HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành
CỘNG TÁC NỘI DUNG
Thu Hồng; Kim Tiến; Thùy Khánh; Anh Thư Nguyễn Hùng; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Lê Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Sao Mai; Quỳnh Nga; Vũ Mưa...
MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai
TÒA SOẠN
P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KĐT An Hưng, phường La Khê, TP Hà Nội.
Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định Điện thoại: 028.62777616
GIẤY PHÉP XUẤT BẢN:
Số 543/GP-BTTT ngày 05/12/2016
Số 74/GP-BVHTTDL ngày 14/07/2025
Khuôn khổ: 23 x 30cm
Nơi in: Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO:
Ngọc Ánh: 0963.555.554 - Bảo Ngọc: 098.999.1977
Vũ Na: 0978.233.492
Email: quangcaoncn@gmail.com
Liên hệ đặt báo: Ms: Ngọc Ánh; DĐ: 0963.555.554
Email: phathanhtggc@gmail.com
SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936
Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV), Chi nhánh Tràng An
Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 01202001
Địa chỉ ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội
Thưa quý vị bạn đọc!
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 6 tháng đầu năm 2026, chăn nuôi cả nước phát triển tương đối ổn định. Dịch bệnh trên vật nuôi cơ bản được kiểm soát, trong khi các mô hình chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học tiếp tục được mở rộng, góp phần duy trì đà tăng trưởng của ngành.
Trong bức tranh chung, chăn nuôi gia cầm tiếp tục giữ vai trò là động lực chính. Mặc dù chi phí thức ăn, con giống và thuốc thú y vẫn ở mức cao khiến nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ còn thận trọng trong tái đàn; chăn nuôi gia cầm vẫn tiếp tục phát triển thuận lợi nhờ chu kỳ sản xuất ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và việc mở rộng các trang trại áp dụng quy trình an toàn sinh học. Đến cuối tháng 6, tổng đàn gia cầm cả nước tăng khoảng 3,1%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tăng 5,6%, trong khi sản lượng trứng đạt khoảng 10,8 tỷ quả, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Một trong những sự kiện nổi bật trên lĩnh vực xuất khẩu đó là việc lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu chính ngạch thành công lô hàng gồm 172.000 quả trứng ăn liền của Công ty CP Thực phẩm Vĩnh Thành Đạt sang thị trường Nhật Bản. Điều này được nhận định là đã góp phần giải tỏa phần nào áp lực dư cung của thị trường trong nước và đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Như chia sẻ của PGS.TS Bùi Hữu Đoàn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, xuất khẩu trứng ăn liền không phải con đường dễ dàng, nhưng là một hướng đi rất quan trọng. Khi quả trứng
được sản xuất sạch, chế biến đúng công nghệ và có hồ sơ đầy đủ, giá trị của nó không chỉ nằm ở dinh dưỡng, mà còn ở khả năng tham gia vào một thị trường rộng hơn, ổn định hơn và có giá trị cao hơn.
Bên cạnh đó, ngành gia cầm hiện đối diện với rào cản về chi phí nguyên
liệu liên tục gia tăng và áp lực chăn nuôi bền vững ngày càng lớn; đòi hỏi cần có giải pháp tối ưu hóa giải thách thức này và dinh dưỡng chính xác đang trở thành chìa khóa cốt lõi thay đổi diện mạo ngành hàng này. TS Nguyễn Thanh
Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) đã có bài viết chuyên sâu với tiêu đề: “Dinh dưỡng chính xác: Định hình lại tương lai ngành chăn nuôi gia cầm” trên Tạp chí Thế giới Gia cầm xuất bản kỳ tháng 7 này. Theo TS Sơn, để hiện thực hóa dinh dưỡng chính xác, ngành chăn nuôi gia cầm hiện đại đang dựa trên sự tích hợp của ba trụ cột công nghệ chính. Ba trụ cột cốt lõi đó bao gồm: Đặc tính hóa nguyên liệu, Mô hình hóa nhu cầu sinh học và Hệ thống cho ăn chính xác. Sự kết hợp đồng bộ của ba yếu tố này giúp chuyển đổi mô hình chăn nuôi từ “ước tính trung bình” sang “đáp ứng thời gian thực”. Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn thuộc VPA cũng đang tiên phong chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình “mua bán cám thương phẩm” truyền thống sang “cung cấp giải pháp dinh dưỡng trọn gói”. Xu hướng tích hợp các phần mềm quản lý số vào chuỗi chăn nuôi khép kín (Feed - Farm - Food) kết hợp với nội địa hóa công nghệ sẽ là bệ phóng vững chắc đưa ngành gia cầm Việt Nam tự tin hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó là hàng loạt bài viết phân tích chuyên sâu về công nghệ, giải pháp hay những xu hướng xung quanh câu chuyện dinh dưỡng chính xác trong chăn nuôi gia cầm đang được cộng đồng các chuyên gia, doanh nghiệp và người nuôi quan tâm.
Ngoài ra, như thường lệ Tạp chí Thế giới Gia cầm tiếp tục cập nhật về tình hình thị trường chăn nuôi trong nước, quốc tế, hoạt động của doanh nghiệp cũng như những mô hình cách làm hay trong chăn nuôi. Mời quý độc giả đón đọc!
Trân trọng!
Chăn nuôi 6 tháng đầu năm tăng trưởng ổn định
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngành chăn nuôi duy trì đà tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm 2026 nhờ mở rộng mô
hình chăn nuôi trang trại, ứng dụng an toàn sinh học.
Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển thuận lợi nhờ chu kỳ sản xuất ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và việc mở rộng
các trang trại áp dụng quy trình an toàn sinh học. Đến cuối tháng
6, tổng đàn gia cầm cả nước tăng khoảng 3,1%. Sản lượng thịt gia
cầm hơi xuất chuồng đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tăng 5,6%, trong khi sản lượng trứng đạt khoảng 10,8 tỷ quả, tăng 2,6% so với
cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có mức tăng trưởng nổi
bật gồm Cần Thơ, Lâm Đồng, Nghệ An, Đắk Lắk và Quảng Trị.
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 375,8 triệu USD, tăng 34,6%, trong khi nhập khẩu đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9%. Tuy nhiên, chăn nuôi vẫn đối mặt nhiều thách thức khi
đàn trâu, bò tiếp tục giảm, chi phí đầu vào duy trì ở mức cao và
một số dịch bệnh nguy hiểm như dịch tả heo châu Phi, cúm gia cầm diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương.
tướng Hồ Quốc Dũng tiếp Chủ tịch
Tập đoàn C.P
Chiều ngày 10/7/2026, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ
Quốc Dũng đã tiếp xã giao ông Soopakij Chearavanont, Chủ tịch Tập đoàn C.P. Tại buổi tiếp, Phó Thủ tướng đánh giá cao những đóng góp của Tập đoàn C.P. trong hơn 30 năm hoạt động tại Việt Nam, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an toàn thực phẩm, tạo việc làm, thúc đẩy phát triển chăn nuôi, chế biến sâu và xuất khẩu; đồng thời bày tỏ mong muốn Tập đoàn C.P. tiếp tục tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chủ tịch Tập đoàn C.P. cảm ơn Chính phủ Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho Tập đoàn C.P, khẳng định định hướng phát triển dựa trên ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất của Tập đoàn và cam kết đồng hành cùng Việt Nam phát triển nền nông nghiệp hiện đại, thông minh và bền vững, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực chuyển đổi số, ứng dụng AI, công nghệ cao và các giải pháp sản xuất xanh.
NAM LINH
Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác phát triển chăn nuôi gia cầm
Mới đây tại Hà Nội, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam phối hợp với Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Viện Kinh tế Nông thôn Hàn Quốc (KREI) khởi động Chương trình nghiên cứu chung KAPEX Việt Nam 2026 về phát triển chăn nuôi gia cầm thông minh. Chương trình tập trung đánh giá thực trạng ngành chăn nuôi gia cầm, xác định các điểm nghẽn, xây dựng chiến lược ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ xây dựng văn kiện đề xuất dự án ODA dự kiến triển khai từ năm 2028. Dịp này, hai bên ký Biên bản thỏa thuận và Điều khoản tham chiếu cho chương trình nghiên cứu. Các chuyên gia Hàn Quốc cũng chia sẻ kinh nghiệm về mô hình chăn nuôi thông minh, góp phần thúc đẩy
chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam.
THÙY KHÁNH
Triển khai quy định mới về quản lý thức ăn chăn nuôi
Ngày 3/7, tại Hà Nội, Trung tâm Khảo nghiệm, Kiểm nghiệm và Kiểm định Chăn nuôi Trung ương I (Cục Chăn nuôi và Thú y) tổ chức hội nghị triển khai các quy định mới về quản lý thức ăn chăn nuôi. Theo quy định mới, doanh nghiệp được chuyển mạnh sang cơ chế tự công bố sản phẩm, tự chịu trách nhiệm về chất lượng; đồng thời bãi bỏ một số thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thông quan đối với thức ăn chăn nuôi nhập khẩu từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng siết chặt hậu kiểm và tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm về sản xuất, công bố thông tin, chất lượng sản phẩm và sử dụng nguyên liệu, chất cấm không đúng quy định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần rà soát hồ sơ, tiêu chuẩn chất lượng và ghi nhãn sản phẩm để bảo đảm tuân thủ quy định mới.
PHƯƠNG KHANH
AAAP 2026 tăng tốc công tác chuẩn bị trước thềm hội nghị
Sáng 4/7, tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Cố vấn Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á - Úc lần thứ 21 (AAAP 2026) tổ chức cuộc họp lần thứ nhất nhằm rà soát tiến độ, hoàn thiện chương trình khoa học và công tác tổ chức. Đến ngày 2/7, hội nghị đã thu hút 704 đại biểu đăng ký, trong đó có 473 đại biểu quốc tế đến từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, cùng 549 bài báo khoa học. Ban Cố vấn thống nhất tiếp tục hoàn thiện Thông điệp Hà Nội 2026 với chủ đề “Chăn nuôi bền vững”, đồng thời tăng cường vận động đại biểu, bài báo khoa học trong nước, mở rộng hợp tác quốc tế và đẩy mạnh truyền thông. Các ý kiến tại cuộc họp cũng nhấn mạnh yêu cầu
nâng cao chất lượng học thuật, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, góp phần tổ chức thành công sự kiện khoa học chăn nuôi lớn nhất khu vực.
MINH KHUÊ
THÁI NGUYÊN
Ban hành chính sách di dời, hỗ trợ cơ sở chăn nuôi khỏi khu vực cấm
HĐND tỉnh Thái Nguyên vừa thông qua Nghị quyết quy định khu vực không được phép chăn nuôi. Theo đó, khu vực có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 85% trở lên và diện tích đất phi nông nghiệp từ 80% trở lên so với tổng diện tích đất tự nhiên sẽ không được phép chăn nuôi. UBND tỉnh sẽ căn cứ tiêu chí này để quyết định danh sách cụ thể các khu vực bị cấm. Về chính sách hỗ trợ di dời, tỉnh sẽ hỗ trợ không quá 50% chi phí mua sắm thiết bị công trình/công nghệ (tối đa 10 tỷ đồng/cơ sở), không quá 50% chi phí di dời vật nuôi (tối đa 500 triệu đồng/cơ sở), và 100% chi phí đào tạo chuyển đổi nghề (tối đa 3 tháng lương cơ bản/người). Đối tượng hưởng lợi là các cơ sở chăn nuôi đã hoạt động trước khi Nghị quyết có hiệu lực mà nằm trong khu vực bị cấm. Hiện có 52 cơ sở chăn nuôi thuộc 16 xã dự kiến chịu ảnh hưởng, tỉnh dành khoảng 11 tỷ đồng để thực hiện hỗ trợ (10 tỷ vốn đầu tư công, 1 tỷ chi thường xuyên).
TRẦN VÂN
QUẢNG
NINH Tự động hóa trong chăn nuôi gia cầm quy mô lớn
Tính đến cuối tháng 6 năm nay, tổng đàn gia cầm toàn tỉnh Quảng Ninh ước đạt hơn 5,4 triệu con, tăng khoảng 177 nghìn con so cùng kỳ năm trước. Kết quả này đạt được nhờ các cơ sở, hộ chăn nuôi trong tỉnh triển khai hiệu quả các biện pháp an toàn sinh học và ứng dụng kỹ thuật mới vào quy trình chăn nuôi. Điển hình như trang trại chăn nuôi gia cầm của anh Lãnh Văn Tùng (khu Thượng Thông, phường Hoàng Quế). Trang trại có 4 dãy chuồng nuôi, trong đó mỗi dãy chuồng có quy mô nuôi đàn từ 1 vạn đến 1,5 vạn con/lứa nuôi nhưng lại chỉ cần duy nhất một công nhân thực hiện từ khâu cho ăn đến vệ sinh mỗi chuồng. Với mô hình chăn nuôi khép kín ứng dụng tự động hóa như hiện tại, khâu làm giống cũng được anh Tùng chủ động nhờ mạnh dạn đầu tư 350 con gà trống từ giống gà Đông Tảo và 6.500 con gà mái từ giống gà Phượng để tạo nên giống gà thương phẩm gà Hồ thông qua phương pháp thụ tinh nhân tạo. Đến nay, trang trại chăn nuôi của anh Tùng duy trì tổng đàn gà Hồ thương phẩm 50.000 con, doanh thu khoảng 20 tỷ đồng/năm.
MỘC LAN
THANH HÓA Đưa đặc sản vịt Cổ Lũng lên sàn thương mại điện tử
Mới đây, UBND xã Cổ Lũng (Thanh Hóa) đã tổ chức chương trình livestream quảng bá và kết nối tiêu thụ vịt Cổ Lũng trên các nền tảng mạng xã hội. Trong buổi phát sóng, người xem được xem trực tiếp trang trại chăn nuôi, quy trình chăm sóc, phòng bệnh, truy xuất nguồn gốc, đồng thời giao lưu với lãnh đạo địa phương và hộ
chăn nuôi. Chỉ sau vài giờ đầu, chương trình đã thu hút lượng lớn lượt xem và ghi nhận hàng nghìn đơn đặt hàng từ nhiều tỉnh thành.
Theo lãnh đạo địa phương, đây là bước đi quan trọng nhằm thúc
đẩy chuyển đổi số nông nghiệp, giúp sản phẩm tiếp cận trực tiếp
người tiêu dùng thay vì phụ thuộc thương lái. Địa phương đã tổ chức tập huấn kỹ năng số cho các hộ chăn nuôi và hợp tác xã, đồng thời hỗ trợ chuẩn hóa quy trình chăn nuôi, đóng gói, bảo quản phù hợp với bán hàng trực tuyến. Tuy nhiên, mô hình vẫn đối mặt thách thức: bảo quản, vận chuyển sản phẩm tươi sống đòi hỏi khắt khe về thời gian, nhiệt độ; kỹ năng số của nhiều hộ nhỏ lẻ còn hạn chế; cùng áp lực chi phí logistics và cạnh tranh trên sàn.
AN GIANG
Doanh nghiệp yến sào chuyển hướng chế
sâu, xây dựng thương hiệu
Trước sức ép cạnh tranh, nhiều hộ nuôi và doanh nghiệp yến sào tại An Giang đang chuyển từ bán tổ yến thô sang sơ chế, xây dựng thương hiệu riêng để tăng giá trị. Toàn tỉnh hiện có khoảng 4.475 nhà yến - thuộc nhóm lớn nhất cả nước, sản lượng năm 2025 đạt khoảng 35 tấn, nhưng chế biến, tiêu thụ vẫn chủ yếu nhỏ lẻ. Một số cơ sở như Tổ yến Hoàng Lịch, Yến sào Hùng Diễm, Yến sào Du Long đã đầu tư bài bản về sản phẩm, bao bì, truy xuất nguồn gốc, tham gia chương trình OCOP. Đáng chú ý, Yến sào Hồng Châu Yến đã xuất khẩu chính ngạch nước yến sang Đài Loan từ 2025, đạt các chứng nhận HACCP, ISO 22000, và đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử tại Đài Loan, Nhật Bản.
THÙY DƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH
Kế hoạch phòng chống 3 dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi 2026 - 2030
UBND TP Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch phòng, chống các bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng (LMLM) và dịch tả heo châu Phi giai đoạn 2026 - 2030, hướng đến xây dựng hệ thống phòng dịch hiện đại, đồng bộ, nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo sớm, tiêm phòng và kiểm dịch. Thành phố đặt mục tiêu giảm tối thiểu 30% số ổ dịch của cả 3 bệnh so với các giai đoạn trước. Cụ thể: với cúm gia cầm, trên 80% tổng đàn thuộc diện bắt buộc được tiêm phòng và duy trì tối thiểu 200 cơ sở/vùng an toàn dịch bệnh; với LMLM, trên 80% tổng đàn gia súc được tiêm phòng và duy trì tối thiểu 100 cơ sở/vùng an toàn; với dịch tả heo châu Phi, xây dựng và duy trì ít nhất 70 cơ sở/vùng chăn nuôi heo an toàn dịch bệnh. Để đạt mục tiêu, thành phố sẽ tổ chức 2 đợt tiêm phòng đại trà mỗi năm, tăng cường giám sát dựa trên đánh giá nguy cơ, giải trình tự gen các chủng virus, xây dựng bản đồ dịch tễ số, đồng thời đẩy mạnh truyền thông, tập huấn cho cán bộ thú y và người chăn nuôi, kiểm soát chặt việc vận chuyển, giết mổ động vật, cũng như phối hợp liên ngành y tế - nông nghiệp theo phương thức “Một sức khỏe” đối với cúm gia cầm.
CHO NGÀNH GIA CẦM VIỆT
Trong
Không chỉ là một lô hàng xuất khẩu
Trong nhiều năm, trứng gia cầm của Việt Nam chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng tươi.
Giá trị gia tăng của sản phẩm vì thế chưa cao, trong khi thị trường nội địa thường xuyên chịu ảnh hưởng của biến động cung cầu.
Nhận thấy dư địa phát triển của các sản phẩm chế biến, VFood đã đầu tư nghiên cứu dòng trứng ăn liền, sản phẩm có thể sử dụng ngay, thuận tiện cho người tiêu dùng hiện đại, đồng thời kéo dài thời gian bảo quản và đáp ứng nhu cầu của các hệ thống bán lẻ, nhà hàng và chuỗi cửa hàng tiện lợi.
Sau gần hai năm chuẩn bị, nghiên cứu và hoàn thiện sản phẩm theo các tiêu chuẩn khắt khe của đối tác, VFood đã chính thức xuất khẩu container trứng ăn liền đầu tiên sang thị trường Nhật Bản. Lô hàng gồm 172.000 quả đặt dấu mốc lần đầu tiên sản phẩm trứng ăn liền của Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch vào một trong những thị trường có yêu cầu cao nhất thế giới về chất lượng và an toàn thực phẩm.
Theo TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch
Hiệp hội Gia cầm Việt Nam: “Việc xuất khẩu thành công lô trứng ăn liền đầu tiên đã góp phần giải tỏa phần nào áp lực dư cung của thị trường trong nước. Dù quy mô lô hàng
chưa lớn, sự kiện cho thấy doanh nghiệp Việt
đã bắt đầu biết cách dịch chuyển một phần sản lượng sang các thị trường quốc tế thay vì chỉ phụ thuộc vào sức tiêu thụ nội địa. Đây là hướng đi quan trọng giúp phân tán rủi ro, giảm áp lực cung vượt cầu và tạo thêm dư địa cho ngành trứng phát triển bền vững”.
Chinh phục bằng giá trị gia tăng thay vì giá rẻ
Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, điểm đáng chú ý nhất không nằm ở số lượng hơn 170.000 quả trứng được xuất khẩu, mà ở cách doanh nghiệp tiếp cận thị trường Nhật
Bản. Nếu trước đây nông sản Việt chủ yếu cạnh tranh bằng giá bán thấp thì lần này, VFood lựa chọn con đường hoàn toàn khác, đó là đầu tư vào nghiên cứu, chế biến và phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người Nhật.
Trứng ăn liền không đơn thuần là một sản phẩm thực phẩm, mà là giải pháp đáp ứng xu hướng tiêu dùng tiện lợi tại một quốc gia có nhịp sống công nghiệp cao và hệ thống cửa hàng tiện lợi phát triển mạnh.
Chính cách tiếp cận này đã giúp sản phẩm
Việt Nam vượt qua những hàng rào kỹ thuật vốn được xem là khắt khe bậc nhất thế giới.
Thành công của Vĩnh Thành Đạt trở thành minh chứng cho thấy doanh nghiệp
Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng các tiêu
chuẩn quốc tế nếu đầu tư bài bản về công nghệ, quản trị chất lượng và nghiên cứu thị trường. Không chỉ vậy, việc sản phẩm
được chấp nhận tại thị trường Nhật Bản sẽ tạo ra “giấy thông hành” quan trọng để doanh nghiệp tiếp cận các thị trường cao cấp khác. Đồng thời là tín hiệu tích cực
đối với ngành chế biến thực phẩm Việt
Nam khi ngày càng nhiều doanh nghiệp hướng tới các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao.
Tín hiệu tích cực cho toàn chuỗi chăn nuôi
Theo TS Nguyễn Thanh Sơn, ý nghĩa của sự kiện trứng ăn liền vừa qua không chỉ dừng lại ở thành công của một doanh nghiệp mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa đối với toàn ngành gia cầm. Khi các thị trường cao cấp đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát dịch bệnh, doanh nghiệp chế biến buộc phải xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và thiết lập chuỗi liên kết chặt chẽ với người chăn nuôi.
Áp lực từ thị trường xuất khẩu vì thế sẽ trở thành động lực thúc đẩy các trang trại chuyển từ phương thức sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình chăn nuôi chuyên nghiệp, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình an toàn sinh học, kiểm soát dư lượng kháng sinh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây cũng là nền tảng để ngành gia cầm từng bước xây dựng chuỗi giá trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu của những thị trường có giá trị cao.
Theo Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, để có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam đưa sản phẩm vào Nhật Bản và các thị trường khó tính khác, điều quan trọng trước hết là phải thay đổi tư duy từ “sản xuất những gì mình có” sang “sản xuất những gì thị trường cần”. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu phát triển sản phẩm, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng cũng như các quy chuẩn kỹ thuật của từng thị trường.
XUẤT KHẨU TRỨNG ĂN LIỀN
Hướng đi mới đầy tiềm năng
Trong đời sống, trứng là loại thực phẩm bổ dưỡng, quen thuộc và được tiêu thụ với số lượng lớn. Ở các nước phát triển, có thu nhập cao, bình quân mỗi người tiêu thụ khoảng 300 quả trứng/năm. Ngoài trứng tươi, các sản phẩm trứng qua chế biến và trứng ăn liền đã trở nên khá phổ biến. Cuộc sống đô thị hối hả làm tăng nhu cầu về thực phẩm nhanh, sạch, tiện dùng; trong đó có trứng ăn liền.
Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu trứng ăn liền sang một số nước, trong đó có Nhật Bản. Đây là sản phẩm trứng gia cầm dạng nguyên quả đã nấu chín, phối gia vị, có thể ăn ngay hoặc hâm nóng trước khi sử dụng. Nhưng cốt lõi của sản xuất trứng ăn liền xuất khẩu là phải áp dụng tốt hai nền tảng: sản xuất trứng sạch và chế biến thực phẩm công nghệ cao.
Trứng sạch là nền móng. Đàn gia cầm phải có nguồn gốc rõ ràng, có thể truy xuất, được quản lý tốt về an toàn sinh học, dịch bệnh, thức ăn, nước uống, thuốc thú y và tồn dư. Trứng đưa vào nhà máy phải đồng đều, nguyên vỏ, không nứt, không bẩn, không dị hình. Công nghệ chế biến là khâu nâng giá trị: xử lý nhiệt đúng quy trình, bóc vỏ hoặc phối gia vị chuẩn, làm nguội nhanh, đóng gói kín, kiểm soát vi sinh, cảm quan, hạn sử dụng, nhãn mác và điều kiện bảo quản. Khi hai khâu này nối được với nhau thành chuỗi khép kín, quả trứng mới vượt khỏi thân phận hàng tươi sống để trở thành sản phẩm hợp quy, đủ điều kiện đi vào các thị trường khó tính.
Trứng ăn liền là loại thực phẩm có rủi ro an toàn cao nếu không tuân thủ quy trình nghiêm ngặt. Trứng giàu dinh dưỡng, nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển nếu nguyên liệu, xử lý nhiệt, làm nguội, bóc vỏ, đóng gói và bảo quản không chặt. Codex Alimentarius có quy phạm vệ sinh riêng cho trứng và sản phẩm trứng, nhấn mạnh kiểm soát theo chuỗi, từ đàn gia cầm đến bàn ăn (Codex Alimentarius Commission, 2007). FAO và WHO cũng xếp Salmonella trong trứng và thịt gà vào nhóm nguy cơ cần quản lý chặt (Food and Agriculture Organization of the United Nations & World Health Organization, 2002).
Muốn xuất khẩu, phải bắt đầu từ vùng nguyên liệu sạch, đàn gia cầm được kiểm soát về an toàn sinh học, dịch bệnh, thức ăn, nước uống, thuốc thú y và vaccine. Trang trại phải ghi chép, truy xuất, phân loại, loại bỏ trứng nứt, trứng bẩn, trứng dị hình. Nhà máy chế biến phải có khu bẩn và khu sạch tách biệt; xử lý nhiệt đủ; làm nguội nhanh; đóng gói kín; kiểm soát pH, độ mặn, hoạt độ nước, phụ gia, hạn sử dụng và các chỉ tiêu vi sinh. HACCP, ISO 22000, FSSC 22000, BRC hoặc các tiêu chuẩn tương đương là điều kiện cần thiết để sản phẩm có thể đi xa. Thị trường Nhật Bản là một ví dụ. Thực phẩm nhập khẩu vào Nhật phải đáp ứng Luật Vệ sinh thực phẩm; sản phẩm nguồn gốc động vật còn liên quan đến kiểm dịch, chứng thư và yêu cầu thẩm quyền (Ministry of Health, Labour and Welfare of Japan, 2026; Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Japan, 2026). Vì vậy, lô trứng ăn liền đầu tiên của doanh nghiệp Việt Nam sang Nhật cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể hợp tác thành công với đối tác nhập khẩu, tổ chức chế biến công nghệ cao, chuẩn hóa quy trình, kiểm soát chất lượng, điều chỉnh khẩu vị và hoàn thiện hồ sơ.
Ngay cả với thị trường trong nước, nếu có sản phẩm tốt và đa dạng, trứng ăn liền cũng có thể vào cửa hàng tiện lợi, siêu thị, bếp ăn công nghiệp, trường học, bệnh viện, khách sạn, hàng không, du lịch và thương mại điện tử. Nó có thể là bữa sáng nhanh, bữa phụ giàu đạm, phần đạm trong suất cơm công nhân hoặc hộp cơm học sinh.
Một nhược điểm lớn của ngành này là vốn đầu tư ban đầu khá cao. Dây chuyền
chế biến, bóc vỏ, xử lý nhiệt, đóng gói, kho lạnh, kiểm nghiệm đều tốn kém. Giá bán
sản phẩm cũng cao hơn trứng tươi, nên cần
được tuyên truyền, quảng bá tốt để người
tiêu dùng thấy rõ sự tiện lợi và an toàn.
Với xuất khẩu, rào cản còn cao hơn: mỗi
thị trường có quy định riêng về vi sinh, dư lượng, phụ gia, nhãn mác, chứng nhận thú y và công nhận cơ sở. Do đó, không nên phát triển ồ ạt; càng không nên gom trứng trôi nổi để chế biến. Chỉ những chuỗi có vùng nguyên liệu an toàn, nhà máy đạt chuẩn và thị trường rõ mới nên đưa vào chế biến.
Hướng
đi phù hợp là chọn sản phẩm mũi nhọn. Trứng gà có thể làm dòng vị truyền thống, vị thảo mộc, vị ngâm tương, trứng luộc bóc vỏ. Trứng cút nên đi vào dòng ăn liền, sốt, dùng cho mì và cơm hộp. Trứng vịt có thể tập trung vào trứng muối, trứng kho, trứng bắc thảo và lòng đỏ trứng muối. Song song với nhóm ăn liền, ngành trứng cần phát triển trứng lỏng thanh trùng, bột trứng, lòng trắng, lòng đỏ và bán thành phẩm cho công nghiệp thực phẩm. Để hướng đi này phát triển bền vững, cần có sự tham gia đồng bộ của nhiều bên. Nhà nước cần hỗ trợ mở cửa thị trường, quy chuẩn, kiểm nghiệm, xúc tiến thương mại và thông tin thị trường. Doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu, nhà máy, bao bì, thương hiệu và quản trị chất lượng. Các viện nghiên cứu, trường đại học cần nghiên cứu xử lý nhiệt, bảo quản, bao bì, cảm quan, dinh dưỡng, vi sinh và hạn dùng. Người chăn nuôi phải ghi chép, giữ an toàn sinh học, kiểm soát thuốc thú y và sản xuất trứng đúng tiêu chuẩn.
Xuất khẩu trứng ăn liền không phải con đường dễ dàng, nhưng là một hướng đi rất quan trọng. Nó giúp ngành gia cầm chuyển từ bán sản phẩm tươi là chính sang phát triển chuỗi giá trị, đồng thời giúp người nuôi bớt lệ thuộc vào thị trường ngắn hạn. Khi quả trứng được sản xuất sạch, chế biến đúng công nghệ và có hồ sơ đầy đủ, giá trị của nó không chỉ nằm ở dinh dưỡng, mà còn ở khả năng tham gia vào một thị trường rộng hơn, ổn định hơn và có giá trị cao hơn.
PGS.TS BÙI HỮU ĐOÀN
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
ngành chăn nuôi gia cầm
Trong bối cảnh chi phí nguyên liệu liên tục gia tăng và áp lực chăn nuôi bền vững ngày càng lớn, dinh dưỡng chính xác đang trở thành chìa khóa cốt lõi thay đổi diện mạo ngành gia cầm. Giải pháp này không chỉ tối ưu hóa chi phí thức ăn mà còn nâng cao sức khỏe đàn vật nuôi và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường.
Dinh dưỡng chính xác (Precision Nutrition) là gì?
Dinh dưỡng chính xác trong chăn nuôi
gia cầm là việc cung cấp đúng lượng dinh dưỡng đúng thời điểm, phù hợp với nhu cầu thực tế của từng cá thể hoặc từng nhóm đàn tại các giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Khác với phương pháp nuôi truyền thống dựa trên các công thức thức ăn cố định hoặc trung bình cho cả giai đoạn dài, dinh dưỡng chính xác hướng tới cá thể hóa/nhóm nhỏ hóa, xác lập nhu cầu dinh dưỡng sâu hơn theo giới tính, giống, tuổi và mục đích chăn nuôi (thịt hoặc trứng), đồng thời điều chỉnh khẩu phần theo thời gian thực dựa trên sự thay đổi của môi trường và sức khỏe đàn.
Để hiện thực hóa dinh dưỡng chính xác, ngành chăn nuôi gia cầm hiện đại đang dựa trên sự tích hợp của ba trụ cột công nghệ
chính. Ba trụ cột cốt lõi cấu thành nên hệ thống dinh dưỡng chính xác trong chăn nuôi bao gồm: Đặc tính hóa nguyên liệu, Mô hình hóa nhu cầu sinh học, và Hệ thống cho ăn chính xác. Sự kết hợp đồng bộ của ba yếu tố này giúp chuyển đổi mô hình chăn nuôi từ “ước tính trung bình” sang “đáp ứng thời gian thực”. - Đặc tính hóa nguyên liệu (Feed Characterization)
Trụ cột này tập trung vào việc hiểu rõ và chính xác thành phần dinh dưỡng của các nguyên liệu đầu vào trước khi tiến hành phối trộn thức ăn. Vấn đề cần giải quyết là nguyên liệu thô (ngô, đậu tương, cám gạo, bột cá...) luôn có sự biến động lớn về chất lượng giữa các lô hàng, các mùa vụ và các vùng địa lý. Vì vậy, cần sử dụng công nghệ NIR (Near-Infrared Spectroscopy) để phân tích nhanh độ ẩm, protein thô, axit amin, năng lượng trong vài giây. Mục tiêu cập nhật tức thì giá trị dinh dưỡng thực tế vào phần mềm tối ưu hóa công thức, thay vì dùng số
liệu trung bình trong sách vở. - Mô hình hóa nhu cầu sinh học (Animal Requirement Modeling)
Trụ cột này đóng vai trò là bộ não, dự báo chính xác nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi tại một thời điểm cụ thể. Vấn đề cần giải quyết là nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi thay đổi liên tục mỗi ngày dựa trên ngày tuổi, tốc độ tăng trưởng, trạng thái sức khỏe, nhiệt độ, độ ẩm chuồng trại và mật độ nuôi. Vì vậy, cần phải sử dụng toán tin, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) để xây dựng các mô hình toán học mô phỏng sự tăng trưởng của gia cầm (ví dụ: mô hình dự báo lượng ăn vào, mô hình tăng trưởng, chất lượng sản phẩm). Mục tiêu là tính toán ra một ma trận nhu cầu tối ưu nhất cho đàn vật nuôi ngay tại thời gian thực. - Hệ thống cho ăn chính xác (Precision Feeding System)
Trụ cột này là cánh tay thực thi, chịu trách nhiệm phân phối đúng công thức thức ăn đến tận miệng vật nuôi. Vấn đề cần giải quyết là ngay cả khi có công thức chuẩn trên máy tính, nếu hệ thống cơ khí không thể trộn và cấp phát chính xác thì toàn bộ quy trình sẽ thất bại. Vì vậy, cấn sử dụng hệ thống silo thông minh, máy trộn đa trục tốc độ cao, hệ thống cân định lượng điện tử và hệ thống cảm biến IoT theo dõi lượng ăn dư thừa. Mục tiêu trộn nhiều loại thức ăn nền (ví dụ: loại giàu protein, loại giàu năng lượng) theo tỷ lệ thay đổi linh hoạt theo thời gian thực (Real-time blending) để tạo ra khẩu phần ăn hoàn hảo nhất cho vật nuôi.
Những lợi ích mà dinh dưỡng chính xác
mang lại
- Tăng năng suất vật nuôi và giảm chi phí sản xuất
Việc áp dụng dinh dưỡng chính xác
mang lại những bước tiến lớn về cả năng suất sinh học lẫn hiệu quả kinh tế. Hiệu quả này không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà đã được chứng minh qua hàng loạt nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng và dữ liệu sản xuất thương mại.
Xu hướng cốt lõi của dinh dưỡng chính xác là giảm hàm lượng protein thô tổng số và bổ sung trực tiếp các axit amin thiết yếu (như methionine, lysine, threonine, valine, arginine). Các thử nghiệm thực tế chứng minh có thể giảm từ 1,5% đến 3% tỷ lệ protein thô trong khẩu phần ăn của gia cầm. Việc cắt giảm này giúp hạ trực tiếp giá thành thức ăn chăn nuôi (vốn chiếm 65% - 70% chi phí sản xuất) mà hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến năng suất hay chất lượng thịt thương phẩm.
Kết quả thực nghiệm trên gà thịt cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt so với phương pháp cho ăn 2 - 3 giai đoạn truyền thống. Hiệu
suất chuyển hóa thức ăn (FCR) được cải thiện từ 1,5% đến 3,2%, tương đương việc cắt giảm từ 0,05 đến 0,10 USD chi phí trên mỗi con gà thịt nhờ loại bỏ protein dư thừa.
Độ đồng đều của đàn tăng thêm 12% đến 15%, giúp gia cầm xuất chuồng đạt trọng lượng mục tiêu cao hơn và giảm thiểu tối đa tỷ lệ gà còi cọc. Với một trang trại có quy mô 100.000 con, việc giảm chỉ 0,04 điểm FCR đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm 10 tấn thức ăn cho mỗi lứa nuôi.
- Tối ưu hóa hấp thu dinh dưỡng và sức khỏe đường ruột
Các số liệu thực nghiệm khi ứng dụng công nghệ phân tích cận hồng ngoại (NIR) và dữ liệu sinh học để kiểm soát chất lượng thức ăn cho thấy những cải thiện vượt trội: Nâng cao hiệu suất hấp thu, tỷ lệ hấp thu phốt pho và canxi hữu dụng tăng thêm 8% - 12%, từ đó cắt giảm lượng khoáng thải ra ngoài gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Thử nghiệm sử dụng thuật toán máy học trên dữ liệu của hàng chục nghìn con gà thịt nhiễm bệnh cầu trùng tự nhiên chỉ ra rằng việc điều chỉnh công thức thức ăn chính xác theo tình trạng sức khỏe giúp hệ thống miễn dịch đường ruột phục hồi nhanh hơn, giảm tới 40% thiệt hại về trọng lượng do dịch bệnh gây ra.
Mặt khác, khi lượng protein dư thừa không bị khử amin (deamination) - một quá trình tiêu tốn rất nhiều năng lượng của cơ thể để giải độc qua thận - hệ vi sinh vật đường ruột của gia cầm sẽ duy trì ở trạng thái cân bằng lý tưởng. Số liệu lâm sàng chứng minh dinh dưỡng chính xác giúp giảm trên 25% các ca nhiễm trùng đường ruột (như viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens hoặc bệnh cầu trùng do Eimeria). Đây là tiền đề vững chắc cho xu hướng chăn nuôi hiện đại nói không với kháng sinh phòng bệnh.
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường (Phát thải khí và chất thải)
Ngành chăn nuôi gia cầm toàn cầu đang chịu áp lực lớn khi thức ăn chiếm tới 92% tiềm năng nóng lên toàn cầu (GWP). Dinh dưỡng chính xác chính là lời giải tối ưu cho bài toán phát thải bền vững này dựa trên nguyên lý “cho ăn vừa đủ”.
Theo các báo cáo khoa học đăng tải trên tạp chí khoa học gia cầm quốc tế, việc bổ sung các axit amin tổng hợp tinh khiết (như DLmethionine, L-lysine, L-threonine) cho phép tối ưu hóa khẩu
➢ Để hướng tới mục tiêu phát triển dài hạn, các doanh nghiệp lớn thuộc Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) đang tiên phong chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình “mua bán cám thương phẩm” truyền thống sang “cung cấp giải pháp dinh dưỡng trọn gói”. Xu hướng tích hợp các phần mềm quản lý số vào chuỗi chăn nuôi
khép kín (Feed - Farm - Food) kết hợp với nội
địa hóa công nghệ sẽ là bệ phóng vững chắc
đưa ngành gia cầm Việt Nam tự tin hội nhập quốc tế.
nitơ tích tụ trong lớp chất độn chuồng (trấu, mùn cưa) giảm tới 18%, đồng thời nồng độ axit uric trong huyết thanh gà giảm mạnh. Các mô hình nuôi gà đẻ thương phẩm ghi nhận lượng khí NH3 phát thải tại chuồng nuôi giảm mạnh từ 20% đến 31%. Điều này giúp cải thiện trực tiếp môi trường hô hấp, bảo vệ sức khỏe vật nuôi và hạn chế tối đa mùi hôi cho khu vực xung quanh.
Thách thức và xu hướng triển khai tại Việt Nam
Dù mang lại lợi ích to lớn, việc phổ cập dinh dưỡng chính xác tại Việt Nam vẫn đối mặt với một số rào cản lớn. Đầu tiên là chi phí đầu tư công nghệ, hệ thống cảm biến và phần mềm quản lý ban đầu còn quá cao đối với các trang trại quy mô vừa và nhỏ. Tiếp theo, chất lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu luôn biến động liên tục, đòi hỏi năng lực phân tích đầu vào vô cùng khắt khe. Ngoài ra, việc thiếu hụt nguồn nhân lực kỹ thuật cao có khả năng vận hành, đọc hiểu dữ liệu số và sự thiếu hụt hệ thống dữ liệu dinh dưỡng đặc thù cho các giống gia cầm bản địa cũng là những điểm nghẽn lớn.
Hiện tại, các phần mềm và mô hình dinh dưỡng tại Việt Nam phần lớn vẫn áp dụng tiêu chuẩn nhu cầu của nước ngoài (như NRC của Mỹ, ARC của Anh hoặc cẩm nang của các hãng giống như Aviagen, Cobb). Việt Nam chưa có một cơ sở dữ liệu lớn, toàn diện về hệ số tiêu hóa, và nhu cầu dinh dưỡng thực tế của các giống gà bản địa (gà ta thả vườn, gà lai, gà đặc sản) trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nghiêm ngặt. Nhiều chủ trang trại vừa và nhỏ vẫn giữ thói quen cho ăn theo kinh nghiệm, sử dụng một loại cám cho cả chu kỳ dài hoặc tự phối trộn thủ công, chưa sẵn sàng thay đổi tư duy để tiếp cận quy trình quản lý chính xác dinh dưỡng cho vật nuôi.
phần ăn với các kết
quả cụ thể: Cứ giảm
1% tỷ lệ protein thô (CP) trong công thức thức ăn, lượng nitơ bài tiết qua phân và nước tiểu của gia cầm ra môi trường sẽ giảm ngay lập tức 10%. Thực nghiệm trên diện rộng cũng cho thấy, tổng lượng
Dẫu vậy, giải pháp dinh dưỡng chính xác không còn là một khái niệm lý thuyết trong phòng thí nghiệm mà đã trở thành xu hướng bắt buộc để định hình lại ngành chăn nuôi gia cầm bền vững. Việc tối ưu hóa khẩu phần ăn theo thời gian thực chính là chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp trong kỷ nguyên số.
TS. NGUYỄN THANH SƠN
Nguyên Viện trưởng Viện Chăn nuôi
SẢN XUẤT THỨC ĂN CHÍNH XÁC
Không chỉ cần AI
Số hóa là nền tảng của sản xuất thức ăn chăn nuôi chính xác, nhưng để khai thác hiệu quả AI và phân tích dữ liệu, các nhà máy vẫn cần những hệ thống đo lường và giám sát có độ chính xác, ổn định và tin cậy cao.
Thách thức không chỉ nằm ở quy trình sản xuất phức tạp hay sự đa dạng của công thức phối trộn và nguyên liệu đầu vào. Quan trọng hơn, hệ thống phải duy trì được chất lượng dữ liệu ổn định, nhất quán trong thời gian dài, đồng thời phản ứng chính xác trước những thay đổi mà cảm biến không thể ghi nhận, chẳng hạn như việc kỹ thuật viên điều chỉnh thiết bị bằng tay, thay thế các chi tiết hao mòn hoặc các điều kiện vận hành bất thường.
Để AI và các thuật toán có thể đưa ra quyết định đáng tin cậy trong những tình huống phát sinh không thường xuyên, chúng cần được huấn luyện bằng nguồn dữ liệu chính xác, ổn định và có tính so sánh trong thời gian dài. Vì vậy, nguyên tắc “garbage in, garbage out” (đầu vào kém, kết quả kém) vẫn luôn đúng. Nếu dữ liệu từ cảm biến bị sai lệch, thiếu chính xác, thiên lệch hoặc không nhất quán, mọi kết quả phân tích cũng sẽ thiếu tin cậy, bất kể thuật toán AI có tiên tiến đến đâu.
Điều này càng trở nên quan trọng khi dữ liệu cảm biến được sử dụng để điều khiển các hệ thống tự động có độ chính xác cao, vốn chịu trách nhiệm tối ưu năng suất và chất lượng sản phẩm trong hầu hết các công đoạn của nhà máy thức ăn hỗn hợp. Đến
nay, PelletingPro của Bühler là một trong số rất ít giải pháp kiểm soát quá trình ép viên thông minh có thể giải quyết bài toán này nhờ kết hợp cơ chế tự chẩn đoán, cảm biến mềm và hệ thống dự phòng nhằm bảo đảm chất lượng dữ liệu đầu vào.
“Bài toán khó” dữ liệu ổn định
Ở nhiều công đoạn trong nhà máy thức ăn chăn nuôi, điều kiện vận hành thường thay đổi chậm và ít biến động. Những thay đổi đột ngột chủ yếu xuất phát từ sự can thiệp của con người hoặc các sự cố thiết bị. Vì vậy, hệ thống cảm biến phải duy trì được độ ổn định và khả năng tái lặp phép đo trong thời gian dài. Trong khi đó, chất lượng sản phẩm và thành phần dinh dưỡng của thức ăn lại có thể biến động giữa các mẻ phối trộn. Điều này đòi hỏi hệ thống đo lường phải đạt độ chính xác rất cao và cho kết quả trong thời gian ngắn nhất.
Một khó khăn khác đến từ đặc tính của nguyên liệu dạng rời. Diện tích thực tế mà cảm biến quang học đo được thường chỉ tương đương kích thước một đồng xu, trong khi vật liệu bên dưới lại không đồng nhất ở quy mô đó. Vì vậy, bên cạnh độ bền của cảm biến, tốc độ đo, khả năng lọc tín hiệu và công nghệ xử lý phổ cũng giữ vai trò quyết định đối với độ chính xác của kết quả phân tích.
Đo phổ cận hồng ngoại trong máy trộn theo mẻ
Máy trộn theo mẻ là ví dụ điển hình cho sự cân bằng giữa yêu cầu về tốc độ và độ ổn định của phép đo. Khi quá trình trộn khô gần hoàn tất, hỗn hợp thức ăn thường đã được đồng nhất tương đối tốt. Do đó, có thể giả định rằng bề mặt được cảm biến quang học ghi nhận đại diện cho toàn bộ mẻ trộn. Trong thực tế, giả định này thường đúng đối với độ ẩm, bởi nước có xu hướng phân bố khá đồng đều trong hỗn hợp. Tuy nhiên, với các chỉ tiêu như protein, chất béo, tinh bột hoặc chất xơ, tình hình lại hoàn toàn khác. Đây đều là những thành phần gắn chặt với từng loại nguyên liệu riêng biệt. Nếu các hạt của một nguyên liệu chỉ chiếm một phần nhỏ trong vùng đo, một lần đo đơn lẻ sẽ không đủ đại diện cho toàn bộ mẻ phối trộn. Trong trường hợp này, cần thực hiện nhiều phép đo liên tiếp trên dòng nguyên liệu đang chuyển động để thu được kết quả có ý nghĩa thống kê và phản ánh chính xác thành phần dinh dưỡng thực tế. Chính vì vậy, tốc độ đo cao, thuật toán lọc dữ liệu được tối ưu cho từng ứng dụng và công nghệ xử lý phổ phù hợp là những yếu tố không thể thiếu để nâng cao độ tin cậy của hệ thống phân tích trong sản xuất thức ăn chăn nuôi chính xác.
NRI
nâng tầm giám sát chất lượng trực tuyến
Khi Bühler ra mắt hệ thống phân tích trực tuyến NIR Multi Online Analyser vào năm 2013, giải pháp này nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn tham chiếu về tính ổn định và độ tin cậy của dữ liệu trong các điều kiện sản xuất công nghiệp khắc nghiệt, đặc biệt đối với việc đo lường các loại vật liệu rời có khả năng chảy tự do.
Nền tảng tạo nên sự bền bỉ của hệ thống đến từ thiết kế tối ưu. Để vận hành hiệu quả với chi phí hợp lý tại nhiều vị trí đo, các đầu đo được kết nối với một máy quang phổ trung tâm và bộ chuyển mạch sợi quang thông qua cáp quang có chiều dài lên tới 200 m. Cấu hình này cho phép triển khai tối đa sáu điểm đo, từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm, trong khi vẫn cung cấp ít nhất bốn kết quả đo mỗi phút tại từng điểm khi hệ thống hoạt động đầy đủ. Mô hình này đã chứng minh hiệu quả trong thực tế suốt nhiều năm qua. Tuy nhiên, nhu cầu đo nhanh hơn và liên tục hơn, đặc biệt trong các quy trình sản xuất theo mẻ, đang mở ra yêu cầu mới đối với các hệ thống giám sát chất lượng trực tuyến.
Dựa trên những tiến bộ về công nghệ quang phổ và xử lý dữ liệu, Bühler đã phát triển thế hệ giải pháp NIR mới, trong đó mỗi điểm đo được trang bị một máy quang phổ riêng có khả năng đo liên tục với tốc độ cực cao và độ ổn định vượt trội nhưng vẫn
đảm bảo tính kinh tế. Để phản ánh khả năng kết hợp linh hoạt với nhiều hệ thống cảm biến khác nhau, thế hệ sản phẩm này được giới thiệu dưới tên gọi Bühler MultiSens - hệ thống giám sát chất lượng trực tuyến đa cảm biến.
Điểm đáng chú ý là Bühler vẫn duy trì những thành phần đã được kiểm chứng qua thực tế. Đầu đo có độ bền cao, đã được sử dụng thành công hơn một thập kỷ, tiếp tục được giữ lại và kết nối với máy quang phổ chuyên dụng thông qua cáp quang ngắn. Dữ liệu đo được hiển thị trên các bảng điều khiển thiết kế theo nhu cầu người dùng, ứng dụng nền tảng web hiện đại, cho phép nhiều người truy cập và theo dõi kết quả đồng thời. Nhờ lượng ánh sáng truyền đến máy quang phổ lớn hơn, tốc độ xử lý dữ liệu nhanh hơn và loại bỏ thời gian chuyển đổi giữa các kênh đo, thế hệ MultiSens có thể thu nhận và phân tích số lượng phổ nhiều hơn từ 3 đến 30 lần so với trước đây. Tần suất đo cao là điều kiện quan trọng để đảm bảo kết quả phân tích ổn định và chính xác, đặc biệt đối với các chỉ tiêu như hàm lượng protein trong thức ăn chăn nuôi hỗn hợp. Ngoài ra, khả năng ổn định theo nhiệt độ tiếp tục được cải thiện nhờ tích hợp thêm các cảm biến nhiệt và áp dụng các thuật toán bù nhiệt thích ứng, giúp duy trì độ chính xác của phép đo ngay cả khi điều kiện vận hành thay đổi.
Việc nâng cao tốc độ đo, tăng độ ổn định và đơn giản hóa quá trình vận hành tại từng điểm đo giúp ứng dụng Protein Essential hỗ trợ hiệu quả các hoạt động sản xuất hằng ngày. Trên nền tảng dữ liệu đáng tin cậy, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định chính xác hơn, duy trì chất lượng sản phẩm đồng nhất và nâng cao tính minh bạch trong toàn bộ quy trình sản xuất thức ăn chăn nuôi.
DŨNG NGUYÊN
Theo FeedStrategy
5 xu hướng hàng đầu về sản xuất thức ăn chăn nuôi năm 2026
1. Dinh dưỡng chính xác nhờ công nghệ AI
Dinh dưỡng chính xác không còn là một thuật ngữ thời thượng đơn thuần mà đang dần trở thành tiêu chuẩn chung.
Đến năm 2026, các trang trại sẽ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu theo thời gian thực để tạo ra các loại thức ăn được phối trộn riêng biệt, đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng vật nuôi. Người chăn nuôi sẽ phân tích các chỉ số sức khỏe, giai đoạn tăng trưởng và điều kiện môi trường để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn. Việc áp dụng phương pháp cho ăn chính xác giúp nâng cao hiệu suất chăn nuôi và giảm thiểu lãng phí, từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất bền vững hơn.
2. Các nguồn protein thay thế
Tính bền vững đang thúc đẩy một cuộc cách mạng trong lĩnh vực nguồn cung cấp protein. Bột côn trùng, tảo và protein lên men đang ngày càng được sử dụng để bổ sung hoặc thay thế cho đậu nành hay bột cá.
3. Kinh tế tuần hoàn & Công thức sản phẩm bền vững
Ngành thức ăn chăn nuôi đại diện cho tương lai và hướng tới sự bền vững. Các nhà sản xuất đang ngày càng áp dụng các nguyên tắc kinh tế tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm từ những ngành công nghiệp khác để giảm thiểu rác thải.
4. Thức ăn chăn nuôi chức năng & Sức khỏe đường ruột Sức khỏe đường ruột đang trở thành tâm điểm chú ý. Các loại thức ăn chức năng hiện được bổ sung thêm men vi sinh (probiotics), chất xơ hòa tan (prebiotics) và các hợp chất có nguồn gốc thực vật (phytogenic) nhằm tăng cường khả năng tiêu hóa, hệ miễn dịch và sức khỏe tổng thể của vật nuôi. Đến năm 2026, thức ăn chức năng sẽ không còn chỉ là một lựa chọn mà trở thành yêu cầu bắt buộc.
5. Số hóa & Chuỗi cung ứng thức ăn chăn nuôi thông minh Ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi vào năm 2026 không chỉ xoay quanh vấn đề dinh dưỡng mà còn chú trọng đến hiệu quả, sự minh bạch và tốc độ. Chuyển đổi số đang tạo ra cuộc cách mạng trong phương thức hoạt động của các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi, từ khâu thu mua nguyên liệu thô đến khâu phân phối thành phẩm. Các công nghệ như IoT (Internet vạn vật), blockchain và tự động hóa chuỗi cung ứng đang hỗ trợ doanh nghiệp theo dõi chất lượng thức ăn, quản lý hàng tồn kho và đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các trang trại quy mô lớn và khách hàng doanh nghiệp (B2B) - những đối tượng luôn đòi hỏi chất lượng đồng nhất và tiến độ giao hàng chính xác.
DR. RISHABH CHUGH
Brinda Foods
QUẢN LÝ DINH DƯỠNG VÀ SỨC KHỎE Nền tảng cho
Trước áp lực dịch bệnh ngày càng phức tạp, chi phí sản xuất gia tăng và yêu cầu giảm sử dụng kháng sinh, ngành chăn nuôi heo đang chuyển từ tư duy điều trị sang quản trị sức khỏe tổng thể. Tại Hội thảo “Quản lý dinh dưỡng và sức khỏe trong chăn nuôi heo” do Olmix tổ chức ngày 15/6 tại TP Hồ Chí Minh, các chuyên gia đã chia sẻ nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững.
Hội thảo quy tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi đến từ nhiều quốc gia, cùng trao đổi về những xu hướng và thách thức đang tác động mạnh mẽ đến ngành heo toàn cầu.
Ngành chăn nuôi heo trước cơ hội tăng trưởng và những thách thức mới
Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Robert Clapham, Tổng Giám đốc Tập đoàn Olmix, cho rằng ngành chăn nuôi heo hiện đang phải đối mặt đồng thời với nhiều áp lực. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm vẫn tiếp tục lưu hành, người chăn nuôi còn chịu tác động từ biến động giá nguyên liệu thức ăn, các yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, phúc lợi động vật và giảm phát thải môi trường.
Theo ông Robert Clapham, để duy trì
tăng trưởng bền vững, ngành chăn nuôi cần tiếp cận đồng bộ giữa dinh dưỡng và quản lý sức khỏe vật nuôi. Trong đó, sức khỏe đàn heo không chỉ là yếu tố kỹ thuật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của trang trại. Ông cũng cho rằng, dinh dưỡng đang ngày càng đóng vai trò chiến lược trong chăn nuôi hiện đại. Ngoài mục tiêu cải thiện tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn, dinh dưỡng còn góp phần nâng cao sức khỏe đường ruột, tăng cường miễn dịch, cải thiện năng suất sinh sản và khả năng chống chịu của vật nuôi trước các yếu tố bất lợi.
Cập nhật bức tranh ngành chăn nuôi tháng 6/2026, ông Trịnh Quang Thanh, Tổng Giám đốc Olmix Asialand Việt Nam cho biết, sản xuất thịt toàn cầu năm 2026
được dự báo tăng trưởng chậm lại do sự suy giảm của nhóm thịt đỏ. Trong khi đó, ngành
gia cầm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định.
Đối với ngành heo, sản lượng toàn cầu
được dự báo giảm, đặc biệt tại Trung Quốc và Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ thịt trong giai đoạn 2025 - 2030 vẫn tiếp tục tăng tại nhiều khu vực, nổi bật là Nam Á và Đông Nam Á. Đây được xem là động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành chăn nuôi trong những năm tới. Tại Việt Nam, kinh tế vĩ mô tiếp tục tạo nền tảng thuận lợi cho tiêu dùng thực phẩm. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, mức cao nhất kể từ năm 2011; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD. Tổng đàn heo cả nước đạt khoảng 31,4 triệu con, duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 3% mỗi năm. Tiêu thụ thịt bình quân đầu người đạt trên 63,6 kg, trong đó thịt heo vẫn
chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như giá nguyên liệu thức ăn tăng do biến động địa chính trị, tốc độ tái đàn chậm, áp lực từ các quy định về môi trường và nguy cơ dịch bệnh mới phát sinh.
Dịch bệnh diễn biến phức tạp, an toàn sinh học tiếp tục là tuyến phòng thủ quan trọng
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại Hội thảo là các tham luận liên quan đến dịch tả heo châu Phi (ASF) và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn heo
Theo TS Lee Won Hyung, Chủ tịch XP Bio Inc., ASF đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc ngành chăn nuôi heo tại nhiều quốc gia châu Á trong hơn 5 năm qua. Trung Quốc được ước tính mất từ 150 - 200 triệu con heo do dịch bệnh, trong khi tổng đàn heo tại Việt Nam từng giảm khoảng 40% trong giai đoạn cao điểm. Mặc dù, nhiều quốc gia đã phục hồi sản xuất, virus ASF vẫn tiếp tục lưu hành và nguy cơ tái bùng phát luôn hiện hữu. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các biến thể virus mới cùng những hạn chế trong quá trình phát triển vaccine khiến công tác kiểm soát dịch bệnh trở nên phức tạp hơn.
TS. Lee nhận định, trong bối cảnh hiện nay, an toàn sinh học vẫn là “lá chắn” quan trọng nhất đối với ngành chăn nuôi heo. Việc kiểm soát nghiêm ngặt người, phương tiện và vật nuôi ra vào trang trại; xây dựng vùng đệm an toàn; tăng cường sát trùng, giám sát dịch tễ và đào tạo nhân sự là những giải pháp mang tính quyết định.
Cập nhật tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, PGS.TS Lê Văn Phan, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, bên cạnh chủng ASF genotype II xuất hiện từ năm 2019, Việt Nam đã ghi nhận thêm các chủng virus đột biến và chủng tái tổ hợp mới có
độc lực cao. Đáng chú ý, từ năm 2023, một chủng ASF tái tổ hợp genotype I/II lần đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam với khả năng gây bệnh cấp tính và lây lan nhanh. Các nghiên cứu bước đầu cho thấy những vaccine ASF thương mại hiện có chưa bảo vệ
đầy đủ trước chủng virus này.
Đối với PRRS, nhiều dòng virus khác nhau đang đồng thời lưu
hành tại Việt Nam, trong đó có các chủng mới nổi như NADC30 và NADC34, làm giảm hiệu quả bảo hộ của vaccine hiện hành. Trong khi đó, sự xuất hiện của chủng SAT1 gây bệnh lở mồm long móng tại Trung Quốc vào đầu năm 2026 cũng được xem là tín hiệu cảnh báo đáng chú ý đối với Việt Nam, bởi các loại vaccine đang sử dụng hiện chưa tạo được miễn dịch chéo đối với chủng virus này. Theo các chuyên gia, những diễn biến mới cho thấy dịch bệnh trên đàn heo ngày càng phức tạp và khó lường. Điều này đòi hỏi người chăn nuôi phải nâng cao năng lực quản trị sức khỏe đàn vật nuôi thay vì chỉ tập trung xử lý khi dịch bệnh xảy ra.
Từ dinh dưỡng đến miễn dịch: Xây dựng sức
Nếu dịch bệnh là thách thức lớn nhất thì dinh dưỡng và miễn dịch được xem là giải pháp cốt lõi để nâng cao sức chống chịu của đàn heo trong điều kiện chăn nuôi hiện nay. Xuyên suốt các phiên thảo luận chuyên đề, các chuyên gia đều nhấn mạnh rằng sức khỏe đàn heo không bắt đầu từ thuốc hay vaccine mà từ khả năng hấp thu và sử dụng dinh dưỡng hiệu quả. Trong bối cảnh chi phí thức ăn vẫn chiếm hơn 60% giá thành sản xuất, việc tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh của người chăn nuôi.
Nhiều tham luận cho thấy những tổn thất trong chăn nuôi không chỉ đến từ các bệnh truyền nhiễm mà còn xuất phát từ những yếu tố âm thầm như độc tố nấm mốc, mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột hoặc hiệu quả tiêu hóa kém. Đây là những nguyên nhân làm suy giảm tăng trưởng, ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch và làm giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn.
Theo ông Trần Hữu Trang, Quản lý Sản xuất Olmix Asialand Việt Nam, xu hướng
chăn nuôi hiện đại đang chuyển từ tư duy điều trị sang phòng ngừa, trong đó dinh dưỡng đóng vai trò nền tảng trong việc xây dựng sức khỏe vật nuôi từ gốc. Một trong những nội dung được quan tâm tại Hội thảo là các giải pháp hỗ trợ tiêu hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Các nghiên cứu được trình bày cho thấy việc cải thiện khả năng tiêu hóa protein, năng lượng và các axit amin thiết yếu có thể giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi, đồng thời tạo điều kiện tối ưu hóa công thức khẩu phần trong bối cảnh giá nguyên liệu liên tục biến động.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng dành nhiều thời gian trao đổi về dinh dưỡng khoáng và ứng dụng hệ thống năng lượng thuần (Net Energy - NE) trong xây dựng khẩu phần. Đây được xem là những hướng tiếp cận quan trọng giúp nâng cao khả năng hấp thu dinh dưỡng, tối ưu chi phí thức ăn và giảm tác động môi trường từ hoạt động chăn nuôi. Nếu dinh dưỡng là nền tảng thì miễn dịch chính là hàng rào bảo vệ đầu tiên của vật nuôi. Một trong những nội dung nổi bật tại hội thảo là các giải pháp nâng cao chất lượng và sản lượng sữa non ở heo nái nhằm cải thiện khả năng truyền miễn dịch từ mẹ sang con. Theo các chuyên gia, những giờ đầu sau sinh có ý nghĩa quyết định đối với khả năng sống sót và phát triển của heo con. Chất lượng miễn dịch đầu đời phụ thuộc rất lớn vào việc tiếp nhận sữa non, nguồn cung cấp kháng thể tự nhiên quan trọng nhất từ mẹ sang con.
Các nghiên cứu cho thấy, nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng sữa non như dinh dưỡng cuối thai kỳ, nguồn nước uống, điều kiện chuồng nuôi, stress nhiệt và phúc lợi động vật. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam, việc quản lý tốt các yếu tố này có thể góp phần nâng cao khả năng truyền miễn dịch và cải thiện tỷ lệ sống của heo sơ sinh. Khép lại các phiên chuyên đề, các diễn giả cùng thống nhất rằng sức khỏe đàn heo không được quyết định bởi một giải pháp đơn lẻ mà là kết quả của sự phối hợp đồng bộ giữa dinh dưỡng, miễn dịch, an toàn sinh học, môi trường chăn nuôi và công tác quản lý trang trại. OANH THẢO → Trong bối cảnh yêu cầu giảm sử dụng kháng sinh ngày càng rõ rệt và các tiêu chuẩn phát triển bền vững liên tục được nâng cao, ngành chăn nuôi heo đang từng bước chuyển từ mô hình điều trị sang mô hình quản trị sức khỏe tổng thể. Đây được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành trong những năm tới.
GÀ CON KHỎE MẠNH
NĂNG SUẤT VƯỢT TRỘI
Duy trì điều kiện tối ưu trong suốt quá trình ấp nở, vận chuyển và tiếp nhận vào trại, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa trại ấp, đơn vị vận chuyển và đội ngũ quản lý trang trại, sẽ tạo nền tảng cho đàn gà khởi đầu thuận lợi và đạt hiệu quả chăn nuôi cao.
LỢI THẾ TIỀM ẨN TỪ NOÃN HOÀNG TỒN DƯ
của gà thịt.
Hiện nay, nhiều hệ thống đã được phát triển nhằm cung cấp thức ăn và nước uống cho gà con ngay khi nở hoặc trong thời gian rất ngắn sau khi nở. Các giải pháp này gồm cho gà nở trực tiếp tại trại nuôi hoặc sử dụng các máy ấp chuyên dụng có bổ sung thức ăn và nước uống ngay trên khay.
Đối với gà thịt, mỗi hệ thống đều có những ưu điểm và hạn chế riêng; tùy điều kiện sản xuất cũng như yêu cầu của từng thị trường và quy định quản lý, đây có thể là những giải pháp phù hợp.
Đối với đàn giống, các hệ thống cho ăn sớm hoặc mô hình ấp nở tại trại nhìn chung không khả thi, do gà con cần được phân biệt giới tính và thường phải vận chuyển đến cơ sở chăn nuôi.
Gà con mới nở mang theo nguồn dự trữ tự nhiên gồm dưỡng chất và nước trong túi noãn hoàng. Nguồn dự trữ này có thể duy trì sự sống của gà con tối đa ba ngày sau khi nở. Nhờ đó, gà con có thể được vận chuyển trên quãng đường dài, thậm chí giữa các quốc gia và vẫn chịu đựng được những khoảng thời gian trì hoãn ngắn trước khi được đưa vào trại nuôi. Việc thu hẹp cửa sổ nở sẽ giúp rút ngắn và đồng đều khoảng thời gian từ khi nở đến khi gà được tiếp cận thức ăn và nước uống, qua đó nâng cao tính đồng đều của đàn khi nhập chuồng. Ngược lại, nếu gà con phải nhịn ăn quá lâu sau khi nở, nguy cơ mất nước sẽ gia tăng, đồng thời làm giảm tiềm năng tăng trưởng trong giai đoạn đầu đời. Vì vậy, gà con càng được đưa vào trại sớm và tiếp cận thức ăn, nước uống càng nhanh thì càng có lợi. Việc thu nhận thức ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển của đường tiêu hóa, đồng thời thúc đẩy quá trình hấp thu túi noãn hoàng, tạo nền tảng cho tăng trưởng ban đầu tốt hơn - yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với năng suất sinh trưởng
Gà con đã được cho ăn trước khi vận chuyển có mức sinh nhiệt trao đổi chất cao hơn do hệ tiêu hóa đã được kích hoạt. Điều này làm tăng hoạt động của đường ruột và lượng nước bài tiết, dẫn đến phân ướt, làm giảm độ bền của thùng vận chuyển. Trong trường hợp vận chuyển kéo dài, tình trạng
này còn có thể làm tăng nguy cơ tổn thương đường ruột, thậm chí gây hao hụt đàn. Tại một số quốc gia, quy định về vận chuyển động vật đã được cho ăn nghiêm ngặt hơn nhiều so với động vật chưa được cho ăn. Trong mọi trường hợp, cần duy trì trạng thái an toàn sinh học ở mức cao nhất đối với gà con. Cần tránh vận chuyển chung các đàn gà có nguồn gốc từ nhiều trại ấp khác nhau và ưu tiên sử dụng các phương tiện vận chuyển có hệ thống kiểm soát môi trường khi điều kiện cho phép.
NHIỆT ĐỘ CÓ PHÙ HỢP HAY KHÔNG?
Gà con mới nở chưa có khả năng điều hòa thân nhiệt hoàn chỉnh, do đó nhiệt độ cơ thể của chúng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhiệt độ môi trường xung quanh. Mặc dù gà con vẫn sinh nhiệt qua quá trình trao đổi chất, chúng sẽ điều chỉnh hành vi để tạo ra vi khí hậu phù hợp với nhu cầu cơ thể. Khi bị lạnh, gà con có xu hướng tụm lại để chia sẻ nhiệt lượng. Khi quá nóng, chúng sẽ tách xa nhau hơn và thở há mỏ nhằm tăng khả năng tản nhiệt. Chăm sóc gà con ngay từ khi nở đến hết tuần
Nhiệt độ cơ thể của gà con nên duy trì trong khoảng 39,4 - 40,6°C (103 - 105°F).
Chỉ tiêu này có thể được đo dễ dàng bằng nhiệt kế Braun Thermoscan®, đặt tại lỗ huyệt của gà con. Theo dõi nhiệt độ cơ thể trong suốt quá trình lưu giữ, vận chuyển (nếu điều kiện cho phép) và khi bàn giao sẽ cung cấp cơ sở đánh giá mức độ phù hợp của nhiệt độ môi trường trong việc duy trì thân nhiệt của gà con ở ngưỡng tối ưu, đồng thời phản ánh tính đồng đều về nhiệt độ trong phòng lưu giữ hoặc trên phương tiện vận chuyển. Kiểm soát nhiệt độ không tốt có thể khiến gà con bị quá nhiệt và mất nước, hoặc nhiễm lạnh, cả hai tình trạng này đều làm giảm chất lượng gà giống. Thực tế, hiện tượng nhiễm lạnh thường gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến tỷ lệ hao hụt trong 7 ngày đầu sau nở so với quá nhiệt. Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển, do gà con được xếp trong các hộp và liên tục sinh nhiệt từ hoạt động trao đổi chất, nguy cơ nhiễm lạnh thường thấp hơn. Ngược lại, nếu quá chú trọng phòng tránh nhiễm lạnh, người chăn nuôi hoặc đơn vị vận chuyển rất dễ vô tình khiến gà con bị quá nhiệt.
NGÀY ĐẦU ĐỜI QUYẾT ĐỊNH NĂNG SUẤT
Ngay khi gà con được đưa về trại, mục tiêu quan trọng nhất là đảm bảo đàn gà phát triển khỏe mạnh ngay từ giai đoạn đầu và đạt độ đồng đều cao. Trước khi nhập đàn, chuồng nuôi phải được làm ấm để nhiệt độ nền chuồng và nhiệt độ không khí đạt mức phù hợp. Nền chuồng lạnh hoặc ẩm ướt sẽ khiến gà con bị nhiễm lạnh ngay khi tiếp xúc với nền, gây bất lợi đến khả năng thích nghi và sinh trưởng ban đầu. Ngay sau khi thả nuôi, gà con phải dễ dàng tiếp cận thức ăn và nước uống.
Sử dụng giấy lót thức ăn kết hợp máng ăn và máng uống bổ sung sẽ giúp gà nhanh chóng tìm thấy nguồn dinh dưỡng. Gà con cần thức ăn mảnh, tươi mới và chất lượng tốt, được cung cấp theo nguyên tắc ít một nhưng nhiều lần nhằm kích thích gà ăn thường xuyên. Đồng thời, nước uống phải luôn mát, sạch và mới để tối ưu hóa hành vi uống nước của vật nuôi. Để hỗ trợ gà con nhanh chóng nhận biết vị trí thức ăn và nước uống, nên áp dụng chế độ chiếu sáng cường độ cao với thời gian kéo dài 23 giờ/ ngày trong ít nhất hai ngày đầu sau khi nhập đàn. Sau đó, thời gian tối có thể được tăng dần, đồng thời giảm cường độ ánh sáng theo
Để biết thêm thông tin, truy cập Trung tâm thông tin
Aviagen hoặc quét mã QR
từng giai đoạn. Hiệu quả của quá trình nhập đàn cần được đánh giá thông qua việc quan sát hành vi của gà con. Đàn gà nên phân bố đồng đều trong khu vực úm, với khoảng 1/3 số gà đang nghỉ ngơi, 1/3 đang ăn và 1/3 đang uống nước. Cần kiểm tra độ căng của diều để xác định tỷ lệ gà đã ăn và uống. Việc đánh giá nên được thực hiện ít nhất sau 2 giờ và sau 24 giờ kể từ khi nhập đàn, với mục tiêu 95% số gà có diều đầy sau 24 giờ. Sự thoải mái của gà con từ khi nở đến lúc nhập đàn là mắt xích năng suất của cả đàn suốt chu kỳ nuôi, bất kể là gà thịt hay gà giống. Để đánh giá liệu gà con có được đáp ứng tốt trong toàn bộ chuỗi cung ứng hay không, cần duy trì trao đổi thông tin và giám sát chặt chẽ, đặc biệt thông qua theo dõi hành vi của đàn. Các chỉ tiêu như tỷ lệ hao hụt, độ đồng đều, khối lượng gà con, nhiệt độ cơ thể, mức độ đầy của diều và khối lượng cơ thể ở 7 ngày tuổi cần được theo dõi và đánh giá nhằm xác định mức độ thành công của giai đoạn khởi đầu.
B.H.N tiếp tục lắp đặt thành công máy phân
trứng 10.000 trứng/giờ tại Tiền Giang
Ngày 03/07/2026, Công ty TNHH B.H.N tiếp tục hoàn thành việc lắp đặt và bàn giao máy phân loại trứng gà tự động công suất 10.000
trứng/giờ cho khách hàng tại Tiền Giang.
Khách hàng sử dụng máy để phân loại trứng gà công nghiệp và trứng gà ác. Trong đó, trứng gà ác có lớp vỏ rất mỏng và dễ nứt vỡ, đòi hỏi hệ thống vận chuyển và phân loại phải hoạt động với độ chính xác cao, hạn chế tối đa va đập trong suốt quá trình vận hành.
Với nhiều năm nghiên cứu và cải tiến công nghệ, máy phân loại trứng B.H.N đã đáp ứng tốt yêu cầu này. Hệ thống vận chuyển được thiết kế nhẹ nhàng, ổn định, giúp phân loại chính xác mà vẫn đảm bảo an toàn cho cả những loại trứng có vỏ mỏng như trứng gà ác.
Quy trình lắp đặt chuyên nghiệp
Trước khi triển khai lắp đặt, đội ngũ kỹ thuật của B.H.N trực tiếp khảo sát thực tế, đánh giá mặt bằng và tư vấn vị trí lắp đặt phù hợp nhằm tối ưu không gian kho chứa, thuận tiện cho quá trình vận hành và mở rộng trong tương lai.
Trong quá trình vận chuyển, toàn bộ thiết bị được cố định chắc chắn, luôn giữ ở trạng thái cân bằng nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối và duy trì chất lượng máy trước khi đưa vào lắp đặt.
Sau khi hoàn thiện lắp đặt, kỹ thuật viên của B.H.N tiến hành cân chỉnh, chạy thử, kiểm tra độ chính xác, hướng dẫn vận hành và bàn giao máy cho khách hàng chỉ khi hệ thống hoạt động ổn định.
Vì sao ngày càng nhiều trang trại lựa chọn máy phân loại trứng của B.H.N?
1. Công nghệ hiện đại, vận hành ổn định và bền bỉ.
2. Độ chính xác phân loại cao, đáp ứng yêu cầu của các trang trại và cơ sở đóng gói chuyên nghiệp.
3. Hệ thống vận chuyển trứng nhẹ nhàng, hạn chế tối đa nứt vỡ, phù hợp với cả trứng gà công nghiệp và trứng gà ác.
4. Giảm đáng kể chi phí nhân công, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.
5. Giao diện điều khiển thân thiện, dễ sử dụng và bảo trì.
6. Chế tạo từ inox chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và tuổi thọ lâu dài.
7. Đội ngũ kỹ thuật giàu kinh nghiệm hỗ trợ khảo sát, lắp đặt, hướng dẫn vận hành và bảo trì trên toàn quốc.
8. Hỗ trợ kỹ thuật 24/7, sẵn sàng đồng hành cùng khách hàng trong suốt quá trình sử dụng.
9. Sau thời gian bảo hành, B.H.N vẫn tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp linh kiện và tư vấn nâng cấp khi khách hàng có nhu cầu.
B.H.N - Đồng hành cùng quá trình tự động hóa ngành trứng Việt Nam
Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực máy phân loại trứng, máy rửa trứng, máy đóng gói trứng và các giải pháp tự
động hóa cho ngành chăn nuôi gia cầm, Công suất từ 10.000 trứng/giờ, 20.000 - 30.00060.000 trứng/giờ phù hợp với
tứng nhu cầu trang trại khác nhau. Công ty TNHH B.H.N không ngừng cải tiến công nghệ
Thông tin liên hệ:
CÔNG TY TNHH B.H.N
Điện thoại: 028.668.101.95~96
Web: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh
nhằm mang đến những sản
phẩm chất lượng cao, vận hành
ổn định và hiệu quả kinh tế bền vững cho khách hàng.
Việc tiếp tục lắp đặt thành
công máy phân loại trứng gà công suất 10.000 trứng/giờ tại
Tiền Giang là minh chứng cho sự tin tưởng của khách hàng
đối với thương hiệu B.H.N và là động lực để chúng tôi tiếp tục đồng hành cùng các trang trại trên hành trình hiện đại hóa sản xuất, mang đến những giải pháp tự động hóa hiệu quả cho ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam.
B.H.N
NĂM THÁI
30 năm kiến tạo giá trị, đồng hành cùng ngành
chăn nuôi Việt Nam
Ngày 15/7, tại Khách sạn Flamingo Cát
Bà (Hải Phòng), Công ty Thuốc thú y Năm Thái tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập (1996 - 2026); với sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội ngành hàng, đối tác, khách hàng cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Công ty.
Không chỉ là dịp nhìn lại chặng đường ba thập kỷ hình thành và phát triển, sự kiện còn là lời tri ân đối với những thế hệ cán bộ, nhân viên, đối tác và khách hàng đã đồng hành, góp phần xây dựng thương hiệu Năm Thái trở thành một trong những doanh nghiệp thuốc thú y uy tín của Việt Nam.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Thanh
Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) đánh giá cao những đóng góp của Năm Thái đối với ngành chăn nuôi nước nhà. Theo ông Sơn, thành công của doanh nghiệp được xây dựng từ nền tảng khoa học vững chắc, tinh thần tiên phong và khát vọng cống hiến của hai nhà sáng lập là PGS.TS
Lê Văn Năm và TS Đỗ Thị Thái. Từ những nhà khoa học mạnh dạn bước vào kinh tế tư nhân, hai ông bà đã đặt nền móng cho một thương hiệu dược phẩm thú y được đông đảo người chăn nuôi tin tưởng. “Bền bỉ suốt 30 năm, Năm Thái đã chứng minh rằng một doanh nghiệp phát triển lâu dài phải được xây dựng trên tri thức, uy tín và sự đồng hành với khách hàng”, ông Sơn nhấn mạnh.
Trải qua 30 năm phát triển, Năm Thái đã đầu tư nhà máy sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, đồng thời xây dựng danh mục hơn 120 sản phẩm phục vụ chăn nuôi. Tuy nhiên, giá trị nổi bật của Năm Thái không chỉ nằm ở các sản phẩm thuốc thú y mà còn ở mô hình đồng hành cùng người chăn nuôi. Doanh nghiệp thường xuyên tổ chức các chương trình tư vấn kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ khoa học, hội thảo chuyên đề và hỗ trợ xây dựng các giải pháp phòng, trị bệnh hiệu quả cho gia súc, gia cầm. Với đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và bác sĩ thú y giàu kinh nghiệm, Năm Thái đã có nhiều đóng góp trong công tác phòng chống dịch bệnh, nâng cao hiệu quả chăn nuôi và từng bước thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành. Những nỗ lực đó đã được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý của Nhà nước, các tổ chức chuyên ngành và cộng đồng doanh nghiệp. VŨ MƯA
NGÀNH GIA CẦM 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
Sản lượng tăng trưởng, áp lực dư cung bủa vây
Dù ghi nhận đà tăng trưởng ổn định về tổng đàn và sản lượng trong nửa đầu năm 2026, ngành chăn nuôi gia cầm Việt
vật chống đỡ áp lực dư cung cục bộ, khiến giá bán ở nhiều phân khúc lao dốc.
Toàn cảnh thị trường gia cầm 6 tháng đầu năm 2026
Sản xuất
Tính đến 30/6/2026, tổng số đàn gia cầm cả nước ước tăng 3,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, gà công nghiệp lông trắng là nhóm tăng trưởng mạnh nhất, do các công ty lớn liên tục vận hành tối đa công suất chuồng trại khép kín. Ước sản lượng thịt đạt khoảng 580.000 - 600.000 tấn, tăng từ 7%8% so với cùng kỳ năm trước. Gà lông màu ước tính khoảng 420.000 - 440.000 tấn, tốc
độ tăng đàn chậm hơn do chu kỳ nuôi dài và người nuôi e dè biến động thị trường từ năm
trước. Vịt thịt đạt khoảng 180.000 - 190.000
tấn. Xu hướng chuyển dịch từ nuôi gà sang vịt tăng nhanh trong quý II khiến nguồn
cung thủy cầm dồi dào đột biến. Trứng gia
cầm đạt kỷ lục hơn 10,8 tỷ quả trong 2 quý
đầu năm, tăng trung bình 4,8% - 5%.
Do sự tăng trưởng tổng đàn nhanh từ cuối năm 2025 kéo dài sang đầu năm 2026, sức tiêu thụ nội địa không kịp hấp thụ dẫn
đến áp lực cung vượt cầu lớn trên diện rộng. Phân khúc gà công nghiệp lông trắng có chu kỳ nuôi ngắn (khoảng 40 - 45 ngày) chịu ảnh hưởng nặng nhất. Tại khu vực phía Nam, giá gà trắng dội chợ có thời điểm lao dốc sâu xuống mức 22.000 - 24.000 đồng/kg, rơi xuống dưới giá thành sản xuất. Thị trường gà lông màu và vịt thịt tiêu thụ có sự phân hóa rõ rệt. Giá gà màu nuôi dài ngày giữ mức điều chỉnh tăng nhẹ ở miền Nam, trong khi giá vịt thịt tại miền Bắc có xu hướng giảm nhanh vào giai đoạn giữa năm do nguồn cung xuất chuồng dồi dào.
Bảng tổng hợp giá xuất chuồng bình quân tại các vùng chăn nuôi trọng điểm
Tháng (2026)
Gà công nghiệp
vẫn
dòng ông bà và bố mẹ). Trong đó, vịt siêu thịt chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 75% lượng vịt giống nhập khẩu). Vịt hướng trứng đạt khoảng 15.000 - 20.000 con, nhập khẩu chủ yếu để cải thiện năng suất đẻ trứng của các giống vịt nuôi tại địa phương. Pháp và các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) tiếp tục là đối tác cung cấp vịt giống vịt lớn nhất cho Việt Nam. Bảng tổng hợp thị phần nước cung ứng con giống 6 tháng đầu năm 2026
Loại con giống Nước cung ứng chính Tỷ lệ ước tính
Nhập khẩu
Tổng sản lượng gà giống nhập khẩu lũy kế 2 quý đầu năm 2026 đạt khoảng 1,2 - 1,5 triệu con gà giống; trong đó gà giống bố mẹ hướng thịt (chủ yếu là gà lông trắng) đạt khoảng 850.000 - 900.000 con. Tốc độ nhập khẩu có xu hướng giảm nhẹ vào giai đoạn cuối quý II do giá gà trắng thương phẩm trong nước giảm sâu (xuống 24.000 - 26.000 đồng/kg), khiến các doanh nghiệp chủ động giãn tiến độ vào đàn bố mẹ. Gà giống bố mẹ hướng trứng đạt khoảng 150.000 - 180.000 con, phục vụ duy trì và thay thế đàn gà đẻ trứng thương phẩm trong nước và xuất khẩu ngược sang các thị trường như Campuchia, Lào. Giá
nhập khẩu giống gà trắng bố mẹ (Cobb, Ross)
cập bến (giá CIF) dao động từ 4,5 - 5,5 USD/ con (khoảng 115.000 - 140.000 đồng/con gà
bố mẹ 1 ngày tuổi), đối với gà hướng trứng bố mẹ giao động từ 4 - 5 USD/con (khoảng
100.000 - 128.000 đồng/con). Nguồn giống ông bà, bố mẹ được nhập khẩu chính ngạch từ các quốc gia có công nghệ di truyền hàng
đầu như Mỹ, Anh, Pháp và các nước EU. Tổng sản lượng vịt giống nhập khẩu đạt khoảng 80.000 - 100.000 con (bao gồm cả
Gà giống
Chủng loại giống chủ yếu
Hoa Kỳ (Mỹ) 40% –42% Gà giống bố mẹ hướng thịt (gà trắng)
Vương quốc Anh và EU ~ 35%
New Zealand 12% –15%
Pháp > 80%
Vịt giống
Gà giống hướng trứng, gà bố mẹ cao sản
Gà giống ông bà, bố mẹ an toàn sinh học cao
Vịt siêu thịt dòng Grimaud (ông bà/ bố mẹ)
Các nước khác < 20% Vịt giống hướng đẻ trứng công nghiệp
Tổng sản lượng thịt gà nhập khẩu lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, ước tính khoảng 185.000 - 195.000 tấn các loại, với tổng giá trị kim ngạch đạt khoảng 190 - 205 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ tăng trưởng mạnh mẽ, ghi nhận mức tăng từ 26% - 37,6% so với cùng kỳ, do lộ trình cắt giảm thuế quan từ các hiệp định FTA. Cơ cấu thịt gà nhập khẩu vào Việt Nam tập trung chủ yếu ở dạng đông lạnh cắt mảnh (mã HS 020714) và phụ phẩm ăn được. Trong đó, đùi gà đông lạnh chiếm tỷ trọng cao nhất, đạt khoảng 130.000140.000 tấn (gần 71,5% tổng lượng thịt gà
nhập khẩu). Đây là mặt hàng có giá thành rẻ nhất, cạnh tranh trực tiếp với gà trắng nội địa tại các bếp ăn tập thể. Cánh gà đông lạnh đạt khoảng 22.000 - 25.000 tấn (chiếm khoảng 12% tỷ trọng), phục vụ chủ yếu cho các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh và nhà hàng. Chân gà và phụ phẩm khác đạt khoảng 16.000 - 18.000 tấn (chiếm khoảng 8,7% tỷ trọng). Thịt gà đông lạnh nguyên con chiếm tỷ lệ nhỏ nhất, dao động khoảng 3.500 - 5.000 tấn (khoảng 2% tỷ trọng).
Nguồn cung thịt gà của Việt Nam phụ thuộc chính vào 3 khu vực lớn có nền công nghiệp chăn nuôi quy mô lớn
Thị trường cung ứng
Sản lượng ước tính (6 tháng) Đặc điểm phân khúc
Hoa Kỳ ~ 115.000 –120.000 tấn
Liên
minh
Châu Âu (EU) ~ 28.000 –30.000 tấn
Brazil ~ 24.000 –26.000 tấn
Xuất khẩu
Chiếm ưu thế tuyệt đối (gần 61,8% thị phần), chủ yếu là đùi gà góc tư giá rẻ.
Việt Nam là nước nhập khẩu gia cầm EU lớn thứ 2 Đông Nam Á, dẫn đầu bởi Ba Lan.
Chiếm khoảng 13,1% thị phần, chủ yếu cung ứng cánh gà và gà góc tư.
Hoạt động xuất khẩu thịt gia cầm và trứng của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận những bước đột phá mang tính lịch sử về cả thị trường xuất khẩu lẫn sản lượng. Đây được coi là “phao cứu sinh” hỗ trợ đắc lực giúp giải tỏa áp lực dư cung dội chợ của thị trường chăn nuôi nội địa.
Tổng sản lượng xuất khẩu lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.800 - 5.200 tấn thịt gia cầm các loại (tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025). Giá trị kim ngạch xuất khẩu thịt gà 6 tháng ước tính cán mốc 45 - 48 triệu USD. Thịt gà chế biến chín (như gà hầm, gà rán, ức gà áp chảo đông lạnh) chiếm tỷ trọng áp đảo trên 85% giá trị xuất khẩu nhờ chiến lược chuyển dịch từ “xuất thô” sang chăn nuôi khép kín tích hợp theo chuỗi 3F. Nhật Bản tiếp tục là đối tác lớn nhất (chiếm trên 50% thị phần), theo sau là Hồng Kông, Campuchia (mạnh về gà trắng giống và gà màu thịt), cùng các nước khu vực Trung Đông. Tháng 4/2026, Việt Nam chính thức hoàn tất đàm phán và bắt đầu xuất
khẩu thịt gà chế biến sang Hàn Quốc. Đây là “tấm vé thông hành” nâng tầm thương hiệu quốc tế cho các tổ hợp lớn như CPV Food Bình Phước.
Nhóm hàng trứng gia cầm ghi nhận bước tiến lớn trong việc kiểm soát chất lượng kỹ thuật để bước chân vào các quốc gia khó tính bậc nhất. Tổng sản lượng xuất
khẩu ước đạt khoảng 38 - 42 triệu quả trứng
các loại (bao gồm trứng tươi, trứng muối, trứng bắc thảo và trứng chế biến ăn liền).
Ngày 18/06/2026, Việt Nam chính thức xuất khẩu container trứng gia cầm ăn liền đầu tiên (172.000 quả) sang Nhật Bản thông qua thương hiệu VFood (sau gần 2 năm chuẩn bị kỹ thuật). Sự kiện Nhật Bản cấp hạn ngạch nhập khẩu là cột mốc khẳng định độ an toàn dịch bệnh tuyệt đối của chuỗi trứng nội địa. Hồng Kông tiếp tục dỡ bỏ các lệnh cấm và là cửa ngõ tiêu thụ trứng muối lớn nhất của Việt Nam, bên cạnh Singapore.
Dự báo cục diện 6 tháng cuối năm 2026
Thị trường gia cầm Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026 sẽ vận động dựa trên
sự dịch chuyển lớn về cơ cấu nguồn cung và áp lực chi phí đầu vào. Dưới đây là phân tích chi tiết định lượng về năng lực sản xuất và diễn biến thị trường theo từng chủng loại. Dự báo năng lực sản xuất và chuyển dịch cơ cấu tổng đàn: Quy mô tổng đàn giảm nhẹ sau khủng hoảng thừa. Sau giai đoạn tăng trưởng nóng đẩy tổng đàn tăng 3,1% - 3,5%
trong nửa đầu năm 2026, quy mô tổng đàn gia cầm cả nước dự báo sẽ thu hẹp khoảng 1,5% - 2% trong quý III/2026. Sự sụt giảm này chủ yếu do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chủ động giảm đàn khi giá bán liên tục nằm
dưới giá thành.
Thị phần dịch chuyển mạnh về các doanh
nghiệp lớn: Thị trường sản xuất chứng kiến sự phân cực rõ rệt. Khối nông hộ nhỏ lẻ tiếp tục giảm sút mạnh. Ngược lại, nguồn cung dài hạn sẽ nằm trong tay các tập đoàn chăn nuôi khép kín (như De Heus, Japfa, CJ, CP) nhờ ưu thế tối ưu chi phí cám và kiểm soát dịch bệnh theo chuỗi an toàn sinh học.
Phân khúc gà trắng công nghiệp (Gà lông trắng): Đây là phân khúc nhạy cảm nhất với thị trường và chịu sức ép lớn từ thịt gà nhập khẩu. Tuy nhiên, giá gà trắng dự kiến phục hồi sớm nhất nhờ chu kỳ nuôi ngắn (chỉ 30 - 35 ngày) giúp thị trường tự điều tiết cung nhanh chóng. Dự báo giá gà trắng xuất chuồng tại các tỉnh Đông Nam Bộ sẽ
thoát đáy vùng 25.000 - 28.000 đồng/kg để vươn lên neo ổn định ở mức 33.000 - 35.000 đồng/kg từ cuối tháng 8/2026 nhờ nhu cầu từ các nhà máy chế biến suất ăn công nghiệp quay trở lại. Phân khúc gà lông màu và gà ta thả vườn: Các dòng gà màu có chu kỳ nuôi dài hơn (khoảng 90 - 100 ngày) nên nguồn cung phục hồi chậm hơn. Áp lực dội chợ giảm dần sau tháng 7 âm lịch. Nhu cầu tiêu thụ sẽ bùng nổ mạnh mẽ vào quý IV/2026 phục vụ mùa cưới hỏi, tiệc cuối năm và chuẩn bị Tết Nguyên Đán. Giá các giống gà màu chủ lực như gà ta lai, gà Mía dự kiến tăng mạnh 15% - 20% so với giai đoạn đầu năm, neo cao ở mức từ 55.000 - 70.000 đồng/kg. Các hộ nuôi giống gà bản địa chất lượng cao (gà thả vườn, gà đặc sản) sẽ đạt biên lợi nhuận tốt nhất.
Phân khúc vịt thịt: Phụ thuộc lớn vào thời tiết và luồng luân chuyển thương lái giữa các miền. Vào mùa mưa lũ quý III, việc chạy đồng gặp khó khăn có thể làm giảm tạm thời nguồn cung vịt thịt thương phẩm tại miền Tây và miền Trung. Dự báo giá vịt thịt bình quân dao động quanh mức 42.00048.000 đồng/kg. Thị trường có thể xuất hiện các đợt sốt giá cục bộ ngắn hạn tại miền Bắc vào giai đoạn giao mùa cuối thu.
Phân khúc trứng gia cầm (Trứng gà, trứng vịt): Trứng gia cầm sẽ là mặt hàng thiết lập đà lội ngược dòng ngoạn mục nhất. Nửa đầu năm, giá trứng chạm đáy sâu 1.1001.200 đồng/quả, khiến người nuôi lỗ nặng. Tuy nhiên, chu kỳ sản xuất trứng phục vụ Trung thu bắt đầu từ tháng 8 sẽ giải phóng hoàn toàn lượng hàng tồn kho. Giá trứng tại chuồng được dự báo tăng mạnh trở lại, thiết lập mặt bằng giá mới từ 2.000 - 2.500 đồng/ quả. Mức giá này giúp người chăn nuôi gà đẻ trứng thu hồi vốn nhanh và đạt mức lợi nhuận khá tốt cho đến hết năm.
MINH KHÔI (Tổng hợp)
Nhức nhối giống “lậu”
“CUỘC CHIẾN” KHÔNG CỦA RIÊNG AI
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi gia
cầm chuyển hướng nâng cao năng
suất và thích ứng thị trường, việc phát triển chất lượng nguồn giống
ngày càng cấp thiết. Bên cạnh
những thành tựu to lớn trong
công tác nghiên cứu, chọn tạo, thì vấn
nạn nhập lậu giống gia cầm vẫn đang
rất nhức nhối, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến toàn ngành, cần có giải pháp tháo
gỡ cấp bách.
Nhập lậu đang bào mòn sản xuất
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn gen gia cầm phong phú với nhiều giống gà bản địa nổi tiếng như Ri, Mía, Hồ, Đông Tảo hay Lạc Thủy. Đây không chỉ là nguồn tài nguyên di truyền quý mà còn là nền tảng để phát triển các dòng sản phẩm đặc sản, xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị ngành hàng. Thế nhưng, lợi thế đó đang dần bị thu hẹp khi thị trường con giống ngày càng phụ thuộc vào các dòng giống ngoại. Mỗi năm, Việt Nam vẫn nhập khẩu lượng lớn giống ông bà, bố mẹ từ các quốc gia có ngành chăn nuôi phát triển nhằm phục vụ sản xuất.
Tính đến hết tháng 6, tổng sản lượng gà giống nhập khẩu cả nước đạt khoảng 1,2 - 1,5 triệu con. Trong đó, gà giống bố mẹ hướng thịt (chủ yếu là gà lông trắng) đạt khoảng 850.000 - 900.000 con; Gà giống bố mẹ hướng trứng đạt khoảng 150.000 - 180.000 con, phục vụ duy trì và thay thế đàn gà đẻ trứng thương phẩm trong nước. Nguồn giống ông bà, bố mẹ được nhập khẩu chính ngạch từ các quốc gia có công nghệ di
truyền hàng đầu như Mỹ, Anh, Pháp và các nước EU.
Tuy nhiên, bên cạnh nguồn nhập khẩu chính ngạch, hoạt động nhập lậu con giống vẫn diễn ra với nhiều hình thức, từ giống thương phẩm đến giống bố mẹ, tạo nên một thị trường khó kiểm soát.
Theo phản ánh từ các hội, hiệp hội ngành hàng và cơ quan truyền thông, thời gian qua, tình trạng buôn bán giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng kém, nhập lậu từ nước ngoài vào Việt Nam vẫn còn tiếp diễn. Thực trạng này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến người chăn nuôi nói riêng và phát triển ngành chăn nuôi của cả nước nói chung.
Ông Phạm Huy Tuyến, Giám đốc Kinh doanh Công ty TNHH Giống gia cầm Cao Khanh chia sẻ, để nhanh chóng mở rộng quy mô, một số đơn vị đã tìm cách đưa giống nhập lậu vào sản xuất. Điều này khiến lượng con giống trên thị trường tăng mạnh nhưng chất lượng không được kiểm soát, kéo theo
TS NGUYỄN THANH SƠN
Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam Dường như có tình trạng trên nóng dưới lạnh trong “cuộc chiến” với gia cầm giống và sản phẩm gia cầm nhập lậu. Nếu tình trạng trên vẫn tiếp diễn, cơ quan chức năng từ
Trung ương đến địa phương không có giải pháp ngăn chặn nạn buôn lậu gia cầm giống hiệu quả, thì ngành chăn nuôi sẽ chết dần chết mòn và tiến tới chết hẳn.
nguy cơ mất an toàn sinh học và phát sinh dịch bệnh.
Theo phản ánh của một số doanh nghiệp trong ngành, hiện có một tỷ lệ khá lớn đàn gà màu bố mẹ đang lưu hành trên thị trường có nguồn gốc từ Trung Quốc theo đường nhập lậu. Nguyên nhân chủ yếu là giá thành thấp, khả năng sinh sản cao và rủi ro tài chính không lớn. Tuy nhiên, lợi ích ngắn hạn đối với một số cơ sở sản xuất lại đang
tạo ra sức ép rất lớn đối với ngành giống trong nước.
Ông Phạm Huy Tuyến bức xúc, tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của những doanh nghiệp sản xuất giống bài bản, đầu tư công nghệ và xây dựng thương hiệu trong nhiều năm.
Bởi, trong khi các doanh nghiệp sản xuất giống chính thức phải đầu tư lớn cho nghiên cứu, chọn tạo, kiểm dịch và xây dựng thương hiệu, thì con giống nhập lậu gần như không phải chịu những chi phí này. Sự chênh lệch đó khiến nhiều doanh nghiệp trong nước giảm khả năng cạnh tranh, thậm chí mất dần động lực đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nguồn gen. Hơn nữa, khi lượng con giống tăng nhanh mà không gắn với quy hoạch và nhu cầu tiêu thụ, tổng đàn gia cầm dễ rơi vào tình trạng tăng nóng. Hệ quả là chu kỳ dư cung, giá giảm và người chăn nuôi thua lỗ tiếp tục lặp lại, ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi sản xuất.
Ở góc độ kỹ thuật, việc lai tạo tự phát qua nhiều thế hệ cũng khiến chất lượng giống ngày càng khó kiểm soát. Những đặc tính quý của các giống bản địa có nguy cơ bị mai một, trong khi năng suất và khả năng thích nghi của đàn giống thương phẩm không còn
ổn định như ban đầu. Nguy hiểm hơn, con giống nhập lậu không được kiểm dịch đầy đủ có thể trở thành nguồn mang mầm bệnh xuyên biên giới, đe dọa an toàn sinh học của toàn ngành.
Tái cấu trúc để nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong bối cảnh ngành gia cầm phải đối mặt với áp lực cạnh tranh và yêu cầu ngày càng cao về năng suất, an toàn dịch bệnh cũng như chất lượng sản phẩm, nguồn giống chất lượng cao được xem là yếu tố nền tảng để nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững.
Dù vậy, các chuyên gia cho rằng, cùng với việc gia tăng nhập khẩu, cần tiếp tục tăng cường công tác kiểm dịch, quản lý chất lượng con giống và đẩy mạnh phát triển ngành giống trong nước. Điều này không chỉ giúp giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu mà còn góp phần xây dựng ngành chăn nuôi hiện đại, chủ động và có sức cạnh tranh cao hơn trong những năm tới.
Theo đại diện doanh nghiệp sản xuất giống gia cầm hàng đầu tại Việt Nam, nhiệm
NGĂN CHẶN, XỬ LÝ NHẬP LẬU GIỐNG GIA CẦM
2 giờ 30 phút, ngày 27/4/2026, tại Km 1, Tỉnh lộ 335 (thuộc phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh), Đội QLTT số 4 đã phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 3 - Công an tỉnh Quảng Ninh và Hải quan cửa khẩu quốc tế Móng Cái tiến hành kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát 12H-046.19 do ông N.V.D (trú tại khối 5, phường Kỳ Lừa, tỉnh Lạng Sơn) điều khiển. Ông N.V.D cũng là chủ của lô hàng này. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe đang vận chuyển 96 khay nhựa, bên trong chứa 7.680 con vịt giống 1 ngày tuổi (80 con/khay). Làm việc với cơ quan chức năng, ông N.V.D khai nhận đã thu mua toàn bộ số vịt giống trôi nổi trên thị trường để bán kiếm lời. Toàn bộ lô hàng không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ và chưa qua kiểm dịch theo quy định. 20 giờ 30 phút ngày 23/5/2026, tại khu vực xóm Nà Giốc, xã Quang Trung, tỉnh Cao Bằng, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Trà Lĩnh chủ trì, phối hợp với Phòng Nghiệp vụ (Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng) và Đoàn Đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm miền Bắc (Cục Phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng) phát hiện, bắt giữ xe ô tô biển kiểm soát 97A-07846 do Triệu Minh Hùng (sinh năm 1991, trú tại xóm Nà Giốc, xã Quang Trung, tỉnh Cao Bằng) điều khiển, trên xe có 7 sọt nhựa, bên trong chứa tổng cộng 2.215 con gà giống. Tại thời điểm kiểm tra, Triệu Minh Hùng khai nhận, đã lấy số gà giống trên từ Trung Quốc qua khu vực mốc 757 với mục đích mang ra chợ xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng bán kiếm lời.
vụ ưu tiên hiện nay là kiểm soát nhập lậu con giống nhằm bảo vệ ngành sản xuất giống trong nước. Bên cạnh đó, cần siết chặt truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch và quản lý lưu thông con giống để xây dựng một thị trường minh bạch, tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp đầu tư bài bản.
Song song với đó, cần có chính sách dài hạn phát triển hệ thống giống trong nước, đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và khai thác hiệu quả nguồn gen bản địa. Bởi, những giống gia cầm đặc sản không chỉ là tài nguyên di truyền mà còn là lợi thế để xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường.
Thêm vào đó, ngành cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý đàn giống, giám sát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và tối ưu quy trình sản xuất, nhằm giúp giảm chi phí trong chăn nuôi, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu.
Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp lớn trong nước như: Dabaco, Minh Dư, C.P, Cao Khanh, Greenfeed; trong đó, Dabaco đã từng bước ứng dụng AI vào quản lý trang trại, theo dõi sức khỏe vật nuôi, tối ưu quy
trình sản xuất và nâng cao chất lượng con giống. Đây là hướng đi cần được nhân rộng, nhằm giúp ngành gia cầm Việt Nam tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Quan trọng hơn, chính sách phát triển ngành cũng cần chuyển trọng tâm từ mở rộng sản lượng sang nâng cao giá trị gia tăng. Nghiên cứu giống, quy trình chăn nuôi và công nghệ chế biến phải gắn với nhu cầu thị trường thay vì chỉ tập trung vào tăng năng suất. Cùng với đó, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ để gia tăng giá trị cho sản phẩm gia cầm Việt Nam.
Tăng trưởng là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để tạo nên một ngành gia cầm mạnh. Muốn phát triển bền vững, ngành phải chuyển từ tư duy mở rộng sản lượng sang tạo dựng giá trị, từ phụ thuộc sang tự chủ, từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng và công nghệ. Chỉ khi giải quyết được “điểm nghẽn” cố hữu này, ngành gia cầm Việt Nam mới có thể khai thác hiệu quả lợi thế, nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường khu vực và thế giới. THU HỒNG - NGỌC ÁNH
NGĂN CHẶN NHẬP LẬU
GIẢI PHÁP CĂN CƠ VỰC DẬY NGÀNH
GIỐNG GIA CẦM
Không chỉ chịu áp lực cung vượt cầu, ngành sản xuất giống gia cầm còn đối mặt với sự cạnh tranh từ con giống nhập lậu, không rõ nguồn gốc, kéo theo nhiều rủi ro về dịch bệnh và chất lượng. Chia sẻ với phóng
viên Tạp chí Thế giới Gia cầm, ông Phạm Huy Tuyến, Giám đốc Kinh doanh Công ty TNHH Giống gia cầm Cao
Khanh cho rằng, muốn bảo vệ ngành giống trong nước cần bắt đầu từ việc kiểm soát chặt nguồn gốc con giống và ngăn chặn nhập lậu ngay từ biên giới.
Phóng viên: Thưa ông, với vai trò là doanh nghiệp nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất giống gia cầm, ông đánh giá như thế nào về tình hình sản xuất giống gia cầm trong nước hiện nay, đặc biệt là gà giống?
Ông Phạm Huy Tuyến: Hiện nay, không chỉ Công ty Giống gia cầm Cao Khanh mà hầu hết các doanh nghiệp sản xuất giống gia cầm trong nước đều đang gặp rất nhiều khó khăn. Thách thức lớn nhất là tình trạng cung vượt quá cầu, trong khi đầu ra của sản phẩm ngày càng bị thu hẹp, khiến hoạt động sản xuất kinh doanh chịu nhiều áp lực.
Phóng viên: Theo ông, đâu là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến những khó khăn này của ngành gia cầm?
Ông Phạm Huy Tuyến: Nguyên nhân là các cơ sở ấp nở sản xuất giống nhỏ lẻ ngày càng tăng và không có sự giám sát quản lý về giống bố mẹ. Số lượng cơ sở sản xuất giống ngày càng nhiều, trong đó có cả một
số doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi tham gia lĩnh vực này để tự chủ nguồn giống cho hệ thống chăn nuôi của mình.
Để nhanh chóng mở rộng quy mô, một số đơn vị đã tìm cách đưa giống nhập lậu vào sản xuất. Điều này khiến lượng con giống trên thị trường tăng mạnh nhưng chất lượng không được kiểm soát, kéo theo nguy cơ mất an toàn sinh học và phát sinh dịch bệnh.
Đáng lo ngại hơn, tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của những doanh nghiệp sản xuất giống bài bản, đầu tư công nghệ và xây dựng thương hiệu trong nhiều năm.
Phóng viên: Những khó khăn này đã ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất giống trong nước, thưa ông?
Ông Phạm Huy Tuyến: Khi thị trường xuất hiện quá nhiều con giống không rõ nguồn gốc, giá bán bị kéo xuống thấp, các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc buộc phải cạnh tranh trong điều kiện không bình đẳng.
Điều này khiến hiệu quả sản xuất giảm sút, nhiều
doanh
nghiệp gặp khó khăn trong duy trì hoạt động và đầu tư phát triển. Thiếu truy xuất nguồn gốc khiến việc kiểm soát gặp nhiều bất lợi.
Phóng viên: Theo ông, việc con giống nhập lậu dễ dàng xâm nhập thị trường có liên quan đến hạn chế trong công tác truy xuất nguồn gốc hay không?
Ông Phạm Huy Tuyến: Việc nhập lậu liên quan rất nhiều đến công tác truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Theo tôi, vấn đề không chỉ nằm ở việc nhập lậu mà còn ở khâu quản lý sau đó.
Hiện nay, nhiều đơn vị sản xuất và các trang trại sử dụng giống chưa được kiểm soát chặt chẽ về nguồn gốc. Cơ quan chức
năng vẫn gặp khó trong việc truy xuất nguồn gốc đàn giống cũng như xác định giống được nhập từ đâu, lưu thông như thế nào. Khi không truy xuất được nguồn gốc thì việc quản lý chất lượng, kiểm soát dịch bệnh cũng trở nên rất khó khăn.
Phóng viên: Theo phản ánh, nhiều doanh nghiệp đang phải bán thanh lý đàn gà bố mẹ hoặc trứng giống làm thực phẩm. Điều này có gây ra những hệ lụy đối với thị trường hay không, thưa ông?
Ông Phạm Huy Tuyến: Điều đáng lo đầu tiên của việc nhiều doanh nghiệp bán thanh lý đàn gà bố mẹ hoặc trứng giống làm thực phẩm đó là vấn đề an toàn thực phẩm và kiểm soát nguồn gốc. Khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt thanh lý đàn hoặc xả trứng giống, rất khó để kiểm soát nguồn gốc, đặc biệt nếu trong số đó có những đàn giống không rõ xuất xứ hoặc nhập lậu.
Bên cạnh đó, việc đồng loạt bán ra thị trường cũng kéo giá thịt, giá trứng xuống thấp. Khi các doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh bằng giá để giảm lỗ, thương lái sẽ có lợi thế ép giá, khiến doanh nghiệp sản xuất giống chịu thiệt hại nặng. Nếu tình trạng này kéo dài, nhiều doanh nghiệp có thể phải tạm dừng sản xuất hoặc đóng cửa.
Phóng viên: Một vấn đề khác cũng được nhiều doanh nghiệp lo ngại là nguy cơ dịch bệnh trên đàn giống, trong đó có bệnh khối u. Theo ông, nguyên nhân xuất phát từ đâu?
Ông Phạm Huy Tuyến: Dịch bệnh trên đàn giống nguyên nhân chủ yếu vẫn xuất phát từ con giống không rõ nguồn gốc. Theo tìm hiểu của chúng tôi, nhiều lô giống nhập lậu là hàng trôi nổi, chất lượng không đồng đều. Có lứa đạt yêu cầu nhưng cũng có nhiều lứa không đạt. Đặc biệt, phần lớn con giống không được tiêm phòng đầy đủ ngay từ một ngày tuổi, nhất là vaccine Marek, làm tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh trong quá trình chăn nuôi.
Phóng viên: Có ý kiến cho rằng, ngành giống gia cầm Việt Nam còn hạn chế trong việc phát triển công nghệ lõi. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Ông Phạm Huy Tuyến: Theo tôi, công nghệ lõi trong sản xuất giống bao gồm nhiều yếu tố như: chọn tạo và di truyền giống, dinh dưỡng, công nghệ sinh học kiểm soát dịch bệnh, chuồng trại thông minh, tự động
Cao Khanh cũng như những thương hiệu sản xuất con giống gia cầm hiện nay đang chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp FDI về thị phần con giống, hệ thống chăn nuôi theo chuỗi, đầu ra… Trong khi, các cơ sở giống nhập lậu thì tăng quy mô đàn và thiếu kiểm soát. Chính vì vậy, nếu doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng sẽ chịu nhiều áp lực thua lỗ tiếp theo. Tuy nhiên, vấn đề chất lượng sản phẩm vẫn được doanh nghiệp ưu tiên hàng đầu, bằng việc áp dụng các giải pháp truy xuất nguồn gốc như kiểm dịch, tem, mã QR, hồ sơ con giống, phần mềm quản lý… Tất cả đều đáp ứng mọi tiêu chuẩn về chất lượng con giống của Bộ, ban ngành; cũng như tạo được niềm tin và thương hiệu đối với các khách hàng và người chăn nuôi cả nước.
Dù vậy, thực tiễn sản xuất cho thấy, phần ít khách hàng hiểu và quan tâm về nguồn gốc. Còn lại đa số họ chỉ quan tâm đến giá cả con giống nhập lậu rẻ mà ko cần quan tâm đến sự hao hụt và bệnh tật trong quá trình nuôi.
Có thể thấy, truy xuất nguồn gốc là chìa khóa để minh bạch chất lượng sản phẩm. Nhưng, vấn đề minh bạch này đòi hỏi từ phía cơ quan chức năng, bộ ban nghành phải siết chặt quy chuẩn về giống của các cơ sở ấp nở cũng như bộ giống của các doanh nghiệp FDI. Tránh các tình trạng lập cơ sở chăn nuôi ở trong nước nhưng lại nhập lậu nguồn giống, nguồn trứng nước ngoài về ấp nở và hợp thức hóa tại Việt Nam.
hóa, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc. Thực tế, nhiều doanh nghiệp lớn như Cao Khanh, Minh Dư, Dabaco, 3F Việt... đã và đang đầu tư khá bài bản vào các lĩnh vực này và mang lại hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn về vốn, quỹ đất và năng lực đầu tư nên chưa thể áp dụng đồng bộ các công nghệ hiện đại.
Phóng viên: Theo ông, cần có những giải pháp gì để tháo gỡ khó khăn, vực dậy ngành sản xuất giống gia cầm trong nước?
Ông Phạm Huy Tuyến: Trước hết cần nâng cao vai trò quản lý của cơ quan chức năng. Quan trọng nhất là siết chặt kiểm dịch, tăng cường truy xuất nguồn gốc con giống và bảo đảm tính minh bạch của thị trường. Đồng thời, các hiệp hội ngành hàng cần đồng hành với doanh nghiệp trong việc tháo gỡ những vướng mắc về thuế, kiểm dịch, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Đặc biệt, việc kiểm soát chặt hoạt động buôn lậu con giống phải được coi là giải pháp ưu tiên nếu muốn khôi phục ngành sản xuất giống trong nước.
Phóng viên: Ông có đề xuất gì để tăng hiệu quả quản lý nguồn gốc con giống, thưa ông?
Ông Phạm Huy Tuyến: Theo tôi, để tăng hiệu quả quản lý nguồn gốc con giống cần quản lý chặt giấy kiểm dịch của từng lô con giống.
Ví dụ, khi doanh nghiệp xuất bán 10.000 con giống thì phải có giấy kiểm dịch đi kèm.
Sau quá trình nuôi, nếu còn khoảng 9.000 con thì khi xuất bán tiếp, cơ quan chức năng phải đối chiếu đúng giấy tờ ban đầu. Nếu thực hiện nghiêm quy trình này thì những lô giống nhập lậu sẽ không có hồ sơ hợp lệ để lưu thông. Khi đó, người chăn nuôi cũng sẽ không dám mua hàng trôi nổi vì không thể tiêu thụ sản phẩm sau này.
Phóng viên: Ở góc độ doanh nghiệp, ông có lời khuyên gì dành cho người chăn nuôi?
Ông Phạm Huy Tuyến: Để chăn nuôi đạt hiệu quả cao, giảm thiểu rủi ro, điều quan trọng nhất là người chăn nuôi nên lựa chọn con giống từ những doanh nghiệp có uy tín, được cơ quan chuyên môn khuyến cáo và có thương hiệu trên thị trường.
Con giống chất lượng sẽ giúp hạn chế rủi ro dịch bệnh, đặc biệt là những bệnh xuất hiện ở giai đoạn cuối của chu kỳ nuôi như Leucosis hay Marek. Đây là thời điểm người chăn nuôi chuẩn bị thu hoạch, nếu dịch bệnh xảy ra sẽ gây thiệt hại kinh tế rất lớn. Về phía Cao Khanh, chúng tôi tiếp tục đầu tư vào công nghệ lõi, nâng cao chất lượng con giống và tập trung phát triển các dòng gà đặc sản, thay vì chạy theo sản lượng hoặc cạnh tranh bằng giá. Chúng tôi tin rằng chỉ có chất lượng và uy tín mới giúp doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Xin trân trọng cảm ơn ông!
PV (Thực hiện)
AVIAGEN VÀ NIPPON CHUNKY
Củng cố nền tảng hợp tác lâu dài
tại Nhật Bản
Aviagen® vừa công bố bước tiến mới trong quan hệ hợp tác lâu năm với Nippon Chunky, nhà phân phối độc quyền giống gà thịt bố mẹ Ross® tại Nhật Bản và là công ty thành viên thuộc bộ phận Thực phẩm và Kinh doanh nông nghiệp của Tập đoàn Marubeni. Gắn bó gần 60 năm, hai bên đã xây dựng mối quan hệ đối tác bền vững, góp phần khẳng định vị thế của Nippon Chunky
Aviagen
đã hoàn tất việc mua lại 66%
cổ phần chi phối tại Nippon Chunky
từ ngày 1/7/2026, mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa hai doanh nghiệp và khẳng định cam kết thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành gia cầm Nhật Bản. Marubeni tiếp tục nắm giữ 34%
cổ phần và duy trì vai trò tích cực trong công tác quản trị doanh nghiệp.
Sau khi gia nhập Aviagen Asia, Nippon Chunky sẽ tiếp tục hoạt động dưới thương
hiệu hiện tại, đồng thời giữ nguyên đội ngũ lãnh đạo để bảo đảm sự ổn định và liên tục trong hoạt động kinh doanh.
Khoản đầu tư này là kết quả của nhiều thập kỷ hợp tác bền chặt và sự tin cậy giữa Aviagen và Nippon Chunky, đồng thời thể hiện cam kết chung trong việc đồng hành cùng người chăn nuôi gia cầm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và nâng cao phúc lợi động vật.
Ông Jan Henriksen, Tổng Giám đốc điều hành Aviagen, cho biết: “Nippon Chunky đã xây dựng uy tín vững chắc nhờ luôn đặt khách hàng làm trọng tâm, am hiểu sâu sắc thị trường địa phương và có bề dày kinh nghiệm trong ngành. Trong nhiều năm qua, công ty đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của thương hiệu Ross tại Nhật Bản. Chúng tôi mong muốn tiếp tục phát huy những thành quả đó. Thỏa thuận này một lần nữa khẳng định cam kết lâu dài của Aviagen đối với thị trường Nhật Bản và các khách hàng tại đây”.
Ông Masaya Shiraishi, Tổng Giám đốc Bộ phận Kinh doanh thịt của Marubeni, chia sẻ: “Chúng tôi tin tưởng quan hệ hợp tác với Aviagen sẽ tiếp tục củng cố nền tảng mà Nippon Chunky đã xây dựng trong nhiều năm qua. Hai bên sẽ tiếp tục đồng hành nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành gà thịt Nhật Bản thông qua việc cung ứng ổn định nguồn gà giống chất lượng cao”.
AVIAGEN MARUBENI
Aviagen® là doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực chọn tạo giống gia cầm, với sứ mệnh góp phần cung cấp nguồn protein từ thịt gà có giá thành hợp lý, giàu dinh dưỡng và được sản xuất theo hướng bền vững.
Thông qua các chương trình chọn giống cân bằng, đổi mới công nghệ, kinh nghiệm thực tiễn và những tiến bộ di truyền dài hạn, Công ty giúp khách hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của từng thị trường và mô hình sản xuất, hướng tới tăng trưởng bền vững.
Danh mục giống của Aviagen gồm
Arbor Acres®, Indian River®, Ross® và Specialty Males®, cùng các dòng gà sinh trưởng chậm, mang đến nhiều lựa chọn phù hợp với nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và điều kiện chăn nuôi tại từng khu vực.
Tập đoàn Marubeni cùng các công ty thành viên vận hành mạng lưới kinh doanh rộng khắp trong và ngoài Nhật Bản, triển khai hoạt động xuất nhập khẩu (bao gồm thương mại với nước thứ ba) và kinh doanh nội
địa. Tập đoàn hoạt động đa ngành, trải rộng từ đời sống, thực phẩm và nông nghiệp, kim loại và khoáng sản, năng lượng và hóa chất đến điện lực, hạ tầng, tài chính, cho thuê, bất động sản, hàng không, vận tải và các lĩnh vực kinh doanh thế hệ mới. Ngoài các hoạt động kinh doanh cốt lõi, Marubeni còn cung cấp đa dạng các dịch vụ, thực hiện các khoản
đầu tư trong và ngoài tập đoàn, đồng thời tham gia phát triển nguồn
tài nguyên trên tất cả các lĩnh vực hoạt động nói trên.
VPA đẩy mạnh kết nối, tháo gỡ khó khăn cùng doanh nghiệp
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi gia cầm tiếp tục chịu áp lực từ tình trạng dư cung và giá bán giảm, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) xác
định trọng tâm hoạt động 6 tháng cuối năm 2026 là tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh phản biện
chính sách và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành.
Chiều 8/7 tại Hà Nội, Ban Thường vụ VPA đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Nguyễn Thanh Sơn.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Nguyễn Thanh Sơn cho biết trong nửa đầu năm 2026, VPA đã triển khai nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với những khó khăn của thị trường, đồng thời phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý thông qua xúc tiến thương mại, đào tạo, hợp tác quốc tế và phản biện chính sách.
Báo cáo tại Hội nghị, Phó Chủ tịch VPA Nguyễn Quý Khiêm cho biết, Hiệp hội đã tiếp tục kiện toàn tổ chức, phát triển hội viên và nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Tư vấn và Phát triển Gia cầm. Song song đó, VPA thường xuyên cập nhật thông tin thị trường, tổ chức các đoàn công tác làm việc với doanh nghiệp để nắm bắt khó khăn, kịp thời kiến nghị giải pháp tháo gỡ. Hoạt động xúc tiến thương mại tiếp tục là điểm nhấn của Hiệp hội trong 6 tháng đầu năm. VPA đã phối hợp tổ chức thành công Hội chợ Ildex 2026, đồng thời lần đầu tiên xây dựng Gian hàng Quốc gia của ngành chăn nuôi Việt Nam, tạo điều kiện quảng bá thương hiệu, kết nối giao thương và mở rộng cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp hội viên.
Bên cạnh xúc tiến thương mại, Hiệp hội cũng chú trọng nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu. Khóa tập huấn về quản trị rủi ro và xử lý khủng hoảng truyền thông đã giúp lãnh đạo doanh nghiệp tiếp cận các phương pháp quản trị hiện đại, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và nâng cao kỹ năng xử lý truyền thông trong bối cảnh chuyển đổi số.
Trong lĩnh vực
hợp tác quốc tế, VPA tiếp tục mở
rộng quan hệ với
các đối tác đến
từ Hà Lan, Cộng
hòa Séc và nhiều
tổ chức quốc tế
theo mô hình
One Health, đồng
thời chuẩn bị các
chương trình xúc
tiến thương mại
tại Trung Quốc, Ấn Độ và một số
thị trường tiềm năng nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường.
Một trong những dấu ấn nổi bật của VPA trong thời gian qua là hoạt động phản biện chính sách. Hiệp hội đã tích cực tham gia góp ý sửa đổi Luật Chăn nuôi, Luật Thú y và nhiều quy định liên quan đến thủ tục hành chính, quản lý giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y. Những kiến nghị này được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung trao đổi về những khó khăn, thách thức mà người chăn nuôi, doanh nghiệp trong ngành đang đối mặt, đồng thời đề xuất nhiều kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách và tháo gỡ các điểm nghẽn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh gia cầm.
Theo đánh giá của Hiệp hội, 6 tháng đầu năm 2026, ngành chăn nuôi gia cầm vẫn duy trì tăng trưởng về tổng đàn và sản lượng nhưng tiếp tục chịu sức ép do cung vượt cầu, khiến giá gà công nghiệp, vịt thịt và trứng
gia cầm giảm mạnh trong nhiều thời điểm. Dù vậy, hoạt động xuất khẩu vẫn ghi nhận những tín hiệu tích cực khi các sản phẩm gia cầm chế biến của Việt Nam tiếp tục mở rộng thị trường, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và khẳng định vị thế của ngành trên thị trường quốc tế.
Trong 6 tháng cuối năm, VPA sẽ tập trung đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hội chợ quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu; triển khai các chương trình đào tạo về ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quản trị tài chính và chuyển đổi số; đồng thời tiếp tục phối hợp với các cơ quan quản lý trong quá trình hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến ngành chăn nuôi. Với định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Hiệp hội kỳ vọng sẽ tiếp tục phát huy vai trò kết nối, đồng hành cùng hội viên tháo gỡ khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành gia cầm Việt Nam trong thời gian tới.
VPA kiến nghị gỡ rào cản chính sách, siết nhập lậu để vượt khó
Giá gia cầm giảm sâu, sức tiêu thụ chậm trong khi nhiều thủ tục hành chính vẫn còn chồng chéo đang tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp chăn nuôi. Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA), nhiều doanh nghiệp đã đồng loạt kiến nghị tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, kiểm soát gia cầm nhập lậu và hoàn thiện chính sách, nhằm giúp ngành sớm phục hồi.
Theo đánh giá của VPA, 6 tháng đầu năm 2026, ngành chăn nuôi gia cầm vẫn duy trì tăng trưởng về tổng đàn và sản lượng. Tuy nhiên, tình trạng cung vượt cầu kéo dài đã khiến giá gà công nghiệp, vịt thịt và trứng gia cầm liên tục giảm, làm giảm hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và người chăn nuôi.
Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp cho rằng ngoài khó khăn về thị trường, thì các rào cản về thủ tục hành chính và chính sách đang làm gia tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh của ngành.
Phát biểu tại Hội nghị, ông Bùi Văn Nhạc, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Grimaud Việt Nam cho biết, doanh nghiệp hiện phải mất nhiều thời gian để hoàn tất các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến thuế và cập nhật thông tin doanh nghiệp. Theo ông, việc xử lý hồ sơ còn kéo dài đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ sản xuất, kinh doanh.
Đáng lo ngại hơn, tình trạng nhập lậu trứng và gia cầm qua biên giới vẫn diễn biến phức tạp. Không chỉ tạo sức ép cạnh tranh đối với sản phẩm trong nước, nguồn hàng không được kiểm soát còn tiềm ẩn nguy cơ đưa các mầm bệnh mới xâm nhập, đe dọa an toàn dịch bệnh và sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.
Cùng chung mối quan tâm về cải cách thủ tục hành chính, ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam cho rằng, quy định công
bố hợp quy trên cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ còn chồng chéo, khiến doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục trùng lặp, làm tăng thời gian và chi phí tuân thủ. Theo ông Chiến, doanh nghiệp cũng băn khoăn trước đề xuất áp thuế suất 5% đối với hoạt động kinh doanh con giống. Nếu được áp dụng, chính sách này sẽ làm tăng chi phí đầu vào, ảnh hưởng trực tiếp đến người chăn nuôi, nhất là các hộ sản xuất quy mô nhỏ.
Trong khi đó, ông Trịnh Quang Thanh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Olmix
Asialand Việt Nam nhận định, ngành gia cầm đang trải qua giai đoạn khó khăn nhất trong nhiều năm khi tình trạng cung vượt cầu kéo dài khiến giá sản phẩm liên tục lao dốc. Theo ông, bên cạnh việc doanh nghiệp cần chủ động liên kết để điều tiết sản xuất, cơ quan quản lý cũng cần mạnh dạn cắt giảm các thủ tục không còn phù hợp, trong đó có thủ tục gia hạn đăng ký sản phẩm, nhằm giảm chi phí và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tập trung đầu tư phát triển. Ở góc độ doanh nghiệp sản xuất giống, ông Phạm Văn Lượng, Giám đốc Công ty Cổ phần Giống gia cầm Lượng Huệ cho rằng, một số quy định về điều kiện cấp phép cơ sở giết mổ chưa phù hợp với thực tế. Quy định khoảng cách tối thiểu 500 m giữa cơ sở giết mổ và khu dân cư khiến nhiều doanh nghiệp khó
hơn hoặc cho phép bố trí các cơ sở giết mổ đạt tiêu chuẩn trong các khu công nghiệp. Đại diện Công ty TNHH Giống gia cầm Cao Khanh, ông Phạm Huy Tuyến cho biết, cả thị trường gà thương phẩm và gà giống đều đang trong giai đoạn tiêu thụ khó khăn, giá bán giảm sâu. Nhiều doanh nghiệp buộc phải bán cả trứng lộn để thu hồi vốn, trong khi giống gia cầm nhập lậu tiếp tục gây sức ép lớn đối với các đơn vị sản xuất chính ngạch. Ông kỳ vọng thị trường sẽ từng bước phục hồi trong những tháng cuối năm khi nhu cầu tiêu dùng tăng trở lại.
Ngoài các ý kiến trên, nhiều đại biểu cũng đề nghị các cơ quan quản lý tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường kiểm soát gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, đồng thời có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Kết luận Hội nghị, Chủ tịch VPA Nguyễn Thanh Sơn cho biết, Ban Thường vụ Hiệp hội sẽ tổng hợp đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp để báo cáo, đề xuất với các bộ, ngành và cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Theo ông, Hiệp hội sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý, tích cực phản biện chính sách, đồng hành cùng hội viên tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để ngành gia cầm phát triển ổn định và bền vững trong thời gian tới.
Tham dự khóa đào tạo có TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam; ông Nguyễn Khiêm, ông Nguyễn Hữu Vinh Phó Chủ tịch Hiệp hội, cùng hơn 30 học viên là lãnh đạo và phụ trách công tác truyền thông của các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội.
Theo Ban Tổ chức, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và các nền tảng số, doanh nghiệp ngày càng đối mặt với nhiều nguy cơ như tin giả, thông tin sai lệch, phản ứng tiêu cực từ cộng đồng mạng hay các sự cố truyền thông nội bộ. Những yếu tố này có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến uy tín thương hiệu, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh nếu không được xử lý kịp thời.
Phát biểu khai mạc khóa học, TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, chia sẻ: Hầu hết các doanh nghiệp trong Hiệp hội đều phát triển từ nền tảng nông nghiệp, gắn liền với chuồng trại, nhà máy và mồ hôi công sức của người nông dân. Chúng ta tự hào khi gánh vác sứ mệnh cung ứng chuỗi giá trị thực phẩm cho hơn 100 triệu đồng bào và đưa nông sản Việt ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một ngành nghề đầy rủi ro và nhạy cảm. Do các sản phẩm như thịt, trứng gắn liền với tiêu dùng thiết yếu hằng ngày của người dân, doanh nghiệp rất dễ bị tổn thương trước các sự cố, trong đó có khủng hoảng truyền thông.
“Trong bối cảnh hiện nay, khủng hoảng truyền thông không còn là nguy cơ mang tính lý thuyết mà có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chỉ một tin đồn thất thiệt, một đoạn video cắt ghép hoặc thông tin về dịch bệnh bị lan truyền thiếu kiểm chứng cũng có thể khiến doanh nghiệp thiệt hại nặng nề, làm mất niềm tin của người tiêu dùng và ảnh hưởng đến thương hiệu đã gây dựng trong nhiều năm”, TS. Nguyễn Thanh Sơn nhấn mạnh.
Bám sát thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp ngành thực phẩm, nông nghiệp và chăn nuôi, chương trình đào tạo tập trung
vào việc giúp học viên nhận diện các loại rủi ro truyền thông phổ biến; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, quy trình quản trị rủi ro và cơ chế phối hợp nội bộ nhằm hạn chế tối đa tác động khi xảy ra khủng hoảng.
Một điểm nhấn của khóa đào tạo là phần phân tích các tình huống thực tế và bài tập mô phỏng khủng hoảng truyền thông. Thông qua các bài thực hành, học viên được trực tiếp phân tích nguyên nhân, đánh giá diễn biến và xây dựng phương án xử lý phù hợp, từ đó rút ra kinh nghiệm để áp dụng vào hoạt động quản trị tại đơn vị mình.
Theo Ban Tổ chức, việc trang bị kiến thức và kỹ năng xử lý khủng hoảng truyền thông không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị rủi ro mà còn góp phần xây dựng quy trình ứng phó chuyên nghiệp, bảo vệ uy tín thương hiệu, củng cố niềm tin của khách hàng và tăng khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường. Đây cũng là cơ hội để đội ngũ lãnh đạo, cán bộ truyền thông và marketing cập nhật các phương pháp quản trị hiện đại, chủ động ứng phó với những thách thức trong môi trường truyền thông số.
Bên cạnh đó, với sự dẫn dắt của hai diễn giả là TS. Nguyễn Nga Huyền, Phó Chủ nhiệm Khoa Marketing và Truyền thông, Trường Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội; ThS Nhà báo Trần Thị Hoa Mai, Giảng viên Viện Báo chí - Truyền thông, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, học viên sẽ không chỉ học lý thuyết mà sẽ cùng nhau mổ xẻ trực tiếp các case study từ thực tế; học cách xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và quy trình phản ứng nhanh trong “24 giờ vàng”; thống nhất tư duy quản trị rủi ro đồng bộ giữa người ra quyết định (lãnh đạo) và người thực thi (nhân sự truyền thông); biết cách làm chủ nghệ thuật đối thoại văn minh, trung thực với báo chí để bảo vệ và củng cố mạnh mẽ uy tín doanh nghiệp sau sự cố. Sáng 26/6/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam phối hợp với Công ty Thú y Xanh Việt Nam tổ chức khóa đào tạo “Quản lý rủi ro và xử lý khủng hoảng truyền thông trong doanh nghiệp”, nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó với các sự cố truyền thông, bảo vệ uy tín và thương hiệu trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Áp lực chi phí, thương mại và dịch bệnh đang tái
mạnh đầu tư vào công nghệ, an toàn sinh học và dinh dưỡng chính xác để duy trì sức cạnh tranh.
Sức ép chi phí, thương mại và nhân lực
Ngành gia cầm toàn cầu năm 2026 phải
đối mặt với nhiều sức ép phức tạp hơn so với năm trước. Bên cạnh những khó khăn dai dẳng như giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, an toàn thực phẩm và biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp, doanh nghiệp còn chịu tác động từ bất ổn thương mại, thiếu hụt lao động và dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI). Đây là kết quả từ Khảo sát dinh dưỡng gia cầm 2026 do WATT Global Media thực hiện với 310 chuyên gia dinh dưỡng, tư vấn, bác sĩ thú y, chủ trang trại và nhà quản lý sản xuất.
Chi phí nguyên liệu tiếp tục là mối quan ngại lớn nhất khi có tới 74% người tham gia đánh giá đây là yếu tố “rất quan trọng”. Chi phí năng lượng, bao gồm vận chuyển và sản xuất, cũng gia tăng trở lại sau khi hạ nhiệt trong năm 2025 và được 64% số người khảo sát xem là áp lực đáng kể. Các vấn đề về an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, chất lượng nguyên liệu, đặc biệt là độc tố nấm mốc vẫn tiếp tục nằm trong nhóm rủi ro hàng đầu.
Đáng chú ý, năm 2026 chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của những lo ngại liên quan đến vi lượng dinh dưỡng và phụ gia thức ăn. Có 57% người tham gia khảo sát cho rằng nguồn cung các nguyên liệu này là vấn đề rất quan trọng. Điều này phản ánh áp lực ngày càng lớn trong việc đảm bảo nguồn cung các
nguyên liệu chuyên biệt, bên cạnh biến động của các mặt hàng nông sản truyền thống. Ngoài ra, tranh chấp thương mại quốc tế và chính sách thuế quan lần đầu tiên trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của ngành khi được 53% người khảo sát đánh giá rất quan trọng. Song song với đó là rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng ở cùng mức 53%.
Một điểm nổi bật khác của khảo sát năm nay là áp lực nhân sự ngày càng gia tăng. Có 51% số người được hỏi cho biết, việc tuyển dụng và giữ chân lao động chất lượng cao đang trở thành thách thức lớn khi hoạt động chăn nuôi ngày càng ứng dụng nhiều công nghệ và đòi hỏi trình độ chuyên môn cao.
An toàn sinh học, công nghệ và dinh dưỡng
Mặc dù dịch cúm gia cầm độc lực cao vẫn hiện hữu, mức độ thiệt hại ghi nhận trong năm 2026 đã giảm đáng kể. Tỷ lệ đơn vị báo cáo chịu thiệt hại nghiêm trọng chỉ còn 11%, giảm mạnh so với mức 24% của năm trước. Tuy nhiên, virus này vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới chiến lược sản xuất khi 20% doanh nghiệp cho biết, HPAI đã tác động trực tiếp đến kế hoạch kinh doanh và 43% vẫn xem đây là một trong những rủi ro lớn nhất của ngành.
Lo ngại về nguy cơ lây truyền mầm bệnh giữa các loài khiến nhiều doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào an toàn sinh học. Có 29% số người tham gia khảo sát đã điều chỉnh
quy trình phòng dịch tại trang trại. Các biện pháp được áp dụng phổ biến nhất gồm tăng cường quy trình vệ sinh giữa các lần ra vào trang trại, đào tạo nhân viên về nguy cơ lây truyền dịch bệnh giữa các loài, bổ sung biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm và đầu tư hệ thống giám sát an toàn sinh học.
Song song với đó, chiến lược dinh dưỡng nhằm cải thiện sức khỏe đường ruột tiếp tục được mở rộng. Mô hình kết hợp prebiotic và probiotic vẫn là giải pháp phổ biến nhất. Tiếp theo là chương trình kiểm soát độc tố nấm mốc và phối hợp enzyme chuyên biệt. Khảo sát cũng cho thấy các giải pháp mới đang được triển khai ngày càng nhiều, bao gồm phụ gia điều hòa miễn dịch, axit béo chuỗi trung bình, khoáng vi lượng có sinh khả dụng cao, postbiotic, các gói phụ gia giảm stress và nguồn chất xơ chức năng mới nhằm điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột. Trong khi đó, đầu tư công nghệ ngày càng tập trung vào số hóa và truy xuất nguồn gốc. Hệ thống theo dõi chất lượng và truy xuất thức ăn chăn nuôi dẫn đầu với tỷ lệ 42%, tiếp đến là thiết bị cho ăn chính xác (35%), hệ thống giám sát sức khỏe vật nuôi (33%) và cảm biến phân tích nguyên liệu theo thời gian thực (32%). Phần mềm tối ưu công thức thức ăn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tiếp tục được quan tâm khi 22% doanh nghiệp ưu tiên đầu tư, tăng nhẹ so với 20% của năm trước.
Cạnh đó, biến đổi khí hậu ngày càng được xem là yếu tố tác động trực tiếp tới sản xuất.
Người tham gia khảo sát lo ngại nhất về ảnh hưởng đối với sức khỏe và phúc lợi vật nuôi, khả năng cung ứng nguyên liệu, chi phí hàng hóa tăng cao, nguy cơ nhiễm độc tố nấm mốc và khó khăn trong sản xuất tại trang trại.
Hơn 25% doanh nghiệp đã bắt đầu tìm kiếm nguồn ngũ cốc và nguyên liệu thay thế để thích ứng với những biến động này.
Chăn nuôi không kháng sinh tăng tốc
Xu hướng sản xuất không kháng sinh (ABF) tiếp tục phát triển mạnh trong năm 2026 và đã đạt tới một cột mốc quan trọng. Có tới 40% doanh nghiệp cho biết toàn bộ sản lượng thức ăn đã không còn sử dụng kháng sinh, tăng đáng kể so với mức 33% của năm trước. Nếu tính cả các đơn vị có tỷ lệ sản xuất không kháng sinh từ 50 - 99%, hơn hai phần ba số doanh nghiệp khảo sát hiện đã chuyển sang mô hình sản xuất chủ yếu hoặc hoàn toàn không sử dụng kháng sinh. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn gặp nhiều rào cản. Chi phí phụ gia thức ăn là thách thức lớn nhất được doanh nghiệp đề cập. Tiếp theo là hiệu quả chưa ổn định của các giải pháp thay thế kháng sinh và nguy cơ giảm năng suất khi loại bỏ hoàn toàn chất kích thích sinh trưởng kháng sinh. Ngoài ra, việc triển khai các thay đổi tại trang trại và nhu cầu đầu tư lớn để cải thiện phúc lợi động vật cũng là những trở ngại đáng kể. Sau khi giảm sử dụng kháng sinh, bệnh cầu trùng vẫn là vấn đề phổ biến nhất, tiếp theo là viêm ruột hoại tử và bệnh do Escherichia coli.
Về hiệu quả của các giải pháp thay thế kháng sinh, probiotic tiếp tục được đánh giá cao nhất khi có 70% người tham gia khảo sát xác nhận mang lại hiệu quả tích cực. Xếp sau là axit hữu cơ, enzyme, prebiotic và phụ gia thảo dược. Trong khi đó, nấm men và chất xơ chức năng vẫn cần thêm bằng chứng thực tế để được ứng dụng rộng rãi hơn.
Xu hướng sử dụng kháng sinh ở liều dưới điều trị tiếp tục giảm mạnh. Có 24% doanh nghiệp cho biết sẽ cắt giảm thêm, trong khi 41% đã ngừng hoàn toàn việc sử dụng. Riêng liệu pháp thực khuẩn thể vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi khi 58% số người tham gia khảo sát cho biết chưa sử dụng giải pháp này. TUẤN MINH
Theo Watt, The poultrysite
CHÂU ÂU Ngành gia cầm đón cơ
hội tại Trung Đông
Thị trường tăng trưởng
Theo ông Stig Munk Larsen, chuyên gia cao cấp của Hội đồng Nông nghiệp và Thực phẩm Đan Mạch, đồng thời là Chủ tịch
Hiệp hội Gia cầm châu Âu (AVEC), dân số
Trung Đông dự kiến tăng thêm khoảng 20 triệu người vào năm 2029, trong đó một nửa dưới 25 tuổi. Cơ cấu dân số trẻ được kỳ vọng sẽ tiếp tục thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm trong những năm tới.
Hiện khu vực này nhập khẩu khoảng 2,5 triệu tấn thịt gia cầm mỗi năm. Theo IndexBox, đến năm 2035, quy mô thị trường có thể đạt gần 10 triệu tấn, trị giá hơn 20 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân 1%/năm về sản lượng và 2,2%/năm về giá trị trong giai đoạn 2024 - 2035.
Cạnh tranh khốc liệt
Trong nhiều năm, Brazil thống lĩnh thị trường thịt gia cầm nhập khẩu tại Trung
Đông nhờ lợi thế về quy mô sản xuất, giá thành cạnh tranh và hệ thống chứng nhận halal hoàn thiện. Tuy nhiên, cục diện đang thay đổi khi các nhà xuất khẩu EU, Ukraine, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đẩy mạnh thâm nhập thị trường.
Theo ông Stig Munk Larsen, Trung
Đông chiếm khoảng 5% tổng kim ngạch xuất khẩu thịt gia cầm của EU, tương đương hơn 100.000 tấn mỗi năm, chủ yếu vào các quốc gia vùng Vịnh. Trong khi đó, Ukraine
đang dần đánh mất lợi thế tại thị trường này. Bà Oleksandra Avramenko, thuộc Hiệp hội Gia cầm Ukraine (UCAB), cho biết chi phí sản xuất và logistics tăng mạnh do chiến sự, cùng những gián đoạn tại các cảng Biển Đen và tuyến vận tải quốc tế, đã làm suy giảm đáng kể sức cạnh tranh của gia cầm Ukraine trong năm 2025.
Ngược lại, Nga đang mở rộng nhanh thị phần tại Trung Đông. Năm 2024, xuất khẩu sang các nước vùng Vịnh tăng 57%, vượt 100.000 tấn, trong đó khoảng 75% được tiêu thụ tại Saudi Arabia. Song song đó, các doanh nghiệp Nga cũng đẩy mạnh chứng nhận halal để gia tăng hiện diện tại các thị trường Hồi giáo.
Giá thành quyết định
Theo bà Katarzyna Gawronska, Giám đốc Phòng Thương mại Gia cầm và Thức ăn chăn nuôi Ba Lan, Trung Đông là thị trường giàu tiềm năng nhưng giá cả vẫn là yếu tố quyết định tại các nước Arab, trong khi doanh nghiệp EU phải tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về phúc lợi động vật, môi trường và an toàn thực phẩm, khiến giá thành khó cạnh tranh.
AVEC cho biết toàn bộ chuỗi giá trị gia cầm của EU đều chịu sự quản lý chặt chẽ của khung pháp lý thống nhất. Điều này giúp bảo đảm chất lượng sản phẩm nhưng cũng làm tăng chi phí sản xuất. Trong khi đó, nguồn cung cho Trung Đông chủ yếu là các lô hàng giá cạnh tranh từ Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine và châu Á.
Triển vọng rộng, rủi ro tăng
Dù đối mặt nhiều thách thức, các doanh nghiệp châu Âu vẫn xem Trung Đông là thị trường trọng điểm trong chiến lược đa dạng hóa xuất khẩu.
Saudi Arabia hiện vẫn nhập khẩu hơn 30% nhu cầu thịt gia cầm nhưng đặt mục tiêu tự chủ trên 70% vào năm 2030, đồng thời chuẩn bị áp dụng bộ tiêu chuẩn Thực hành nông nghiệp tốt (GAP) mới đối với thịt gia cầm và trứng.
Theo ông Stig Munk Larsen, các quy định mới có thể khiến sản phẩm nhập khẩu khó tiếp cận thị trường Saudi Arabia, đồng thời làm dịch chuyển dòng chảy thương mại trong khu vực khi nguồn hàng phải chuyển sang các thị trường khác. Nhiều quốc gia Trung Đông cũng có thể áp dụng thêm các biện pháp bảo hộ để hỗ trợ ngành chăn nuôi trong nước. Về dài hạn, khả năng mở rộng thị phần của các doanh nghiệp EU sẽ phụ thuộc vào việc người mua Trung Đông có sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe về môi trường, phúc lợi động vật và an toàn thực phẩm hay không. Nếu không, lợi thế cạnh tranh của EU sẽ tiếp tục bị bào mòn trước các đối thủ có chi phí sản xuất thấp hơn.
6 tháng, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tăng 34,6%
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2026 ước đạt 68,4 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2026 đạt 375,8 triệu USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 100,7 triệu USD, tăng 97,2%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 108,9 triệu USD, tăng 8,8%. Trong khi đó, giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2026 đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9% so cùng kỳ. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 797 triệu USD, tăng 9,6%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,12 tỷ USD, tăng 27,4%.
Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm
Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 2,2 tỷ USD, giảm 5,6% so cùng kỳ năm 2025. Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Mỹ, Argentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 21,1%, 18,1% và 12,8%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Mỹ tăng 14,6%, thị trường Trung Quốc tăng 69,1%, trong khi thị trường Argentina giảm 62,1%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canada với mức tăng 5,1 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Argentina với mức giảm 62,1%.
Giá thức ăn chăn nuôi dự báo tăng 3 - 5% trong nửa cuối năm
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), giá thức ăn chăn nuôi tiếp tục chịu áp lực tăng do Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Căng thẳng tại Trung Đông, cùng với chi phí vận tải biển và bảo hiểm gia tăng trên các tuyến qua Biển Đỏ và eo biển Hormuz, đã đẩy giá nguyên liệu thế giới lên cao, khiến nhiều doanh nghiệp điều chỉnh giá bán thêm 100-300 đồng/ kg sản phẩm. Tại ĐBSCL, giá thức ăn chăn nuôi hiện tăng 7.00012.000 đồng/bao so với đầu năm; trong đó, thức ăn cho gia cầm dao động ở mức 260.000 - 370.000 đồng/bao. Bộ NN&MT dự báo trong 6 tháng cuối năm 2026, giá thức ăn chăn nuôi có thể tăng thêm 35% do giá nguyên liệu nhập khẩu chưa hạ nhiệt.
Giá gà thịt biến động khác nhau tại ba miền
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá thu mua gà thịt lông màu biến động khác nhau tại ba miền. Giá gà thịt lông màu miền Bắc giữ mức 48.000 đồng/kg; miền Trung tăng 2.600 đồng/ kg, hiện ở mức 46.000 đồng/kg; miền Nam tăng 3.000 đồng/kg lên 48.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp biến động tăng tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 6.000 đồng/kg lên 35.000 đồng/ kg; miền Trung tăng 4.000 đồng/kg lên mức 28.000 đồng/kg; miền Nam tăng 1.000 đồng/kg, hiện là 25.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá thu mua trứng gà ổn định tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc ổn định ở mức 1.300 đồng/quả; miền Trung hiện ở mức 1.630 đồng/ quả; miền Nam giữ mức 1.430 đồng/quả. Giá trứng ở mức thấp do nguồn cung dồi dào.
CAO BẰNG
Hiệu quả mô hình nuôi gà thương phẩm lông màu
Sau 5 tháng triển khai tại xã Trường Hà (tỉnh Cao Bằng), mô hình chăn nuôi gà thương phẩm lông màu 18M1 theo hướng an toàn sinh học đạt nhiều kết quả tích cực, với tỷ lệ nuôi sống 95,2%, khối lượng bình quân 2,12 kg/con và hiệu quả kinh tế tăng 17,22% so với phương thức chăn nuôi đại trà. Mô hình do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cao Bằng cùng các đơn vị liên quan triển khai từ tháng 1 - 6/2026, quy mô 6.000 con, có 64 hộ dân tham gia. Các hộ được hỗ trợ con giống, thức ăn, vắc xin, hóa chất sát trùng và hướng dẫn áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học.
HÀ TĨNH
Giá trứng gia cầm giảm, người chăn nuôi chịu áp lực kép
Theo ghi nhận, giá trứng gà trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh hiện chỉ còn khoảng 2.300 đồng/quả, giảm từ 500 - 700 đồng/quả so với thời điểm cuối năm 2025, đầu năm 2026. Trang trại của anh Nguyễn Văn Nguyên (xã Toàn Lưu) với quy mô 6.000 gà đẻ, cung ứng hơn 4.000 quả trứng mỗi ngày, vẫn duy trì sản xuất ổn định nhưng doanh thu giảm đáng kể do giá bán đi xuống. Tương tự, trang trại của anh Dương Văn Chương (phường Hà Huy Tập) nuôi hơn 2.500 vịt đẻ, sản lượng gần 1.800 quả/ngày, cũng chịu áp lực khi giá trứng giảm còn 2.200 - 2.400 đồng/quả, trong khi giá thức ăn tăng từ khoảng 370.000 đồng lên 410.000 đồng/bao. Với trứng thương phẩm, nhiều hộ chăn nuôi hiện chỉ đạt mức hòa vốn. Theo người chăn nuôi, giá trứng trên địa bàn tỉnh đã giảm khoảng 12 - 23% so với giai đoạn cao điểm năm 2025.
ĐỒNG THÁP
Giá gà giảm 40%, người chăn nuôi thua lỗ
Trong khoảng 3 tháng trở lại đây, giá gà thịt tại các xã phía Đông tỉnh Đồng Tháp giảm mạnh, khiến nhiều hộ chăn nuôi rơi vào tình trạng thua lỗ. So với thời điểm trước Tết Nguyên đán, giá gà đã giảm khoảng 40%. Hiện, gà tre được thương lái thu mua tại chuồng với giá khoảng 45.000 đồng/kg đối với gà trống và 50.000 đồng/kg đối với gà mái; gà Bình Định chỉ còn 32.000 - 42.000 đồng/kg. Trong khi giá bán liên tục đi xuống, chi phí con giống, thức ăn và thuốc thú y vẫn ở mức cao khiến nhiều hộ không có lãi, thậm chí lỗ nặng.
ĐBSCL
Vịt thịt tăng giá, người nuôi vẫn lo
Giá vịt thịt tại ĐBSCL tăng từ 5.000 - 10.000 đồng/kg so với cách nay hơn một tháng và đang ở mức khá cao. Vịt siêu nạc Grimaud và vịt Cherry Valley (nuôi nhốt, cho ăn thức ăn công nghiệp) thương lái thu mua ở mức 45.000 - 48.000 đồng/kg; vịt ta thả đồng 50.000 - 55.000 đồng/kg; vịt xiêm 60.000 - 65.000 đồng/kg. Giá vịt ta làm sẵn bán lẻ tại nhiều chợ từ 80.000 - 85.000 đồng/kg, vịt xiêm 90.000 - 95.000 đồng/kg. Giá vịt tăng do nguồn cung giảm và chi phí chăn nuôi tăng.
ANH VŨ (Tổng hợp)
HÀN QUỐC Tăng nhập khẩu trứng từ Mỹ và Thái Lan để hạ nhiệt giá
Hàn Quốc đang đẩy mạnh nhập khẩu trứng từ Mỹ và Thái Lan, nhằm ổn định nguồn cung và kiềm chế đà tăng giá trong nước sau khi dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) làm gián đoạn sản xuất.
Theo Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Nông thôn Hàn Quốc, nước này sẽ phân phối khoảng 4,48 triệu quả trứng nhập khẩu mỗi tuần đến hết tháng 7, tương đương tổng cộng 21,12 triệu quả. Giá bán lẻ một khay 30 quả trứng vào giữa tháng 6 đã tăng lên 4,83 USD, cao hơn 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung trứng nội địa bình quân mỗi ngày cũng giảm 3,3%, xuống còn 47,05 triệu quả do ảnh
hưởng của các đợt bùng phát HPAI trong mùa đông và việc điều chỉnh mật độ nuôi tại các trang trại gia cầm. Giới chức kỳ vọng sản lượng sẽ phục hồi từ tháng 7 khi đàn gà đẻ mới bước vào giai đoạn khai thác, song trong ngắn hạn, nhập khẩu vẫn được xem là giải pháp nhanh nhất để giảm áp lực nguồn cung và bình ổn giá thị trường.
BANGLADESH
Giá trứng gà lao dốc
Thị trường trứng Bangladesh đang gây áp lực lớn lên người chăn nuôi khi giá bán giảm xuống dưới giá thành sản xuất, trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng mạnh sau xung đột tại Iran và nhu cầu tiêu thụ suy yếu do thời tiết mùa hè. Ông M J S Alam, Tổng Giám đốc Sản xuất của North Poultry Pvt Ltd và North Egg Limited, cho biết, chi phí trực tiếp để sản xuất một quả trứng hiện khoảng 0,06 USD. Tuy nhiên, khi cộng thêm các khoản như bảo hiểm, chi phí tài chính và các rủi ro khác, tổng giá thành tăng lên khoảng 0,07 USD/ quả, trong khi giá bán tại trang trại chỉ ở mức 0,06 USD/quả. Theo ông Alam, tình trạng chi phí vượt giá bán đang khiến người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Dù vậy, ông kỳ vọng thị trường sẽ sớm cải thiện trong vài tuần tới khi nhu cầu tiêu thụ phục hồi sau giai đoạn thấp điểm mùa hè.
INDONESIA
Giải
cứu thị trường gia cầm dư cung
Bộ Nông nghiệp Indonesia đã triển khai các biện pháp bình ổn thị trường sau khi giá gà thịt xuất chuồng tại nhiều khu vực giảm sâu do khủng hoảng dư cung. Tại một số địa phương ở Trung Java, giá gà sống chỉ còn khoảng 15.000 rupiah/kg, thấp hơn nhiều so với mức giá tham chiếu 19.500 rupiah/kg do chính phủ quy định. Theo cơ quan quản lý, nguồn cung tăng mạnh trong khi nhu cầu tiêu thụ yếu đã khiến nhiều doanh nghiệp chăn nuôi rơi xuống dưới ngưỡng hòa vốn, đặc biệt là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Trước tình hình này, Bộ Nông nghiệp yêu cầu nông dân không bán dưới giá tham chiếu, đồng thời đề nghị các doanh nghiệp giết mổ thu mua gà đúng mức giá đã thống nhất. Tuy nhiên, Hiệp hội Lò mổ gia cầm Indonesia cho rằng, diễn biến giá hoàn toàn do cung - cầu thị trường. Để hạn chế dư cung tiếp tục gia tăng, chính phủ cũng tạm dừng cấp phép cho các dự án mở rộng công suất chăn nuôi gia cầm cho đến khi giá thị trường phục hồi về mức mục tiêu. Quyết định này nhận được sự ủng hộ từ nhiều doanh nghiệp trong ngành, được kỳ vọng sẽ góp phần ổn định thị trường và bảo vệ người chăn nuôi.
ARGENTINA
Sạch cúm gia cầm, khôi phục xuất khẩu
Argentina chính thức được công nhận là quốc gia sạch bệnh cúm gia cầm độc lực cao (HPAI), sau hơn 28 ngày không ghi nhận ổ dịch mới trên các trang trại gia cầm thương mại. Việc khôi phục quy chế này mở ra cơ hội nối lại đàm phán với các thị trường từng tạm dừng hoặc hạn chế nhập khẩu thịt gia cầm, trứng và sản phẩm liên quan của nước này. Cơ quan Thú y và Chất lượng nông sản Argentina (Senasa) cho biết, toàn bộ các ổ dịch đã được xử lý theo quy định của Tổ chức Thú y thế giới (WOAH), bao gồm tiêu hủy đàn nhiễm bệnh, khử trùng và giám sát dịch tễ. Đại diện ngành gia cầm đánh giá đây là bước ngoặt quan trọng để khôi phục xuất khẩu và tạo nguồn thu ngoại tệ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng nhấn mạnh, việc duy trì an toàn sinh học và giám sát dịch bệnh nghiêm ngặt vẫn là yếu tố then chốt, nhằm ngăn ngừa các đợt bùng phát mới, tránh nguy cơ gián đoạn thương mại trong tương lai.
TRUNG QUỐC
Tăng tốc cạnh tranh xuất khẩu gia cầm với
Thái Lan
Trung Quốc đang nổi lên là đối thủ đáng gờm của Thái Lan trên thị trường xuất khẩu thịt gà châu Á, khi ngành chăn nuôi gia cầm nước này tăng trưởng mạnh trong vài năm gần đây. Theo ông Gordon Butland, Giám đốc G&S Agriconsultants, nhập khẩu thịt gà của Trung Quốc năm nay dự kiến giảm 36%, trong khi xuất khẩu tăng tới 50%, nối tiếp xu hướng đã diễn ra từ năm trước. Ông Butland nhận định, với đà tăng trưởng hiện tại, Trung Quốc đang trên đường vượt Thái Lan để trở thành nhà xuất khẩu thịt gà thành công nhất châu Á. Lợi thế lớn nhất của nước này nằm ở giá bán. Hiện giá ức gà xuất khẩu của Trung Quốc thấp hơn khoảng 1.000 USD/tấn so với các đối thủ lớn như Brazil và Thái Lan, do nhu cầu tiêu thụ ức gà trong nước thấp, buộc doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu với giá cạnh tranh.
CHÂU
ÂU
Giá gia cầm giữ đà tăng, sản xuất tiếp tục mở rộng Ngành gia cầm Liên minh châu Âu (EU) đang duy trì diễn biến thị trường tích cực khi giá gà thịt đạt 299,11 EUR/100 kg thân thịt trong tuần 21/2026, tăng 1,3% so với tuần trước, cao hơn 3% so với tháng trước và tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2025. Ba Lan vẫn là nước sản xuất lớn nhất châu Âu, đạt 2,89 triệu tấn năm 2025. Ở chiều thương mại, nhập khẩu gia cầm của EU tăng 1,3% trong tháng 1/2026 nhờ nguồn hàng từ Brazil và Thái Lan, trong khi xuất khẩu giảm 12,3% dù nhu cầu từ Việt Nam và Thụy Sĩ cải thiện. Với giá bán cao hơn Mỹ và Brazil, ngành gia cầm EU bước vào nửa cuối năm 2026 với triển vọng khả quan, song vẫn chịu sức ép từ cạnh tranh nhập khẩu và xuất khẩu chững lại.
TUẤN MINH
(Tổng hợp)
không còn phụ thuộc vào kháng sinh như trước đây. Trong bối cảnh đó, sức khỏe đường ruột đang được xem là nền tảng quyết định hiệu quả sản xuất và là trọng tâm của các chiến lược dinh dưỡng hiện đại.
Nền tảng của năng suất chăn nuôi gia cầm
Đường ruột không chỉ là cơ quan tiêu hóa mà còn là một hệ sinh thái phức tạp, nơi diễn ra các hoạt động hấp thu dưỡng chất, chuyển hóa năng lượng và điều hòa miễn dịch. Các nghiên cứu cho thấy, hơn 70% tế bào miễn dịch của cơ thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hệ tiêu hóa.
Khi đường ruột khỏe mạnh, vật nuôi có khả năng tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất hiệu quả hơn, từ đó cải thiện tốc độ tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), đồng thời tăng cường khả năng chống chịu với các tác nhân gây bệnh. Ngược lại, bất kỳ sự mất cân bằng nào trong hệ vi sinh vật đường ruột hoặc tổn thương cấu trúc niêm mạc ruột đều có thể dẫn đến giảm năng suất và gia tăng chi phí sản xuất.
Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe đường ruột gia cầm
Hệ vi sinh vật đường ruột Đường ruột gia cầm chứa hàng tỷ vi sinh vật thuộc nhiều nhóm khác nhau. Trong điều kiện bình thường, các vi sinh vật có lợi và có hại tồn tại trong trạng thái cân bằng động. Hệ vi sinh vật có lợi tham gia vào quá trình tiêu hóa, sản xuất các axit béo chuỗi ngắn, kích thích miễn dịch và tạo hàng rào sinh học chống lại vi khuẩn gây bệnh. Khi sự cân bằng này bị phá vỡ do stress, dinh dưỡng không phù hợp hoặc tác động của mầm bệnh, hiện tượng loạn khuẩn đường ruột có thể xảy ra, kéo theo suy giảm hiệu quả sản xuất.
Chất lượng nguyên liệu thức ăn
Thức ăn là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đường ruột.
Nguyên liệu chứa độc tố nấm mốc, chất béo bị ôxy hóa hoặc hàm lượng chất khó tiêu cao có thể làm tổn thương niêm mạc ruột và tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển. Bên cạnh đó, các thành phần không được tiêu hóa hoàn toàn sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng cho hệ vi sinh vật có hại ở đoạn ruột sau, làm gia tăng nguy cơ viêm ruột và giảm hiệu quả sử dụng thức ăn.
Stress môi trường và quản lý
Gia cầm có tốc độ sinh trưởng cao nên rất nhạy cảm với các yếu tố stress như nhiệt độ môi trường, mật độ nuôi, chất lượng không khí, thay đổi khẩu phần hoặc các chương trình vaccine.
Stress kéo dài có thể làm suy giảm chức năng hàng rào bảo vệ ruột, gia tăng tính thấm thành ruột và kích hoạt các phản ứng viêm. Hệ quả là khả năng hấp thu dinh
dưỡng giảm, trong khi năng lượng phải huy
động cho các phản ứng miễn dịch tăng lên.
Mầm bệnh đường ruột
Các bệnh như cầu trùng, viêm ruột hoại tử và các nhiễm khuẩn đường tiêu hóa vẫn
là nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế đáng kể trong ngành gia cầm. Tổn thương đường ruột do các tác nhân này không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng mà còn làm gia tăng đáng kể hệ số chuyển đổi thức ăn.
Các giải pháp dinh dưỡng hỗ trợ sức khỏe đường ruột
Axit hữu cơ
Axit hữu cơ là một trong những nhóm phụ gia được ứng dụng rộng rãi nhất hiện nay. Thông qua khả năng làm giảm pH trong đường tiêu hóa, các axit hữu cơ giúp hạn chế sự phát triển của nhiều vi khuẩn gây bệnh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật có lợi phát triển.
Ngoài tác dụng kiểm soát vi sinh vật, axit hữu cơ còn góp phần cải thiện khả năng tiêu hóa protein và tăng hiệu quả sử dụng
dưỡng chất.
Probiotic và prebiotic
Probiotic là các vi sinh vật sống có lợi được bổ sung vào khẩu phần nhằm duy trì sự cân bằng của hệ vi sinh đường ruột.
Các chủng Bacillus, Lactobacillus hoặc
Enterococcus được chứng minh có khả năng cạnh tranh vị trí bám dính với vi khuẩn gây
bệnh, đồng thời hỗ trợ tăng cường miễn dịch đường ruột.
Trong khi đó, prebiotic đóng vai trò là nguồn dinh dưỡng chọn lọc cho các vi sinh vật có lợi. Sự kết hợp giữa probiotic và prebiotic đang được đánh giá là giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện tính ổn định của hệ vi sinh vật trong điều kiện chăn nuôi hiện đại.
Enzyme
Enzyme là công cụ quan trọng giúp nâng cao khả năng tiêu hóa dưỡng chất, đặc biệt khi sử dụng các nguồn nguyên liệu có hàm lượng chất xơ hoặc các hợp chất kháng dinh dưỡng cao.
Việc bổ sung các enzyme như xylanase, protease hoặc phytase giúp giảm lượng dưỡng chất không được tiêu hóa, hạn chế cơ chất cho vi khuẩn gây hại phát triển trong đường ruột và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn.
Hoạt chất nguồn gốc thực vật
Nhóm phụ gia có nguồn gốc thực vật (phytogenics) đang nhận được sự quan tâm ngày càng lớn từ ngành chăn nuôi toàn cầu.
Các hoạt chất sinh học từ tinh dầu, thảo dược và thực vật chứa nhiều hợp chất có hoạt tính như polyphenol, flavonoid hoặc terpenoid. Những hợp chất này có khả năng hỗ trợ kiểm soát vi khuẩn gây bệnh, giảm phản ứng viêm và chống ôxy hóa.
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu còn ghi nhận tác động tích cực của phytogenics đối
với cấu trúc nhung mao ruột, khả năng tiết enzyme tiêu hóa và hiệu quả hấp thu dưỡng chất. Đây được xem là một trong những hướng đi tiềm năng giúp ngành chăn nuôi giảm dần sự phụ thuộc vào kháng sinh trong tương lai.
Nhận thấy tiềm năng của xu hướng này, TVOne Việt Nam đã tập trung nghiên cứu và phát triển các giải pháp phụ gia thức ăn từ chiết xuất thực vật nhằm hỗ trợ tối ưu hóa sức khỏe đường ruột vật nuôi. Thông qua việc lựa chọn và phối hợp các hoạt chất sinh học phù hợp, các giải pháp phytogenics được định hướng tác động đồng thời lên hệ vi sinh vật, chức năng tiêu hóa và sức khỏe niêm mạc ruột.
Trong kỷ nguyên giảm sử dụng kháng sinh, sức khỏe đường ruột đã trở thành một trong những yếu tố quyết định hiệu quả và tính bền vững của ngành chăn nuôi gia cầm. Những tiến bộ trong lĩnh vực dinh dưỡng, công nghệ phụ gia thức ăn và quản lý hệ vi sinh vật đang mang đến nhiều cơ hội mới cho người chăn nuôi.
Tương lai của ngành gia cầm không chỉ nằm ở việc tạo ra những đàn vật nuôi tăng trưởng nhanh hơn mà còn ở khả năng xây dựng một hệ tiêu hóa khỏe mạnh, ổn định và thích ứng với các yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, phúc lợi động vật và phát triển bền vững.
ĐOÀN
Hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh
được đặc trưng bởi một hệ sinh thái ổn định và có khả năng phục hồi tốt, giúp hỗ trợ tiêu hóa, bảo vệ cơ thể trước các
tác nhân gây bệnh và củng cố lớp biểu mô ruột. Một trong những khía cạnh
quan trọng của hệ vi sinh vật khỏe mạnh là tính đa dạng; yếu tố này tạo ra khả năng chống chịu trước các tác động gây xáo trộn như thay đổi chế độ ăn uống hoặc sự xâm nhập của mầm bệnh. Bên cạnh đó, hoạt tính chức năng cũng đóng vai trò quan trọng không kém thông qua việc sản sinh các chất chuyển hóa có lợi, chẳng hạn như axit béo chuỗi ngắn, giúp duy trì sự toàn vẹn của đường ruột, cung cấp năng lượng cho các tế bào biểu mô và
điều hòa phản ứng miễn dịch. Kết quả là các nhung mao phát triển tốt, các mối nối chặt (tight junctions) giữa các tế bào trở nên bền vững và hoạt động miễn dịch được duy trì ở mức cân bằng. Ngược lại, hệ vi sinh vật bị bệnh hoặc mất cân bằng (dysbiosis) thường có độ ổn định kém và sự gia tăng quá mức của các vi khuẩn gây bệnh cơ hội như E. coli và Enterococcus, từ đó thúc đẩy tình trạng viêm và hiện tượng vi khuẩn xâm nhập qua hàng rào ruột (bacterial translocation). Sức khỏe đường ruột có thể
duy trì mà không cần kháng sinh, nhưng đây không phải là việc đơn giản. Nó đòi hỏi sự kết hợp của nhiều chiến lược đồng bộ, bao gồm cải thiện quy trình quản lý và hiểu biết sâu sắc
nằm ở sự kết hợp giữa kiến thức khoa học và ứng dụng thực tiễn. Một trong những lĩnh vực nghiên cứu then chốt là tìm hiểu sâu hơn về chức năng của hệ vi sinh vật đường ruột. Một ưu tiên khác là phát triển các công cụ chẩn đoán thực tiễn, có thể dễ dàng sử dụng ngay tại trang trại. Các công cụ này cần chuyển đổi những dữ liệu sinh học phức tạp thành những thông tin đơn giản, hữu ích và có thể áp dụng ngay. GS FILIP VAN IMMERSEEL Đại học Ghent, Bỉ
CÔNG NGHỆ VÀ CHIẾN LƯỢC DINH DƯỠNG
trong
chăn nuôi gia cầm hiện
Trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, dinh dưỡng không còn đơn thuần là cung cấp đủ năng lượng và protein mà đã trở thành một chiến lược quản lý tổng thể, gắn với công nghệ, sức khỏe vật nuôi và hiệu quả kinh tế. Việc ứng dụng các giải pháp dinh dưỡng chính xác cùng công nghệ số đang giúp nâng cao năng suất, giảm chi phí và hướng tới mô hình chăn nuôi bền vững.
Ứng dụng công nghệ
Sự phát triển của công nghệ số đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong cách quản lý dinh dưỡng tại các trang trại gia cầm. Hệ thống cho ăn tự động giúp phân phối thức ăn đúng thời điểm, đúng định lượng theo từng giai đoạn phát triển của đàn, hạn chế tình trạng thức ăn bị rơi vãi hoặc phân bổ không đồng đều. Nhờ đó, gia cầm được tiếp cận nguồn thức ăn ổn định, giảm cạnh tranh trong đàn và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.
Bên cạnh đó, các cảm biến và thiết bị kết nối Internet vạn vật (IoT) cho phép theo dõi liên tục lượng thức ăn tiêu thụ, lượng nước uống, nhiệt độ, độ ẩm, cường độ ánh sáng và trọng lượng đàn. Những dữ liệu này được truyền về phần mềm quản lý để phân tích theo thời gian thực. Khi phát hiện gia cầm giảm ăn, giảm uống hoặc tốc
độ tăng trọng thấp hơn bình thường, hệ thống sẽ gửi cảnh báo để người chăn nuôi
kịp thời kiểm tra nguyên nhân và đưa ra biện pháp xử lý trước khi ảnh hưởng
đến năng suất.
Trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đang được
tích hợp vào nhiều nền tảng quản lý trang
trại nhằm phân tích dữ liệu lớn về sinh
trưởng, môi trường và tiêu thụ thức ăn. Dựa trên các thuật toán học máy, hệ thống có thể dự báo nhu cầu dinh dưỡng của đàn, đề xuất điều chỉnh khẩu phần hoặc nhận diện sớm nguy cơ bất thường liên quan đến sức khỏe vật nuôi. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm chi phí lao động mà còn nâng cao tính chính xác trong quản lý, đặc biệt tại các trang trại quy mô lớn.
Đa dạng hóa nguồn protein trong
khẩu phần
Chi phí nguyên liệu thức ăn ngày càng biến động đã thúc đẩy ngành chăn nuôi tìm kiếm các nguồn protein thay thế nhằm giảm phụ thuộc vào bột cá và khô đậu tương truyền thống. Nhiều nghiên cứu cho thấy protein từ côn trùng, protein đơn bào, tảo, nấm men hay các phụ phẩm chế biến nông nghiệp sau xử lý có thể thay thế một phần nguồn protein truyền thống mà vẫn đảm bảo tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gia cầm. Bên cạnh yếu tố kinh tế, chiến lược đa dạng hóa nguồn protein còn góp phần giảm áp lực khai thác tài nguyên, cắt giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao tính bền vững của chuỗi sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Đầu tư công nghệ chế biến
Bên cạnh việc lựa chọn nguyên liệu phù hợp, công nghệ chế biến thức ăn cũng có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng của gia cầm. Các công nghệ như nghiền mịn, phối trộn đồng đều, ép viên, ép đùn hay xử lý nhiệt giúp cải thiện chất lượng thức ăn, tăng tính đồng nhất và hạn chế sự hiện diện của vi sinh vật gây hại. Một số doanh nghiệp còn ứng dụng công nghệ lên men nguyên liệu nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng, giảm các chất kháng dinh dưỡng và cải thiện khả năng tiêu hóa protein. Trong khi đó, công nghệ bao vi nang (microencapsulation) giúp bảo vệ các hoạt chất nhạy cảm như enzyme, probiotic hoặc axit hữu cơ khỏi tác động của môi trường bên ngoài, đồng thời giải phóng chúng đúng vị trí trong đường tiêu hóa để phát huy hiệu quả tối đa. Những tiến bộ này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm hao hụt dưỡng chất và cải thiện năng suất chăn nuôi.
Bổ sung phụ gia thức ăn
Các chế phẩm probiotic bổ sung vi sinh vật có lợi giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, trong khi prebiotic tạo điều kiện cho
các vi khuẩn có lợi phát triển. Khi kết hợp cả hai thành phần sẽ hình thành synbiotic, góp phần cải thiện hiệu quả tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng. Cùng với đó, enzyme bổ sung giúp phân giải các thành phần khó tiêu trong nguyên liệu thức ăn, tăng khả năng sử dụng dưỡng chất và giảm lượng chất thải ra môi trường.
Ngoài ra, axit hữu cơ được sử dụng để ổn định pH đường tiêu hóa, ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh và nâng cao hiệu quả tiêu hóa. Các loại tinh dầu thảo dược, chiết xuất thực vật, nấm men, chất chống ôxy hóa và chất hấp phụ độc tố nấm mốc cũng ngày càng được ứng dụng rộng rãi nhằm tăng cường sức khỏe đường ruột, giảm tác động của độc tố trong nguyên liệu và cải thiện khả năng chống chịu của đàn gia cầm trước các yếu tố bất lợi. Hiện nay, sức khỏe đường ruột được xem là một trong những yếu tố cốt lõi quyết định hiệu quả của chiến lược dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm.
Chiến lược thích ứng với điều kiện
sản xuất
Một khẩu phần dinh dưỡng hiệu quả không phải là khẩu phần cố định mà cần được điều chỉnh linh hoạt theo điều kiện sản xuất thực tế. Trong mùa nắng nóng, gia cầm thường giảm lượng thức ăn tiêu thụ, khiến tốc độ sinh trưởng và năng suất trứng suy giảm. Khi đó, người chăn nuôi cần điều chỉnh mật độ dinh dưỡng trong khẩu phần, bổ sung điện giải, Vitamin C, Vitamin E và các chất chống ôxy hóa để giảm tác động của stress nhiệt. Đồng thời, việc thay đổi thời gian cho ăn vào sáng sớm hoặc chiều mát cũng giúp gia cầm ăn nhiều hơn và hạn chế tiêu hao năng lượng.
Ở giai đoạn úm, hệ tiêu hóa của gia cầm chưa phát triển hoàn thiện nên cần sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu, giàu protein chất lượng cao và bổ sung enzyme hỗ trợ tiêu hóa. Đối với gia cầm sinh sản, khẩu phần cần được tăng cường canxi, phốt pho, Vitamin D3 cùng các khoáng vi lượng nhằm đảm bảo chất lượng vỏ trứng và duy trì năng suất đẻ. Khi nguy cơ dịch bệnh gia tăng hoặc thời tiết biến động mạnh, việc bổ sung probiotic, beta-glucan, nucleotide và các chất tăng cường miễn dịch sẽ giúp vật nuôi nâng cao sức đề kháng, giảm nguy cơ mắc bệnh và phục hồi nhanh hơn sau các đợt stress.
HẰNG
VERAX™ Giải
pháp dinh
dưỡng
và sức
khỏe chính xác cho gà
Verax™ hiện là nền tảng cảnh báo sớm duy nhất trong ngành chăn nuôi được triển khai trên
toàn cầu, sử dụng các dấu ấn sinh học trong máu để dự đoán và đánh giá sức khỏe vật nuôi trước khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện.
Công nghệ này cho phép các nhà sản xuất sớm nhận diện những vấn đề về sức khỏe và quy trình chăn nuôi, từ đó hỗ trợ đưa ra các quyết định quản lý sáng suốt hơn. Verax™ là nền tảng dinh dưỡng và sức khỏe chính xác độc đáo, được xây dựng dựa trên các chỉ dấu sinh học trong máu, kết hợp với kết quả quan sát khi mổ khám và nhiều nguồn dữ liệu khác. Nền tảng này cung cấp những thông tin chuyên sâu mới mẻ, giúp các nhà sản xuất gia cầm đưa ra quyết định kịp thời và hiệu quả hơn để thúc đẩy hoạt động kinh doanh. Verax™ có thể giúp nhận diện các mô hình rủi ro liên quan đến tỷ lệ tử vong và các vấn đề về hiệu suất chăn nuôi, hỗ trợ can thiệp sớm, cũng như chỉ ra các cơ hội tối ưu hóa hiệu quả dinh dưỡng. Khách hàng sẽ hưởng lợi từ việc giám sát đàn gia cầm liên tục, phát hiện hoặc dự báo sớm các vấn đề mới phát sinh, cũng như chẩn đoán những vấn đề về hiệu suất chưa thể giải quyết bằng các phương pháp khác. Kể từ khi ra mắt lần đầu dành cho gà thịt, dsm-firmenich đã liên tục bổ sung vào danh mục các mô hình tiêu chuẩn, đồng thời mở rộng phạm vi ứng dụng của Verax™ sang gà đẻ và gà giống.
Nền tảng Verax™ được phát triển lần đầu vào năm 2019 thông qua sự hợp tác giữa dsm-firmenich và InsideTracker, nhằm ứng dụng các công nghệ phân tích dấu ấn sinh học và học máy - vốn ban đầu được thiết kế cho sức khỏe con người - vào lĩnh vực chăn nuôi. Bộ phận Dinh dưỡng & Sức khỏe Động vật (ANH) của dsm-firmenich đã mua lại toàn bộ quyền sở hữu nền tảng phân tích dự báo trang trại Verax™, qua đó tăng cường năng lực về trí tuệ nhân tạo và chăn nuôi chính xác trong bối cảnh nhu cầu ngày càng tăng đối với các công cụ dựa trên
dữ liệu nhằm cải thiện sức khỏe, năng suất và tính bền vững trong chăn nuôi.
Theo ông Scott Cavey, Giám đốc ANH, chuyên môn công nghệ và sự chặt chẽ về mặt khoa học của họ đã góp phần xây dựng Verax™ thành một nền tảng mạnh mẽ, đáng tin cậy, có khả năng chuyển đổi dữ liệu dấu ấn sinh học cùng các bằng chứng đã qua thẩm định chuyên môn thành những thông tin chi tiết, thiết thực và có thể áp dụng ngay vào thực tế. Chúng tôi cũng đang trong giai đoạn phát triển nâng cao các mô hình Verax™ đầu tiên dành cho heo.
“Với phần mềm Verax™ thuộc sở hữu hoàn toàn của ANH, chúng tôi củng cố năng lực phần mềm và dữ liệu của mình, giúp nông dân xác định các thách thức về sức khỏe và chăn nuôi từ sớm, đồng thời cho phép chúng tôi tự do nâng cao nền tảng độc đáo này và đẩy nhanh đổi mới dựa trên trí tuệ nhân tạo trong chăn nuôi,” ông Ivo Lansbergen, Chủ tịch của dsm-firmenich Animal Nutrition & Health, cho biết. TĂNG SANG Theo dsm-firmenich
hiệu quả thức ăn cho gia cầm trước sốc nhiệt
Theo nghiên cứu mới, nâng tỷ lệ Arginine (Arg) trong khẩu phần không chỉ cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và tỷ lệ thịt xẻ của gà thịt Ross 708 nuôi trong điều kiện sốc nhiệt, mà còn góp phần điều hòa thân nhiệt thông qua cơ chế giãn mạch và giảm stress ôxy hóa.
Arginine (Arg) là axit amin thiết yếu với gia cầm, tham gia nhiều quá trình sinh lý quan trọng ngoài vai trò tổng hợp protein. Đây là tiền chất của oxit nitric (NO), glutamine, creatine, ornithine và nhiều hợp chất sinh học khác, góp phần tăng cường miễn dịch, thúc đẩy lành vết thương, cải thiện tuần hoàn máu và hạn chế stress ôxy hóa.
Thiết kế thí nghiệm
Nghiên cứu được thực hiện trên gà thịt Ross 708 trống, bố trí vào 48 ô chuồng. Gà được nuôi theo chương trình thức ăn bốn giai đoạn gồm: khởi đầu (0 - 17 ngày), sinh trưởng (17 - 27 ngày), vỗ béo 1 (27 - 38 ngày) và vỗ béo 2 (38 - 46 ngày).
Hai khẩu phần vỗ béo được bổ sung sáu mức Arg, gồm: 80, 92, 104, 116, 128 và 140. Từ ngày thứ 28, đàn gà được áp dụng mô hình sốc nhiệt theo chu kỳ, với nhiệt độ chuồng duy trì 32°C trong 12 giờ ban ngày và giảm xuống 24°C vào ban đêm nhằm mô phỏng điều kiện sản xuất thực tế.
Các chỉ tiêu theo dõi gồm tăng khối lượng, lượng thức ăn thu nhận, FCR, nhiệt
độ hậu môn, tỷ lệ chết và các chỉ tiêu thân thịt sau giết mổ ở 48 ngày tuổi.
Cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn
Kết quả cho thấy, FCR được cải thiện tuyến tính khi tỷ lệ Arg trong khẩu phần tăng ở cả hai giai đoạn vỗ béo. Điều này cho
thấy nhu cầu Arg của gia cầm trong điều
kiện sốc nhiệt có thể cao hơn khuyến cáo hiện hành. Dù FCR được cải thiện, khối lượng tăng trọng không thay đổi đáng kể giữa các nghiệm thức.
Các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng, trong điều kiện sốc nhiệt, Arg có thể được ưu tiên cho những chức năng sinh lý như tăng sản xuất oxit nitric, cải thiện tuần hoàn và giảm stress ôxy hóa thay vì chỉ phục vụ tổng hợp protein cơ.
Điều hòa thân nhiệt
Một phát hiện đáng chú ý khác là Arg ảnh hưởng đến khả năng điều hòa thân nhiệt của gia cầm. Nhiệt độ cơ thể tăng trung bình khoảng 1,6°C trong thời gian chuồng được nâng nhiệt, nhưng mức tăng này thay đổi theo tỷ lệ Arg trong khẩu phần. Ở 32 và 39 ngày tuổi, gia cầm được bổ sung Arg khoảng 116 có nhiệt độ cơ thể thấp nhất. Đến 46 ngày tuổi, nhiệt độ cơ thể tiếp tục giảm khi hàm lượng Arg tăng.
Theo các nhà nghiên cứu, tác động này xuất phát từ vai trò của Arg trong quá trình tổng hợp oxit nitric - chất có tác dụng giãn mạch, tăng lưu lượng máu ngoại vi và hỗ trợ cơ thể tản nhiệt hiệu quả hơn.
Nâng cao tỷ lệ thịt ức Khối lượng và tỷ lệ thân thịt sau làm lạnh tăng theo mức bổ sung Arg. Đặc biệt, khối lượng và tỷ lệ thịt ức đạt
toàn phần đạt tối đa 0,837 kg, trong khi tỷ lệ thịt ức đạt 26,82%. Khối lượng thịt lườn trong cũng tăng theo xu hướng tương tự. Ngược lại, tỷ lệ cẳng đùi giảm khi hàm lượng Arg tăng cho thấy dinh dưỡng có xu hướng được ưu tiên cho sự phát triển của cơ ngực - phần có giá trị thương mại cao hơn. Theo nhóm nghiên cứu, việc xác định tỷ lệ Arg phù hợp không chỉ giúp tối ưu hiệu quả sử dụng thức ăn mà còn cho phép doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu thân thịt theo mục tiêu thị trường, từ đó cân bằng giữa chi phí thức ăn và giá trị thương phẩm.
Theo khuyến cáo hiện nay của nhà chọn giống, tỷ lệ Arg tối ưu cho gà Ross 708 ở giai đoạn vỗ béo vào khoảng 108 - 110. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện sốc nhiệt theo chu kỳ, tỷ lệ cao hơn có thể mang lại lợi ích rõ rệt về FCR và năng suất thân thịt.
Arg không chỉ là axit amin tham gia tổng hợp protein mà còn đóng vai trò điều hòa nhiều quá trình trao đổi chất quan trọng, đặc biệt là giãn mạch, kiểm soát thân nhiệt và giảm stress ôxy hóa. Vì vậy, tối ưu hóa tỷ lệ Arg trong khẩu phần có thể trở thành một giải pháp dinh dưỡng hiệu quả giúp nâng cao năng suất và khả năng chống chịu của gà thịt trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến sốc nhiệt ngày càng phổ biến.
MI LAN
Theo Allaboutfeed
Cho gà ăn và uống càng sớm càng tốt sau khi nở
Sau khi nở, gà con vẫn còn một lượng lòng đỏ tồn dư trong xoang bụng, cung cấp dinh dưỡng trong khoảng 24 - 48 giờ đầu. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc có thể trì hoãn việc cho ăn. Nhiều nghiên cứu cho thấy gà được tiếp cận thức ăn và nước uống trong vòng 6 - 12 giờ sau khi nở sẽ có tốc độ phát triển của ruột non nhanh hơn, khả năng hấp thu dưỡng chất tốt hơn và hệ miễn dịch hoạt động hiệu quả hơn so với những đàn được cho ăn muộn. Nước uống sạch cần được cung cấp ngay khi thả gà vào chuồng úm. Có thể bổ sung điện giải, glucose và Vitamin C trong 1 - 3 ngày đầu nhằm bù nước, giảm stress sau vận chuyển và kích thích gà nhanh chóng tìm đến máng ăn.
Lựa chọn khẩu phần có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp
Do tốc độ sinh trưởng rất nhanh, gà con cần khẩu phần có mật độ dinh dưỡng cao và dễ tiêu hóa. Thức ăn giai đoạn khởi động phải được cân đối đầy đủ năng lượng, protein, axit amin thiết yếu, vitamin và khoáng chất để đáp ứng nhu cầu phát triển của cơ, xương và các cơ quan nội tạng. Hàm lượng protein thô trong thức ăn cho gà con thường dao động từ 20 - 23%, tùy theo giống và mục đích chăn nuôi. Bên cạnh đó, các axit amin như lysine, methionine và
threonine cần được bổ sung đầy đủ nhằm hỗ trợ tổng hợp protein và phát triển cơ bắp. Nguồn nguyên liệu sử dụng nên có khả năng tiêu hóa cao như bột ngô, khô đậu tương, bột cá chất lượng tốt hoặc các nguồn protein đã được xử lý nhằm giảm các yếu tố kháng dinh dưỡng.
Ngoài thành phần dinh dưỡng, kích thước viên thức ăn cũng cần phù hợp với khả năng bắt mổ của gà con. Thức ăn dạng mảnh vụn (crumbles) hoặc viên nhỏ thường giúp tăng lượng thức ăn thu nhận và giảm hao hụt so với thức ăn dạng bột mịn.
Bổ sung vitamin, khoáng chất và các chất hỗ trợ tiêu hóa
Vitamin A giúp duy trì tính toàn vẹn của biểu mô đường tiêu hóa và hô hấp; vitamin D3 cùng canxi và phospho hỗ trợ hình thành hệ xương; Vitamin E và selen tăng cường khả năng chống ôxy hóa và nâng cao miễn dịch. Ngoài ra, các vitamin nhóm B tham gia vào quá trình chuyển hóa năng lượng, giúp gà tăng trưởng ổn định.
Bên cạnh đó, việc bổ sung enzyme tiêu hóa, probiotic hoặc prebiotic đang được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi hiện đại. Những chế phẩm này góp phần cân bằng hệ vi sinh đường ruột, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn, giảm nguy cơ rối loạn tiêu hóa và hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh như Escherichia coli hoặc Clostridium perfringens.
5 lưu ý bổ sung dinh dưỡng cho
con mới nở Từ khi nở đến 7 ngày tuổi được xem là “giai đoạn vàng” trong quá trình phát triển của gà. Đây là thời điểm hệ tiêu hóa, hệ miễn dịch và các cơ quan sinh lý của gà con chưa hoàn thiện, trong khi nhu cầu dinh dưỡng lại rất cao để đáp ứng quá trình tăng trưởng nhanh.
Đảm bảo thức ăn và nước uống luôn sạch, an toàn
Người chăn nuôi cần bảo quản thức ăn ở nơi khô ráo, thoáng mát và sử dụng theo nguyên tắc nhập trước - xuất trước để đảm bảo độ tươi mới. Đồng thời, máng ăn cần được vệ sinh thường xuyên nhằm loại bỏ thức ăn thừa, tránh hiện tượng lên men hoặc nhiễm khuẩn.
Nguồn nước uống cũng phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh, không chứa vi sinh vật gây bệnh và được thay mới hằng ngày.
Theo dõi khả năng thu nhận thức ăn và điều chỉnh kịp thời
Việc quan sát hành vi ăn uống của đàn gà trong tuần đầu là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả của chương trình úm và dinh dưỡng. Sau khi thả vào chuồng khoảng 24 giờ, phần lớn gà khỏe mạnh phải có diều mềm và chứa đầy thức ăn cùng nước uống. Nếu tỷ lệ gà có diều rỗng cao, cần kiểm tra ngay nhiệt độ chuồng úm, ánh sáng, vị trí máng ăn hoặc chất lượng thức ăn. Ngoài ra, người chăn nuôi nên cân mẫu định kỳ để đánh giá tốc độ tăng khối lượng và độ đồng đều của đàn. Một đàn gà có tỷ lệ đồng đều cao sẽ giúp giảm cạnh tranh thức ăn, thuận lợi cho công tác quản lý và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong suốt chu kỳ nuôi.
BÍCH HÒA
BỔ SUNG THẢO DƯỢC
CHỐNG NÓNG CHO GÀ TRONG MÙA HÈ
Nhiệt độ mùa hè vượt ngưỡng sinh lý gây ra hội chứng stress nhiệt ở gia gà, làm suy giảm hệ thống miễn dịch và tăng FCR. Việc bổ sung các nhóm thảo dược vào khẩu phần là giải pháp tối ưu giúp cân bằng điện giải, bảo vệ hệ tiêu hóa và duy trì năng suất chăn nuôi bền vững.
ẢNH HƯỞNG NẮNG NÓNG
Mùa hè ở nước ta, nhất là những đợt nắng kéo dài kèm ẩm độ cao, luôn là những thách thức rất lớn cho các trang trại gà. Gà vốn có thân nhiệt cao (41 - 410C), không có tuyến mồ hôi, bộ lông phủ kín toàn thân nên rất khó thoát nhiệt. Khi nóng, gà chỉ còn cách thở nhanh, há mỏ, xòe cánh, giảm vận động và uống nhiều nước để thải nhiệt. Nếu nhiệt độ ngoài chuồng cao, không khí ẩm, gió yếu, mật độ nuôi lại dày thì cơ chế thải nhiệt qua hô hấp bị nghẽn. Lúc ấy, stress nhiệt không còn là chuyện “gà bị nóng” đơn thuần, mà đã thành rối loạn toàn thân: tiêu hóa kém, miễn dịch giảm, hô hấp nặng, chuyển hóa lệch và sinh sản suy giảm (Lara & Rostagno, 2013; Wasti et al., 2020).
Biểu hiện trên đàn gà thường không ồn ào ngay từ đầu. Gà giảm ăn trước, sau đó uống nhiều, thở há mỏ, nằm dạt, xòe cánh; phân loãng hơn, nền chuồng ướt hơn và mùi chuồng tăng. Ở gà thịt, hậu quả là tăng khối lượng chậm, hệ số chuyển hóa thức ăn cao, đàn kém đồng đều và dễ chết vào cuối kỳ nuôi.
Ở gà đẻ, nắng nóng làm tỷ lệ đẻ tụt, trứng nhỏ, vỏ mỏng, trứng dập vỡ nhiều. Ở đàn giống, mái suy thể trạng, trống giảm hăng tính dục, tinh dịch kém; tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và sức sống gà con đều bị kéo xuống.
THẢO DƯỢC TĂNG ĐỀ KHÁNG GÀ
Chống nóng cho gà phải bắt đầu từ chuồng trại, không thể bắt đầu từ một gói phụ gia. Chuồng phải thoáng, gió đi đúng hướng, quạt đủ, giàn mát vận hành đúng, mật độ hợp lý, nước uống mát và sạch, khẩu phần được điều chỉnh theo lượng ăn thực tế. Những việc ấy là nền. Thảo dược chỉ có ý nghĩa khi đặt trên cái nền đó. Giá trị của thảo dược không phải thay quạt, thay giàn mát hay “hạ sốt” cho chuồng, mà là giúp cơ thể gà chịu đựng tốt hơn trước bất lợi:
giảm stress ôxy hóa, giảm phản ứng viêm quá mức, hỗ trợ gan, ổn định ruột, kích thích tiêu hóa nhẹ và nâng sức chống chịu không đặc hiệu (Abdelli et al., 2021; Oni et al., 2024).
Cách nhìn này rất quan trọng trong bối cảnh chăn nuôi đang hạn chế, tiến tới không sử dụng kháng sinh. Dùng kháng sinh theo thói quen sau mỗi đợt nắng, khi chưa xác định có nhiễm khuẩn hay không, chỉ làm tăng nguy cơ kháng thuốc, tồn dư và mất lợi thế thị trường (World Health Organization, 2017).
Thảo dược, nếu dùng đúng chỗ, có thể giúp đàn khỏe mạnh hơn để ít phải can thiệp bằng kháng sinh; nhưng không được hiểu là thuốc thay thế cho điều trị thú y khi đàn đã mắc bệnh rõ.
Việt Nam có lợi thế tự nhiên cho hướng này. Nhiều cây gia vị và cây thuốc như tỏi, gừng, nghệ, sả, chè xanh, tía tô, hương nhu, diệp hạ châu, nhân trần, atisô khá gần với sản xuất, dễ kiếm và đã quen trong kinh nghiệm dân gian. Nhóm chè xanh, nghệ, diệp hạ châu, nhân trần, atisô giàu polyphenol, flavonoid, curcumin hoặc các chất hỗ trợ gan, có thể dùng theo hướng chống ôxy hóa, bảo vệ tế bào và hỗ trợ chuyển hóa. Nhóm tỏi, gừng, sả, hương nhu, tía tô giàu allicin, gingerol, citral và tinh dầu thơm, phù hợp hơn với mục tiêu kích thích tiêu hóa, giảm lên men bất lợi trong ruột và hỗ trợ đàn phục hồi sau những ngày nóng
(Bộ Y tế, 2017; Đỗ Huy Bích et al., 2006). Dùng thảo dược phải đi từ mục tiêu của đàn, không đi từ thói quen “có cây gì dùng cây ấy”. Với gà thịt, nên chú ý giai đoạn giữa và cuối kỳ nuôi, khi khối lượng cơ thể lớn, nhiệt sinh ra nhiều và chỉ cần giảm ăn vài ngày đã ảnh hưởng rõ đến tăng trọng. Với gà đẻ, trọng tâm là giai đoạn đỉnh đẻ, sau đỉnh đẻ và các đợt nắng kéo dài; nếu nóng làm giảm ăn, chất lượng vỏ trứng thường xấu rất nhanh. Với đàn giống, nên dùng từng đợt ngắn trước nắng cao điểm, sau vận chuyển, sau khi sử dụng vaccine hoặc khi đàn giảm ăn nhẹ. Không nên dùng quanh năm, vì vừa tốn tiền, vừa khó biết có hiệu quả thật hay không.
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ
Dạng dễ làm nhất là bột thảo dược khô trộn thức ăn. Tỏi, gừng, nghệ, sả, chè xanh, diệp hạ châu có thể được phơi hoặc sấy khô, nghiền mịn rồi phối vào khẩu phần. Cách này hợp với nông hộ và trang trại
nhỏ vì rẻ, chủ động nguyên liệu. Điểm yếu là hàm lượng hoạt chất biến động, bột ẩm dễ mốc, lượng trộn nhỏ dễ không đều. Vì vậy, nguyên liệu phải đúng loài, đúng bộ phận dùng, khô, sạch, không mốc, không lẫn đất cát, không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật. Khi trộn, nên trộn qua chất mang hoặc premix trung gian trước rồi mới đưa vào thức ăn chính, tránh chỗ nhiều, chỗ ít.
Dạng nước sắc, nước ngâm hoặc dung dịch thảo dược chỉ nên dùng ngắn ngày qua nước uống, nhất là khi trời nóng đột ngột, đàn giảm ăn nhưng vẫn uống tốt. Gừng, tía tô, hương nhu, chè xanh, diệp hạ châu có thể dùng theo cách này ở quy mô nhỏ. Nước thảo dược phải dùng trong ngày, lọc kỹ, vệ sinh máng trước và sau khi dùng; không pha tùy tiện cùng vaccine, thuốc sát trùng nước hoặc thuốc thú y. Với trại dùng núm uống, nên ưu tiên cao lỏng, dịch chiết hoặc chế phẩm tan hoàn toàn trong nước để tránh tắc đường ống. Cao thảo dược, dịch chiết, tinh dầu vi bao và chế phẩm phối hợp phù hợp hơn với chăn nuôi hàng hóa vì liều ổn định và dễ chuẩn hóa hơn (Zeng et al., 2015).
Trong thực tế, công thức thảo dược chống nóng không cần nhiều cây. Có thể chọn theo ba nhóm: nhóm chống ôxy hóa và hỗ trợ gan như nghệ, chè xanh, diệp hạ châu, atisô; nhóm kích thích tiêu hóa như tỏi, gừng, sả; nhóm hỗ trợ dễ chịu trong thời tiết oi nóng như tía tô, hương nhu. Với nông hộ, nên dùng ít cây, quen dùng, an toàn và dễ kiểm soát. Với trang trại, nên dùng chế phẩm có hướng dẫn liều rõ, có nguồn gốc nguyên liệu và đã được thử trên gia cầm. Muốn thảo dược đi vào sản xuất bền vững, không thể dừng ở lời truyền miệng. Cần vùng nguyên liệu sạch, định danh đúng cây, kiểm soát độ ẩm, tạp chất, kim loại nặng, vi sinh vật, độc tố nấm và dư lượng hóa chất. Hiệu quả cũng phải được đo bằng chỉ tiêu cụ thể: lượng ăn, lượng nước uống, tăng khối lượng, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), tỷ lệ chết, tỷ lệ đẻ, chất lượng vỏ trứng, chi phí và mức giảm thiệt hại trong đợt nóng. Khi được đặt đúng vị trí trong chương trình chống nóng tổng hợp, thảo dược có thể trở thành phụ gia sinh học phù hợp với khí hậu Việt Nam, giúp đàn gà ít suy hơn, sản phẩm an toàn hơn và người nuôi bớt phụ thuộc vào cách xử lý bị động sau khi đàn đã tổn thương.
PGS.TS BÙI HỮU ĐOÀN Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Những phát hiện mới về khả năng chống
chịu của gà thịt
NOVUS (một doanh nghiệp về sức khỏe và dinh dưỡng động vật của Mỹ) cùng các đối tác nghiên cứu đã trình bày những phát hiện mới về khả năng chống chịu của gà thịt, các nguồn cung cấp đồng và khẩu phần ăn có hàm lượng năng lượng thấp tại Hội nghị Thường niên năm 2026 của Hiệp hội Khoa học Gia cầm (PSA), diễn ra từ ngày 9 - 13/7 tại Toronto, Canada. Ba bài thuyết trình này sẽ làm nổi bật vai trò của giải pháp dinh dưỡng thông minh trong việc hỗ trợ hiệu suất chăn nuôi, sức khỏe đường ruột và khả năng hấp thu dinh dưỡng của gà thịt khi đối mặt với các thách thức trong quy trình sản xuất thương mại.
Hỗ trợ gà thịt tăng cường sức đề kháng trước sự tấn công của vi khuẩn Enterococcus cecorum
Thông qua sự hợp tác với Đại học Bang North Carolina, các nhà nghiên cứu đã đánh giá liệu việc thay thế khoáng vi lượng vô cơ bằng khoáng vi lượng hữu cơ dạng bis-chelate (với gốc methionine hydroxy analogue) ở hàm lượng thấp hơn - cụ thể là sản phẩm MINTREX® có thể ảnh hưởng đến quá trình di chuyển của vi khuẩn Enterococcus cecorum và sức khỏe của gà thịt hay không. Kết quả đánh giá cho thấy, những đàn gà được cho ăn khẩu phần có thay thế khoáng vi lượng vô cơ bằng khoáng vi lượng hữu cơ dạng bis-chelate (với hàm lượng thấp hơn) đã giảm thiểu được tình trạng vi khuẩn di chuyển qua thành ruột, đồng thời duy trì được hiệu suất chăn nuôi tốt trong điều kiện thử thách bệnh. Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận những dấu hiệu cho thấy khả năng chống chịu tốt hơn trước sự tấn công của Enterococcus cecorum ở nhóm gà được bổ sung khoáng dạng bis-chelate.
Phân tích phiên mã học tiết lộ sự khác biệt sinh học giữa các nguồn đồng NOVUS đã hợp tác với Biofractal thực hiện ba thử nghiệm riêng biệt trên gà thịt với tổng cộng 3.624 con, trong đó gà phải đối mặt với các tác nhân gây hại đường ruột. Các nhà nghiên cứu đã so sánh nguồn đồng dạng bis-chelate (cụ thể là khoáng vi lượng bis-chelate MINTREX® Cu ở mức 30 ppm) với đồng clorua tribasic (TBCC) ở mức 100 - 125 ppm và các nhóm đối chứng có hàm lượng đồng thấp. Công ty cho biết, thông qua phân tích phiên mã học, các nhà nghiên cứu đã xác định được những khác biệt sinh học quan trọng giữa các nguồn đồng này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong điều kiện chịu tác động gây hại, nguồn đồng dạng bis-chelate hỗ trợ sức khỏe đường ruột, quá trình sản sinh năng lượng tế bào và chuyển hóa axit amin hiệu quả hơn so với TBCC.
Novus xylanase hỗ trợ hiệu quả sử dụng thức ăn trong khẩu phần giảm năng lượng Nghiên cứu kéo dài 42 ngày trên gà thịt, được thực hiện với sự hợp tác của Agrivet Research & Advisory, đã đánh giá liệu hai loại enzyme xylanase - một loại của NOVUS và một loại xylanase dạng tự nhiên (wild-type) - có thể bù đắp sự sụt giảm hiệu suất chăn nuôi do việc giảm 130 kcal/kg năng lượng trong khẩu phần ngô - khô dầu đậu tương hay không. Đúng như dự đoán, các nhà nghiên cứu nhận thấy việc giảm năng lượng trong khẩu phần ăn đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất của gà thịt. Tuy nhiên, những con gà được bổ sung enzyme xylanase của NOVUS đã phục hồi hoàn toàn hiệu quả sử dụng thức ăn; đồng thời, các kết quả thu được cũng cho thấy những lợi ích đối với sức khỏe đường ruột và khả năng hấp thụ dinh dưỡng.
H.C Theo NOVUS
Chăn nuôi vịt thịt trên sàn là mô hình giúp giảm ô nhiễm, hạn
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI VỊT THỊT TRÊN SÀN
bệnh và nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, để
năng suất cao, người nuôi cần tuân thủ đúng các yêu cầu kỹ thuật về chuồng trại, mật độ và chăm sóc.
THIẾT KẾ CHUỒNG NUÔI
Chuồng nuôi vịt cần được xây dựng tại những vị trí cao ráo, thông thoáng, tránh xa các nguồn ô nhiễm như nước thải, rác thải và khu vực đông người, nhằm bảo vệ đàn vịt khỏi các tác nhân gây bệnh và ô nhiễm môi trường.
Thiết kế chuồng cần đảm bảo kích thước và cấu trúc hợp lý để vịt có không gian sinh hoạt thoải mái. Sử dụng vật liệu chống thấm và dễ vệ sinh như xi măng, gạch đá sẽ giúp giữ vệ sinh chuồng trại lâu dài, đồng thời giúp dễ dàng kiểm soát chất thải và ngăn ngừa dịch bệnh.
Chuồng nuôi vịt trên sàn thường được xây dựng cao hơn mặt đất khoảng 0,5 - 1 m, giúp thoát nước và giảm ẩm ướt. Sàn có thể làm bằng tre, gỗ hoặc nhựa, với các khe hở vừa phải để phân và nước thải rơi xuống dưới, đảm bảo bề mặt luôn khô ráo. Khoảng cách giữa các thanh sàn nên từ 1,5 - 2 cm để tránh làm tổn thương chân vịt.
Chuồng cần được bố trí thông thoáng, có mái che để tránh mưa nắng trực tiếp và lắp đặt hệ thống lưới hoặc vách chắn gió xung quanh. Hệ thống quạt thông gió cũng rất quan trọng đối với nuôi nhốt để khống chế độ ẩm và mùi. Vì là dòng thủy cầm nên vịt luôn cần nước đủ để uống tự do và phun tắm khi cần thiết. Nguồn điện luôn
chủ động để bảo đảm cho quạt lưu thông gió và duy trì nguồn nước.
Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn vịt.
CON GIỐNG
Để có được một con giống tốt đáp ứng được yêu cầu sản xuất, vịt giống phải có đặc tính di truyền là khả năng tăng trọng cao, chất lượng thịt tốt, tức là vịt con được sinh ra từ đàn bố mẹ phải có các phẩm chất trên. Vịt con đạt tiêu chuẩn khi mới nở rốn khô, lông mượt, chân mỏ bóng, nhanh nhẹn, có thể trọng từ 45 g trở lên, loại bỏ con dị tật hở rốn...
MẬT ĐỘ
Đối với giai đoạn đầu, vịt con cần được nuôi với mật độ từ 7 - 10 con/m², giúp chúng có đủ không gian để phát triển tốt. Đối với vịt trưởng thành, mật độ thích hợp là 3 - 4 con/m² để đảm bảo sự thoải mái trong sinh hoạt và giảm áp lực lên môi trường sống của đàn vịt. Điều này không chỉ góp phần vào sức khỏe của đàn vịt mà còn nâng cao hiệu quả chăn nuôi và sản lượng.
NUÔI VỊT CON (TỪ 0 - 3 TUẦN)
Vịt con sau khi vận chuyển về tới chuồng phải nhanh chóng thả vào lồng úm đã bật đèn. Cho vịt nghỉ ngơi, uống nước sau đó
mới cho ăn. Phải cho uống nước từ từ (nước sạch có thể đun sôi để nguội) và pha thêm Vitamin B1, C, 50 gam đường glucose vào 1 lít nước uống. Theo dõi nhiệt độ sưởi ấm úm vịt con, không để vịt bị lạnh sẽ kém ăn, chậm lớn, còi nhỏ. Vịt con rất sợ gió lùa vì vậy cần quây che kín xung quanh, không làm quây quá cao.
Hai ngày đầu tập cho vịt ăn cơm, gạo lứt hoặc tấm ngâm, không cho ăn thức ăn hỗn hợp.
Ngày thứ 3 trở đi sử dụng thức ăn hỗn hợp, cho ăn tự do cả ngày lẫn đêm, giá trị dinh dưỡng thức ăn đảm bảo năng lượng trao đổi 2.900 - 3.000 Kcal/kg, đạm tối thiểu 21 - 22%. Giai đoạn này cho vịt ăn tự do đảm bảo 2 - 4 bữa/ngày.
Cho uống nước sạch và không để vịt thiếu nước, nên pha thêm Vitamin B, C, đường glucose. Sau khi vịt uống hết, rửa máng và thay nước sạch mới.
Tập cho vịt con ăn rau xanh từ ngày tuổi thứ 4 trở đi. Có thể cho vịt con ăn rau muống thái nhỏ, bèo tấm…
NUÔI VỊT TỪ 4 TUẦN TUỔI
Có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp hoặc thức ăn đậm đặc trộn với thức ăn sắn có như tấm, bắp, lúa… (tỷ lệ trộn theo hướng dẫn của nhà sản xuất).
Cho uống nước sạch theo nhu cầu
của vịt, không để đọng nước trong khu chăn nuôi làm mất vệ sinh và để vịt uống nước bẩn.
Máng ăn, máng uống được đặt đều trong chuồng và có đủ thức ăn, nước uống cho vịt ăn uống (không để đói quá 2 giờ). Hàng ngày vệ sinh, sát trùng phơi khô máng ăn, máng uống; cần dự phòng thêm máng để thay đổi.
PHÒNG BỆNH
Chỉ mua vịt từ những cơ sở giống tốt, có lý lịch rõ ràng. Phải chọn mua vịt khoẻ mạnh, nhanh nhẹn và biết vịt giống đã được tiêm phòng những bệnh gì.
Quan sát, theo dõi đàn vịt hàng ngày khi cho ăn và có biện pháp xử lý kịp thời nếu thấy đàn vịt ăn, uống kém hoặc có hiện tượng khác thường.
Thức ăn cần đảm bảo chất lượng, không ẩm mốc. Trước khi cho vịt ăn phải dọn máng, quét bỏ những thức ăn thừa, hôi, thối và mốc, cho vịt ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi chua, tách những con nhỏ cho ăn riêng để vịt phát triển đồng đều.
Chuồng trại phải thông thoáng nhất là vào mùa hè. Thường xuyên phát quang cây cối, cỏ dại. Phải định kỳ vệ sinh sát trùng xung quanh chuồng nuôi 1 - 2 lần/tuần để tiêu diệt mầm bệnh.
Hạn chế người, động vật ra vào nơi nuôi vịt. Nếu có dịch bệnh xung quanh thì không cho người đến, người nuôi vịt không sang nơi có dịch.
Thực hiện tiêm phòng vaccine đầy đủ theo lịch:
Từ 7 - 10 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh viêm gan; Từ 12 - 14 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả; Từ 32 - 35 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh dịch tả; Từ 42 - 45 ngày tuổi tiêm vaccine phòng bệnh viêm gan.
Lưu ý, vaccine cúm H5N1 tham khảo ý kiến thú y địa phương. Có thể tiêm vaccine vào ổ dịch để dập dịch. Cần chủ động kiểm soát sức khỏe vịt khi tiêm vaccine. Làm đúng hướng dẫn của nhà sản xuất. Cần nắm vững và làm đúng hướng dẫn của nhà nhà sản xuất thuốc, vaccine.
Xác vịt chết cần phải đưa ngay ra khỏi khu vực chăn nuôi và xử lý theo quy định thú y. Vịt bị bệnh chết cần đốt cháy thành than, chôn kỹ, rắc vôi bột. Nếu là dịch cúm không chữa trị, giết mổ mà tiêu hủy 100%.
LÊ LOAN
Thiết kế chuồng trại, kho và thiết
bị chăn nuôi gia cầm
1. Thiết kế chuồng trại
- Kiểu chuồng: Chuồng hở, thông thoáng tự nhiên, gia cầm nuôi trên nền có chất độn hoặc trên sàn. Chuồng kín có hệ thống thông gió và điều tiết nhiệt độ, ẩm độ (nuôi trên nền hoặc sàn).
- Nền chuồng: Không trơn, dễ thoát nước, vững chắc, khô ráo và dễ làm vệ sinh, tiêu độc.
- Mái chuồng: Có kết cấu 1 hoặc 2 mái (mái chuồng diêm) hoặc có tấm lợp 3 lớp. Không bị dột nát, đảm bảo che mưa nắng cho gia cầm.
- Vách chuồng: Chuồng úm gia cầm con cần xây cao, có trần để đảm bảo giữ nhiệt trong mùa đông. Chuồng nuôi gia cầm giò, hậu bị, sinh sản cần thông thoáng, có ánh sáng mặt trời chiếu vào để diệt khuẩn, làm khô chất độn chuồng và thông khí, giúp tăng cường hấp thu canxi, kích thích sinh trưởng cho gia cầm.
2. Thiết kế khu chăn nuôi
- Khu chăn nuôi chính: Khu chăn nuôi gia cầm con bố trí ở đầu hướng gió, tiếp theo là khu gia cầm giò, hậu bị và sinh sản. Cần có hàng rào phân cách giữa các khu chăn nuôi.
- Khu nuôi tân đáo: Cách biệt với khu chăn nuôi chính. Gia cầm nhận từ nơi khác về phải nuôi cách ly để theo dõi tình hình sức khỏe, bệnh tật trước khi nhập vào trại.
- Khu nuôi cách ly gia cầm bị bệnh: Ở vị trí thấp hơn hoặc cuối hướng gió chính so với khu nuôi gia cầm khỏe mạnh và kho chứa thức ăn.
- Khu xử lý chất thải: Ở phía cuối nơi có địa thế thấp nhất của trại chăn nuôi. Có đường thoát nước theo hệ thống chuồng nuôi. Nhà ủ phân có nền cao, ủ theo nguyên lý nhiệt sinh học.
- Khu tiêu hủy, chôn, đốt xác gia cầm chết đặt ở cuối hướng gió, cuối trại và cách xa khu chăn nuôi. Nên có lò thiêu xác gia cầm hiện đại hoặc thô sơ tùy thuộc vào quy mô trang trại.
- Nhà xưởng và công trình phụ (kho chứa thức ăn, kho chứa thuốc thú y,
thuốc sát trùng, kho chứa các dụng cụ chăn nuôi, xưởng sửa chữa cơ khí, khu nuôi cách ly, khu xử lý chất thải) phải được bố trí riêng biệt với chuồng trại chăn nuôi.
3. Thiết kế hệ thống vệ sinh sát trùng
Tùy thuộc vào hệ thống chăn nuôi hiện có của trại để thiết kế hệ thống vệ sinh sát trùng thích hợp nhằm giảm thiểu tối đa sự lây lan của mầm bệnh.
4. Thiết kế kho
- Kho chứa thức ăn và nguyên liệu đảm bảo thông thoáng, có hệ thống thông gió tốt, không bị dột, tạt nước khi mưa gió để đảm bảo không bị ẩm mốc. Kho phải có các bệ kê để thức ăn và nguyên liệu không tiếp xúc xuống sàn nhà.
- Kho chứa thuốc thú y, thuốc sát trùng phải đảm bảo thông thoáng, có hệ thống thông gió tốt, không bị dột, tạt nước khi mưa gió. Có kho lạnh, tủ lạnh để bảo quản vaccine và một số loại kháng sinh yêu cầu được bảo quản lạnh.
- Các loại hóa chất như dầu máy, thuốc diệt chuột, thuốc sát trùng… không được để lẫn trong kho chứa thức ăn.
- Kho chứa các vật dụng khác và xưởng cơ khí: Các vật dụng chăn nuôi chưa được sử dụng cần được bảo quản trong kho sạch sẽ, tránh lây nhiễm trước khi sử dụng.
5. Thiết bị chăn nuôi
- Nhóm thiết bị, dụng cụ chứa thức ăn, nước uống: Máng chứa thức ăn, nước uống phải được làm bằng nhựa trơ, không độc, kim loại hoặc hợp kim ít bị ăn mòn, không chứa chì và asen.
- Trang bị bảo hộ lao động: Trang bị bảo hộ lao động riêng biệt cho công nhân trại và khách tham quan. Trang bị bảo hộ phải được khử trùng và cất giữ đúng nơi khô ráo.
- Thiết bị khác gồm đèn chiếu sáng hay sưởi ấm phải có mũ chụp, quạt làm thông thoáng được đặt ở vị trí hướng gió thổi từ nơi sạch đến nơi bẩn.
THIÊN LÝ
Chiến lược quản lý sức khỏe vật nuôi toàn diện
Quản lý con giống
Con giống phải nhanh nhẹn, mắt sáng, đi đứng vững vàng, không có dị tật. Loại bỏ ngay những con có biểu hiện ủ rũ, thở khò khè, chảy nước mắt, nước mũi, tiêu chảy hoặc có các nốt xuất huyết trên da. Đàn giống mua về nên có kích cỡ và trọng lượng đồng đều để dễ chăm sóc.
Con giống xuất chuồng phải có giấy kiểm dịch của cơ quan thú y và hồ sơ ghi rõ lịch sử tiêm phòng các loại vaccine thiết yếu. Tìm hiểu kỹ về tình trạng dịch tễ của vùng trại cung cấp giống để đảm bảo vật nuôi không mang mầm bệnh tiềm ẩn.
Khi đưa giống mới về, phải nuôi cách ly tại khu vực riêng từ 14 đến 21 ngày. Chỉ nhập đàn chung với vật nuôi cũ sau khi theo dõi thấy chúng hoàn toàn khỏe mạnh.
Đảm bảo dinh dưỡng
Cung cấp nguồn thức ăn sạch, đủ dinh dưỡng, không bị ẩm mốc hay quá hạn sử dụng. Không sử dụng thức ăn thừa từ khu vực khác chưa qua nấu chín kỹ.
Bên cạnh chế độ ăn, cần đảm bảo đủ nước uống cho con vật, nước uống bổ sung một lượng muối nhất định, cho uống nước sạch, nếu trong ngày nhiệt độ xuống thấp, trời lạnh cần cho uống nước ấm.
Ngoài ra, cần bổ sung định kỳ các vitamin như Vitamin C, Vitamin E cùng các khoáng chất thiết yếu nhằm giảm căng thẳng và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi trong giai đoạn thời tiết biến động. Việc kết hợp chế phẩm sinh học (probiotics) vào khẩu phần ăn hoặc nước uống cũng góp phần cân bằng hệ vi sinh đường ruột, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại và nâng cao miễn dịch tự nhiên. Bên cạnh đó, axit hữu cơ có vai trò duy trì pH ổn định trong đường tiêu hóa, hỗ trợ hấp thu dinh dưỡng và giảm nguy cơ mắc các bệnh đường ruột như tiêu chảy.
Tiêm phòng vaccine
Để đạt hiệu quả cao, việc tiêm phòng cần tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật. Người chăn nuôi phải lựa chọn vaccine phù hợp với từng loại vật nuôi, từng giai đoạn sinh trưởng và tình hình dịch tễ tại địa phương.
Đồng thời, việc bảo quản vaccine đúng điều
kiện nhiệt độ (thường là 2 - 8°C) là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng.
Đối với trâu, bò, dê: Cần tiêm phòng vaccine tụ huyết trùng, lở mồm long móng; Đối với heo: Tiêm phòng vaccine dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn, đóng dấu, tai xanh và lở mồm long móng…; Đối với gia cầm: Cụ thể như: đối với gà tiêm vaccine Newcatles, cúm gia cầm, tụ huyết trùng…; đối với vịt tiêm vaccine dịch tả vịt, viêm gan do virus, cúm gia cầm, tụ huyết trùng. Thực hiện an toàn sinh học Chuồng trại chăn nuôi luôn phải đảm bảo sạch sẽ, ấm về mùa đông, mát mẻ mùa hè, cách ly với khu vực xung quanh.
Phun thuốc khử trùng định kỳ (1 - 2 lần/ tuần) toàn bộ khu vực chuồng nuôi. Khi xuất bán hoặc chuyển đàn, cần tổng vệ sinh, rửa sạch, sát trùng và để trống chuồng từ 10 - 15 ngày trước khi thả lứa mới
Vệ sinh chăn nuôi và kiểm soát người ngoài ra, vào chuồng nuôi theo hướng hạn chế tối đa người ngoài ra, vào khu vực chuồng nuôi. Trước và sau khi vào, ra khu chăn nuôi phải thay bảo hộ lao động, sát trùng tay, nhúng ủng hoặc giầy, dép vào hố khử trùng.
Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông và vệ sinh cống rãnh ngoài chuồng nuôi ít nhất 2 lần/tháng. Phải vệ sinh máng ăn,
máng uống hằng ngày cho gia súc, gia cầm. Thiết bị, dụng cụ và phương tiện phục vụ trong chăn nuôi phải được tiêu độc khử trùng thường xuyên.
Tiêu diệt vật chủ trung gian truyền bệnh như chuột, ruồi, muỗi, bọ chét bằng bẫy hoặc lưới chắn xung quanh chuồng.
Kiểm soát phương tiện vận chuyển, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi. Phương tiện vận chuyển trước và sau khi vào chuồng nuôi phải được khử trùng, tiêu độc.
Theo dõi sức khỏe
Một biện pháp quan trọng khác là thường xuyên kiểm tra và quan sát đàn vật nuôi để phát hiện kịp thời các dấu hiệu bất thường như: Bỏ ăn hoặc kém ăn, ủ rũ, nằm một chỗ lười vận động hoặc tách xa đàn hoặc mắt lờ đờ, chảy nước mắt, nước mũi, sưng mắt, xù lông, sốt cao uống nhiều nước, tai đỏ hoặc tím tái, ho, khó thở, thở mạnh, tiêu chảy… Ngoài ra, còn xuất huyết ngoài da hoặc tím tái các vùng da như tai, chân (đối với heo). Khi vật nuôi có biểu hiện bất thường, cần cách ly chúng để theo dõi và báo cáo người phụ trách (nếu có). Nếu vật nuôi chết, đưa ngay xác vật nuôi ra khỏi khu vực chăn nuôi và xử lý tùy từng loại bệnh. Báo cán bộ thú y đến kiểm tra hoặc gửi mẫu vật nuôi ốm, chết đi kiểm tra.
Vai trò của AI trong dự đoán và quản lý rủ ro
độc tố nấm mốc
Mới đây, Alltech đã công bố báo cáo Phân tích thu hoạch dựa trên dữ liệu từ hơn 2.000 mẫu vụ mùa mới, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về xu hướng độc tố nấm mốc toàn cầu và nêu bật các chiến lược quản lý rủi ro độc tố nấm mốc đối với sức khỏe và dinh dưỡng vật nuôi. Một trong những chủ đề chính được nhấn mạnh là vai
tố nấm mốc.
Thời tiết vẫn là yếu tố rủi ro chính
TS Jan Dutton, Giám đốc điều hành của Prescient Weather Ltd., nhấn mạnh rằng, sự biến đổi của thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và nguy cơ nhiễm độc tố, đồng thời lưu ý rằng các công cụ dự báo như CropProphet có thể giúp người sản xuất quản lý tốt hơn sự bất ổn trong sản xuất và thị trường.
Theo TS Dutton, mùa vụ năm 2025 cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng. Tại Mỹ, cây trồng trải qua những đợt nắng nóng gay gắt vào đầu và cuối tháng 7, trong khi điều kiện thời tiết ôn hòa hơn trong giai đoạn ra hoa của ngô. Các vùng trồng yến mạch của Canada phải đối mặt với tình trạng khô hạn đáng kể từ tháng 5 đến tháng 6. Tại châu Âu, nhiệt độ đầu mùa cao hơn mức trung bình, sau đó là điều kiện khô hạn vào tháng 6 và phục hồi một phần vào tháng 7.
Lưu trữ và tiếp xúc với nhiều độc tố nấm mốc Mặc dù chất lượng cây trồng thường đạt mức cao nhất vào thời điểm thu hoạch, nhưng nó có thể suy giảm nhanh chóng trong quá trình bảo quản và vận chuyển nếu không được quản lý đúng cách. Do đó, việc xử lý sau thu hoạch hiệu quả vẫn rất quan trọng để ngăn ngừa sự suy giảm chất lượng.
vừa phải, sự hiện diện của nhiều loại độc tố nấm mốc có thể tạo ra các tác động cộng hưởng hoặc hiệp đồng, làm giảm lượng thức ăn tiêu thụ, làm suy yếu hệ miễn dịch và giảm hiệu suất chăn nuôi.
Theo phân tích, hầu hết các mẫu năm 2025 đều chứa nhiều hơn một loại độc tố nấm mốc. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải đánh giá tổng lượng độc tố chứ không chỉ tập trung vào ngưỡng của từng loại độc tố riêng lẻ.
Xu hướng ô nhiễm theo khu vực
Phân tích theo khu vực cho thấy, các mô hình ô nhiễm khác nhau. Tại châu Âu, điều kiện ấm hơn ở Nam Âu đã góp phần làm tăng nồng độ aflatoxin trong ngô. Lúa mạch cho thấy nguy cơ cao hơn lúa mì, trung bình 6,7 độc tố nấm mốc trên mỗi mẫu. Thức ăn gia súc ở Tây Bắc Âu chủ yếu bị ảnh hưởng bởi độc tố nấm mốc Penicillium, trong khi thức ăn ủ chua từ ngô thường chứa độc tố Fusarium như trichothecene loại B. Tại Mỹ, các bệnh như rỉ sắt ngô và đốm đen ngô, cùng với thiệt hại do gió, đã góp phần làm tăng nồng độ độc tố nấm mốc trong các sản phẩm ngô.
Tại Canada, các mẫu ngũ cốc cho thấy nguy cơ tổng thể ở mức trung bình. DON xuất hiện trong 40% số mẫu, trung bình 1.891 ppb, với mức tối đa là 679.211 ppb. Thức ăn gia súc có nguy cơ cao hơn, với DON có trong 69% số mẫu, T2-HT2 trong
54% và zearalenone trong 79%.
Vai trò mở rộng của trí tuệ nhân tạo trong dự đoán rủi ro Trí tuệ nhân tạo ngày càng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ quản lý rủi ro độc tố nấm mốc. TS Alexandros Yiannikouris của Alltech đã nhấn mạnh nghiên cứu hợp tác với Đại học Wageningen và các đối tác trong ngành để phát triển các mô hình ngũ cốc tiên tiến của châu Âu. Các hệ thống dựa trên AI này tích hợp hơn 200 yếu tố rủi ro, cho phép dự đoán nguy cơ nhiễm độc tố nấm mốc cao ngay cả khi cây trồng trông khỏe mạnh về mặt thị giác hoặc khi mức trung bình trong quá khứ cho thấy mức độ lo ngại thấp. Khả năng dự đoán này cũng giúp định hướng các giải pháp dinh dưỡng mục tiêu, bao gồm các công nghệ như dòng sản phẩm Mycosorb® Evo được thiết kế để giải quyết các thách thức như DON và axit fusaric. Kết quả nghiên cứu năm 2025 khẳng định rằng nguy cơ nhiễm độc tố nấm mốc vẫn rất biến động, phụ thuộc vào từng vùng và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thời tiết và sự căng thẳng của cây trồng, với tình trạng nhiễm nhiều loại độc tố nấm mốc vẫn phổ biến ở các loại ngũ cốc và thức ăn gia súc. Hiểu rõ những rủi ro này sẽ rất cần thiết khi các nhà sản xuất lên kế hoạch cho mùa vụ năm 2026. TĂNG SANG
Nguồn: Alltech
Đệm lót
sinh học
mở
hướng chăn nuôi gà sạch, giảm ô nhiễm
Giữa vùng quê xã Vạn Linh (Lạng Sơn), trang trại nuôi gà của ông Mai Văn Phản tạo ấn tượng khác biệt. Dù duy trì hàng trăm con trong chuồng, không gian vẫn thông thoáng, hầu như không xuất hiện mùi hôi thường thấy tại các cơ sở chăn nuôi gia cầm.
Theo ông Phản, sự thay đổi này bắt nguồn từ việc áp dụng đệm lót sinh họcgiải pháp kỹ thuật được tiếp cận thông qua chương trình hỗ trợ khoa học của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn. Không chỉ cải thiện môi trường chăn nuôi, kỹ thuật này còn giúp gia đình nâng cao tỷ lệ nuôi sống, giảm công lao động và tăng hiệu quả kinh tế.
Gia đình ông Mai Văn Phản nhiều năm gắn bó với giống gà Vạn Linh - đặc sản địa phương nổi tiếng với chân nhỏ, da vàng và chất lượng thịt thơm ngon. Tuy nhiên, những năm đầu, việc chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên chuồng trại còn đơn giản, điều kiện vệ sinh chưa bảo đảm. Dịch bệnh thường xuyên xảy ra khiến nhiều lứa gà bị thiệt hại, ảnh hưởng lớn đến thu nhập của gia đình.
Bước ngoặt đến vào năm 2022 khi ông tham gia chương trình hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ trong chăn nuôi do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn triển khai. Tại đây, ông được hướng dẫn từ kỹ thuật xây dựng chuồng trại, chăm sóc, tiêm phòng đến ứng dụng đệm lót sinh học.
Sau khi tiếp thu quy trình kỹ thuật, ông mạnh dạn đầu tư cải tạo hệ thống chuồng nuôi theo hướng bài bản, từng bước chuyển từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi an toàn sinh học. Điểm nổi bật nhất trong mô hình là lớp đệm lót sinh học được tạo từ trấu, mùn cưa phối trộn với men vi sinh. Lớp đệm được duy trì độ dày từ 15 - 20 cm, nhằm tạo môi trường thuận lợi để hệ vi sinh vật phát triển và phân hủy chất thải ngay trong chuồng nuôi.
Ông Phản cho biết, đệm lót phải được giữ ở độ ẩm phù hợp, không quá khô cũng không quá ướt. Khi bề mặt bị nén chặt, người nuôi cần đảo nhẹ để tạo độ thông thoáng, giúp hệ vi sinh hoạt động hiệu quả. Nhờ quy trình này, các khí gây mùi như amoniac và hydro sulfua gần như được loại bỏ. Dù
chuồng nuôi nằm sát khu vực sinh hoạt của gia đình nhưng không khí vẫn trong lành, kể cả vào những ngày mưa có độ ẩm cao. Không chỉ cải thiện môi trường sống, lớp đệm còn tạo điều kiện để đàn gà phát triển khỏe mạnh.
Theo kinh nghiệm của ông Phản, nhiệt độ lớp đệm cần duy trì trên 300C để hệ vi sinh phát huy hiệu quả cao nhất. Quá trình hoạt động của vi sinh vật tạo ra nguồn nhiệt tự nhiên, góp phần giữ ấm chuồng nuôi vào mùa đông và hạn chế sự phát triển của nhiều mầm bệnh. Nhờ vậy, sức đề kháng của đàn gà được cải thiện rõ rệt, các bệnh về đường hô hấp và tiêu hóa giảm đáng kể so với trước đây. Ngoài việc hạn chế ô nhiễm, đệm lót sinh học còn giúp giảm đáng kể chi phí và công lao động trong quá trình chăn nuôi. Nếu trước đây chuồng nuôi phải vệ sinh hằng ngày thì nay lớp đệm có thể sử dụng trong nhiều tháng, giúp người nuôi giảm thời gian dọn dẹp, tập trung nhiều hơn cho việc theo dõi sức khỏe đàn gà, lựa chọn giống và xây dựng khẩu phần dinh dưỡng phù hợp. Hiện trang trại của ông Phản luôn duy trì quy mô từ 700 - 1.000 con gà các loại. Nhờ áp dụng quy trình chăn nuôi khoa học,
tỷ lệ gà sống và đạt trọng lượng tiêu chuẩn đạt trên 93%. Sản phẩm gà giống, gà thương phẩm và trứng gà của gia đình được nhiều nhà hàng và người tiêu dùng trong, ngoài địa phương lựa chọn nhờ chất lượng ổn định. Theo ông Phản, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận từ mô hình đạt gần 200 triệu đồng mỗi năm.
Thực tế từ mô hình của gia đình ông Mai Văn Phản cho thấy, ứng dụng tiến bộ khoa học, đặc biệt là kỹ thuật đệm lót sinh học, đang mở ra hướng phát triển mới cho chăn nuôi gia cầm ở khu vực miền núi. Giải pháp này không chỉ góp phần giảm ô nhiễm môi trường, hạn chế phát sinh dịch bệnh mà còn nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất. Thời gian tới, gia đình ông Phản sẽ tiếp tục mở rộng quy mô chăn nuôi, đồng thời sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với các hộ dân có nhu cầu. “Tôi nhận thấy nuôi gà hiện nay không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà cần ứng dụng khoa học kỹ thuật. Khi môi trường được bảo đảm, đàn gà khỏe mạnh thì hiệu quả kinh tế cũng được nâng lên”, ông Phản chia sẻ.
MINH KHUÊ
Sở hữu một trong những trang trại gà thịt hiện đại bậc nhất tại Thụy Điển, ông Richard Limmergard đã xây dựng mô hình sản xuất bền vững và hiệu quả kinh tế cao. Trang trại gồm ba dãy chuồng, có sức chứa 380.000 gà thịt, kết hợp 340 ha đất canh tác.
Chuồng trại hiện đại
Ba khu chuồng được xây dựng ở những thời điểm khác nhau nhưng có thiết kế đồng nhất. Mỗi chuồng gồm tám ô nuôi, trong đó bốn ô rộng 20x150 m và bốn ô rộng 20x50 m, với tổng diện tích nền khoảng 16.000 m².
Hệ thống thông gió sử dụng thiết bị của Skov, hệ thống cho ăn của Chore-Time, trong khi sưởi ấm kết hợp đường ống nhiệt dọc tường và máy sưởi không khí Landmeco Air-Calori.
Toàn bộ các chi tiết trong chuồng đều được hoàn thiện cẩn thận, từ các điểm đấu nối điện được bịt kín, cửa vận hành êm ái
đến hệ thống bẫy chuột bố trí cả bên trong lẫn bên ngoài khu vực sản xuất. Kho chứa phân khô cũng được che phủ kín nhằm hạn chế côn trùng và động vật gây hại. “Ngay sau khi xuất bán gà, toàn bộ phân được chuyển
đến khu tập kết rồi đưa sang nhà máy khí sinh học. Sau đó chúng tôi vệ sinh sạch khu chứa. Trước đây, phân khô từng được lưu trữ tới một năm”, ông Richard cho biết. Sưởi bằng dăm gỗ tự sản xuất
Nguồn nhiệt cho toàn bộ trang trại được cung cấp từ lò đốt dăm gỗ công suất 1.500
Nuôi gà không kháng sinh, biến chất thải thành lợi nhuận
Không sử dụng kháng sinh suốt gần 25 năm, siết chặt an toàn sinh học và tận dụng toàn bộ phân gà để sản xuất khí sinh học, trang trại của nông dân Thụy Điển Richard Limmergard duy trì lợi nhuận khoảng 500.000 euro mỗi năm.
kW. Nhiên liệu là dăm gỗ được chế biến từ gỗ khai thác trong chính khu rừng của gia đình. Mỗi năm trang trại tiêu thụ khoảng 7.000 - 8.000 m³ dăm gỗ. Cạnh đó, hệ thống còn có lò đốt dầu với công suất tương đương để dự phòng. “Khi nhiệt độ xuống tới âm 20°C, không thể để gà con thiếu nhiệt dù chỉ trong thời gian ngắn”, ông Richard chia sẻ.
Không kháng sinh và an toàn sinh học
Đàn gà được nhập trong hai ngày liên tiếp. Sau khoảng bốn tuần nuôi, trang trại tiến hành bắt tỉa khoảng 20% số lượng khi gà đạt trọng lượng khoảng 1,65 kg/con. Một tuần sau, toàn đàn được xuất bán ở mức khoảng 2,3 kg/con. Tốc độ tăng trọng bình quân đạt khoảng 65 g/con/ngày.
Khâu bắt gà hoàn toàn tự động. Tỷ lệ hao hụt của đàn duy trì 2%, trong đó chỉ khoảng 0,5% xảy ra ở tuần đầu tiên. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đạt 1,48 dù hoàn toàn không sử dụng kháng sinh. Chủ trại chia sẻ: “Chúng tôi không có Campylobacter và đã nuôi gà suốt 24 năm mà không cần dùng kháng sinh. Tỷ lệ viêm gan bàn chân cũng rất thấp. Điểm đánh giá tổn thương gan bàn chân của đàn gà luôn dưới 5 trên thang điểm 200”. Theo ông Limmergard, yếu tố duy trì đàn gà khỏe mạnh chính là quy trình an toàn sinh học nghiêm ngặt. Khách đến tham quan không tiếp xúc với gia cầm trong ít nhất hai ngày trước đó. Nếu đã đến một trang trại khác trong ngày, dù không nuôi gia cầm, vẫn phải thay toàn bộ quần áo trước khi
vào khu chăn nuôi.
Mỗi chuồng đều có khu vực chuyển tiếp vệ sinh riêng. Người vào chuồng phải rửa tay, cởi giày dép bên ngoài, bước qua vạch ngăn rồi mới mang giày chuyên dụng của trang trại. Không chỉ khách, chính chủ trang trại và nhân viên cũng thực hiện đầy đủ quy trình này nhiều lần mỗi ngày.
100.000 EUR từ phân gà
Trước đây, khoảng một nửa lượng phân gà được sử dụng trên đồng ruộng của gia đình, phần còn lại bán với giá 30 euro/tấn. Một năm rưỡi trước, một doanh nghiệp Phần Lan xây dựng nhà máy khí sinh học quy mô lớn gần trang trại để sản xuất LNG (khí tự nhiên hóa lỏng) làm nhiên liệu cho xe tải và thu mua toàn bộ phân gà khô ngay sau khi xuất bán đàn, với giá khoảng 40 euro/tấn. Đồng thời, họ cung cấp miễn phí phân bón khô sau xử lý, có hàm lượng phốt pho thấp hơn nên có thể bón với lượng lớn hơn. Nhờ đó, trang trại vừa tăng lượng đạm cung cấp cho cây trồng, vừa thu thêm khoảng 100.000 euro mỗi năm từ phân gà. Theo ông Limmergard, doanh thu của trang trại ổn định ở mức khoảng 7,2 triệu euro mỗi năm. Biên lợi nhuận gộp luôn vượt 10%, mang lại khoản lợi nhuận xấp xỉ 500.000 euro mỗi năm. Phần lớn số tiền này tiếp tục được tái đầu tư vào cơ sở vật chất và công nghệ sản xuất. VŨ