Skip to main content

TGGC 88 22.5

Page 1


THẾ GIỚI GIA CẦM SỐ 88 - 5/2026

CƠ QUAN CHỦ QUẢN

Hiệp hội Gia cầm Việt Nam

HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP

TS. Nguyễn Thanh Sơn

TS. Nguyễn Quý Khiêm

Nhà báo Dương Xuân Hùng

Nhà báo Đỗ Huy Hoàn

TKTS Nguyễn Chi

TỔNG BIÊN TẬP

TS. Nguyễn Thanh Sơn

TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP

Nhà báo Đỗ Huy Hoàn

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành

CỘNG TÁC NỘI DUNG

Thu Hồng; Kim Tiến; Thùy Khánh; Anh Thư Nguyễn Hùng; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Lê Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Sao Mai; Quỳnh Nga; Vũ Mưa...

MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai

TÒA SOẠN

P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KĐT An Hưng, phường La Khê, TP Hà Nội.

Điện thoại: (024) 320 1068; Fax: (024) 320 1068; Email: thegioigiacam@gmail.com

TRỊ SỰ Nguyễn Thanh Đức

VĂN PHÒNG TP HỒ CHÍ MINH

Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định Điện thoại: 028.62777616

GIẤY PHÉP XUẤT BẢN:

Số 543/GP-BTTT ngày 05/12/2016

Số 74/GP-BVHTTDL ngày 14/07/2025

Khuôn khổ: 23 x 30cm

Nơi in: Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM)

LIÊN HỆ QUẢNG CÁO:

Ngọc Ánh: 0963.555.554 - Bảo Ngọc: 098.999.1977

Vũ Na: 0978.233.492

Email: quangcaoncn@gmail.com

Liên hệ đặt báo: Ms: Ngọc Ánh; DĐ: 0963.555.554

Email: phathanhtggc@gmail.com

SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936

Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

Việt Nam (BIDV), Chi nhánh Tràng An

Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 01202001

Địa chỉ ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội

Thưa quý vị bạn đọc!

Năm 2026 được dự báo có nhiều thách thức khi xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy chi phí logistics và giá vật tư tăng cao. Điều này làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa và tạo áp lực lớn lên cả doanh nghiệp lẫn nông dân.

Với lĩnh vực gia cầm, ngành hàng này cũng đang chịu sức ép chưa từng có từ biến động thị trường và địa chính trị toàn cầu. Chi phí đầu vào leo thang, sức mua suy yếu, trong khi áp lực cạnh tranh và rủi ro từ thị trường quốc tế ngày càng gia tăng, đẩy doanh nghiệp vào thế “gồng mình” duy trì sản xuất. Nếu chiến sự Trung Đông tiếp tục leo thang kéo dài đến hết năm 2026 và sang năm 2027, thì ngành chăn nuôi gia cầm sẽ đối mặt với nhiều khó khăn thách thức lớn. Giá TĂCN dự báo sẽ tăng đột biến 20 - 30%. Chi phí nhập khẩu nguyên liệu (ngô, đậu tương) chiếm tới 65 - 90% cấu thành giá TĂCN sẽ bị đẩy lên cao do cước vận tải biển tăng từ 25 - 35%. Nếu giá dầu vượt 150 USD/thùng vào cuối năm 2026 sẽ khiến chi phí sản xuất và vận chuyển nội địa tăng mạnh, bào mòn hoàn toàn lợi nhuận của người chăn nuôi. Hệ quả hàng loạt hộ chăn nuôi nhỏ lẻ (chiếm tỷ trọng lớn tại Việt Nam) phải treo chuồng do không thể bù lỗ, dẫn đến đứt gãy nguồn cung cục bộ trong năm 2027. Xuất khẩu một số mặt hàng (thuốc thú y, phụ gia) sang Trung Đông (thị trường tiềm năng 1,74 tỷ USD) và EU có thể đình trệ nếu phí bảo hiểm vận tải quá cao.

Để ứng phó, ngành gia cầm Việt Nam cần chuyển dịch từ chiến lược “tăng trưởng sản lượng” sang “tăng cường khả năng chống chịu”. Như chia sẻ của ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam trong bài viết với tiêu đề: “Ngành gia cầm: Giữ nhịp sản xuất trước “bão kép”” trên ấn phẩm Thế giới Gia cầm phát hành kỳ tháng 5 này; doanh nghiệp hãy phát huy vai trò dẫn dắt bằng tư duy thị trường và tinh thần chia sẻ rủi ro; người chăn nuôi cần trụ vững bằng kỷ cương an toàn sinh học và tối ưu hóa chi phí. Sự chuyên nghiệp của hiện tại chính là tấm khiên vững chãi nhất bảo vệ tài sản tương lai. Khó khăn chính là phép thử để đào thải những tư duy cũ kỹ. Với niềm tin sắt đá, sự liên kết chặt chẽ và nỗ lực đổi mới không ngừng, ngành gia cầm chắc chắn sẽ hồi sinh mạnh mẽ hơn sau “cơn bão”.

Nhìn ra thị trường thế giới, những xung đột về địa chính trị đã làm chao

đảo chuỗi cung ứng gia cầm toàn cầu. Ở các thị trường xuất khẩu lớn như Brazil, việc chuyển hướng tàu để tránh vùng xung đột làm tăng mạnh cước vận tải và kéo dài thời gian giao hàng, tiếp tục bào mòn hiệu quả chuỗi cung ứng. Theo các chuyên gia, áp lực với ngành gia cầm càng trở nên gay gắt do phụ thuộc mạnh vào năng lượng và nguyên liệu nhập khẩu. Chừng nào thị trường năng lượng còn bất ổn, chuỗi cung ứng gia cầm toàn cầu vẫn sẽ vận hành trong trạng thái căng thẳng, và năng lực thích ứng sẽ trở thành thước đo sống còn của mỗi quốc gia.

Bên cạnh những gam màu khá trầm lắng trong bức tranh ngành gia cầm, thì tín hiệu tích cực về thị trường xuất khẩu trở thành điểm sáng khi Hàn Quốc đã chính thức công bố mở cửa thị trường đối với sản phẩm thịt gà chế biến của Việt Nam. Đây được xem là bước tiến mới trong hợp tác nông nghiệp song phương giữa hai quốc gia; đồng thời, mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm tại các thị trường có tiêu chuẩn cao.

Đó là một trong những nội dung chính được bàn luận, chia sẻ trên ấn phẩm phát hành kỳ tháng 5 này, mời quý độc giả đón đọc!

Trân trọng!

Giảm tối thiểu 30% số ổ dịch cúm gia cầm

Đây là một trong các mục tiêu được đề ra tại Kế hoạch quốc gia phòng, chống các bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng và dịch tả heo châu Phi giai đoạn 2026 - 2030 được Phó Thủ tướng

Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký tại Quyết định số 779/QĐ-TTg ngày 2/5/2026.

Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch là nâng cao năng lực quản lý, giám sát, xét nghiệm, cảnh báo sớm, điều tra dịch tễ, thực hành an toàn sinh học, tiêm phòng, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh; từng bước xây dựng hệ thống phòng, chống dịch bệnh động vật hiện đại, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Kế hoạch đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp sẽ được thực hiện bao gồm: Hoàn thiện thể chế; Chăn nuôi an toàn sinh học; Phòng bệnh bằng vaccine; Giám sát dịch bệnh; Xử lý khi có dịch; Kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh

Mở rộng đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng; trong đó, bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Cụ thể: Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 4 tháng đạt hơn 23 tỷ USD

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 4 ước đạt 6,05 tỷ USD, giảm 3,8% so với tháng trước và giảm nhẹ 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Dù có dấu hiệu chững lại trong ngắn hạn, tính chung 4 tháng đầu năm, xuất khẩu toàn ngành vẫn đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ 2025. Trong cơ cấu, nhóm nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với 12,16 tỷ USD, tăng 1,5%. Thủy sản đạt 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%, là một trong những nhóm có mức tăng trưởng khá. Lâm sản đạt 5,82 tỷ USD, tăng nhẹ 0,8%, trong khi sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng đột biến 45,5%, đạt 245 triệu USD. Đáng chú ý, nhóm đầu vào sản xuất tăng tới 66,2%, phản ánh nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu đang tăng mạnh.

ANH

thú y; Xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh; Chẩn đoán, xét nghiệm, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi; Hợp tác quốc tế.

Việt

Nam xuất khẩu 4,6 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt

Theo thống kê sơ bộ từ Cục Hải quan, trong quý I, Việt Nam xuất khẩu 4,6 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, đạt kim ngạch 33,32 triệu USD, giảm 13,7% về lượng nhưng tăng 11,3% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Thịt và các sản phẩm từ thịt của nước ta đã xuất khẩu sang 21 thị trường, nhiều nhất là Hồng Kông. Các thị trường truyền thống như Canada, Malaysia, Hàn Quốc và Hà Lan có xu hướng giảm, ngược lại Trung Quốc, Pháp, Singapore, Nhật Bản, Mỹ và Campuchia tăng trưởng tích cực. Về cơ cấu mặt hàng, thịt heo tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 43,8% về lượng và 54,53% về trị giá, đạt 2,02 nghìn tấn, trị giá 18,17 triệu USD. Tiếp đến là thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm, chiếm 37,02% về lượng và 29,84% về trị giá. Nhóm thịt khác và phụ phẩm từ các động vật khác chiếm 18,71% về lượng và 13,98% về trị giá.

7 dự án khuyến nông chăn nuôi - thú y thực hiện từ năm tới

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định 1437/ QĐ-BNNMT phê duyệt 7 dự án khuyến nông Trung ương lĩnh vực chăn nuôi - thú y giai đoạn 2027 - 2029. Các dự án triển khai tại nhiều địa phương, tập trung vào gia cầm, gia súc ăn cỏ và vật nuôi đặc sản, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn dịch bệnh và thu nhập người chăn nuôi. Các mô hình gồm: Nuôi gà lấy trứng VietGAHP ứng dụng công nghệ số; Chăn nuôi heo an toàn sinh học gắn liên kết tiêu thụ (hiệu quả tăng 10 - 15%); Phát triển bò sinh sản chất lượng cao; Nuôi dê hữu cơ; Chăn nuôi gia cầm bản địa; Xử lý chất thải giảm phát thải; Nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh.

MINH NGUYỆT

NAM LINH

Đề xuất phạt tới 100 triệu đồng khi dùng động vật bệnh chế biến thực phẩm

Bộ Y tế đề xuất nâng mạnh mức xử phạt vi phạm an toàn thực phẩm, trong đó cơ sở sử dụng động vật chết, mắc bệnh hoặc nguyên liệu không rõ nguồn gốc có thể bị phạt tới 100 triệu đồng. Theo dự thảo nghị định đang được thẩm định, mức phạt 60 - 80 triệu đồng áp dụng với lô hàng vi phạm dưới 10 triệu đồng; từ 80 - 100 triệu đồng nếu giá trị từ 10 triệu đồng trở lên hoặc sử dụng hóa chất cấm. Ngoài ra, hành vi dùng nguyên liệu không đạt kiểm dịch bị phạt 3060 triệu đồng; sử dụng hàng hết hạn có thể bị phạt gấp nhiều lần giá trị lô hàng. Đề xuất được đưa ra khi quý I/2026, cả nước ghi nhận 36 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng mạnh so với cùng kỳ. Cơ quan chức năng nhận định, mức phạt hiện hành chưa đủ răn đe, cần siết chặt để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

THÙY KHÁNH

Triển khai 20 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 808/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho 10 bộ, cơ quan trung ương triển khai 20 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm phát triển các công nghệ chiến lược quốc gia. Ngoài nhóm công nghệ số, Quyết định cũng đặt mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, năng lượng, giao thông và giáo dục. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản thế hệ mới bằng công nghệ gen, tế bào và công nghệ sinh học; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; làm chủ vaccine thú y thế hệ mới. Theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành chủ trì phải phối hợp với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương để xây dựng nhiệm vụ cụ thể, xác định rõ sản phẩm đầu ra và hoàn thành trước ngày 30/6/2026.

Đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính ngành nông nghiệp

Năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt trên 74 tỷ USD. Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, mục tiêu này là thách thức lớn nhưng cũng là động lực để toàn ngành đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, hiện đại và bền vững hơn. Thời gian tới, Bộ sẽ tập trung theo dõi sát diễn biến thị trường; hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về logistics, tín dụng; thúc đẩy xúc tiến thương mại có trọng tâm và mở rộng thị trường mới. Song song đó là tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tỷ trọng chế biến sâu, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và khai thác hiệu quả các thị trường tiềm năng như Halal, Trung Đông, châu Phi và Nam Mỹ. Ông Hùng cũng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, nhất là những thủ tục có thể cắt giảm ngay để giảm chi phí và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu.

THIÊN BÌNH

Xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi xanh

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ngành chăn nuôi cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là tổ chức lại sản xuất và phát triển chuỗi giá trị. Đặc biệt, cần thúc đẩy chăn nuôi theo chuỗi khép kín, tăng cường liên kết giữa các khâu từ con giống, thức ăn, chăn nuôi đến giết mổ, chế biến và phân phối. Đây là yếu tố then chốt giúp kiểm soát chất lượng, giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Việc xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi xanh, hiện đại, an toàn dịch bệnh không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài của ngành nông nghiệp. Khi các “mắt xích” trong chuỗi giá trị được liên kết chặt chẽ, ứng dụng công nghệ được đẩy mạnh, sản xuất được tổ chức theo hướng chuyên nghiệp, ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững, đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và thị trường quốc tế.

Thông tin từ Tiểu ban Khoa học, công nghệ về thuốc, chế phẩm sinh học và vaccine thú y tại Hội nghị khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ nhất năm 2026 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức vừa qua; các chuyên gia của Tiểu ban đã thống nhất nhiều định hướng quan trọng cho giai đoạn tới, trong đó phát triển vaccine thế hệ mới được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể, các hướng nghiên cứu sẽ tập trung vào vaccine tái tổ hợp, vaccine vector, vaccine ADN, ARN, vaccine peptide... Cùng đó, việc phát triển vaccine đa giá tiếp tục được chú trọng, nhằm đáp ứng yêu cầu phòng nhiều bệnh trong cùng một sản phẩm, phù hợp với thực tiễn chăn nuôi quy mô lớn. Một định hướng quan trọng khác là tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại trong tạo chủng giống, thông qua các kỹ thuật miễn dịch học phân tử và công nghệ biểu hiện protein tiên tiến. Đây được xem là chìa khóa để nâng cao chất lượng và hiệu quả của vaccine thế hệ mới.

HOÀI PHƯƠNG

Doanh nghiệp gặp khó với áp lực chi phí tăng cao

Theo ghi nhận dù lãi suất huy động đã được điều chỉnh giảm khá nhanh, nhưng mặt bằng lãi suất cho vay vẫn gần như “đứng yên”, thậm chí neo ở mức cao khiến doanh nghiệp và người vay vốn rơi vào thế khó. Đơn cử như với ngành hàng chăn nuôi; ông Trương Chí Thiện, Tổng Giám đốc Công ty CP Thực phẩm Vĩnh Thành Đạt nhận định, lãi suất tăng cùng với giá nhiên liệu leo thang đã kéo theo chi phí vận chuyển và nguyên liệu tăng theo, tạo áp lực lớn lên hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn theo bà Nguyễn Thị Thu, Tổng Giám đốc Công ty CP Sản xuất Thực phẩm Anh Kim (AK FOOD), trước đây, doanh nghiệp vay với lãi suất dao động từ 6 - 7%/năm, nhưng hiện nhiều ngân hàng đã điều chỉnh lên gần 9%. Với đơn vị vận hành bằng 100% vốn vay như AK FOOD, chi phí tài chính tăng nhanh đã làm đảo lộn toàn bộ kế hoạch sản xuất kinh doanh. Trước áp lực chi phí ngày càng lớn, cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng vào các giải pháp điều tiết lãi suất phù hợp hơn.

BẮC NINH

Tiêm vaccine cho 100% đàn vật nuôi vụ xuân hè 2026

Sở Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh triển khai tiêm phòng đại trà toàn bộ gia súc, gia cầm từ ngày 15/4 đến 10/5/2026, mục tiêu đạt tỷ lệ 100% trong diện tiêm. Đối tượng gồm trâu, bò, heo, chó, mèo và các loại gia cầm tại cả trang trại và hộ gia đình, với các vaccine bắt buộc như lở mồm long móng, viêm da nổi cục, dịch tả heo, cúm gia cầm và bệnh dại. Ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, phần còn lại do người chăn nuôi tự chi trả. Các địa phương phải rà soát tổng đàn, huy động lực lượng thú y cơ sở và vận động người dân tích cực tham gia, nhằm tạo miễn dịch chủ động và bảo đảm nguồn cung thực phẩm an toàn cho tỉnh.

THANH HÓA

Hướng đi bền vững từ mô hình hợp tác xã gà quê Xuân Hồng

Từ những người nông dân vốn quen làm riêng lẻ, những hộ dân tại thôn Xuân Hồng, xã Thọ Xuân đã cùng nhau phát triển quy trình nuôi gà bài bản và ổn định hơn, nhất là khi HTX Sản xuất và Chế biến gà quê Xuân Hồng được thành lập vào cuối năm 2024. Hiện, HTX duy trì khoảng 120.000 con mỗi lứa, được nuôi gối đầu giữa các hộ. Cách làm này giúp nguồn cung luôn đều đặn, tránh tình trạng dồn ứ khi xuất bán. Tháng 11/2025, khi sản phẩm gà quê Xuân Hồng được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, đây không chỉ là sự ghi nhận quy trình nuôi mà còn mở cánh cửa đưa sản phẩm vào các kênh phân phối hiện đại.

HÀ TĨNH

MỘC LAN

Đề nghị hỗ trợ hơn 100 tỷ đồng phòng, chống dịch

bệnh vật nuôi

UBND tỉnh Hà Tĩnh đã báo cáo nhu cầu kinh phí phòng, chống dịch bệnh năm 2025 với tổng số gần 143 tỷ đồng. Các khoản hỗ trợ tập trung vào các dịch bệnh nguy hiểm như dịch tả heo châu Phi, viêm da nổi cục trên trâu bò và lở mồm long móng. Đáng chú ý, dịch tả heo châu Phi trong năm 2025 đã lan rộng ra 65 xã, phường, khiến hơn 52.000 con heo phải tiêu hủy, thiệt hại ước tính lên đến 142 tỷ đồng. Do nguồn kinh phí địa phương gặp nhiều khó khăn, UBND tỉnh Hà Tĩnh đề nghị Bộ Tài chính xem xét, trình cấp có thẩm quyền hỗ trợ tỉnh số tiền 100,1 tỷ đồng để triển khai các chính sách theo quy định.

HUYỀN LINH

QUẢNG NGÃI

Virus cúm gia cầm H5N1 còn lưu hành

trong chợ

Từ đầu năm 2026 đến nay, tỉnh ghi nhận dịch cúm gia cầm tại

5 hộ chăn nuôi thuộc 4 xã, phường, khiến hơn 13.300 con gia cầm phải tiêu hủy với tổng trọng lượng trên 23 tấn. Dù các ổ dịch đã

được khống chế, không để lây lan diện rộng, nguy cơ bùng phát trở lại vẫn rất cao. Đáng lo ngại, kết quả giám sát trong 3 tháng

đầu năm 2026 phát hiện 15/84 mẫu dương tính với virus H5N1 và

1 mẫu dương tính với H5N6 tại các chợ buôn bán gia cầm sống, cho thấy mầm bệnh vẫn đang lưu hành và tiềm ẩn nguy cơ lây sang người. Trước tình hình đó, UBND tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát tổng đàn, đẩy nhanh tiêm vaccine cúm gia cầm đợt 1 năm 2026 với tỷ lệ đạt trên 80%, đồng thời kiểm soát chặt vận chuyển và buôn bán gia cầm không rõ nguồn gốc...

KHÁNH HÒA

Hút đầu tư, nâng tầm chăn nuôi công nghệ cao

Ngành chăn nuôi tỉnh Khánh Hòa đang chuyển mình mạnh mẽ với 368 trang trại tập trung, nhiều cơ sở đã vận hành hệ thống tự động hóa hoàn toàn từ cung cấp thức ăn, làm mát chuồng trại đến xử lý chất thải khép kín. Toàn tỉnh hiện có 22 cơ sở được công nhận an toàn dịch bệnh đối với cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi và lở mồm long móng. Tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ dạng thô, giá trị gia tăng thấp. Để tháo gỡ, tỉnh đang xây dựng Nghị quyết hỗ trợ đầu tư cơ sở giết mổ tập trung giai đoạn 2026 - 2030, trong đó nhà đầu tư có thể

hỗ trợ tới 60% tổng mức đầu tư, tối đa 15 tỷ đồng.

VĨNH LONG Chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu vaccine, dịch

bệnh phức tạp

Ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đang đối mặt với thách thức lớn khi chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán vẫn chiếm tới 70 - 80% tổng đàn. Phần lớn hộ nuôi chưa chú trọng an toàn sinh học, tỷ lệ tiêm phòng thấp, người dân còn ngại khai báo dịch bệnh kịp thời. Từ đầu năm 2026, dịch tả heo châu Phi đã xảy ra tại 10 hộ thuộc 8 xã, phường, buộc phải tiêu hủy gần 20 tấn heo. Công tác kiểm soát giết mổ cũng gặp khó khi toàn tỉnh còn 214 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, lực lượng thú y mỏng và một số hộ vẫn trốn tránh quy định. Trước tình hình đó, tỉnh đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt nguồn động vật ra vào địa bàn, đẩy mạnh tuyên truyền, bố trí cán bộ thú y phụ trách từng xã và xây dựng lộ trình phát triển hệ thống giết mổ tập trung giai đoạn 2026 - 2030, từng bước xóa bỏ các điểm giết mổ nhỏ lẻ không đảm bảo quy định.

TRẦN VÂN

TP HỒ CHÍ MINH

Triển khai Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2026 - 2030

UBND TP Hồ Chí Minh vừa ban hành Quyết định số 2616/QĐUBND phê duyệt Kế hoạch triển khai Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2026 - 2030. Mục tiêu đến năm 2030, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi bình quân đạt từ 2 - 3%/năm, tỷ trọng giá trị sản phẩm chăn nuôi có ứng dụng công nghệ cao đạt 70 - 80%, tổng đàn heo đạt 1.370.000 con, đàn bò 98.000 con và đàn gia cầm 25.000.000 con. Sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng đạt 145.600 tấn/năm, thịt bò hơi xuất chuồng đạt 47.200 tấn/năm, thịt gia cầm hơi đạt 344.000 tấn/năm, trứng gia cầm đạt 349.000.000 quả/năm. Phấn đấu 100% các trang trại chăn nuôi quy mô lớn được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi và được công nhận an toàn dịch bệnh động vật.

GÓC NHÌN

Từ khủng hoảng đến tái cấu trúc

☐ AMIN MOHSENI-CHERAGHLOU

Chuyên gia kinh tế vĩ mô, Trung tâm Địa kinh tế, Hội đồng Đại Tây Dương

Cuộc chiến Iran không chỉ đẩy giá dầu tăng vọt mà còn mở ra một vòng xoáy rủi ro mới cho kinh tế toàn cầu, trong đó nông nghiệp và nhôm trở thành những mắt xích dễ tổn thương.

Bài học từ xung đột Nga - Ukraine cho thấy cú sốc năng lượng chỉ là khởi đầu; áp lực lạm phát kế tiếp nhiều khả năng đến từ phân bón, lương thực và vật liệu công nghiệp cơ bản.

Nông nghiệp hiện đại phụ thuộc lớn vào phân bón giàu nitơ, trong khi Vịnh Ba Tư cung cấp gần một nửa lượng urê đường biển và khoảng 30% amoniac toàn cầu; một phần ba thương mại phân bón phải đi qua eo biển Hormuz. Tuyến vận tải này gián đoạn khiến giá urê tăng hơn 50% chỉ trong ba tuần.

Khủng hoảng xảy ra đúng mùa gieo trồng ngô ở Bắc bán cầu. Mỹ chiếm khoảng một phần ba sản lượng ngô thế giới phụ thuộc nguồn phân bón nhập qua Vịnh Mexico sau hành trình 30 - 45 ngày từ Vịnh Ba Tư. Giới phân tích dự báo, nông dân Mỹ có thể chuyển tới 1,5 triệu mẫu từ ngô sang đậu tương, kéo theo tác động dây chuyền lên giá thực phẩm toàn cầu đến 2026 - 2027. Khi ngô là đầu vào chính của ngành chăn nuôi, giá thịt và sữa có nguy cơ tiếp tục leo thang, gia tăng gánh nặng cho nhóm thu nhập thấp vốn dành tỷ trọng lớn thu nhập cho thực phẩm.

Các nước đang phát triển dễ tổn thương hơn do thiếu dự trữ và dư địa tài khóa để trợ giá. Tại châu Phi cận Sahara, chỉ cần phân bón tăng giá nhẹ cũng có thể làm giảm diện tích gieo trồng. Chương trình Lương thực Thế giới cảnh báo, nếu xung đột kéo dài,

thêm 45 triệu người có thể rơi vào cảnh đói kém.

Song song đó, ngành nhôm cũng chịu sức ép. Các nước Vùng Vịnh chiếm khoảng 20% xuất khẩu nhôm thô và 8% sản lượng toàn cầu. Giá nhôm từng tăng 15% sau biến động địa chính trị, hiện vẫn cao hơn khoảng 6% so với trước xung đột. Phần chi phí gia tăng này cuối cùng sẽ được chuyển vào giá xe hơi, máy bay, thiết bị gia dụng và hàng điện tử, tiếp tục nuôi dưỡng làn sóng lạm phát toàn cầu.

Nhìn tổng thể, cú sốc Iran là mắt xích mới trong chuỗi biến động lớn của kinh tế toàn cầu năm năm qua: đại dịch COVID-19, chiến sự Nga - Ukraine và nay là eo Hormuz. Điểm chung của các khủng hoảng này là sự phụ thuộc quá mức vào các “điểm nghẽn” địa lý hoặc một số ít nhà cung cấp đối với những đầu vào chiến lược như năng lượng, lúa mì, phân bón hay kim loại cơ bản. Khi một mắt xích bị tổn thương, toàn bộ hệ thống chao đảo.

Giải pháp không nằm ở phản ứng ngắn hạn, mà ở tái cấu trúc chiến lược chuỗi cung ứng. Thứ nhất, các quốc gia cần đa dạng hóa nguồn cung phân bón, khí đốt và kim loại, giảm phụ thuộc vào một hành lang vận tải hay một khu vực địa chính trị nhạy cảm. Điều này bao gồm khuyến khích đầu tư vào sản xuất trong nước, mở rộng hợp tác với các nhà cung cấp thay thế và thúc đẩy thương mại khu vực. Thứ hai, xây dựng và duy trì dự trữ chiến lược đối với các đầu vào thiết yếu như phân bón, ngũ cốc và kim loại công nghiệp. Nếu dự trữ dầu mỏ chiến lược đã trở thành thông lệ ở nhiều

nước, thì dự trữ phân bón và nguyên liệu nông nghiệp cũng cần được coi là một phần của an ninh quốc gia trong bối cảnh mới. Thứ ba, đầu tư vào công nghệ và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Nông nghiệp chính xác, giống cây trồng ít phụ thuộc nitơ, tái chế kim loại và vật liệu thay thế có thể giảm cường độ sử dụng đầu vào nhập khẩu. Đây không chỉ là giải pháp môi trường mà còn là chiến lược giảm thiểu rủi ro địa chính trị.

Cuối cùng, cần tăng cường phối hợp đa phương nhằm giữ cho các tuyến vận tải trọng yếu luôn thông suốt và hạn chế việc sử dụng thương mại như công cụ gây sức ép. Trong một thế giới mà các cú sốc nguồn cung không còn là ngoại lệ hiếm hoi mà đã trở thành trạng thái “bình thường mới”, khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng quyết định mức độ ổn định kinh tế.

Xây dựng hệ thống cung ứng đa dạng, linh hoạt và có chiến lược ứng phó không còn là lựa chọn tối ưu hóa chi phí, mà là điều kiện tiên quyết để

bảo vệ tăng trưởng và an ninh lương thực toàn cầu. Nếu không hành động

từ bây giờ, thế giới sẽ tiếp tục trượt dài từ khủng hoảng này sang khủng

hoảng khác, với cái giá ngày càng đắt đỏ. ☐

MỞ

CỬA THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC

Nâng tầm giá trị gà Việt

Vừa qua, ngày 22/4, Hàn Quốc đã chính thức công bố mở cửa thị trường đối với sản phẩm thịt gà chế biến của Việt Nam; đây được xem là bước tiến mới trong hợp tác nông nghiệp song phương giữa hai quốc gia. Đồng thời, mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm tại các thị trường có tiêu chuẩn cao.

Cần cú hích tiêu thụ

Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng đàn gia cầm của Việt Nam tăng đều qua các năm, từ khoảng 512,7 triệu con lên gần 585 triệu con. Cùng đó, sản lượng thịt gia cầm cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, từ

1,87 triệu tấn năm 2020 lên khoảng 2,6 triệu tấn năm 2025, tương đương mức tăng gần 40% chỉ trong 5 năm. Động lực tăng trưởng này được nhận định là đến từ chu kỳ sản xuất ngắn, khả năng tái đàn nhanh và nhu cầu tiêu dùng ổn định, đặc biệt trong bối cảnh thị trường có xu hướng chuyển dịch từ thịt đỏ sang thịt trắng.

Tuy nhiên, thực tế thịt gà nhập khẩu hiện vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn cung trong nước, đặc biệt ở phân khúc thịt gà trắng. Điều này tạo áp lực cạnh tranh không nhỏ đối với sản phẩm nội địa, nhất là trong bối cảnh năng lực chế biến sâu và xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.

Trong bối cảnh đó, việc mở rộng thị trường xuất khẩu được xem là “chìa khóa” để giải bài toán đầu ra, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng cho ngành chăn nuôi. Những tín hiệu tích cực đã xuất hiện ngay từ đầu năm 2026, khi xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam đạt hơn 23 triệu USD trong 2 tháng đầu năm, tăng mạnh so với cùng kỳ. Nhiều thị trường như Nhật Bản, Singapore, Mỹ hay Campuchia ghi nhận mức tăng

trưởng khả quan, cho thấy dư địa mở rộng xuất khẩu vẫn còn lớn.

Ngày 21/4, trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của Tổng thống Hàn Quốc

Lee Jae Myung, phu nhân Kim Hae Kyung

cùng đoàn đại biểu cấp cao tại Việt Nam, tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực thú y và kiểm dịch động

vật. Việc ký kết diễn ra sau khi hai bên hoàn tất đàm phán mở cửa thị trường đối với thịt gà chế biến. Theo đó, sản phẩm thịt gà chế biến của Việt Nam có thể xuất khẩu sang

Hàn Quốc, đồng thời sản phẩm tương ứng

của Hàn Quốc cũng được xuất khẩu sang

Việt Nam.

Tiếp đó, ngày 22/4, Bộ Nông nghiệp và

Môi trường phối hợp với Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Phát triển nông thôn Hàn

Quốc tổ chức lễ công bố mở cửa thị trường thịt gà chế biến giữa hai nước tại Hà Nội. Kết quả này không chỉ mang ý nghĩa về thương mại, mà còn cho thấy hai bên đang từng bước củng cố cơ chế phối hợp trong kiểm dịch, giám sát chất lượng và hoàn thiện các yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm có nguồn gốc động vật. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn, việc thiết lập được khuôn khổ hợp tác rõ ràng giữa cơ quan quản lý hai nước được

xem là nền tảng quan trọng để mở rộng dư địa cho doanh nghiệp. Phát biểu tại sự kiện, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, trong giai đoạn đầu, mỗi nước sẽ có hai doanh nghiệp được phép xuất khẩu thịt gà chế biến. Theo Bộ trưởng, đây là bước khởi đầu để tiếp tục mở rộng quy mô trong thời gian tới, tạo cơ hội thêm cho nhiều doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu của ngành chăn nuôi và chế biến thực phẩm Việt Nam.

Nâng tầm vị thế

Ông Pawalit Ua-Amornwanit, Tổng Giám đốc C.P. Việt Nam cho rằng, việc tiếp cận thị trường Hàn Quốc là kết quả của quá trình hội nhập và nâng cấp năng lực sản xuất, chế biến trong nhiều năm qua. Hiện doanh nghiệp đang vận hành tổ hợp chế biến gà

xuất khẩu tại Bình Phước với mô hình khép kín “Feed - Farm - Food”, cho phép kiểm soát

toàn diện chuỗi giá trị, từ con giống, thức

ăn đến chế biến và phân phối. Nhờ mô hình này, sản phẩm của doanh nghiệp đã có mặt tại nhiều thị trường khó tính như Nhật Bản, Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc).

Đây cũng là lợi thế để tiếp tục đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường Hàn Quốc và các thị trường quốc tế khác. Theo ông Pawalit Ua-Amornwanit, việc sản phẩm thịt gà chế biến của Việt Nam có thêm cơ hội tiếp cận thị trường Hàn Quốc sẽ góp phần nâng vị thế của ngành chăn nuôi và chế biến thực phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Ở góc độ chính sách, các chuyên gia cho rằng, mở cửa thị trường không chỉ giúp tăng kim ngạch xuất khẩu, mà còn tạo áp lực tích cực buộc ngành chăn nuôi phải chuyển đổi. Từ chỗ tập trung vào sản xuất thô, ngành sẽ phải đẩy mạnh chế biến sâu, nâng cao tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển theo chuỗi giá trị khép kín.

Đồng thời, việc tham gia vào các thị trường có tiêu chuẩn cao cũng đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống kiểm dịch, nâng cấp hạ tầng chế biến, xây dựng thương hiệu và đặc biệt là nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, để tận dụng và khai thác tối đa lợi thế này, theo các chuyên gia, yếu tố then chốt trong giai đoạn tới là tăng cường an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh và ứng dụng công nghệ trong chăn nuôi. Đồng thời, cần phát triển mạnh các mô hình sản xuất theo chuỗi nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm thiểu rủi ro thị trường. Mặt khác, việc hoàn thiện khung pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật cũng đóng vai trò quan trọng. Thực tế cho thấy, dù Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng để đáp ứng yêu cầu của các thị trường cao cấp, cần tiếp tục nâng cấp hệ thống tiêu chuẩn, đặc biệt trong lĩnh vực kiểm dịch, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Với nền tảng hợp tác ngày càng bền chặt, thị trường nông sản Việt Nam - Hàn Quốc đang hướng tới một tương lai phát triển bền vững. Sự chủ động từ cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp hứa hẹn sẽ mang lại lợi ích thiết thực, đa dạng hóa lựa chọn cho người tiêu dùng và tăng cường vị thế của nông sản Việt trên bản đồ thế giới. VÂN ANH

VĂN BẢN MỚI

☐ Ngày 3/3/2026, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Công văn số 1975/UBNDNN, yêu cầu các địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm công tác tiêm phòng vaccine và tăng cường phòng, chống dịch bệnh động vật trong năm 2026. Kế hoạch tiêm phòng được triển khai theo hai đợt chính: vụ Xuân từ 15/3 đến 15/4/2026 và vụ Thu từ 15/9 đến 15/10/2026, đảm bảo khoảng cách giữa hai đợt từ 4 - 6 tháng. Riêng vaccine dại chó và viêm da nổi cục trâu, bò được tiêm mỗi năm một lần và lồng ghép vào vụ Xuân; các tháng còn lại tổ chức tiêm bổ sung.

☐ Ngày 29/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 17/2026/NQ-CP cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Theo đó, 15 lĩnh vực điều chỉnh gồm: thủy sản và kiểm ngư; lâm nghiệp và kiểm lâm; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; đo đạc bản đồ và viễn thám; đất đai; thủy lợi; tài nguyên nước; môi trường; quản lý tổng hợp biển và hải đảo; địa chất và khoáng sản; khuyến nông; biến đổi khí hậu; trồng trọt và bảo vệ thực vật; chăn nuôi và thú y; khí tượng thủy văn. Việc cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh phải bảo đảm tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; tăng tính chủ động của chính quyền địa phương; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản trị hành chính.

☐ Ngày 4/5/2026 UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 55/2026/ QĐ-UBND quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đến năm 2030. Theo đó, quy định mật độ chăn nuôi tối đa đến năm 2030 là 1,2 đơn vị vật nuôi/ha đất nông nghiệp. Trên cơ sở đó, từng xã, phường được quy định mức mật độ cụ thể, phù hợp với điều kiện sản xuất, môi trường sinh thái và quy hoạch sử dụng đất tại địa phương. Việc phân bổ mật độ chăn nuôi theo từng địa bàn nhằm kiểm soát quy mô đàn vật nuôi, giảm áp lực lên môi trường, hạn chế ô nhiễm và dịch bệnh, đồng thời tạo điều kiện phát triển ngành chăn nuôi theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2026, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

☐ Ngày 5/5/2026, UBND tỉnh Hà Tĩnh có Công văn số 3817/UBND-NL5 về việc tập trung công tác phòng, chống dịch bệnh và hoàn thành tiêm phòng vaccine đợt 1 năm 2026 cho đàn vật nuôi. Theo đó, yêu cầu đẩy nhanh tiến độ tiêm vắc xin phòng bệnh đợt 1 năm 2026, bảo đảm tối thiểu 80% đàn vật nuôi được tiêm đủ, đúng loại vaccine và hoàn thành trước ngày 30/5/2026. Cùng với đó, tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu rõ nguy cơ dịch bệnh, tác dụng của tiêm phòng và các biện pháp bảo vệ đàn vật nuôi. Người chăn nuôi được khuyến cáo thực hiện nghiêm các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học; vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại; sử dụng con giống, thức ăn, thuốc thú y có nguồn gốc rõ ràng; chỉ tái đàn khi bảo đảm an toàn dịch bệnh. Đặc biệt, cần thực hiện nguyên tắc “5 không”: không giấu dịch; không vận chuyển động vật chết, mắc bệnh ra khỏi vùng dịch; không buôn bán, giết mổ động vật chết, mắc bệnh; không vứt xác động vật chết ra môi trường; không sử dụng thức ăn thừa chưa qua xử lý nhiệt làm thức ăn chăn nuôi. Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương triển khai phòng, chống dịch bệnh và tiêm phòng đúng tiến độ; kịp thời tham mưu UBND tỉnh các giải pháp ứng phó, bảo vệ an toàn đàn vật nuôi và ổn định sản xuất chăn nuôi trên địa bàn.

Ngành gia cầm tìm cửa hẹp

Dù duy trì đà tăng trưởng sản lượng tương đối ổn định, song ngành gia cầm Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 đang phải gồng mình

trước gọng kìm: chi phí đầu vào leo thang và giá bán liên tục chạm đáy.

Chi phí cao, giá bán thấp

Theo Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, bốn tháng đầu 2026, tổng đàn gia cầm cả nước ước tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu chiến sự Trung Đông được kiểm soát trong quý III/2026, dự báo sản lượng thịt gia cầm cả năm 2026 sẽ đạt khoảng 2,74 triệu tấn, tăng 5,4 và sản lượng trứng sẽ đạt 22,5 tỷ quả, tăng gần 5%.

Gà công nghiệp lông trắng là nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng mạnh nhất, ước tăng khoảng 7 - 8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, đây là nhóm bị ảnh hưởng nặng bởi tình trạng dư cung. Do chu kỳ nuôi ngắn (khoảng 40 ngày), sản lượng dồn từ cuối Quý I sang tháng 4 khiến giá tại khu vực phía Nam giảm sâu, có lúc chỉ còn 22.000 - 24.000 đồng/kg. Số lượng gà trắng tập trung tại các tập đoàn lớn (C.P, De Heus, Japfa, CJ...) với quy mô chuồng kín, kiểm soát tốt dịch bệnh nhưng đang gặp áp lực tiêu thụ rất lớn.

Trong khi đó sản xuất gà ta thả vườn, gà lông màu nuôi công nghiệp tăng trưởng ổn định hơn, ước tăng khoảng 3 - 4%. Giá gà màu ổn định hơn gà trắng nhưng cũng

không nằm ngoài xu thế giảm chung của thị trường thịt. Người nuôi nhỏ lẻ bắt đầu dè dặt trong việc tái đàn từ giữa tháng 4 do biên lợi nhuận thấp.

Đàn thủy cầm duy trì mức tăng nhẹ khoảng 2,5%, tập trung nhiều ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng theo mô hình nuôi bán chăn thả và nuôi khô.

Sản lượng trứng gia cầm ước đạt khoảng 7,3 tỷ quả sau 4 tháng (tăng khoảng 4,85%). Sản lượng thịt gia cầm quý I đạt khoảng 660,8 nghìn tấn. Dự kiến hết tháng 4 sẽ đạt 880.000 - 900.000 tấn.

Dù sản lượng tăng trưởng mạnh, nhưng ngành gia cầm 4 tháng đầu năm 2026 đang đối mặt với nghịch lý “được mùa mất giá”, đặt áp lực lớn lên việc điều tiết nguồn cung trong các tháng tiếp theo.

Giá gia cầm đang có sự phân hóa rõ rệt giữa các miền do chi phí vận chuyển và nhu cầu tiêu thụ tại chỗ. Giá gà công nghiệp tại miền Nam hiện đang ở mức thấp nhất cả nước do nguồn cung từ các trang trại lớn rất dồi dào, trong khi sức mua của các khu công

nghiệp vẫn chưa phục hồi hoàn toàn. Với giá bán gà trắng nêu trên, người nuôi đang chịu lỗ 3.000 - 5.000 đồng/kg. Riêng gà màu nuôi công nghiệp với giá thành khoảng 42.00046.000 đồng/kg thì người nuôi đang ở mức hòa vốn hoặc lãi nhẹ.

Trong khi giá bán sản phẩm gia cầm đều giảm, nhưng giá thức ăn chăn nuôi (TĂCN) các loại đã tăng từ 10 - 15% so với đầu năm do giá nguyên liệu nhập khẩu (ngô, khô đậu tương) biến động. Chi phí này hiện chiếm tới 60 - 70% giá thành sản xuất, gây khó khăn lớn cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

Đặc biệt, giá trứng gia cầm tại trại giảm sâu khoảng 25 - 30% so với đầu năm, chỉ còn dao động từ 1.200 - 1.400 đồng/quả. Nguyên nhân chính do cung vượt cầu và sức mua nội địa chưa cải thiện đáng kể.

Chuyển dịch rõ nét hoạt động xuất, nhập khẩu

Về hoạt động xuất, nhập khẩu gia cầm trong 4 tháng đầu năm 2026, ghi nhận những chuyển dịch rõ nét, đặc biệt là sự bứt phá ở mảng xuất khẩu sản phẩm chế biến. Hồng Kông tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm hơn 51% tổng trị giá xuất khẩu thịt của Việt Nam. Hàn Quốc một dấu mốc quan trọng vào cuối tháng 4/2026 khi Việt Nam và Hàn Quốc chính thức công bố mở cửa thị trường cho sản phẩm thịt gà chế biến. Trước mắt, mỗi nước có 2 doanh nghiệp được cấp phép để bắt đầu các lô hàng đầu tiên. Hiện tại, Hàn Quốc mới chỉ mở cửa cho nhóm thịt gà đã qua xử lý nhiệt (processed chicken), bao gồm các loại: Gà viên (nuggets), gà rán. Ở chiều ngược lại, phía Hàn Quốc cũng đã được cấp phép đưa sản phẩm gia cầm chế biến sang Việt Nam với 2 đơn vị lớn là Harim và CJ CheilJedang.

Việc mở cửa thị trường này được kỳ vọng sẽ giúp nâng giá trị xuất khẩu ngành chăn nuôi Việt Nam, trong bối cảnh nước ta đã

xuất khẩu gà chế biến thành công sang 9 thị trường khác như Nhật Bản, Singapore và Hồng Kông... Đối với Singapore, các cơ quan chức năng đang tích cực đàm phán để mở cửa cho sản phẩm trứng thương phẩm và thịt gia cầm tươi, đông lạnh sau khi đã xuất khẩu thành công thịt chế biến sang thị trường này vào cuối năm 2025.

Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm đạt khoảng

245 triệu USD (tăng hơn 45,5% so với cùng kỳ năm 2025). Thịt gia cầm và sản phẩm chế biến, ước đạt 6.500 - 7.000 tấn. Về giá trị riêng thịt gà chế biến đạt khoảng 35 triệu USD. Trứng gia cầm đạt khoảng 15 - 18 triệu quả (bao gồm trứng tươi, trứng muối và trứng bắc thảo), chủ yếu sang thị trường Hồng Kông, Singapore và Nhật Bản. Gà giống xuất khẩu sang Lào và Campuchia đạt mức tăng trưởng ổn định khoảng 15%.

Tuy vậy, Việt Nam tiếp tục nhập khẩu một lượng lớn thịt gia cầm giá rẻ và nguyên liệu để duy trì chuỗi sản xuất. Dự báo cả năm 2026, có thể nhập khoảng 300.000 tấn thịt gia cầm. Trong 4 tháng đầu năm thịt gà đông lạnh nhập khẩu khoảng 85.000 - 90.000 tấn (chiếm gần 40% tổng lượng thịt nhập khẩu các loại). Trong đó, đùi gà, cánh gà và chân gà chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 70%).

Thị trường nhập khẩu chính là Mỹ (35%),

Brazil (25%), Ba Lan và các nước EU khác (20%).

Tổng kim ngạch nhập khẩu và nguyên liệu đạt khoảng 1,35 tỷ USD. Trong đó, sản lượng ngô nhập khẩu 3,2 triệu tấn (nguồn chính từ Brazil và Argentina). Sản lượng khô dầu đậu tương đạt khoảng 1,6 triệu tấn.

Dù kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhưng giá trị tuyệt đối vẫn thấp hơn nhiều so với kim ngạch nhập khẩu.

Áp lực dư cung kết hợp cùng chi phí logistics và nguyên liệu đầu vào tăng cao đang khiến đà tăng trưởng sản lượng của ngành gia cầm trong 4 tháng đầu năm 2026 trở nên kém bền vững.

Giải pháp thích ứng

Để ứng phó với các biến động từ chiến sự Trung Đông và sự bất ổn của chuỗi cung ứng toàn cầu năm 2026 - 2027, ngành gia cầm Việt Nam cần chuyển dịch từ chiến lược “tăng trưởng sản lượng” sang “tăng cường khả năng chống chịu”.

Thứ nhất, tối ưu hóa chuỗi giá trị và giảm chi phí sản xuất. Tái cấu trúc sản xuất, kết nối “chuỗi cung ứng ngắn”. Cần có chính sách hỗ trợ kết nối trực tiếp giữa trang trại và các hệ thống siêu thị, bếp ăn công nghiệp nhằm giảm chi phí trung gian (luôn chiếm 15 - 20% giá bán lẻ). Về lâu dài Việt Nam phải tập trung vào việc hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh, tăng cường chế biến sâu (thịt đông lạnh, chế biến sẵn)

để kéo dài thời gian bảo quản thay vì chỉ tiêu thụ thịt tươi, nhằm ổn định thị trường. Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân. Khi có biến động, doanh nghiệp sẽ đóng vai trò bà đỡ về vốn và kỹ thuật, tránh tình trạng treo chuồng hàng loạt. Áp dụng nghiêm ngặt các chuẩn VietGAP, GlobalGAP để giảm tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh, vốn là rủi ro kép bên cạnh rủi ro địa chính trị. Số hóa trang trại. Sử dụng cảm biến và AI để tối ưu hóa lượng thức ăn

và điện năng, giúp giảm 5 - 10% chi phí vận hành.

Thứ hai, chiến lược thị trường linh hoạt. Thúc đẩy tiêu thụ nội địa để giảm thiểu tác động từ việc gián đoạn xuất khẩu. Xây dựng các chiến dịch truyền thông về thịt gà/ trứng là nguồn đạm giá rẻ, an toàn trong thời kỳ khủng hoảng để duy trì sức mua trong nước. Khai thác “khoảng trống” xuất khẩu: Khi Brazil hay Mỹ gặp khó khăn vận chuyển sang Châu Á qua đường Biển Đỏ, Việt Nam cần tận dụng lợi thế địa lý để đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc. Chinh phục thị trường Halal: Đầu tư bài bản để lấy chứng chỉ Halal, sẵn sàng cung ứng cho các quốc gia Hồi giáo tại Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia) và Trung Đông khi họ tìm kiếm nguồn cung thay thế ngoài vùng chiến sự. Thứ ba, tự chủ nguồn nguyên liệu TĂCN. Xung đột tại Trung Đông làm tăng chi phí vận tải và bảo hiểm, dẫn đến rủi ro thiếu hụt nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất TĂCN. Doanh nghiệp đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung và tìm kiếm các tuyến vận tải thay thế. Đẩy mạnh công nghệ chế biến bột cá, bột thịt, tôm và các phụ phẩm từ ngành lúa gạo, thủy sản để thay thế một phần nguyên liệu nhập khẩu. Khuyến khích các tập đoàn lớn xây dựng hệ thống kho bãi quy mô lớn để tích trữ nguyên liệu khi giá thế giới hạ nhiệt, tránh cú sốc giá do chiến sự.

Thứ tư, về chính sách và tài chính. Gia hạn nợ và ưu đãi lãi suất: Đề xuất các ngân hàng thương mại tiếp tục thực hiện chính sách gia hạn nợ, khoanh nợ, gói tín dụng lãi suất thấp cho cho hộ chăn nuôi và doanh nghiệp đang bị thua lỗ; ưu tiên nguồn tín dụng ngắn hạn cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Hỗ trợ xây dựng vùng an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn WOAH. Đây là chinh sách cốt lõi để mở rộng thị trường xuất khẩu thịt và trứng gia cầm, giúp giảm áp lực cho thị trường nội địa, nhất là trứng gia cầm. Rút ngắn thủ tục kiểm tra, kiểm dịch hỗ trợ chi phí logistics cho các lô hàng trọng điểm; tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm thịt gà đông lạnh, đặc biệt kiểm soát chặt chẽ gia cầm giống và gà đẻ loại nhập lậu qua biên giới.

NGUYỄN THANH SƠN

Chủ tịch VPA

NGÀNH GIA CẦM

GIỮ NHỊP

SẢN XUẤT TRƯỚC “BÃO KÉP”

Ảnh: Tâm Phùng

Ngành gia cầm Việt Nam đang chịu sức ép chưa từng có từ biến động thị trường và địa chính trị toàn cầu. Chi phí đầu vào leo thang, sức mua suy yếu, trong khi áp lực cạnh tranh và rủi ro từ thị trường quốc tế ngày càng gia tăng, đẩy doanh nghiệp vào thế “gồng mình” duy trì sản xuất. Trong bối cảnh đó, vai trò kết nối, điều phối của các hội, hiệp hội ngành hàng trở nên đặc biệt quan trọng, góp phần giữ nhịp sản xuất và ổn định chuỗi cung ứng.

Xung quanh những thách thức và giải pháp của ngành, phóng viên Thế giới Gia cầm đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam.

Thưa ông, “bão kép” thị trường và địa chính trị đang tác động ra sao đến ngành gia cầm? Theo ông, doanh nghiệp cần xoay xở thế nào để tránh đứt gãy chuỗi cung ứng trong bối cảnh chi phí tăng, tiêu thụ chậm?

“Cơn bão kép” từ biến động thị trường và xung đột địa chính trị đang tạo ra những tác động cộng hưởng vô cùng khắc nghiệt, đẩy ngành gia cầm vào một giai đoạn rất khó khăn. Tác động của “bão kép” đến ngành gia cầm thể hiện các mặt sau đây: Một là, đứt gãy chuỗi cung ứng và chi phí sản xuất tăng phi mã: Xung đột tại Biển Đen và Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung

ngũ cốc (ngô, lúa mì) và đẩy giá dầu tăng cao. Điều này trực tiếp làm tăng chi phí vận

tải và giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, vốn chiếm tới 65 - 70% giá thành sản xuất tại Việt Nam. Giá nguyên liệu đã tăng 10 - 15%, thậm chí các loại axit amin thiết yếu tăng đến 60%. Những yếu tố đã đẩy giá thành sản phẩm gia cầm tăng 15 - 20% so với trước khi xung đột xảy ra.

Hai là, sức mua suy giảm và thị trường bất ổn: “Bão” lạm phát và khó khăn kinh tế toàn cầu khiến người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, dẫn đến sức mua thực phẩm giảm mạnh. Giá một số sản phẩm gia cầm như con giống, gà thịt, trứng giảm mạnh, thậm chí thấp hơn giá thành. Hiện nay giá trứng thu mua tại trại 1.300 - 1.400 đồng/quả, trong khi giá thành 1.700 - 1.850 đồng/quả, tùy quy mô sản xuất.

Ba là, cạnh tranh gay gắt từ hàng nhập khẩu: Doanh nghiệp nội địa còn phải đối mặt với làn sóng gia cầm nhập khẩu giá rẻ

từ các nước có quy mô công nghiệp lớn như

Mỹ, Brazil, EU, gây áp lực dư cung và kéo

giá bán trong nước xuống dưới giá thành. Trong 4 tháng đầu năm 2026, thịt gà đông lạnh nhập khẩu khoảng 85.000 - 90.000 tấn (chiếm gần 40% tổng lượng thịt nhập khẩu các loại). Trong đó, đùi gà, cánh gà và chân gà chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 70%). Thị trường nhập khẩu: Mỹ (35%), Brazil (25%), Ba Lan và các nước EU khác (20%).

Để vượt qua nghịch lý “chi phí cao - tiêu thụ thấp”, các doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào sự may rủi của thị trường trong nước mà cần thực hiện những bước xoay xở mang tính tự lực và chiến lược sau: Quản trị chi phí bằng “nội lực”. Áp dụng công nghệ số, sử dụng các hệ thống quản lý chuồng trại thông minh để giảm hao hụt, tối ưu hóa tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) và tiết giảm nhân công; liên kết để “vượt bão”; tối ưu công thức thức ăn, thay thế một phần nguyên liệu nhập khẩu (ngô, đậu tương) bằng nguyên liệu sẵn có trong nước (cám gạo, sắn, tấm) để giảm giá thành sản xuất

mà vẫn đảm bảo dinh dưỡng.

Các trang trại, doanh nghiệp nhỏ cần liên kết thành các HTX hoặc tổ hợp tác để có sức mạnh đàm phán giá khi mua nguyên liệu đầu vào số lượng lớn và ổn định nguồn cung cho các đối tác thu mua lớn. Việc chủ động từ con giống đến giết mổ giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí trung gian (thường chiếm 15 - 20%) và giữ được biên lợi nhuận ổn định hơn so với chăn nuôi nhỏ lẻ.

Các doanh nghiệp lớn cần đẩy mạnh chế biến sâu, thay vì chỉ bán gà lông hoặc gà tươi (vốn rất dễ bị ép giá khi tiêu thụ chậm), doanh nghiệp nên chuyển sang các sản phẩm chế biến sẵn, tẩm ướp hoặc đóng gói hút chân không. Điều này giúp kéo dài thời hạn bảo quản và gia tăng giá trị sản phẩm. Về cơ bản, doanh nghiệp nào kiểm soát được giá thành và chủ động được đầu ra qua chế biến sẽ là những cái tên trụ vững cuối cùng.

Khai thác tốt thị trường nội địa, tập trung vào hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi và sàn thương mại điện tử để tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các thương lái. Tập trung vào các dòng sản phẩm đặc sản, gà thả vườn, gà hữu cơ phục vụ phân khúc khách hàng cao cấp ít bị ảnh hưởng bởi lạm phát.

Tìm kiếm thị trường ngách và đẩy mạnh xuất khẩu. Chuẩn hóa quy trình vệ sinh dịch bệnh để đẩy mạnh xuất khẩu, giúp giải tỏa áp lực dư cung tại thị trường nội địa.

Trước những biến động này, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) đã có những hành động cụ thể nào để giữ nhịp sản xuất và kiến nghị cấp bách nhất với Chính phủ hiện nay là gì, thưa ông?

Trước những thách thức gay gắt, VPA đã triển khai các hành động quyết liệt để duy trì sản xuất, đồng thời đưa ra những kiến nghị mang tính “sống còn” cho ngành. Những hành động cụ thể để giữ nhịp sản xuất, đó là: - Ổn định chi phí đầu vào thông qua chuỗi giá trị: VPA khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp hội viên (chiếm 60 - 70% thị phần thức ăn, con giống, vaccine) thực hiện tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”. Nhiều doanh nghiệp lớn đã chủ động tiết giảm chi phí vận hành và cắt giảm khâu trung gian để kìm hãm đà tăng giá thức ăn chăn nuôi, hỗ trợ người nuôi cầm cự qua giai đoạn khó khăn. - Định vị lại hệ sinh thái chăn nuôi: Hiệp

hội thúc đẩy mô hình chuỗi giá trị khép kín (từ con giống, thức ăn đến giết mổ, chế biến và thương mại). VPA hiện đã trở thành một hệ sinh thái đầy đủ, giúp các thành viên giảm bớt sự lệ thuộc vào các biến động đơn lẻ của thị trường và tăng khả năng chống chịu. - Hỗ trợ kỹ thuật và thông tin: VPA tích cực đào tạo, tập huấn về quản lý và kỹ thuật cho các doanh nghiệp. Hiệp hội cũng đẩy mạnh kết nối giao thương nội khối và hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, Hiệp hội cũng kiến nghị các bộ ngành, địa phương và Chính phủ một số giải pháp cấp bách sau đây:

- Kiểm soát chặt chẽ nhập lậu và siết chính ngạch: Tăng cường kiểm tra tại biên giới và xây dựng các hàng rào kỹ thuật (về kiểm dịch, chất lượng, dư lượng chất kích thích sinh trưởng) để hạn chế làn sóng gà nhập khẩu giá rẻ, bảo vệ sản xuất trong nước.

- Cắt giảm chi phí hành chính và thuế phí: Rà soát, cắt giảm phí kiểm dịch và các thủ tục hành chính rườm rà. Đặc biệt là gỡ nút thắt trong thủ tục công bố hợp chuẩn, hợp quy sản phẩm chăn nuôi, thức ăn, thuốc thú y.

- Hỗ trợ tài chính và tín dụng: Đề nghị các chính sách khoanh nợ, giãn nợ và ưu đãi lãi suất cho doanh nghiệp, hộ chăn nuôi có nguồn lực để duy trì sản xuất.

- Chuẩn hóa dữ liệu ngành: Xây dựng hệ thống thống kê chính xác về sản xuất

và thương mại để giúp cơ quan quản lý và doanh nghiệp điều tiết cung cầu, tránh tình trạng “thừa hàng dội chợ”.

- Chiến lược xuất khẩu trọng điểm: Đề nghị Chính phủ xây dựng chương trình quốc gia thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm gia cầm, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các thị trường khó tính để khơi thông đầu ra giá trị cao.

Ông có thể gửi một thông điệp ngắn gọn tới doanh nghiệp và người chăn nuôi để cùng vượt qua giai đoạn khó khăn này, thưa ông?

Nhân dịp này, tôi muốn gửi đến các doanh nghiệp và người chăn nuôi thông điệp ngắn gọn: “Vượt bão không độc hành, hãy liên kết để sinh tồn, sáng tạo để bứt phá”. Giữa tâm điểm “bão kép”, doanh nghiệp hãy phát huy vai trò dẫn dắt bằng tư duy thị trường và tinh thần chia sẻ rủi ro. Người chăn nuôi cần trụ vững bằng kỷ cương an toàn sinh học và tối ưu hóa chi phí. Sự chuyên nghiệp của hiện tại chính là tấm khiên vững chãi nhất bảo vệ tài sản tương lai.

Khó khăn chính là phép thử để đào thải những tư duy cũ kỹ. Với niềm tin sắt đá, sự liên kết chặt chẽ và nỗ lực đổi mới không ngừng, ngành gia cầm chắc chắn sẽ hồi sinh mạnh mẽ hơn sau “cơn bão”.

Vững tay chèo, chúng ta nhất định về đích.

Trân trọng cảm ơn ông!

VŨ MƯA (Thực hiện)

➢ Lời kêu gọi của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” đang được các doanh nghiệp hội viên của VPA cụ thể hóa qua nhiều hành động thiết thực trong bối cảnh xung đột Trung Đông gây áp lực lên chi phí sản xuất. Như: ổn định và giảm chi phí vận hành; các đơn vị tham gia cam kết duy trì nguồn cung ổn định, giá bán hợp lý, hạn chế tối đa việc chuyển toàn bộ áp lực chi phí logistics sang giá thành sản phẩm đầu ra cho doanh nghiệp hội viên và nông dân; thúc đẩy giao thương nội khối; xây dựng chuỗi giá trị khép kín; hỗ trợ trực tiếp và chia sẻ rủi ro thị trường.

Thay đổi để thích ứng trước biến

Biến động của thị trường nguyên liệu thế giới, đặc biệt dưới tác động kéo dài của các xung đột địa chính trị, đã đẩy giá thức ăn chăn nuôi lên mức cao, tạo ra “cơn sóng” chi phí lan rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của toàn ngành gia cầm Việt Nam.

Áp lực chi phí lan rộng

Thời gian qua, do biến động chi phí năng lượng và giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, nhiều doanh nghiệp đã đồng loạt điều chỉnh giá bán các sản phẩm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Theo đó, so với thời điểm trước khi xảy ra xung đột tại Trung Đông, sau nhiều lần điều chỉnh, hiện mỗi bao cám 25 kg mua tại kho đã tăng tới 15.000 đồng; giá cước vận chuyển cũng tăng mạnh từ 25.000 đồng lên 35.000 đồng. Mặc dù mức giá này đã nằm trong dự liệu, thế nhưng, áp lực chi phí ngày một lớn khiến nhiều hộ chăn nuôi nhỏ và vừa rất khó khăn để gồng gánh. Và nếu tình hình không cải thiện, nhiều hộ nuôi sẽ phải tính đến phương án giảm đàn để cắt giảm chi phí.

Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ chưa thực sự ổn định. Sức mua trong nước dù cải thiện nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của thu nhập người dân, trong khi xuất khẩu sản phẩm gia cầm còn hạn chế do rào cản kỹ thuật và yêu cầu kiểm dịch nghiêm ngặt từ các thị trường nhập khẩu.

Đáng lo hơn, theo TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, khi thị trường Trung Đông bị ảnh hưởng bởi xung đột, các quốc gia xuất khẩu lớn có xu hướng đưa sản phẩm vào Việt Nam, làm gia tăng cạnh tranh với ngành gia cầm trong nước.

Tất yếu cần thay đổi

Để tháo gỡ khó khăn cho ngành gia cầm trong giai đoạn hiện nay, ông Nguyễn Thanh

Sơn, khuyến cáo doanh nghiệp không tăng đàn, tăng sản lượng trong giai đoạn dư cung. Cùng đó, đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển sản phẩm trứng và thịt gà ăn liền để mở rộng thị trường, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu. Về lâu dài, ngành hàng buộc phải “chuyển mình”, trong đó thay đổi phương thức chăn nuôi được xem là giải pháp mang tính căn cơ. Xu hướng rõ nét nhất là chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang mô hình trang trại tập trung, quy mô lớn và khép kín. Các doanh nghiệp lớn đang đẩy mạnh đầu tư chuỗi giá trị từ sản xuất con giống, thức ăn, chăn nuôi đến giết mổ, chế biến và phân phối. Mô hình này giúp kiểm soát tốt chi phí, hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Song song đó, ứng dụng khoa học công nghệ đang trở thành “chìa khóa” để giảm chi

phí và nâng cao hiệu quả. Hệ thống chuồng kín, điều khiển nhiệt độ và độ ẩm tự động, thiết bị cho ăn thông minh giúp giảm tiêu tốn thức ăn, hạn chế hao hụt và cải thiện năng suất. Việc sử dụng dữ liệu để quản lý đàn, theo dõi dịch bệnh cũng giúp người chăn nuôi chủ động hơn trong sản xuất. Một giải pháp quan trọng khác là tái cấu trúc nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Nhiều doanh nghiệp đã nghiên cứu sử dụng nguyên liệu thay thế trong nước như sắn, phụ phẩm nông nghiệp, hoặc áp dụng công nghệ sinh học để nâng cao giá trị dinh dưỡng. Việc phát triển vùng nguyên liệu nội địa không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tăng tính chủ động trước biến động thị trường quốc tế.

Cùng với đó, liên kết chuỗi cũng đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Mô hình chăn nuôi gia công giữa doanh nghiệp và nông hộ giúp chia sẻ rủi ro, đảm bảo đầu ra ổn định và giảm áp lực vốn cho người nuôi. Đồng thời, việc xây dựng chuỗi truy xuất nguồn gốc, nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm giúp sản phẩm gia cầm gia tăng giá trị, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Theo ông Lê Văn Quyết, Giám đốc HTX Nông nghiệp công nghệ cao Long Thành Phát (Đồng Nai), muốn phát triển bền vững thì phải đi theo chuỗi và liên tục nâng cấp công nghệ. Đây không phải hướng đi mới,

nhưng là con đường bắt buộc nếu ngành chăn nuôi muốn ổn định lâu dài.

Nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập

▶ Dự báo tình hình chăn nuôi gia cầm quý II/2026 cho thấy, áp lực dư cung chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, thậm chí có thể trầm trọng hơn ở một số phân khúc. Nguồn cung gà trắng dự kiến tiếp tục tăng, với tổng lượng DOC tăng nhẹ hơn 2% so với quý I/2026 nhưng tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước. Đối với gà màu, nguồn cung được dự báo “bùng nổ” trong quý II/2026, tăng tới 14 -15% so với cả quý trước và cùng kỳ năm trướcmức cao nhất từ trước đến nay.

Một trong những định hướng quan trọng là phát triển chăn nuôi theo hướng xanh và thân thiện với môi trường. Điều này không chỉ giúp giảm ô nhiễm mà còn tận dụng được nguồn tài nguyên, góp phần giảm chi phí sản xuất. Đồng thời, ngành chăn nuôi cũng đang từng bước nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu và phát triển thị trường xuất khẩu. Thay vì chỉ cung cấp sản phẩm thô, việc đầu tư vào công nghệ chế biến, bảo quản và xây dựng thương hiệu sẽ giúp sản phẩm chăn nuôi Việt Nam có vị thế cao hơn trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là yêu cầu sống còn. Do đó, việc giảm chi phí, nâng cao chất lượng và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế là yếu tố quyết định.

Có thể thấy, quá trình chuyển đổi của ngành chăn nuôi đang diễn ra theo hướng toàn diện, từ quy mô sản xuất, tổ chức chuỗi giá trị đến ứng dụng công nghệ và bảo vệ

môi trường. Đây là bước chuyển từ mô hình truyền thống phân tán chi phí cao sang liên kết công nghệ. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người chăn nuôi trong việc xây dựng chính sách, đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực sản xuất.

Phát biểu tại một hội nghị về chăn nuôi, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, trong thời gian tới, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế cần quán triệt tư duy kiến tạo, coi văn bản quy phạm pháp luật là công cụ mở ra không gian phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, hợp tác xã, hiệp hội ngành hàng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị chăn nuôi.

“Cơn sóng” chi phí đang tạo ra những thách thức lớn, nhưng cũng là động lực thúc đẩy ngành gia cầm tái cấu trúc theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp hơn. Những đơn vị chủ động đổi mới, áp dụng công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị sẽ có nhiều cơ hội vượt qua khó khăn và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

PHAN
Biểu đồ: Thanh Thanh; Nguồn: AgroMonitor

VIETNAM PAVILION

Định vị lại hình ảnh sản phẩm chăn nuôi Việt

Các hội chợ triển lãm chuyên ngành chăn nuôi không chỉ đơn thuần là nơi mua bán, mà là nhịp cầu thúc đẩy sự phát triển bền vững và chuyển giao công nghệ. Đặc biệt tại triển lãm ILDEX Vietnam 2026, lần đầu tiên Gian hàng Quốc gia Việt Nam (Vietnam Pavilion) sẽ chính thức xuất

hiện. Vietnam Pavilion là “chất xúc tác” cho doanh nghiệp nội địa quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tiếp cận xu

đẩy hợp tác chiến lược chuỗi giá trị chăn nuôi.

Khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo, ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước những ngã rẽ mang tính lịch sử. Chúng ta không chỉ chuyển mình từ “nuôi nhiều” sang “nuôi tốt”, từ “tăng đàn” sang “tăng giá trị”, mà còn phải đặt trách nhiệm với môi trường, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc lên hàng đầu. Vượt lên trên mọi con số, câu hỏi mang tính sống còn đối với người chăn nuôi, doanh nghiệp lúc này chính là: Lối đi nào cho sản phẩm của chúng ta trên bản đồ thế giới?

Trong bối cảnh đó, các hội chợ triển lãm chuyên ngành chăn nuôi không chỉ đơn thuần là nơi mua bán, mà là nhịp cầu thúc đẩy sự phát triển bền vững và chuyển giao công nghệ. Đặc biệt tại triển lãm ILDEX Vietnam 2026, lần đầu tiên Gian hàng Quốc gia Việt Nam (Vietnam Pavilion) sẽ chính thức xuất hiện. Đây là sáng kiến của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) với sự ủng hộ của Cục Chăn nuôi - Thú y cùng sự đồng hành từ Công ty Itec và Tập đoàn VNU.

Không chỉ là không gian triển lãm, Gian hàng Quốc gia đóng vai trò là “đại sứ hình ảnh”, một không gian đối ngoại trang trọng khẳng định tầm vóc của ngành chăn nuôi nước nhà, thể hiện qua 4 giá trị cốt lõi:

- Tạo lập sức mạnh cộng hưởng: Thay vì hiện diện riêng rẽ, các doanh nghiệp trong nước sẽ hợp lực dưới bản sắc chung mang tên Vietnam Pavilion. Sự hội tụ này tạo nên một chỉnh thể thống nhất, tạo lập sức mạnh cộng hưởng, giúp các doanh nghiệp Việt cùng nhau vươn tầm quốc tế. - Cung cấp bức tranh toàn cảnh: Thay vì tìm kiếm, khảo sát đơn lẻ, nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể nắm bắt trọn vẹn chuỗi cung ứng ngành chăn nuôi Việt, từ con giống, thức ăn, thuốc thú y đến thiết bị chuồng trại tại Gian hàng quốc gia dưới sự

bảo trợ uy tín của các Hiệp hội và Bộ ngành.

- Tuyên ngôn về nội lực: Chúng ta đang hiện thực hóa bước chuyển mình lịch sử, từ quốc gia tiêu thụ sang làm chủ công nghệ với những sản phẩm “Made in Vietnam” đạt chuẩn quốc tế.

- Khẳng định trách nhiệm toàn cầu về tăng trưởng xanh: Đây là không gian trình diễn những nỗ lực của Việt Nam trong việc giảm phát thải ròng và xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi xanh, bền vững.

Đứng ở góc độ hiệp hội ngành hàng, VPA đặt ra 3 kỳ vọng lớn tại hội chợ lần này: Thứ nhất, hiện thực hóa các “cú bắt tay” tỷ đô: Không chỉ dừng lại ở việc tham quan, Hiệp hội kỳ vọng đây là “sàn giao dịch” thực thụ để các doanh nghiệp thành viên ký kết các hợp đồng cung ứng chiến lược. Mục tiêu là đưa các sản phẩm chăn nuôi Việt Nam thâm nhập sâu vào các chuỗi bán lẻ và hệ thống phân phối thực phẩm toàn cầu. Thứ hai, chuyển dịch từ xuất khẩu thô

sang xuất khẩu tinh giá trị cao: Thông qua Gian hàng Quốc gia, Hiệp hội kỳ vọng định vị lại hình ảnh sản phẩm chăn nuôi Việt. Chúng ta sẽ không cạnh tranh bằng chiến lược giá bán thấp mà khẳng định giá trị thương hiệu thông qua tiêu chuẩn an toàn vượt trội, chất lượng chuẩn quốc tế và sức mạnh công nghệ. Đây là cơ hội để nâng cao giá trị thặng dư trên từng đơn vị sản phẩm xuất khẩu.

Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái liên kết bền vững: Triển lãm ILDEX Vietnam 2026 không chỉ là điểm hẹn thương mại mà còn là không gian chiến lược để thắt chặt mối quan hệ đa phương giữa doanh nghiệp nội địa, đối tác quốc tế và cơ quan quản lý Nhà nước. Sự hiện diện của Vietnam Pavilion tại ILDEX 2026 chính là thông điệp khẳng định tầm vóc, khát vọng và vị thế tự cường của ngành chăn nuôi Việt Nam trên

Bài toán nào cho khủng hoàng thừa nguồn cung gia cầm

Giá gà thịt và trứng gia cầm liên tục lao dốc trong khi chi phí thức ăn, con giống và vật tư chăn nuôi vẫn neo ở mức cao đang đẩy nhiều doanh nghiệp, trang trại và hộ chăn nuôi vào tình trạng thua lỗ kéo dài. Dư cung lớn cùng sức mua suy giảm khiến ngành gia cầm chịu áp lực nặng nề nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Giá gà xuống sát đáy, người nuôi gồng mình cắt lỗ

Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch

Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, thị trường gia

cầm thời gian gần đây diễn biến tiêu cực ở

hầu hết các phân khúc. Giá gà công nghiệp

tại nhiều địa phương giảm mạnh, có nơi xuống dưới giá thành sản xuất.

Đầu tháng 4, giá gà lông màu chỉ còn

khoảng 44.000 - 45.000 đồng/kg, giảm

mạnh so với đầu năm. Gà công nghiệp lông

trắng tại miền Nam có thời điểm xuống còn

25.000 - 30.000 đồng/kg, thấp hơn giá thành

sản xuất từ 3.000 - 5.000 đồng/kg.

Tại Đồng Nai - thủ phủ chăn nuôi

của cả nước giá gà tiếp tục đi xuống. Ghi nhận đầu tháng 5 cho thấy, gà lông màu tại trại chỉ còn khoảng 42.000 - 45.000 đồng/kg, giảm đáng kể so với mức gần 48.700 đồng/kg hồi đầu tháng 1. Trong khi, gà công nghiệp lông trắng phổ biến ở mức 25.000 - 27.000 đồng/kg, tiệm cận ngưỡng hòa vốn.

Dù đã cắt giảm nhiều khoản chi phí, không ít doanh nghiệp cho biết lợi nhuận gần như không còn do giá bán giảm quá sâu trong khi gà xuất chuồng chậm, chi phí duy trì đàn mỗi ngày rất lớn.

Hiệp hội Gia cầm Việt Nam nhận định, nguyên nhân của tình hình này chính là đến từ nguồn cung tăng mạnh từ cuối năm 2025 trong khi sức mua sau Tết phục hồi chậm. Cùng với đó, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu tăng do biến động thị trường thế giới và xung đột địa chính trị khiến chi phí sản xuất bị đội lên đáng kể. Từ tháng 3/2026, nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đã tăng giá cám thêm 200 - 300 đồng/kg.

Giá trứng rớt sâu, bán càng nhiều càng lỗ

Không chỉ gà thịt, thị trường trứng gia cầm cũng rơi vào giai đoạn khó khăn khi giá bán liên tục giảm sâu. Nhiều hộ chăn nuôi cho biết, giá trứng hiện thấp hơn giá thành sản xuất từ vài trăm đồng đến hơn 1.000 đồng/quả.

Hiện giá trứng tại trại có thời điểm chỉ còn 1.100 - 1.200 đồng/quả đối với trứng size nhỏ, trong khi giá thành sản xuất dao động 1.750 - 1.900 đồng/quả tùy quy mô chăn nuôi.

Tại các vùng chăn nuôi trọng điểm, nhiều trang trại mỗi ngày xuất bán hàng chục nghìn quả trứng nhưng doanh thu giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Sau khi trừ chi phí thức ăn, điện nước, thuốc thú y và nhân công, người nuôi gần như không còn lợi nhuận.

Một chủ trang trại gà đẻ tại Đồng Nai thông tin, giá trứng giảm kéo dài khiến dòng tiền sản xuất bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Dù bán ra thua lỗ, nhiều trang trại vẫn phải duy trì đàn để tránh thiệt hại lớn hơn nếu dừng nuôi.

Không ít hộ chăn nuôi nhỏ lẻ buộc phải giảm đàn, giãn tái đàn hoặc treo chuồng do không còn khả năng xoay vốn, trong khi chi phí đầu vào chưa giảm tương ứng với đà lao dốc của giá bán.

Áp lực dư cung kéo dài, ngành gia cầm cần tìm đầu ra mới

Theo Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, thị trường hiện chịu tác động kép từ dư cung trong nước và sức mua suy yếu. Tổng đàn gia cầm tăng nhanh trong khi tiêu thụ chậm khiến tình trạng cung vượt cầu kéo dài. Bên

cạnh đó, thịt gà nhập khẩu giá rẻ tiếp tục tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với sản phẩm trong nước.

Các chuyên gia cảnh báo, nếu tình trạng giá thấp kéo dài, nhiều hộ chăn nuôi có nguy cơ phá sản hoặc phải giảm đàn quy mô lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi cung ứng và khả năng tái đàn trong thời gian tới.

Trước thực trạng này, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam kiến nghị cần sớm điều tiết sản xuất, kiểm soát tái đàn phù hợp, nhằm hạn chế dư cung kéo dài. Đồng thời, đẩy mạnh kết nối tiêu thụ qua hệ thống bán lẻ, bếp ăn công nghiệp và thúc đẩy chế biến sâu để giảm áp lực cho thị trường nội địa. Ông Nguyễn Thanh Sơn cho rằng, trong bối cảnh thị trường trong nước dần bão hòa, xuất khẩu - đặc biệt là các sản phẩm chế biến sâu - sẽ là hướng đi quan trọng của ngành gia cầm. Theo ông Sơn, thay vì chỉ tiêu thụ sản phẩm tươi sống, doanh nghiệp cần đa dạng hóa sang các sản phẩm chế biến như trứng ăn liền, trứng nướng, thịt gà chế biến sẵn…, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Một tín hiệu tích cực là cuối tháng 4 vừa qua, Hàn Quốc đã chính thức mở cửa cho thịt gà chế biến của Việt Nam. Trước đó, nhiều sản phẩm gia cầm chế biến của Việt Nam cũng đã có mặt tại các thị trường khó tính như Singapore, Nhật Bản và Hồng Kông.

Giới chuyên môn nhận định, để phát triển bền vững, ngành gia cầm cần xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhằm hạn chế tình trạng “được mùa mất giá”, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

CHÂU Á Củng cố

nội lực ngành gia

cầm

Cuộc chiến Iran năm 2026 làm gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz và thổi bùng chi phí dầu diesel toàn cầu. Từ chuồng trại đến nhà máy chế biến, ngành gia cầm chịu áp lực kép: đầu vào tăng mạnh, logistics tắc nghẽn, biên lợi nhuận co hẹp và nguy cơ bất ổn nguồn cung ngày càng rõ nét.

Chao đảo chuỗi cung ứng toàn cầu

Chăn nuôi gia súc, gia cầm là hệ thống thâm dụng năng lượng: vận chuyển nguyên liệu thức ăn, vận hành chuồng trại kiểm soát nhiệt độ, duy trì dây chuyền giết mổ và hệ thống kho lạnh đều tiêu tốn nhiên liệu và điện năng lớn. Khi giá dầu diesel leo thang, chi phí vận chuyển thức ăn gia cầm như ngô và khô đậu cũng tăng theo. Đồng thời, phân bón gắn chặt với thị trường khí đốt và dầu mỏ bị thiếu hụt, khiến giá urê và phosphate tăng cao, đẩy chi phí trồng trọt tăng và gây áp lực kép lên giá thức ăn chăn nuôi.

Ngành gia cầm đặc biệt nhạy cảm trước biến động này. So với bò hay heo, chu kỳ sản xuất gia cầm ngắn hơn và biên lợi nhuận mỏng hơn, khiến khả năng chịu đựng cú sốc chi phí hạn chế. Lạm phát năng lượng tác động trực diện đến hệ thống sưởi ấm, thông gió trong trại gà, cũng như hoạt động ấp nở và chế biến vốn phụ thuộc lớn vào điện và khí hóa lỏng. Phân tích ngành cho thấy, chi phí sản

xuất tăng ở mọi công đoạn, từ trại giống đến nhà máy.

Hệ quả toàn cầu là giá tăng song hành với nguồn cung bị siết chặt. Tại một số khu vực, doanh nghiệp buộc phải thu hẹp quy mô hoặc trì hoãn kế hoạch mở rộng do chi phí vận hành leo thang và môi trường bất định. Ở các thị trường xuất khẩu lớn như Brazil, việc chuyển hướng tàu để tránh vùng xung đột làm tăng mạnh cước vận tải và kéo dài thời gian giao hàng, tiếp tục bào mòn hiệu quả chuỗi cung ứng. Ở cấp độ bán lẻ, tác động lan rộng khi giá nguồn protein bình dân như thịt gà cũng tăng theo. Thông thường, khi giá thịt đỏ cao, người tiêu dùng chuyển sang thịt gà. Nhưng cú sốc lần này bắt nguồn từ năng lượng, nên mọi loại protein đều chịu áp lực chi phí nhiên liệu. Dư địa thay thế bị thu hẹp, khiến mặt bằng giá thịt đồng loạt đi lên và rủi ro bất ổn an ninh lương thực gia tăng, đặc biệt tại các quốc gia phụ thuộc nhập khẩu.

Châu Á và Trung Quốc: Ổn định tương đối giữa cơn bão

Đối với Đông Nam Á, xung đột Iran tạo ra những thách thức tức thời cho chăn nuôi và sản xuất thức ăn. Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Philippines đối mặt đồng thời với chi phí năng lượng tăng, thị trường hàng hóa biến động và áp lực logistics leo thang do cước tàu và phí bảo hiểm tăng cao. Việc tái định tuyến tàu biển, ùn tắc cảng và biến động thị trường khiến chi phí vận chuyển nguyên liệu như khô đậu tương, ngô và khoáng chất tăng đáng kể, ngay cả khi hàng hóa không trực tiếp đi qua Hormuz. Theo nhiều phân tích quốc tế, nếu gián đoạn đầu vào kéo dài, sản lượng protein động vật tại các thị trường phụ thuộc nhập khẩu có thể bị kìm hãm.

Tại Thái Lan, quốc gia xuất khẩu nông sản lớn của khu vực, khoảng 50 - 70% urê được nhập từ Trung Đông. Giá urê tăng 3040% kể từ khi xung đột leo thang, gây áp lực lên sản xuất ngũ cốc làm thức ăn chăn nuôi.

Đồng baht mất giá so với USD càng khuếch đại chi phí nhập khẩu, thử thách sức cạnh tranh của ngành gia cầm vốn định hướng xuất khẩu.

Việt Nam với ngành chăn nuôi và thủy sản phát triển cũng chịu tác động từ chi phí logistics và nguyên liệu tăng. Cơ quan quản lý đã cảnh báo rủi ro chuỗi cung ứng, kêu gọi doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi bình ổn giá và duy trì công suất. Các biện pháp như ưu tiên lọc dầu trong nước và kiểm soát một số dòng sản phẩm xuất khẩu được triển khai, nhằm bảo đảm nguồn cung nội địa. Indonesia có phần “đệm” khi là nước xuất khẩu ròng urê nhờ khí tự nhiên trong nước, song vẫn phụ thuộc vào phosphate và kali nhập khẩu, khiến biên lợi nhuận chăn nuôi nhạy cảm với giá quốc tế. Philippines, trong khi đó, chịu áp lực tỷ giá khi đồng peso suy yếu, làm chi phí nhập khẩu thức ăn và năng lượng tăng thêm trong bối cảnh thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong rổ tính CPI.

Giữa bức tranh nhiều gam xám, nguồn cung vitamin thức ăn chăn nuôi từ Trung

Quốc trở thành điểm sáng nhờ sự ổn định.

Trung Quốc hiện chiếm 70 - 80% sản lượng toàn cầu các vitamin chủ chốt như A, D3, E và nhóm B-complex, cung ứng phần lớn nhu cầu premix cho gia cầm, heo và thủy sản trong khu vực. Các tuyến hàng hải từ cảng

Trung Quốc đến TP Hồ Chí Minh, Bangkok, Jakarta hay Manila không đi qua Hormuz, giúp thương mại này ít bị ảnh hưởng trực tiếp. Dù chi phí sản xuất chịu áp lực từ giá năng lượng cao, khối lượng xuất khẩu vẫn duy trì ổn định, tạo vùng đệm dinh dưỡng quan trọng cho ngành chăn nuôi ASEAN trong ngắn hạn.

Đa dạng hóa, tăng nội lực và hợp tác khu vực

Trong bối cảnh cú sốc năng lượng có thể kéo dài, chiến lược ứng phó của ngành gia cầm không thể dừng ở các biện pháp tình thế. Trước hết là đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu và phân bón, giảm phụ thuộc vào một khu vực địa lý duy nhất. Việc mở rộng đối tác thương mại, tìm kiếm nguồn thay thế khoáng chất và đạm thực vật, cùng tối ưu công thức thức ăn nhằm tiết kiệm chi phí, sẽ là ưu tiên cấp thiết.

ÁP LỰC CHI PHÍ THỨC ĂN CHĂN NUÔI RỦI RO LOGISTICS VÀ TỶ GIÁ

Thức ăn chăn nuôi đang trở thành điểm chịu áp lực trực tiếp và rõ rệt nhất. Chi phí vận chuyển tăng do giá dầu leo thang, trong khi việc điều chỉnh các tuyến vận tải khiến thời gian giao hàng bị chậm trễ. Đồng thời, các ngành phụ

thuộc vào sản phẩm dầu mỏ đang đối mặt tình trạng thiếu hụt, và ngành thức

ăn chăn nuôi bị ảnh hưởng trực tiếp. Giá phụ gia thức ăn đã tăng 20 - 50%.

Đặc biệt, methionine - axit amin thiết yếu trong khẩu phần gà thịt, chịu tác động nặng nề. Từ tháng 3, các nhà cung cấp đã ngừng giao methionine, hãng sản xuất không nhận đơn hàng mới. Giá mặt hàng này đã tăng gấp đôi và có thể tiếp tục leo thang. Dù phụ gia chỉ chiếm khoảng 10% sản lượng thức ăn, nhưng lại chiếm tới 20% chi phí sản xuất.

SOMPHOB AUESONGTHAM

Tổng Thư ký Hiệp hội Các nhà máy thức ăn chăn nuôi Thái Lan

Rủi ro chính hiện nay là leo thang chi phí hơn là đứt gãy nguồn cung. Hàng hóa từ Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Australia và Brazil có bị ảnh hưởng nhất định, nhưng chưa đến mức làm gián đoạn dòng chảy thương mại. Tuy nhiên, chi phí logistics đang tăng lên khi phụ phí rủi ro chiến tranh bị đẩy cao. Chi phí đầu vào gia tăng đang đẩy giá thành lên cao và tình trạng biến động được dự báo sẽ còn kéo dài. Malaysia phụ thuộc nhiều vào các nhà sản xuất quy mô lớn, những đơn vị phải nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chất lượng cao, khiến áp lực giá càng lớn hơn.

MOHAMED ZAIFUL ZAKARIA

Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Malaysia

GIÁN ĐOẠN CHUỖI CUNG ỨNG

Giá ngô và đậu tương vẫn dao động trong biên độ hẹp, các tuyến cung ứng từ Nam Mỹ chưa bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, nhu cầu nhiên liệu sinh học gia tăng có thể đẩy giá ngũ cốc làm thức ăn chăn nuôi tăng trong thời gian tới. Năm nay, sản lượng ngô của Ấn Độ dự kiến khoảng 43 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, nếu xung đột kéo dài sau tháng 5, Ấn Độ có thể đối mặt vấn đề lớn về phân bón, ảnh hưởng đến năng suất và giá thành hơn là nguồn cung. Ấn Độ gia tăng tỷ lệ pha trộn ethanol có thể tác động đến thị trường nguyên liệu thức ăn.

DINESH BHOSALE

Phó Chủ tịch Hiệp hội Dinh dưỡng Vật nuôi Ấn Độ

Xung đột tại Iran đã gây gián đoạn chuỗi cung ứng, dòng chảy thương mại và nguồn cung đầu vào, tạo áp lực lớn lên các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là những quốc gia phụ thuộc cao. Các nhà xuất khẩu, đặc biệt là Brazil, sẽ đối mặt với nhiều thách thức thương mại đáng kể. Trong khi đó, các nhà sản xuất nội địa tại Trung Đông có thể tạm thời hưởng lợi từ giá tăng nếu duy trì được sản xuất ổn định. Nhìn chung, thời gian kéo dài và mức độ leo thang của xung đột sẽ là yếu tố quyết định quy mô gián đoạn đối với cả ngành công nghiệp khu vực và các nhà cung cấp quốc tế.

OHAMED ZAIFUL ZAKARIA

Chuyên gia cao cấp toàn cầu về protein động vật, Rabobank

Song song, đầu tư vào năng suất nội địa trở thành trụ cột dài hạn. Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, cải thiện giống, ứng dụng công nghệ chuồng trại tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo tại trang trại có thể giúp giảm độ nhạy với biến động nhiên liệu hóa thạch. Ở cấp độ chính sách, các bộ trưởng kinh tế ASEAN đã nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì thị trường mở, ổn định chuỗi cung ứng thực phẩm và thúc đẩy hợp tác khu vực. Quản lý tồn kho chiến lược, đối thoại công - tư và cơ chế cảnh báo sớm về đứt gãy nguồn cung được xem là công cụ giảm thiểu cú sốc bên ngoài. Đối với những nền kinh tế như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Philippines, các quyết định chủ động hôm nay sẽ quyết định khả năng bảo vệ nguồn đạm động vật và đóng góp kinh tế của ngành trong những năm tới. TUẤN MINH (Theo WorldPoutry và Efeedlink)

4 tháng, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt

245 triệu USD

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 4 năm 2026 ước đạt 61,8 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm 2026 đạt 245 triệu USD, tăng 45,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 62,2 triệu USD, tăng 2,1 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 73,5 triệu USD, tăng 16,5%. Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 4 năm 2026 ước đạt 472,6 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,75 tỷ USD, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 578,6 triệu USD, tăng 28,1%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 679 triệu USD, tăng 20%.

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm mạnh Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 4 năm 2026 ước đạt 313,6 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,32 tỷ USD, giảm 15,8% so với cùng kỳ năm 2025. Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Mỹ, Argentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 23,8%, 20,2% và 10,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 3 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Mỹ tăng 42,3%, thị trường

Trung Quốc tăng 35,4%, trong khi thị trường Argentina giảm 59%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canada với mức tăng 4,4 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Argentina với mức giảm 59%.

Giá thu mua gà thịt lông màu biến động giảm tại ba miền

Giá gà thịt lông màu miền Bắc giảm 2.200 đồng/kg xuống mức 48.000 đồng/kg; tại miền Trung giảm 4.500 đồng/kg, hiện ở mức 43.000 đồng/kg; tại miền Nam giảm 300 đồng/kg xuống còn 45.000 đồng/kg. Giá gà có xu hướng giảm do nguồn cung tăng

mạnh trong khi sức mua phục hồi chậm. Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc giảm 9.000 đồng/kg xuống 19.000 đồng/kg; tại miền Trung tăng 5.000 đồng/kg lên mức 27.000 đồng/kg; tại miền Nam tăng 2.000 đồng/kg, hiện là 29.000 đồng/kg. Giá thu mua trứng gà biến động giảm tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc giảm 300 đồng/ quả xuống 1.300 đồng/quả; tại miền Trung giảm 380 đồng/quả, hiện ở mức 1.430 đồng/quả; tại miền Nam giảm 200 đồng/quả xuống 1.430 đồng/quả. Giá trứng giảm do nguồn cung dư thừa trong khi sức mua yếu.

Giá thức ăn chăn nuôi tăng lần thứ 4 từ

năm

Nhiều doanh nghiệp lớn như DH Vina Agri, GreenFeed, De Heus, Haid Hải Dương… đồng loạt điều chỉnh tăng giá thức ăn chăn nuôi từ đầu tháng 5/2026, mức tăng phổ biến 200 - 300 đồng/kg. Đây là lần tăng giá thứ 4 trong năm. Cụ thể, các doanh nghiệp tập trung tăng mạnh ở nhóm thức ăn heo con và sản phẩm

đậm đặc (khoảng 300 đồng/kg), các dòng sản phẩm còn lại tăng 160 - 250 đồng/kg. Một số đơn vị áp dụng tăng đồng loạt 200 đồng/ kg cho toàn bộ sản phẩm. Được biết, giá cám gạo tại ĐBSCL trong tháng 4/2026 giảm 600 - 900 đồng/kg so với tháng 3/2026. Giá cám khô tháng 4/2026 đạt 6.800 đồng/kg, giảm 900 đồng/kg; cám hỗn hợp 6.800 đồng/kg, giảm 700 đồng/kg và cám ướt 6.900 đồng/kg, giảm 800 đồng/kg.

QUẢNG NINH

Phát hiện xe chở 10.000 vịt con không rõ nguồn gốc

Lực lượng CSGT tỉnh Quảng Ninh vừa phát hiện một xe tải vận chuyển khoảng 10.000 vịt con không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Cụ thể, rạng sáng 27/4/2026, tại Km1 tuyến tỉnh lộ 335 (phường Móng Cái 1), tổ công tác kiểm tra xe tải thùng kín biển số 12H-046.19 do Nguyễn Văn Duy (trú tại Lạng Sơn) điều khiển. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 100 lồng nhựa chứa khoảng 10.000 vịt con nhưng không có giấy tờ hợp lệ. Vụ việc đã được lập biên bản và bàn giao cho lực lượng quản lý thị trường để xử lý theo quy định. Cơ quan chức năng cảnh báo, việc vận chuyển gia cầm không rõ nguồn gốc tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi và sức khỏe cộng đồng.

ĐÔNG NAM BỘ

Dư cung kéo giá giảm, doanh nghiệp chăn nuôi thua lỗ

Chỉ sau quý I/2026, thị trường gia cầm khu vực Đông Nam bộ đã đảo chiều nhanh chóng. Giá gà thịt và trứng gà đồng loạt giảm mạnh trong bối cảnh nguồn cung tăng cao từ cuối năm trước, trong khi sức mua phục hồi chậm. Tại Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, giá gà lông màu đầu tháng 4 chỉ còn 44.000 - 45.000 đồng/kg, giảm so với mức gần 49.000 đồng/kg hồi đầu năm. Gà công nghiệp dao động 26.000 - 29.000 đồng/kg, sát giá thành. Giá trứng gà giảm mạnh hơn, hiện chỉ còn 1.460 - 1.530 đồng/quả, giảm 25 - 30% so với đầu năm (khoảng 2.120 đồng/quả). Tại Tây Ninh, xuất khẩu tiểu ngạch sang Campuchia không ổn định khiến lượng trứng dồn về thị trường nội địa, làm giá tiếp tục bị ép xuống 1.500 đồng/quả.

ĐỒNG THÁP

Người chăn nuôi “gồng mình” vì chi phí tăng, đầu ra

bấp bênh

Tại Đồng Tháp, người chăn nuôi đang chịu áp lực kép khi giá thức ăn tăng mạnh trong khi giá bán gia cầm và trứng giảm. Chi phí thức ăn hiện chiếm 60 - 70% giá thành sản xuất. Từ tháng 3/2026, giá thức ăn liên tục điều chỉnh tăng theo biến động giá xăng dầu. Một số doanh nghiệp ghi nhận mức tăng khoảng 8%, tương đương 15.000 - 20.000 đồng/bao 25 kg. Trang trại nuôi 70.000 gà ác đẻ trứng tại xã Lương Hòa Lạc cho biết, mỗi ngày tiêu thụ khoảng 4 tấn thức ăn, chi phí tăng thêm hơn 3 triệu đồng/ngày. Trong khi đó, giá trứng chỉ khoảng 1.600 đồng/quả, dưới giá thành, khiến người nuôi thua lỗ. Không chỉ gà đẻ, các hộ nuôi gà thịt cũng gặp khó. Nhiều hộ cho biết giá gà thấp, tiêu thụ chậm, trong khi thức ăn tăng liên tục khiến mỗi lứa nuôi lỗ hàng chục triệu đồng. BÙI ĐỊNH (Tổng hợp)

THÁI LAN

Giá trứng gà ổn định

Giá trứng Thái Lan duy trì ổn định nhờ cơ chế hạn ngạch nhập khẩu đàn giống ông bà (GP) và bố mẹ (PS). Ông Manot Chuthapthim, Chủ tịch Hiệp hội ngành trứng Thái Lan cho biết, tháng 1 vừa qua thời tiết thuận lợi giúp năng suất đàn tăng, sản lượng cao hơn thông lệ 5%, trong khi sức mua suy yếu do kinh tế chậm và thiếu gói kích cầu, kéo giá đi xuống. Khi giá giảm nhưng chi phí không hạ, các trại nhỏ gặp khó, buộc phải thay đàn sớm. Từ năm 2018, cơ chế hạn ngạch GP, PS được áp dụng để kiểm soát sản lượng. Năm 2025, Thái Lan sản xuất 43 triệu trứng/ngày, 97% tiêu thụ nội địa; xuất khẩu 479,98 triệu quả trong 11 tháng, tăng 27%, chủ yếu sang Singapore. Năm 2026, nước này dự kiến nhập 3.800 GP và 440.000 PS, tương đương năm trước, đồng thời áp chuẩn năng suất và thời điểm loại thải nhằm cân đối thị trường. Hiện Thái Lan có 51,55 triệu gà đẻ, sản xuất khoảng 42,78 triệu trứng mỗi ngày.

INDONESIA

Giá gà sống lao dốc sau lễ Eid

Giá gà sống tại Indonesia giảm sâu ngay sau kỳ nghỉ lễ Eid khi nguồn cung tăng nhanh vượt khả năng hấp thụ của thị trường, buộc nhiều hộ chăn nuôi phải trì hoãn tái đàn. Ông Sugeng Wahyudi, Tổng Thư ký Hiệp hội gia cầm Indonesia (Gopan) cho biết, giá đã sụt mạnh trong những ngày gần đây. Tại Tây Java, giá gà sống hiện chỉ còn khoảng 1,11 USD/kg và thậm chí thấp hơn tại Trung Java. Trước đó, giá từng đạt mức 1,46 USD/kg, trong khi chi phí sản xuất gà cỡ lớn vào khoảng 1,22 USD/kg. Với mặt bằng hiện nay, người nuôi lỗ xấp xỉ 0,12 USD/kg trong tuần qua. Theo ông Wahyudi, trong kỳ lễ Eid, hoạt động thu mua của thương lái và lò giết mổ giảm khiến lượng gà tồn tại trại tăng cao, tạo áp lực dư cung. Gopan kêu gọi tăng cường điều phối sản xuất, tiêu thụ nhằm sớm ổn định giá và hạn chế thiệt hại cho nông dân.

MỸ

Giá trứng hạ nhiệt

Giá trứng tại Mỹ đang giảm sâu khi sản xuất dần phục hồi sau biến động do dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI), theo báo cáo của American Farm Bureau. Trong hai tháng đầu năm, số ca phát hiện tăng mạnh, hơn 15 triệu gia cầm bị nhiễm. Tuy nhiên, con số này vẫn thấp hơn 56% so với cùng kỳ năm ngoái. Sang tháng 3, tốc độ lây nhiễm chững lại, cho thấy nỗ lực kiểm soát dịch của các nhà sản xuất bắt đầu phát huy hiệu quả. Bộ Nông nghiệp Mỹ kêu gọi nông dân tăng cường an toàn sinh học khi mùa di cư của chim hoang dã bắt đầu - giai đoạn thường làm gia tăng áp lực lây nhiễm do tiếp xúc giữa chim trời và đàn gia cầm nuôi. Dù virus vẫn lưu hành trong quần thể chim hoang dã, tác động hiện chủ yếu tập trung ở gia cầm; mức độ lây lan sang các vật nuôi khác thấp hơn đáng kể so với những năm trước. Các chuyên gia nhận định điều này cho thấy dịch bệnh đang bước vào giai đoạn được kiểm soát tốt hơn và dễ quản lý hơn.

HÀN QUỐC

Nhập trứng ấp, hạ nhiệt giá gà

Bộ Nông nghiệp Hàn Quốc ngày 30/3 cho biết, sẽ khẩn cấp nhập khẩu 15 triệu trứng ấp gà thịt, nhằm kiềm chế đà tăng giá trong nước. Theo hệ thống giá của Tổng công ty Thương mại nông, thủy sản và thực phẩm Hàn Quốc, giá bán lẻ gà thịt đã tăng khoảng 300 won/kg trong 10 ngày qua, từ 6.252 won ngày 19/3 lên 6.534 won ngày 28/3; mức giá đỉnh cũng vọt từ 7.182 won lên 7.980 won/kg. Bộ Nông nghiệp Hàn Quốc đang đàm phán với Hà Lan về thủ tục kiểm dịch và cân nhắc Bỉ làm nguồn cung thay thế nếu thương thảo bế tắc. Nếu thuận lợi, nhập khẩu có thể bắt đầu từ đầu tháng 4. Cộng với 778.000 trứng đã nhập từ Tây Ban Nha trong tháng 3, tổng lượng nhập dự kiến đạt khoảng 23 triệu trứng. Tuy nhiên, phải mất khoảng hai tháng để trứng nở, nuôi và chế biến thành sản phẩm thương mại. Trong thời gian này, cơ quan quản lý cũng xem xét đề nghị các doanh nghiệp gia cầm lớn tạm thời không tăng giá.

BRAZIL

đà xuất khẩu thịt gia cầm

Brazil đang duy trì nhịp xuất khẩu thịt gia cầm sang các thị trường toàn cầu, đặc biệt là châu Á, nhờ linh hoạt điều chỉnh tuyến vận chuyển. Doanh nghiệp cho biết đã chuyển hướng hàng hóa qua các tuyến biển và đường bộ thay thế nhằm bảo đảm tiến độ giao hàng. Theo Hiệp hội Protein động vật Brazil (ABPA), lượng xuất khẩu thịt gia cầm trong tháng 3 dự kiến vượt mốc 476.000 tấn của cùng kỳ năm ngoái, cho thấy nhu cầu thế giới vẫn ổn định. Các lô hàng được vận chuyển qua Biển Đỏ, kênh đào Suez cùng nhiều cảng trung chuyển và tuyến đường bộ để tiếp cận người mua. Brazil tiếp tục cung ứng đều đặn cho các thị trường chủ lực tại châu Á như Malaysia và Singapore. Tuy nhiên, chi phí nhiên liệu, lưu kho, cước vận tải và bảo hiểm rủi ro chiến sự gia tăng đang đẩy giá thành logistics lên cao; một phần đã được phân bổ sang nhà nhập khẩu. Dù xuất khẩu gia cầm vẫn giữ được sức bật, ngành cảnh báo nếu xung đột kéo dài, chi phí vận chuyển toàn cầu có thể tiếp tục leo thang, ảnh hưởng tới thương mại thịt nói chung.

EU

Chịu sức ép dừng chở gia súc

Hàng nghìn động vật từ châu Âu vẫn đang được vận chuyển tới các điểm nóng xung đột như Israel, Lebanon và Saudi Arabia, làm dấy lên làn sóng phản đối từ các tổ chức bảo vệ động vật. Nhiều tổ chức đã kiến nghị Ủy ban châu Âu (EC) tạm dừng vận chuyển, đồng thời phát động hai bản kiến nghị thu hút hàng chục nghìn chữ ký. Theo các tổ chức này, vật nuôi có nguy cơ hứng chịu pháo kích, không kích, bị bỏ mặc tại cảng do đóng cửa đột ngột. Khi mắc kẹt trên biển nhiều tuần, chúng có thể cạn thức ăn, nước uống, sống trong điều kiện mất vệ sinh, gia tăng thương tích và bệnh tật. Trong thư gửi Cao ủy Y tế và Phúc lợi động vật Olivér Várhelyi, các bên kêu gọi đình chỉ xuất khẩu gia súc sống sang Trung Đông cho tới khi an ninh được bảo đảm. Dù vậy, EU chưa áp dụng lệnh cấm toàn khối, bất chấp một số giải pháp thay thế như giết mổ tại Bồ Đào Nha để xuất khẩu thịt thay vì vận chuyển con sống, vốn được đánh giá an toàn và hiệu quả hơn. TUẤN MINH (Tổng hợp)

Tại sao doanh nghiệp nên chuyển từ phân loại

trứng thủ công sang

tự động?

Trong bối cảnh ngành thực phẩm ngày càng hướng tới tiêu chuẩn hóa

và tự động hóa, việc đầu tư vào máy phân loại trứng không chỉ là một lựa chọn, mà là bước đi cần thiết để doanh nghiệp phát triển bền vững và tối ưu hóa lợi nhuận trong dài hạn.

Trong ngành sản xuất và phân phối trứng, công đoạn phân loại đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và giá trị thương mại của sản phẩm.

Tuy nhiên, nhiều cơ sở vẫn đang duy trì phương pháp phân loại thủ công - một giải pháp tưởng chừng tiết kiệm nhưng lại tiềm ẩn nhiều hạn chế.

Phân loại bằng tay phụ thuộc hoàn toàn vào con người, dẫn đến sự thiếu đồng đều về kích thước và chất lượng. Ngay cả với nhân công có kinh nghiệm, việc xử lý số lượng lớn trứng trong thời gian dài dễ gây sai sót, làm tăng nguy cơ nứt vỡ và hao hụt. Bên cạnh đó, chi phí nhân công ngày càng tăng, trong khi hiệu suất lại khó cải thiện đáng kể. Điều này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường.

Ngược lại, máy phân loại trứng mang lại một giải pháp toàn diện và bền vững hơn. Với khả năng xử lý nhanh và chính xác từng quả, hệ thống tự động

giúp đảm bảo sự đồng đều về kích thước, trọng lượng và chất lượng đầu ra. Nhờ cơ chế vận hành ổn định và thiết kế chuyên

dụng, tỷ lệ nứt vỡ được giảm

thiểu đáng kể, từ đó hạn chế hao hụt và tối ưu chi phí.

Không chỉ dừng lại ở hiệu quả vận hành, việc ứng dụng máy phân loại còn giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào lao động thủ công, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất tổng thể. Quan trọng hơn, sản phẩm sau phân loại đạt tiêu chuẩn

đồng nhất, góp phần nâng cao uy tín thương hiệu và khả năng

cạnh tranh trên thị trường.

Với thiết kế chắc chắn, cấu trúc inox chống gỉ và hệ thống

bảo trì đơn giản, máy phân loại trừng đảm bảo độ bền cao, hoạt

động ổn định trong thời gian dài. Có thể nói, máy phân loại trứng công suất 10.000 - 60.000 trứng/giờ không chỉ là thiết bị

kỹ thuật, mà còn là một bước tiến quan trọng trong quá trình

hiện đại hóa ngành chăn nuôi.

Với hiệu suất mạnh mẽ, tính

năng thông minh và chất lượng

vượt trội, máy phân loại trứng

chính là giải pháp tối ưu cho các

trang trại quy mô lớn, nhà máy

chế biến trứng và doanh nghiệp

nông nghiệp đang hướng tới mô

hình sản xuất công nghiệp 4.0.

Ngành nông nghiệp, thủy sản đang bước vào giai đoạn biến động mạnh, với sự thay đổi nhanh chóng trong hành vi tiêu dùng, áp lực chi phí sản xuất và sự điều chỉnh liên tục của chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, câu chuyện xây dựng thương hiệu, quảng bá hình ảnh, mở rộng thị trường đã trở thành vấn đề cốt lõi và cấp thiết.

Chính vì vậy, một hội chợ thương mại có quy mô lớn, tập trung gần như toàn bộ chuỗi cung ứng của ngành như VietAgros 2026, đã trở thành điểm đến quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc kết nối với người tiêu dùng một cách hiệu quả hơn. Đẩy mạnh kết nối tiêu dùng

Chỉ trong 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông, lâm, thủy sản tiến sát mốc 4 tỷ USD, tăng khoảng 14 - 15% so với cùng kỳ năm trước. Con số này không chỉ phản ánh sự phục hồi của thị trường mà còn mở ra kỳ vọng về một năm tăng trưởng tích cực, với mục tiêu có thể vượt ngưỡng 12 tỷ USD nếu các điều kiện thuận lợi được đảm bảo.

Với lĩnh vực thủy sản, theo VASEP, cơ hội tăng trưởng của ngành trong năm 2026 là có thật, nhưng không phải là cơ hội “tự

đến”. Để đạt được mục tiêu trên 12 tỷ USD, ngành cần đáp ứng đồng thời nhiều điều

kiện, từ cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ đến nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Một yếu tố không kém phần quan trọng là tăng cường xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường. Bên cạnh việc phát triển thị trường quốc tế, việc khai thác lợi thế từ sân nhà đang được rất nhiều doanh nghiệp coi trọng.

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có trên 1.000 sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia, Bộ Công thương đã đề ra chiến lược phát triển thị trường trong nước dựa trên ba trụ cột chính, hay còn gọi là chiến lược “kiềng ba chân”. Thứ nhất, nâng cao năng lực cạnh tranh: Tập trung vào chất lượng sản phẩm để chinh phục thị trường hơn 100 triệu dân, tạo bàn đạp vững chắc trước khi ra biển lớn. Thứ hai, chuyển đổi số và xanh: Ứng dụng công nghệ vào phân phối và chuỗi cung ứng để tối ưu hóa chi phí và bảo vệ môi trường - một yêu cầu bắt buộc của xu thế tiêu dùng hiện đại. Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái thương hiệu: Kết nối chặt chẽ giữa sản xuất - phân phối - tiêu dùng, gắn liền với giá trị văn hóa dân tộc. Hội chợ, triển lãm đang là phương án

kích cầu kinh tế hữu hiệu đang được các cơ quan nhà nước, các tổ chức doanh nghiệp áp dụng. Hình thức này giúp các nhà cung cấp tiếp cận nhanh chóng với khách hàng tiềm năng, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới, đồng thời là cơ hội để các doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm, cập nhật xu hướng thị trường và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Xây dựng thương hiệu, nâng tầm giá trị

Theo các nhà chuyên môn, hội chợ triển lãm là nhịp cầu quan trọng để mở rộng giao lưu và liên kết vùng, với mục tiêu trọng tâm là thúc đẩy đồng bộ các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư gắn liền với phát triển ngành hàng. Định hướng chiến lược này đã

đặt hội chợ vào vị trí cầu nối vững chắc giữa khâu sản xuất và thị trường tiêu thụ. Đây là cơ hội vàng để các doanh nghiệp, hợp tác xã trực tiếp gặp gỡ đối tác, từ đó mở rộng mạng lưới phân phối bền vững.

Những sản phẩm trưng bày tại hội chợ không chỉ đạt chuẩn kỹ thuật mà còn chứa đựng tâm huyết, khát vọng của doanh nghiệp Việt. Đây chính là động lực quan trọng để hàng Việt khẳng định vị thế trên trường trong nước và quốc tế. Sự kỳ vọng của các doanh nghiệp khi tham gia các hội chợ đó là không chỉ dừng lại ở doanh số bán lẻ tại chỗ; họ mong muốn tạo ra những liên kết bền vững trong chuỗi cung ứng. Không gian hội chợ còn đóng vai trò như một “diễn

đàn mở”, nơi người sản xuất được lắng nghe ý kiến, phản hồi trực tiếp từ người tiêu dùng. Theo đại diện một doanh nghiệp lĩnh vực thủy sản từng tham gia các hội chợ chuyên ngành trong nước và quốc tế, việc tiếp xúc

trực tiếp giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn nhu cầu, kỳ vọng và cả những băn khoăn của khách hàng. Sự tương tác hai chiều này không chỉ giúp doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm, mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, xây dựng mối quan hệ xã hội bền vững trong nền kinh tế thị trường.

Và với Hội chợ Triển lãm Quốc tế Công nghệ Nông nghiệp và Môi trường (VietAgros) cũng được Ban tổ chức kỳ vọng tạo sứ mệnh lan tỏa giá trị hàng nông sản, thúc đẩy văn hóa tiêu dùng, tạo bệ phóng cho các doanh nghiệp Việt bứt phá trong thời gian tới. VietAgros vì thế không chỉ là nơi “bán hàng”, mà có thể coi là cầu nối niềm tin giữa đô thị và nông thôn, giữa người tiêu dùng và người sản xuất.

Lần đầu tiên được tổ chức tại TP Cần Thơ năm 2026, VietAgros với 2 điểm nhấn chính đó là không gian triển lãm và các chuỗi hội thảo. Cụ thể: Sự kiện có hơn 200 gian hàng của các tổ chức, tập đoàn, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước tham gia trưng bày, giới thiệu các dịch vụ, máy móc, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, môi trường, sản phẩm OCOP, đặc sản vùng miền. Cùng đó, VietAgros 2026 sẽ diễn ra 3 phiên hội thảo, tập trung vào các chủ đề về chiến lược xanh cho ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghệ nuôi trồng bền vững, tối ưu hóa và tăng trưởng xanh. Hội thảo dự kiến có sự tham gia các chuyên gia đầu ngành đến từ các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Kết nối Nông nghiệp và Môi trường Việt Điện thoại: 098 666 7926

Email: Info@vietagros.vn

Web: Vietagros.vn

AN TOÀN SINH HỌC

Sức khỏe đàn gia cầm đóng vai trò then chốt trong việc duy trì hiệu quả sản xuất ở mọi khâu chăn nuôi. Vì vậy, tăng cường an toàn sinh học nhằm bảo vệ phúc lợi đàn nuôi, hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh và đảm bảo an toàn thực phẩm là yêu cầu thiết yếu đối với mọi trang trại.

Một chương trình an toàn sinh học hiệu quả phải bắt đầu bằng công tác vệ sinh trang trại trước khi nhập đàn mới. Trước giai đoạn xuất bán đàn, cần xây dựng kế hoạch làm sạch tổng thể cho toàn bộ khu chăn nuôi. Khi chuồng vẫn còn ấm, tiến hành phun thuốc diệt côn trùng phù hợp và đảm bảo người thực hiện luôn sử dụng đầy đủ thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE). Tiếp đó, loại bỏ toàn bộ bụi bẩn, mạng nhện trên thiết bị và trong chuồng nuôi, đồng thời phun chất sát trùng để làm ẩm bụi. Đóng kín rèm che, đưa các thiết bị di động ra ngoài và nâng toàn bộ thiết bị cố định lên để thuận tiện cho việc vệ sinh. Toàn bộ chất độn chuồng phải được thu gom, xử lý và vận chuyển cách trang trại ít nhất 3,2 km. Sau cùng, rửa sạch chuồng trống bằng chất tẩy

rửa và xả lại bằng nước nóng. Hệ thống nước uống cần

được xả, vệ sinh và súc rửa kỹ. Sử dụng dung dịch clo nồng độ cao (140 ppm) trong 24 giờ để loại bỏ màng sinh học. Sau đó, cho dung dịch axit nhẹ như axit acetic vào hệ thống trong 24 giờ nhằm loại bỏ cặn bám, rồi xả sạch. Toàn bộ thiết bị cho ăn cần được làm trống, vệ sinh và sát trùng. Chải sạch bên trong các silo chứa thức ăn và bịt kín mọi khe hở. Nếu có thể, nên xông khử trùng hệ thống cấp thức ăn. Để hóa chất phát huy hiệu quả tối đa, mọi bề mặt phải sạch bụi bẩn và chất hữu cơ. Khi chuồng đã khô hoàn toàn, tiến hành phun chất sát trùng được phê duyệt. Việc sử dụng chất sát trùng trên bề mặt còn ướt sẽ làm pha loãng hóa chất, từ đó giảm hiệu quả khử trùng. Phần lớn các chất sát trùng không có hiệu quả đối với noãn nang cầu trùng. Tại những nơi được phép xông formol, quá trình này nên thực hiện ngay sau khi sát trùng, khi bề mặt vẫn còn ẩm. Đóng kín chuồng và không cho người

vào ít nhất 24 giờ. Sau đó thông

thoáng chuồng trước khi quay

lại làm việc. Tiếp tục xông khử

trùng lần nữa sau khi trải chất

độn chuồng mới. Phun lại thuốc diệt côn trùng trước khi nhập

đàn kế tiếp.

Khu vực bên ngoài chuồng

cũng cần được rửa và sát trùng.

Đặc biệt chú ý các vị trí tích tụ

nhiều bụi hoặc có mật độ di chuyển cao như khu vực dưới quạt thông gió, dưới silo thức ăn, lối đi, cửa ra vào và máng.

Xung quanh chuồng nên được phủ bê tông hoặc đá sỏi. Tối thiểu cần loại bỏ toàn bộ cỏ dại và đảm bảo khu vực không tồn đọng thiết bị hay máy móc.

Trước khi nhập đàn mới, chuồng nuôi cần được kiểm tra Salmonella và tổng số vi khuẩn.

Nếu kết quả vượt ngưỡng cho phép hoặc phát hiện Salmonella, chuồng phải được vệ sinh lại và

khử trùng nếu cần thiết. Thực hành tối ưu là áp dụng nguyên

tắc “âm tính mới nhập đàn”, tức

chỉ đưa gia cầm vào nuôi khi các

chỉ tiêu kiểm tra đạt yêu cầu.

Việc theo dõi mật độ vi khuẩn

định kỳ theo thời gian cũng góp

phần nâng cao hiệu quả vệ sinh và kiểm soát an toàn sinh học trong trang trại.

Chất lượng nước cũng cần

được giám sát ít nhất mỗi năm một lần. Mục tiêu là không phát

hiện khuẩn coliform trong hệ thống nước uống. Khi sử dụng

clo để khử trùng hệ thống nước, nồng độ clo tự do ở cuối đường ống nên đạt 3 - 5 ppm. Ngoài ra,

có thể áp dụng các phương pháp

xử lý nước khác khi phù hợp.

Khuyến cáo xả định kỳ hệ thống nước để ngăn tích tụ màng sinh học. Nếu phát hiện chất hữu cơ trong nước xả, cần rà soát và

điều chỉnh chương trình vệ sinh nước uống.

Con người, quần áo và các vật dụng mang vào trang trại là nguồn lây truyền mầm bệnh quan trọng. Vì vậy, khu chăn

nuôi cần được rào chắn nhằm hạn chế người không phận sự ra vào, đồng thời tất cả khách

đến trại phải ghi thông tin vào sổ theo dõi. Tốt nhất, người vào trại nên tắm sát trùng; tối thiểu phải thay quần áo và giày dép sạch. Cần hạn chế tối đa việc mang thiết bị cá nhân vào khu chăn nuôi, kể cả điện thoại di động hay hộp đựng thức ăn. Mọi thiết bị đều phải được vệ sinh và sát trùng trước khi đưa vào khu vực chăn nuôi. Sử dụng giày dép riêng cho từng chuồng hoặc ít nhất phải khử trùng giữa các chuồng. Tay phải được rửa hoặc sát trùng trước khi vào khu vực nuôi gia cầm. Khi đi kiểm tra đàn, nên theo thứ tự từ đàn nhỏ tuổi đến lớn tuổi.

Chim hoang dã, côn trùng và các loài động vật khác đều có thể mang mầm bệnh. Vì vậy, cần hạn chế tối đa khả năng thu hút chúng đến trang trại. Phải dọn sạch ngay thức ăn rơi vãi và bảo quản toàn bộ thức ăn cũng như chất độn chuồng trong nhà kho kín. Không để máy móc hoặc thiết bị ngoài trời. Loại bỏ toàn bộ rác thải và vật liệu dư thừa.

Đảm bảo lưới chắn chim và côn trùng luôn trong tình trạng tốt. Ngăn chim đậu hoặc làm tổ trên các công trình trong trại. Đồng thời duy trì chương trình kiểm soát động vật gặm nhấm hiệu quả. Tất cả nguồn nước hở cần được che chắn nhằm hạn chế chim, bò sát hoặc động vật lưỡng cư tiếp cận. Khi có thể, nên áp dụng quy trình “all in/all out” (cùng vào - cùng ra) trong chăn nuôi. Việc để trống chuồng giữa các lứa nuôi sẽ giúp giảm nguy cơ lây truyền dịch bệnh. Thời gian trống chuồng tối thiểu nên đạt 7 ngày giữa các đàn; tuy nhiên, những trại từng gặp vấn đề dịch bệnh cần kéo dài thời gian này và kết hợp thêm các biện pháp vệ sinh tăng cường.

An toàn sinh học không phải là biện pháp duy nhất để phòng bệnh, nhưng đó là tuyến phòng thủ đầu tiên. Quy trình vệ sinh, sát trùng triệt để kết hợp với các biện pháp quản lý phù hợp suốt quá trình nuôi sẽ giúp bảo vệ sức khỏe gia cầm và duy trì hiệu quả sản xuất.

→ Để biết thêm thông tin, truy cập Trung tâm Thông tin Aviagen hoặc quét mã QR.

AVIAGEN

ưu hóa tiềm năng di truyền trong chăn nuôi gia cầm

Ngành sản xuất gia cầm hiện đại không chỉ dừng lại ở

nhu cầu dinh dưỡng mà còn đòi hỏi kỹ năng quản trị các yếu tố vô hình. Dù được chọn lọc di truyền để đạt hiệu suất vượt trội (tăng trưởng nhanh, FCR thấp, độ đồng đều cao), gia cầm vẫn luôn đối mặt với các tác nhân gây căng thẳng tiềm ẩn làm hạn chế tiềm năng di truyền.

Các tác nhân không chỉ là nhiệt độ hay mật độ nuôi, mà còn bao gồm: viêm cấp độ thấp, độc tố trong khẩu phần hoặc mất cân bằng vi sinh vật. Dù hoạt động dưới ngưỡng lâm sàng, sự cộng hưởng của chúng gây suy giảm nghiêm trọng chức năng đường ruột, hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng và mất cân bằng miễn dịch.

Hệ vi sinh vật đường ruột - “Trung tâm

kiểm soát” trao đổi chất

Mọi tác nhân gây căng thẳng vô hình đều hội tụ tại một điểm chung: hệ vi sinh vật đường ruột. Với vai trò điều tiết trao đổi chất và miễn dịch, hệ vi sinh vật quyết định khả năng chống lại các thách thức của vật nuôi:

• Trạng thái ổn định: Giúp duy trì tính toàn vẹn hàng rào ruột, điều hòa miễn dịch và tối ưu hóa tiêu hóa.

• Trạng thái mất cân bằng: Do chất lượng xơ kém, thức ăn bị ô nhiễm hoặc viêm dẫn đến giảm khả năng phục hồi, trao đổi chất kém và sụt giảm hiệu suất.

Quản trị hiệu suất hiện đại đòi hỏi một chiến lược dinh dưỡng tích hợp, nhằm ổn

định hệ vi sinh vật, bảo vệ mô ruột và giảm thiểu căng thẳng toàn thân.

Quản lý hệ vi sinh vật: Cấu trúc đáp

ứng chức năng

Hệ vi sinh vật có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống. Trong các yếu tố dinh

dưỡng, hồ sơ chất xơ là đòn bẩy cơ bản nhất

để điều tiết hệ vi sinh vật. Chất xơ không chỉ đóng vai trò vật lý (cấu trúc) mà còn là cơ chất lên men, định hình quần thể vi khuẩn có lợi và thúc đẩy sản sinh axit béo chuỗi ngắn (SCFA) - nguồn năng lượng thiết yếu cho tế bào biểu mô ruột.

Tuy nhiên không phải tất cả chất xơ đều

mang lại hiệu quả sinh học giống nhau:

0 Nhóm kiểm soát

0 Lignocellulose thông thường

0 OPTICELL

Hình 1. Thành phần vi sinh vật manh tràng của gà thịt (Zeitz và cộng sự, 2018)

• Lignocellulose thông thường: Chủ yếu hỗ trợ chức năng mề và cải thiện chất lượng phân; tuy nhiên, khả năng tác động đến hệ vi sinh vật và quá trình lên men tại ruột già rất hạn chế.

• Lignocellulose Eubiotic: Kết hợp tối ưu giữa xơ cấu trúc (từ thân gỗ) với các thành phần có thể lên men (từ vỏ cây). Sự kết hợp này kích hoạt mạnh mẽ quá trình lên men tại ruột già, làm thay đổi rõ rệt cấu trúc cộng đồng vi sinh vật và tăng cường sản xuất SCFA.

Hình 1 cho thấy, phân tích tọa độ chính (PCoA) minh họa hiệu quả của OPTICELL làm thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột. Trong khi thành phần của các cụm vi sinh vật của nhóm đối chứng âm tính và nhóm nhận lignocellulose thông thường (hình elip màu đỏ và xanh lá cây) phần lớn trùng lặp, thì việc bổ sung OPTICELL tạo ra một hệ vi sinh vật có thay đổi rõ ràng (hình elip màu xanh dương).

Khi độc tố nấm mốc phá vỡ cộng đồng vi sinh vật Độc tố nấm mốc là mối đe dọa vô hình nhưng nghiêm trọng đối với sức khỏe đường ruột. Ngay cả ở nồng độ thấp, các độc tố như AFB1, OTA hoặc T-2 vẫn gây ra những tác động tiêu cực như gây rối loạn hệ vi sinh vật, gây tổn thương biểu mô, các mầm bệnh cơ hội sinh sôi phát triển và làm suy yếu quá trình trao đổi chất.

Do đó, kiểm soát độc tố nấm mốc hiệu quả đòi hỏi phương pháp tiếp cận tổng thế hơn là liên kết đơn thuần. Phương pháp tiếp cận đa thành phần kết hợp hấp phụ, chuyển hóa sinh học, hỗ trợ gan và hệ thống miễn dịch đã chứng minh có hiệu quả trong việc giảm tác hại của độc tố nấm mốc. Trong một thử nghiệm được thực hiện tại Viện Samitec ở Brazil, 240 con gà thịt Cobb 500 được cho ăn chế độ ăn bị nhiễm aflatoxin B1 và fumonisin B1. Trong thử thách 21 ngày, độc tố nấm mốc làm giảm hiệu suất và các thông số máu. Việc bổ sung thức ăn đa thành phần (MYCORAID) trong khẩu phần ăn đã cải thiện các thông số hiệu suất nhưng cũng làm tăng số lượng Bacillus spp. có chức năng lợi khuẩn.

Việc sử dụng phụ gia đa năng không chỉ trung hòa độc tố mà còn chủ động tái thiết lập hệ vi sinh vật có lợi, giúp gia cầm phục hồi năng suất trong điều kiện thách thức.

thường là hệ quả thứ phát từ sự hiện diện của độc tố nấm mốc, mất cân bằng khẩu phần hoặc biến động hệ vi sinh vật.

Một cách lặng lẽ, quá trình viêm chuyển hóa năng lượng từ hoạt động sinh lý sang đáp ứng miễn dịch. Khi được kích hoạt, chúng sẽ gây rối loạn hệ vi sinh vật bằng cách ức chế các vi khuẩn có lợi và tạo điều kiện cho các loài vi khuẩn cơ hội như Escherichia, Enterococcus, Clostridium hoặc Campylobacter phát triển.

Giải quyết tình trạng viêm nhiễm từ gốc rễ là chìa khóa để đạt được sự ổn định lâu dài. Lignan chiết xuất từ gỗ có khả năng chống stress ôxy hóa và phản ứng viêm nhiễm phát sinh bởi các tác nhân nội sinh và ngoại sinh. Nghiên cứu trên gà thịt cho thấy, bổ sung lignan giúp tái cấu trúc hệ vi sinh vật theo hướng tăng cường các lợi khuẩn như Lactobacillus, Bacillus và Akkermansia, đồng thời ức chế sự bùng phát của các vi khuẩn gây bệnh cơ hội (Hình 3,Theapparat et al., 2025b).

Hình 3. Cấp độ loài: thành phần hệ vi sinh vật bị ảnh hưởng bởi việc bổ sung lignan gỗ. Sự khác biệt đáng kể - *(p<0,05), **(p<0,01), (p<0,001), (p<0,0001)

Những thay đổi cân bằng về hệ vi sinh vật này có liên quan đến việc giảm biểu hiện các dấu hiệu viêm và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn (Theapparat, et al., 2025a). Bằng cách giảm viêm dưới lâm sàng và ổn định hệ vi sinh vật, các lignan trong gỗ giúp gia cầm duy trì sự tập trung trao đổi chất vào hiệu suất thay vì phòng vệ, đảm bảo hiệu suất ổn định.

Căng thẳng hô hấp: Yếu tố hiệu suất thường bị lãng quên

Các tác nhân gây căng thẳng vô hình không chỉ giới hạn ở đường ruột. Mặc dù,

đường ruột đóng vai trò trung tâm trong việc quản lý sức khỏe, nhưng đường hô hấp là một trong những bề mặt lớn nhất tiếp xúc trực tiếp với môi trường và là một giao diện chính của căng thẳng. Các tác nhân như bụi, amoniac hoặc sự biến động nhiệt độ có thể gây ra stress ôxy hóa và phản ứng viêm, ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình tiêu hóa và hiệu quả sử dụng thức ăn.

Nghiên cứu gần đây trên gà đẻ trứng (Mantzios et al., 2024) cho thấy, việc bổ sung hỗn hợp tinh dầu, lysozyme và vitamin đã cải thiện đáng kể tính toàn vẹn của khí quản và tình trạng chống ôxy hóa sau khi tiêm phòng NDV và IBV (Hình 4). Những con gà được cho uống hỗn hợp này có nồng độ kháng thể cao hơn, stress ôxy hóa thấp hơn và ít tổn thương khí quản hơn, chứng tỏ khả năng bảo vệ niêm mạc dưới thách thức về hô hấp. Hỗn hợp này hỗ trợ hệ hô hấp thông qua cơ chế kép: tinh dầu và vitamin chống ôxy hóa, tăng cường khả năng phòng vệ biểu mô và điều chỉnh phản ứng miễn dịch, trong khi lysozyme tăng cường khả năng làm sạch chất nhầy và giảm kích ứng. Bằng cách bảo vệ niêm mạc hô hấp, nó giúp duy trì sự cân bằng toàn thân, bổ sung cho các chiến lược tập trung vào đường ruột để duy trì hiệu suất và khả năng phục hồi.

Hình 4. Tác dụng của việc bổ sung tinh dầu vào nước uống (LIQUIHYPE) đối với hiệu giá NDV và IBV ở gà đẻ (Mantzios et al; 2024)

Một hệ thống,

nhiều điểm tiếp cận

Mặc dù có nguồn gốc khác biệt, các tác nhân gây stress tiềm ẩn luôn có mối liên hệ mật thiết. Độc tố nấm mốc gây tổn thương biểu mô ruột, trong khi phản ứng viêm và cấu trúc chất xơ định hình

hệ vi sinh vật. Đồng thời, stress hô hấp làm gia tăng tải lượng ôxy hóa toàn thân. Hệ quả là một vòng lặp phản hồi tiêu cực, làm cạn kiệt nguồn năng lượng vốn dành cho quá trình sản xuất thịt và trứng.

Để phá vỡ vòng lặp này, cần một chiến

lược hỗ trợ toàn diện: từ ổn định quá trình lên men hệ vi sinh, kiểm soát

độc tố nấm mốc, đến kháng viêm và bảo vệ hệ hô hấp. Đây là lộ trình then chốt để thiết lập nền tảng năng suất bền vững.

KẾT NỐI CÙNG CHÚNG

TÔI TẠI ILDEX VIỆT NAM 2026

Hãy trực tiếp khám phá các giải pháp của A&P Nutrition

để tối ưu hóa hiệu suất chăn nuôi của bạn tại gian hàng CD08 vào ngày 20 - 22/5/2026.

Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi rất mong được đón tiếp bạn!

A&P Nutrition: Tối ưu hóa hiệu suất thông qua giải pháp tích hợp

Bằng cách giải quyết các yếu tố bên ngoài trước khi chúng trở thành thách thức và cung cấp các giải pháp tiên tiến để giải quyết các mối đe dọa một cách nhanh chóng và hiệu quả, A&P Nutrition mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp chăn nuôi bằng cách tăng năng suất trong khi vẫn duy trì hiệu quả chi phí.

A&P Nutrition là thương hiệu hợp nhất từ liên minh chiến lược giữa PATENT CO. và agromed dưới sự bảo trợ của RWA (Raiffeisen Ware Austria), A&P Nutrition đang tái định nghĩa ngành dinh dưỡng vật nuôi. Với bề dày chuyên môn được hội tụ vào một danh mục giải pháp mạnh mẽ. Trọng tâm của sự chuyển đổi này là một sứ mệnh rõ ràng: Cải thiện năng suất của động vật. Đây không chỉ là một khẩu hiệu - đó là

một lời hứa lấy khách hàng làm trung tâm được hỗ trợ bởi sự đổi mới, minh bạch và hiểu biết sâu sắc về nhu cầu cụ thể của loài. Thông qua các giải pháp chuyên biệt của A&P Nutrition - lignocellulose sinh học (OPTICELL), kiểm soát độc tố nấm mốc đa tầng (MYCORAID), lignan từ gỗ như một công cụ cải thiện hiệu suất đường ruột (AGROMED ROI) và hỗ trợ hô hấp (LIQUIHYPE) - chúng tôi cung cấp một giải pháp tích hợp để khắc phục những rào cản hiệu suất tiềm ẩn. Bằng cách tập trung vào hệ vi sinh vật như mắt xích trung tâm giữa dinh dưỡng, trao đổi chất và khả năng phục hồi, các nhà sản xuất gia cầm có thể giải quyết những căng thẳng vô hình thành hiệu quả bền vững và hữu hình. A&P NUTRITION

PHYTOGENICS

“Lời

giải” cho những nỗi đau kinh niên của ngành

chăn nuôi hậu kháng sinh

Từ 1/1/2026 cấm hoàn toàn kháng sinh trong chăn nuôi đây không còn là câu chuyện của tương lai mà đã trở thành áp lực hiện hữu. Trước

“ngưỡng cửa” sinh tồn này, giải pháp Phytogenics từ thảo dược đang nổi lên như một “chìa khóa vàng”, giúp hóa giải những nỗi đau về năng suất và dịch bệnh mà ngành chăn nuôi Việt Nam đang gồng gánh.

Những “vùng lõm” năng suất và nỗi đau của người chăn nuôi

Suốt nhiều thập kỷ, kháng sinh được coi là “công cụ rẻ tiền” để kiểm soát dịch bệnh.

Tuy nhiên, khi lớp rào chắn này bị dỡ bỏ, những lỗ hổng trong quản trị và sức đề kháng của vật nuôi bắt đầu bộc lộ rõ rệt, tạo thành những “nỗi đau” đặc thù trên từng loài:

■ Với ngành heo: Cơn ác mộng sau cai sữa. Giai đoạn này, heo con đối mặt với stress cực độ khi tách mẹ, dẫn đến bùng phát tiêu chảy do vi khuẩn E. coli và hội chứng còi cọc. Khi không có kháng sinh phòng ngừa, tỷ lệ hao hụt tăng cao, chỉ số FCR (tiêu tốn thức ăn) bị kéo giãn, trực tiếp bào mòn lợi nhuận của chủ trại.

■ Với ngành gia cầm: “Bóng ma” viêm ruột hoại tử. Thiếu đi sự can thiệp của thuốc hóa học, vi khuẩn Clostridium perfringens và cầu trùng trở thành cặp đôi “sát thủ” gây viêm ruột hoại tử. Gia cầm chết đột ngột, gà đẻ sụt giảm chất lượng trứng, còn gà thịt thì chậm lớn, khiến người chăn nuôi nợ chồng nợ.

Giải pháp Phytogenics từ TVOne: Công nghệ hóa giải “nghịch cảnh”

Trước những bế tắc đó, TVOne Việt Nam đã tiên phong mang đến giải pháp Phytogenics - hợp chất sinh học từ thực vật - để thay thế hoàn toàn kháng sinh phòng bệnh. Thay vì “tiêu diệt” một cách tiêu cực như kháng sinh, Phytogenics của TVOne tập trung vào việc hỗ trợ vật nuôi tự xây dựng “lá chắn” miễn dịch tự nhiên.

Hệ sinh thái sản phẩm của TVOne được tinh chỉnh dựa trên đặc thù dịch tễ tại Việt

Nam:

■ GAPCOR: Giải pháp giúp phòng ngừa và tiêu diệt cầu trùng, ngăn chặn tình trạng

xuất huyết đường ruột trên gia cầm.

■ GAPICO: Thay thế kháng sinh giúp đặc trị tiêu chảy, chống stress và ổn định hệ tiêu hóa cho heo con giai đoạn sau cai sữa.

■ GACINO: Kiểm soát vi khuẩn Clostridium gây viêm ruột hoại tử ở heo và gia cầm, giúp bảo vệ niêm mạc và tối ưu hóa hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR).

■ TCOLI: Kiểm soát và phòng ngừa tiêu chảy do E. coli ở heo con giai đoạn bú mẹ và sau cai sữa.

Đặc biệt, sự hợp tác với tập đoàn IDENA (Pháp) giúp TVOne ứng dụng công nghệ vi nang (Micro-encapsulation), bảo vệ các hoạt chất thảo dược bền bỉ qua nhiệt độ ép viên, đảm bảo hiệu quả tối đa khi vào cơ thể vật nuôi.

Nhà máy tại Phú Thọ: Tượng đài tiê u chuẩn GMP+ đầu tiên tại Việt Nam

Bước ngoặt lớn nhất của ngành phụ gia thảo dược nội địa là sự kiện khánh thành nhà máy Phytogenics của TVOne tại Phú Thọ vào tháng 9/2025. Đây là nhà máy sản

xuất phụ gia thức ăn chăn nuôi từ chiết xuất thực vật tại Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế GMP+, tiêu chuẩn khắt khe nhất về kiểm soát an toàn thực phẩm trên toàn chuỗi cung ứng.

Điểm khác biệt giúp TVOne tự tin vươn tầm quốc tế chính là chiến lược nội địa hóa nguyên liệu. Bằng việc tự chủ vùng trồng dược liệu quý như Sâm Báo, Đương Quy, Atiso đạt chuẩn GACP và VietGAP, TVOne không chỉ giúp người chăn nuôi thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn phụ gia nhập khẩu mà còn đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc tuyệt đối.

Quy định cấm kháng sinh năm 2026 không phải là “dấu chấm hết”, mà là sự khởi đầu của một kỷ nguyên nông nghiệp trách nhiệm. Với tâm thế tiên phong, TVOne Việt Nam cùng nhà máy đạt chuẩn GMP+ đang đồng hành cùng người nuôi biến thách thức thành cơ hội, khẳng định giá trị sạch của thực phẩm Việt trên bản đồ thế giới.

SỬ DỤNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI

KẾT HỢP HIỆU QUẢ GIỮA CHI PHÍ VÀ TÍNH BỀN VỮNG

Trong dinh dưỡng động vật, thành công thường được đo lường bằng chi phí thức ăn, hiệu suất tăng trưởng và hiệu quả sản xuất, nhưng những chỉ số này chỉ nói lên một phần câu chuyện. Bằng cách tận dụng các công nghệ enzyme tiên tiến để phân giải các yếu tố kháng dinh dưỡng và cải thiện khả năng tiêu hóa, các nhà sản xuất có thể đạt được hiệu suất ổn định hơn, hiệu quả sử dụng tài nguyên cao hơn và kết quả bền vững được cải thiện.

Các nhà khoa học tại Kerry đã có những chia sẻ về cách các giải pháp enzyme được ứng dụng giúp các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi tối ưu hóa công thức, giảm sự biến động và tối đa hóa lợi nhuận đầu tư trong môi trường sản xuất ngày càng phức tạp.

Cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn

Tiến sĩ Sara Llamas-Moya, Giám đốc Khoa học & Ứng dụng Toàn cầu về Giải pháp

Hiệu suất Động vật tại Kerry cho biết, hiệu quả sử dụng thức ăn là một ví dụ rõ ràng về

sự hội tụ của chi phí, hiệu suất và tính bền

vững; là một chỉ số hiệu suất cốt lõi, nó liên

kết sinh lý động vật, kinh tế và tác động môi trường. Cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn cho phép các nhà sản xuất thu được giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao hơn từ mỗi tấn thức ăn được sản xuất, hỗ trợ tiêu hóa tối ưu đồng thời giảm thiểu việc sử dụng nguyên liệu đầu vào, chất thải và khí thải. Các enzyme ngoại sinh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sự chuyển đổi này. Các công nghệ như carbohydrase đã phát triển từ các giải pháp “khắc phục hậu quả” trong khẩu phần ăn dựa trên lúa mạch và lúa mì thành các công cụ chiến lược mang lại giá trị đo lường được ngay cả trong công thức thức ăn dựa trên ngô. Đồng thời, ngày càng có nhiều sự chú trọng vào các nguồn thức ăn địa phương và thay thế. Nhiều thành phần trong số này vẫn chưa được tận dụng hết tiềm năng dinh dưỡng, và enzyme đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tối đa tiềm năng của chúng. Để đạt được điều này, cần có sự hiểu biết sâu sắc về loại, cấu hình và nồng độ chất nền, cùng với khả năng xác định xem các công cụ enzyme hiện có có đủ hay không - hoặc liệu có cần các giải pháp chuyên biệt hay không.

Cuối cùng, thành công được xác nhận

thông qua những cải thiện có thể định lượng được về hiệu quả sử dụng thức ăn, liên quan trực tiếp đến việc tối ưu hóa chi phí thức ăn và những lợi ích bền vững có ý nghĩa.

Theo TS Llamas-Moya, về bản chất, hiệu quả sử dụng thức ăn được cải thiện khi tỷ lệ chất dinh dưỡng được tiêu hóa, hấp thụ và chuyển hóa thành năng lượng tăng trưởng cao hơn. Trong toàn bộ ma trận thành phần thức ăn, vẫn còn những điểm không hiệu quả do các rào cản cấu trúc và các yếu tố kháng dinh dưỡng như thành tế bào, polysaccharid không tinh bột, phytate và các phần protein kháng tiêu hóa.

Công nghệ enzyme cung cấp chức năng cần thiết để phá vỡ các rào cản này - giải phóng các chất dinh dưỡng bị mắc kẹt và giảm các tác động kháng dinh dưỡng cản trở sự hấp thụ, chẳng hạn như tăng độ nhớt của dịch tiêu hóa. Bằng cách đó, enzyme cũng làm giảm sự biến động trong phản ứng của động vật. Kết quả là, chiến lược truyền thống chỉ chọn những nguyên liệu

“tốt nhất” không còn đủ nữa. Trọng tâm đã

chuyển sang việc khai thác tối đa giá trị từ

các nguyên liệu có sẵn, cho phép các nhà sản xuất liên tục khai thác tiềm năng dinh dưỡng của chúng đồng thời hỗ trợ các mục tiêu về hiệu suất, hiệu quả và tính bền vững. Còn theo Tiến sĩ Niall Higgins, Giám đốc Sản phẩm Toàn cầu tại Kerry, các nhà sản xuất và phối trộn thức ăn chăn nuôi ngày càng không chỉ hướng đến việc chỉ tập trung vào chi phí trên mỗi tấn thức ăn; thay vào đó, sự chú ý đã chuyển sang chi phí trên mỗi đơn vị hiệu suất, chẳng hạn như chi phí trên mỗi kilogram tăng trọng hoặc hiệu quả sản xuất trên mỗi con vật. Sự thay đổi này phản ánh một sự thay đổi cơ bản trong tư duy: khi giá trị dinh dưỡng được chiết xuất nhiều hơn từ cùng một nguyên liệu, cuộc thảo luận chuyển từ chi phí thức ăn sang hiệu quả sử dụng thức ăn.

Sự biến động gần đây của giá đậu nành minh họa rõ điều này. Hàm lượng đậu nành cao hơn trong khẩu phần ăn của động vật dạ dày đơn đã thúc đẩy các chuyên gia dinh dưỡng trên toàn thế giới đánh giá lại và tối ưu hóa ma trận thức ăn.

Tối ưu công nghệ enzyme

Theo TS Llamas-Moya, việc lựa chọn công nghệ enzyme nên bắt đầu bằng việc xác

định rõ ràng mục tiêu thành công cả về mặt sinh học và kinh tế, cho dù đó là cải thiện

khả năng tiêu hóa, giảm tác dụng kháng dinh dưỡng, hay tiết kiệm chi phí thức ăn có thể dự đoán được. Cùng đó, khẩu phần ăn và cấu trúc chất nền phải được mô tả đầy đủ. Các giải pháp enzyme cần được đánh giá về độ ổn định trong điều kiện thực tế, bao gồm nhiệt độ ép viên, độ pH và cơ chế hoạt động. Nghiên cứu về độ ổn định khi ép viên với nhà cung cấp là rất cần thiết. Những cân nhắc thực tế cũng quan trọng

không kém: định dạng trình bày, tính phù

hợp của hỗn hợp tiền trộn, bảo quản, xử lý và phân bố đồng nhất trong quá trình trộn đều ảnh hưởng đến hiệu quả thực tế. Sự thống nhất về giá trị ma trận enzyme, liều lượng và lợi ích dinh dưỡng dự kiến đảm bảo enzyme được tích hợp liền mạch với các chiến lược dinh dưỡng tổng thể.

Cuối cùng, thành công phụ thuộc vào việc enzyme hoạt động như mong muốn về mặt sinh học và vận hành, mang lại lợi ích nhất quán và có thể đo lường được. Đây là lúc nhà cung cấp enzyme phải đóng vai trò là đối tác thực sự.

Các giải pháp enzyme AlphaGal™ và AGal-Pro™ của Kerry được phát triển đặc biệt để tăng cường giá trị dinh dưỡng của các công thức giàu đậu nành, cũng như khẩu phần ăn có chứa các loại ngũ cốc khác. Điểm mấu chốt của các giải pháp này là α-galactosidase, một loại enzyme nhắm mục tiêu vào các chất nền cụ thể có trong đậu nành.

Khi hàm lượng đậu nành tăng lên, sự biến động trong thành phần chất nền trở thành mối lo ngại ngày càng tăng do tác động của nó đến tính nhất quán về dinh dưỡng và hiệu suất. Thích ứng với điều này, Kerry đã đẩy nhanh các nỗ lực nghiên cứu và phát triển về việc sử dụng liều lượng cao α-galactosidase, mang lại hiệu quả được cải thiện và tính nhất quán cao hơn trong các công thức sản phẩm từ đậu nành.

Các loại ngũ cốc và hạt có dầu như ngô và đậu nành chứa nhiều chất kháng dinh dưỡng, mỗi chất có cơ chế hoạt động riêng biệt. Chất xơ không hòa tan như cellulose và arabinoxylan có thể tạo ra hiệu ứng “giam giữ”, giữ lại tinh bột và protein trong các phức hợp chất xơ không tiêu hóa được. Chất xơ hòa tan, bao gồm arabinoxylan và galactomannan, có thể làm tăng độ nhớt của thức ăn đã tiêu hóa và làm thay đổi thời gian vận chuyển trong ruột. Oligosaccharide chuỗi ngắn có thể lên men - phổ biến trong

các loại đậu như đậu nành có thể góp phần giữ lại chất dinh dưỡng và gây ra quá trình lên men quá mức, dẫn đến tăng sản sinh khí và làm cho chất độn chuồng ẩm ướt hơn. Hiệu suất ổn định đòi hỏi một phổ enzyme rộng, được lựa chọn cẩn thận phù hợp với sự biến đổi của chất nền do loại nguyên liệu, địa lý và khí hậu gây ra. Do đó, việc xác định mức độ bổ sung enzyme chính xác là rất quan trọng để đảm bảo hiệu suất mạnh mẽ trong các thành phần khẩu phần ăn khác nhau.

Những cân nhắc này là nền tảng cho sự phát triển của AlphaGal™ và AGalPro™, sự kết hợp giữa các enzyme đã được chứng minh hiệu quả như xylanase và cellulase với các hoạt tính chuyên biệt như α-galactosidase, nhằm mang lại kết quả nhất quán và thực tế.

Xu hướng trong tương lai

Những cải tiến về tỷ lệ chuyển đổi thức ăn trong những thập kỷ gần đây cho thấy tác động mang tính đột phá của enzyme trong dinh dưỡng động vật. Tuy nhiên, ngành công nghiệp này cần tiếp tục phát triển khi áp lực về hiệu quả ngày càng gia tăng. Công nghệ sinh học sẽ đóng vai trò trung tâm trong giai đoạn tiếp theo này. Những tiến bộ trong vi sinh học, công nghệ sinh học, kỹ thuật enzyme và trí tuệ nhân tạo đang thúc đẩy sự đổi mới, cho phép phát triển các giải pháp enzyme hoàn toàn mới thông qua các công nghệ như lên men chính xác và kỹ thuật chủng loại.

Những đột phá này sẽ tiếp tục định nghĩa lại những gì có thể đạt được trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, giúp các nhà sản xuất khai phá những cấp độ hiệu quả, khả năng phục hồi và tính bền vững mới.

TĂNG SANG

(Theo Feedand Additive)

TỐI ƯU HÓA

KHẨU PHẦN

AXIT AMIN

Xác lập giá trị nhu cầu

Phần lớn giá trị nhu cầu axit amin được

xác lập từ các thí nghiệm kiểm soát nghiêm ngặt, nhằm tách biệt ảnh hưởng của một

dưỡng chất giới hạn cụ thể. Vật nuôi được nuôi trong môi trường kiểm soát chặt chẽ về sức khỏe, quản lý và điều kiện ngoại cảnh. Hiệu suất sinh trưởng hoặc năng suất được đo lường theo các mức bổ sung dưỡng chất tăng dần để xác định ngưỡng mà việc bổ sung thêm không còn tạo ra lợi ích rõ rệt.

Phương pháp này mang lại tính chính xác khoa học cao, song phản ánh điều kiện lý tưởng. Trong sản xuất thương mại, vật nuôi phải đối mặt với nhiều biến động về môi trường, dịch bệnh và quản lý. Vì vậy, mức dinh dưỡng đủ để tránh thiếu hụt trong phòng thí nghiệm chưa chắc đã đảm bảo hiệu suất ổn định ngoài thực địa.

Ba

điều kiện tiên quyết

Trong thực hành phối trộn, ranh giới giữa ba khái niệm quan trọng thường bị làm mờ: nhu cầu tối thiểu, tối ưu sinh học và tối ưu kinh tế. Nhu cầu tối thiểu là mức giúp ngăn ngừa biểu hiện thiếu hụt rõ rệt. Tối ưu sinh học là mức tối đa hóa hiệu suất trong điều kiện nhất định. Trong khi đó, tối ưu kinh tế là mức cân bằng giữa chi phí thức ăn, giá trị sản phẩm và mức độ rủi ro. Ba mức này hiếm khi trùng khớp hoàn toàn. Mức tối thiểu có thể ngăn ngừa thiếu hụt nhưng gần như không có biên độ an toàn trước biến động. Mức tối ưu sinh học có thể cho tăng trưởng tối đa nhưng chưa

chắc đem lại hiệu quả tài chính trong mọi điều kiện thị trường. Tối ưu kinh tế lại thay đổi liên tục theo giá nguyên liệu, giá vật nuôi và mục tiêu sản xuất. Hiểu rõ sự khác biệt này là điều kiện tiên quyết để xây dựng khẩu phần có lợi nhuận bền vững.

Ngoài khác biệt giữa các cá thể, môi trường thương mại còn tạo ra nhiều lớp biến động khác. Thành phần dinh dưỡng nguyên liệu thay đổi theo lô hàng và mùa vụ. Lượng ăn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường. Thách thức dịch bệnh có thể xuất hiện bất ngờ.

Sốc nhiệt, mật độ nuôi, biến động thành phần nguyên liệu và tình trạng sức khỏe đều tác động đến khả năng sử dụng dưỡng chất và nhu cầu thực tế. Trong bối cảnh đó, khẩu phần chỉ xoay quanh mức nhu cầu tối thiểu sẽ có rất ít dư địa thích ứng.

Với các trang trại quản lý quần thể lớn, tính ổn định nhiều khi quan trọng không kém đỉnh cao hiệu suất. Do vậy, chương trình dinh dưỡng cần xem xét không chỉ giá trị trung bình, mà cả độ tin cậy của kết quả trong nhiều kịch bản sản xuất khác nhau.

Dinh dưỡng chính xác

Những tiến bộ trong công nghệ phối trộn đã cho phép cung cấp dưỡng chất ngày càng chính xác. Việc sử dụng rộng rãi axit amin tổng hợp cùng các mô hình tối ưu hóa đã làm giảm nhu cầu duy trì các biên độ an toàn lớn như trước đây.

Thực tế, xây dựng khẩu phần không chỉ là bài toán đáp ứng nhu cầu với chi phí thấp nhất. Đó còn là một chiến lược quản trị rủi

ro. Thiếu hụt dưỡng chất ở mức nhẹ có thể không gây triệu chứng rõ ràng, nhưng vẫn ảnh hưởng đến độ đồng đều tăng trưởng, hệ số chuyển hóa thức ăn và tính dự đoán của sản lượng. Khi nhân lên trên quy mô hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn con, sai lệch nhỏ cũng có thể tạo ra tác động kinh tế đáng kể. Vì vậy, nhiều nhà dinh dưỡng đặt trọng tâm vào độ ổn định và tính lặp lại của kết quả song song với hiệu quả phối trộn lý thuyết. Các bảng nhu cầu axit amin vẫn là nền tảng không thể thiếu của dinh dưỡng hiện đại. Tuy nhiên, giá trị thực sự của chúng nằm ở vai trò cơ sở khoa học, chứ không phải mục tiêu cứng nhắc. Nhu cầu tối thiểu giúp phòng ngừa thiếu hụt. Tối ưu sinh học và tối ưu kinh tế định hướng hiệu suất và lợi nhuận. Chương trình dinh dưỡng thương mại cần tích hợp cả ba, đồng thời tính đến biến động vốn có trong sản xuất. Mục tiêu của phối trộn không đơn thuần là đáp ứng nhu cầu trong điều kiện lý tưởng, mà là duy trì hiệu suất ổn định trong điều kiện thực tế. Sự khác biệt này tuy tinh tế nhưng mang ý nghĩa cốt lõi trong dinh dưỡng protein hiện đại.

Cuối cùng, thách thức của nhà dinh dưỡng không phải là lựa chọn giữa mức tối thiểu và mức tối ưu, mà là hiểu cách dịch chuyển linh hoạt giữa các ngưỡng này khi hệ thống sản xuất, thị trường nguyên liệu và kỳ vọng của ngành không ngừng thay đổi. VŨ ĐỨC (Theo Allaboutfeed)

Cân bằng tối ưu khô đậu và axit amin tổng hợp

Trong dinh dưỡng vật nuôi, lựa chọn khô đậu hay axit amin tổng hợp không phải cốt lõi; quan trọng hơn là cách phối hợp linh hoạt và kiểm soát mức giảm protein thô hợp lý, nhằm bảo đảm năng suất ổn định và an toàn sản xuất.

Axit amin chính xác

Sự ra đời và mở rộng danh mục axit amin dùng trong thức ăn chăn nuôi đã tạo bước ngoặt lớn trong công thức phối trộn. Từ lysine và methionine ban đầu, ngành đã bổ sung thêm threonine, tryptophan, valine và isoleucine, giúp đáp ứng nhu cầu axit amin với độ chính xác mà thế hệ trước chưa thể đạt được.

Nhờ đó, hàm lượng protein thô trong khẩu phần gia cầm và heo đã giảm đáng kể. So với vài thập kỷ trước, khẩu phần gà thịt và heo ngày nay thường thấp hơn đến bốn điểm phần trăm protein thô nhưng vẫn duy trì năng suất tương đương. Lợi ích mang lại

rất rõ ràng: cải thiện hiệu quả sử dụng nitơ, giảm thải nitơ ra môi trường, nâng cao chất lượng chất độn chuồng và tăng tính linh hoạt trong lựa chọn nguyên liệu. Trong các

hệ thống sản xuất không kháng sinh, việc hạn chế dư thừa protein còn góp phần giảm rối loạn tiêu hóa và tăng độ ổn định đàn nuôi hằng ngày.

Mở rộng công cụ phối trộn

Việc bổ sung thêm valine và isoleucine vào danh mục axit amin thương mại tiếp tục mở rộng không gian linh hoạt cho nhà dinh dưỡng. Khi giá khô dầu protein biến động, nguồn cung hạn chế hoặc điều kiện nguyên liệu từng vùng thay đổi, người làm công thức có thêm phương án điều chỉnh.

Trong sản xuất gà thịt, về mặt kỹ thuật đã có thể giảm đáng kể tỷ lệ khô dầu protein so với chương trình truyền thống khi điều kiện kinh tế cho phép. Ở góc độ công thức, đây là tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên, cùng với khả năng giảm sâu protein thô, một câu hỏi thực tiễn đặt ra: đâu là giới hạn hợp lý trong môi trường sản xuất thương mại?

Điều kiện nghiên cứu có kiểm soát cung cấp dữ liệu quan trọng, nhưng sản xuất thực tế luôn chứa đựng biến động. Tình trạng sức

khỏe đàn, mật độ nuôi, hệ thống chuồng trại,

khí hậu và kỹ năng quản lý đều tạo nên mức

độ sai khác mà khẩu phần phải “gánh” được.

Tại các trang trại gà thịt quy mô lớn, chênh lệch nhỏ về lượng ăn giai đoạn đầu có thể ảnh hưởng đến độ đồng đều và lịch xuất bán. Với heo cai sữa, chỉ cần giảm nhẹ lượng ăn trong hai tuần đầu cũng có thể tác động đến quỹ đạo tăng trưởng về sau. Vì vậy, nhà sản xuất thường coi trọng tính ổn định không kém gì mức năng suất tuyệt đối. Nhiều chuyên gia ghi nhận việc giảm mạnh protein thô đôi khi làm thu hẹp biên độ chịu biến động. Năng suất trung bình vẫn đạt yêu cầu, nhưng kết quả trở nên nhạy cảm hơn trước thách thức dịch bệnh, sốc nhiệt, biến động chất lượng nguyên liệu hay sai khác quản lý. Quan sát này không mang tính tuyệt đối, song đủ phổ biến để cần được cân nhắc trong thực hành.

Nitơ và axit amin không thiết yếu

Một nội dung ngày càng được chú ý là nguồn cung nitơ cho quá trình tổng hợp axit amin không thiết yếu. Động vật dạ dày đơn có thể tự tổng hợp nhóm axit amin này, song quá trình phụ thuộc vào lượng nitơ sẵn có từ các axit amin khác. Khi protein thô giảm sâu, mối quan hệ giữa axit amin thiết yếu và tổng nitơ quan trọng hơn.

Trong dinh dưỡng gia cầm, vai trò của glycine và serine đặc biệt được nhấn mạnh trong các khẩu phần protein thấp. Sự quan tâm ngày càng tăng đối với bổ sung glycine cho thấy chiến lược công thức vẫn tiếp tục được tinh chỉnh khi mức protein giảm. Đây không phải dấu hiệu của giới hạn trong dinh dưỡng axit amin, mà phản ánh quá trình hoàn thiện hiểu biết khi kỹ thuật phối trộn ngày càng chính xác.

Lượng ăn và tính ngon miệng

Lượng ăn tự nguyện vẫn là động lực then chốt quyết định năng suất. Tính ngon miệng của khẩu phần đôi khi bị xem nhẹ trong bài toán công thức thuần dinh dưỡng. Khô đậu thường được vật nuôi chấp nhận tốt; những khác biệt nhỏ về mức độ chấp nhận thức ăn có

biệt ở giai đoạn nhạy cảm như đầu kỳ nuôi gà thịt hoặc sau cai sữa ở heo.

Chỉ một thay đổi nhỏ về lượng ăn cũng có thể tác động đến tăng trọng và độ đồng đều đàn. Do đó, khi đánh giá chiến lược công thức, các chương trình dinh dưỡng thực tế luôn xem xét cả hành vi ăn bên cạnh chỉ tiêu dinh dưỡng.

Các phân khúc trong ngành thức ăn chăn nuôi đều đề cao giá trị sản phẩm và công nghệ của mình. Nhà sản xuất đậu tương nhấn mạnh ưu thế của cây trồng; nhà sản xuất axit amin tiếp tục thúc đẩy dinh dưỡng chính xác. Cả hai đều góp phần vào sự tiến bộ của chăn nuôi. Tuy nhiên, với nhà dinh dưỡng và người chăn nuôi, mục tiêu rộng hơn là thiết kế chương trình nuôi dưỡng kết hợp hiệu quả, ổn định và khả thi về kinh tế, đồng thời bảo đảm sức khỏe và năng suất vật nuôi trong điều kiện sản xuất đa dạng.

Con đường cân bằng

Cân bằng giữa khô đậu và axit amin tổng hợp chịu ảnh hưởng mạnh từ quan hệ giá nguyên liệu. Khi giá khô đậu tương tăng cao, xu hướng giảm protein thô thường được đẩy mạnh. Ngược lại, biến động thị trường axit amin có thể điều chỉnh chiến lược theo chiều ngược lại.

Hai thập kỷ qua chứng kiến nhiều chu kỳ giảm sâu protein thô, sau đó điều chỉnh dần khi xuất hiện thêm dữ liệu thực tiễn. Mô hình này phản ánh sự tương tác tự nhiên giữa giới hạn sinh học, động lực kinh tế và tiến bộ công nghệ phối trộn.

Tương lai dinh dưỡng vật nuôi khó có thể được định hình bởi những lựa chọn cực đoan. Thay vào đó, sẽ dựa trên sự tích hợp linh hoạt giữa nguồn protein nguyên vẹn và axit amin tổng hợp, điều chỉnh liên tục theo thị trường nguyên liệu, mục tiêu sản xuất và yêu cầu bền vững.

DŨNG NGUYÊN

(Theo Feedstrategy)

PHÒNG BỆNH KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG MÁU Ở GÀ

Tiếp cận kỹ thuật tổng hợp trong chăn nuôi

thâm canh

Bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà là một thách thức dai dẳng nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát nếu áp dụng đúng kỹ thuật. Cốt lõi của

vấn đề không nằm ở điều trị mà ở phòng bệnh chủ động, trong đó kiểm soát côn trùng truyền bệnh đóng vai trò trung tâm.

Tổng quan

Trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, bệnh

ký sinh trùng đường máu không phải là bệnh mới nhưng vẫn là thách thức lớn do

đặc điểm tiến triển âm thầm, khó phát hiện

sớm và gây thiệt hại kéo dài. Không giống các bệnh truyền nhiễm cấp tính, nhóm bệnh này thường làm suy giảm năng suất từ từ, kéo dài thời gian nuôi, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn và ảnh hưởng trực tiếp

đến lợi nhuận của người chăn nuôi. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, đặc biệt vào mùa mưa, bệnh có xu hướng gia tăng mạnh do mật độ côn trùng truyền bệnh cao.

Các tác nhân chính bao gồm Leucocytozoon spp., Plasmodium spp. và Haemoproteus spp., trong đó Leucocytozoon là loài phổ biến và gây thiệt hại đáng kể nhất trong thực tế sản xuất tại Việt Nam.

Đặc điểm dịch tễ và cơ chế lây truyền

Ký sinh trùng đường máu có vòng đời phức tạp, phụ thuộc vào côn trùng hút máu như muỗi, dĩn và ruồi đen để hoàn thành chu kỳ phát triển. Khi côn trùng mang mầm bệnh đốt gà, ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể, phát triển ban đầu tại gan và lách, sau đó đi vào hệ tuần hoàn và ký sinh trong tế bào máu.

Chính quá trình này dẫn đến sự phá hủy hồng cầu, gây thiếu máu và làm suy giảm chức năng của nhiều cơ quan nội tạng. Bệnh thường bùng phát theo mùa, đặc biệt là giai đoạn mưa nhiều, độ ẩm cao và môi trường tồn tại nhiều ổ nước đọng - điều kiện lý

tưởng cho côn trùng phát triển.

Biểu hiện lâm sàng và chuẩn đoán

Ở giai đoạn đầu, bệnh thường khó nhận

biết do biểu hiện không đặc hiệu. Gà có thể

chỉ giảm ăn nhẹ, chậm lớn và kém linh hoạt. Khi bệnh tiến triển, dấu hiệu thiếu máu trở nên rõ rệt với mào nhợt nhạt hoặc tím tái, cơ thể suy yếu và giảm khả năng vận động.

Việc chẩn đoán bệnh cần dựa trên sự kết hợp giữa quan sát thực tế và xét nghiệm chuyên môn. Các dấu hiệu như thiếu máu, giảm năng suất, kết hợp với yếu tố mùa vụ là cơ sở quan trọng để nghi ngờ bệnh.

Khi mổ khám, có thể thấy gan và lách sưng to, xuất huyết điểm ở cơ và nội tạng, máu loãng. Tuy nhiên, để xác định chính xác, cần soi tiêu bản máu nhằm phát hiện ký sinh trùng trong hồng cầu hoặc bạch cầu. Trong điều kiện trang trại quy mô lớn, các phương pháp sinh học phân tử có thể được áp dụng để nâng cao độ chính xác và phân biệt với các bệnh khác có triệu chứng tương tự.

Chiến lược phòng bệnh

Do chưa có vaccine thương mại hiệu quả, phòng bệnh ký sinh trùng đường máu phải dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, trong đó kiểm soát côn trùng truyền bệnh giữ vai trò trung tâm. Việc cắt đứt vòng đời ký sinh trùng là giải pháp mang tính quyết định, giúp giảm nguy cơ lây nhiễm ngay từ đầu. Kiểm soát côn trùng truyền bệnh - trụ cột quan trọng nhất: Trong thực tế, nhiều trại thất bại trong phòng bệnh chủ yếu do không kiểm soát tốt côn trùng. Muỗi và dĩn phát triển mạnh trong môi trường có nước đọng, rác hữu cơ và độ ẩm cao. Do đó, việc vệ sinh chuồng trại, cải thiện hệ thống thoát nước và loại bỏ các ổ sinh sản của côn trùng là yêu cầu bắt buộc. Ngoài ra, cần sử dụng lưới chắn côn trùng tại cửa chuồng và thực hiện phun thuốc diệt côn trùng định kỳ, đặc biệt trước và trong

mùa mưa. Việc này giúp giảm đáng kể áp lực mầm bệnh và hạn chế lây lan trong đàn. Quản lý môi trường nuôi và mật độ đàn: Môi trường nuôi có ảnh hưởng trực tiếp đến sức đề kháng của gà. Chuồng nuôi cần đảm bảo thông thoáng, độ ẩm được kiểm soát tốt để hạn chế điều kiện phát triển của côn trùng. Mật độ nuôi hợp lý giúp giảm stress, từ đó tăng khả năng chống chịu với bệnh. Trong điều kiện thực tế, những trại duy trì được môi trường ổn định thường có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn rõ rệt so với các trại quản lý kém.

Vai trò của dinh dưỡng trong phòng bệnh: Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức đề kháng và giảm tác động của bệnh. Gà bị ký sinh trùng đường máu thường thiếu máu và suy giảm miễn dịch, do đó cần bổ sung đầy đủ vitamin và khoáng chất, đặc biệt là sắt, đồng và kẽm để hỗ trợ quá trình tạo máu. Bên cạnh đó, các vitamin chống ôxy hóa như A, E và C, giúp giảm stress và cải thiện khả năng miễn dịch. Trong giai đoạn nguy cơ cao, việc bổ sung điện giải và các chất hỗ trợ gan giúp cơ thể gà phục hồi nhanh hơn và giảm thiệt hại.

Sử dụng thuốc: Giải pháp hỗ trợ, không thay thế phòng bệnh

Một số hoạt chất như sulfonamide có thể được sử dụng trong điều kiện nguy cơ cao hoặc khi bệnh đã xuất hiện. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng thuốc chỉ đóng vai trò hỗ trợ và không thể thay thế các biện pháp phòng bệnh chủ động.

Việc lạm dụng thuốc không những không mang lại hiệu quả lâu dài mà còn làm tăng nguy cơ kháng thuốc và ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm.

EW Nutrition

Bệnh hô hấp ở gà thường do nhiều tác nhân gây ra, bao gồm virus, vi khuẩn, nấm và các yếu tố môi trường bất lợi. Một số bệnh phổ biến có thể kể đến như bệnh Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm (IB), cúm gia cầm (Avian Influenza - AI), bệnh hô hấp mãn tính (CRD), viêm thanh khí quản truyền nhiễm (Infectious Laryngotracheitis - ILT).

Các bệnh này có đặc điểm chung là lây lan nhanh qua đường hô hấp, không khí, nước uống, thức ăn hoặc qua tiếp xúc trực tiếp giữa các cá thể trong đàn.

Triệu chứng

Khi mắc bệnh, gà thường biểu hiện các triệu chứng như ho, khò khè, chảy nước mũi, khó thở, giảm ăn, giảm tăng trưởng và giảm sản lượng trứng. Trong trường hợp nặng, tỷ lệ chết có thể cao, đặc biệt với các bệnh do virus độc lực mạnh.

Chẩn đoán

Việc chẩn đoán bệnh cần dựa trên tổng hợp nhiều yếu tố như triệu chứng lâm sàng, lịch sử tiêm phòng, điều kiện chăn nuôi và kết quả xét nghiệm.

Quan sát triệu chứng là bước đầu quan trọng. Người chăn nuôi cần theo dõi các biểu hiện bất thường như tiếng thở, hành vi ăn uống, tình trạng phân và sản lượng trứng. Tuy nhiên, do nhiều bệnh có triệu chứng tương tự, việc chỉ dựa vào quan sát có thể dẫn đến nhầm lẫn.

Chẩn đoán chính xác cần kết hợp với xét nghiệm tại phòng thí nghiệm như PCR,

phân lập vi khuẩn hoặc huyết thanh học. Điều này giúp xác định đúng tác nhân gây bệnh, từ đó đưa ra hướng xử lý phù hợp.

Ngoài ra, mổ khám gà bệnh cũng cung cấp nhiều thông tin quan trọng như tình trạng viêm, xuất huyết ở khí quản, phổi, túi khí… hỗ trợ quá trình chẩn đoán.

Phòng bệnh

Phòng bệnh luôn là biện pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong kiểm soát các bệnh hô hấp trên gà. Trước hết, cần xây dựng chuồng trại đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, có hệ thống thông gió tốt, hạn chế khí độc như amoniac.

Trại nuôi gà phải được phân thành các khu như: Khu ấp nở xuất bán, khu gà con, gà hậu bị, gà đẻ… và phải có khu riêng biệt để nuôi gà mới nhập về. Không nuôi nhiều loại gia cầm trong cùng một trại. Gà nuôi thả vườn tự do nên dùng lưới quây lại thành khu để thuận lợi cho việc vệ sinh, khử trùng như đối với một trại kín.

Không nên nuôi gối các lứa và luân chuyển trong cùng một trại. Sau mỗi đợt xuất bán hết gia cầm, phải vệ sinh tiêu độc, khử trùng và để trống chuồng trong một thời gian rồi mới thả đợt mới. Thực hiện cách ly và kiểm soát gà giống mới nhập về ít nhất 14 ngày.

Con giống chăn nuôi phải đảm bảo khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, được tiêm phòng đầy đủ các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, ưu tiên lựa chọn con giống có nguồn gốc từ những cơ sở chăn nuôi được chứng nhận an toàn dịch bệnh… Mật độ nuôi cần phù hợp với từng giai

PHÒNG BỆNH HÔ HẤP

TRÊN GÀ

Các bệnh hô hấp gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi gà, nhất là ở mô hình thâm canh mật độ cao. Nhận diện sớm, chẩn đoán đúng và phòng ngừa hiệu quả là yếu tố then chốt để kiểm soát dịch bệnh và nâng cao năng suất.

đoạn phát triển của gà, tránh nuôi quá dày. Đồng thời, cần đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, nước sạch và bổ sung vitamin, khoáng chất để tăng sức đề kháng. Thường xuyên quét dọn, vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi và khu vực xung quanh chuồng nuôi; vệ sinh máng ăn, máng uống, các dụng cụ chăn nuôi; Định kỳ tuần 1 - 2 lần phun thuốc sát trùng tẩy uế chuồng trại, khu vực xung quanh chuồng nuôi để tiêu diệt mầm bệnh bằng vôi bột hoặc các loại thuốc sát trùng như Benkocid, HanIodine... Khi sử dụng người chăn nuôi cần xem kỹ nhãn mác, hạn sử dụng và cách dùng ghi trên chai thuốc để biết nồng độ thuốc pha, phương pháp sử dụng... Nên chọn những loại thuốc sát trùng có hoạt phổ rộng để tiêu diệt được nhiều loại mầm bệnh: vi khuẩn, virus... thời gian diệt trùng nhanh, hoạt lực kéo dài, ổn định và chi phí thấp, ít ảnh hưởng đến gà.

Thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine, đúng lịch. Đây là biện pháp chủ động giúp giảm nguy cơ bùng phát dịch.

Cách ly kịp thời những vật nuôi có biểu hiện khác thường, chẩn đoán và điều trị nếu cần thiết, không được bán hoặc phát tán gà ốm, chết và chất thải của chúng ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường, phát tán mầm bệnh. Khai báo ngay với cán bộ thú y cơ sở, chính quyền địa phương hoặc Chi cục Chăn nuôi thú y khi nghi ngờ gà mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm để được hướng dẫn phòng, chống. NGUYỄN

Dinh dưỡng

chính xác định hình

sản xuất gia cầm

thương mại

Dinh dưỡng chính xác đang mở rộng phạm vi ứng dụng vượt ra ngoài công thức thức ăn, hướng đến quản lý sức khỏe và hiệu suất dựa trên dữ liệu. Bằng cách tích hợp nhiều luồng dữ

liệu, dinh dưỡng chính xác hỗ trợ cải thiện hiệu

suất của gia cầm, tính đồng đều của đàn, phúc lợi động vật và tính bền vững lâu dài trong các hệ thống chăn nuôi gia cầm hiện đại.

Dinh dưỡng - một khoa học chính xác

Dinh dưỡng đã và sẽ luôn là một khoa học chính xác, cân bằng giữa việc cung cấp đủ chất dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của động vật cho sự phát triển tối ưu, mà không làm tăng chi phí thức ăn hoặc thải chất dinh dưỡng ra môi trường một cách không cần thiết.

Dinh dưỡng vật nuôi là một lĩnh vực không ngừng phát triển, với việc thường xuyên áp dụng các khái niệm mới, ví dụ như hệ thống công thức dinh dưỡng dễ tiêu hóa, năng lượng ròng... Trong vài năm gần đây, việc tiếp cận tốt hơn với công nghệ cảm biến, các công cụ khoa học dữ liệu như máy học và trí tuệ nhân tạo đã thúc đẩy sự phát triển này. Việc tạo ra dữ liệu một cách có hệ thống, phân tích nâng cao và diễn giải dữ liệu mang lại những cơ hội đột phá để hiểu rõ hơn về tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của đàn vật nuôi.

Vai trò trung tâm của dữ liệu

Trong mô hình mới về dinh dưỡng vật nuôi, sức khỏe thú y và sản xuất chăn nuôi, dữ liệu là đơn vị tiền tệ mới. Các công ty thu thập, giám sát, lập bản đồ, trực quan hóa, phân tích và diễn giải dữ liệu của họ sẽ có khả năng cạnh tranh và bền vững nhất.

Các công cụ mới hiện có cho ngành công nghiệp gia cầm mang đến cơ hội để đạt được độ chính xác cao hơn. Một trong những nền tảng nổi bật đó là Verax™.

Đầu tiên, mẫu máu được lấy từ gia cầm và phân tích ngay tại chỗ. Kết quả phân tích được thêm vào cơ sở dữ liệu đám mây Verax™ an toàn thông qua một ứng dụng chuyên dụng. Kết quả được so sánh với các tiêu chuẩn và ý nghĩa của kết quả phân tích

được cung cấp cho người chăn nuôi, giúp họ đưa ra các quyết định quản lý sáng suốt hơn. Theo thời gian, có thể so sánh với các mùa vụ hoặc đàn gia cầm trước đó, giúp xác định những thay đổi. Việc sử dụng Verax™

đặc biệt hữu ích khi thực hiện các thay đổi mới trong quản lý đàn hoặc chế độ dinh dưỡng, vì dữ liệu có thể được sử dụng để xem những thay đổi đó ảnh hưởng đến sinh lý của gia cầm như thế nào.

Điều làm nên giá trị của Verax™ chính là phương pháp thu thập, ghi chú và lưu trữ dữ liệu một cách có hệ thống và kỹ lưỡng. Chỉ khi có những ghi chú chi tiết như vậy về từng mẫu vật, những hiểu biết đột phá mới được tìm ra. Mức độ chi tiết trong Verax™ cho phép liên kết một số dấu ấn sinh học nhất

kỳ kiểu hình có giá trị cao nào cũng có thể được đưa vào máy học để tạo ra các thuật toán cho các công cụ chẩn đoán và dự đoán. Verax™ được truy cập thông qua giao diện ứng dụng thân thiện với người dùng và an toàn trên thiết bị di động. Tính nhất quán trong việc thu thập nhiều dấu ấn sinh học trong máu và các quan sát thú y từ mọi con vật, chuồng trại, trang trại và khu phức hợp, cho phép máy học cảnh báo người dùng Verax™ về các vấn đề tiềm ẩn trước khi chúng phát triển.

Verax™ là một phần của nền tảng chăn nuôi chính xác toàn diện hơn. Các chỉ dấu sinh học trong máu chỉ là một nguồn dữ liệu đầu vào, nhưng dữ liệu có thể được thu thập từ nhiều loại ma trận sinh học khác nhau bao gồm nước bọt, chất chứa trong đường tiêu hóa và phân, lượng thức ăn và nước uống tiêu thụ, và di truyền.

Sử dụng chỉ số sinh học trong máu để điều chỉnh công thức thức ăn

Mặc dù nồng độ Canxi (Ca) được điều chỉnh bởi hormone, nhưng Ca và Photpho (P) trong máu vẫn phản ứng với lượng Ca và P trong khẩu phần ăn. Hormone tuyến cận giáp, calcitonin và Vitamin D sẽ điều chỉnh

nồng độ Ca trong máu ở một mức độ nào đó, nhưng không hoàn toàn.

Điều thú vị là, trong khi P trong khẩu phần ăn có ảnh hưởng đến P trong máu, thì Ca trong khẩu phần ăn lại có khả năng ảnh hưởng đến cả Ca và P. Cụ thể, việc cho ăn quá nhiều Ca trong khẩu phần ăn có tác dụng ức chế P trong máu và ngược lại. Mặc dù Ca và P trong khẩu phần ăn có ảnh hưởng đến Ca và P trong máu, nhưng độ pH của máu và cân bằng axit/bazơ có thể quan trọng hơn để tối ưu hóa nồng độ Ca và P trong máu. Ví dụ, tỷ lệ Ca trong máu hoạt động chuyển hóa và có thể góp phần vào quá trình khoáng hóa xương thường vào khoảng 47 - 48% ở gà thịt. Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể giảm 2 - 4% cho mỗi lần tăng 0,1 đơn vị pH máu. Những tương tác này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi các chỉ số sinh học ngoài nồng độ Ca và P trong máu khi cố gắng tối ưu hóa tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của gia cầm.

Verax™ sử dụng học máy có giám sát để tạo ra các mô hình phân loại và hồi quy. Hiện tại, cơ sở dữ liệu có hàng chục nghìn điểm

dữ liệu, được thu thập từ gà thịt thương phẩm có tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng tự nhiên.

Để tạo mô hình, tập dữ liệu được chia thành hai phần; 60% được sử dụng để huấn luyện và 40% được sử dụng để kiểm chứng. Tất cả các con gà mắc bệnh cầu trùng đều được xác định và một hồ sơ dấu ấn sinh học được tạo ra để dự đoán kiểu hình đó. Sau đó, mô hình được kiểm chứng trên tập con gà còn lại. Theo thời gian và với nhiều dữ liệu hơn, đặc biệt là từ những con gà mắc bệnh cầu trùng, độ chính xác của mô hình tăng lên và cho phép xác định các loài Eimeira cụ thể. Nguyên tắc này đã được áp dụng trong thực tế tại một trang trại ở Mỹ. Mẫu máu

được lấy từ gia cầm tại bốn trang trại khác nhau vào ngày thứ 14. Kết quả phân tích máu

được sử dụng để dự đoán rằng hai trong số các trang trại sẽ bị bùng phát bệnh cầu trùng sau đó và hai trang trại còn lại thì không. Chuyến thăm thứ hai đến các trang trại vào ngày thứ 28 đã xác nhận các dự đoán này.

Mặc dù mô hình chưa chính xác 100%, nhưng nó có mối liên hệ rất chặt chẽ với hiệu suất thống kê xuất sắc về tỷ lệ dương

tính giả và âm tính giả đối với khả năng dự báo của mô hình.

Kết luận

Tầm quan trọng của dữ liệu là không thể phủ nhận. Khoa học dữ liệu sẽ tiếp tục mở ra những cơ hội mới cho các nhà sản xuất gia cầm nếu có cách tiếp cận có hệ thống hơn đối với việc xử lý, thu thập và phân tích dữ liệu.

Các công nghệ và công cụ mới cho phép dinh dưỡng chính xác hơn bao giờ hết. Việc tối ưu hóa dinh dưỡng trở nên dễ dàng hơn nhờ việc giám sát được cải thiện và vòng phản hồi ngắn hơn.

Bằng cách thu thập và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, các chuyên gia dinh dưỡng có thể khai thác tốt hơn hiệu suất của gia cầm. Các công cụ mới như mô hình ngôn ngữ lớn giúp việc tiếp nhận các nguồn dữ liệu phi cấu trúc dễ dàng hơn nhiều, nhưng dữ liệu phải có thể truy cập được ngay từ đầu.

ĐĂNG KHÔI (Theo Feedand Additive)

ĐỒNG CROM, VITAMIN C VÀ E

Cách tiếp cận hiện đại trong việc giảm

căng thẳng ở gia cầm

Ngành chăn nuôi gia cầm đang ở giai đoạn then chốt, nơi các phương pháp quản lý căng thẳng truyền thống, dù có giá trị, không còn

đáp ứng những thách thức sản xuất hiện đại. Sự chuyển đổi sang bổ sung Crom, được hỗ trợ bởi Vitamin C và E, thể hiện một bước

kể hướng tới quản lý căng thẳng toàn diện và dựa trên khoa học.

Từ lâu, việc quản lý căng thẳng ở gia cầm đã dựa vào các phương pháp truyền thống, chẳng hạn như Vitamin C, bổ sung chất dinh dưỡng, chất điện giải và điều chỉnh môi trường được sử dụng để giải quyết các thách thức như căng thẳng do nhiệt. Mặc dù, các phương pháp này đã mang lại hiệu quả phần nào, nhưng thực tế ngày càng phức tạp của ngành chăn nuôi gia cầm hiện đại, với các yếu tố gây căng ngày một “tinh vi” hơn, bao gồm áp lực dịch bệnh, tổn thương ôxy hóa, mất cân bằng dinh dưỡng và biến động môi trường, đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện hơn. Một bước chuyển biến quan trọng trong lĩnh vực này là việc áp dụng bổ sung Crom, riêng lẻ hoặc kết hợp với Vitamin C, E để giải quyết tận gốc nguyên nhân gây ra căng thẳng.

Gia tăng căng thẳng trên gia cầm

Những thực tế này đòi hỏi một sự chuyển

đổi từ các giải pháp riêng lẻ sang các biện pháp can thiệp tích hợp, giải quyết tận gốc vấn đề.

Crom: Nền tảng của quản lý căng thẳng hiện đại

Crom, một khoáng chất vi lượng thiết yếu, tăng cường hoạt động của insulin và điều hòa chuyển hóa glucose. Khi căng thẳng, nồng độ corticosterone tăng lên, dẫn đến tăng đường huyết và sử dụng glucose không hiệu quả. Bổ sung Crom cải thiện độ nhạy insulin, ổn định đường huyết và giảm stress ôxy hóa bằng cách tăng cường hoạt động của các enzyme chống ôxy hóa.

Crom propionat, một dạng Crom hóa

trị ba hoạt tính sinh học, trực tiếp chống

lại căng thẳng bằng cách: Giảm nồng độ corticosterone; Tăng cường hoạt động của insulin; Tăng tốc độ thanh thải glucose; Cải thiện khả năng cung cấp năng lượng, lượng thức ăn tiêu thụ và khả năng miễn dịch.

Vitamin C trung hòa các gốc tự do và hỗ trợ chức năng tuyến thượng thận, nhưng nó không thể khắc phục được: Sự tăng đột biến corticosterone; Rối loạn chức năng insulin; Suy giảm khả năng hấp thụ glucose. Do đó,

Căng thẳng do nhiệt vẫn là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất trong sản xuất gia cầm. Nhiệt độ cao gây ra những thay đổi sinh lý như: Giảm lượng thức ăn tiêu thụ và tốc độ tăng trưởng; Giảm chất lượng vỏ trứng và sản lượng trứng; Tăng tỷ lệ tử vong; Tăng nồng độ corticosterone trong máu. Những thay đổi này làm suy yếu hệ miễn dịch, làm giảm khả năng hấp thụ glucose do kháng insulin và đẩy nhanh quá trình phân giải cơ bắp thông qua quá trình tân tạo glucose. Kết quả là một loạt các rối loạn chuyển hóa mà các biện pháp truyền thống không thể khắc phục hoàn toàn. Ngày nay, ngành công nghiệp gia cầm còn phải đối mặt với nhiều yếu tố gây căng thẳng khác như: - Nhu cầu trao đổi chất tăng cao: Gà thịt và gà đẻ hiện đại có tỷ lệ trao đổi chất cao hơn, dẫn đến căng thẳng ôxy hóa; - Thách thức môi trường: Tình trạng quá tải, tích tụ amoniac và nhiệt độ dao động làm tăng cường căng thẳng; - Áp lực dịch bệnh: Kháng kháng sinh và các mầm bệnh mới nổi làm suy yếu hệ miễn dịch; - Nhu cầu thị trường: Các nhà sản xuất phải cân bằng năng suất với an toàn sinh học, tính nhất quán dinh dưỡng và những thách thức về nguyên liệu thô.

Tác dụng của Crom và Vitamin C với đường huyết, insulin và corticosterone (Sahinvàcộngsự,2003)

mặc dù có hàm lượng cao hơn, Vitamin C đơn độc không thể phục hồi hoàn toàn hiệu suất hoạt động dưới điều kiện căng thẳng do nhiệt.

Việc bổ sung Crom vào thức ăn kết hợp với Vitamin C cho thấy sự thay đổi tích cực về trao đổi chất ở gia cầm trong điều kiện căng thẳng. Sự kết hợp này giúp duy trì mức insulin ổn định, hỗ trợ cải thiện khả năng sử dụng glucose (với sự giảm lượng glucose trong máu so với nhóm đối chứng) và làm giảm đáng kể nồng độ corticosterone (giảm khoảng 26% so với nhóm đối chứng) (Sahin và cộng sự, 2003).

Tại sao nên kết hợp Crom với Vitamin C và E?

Vitamin E đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý chăn nuôi gia cầm mùa hè bằng cách hoạt động như một chất ôxy hóa mạnh mẽ, bảo vệ tế bào khỏi stress ôxy hóa do nhiệt. Việc bổ sung chất này hỗ trợ hệ miễn dịch và giúp duy trì hiệu suất cũng như sản lượng trứng trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao.

Trong khi Crom giúp giải quyết căng thẳng chuyển hóa và tổn thương ôxy hóa, Vitamin C và E tăng cường khả năng

thích ứng của gia cầm với các thách thức về môi trường và nhiệt độ. Sự kết hợp này tạo ra hiệu ứng hiệp đồng, mang lại khả năng quản lý căng thẳng toàn diện bằng cách:

- Giảm nồng độ corticosterone; - Cải thiện chuyển hóa glucose;

- Tăng cường chức năng miễn dịch; - Nâng cao khả năng chống ôxy hóa;

- Hỗ trợ khả năng chịu nhiệt;

- Thúc đẩy sự toàn vẹn của cơ bắp.

Một cách tiếp cận hiện đại

Sự hiệp đồng giữ Crom, Vitamin C và E giúp giảm thiểu căng thẳng và cải thiện hiệu suất bằng cách điều chỉnh mức độ corticosterone, tăng cường độ nhạy insulin, tối ưu hóa chuyển hóa glucose, tăng cường tính toàn vẹn của tế bào, thúc đẩy cơ chế phòng vệ chống ôxy hóa và cải thiện năng suất tổng thể cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn.

Ngoài việc giảm thiểu căng thẳng, cách tiếp cận dinh dưỡng tích hợp này đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường miễn dịch và tối ưu hóa hiệu suất. Nó hỗ trợ chức năng miễn dịch bằng cách trung hòa các gốc tự do, tăng cường hệ thống phòng vệ chống ôxy hóa và bảo vệ màng tế bào khỏi tổn thương do ôxy hóa. Đặc biệt, Vitamin C và E hoạt động hiệp đồng để tăng cường hoạt động chống ôxy hóa và cải thiện khả năng phục hồi của gia cầm trong điều kiện căng thẳng.

Từ góc độ hiệu suất, những biện pháp can thiệp này góp phần cải thiện quá trình chuyển hóa năng lượng, ngăn ngừa sự thoái hóa cơ bắp và tăng cường hiệu quả sử dụng thức ăn, cuối cùng hỗ trợ tăng trưởng và năng suất tốt hơn.

Khi hệ thống sản xuất gia cầm ngày càng được tăng cường, nhu cầu về các giải pháp quản lý căng thẳng tích hợp, tiên tiến trở nên ngày càng quan trọng. Các chiến lược dinh dưỡng dựa trên Crom, đặc biệt khi kết hợp với các chất chống ôxy hóa quan trọng như Vitamin C và E, mang lại một hướng đi đầy hứa hẹn để giải quyết căng thẳng từ nguyên nhân gốc rễ.

Sự chuyển đổi này đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong dinh dưỡng gia cầm - một kỷ nguyên ưu tiên hiệu quả trao đổi chất, khả năng phục hồi và hiệu suất bền vững.

ĐÌNH THUẬN

(Theo Midhun Raj và Gustav Vengra, Kemin Nam Á)

5 giống gà cảnh nuôi vừa đẹp nhà

vừa sinh lời bền vững

Một giống gà cảnh được ưa chuộng thường hội tụ đủ các yếu tố: ngoại hình nổi bật (dáng đứng, bộ lông, màu sắc, đuôi, mào); tính cách dễ nuôi, dạn người; giá trị thẩm mỹ cao; tiềm năng kinh tế từ nhân giống; và có thể thích nghi với nhiều mô hình nuôi khác nhau - từ sân vườn rộng đến chuồng nhỏ trong nhà phố.

1. Gà Kỳ Lân - Độc lạ, quý hiếm

Gà Kỳ Lân gây ấn tượng mạnh với dáng đứng oai vệ, phần chân và lông có hình thái đặc biệt, tạo cảm giác uy nghi như linh vật trong dân gian. Đây là giống gà cảnh cao cấp, thường được người chơi sưu tầm để trưng bày và khẳng định “đẳng cấp” thú chơi hơn là nuôi đại trà. Phù hợp với người đã có kinh nghiệm, cần chuồng khô ráo, chế độ dinh dưỡng cân đối để giữ thân hình đẹp.

2. Gà Serama - “Vua gà cảnh mini”

Gà Serama nổi tiếng với kích thước siêu nhỏ (chỉ 250 - 500g), dáng đứng ưỡn ngực, đầu ngẩng cao, toát lên phong thái rất “vương giả”. Đây là lựa chọn lý tưởng cho người nuôi ở nhà phố, ban công hay sân nhỏ nhờ ít tốn diện tích và dễ chăm sóc. Serama cũng thường xuất hiện trong các cuộc thi gà cảnh. Hiện có hai dòng phổ biến là Serama Malaysia thuần chủng và Serama lai (giá mềm hơn, dễ nuôi hơn).

3. Gà Tre Thái - Nhỏ con nhưng đầy khí chất

Gà Tre Thái có thân hình nhỏ gọn, lanh lợi, bộ lông đa dạng màu sắc và sức đề kháng tốt, dễ nuôi. Đây là giống quen thuộc nhưng chưa bao giờ “hết hot” - không chỉ nuôi làm cảnh mà còn rất phù hợp để nhân giống bán, mang lại thu nhập ổn định. Được đánh giá là giống tốt nhất cho người mới bắt đầu nuôi gà cảnh..

4. Gà Vảy Cá - Vẻ đẹp lạ mắt

5. Gà Tân Châu - Biểu tượng gà cảnh Việt Gà Tân Châu là giống gà cảnh do người Việt lai tạo, nổi tiếng với bộ đuôi dài thướt tha, mềm mại, dáng đi uyển chuyển và màu lông phong phú. Dù nhiều giống mới liên tục xuất hiện, Gà Tân Châu vẫn giữ vững vị thế là niềm tự hào của gà Việt, được người chơi trong lẫn ngoài nước ưa chuộng và có giá trị bền vững theo thời gian.

Gợi ý chọn giống theo mục đích:

- Nuôi thư giãn, làm cảnh: Serama, Tre Thái

- Nuôi sưu tầm chuyên sâu: Kỳ Lân, Vảy Cá

- Nhân giống, kinh doanh: Tre Thái, Tân Châu

- Người mới bắt đầu: Tre Thái, Serama lai.

ĐỨC DŨNG

Điểm đặc trưng nhất của gà Vảy Cá chính là bộ lông xếp lớp như vảy cá, nhìn rất lạ và bắt mắt - đây là giống gà cảnh càng nhìn kỹ càng thấy đẹp. Sự độc lạ, không “đụng hàng” khiến giống này có giá trị sưu tầm cao. Lưu ý khi nuôi cần giữ chuồng sạch, ít ẩm để bộ lông luôn đẹp và tránh gãy rụng.

Nuôi gà đen H’Mông bằng tỏi, lá ổi giúp

phụ nữ vùng cao làm giàu

Kiên trì theo đuổi phương thức chăn nuôi sinh học, sử dụng tỏi và nước lá ổi trong phòng bệnh, chị Lò Thị Bưởi, Giám đốc HTX nông nghiệp

sinh thái E Farm (xã Long Hẹ, Sơn La) đã xây dựng thành công mô hình nuôi gà đen cho hiệu quả kinh tế ổn định.

Rời giảng đường chuyên ngành Nông

học của Trường Đại học Tây Bắc năm 2017, chị Lò Thị Bưởi (sinh năm 1994) trở về quê tại thôn Nà Hem, xã Long Hẹ với mong muốn khởi nghiệp từ nông nghiệp.

Năm 2021, chị được cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thuận Châu (cũ) tư vấn về mô hình nuôi gà đen H’Mông, giống gà bản địa có giá trị kinh tế cao, thích nghi tốt với điều kiện vùng cao.

Cùng năm, địa phương triển khai mô hình nuôi gà đen theo hướng an toàn sinh học tại

xã É Tòng (nay là xã Long Hẹ), với sự tham gia của 5 hộ dân, quy mô 3.500 con. Gia đình chị Bưởi được hỗ trợ 1.000 con giống

cùng thức ăn và được tập huấn kỹ thuật bài bản. Từ nền tảng này, chị từng bước tích lũy kinh nghiệm, xây dựng mô hình chăn nuôi riêng theo hướng bền vững. “Muốn làm giàu từ nông nghiệp phải chọn đúng cây, đúng con và làm đến nơi đến chốn”, chị chia sẻ.

Nhận thấy hiệu quả rõ rệt, năm 2022, chị thành lập Hợp tác xã nông nghiệp sinh thái E Farm, nhằm liên kết các hộ dân, cùng phát triển chăn nuôi gà đen thương phẩm. Đến nay, HTX có 7 thành viên, mỗi hộ duy trì quy mô từ 200 - 300 con và tăng lên 400500 con vào dịp giáp Tết.

Một trong những điểm khác biệt của mô hình là phương thức nuôi gối vụ. Các hộ không nuôi cùng thời điểm mà vào đàn lệch nhau, giúp HTX luôn có sản phẩm cung cấp quanh năm, hạn chế rủi ro “được mùa mất giá”.

Riêng gia đình chị Bưởi, trong năm vừa qua đã xuất bán khoảng 3.000 con gà đen, với giá trên 100.000 đồng/kg, mang lại nguồn thu hơn 400 triệu đồng. Bên cạnh đó, chị còn duy trì đàn gà mái đẻ khoảng 300 con. Vào thời điểm cao nhất, sản lượng đạt khoảng 200 quả trứng mỗi ngày, góp phần

tạo nguồn thu ổn

định, giảm phụ thuộc vào gà thịt.

Không dừng

lại ở quy mô sản

xuất, điều làm nên

dấu ấn của mô

hình chính là cách

chăm sóc đàn gà theo hướng sinh

học. Thức ăn cho

gà được ủ men từ

các nguyên liệu

sẵn có như chuối, sắn, ngô, giúp

tăng khả năng tiêu hóa, giảm mùi hôi

chuồng trại. Khẩu

Mô hình nuôi gà đen H’mông thả vườn được phát triển tại bản Nà Hem, xã Long Hẹ Ảnh: Khải Hoàn

phần ăn còn được bổ sung ngô hạt, bã đậu và cỏ tự nhiên, tạo chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon.

Đặc biệt, trong phòng bệnh, chị ưu tiên sử dụng các biện pháp tự nhiên thay cho kháng sinh. Gà con trong tháng đầu được cho uống nước lá ổi để phòng tiêu chảy. Tỏi ngâm men được bổ sung thường xuyên, nhất là vào mùa đông, giúp hạn chế các bệnh về đường hô hấp. Nhờ tuân thủ quy trình kỹ thuật, tỷ lệ sống của đàn gà đạt khoảng 90%.

Nguồn giống được HTX nhập từ các cơ sở uy tín khi gà đạt 3 ngày tuổi, đảm bảo đã được tiêm phòng đầy đủ. Tuy nhiên, theo chị Bưởi, vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8, nguy cơ dịch bệnh tăng cao, đòi hỏi người nuôi phải theo dõi sát sao và chăm sóc kỹ lưỡng hơn.

Gà đen của HTX được nuôi gần 6 tháng mới xuất bán, lâu hơn so với nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp. Mỗi con đạt trọng lượng từ 1,2 - 2 kg, thịt ít mỡ, săn chắc nên được thị trường ưa chuộng. Giá bán dao

động từ 100.000 - 180.000 đồng/kg tùy thời

điểm. Nhờ chất lượng ổn định, sản phẩm của HTX ngày càng có chỗ đứng, được thương lái tìm đến thu mua tận nơi. Không chỉ tập trung phát triển kinh tế gia đình, chị Bưởi còn chú trọng gắn kết cộng đồng. Thông qua HTX, các hộ dân không còn sản xuất đơn lẻ mà có sự liên kết, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ đầu ra sản phẩm. Mô hình từng bước tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhiều hộ dân tại xã Long Hẹ.

Ông Lò Văn Quý, Chủ tịch UBND xã Long Hẹ đánh giá, mô hình nuôi gà đen thương phẩm của HTX nông nghiệp sinh thái E Farm mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng hàng hóa tại địa phương. Thời gian tới, xã sẽ tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để HTX và người dân tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, mở rộng quy mô sản xuất. KHÁNH NGUYỄN

Nuôi gia cầm thành công nhờ

Một trại gà thịt quy mô lớn tại Parchim (Đức) đang đạt hiệu quả dẫn

toàn bộ 16 dãy chuồng, điều chỉnh vi khí hậu theo diễn biến thực tế, tạo

Trang trại của Martin Ziemann được mua lại năm 2003 với giá 3 triệu EUR, gồm 14 dãy chuồng diện tích 1.000 m²/dãy, hai dãy 528 m², 170 ha đất và hệ thống kho bãi. Ngay sau tiếp quản, toàn bộ 16 dãy chuồng

được cải tạo đồng bộ theo tiêu chuẩn kỹ thuật riêng của Ziemann, với ba tuyến máng ăn tự động, bốn tuyến núm uống, hai tuyến ống sưởi cùng hệ thống thông gió và điều khiển trung tâm mới hoàn toàn. Tổng vốn

đầu tư nâng cấp khoảng 1 triệu EUR.

Nhờ tối ưu thiết kế và tổ chức sản xuất, số lao động giảm từ 16 người xuống 3,5 nhân công quy đổi. Năm 2006, trang trại chuyển từ sưởi gas sang lò đốt viên nén gỗ

để giảm chi phí năng lượng. Đến năm 2011, hệ thống khí sinh học đi vào hoạt động, tận dụng nhiệt dư thay thế hoàn toàn lò viên nén, nâng cao hiệu quả năng lượng và tính bền vững.

Duy trì một ngày trống chuồng

Gà con được nhập cố định vào thứ sáu hằng tuần, cách nhau một tuần giữa hai đợt. Sau sáu tuần nuôi, tám dãy chuồng đầu tiên xuất bán vào đêm thứ tư rạng sáng thứ năm và được vệ sinh, sát trùng nghiêm ngặt bởi đội chuyên trách bốn người. Một tuần sau, tám dãy còn lại tiếp tục xuất bán. Cách bố trí này giúp mỗi chu kỳ luôn có một ngày toàn bộ trang trại trống đàn, tạo điều kiện rà soát và điều chỉnh kỹ thuật tổng thể. Trang trại hiện có 10 lao động chính thức cùng một nhân viên hành chính bán thời gian; hai người chuyên phụ trách hệ thống khí sinh học. Toàn bộ công việc bảo trì, sửa chữa, cải tiến kỹ thuật đều do đội ngũ nội bộ đảm nhiệm. Những năm gần đây, trang trại tuyển thêm nhân sự để giảm áp lực công việc và hạn chế phụ thuộc vào từng cá nhân. Nhờ thị trường thuận lợi, chính sách đãi ngộ

cũng được cải thiện, trong đó doanh nghiệp chi trả gần như toàn bộ phần đóng góp bảo hiểm hưu trí cho người lao động. Nhờ vậy, nhiều nhân sự đã gắn bó hơn một thập kỷ. Mỗi ngày một chế độ khí hậu

Trang trại duy trì lịch kiểm tra định kỳ vào thứ ba, trọng tâm là điều kiện vi khí hậu trong chuồng. Dù hệ thống kết nối internet cho phép giám sát dữ liệu từ xa, họ vẫn coi việc quan sát trực tiếp đàn gà là yếu tố không thể thay thế. “Phải nhìn đàn gà bằng mắt mình, nắm bắt nhu cầu theo từng giai đoạn sinh trưởng và theo diễn biến thời tiết. Mỗi ngày đòi hỏi một chế độ khí hậu khác nhau”, ông Martin Ziemann, Chủ trang trại chia sẻ. Khi nhập gà con, nhiệt độ chuồng đạt 34°C; đến khi xuất bán giảm còn khoảng 22°C. Mỗi dãy chuồng lắp hai hệ thống làm mát phun sương; chỉ vận hành đồng thời khi nhiệt độ môi trường vượt 40°C, song hệ thống dự phòng vẫn được duy trì để bảo đảm an toàn. Trang trại luôn dự trữ tối thiểu năm máy bơm để thay thế kịp thời khi xảy ra sự cố.

Giống Ross 308 được cung ứng từ các trại ấp Optibroed hoặc Munsterhuis và xuất bán cho tập đoàn Plukon. Yếu tố khoảng cách địa lý gần nhà máy giết mổ và chế biến được xem là lợi thế quan trọng.

Dù quy mô lớn, trang trại không triển khai thí nghiệm kỹ thuật trực tiếp tại đây. Mô hình thử nghiệm được đặt tại Lockstedt; chỉ khi giải pháp chứng minh hiệu quả mới áp dụng đại trà. Một số thử nghiệm phụ gia thức ăn hoặc bổ sung axit hữu cơ vào nước uống vẫn được thực hiện, song theo chủ trại, quy trình tiêu chuẩn thường mang lại kết quả ổn định và tối ưu hơn so với các giải pháp mang tính thử nghiệm.

chặt chẽ. Mỗi

Tỷ lệ hao hụt thấp, FCR tối ưu

Trang trại duy trì tỷ lệ hao hụt 2 - 3% và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) đạt 1,52mức phản ánh năng lực quản lý đàn và kiểm soát kỹ thuật ở trình độ cao.

Châu Âu ngày càng siết chặt quy định mật độ nuôi nên các trang trại gia cầm phải duy trì quy mô đàn bằng lắp đặt hệ thống sàn nâng trên khoảng 10% diện tích nền chuồng, nhằm tăng diện tích sử dụng thực tế. Mọi thay đổi đều phải được cơ quan thú y và chính quyền địa phương phê duyệt trước khi triển khai. Chủ trại khẳng định tuyệt đối tuân thủ quy định pháp lý và điều kiện giấy phép. Mức tải trọng tối đa theo quy định là 39 kg khối lượng sống/m², song trang trại chủ động khống chế ở 35 kg/m² để tránh rủi ro. Theo họ, cơ quan quản lý kiểm tra rất nghiêm ngặt; vi phạm quy định phúc lợi động vật có thể dẫn tới thu hồi giấy phép và cấm hành nghề. “Không ai muốn đánh đổi cả cơ nghiệp chỉ vì một sai phạm”, ông Martin Ziemann nhấn mạnh.

Dù giá gà hiện ở mức thuận lợi, chủ trại không lạc quan thái quá và khá dè dặt với các dòng gà tăng trưởng chậm. Dù thân thiện hơn với vật nuôi và quy trình quản lý nhẹ hơn, các dòng này có năng suất thấp. Nếu châu Âu tiếp tục siết mật độ nuôi, lợi thế chênh lệch giữa gà tăng trưởng nhanh và chậm có thể thu hẹp.

Việc mở rộng hoặc xây mới trang trại gần như bất khả thi do áp lực cộng đồng và quy định phát thải nghiêm ngặt. Trang trại tiếp tục gắn bó với gà thịt, đồng thời tính đến khả năng đầu tư sang lĩnh vực khác, nhằm phân tán rủi ro và giảm phụ thuộc vào một ngành duy nhất.

TUẤN ANH

(Theo InternationalPoultry)

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
TGGC 88 22.5 by Thủy sản Việt Nam Website - Issuu