước, ngành chăn nuôi gia cầm hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Hành trình này đòi hỏi quyết tâm lâu dài, đầu tư bài bản và thay đổi tư duy từ “tăng sản lượng” sang “tăng giá trị”. Khi mỗi trang trại, mỗi
Chủ tịch VPA doanh nghiệp cùng chung tay giảm phát thải, ngành gia cầm Việt Nam sẽ không chỉ bảo đảm an ninh thực phẩm mà còn góp phần tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh và cam kết khí hậu quốc gia trong những thập niên tới”.
biến chúng thành tài nguyên: Phân gia cầm được thu gom sản xuất phân hữu cơ, tạo thành chu trình khép kín. Một số mô hình
đã triển khai hệ thống tách phân - nước, xử lý nước thải tuần hoàn, giảm thiểu xả thải ra môi trường. Đồng thời, một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đã thay thế một phần nguyên liệu nhập khẩu (như
đậu nành) bằng các phụ phẩm nông nghiệp
địa phương để giảm “dấu chân carbon” từ khâu vận chuyển.
Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giúp tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ phúc lợi động vật cũng là xu hướng mà một số doanh nghiệp đang áp dụng: Lắp đặt điện mặt trời mái nhà trên các hệ thống chuồng kín để tự túc năng lượng sưởi ấm và làm mát. Chuyển đổi sang các mô hình chăn nuôi nhân đạo (như nuôi gà thả vườn, không dùng chuồng lồng), vừa giúp gia cầm khỏe mạnh vừa giảm áp lực lên môi trường. Thay thế thiết bị chuồng trại
bằng nhựa tái chế hoặc vật liệu có độ bền cao để giảm rác thải nhựa trong chăn nuôi
Cần rà soát và bổ sung chính sách
Có một thực tế hiện nay, đó là, dù đã có nhiều nỗ lực, quá trình chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp đối với các thành viên của VPA vẫn đối mặt không ít khó khăn. Trong đó có việc đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại theo hướng xanh và bền vững đòi hỏi chi phí nguồn lực lớn, trong khi giá sản phẩm đầu ra không có sự chệnh lệch lớn so với công nghệ sản xuất cũ.
Do đó, theo ông Sơn cần có cơ chế hỗ trợ tín dụng xanh, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ giảm phát thải; Hỗ trợ kỹ thuật và đo lường, hướng dẫn kỹ
thuật đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV). Việc xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải trong ngành chăn nuôi cũng là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm minh bạch và hội nhập quốc tế. Các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn được khuyến khích thực hiện kiểm kê định kỳ khí nhà kính để theo dõi và áp dụng các biện pháp cắt giảm mục tiêu. Hỗ trợ cấp chứng nhận sản phẩm xanh, VietGAHP và các tiêu chuẩn xuất khẩu để gia tăng giá trị sản phẩm.Ngoài ra, cần đẩy mạnh truyền thông để người tiêu dùng hiểu và ủng hộ sản phẩm gia cầm “xanh”, tạo động lực thị trường cho doanh nghiệp chuyển đổi.
Sắp tới đây, VPA sẽ phối hợp với các bộ ngành để xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải và phổ cập nhãn hiệu “Sản phẩm phát thải thấp” cho thịt và trứng gia cầm; thúc đẩy truy xuất nguồn gốc và từng bước hướng tới kiểm kê phát thải trong ngành. Đây là nền tảng để doanh nghiệp tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai, ông Sơn nhấn mạnh.
Ngành gia cầm Việt Nam muốn vươn xa phải đầu tư đồng bộ từ chuỗi sản xuất xanh đến xây dựng thương hiệu. Cụ thể: Chăn nuôi sạch - công nghệ cao: Ứng dụng IoT, AI, tự động hóa để quản lý sản xuất, tối ưu năng suất, và truy xuất sản phẩm; Đóng gói và bảo quản tiêu chuẩn quốc tế: Đầu tư nhà máy đạt chuẩn HACCP, ISO, HALAL, để trứng, thịt gia cầm Việt có hộ chiếu toàn cầu; Mô hình ESG & tuần hoàn xanh: “Feed - Farm - Food - Fertilizer - Future” giảm phát thải, tái tạo tài nguyên, tạo hình ảnh trứng thịt gia cầm Việt sạch và an toàn. T.H
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Chủ tịch
VPA Nguyễn Thanh Sơn cho biết năm 2025 là năm đầu tiên Hiệp hội triển khai các mục tiêu chiến lược của nhiệm kỳ mới sau Đại hội cuối năm 2024, đồng thời đánh dấu bước chuyển từ tư duy sản xuất chăn nuôi truyền thống sang phát triển kinh tế chăn nuôi xanh, bền vững. Việc đổi tên
thành Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, cùng với
Điều lệ mới được Bộ Nội vụ phê duyệt và 15 bộ quy chế quản lý được ban hành, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động của Hiệp hội. Trong bối cảnh thị trường
biến động và áp lực cạnh tranh gia tăng, các doanh nghiệp hội viên vẫn thể hiện tinh
thần đoàn kết, đẩy mạnh ứng dụng khoa
học - công nghệ, chuyển đổi số và phát triển các mô hình chăn nuôi xanh, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng cơ hội xuất khẩu và từng bước khẳng định vị thế của ngành gia cầm Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe báo cáo tổng kết công tác năm 2025 và kế hoạch hoạt động năm 2026 của Hiệp hội do Phó Chủ tịch, kiêm Tổng Thư ký VPA Nguyễn Quý Khiêm trình bày.
Theo báo cáo, trong năm qua, VPA tập trung kiện toàn tổ chức, mở rộng hội viên và tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp thông qua cung cấp thông tin thị trường, kết nối giao thương, xúc tiến thương mại trong và ngoài
nước. Hiệp hội cũng tích cực tham gia phản biện chính sách, góp ý xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến chăn nuôi và thú y.
Ước tính, các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội sản xuất khoảng 530 - 550 triệu con gia cầm giống trong năm 2025, chiếm 65 - 70% thị phần cả nước. Nhiều doanh nghiệp tiếp tục đầu tư công nghệ hiện đại, phát triển chuỗi sản xuất, chế biến khép kín, góp phần nâng cao giá trị ngành hàng.
Năm 2026, VPA xác định một số nhiệm vụ trọng tâm như tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường đào tạo cho doanh nghiệp hội viên và phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy ngành gia cầm phát triển bền vững.
Tại Hội nghị, diễn đàn bàn tròn với chủ đề Nâng cao hiệu quả hoạt động của VPA được các đại biểu quan tâm, thảo luận tích cực nhờ đó có những góp ý được ghi nhận, tổng hợp để hoàn thiện phương hướng chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh của Hiệp hội, góp phần phát triển bền vững cho ngành gia cầm.
Cũng nhân dịp này, VPA đã tặng bằng khen cho 8 tập thể và 12 cá nhân có thành tích xuất sắc trong đóng hoạt động của Hiệp hội; hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển bền vững ngành gia cầm Việt Nam.
Kết luận tại Hội nghị, Chủ tịch VPA Nguyễn Thanh Sơn nhấn mạnh, năm 2026 dự báo ngành chăn nuôi vẫn còn nhiều thách thức. Thị trường thế giới tiếp tục biến động khó lường; chi phí đầu vào có thể gia tăng do những bất ổn địa chính trị, đặc biệt tại khu vực Trung Đông; đồng thời áp lực cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu và yêu cầu ngày càng cao về môi trường, phúc lợi động vật cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành chăn nuôi gia cầm.
Hội nghị lần này là dịp để Hiệp hội và các hội viên cùng nhìn lại kết quả hoạt động năm 2025, thẳng thắn đánh giá những hạn chế, tồn tại, đồng thời thảo luận và thống nhất các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp thực hiện trong năm 2026. Với tinh thần đó, Chủ tịch VPA Nguyễn Thanh Sơn bày tỏ kỳ vọng sau hội nghị hoạt động Hiệp hội sẽ đạt được nhiều kết quả thiết thực, góp phần thúc đẩy ngành gia cầm Việt Nam phát triển bền vững trong thời gian tới. BAN TRUYỀN THÔNG VPA
THAY ĐỔI CUỘC CHƠI
NGÀNH GIA CẦM TOÀN CẦU
Nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm toàn cầu tiếp tục tăng nhờ giá thành hợp lý và hiệu quả sản xuất cao. Song song với xu hướng này, các công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đang nhanh chóng thay đổi ngành ấp nở, giúp nâng cao năng suất, giảm phụ thuộc lao động và cải thiện phúc lợi vật nuôi, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho ngành gia cầm thế giới.
Thúc đẩy sản xuất quy mô lớn
2025 được xem là một năm tăng trưởng mạnh của ngành gia cầm toàn cầu. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm vẫn duy trì ổn định nhờ ba yếu tố cốt lõi: giá thành cạnh tranh, hiệu quả sản xuất cao và khả năng thích ứng linh hoạt với nhiều mô hình chăn nuôi. Xu hướng này được dự báo tiếp tục kéo dài trong năm 2026 khi gia cầm ngày càng trở thành nguồn protein phổ biến trên toàn thế giới.
Trong bối cảnh đó, đổi mới công nghệ đang đóng vai trò trung tâm, giúp ngành gia cầm tăng tốc cả về quy mô lẫn hiệu quả vận hành. Các công nghệ mới trong ngành ấp nở đang thay đổi sâu sắc cách thức vận hành truyền thống của các trại giống. Nếu trước đây nhiều công đoạn phụ thuộc vào lao động thủ công thì nay tự động hóa đang giúp các doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí nhân công và hạn chế sai sót do con người. Điều này đặc biệt quan trọng
ở những khu vực đang thiếu hụt lao động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Song song với tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành động lực chính thúc đẩy quá trình chuyển đổi của ngành. Nhờ AI, nhiều quy trình vốn tốn thời gian và đòi hỏi kỹ năng cao đã được chuẩn hóa, cho phép các cơ sở ấp nở mở rộng sản lượng nhanh chóng mà vẫn đảm bảo độ chính xác và ổn định. Một trong những ví dụ tiêu biểu cho xu hướng này là công nghệ WingScan do công ty công nghệ nông nghiệp TARGAN phát triển. Hệ thống này sử dụng máy học, công nghệ thị giác máy tính và hệ thống phân loại tự động để xác định giới tính gà con ngay sau khi nở - một khâu một khâu trước đây vốn phải thực hiện hoàn toàn bằng tay. Trong năm 2025, WingScan đã đạt tốc độ xử lý hơn 30 triệu con mỗi tuần với độ chính xác trung bình khoảng 97%. Tại những trại giống có chất lượng gà con cao và quy trình kiểm soát chặt chẽ, độ chính xác thậm chí có thể đạt 98 - 99%.
Quy mô vận hành của hệ thống cũng đang mở rộng nhanh chóng. Một số trại giống ứng dụng công nghệ này có thể xử lý từ 250.000 gà con mỗi tuần, trong khi những cơ sở lớn hơn có thể đạt công suất trên 3 triệu con. Trong hai năm gần đây, các hệ thống này duy trì thời gian hoạt động ổn định trên 99%, cho thấy mức độ tin cậy cao của nền tảng công nghệ.
Đến cuối năm 2025, TARGAN đã lắp đặt hơn 50 hệ thống WingScan trên toàn cầu, chủ yếu tại Mỹ, Canada và nhiều quốc gia châu Âu như Tây Ban Nha, Italy và Ba Lan. Tháng 5/2025 đánh dấu bước mở rộng quan trọng khi công nghệ này được giới thiệu tại khu vực Mỹ Latinh. Các hệ thống đầu tiên dự kiến bắt đầu vận hành từ quý II/2026 tại những thị trường lớn như Mexico, Colombia và Brazil. Song song đó, quá trình mở rộng cũng đang được triển khai tại châu Á và châu Đại Dương, góp phần đưa các giải pháp ấp nở ứng dụng AI trở thành xu hướng chung của ngành gia cầm toàn cầu.
Ảnh: Desa James
Ưu tiên phúc lợi vật nuôi
Bên cạnh mục tiêu nâng cao năng suất, ngành gia cầm hiện nay cũng phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ người tiêu dùng và các cơ quan quản lý về vấn đề phúc lợi động vật. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến điều kiện chăn nuôi, trong khi nhiều quốc gia bắt đầu siết chặt tiêu chuẩn về chăm sóc vật nuôi trong chuỗi sản xuất thực phẩm.
Trong bối cảnh đó, công nghệ tự động hóa trong ấp nở không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần cải thiện đáng kể phúc lợi của gà con. Việc tự động xác định giới tính giúp giảm đáng kể thao tác xử lý thủ công, từ đó hạn chế căng thẳng cho gà con ngay từ những giờ đầu sau khi nở.
Các hệ thống hiện đại được thiết kế với độ chính xác cao và tốc độ xử lý nhanh, giúp quá trình phân loại diễn ra nhẹ nhàng và đồng đều hơn so với phương pháp thủ công truyền thống. Mỗi lần quét, mỗi lần phân loại và mỗi giây vận hành đều được tối ưu hóa nhằm giảm thiểu tiếp xúc không cần thiết, góp phần cải thiện điều kiện phúc lợi vật nuôi.
Thực tế cho thấy, các giải pháp ứng dụng AI đang giúp các trại giống đạt được sự cân bằng giữa năng suất và trách nhiệm đạo đức trong sản xuất. Nhờ đó, các doanh nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường mà còn phù hợp với các tiêu chuẩn phúc lợi động vật đang được áp dụng tại nhiều quốc gia.
Sự lan rộng của công nghệ này tại nhiều châu lục cũng phản ánh một xu hướng lớn hơn: các mục tiêu công nghệ và đạo đức trong ngành thực phẩm đang dần hội tụ. Trong tương lai, những giải pháp kết hợp giữa tự động hóa, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng của ngành chăn nuôi gia cầm hiện đại.
Sự chuyển đổi này phản ánh nhu cầu rõ ràng của ngành: giảm phụ thuộc vào lao động, nâng cao phúc lợi vật nuôi và đảm bảo hiệu suất sản xuất ổn định. Công nghệ tự động hóa trong ấp nở đang đáp ứng đồng thời cả ba yêu cầu này, đặc biệt tại những cơ sở xử lý hàng triệu gà con mỗi tuần.
DŨNG NGUYÊN (Theo WorldPoultry)
Gia cầm bứt phá giữa làn sóng suy giảm thịt
toàn cầu
Thị trường protein tăng trưởng chậm lại Theo báo cáo triển vọng protein động vật toàn cầu năm 2026 của Rabobank, đà tăng trưởng sản xuất protein động vật trên thế giới đang chậm lại rõ rệt. Sau giai đoạn tăng trung bình khoảng 2% mỗi năm trong
5 năm gần đây, tổng sản lượng protein động vật được dự báo chỉ tăng khoảng 0,4% trong năm 2026. Năm nay được xem là cột mốc
khi sản lượng thịt từ các loài trên cạn lần
đầu tiên suy giảm sau sáu năm tăng liên tiếp, chủ yếu đến từ ba khu vực sản xuất lớn gồm
Trung Quốc, Brazil và khu vực Bắc Mỹ.
Trong cơ cấu các loại thịt, thịt bò được dự báo giảm mạnh nhất. Cùng đó, sản lượng thịt heo cũng đi xuống, khiến nguồn cung hai loại protein chủ lực eo hẹp hơn trên thị trường quốc tế. Nguồn cung hạn chế nhiều khả năng sẽ duy trì áp lực tăng giá ở phần lớn các thị trường. Tuy nhiên, chi phí thức ăn chăn nuôi ổn định phần nào giúp duy trì lợi nhuận cho người sản xuất.
Sự suy giảm của thịt bò và thịt heo cũng
mở ra khoảng trống cho các loại protein thay thế. Trong xu hướng đó, thịt gia cầm được hưởng lợi nhờ giá thành hợp lý, chu kỳ sản xuất ngắn và khả năng mở rộng nhanh. Báo cáo cho rằng cả cung và cầu thịt gia cầm trong năm 2026 đều có xu hướng tăng, đặc biệt khi nguồn cung các loại thịt cạnh tranh giảm bớt.
Dù vậy, ngành protein động vật vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Khi sản lượng thịt trên cạn giảm, các nhà chế biến có thể gặp khó khăn trong việc tận dụng hết công suất sản xuất, đồng thời nguy cơ gián đoạn thương mại cũng gia tăng. Điều này có thể kéo theo chi phí cao hơn và áp lực cầu lớn hơn, từ đó thu hẹp biên lợi nhuận trong chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, diễn biến giá giữa các nhóm protein sẽ ngày càng khác biệt. Giá thịt bò có thể tăng nhanh hơn lạm phát do nguồn cung hạn chế, trong khi chi phí hải sản tại Mỹ có thể tăng do các chính sách thuế mới. Những áp lực này có thể khiến người tiêu dùng chuyển sang các lựa chọn có giá thấp hơn trong cùng nhóm thực phẩm hoặc giữa các nhóm protein khác nhau.
Gia cầm dẫn dắt tăng trưởng Tại Bắc Mỹ, sản lượng gia cầm tăng mạnh vào cuối năm 2025 đã khiến thị trường tại Mỹ và Mexico rơi vào tình trạng dư cung khi bước sang năm 2026. Điều này khiến giá và lợi nhuận trong quý I suy yếu, dự kiến làm chậm tốc độ tăng trưởng sản xuất trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, thị trường được kỳ vọng sẽ phục hồi khi bước vào mùa xuân.
Tại Mỹ, sản lượng gà chế biến sẵn được dự báo tăng khoảng 1% trong năm 2026, chủ yếu nhờ trọng lượng thân thịt cao hơn, trong khi số lượng gia cầm giết mổ chỉ tăng nhẹ. Ở Mexico, sản lượng gà nguyên con có thể tăng khoảng 2% vào cuối năm. Chi phí thức ăn thấp tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp tối ưu hóa năng suất, dù nguy cơ từ dịch cúm gia cầm vẫn là yếu tố cần theo dõi. Ở châu Âu, sản lượng thịt gà được dự báo phục hồi dần trong năm 2026 với mức tăng khoảng 1,5 - 2%. Nhu cầu tiêu thụ vẫn duy trì mạnh, đặc biệt khi giá thịt bò tiếp tục ở mức cao. Tuy nhiên, nguồn cung hạn chế có thể khiến nhu cầu chỉ tăng khoảng 2 - 2,5%, trong khi giá được dự báo duy trì ở mức cao ít nhất trong nửa đầu năm. Nhập khẩu gia cầm của khối này cũng có xu hướng gia tăng.
Brazil tiếp tục củng cố vị thế là cường quốc xuất khẩu thịt gà. Xuất khẩu của nước này được dự báo đạt kỷ lục mới trong năm 2026 nhờ thương mại quốc tế dần ổn định, giá bán cạnh tranh và nguồn cung từ các đối thủ giảm. Rabobank dự báo xuất khẩu thịt gà của Brazil có thể tăng thêm 2 - 3% so với năm 2025.
Sang năm 2026, sản lượng gia cầm Thái Lan được dự báo tăng thêm 2 - 2,5%. Thị trường trong nước có thể vẫn tăng chậm, nhưng xuất khẩu được kỳ vọng tăng mạnh hơn, khoảng 4 - 5%. Tuy vậy, cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càng gay gắt, nhất là khi Brazil trở lại mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu.
ĐAN LINH (Tổng hợp)
Chăn nuôi gia cầm duy trì đà tăng trưởng
Nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng gia cầm sau Tết Nguyên đán nên chăn nuôi gia cầm tăng trưởng ổn định. Các cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn tiếp tục mở rộng sản xuất, bảo đảm nguồn cung cho thị trường. Tổng số gia cầm của cả nước tại thời điểm cuối tháng 2/2026 ước tính tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó đàn gà tăng 2,2%. Một số địa phương có đàn gia cầm tăng khá như: Nghệ An tăng 7,4%; Thanh Hóa tăng 5,8%; Tây Ninh tăng 3,6%; Đồng Nai tăng 2,8%. Tuy nhiên, tại một số tỉnh chịu ảnh hưởng của thời tiết bất lợi, dịch bệnh còn xuất hiện rải rác, đàn gia cầm giảm so cùng kỳ: Khánh Hòa giảm 2,6%, Đồng Tháp giảm 2,1%, Hải Phòng giảm 0,8%.
Giá gia cầm biến động nhẹ tại ba miền
Trong tháng 2, giá thu mua gà thịt lông màu biến động giảm nhẹ tại ba miền trên cả nước. Giá gà thịt lông màu tại miền Bắc giảm 1.000 đồng/kg xuống còn 54.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu tại miền Trung giảm 3.000 đồng/kg, hiện ở mức 48.000 đồng/ kg. Giá gà thịt lông màu tại miền Nam giảm 500 đồng/kg xuống còn 48.000 đồng/kg. Giá gà giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào. Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp tại miền Bắc tăng 3.000 đồng/kg lên 44.000 đồng/kg; miền Trung giảm 3.000 đồng/kg xuống 28.000 đồng/kg; miền Nam giảm 6.000 đồng/kg, hiện ở mức 27.000 đồng/kg.
Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi giảm so cùng kỳ
Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 2/2026 ước đạt 320 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 2 tháng đầu năm 2026 đạt 708,6 triệu USD, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Mỹ, Argentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 24,7%, 22,2% và 9,7%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 1 năm 2026 từ thị trường Mỹ tăng 86,5%, thị trường Trung Quốc tăng 39,9%, trong khi thị trường Argentina giảm 29,1%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Malaysia với mức tăng 6,4 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Brazil với mức giảm 38,2%.
Doanh
nghiệp thức ăn chăn nuôi đồng loạt tăng giá
Một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi tại khu vực phía Bắc vừa thông báo điều chỉnh tăng giá nhiều dòng sản phẩm từ đầu tháng 3/2026, với mức tăng phổ biến 200 - 300 đồng/kg do chi phí nguyên liệu và vận chuyển tăng cao.
Công ty EH Miền Bắc Việt Nam (các nhà máy tại Bắc Ninh, Hà Tây và Hải Phòng), chỉnh giá từ ngày 10/3/2026, các sản phẩm cám gia cầm thịt (trừ mã 3020 loại 25 kg và 40 kg), cám gia cầm đẻ và cám bò được điều chỉnh tăng 200 đồng/kg. Đến ngày 12/3/2026, Công ty tiếp tục tăng giá đối với các sản phẩm cám heo, cám đậm đặc và cám cá mã 3020, với mức tăng 300 đồng/kg.
Công ty TNHH Haid Hải Dương cũng thông báo điều chỉnh tăng giá một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi. Theo đó, từ ngày 8/3/2026,
các sản phẩm cám gia cầm thịt được điều chỉnh tăng 200 đồng/kg; từ ngày 10/3/2026, mức tăng tương tự áp dụng đối với nhóm cám gia cầm đẻ. Ngoài ra, từ ngày 12/3/2026, các sản phẩm cám heo của doanh nghiệp này cũng được điều chỉnh tăng 300 đồng/kg. Công ty TNHH New Hope Hà Nội cũng thông báo tăng giá đối với các sản phẩm thức ăn chăn nuôi mang thương hiệu Hope, New Hope, More và Hopefull. Cụ thể, từ ngày 10/3/2026, sản phẩm hỗn hợp gia cầm tăng 200 đồng/kg. Từ ngày 12/3/2026, các sản phẩm cám heo, cám cá và cám đậm đặc tăng thêm 300 đồng/kg, áp dụng tại các nhà máy ở Hà Nội, Hải Phòng và Bắc Giang.
Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Đại Úy, Công ty TNHH Dinh dưỡng Quốc tế ERO Farm hay Công ty TNHH Gold Coin Feedmill Hà Nam cũng đều có mức tăng tương tự và dự kiến áp dụng từ tháng 3/2026.
Việc nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đồng loạt tăng giá trong thời gian gần đây được dự báo sẽ tạo thêm áp lực chi phí đối với người chăn nuôi, nhất là trong bối cảnh giá thức ăn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất của ngành chăn nuôi.
THANH HÓA
Giá trứng giảm mạnh
Khảo sát tại các chợ dân sinh, những ngày qua, giá trứng gia cầm đều giảm mạnh so với thời gian trước. Cụ thể, trứng gà trắng bán lẻ với mức từ 2.200 - 2.500 đồng/quả; trứng gà đỏ 2.000 đồng/ quả; trứng vịt 2.500 - 2.700 đồng/quả... So với thời điểm trước Tết, giá trứng gà, vịt đã giảm từ 7.000 - 10.000 đồng/chục; trứng chim cút giảm 3.000 đồng/chục. Với giá trứng hiện tại, người chăn nuôi gà, vịt đẻ đang chịu thua lỗ. Thực tế cho thấy, mặc dù chăn nuôi lớn nhưng giá thành sản phẩm luôn bấp bênh, phụ thuộc thị trường. Có thời kỳ, cao điểm giá trứng tăng trên 30.000 đồng/chục, nhưng cũng có giai đoạn xuống rất thấp.Theo các hộ chăn nuôi, sở dĩ hiện tại giá trứng giảm là do sau Tết, nhu cầu thực phẩm giảm. Việc cung cấp trứng cho các công ty, doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo, bếp ăn tập thể cũng giảm. Trong khi đó, gia cầm vẫn đẻ trứng đều đặn dẫn đến tình trạng cung vượt cầu.
QUẢNG TRỊ
Nuôi chim cút lãi hơn 200 triệu đồng/năm
Năm 2021, anh Nguyễn Quang Linh (Quảng Trị) quyết định nghỉ việc tại một cơ quan nhà nước để khởi nghiệp với mô hình nuôi chim cút thương phẩm. Anh mạnh dạn vay khoảng 600 triệu đồng đầu tư xây dựng chuồng trại và mua lứa chim cút đầu tiên. Anh chủ động tìm tòi, áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, cải tiến hệ thống thông gió, máng ăn và điều chỉnh mật độ nuôi để hạn chế dịch bệnh, nâng cao sức khỏe đàn chim. Từ quy mô nhỏ ban đầu, đến nay trang trại của anh đã phát triển lên gần 15.000 con chim cút, mỗi ngày cung ứng ra thị trường hàng nghìn quả trứng. Sản phẩm được thu gom, đóng gói và phân phối đến các chợ, cửa hàng và đầu mối trong tỉnh. Nhờ mô hình này, mỗi năm trang trại của anh Linh đạt doanh thu khoảng 700 - 800 triệu đồng, lợi nhuận trên 200 triệu đồng. Không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho gia đình, trang trại còn tạo việc làm thời vụ cho một số lao động địa phương.
(Tổng hợp)
THẾ GIỚI
Giá thịt gà biến động trước xung đột chính trị Trung Đông
Thị trường thịt gà toàn cầu đang đối mặt nguy cơ biến động khi các nhà nhập khẩu theo dõi sát tác động của xung đột địa chính trị tới thương mại và vận chuyển. Một thương nhân Brazil cho rằng, giá các mặt hàng như ức gà, đùi gà và thịt gà shawarma có thể suy yếu trong thời gian tới. Các lô hàng đùi gà rút xương đến nay vẫn ít bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, một nhà xuất khẩu tại Nhật Bản dự báo nguồn cung thị trường gà nướng nguyên con có thể gián đoạn, dù mức độ không lớn. Tại Hàn Quốc, các nhà nhập khẩu cho biết nguồn cung hiện vẫn ổn định. Một số chuyến hàng đi qua kênh đào Suez nhưng chưa ghi nhận tình trạng chậm trễ. Trong khi đó, các nhà nhập khẩu tại Singapore đang áp dụng chiến lược “chờ và quan sát”, theo dõi nguy cơ gián đoạn vận chuyển có thể đẩy chi phí vận tải tăng. Ngày 4/3, giá đùi gà CFR Bắc Á được Platts đánh giá ở mức 3.250 USD/tấn, tăng 50 USD/tấn so với ngày trước đó.
Ngành gia cầm tăng trưởng ổn định nhờ nhu cầu nội địa mạnh Ngành gia cầm Ấn Độ dự báo xuất khẩu sang Trung Đông có thể chịu tác động nhất định do căng thẳng mới tại Iran, song nhu cầu tiêu thụ trong nước được kỳ vọng sẽ giúp giảm bớt ảnh hưởng từ sự sụt giảm này. Ông Ricky Thaper, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Gia cầm Ấn Độ cho biết, tình hình bất ổn tại Tây Á có khả năng tác động đến xuất khẩu sản phẩm gia cầm sang các nước Trung Đông. Trong năm tài chính 2024 - 2025, Ấn Độ đã xuất khẩu sang khu vực này lượng sản phẩm gia cầm trị giá 168,77 triệu USD, tương đương khoảng 1.034 tấn. Các thị trường chính của gia cầm Ấn Độ gồm Oman, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Maldives, Indonesia và Việt Nam. Theo ông Thaper, trong năm tài chính hiện tại, nhu cầu từ UAE và Oman tăng đáng kể. Tuy vậy, xuất khẩu gia cầm vẫn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn ngành. Gần đây, Saudi Arabia đã tạm dừng nhập khẩu gia cầm từ Ấn Độ do các đợt bùng phát cúm gia cầm.
TRUNG QUỐC
Hồng Kông cấm nhập gia cầm từ Nhật Bản và
Đan Mạch
Hồng Kông đã tạm dừng nhập khẩu các sản phẩm gia cầm từ Nhật Bản và Đan Mạch sau khi phát hiện các ổ dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) tại hai quốc gia này. Trung tâm An toàn Thực phẩm Hồng Kông cho biết, lệnh cấm có hiệu lực ngay lập tức, áp dụng đối với thịt gia cầm và trứng có nguồn gốc từ tỉnh Iwate (Nhật Bản) và đô thị Holbaek (Đan Mạch). Biện pháp được triển khai mang tính phòng ngừa nhằm ngăn nguy cơ lây lan virus cúm gia cầm vào thị trường nội địa. Cơ quan chức năng nhấn mạnh lệnh tạm ngừng chỉ áp dụng với các khu vực có dịch, không ảnh hưởng đến nguồn cung gia cầm từ những vùng khác chưa ghi nhận bùng phát dịch. Đến nay, chưa có bằng chứng cho thấy cúm gia cầm lây sang người qua việc tiêu thụ thịt gia cầm được nấu chín đúng cách.
THÁI LAN
Xuất khẩu gà chế biến tiếp tục tăng
Xuất khẩu các sản phẩm gà chế biến của Thái Lan tiếp tục ghi nhận tháng tăng trưởng thứ hai liên tiếp trong tháng 1, đạt 271,4 triệu USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, theo Bộ Thương mại nước này. Tổng lượng thịt gà và các sản phẩm liên quan xuất khẩu đạt 111.248 tấn, tăng 9,21% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, giá trị kim ngạch chỉ tăng nhẹ 1,01%, lên 388,07 triệu USD, cho thấy giá xuất khẩu bình quân có xu hướng giảm. Các thị trường ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể gồm Nhật Bản, Hà Lan và Singapore, tiếp tục là những điểm đến quan trọng đối với sản phẩm gà của Thái Lan. Tính chung cả năm 2025, Thái Lan đã xuất khẩu khoảng 1,2 triệu tấn thịt gà và các sản phẩm từ gà, tăng 4,92% so với năm trước, củng cố vị thế của nước này trong nhóm các nhà xuất khẩu gia cầm lớn trên thế giới.
IRAN Ngành gia
ăn chăn nuôi
Ngành gia cầm Iran đang rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng khi thiếu thức ăn, đồng nội tệ lao dốc và chi phí tăng vọt. Truyền thông địa phương cho biết tại một số trang trại, gà đã bắt đầu mổ và ăn lẫn nhau do không được cung cấp đủ thức ăn. Nguyên nhân chính là tình trạng thiếu ngoại tệ để nhập khẩu ngô và khô đậu tương. Theo cựu CEO Liên hiệp Trung ương Nông dân Gia cầm Iran, ngành này mỗi tháng cần khoảng 240.000 tấn ngô và 160.000 tấn khô đậu tương, nhưng nguồn cung gần đây sụt giảm mạnh do khủng hoảng tiền tệ. Đồng rial đã mất giá nghiêm trọng, có lúc vượt 1,5 triệu rial đổi 1 USD, khiến khả năng nhập khẩu của chính phủ bị hạn chế. Nhiều nông dân buộc phải mua thức ăn trên thị trường tự do với giá “trên trời”, vượt quá khả năng của các trang trại nhỏ. Trước rủi ro thua lỗ, nhiều nhà sản xuất đã cắt giảm chăn nuôi và giảm mua gà giống, làm dấy lên nguy cơ thiếu nguồn cung và giá thịt gà tăng mạnh trong thời gian tới.
NGA
Thúc đẩy xuất khẩu gia cầm bằng chương trình tín dụng ưu đãi
Bộ Nông nghiệp Nga đang triển khai kế hoạch cấp các khoản vay ưu đãi lãi suất cho doanh nghiệp sản xuất thịt gà và trứng, nhằm thúc đẩy xuất khẩu sang Trung Đông và Trung Quốc. Theo Thứ trưởng Nông nghiệp Roman Nekrasov, hai lĩnh vực này sẽ được bổ sung vào danh sách ngành được hỗ trợ, với mức trợ cấp tương đương 70% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Trung ương Nga, hiện ở mức 15,5%. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ đủ điều kiện nhận hỗ trợ nếu đáp ứng các tiêu chí đầu tư và sản xuất. Các nhà sản xuất gà thịt phải đầu tư xây dựng cơ sở giống, trong khi doanh nghiệp trứng cần bảo đảm ít nhất 30% sản lượng là sản phẩm chế biến sâu. Điều kiện này nhằm tránh dư cung trong nước và tăng khả năng xuất khẩu, đồng thời khiến các tập đoàn chăn nuôi lớn trở thành nhóm hưởng lợi chính.
TUẤN MINH (Tổng hợp)
Bàn giao máy phân loại trứng công suất
Ngày 26/2/2025, Công ty TNHH B.H.N chính thức khai xuân đầu
năm bằng việc bàn giao hai máy phân loại trứng công suất 10.000 trứng/giờ cho khách hàng tại phường Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh. Đây là dấu mốc khởi đầu đầy thuận lợi, mở ra một năm mới với nhiều dự
án cung cấp máy phân loại trứng cho các trang trại trên toàn quốc.
Phường Vũng Tàu là khu vực có số lượng
khách hàng lựa chọn máy phân loại trứng
của B.H.N nhiều nhất, với số lượng hơn10 trang trại đang sử dụng. Đặc biệt, có những hệ thống đã lắp đặt và đang vận hành ổn định suốt các năm qua. Công ty đã bán nhiều máy tại Vũng Tàu trong hơn 10 năm qua. Không chỉ máy 10.000 trứng/giờ mà còn cả máy công suất lớn 30.000 trứng/giờ. Năm 2026, B.H.N rất vui khi tiếp tục cung cấp thêm 2 máy mới. Dù đã hơn 10 năm trôi qua, các máy vẫn đang vận hành rất tốt. Điều đó không chỉ khẳng định độ bền bỉ của thiết bị mà còn minh chứng rõ ràng cho uy tín, chất lượng và những cam kết lâu dài mà B.H.N luôn đặt lên hàng đầu.
Để chuyến giao hàng diễn ra đúng tiến độ, đội kỹ thuật đã phối hợp chặt chẽ với bộ phận chăm sóc khách hàng và kinh doanh để lên kế hoạch vận chuyển, điều phối nhân sự và thông báo thời gian cụ thể để khách hàng chủ động tiếp nhận máy phân loại trứng theo lịch hẹn.
Trong tiết trời xuân với những cơn mưa nhẹ - “lộc trời” đầu năm, đội ngũ B.H.N vẫn triển khai đóng gói, bốc xếp và vận chuyển máy phân loại trứng cẩn thận, đảm bảo thiết bị luôn an toàn, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết hay quá trình di chuyển.
Nhờ tác phong làm việc chuyên nghiệp, B.H.N đã tổ chức giao và lắp đặt máy phân loại trứng cho 2 khách hàng trong cùng một ngày. Với kinh nghiệm nhiều năm lắp đặt thiết bị ngành trứng cùng sự phối hợp nhịp nhàng giữa đội kỹ thuật và chuyên gia Hàn Quốc, hệ thống máy phân loại trứng đã được
vận hành thành công, mang lại sự hài lòng cao cho khách hàng.
Máy phân loại trứng giúp trang trại nâng cao năng suất, phân loại chính xác theo kích cỡ, giảm chi phí nhân công và tối ưu quy trình đóng gói. Đây là giải pháp thiết thực cho các cơ sở chăn nuôi trứng hiện đại. Máy phân loại trứng công suất 10.000 trứng/giờ là thiết bị không thể thiếu đối với các trang trại chăn nuôi quy mô vừa và lớn. Hệ thống giúp tự động hóa quy trình phân loại, nâng cao năng suất và giảm chi phí vận hành, từ đó tối ưu hiệu quả kinh doanh trứng thương phẩm
cường độ tin cậy cho đối tác.
3. Giảm chi phí nhân công dài hạn Việc tự động hóa quy trình giúp giảm đáng kể lao động thủ công trong khâu phân loại và thu gom. Trang trại có thể tối ưu hóa chi phí nhân sự mà vẫn duy trì hiệu suất làm việc ở mức cao.
4. Vết nứt và khối sản phẩm
1. Máy phân loại trứng giúp tăng cường năng suất mỗi ngày
Với công suất 10.000/giờ, máy phân loại giúp trang trại xử lý khối lượng lớn trong thời gian ngắn. Nhờ đó, tiến trình giao hàng được đảm bảo, đặc biệt phù hợp với các đơn vị cung cấp cho siêu thị, nhà phân phối hoặc xuất khẩu.
2. Phân loại chính theo chất lượng
Hệ thống cân điện tử và băng tải tự động giúp máy phân loại trứng phân chia theo cấp độ rõ ràng, đồng đều. Điều này nâng cao giá trị sản phẩm, tạo ra sự chuyên nghiệp và tăng
Cơ chế chuyển động và đồng thời giúp chuyển một cách an toàn trong suốt quá trình phân loại. Nhờ đó, tỷ lệ nứt gãy, góp phần nâng cao lợi nhuận cho trang trại lửa.
5. Quy trình đóng gói và xuất bán tối ưu
Sau khi phân loại, trứng được thu thập theo từng kích thước, giúp đóng gói nhanh chóng, đồng nhất quy trình và thuận tiện cho việc bảo quản, vận hành.
6. Nâng cao hình ảnh và năng lực sản xuất Ứng dụng máy phân loại trứng giúp trang trại vận hành theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, dễ dàng mở rộng quy mô và đáp ứng tiêu chuẩn của các kênh phân phối lớn. B.H.N
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N
Điện thoại: 028.668.101.95~96
Web: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh
Với sự ủng hộ của nhiều tổ chức, hiệp hội trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi tại Việt Nam, VietAgros 2026 được kỳ vọng sẽ góp phần nâng tầm chuỗi giá trị, kết nối đối tác chiến lược, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy nông nghiệp xanh, bền vững.
Tiêu dùng xanh thúc đẩy sản xuất xanh
Người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường. Tiêu dùng xanh hiện không chỉ là xu hướng, mà trong những năm gần đây đã trở thành nhu cầu tất yếu.
Kết quả khảo sát xu hướng tiêu dùng xanh cho thấy, có 59% số người tiêu dùng cho biết họ sẽ gia tăng sử dụng sản phẩm xanh và tiêu dùng xanh trong thời gian tới, đồng thời sẵn sàng chi trả tăng thêm để có thể sử dụng sản phẩm xanh ở những mức độ khác nhau. Vì vậy, nếu có lực lượng đông đảo người tiêu dùng ủng hộ sản phẩm xanh, sẵn sàng chấp nhận mức chi phí cao hơn, thì sản xuất xanh và tiêu dùng xanh hứa hẹn
có dư địa phát triển. Khi sức tiêu thụ của sản phẩm xanh tốt hơn và sự dịch chuyển trong hành vi mua sắm của người tiêu dùng hướng đến tiêu dùng xanh sẽ là động lực để thúc đẩy sản xuất xanh, bền vững.
Được sự chấp thuận của UBND TP Cần
Thơ, Công ty TNHH Kết nối Nông nghiệp và Môi trường Việt (Connect) phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) TP Cần Thơ cùng các đơn vị liên quan tổ chức VietAgros 2026 tại TP Cần Thơ từ ngày 911/6/2026 tại Công viên Sông Hậu, phường Cái Khế. Sự kiện có hơn 200 gian hàng của các tổ chức, tập đoàn, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước tham gia trưng bày, giới thiệu các dịch vụ, máy móc, công nghệ trong lĩnh vực NN&MT, sản phẩm OCOP, đặc sản vùng miền. Giới thiệu giống, vật tư nông nghiệp, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết quả nghiên cứu mới trong lĩnh vực NN&MT, giúp nông dân, doanh nghiệp vùng ĐBSCL tiếp cận, lựa chọn những sản phẩm, giải pháp công nghệ phù hợp, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đáp ứng ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Mở rộng không gian kết nối
VietAgros 2026 là cơ hội để các doanh nghiệp trong và ngoài nước gặp gỡ, giao lưu, và chia sẻ các giải pháp tiên tiến trong ngành nông nghiệp, góp phần thúc đẩy sự
➢ VietAgros 2026 không chỉ là sự kiện xúc tiến thương mại thường niên quan trọng của ngành, mà còn hướng tới mục tiêu “vươn tới kỷ nguyên xanh”, thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, thân thiện, hội nhập quốc tế; góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc
tế về môi trường và phát triển bền vững.
phát triển bền vững và tạo ra nhiều cơ hội hợp tác, kết nối trong ngành.
Với sự quy tụ của hàng trăm doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp, bao gồm các nhà sản xuất, nhà phân phối, công ty công nghệ, và các tổ chức quốc tế; sự kiện không chỉ là nơi trưng bày sản phẩm mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, xây dựng mối quan hệ chiến lược, và khám phá các cơ hội hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp.
Với sự tham gia của các doanh nghiệp, nhà đầu tư, và tổ chức quốc tế, VietAgros 2026 sẽ là nền tảng kết nối các bên, tạo ra cơ hội hợp tác giữa các công ty trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp sẽ có thể tìm kiếm đối tác chiến lược, xây dựng mối quan hệ lâu dài và khám phá các cơ hội kinh doanh mới. VietAgros 2026 là cơ hội tuyệt vời để các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Sự kiện thu hút
sự quan tâm của các nhà phân phối, nhà đầu tư quốc tế, mang lại cơ hội cho các sản phẩm nông sản Việt Nam được tiêu thụ ở các thị trường quốc tế.
VietAgros 2026 diễn ra 3 phiên hội thảo, tập trung vào các chủ đề về chiến lược xanh cho ngành nông nghiệp, công nghệ nuôi trồng bền vững, tối ưu hóa và tăng trưởng xanh. Hội thảo dự kiến có sự tham gia các chuyên gia đầu ngành đến từ các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong nước và quốc tế; hứa hẹn mang đến góc nhìn toàn diện và hiệu quả cho các hoạt động xúc tiến thương mại, chuyển giao công nghệ, là cơ hội kết nối, hợp tác, trao đổi thông tin và định hướng chiến lược cho các bên tham gia, hướng đến một nền nông nghiệp - chăn nuôi hiện đại, hiệu quả và bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Kết nối Nông nghiệp và Môi trường Việt Điện thoại: 098 666 7926
Email: Info@vietagros.vn
Web: Vietagros.vn
DE HEUS - HÙNG
NHƠN
Kiến tạo chuỗi giá trị nông nghiệp minh bạch
cho thập niên phát triển mới
Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chuyển mạnh sang hướng xanh, minh bạch và hội nhập quốc tế, việc xây dựng các chuỗi giá trị tích hợp đang trở thành xu hướng tất yếu. Hợp tác chiến lược giữa De Heus và Hùng Nhơn giai đoạn 2026 - 2036 được kỳ vọng góp phần hình thành hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi nước ta.
Hình thành mô hình liên kết nông nghiệp quy mô lớn
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu rộng, khi yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết. Do vậy, việc xây dựng các chuỗi giá trị nông nghiệp khép kín, ứng dụng công nghệ cao và liên kết chặt chẽ giữa các thành phần trong chuỗi đang trở thành hướng đi tất yếu.
Một trong những mô hình tiêu biểu cho xu hướng này là sự hợp tác giữa De Heustập đoàn dinh dưỡng vật nuôi hàng đầu thế giới đến từ Hà Lan và Hùng Nhơn Group - doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Hai doanh nghiệp đã công bố chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững giai đoạn 2026 - 2036, tái khẳng định cam kết đầu tư lâu dài tại Việt Nam và đồng hành cùng người chăn nuôi trong quá trình hiện đại hóa ngành chăn nuôi.
Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, nông nghiệp Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, trong đó vai trò của khu vực doanh nghiệp ngày càng được khẳng định. Theo ông, bên cạnh hệ thống chính sách và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, các doanh nghiệp đang trở thành lực lượng dẫn dắt quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hình
thành các chuỗi liên kết sản xuất bền vững. “Sự hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn là mô hình tiêu biểu trong việc xây dựng chuỗi sản xuất chăn nuôi hiện đại, ứng dụng công nghệ cao và bảo đảm an toàn sinh học”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.
Ông Tiến cũng cho rằng, khi các doanh nghiệp, ngân hàng, hợp tác xã và người nông dân cùng tham gia vào chuỗi liên kết, năng suất và chất lượng sản phẩm sẽ được nâng cao, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.
Tham dự sự kiện, ông Kees van Baar, Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam chia sẻ, Hà Lan và Việt Nam có nhiều tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt
là trong phát triển chăn nuôi, quản lý chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị sản phẩm.
“Những mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước, như sự hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn Group, đang góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao tính minh bạch của chuỗi sản xuất và tạo ra các sản phẩm thực phẩm an toàn, bền vững cho thị trường”, ông Kees van Baar nhấn mạnh.
Hình thành hệ sinh thái chăn nuôi - chế biến quy mô lớn Trên thực tế, hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn Group đã được triển khai từ nhiều năm trước thông qua hàng loạt dự án chăn nuôi công nghệ cao tại khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên. Hai bên hiện đang triển khai 15 dự án tại Tây Ninh và khu vực Tây Nguyên với tổng vốn đầu tư khoảng 12.400 tỷ đồng.
Trong đó, tỉnh Tây Ninh được xác định là địa bàn trọng điểm của chuỗi liên kết với 12 dự án, tổng vốn đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng, đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành hệ sinh thái chăn nuôi - chế biến - xuất khẩu quy mô lớn.
Các dự án này được xây dựng theo mô hình chăn nuôi công nghiệp hiện đại, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp như tự động hóa trong quản lý trang trại, hệ thống kiểm soát an toàn sinh học nghiêm ngặt và các tiêu chuẩn sản xuất quốc tế.
Khi toàn bộ hệ thống đi vào vận hành, chuỗi dự án dự kiến đạt quy mô 80 triệu gà giống mỗi năm, 25 triệu gà thịt phục vụ xuất khẩu mỗi năm và 10.000 con heo cụ kỵ, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.
Điểm nhấn đáng chú ý trong chuỗi dự án là nhà máy giết mổ và chế biến gia cầm công nghệ cao, sử dụng dây chuyền hiện đại từ châu Âu, đáp ứng nhiều tiêu chuẩn quốc tế như Halal, ISO 22000 và FSSC 22000. Không chỉ góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm chăn nuôi, dự án này còn mở ra cơ hội lớn để sản phẩm gia cầm Việt Nam tiếp cận các thị trường xuất khẩu có yêu cầu khắt khe.
Việt Nam trong chiến lược toàn cầu
của De Heus
Ông Gabor Fluit, Tổng Giám đốc Tập
đoàn Hoàng gia De Heus cho biết, Việt Nam hiện là một trong những thị trường quan trọng nhất của tập đoàn trên toàn cầu. Sau
ÔNG JOHAN VAN DEN BAN
Tổng Giám đốc De Heus Việt Nam và châu Á
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang đối mặt với nhiều rủi ro như dịch bệnh, biến động thị trường và yêu cầu ngày càng cao về an toàn sinh học, việc xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ trở nên đặc
biệt quan trọng. Thông qua các chuỗi liên kết này, người chăn nuôi có thể cải thiện hệ thống trang trại, nâng cao tiêu chuẩn an toàn sinh học và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.
khi De Heus hoàn tất việc tiếp nhận hoạt
động của CJ Feed & Care tại châu Á, vai trò của Việt Nam trong chiến lược phát triển của tập đoàn càng trở nên nổi bật.
“Chúng tôi nhìn thấy ở Việt Nam rất nhiều tiềm năng phát triển. Dù còn không ít thách thức, nhưng nếu nhìn về dài hạn, đây là thị trường có cơ hội rất lớn cho ngành chăn nuôi và nông nghiệp”, ông bày tỏ.
Thời gian tới De Heus sẽ tiếp tục phát triển các chuỗi liên kết trong ngành chăn nuôi thông qua hợp tác với những đối tác chiến lược tại Việt Nam, trong đó Hùng Nhơn là một trong những đối tác quan trọng. Bên cạnh đó, tập đoàn sẽ mở rộng các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả và giá trị cho toàn bộ chuỗi.
Một yếu tố khác được lãnh đạo De Heus đặc biệt nhấn mạnh là vai trò của hệ thống tài chính. Theo ông Gabor, để chuỗi giá trị phát triển bền vững, cần có sự tham gia của các ngân hàng và tổ chức tài chính nhằm hỗ trợ người chăn nuôi tiếp cận nguồn vốn và công nghệ.
Ở góc độ điều hành tại khu vực, ông Johan van den Ban, Tổng Giám đốc De Heus Việt Nam và châu Á cho rằng, phát triển chuỗi giá trị bền vững là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của ngành chăn nuôi Việt Nam. Ông Johan cho biết, De Heus sẽ tiếp tục đầu tư vào hệ thống con giống chất lượng cao và cung cấp các giải pháp dinh dưỡng, kỹ thuật giúp người chăn nuôi giảm chi phí sản xuất.
Minh bạch hóa chuỗi giá trị “từ trang trại đến bàn ăn”
Ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hùng Nhơn Group cho rằng, minh bạch hóa chuỗi giá trị là yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Theo đó, toàn bộ các khâu từ sản xuất thức ăn chăn nuôi, con giống, trang trại đến chế biến và xuất khẩu cần được kết nối thông tin và quản lý minh bạch.
“Chúng tôi hướng tới từng bước ứng dụng chuyển đổi số để người tiêu dùng, cơ quan quản lý và báo chí có thể kiểm chứng rõ ràng nguồn gốc sản phẩm,” ông cho biết. Ông nhấn mạnh thêm, sự tham gia của các doanh nghiệp FDI không phải là sự cạnh tranh mà là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam học hỏi công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, để chuỗi liên kết phát triển bền vững, nông dân và hợp tác xã cần cam kết minh bạch và tôn trọng hợp đồng, bởi uy tín là yếu tố quan trọng để duy trì hợp tác lâu dài.
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ, các mô hình liên kết quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và minh bạch hóa chuỗi giá trị đang trở thành hướng đi tất yếu. Sự hợp tác giữa De Heus và Hùng Nhơn vì vậy không chỉ mang ý nghĩa đối với hai doanh nghiệp, mà còn được kỳ vọng góp phần định hình mô hình chuỗi giá trị chăn nuôi hiện đại cho Việt Nam trong thập niên phát triển mới.
THÙY KHÁNH
Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch VPA Nguyễn Thanh Sơn đánh giá cao hoạt động sản xuất kinh doanh của MIAVIT Việt Nam, đặc biệt là các sản phẩm dinh dưỡng và phụ gia thức ăn chăn nuôi. Nhiều hội viên của VPA đã sử dụng sản phẩm của Miavit và ghi nhận hiệu quả tích cực trong sản xuất.
Chủ tịch VPA cho rằng, việc MIAVIT đặt nhà máy tại Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và phát triển cùng cộng đồng doanh nghiệp trong ngành. Sự tham gia của MIAVIT Việt Nam góp phần củng cố “ngôi nhà chung” của Hiệp hội, đồng thời mở ra nhiều cơ hội hợp tác trong nâng cao năng lực sản xuất, ứng dụng công nghệ và thúc
đẩy phát triển bền vững ngành gia cầm.
Trong khuôn khổ chương trình, VPA
đã trao Giấy chứng nhận và gắn biển hội
viên cho MIAVIT Việt Nam. Nghi thức này
MIAVIT VIỆT NAM Vinh
Sáng 7/3, tại Đồng Nai, lãnh đạo Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) đã trao Giấy chứng nhận và gắn biển hội viên cho Công ty TNHH
MIAVIT Việt Nam, doanh nghiệp sản xuất premix, vitamin và phụ gia dinh dưỡng cho chăn nuôi thuộc Tập đoàn MIAVIT (Đức). Sự kiện đánh dấu bước hợp tác mới, góp phần tăng cường liên kết và phát triển bền vững trong “ngôi nhà chung” VPA.
không chỉ ghi nhận sự tham gia chính thức của doanh nghiệp vào Hiệp hội mà còn thể hiện sự đánh giá cao đối với những đóng góp của MIAVIT trong việc thúc đẩy liên kết chuỗi và giao thương nội khối giữa các doanh nghiệp trong ngành.
Công ty TNHH MIAVIT (MIAVIT GmbH) có trụ sở chính tại Essen Oldb. (Đức), được thành lập năm 1964 và hiện đã bước sang thế hệ thứ ba. Nguyên tắc định hướng của doanh nghiệp gia đình chúng tôi từ trước đến nay luôn là: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Tên gọi MIAVIT là viết tắt của các thành phần dinh dưỡng quan trọng trong premix của chúng tôi, bao gồm khoáng chất (Minerals), axit amin (Amino acids) và vitamin (Vitamins). Với vai trò là đối tác chuyên nghiệp trong lĩnh vực phụ gia thức ăn chăn nuôi, khoáng và vitamin, Công ty
cung cấp danh mục sản phẩm đa dạng, chất lượng cao dưới nhiều dạng: Dạng bột, dạng sệt và dạng lỏng.
Là công ty dẫn đầu trong lĩnh vực premix tại Đức, MIAVIT cung cấp cho khách hàng: Premix thiết kế theo yêu cầu; Sản phẩm dạng lỏng (bổ sung dinh dưỡng dạng lỏng); Phụ gia thức ăn chăn nuôi hòa tan trong nước; Nguyên liệu dạng bột; Phụ gia thức ăn, chất chống ôxy hóa và chất hấp phụ độc tố; Vitamin E50; Choline chloride; Premix và sản phẩm chuyên biệt cho ngành thức ăn thú cưng; Các giải pháp phụ gia sáng tạo nhằm tăng sản lượng biogas; Gia công sản xuất theo hợp đồng (ví dụ: thức ăn khoáng); Dịch vụ sản xuất theo thương hiệu riêng. Tất cả sản phẩm đều được sản xuất với độ chính xác tuyệt đối tại các nhà máy hiện đại, đồng thời được kiểm tra thường xuyên bởi các phòng thí nghiệm đạt chuẩn. Trong
quá trình phát triển sản phẩm, Công ty luôn chú trọng tới dinh dưỡng vật nuôi hiện đại và thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, MIAVIT chỉ hợp tác với những nhà cung cấp đáng tin cậy và được chứng nhận.
Đội ngũ của Công ty gồm các chuyên gia được đào tạo bài bản, đa ngành, luôn cung cấp các giải pháp riêng biệt, định hướng theo nhu cầu khách hàng, từ đó đảm bảo chất lượng dịch vụ cao nhất. Khách hàng luôn là trọng tâm trong mọi hoạt động của MIAVIT.
Vì lợi ích của sức khỏe vật nuôi, MIAVIT đang hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Ngoài trụ sở chính tại Essen Oldb (Đức), Công ty còn có ba nhà máy sản xuất, một
nhà máy tại Tarragona (Tây Ban Nha); một nhà máy tại Long Thành, Đồng Nai (Việt Nam) và một nhà máy tại Thổ Nhĩ Kỳ. Sản phẩm của Công ty hiện được phân phối tới hơn 80 quốc gia, với tỷ lệ xuất khẩu trên 50%. MIAVIT không ngừng tăng trưởng và đổi mới. Doanh thu của Công ty được tái đầu tư thường xuyên vào nghiên cứu và sản xuất, đặc biệt tại cơ sở Essen. Trong những năm gần đây, quy mô cơ sở MIAVIT đã tăng hơn gấp đôi, với 16 dây chuyền trộn Premix độc lập điều khiển bằng máy tính; Trung tâm logistics được mở rộng gấp đôi; Nhà máy sản xuất sản phẩm lỏng mới đạt chứng nhận FSSC 22000; Tòa nhà văn phòng hiện đại mới. Công ty đang tiếp
tục phát triển mạnh mẽ. Cơ sở vật chất hiện đại, tiêu chuẩn cao và đội ngũ nhân sự chất lượng chính là nền tảng giúp MIAVIT phát triển và không ngừng đổi mới. MIAVIT không chỉ là một nhà sản xuất mà còn là đối tác đáng tin cậy. Cam kết của Công ty là biến những thách thức phức tạp thành các giải pháp thông minh, đáng tin cậy và phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Với trách nhiệm xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị, từ công thức sản phẩm, sản xuất, đóng gói đến logistics và giao hàng, MIAVIT luôn đảm bảo chất lượng vượt trội trong từng bước thực hiện.
Olmix Asialand Việt Nam, Nông nghiệp Kỷ Nguyên Xanh
và VMC Việt Nam ký hợp tác chiến lược
Sáng 6/3, tại TP Hồ Chí Minh, Công ty CP Nông nghiệp Kỷ Nguyên Xanh, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam và Công ty CP SX&TM VMC
Việt Nam ký Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MoU), hướng tới tăng cường liên kết chuỗi giá trị trong ngành chăn nuôi gia cầm, thúc đẩy ứng dụng giải pháp công nghệ và nâng cao hiệu quả sản xuất cho người chăn nuôi.
Tham dự lễ ký có đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp, đối tác trong ngành chăn nuôi - thú y. Đặc biệt, sự kiện có sự chứng kiến của ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA).
Theo nội dung Biên bản ghi nhớ, Công ty CP Nông nghiệp Kỷ Nguyên Xanh, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam và Công ty CP SX&TM VMC Việt Nam thống nhất tăng cường hợp tác, nhằm phát triển hệ sinh thái chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cụ thể, các bên sẽ phối hợp cung ứng các sản phẩm thuốc thú y, vaccine cho gia súc, gia cầm cùng các phụ gia thức ăn chăn nuôi, góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất theo hướng hiện đại, đảm bảo an toàn dịch bệnh và nâng cao chất lượng đàn vật nuôi.
Bên cạnh đó, ba doanh nghiệp cũng cam kết tăng cường hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo chuyên môn cho người chăn nuôi và các đơn vị sản xuất. Thông qua các chương
trình tập huấn, chuyển giao công nghệ và cập nhật các giải pháp mới, các bên kỳ vọng giúp trang trại, hợp tác xã tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm.
Một nội dung quan trọng khác trong hợp tác là phối hợp truyền thông và triển khai các chương trình phát triển chăn nuôi, nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả sản xuất cho người chăn nuôi. Đồng thời, việc kết nối hệ sinh thái chăn nuôi cũng được xác định là trọng tâm, giúp người chăn nuôi dễ dàng tiếp cận các sản phẩm, giải pháp và công nghệ tiên tiến trong ngành.
Trong khuôn khổ hợp tác, Công ty CP
Nông nghiệp Kỷ Nguyên Xanh sẽ đóng vai trò kết nối hệ thống trang trại và hợp tác xã chăn nuôi, tạo cầu nối giữa doanh nghiệp cung ứng sản phẩm với người sản xuất. Trong khi đó, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam và Công ty CP SX&TM VMC Việt Nam sẽ tập trung vào việc cung
ứng sản phẩm, tư vấn kỹ thuật và chuyển giao các giải pháp công nghệ phục vụ hoạt động chăn nuôi.
Theo đại diện các doanh nghiệp, sự hợp tác này được kỳ vọng sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng giữa các đơn vị trong chuỗi giá trị, từ cung ứng vật tư đầu vào, chuyển giao kỹ thuật đến kết nối sản xuất, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho các trang trại và hợp tác xã.
Buổi lễ ký kết cũng thể hiện cam kết của các bên trong việc đồng hành cùng ngành nông nghiệp Việt Nam, thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi gia cầm hiện đại, an toàn sinh học và phát triển bền vững. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm tăng cường liên kết doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Tham gia cùng chúng tôi tại
Hội chợ Thương mại
Food & Hospitality
Vietnam 2026
tại Thành phố Hồ Chí Minh!
24–26 tháng 3, 2026
Gian hàng Số A390
Được tài trợ bởi Liên minh Châu Âu. Các quan điểm và ý kiến được trình bày hoàn toàn thuộc về tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Liên minh Châu Âu hoặc Trung tâm Hỗ trợ Nông nghiệp Quốc gia (National Support Centre for Agriculture). Liên minh Châu Âu và cơ quan tài trợ không chịu trách nhiệm về những quan điểm và ý kiến này.
Aviagen bổ nhiệm tân Chủ tịch khu vực châu Á
Tập đoàn giống gia cầm Aviagen vừa bổ nhiệm ông Antonin Bonneau làm Chủ tịch khu vực châu Á, có hiệu lực từ ngày 11/4/2026. Quyết định này nhằm củng cố chiến lược tăng trưởng dài hạn và nâng cao năng lực hỗ trợ khách hàng tại một trong những thị trường chăn nuôi gia cầm năng động nhất thế giới.
Kinh nghiệm quốc tế dẫn dắt chiến lược khu vực
Trên cương vị mới, ông Antonin Bonneau sẽ chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của Aviagen tại khu vực, phối hợp chặt chẽ với các đội ngũ địa phương, nhằm tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và dịch vụ cho khách hàng, đồng thời khai thác tối đa nền tảng nghiên cứu - phát triển và kinh nghiệm toàn cầu của tập đoàn.
Với hơn 24 năm kinh nghiệm lãnh đạo trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm tại châu Á, Antonin Bonneau được đánh giá có hiểu biết sâu sắc về đặc thù thị trường gia cầm cũng như nhu cầu của các nhà sản xuất trong khu vực. Trước khi gia nhập Aviagen, ông đã có 13 năm công tác tại Ceva Animal Health, đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo cấp cao, bao gồm Giám đốc quốc gia phụ trách Việt Nam, Campuchia và Trung Quốc, sau
đó là Phó Chủ tịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ông Antonin Bonneau có bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) và Thạc sĩ Kinh doanh nông nghiệp.
Tăng cường kết nối khách hàng và phát triển bền vững
Ông Bonneau cũng nhấn mạnh, châu Á là thị trường có sự đa dạng lớn về mô hình sản xuất và kỳ vọng của khách hàng. Vì vậy, ưu tiên hàng đầu của ông là tăng cường hợp tác với các đội ngũ địa phương và đối tác chăn nuôi, nhằm phát triển các giải pháp giống phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế, đồng thời tối ưu hiệu quả chăn nuôi.
Phát huy thế mạnh hệ thống giống toàn cầu
Trên cương vị Chủ tịch khu vực, ông Antonin Bonneau sẽ thúc đẩy việc kết
nối chặt chẽ hơn giữa các chương trình nghiên cứu giống toàn cầu của Aviagen với ứng dụng
thực tế tại trang
trại, đồng thời củng cố mạng
lưới cung ứng trong khu vực.
Ông Antonin Bonneau
Mục tiêu nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và trang trại xây dựng hệ thống sản xuất gia cầm hiệu quả, bền vững, góp phần đảm bảo an ninh nguồn cung protein và thúc đẩy tăng trưởng chung của ngành.
DUY TRÌ NĂNG XUẤT CỦA GÀ MÁI
Duy trì năng xuất trứng và cả khả năng nở của gà mái sau 45 tuần có thể là thách thức và chắc chắn ảnh hưởng
của đàn. Việc quản lý trong suốt vòng đời của đàn có thể ảnh hưởng đến giai đoạn sản xuất sau này. Bài viết này để xem xét các điểm chính cần kiểm tra nhằm duy trì năng xuất.
Nuôi dưỡng ở hậu bị - nền tảng của năng suất đàn
Tiềm năng của đàn gia cầm bị ảnh hưởng ngay từ giai đoạn nuôi úm, đặc biệt là về độ
đồng đều. Đàn nuôi kém chất lượng khó dự đoán hơn, khó kích thích ánh sáng hơn và độ bền kém hơn. Đàn nuôi tốt nên có hồ sơ trọng lượng cơ thể gần với khuyến nghị của giống trong suốt quá trình nuôi và đặc biệt là ngay trước khi kích thích ánh sáng.
Tình trạng cơ thịt và hình dáng cơ thể của chúng nên phù hợp với độ tuổi. Những con gà nên thể hiện sự đồng đều tốt trong suốt quá trình nuôi, với Hệ số Biến thiên (CV%) dưới 8% hoặc mức đồng đều tốt hơn 79%.
Sự không nhạy cảm với ánh sáng ở tuổi vị thành niên, tức khả năng gà chưa phản ứng với việc tăng thời gian chiếu sáng. Tình trạng này cần được giải tỏa bằng cách duy trì ít nhất 18 tuần với ngày chiếu sáng ngắn, khoảng 8 giờ ánh sáng hoặc ít hơn mỗi ngày. Nếu ánh sáng không thể được kiểm soát dưới 11 giờ/ngày, chẳng hạn trong chuồng nuôi hở, gà sẽ không phản ứng hiệu quả với việc tăng ánh sáng và có thể bị trì hoãn vào giai đoạn đẻ.
Nhiệt độ tiêu cực gây ảnh hưởng
Vào mùa hè/nóng, gà có thể ăn ít hơn do nhiệt độ tăng. Trong trường hợp này, việc đảm bảo nguồn nước mát liên tục có thể giúp ích, củng như tang tốc độ gió hoặc sử dụng hệ thống làm mát bay hơi. Vẫn có thể cần thiết phải thay đổi loại thức ăn, chẳng hạng như giảm hàm lượng bột mịn và tăng thức ăn viên, sử dụng các thành phần có tiêu hóa cao hơn, hoặc tăng chất béo trong khẩu phần ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng của gà.
Trước khi điều chỉnh lượng thức ăn phân bổ, hãy đảm bảo rằng sản lượng trứng, trọng lượng trứng, trọng lượng cơ thể và tình độ lông phủ đã được cân nhắc, vì những yếu tố này củng sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng của gà. Lông che phủ kém có thể dẫn
đến cần thêm thức ăn để đáp ứng cả nhu cầu duy trì cơ thể và sản xuất trứng.
Thời gian chiếu sáng dài trong sản xuất
Kéo dài thời gian chiếu sáng vượt quá 14 giờ trong giai đoạn đầu sản xuất có thể dẫn đến khả năng duy trì kém hơn, vì vậy nên duy trì tối đa 13 - 14 giờ. Nếu đàn gà được nuôi trong chuồng hở với những ngày hè dài, việc sử dụng rèm chắn sáng để rút ngắn ngày xuống 14 giờ được khuyến nghị. Đã có
Nhiệt độ hiệu quả, tức nhiệt độ mà gà thực sự cảm nhận, có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu năng lượng của gà. Nhiều nhà quản lý cho gà ăn cùng một lượng thức ăn tối đa bất kể nhiệt độ. Khi nhiệt độ giảm, lượng thức ăn có thể cần được tăng hoặc duy trì để giữ sản lượng trứng ở mất tương tự. Nhóm dinh dưỡng cũng có thể xem xét điều chỉnh tỷ lệ năng lượng - axit amin vào các thời điểm khác nhau trong năm để hổ trợ nhu cầu năng lượng bổ sung mà không cung cấp quá nhiều lysine.
bằng chứng cho thấy việc tăng thêm 2 giờ chiếu sáng sau 50 tuần tuổi có lợi cho sản xuất trứng. Một sự tăng nhẹ lượng thức ăn ở thời điểm này cũng có thể giúp hỗ trợ sản lượng tăng thêm.
Kiểm tra đồng bộ Gà trống và gà mái cần đồng bộ về mức độ thành thục sinh dục khi phối giống. Nếu gà trống phát triển sớm hơn gà mái, điều này có thể dẫn đến việc giao phối quá mức, gây mòn lông ở con mái. Nếu một số con trống chưa được phát triển đầy đủ, chúng có thể trộm ăn khẩu phần của gà mái; do đó, chúng nên được giữ trong chuồng riêng để được trưởng thành.
Quan niệm “nhiều trống hơn là tốt hơn” vẫn tồn tại một số nơi trong ngành, nhưng thường một đàn có khả năng sinh sản thấp thường có tỷ lệ giao phối vượt quá mức khuyến nghị.
Bảng 1: Hướng dẫn tỷ lệ ghép điển hình Tuổi Số gà trống chất lượng tốt/100 gà mái Ngày Tuần
154 - 168 22 - 24 9.5 - 10.0
168 - 210 24 - 30 8.5 - 9.5
210 - 245 30 - 35 8.0 - 8.5
245 - 280 35 - 40 7.5 - 8.0
280 - 350 40 - 50 7.0 - 7.5
350 - loại thải đàn 50 - loại thải đàn 6.5 - 7.0
Chủ
động quản lý cân nặng
Việc theo dõi thường xuyên trọng lượng cơ thể và trọng lượng trứng là rất quan trọng để điều chỉnh khẩu phần ăn, thay vì chỉ áp dụng chương trình cho ăn cố định. Những đàn quá cân cần nhiều thức ăn hơn để duy trì cân nặng của chúng, vì vậy việc giảm thức ăn một cách quá mức hoặc không tính đến trọng lượng bổ sung có thể dẫn đến sự giảm sản xuất nhanh chóng.
Nếu đàn gà bị thiếu cân, việc tăng mạnh thức ăn để đưa chúng trở lại theo mức cân theo hướng dẫn thường dẫn đến việc cân nặng vượt quá mục tiêu và đàn lại trở nên thừa cân, làm giảm sản lượng trứng.
Tuân theo khiến nghị thành phần dinh dưỡng của của công ty giống sẽ giúp giảm lượng axit amin khi đàn già đi, qua đó kiểm soát hiệu quả mức độ cơ thịt mà không cần cắt giảm thức ăn đột ngột. Trọng lượng trứng và trọng lượng cơ thể nên được sử dụng như các công cụ đưa ra quyết định quản lý đàn. Bằng cách ghi lại trọng lượng trứng hằng ngày, các xu hướng về trọng lượng có thể được sác định sớm. Những con có trọng lượng trứng tăng vượt mức hướng dẫn trong khoảng thời gian 3 - 4 ngày cho thấy dấu hiệu bị cho ăn quá mức. Ngược lại, xu hướng trọng lượng trứng cho thấy thức ăn đã bị rút quá nhanh, và đàn gà có thể cần được cung cấp lại một lượng thức ăn cẩn thận.
Hãy chú trọng kỹ đến chuồng nuôi
Các yếu tố trong chuồng nuôi có thể gây mất sự duy trì năng suất của đàn. Những yếu tố quan trọng hơn được liệt kê trong Bảng 2.
Bảng 2. Điều kiện chuồng nuôi ảnh hưởng đến sự duy trì của đàn
Điều kiện
chuồng nuôi
Quan sát Biện pháp khắc phục
Giảm sản lượng
trứng/mái
Nhiều trứng sàn
Mật độ
Tỷ lệ CV (%) tăng
Bất thường về thời gian ăn hết thức ăn
Gia cầm bị mất nước
Giảm mật độ xuống mức (3,5 - 5,5 con/m2, hoặc 2,0 - 3,1 ft2/ con) trước khi xuất hiện sự cố.
Đảm bảo thức ăn và nước uống luôn sẵn có trong máng và diện tích ổ đẻ như khuyến cáo.
Duy trì diện tích máng ăn cho gà mái theo khuyến cáo:
■ 15 cm (5,9 in)/con - máng
dài
■ 10 cm (3,9 in)/con - máng
Quản lý máng ăn
và chế độ cho ăn
Thời gian ăn kéo
dài
Sản lượng trứng
giảm
Tỷ lệ CV (%) tăng
Lượng trứng sàn
tăng
tròn
Duy trì khoảng cách tối thiểu
giữa các dường máng ăn: 100
cm (3,3 ft)
Giảm thời gian phân phối
thức ăn xuống dưới 3 phút và/
hoặc phân phối thức ăn khi
chưa bật đèn chiếu sáng
Điều chỉnh máng ăn ở độ cao
phù hợp bằng hệ thống tời có
thể nâng hạ
Điều quan trọng là phải
đảm bảo rằng các phương
pháp quản lý theo kịp
các thay đổi về di truyền và sản xuất đang diễn ra.
Việc xem xét nhiệt độ, điều kiện chuồng ở, phương pháp nuôi dưỡng, tính đồng đều, tình
trạng cơ thể, trọng lượng và các yếu tố bên
ngoài đều là những yếu tố quan trọng đối với
sự thành công của đàn gà bạn. Mức thức ăn
không nên được thiết lập theo chương trình
nữa, mà thay vào đó cần được
điều chỉnh theo điều kiện cụ
thể của từng đàn gà để duy trì
sản lượng gà con tối ưu.
Để biết thêm thông tin, truy cập Trung tâm Thông tin
Aviagen hoặc quét mã QR.
Quản
lý máng uống và nước uống
Sản lượng trứng giảm
Gà bị mất nước
Lượng trứng sàn tăng
Duy trì diện tích máng uống theo khuyến cáo:
■ 6 - 10 con/núm uống
■ 2,5 cm (1,0 in)/con đối với máng chuông
■ 15 - 20 con/cốc uống
Cải thiện khả năng tiếp cận và chất lượng nước uống
Điều chỉnh để đảm bảo góc uống 75° - 85° đối với gà trưởng thành khi sử dụng núm uống
Điều chỉnh chiều cao máng uống phù hợp bằng hệ thống tời nâng hạ
Chất lượng
chất độn chuồng
Côn trùng gây hại
Chất độn chuồng
kết cứng/không rời rạc, gà không thể tấm bụi
Giảm sản lượng trứng
Tiêu thụ nước tăng
Đảm bảo thông gió đầy đủ và đúng cách để giữ chất độn chuồng khô và dễ rải.
Đảm bảo kiểm soát côn trùng gây hại hiệu quả (bẫy, mồi diệt…) và hạn chế tối đa sự xâm nhập của chúng vào khu vực nuôi gà.
AVIAGEN
KHAI THÁC PHYTASE HIỆU QUẢ
CẨN TRỌNG VỚI “ẢO GIÁC”
“GIÁ TRỊ MA TRẬN”
Phytase là enzyme quan trọng trong dinh dưỡng gia cầm hiện đại. Tuy nhiên, các “giá trị ma trận” quy đổi dinh dưỡng cho phytase trong công thức có thể trở nên sai lệch nếu áp dụng máy móc. Hiểu đúng giới hạn của những con số này là chìa khóa để khai thác hiệu quả phytase trong thực tế chăn nuôi.
Ảo
ảnh từ những con số ma trận
Trong công thức thức ăn chăn nuôi gia cầm, giá trị ma trận là nền tảng cho cách các nhà dinh dưỡng sử dụng phytase. Những giá trị này cho biết enzyme có thể giải phóng bao nhiêu phốt pho, canxi, thậm chí là năng lượng hoặc axit amin từ phytate - hợp chất có nhiều trong nguyên liệu thực vật. Một ví dụ phổ biến là phytase có thể cung cấp khoảng 0,10% phốt pho tiêu hóa được ở liều bổ sung tiêu chuẩn. Nhờ những “tín dụng dinh dưỡng” này, các nhà sản xuất có thể giảm lượng phốt pho vô cơ trong khẩu phần, qua đó tiết kiệm chi phí và giảm phát thải ra môi trường.
Tuy nhiên, các con số ma trận thường được xây dựng trong điều kiện nghiên cứu rất lý tưởng. Khẩu phần thí nghiệm được thiết kế cẩn thận, nguyên liệu đồng nhất và vật nuôi được nuôi trong môi trường kiểm soát. Trong thực tế sản xuất, tình hình hoàn toàn khác. Hàm lượng phytate trong nguyên liệu có thể biến động đáng kể giữa các lô hàng, đặc biệt với ngô, lúa mì hay khô đậu nành. Đồng thời, mức canxi trong khẩu phần, dạng thức ăn, điều kiện chế biến và tuổi vật nuôi đều có thể ảnh hưởng đến hoạt tính của enzyme.
Chính vì vậy, nếu áp dụng các giá trị ma
trận một cách cứng nhắc, chúng dễ tạo ra “ảo giác” về độ chính xác. Trên bảng tính, khẩu phần có thể trông hoàn hảo, nhưng trong thực tế vật nuôi lại không nhận được lượng dinh dưỡng như mong đợi. Do đó, các chuyên gia dinh dưỡng giàu kinh nghiệm thường coi ma trận phytase là một ước tính hữu ích chứ không phải con số tuyệt đối.
Khi lý thuyết “lệch”
thực tế
Về mặt lý thuyết, việc bổ sung phytase vào khẩu phần sẽ giúp thủy phân phytate và giải phóng phốt pho bị “khóa” trong nguyên liệu thực vật. Điều này cho phép giảm bổ sung phốt pho vô cơ mà vẫn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của enzyme lại chịu tác động của nhiều yếu tố phức tạp. Hàm lượng phytate trong nguyên liệu là yếu tố đầu tiên quyết định tiềm năng hoạt động của phytase. Chẳng hạn, khẩu phần dựa nhiều vào lúa mì hoặc khô cải dầu thường chứa nhiều phytate hơn so với khẩu phần chủ yếu từ ngô - đậu nành. Vì vậy, phytase có thể giải phóng nhiều phốt pho hơn trong khẩu phần loại thứ nhất. Nếu sử dụng cùng một giá trị ma trận cho cả hai loại khẩu phần, kết quả tính toán có thể sai lệch.
Ngoài ra, canxi trong khẩu phần có thể tương tác mạnh với phytate. Khi nồng độ canxi cao, các phức hợp canxi-phytate hình thành, khiến enzyme khó tiếp cận và làm giảm hiệu quả thủy phân. Hình thức thức ăn và quá trình chế biến cũng đóng vai trò quan trọng. Nhiệt độ cao trong quá trình ép viên có thể làm giảm hoạt lực của enzyme nếu phytase không đủ ổn định nhiệt. Tuổi gia cầm cũng ảnh hưởng đáng kể. Hệ tiêu hóa của gà con và gà trưởng thành có khả năng xử lý phytate khác nhau, dẫn đến hiệu quả enzyme không giống nhau giữa các giai đoạn nuôi. Tất cả những yếu tố này ➢ Để phytase phát huy tối đa lợi ích, các “giá trị ma trận” cần được sử dụng một cách linh hoạt, dựa trên dữ liệu khoa học và được kiểm chứng trong điều kiện sản xuất thực tế. Chỉ khi đó, những con số trong công thức thức ăn mới thực sự phản ánh đúng giá trị dinh dưỡng mà vật nuôi nhận được.
Ảnh: AB Vista
cho thấy, phytase không phải là giải pháp áp
dụng máy móc. Giá trị của enzyme chỉ được phát huy tối đa khi nó được tích hợp hợp lý vào tổng thể khẩu phần dinh dưỡng.
Tránh phóng đại để khai thác phytase hiệu quả
Trong những năm gần đây, cạnh tranh thương mại giữa các sản phẩm phytase đã dẫn đến xu hướng phóng đại giá trị ma trận. Một số sản phẩm được quảng bá với mức giải phóng phốt pho rất cao, đặc biệt khi sử dụng ở liều lượng lớn. Tuy nhiên, sinh học của quá trình thủy phân phytate cho thấy hiệu quả của enzyme không tăng tuyến tính theo liều lượng.
Ban đầu, khi phytase bắt đầu phân giải phytate, lượng phốt pho giải phóng tăng nhanh. Nhưng khi phần lớn phytate đã bị thủy phân, việc bổ sung thêm enzyme chỉ mang lại hiệu quả tăng thêm rất nhỏ. Nói cách khác, quá trình này tuân theo quy luật hiệu quả giảm dần. Vì vậy, việc tăng gấp đôi liều phytase không đồng nghĩa với việc lượng phốt pho giải phóng cũng tăng gấp đôi.
Nếu các giá trị ma trận được xây dựng dựa trên giả định quá lạc quan, khẩu phần có thể trở nên mất cân đối. Một ví dụ điển hình là tỷ lệ canxi - phốt pho. Nếu công thức ghi nhận quá nhiều phốt pho từ phytase trong khi mức canxi vẫn cao, khả năng tiêu hóa của cả hai khoáng chất có thể giảm. Dạng đá vôi sử dụng trong khẩu phần càng làm vấn đề phức tạp hơn. Đá vôi nghiền mịn hòa tan nhanh, làm tăng nồng độ canxi sớm trong đường tiêu hóa và có thể làm giảm hiệu quả của phytase. Ngược lại, đá vôi hạt thô giải phóng canxi chậm hơn, nhưng đôi khi lại không cung cấp đủ canxi ở những thời điểm quan trọng của quá trình tiêu hóa.
Vì vậy, nhiều chuyên gia dinh dưỡng lựa chọn cách tiếp cận thận trọng: bắt đầu với các “giá trị ma trận” ở mức khiêm tốn, sau đó kiểm chứng bằng thử nghiệm thực tế trước khi áp dụng rộng rãi. Phương pháp này có thể không mang lại mức tiết kiệm chi phí tối đa trên lý thuyết, nhưng lại giúp giảm nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng và bảo vệ hiệu quả sản xuất lâu dài.
TIẾN SĨ IOANNIS MAROMICHALIS
Chuyên gia dinh dưỡng chăn nuôi, Poultry International
THỨC ĂN GIA CẦM 2026
Chi phí hạ nhiệt, áp lực vẫn lớn
Giá thức ăn có xu hướng giảm, các nhà sản xuất vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức mới, từ dịch cúm gia cầm, yêu cầu an toàn sinh học và phát triển bền vững
trị trên thị trường nguyên liệu.
Thị trường thức ăn mở rộng
Các chuyên gia thị trường dự báo sản lượng gia cầm toàn cầu năm 2026 có thể
tăng ít nhất 2,5%. Điều này đồng nghĩa nhu cầu thức ăn hỗn hợp cho gà thịt và gà đẻ sẽ tiếp tục tăng, dù tốc độ tăng trưởng không
đồng đều giữa các khu vực.
Phần lớn mức tăng sẽ đến từ các thị trường mới nổi. Khoảng 80% tăng trưởng sản lượng gia cầm toàn cầu dự kiến tập trung tại châu Á, Trung Đông, Bắc Phi và một số khu vực Mỹ Latinh. Nhiều quốc gia trong số này đang mở rộng sản xuất thông qua các dự án trang trại mới hoặc nâng cấp hệ thống chăn nuôi công nghiệp, kéo theo nhu cầu lớn về công suất nhà máy thức ăn, công nghệ phối trộn tiêu chuẩn và nguồn cung nguyên liệu ổn định. Trong khi đó, tại các thị trường phát triển, ngành gia cầm có xu hướng tăng trưởng chậm hơn và ổn định hơn. Các nhà sản xuất thức ăn tại đây thường phục vụ những chuỗi chăn nuôi tích hợp lớn, nơi khối lượng sản xuất được xác định thông qua các hợp đồng dài hạn.
Về chi phí, thị trường thức ăn chăn nuôi đang bước vào giai đoạn thuận lợi hơn. Theo dữ liệu ngành, giá thức ăn toàn cầu đã giảm khoảng 6% trong năm 2025, chủ yếu do nhu cầu thức ăn cho gia súc giảm và lượng tồn kho tăng. Giá ngô và khô đậu duy trì dưới mức trung bình dài hạn, giúp giảm áp lực chi phí cho người chăn nuôi. Triển vọng năm 2026 cho thấy xu hướng này có thể tiếp tục khi nguồn cung ngũ cốc vẫn khá dồi dào. Giá thức ăn được dự báo có thể giảm thêm khoảng 1 - 2%. Tuy nhiên, chi phí nguyên liệu thuận lợi hơn không đồng nghĩa áp lực đối với ngành thức ăn gia cầm sẽ giảm.
Dịch bệnh, bền vững và biến động nguyên liệu
Ngày càng nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng, kiểm soát dịch bệnh không chỉ là trách
nhiệm của trang trại. Các nhà máy thức ăn chăn nuôi cũng trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược an toàn sinh học của toàn chuỗi sản xuất. Quy trình tiếp nhận nguyên liệu, vệ sinh nhà máy, kiểm soát nhiễm chéo và khả năng truy xuất nguồn gốc đang được siết chặt nhằm giảm thiểu nguy cơ lây lan dịch bệnh. Áp lực dịch bệnh cũng thúc đẩy sự thay đổi trong chiến lược dinh dưỡng. Các phụ gia hỗ trợ sức khỏe đường ruột như enzyme và probiotic ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhằm cải thiện khả năng miễn dịch và ổn định hiệu suất chăn nuôi. Ngay cả trong bối cảnh chi phí thức ăn giảm, những giải pháp này vẫn được xem là công cụ quản lý rủi ro quan trọng.
Hiệu quả sử dụng thức ăn tiếp tục là yếu tố cốt lõi đối với kinh tế chăn nuôi gà thịt. Trong nhiều năm qua, tiến bộ di truyền đã giúp cải thiện đáng kể hệ số chuyển đổi thức ăn và năng suất thịt ức. Tuy nhiên, xu hướng nuôi gà có kích thước ngày càng lớn để phục vụ ngành chế biến cũng đặt ra câu hỏi về giới hạn sinh học và sức khỏe vật nuôi. Điều này khiến ngành thức ăn chăn nuôi chuyển mạnh sang các giải pháp dinh dưỡng chính xác, tập trung tối ưu cân bằng axit amin, khả năng tiêu hóa và sức khỏe đường ruột nhằm duy trì hiệu suất cao mà vẫn đảm bảo phúc lợi động vật.
Ở mảng gà đẻ trứng, chiến lược thức ăn cũng đang thay đổi khi nhiều quốc gia chuyển sang hệ thống nuôi không lồng và kéo dài chu kỳ đẻ. Những mô hình sản xuất mới này làm thay đổi nhu cầu dinh dưỡng và lượng thức ăn tiêu thụ trên mỗi con gà, buộc các nhà sản xuất thức ăn phải linh hoạt hơn trong công thức và kế hoạch sản xuất.
MI LAN (Theo Allaboutfeed)
Chọn giống phù hợp
Giống gà hữu cơ phải có khả năng thích nghi tốt với điều kiện chăn thả, sức đề kháng cao, tăng trưởng vừa phải và cho chất lượng thịt, trứng thơm ngon. Thông thường, các giống gà địa phương như gà Ri, gà Mía, gà Hồ, gà Tàu vàng… được ưu tiên sử dụng. Nếu dùng giống lai, cần chọn dòng không có nguồn gốc biến đổi gen (non-GMO), đảm bảo được chứng nhận theo quy chuẩn hữu cơ.
Gà con khi nhập về phải khỏe mạnh, không mang mầm bệnh, có giấy chứng nhận kiểm dịch. Việc tự nhân giống trong trại hữu cơ cũng cần duy trì nguồn gen thuần, tránh lai tạo không kiểm soát gây thoái hóa.
Thức ăn và nước uống
Thức ăn cho gà hữu cơ bắt buộc có nguồn gốc tự nhiên, không chứa chất biến đổi gen, không dùng kháng sinh, chất kích thích sinh trưởng hay hóa chất tổng hợp.
Thức ăn thường gồm: ngô, thóc, cám gạo, bột sắn, bột cá, đậu tương, rau xanh… Ưu tiên sử dụng nguyên liệu từ nông trại hữu cơ
hoặc được chứng nhận đạt tiêu chuẩn.
Ngoài khẩu phần cơ bản, gà có thể tự tìm thức ăn trong khu chăn thả như côn trùng, giun đất, cỏ non… giúp tăng sức đề kháng và tạo hương vị đặc trưng cho sản phẩm.
Nước uống phải sạch, không chứa tạp chất, không có tồn dư kim loại nặng, clo hay hóa chất độc hại. Việc bổ sung men vi sinh, thảo
NHỮNG YÊU CẦU CỐT LÕI
KHI NUÔI GÀ HỮU CƠ
Khác với phương thức chăn nuôi công nghiệp, gà hữu cơ được nuôi dưỡng theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt từ giống, thức ăn, chuồng trại đến quản lý dịch bệnh và môi trường. Để đạt hiệu quả, người chăn nuôi cần tuân thủ một số yêu cầu cơ bản sau đây.
dược tự nhiên như tỏi, gừng, lá trầu không cũng giúp tăng cường miễn dịch và hạn chế dịch bệnh.
Chuồng trại và khu chăn thả
Chuồng gà hữu cơ cần đảm bảo thông thoáng, khô ráo, có ánh sáng tự nhiên và mật độ nuôi hợp lý (khoảng 5 - 7 con/m² chuồng và tối đa 1.000 con/ha khu chăn thả).
Vật liệu xây dựng chuồng có thể từ tre, gỗ, lưới, mái lá hoặc tôn, nhưng phải an toàn, không chứa chất độc hại. Nền chuồng nên rải chất độn sinh học như trấu, mùn cưa, có thể bổ sung chế phẩm vi sinh để giảm mùi hôi và phân hủy chất thải. Khu chăn thả bắt buộc có cây xanh, thảm cỏ, rào chắn và diện tích đủ rộng để gà tự do vận động, bới tìm thức ăn. Đây là yếu tố quan trọng tạo ra sản phẩm hữu cơ chất lượng. Bên cạnh đó, cần bố trí chỗ che mát, máng ăn uống ngoài trời, và thường xuyên vệ sinh khu vực nuôi.
Quản lý dịch bệnh
Trong chăn nuôi hữu cơ, việc phòng bệnh là chính, hạn chế tối đa dùng thuốc kháng sinh và hóa chất. Một số biện pháp cần áp dụng:
• Thực hiện vệ sinh, khử trùng chuồng trại định kỳ bằng chế phẩm sinh học hoặc thảo mộc tự nhiên thay vì hóa chất tổng hợp.
• Tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine theo quy định thú y, đặc biệt là Newcastle, Gumboro, tụ huyết trùng.
• Sử dụng các bài thuốc nam, thảo dược (như tỏi, nghệ, lá ổi, lá chàm) để hỗ trợ tiêu hóa, phòng bệnh đường ruột.
• Khi gà mắc bệnh, ưu tiên điều trị bằng phương pháp tự nhiên. Trường hợp buộc phải dùng kháng sinh, phải tuân thủ thời gian ngừng thuốc trước khi xuất bán theo tiêu chuẩn hữu cơ.
Quản lý chất thải và môi trường
Chăn nuôi gà hữu cơ gắn liền với bảo vệ môi trường. Phân gà phải được thu gom và xử lý bằng biogas, ủ men vi sinh hoặc ủ compost làm phân bón hữu cơ, tránh thải trực tiếp gây ô nhiễm nguồn nước. Chất độn chuồng sau mỗi lứa nuôi có thể tái sử dụng làm phân hữu cơ sinh học. Khu vực nuôi cần cách xa nguồn ô nhiễm công nghiệp, bệnh viện, bãi rác; có hệ thống thoát nước hợp lý; trồng cây xanh tạo vi khí hậu và hạn chế lây lan mầm bệnh.
Ghi chép và truy xuất nguồn gốc
Một yêu cầu quan trọng trong chăn nuôi hữu cơ là minh bạch thông tin. Người nuôi phải ghi chép chi tiết về: nguồn gốc giống, thức ăn, thuốc thú y, quá trình chăm sóc, phòng bệnh, xử lý chất thải… Những dữ liệu này giúp kiểm soát quy trình sản xuất, đồng thời tạo niềm tin cho người tiêu dùng.
Tiêu chuẩn và chứng nhận
Để sản phẩm gà hữu cơ được công nhận, trại chăn nuôi phải tuân thủ các tiêu chuẩn như VietGAP, hữu cơ PGS, hoặc các chuẩn quốc tế (EU Organic, USDA Organic). Việc đạt chứng nhận không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cao cấp, tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi.
Chăn nuôi gà hữu cơ đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt về kỹ thuật và quản lý, từ giống, thức ăn, chuồng trại, dịch bệnh đến môi trường. Dù chi phí và công chăm sóc ban đầu cao hơn so với nuôi công nghiệp, nhưng đổi lại, người chăn nuôi có thể tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng, giá trị kinh tế cao và thân thiện với môi trường. Đây chính là hướng đi bền vững cho ngành chăn nuôi gia cầm trong tương lai.
HOÀNG YẾN
VIÊM TEO MỎ VỊT
Phòng và trị hiệu quả
Bệnh viêm teo mỏ vịt (Duck Beak Atrophy Disease) là hội chứng thường gặp, gây biến dạng cơ quan tiêu hóa đầu vào, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ăn uống, sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Việc hiểu rõ nguyên nhân, triệu chứng, cơ chế lây lan và áp dụng các biện pháp phòng trị khoa học là yếu tố quyết định để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi.
Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh
Bệnh viêm teo mỏ vịt thường do virus Parvovirus hoặc một số chủng vi khuẩn cơ hội tấn công khi sức đề kháng của đàn vịt suy yếu. Ngoài ra, các yếu tố môi trường như mật độ nuôi cao, chuồng trại ẩm ướt, dinh dưỡng thiếu cân đối cũng làm bệnh dễ phát sinh.
Virus gây bệnh thường xâm nhập qua đường tiêu hóa, nhân lên trong niêm mạc miệng và hầu họng, gây viêm, phù nề và dần dần làm teo, biến dạng cấu trúc mỏ. Hậu quả là vịt không thể mổ thức ăn bình thường, giảm khả năng thu nhận dinh dưỡng, kéo theo còi cọc, suy kiệt và chết dần.
Triệu chứng lâm sàng
Người nuôi có thể nhận biết bệnh qua một số biểu hiện:
• Mỏ vịt sưng tấy, đỏ, sau đó dần teo nhỏ, biến dạng hoặc lệch sang một bên;
• Vịt khó khăn khi mổ thức ăn, thức ăn rơi vãi nhiều, tốc độ tăng trưởng chậm;
• Một số con bị viêm loét niêm mạc miệng, chảy dịch nhầy, hôi tanh;
• Đàn vịt giảm ăn, còi cọc, lông xơ xác, tỷ lệ chết tăng dần nếu không can thiệp. Ở giai đoạn nặng, mỏ teo hoàn toàn, vịt gần như mất khả năng ăn uống và chết vì suy kiệt.
Biện pháp phòng bệnh
Nguyên tắc “phòng bệnh hơn chữa bệnh” cần được áp dụng nghiêm túc. Một số giải pháp đồng bộ bao gồm:
Quản lý con giống: Chọn mua con giống từ cơ sở uy tín, có giấy kiểm dịch rõ ràng.
Vịt con phải khỏe mạnh, đồng đều, không có dấu hiệu dị tật mỏ ngay từ đầu.
An toàn sinh học và vệ sinh chuồng trại:
Giữ chuồng nuôi khô ráo, thoáng mát, mật
độ hợp lý (không quá 10 - 12 con/m² tùy giai
đoạn). Thường xuyên thay chất độn chuồng, dọn phân, xử lý bằng vôi bột hoặc chế phẩm sinh học. Hạn chế khách lạ, phương tiện ra vào khu vực nuôi, có hố khử trùng và quy định thay bảo hộ lao động.
Dinh dưỡng và chăm sóc: Bổ sung khẩu phần ăn cân đối giàu Vitamin A, D, E và khoáng vi lượng giúp niêm mạc miệng phát triển khỏe mạnh. Trộn men vi sinh, chế phẩm thảo dược (tỏi, gừng, lá trầu) để tăng sức đề kháng đường ruột. Đảm bảo nguồn nước uống sạch, không chứa kim loại nặng hay vi khuẩn gây bệnh.
Tiêm phòng và giám sát dịch bệnh: Tiêm phòng vaccine phòng Parvovirus cho đàn vịt ở giai đoạn sớm (tùy hướng dẫn của nhà sản xuất). Tăng cường giám sát sức khỏe đàn, phát hiện sớm vịt có dấu hiệu bất thường để cách ly và điều trị kịp thời.
Biện pháp điều trị
Khi bệnh xảy ra, điều trị chủ yếu tập trung vào hỗ trợ, hạn chế biến chứng và nâng cao sức đề kháng, vì virus
Parvovirus chưa có thuốc đặc trị.
Khi trong đàn xuất hiện vịt mắc bệnh, cần áp dụng một phác đồ điều trị
đồng bộ như sau:
• Cách ly và chăm sóc đặc biệt: tách riêng những con bệnh, bố trí khu nuôi yên tĩnh, thức ăn được nghiền nhỏ hoặc pha thành cháo loãng để vịt dễ thu nhận.
• Dùng kháng sinh để chống bội nhiễm: tiêm hoặc trộn vào thức ăn/nước uống các loại kháng sinh phổ rộng như Enrofloxacin, Amoxicillin hoặc Florfenicol theo hướng dẫn của cán bộ thú y. Mục đích là ngăn ngừa vi khuẩn thứ phát tấn công vào niêm mạc miệng đang tổn thương.
• Bổ trợ bằng thuốc và dinh dưỡng: kết hợp cho uống điện giải, Vitamin A, C, E và nhóm B-complex; bổ sung men tiêu hóa để hỗ trợ đường ruột. Đây là biện pháp quan trọng giúp tăng sức đề kháng và rút ngắn thời gian hồi phục.
• Sử dụng thảo dược: có thể cho uống nước sắc tỏi, lá chàm hoặc lá ổi để sát trùng nhẹ đường miệng, giảm viêm và hỗ trợ tiêu hóa.
• Khử trùng chuồng trại: toàn bộ khu vực chăn nuôi phải được xử lý bằng vôi bột hoặc hóa chất thú y được phép sử dụng. Phân và chất độn chuồng cần được thu gom, ủ men vi sinh hoặc xử lý bằng vôi trước khi thải ra môi trường.
BÍCH HÒA
Ảnh: ST
Phòng, trị bệnh giả lao ở bồ câu
Bệnh giả lao là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thường gặp ở bồ câu, có thể gây hao hụt đàn nhanh nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời. Việc nhận biết sớm triệu chứng, áp dụng biện pháp phòng ngừa và điều trị đúng cách sẽ giúp người nuôi giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ đàn bồ câu phát triển khỏe mạnh và ổn định.
Nguyên nhân
Tác nhân gây bệnh giả lao ở bồ câu là Yersinia pseudotuberculosis. Vi khuẩn này có các đặc tính gần giống vi khuẩn tụ huyết trùng nên còn gọi là Pasteurella pseudotuberculosis. Vi khuẩn thuộc gram âm, tròn hai đầu, có kích thước 0,5x 0,8 - 5 micromet, còn gọi là vi khuẩn lưỡng cực vì khi nhuộm bắt màu sẫm ở hai đầu. Vi khuẩn phát triển tốt trên môi trường thạch pepton, thạch máu có thêm một số axit amin và thích hợp ở nhiệt độ 370C.
Vi khuẩn dễ dàng bị tiêu diệt dưới ánh sáng mặt trời, ở nhiệt độ 600C hoặc làm khô. Nhưng có thể bảo quản hàng năm trong môi
trường thạch để ở nhiệt độ lạnh.
Hiện có 6 serotyp vi khuẩn đã được xác
định là tuýp I, II, III, IV, V, VI và 8 subtype gây bệnh cho một số loài chim và thú.
Đặc điểm dịch tễ
Chim bị nhiễm vi khuẩn chủ yếu qua đường tiêu hóa. Vi khuẩn tồn tại và lưu hành trong môi trường tự nhiên và thức ăn. Chim ăn uống phải thức ăn nước uống bị nhiễm vi khuẩn sẽ bị mắc bệnh. Vi khuẩn cũng xâm nhập vào cơ thể chim qua đường hô hấp, do hít thở không khí có vi khuẩn.
Trong tự nhiên, nhiều loài gia cầm và chim trời bị bệnh giả lao như gà nhà, gà rừng, ngỗng, vịt, gà tây, bồ câu, vẹt... Bồ câu non dưới một năm tuổi thường nhiễm vi khuẩn và bị bệnh thể cấp tính. Bệnh thường phát ra và lây lan trong đàn chim khi thời tiết lạnh và ẩm ướt.
Cơ chế gây bệnh
Vào cơ thể chim, vi khuẩn nhanh chóng xâm nhập vào hệ thống hạch lâm ba, phát
triển nhanh số lượng, rồi vào máu, đến các phủ tạng như gan, lách, phổi, thận và ruột. Các trường hợp bệnh cấp tính, vi khuẩn tăng số lượng, rồi vào máu, đến các phủ tạng như gan, lách, phổi, thận và ruột. Các trường hợp bệnh cấp tính, vi khuẩn tăng số lượng rất nhanh trong máu, gây nhiễm trùng huyết. Khi đến các phủ tạng, vi khuẩn sẽ tồn tại ở đó gây ra hiện tượng viêm nhiễm với các hạt nhỏ có chứa bựa vàng xám, giống như các hạt lao dạng “lao kê”. Các hạt này đôi khi cũng có ở tổ chức cơ.
Triệu chứng
Chim nhiễm mầm bệnh có thời gian ủ bệnh ngắn, chỉ 1 - 2 ngày. Chim bệnh có biểu hiện tăng thân nhiệt, bỏ ăn, niêm mạc tụ huyết đỏ sẫm, mắt nhắm, đứng ủ rũ, thở khó, chảy nước mũi, nước mắt; sau đó xuất
hiện ỉa chảy phân xanh vàng. Bệnh tiến triển nhanh. Chim bệnh chết sau 2 - 4 ngày, từ khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng đầu tiên. Mổ chim bệnh thấy: bao tim có tụ huyết, đôi khi có dịch vàng; phổi, lách, gan và các niêm mạc có tụ máu. Các phủ tạng và đôi khi ở cơ còn có các hạt giống hạt kê, hoại tử có màu vàng xám. Các trường hợp nhiễm trùng huyết thấy: máu đỏ sẫm, chậm đông, các niêm mạc tím đỏ.
Chẩn đoán
- Chẩn đoán lâm sàng: Căn cứ vào các dấu hiệu lâm sàng và bệnh tính đặc trưng để chẩn đoán: bệnh tiến triển nhanh với các triệu chứng như thở khó, chảy dãi rớt, ỉa chảy phân xanh vàng hoặc vàng đục; mổ khám có các đám tụ huyết ở các nội tạng; đặc biệt có các hạt nhỏ hoại tử có bựa vàng xám.
- Chẩn đoán vi sinh vật: Phân lập, xác định vi khuẩn từ các mẫu bệnh phẩm là dịch xuất tiết hoặc phủ tạng chim bệnh.
Điều trị
Bệnh tiến triển nhanh nên điều trị ít có hiệu quả. Khi phát hiện các dấu hiệu lâm sàng đầu tiên thì chim đã bị rất nặng, khó chữa. Khi phát hiện một vài chim bị bệnh thì cần phải điều trị có tính chất phòng ngừa cho toàn đàn.
Người nuôi có thể tham khảo phác đồ điều trị sau:
- Thuốc điều trị: Phối hợp hai loại thuốc sau: Kanamycin 2 gam; Tetracyclin 2 gam; Nước 1.000 ml. Cho toàn đàn chim uống liên tục 3 - 4 ngày.
- Thuốc trợ tim mạch: cho uống hoặc trộn thức ăn các Vitamin B1, K, A, D, E.
- Hộ lý: Cho chim ăn thức ăn dễ tiêu, bớt ăn các loại hạt.
Phòng bệnh
- Thực hiện cho chim ăn sạch, uống sạch.
- Giữ gìn vệ sinh chuồng trại và môi trường sống của chim, cần làm vệ sinh và tiêu độc theo định kỳ.
- Khi có dịch xảy ra: Phát hiện sớm chim bệnh để cách ly điều trị hoặc xử lý, tránh lây nhiễm cho đàn chim.
- Tổ chức tiêm vaccine phòng bệnh cho đàn chim trưởng thành khi có vaccine phòng bệnh.
NGUYỄN HẰNG
GÓC CHUYÊN GIA
Hướng dẫn phòng, chống bệnh cúm gia
cầm
Đường truyền lây
Trong cơ thể gia cầm mắc bệnh, virus cúm được nhân lên trong đường hô hấp và đường tiêu hóa, sau đó được bài thải qua phân, dịch nước mũi và nước bọt. Bệnh lây truyền theo 2 phương thức là trực tiếp và gián tiếp.
- Lây trực tiếp thông qua tiếp xúc: Nuôi nhốt chung gia cầm khỏe mạnh với gia cầm mắc bệnh hoặc nuôi thả cùng nhau. Lây nhiễm từ chim hoang dã có mang mầm bệnh.
- Lây gián tiếp thông qua: Phân, máu, chất bài tiết của gia cầm, chim hoang dã có mang mầm bệnh; Phương tiện, dụng cụ chăn nuôi, chất độn chuồng… có mang mầm bệnh; Nguồn nước, thức ăn có mang mầm bệnh; Giày dép, quần áo của người chăn nuôi có mang mầm bệnh.
Dấu hiệu nhận biết
Gia cầm lắc đầu, run rẩy, mệt mỏi, nằm tụ tập từng đám; chảy nước mắt, nước dãi, ho, thở khò khè, viêm xoang, sưng viêm mí mắt, sưng khớp.
Sưng phù đầu và mặt, sưng mí mắt, mào và tích tím tái; xuất huyết dưới da; tiêu chảy, phân loãng màu trắng hoặc trắng xanh. Gia cầm đẻ bị giảm năng suất, hoặc đẻ trứng không có vỏ.
Bệnh tích: Xuất huyết ở khí quản, phổi, gan, lách, thận, dạ dày tuyến, manh tràng, ruột non, hậu môn, buồng trứng, dịch hoàn; túi khí dày đục, có ổ cazein; màng bao tim, cơ tim xuất huyết; tim nhão, bao tim xuất huyết, chứa nhiều dịch màu vàng; màng não xung huyết.
Phòng bệnh
- Tiêm phòng vaccine CGC làm giảm nguy cơ mắc bệnh cho đàn gia cầm, không lây bệnh cúm A (H5N1) cho người và động vật khác. Sử dụng vaccine CGC theo đúng hướng dẫn của cơ quan chuyên môn thú y và của nhà sản xuất. - Nuôi nhốt gia cầm trong chuồng, trong khu vực có hàng rào bao quanh. Hạn chế tối đa nuôi chung gia cầm với các loài động vật khác tại cùng một địa điểm nuôi. Nuôi nhốt riêng gia cầm mới mua về 1 - 2 tuần trước khi cho nhập đàn và theo dõi hàng ngày.
Chỉ mua gia cầm giống có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy, đã được kiểm dịch. Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Người chăm sóc gia cầm phải sử dụng ủng, giày, bảo hộ cá nhân khi vào khu chăn nuôi. Hạn chế khách ra, vào khu chăn nuôi; nếu phải ra, vào cần thay ủng, giày mới hoặc rửa sạch đế ủng, giày bằng nước xà phòng hoặc dung dịch khử khuẩn. Không để các phương tiện, dụng cụ vận chuyển vào khu vực chăn nuôi. Trong trường hợp bắt buộc, phải phun khử khuẩn hoặc rửa phương tiện bằng nước xà phòng.
Bổ sung dinh dưỡng, khoáng chất nâng cao sức đề kháng của gia cầm.
Phải báo cáo ngay cho trưởng thôn, cán bộ thú y khi thấy gia cầm ốm, chết. Khi có thông tin về dịch bệnh CGC xảy ra trên địa bàn cùng xã, khu vực xung quanh, cần tăng cường các biện pháp phòng bệnh.
CHI CỤC CHĂN NUÔI VÀ THÚ Y QUẢNG
Tối ưu hóa quy trình sản xuất chế phẩm
sinh học từ Lactiplantibacillus
Nghiên cứu các điều kiện tối ưu cho sản xuất chế phẩm probiotic định hướng thay thế kháng sinh trên gia cầm từ các chủng Lactiplantibacillus.
Nghiên cứu do Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế và Trường Đại học Tây Nguyên thực hiện.
Số lượng chủng Lactiplantibacillus được phân lập từ phân gà là 68, trong đó có 5 chủng kháng khuẩn tốt nhất chống lại vi khuẩn gây bệnh trên gà (Escherichia coli FG31-1, Salmonella typhimurium FC13827 và Proteus mirabilis MPE4069) đã được lựa chọn và đánh giá về tính an toàn. Bốn chủng (L. plantarum L3, L. plantarum L8, L. acidophilus L18, và L. agilis L27) được nuôi cấy trên các môi trường khác nhau, trong đó môi trường Mgl (chứa glucose) và Mlac (bột sữa gầy) cho sinh trưởng tốt nhất. Thử nghiệm lên men bán công nghiệp với các chủng này xác định tốc độ khuấy tối ưu là 50 vòng/phút, đạt sinh khối 0,6 g/L.
Lựa chọn chủng Lactiplantibacillus
Chủng Lactiplantibacillus được phân lập từ nguồn gà bản địa tại Thừa Thiên Huế và được kiểm tra khả năng kháng khuẩn đối với những vi khuẩn đã được phân lập từ những gà bản địa bị tiêu chảy.
Với mục tiêu tìm chủng vi khuẩn tiềm năng thay thế kháng sinh, việc đánh giá hoạt tính kháng khuẩn tyhphimurium FC13827 và Proteus mirabilis MPE4069 gây bệnh
đường tiêu hóa trên gà được thử nghiệm với 67 chủng Lactiplantibacillus được phân lập. Kết quả đã chọn ra được 13 chủng Lactiplantibacillus (19,41%) có hoạt động
ức chế chống lại ít nhất 2 trong 3 mầm bệnh (ĐK ≥ 10 mm). Còn lại, 11 chủng (16,42%) có thể ức chế được 1 trong 3 mầm bệnh và 43 chủng (64,17%) không ức chế được mầm
bệnh nào (dữ liệu không hiển thị). Nhìn chung, đối với cả 3 chủng vi khuẩn gây
bệnh, 5 chủng Lactiplantibacillus (L3, L8, L27, L18 và L36) có khả năng kháng khuẩn trung bình (14,11 - 17,89 mm) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với 8 chủng còn lại (8,21 - 12,33 mm).
Như vậy, kết quả trên cho thấy chủng
Lactiplantibacillus phân lập từ gà bản địa có khả năng chống lại một số vi khuẩn gây
bệnh phân lập được từ những gà bản địa bị bệnh tiêu chảy. Hoạt động này, cùng với cơ chế loại trừ cạnh tranh, trong đó các chủng lợi khuẩn cạnh tranh với mầm bệnh để lấy chất dinh dưỡng và vị trí gắn kết, ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập vào ruột.
Đánh giá tính an toàn của các chủng Lactiplantibacillus được lựa chọn
Hoạt động dung huyết
Vi khuẩn dương tính với dung huyết
được xem là không an toàn để sử dụng làm chế phẩm sinh học do độc lực của chúng gây phù nề và thiếu máu. Hemolysin do mầm bệnh tạo ra được cho là có tác dụng ly giải tế bào vật chủ để giải phóng các hợp chất chứa sắt như huyết sắc tố, có lợi cho sự phát triển của vi khuẩn có hại trong cơ thể vật chủ (Elliott et al., 1998). Trong khi kết quả xét nghiệm dung huyết β được xem là có hại, thì dung huyết γ và α được coi là an toàn. Trong nghiên cứu này, tất
cả các chủng đều biểu hiện dung huyết α, biểu hiện an toàn.
Khả năng kháng kháng sinh
Sự an toàn của chủng vi sinh đã nhận
được sự chú ý ngày càng tăng do khả năng chuyển giao và lan truyền các gen kháng kháng sinh giữa các vi sinh vật (Campedelli et al., 2019). Do đó, sự vắng mặt của các gen mã hóa kháng kháng sinh là lựa chọn quan trọng để đảm bảo an toàn cho chế phẩm vi sinh.
Trong nghiên cứu này, chủng L3 và L27 đã kháng (R) với vancomycin, trong khi các chủng khác thì ở mức nhạy (IS). Đối với các kháng sinh còn lại, mức độ khác của các chủng Lactiplantibacillus ở mức trung bình (IS) hoặc nhạy (S). Tuy nhiên, theo một số tác giả, khả năng kháng vancomycin của Lactiplantibacillus sẽ không được truyền sang vi khuẩn gây bệnh vì đây là một đặc điểm nội tại, được mã hóa bởi các gen nhiễm sắc thể (Gueimonde et al., 2013a) và sự thay thế đầu cuối d -alanine bằng d -lactate hoặc
d -serine trong muramyl-pentapeptide ngăn
chặn sự gắn kết của vancomycin (Lee et al., 2001). Như vậy, các chủng Lactiplantibacillus
được lựa chọn đều an toàn và được sử dụng cho các thử nghiệm tiếp theo.
Tối ưu hóa các điều kiện sinh trưởng cho Lactiplantibacillus được chọn
Các thí nghiệm sơ bộ để tối ưu hóa sản xuất quy mô lớn là cần thiết để cung cấp số
lượng lớn vi khuẩn sống probiotic cho vật nuôi đã được thực hiện. Sản xuất quy mô lớn và chi phí thấp các loại vi khuẩn này đang trở thành một vấn đề quan trọng. Do đó, khả năng sản xuất số lượng lớn tế bào, các thông số sinh trưởng và việc sử dụng các thành phần môi trường chi phí thấp nên được xem xét để tối ưu hóa môi trường tăng trưởng. Việc lựa chọn các chủng vi khuẩn tiềm năng thay thế kháng sinh trong phòng trị bệnh tiêu chảy ở gà dựa trên khả năng kháng khuẩn để áp dụng làm probiotic đã
được thực hiện trước đó cùng với các đặc
điểm an toàn cho phép.
Bốn chủng vi khuẩn (L. plantarum L3, L. plantarum L8, L. acidophilus L18, và L. agilis L27) được chọn để sàng lọc sơ bộ các điều kiện nuôi cấy tối ưu để tạo ra khối lượng tế bào cao. Với mục đích này, 5 môi
trường khác nhau bao gồm một số nguồn nitơ (sữa tách kem, protein cô đặc hòa tan từ váng sữa, peptone casein, chiết xuất nấm men) và carbon (glucose, lactose) đã được thử nghiệm. Kết quả cho thấy sự phát triển của vi khuẩn Lactiplantibacillus vào thành phần của các môi trường nuôi cấy. Động học khác nhau được hiển thị khi đo cả OD và số lượng CFU/mL. Khi xác định OD560 max trong môi trường trong suốt (Mpep, Mgl, MRSc và MRS), L. plantarum 1582, L. plantarum JDM1, L. acidophilus NCFM không thể phát triển trong môi trường Mpep có chứa peptone, trong khi L. agilis DSM 20509 lại có sự phát triển ít. Sự phát triển tốt hơn được tìm thấy đối với cả bốn loại vi khuẩn Lactiplantibacillus trong môi trường Mgl (có chứa glucose) và L. acidophilus NCFM và L. agilis DSM 20509 biểu hiện OD560max cao hơn sau 24 giờ. Tuy nhiên, các giá trị OD tối đa cũng được quan sát thấy đối với vi khuẩn Lactiplantibacillus khi sử dụng MRSc có giá trị MRS (pH tự do) thấp hơn.
Khi các thông số sinh trưởng được tính toán từ số lượng khuẩn lạc (CFU/
mL) thu được bằng phương pháp nuôi cấy trên đĩa, Lactiplantibacillus cho thấy mức tăng trưởng cao nhất (>109 CFU/mL) khi được cấy vào môi trường Mgl, Mlac, MRS và MRSc, mức sinh trưởng thấp hơn trong môi trường Mw và Msm trong khi mức tăng trưởng kém hơn trong môi trường Mpep. Số lượng tế bào cao nhất đạt được trong Mgl (L. plantarum 1582 và L. acidophilus NCFM), Mlac (L. plantarum 1582, L. plantarum JDM1 và L. agilis DSM 20509) và MRS (L. plantarum 1582 và L. acidophilus NCFM).
Từ kết quả của nghiên cứu này, Mlac (g/L: sữa gầy, 10; chiết xuất nấm men, 10; lactose, 30) và Mgl (g/L: chiết xuất nấm men, 20; glucose, 10) cho thấy điều kiện tốt để sản xuất bán công nghiệp hoặc công nghiệp các loại lợi khuẩn Lactiplantibacillus sử dụng cho chăn nuôi đã chọn. Sự hiện diện của natri axetat trong môi trường Mgl, một thành phần của môi trường MRS thương mại, được báo cáo là nguồn năng lượng và tác nhân chọn lọc đối với vi khuẩn Lactiplantibacillus (Stiles et al., 2002). Mặt khác, môi trường cô đặc protein whey (protein, 78%; carbohydrate, 4,5%) (Mw) cũng như môi trường chứa sữa gầy (Msm), một nguồn nitơ (casein, ~ 35%) và carbon (lactose, ~ 50%) tương ứng không thể tạo ra sinh khối vi khuẩn Lactiplantibacillus cao. Kết quả này không phù hợp với lợi thế về kinh tế và tăng trưởng của môi trường nuôi cấy dựa trên sữa gầy được sử dụng để sản xuất sinh khối Lactiplantibacillus (Kusnadi & Afriyan, 2012).00
Trùng hợp với kết quả tìm thấy khi đo OD, sản lượng sinh khối thấp nhất của các chủng Lactiplantibacillus được chọn thu được trong môi trường chứa casein peptone (Mpep), L. plantarum 1582, L. plantarum JDM1 và L. agilis DSM 20509 cho thấy giá trị CFU/mL tối đa thấp hơn. Riêng đối với L. acidophilus, Olson and Aryana (2012)) đã báo cáo sự giảm tăng trưởng khi có peptone so với sữa gầy, tương tự với kết quả từ nghiên cứu này. Môi trường nuôi cấy biến tính bao gồm chiết xuất nấm men, glucose và natri axetat/natri glutamat là các thành phần chính, loại bỏ peptone (nguồn nitơ đắt tiền) đã được sử dụng để sản xuất sinh khối bằng các chủng L. plantarum có mục đích sử dụng làm chế phẩm sinh học (Hwang et al., 2011). Môi trường tối ưu chứa các chất thải nông nghiệp - công nghiệp như váng sữa phô mai, chiết xuất nấm men công nghiệp, dịch
ngâm ngô, bột đậu nành và mật mía cùng nhiều loại khác đã được thử nghiệm để sản xuất sinh khối vi khuẩn Lactiplantibacillus (Hwang et al., 2011; Manzoor et al., 2017). Kiểm chứng điều kiện tối ưu trên thiết bị lên men bán công nghiệp
Hỗn hợp 4 chủng Lactiplantibacillus đã được định danh được nuôi trên thiết bị 30 L chứa 20 L môi trường và môi trường nuôi cấy có chứa glucose và bột sữa gầy (Mgl và Mlac), ở 37oC, với 5% tiếp giống, thời gian 24 giờ. Sinh khối tăng đáng kể từ 0,49 đến 0,64 g/L đến khi tăng tốc độ khuấy từ 10 đến 50 vòng/phút và có xu thế giảm nhẹ xuống còn khoảng 0,6 g/L khi tăng cao hơn. Như vậy, tốc độ khuấy thích hợp cho sự sinh trưởng của các chủng lợi khuẩn là 50 vòng/phút. Tốc độ khuấy có vai trò lớn đối với sinh trưởng của các vi sinh vật khi nuôi trong các thiết bị lên men, nó vừa có tác dụng đảo trộn môi trường vừa giúp phân tán đều dinh dưỡng tiếp xúc với bề mặt, làm tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng của tế bào. Sinh khối vi khuẩn tăng đáng kể từ 0,49 đến 0,64 g/L khi tăng tốc độ khuấy từ 10 đến 50 vòng/phút. Tuy nhiên, việc tăng tốc độ khuấy lên trên 50 vòng/phút lại không làm tăng sinh khối thêm, thậm chí còn có xu hướng giảm nhẹ.
Kết luận
Trong nghiên cứu, 68 chủng vi khuẩn được phân lập từ phân gà bản địa, 5 chủng Lactiplantibacillus (L3, L8, L18, L27 và L36) có khả năng kháng khuẩn cao đối với các mầm bệnh đường ruột trên gà trong nghiên cứu. Điều này an toàn do không có khả năng dung huyết và khả năng kháng kháng sinh thấp. Giải trình tự 16S rRNA xác định 4 trong 5 chủng này là L. plantarum 1582, L. plantarum JDM1, L. acidophilus NCFM và L. agilis DSM 20509. Các chủng này đạt được sinh khối cao nhất khi nuôi cấy trong môi trường chứa glucose và bột sữa gầy (Mgl và Mlac).
Thử nghiệm qua mô hình nuôi cấy bán công nghiệp cho thấy tốc độ khuấy 50 vòng/ phút có thể đạt sinh khối cao nhất (0,6 g/l). Như vậy, 4 chủng Lactiplantibacillus được tuyển chọn có tiềm năng sử dụng làm chế phẩm sinh học ở quy mô bán công nghiệp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà. (Nguồn: Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường)
“CAGE-FREE” Xu
hướng mới của ngành gia cầm
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi toàn cầu đang chuyển dịch theo hướng bền vững và có trách nhiệm hơn với môi trường cũng như vật nuôi, mô hình nuôi gà “không lồng” (Cage-Free) đang trở thành xu hướng mới của ngành gia cầm.
Triết lý nuôi gà không lồng
Trong hệ thống chăn nuôi công nghiệp truyền thống, gà mái đẻ thường được nuôi trong các lồng kim loại nhiều tầng với mật độ dày đặc. Cách nuôi này giúp tối ưu hóa diện tích chuồng trại và tăng sản lượng trứng, nhưng cũng làm dấy lên nhiều tranh luận về điều kiện sống của vật nuôi.
Phong trào “Không lồng - Cage-Free” ra đời như một hướng tiếp cận mới, đặt phúc lợi động vật vào trung tâm của quá trình sản xuất. Trong mô hình này, gà mái đẻ không bị nhốt trong lồng mà được nuôi trong không gian mở trong chuồng trại hoặc khu vực bán thả. Chuồng nuôi được thiết kế với
các khu vực chức năng như ổ đẻ, giá đậu, khu vực đi lại và tắm cát, giúp gà có thể thực hiện các hành vi tự nhiên như vỗ cánh, bới nền chuồng, leo đậu hoặc tìm kiếm thức ăn.
Các chuyên gia chăn nuôi cho rằng, việc cho phép gà thể hiện những hành vi tự nhiên không chỉ giúp giảm stress mà còn cải thiện sức khỏe đàn, từ đó nâng cao chất
lượng trứng và tuổi thọ vật nuôi. Đây cũng
là lý do khiến mô hình cage-free được xem là một bước tiến trong việc gắn chăn nuôi với đạo đức sản xuất thực phẩm. Không dừng lại ở khía cạnh kỹ thuật, phong trào “Cage-Free” còn gắn với triết lý sản xuất thực phẩm có trách nhiệm. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc thực phẩm, điều kiện chăn nuôi và tác động môi trường của ngành nông nghiệp, các sản phẩm trứng cage-free được xem là lựa chọn phản ánh cách tiếp cận nhân văn và bền vững hơn trong chuỗi cung ứng thực phẩm.
Nhiều chuyên gia nhận định rằng, phong trào này chính là sự chuyển dịch từ tư duy tối đa hóa sản lượng sang tối ưu hóa bền vững, trong đó phúc lợi động vật, môi trường và lợi ích của người tiêu dùng được đặt trong mối quan hệ hài hòa.
Đối với Việt Nam, xu hướng phúc lợi động vật đang manh nha rõ rệt và đã được luật hóa tại Luật Thú y 2015 và Luật Chăn nuôi 2018 cùng nhiều văn bản dưới luật. Xu hướng mạnh mẽ trên
Trong hơn một thập kỷ qua, mô hình nuôi gà cage-free đã phát triển nhanh chóng tại nhiều quốc gia. Tại châu Âu, các quy định về phúc lợi động vật ngày càng được siết chặt, buộc ngành chăn nuôi phải thay đổi phương thức sản xuất. Từ năm 2012, Liên minh châu Âu đã cấm sử dụng các loại lồng nuôi gà đẻ truyền thống. Nhiều quốc gia tiếp tục tiến thêm một bước khi khuyến khích loại bỏ hoàn toàn hệ thống lồng nuôi trong tương lai. Các nước như Đức, Hà Lan và Áo hiện có tỷ lệ trứng cage-free rất cao, trong đó phần lớn trứng được sản xuất từ hệ thống nuôi thả hoặc bán thả. Tại Anh, hơn một nửa sản lượng trứng thương mại đã đến từ các hệ thống nuôi không lồng. Nhiều chuỗi siêu thị lớn tại quốc gia này chỉ bán trứng cage-free, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với các sản phẩm thân thiện với động vật. Ở khu vực Bắc Mỹ, xu hướng này cũng
phát triển mạnh mẽ. Tại Mỹ, nhiều bang đã ban hành quy định cấm bán trứng từ gà nuôi trong lồng chật hẹp. Đồng thời, hàng loạt tập đoàn thực phẩm và chuỗi nhà hàng lớn đã cam kết chuyển sang sử dụng 100% trứng cage-free trong chuỗi cung ứng của mình.
Còn ở châu Á, phong trào cage-free cũng đang lan rộng. Tại Nhật Bản và Singapore, nhiều doanh nghiệp thực phẩm và hệ thống khách sạn quốc tế đã chuyển sang sử dụng trứng cage-free nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững toàn cầu. Trong khi đó, tại Thái Lan, một số tập đoàn chăn nuôi lớn đã đầu tư các trang trại gà đẻ theo mô hình phúc lợi động vật để phục vụ thị trường cao cấp.
Sự phát triển nhanh của trứng cage-free trên thế giới không chỉ đến từ quy định pháp lý mà còn từ sức ép của thị trường. Khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến đạo đức sản xuất thực phẩm, các doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh chuỗi cung ứng để đáp ứng xu hướng tiêu dùng mới.
Triển vọng phát triển tại Việt Nam
Tại Việt Nam, mô hình nuôi gà không lồng còn khá mới, song đã bắt đầu được một số doanh nghiệp và trang trại tiên phong triển khai trong những năm gần đây.
Một trong những doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực này là Công ty CP Thực phẩm Vĩnh Thành Đạt. Doanh nghiệp đã đưa ra thị trường dòng sản phẩm trứng gà cagefree đạt chứng nhận phúc lợi động vật quốc tế, được sản xuất từ đàn gà nuôi trong hệ thống chuồng mở cho phép gà di chuyển tự do và thực hiện các hành vi tự nhiên.
Cùng nữa là sự hợp tác chiến lược giữa Hợp tác xã Nguyễn Gia và Công ty Global Food Partners (GFP). Đây được xem là bước ngoặt giúp ngành gia cầm nội địa thoát khỏi lối mòn cũ, nâng cao giá trị thương hiệu và sẵn sàng gia nhập chuỗi cung ứng thực phẩm bền vững toàn cầu.
Theo đại diện doanh nghiệp, việc chuyển sang mô hình cage-free không chỉ nhằm cải thiện phúc lợi vật nuôi mà còn giúp nâng cao giá trị sản phẩm và đáp ứng xu hướng tiêu dùng bền vững đang gia tăng tại thị trường trong nước.
Bên cạnh đó, một số mô hình trang trại quy mô nhỏ cũng đã thử nghiệm thành công chăn nuôi gà theo tiêu chuẩn phúc lợi
động vật. Trang trại của Green Connect tại
Đồng Nai là một ví dụ, với đàn gà mái đẻ
TS HẠ THÚY HẠNH
Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ động vật Việt Nam
“Ngành chăn nuôi muốn phát triển hơn nữa và hội nhập được với thế giới, nhất thiết chúng ta phải
đưa phúc lợi động vật vào các chương trình đào tạo, nghiên cứu cũng như áp dụng trong thực tiễn sản xuất và xã hội, nâng cao giá trị sản phẩm chăn nuôi và đạt yêu cầu xuất khẩu”.
ÔNG FRANK ANDREASEN
“Khi áp dụng mô hình Cage-free, người chăn nuôi
sẽ hướng đến quy trình sản xuất trứng bền vững hơn, đồng thời nâng cao phúc lợi động vật. Khi sản xuất theo mô hình này, họ có thể cung cấp trứng bền vững cho các đơn vị hiện đang có nhu cầu lớn
đối với trứng gà cage-free như các nhà hàng hay tập đoàn thực phẩm. Ngày càng nhiều khách sạn cao
cấp, công ty cung cấp suất ăn và doanh nghiệp thực phẩm ưu tiên sử dụng trứng gà cage-free, nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và giảm dấu chân carbon. Nhờ vậy, người chăn nuôi không chỉ có cơ hội tiếp cận thị trường tốt hơn, mà còn thu về giá trị kinh tế tốt hơn so với mô hình nuôi nhốt truyền thống”.
được nuôi trong không gian mở, có sào đậu, ổ đẻ và khu vực vận động. Sản phẩm trứng từ mô hình này được đưa ra thị trường dưới thương hiệu “Trứng gà 3 Mộc”, hướng tới phân khúc tiêu dùng quan tâm đến sức khỏe và môi trường.
Ở khâu tiêu thụ, nhiều doanh nghiệp chế biến thực phẩm và chuỗi nhà hàng cũng bắt đầu quan tâm đến nguồn nguyên liệu từ chăn nuôi nhân đạo. Chẳng hạn, Mondelez Kinh Đô Việt Nam đã đưa trứng cage-free vào sản xuất một số dòng bánh cao cấp, cho thấy xu hướng chuyển dịch trong chuỗi cung ứng thực phẩm.
Ở góc độ chính sách, các cơ quan quản lý và tổ chức khoa học cũng đang thúc đẩy nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm và xây dựng các mô hình chăn nuôi theo tiêu chuẩn phúc lợi động vật. Sự ra đời của các sáng kiến hợp tác giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng được kỳ vọng sẽ giúp ngành gia cầm từng bước tiếp cận các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến. Dù vậy, việc mở rộng mô hình cage-free
tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. So với hệ thống nuôi lồng công nghiệp, mô hình này đòi hỏi diện tích chuồng trại lớn hơn, chi phí đầu tư ban đầu cao hơn và yêu cầu kỹ thuật quản lý đàn phức tạp hơn. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định rằng, trong dài hạn xu hướng tiêu dùng thực phẩm có trách nhiệm sẽ ngày càng rõ nét. Khi nhận thức của người tiêu dùng về phúc lợi động vật và chất lượng thực phẩm được nâng cao, các sản phẩm từ mô hình chăn nuôi nhân đạo như cage-free sẽ có nhiều cơ hội mở rộng thị trường. Phong trào “Cage-Free” không chỉ là một xu hướng mới của ngành chăn nuôi thế giới mà còn mở ra hướng đi tiềm năng cho ngành gia cầm Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, bền vững và có trách nhiệm hơn. Việc chuyển đổi này chính là “giấy thông hành” để gia cầm Việt Nam bước vào các thị trường khó tính, nơi người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm bền vững.