Skip to main content

Người Chăn nuôi tháng 4.2026

Page 1


SAN

CƠ QUAN CHỦ QUẢN

Hiệp hội Gia cầm Việt Nam

HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP

TS. Nguyễn Thanh Sơn TS. Nguyễn Quý Khiêm Nhà báo Dương Xuân Hùng Nhà báo Đỗ Huy Hoàn

Thư ký tòa soạn Nguyễn Chi

TỔNG BIÊN TẬP

TS. Nguyễn Thanh Sơn

TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP

Nhà báo Đỗ Huy Hoàn

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành

CỘNG TÁC NỘI DUNG Thu Hồng; Vũ Mưa; Kim Tiến; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Thùy Khánh; Sao Mai; Quỳnh Nga...

MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn

KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai

TÒA SOẠN

P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KDT An Hưng, phường Hà Đông, Hà Nội. Điện thoại: 0243 77 11 756; Email: nguoichannuoivn@gmail.com Website: nguoichannuoi.vn

TRỊ SỰ Nguyễn Thanh Đức

GIẤY PHÉP XUẤT BẢN: 156/GP-XBĐS Khuôn khổ: 23,5 x 31 cm

Nơi in: Công ty TNHH MTV

Lê Quang Lộc (TP HCM)

LIÊN HỆ QUẢNG CÁO:

Ms. Ánh: 0963 555 554

Ms. Ngọc: 098 999 1977

Ms. Na: 0978 233 492

Email: quangcaoncn@gmail.com

LIÊN HỆ ĐẶT BÁO:

Ms. Ngọc Ánh: 0963 555 554

Email: phathanhtggc@mail.com

SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936

Tên tài khoản ngân hàng: TẠP CHÍ THẾ GIỚI GIA CẦM

Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Tràng An Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 012022001

Địa chỉ Ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội

Ấn phẩm sử dụng sản phẩm giấy thân thiện với môi trường.

Thưa quý vị bạn đọc!

Xung đột ở Trung Đông gây ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề logistics (làm chậm 15 - 20 ngày vận chuyển và tăng 30 - 50% chi phí), ảnh hưởng trực tiếp đến việc nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi và làm tăng chi phí sản xuất.

Xung đột địa chính trị không còn là yếu tố mang tính thời điểm mà đã trở thành rủi ro thường trực đối với ngành chăn nuôi toàn cầu. Với Việt Nam, thách thức này càng lớn do mức độ phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu còn cao (60 - 70% nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, khoảng 22 - 24 triệu tấn/năm). Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi theo hướng tự chủ, linh hoạt và bền vững không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là con đường duy nhất để ngành chăn nuôi nâng cao sức cạnh tranh.

Ngành chăn nuôi thời gian qua đã và đang chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng suất, kiểm soát dịch bệnh và hướng tới xuất khẩu bền vững. Trong hành trình này, khoa học công nghệ đang trở thành động lực quan trọng.

Nhằm đánh giá những thành tựu của khoa học công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi, Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lần đầu tiên với quy mô quốc gia dành riêng cho lĩnh vực chăn nuôi - thú y; điều này đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc đưa khoa học công nghệ trở thành động lực trung tâm thúc đẩy tăng trưởng ngành trong giai đoạn mới.

Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, khoa học công nghệ đã tạo ra những chuyển biến rõ nét, từ việc chọn tạo giống, tối ưu dinh dưỡng, kiểm soát dịch bệnh đến xử lý môi trường, góp phần giúp ngành chăn nuôi từng bước ổn định, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Còn theo TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm

Việt Nam, khoa học công nghệ phải gắn với thị trường và thị trường phải trở thành “đường ray” định hướng cho sản xuất. Từ đó, tư duy phát triển giống bắt đầu thay đổi. Giống không còn được

lựa chọn chỉ dựa trên năng suất mà phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí như giá thành hợp lý, chất lượng sản phẩm, độ an toàn và khả năng tiêu thụ.

Nhờ ứng dụng khoa học công nghệ, ngành chăn nuôi không chỉ

đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm trong nước mà còn nâng cao năng lực xuất khẩu. Thời gian tới, ngành tập trung chọn giống năng suất cao, vaccine chủ động, chuyển đổi số và tự động hóa trang trại; hướng tới mô hình hiện đại, bền vững và thân thiện môi trường, nâng cao cạnh tranh và đảm bảo an ninh thực phẩm.

Đây là những thông tin chính quan trọng được truyền tải trên

ấn phẩm Người Chăn nuôi phát hành kỳ tháng 4 này, cùng với diễn

biến thị trường chăn nuôi trong nước, quốc tế, những công nghệ, mô hình sản xuất hiệu quả. Mời quý độc giả đón đọc!

Trân trọng!

VietAgros 2026

Hội nghị Khoa học, Công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần đầu tiên

Sáng 28/3, Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất khai mạc tại Hà Nội với khoảng 750 đại biểu tham dự. Đây là lần đầu tiên một hội nghị khoa học quy mô quốc gia được tổ chức riêng cho lĩnh vực này.

Hội nghị tập trung thảo luận các vấn đề cốt lõi gồm phát triển giống vật nuôi chất lượng cao, công nghệ dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh, phát triển vaccine, kiểm soát kháng kháng sinh và chuyển đổi số trong quản lý sản xuất. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là giải pháp then chốt để tái cấu trúc ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh Việt Nam đang khai thác lợi thế từ 17 hiệp định thương mại tự do. Thời gian tới, ngành tập trung chọn giống năng suất cao, vaccine chủ động, chuyển đổi số và tự động hóa trang trại; hướng tới mô hình hiện đại, bền vững và thân thiện môi trường, nâng cao cạnh tranh và đảm bảo an ninh thực phẩm.

FAO và Việt Nam thúc đẩy hợp tác chăn nuôi

hướng xanh và bền vững

theo

Chiều 24/3, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã tiếp và làm việc với ông Thanawat Tiensin, Giám đốc Ban Chăn nuôi và Thú y của FAO, trao đổi về định hướng tăng cường hợp tác giữa hai bên. Đại diện FAO đánh giá cao vị thế trong nhiều lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam trong khu vực, khi sản xuất thịt heo đứng đầu Đông Nam Á, ngành sữa dẫn đầu ASEAN và nuôi trồng thủy sản thuộc nhóm dẫn đầu khu vực. Nội dung hợp tác trọng tâm giữa hai bên là Khung Đối tác Một sức khỏe (One Health), bao trùm các lĩnh vực an toàn thực phẩm, kiểm soát dịch bệnh, phòng chống kháng kháng sinh và phúc lợi động vật, với sự hỗ trợ từ nhiều đối tác quốc tế lớn. Thời gian tới, Việt Nam cam kết tiếp tục tham gia các sáng kiến toàn cầu do FAO thúc đẩy, đồng thời phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế xanh, tuần hoàn, chuyển đổi số và bền vững.

HÀ MY

Chấn chỉnh công tác giết mổ và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi

Ngày 17/3/2026, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra hoạt động giết mổ heo trong Cơ sở giết mổ gia súc tập trung Vạn Phúc (thôn 3, xã Nam Phù, thành phố Hà Nội). Từ đầu năm 2026 đến nay, các đối tượng đã tiêu thụ khoảng 3.600 con heo mắc dịch bệnh (tương đương gần 300 tấn) qua các chợ đầu mối, chợ dân sinh và bán cho Công ty TNHH Thực phẩm Cường Phát - đơn vị cung cấp thực phẩm cho một số trường học trên địa bàn thành phố. Ngày 25/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án hình sự vi phạm quy định về an toàn thực phẩm; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; giả mạo trong công tác xảy ra tại Hà Nội và các địa phương liên quan; đồng thời khởi tố 8 bị can. Ngày 30/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã tham mưu Thủ tướng ban hành Công điện số 26 về chấn chỉnh công tác kiểm soát giết mổ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đồng thời tăng cường kiểm soát việc cấp và sử dụng dấu kiểm dịch.

Xuất khẩu chăn nuôi tăng trưởng mạnh nhất

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong tháng 3/2026 ước đạt 6,02 tỷ USD (tăng mạnh 47,8% so với tháng 2/2026, song giảm nhẹ 1,5% so với cùng kỳ năm 2025). Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025. Giá trị xuất siêu nông, lâm, thủy sản đạt 4,78 tỷ (tăng 12%). Trong đó, giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 197,7 triệu USD, tăng ấn tượng 54,3% so với cùng kỳ năm 2025 - và là mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm ngành nông sản. Về nhập khẩu, giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi trong 3 tháng đầu năm đạt 1,16 tỷ USD, tăng 10%.

TRẦN VÂN

Việt Nam - Ohio: Đẩy mạnh hợp tác nhập khẩu đậu tương

Ngày 27/3/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung tiếp Giám đốc Nông nghiệp bang Ohio (Mỹ) Brian Baldridge và Chủ tịch Hội đồng đậu tương lai Ohio Jerry Bambauer. Trong năm 2025, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 517 triệu USD đậu tương từ Mỹ, tăng 11,7% so với năm 2024 và chiếm tới 43% tổng lượng đậu tương Việt Nam nhập khẩu từ thị trường quốc tế. Việt Nam hiện là thị trường nhập khẩu đậu tương quan trọng thứ 5 của bang Ohio năm 2025. Thứ trưởng Hoàng Trung bày tỏ

ấn tượng hơn nữa. Phía Ohio cam kết đảm bảo nguồn cung đậu nành ổn định, chất lượng cao cho Việt Nam trong thời gian tới.

VŨ PHƯƠNG

3 tháng đầu năm, dịch tả heo châu Phi diễn biến phức tạp

Tính từ đầu năm đến hết tháng 3, tại tỉnh Cao Bằng, dịch tả heo châu Phi đã phát sinh rải rác tại 58 hộ chăn nuôi, của 28 xóm, tổ dân phố, ở 18 xã, phường; đã có 276 con heo mắc bệnh, chết và bị tiêu hủy, với trọng lượng tiêu hủy là 9.648 kg. Tại Vĩnh Long, toàn tỉnh đã xảy ra 11 ổ dịch tại 11 hộ thuộc 9 xã, phường với tổng số heo mắc bệnh, tiêu hủy là 321 con, trọng lượng hơn 11,5 tấn. Hiện còn 4 ổ dịch ở 4 xã Long Hiệp, Mỹ Long, Long Hồ, Ngũ Lạc chưa qua thời gian cách ly 21 ngày. Tại Tây Ninh, tỉnh ghi nhận 21 ổ dịch tại 19 hộ chăn nuôi, thuộc 13 xã, với tổng 875 con mắc bệnh. Trong đó, 813 con đã bị tiêu hủy, tương đương 43 tấn. Hiện vẫn còn 2 ổ dịch chưa qua 21 ngày. Ngành chức năng của các địa phương đang tích cực triển khai các biện pháp để ngăn chặn dịch bệnh; tuy nhiên dự báo dịch bệnh tiếp tục gia tăng do hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm phần lớn, tỷ lệ tiêm phòng thấp, thời tiết đang giao mùa nên sức đề kháng của vật nuôi giảm…

ĐỨC DŨNG

HUẾ Mục tiêu tiêm phòng phủ ít nhất 80% đàn

Quý I, ngành chăn nuôi thành phố Huế ghi nhận mức tăng trưởng 3 - 4%, với tổng đàn heo ước đạt 169.000 con (tăng 3,6%), đàn bò 33.200 con (tăng 4%), đàn trâu 15.300 con (giữ ổn định) và gia cầm 5,25 triệu con (tăng 1%). Công tác tiêm vaccine cũng tăng 3 - 4% so với cùng kỳ, nhưng vẫn còn thấp so với kế hoạch, nhiều loại vaccine chỉ đạt 56 - 72% kế hoạch, riêng vaccine lở mồm long móng chỉ đạt 8%. Một số xã, phường có tỷ lệ tiêm dưới 50%. Trước tình hình đó, Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát lại tổng đàn, ưu tiên tiêm các bệnh nguy hiểm như lở mồm long móng, dại, cúm gia cầm, tai xanh, viêm da nổi cục tại những khu vực có nguy cơ cao, đồng thời thực hiện tiêm nhắc lại và tiêm bổ sung, nhằm đảm bảo tối thiểu 80% đàn vật nuôi được tiêm đủ và đúng loại vaccine.

LÂM

ĐỒNG

TUYÊN QUANG

100% xã, phường thực hiện tổng vệ sinh tiêu độc, khử trùng

Tính đến cuối tháng 3, toàn bộ 124/124 xã, phường của tỉnh đã triển khai tháng tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường và tiêm phòng vaccine cho đàn vật nuôi đợt 1 năm 2026. Mục tiêu của đợt này là ít nhất 80% tổng đàn vật nuôi được tiêm phòng đầy đủ, đúng loại vaccine, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp không chấp hành quy định tiêm phòng bắt buộc. Được biết, năm 2025, dịch tả heo châu Phi hoành hành tại 117 xã của tỉnh, khiến gần 200.000 con heo bị tiêu hủy; cúm gia cầm, bệnh dại, lở mồm long móng và tụ huyết trùng cũng bùng phát nhiều ổ. Đáng lo hơn, tỷ lệ tiêm phòng năm 2025 rất thấp, nhiều bệnh chỉ đạt dưới 5%.

THÙY DƯƠNG

khó cho dự án nuôi bò sữa của Tập đoàn TH Dự án Khu chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Đắk Nông (nay thuộc địa bàn tỉnh Lâm Đồng) với quy mô 451 ha, vốn đầu tư hơn 8.059 tỷ đồng, công suất 50.000 con đang gặp vướng mắc về khoáng sản, nguồn nước, xả thải và tranh chấp đất đai. Các sở, ngành đã đề xuất giải pháp tháo gỡ, trong đó có việc thành lập tổ công tác đồng hành cùng nhà đầu tư. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Trọng Yên đánh giá dự án phù hợp định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh, song yêu cầu tuân thủ nghiêm quy định về đất đai, môi trường và quy hoạch. Nhà đầu tư cần khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý để sớm triển khai đúng tiến độ.

ĐỒNG NAI

Xây dựng được 43 chuỗi cung ứng thịt heo và gà

HÀ TĨNH

Cấp chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho dê Hương Sơn

Ngày 20/3, tại xã Hương Sơn, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Hà Tĩnh đã tổ chức lễ công bố quyết định cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Dê Hương Sơn - Hà Tĩnh”. Đây là kết quả sau 2 năm triển khai nhiệm vụ khảo sát, xây dựng hồ sơ tại 9 xã trọng điểm trong vùng địa lý bảo hộ (Hương Sơn, Sơn Giang, Sơn Tiến, Tứ Mỹ, Kim Hoa, Sơn Tây, Sơn Hồng, Sơn Kim 1 và Sơn Kim 2). Sở KH&CN tỉnh Hà Tĩnh chính thức trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu và đã trao quyền sử dụng cho 4 tổ chức, cá nhân đủ điều kiện đầu tiên, với cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc được cấp nhãn hiệu chứng nhận không chỉ khẳng định giá trị pháp lý cho sản phẩm mà còn tạo nền tảng để mở rộng thị trường, nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi và phát triển kinh tế địa phương bền vững.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Nai, mỗi tháng tỉnh cung cấp ra thị trường khoảng 72.000 tấn thịt heo hơi, 23.500 tấn thịt gia cầm và hơn 149 triệu quả trứng. Để đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm, tỉnh đã thiết lập 43 chuỗi cung ứng khép kín, gồm 32 chuỗi cung ứng thịt heo và 11 chuỗi thịt gà, với sự góp mặt của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Toàn bộ quy trình từ nuôi trồng, giết mổ, vận chuyển cho đến phân phối tới người tiêu dùng đều được giám sát chặt chẽ. Đáng chú ý, công nghệ số đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong việc truy xuất nguồn gốc, giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra thông tin sản phẩm. Hiện, tổng đàn gia súc của đạt gần 4 triệu con, trong đó riêng đàn heo hơn 3,8 triệu con và tổng đàn gia cầm đạt gần 36 triệu con. Đồng Nai đã thu hút được nhiều tập đoàn, doanh nghiệp đầu tư vào ngành chăn nuôi theo chuỗi khép kín từ sản xuất thức ăn chăn nuôi; sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, thuốc thú y, chế biến sâu các sản phẩm chăn nuôi… Ngành chăn nuôi đã ứng dụng công nghệ hiện đại, chuyển hướng sản xuất theo quy mô công nghiệp, hàng hóa lớn theo chuỗi liên kết khép kín từ đầu vào đến đầu ra.

THẢO LINH

hổng từ “mắt xích” giết mổ và chế biến

Phát triển theo chuỗi giá trị ngành chăn nuôi, khâu giết mổ và chế biến không còn là “mắt xích” trung gian mà giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao giá trị gia tăng, bảo đảm an toàn thực phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhưng qua vụ việc gây bức xúc dư luận khi 300 tấn thịt heo nhiễm dịch tả heo châu Phi được tuồn ra thị trường, thậm chí vào các trường học cho thấy đã có sự

trong cơ chế giám sát theo chuỗi, từ khâu kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và giám sát lưu thông.

Ông Phạm Văn Duy, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, đến cuối năm 2025, cả nước có 552 cơ sở giết mổ tập trung; nhưng chỉ 45 cơ sở đạt quy mô công nghiệp, chiếm hơn 8%. Trong khi đó, số cơ sở giết mổ nhỏ lẻ vẫn lên tới gần 25.000. Đáng chú ý, phần lớn các cơ sở nhỏ lẻ hoạt động ngoài kiểm soát: chỉ khoảng 27% có đăng ký kinh doanh và chưa đến 1/5 có sự tham gia kiểm soát của nhân viên thú y. Thực trạng này cho thấy “nút thắt” lớn nhất của ngành không nằm ở số lượng cơ sở, mà ở cơ cấu hệ thống chưa kịp chuyển dịch sang mô hình tập trung, hiện đại.

Theo ông Duy, sự mất cân đối giữa tốc độ phát triển chăn nuôi và năng lực giết mổ, chế biến khiến phần lớn sản phẩm vẫn lưu thông dưới dạng tươi sống, khó bảo quản lâu, khó truy xuất nguồn gốc và khó nâng cao giá trị.

TS Lương Minh Tân, Khoa Sức khỏe môi trường - Nghề nghiệp (Trường Đại học Y tế công cộng) nhận định, quá trình lưu giữ, vận chuyển và giết mổ động vật mắc bệnh sẽ phát thải các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có trong máu, dịch tiết, phân, nước rửa chuồng trại ra môi trường. Đây là nguồn phát tán mầm bệnh trực tiếp và cực kỳ nguy hiểm; nếu không được xử lý đúng quy chuẩn, tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập môi trường đất, nước, không khí, lây nhiễm chéo cho các đàn gia súc khác, đặc biệt trong điều kiện vệ sinh kém tại các khu dân cư đông đúc. Người lao động tại các cơ sở chế biến thực phẩm có rủi ro nghề nghiệp và hệ lụy sức khỏe lớn nếu không được nhận diện đầy đủ khi tiếp xúc với thịt heo mắc bệnh. Về việc trang bị kiến thức nhận diện thực phẩm nguy hại cho nhân viên bếp ăn, TS Lân khẳng định quy định này đã được nêu rõ trong Luật An toàn thực phẩm. Tuy nhiên, kiến thức tập huấn cần cập nhật thực chất hơn, bởi việc nhận diện bằng cảm quan hiện nay vô cùng khó khăn do các thủ đoạn che đậy tinh vi bằng hóa chất bảo quản và công

nghệ làm lạnh. Vì vậy, các cơ sở phải thực thi nghiêm quy định kiểm soát thực phẩm đầu vào, chỉ tiếp nhận nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuyệt đối không vì áp lực chi phí mà đánh đổi sức khỏe của người tiêu dùng.

Còn theo TS Nguyễn Văn Trọng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, chúng ta có quy định cụ thể về xây dựng vùng, cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh để định danh nguồn gốc sản phẩm. Nhưng rõ ràng, việc xây dựng mã định danh cho các cơ sở chăn nuôi còn chưa thực hiện được đồng bộ, nhất là với những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Chính vì thế, quy định thì đã có, nhưng thực thi còn chưa được như mong muốn, kể cả về mặt quản lý Nhà nước cũng như từ chính các trang trại chăn nuôi. Người chăn nuôi cũng chưa chủ động. Theo quy định, khi có cơ sở chăn nuôi, chủ cơ cở phải đăng ký mã định danh. Và khi có mã định danh, mã sẽ theo suốt cả quá trình chăn

nuôi. Mã định danh chính là “tấm hộ chiếu” giúp truy xuất nguồn gốc, quản lý dịch bệnh, và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Khi đã có mã định danh, dán tem truy xuất nguồn gốc, thì chỉ cần quét mã đó, sẽ ra được cả quá trình chăn nuôi.

Việc giết mổ phân tán không chỉ gây khó khăn trong quản lý mà còn tiềm ẩn nguy cơ về an toàn thực phẩm và dịch bệnh. Sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng tươi sống, khó bảo quản lâu, khó truy xuất nguồn gốc và hạn chế khả năng vận chuyển đi xa. Các doanh nghiệp lớn đã từng bước áp dụng công nghệ hiện đại như giết mổ treo, cấp đông và các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp này còn hạn chế, chưa đủ tạo ra sự thay đổi mang tính hệ thống, khiến khoảng cách giữa khu vực hiện đại và khu vực nhỏ lẻ ngày càng gia tăng. VÂN ANH

Ảnh: Tradeasia

Áp

lực tăng

giá thức ăn

VÀ BÀI TOÁN TỰ CHỦ NGUYÊN LIỆU

Diễn biến phức tạp của xung đột địa chính trị trên thế giới đang tạo ra những “cơn sóng ngầm” tác động trực tiếp tới ngành chăn nuôi Việt Nam. Từ nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu, chi phí thức ăn tăng cao đến rủi ro thị trường, ngành chăn nuôi, đang đối mặt với nhiều thách thức chưa từng có.

Giá thức ăn chăn nuôi trong nước leo thang

Xung đột kéo dài tại nhiều khu vực trên thế giới đã làm gián đoạn các tuyến vận tải biển quan trọng, đặc biệt là khu vực Trung Đông và Biển Đen, nơi cung cấp phần lớn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như ngô, lúa mì và đậu tương. Việc vận chuyển hàng hóa bị kéo dài, chi phí logistics tăng mạnh đã đẩy

giá nguyên liệu đầu vào lên cao.

Tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh

và phát triển chăn nuôi bền vững mới đây, ông Phạm Kim Đăng, Phó cục trưởng Cục

Chăn nuôi và Thú y cho biết, xung đột NgaUkraine, xung đột ở Trung Đông và việc Mỹ áp thuế đối ứng đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất, trong đó có ngành chăn nuôi và thú y. Đặc biệt là xung đột ở Trung

Đông gây ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề logistics (làm chậm 15 - 20 ngày vận chuyển và tăng 30 - 50% chi phí), ảnh hưởng trực tiếp đến việc nhập khẩu nguyên liệu để sản

xuất thức ăn chăn nuôi và làm tăng chi phí sản xuất. Trong khi đó, Việt Nam, phụ thuộc 60 - 70% nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu (khoảng 22 - 24 triệu tấn/năm), đang đối mặt với rủi ro chi phí tăng.

Theo thông báo của một số hãng sản xuất thức ăn chăn nuôi trong tháng 3 vừa qua, nhiều loại cám dành cho gia súc, gia cầm, thủy sản tiếp tục tăng giá. Trong đó, Emivest Feedmill tăng 400 đồng/kg đối với thức ăn đậm đặc và thức ăn cho heo con;

300 đồng/kg đối với các loại khác; Green Feed tăng 400 đồng/kg đối với tất cả các loại cám dành cho gia súc, gia cầm. Các công ty khác như Hòa Phát, CJ Vina Agri, De Heus... cũng đồng loạt thông báo tăng giá từ 300400 đồng/kg đối với tất cả các mã thức ăn chăn nuôi. Lý giải về đợt tăng giá đồng loạt này, các doanh nghiệp cho biết họ đang phải đối mặt với “cơn bão” chi phí từ thị trường quốc tế.

Với việc phải phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu đã khiến ngành chăn nuôi dễ bị tổn thương trước những biến động địa chính trị. Một chuyên gia kinh tế nông nghiệp nhận định: “Chỉ cần một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, giá thức ăn chăn nuôi trong nước sẽ lập tức bị ảnh hưởng. Đây là điểm yếu mang tính cấu trúc của ngành chăn nuôi Việt Nam”.

Người nuôi thêm gánh nặng

Việc giá thức ăn chăn nuôi liên tục thiết

lập mặt bằng mới đang tạo ra áp lực đè nặng lên vai người nông dân. Không chỉ vậy, giá năng lượng leo thang trong bối cảnh xung

đột còn kéo theo chi phí vận chuyển, chế biến và sản xuất tăng mạnh. Điều này tạo ra gánh nặng kép cho người chăn nuôi khi chi phí đầu vào tăng nhưng giá đầu ra không ổn định.

Thực tế cho thấy, trong những giai đoạn biến động mạnh, giá thức ăn chăn nuôi có thể tăng từ 5 - 10% trong ngắn hạn, thậm chí cao hơn nếu xung đột kéo dài. Điều này buộc nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ phải giảm đàn hoặc tạm dừng sản xuất. Áp lực chi phí tăng cao không chỉ ảnh hưởng đến từng hộ chăn nuôi mà còn tác động đến toàn ngành. Khi lợi nhuận bị thu hẹp, doanh nghiệp và người nuôi có xu hướng giảm quy mô sản xuất, kéo theo nguy cơ suy giảm nguồn cung thực phẩm.

Các chuyên gia cảnh báo, nếu tình trạng này kéo dài, sản lượng chăn nuôi có thể giảm, gây áp lực lên giá thực phẩm và ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đây là bài toán không chỉ của riêng ngành nông nghiệp mà còn liên quan đến ổn định kinh tế vĩ mô. Đại diện một doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi cho rằng, xung đột địa chính

trị đang khiến thị trường nguyên liệu trở nên khó dự báo. Doanh nghiệp phải liên tục

điều chỉnh kế hoạch nhập khẩu và sản xuất

để thích ứng.

Trong chuỗi giá trị chăn nuôi, ngành

thức ăn chăn nuôi được xem là lĩnh vực chịu

ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất. Không

chỉ phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập

khẩu, ngành này còn chịu tác động từ chi phí năng lượng và vận tải. Những biến động liên tục của thị trường buộc doanh nghiệp phải thay đổi công thức phối trộn, tìm kiếm nguyên liệu thay thế và tăng cường dự trữ để giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, các giải pháp này cũng làm gia tăng chi phí sản xuất và áp lực tài chính.

Đáng chú ý, cạnh tranh nguồn cung trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt khi nhiều quốc gia tăng cường dự trữ lương thực và nguyên liệu. Điều này càng khiến việc đảm bảo nguồn cung ổn định cho sản xuất trong nước trở nên khó khăn hơn.

Các chuyên gia dự báo, nếu tình hình bất ổn tại Trung Đông không sớm hạ nhiệt, giá nguyên liệu thế giới sẽ còn biến động khó lường. Điều này buộc người chăn nuôi phải chủ động tối ưu hóa khẩu phần ăn, thắt chặt quản lý dịch bệnh để nâng cao tỷ lệ sống, nhằm bù đắp cho phần chi phí đầu vào đang tăng cao.

Chủ động thích ứng

Trước những thách thức từ xung đột địa chính trị, các chuyên gia cho rằng ngành chăn nuôi Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao khả năng chống chịu.

Trước hết, cần đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Việc mở rộng sang các thị trường mới sẽ giúp giảm thiểu rủi ro khi xảy ra đứt gãy chuỗi cung ứng.

Bên cạnh đó, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước được xem là giải pháp mang tính chiến lược lâu dài. Tăng diện tích trồng ngô, đậu tương, đồng thời tận dụng phụ phẩm nông nghiệp như cám gạo, bã bia, phụ phẩm thủy sản sẽ góp phần giảm áp lực nhập khẩu.

Bởi muốn phát triển bền vững, ngành chăn nuôi không thể mãi phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Tự chủ nguồn thức ăn là yếu tố then chốt. Ngoài ra, việc tối ưu hóa công thức thức ăn, ứng dụng công nghệ sinh học và các chế phẩm như enzyme, probiotic cũng giúp nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm chi phí sản xuất. Đồng thời, cần phát triển các chuỗi liên kết từ sản xuất thức ăn, chăn nuôi đến chế biến và tiêu thụ nhằm chia sẻ rủi ro và ổn định đầu ra. Việc xây dựng kho dự trữ nguyên liệu cũng là giải pháp quan trọng để ứng phó với biến động thị trường. Thêm vào đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tín dụng, khuyến khích sản xuất nguyên liệu trong nước và xây dựng cơ chế bình ổn giá thức ăn chăn nuôi khi cần thiết. Đối với thực tế sản xuất, ông Nguyễn Đình Xuyên, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y An Giang, khuyến cáo người dân tăng cường áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, quản lý tốt dịch bệnh, sử dụng thức ăn hợp lý và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp tại địa phương để giảm chi phí sản xuất. Có thể thấy, xung đột địa chính trị không còn là yếu tố mang tính thời điểm mà đã trở thành rủi ro thường trực đối với ngành chăn nuôi toàn cầu. Với Việt Nam, thách thức này càng lớn do mức độ phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu còn cao. Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi theo hướng tự chủ, linh hoạt và bền vững không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là con đường duy nhất để ngành chăn nuôi nâng cao sức cạnh tranh. Như nhận định của nhiều chuyên gia, biến động là điều không thể tránh khỏi, nhưng khả năng thích ứng sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của ngành.

BẢO HÂN

➢ Đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y cho rằng, từ tháng 4 đến 6/2026, chi phí sản xuất tăng 10 - 15%, lợi nhuận người chăn nuôi giảm 1020%, dẫn đến thua lỗ ở cả những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Vì vậy, bài toán thúc đẩy nguyên liệu thay thế từ phụ phẩm nguyên liệu trong nước đang rất cấp thiết.

KHOA

HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÀ ĐỘNG LỰC THÚC

ĐẨY SỰ HIỆN ĐẠI HÓA NGÀNH CHĂN NUÔI

Những năm vừa qua, khoa học và công nghệ (KHCN) đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy ngành chăn nuôi nước ta phát triển

vượt bậc, từ sản xuất truyền thống, manh mún trở thành ngành công nghiệp thực phẩm hiện đại có giá trị cao. Trong mỗi giai đoạn phát triển

của ngành đều có dấu ấn rõ nét của KHCN.

DẤU ẤN ĐẬM

NÉT

Từ thực tế phát triển ngành chăn nuôi nước ta đã cho thấy, KHCN là động lực

tăng trưởng năng suất và chất lượng, công cụ tối ưu hóa chi phí và hiệu quả kinh tế, là lá chắn bảo vệ và kiểm soát rủi ro, đồng thời là chìa khóa cho sự phát triển bền vững.

Giai đoạn từ 2000 - 2010: KHCN khởi

động công nghiệp hóa ngành chăn nuôi

Đây là giai đoạn đặt nền móng cho việc hiện đại hóa giống và thức ăn chăn nuôi. Nhờ các thành tựu về công nghệ giống và dinh dưỡng, vật nuôi lớn nhanh hơn, tỷ lệ nạc/sữa/trứng cao hơn, giúp tăng sản lượng gấp nhiều lần trên cùng một đơn vị diện tích và thời gian. Chỉ tính riêng trong giai đoạn từ 2015 đến 2025, các nhà khoa học cùng với các doanh nghiệp trong nước đã chọn tạo được 43 giống vật nuôi mới, hơn 50 tiến bộ kỹ thuật và 19 sáng chế, trong đó có nhiều công trình đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước.

Thông qua chương trình nạc hóa đàn heo, việc nhập khẩu và lai tạo các giống heo ngoại năng suất cao (Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietran), thay thế dần các giống heo nội năng suất thấp giúp khởi động công nghiệp hóa trong ngành chăn nuôi heo, nâng tỷ lệ nạc từ mức trung bình 35 - 40% lên trên 50%. Tháng 3/2021, Viện Chăn nuôi công bố thành công trong việc nhân bản vô tính heo Ỉ từ tế bào soma mô tai. Đây là bước tiến quan trọng trong việc bảo tồn các giống vật nuôi quý hiếm và bản địa đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Nhờ làm chủ được công nghệ thụ tinh nhân tạo, cấy truyền phôi, chương trình

Sind hóa đàn bò là một trong những thành

tựu có tính bước ngoặt đối với chăn nuôi gia

súc ăn cỏ ở nước ta, từ đó đặt nền móng cho

việc cải thiện tầm vóc, năng suất đàn bò nội

địa, tạo bước đột phá phát triển ngành sữa Việt Nam. Việc phối bò cái lai Sind với bò ôn đới (Holstein Friesian - HF) tạo ra bò lai hướng sữa, giúp Việt Nam tự chủ nguồn sữa tươi. Năm 2007, nước ta thành công trong việc lai tạo giống bò sữa HF bằng công tinh phân ly giới tính, giúp chủ động sản xuất bê cái sữa trên 90%. Cũng từ bò cái lai Sind khi phối với các giống bò thịt cao sản như Brahman, BBB (3B), Angus, Limousin đã

tạo ra bò lai nuôi thịt có năng suất và chất lượng thịt cao, thích nghi tốt điều kiện khí hậu nước ta.

Thành tựu về giống gia cầm là điểm sáng nhất trong việc ứng dụng KHCN để nội địa hóa các dòng, giống năng suất cao, phù hợp với khí hậu và thị hiếu người tiêu dùng. Từ các nguồn gen bản địa và nhập khẩu, Việt Nam đã thành công trong việc lai tạo nhiều giống gà lông màu có năng suất

và chất lượng thịt, trứng thơm ngon. Viện Chăn nuôi và các doanh nghiệp như Tập đoàn Dabaco, Minh Dư, Cao Khanh, Lượng Huệ, 3F Việt… đã chọn tạo được nhiều bộ giống gà lông màu (như Ri lai, TP, VP, J-Dabaco, MD.Bình Định, CK…) có ngoại hình đẹp, thịt chắc, thời gian nuôi ngắn hơn gà ta thuần (chỉ 90 - 105 ngày). Một số doanh nghiệp cũng đã làm chủ công nghệ nhân giống các dòng siêu thịt (Ross 308, Cobb 500) và siêu trứng (Isa Brown, Hyline, Goldline).

Bên cạnh đó, một số đơn vị đã phục tráng và đưa vào sản xuất quy mô lớn các giống đặc sản như gà Mía, Ri, Đông Tảo, gà Móng, gà H’Mông, gà Ác, giúp nâng cao giá trị thương phẩm. Đồng thời, cũng trong giai đoạn này, các cơ sở nghiên cứu đã chọn tạo thành công một số dòng, giống vịt chuyên thịt từ các nguồn gen nhập khẩu như vịt V1, V2, V3, SD1, SD2, SD3 với khối lượng 3,43,6 kg chỉ sau 42 - 49 ngày nuôi, tỷ lệ thịt ức cao. Một số giống vịt chuyên trứng có thể đẻ 250 - 300 quả/năm. Vịt biển 15 do Viện Chăn nuôi chọn lọc là một thành tựu đột phá về giống vật nuôi thích ứng biến đổi khí hậu, có khả năng sống và đẻ trứng tốt ở môi trường nước mặn, nước lợ, giúp phát triển kinh tế biển đảo.

Thành tựu về dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi cũng là một trong những động lực chính giúp Việt Nam trở thành “công xưởng” chăn nuôi của khu vực, với sản lượng đứng đầu ASEAN. Chúng ta đã nghiên cứu thành công nhiều công thức dinh dưỡng tối ưu cho các loại vật nuôi, ứng dụng các phần mềm tối ưu hóa để lập khẩu phần ăn theo từng giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi (heo con, heo thịt, gà đẻ...). Thay vì chỉ quan tâm đến protein thô, các nhà khoa học đã nghiên cứu phối hợp các acid amin thiết yếu (Lysine, Methionine...) giúp vật nuôi hấp thụ tối đa dinh dưỡng, giảm lượng nitơ thải ra môi trường. Kết quả nghiên cứu phát triển các chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh; bổ sung các loại enzyme (Phytase, Protease) giúp vật nuôi tiêu hóa tốt hơn; sử dụng lợi khuẩn Probiotics và Prebiotics để thiết lập hệ miễn dịch đường ruột cũng là những tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực dinh dưỡng vật nuôi.

Trong giai đoạn này, hàng loạt các nhà máy thức ăn chăn nuôi (TĂCN) công nghiệp đã được xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất. Nhiều doanh nghiệp đã làm chủ công nghệ sản xuất TĂCN hiện đại, tự động hóa.

Đến nay, sản lượng TĂCN công nghiệp của

nước ta đã tăng trưởng vượt bậc (trên 21,5

triệu tấn), giúp Việt Nam dẫn đầu khu vực Đông Nam Á và đứng 8 thế giới về lĩnh vực này.

Giai đoạn 2011 - 2020: KHCN thúc đẩy chăn nuôi công nghệ cao và nội địa hóa vaccine

Thời kỳ này chứng kiến sự ra đời của hàng loạt trang trại chăn nuôi heo, gia cầm, bò sữa quy mô công nghiệp với công nghệ hiện đại. Hệ thống chuồng kín (Closed House) tự động điều tiết nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng thông qua cảm biến, giúp vật nuôi sống trong môi trường tối ưu 24/7 ngày càng phát triển, không những góp phần nâng cao năng suất mà còn kiểm soát tốt dịch bệnh.

Đặc biệt về lĩnh vực thú y, bên cạnh các loại dược phẩm thú y được sản xuất trong nước, Việt Nam đã tự chủ được phần lớn các loại vaccine quan trọng, trong đó có các loại Vaccine thế hệ mới (Vaccine tái tổ hợp, DNA). Năm 2014, nước ta sản xuất thành công vaccine nhược độc đông khô phòng 3 bệnh ở heo (Dịch tả, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn) trong cùng 1 liều tiêm, giúp giảm chi phí và công lao động. Năm 2018, Việt Nam ghi dấu mốc lịch sử khi sản xuất thành công vaccine phòng bệnh lở mồm long móng (LMLM) type O, giúp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Giai đoạn 2015 - 2020, Việt Nam làm chủ công nghệ chế tạo các kít xét nghiệm nhanh và RT-PCR cho các bệnh nguy hiểm như Tai xanh, LMLM, DTLCP.

Đến cuối giai đoạn này, cả nước có khoảng 12 doanh nghiệp sản xuất vaccine động vật đạt tiêu chuẩn GMP-WHO với khoảng 218 loại sản phẩm khác nhau, đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước và bắt đầu xuất khẩu đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu được trên 10 loại vaccine thú y cho hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, khẳng định năng lực công nghệ sinh học của nước nhà.

Giai đoạn từ 2021 đến nay: KHCN dẫn

dắt ngành chăn nuôi 4.0 (AI, IoT & Robot) và sản xuất xanh

Đây là giai đoạn ngành chăn nuôi bắt đầu chuyển sang số hóa và tự động hóa toàn diện (Smart Farm). Việc ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số là giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nông sản với chi phí thấp nhất đồng thời hạn chế dịch bệnh và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.

Việc ứng dụng công nghệ IoT và AI đã giúp các trang trại lớn hiện nay tự động hóa việc cho ăn, điều chỉnh môi trường và theo dõi sức khỏe vật nuôi qua điện thoại thông minh, giúp tối ưu hóa nhân công và giảm sai sót trong quy trình sản xuất.

Tập đoàn TH, Vinamilk dẫn đầu tuyệt đối về công nghệ trong ngành chăn nuôi bò sữa với hệ thống quản lý cá thể bằng chip điện từ và vắt sữa tự động giúp tăng năng suất và chất lượng sữa. Nhiều doanh nghiệp chăn nuôi lớn (De Heus, C.P. Việt Nam, Dabaco, Greeenfeed…) đã đưa Robot bốc xếp, đóng bao tự động và hệ thống quản lý năng lượng IoT vào vận hành để tối ưu chi phí và sức lao động. Một số doanh nghiệp ứng dụng rộng rãi Blockchain để truy xuất nguồn gốc sản phẩm (thịt, trứng, sữa) qua mã QR, giúp mở rộng cửa xuất khẩu sang các thị trường khó tính.

Kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp là đặc trưng bắt buộc để phát triển bền vững trong kỷ nguyên chăn nuôi 4.0. Chất thải được thu gom tự động, xử lý qua hệ thống Biogas công suất lớn để phát điện hoặc ép tách làm phân bón hữu cơ chất lượng cao. Tối ưu hóa tài nguyên như sử dụng công nghệ tiết kiệm nước, tái sử dụng nước thải sau xử lý và giảm dấu chân carbon trong quá trình sản xuất cũng được một số doanh nghiệp quan tâm thực hiện.

MỘT SỐ BÀI HỌC TỪ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGÀNH CHĂN NUÔI

Thứ nhất, phát triển giống vật nuôi phải kết hợp hài hòa giữa “nhập khẩu tinh hoa” và “bảo tồn bản địa”. Giống ngoại mang lại năng suất cao nhưng đòi hỏi điều kiện chăm sóc khắt khe. Giống nội là kho tàng di truyền quý báu về khả năng chống chịu bệnh tật và chất lượng thịt thơm ngon. Giống tốt phải đi đôi với quy trình và công nghệ chăn nuôi phù hợp. Giống chỉ chiếm khoảng 30% thành công, 70% còn lại nằm ở phương thức nuôi và quản trị. Chỉ khi kiểm soát được từ chăm sóc nuôi dưỡng, phòng bệnh, giá trị của giống mới được phát huy tối đa.

Thứ hai, KHCN phải gắn liền với thị trường. Nói một cách tổng quát, trong chăn nuôi hiện đại phải chuyển đổi từ “tư duy sản xuất” sang “tư duy kinh tế”. Theo đó, công nghệ là công cụ, thị trường là mục tiêu. KHCN không phải để “trình diễn’ mà phải giải quyết bài toán kinh doanh. KHCN phải tạo ra sản phẩm có giá thành hợp lý, chất lượng và an toàn hơn để chiếm lĩnh thị phần.

Xóa bỏ khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và trang trại. Các nghiên cứu về giống, thức ăn hay quy trình nuôi không được nằm trên giấy. Chúng phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và được thương mại hóa nhanh chóng đưa vào sản xuất để mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp và ngành.

Cần phải xây dựng chuỗi giá trị thông minh. Theo đó, dữ liệu thị trường điều khiển quy trình công nghệ, sự gắn kết này tạo ra một vòng lặp khép kín. Khi thị trường biến động, công nghệ giúp doanh nghiệp ứng phó linh hoạt (thay đổi công thức thức ăn, điều chỉnh quy mô đàn, dự báo dịch bệnh)

để giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận. Tóm lại KHCN là “động cơ”, còn thị trường là “đường ray”. Động cơ mạnh đến đâu mà đi chệch ray thì cũng không thể về đích

Thứ ba, phát triển ngành chăn nuôi hiện đại đòi hỏi phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, tự động hóa quy trình sản xuất và tái cấu trúc theo chuỗi giá trị bền vững. Trong đó, cần tập trung vào 5 vấn đề cốt lõi sau: Sản xuất cái thị trường cần, không phải cái mình có; tối ưu hóa giá thành để cạnh tranh; lựa chọn công nghệ phù hợp với quy mô sản xuất; giải quyết điểm nghẽn của chuỗi giá trị; chủ động và phản ứng nhanh với biến động về dịch bệnh.

Nghị quyết 57 đóng vai trò là “kim chỉ

▶ Khi KHCN và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng mới, ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ bứt phá mạnh mẽ sang mô hình hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, nơi các công nghệ lõi như AI, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học giúp tối ưu hóa chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero).

nam” và “bệ phóng” để KHCN thực sự trở thành động lực then chốt, đưa nông nghiệp Việt Nam vào kỷ nguyên số và phát triển bền vững. Trong đó, đội ngũ các nhà khoa học sẽ là “kiến trúc sư” trưởng cho lộ trình phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi. Đối với ngành chăn nuôi nước ta, cần tập trung giải quyết 5 vấn đề then chốt đối với ngành: Tiên

phong trong làm chủ công nghệ lõi về giống vật nuôi; giải bài toán nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nội địa; đổi mới công nghệ thú y và phòng bệnh chủ động; hiện thực hóa sản xuất xanh và Net Zero; dẫn dắt chuyển đổi số.

TS NGUYỄN THANH SƠN

Chủ tịch Hiệp hội Gia

Thành tựu KHCN trong lĩnh vực giống

Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2021 - 2025, thông qua các đề tài nghiên cứu và dự án sản xuất thử nghiệm, ngành chăn nuôi đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Các nhà khoa học đã chọn tạo và đưa vào sản xuất nhiều dòng, giống vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao.

Cụ thể, Bộ đã công nhận 31 tiến bộ kỹ thuật, gồm 6 dòng, giống heo; 15 dòng, giống gia cầm; 2 tiến bộ kỹ thuật về dinh dưỡng; 5 tiến bộ kỹ thuật thú y và 3 tiến bộ kỹ thuật về xử lý môi trường chăn nuôi. Với những đóng góp nổi bật, ngành chăn nuôi đã được trao tặng 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh và 3 Giải thưởng Nhà nước. Các công trình tiêu biểu gồm phát triển chăn nuôi thủy cầm; lai tạo các giống gà Minh Dư Bình Định; chọn tạo giống gà lông màu; bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa; và nghiên cứu sản xuất vaccine phòng bệnh trên heo.

PGS.TS Đỗ Đức Lực, Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, giai đoạn từ 1960 đến 2005, tiến bộ di truyền về năng suất vật nuôi trên thế giới đã đạt được những bước phát triển vượt bậc đối với các vật nuôi chính. Mức tiến bộ di truyền phụ thuộc vào các yếu tố như cường độ chọn lọc, độ chính xác chọn lọc, đa dạng di truyền và khoảng cách thế hệ. Trước đây, chọn lọc được thực hiện dựa trên giá trị kiểu hình và thông tin phả hệ. Hiện nay, việc kết hợp giữa thông tin kiểu hình với một số lượng heo kiểu gen (hàng chục nghìn đến hàng trăm nghìn gen) đã được áp dụng phổ biến trên thế giới. Đây chính là kỹ thuật chọn lọc theo bộ gen (genomic selection) khi sử dụng thông tin di truyền từ bộ gen để dự đoán giá trị giống (EBV) của từng cá thể, từ đó giúp cải thiện di truyền với độ chính xác cao hơn và rút ngắn thời gian chọn lọc.

Được biết, hiện Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Đại học Liège (Bỉ) phối hợp với Công ty CP BAF Việt Nam đang thực hiện dự án cải thiện năng suất sinh sản và sinh trưởng của heo Landrace với nguồn kinh phí hỗ trợ từ Bỉ. Một dự án khác dự kiến sẽ triển khai từ năm 2026, nhằm xác định gen/ vùng gen liên quan đến kiểu hình chân to ở gà Đông Tảo, được triển khai với sự phối hợp giữa Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Liège (Bỉ) và Công ty CP Công nghệ sinh học Tân Việt Tây Bắc.

Đối với ngành chăn nuôi heo, trong khoảng 10 - 20 năm qua, đã trải qua một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc, từ mô hình

sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang hệ thống vận hành dựa trên dữ liệu, công nghệ và di truyền. Ở trung tâm của quá trình này, con giống dần được nhìn nhận không chỉ là một yếu tố đầu vào, mà là nền tảng quyết định trần năng suất của toàn bộ hệ thống.

Bà Trần Thị Thùy

Nhiên, Trưởng bộ phận Di truyền - Chọn giống, Công ty CP

GREENFEED Việt Nam cho biết, khoảng 15 năm trước, khi chăn nuôi heo tại Việt Nam còn ở giai đoạn phát triển công nghiệp sơ khai, nhiều trang trại quy mô lớn vẫn đối mặt với những vấn đề mang tính hệ thống. Nổi cộm có việc đàn con sơ sinh không đồng đều, tỷ lệ hao hụt sau cai sữa cao, năng suất biến động mạnh giữa các trại và hiệu quả sử dụng thức ăn chưa tối ưu. Những cải tiến về thức ăn hay chuồng trại dù mang lại một phần cải thiện, nhưng không thể phá vỡ “trần năng suất” nếu nền tảng di truyền không đủ tốt. Từ thực tế đó, GREENFEED đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt; đó là, chuyển từ tư duy “nuôi heo” sang “quản trị di truyền”. Thay vì chỉ tối ưu vận hành, doanh nghiệp xây dựng lại toàn bộ hệ thống xoay quanh ba trụ cột gồm di truyền, an toàn sinh học và quản trị dữ liệu. Ba yếu tố này không tồn tại

độc lập mà được thiết kế như một hệ thống khép kín, nơi tiến bộ di truyền được bảo vệ bởi kiểm soát dịch bệnh, và được khai thác tối đa nhờ dữ liệu sản xuất.

▶ Bà Trần Thị Thùy Nhiên, Trưởng bộ phận Di truyền - Chọn giống, Công ty CP GREENFEED Việt Nam cho biết: GREENFEED đang đặt mục tiêu chinh phục những đỉnh cao mới thông qua: Ứng dụng Genomic và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào chọn tạo giống; số hóa toàn diện hệ thống quản lý trang trại; phát triển dòng giống kháng bệnh và giảm phát thải, hướng tới chăn nuôi bền vững. Thông điệp cốt lõi mà GREENFEED nhấn mạnh đó là, con giống tốt chính là đòn bẩy chiến lược. Không có giống tốt, không thể có năng suất bền vững. Chăn nuôi thông minh phải bắt đầu từ con giống.

Trên nền tảng đó, mô hình kim tự tháp giống được triển khai bài bản, từ đàn hạt nhân, cụ kỵ, ông bà đến thương phẩm, cho phép kiểm soát chặt chẽ dòng gen và tăng tốc cải tiến di truyền qua từng thế hệ. Việc hợp tác với các tập đoàn di truyền quốc tế như PIC giúp tiếp cận nguồn gen ưu việt. Áp dụng công nghệ trong chọn lọc và nuôi dưỡng heo: Sử dụng chương trình BLUP để chọn lọc giống heo; áp dụng chọn lọc bằng gen chỉ thị - marker, bao gồm các gen liên quan tới sinh trưởng, khả năng sinh sản và khả năng kháng bệnh; và hướng tới chọn lọc dựa trên bộ gen. HOÀI PHƯƠNG

Ảnh: Vinamilk

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

“DẪN DẮT”
CHĂN NUÔI BỨT PHÁ

Khoa học công nghệ đang trở thành động lực quan trọng giúp ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng suất, kiểm soát dịch bệnh và hướng tới xuất khẩu bền vững.

Bên lề Hội nghị Khoa học, Công nghệ về Chăn nuôi và Thú y toàn quốc (diễn ra ngày 28/3 tại Hà Nội), phóng viên Người Chăn nuôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về những đột phá nổi bật và định hướng chiến lược của ngành trong thời gian tới.

PV: Thưa ông, ông có thể chia sẻ vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của ngành chăn nuôi - thú y hiện nay?

Ông Nguyễn Văn Long: Có thể khẳng định rằng khoa học công nghệ đang giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam. Trong giai đoạn vừa qua, hệ thống pháp lý, cơ chế chính sách liên quan đến khoa học công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi - thú y đã từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ thực tiễn sản xuất.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã bố trí 84 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp bộ với

tổng kinh phí hơn 226 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như chọn tạo giống, dinh dưỡng, thú y, công nghệ môi trường và chuồng trại. Đây là nguồn lực quan trọng giúp ngành từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn.

Khoa học công nghệ không chỉ tạo ra các sản phẩm cụ thể mà còn góp phần thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, đảm bảo an toàn sinh học, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây chính là nền tảng để ngành chăn nuôi nước ta hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế.

PV: Giai đoạn 2021 - 2025, ngành chăn nuôi - thú y đã triển khai nhiều nhiệm vụ khoa học công nghệ. Những kết quả nổi bật nhất mà ông muốn nhấn mạnh là gì?

Ông Nguyễn Văn Long: 2021 - 2025 có thể xem là giai đoạn ghi nhận nhiều bước tiến rõ rệt của khoa học công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y. Thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu, ngành đã đạt được nhiều kết

quả quan trọng, trong đó nổi bật là 31 tiến bộ kỹ thuật được công nhận, 59 giống và một số sản phẩm vaccine quan trọng được đưa vào sản xuất, cùng hàng trăm công trình khoa học được công bố.

Điều quan trọng là các kết quả nghiên cứu này đã đi vào thực tiễn sản xuất, giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm chi phí chăn nuôi. Nhiều công trình nghiên cứu đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, cho thấy sự ghi nhận của xã hội đối với đóng góp của khoa học công nghệ trong ngành.

Khoa học công nghệ đã tạo ra những chuyển biến rõ nét, từ việc chọn tạo giống, tối ưu dinh dưỡng, kiểm soát dịch bệnh đến xử lý môi trường, góp phần giúp ngành chăn nuôi từng bước ổn định, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.

PV: Trong lĩnh vực chọn tạo giống, đâu là những đột phá quan trọng giúp nâng cao năng suất và chất lượng vật nuôi, thưa ông? Ông Nguyễn Văn Long: Lĩnh vực giống là một trong những điểm sáng nổi bật của khoa học công nghệ ngành chăn nuôi trong

thời gian qua. Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đã tập trung mạnh vào chọn tạo giống theo hướng giá trị di truyền, chọn lọc theo hệ gen và từng bước tiếp cận công nghệ tế bào.

Đối với chăn nuôi heo, nhiều dòng giống mới đã đạt năng suất cao, với số con cai sữa trung bình trên 28 con mỗi nái, tương đương với các nước phát triển. Tăng trọng đạt trên 900 gam mỗi ngày, tỷ lệ nạc trên 61% và hệ số chuyển hóa thức ăn được cải thiện rõ rệt. Những chỉ số này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo nguồn cung thịt heo phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trong chăn nuôi gia cầm, các giống gà lông màu đã được chọn tạo và phổ cập rộng rãi trên phạm vi cả nước, với tỷ lệ sống tăng từ 70 - 80% lên 90 - 95%, năng suất trứng tăng từ 70 - 80 trứng lên khoảng 110 - 130 trứng mỗi con. Điều này cho thấy hiệu quả rõ rệt của khoa học công nghệ trong việc nâng cao năng suất và chất lượng giống.

Đối với vịt, ngành đã làm chủ công nghệ sản xuất giống, nâng năng suất trứng lên trên 260 quả mỗi con, tỷ lệ trứng có phôi đạt trên 92%, tỷ lệ sống đạt khoảng 95%. Đây là bước tiến rất quan trọng, giúp ngành chủ động nguồn giống phục vụ sản xuất.

Trong lĩnh vực bò sữa và bò thịt, nhiều giống bò đã được lai tạo thành công, với năng suất sữa trung bình trên 4 tấn, có những giống đạt 7 - 10 tấn mỗi chu kỳ, trong khi bò thịt có tăng trọng trên 800 gam mỗi ngày và tỷ lệ thịt xẻ trên 30%. Những kết quả này cho thấy khoa học công nghệ đang góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và giá trị kinh tế của ngành chăn nuôi.

PV: Bên cạnh giống vật nuôi, lĩnh vực dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi cũng được đánh giá có nhiều bước tiến. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về nội dung này?

Ông Nguyễn Văn Long: Trong lĩnh vực dinh dưỡng, một trong những thành tựu quan trọng là việc xây dựng cơ sở dữ liệu về thành phần và giá trị dinh dưỡng của các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Đây là nền tảng rất quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, sản xuất và quản lý ngành.

Ngành đã xác định được giá trị năng lượng của 47 loại nguyên liệu thức ăn chủ lực, từ đó tối ưu khẩu phần dinh dưỡng cho từng đối tượng vật nuôi, giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Bên cạnh đó, các nhà khoa học đã tận dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp để sản

xuất thức ăn chăn nuôi, góp phần giảm chi phí và phát triển chăn nuôi theo hướng tuần

hoàn. Nhiều loại cây thức ăn bản địa cũng đã

được nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn.

Đặc biệt, xu hướng sản xuất thức ăn chăn nuôi theo hướng giảm sử dụng kháng sinh đang được thúc đẩy mạnh mẽ, góp phần nâng cao an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

PV: Công nghệ chuồng trại và xử lý môi trường đang trở thành vấn đề được quan tâm trong bối cảnh ngành chăn nuôi phát triển nhanh. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của khoa học công nghệ trong lĩnh vực này?

Ông Nguyễn Văn Long: Hiện nay, lượng chất thải trong chăn nuôi rất lớn, với hơn 60 triệu tấn chất thải rắn và khoảng 290 triệu tấn chất thải lỏng mỗi năm. Nếu không có giải pháp khoa học công nghệ, nguy cơ ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính sẽ rất lớn.

Trong thời gian qua, nhiều mô hình chuồng trại hiện đại, ứng dụng công nghệ xử lý chất thải và tự động hóa đã được triển khai rộng rãi. Các trang trại lớn đã áp dụng công nghệ xử lý môi trường, giúp giảm ô nhiễm và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Khoa học công nghệ đã giúp chuyển từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi công nghiệp, ứng dụng tự động hóa, kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và môi trường, qua đó nâng cao năng suất và đảm bảo an toàn sinh học. Đây là hướng đi tất yếu để ngành chăn nuôi phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

PV: Trong lĩnh vực thú y, việc làm chủ công nghệ vaccine và giám sát dịch bệnh

được xem là bước tiến quan trọng. Ông có thể chia sẻ rõ hơn?

Ông Nguyễn Văn Long: Trong lĩnh vực thú y, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận. Trước hết là việc nắm bắt đặc

điểm dịch tễ của hầu hết các bệnh nguy hiểm trên vật nuôi, từ đó xây dựng các giải pháp phòng chống hiệu quả.

Ngành đã phát triển nhiều bộ kit, chế phẩm sinh học và công nghệ chẩn đoán, giúp giám sát và cảnh báo dịch bệnh kịp thời. Đặc biệt, Việt Nam đã làm chủ nhiều công nghệ sản xuất vaccine quan trọng như vaccine cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh, dại và các vaccine đa giá.

Việc nghiên cứu thành công vaccine dịch tả heo châu Phi là minh chứng rõ nét cho năng lực khoa học công nghệ của ngành thú y Việt Nam. Điều này không chỉ giúp giảm

CHUYÊN

phụ thuộc vào vaccine nhập khẩu mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tương lai.

PV: Thưa ông, trong giai đoạn 20262030, ngành chăn nuôi - thú y sẽ tập trung vào những công nghệ chiến lược nào? Ông Nguyễn Văn Long: Giai đoạn 2026 - 2030 được xác định là thời kỳ đột phá của ngành chăn nuôi và thú y, với trọng tâm là xây dựng chương trình khoa học và công nghệ mang tính chiến lược, tập trung vào các công nghệ lõi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Một trong những định hướng quan trọng là ứng dụng công nghệ di truyền tiên tiến như chỉnh sửa gen, chọn giống theo hệ gen để tạo ra các giống vật nuôi có năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt và thích ứng với biến đổi khí hậu, giúp ngành nâng cao chất lượng giống và giảm phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số được xác định là trụ cột phát triển, với mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) ngành chăn nuôi, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán dịch bệnh, giám sát đàn vật nuôi và tự động hóa sản xuất. Khi dữ liệu được kết nối đồng bộ, công tác quản lý, dự báo và điều hành sẽ hiệu quả hơn, giúp ngành chủ động kiểm soát rủi ro và nâng cao năng suất. Trong lĩnh vực thú y, chiến lược phát triển vaccine tam giá phòng ba bệnh nguy hiểm trên gà thế hệ mới được đặt lên hàng đầu, hướng tới làm chủ các công nghệ nền tảng như Reverse Genetics, CRISPR và mRNA. Mục tiêu là chủ động sản xuất vaccine trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, đồng thời từng bước tiến tới xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao, nâng cao vị thế của ngành thú y Việt Nam trong khu vực. Song song với đó, ngành sẽ đẩy mạnh mô hình chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và hướng tới mục tiêu Net Zero thông qua nghiên cứu tái chế chất thải, phát triển phụ gia thức ăn giảm khí nhà kính và ứng dụng các giải pháp công nghệ môi trường trong chăn nuôi.

Lộ trình triển khai các công nghệ chiến lược sẽ được xây dựng theo từng giai đoạn từ khởi động, thử nghiệm đến thương mại hóa và xuất khẩu, với kỳ vọng đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ vaccine thú y, đặc biệt là vaccine tam giá phòng ba bệnh nguy hiểm trên gà trong khu vực.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

THÙY KHÁNH (Thực hiện)

NGÀNH CHĂN NUÔI CHÂU Á TRƯỚC NGÃ RẼ

Bước vào năm 2026, ngành chăn nuôi châu Á đối diện áp lực dịch bệnh, biến đổi khí hậu và biến động thị trường, nhưng cũng mở ra cơ hội tái cấu trúc mạnh mẽ bằng

Áp lực chồng chất, thị trường mong manh

Năm nay, ngành chăn nuôi châu Á đứng trước một ngã rẽ quan trọng khi áp lực tái cấu trúc song hành cùng cơ hội tăng trưởng. Khu vực này vẫn là đầu tàu của thế giới về gia tăng sản lượng protein động vật, được thúc đẩy bởi thu nhập cải thiện, dân số mở rộng và nhu cầu ổn định đối với các nguồn đạm có giá phải chăng như thịt và trứng.

Song, điều kiện hoạt động của các nhà sản xuất đã thay đổi sâu sắc. Dịch bệnh gia tăng, khí hậu biến động, quy định ngày càng chặt chẽ và thị hiếu người tiêu dùng liên tục dịch chuyển đang định hình lại toàn ngành với tốc độ nhanh chưa từng thấy. Những chuyển biến ấy buộc doanh nghiệp phải linh hoạt hơn, sáng tạo hơn và sẵn sàng tái cấu trúc.

Vấn đề đặt ra giờ đây không còn là tăng trưởng nhiều hay ít, mà là tăng trưởng theo mô hình nào. Nhu cầu vẫn tiếp tục mở rộng, nhất là với gia cầm - nguồn protein có lợi

thế về chi phí và nguồn cung tại châu Á.

Thế nhưng, cầu tăng không đồng nghĩa với thị trường vững chắc. Người tiêu dùng ngày càng nhạy cảm với giá, khiến mọi biến động từ giá thức ăn chăn nuôi đến dịch bệnh đều nhanh chóng tạo hiệu ứng dây chuyền.

Cúm gia cầm, trước kia chỉ bùng phát theo mùa, nay đã trở thành nguy cơ thường trực. Thực tế cho thấy các ổ dịch nhỏ có thể

leo thang rất nhanh, kéo theo tiêu hủy diện rộng, tâm lý hoang mang và giá cả biến động mạnh, đặc biệt đối với các giống gà bản địa. Điều đó cho thấy những biện pháp an toàn sinh học truyền thống đã không còn đủ để bảo vệ chuỗi sản xuất như trước.

Doanh nghiệp vì thế phải chuyển sang mô hình chăn nuôi trong môi trường kiểm soát chặt chẽ hơn, tăng cường giám sát, ứng dụng công nghệ theo dõi và quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Đây không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà là sự chuyển dịch căn bản khi các mô hình truyền thống dần được thay thế bởi hệ thống chuyên nghiệp, tích hợp công nghệ và có năng lực chống chịu cao hơn. Năm 2026 sẽ gọi tên những doanh nghiệp xem sức khỏe vật nuôi là trụ cột chiến lược của năng lực cạnh tranh, thay vì chỉ dừng lại ở nghĩa vụ tuân thủ quy định.

Biến đổi khí hậu và cuộc tái cấu trúc

âm thầm

Nếu dịch bệnh làm lung lay niềm tin thị trường, thì biến đổi khí hậu đang âm thầm tái cấu trúc toàn bộ nền tảng sản xuất. Nhiệt độ tăng cao, lượng mưa thất thường và sự xuất hiện của các hệ sinh thái dịch bệnh mới buộc các nhà sản xuất phải xem xét lại từ thiết kế chuồng trại, lựa chọn giống, quản lý nước đến sử dụng năng lượng. Đây không còn là câu chuyện “thân thiện môi trường” mang tính hình ảnh, mà là điều

kiện sống còn để duy trì hoạt động. Khả năng thích ứng sáng tạo trước áp lực khí hậu đang trở thành lợi thế cạnh tranh then chốt. Ngay cả khi giá nguyên liệu thức ăn có dấu hiệu hạ nhiệt, tổng chi phí sản xuất vẫn leo thang do chi phí năng lượng, lao động, an toàn sinh học và tuân thủ quy định tăng cao. Những ngành hàng phụ thuộc xuất khẩu còn phải đối diện rủi ro biên giới đóng cửa đột ngột hoặc hạn chế thương mại vì dịch bệnh. Trước những thay đổi ấy, lợi nhuận không còn đến từ việc mở rộng quy mô đơn thuần, mà phụ thuộc vào năng lực tái cấu trúc mô hình kinh doanh. Ngành chăn nuôi đang chuyển mình theo hướng sản xuất hiện đại, nơi công nghệ, quản trị dữ liệu và đổi mới liên tục trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại. Chính khả năng tái tạo và thích ứng, chứ không phải tăng trưởng đơn thuần mới mở ra cánh cửa của tương lai.

Đổi mới và thương mại tự do: Trụ cột mới của tăng trưởng

Dẫu áp lực bủa vây, năm 2026 vẫn mở ra nhiều cơ hội đáng kể. Gia cầm và trứng tiếp tục là những nguồn protein có giá thành hợp lý và khả năng phục hồi cao nhất. Các doanh nghiệp tích hợp chuỗi giá trị từ giống, thức ăn, chăn nuôi, chế biến đến phân phối có lợi thế lớn khi thị trường bán lẻ hiện đại hóa và kênh giao đồ ăn phát triển mạnh.

Công nghệ đang mở ra những chân trời

→ Khi kết hợp được tinh thần doanh nhân sáng tạo với cam kết vững chắc đối với thương

mại tự do và cơ chế thị trường minh bạch, châu Á không chỉ đủ sức vượt qua sóng gió của năm 2026, mà còn có thể kiến tạo một ngành chăn nuôi mạnh mẽ, linh hoạt và bền vững cho nhiều thập kỷ tiếp theo.

mới. Hệ thống kiểm soát khí hậu chính xác, cho ăn tự động, nền tảng quản lý trang trại số hóa và phân tích dữ liệu giúp nâng cao hiệu suất, giảm rủi ro và tối ưu hóa nguồn lực. Những tiến bộ trong di truyền và dinh

dưỡng tiếp tục nâng cao năng suất, đồng thời cải thiện tính bền vững môi trường. Song song đó, kỳ vọng người tiêu dùng cũng thay đổi. Tầng lớp trung lưu đô thị ngày càng tìm kiếm sản phẩm có thương hiệu, truy xuất được nguồn gốc, nhấn mạnh chất lượng, độ an toàn và phúc lợi động vật. Doanh nghiệp biết xây dựng niềm tin thông qua minh bạch thông tin và câu chuyện thương hiệu sẽ nâng cao biên lợi nhuận và tiến sâu hơn trong chuỗi giá trị.

Một trụ cột ít được nhắc tới nhưng có ý nghĩa quyết định đối với sức chống chịu của ngành là thương mại tự do. Đại dịch từng khơi dậy xu hướng tự cung tự cấp, nhưng việc một quốc gia tự sản xuất toàn bộ lương thực và nguyên liệu đầu vào không chỉ kém hiệu quả về kinh tế mà còn tiềm ẩn rủi ro chiến lược. An ninh lương thực, xét đến cùng, nằm ở khả năng tiếp cận nguồn cung ổn định với chi phí hợp lý, chứ không phải ở sự khép kín thị trường.

Thương mại tự do giúp đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, mở rộng tiếp cận giống và công nghệ, đồng thời duy trì mặt bằng giá hợp lý khi tham gia sâu vào chuỗi cung

ứng toàn cầu. Không phải là rủi ro, thương mại mở chính là “tấm đệm” giảm sốc cho thị trường nội địa trước những biến

động cục bộ và bảo đảm khả năng chi trả bền vững cho người tiêu dùng. TUẤN MINH

(Theo Agribiz)

Thương mại thịt toàn cầu tái thiết

Chiến sự ở Trung Đông đang làm đảo lộn chuỗi cung ứng thịt toàn cầu, khiến chi phí vận chuyển và nhiên liệu tăng vọt, các tuyến đường bị chuyển hướng, từ đó tác động trực tiếp đến giá thịt bò, gà và heo thế giới.

Thị trường thịt bò Australia gián đoạn

Một số nhà xuất khẩu và thương nhân tại

Australia cho biết, các tuyến vận chuyển đến

Trung Đông đang phải chịu phụ phí khẩn

cấp do chiến sự, ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu thịt bò. Nhiều đơn hàng đi Trung Đông đã bị hủy, hoặc được chuyển hướng qua Mũi Hảo Vọng.

Theo một nhà nhập khẩu tại Nhật Bản và Tim Jackson, chuyên gia phân tích Chuỗi cung ứng toàn cầu tại Meat and Livestock Australia, thịt bò cao cấp của Australia có thể được điều hướng sang các thị trường khác như Mỹ, Anh và châu Âu.

Nhập khẩu thịt bò vào Nhật Bản và Hàn Quốc hiện chưa bị ảnh hưởng bởi gián đoạn vận chuyển. Tuy nhiên, nhà nhập khẩu tại Nhật Bản bày tỏ lo ngại về giá dầu tăng, nhấn mạnh rằng tác động lớn nhất đối với thị trường thịt bò sẽ là chi phí vận chuyển, logistics và trucking, ảnh hưởng đến tất cả các bên từ đóng gói, vận chuyển đến nhập khẩu và xuất khẩu.

Theo Platts (thuộc S&P Global Energy), giá thịt bò 90CL FCA Australia ghi nhận 7.973 USD/tấn vào ngày 4/3, tăng 3,3% so với ngày trước đó.

Áp lực giá gia cầm

Thị trường gia cầm đang chuẩn bị cho biến động, với một thương nhân Brazil dự đoán giá, đặc biệt là phần ức, đùi gà và thịt shawarma, sẽ giảm do xung đột.

Các lô đùi gà không xương cho đến nay ít bị ảnh hưởng, nhưng một nhà xuất khẩu tại

Nhật Bản dự báo có thể xảy ra một số gián đoạn ở thị trường thịt gà nướng nguyên con, dù mức độ có thể khiêm tốn.

Nhà nhập khẩu tại Hàn Quốc cho biết các lô hàng hiện vẫn không bị ảnh hưởng: “Một số chuyến hàng đi qua kênh đào Suez, nhưng

hiện chưa có sự chậm trễ nào”.

Các nhà nhập khẩu tại Singapore đang thận trọng và theo dõi các tác động tiềm ẩn

đến thương mại gia cầm có thể làm tăng chi phí vận tải.

Platts đánh giá giá đùi gà CFR Bắc Á là

3.250 USD/tấn vào ngày 4/3, tăng 50 USD/ tấn so với ngày trước đó. Thị trường thịt heo châu

Phần lớn các bên tham gia thị trường châu Á không dự đoán nguồn cung thịt heo sẽ biến động đáng kể, do lượng xuất khẩu sang Trung Đông vẫn rất hạn chế. Tuy nhiên, theo Jessie Khor, Chuyên gia phân tích cấp cao APAC Proteins tại S&P Global Energy CERA, xung đột có thể tạo ra rủi ro logistics cho thương mại thịt heo Đông Nam Á. Jessie lưu ý rằng, các tuyến này chủ yếu là hành lang năng lượng, nhưng nếu xung đột leo thang, có thể dẫn đến chậm trễ vận chuyển từ EU - nơi chiếm 20% lượng nhập khẩu thịt heo của Việt Nam và Philippines. Kết hợp với giá năng lượng tăng, điều này cũng có thể làm tăng chi phí sản xuất thịt heo EU và hỗ trợ giá bán. Sản xuất thịt heo tại Việt Nam và Philippines có thể chịu tác động gián tiếp, do phụ thuộc vào ngô nhập khẩu từ Nam Mỹ và nguyên liệu vaccine dịch tả heo châu Phi từ Mỹ hoặc châu Âu, khiến chi phí sản xuất trong nước tăng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, một nhà nhập khẩu cho biết sản xuất thịt heo trong nước vẫn mạnh, nên nhập khẩu chỉ chiếm một phần nhỏ và nguồn cung thực phẩm không bị ảnh hưởng.

Một thương nhân Malaysia chia sẻ, thịt heo châu Âu đi qua kênh đào Suez ít khả năng bị chậm trễ, nhưng tình hình vẫn được theo dõi chặt chẽ. Trong khi đó, các nhà nhập khẩu Hàn Quốc và một thương nhân Brazil nhận định việc mua bán trở nên phức tạp do tỷ giá và giá xăng dầu biến động. Phần lớn nhập khẩu Hàn Quốc được thực hiện theo hợp đồng dài hạn, với rất ít giao dịch ngắn hạn, cho thấy nhu cầu trên thị trường tương đối thấp.

Theo Platts, giá thịt ba rọi CFR Bắc Á tăng 20 USD/tấn, đạt 4.620 USD/tấn vào ngày 4/3.

(Theo Globalmeat)

Tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên

liệu đạt 1,05 tỷ USD

Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 3/2026 của cả nước ước đạt 420 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 3 tháng đầu năm 2026 đạt 1,05 tỷ USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2025. Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Mỹ, Argentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 26,5%, 21,7% và 9,8%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 2 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Mỹ tăng 48,8%, thị trường Argentina giảm 62%, thị trường Trung Quốc tăng 33,3%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canada với mức tăng 2,6 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Brazil với mức giảm 66,8%.

Chi phí thức ăn tăng cao, người chăn nuôi dè dặt tái đàn

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam phải nhập khẩu hơn 65% nguyên liệu thô và trên 90% thức ăn bổ sung. Căng thẳng địa chính trị, đặc biệt gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz, khiến thời gian vận chuyển kéo dài 15 - 20 ngày, chi phí tăng 30 - 50%, làm giá thành sản xuất tăng cao. Từ đầu tháng 3/2026, nhiều doanh nghiệp đã điều chỉnh giá. Tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, giá thức ăn chăn nuôi tăng 7.000 - 12.000 đồng/bao (25 - 40 kg). Hiện thức ăn heo con khoảng 480.000 đồng/bao (25 kg), heo thịt 360.000 - 370.000 đồng/bao; thức ăn gia súc phổ biến 330.000 - 350.000 đồng/bao, còn thức ăn gia cầm 260.000 - 370.000 đồng/bao. Giá đầu vào tăng trong khi giá heo hơi khoảng 65.000 đồng/kg khiến người nuôi khó có lãi, nhiều hộ giảm đàn. Dự báo từ đầu tháng 4, giá thức ăn tiếp tục tăng 300 - 400 đồng/kg do nguyên liệu khan hiếm và chi phí vận tải cao.

Giá heo hơi giảm tại ba miền

Giá thu mua heo hơi trong nước biến động giảm trong tháng 3/2026. So với tháng 2/2026, giá heo hơi tại miền Bắc giảm 7.500 đồng/kg xuống còn 62.000 - 63.000 đồng/kg. Giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên giảm 5.900 đồng/kg, dao động trong khoảng 61.000 - 68.000 đồng/kg. Giá heo hơi miền Nam giảm 2.500 đồng/kg, hiện đang ở mức 67.000 - 69.000 đồng/kg. Giá heo hơi giảm do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu tiêu thụ chưa khởi sắc

Giá gà thịt biến động

Giá thu mua gà thịt tiếp tục giảm tại cả ba miền do nguồn cung dồi dào trong khi sức mua chậm. Cụ thể, gà lông màu tại miền Bắc giảm 4.000 đồng/kg, còn 54.000 đồng/kg; miền Trung giảm 2.200 đồng/kg xuống 47.000 đồng/kg; miền Nam giảm 2.700 đồng/kg, còn 46.000 đồng/kg. Tương tự, giá gà công nghiệp cũng đồng loạt đi xuống. Tại miền Bắc, giá giảm mạnh 10.000 đồng/kg, còn 30.000 đồng/kg; miền

Trung giảm 8.000 đồng/kg xuống 22.000 đồng/kg; miền Nam giảm 2.000 đồng/kg, còn 26.000 đồng/kg.

Trong khi đó, giá trứng gà lại ghi nhận xu hướng tăng ở cả ba miền. Miền Bắc tăng 500 đồng/quả lên 1.800 đồng/quả; miền Trung tăng 210 đồng/quả, đạt 1.840 đồng/quả; miền Nam tăng 160 đồng/ quả, lên 1.530 đồng/quả.

NINH BÌNH

Giá gà giống tăng cao, người nuôi thận trọng tái đàn

Sau Tết Nguyên đán, nhu cầu tái đàn gia cầm tại Ninh Bình tăng mạnh, trong khi nguồn cung hạn chế đã đẩy giá gà giống lên cao. Hiện các loại gà lông màu phổ biến như gà ri, gà Móng, gà lai… dao động 18.000 - 20.000 đồng/con, gần gấp đôi so với giữa năm 2025. Chi phí con giống tăng khiến người chăn nuôi chịu áp lực lớn. Với quy mô 1.000 con, tiền giống tăng thêm khoảng 10 triệu đồng, chưa kể giá thức ăn và thuốc thú y cũng tăng 2 - 5%. Trong khi đó, lợi nhuận chỉ đạt khoảng 8.000 - 10.000 đồng/kg gà thịt, giảm đáng kể so với trước. Nguồn cung gà giống đầu năm cũng khan hiếm, nhiều cơ sở chỉ đáp ứng khoảng một nửa so với cùng kỳ, khiến việc tái đàn càng thêm khó khăn. Trước thực tế này, ngành chức năng khuyến cáo người dân cần thận trọng khi tái đàn, lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, tiêm phòng đầy đủ và tính toán quy mô phù hợp nhằm hạn chế rủi ro, đảm bảo hiệu quả kinh tế.

AN GIANG

Giá thức ăn chăn

nuôi tăng mạnh

Tại An Giang, giá nhiều loại thức ăn gia súc, gia cầm tăng do chi phí vận chuyển leo thang và giá nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới như ngô, đậu tương, lúa mì tăng mạnh. Trong khi đó, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên giá trong nước chịu tác động trực tiếp. Theo ghi nhận, tùy loại và thương hiệu, giá thức ăn tăng khoảng 7.000 - 12.000 đồng/bao (25 - 40 kg). Hiện thức ăn cho heo con ở mức khoảng 480.000 đồng/bao (25 kg); thức ăn cho heo thịt giai đoạn 14 - 30 kg dao động 360.000 - 370.000 đồng/bao. Một số loại thức ăn cho gia súc khác có giá 330.000350.000 đồng/bao, còn thức ăn cho gia cầm phổ biến từ 260.000370.000 đồng/bao (25 kg).

ĐỒNG THÁP

Giá gà giảm mạnh, người nuôi lỗ nặng

Tại các xã phía Đông tỉnh Đồng Tháp, giá gà thịt giảm sâu khiến nhiều hộ chăn nuôi thua lỗ. Dù gà đã đến lứa xuất chuồng, nhiều người vẫn chần chừ bán vì giá thấp. So với dịp Tết Nguyên đán, giá gà giảm khoảng 40%.

Hiện gà tre được thu mua tại chuồng với giá 45.000 - 50.000 đồng/kg, trong khi gà Bình Định chỉ ở mức 32.000 - 42.000 đồng/kg. Bên cạnh giá gà thịt giảm mạnh, giá trứng gà hiện cũng rất thấp. Theo ghi nhận, hiện trứng gà thu mua tại trại có giá khoảng 1.600 đồng/ trứng. Ngược lại, giá thức ăn chăn nuôi tăng lên khoảng 350.000 đồng/bao, khiến chi phí sản xuất đội lên cao. Với quy mô khoảng 1.000 con, mỗi lứa gà người nuôi có thể lỗ từ 20 - 25 triệu đồng. Thua lỗ kéo dài khiến nhiều hộ phải nợ tiền thức ăn, thuốc thú y và đứng trước nguy cơ thu hẹp sản xuất. Theo các thương lái, nguyên nhân chính là do nguồn cung tăng mạnh khi nhiều đàn gà xuất chuồng cùng lúc, trong khi sức tiêu thụ chưa cao.

ANH VŨ

(Tổng hợp)

Xuất khẩu trứng của EU

Nguồn: European Commission

Xuất khẩu thịt bò của Australia quý I năm 2026

Nguồn: Nguồn DAFF Expana

Giá thịt cừu tại trang trại tại một số nước (Tháng 3/2024 - Tháng 3/2026)

Nguồn AHDB, European commission, MLA, AgriHQ

Chiến tranh làm xáo trộn chuỗi cung ứng gia cầm

Trung Đông

Trung Đông chiếm 8% thị trường gia cầm toàn cầu và 15% thương mại toàn cầu diễn ra tại đây. Sản phẩm gia cầm là nguồn protein chính của người dân khu vực, chiếm 55% lượng protein tiêu thụ, với tốc độ tăng trưởng 3%/năm. Xung đột với Iran đã làm gián đoạn nghiêm trọng nhiều tuyến cung ứng then chốt. Nhiều quốc gia trong khu vực phụ thuộc vào vận chuyển qua Vịnh Ba Tư và eo biển

Hormuz hiện đã bị phong tỏa, gây ảnh hưởng cả đến nguồn cung thức ăn chăn nuôi, con giống và thiết bị kỹ thuật. Các nước dễ bị tổn

thương nhất gồm: Iran, Kuwait, Oman, Iraq, Bahrain và UAE - đều phụ thuộc vào eo biển Hormuz để nhập khẩu. Saudi Arabia ít bị ảnh

hưởng hơn vì có thể nhập khẩu qua Biển Đỏ. Brazil là nhà xuất khẩu chính, cung cấp 100.000 tấn gia cầm/tháng cho khu vực, chiếm hơn 1/3 tổng xuất khẩu gia cầm của nước này, được dự báo là bên chịu tác động nặng nề nhất. Các nhà xuất khẩu châu Âu bị ảnh hưởng tương đối ít hơn.

SINGAPORE

Dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu huyết heo sau

Sau 27 năm bị cấm, các sản phẩm từ huyết heo sẽ sớm được đưa trở lại thị trường Singapore. Cơ quan quản lý thực phẩm Singapore đã phê duyệt nhập khẩu huyết heo đã qua xử lý nhiệt từ lò mổ Bangkhla của Thái Lan, sau khi hoàn tất các đánh giá an toàn thực phẩm. Mỗi lô hàng phải kèm giấy chứng nhận y tế do Cục phát triển chăn nuôi Thái Lan cấp. Công ty thực phẩm CP Singapore sẽ là đơn vị nhập khẩu, và có thể mất khoảng 2 tháng để sản phẩm chính thức có mặt trên thị trường. Được biết, các sản phẩm từ huyết động vật bị cấm tại Singapore từ năm 1999 sau khi xảy ra đợt bùng phát virus Nipah khiến một công nhân lò mổ tử vong.

TRUNG QUỐC Ngành chăn nuôi heo gặp khó khăn kép

Chi phí leo thang, giá bán xuống đáy đẩy ngành chăn nuôi heo Trung Quốc rơi vào tình cảnh khốn đốn. Xung đột Iran từ ngày 28/2/2026 đã đẩy giá bột đậu tương và ngô lên mức cao nhất trong nhiều tháng trên sàn Đại Liên, tăng lần lượt khoảng 7% và 4% trong tháng 3/2026. Nhiều nguyên liệu khác như lysine, methionine, bột cá, Vitamin A và E cũng tăng 6 - 77%, do giá dầu, cước vận chuyển và phân bón đồng loạt tăng. Trong khi đó, giá heo hơi tại các lò mổ Trung Quốc ngày 26/3 chỉ còn 9,59 CNY/kg, mức thấp nhất trong vòng 16 năm, thấp hơn nhiều so với chi phí sản xuất. Hiện chi phí nuôi một con heo 60 - 62,5 kg khoảng 12,2 - 12,5 CNY/kg, có nghĩa mỗi con heo bán ra thua lỗ 280 - 350 CNY.

SCOTLAND

Giá thịt cừu tăng mạnh

Ngành thịt cừu Scotland đang bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ. Sau khi giảm nhẹ vào tháng 1/2026, giá thịt cừu tại Scotland đã tăng mạnh trong suốt tháng 2/2026 bởi nhu cầu tăng cao trong tháng ăn chay Ramadan. Vào cuối tháng Ramadan, giá tăng vọt, khi lễ Phục Sinh đang đến gần. Dù hồi đầu năm giá còn thấp hơn so với năm 2025, thị trường đã đảo chiều rõ rệt vào cuối tháng 2/2026, với mức tăng khoảng 30% so với trung bình 5 năm trong tuần thứ hai

của tháng 3/2026. Bước sang tuần thứ ba của tháng 3/2026, giá bình quân vượt ngưỡng 4 bảng Anh/kg hơi - cao hơn 20% so với cùng kỳ năm 2025 và cao hơn tới 35% so với mức trung bình 5 năm. Đáng chú ý, đà tăng giá diễn ra trong bối cảnh nguồn cung nội địa không hề thiếu hụt: sản lượng cừu tại Scotland trong 11 tuần đầu năm 2026 tăng tới 8% so với cùng kỳ năm ngoái.

LATVIA

Gia hạn lệnh cấm nhập khẩu ngũ cốc từ Nga và Belarus

Lavia đã áp dụng lệnh cấm nhập khẩu một số sản phẩm nông nghiệp và thức ăn chăn nuôi từ Nga và Belarus từ ngày 8/3/2024, đối với hàng hóa nhập khẩu trực tiếp từ hai nước cũng như hàng hóa có nguồn gốc từ Nga và Belarus nhưng được đưa vào Latvia thông qua các nước thứ ba. Thay vì sẽ hết hạn vào tháng 7 tới, Quốc hội Latvia đã thông qua việc gia hạn lệnh cấm này đến ngày 1/7/2027. Quyết định gia hạn được đưa ra nhằm đảm bảo an ninh quốc gia trong bối cảnh xung đột Ukraine chưa có hồi kết. Theo Bộ Nông nghiệp Latvia, lệnh cấm đã phát huy hiệu quả rõ rệt khi nhập khẩu từ Nga giảm tới 85% và từ Belarus giảm 55% trong 11 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước. ĐỨC

Sản lượng thức ăn chăn nuôi heo tăng 1,5%

Theo Hiệp hội Dinh dưỡng Động vật Đức (DVT), sản lượng thức ăn hỗn hợp tại Đức năm 2025 đạt 22,5 triệu tấn, tăng 2,9% (tương đương 640.000 tấn) so với năm 2024. Thức ăn cho heo tiếp tục dẫn đầu với 8,4 triệu tấn, tăng 1,5%, chiếm 37% tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi. Dù số lượng heo thịt giảm, mức sụt giảm này được bù đắp bởi sự tăng trưởng ở đàn heo con. Thức ăn cho bò tăng 250.000 tấn lên 6,7 triệu tấn; thức ăn cho gia cầm vượt 6,5 triệu tấn, tăng 1,8%. Về doanh thu, ngành thức ăn chăn nuôi Đức đạt hơn 8,4 tỷ Euro, trong đó thức ăn heo đóng góp 2,8 tỷ Euro. Tuy nhiên, DVT cảnh báo các điều kiện kinh tế của ngành ngày càng chịu ảnh hưởng bởi các diễn biến địa chính trị, đặc biệt là nguy cơ thiếu hụt vitamin và axit amin có thể ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi và sản lượng chăn nuôi châu Âu.

THÁI LAN

Giá thịt heo, gà và trứng tăng bất chấp cam kết

bình ổn giá

Người tiêu dùng Thái Lan đang chịu áp lực chi phí sinh hoạt tăng mạnh trong tháng 3/2026, khi giá thực phẩm tươi sống leo thang trái với tuyên bố của Bộ Thương mại nước này rằng không có mặt hàng kiểm soát nào được phép tăng giá. Giá đùi gà tăng từ 80 - 85 Baht/kg lên 90 - 95 Baht/kg kể từ ngày 9/3. Thịt heo nạc tăng mạnh hơn, từ 145 - 150 Baht/kg lên đến 150 - 165 Baht/kg vào ngày 20/3. Giá trứng cỡ 3 cũng tăng thêm 20 satang/quả từ ngày 16/3, tương đương 6 Baht/vỉ 30 quả. Người tiêu dùng tại nhiều chợ dân sinh cho biết mức giá thực tế họ phải trả còn cao hơn số liệu công bố của nhà chức trách, và kêu gọi cơ quan chức năng vào cuộc điều tra trước khi gánh nặng chi phí trở nên không thể chịu đựng nổi với các hộ thu nhập thấp.

ĐỨC DŨNG (Tổng hợp)

LẮP ĐẶT MÁY PHÂN LOẠI TRỨNG TẠI CỦ CHI

Giải pháp tối ưu chi phí và nâng cao lợi nhuận

Ngày 20/3/2026, Công ty TNHH B.H.N đã hoàn tất lắp đặt máy phân loại trứng công suất 10.000 trứng/giờ tại Củ Chi, TP Hồ Chí Minh. Dự án đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong việc tự động hóa quy trình xử lý trứng, giúp trang trại nâng cao năng suất và tối ưu chi phí vận hành.

Thực trạng khi chưa sử dụng máy phân loại trứng

Trong chăn nuôi hiện đại, việc tối ưu hóa lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu. Tuy nhiên, nếu vẫn áp dụng phương pháp thủ công, nhiều trang trại đang gặp phải các vấn đề phổ biến:

- Phân loại trứng bằng tay, tốn nhiều nhân công;

- Trứng không đồng đều về kích thước, khó đạt giá bán cao;

- Tỷ lệ trứng vỡ lớn, gây thất thoát đáng kể;

- Khó kiểm soát chất lượng sản phẩm đầu ra;

- Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp

đến hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Giải pháp máy phân loại trứng tự động

Việc đầu tư máy phân loại trứng là giải pháp hiệu quả giúp trang trại khắc phục hoàn toàn các vấn đề trên.

Hệ thống mang lại nhiều lợi ích vượt trội:

- Phân loại trứng chính xác theo từng

mức trọng lượng;

- Giảm 50 - 80% chi phí nhân công;

- Hạn chế tối đa tỷ lệ trứng vỡ;

- Nâng cao giá bán nhờ chất lượng đồng

đều;

- Tích hợp công nghệ UV diệt khuẩn, đảm bảo an toàn thực phẩm;

- Hiệu quả thực tế khi sử dụng máy phân loại trứng.

Sau khi đưa vào vận hành, máy phân loại trứng gà mang lại hiệu quả rõ rệt:

- Giảm từ 3 - 5 nhân công;

- Tăng giá bán trứng từ 5 - 10%;

- Giảm hao hụt do trứng vỡ và lỗi;

- Thời gian hoàn vốn nhanh, chỉ từ 6 - 12 tháng.

Chia sẻ từ trang trại tại Củ Chi

Chủ trang trại cho biết, trước đây họ cần đến 5 - 7 công nhân để phân loại trứng thủ công. Công việc không chỉ tốn chi phí mà còn đòi hỏi kinh nghiệm, phụ thuộc nhiều vào nhân sự. Trong các trường hợp nghỉ phép, ốm đau hoặc ngày lễ, trang trại gặp khó

khăn trong việc đảm bảo tiến độ giao hàng.

Từ khi ứng dụng máy phân loại trứng, toàn bộ quy trình trở nên đơn giản, dễ quản lý hơn. Thời gian xử lý được rút ngắn đáng kể, đồng thời chất lượng trứng đầu ra được đảm bảo đồng đều và ổn định. B.H.N - Đơn vị cung cấp máy phân loại trứng uy tín

Công ty TNHH B.H.N là đơn vị uy tín chuyên cung cấp máy phân loại trứng nhập khẩu từ Hàn Quốc, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong ngành. Chúng tôi cung cấp đa dạng dòng máy có công suất từ 10.000 đến 80.000 trứng/giờ, phù hợp với nhiều quy mô trang trại.

Mạng lưới khách hàng của B.H.N lắp đặt máy phân loại trứng phân bổ dày đặt tại VIệt Nam. Các thiết bị do B.H.N cung cấp nổi bật với độ bền cao, vận hành ổn định. Nhiều hệ thống sau hơn 10 năm vẫn hoạt động hiệu quả, khẳng định chất lượng và uy tín lâu dài của doanh nghiệp trên thị trường.

Dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp 24/7

B.H.N luôn đặt lợi ích khách hàng lên hàng đầu, cung cấp giải pháp toàn diện từ tư vấn, lắp đặt đến bảo trì. Đội ngũ kỹ thuật và kinh doanh luôn sẵn sàng hỗ trợ 24/7, giúp khách hàng lựa chọn máy phân loại trứng phù hợp với chi phí và nhu cầu thực tế.

Ảnh: Innoeco Food

Kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nhiều thách thức như căng thẳng địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại, lạm phát và suy giảm tổng cầu.

Trong bối cảnh đó, việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại quy mô lớn như VietAgros 2026 (Hội chợ Triển lãm Quốc tế Công nghệ Nông nghiệp và Môi trường) diễn ra từ ngày 9 - 11/6/2026 tại Công viên Sông Hậu, phường Cái Khế, Cần Thơ, được kỳ vọng là giải pháp quan trọng để doanh nghiệp mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.

Lợi ích tuyệt vời cho doanh nghiệp

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, chi phí marketing số tăng cao, các doanh nghiệp đánh giá, hội chợ là kênh quảng bá trực tiếp hiệu quả, giúp kết nối người tiêu dùng bằng trải nghiệm thực tếyếu tố mà thương mại điện tử khó thay thế hoàn toàn.

Chính vì vậy, nhiều gian hàng không chỉ đầu tư sản phẩm mà còn thiết kế nhận diện thương hiệu đồng bộ: backdrop, video giới thiệu quy trình sản xuất. Đây là xu hướng đáng chú ý, phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy “bán hàng” sang “xây dựng thương hiệu”.

Không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sản phẩm, các hội chợ còn mở ra cơ hội kết nối với các đơn vị đối tác, bạn hàng và các nhà cung cấp. Đại diện một doanh nghiệp chia sẻ, các hội chợ là điều kiện và cơ hội rất tốt để doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp với khách hàng, các nhà cung cấp cũng như đối tác tiềm năng. Doanh nghiệp mong muốn trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều hội chợ được tổ chức thường xuyên, bài bản hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển lâu dài và bền vững.

Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp tham gia triển lãm ghi nhận tăng trung bình 23% về mức độ nhận diện thương hiệu - một kết quả mà quảng cáo hiển thị khó đạt được nếu thiếu trải nghiệm thực tế. Đồng thời, 98% người tham dự có xu hướng chụp ảnh, quay video và chia sẻ lên mạng xã hội, giúp câu chuyện thương hiệu lan tỏa tự nhiên và mạnh mẽ hơn.

Hội chợ triển lãm luôn là một cách hữu hiệu để quảng bá hình ảnh cũng như trao đổi thương mại nói chung. Hơn nữa, nó còn đóng vai trò nòng cốt trong việc giúp phát triển doanh nghiệp, gặp gỡ và học hỏi những điểm ưu việt của các tên tuổi lớn trong ngành. Đây cũng là một cơ hội tốt để nghiên cứu phản hồi của khách hàng cho những sản phẩm mới tung ra thị trường.

Tham gia hội chợ, triển lãm cũng giúp doanh nghiệp gia tăng doanh số. Bởi nếu một ngày cửa hàng triển lãm của doanh nghiệp chỉ tiếp khoảng vài chục lượt khách ghé qua thì tại đây có tới vài nghìn đến hàng chục nghìn lượt khách đến tham quan, mua

sắm. Lượng khách hàng tiềm năng tiếp cận tăng đột biến trong thời gian ngắn đương nhiên dẫn đến xác suất mua, số đơn hàng thành công sẽ cao hơn gấp nhiều lần.

Việc doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm, dịch vụ tại các hội chợ, triển lãm là cách làm không mới, nhưng mang lại hiệu quả rất tốt, bởi thông qua các sự kiện họ có thể giới thiệu trực tiếp đến người tiêu dùng về những ưu điểm của sản phẩm, cho khách hàng trải nghiệm trực tiếp. Tuy nhiên, muốn để lại ấn tượng tốt và đạt hiệu quả cao khi tham gia các hội chợ, triển lãm, doanh nghệp cần lưu ý, chất lượng sản phẩm là vấn đề luôn luôn

được chú trọng. Bởi chỉ có chất lượng tốt thì sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mới tạo được ấn tượng lâu dài và được người tiêu dùng nhớ đến. Ở tầm vĩ mô, các hội chợ thương mại góp phần kích thích tiêu dùng nội địa, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và mở rộng thị trường. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, việc củng cố thị trường trong nước được xem là “trụ đỡ” quan trọng cho tăng trưởng. Trong dài hạn, nếu được duy trì thường niên và gắn với chiến lược xúc tiến thương mại bài bản, mô hình này có thể trở thành một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái phát triển thương hiệu Việt - nơi doanh nghiệp không chỉ bán sản phẩm, mà còn mang đến cả niềm tin và giá trị bền vững.

“Cửa ngõ”

doanh nghiệp

cận thị trường

VietAgros 2026 có hơn 200 gian hàng của các tổ chức, tập đoàn, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước tham gia trưng bày, giới thiệu các dịch vụ, máy móc, công nghệ trong lĩnh vực thủy sản, sản phẩm OCOP, đặc sản vùng miền. Giới thiệu giống, vật tư, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết quả nghiên cứu mới trong lĩnh vực thủy sản, giúp nông dân, doanh nghiệp vùng ĐBSCL nói riêng trên cả nước nói chung tiếp cận, lựa chọn những sản phẩm, giải pháp công nghệ phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đáp ứng ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Với thông điệp “Nông nghiệp xanh”

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Kết nối Nông nghiệp và Môi trường Việt

Điện thoại: 098 666 7926

Email: Info@vietagros.vn Web: Vietagros.vn

VietAgros 2026 không chỉ dừng lại ở vai trò xúc tiến thương mại đơn thuần, hội chợ đang từng bước trở thành một hệ sinh thái kết nối doanh nghiệp, nơi hội tụ các yếu tố từ sản xuất, phân phối, logistics đến tài chính và công nghệ. Đây là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong giai đoạn mới, khi thương mại toàn cầu ngày càng cạnh tranh và biến động, vai trò của các sự kiện xúc tiến thương mại như VietAgros 2026 càng trở nên quan trọng. Không chỉ là nơi giao thương, đây còn là không gian để định hình xu hướng, kết nối nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. VietAgros 2026 cũng được kỳ vọng là biểu tượng cho nỗ lực nâng tầm vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Thông qua việc kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác và lan tỏa các giá trị phát triển bền vững, hội chợ góp phần khẳng định vai trò của Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn trong bản đồ thương mại quốc tế.

DƯỠNG CHẤT BỊ LÃNG QUÊN TRONG CHĂN NUÔI GIA CẦM

Nước không chỉ là thành phần cấu tạo chủ yếu của cơ thể gia cầm mà còn tham gia vào hầu hết các quá trình sinh lý thiết yếu. Quản lý nước uống từ lưu lượng, nhiệt độ đến chất lượng vi sinh và khoáng là yếu tố then chốt quyết định năng suất, sức khỏe và phúc lợi.

VAI

TRÒ SINH LÝ VÀ NHU CẦU TIÊU THỤ

Nước là thiết yếu cho sự sống. Nó không chỉ là một chất dinh dưỡng quan trọng mà còn tham gia vào nhiều chức năng sinh lý, chẳng hạn như tiêu hóa và hấp thụ, điều hòa nhiệt độ, bôi trơn các khớp và cơ quan, loại bỏ chất thải chuyển hóa, và nó là một phần không thể thiếu của máu và các mô cơ thể.

Khoảng 70% trọng lượng của một con gà là nước, vì vậy bất kỳ giảm lượng nước vào hoặc mất độ ẩm nào cũng sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu suất tổng thể. Điều này đặc biệt đúng đối với gà con khi mới được đưa đến trang trại. Nước sạch, mát và có thể uống phải được cung cấp ngay khi gà được thả và luôn được đảm bảo trong suốt thời gian chúng ở trong trang trại. Thường, sự thay đổi trong tiêu thụ nước là dấu hiệu cảnh báo sớm nhất về một vấn đề trong chuồng gia cầm. Rất khuyến nghị rằng mỗi chuồng cần có một đồng hồ nước riêng biệt, độc lập, và được thực hiện việc theo dõi tiêu thụ hàng ngày.

Nói chung, lượng nước tiêu thụ khoảng gấp đôi lượng thức ăn, mặc dù nó có thể cao hơn nhiều trong điều kiện nóng bức. Khi gà lớn lên và lượng thức ăn tăng, lượng nước tiêu thụ cũng tăng theo. Sự tăng nhu cầu này phải được đáp ứng bằng cách đảm bảo đủ số lượng máng uống và tăng lưu lượng nước khi gà lớn tuổi hơn. Thường lượng nước tiêu thụ ở con trống cao hơn ở con mái, chủ yếu do kích thước cơ thể lớn hơn và các nhu cầu chuyển hóa cao hơn.

Nhu cầu nước của gà sẽ tăng 6 - 7% cho mỗi 1°C vượt quá nhiệt

độ môi trường 21°C. Không chỉ nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến

lượng tiêu thụ, mà nhiệt độ nước cũng vậy. Gà thích nước mát, và lượng nước uống sẽ giảm nếu nước quá nóng. Nếu nhiệt độ nước thường vượt quá 24°C, thì cần xem xét cách bảo quản nước và liệu có cần làm mát nước hay không.

QUẢN LÝ HỆ THỐNG VÀ

KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC

Hầu hết các chuồng gia cầm hiện đại sử dụng hệ thống ống nước bằng núm uống, giúp giảm công lao động, duy trì độ sạch của nước và giảm lây lan bệnh; tuy nhiên, các hệ thống này cần được bảo trì hiệu quả. Các ống phải được đặt ở độ cao và áp suất phù hợp với tuổi và kích thước của gà. Đường ống cũng phải được xả, bảo trì và làm sạch định kỳ.

Lưu lượng (hoặc áp xuất nước) trong các đường ống phải được điều chỉnh để đảm bảo nguồn cung cấp nước đủ đáp ứng nhu cầu uống nước tối đa hàng ngày. Đối với những con gà con, lưu lượng này sẽ tương đối thấp và sẽ tăng lên khi gà lớn hơn. Những chuồng có áp lực cao hơn thường khuyến khích gà ăn uống nhiều hơn, dẫn đến tăng trưởng ban đầu cao hơn, nhưng dễ bị rò rỉ, lãng phí nước do gà gây ra, và chất độn chuồng kém chất lượng, điều này có thể gây ra các vấn đề về phúc lợi. Ngược lại, lưu lượng thấp (áp xuất thấp), đặc biệt khi mật độ nuôi cao và số lượng gà mỗi đầu vòi uống bị giới hạn, có thể dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp hơn. Như một hướng dẫn sơ bộ, theo công thức tuổi gà (tuần) x 7 + 20 ml/phút có thể được sử dụng như ước tính ban đầu về yêu cầu lưu lượng. Đối với các trang trại sử dụng máng uống kiểu chuông, cần xả và vệ sinh hằng ngày nhằm ngăn tích tụ chất hữu cơ. Tương tự hệ thống núm uống, chiều cao và áp lực nước của máng cũng phải được kiểm tra thường xuyên. Khoáng chất được bài tiết qua thận thúc đẩy mất nước cơ thể. Mức độ khoáng chất hoặc thậm chí protein quá

trình khử amin hóa, trong

cao. Natri, kali và clorua đều được biết

→ Nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của gà. Nước chiếm trên

70% khối lượng cơ thể. Nước tham gia vào quá

trình trao đổi chất của cơ thể sống với môi trường.

Nhận thấy tầm quan trọng của nước với chăn nuôi gà, để từ đó cung cấp đủ nước cho

gà là điều hết sức quan trọng cần

được người nuôi chú trọng.

Để biết thêm thông tin, truy cập

Trung tâm Thông tin Aviagen hoặc

quét mã QR.

và phân ướt. Lượng natri trong nước cần được xem xét khi lập chế

ăn để tránh thừa natri trong trang trại. Kali thường không phải là vấn đề trừ khi sử dụng lượng lớn đậu nành trong chế độ ăn, đặc biệt là trong các chế độ ăn khởi đầu giàu protein. Bất kỳ vấn đề nào về clorua thường có thể được giải quyết bằng cách thay thế một phần muối trong chế độ ăn bằng natri bicarbonate.

Chất lượng nước cung cấp cho trang trại nên được giám sát định kỳ, đặc biệt nếu nguồn nước lấy từ giếng khoan, giếng hoặc đập, vì chất lượng nước có thể thay đổi đáng kể theo mùa.

Độ sạch của hệ thống nước uống nên được đánh giá trong suốt quá trình nuôi. Đảm bảo rằng nước trong ống được xả trước khi lấy mẫu để tránh lượng chất hữu cơ quá nhiều, và lấy mẫu tại núm uống cuối cùng. Cần có một chương trình vệ sinh nước và làm sạch ống có cấu trúc để kiểm soát cả sự ô nhiễm vi khuẩn theo đường nước và sự phát triển của màng sinh học trong các ống. Trong khi vi khuẩn trong nước có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của đàn gia cầm và làm giảm hiệu quả của việc tiêm phòng hoặc điều trị, sự hình thành màng sinh học bên trong ống cung cấp một nguồn tồn tại liên tục cho sự phát triển vi sinh vật và có thể làm giảm lưu lượng nước. Một chương trình clo cung cấp 3 - 5 ppm clo tự do tại núm uống, hoặc vệ sinh bằng UV, có thể giúp kiểm soát sự ô nhiễm vi khuẩn.

Việc kiểm soát vi khuẩn khó khăn hơn trong các cơ sở sử dụng hệ

thống uống hở. Những hệ thống này yêu cầu vệ sinh thường xuyên

hơn, thay nước định kỳ và giám sát chặt chẽ hơn về an toàn nước.

Giữa các đàn gà, tất cả các ống nước nên được xử lý vật lý hoặc hóa học để loại bỏ mảng sinh học và tích tụ khoáng chất. Nguồn nước sạch nên được cung cấp cho gà con ngay khi chúng

được đưa vào trang trại. Bất kỳ sự hạn chế nào về lượng nước uống có thể làm giảm hiệu suất đàn. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến lượng nước uống, bao gồm tuổi và giới tính của gà, nhiệt độ của chuồng và nước, cũng như loại máng uống. Việc theo dõi tải lượng vi sinh vật và chất lượng vật lý của nước là rất quan trọng, đồng thời cần thực hiện các biện pháp khắc phục khi cần thiết để đảm bảo hiệu suất tối ưu của gà. AVIAGEN

KIỂM SOÁT CẦU TRÙNG THỜI HẬU

KHÁNG SINH

TẠI SAO GAPCOR

LÀ ƯU

TIÊN SỐ 1?

Bệnh cầu trùng trên gia cầm vẫn là một trong những vấn đề phổ biến, với tỷ lệ nhiễm

tại các trại gà ở Việt Nam từ 4 - 100% tùy vào điều kiện chăm sóc và vệ sinh thú y, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người nuôi. Trước thực tế đó, GAPCOR - sản phẩm của Công ty Cổ phần TVOne Việt Nam được coi như một giải pháp giúp kiểm soát cầu trùng hiệu quả, hỗ trợ tăng cường miễn dịch và bảo vệ hệ tiêu hóa cho gia cầm ngay từ sớm.

Người chăn nuôi còn tâm lý “chữa cháy” khi gia cầm mắc bệnh

Bệnh cầu trùng là một trong những bệnh phổ biến trên gia cầm, thường gây rối loạn tiêu hóa hấp thu, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn, giảm sinh trưởng, tăng tỷ lệ còi cọc, có thể dẫn đến tử vong nếu không được kiểm soát kịp thời gây tổn thất kinh tế lớn. Điều đáng nói là phần lớn người chăn nuôi vẫn duy trì thói quen “đợi có bệnh mới xử lý”. Khi đàn gia cầm xuất hiện các triệu chứng phổ biến của bệnh cầu trùng như tiêu chảy, phân có máu hoặc suy giảm thể trạng, kháng sinh thường được lựa chọn như giải pháp can thiệp nhanh nhằm kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, cách làm này lại bộc lộ nhiều hạn chế, chỉ xử lý được phần “ngọn” chứ không giải quyết triệt để nguyên nhân gốc rễ là sức khỏe đường ruột.

Phòng bệnh chủ động: Mắt xích còn hạn chế trong chăn nuôi

Thực tế cho thấy, nhiều hộ chăn nuôi

vẫn chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và phương pháp cần thiết để phòng bệnh một

cách hiệu quả. Việc thiếu kiến thức về quản lý dịch bệnh, kết hợp với thói quen cũ, khiến

họ bỏ lỡ “giai đoạn vàng” để kiểm soát cầu trùng khi mầm bệnh chưa bùng phát mạnh. Trong khi đó, cầu trùng là bệnh có thể kiểm soát tốt nếu áp dụng đúng biện pháp phòng ngừa từ quản lý chuồng trại, vệ sinh, đến việc sử dụng các sản phẩm hỗ trợ tăng cường miễn dịch và bảo vệ đường ruột cho gia cầm.

GAPCOR - Giải pháp giúp người

chăn nuôi chủ động kiểm soát cầu trùng

Trước thực trạng đó, Công ty Cổ phần

TVOne Việt Nam khẳng định vai trò là đơn vị tiên phong trong nghiên cứu và sản xuất phụ gia thức ăn chăn nuôi chiết xuất từ thực vật Phytogenics tại Việt Nam. Với nền tảng R&D bài bản, TVOne tập trung vào việc tối ưu “sức mạnh cộng hưởng” (synergy) giữa các hoạt chất tự nhiên, tiêu biểu là sự kết hợp giữa peptide kháng khuẩn và probiotics, tạo nên giải pháp không chỉ an toàn mà còn mang lại hiệu quả bền vững trong chăn nuôi hiện đại.

Từ định hướng đó, TVOne đã đưa ra thị trường sản phẩm GAPCOR hướng đến kiểm soát bệnh cầu trùng trên gia cầm theo hướng an toàn, bền vững và phù hợp với xu hướng chăn nuôi hiện đại.

GAPCOR được cấu tạo từ các thành phần có nguồn gốc tự nhiên và công nghệ sinh học tiên tiến, bao gồm hỗn hợp tinh dầu thực vật, chất chiết xuất thực vật, probiotics, peptide kháng khuẩn.

Khi xâm nhập vào cơ thể, cầu trùng gây viêm ruột, làm giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của gia cầm.

Các hoạt chất có trong GAPCOR như Carvacrol, Thymol, probiotics và peptide kháng khuẩn giúp bảo vệ niêm mạc ruột, hạn chế sưng tấy, đảm bảo hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru. Khi đường ruột ổn định, quá trình tiết enzyme và hấp thu dinh dưỡng diễn ra hiệu quả, góp phần hạn chế rối loạn tiêu hóa và cải thiện chất lượng phân theo hướng khô hơn, giảm mùi hôi.

Bên cạnh đó, sản phẩm còn giúp cân bằng hệ vi sinh vật ruột, tăng cường sức khỏe hệ tiêu hóa, tăng năng lực hấp thu dưỡng chất, giúp gia cầm phục hồi nhanh, khỏe mạnh. GAPCOR với cơ chế tác động trực tiếp vào sức khỏe đường ruột và hệ miễn dịch không chỉ giúp hạn chế nguy cơ mắc bệnh cầu trùng trên gia cầm mà còn góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi theo hướng an toàn và bền vững. Việc chủ động sử dụng các giải pháp như GAPCOR ngay từ giai đoạn đầu không chỉ giúp kiểm soát bệnh hiệu quả mà còn góp phần giảm chi phí điều trị, hạn chế rủi ro và nâng cao năng suất chăn nuôi.

Trong bối cảnh ngành chăn nuôi ngày càng chịu nhiều áp lực từ biến động thị trường, yêu cầu an toàn thực phẩm và các quy định pháp lý ngày càng chặt chẽ, việc chuyển từ tư duy “chữa cháy” sang “phòng bệnh chủ động” không còn là một lựa chọn mang tính khuyến nghị, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Và trong hành trình đó, những giải pháp hỗ trợ đúng hướng như GAPCOR có thể trở thành giải pháp thiết thực giúp người chăn nuôi bảo vệ năng suất, tối ưu chi phí và tối đa lợi nhuận. TVONE

DABACO

Kỷ niệm 30 năm thành lập và ra mắt bộ nhận diện mới

Ngày 28/3/2026, tại thành phố Bắc Ninh, Tập đoàn DABACO tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập (29/3/1996 - 29/3/2026) và ra mắt nhận diện thương hiệu mới với chủ đề “Khởi tạo tinh hoa - Kỷ nguyên bứt phá”.

Hành trình của DABACO bắt đầu từ năm 1996 với chỉ 28 cán bộ, nhân viên và số vốn ban đầu 657 triệu đồng. Từ nền tảng nhỏ bé ấy, bằng tinh thần đổi mới, kiên định và chiến lược phát triển bền vững, DABACO đã từng bước xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp - thực phẩm khép kín, từng bước khẳng định vị thế trong ngành chăn nuôi và chế biến thực phẩm. Sau 30 năm phát triển, DABACO hiện có hơn 10.000 lao động, doanh thu năm 2024 vượt 25.000 tỷ đồng, chính thức gia nhập nhóm doanh nghiệp tỷ đô của Việt Nam. Đến năm 2026, tổng tài sản của Tập đoàn đạt khoảng 16.000 tỷ đồng, tăng gấp bốn lần so với một thập kỷ trước, vốn điều lệ đạt 3.848 tỷ đồng. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô tăng trưởng mà còn cho thấy năng lực quản trị, khả năng thích ứng trước biến động thị trường và sự bền bỉ của một doanh nghiệp nông nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Tại lễ kỷ niệm, DABACO chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới với thông điệp “DABACO NEXT 30 - Khởi tạo tinh hoa, Kỷ nguyên bứt phá”. Biểu tượng chữ “D” cách điệu theo hình mũi tên hướng về phía trước thể hiện tinh thần đổi mới, khát vọng vươn xa và cam kết phát triển bền vững.

Nhận diện mới không chỉ là sự thay đổi về hình ảnh mà còn thể hiện chiến lược phát triển dài hạn, hướng tới hội nhập quốc tế và nâng cao giá trị thương hiệu.

Hướng tới tương lai, DABACO đặt mục tiêu đạt doanh thu khoảng 1,5 tỷ USD vào năm 2030, tương đương 38.000 - 40.000 tỷ đồng, tiếp tục mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Chiến lược phát triển của Tập đoàn tập trung vào nâng cao giá trị chuỗi

sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, phát triển bền vững và tăng cường trách nhiệm xã hội. Sự kiện kỷ niệm 30 năm được đánh giá là dấu mốc quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới, trong đó doanh nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò dẫn dắt ngành nông nghiệp công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi và chế biến thực phẩm Việt Nam.

LAN ASF

An toàn sinh học: Tuyến phòng thủ cốt lõi

Khi chiến lược vaccine chưa được triển khai rộng rãi, các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt, bao gồm cả kiểm soát rủi ro từ thức ăn, vẫn

là yếu tố then chốt để ngăn chặn virus dịch tả heo châu Phi (ASF) xâm nhập trang trại.

Mối đe dọa toàn cầu

Trong vài năm gần đây, ASF ít xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, khiến nhiều người có cảm giác dịch bệnh đã lắng xuống. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn ngược lại. Báo cáo tháng 12/2025 của tổ chức Thú y Thế giới (WOAH) khẳng định, ASF vẫn tiếp tục là mối đe dọa toàn cầu, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc duy trì các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt và nâng cao nhận thức dịch bệnh trong toàn bộ chuỗi giá trị chăn nuôi.

Từ tháng 1/2022 đến tháng 11/2025, ASF đã xuất hiện tại 71 quốc gia, ảnh hưởng tới 1.136.609 con heo và gây thiệt hại 2.319.104 vật nuôi. Riêng năm 2023, châu Âu ghi nhận số ổ dịch trên đàn heo nuôi cao nhất từ năm 2014, trong khi số ca bệnh trên heo rừng tăng 10% so với năm trước.

Hiện một số quốc gia đang thử nghiệm vaccine sống giảm độc lực nhưng chưa công bố chiến lược tiêm phòng chính thức.

WOAH cũng nhấn mạnh, chỉ những vaccine có bằng chứng rõ ràng về độ an toàn và hiệu quả mới nên được sử dụng. Trong khi chưa có giải pháp vaccine ổn định, virus ASF tiếp tục lây lan và các ổ dịch mới vẫn được ghi nhận thường xuyên. Vì vậy, việc áp dụng tối đa các biện pháp kiểm soát hiện có để hạn chế sự xâm nhập và lan truyền của virus hết sức cần thiết.

Hiểu rõ con đường lây truyền

ASF là bệnh truyền nhiễm do virus gây ra trên heo nhà và hoang dã. Bệnh không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn vật nuôi mà còn tác động lớn đến hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi, làm gián đoạn việc vận chuyển và buôn bán thịt heo trong nội khối EU và xuất khẩu sang các thị trường khác. Do đó, ASF đã trở thành một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với ngành chăn nuôi

heo toàn cầu những năm gần đây. Virus ASF được thải ra ngoài qua phân, nước bọt và nước tiểu. Chúng có thể lây lan trực tiếp từ heo sang heo thông qua đường mũi - miệng, hoặc gián tiếp qua các vật dụng, thiết bị hay thức ăn bị nhiễm virus. Quần áo của người chăm sóc, phương tiện vận chuyển và thiết bị chăn nuôi cũng có thể trở thành nguồn lây nhiễm.

An toàn sinh học - “tuyến phòng thủ” số một

Trong nhiều trường hợp, đường lây truyền cụ thể của virus không thể xác định chính xác. Vì vậy, các biện pháp an toàn sinh học toàn diện vẫn là công cụ quan trọng nhất để ngăn virus xâm nhập vào trang trại. Những biện pháp này gồm hạn chế di chuyển của con người, áp dụng quy trình cách ly đối với đàn heo nhập mới, kiểm soát động vật gây hại, thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh và khử trùng.

Tuy nhiên, vai trò của thức ăn chăn nuôi

trong lây truyền ASF vẫn đang gây tranh luận và cần thêm nghiên cứu (Blome và cộng sự, 2020). Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ này không thể loại trừ hoàn toàn. Virus ASF có khả năng tồn tại trong điều kiện ẩm và nhiệt độ cao, đồng thời liều gây nhiễm rất thấp. Thậm chí, một số nguyên liệu thức ăn còn có thể kéo dài thời gian tồn tại của virus. Các thí nghiệm cho thấy khi thức ăn hoặc nước uống bị nhiễm virus ASF ở liều gây nhiễm tối thiểu (104 và 100 TCD50), heo vẫn có thể bị nhiễm bệnh khi ăn hoặc uống tự nhiên (Niederwerder và cộng sự, 2019). Do đó, việc phân tích mối nguy và kiểm soát phòng ngừa dựa trên rủi ro trong chuỗi cung ứng thức ăn cần bao gồm các biện pháp xử lý nguyên liệu và thức ăn nhằm loại bỏ virus, từ đó hạn chế nguy cơ lây lan dịch bệnh. Thức ăn - mắt xích an toàn sinh học Các phụ gia thức

dụng nhanh. Một số chất khử trùng hóa học như formaldehyde có nguy cơ gây ung thư, khiến việc sử dụng bị hạn chế. Vì vậy, các giải pháp tự nhiên và bền vững đang được chú trọng phát triển. Trong số đó, các hợp chất chuyển hóa từ thực vật đã được nghiên cứu từ lâu nhờ đặc tính kháng khuẩn, chống viêm và điều hòa miễn dịch.

Virus ASF là virus có lớp vỏ lipid, do đó dễ bị tác động bởi các phân tử có khả năng phá vỡ cấu trúc màng này. Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy các hợp chất có nguồn gốc thực vật có thể thể hiện hoạt tính kháng virus bằng cách cản trở quá trình xâm nhập và nhân lên của virus (Wang và cộng sự, 2015).

Từ nguyên lý này, công thức thảo dược độc quyền Anta®Shield của Dr. Eckel Animal Nutrition được phát triển dựa trên các hợp chất hoạt tính sinh học có khả năng làm mất ổn định màng tế bào, qua đó tạo ra công cụ tự nhiên 100% nhằm giảm nguy cơ virus ASF lây truyền từ thức ăn sang vật nuôi.

Giảm mạnh tải lượng virus trong thức ăn

Trong quá trình phát triển sản phẩm, một trong những mục tiêu quan trọng là tìm kiếm và khai thác hiệu ứng hiệp đồng giữa các chiết xuất thực vật khác nhau.

Trong thử nghiệm mô hình thức ăn in vitro, thức ăn hỗn hợp được gây nhiễm virus ASF, sau đó bổ sung các chiết xuất thực vật có tiềm năng kháng virus ở các liều khác nhau. Kết quả cho thấy khi sử dụng riêng lẻ hai loại chiết xuất thực vật ở liều thấp (i) và (ii), tải lượng virus trong thức ăn đã giảm đáng kể sau 24 giờ so với mẫu đối chứng không bổ sung phụ gia. Theo phép thử nuôi cấy tế bào HAD50, mức giảm lần lượt đạt 1,34 và 1,74 log, tương đương giảm 92,6% và 95,8% mầm bệnh.

Khi tăng liều lượng các thành phần này, hiệu quả kháng virus tiếp tục được cải thiện. Đáng chú ý, khi hai chiết xuất thực vật được kết hợp ở liều thấp trong công thức hoàn chỉnh Anta®Shield, tải lượng virus giảm tới 2,54 log, tương đương 99,7% – thấp hơn mẫu đối chứng dương tính và dưới ngưỡng gây nhiễm tối thiểu (Hình 2). Hiệu quả này vượt xa tổng tác động riêng lẻ của từng thành phần, chứng minh sự hiệp đồng rõ rệt giữa các chiết xuất thực vật.

Một nghiên cứu PCR so sánh Anta®Shield với các acid hữu cơ ở nhiều liều lượng khác nhau cũng cho thấy phụ gia nguồn gốc thực vật không chỉ hiệu quả hơn ở liều thấp mà còn phát huy tác dụng nhanh hơn. Sau ba ngày, không còn phát hiện DNA virus khi sử

hữu cơ dụng 400 g Anta®Shield, trong khi nhóm sử dụng acid hữu cơ phải mất tới bảy ngày khi áp dụng ở mức dưới 1% (Hình 3). Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng virus ASF có thể tồn tại trong một số loại thức ăn và nguyên liệu thức ăn trong nhiều ngày. Trong nghiên cứu này, sau bảy ngày tải lượng virus vẫn đủ cao để có khả năng gây nhiễm cho heo. Điều đó cho thấy việc ngăn chặn virus ASF xâm nhập trang trại thông qua thức ăn là yêu cầu cấp thiết. Đến nay, vai trò chính xác của thức ăn trong lây truyền virus ASF vẫn là câu hỏi chưa có lời giải. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi không thể chờ đợi thêm. Anta®Shield được phát triển nhằm tích

hợp chiến lược giảm tải virus trong thức ăn vào hệ thống an toàn sinh học hiện có của trang trại. Giải pháp tự nhiên 100% này dựa trên các chiết xuất thực vật mạnh, không gây hại cho người lao động và không gây ăn mòn thiết bị. Khi ASF vẫn là mối đe dọa thường trực, việc chủ động bịt kín mọi “kẽ hở” trong kế hoạch an toàn sinh học bao gồm cả rủi ro từ thức ăn chính là chìa khóa để bảo vệ đàn heo và duy trì sự bền vững của ngành chăn nuôi.

TIẾN SĨ ELISABETH HOLL, Giám đốc kỹ thuật TIẾN SĨ BERNHARD ECKEL, Phó chủ tịch Dr. Eckel Animal Nutrition

Doanh nghiệp liên kết chuỗi, chung tay bình ổn thị trường nông nghiệp

Trước những biến động của chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp đã chủ động xây dựng chuỗi liên kết khép kín, giữ ổn định giá vật tư, tăng cường thu mua, góp phần chia sẻ khó khăn với nông dân và bình ổn thị trường.

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã chuyển hóa chủ trương này thành hành động cụ thể. Tiêu biểu là Liên doanh De Heus - Hùng Nhơn với mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp tuần hoàn, khép kín theo tiêu chuẩn quốc tế. Hệ sinh thái này bao phủ toàn bộ quá trình sản xuất, từ con giống, thức ăn chăn nuôi, giải pháp chuồng trại, chăn nuôi công nghệ cao đến thuốc thú y, giết mổ và chế biến theo mô hình “từ trang trại đến bàn ăn”.

Đáng chú ý, chuỗi liên kết này còn mở rộng hợp tác với nhiều đối tác quốc tế uy tín như Big Dutchman (Đức), Olmix (Pháp), Orvia (Pháp) và Den Ouden GrowSolutions (Hà Lan), qua đó nâng cao tiêu chuẩn sản xuất và từng bước đưa nông nghiệp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo công bố tại sự kiện “Chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững giai đoạn 2026 - 2036” ngày 10/3/2026, liên doanh này cam kết đầu tư tổng nguồn lực lên tới 18.300 tỷ đồng. Nguồn lực được định hướng tập trung vào phát triển hạ tầng chăn nuôi hiện đại, xây dựng nhà máy chế

biến, kiểm soát dịch bệnh và phát triển vùng nguyên liệu.

Trong đó, dự án nhà máy giết mổ và chế biến tại Tây Ninh, dự kiến đi vào vận hành năm 2027, được kỳ vọng sẽ hoàn thiện chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm chăn nuôi và góp phần ổn định đầu ra.

Không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, các mô hình liên kết chuỗi còn tạo tác động lan tỏa tới toàn ngành. Việc kiểm soát chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế giúp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời thúc đẩy hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, tạo việc làm cho lao động địa phương và mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị cho các hộ chăn nuôi.

Song song với việc đầu tư hạ tầng và công nghệ, các doanh nghiệp cũng chú trọng triển khai các giải pháp hỗ trợ trực tiếp người nông dân. Một trong những điểm đáng chú ý là chủ trương không tăng giá bán con giống và vật tư, đặc biệt là thức ăn chăn nuôi, nhằm giảm áp lực chi phí đầu vào.

Trong chuỗi liên kết này, Công ty Visakan đảm nhận vai trò đảm bảo an toàn sinh học

và sức khỏe vật nuôi. Doanh nghiệp không chỉ cung cấp các sản phẩm thuốc thú y thế hệ mới theo hướng giảm tồn dư kháng sinh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, mà còn đẩy mạnh hoạt động tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ người chăn nuôi áp dụng quy trình sản xuất xanh và tuần hoàn.

Những giải pháp này góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất và đảm bảo sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đáng chú ý, vào tháng 5/2024, Visakan đã xuất khẩu lô hàng thuốc thú y đầu tiên sang thị trường Indonesia - thị trường Halal, qua đó khẳng định năng lực và uy tín của doanh nghiệp Việt trên trường quốc tế. Thực tế, khi doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt, công nghệ là nền tảng và người nông dân trở thành trung tâm, ngành nông nghiệp có thể phát triển theo hướng bền vững, hiệu quả hơn. Quan trọng hơn, sự liên kết chặt chẽ này không chỉ giúp bình ổn thị trường mà còn đảm bảo lợi nhuận cho người nông dân - yếu tố cốt lõi của phát triển nông nghiệp lâu dài.

Vemedim tạo dấu ấn tại Hội nghị

Nghiên cứu khoa học ngành thú y

Hội nghị có trên 300 đại biểu đến tham dự là đại diện các cơ quan, doanh nghiệp, Hội Thú y Việt Nam cùng giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên đến từ các trường Đại học và cao đăng thuộc Tây nguyên, TP Hồ Chí Minh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long có đào tạo ngành Thú y. Hội nghị là dịp để các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật ngành Chăn nuôi - Thú y, học nghiên cứu sinh, học viên cao học, có cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với các đồng nghiệp, doanh nghiệp trong lĩnh vực Thú y, đồng thời giới thiệu những kết quả nghiên cứu nổi bật trong năm qua. Hội nghị còn góp phần nâng cao trình độ

và sự tự tin của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, tạo tiền

đề tham gia các diễn đàn khoa học trong và ngoài nước.

Sự tham gia của Vemedim không chỉ thể

thuật mà còn góp phần thúc đẩy liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và thực tiễn sản xuất.

Tại Hội nghị, gian hàng của Vemedim thu hút đông đảo đối tác, khách hàng, chuyên gia và sinh viên đến tham quan, tìm hiểu và trao đổi thông tin về các sản phẩm, giải pháp trong lĩnh vực thú y. Không gian trưng bày được thiết kế hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao lưu, kết nối, đồng thời giúp người tham dự tiếp cận các xu hướng mới của ngành.

Thông qua các hoạt động giới thiệu sản phẩm và giải pháp, Vemedim mong muốn mang đến những giá trị thiết thực cho cộng

Sự tham gia của Vemedim không chỉ thể hiện vai trò đồng hành cùng hoạt động học thuật mà còn góp phần thúc đẩy liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và thực tiễn sản xuất.

hiện vai trò đồng hành cùng hoạt động học

Tại Hội nghị, gian hàng của Vemedim có không gian trưng bày được thiết kế hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao lưu, kết nối, đồng thời giúp người tham dự tiếp cận các xu hướng mới của ngành. Thông qua các hoạt động giới thiệu sản phẩm và giải pháp, Vemedim mong muốn mang đến những giá trị thiết thực cho cộng đồng chăn nuôi, góp phần nâng cao hiệu quả phòng trị bệnh, cải thiện năng suất và hướng tới phát triển bền vững. Sự quan tâm và đồng hành của đối tác, khách hàng và sinh viên tại hội nghị được xem là động lực để doanh nghiệp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ trong thời gian tới. KHÁNH NGUYỄN Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Ngành Thú y - Đại học Cần Thơ 2026 được tổ chức ngày 4/4/2026, đánh dấu hành trình kết nối tri thức và lan tỏa nhiều giá trị ý nghĩa. Đồng hành với vai trò Nhà tài trợ Kim cương, Vemedim khẳng định vị thế với gian hàng được đầu tư quy mô, thiết kế hiện đại và thu hút tại hội nghị.

đồng chăn nuôi, góp phần nâng cao hiệu quả phòng trị bệnh, cải thiện năng suất và hướng tới phát triển bền vững. Sự quan tâm và đồng hành của đối tác, khách hàng và sinh viên tại hội nghị được xem là động lực để doanh nghiệp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ trong thời gian tới.

THEO HƯỚNG DINH DƯỠNG CHÍNH XÁC

Ngày 24/3, tại khách sạn New World Saigon (TP Hồ Chí Minh) và ngày 26/3 tại khách sạn Sheraton Hanoi West (Hà Nội), Công ty TNHH Olmix

Asialand Việt Nam tổ chức chuỗi hội thảo với chủ đề “Từ hệ thống năng lượng thuần đến dinh dưỡng chính xác: Tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi heo và gia cầm”.

Khai mạc hội thảo, ông Trịnh Quang Thanh, Tổng Giám đốc Công ty Olmix

Asialand Việt Nam chia sẻ, chi phí thức ăn hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành chăn nuôi, trong khi giá nguyên liệu liên tục biến động, tạo áp lực lớn đối với doanh nghiệp và người chăn nuôi. Vì vậy, việc đánh giá chính xác năng lượng nguyên liệu, xây dựng khẩu phần hợp lý và ứng dụng các giải pháp dinh dưỡng tiên tiến là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả sản xuất.

Theo ông Thanh, Hội thảo được tổ chức nhằm tạo diễn đàn kết nối chuyên gia quốc tế với doanh nghiệp trong nước, chia sẻ kiến thức và thúc đẩy ứng dụng dinh dưỡng chính xác trong chăn nuôi heo và gia cầm.

“Trong bối cảnh bất ổn chính trị và giá năng lượng tăng, ngành chăn nuôi buộc phải tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất

để duy trì tăng trưởng. Tối ưu dinh dưỡng, sử dụng năng lượng thuần hiệu quả và kiểm

soát chi phí thức ăn là hướng đi quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trong giai đoạn tới”, ông Thanh nhấn mạnh.

Ông Thanh cho biết thêm, Olmix đang

tập trung phát triển các giải pháp dinh dưỡng dựa trên công nghệ sinh học và chiết xuất tảo

biển, hướng tới nâng cao sức khỏe vật nuôi, cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn và giảm tác động môi trường. Việc kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn

được kỳ vọng sẽ góp phần hỗ trợ ngành chăn nuôi Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại và bền vững.

Một trong những nội dung trọng tâm của hội thảo là báo cáo của Tiến sĩ Jean Noblet, chuyên gia dinh dưỡng, nguyên giám đốc nghiên cứu Viện nghiên cứu Nông nghiệp, Thực phẩm và Môi trường quốc gia Pháp (INRAE), tập trung vào hệ thống đánh giá năng lượng thuần trong thức ăn chăn nuôi heo. Báo cáo cung cấp cái nhìn tổng quan về các phương pháp đánh giá năng lượng, đồng thời phân tích lợi ích của hệ thống năng lượng thuần trong việc tối ưu hóa khẩu phần và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Bên cạnh đó, ông cũng có bài phân tích, đánh giá giá trị năng lượng của thức ăn cho gia cầm, các hướng tiếp cận mới trong việc chuyển sang hệ thống năng lượng thuần NE. Nếu các tham luận của Tiến sĩ Jean Noblet tập trung vào việc “đo đúng” năng lượng, thì phần trình bày của bà Anne-Cécile Jutten, Giám đốc Quản lý Sản phẩm Tập đoàn

Olmix lại đi sâu vào cách sử dụng hiệu quả nguồn dinh dưỡng đó. Đồng thời, bà cũng nêu ra hướng cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn chăn nuôi bằng bổ sung khoáng sét và tảo biển, những ứng dụng trong chăn nuôi heo và gia cầm hiện nay.

Trong mỗi phiên thảo luận của hội thảo, các diễn giả đã dành nhiều thời gian trao đổi, giải đáp trực tiếp các câu hỏi từ doanh nghiệp, chuyên gia và người tham dự liên quan đến chi phí sản xuất, xu hướng thị trường, dịch bệnh và giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Nhiều vấn đề thực tiễn như tối ưu dinh dưỡng, quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, phát triển mô hình chuỗi khép kín và cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu đã được phân tích sâu, góp phần làm rõ bức tranh ngành chăn nuôi trong bối cảnh mới, đồng thời gợi mở các hướng đi phù hợp cho doanh nghiệp và người chăn nuôi trong thời gian tới. Theo Ban Tổ chức, hội thảo không chỉ là diễn đàn khoa học mà còn là cầu nối giữa chuyên gia quốc tế, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp trong nước, góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ và ứng dụng các giải pháp tiên tiến vào thực tiễn sản xuất.

THÙY KHÁNH

Tăng cường kiểm

soát bệnh Mycoplasma, nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm

Ngày 23/3 tại Hà Nội, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam tổ chức hội thảo “Bộ đôi vaccine Vaxsafe MG/Vaxsafe MS kiểm soát bệnh Mycoplasma trên gà”, với sự tham gia của nhiều chuyên gia, doanh nghiệp và người chăn nuôi.

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Nhật Hưng, Giám đốc Kinh doanh Olmix

Asialand Việt Nam cho biết, thị trường chăn nuôi gần đây biến động mạnh, đặc biệt là giá nguyên liệu đầu vào tăng do tác động của các yếu tố quốc tế, khiến chi phí sản xuất của người nuôi và doanh nghiệp chịu áp lực lớn. Trong bối cảnh đó, việc cập nhật thông tin thị trường và định hướng sản xuất phù hợp là yêu cầu cấp thiết.

Theo ông Hưng, Mycoplasma là một trong những bệnh phức tạp, gây thiệt hại lớn cho ngành gia cầm, đòi hỏi người nuôi phải áp dụng đồng bộ các giải pháp như an toàn sinh học, vaccine, sử dụng kháng sinh hợp lý và tăng cường miễn dịch đàn

PGS.TS Lê Văn Năm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất thuốc thú y Việt Nam nhận định, bệnh tuy không mới nhưng luôn là thách thức lớn đối với ngành gia cầm. Do vậy, nghiên cứu và sản xuất vaccine kiểm soát Mycoplasma được xem là bước tiến quan trọng của khoa học, góp phần giúp ngành chăn nuôi từng bước kiểm soát dịch bệnh.

Tại hội thảo, bà Trần Ngọc Yến, Giám đốc Khối Phân tích ngành, Công ty AgroMonitor đã cung cấp bức tranh tổng thể về thị trường gia cầm quý I/2026. Theo bà Yến, giá các sản phẩm gia cầm, cả thịt và trứng, giảm mạnh do tình trạng cung vượt cầu kéo dài, trong khi nguồn cung, đặc biệt là gà trắng tăng nhanh khi lượng con giống đưa vào chăn nuôi tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động xuất khẩu sang một số thị trường, nhất là Campuchia sụt giảm cũng khiến áp lực tiêu thụ trong nước tăng. Trong khi đó, chi phí đầu vào, đặc biệt là giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và chi phí vận chuyển tiếp tục leo thang do biến động quốc tế, khiến giá thành sản xuất tăng nhưng giá bán giảm sâu, làm lợi nhuận người chăn nuôi bị thu hẹp.

Dự báo quý II, nguồn cung gia cầm vẫn duy trì ở mức cao, thậm chí có nguy cơ tăng

mạnh, đặc biệt tại miền Nam. Trong bối cảnh này, nâng cao năng suất và đảm bảo an toàn thực phẩm trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp và người nuôi.

Bà Yến cho rằng, thị trường ngày càng đòi hỏi sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo an toàn thực phẩm và hạn chế tồn dư kháng sinh. Điều này tạo áp lực nhưng cũng là động lực để ngành chăn nuôi chuyển sang mô hình sản xuất bài bản, kiểm soát tốt từ đầu vào đến đầu ra, trong đó kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là Mycoplasma đóng vai trò then chốt. Ở góc độ kỹ thuật, ông Robin R. Achari, Trưởng bộ phận Dịch vụ Kỹ thuật Toàn cầu Công ty Bioproperties (Australia) và Chủ tịch Hiệp hội Bác sĩ Thú y Gia cầm Thương mại (AVA SIG) cho biết, Mycoplasma là loại vi khuẩn có khả năng biến đổi liên tục, có thể lây lan theo cả chiều dọc từ gà bố mẹ sang con và chiều ngang qua không khí, môi trường, thiết bị chăn nuôi, khiến việc kiểm soát trở nên khó khăn. Không chỉ gây bệnh hô hấp mãn tính, Mycoplasma còn ảnh hưởng đến hệ sinh sản, làm giảm sản lượng trứng và tạo điều kiện cho các bệnh kế phát. Việc phụ thuộc vào kháng sinh trong kiểm soát bệnh đang bộc lộ nhiều hạn chế, do Mycoplasma không có

thành tế bào nên kháng lại nhiều loại kháng sinh phổ biến. Sử dụng kháng sinh chỉ giúp kiểm soát triệu chứng mà không loại bỏ hoàn toàn mầm bệnh, đồng thời làm gia tăng nguy cơ kháng thuốc và ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm.

Trong bối cảnh quy định về sử dụng kháng sinh ngày càng siết chặt, các chuyên gia cho rằng, ngành chăn nuôi cần chuyển mạnh sang các giải pháp phòng bệnh chủ động. Tại hội thảo, bộ đôi vaccine Vaxsafe MG và Vaxsafe MS được giới thiệu như một giải pháp giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh, hạn chế lây lan trong đàn và giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh. Đàn gà được tiêm vaccine có thể kéo dài thời gian đạt đỉnh sản lượng trứng, cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm chi phí thức ăn, nâng cao chất lượng con giống và giảm tỷ lệ hao hụt, góp phần tăng hiệu quả kinh tế. Hội thảo là diễn đàn kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và người chăn nuôi, góp phần cung cấp thông tin thị trường, chia sẻ kinh nghiệm kỹ thuật và định hướng giải pháp phát triển ngành gia cầm thời gian tới.

LƯỢC PHỐI HỢP DINH DƯỠNG

Khai thác tối đa tiềm năng hiệu suất của vật nuôi

Chăn nuôi hiện đại được thúc đẩy bởi tham vọng khai thác tối đa tiềm năng di truyền của động vật. Tuy nhiên để đạt đỉnh cao của tiềm năng di truyền, nguồn dinh dưỡng chỉ “đủ” là chưa đủ. Bên cạnh điều kiện quản lý và chăn nuôi tối ưu, thức ăn phải an toàn, cân bằng và hỗ trợ sức khỏe đường ruột cũng như khả năng phục hồi. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu suất chăn nuôi thường bị kìm hãm bởi các yếu tố tiềm ẩn như: độc tố nấm mốc, tỷ lệ chất xơ không cân bằng, các tác nhân gây bệnh và viêm nhiễm.

Việc giải quyết những thách thức này một cách riêng lẻ đã mang lại nhiều tiến bộ, nhưng hiệu suất không tối ưu và vẫn là một vấn đề thường xuyên tái diễn. Do đó, một cách tiếp cận tổng thể bao gồm việc tích hợp các giải pháp để đối phó với nhiều hạn chế nhằm đưa ra một chiến lược toàn diện hơn.

Hiệu suất cao đòi hỏi thức ăn chất lượng cao

Vât nuôi cao sản chỉ đạt tiềm năng di truyền (sinh sản, tăng trưởng, trứng, sữa) khi khẩu phần ăn được tối ưu. Các vấn đề như ô nhiễm thức ăn, mất cân bằng xơ, hay các yếu tố kháng dinh dưỡng sẽ gây viêm toàn thân, dẫn đến thiệt hại về kinh tế. Do đó, ưu tiên hàng đầu để đạt hiệu suất cao chính là tạo điều kiện tối ưu cho sức khỏe vật nuôi.

Độc tố nấm mốc: Một thách thức toàn cầu

Độc tố nấm mốc vẫn là một trong những mối đe dọa thường trực nhất đối với chất lượng thức ăn chăn nuôi. Các cuộc khảo sát liên tục báo cáo sự ô nhiễm trong ngũ cốc và các phụ phẩm, ảnh hưởng đến tất cả các loài như nhau. Độc tố làm tổn thương tính toàn vẹn của đường ruột, làm suy giảm miễn dịch và gây tổn thương cho các cơ quan như gan và thận.

Ở gia cầm độc tố nấm mốc (ví dụ: Aflatoxin, Deoxynivalenol, Fumonisin) làm suy giảm hiệu suất tăng trưởng và có thể làm tổn thương các cơ quan quan trọng, dẫn đến năng suất kém đồng thời cũng ức chế miễn dịch ở gia cầm, làm suy yếu hệ thống miễn dịch và tăng khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng. Trên heo, độc tố nấm mốc thường làm

giảm lượng ăn, tăng trưởng chậm, rối loạn năng suất sinh sản ,suy giảm miễn dịch - giảm hiệu quả của vaccine, heo dễ mắc các bệnh truyền nhiễm hơn ngay cả nồng độ thấp. Trên

động vật nhai lại dạ cỏ có thể giải độc một số

độc tố nấm mốc, nhưng liều lượng độc tố cao vẫn gây ra hiện tượng bỏ ăn, suy giảm miễn dịch và giảm sản lượng sữa.

Những rủi ro này có thể được giải quyết bằng phụ gia thức ăn chăn nuôi đa thành

phần với một chiến lược toàn diện giúp bảo

vệ vật nuôi toàn diện qua 3 cơ chế:

- Hấp phụ và chuyển hóa sinh học: loại bỏ độc tố nấm mốc nhanh chóng bằng chất hấp phụ hiệu quả và vi sinh vật;

- Bảo vệ gan: chiết xuất thực vật giúp giải

độc gan;

- Tăng cường miễn dịch: thành phần vách tế bào nấm men giúp điều hòa hệ miễn dịch. Điều này đảm bảo rằng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng được bảo toàn và vật nuôi

được bảo vệ tốt hơn trước những tác hại tiềm

ẩn của độc tố nấm mốc.

Chứng minh thực tế: Nghiên cứu tại đại

học Freie (Berlin) trên heo con ( 25 - 66 ngày tuổi. Thức ăn nhiễm độc tố nấm mốc DON (1.000 ppb) và ZEN (800 ppb). Thử nghiệm cho thấy thức ăn nhiễm độc tố nấm mốc đã ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng, các chỉ số máu và trọng lượng các cơ quan của heo con. Việc bổ sung phụ gia thức ăn chăn nuôi đa thành phần đã khắc phục được những tác động này, khôi phục hầu hết các thông số về mức bình thường. Đáng chú ý, khi nhiễm độc tố nấm mốc làm tăng FCR từ 1,46 lên 1,58 (+8,8%), thì MYCORAID đã ngăn chặn hoàn toàn tác động tiêu cực này.

Chất xơ Eubiotic & Chiết xuất thực vật: “Kiến trúc sư” hệ vi sinh đường ruột

Chất xơ trong khẩu phần ăn đóng vai trò then chốt trong việc duy trì hệ vi sinh đường ruột cân bằng và sinh lý ở nhiều loài. Ở động vật nhai lại, ngăn ngừa nhiễm toan dạ cỏ, duy trì năng suất và chất lượng sữa. Ở heo và gia cầm, chất xơ lên men kích thích sản xuất SCFAs như Butyrate, Acetate và Propionate ở ruột già, trong khi chất xơ trơ điều chỉnh nhu động ruột.

Các nhà công thức dinh dưỡng khi xây dựng khẩu phần ăn thường sử dụng các nguồn chất xơ phổ biến từ nguyên liệu như vỏ hạt ngũ cốc, cám hoặc bã ngũ cốc. Vì các nguyên liệu này có thành phần và chất lượng chất xơ khác nhau, do đó việc bổ sung chất xơ chức năng như OPTICELL giúp tạo ra một khái niệm chất xơ đáng tin cậy, giúp cân bằng hồ sơ chất xơ trong khẩu phần ăn. Thành phần lignocellulose eubiotic từ vỏ và thân cây hỗ trợ sinh lý đường ruột ở nhiều cấp độ và phần chất xơ chức năng của nó được lên men chậm và liên tục, tăng cường sản xuất SCFA trong ruột già (Hình 2). Việc tăng cường sản xuất SCFA, đặc biệt là axit Butyric, đảm bảo tính toàn vẹn, chức năng và cân bằng chuyển hóa của ruột, ngăn ngừa rối loạn hệ vi sinh đường ruột và đảm bảo hiệu quả hoạt động.

Kiểm soát mầm bệnh bằng chiết xuất thực vật

Sự rối loạn hệ vi sinh đường ruột tạo ra môi trường thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển như Lawsonia intracellularis, Clostridium spp. và Brachyspira hyodysenteriae thường hiện diện ở dưới mức lâm sàng, làm suy yếu quá trình tái tạo biểu mô, gây viêm cục bộ và làm giảm hiệu suất tăng trưởng, tính đồng đều và hiệu quả sử dụng thức ăn. Do đó, việc ổn định môi trường vi sinh là rất cần thiết. Các hỗn hợp thực vật được tiêu chuẩn hóa có thể hỗ trợ trong điều kiện này, giúp duy trì

cân bằng vi sinh, bảo tồn chức năng đường ruột và tăng cường hàng rào biểu mô. Hiệu quả đã chứng minh trong các nghiên cứu việc bổ sung các chất thực vật đã cải thiện sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn đồng thời làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở heo bị nhiễm L. intracellularis mang lại một chiến lược dinh dưỡng hiệu quả để giảm thiểu áp lực mầm bệnh và duy trì hiệu suất đàn.

Nghiên cứu của (Wu et al., 2025) đã chứng minh bổ sung chiết xuất thực vật mang lại hiệu quả tương đương với Tiamulin/Lincomycin ở heo khi bị nhiễm L. intracellularis (Hình 3). Draskovic et all (2018) đã chứng minh việc bổ sung hợp chất thực vật vào khẩu phần ăn đã cải thiện sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, đồng thời làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở heo bị nhiễm L. intracellularis (Bảng 1).

Sử dụng chiết xuất thực vật là chiến lược dinh dưỡng bền vững để quản lý mầm bệnh tiềm ẩn và duy trì năng suất đàn heo trong bối cảnh hạn chế kháng sinh.

Bảng 1. Tăng trưởng và tình trạng tiêu chảy của heo con bị nhiễm L. intracellularis được bổ sung hoặc không bổ sung DYSGUARD -S DYSGUARD-S Đối chứng

Số lượng heo 72 72

BW ngày 0 (kg) 10,5 11,3

BW ngày 28 (kg) 20,8 19,4

ADG (g) 368 287

FCR 1,73a 2,08b

Điểm tiêu chảy 0/72 (0%)a (54%)b

Giá trị Ct (PCR test trong phân )

Ngày 0 30,7 32,5

Ngày 14 36,9 32,7

Ngày 28 36,8 31,7 a,bSự khác biệt đáng kể (p<0.05)

Căng thẳng, viêm nhiễm và áp lực ôxy hóa: kẻ thủ thầm lặng của lợi nhuận

Bất kể loài nào, thức ăn thường là tác nhân chính gây căng thẳng và viêm nhiễm.

Độc tố nấm mốc, chất béo bị ôxy hóa, protein/axit amin không cân bằng, các thành phần chất xơ khác nhau làm tổn hại hàng rào ruột, kích hoạt phản ứng miễn dịch không

đặc hiệu và các chất dinh dưỡng bị tiêu tốn

để duy trì phản ứng viêm mãn tính. Sự suy giảm hiệu suất diễn ra âm thầm nhưng gây

Hình 3. Nồng độ L. intracellularis trong mẫu dịch trực tràng và mẫu phân từ heo được điều trị bằng tiamulin/lincomycin (ABs) hoặc bổ sung DYSGUARD-S (2 kg/tấn)

tổn thất tài chính tích lũy rất lớn trong suốt chu kỳ sản xuất.

Lignan từ gỗ cung cấp một giải pháp bảo vệ toàn diện. Với đặc tính chống viêm và chống oxy hóa, lignan làm giảm viêm nhiễm tiềm ẩn trong chế độ ăn để tối đa hóa việc sử dụng chất dinh dưỡng. Bằng cách bảo vệ hiệu quả trao đổi chất, lignan từ gỗ ngăn ngừa tổn thất do căng thẳng và phản ứng miễn dịch gây ra.

Lignan hoạt động hiệp đồng với các chất bổ sung khác để bảo vệ sức khỏe vật nuôi đồng thời đảm bảo mức lợi nhuận tối ưu cho người chăn nuôi.

Kết luận: chiến lược phối hợp - chìa khóa cho chăn nuôi bền vững

Tiềm năng năng suất của vật nuôi thường bị kìm hãm bởi các yếu tố gây căng thẳng từ chế độ ăn. Thay vì xử lý đơn lẻ, việc phối hợp đồng bộ các giải pháp là chìa khóa để duy trì lợi nhuận.

Các chiến lược được nêu ra, kiểm soát độc tố nấm mốc, cân bằng thành phần chất xơ, cân bằng vi sinh vật và quản lý viêm nhiễm. Sự phối hợp các chiến lược tạo ra các điều kiện tiên quyết để đạt được tiềm năng di

truyền một cách nhất quán và có lợi nhuận trong sản xuất.

Giá trị từ A&P Nutrition: bằng cách quản lý chủ động các yếu tố căng thẳng trước khi chúng trở thành thách thức bệnh lý, giải pháp của chúng tôi giúp nhà chăn nuôi tăng năng suất đồng thời duy trì hiệu quả chi phí.

A&P Nutrition, thương hiệu mới được hợp nhất từ liên minh chiến lược của PATENT CO. và agromed dưới sự bảo trợ của RWA (Raiffeisen Ware Austria), đang định nghĩa lại tương lai của dinh dưỡng động. A& P Nutrition hội tụ hàng thập kỷ kinh nghiệm vào một danh mục sản phẩm mạnh mẽ duy nhất. Với sứ mệnh “cải thiện hiệu suất vật nuôi”, A&P Nutrition cam kết cung cấp các giải pháp lấy cảm hứng từ thiên nhiên, được minh chứng khoa học, nhằm giải quyết những thách thức cấp bách nhất về sức khỏe và năng suất vật nuôi. Đây không chỉ là một khẩu hiệu - mà là một lời hứa hướng đến khách hàng, được hỗ trợ bởi sự đổi mới, minh bạch thấu hiểu sâu sắc nhu cầu đặc thù của từng loài vật nuôi.

A&P NUTRITION

KẾT NỐI CÙNG CHÚNG TÔI TẠI ILDEX VIỆT NAM 2026 Hãy trực tiếp khám phá các giải pháp của A&P Nutrition để tối ưu hóa hiệu suất chăn nuôi của bạn tại gian hàng AB08 vào ngày 20 - 22/5/2026. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi rất mong được đón tiếp bạn!

CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG HEO CON

Heo con giai đoạn sơ sinh đến cai sữa rất nhạy cảm, dễ bệnh và chậm tăng trưởng. Chăm sóc nuôi dưỡng đúng kỹ thuật, bao gồm giữ ấm, dinh dưỡng và phòng bệnh, giúp heo con khỏe mạnh, phát triển đồng đều và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Heo con sinh ra phải được bú sữa đầu

Sữa đầu chỉ có trong 24 giờ sau khi sinh.

Sữa đầu có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt là lượng protein cao, chứa 5 - 6%, trong đó có Globulin là rất quan trọng vì nó là chất kháng thể của mẹ truyền cho con để phòng và chống các bệnh cho heo con.

Sau khi heo con được đẻ ra, cần thả heo con bú ngay, vừa tranh thủ bú được nhiều sữa đầu, vừa kích thích heo nái đẻ nhanh hơn. Nếu để lâu không cho heo con bú sẽ dễ bị cảm lạnh hoặc bị cứng hàm.

Cần phải úm cho heo con

Heo con sau khi sinh thân nhiệt của heo giảm xuống 370C, khả năng điều tiết thân nhiệt kém trong những ngày đầu mới sinh nên heo con rất dễ cảm lạnh và bị tiêu chảy. Do đó heo con đẻ ra phải được úm để giữ ấm. Đặc biệt là heo con được đẻ vào mùa mưa, thời tiết lạnh nên dùng đèn điện úm cho heo con trong thời gian 2 tuần đầu, nhiệt độ chuồng úm từ 30 - 350C. Chuồng heo nái phải khô ráo, ấm áp tránh mưa tạt vào.

Bổ sung sắt

Sắt là thành phần cấu tạo máu, thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu làm cho heo con bị tiêu chảy, da nhợt nhạt, sức đề kháng kém. Heo con cần nhu cầu sắt rất cao (7 mg/ngày/con) trong khi đó sữa heo mẹ chỉ cung cấp được bình quân 2 - 3 mg/ngày/con. Do đó, sẽ dẫn đến tình trạng thiếu sắt nếu không bổ sung trực tiếp sắt cho heo con.

Vì vậy, phải bổ sung sắt cho heo con lần đầu vào ngày thứ 3 là tốt nhất với liều 1 ml/ con (1 ml chứa 100 mg sắt). Đến 10 ngày tuổi tiếp tục tiêm 1 ml/con. Vị trí tiêm: 3 ngày tuổi nên tiêm ở đùi sau hay mông, 10 ngày tuổi nên tiêm ở sau gốc tai.

Cai sữa sớm

Tùy theo điều kiện cụ thể của từng hộ chăn nuôi mà tiến hành cai sữa sớm heo con, có thể cai sữa sớm heo con vào lúc 4 tuần tuổi, với điều kiện heo con đã tự ăn, uống bình thường và phải đạt trọng lượng trên 5 kg/con. Cai sữa sớm heo con có nhiều lợi ích: Heo nái sẽ lên giống sớm từ đó tăng lứa đẻ

của nái trong năm; Hao mòn cơ thể heo nái ít; Giảm được thức ăn của heo nái; Heo con sẽ lớn nhanh, đồng đều.

Tuy nhiên, khi cai sữa sớm heo con cần lưu ý những vấn đề sau:

- Phải cai sữa từ từ, tránh đột ngột bằng cách giảm lần bú trong ngày.

- Trong ngày heo con cai sữa nên giảm lượng thức ăn xuống còn 50% so khẩu phần thức ăn hàng ngày sau đó mới tăng dần lên và nên trộn kháng sinh để phòng bệnh tiêu chảy cho heo con, có thể dùng Enro-Colistin: liều lượng 100 g/60 kg thức ăn.

- Cung cấp đầy đủ nước cho heo con, giữ chuồng khô, ấm.

Tập cho heo con ăn sớm

Heo con theo mẹ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng để đáp ứng cho đòi hỏi sự phát triển của cơ thể. Trong khi đó sản lượng sữa của heo mẹ chỉ tăng dần sau khi đẻ cho đến 21 ngày sau đó giảm dần xuống. Vì vậy phải tập cho heo con ăn sớm để đáp ứng cho nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng của heo

con, đồng thời tập cho heo con quen dần với thức ăn cung cấp từ bên ngoài vào. Khi

khả năng tiết sữa heo nái giảm thì heo con đã ăn khỏe nên không ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của heo con. Không những thế, còn cai sữa sớm được heo con để heo nái giảm hao mòn cơ thể, heo nái lên giống sớm để tăng lứa đẻ trong năm.

Tuy nhiên, thức ăn tập cho heo con phải đầy đủ dinh dưỡng dễ tiêu hóa để phù hợp với bộ máy tiêu hóa của heo con.

Nên tập ăn cho heo con theo mẹ vào lúc 7 - 10 ngày tuổi, tập ăn cho heo con bằng cách: dùng thức ăn tập ăn nhét vào miệng heo hoặc bôi thức ăn lên vú mẹ, hoặc để thức ăn trong máng tập ăn của heo con để heo con liếm. Chỉ sau 2 - 3 ngày heo con sẽ quen dần.

Để tạo hấp dẫn, thức ăn tập ăn phải đạt 3 yêu cầu: dễ tiêu hóa, giá trị dinh dưỡng cao, ngon miệng và sạch.

Thiến heo đực

Những heo đực không chọn để làm giống thì nên thiến vào lúc 12 - 15 ngày tuổi. Vì lúc

đó heo con ít bị chảy máu, dễ giữ, heo mẹ còn khả năng tiết sữa cao nên heo con mau lành vết thương. Không nên thiến heo đực vào lúc tiêm phòng vaccine hoặc khi cai sữa. Cách thiến heo đực: Heo con được giữ chặt, rửa sạch dịch hoàn bằng nước xà phòng. Sát trùng dịch hoàn bằng cồn. Dùng dao thật bén, đã được sát trùng rạch một đường 2 cm dọc theo đường trắng giữa 2 dịch hoàn, sau đó nặn mạnh tay thì dịch hoàn sẽ lòi ra ngoài. Dùng kìm kẹp chặt đoạn trong dịch hoàn và dùng kìm khác xoắn dịch hoàn cho đến đứt, không được cắt máu sẽ chảy nhiều hơn. Tiếp tục thiến dịch hoàn thứ 2 theo cách trên. Cuối cùng phải sát trùng cẩn thận vết mổ bằng cồn I-ốt và giữ vết mổ thật sạch, khô để không bị nhiễm trùng.

Ghép đàn cho heo

Việc ghép đàn heo con nhằm bảo đảm cho việc tăng tỷ lệ nuôi sống heo con, tăng trọng lượng cai sữa và bảo đảm độ đồng đều.

Nên ghép heo con ở ổ nái đẻ trước sang nái đẻ sau thì có hiệu quả hơn, nếu ghép heo con từ nái đẻ sau sang nái đẻ trước thì ít hiệu quả hơn.

Trước khi ghép sang đàn mới nên cho heo con bú được sữa đầu của heo mẹ cũ.

Khi ghép heo con thì chọn thời điểm heo nái vừa hết ra nhau, dính nước nhau hay nước tiểu của heo mẹ bôi lên những con mới nhập để heo mẹ khó phân biệt, không nên cho những con ghép đi về phía mũi của heo nái trong thời gian mới ghép. LÊ LOAN

Giảm chi

phí năng

lượng trong trang trại chăn nuôi

Chi phí năng lượng chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất chăn nuôi, từ chiếu sáng, làm mát đến bơm nước và vận hành máy móc. Việc áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng giúp giảm chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả kinh tế và hướng đến mô hình chăn nuôi bền vững. Sử dụng hệ thống chiếu sáng tiết kiệm

Chiếu sáng trong chuồng trại chiếm một phần lớn lượng điện tiêu thụ, đặc biệt là trong các mô hình nuôi gà, vịt, heo hay gia súc trong nhà kín. Việc thay thế bóng đèn sợi đốt hoặc huỳnh quang bằng đèn LED tiết kiệm điện có thể giảm 40 - 60% chi phí điện. Đồng thời, lắp đặt hệ thống cảm biến ánh sáng hoặc hẹn giờ tự động giúp chiếu sáng đúng nhu cầu thực tế, hạn chế tình trạng chiếu sáng liên tục khi không cần thiết. Việc kết hợp đèn LED và quản lý thời gian chiếu sáng hợp lý còn giúp kéo dài tuổi thọ bóng

đèn, giảm chi phí thay thế và bảo dưỡng.

Tối ưu hệ thống quạt, thông gió và

làm mát

Hệ thống quạt thông gió, phun sương và làm mát trong chuồng trại là những thiết bị tiêu thụ nhiều năng lượng. Sử dụng quạt đối lưu thay cho quạt hút liên tục giúp giảm tải điện, đồng thời bố trí mái che và lưới chắn gió hợp lý giúp giảm bức xạ nhiệt vào chuồng, làm giảm nhu cầu làm mát. Việc kết hợp cảm biến nhiệt độ và độ ẩm để điều khiển quạt và phun sương tự động chỉ khi cần thiết giúp tối ưu lượng điện tiêu thụ, đồng thời tạo môi trường ổn định cho vật nuôi, hạn chế stress do nhiệt độ cao.

Ứng dụng năng lượng tái tạo

Nhiều trang trại hiện đại đã bắt đầu lắp

đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời trên mái chuồng hoặc khu vực

trống để cung cấp điện cho quạt, bơm nước và chiếu sáng. Ngoài ra, khí sinh học từ chất thải chăn nuôi cũng có thể được tận dụng làm năng lượng sưởi hoặc phát

điện, vừa xử lý chất thải vừa giảm chi phí vận hành. Sử dụng năng lượng tái tạo

không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường xung quanh trang trại. Quản lý bơm nước và thiết bị điện Bơm nước, máy khuấy thức ăn và hệ thống sưởi là các thiết bị tiêu thụ nhiều điện năng trong chăn nuôi. Sử dụng bơm biến tần giúp điều chỉnh lưu lượng theo nhu cầu thực tế, tránh chạy quá tải và lãng phí điện. Việc tuần hoàn nước và thu hồi nước mưa cũng giúp giảm số lần bơm, tiết kiệm điện và bảo vệ nguồn nước. Kiểm tra định kỳ các đường ống, van, motor và thiết bị điện giúp phát hiện kịp thời rò rỉ hoặc hao phí năng lượng, đảm bảo vận hành hiệu quả và ổn định. Đào tạo nhân công và nâng cao ý thức Nhân lực là yếu tố quan trọng trong việc tiết kiệm năng lượng. Nhân công được huấn luyện vận hành thiết bị đúng quy trình, tắt quạt, bơm, đèn khi không cần thiết, theo dõi chỉ số điện, nước và nhiên liệu thường xuyên. Việc nâng cao ý thức sử dụng năng lượng giúp giảm lãng phí, kéo dài tuổi thọ thiết bị và góp phần giảm chi phí vận hành tổng thể cho trang trại. Khi nhân công hiểu rõ các giải pháp tiết kiệm và áp dụng đúng, hiệu quả kinh tế từ việc giảm chi phí năng lượng sẽ được tối đa hóa.

NHỮNG CÔNG NGHỆ TÂN TIẾN TRONG CHĂN NUÔI

Thực

tiễn triển khai và hiệu quả từ doanh nghiệp nội

Trong những năm gần đây, áp lực từ dịch bệnh, biến động giá nguyên liệu và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm đã buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận, trong đó ứng dụng công nghệ cao và quản trị theo chuỗi giá trị trở thành yếu tố sống còn. Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp nội địa như Masan, Dabaco, Hòa Phát hay BAF đã chủ động đầu tư mạnh vào công nghệ hiện đại, từng bước làm chủ quy trình sản xuất.

Công nghệ chuỗi khép kín 3F (Feed - Farm - Food): Kiểm soát toàn diện và gia tăng giá trị

Mô hình 3F (Feed - Farm - Food) được xem là nền tảng quan trọng nhất trong chăn nuôi công nghiệp hiện đại. Khác với mô hình truyền thống phụ thuộc vào nhiều khâu trung gian, chuỗi 3F cho phép doanh nghiệp kiểm soát toàn bộ quá trình từ sản xuất thức ăn chăn nuôi, con giống, tổ chức nuôi, đến giết mổ, chế biến và phân phối sản phẩm.

Việc tích hợp này giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, kiểm soát chất lượng đầu vào và đầu ra, đồng thời giảm thiểu rủi ro trước các biến động thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc thực phẩm, mô hình 3F tạo điều kiện thuận lợi

cho truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu.

Thực tế triển khai tại Dabaco cho thấy hiệu quả rõ rệt. Nhờ vận hành chuỗi khép kín, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu quý I/2026 đạt 5.600 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế khoảng 400 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế ước đạt khoảng 370 tỷ đồng. Dự báo cả năm 2026 đạt hơn 29.000 tỷ đồng, tăng gần 22% so với năm 2025; lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 1.117 tỷ đồng.

Tương tự, Masan MEATLife đã tận dụng mô hình 3F để phát triển thương hiệu thịt mát, với doanh thu mảng thịt đạt khoảng 5.700 tỷ đồng mỗi năm. Sự thành công này cho thấy, mô hình 3F không chỉ giúp ổn định sản xuất mà còn mở rộng thị trường, gia tăng giá trị sản phẩm thông qua chế biến sâu.

Công nghệ chuồng trại thông minh: Tối ưu môi trường nuôi và giảm hao hụt

Trong chăn nuôi heo công nghiệp, môi trường chuồng trại đóng vai trò quyết định đến năng suất và sức khỏe đàn vật nuôi. Các doanh nghiệp như Hòa Phát và Dabaco đã đầu tư hệ thống chuồng kín ứng dụng công nghệ cảm biến và tự động hóa.

Hệ thống này bao gồm các thiết bị đo lường liên tục nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ khí độc như amoniac và hydrogen sulfide. Dựa trên dữ liệu thu thập được, hệ thống sẽ tự động điều chỉnh quạt thông gió, hệ thống làm mát cooling pad hoặc sưởi ấm, đảm bảo môi trường sống tối ưu cho đàn heo. Hiệu quả của công nghệ này thể hiện rõ trong thực tế sản xuất. Chuồng trại thông minh giúp giảm stress nhiệt - một trong những nguyên

Ảnh: iStock

nhân chính gây suy giảm miễn dịch và tăng tỷ lệ chết. Đồng thời, việc duy trì điều kiện môi trường ổn định giúp heo tăng trưởng đồng đều, rút ngắn thời gian nuôi và nâng cao tỷ lệ sống.

Ngoài ra, việc tích hợp hệ thống điều khiển từ xa cho phép người quản lý theo dõi và vận hành trang trại thông qua phần mềm hoặc điện thoại thông minh. Điều này giúp giảm đáng kể chi phí lao động, với nhiều trang trại ghi nhận mức tiết kiệm từ 20 - 30% nhân công so với mô hình truyền thống.

Công nghệ di truyền và giống cao sản: Nâng cao năng suất từ nền tảng sinh học

Con giống là yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi. Nhận thức rõ điều này, các doanh nghiệp lớn đã đầu tư mạnh vào công nghệ di truyền nhằm tạo ra các dòng heo có năng suất cao, khả năng thích nghi tốt và hiệu quả chuyển hóa thức ăn tối ưu.

Tại Masan MEATLife, trang trại công nghệ cao tại Nghệ An với quy mô 223 ha và tổng vốn đầu tư khoảng 1.400 tỷ đồng được xây dựng để phát triển hệ thống giống chất lượng cao, với công suất cung cấp khoảng 250.000 con heo mỗi năm. Việc chủ động nguồn giống giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn chất lượng đàn và giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.

Các chương trình chọn lọc và lai tạo hiện nay tập trung vào các chỉ tiêu quan trọng như

SÁCH

"Kỹ

thuật nuôi nhím và dúi"

số con sơ sinh/lứa, tốc độ tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và khả năng kháng bệnh. Nhờ đó, các trang trại công nghiệp có thể đạt mức tăng trưởng nhanh hơn 8 - 12% và giảm FCR từ 5 - 10% so với mô hình sử dụng giống không kiểm soát. Việc ứng dụng công nghệ di truyền không chỉ giúp giảm giá thành sản xuất mà còn tạo ra sản phẩm có chất lượng đồng đều, đáp ứng yêu cầu của thị trường hiện đại.

Công nghệ dinh dưỡng chính xác: Tối ưu chi phí và hiệu quả sản xuất

Trong cơ cấu chi phí chăn nuôi heo, thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất, thường từ 6570%. Do đó, tối ưu dinh dưỡng là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả kinh tế. Các doanh nghiệp như De Heus và Masan đã triển khai công nghệ dinh dưỡng chính xác nhằm tối ưu hóa việc sử dụng thức ăn. Khẩu phần ăn được thiết kế riêng cho từng giai đoạn phát triển của heo, kết hợp với việc sử dụng enzyme, probiotic và các vi chất để cải thiện khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng. Đồng thời, hệ thống cho ăn tự động giúp kiểm soát chính xác lượng thức ăn, tránh lãng phí và đảm bảo mỗi cá thể nhận được lượng dinh dưỡng phù hợp. Hiệu quả của công nghệ này thể hiện qua việc giảm hệ số FCR, tăng tốc độ tăng trưởng và cải thiện chất lượng thịt. Trong bối cảnh giá nguyên liệu thức ăn liên tục biến động, dinh dưỡng chính xác giúp doanh nghiệp duy trì

BÁCH

Lạc đà Alpaca

lợi nhuận và nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngoài ra, việc giảm dư thừa dinh dưỡng còn góp phần giảm phát thải ra môi trường, phù hợp với xu hướng chăn nuôi bền vững.

Công nghệ quản lý sinh sản và dữ liệu: Nền tảng của trang trại số

Sự phát triển của công nghệ số đã mở ra một hướng đi mới cho ngành chăn nuôi, trong đó dữ liệu trở thành yếu tố trung tâm. Các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là Masan, đã triển khai hệ thống phần mềm quản lý đàn tích hợp, cho phép theo dõi toàn bộ quá trình sinh sản và tăng trưởng của vật nuôi. Thông qua hệ thống này, các chỉ số như chu kỳ động dục, lịch phối giống, tỷ lệ đậu thai, số con sơ sinh và tỷ lệ sống đều được ghi nhận và phân tích tự động. Việc ứng dụng dữ liệu lớn giúp doanh nghiệp phát hiện sớm các vấn đề và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Một minh chứng cụ thể là việc tối ưu quản lý sinh sản đã giúp doanh nghiệp tăng thêm khoảng 24.000 con heo mỗi năm, tương đương doanh thu bổ sung khoảng 180 tỷ đồng. Đây là con số cho thấy hiệu quả rõ rệt của chuyển đổi số trong chăn nuôi. Trong tương lai, khi tích hợp trí tuệ nhân tạo, hệ thống này có thể dự báo dịch bệnh, tối ưu khẩu phần ăn và tự động điều chỉnh môi trường nuôi, tiến tới mô hình trang trại hoàn toàn tự động.

LÊ CUNG

(Tổng hợp)

Là một cuốn cẩm nang kỹ thuật thiết thực và súc tích dành cho những ai quan tâm đến mô hình chăn nuôi nhím và dúi - hai loài vật nuôi đặc sản đang ngày càng được nhiều nông hộ và trang trại nhỏ lựa chọn vì sức chịu đựng tốt, thích nghi nhanh và tiềm năng kinh tế hấp dẫn. Nội dung chính của sách bao gồm hướng dẫn chi tiết từ khâu chọn giống khỏe mạnh đến cách xây dựng chuồng trại phù hợp, bố trí dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển và kỹ thuật nuôi sinh sản hiệu quả để đạt được năng suất cao. Ngoài ra, cuốn sách nhấn mạnh các yếu tố thực tiễn để ứng dụng ngay trong trang trại nhỏ hoặc hộ gia đình, đồng thời chỉ ra lợi ích kinh tế lâu dài của việc nuôi nhím và dúi nếu thực hiện đúng kỹ thuật.

Sách do Nhà xuất bản Thanh Hóa phát hành! THẢO ANH

Là một loài động vật thân thiện và

dễ thương, có nguồn gốc từ vùng núi Andes, Nam Mỹ. Chúng thuộc họ lạc đà, có bộ lông dày, mềm mại, nổi tiếng vì chất lượng sợi len rất cao. Alpaca có thân hình nhỏ nhắn, bốn chân chắc khỏe, cổ dài và khuôn mặt biểu cảm với đôi mắt to tròn, tạo cảm giác dễ mến. Tính cách của Alpaca hiền lành, tò mò và rất thân thiện với con người, chúng thường sống theo đàn và thể hiện hành vi xã hội rõ rệt như cọ sát nhau, phát ra âm thanh đặc trưng để giao tiếp. Chúng ăn thực vật, chủ yếu là cỏ và các loại cây mềm, dễ nuôi và thích nghi tốt với môi trường khắc nghiệt của vùng núi cao. Ngoài việc cung cấp len chất lượng, Alpaca còn được nuôi làm thú cảnh và dùng trong du lịch sinh thái, mang lại trải nghiệm gần gũi với thiên nhiên.

KHOA THƯ

Giải pháp ổn định thức ăn chăn nuôi

Vitamin A và D3 là các vi chất thiết yếu nhưng nhạy cảm với nhiệt, ánh sáng và ôxy. Công nghệ vi nang tiên tiến chính là chìa khóa bảo vệ hoạt tính sinh học, tăng độ ổn định và khả năng hấp thu vitamin trong thức ăn chăn nuôi.

Tính nhạy cảm

Vitamin A (retinol) và Vitamin D3 (cholecalciferol) là những vi chất quan trọng trong dinh dưỡng động vật. Vitamin A hỗ trợ thị lực, duy trì tính nguyên vẹn của biểu mô, tăng cường chức năng miễn dịch và đảm bảo khả năng sinh sản. Trong khi đó, Vitamin D3 điều hòa cân bằng canxi-phospho thông qua chất chuyển hóa hoạt động calcitriol, từ đó duy trì cấu trúc xương và sự phát triển bình thường.

Thiếu hụt Vitamin A và D3 thường gây ra các rối loạn như tăng trưởng chậm, suy giảm thị lực và loãng xương ở động vật. Đồng thời, retinol và cholecalciferol rất nhạy cảm với nhiệt độ cao, ánh sáng và ôxy, khiến chúng dễ bị phân hủy và tạo ra thách thức đáng kể trong quá trình sản xuất và bảo quản thức ăn, đòi hỏi các giải pháp ổn định tiên tiến để duy trì hoạt tính sinh học.

Về cơ chế phân hủy, retinol sở hữu vòng β-ionone cùng chuỗi polyene với các liên kết đôi liên hợp, khiến nó rất dễ bị ôxy hóa và chuyển dạng đồng phân. Cholecalciferol, một secosteroid, có hệ vòng sterol với liên kết đôi ngoại vòng và nhóm hydroxyl, cũng nhạy cảm với quá trình ôxy hóa. Cả hai phân tử đều ưa mỡ và có xu hướng phân hủy thông qua các cơ chế quang hóa và ôxy hóa, đặc biệt trong các giai đoạn sản xuất premix, ép viên và bảo quản. Khi tồn tại trong hỗn hợp chưa được bảo vệ, chúng có thể tương tác với nhau, làm gia tăng tốc độ phân hủy thông qua các gốc ôxy hoạt tính.

Ngoài cơ chế phân hủy nội tại, các yếu tố môi trường như ánh sáng UV, nhiệt độ cao,

ôxy và biến động pH cũng tác động trực tiếp đến hoạt tính của Vitamin A và D3.

Công nghệ vi nang và cơ chế bảo vệ

Công nghệ vi nang (microencapsulation) do BASF phát triển cung cấp giải pháp bảo vệ vitamin trước các tác nhân môi trường. Trong quy trình này, retinyl acetate và cholecalciferol được nhũ hóa trong dầu hướng dương cùng với chất chống ôxy hóa BHT, sau đó nhũ tương được phun vào buồng nóng để tạo thành các hạt hình cầu có đường kính 300 µm. Những hạt này tiếp tục được phủ silica lạnh và sấy khô cùng đường và protein đóng vai trò như hàng rào ngăn chặn độ ẩm, ôxy và ánh sáng, từ đó duy trì hoạt tính sinh học của vitamin. Sản phẩm cuối cùng, Lutavit A/D3 1000/200 NXT, là dạng bột hạt mịn, thuận tiện cho việc phối trộn vào thức ăn chăn nuôi.

Hiệu quả của công nghệ vi nang đã được xác nhận thông qua các thử nghiệm ổn định dưới điều kiện 40°C và 75% độ ẩm tương đối. Kết quả cho thấy sau 6 tháng, Lutavit A/ D3 1000/200 NXT vẫn giữ lại khoảng 85% hoạt tính ban đầu của Vitamin A, trong khi Vitamin D3 hầu như không bị phân hủy. Hệ thống bao vi nang kết hợp với bao bì sản phẩm còn giúp hạn chế tiếp xúc với các tác

nhân môi trường, nhờ đó nâng cao độ bền của vitamin trong suốt quá trình lưu trữ và sử dụng.

Chiến lược đồng hợp chế

Việc đồng hợp chế Vitamin A và D3 mang lại nhiều lợi ích thực tiễn trong sản xuất thức ăn chăn nuôi. Công nghệ vi nang không chỉ ổn định đồng thời cả hai vitamin nhờ khả năng bảo vệ các đường phân hủy chung, mà còn tận dụng kinh nghiệm từ công nghệ đã được chứng minh trước đó trong Lutavit A 1000 NXT. Tỷ lệ phối trộn cố định 5:1 giữa A và D3 đảm bảo phân bố đồng đều trên nhiều loại thức ăn và loài vật nuôi. Đồng thời, sản phẩm mới cải thiện độ chảy, giảm bụi và giảm số lượng nguyên liệu cần sử dụng, giúp tối ưu hóa quy trình phối trộn và rút ngắn chu kỳ sản xuất. Việc kết hợp hai vitamin trong cùng một công thức còn tiết kiệm không gian lưu trữ và giảm công tác xử lý, đặc biệt phù hợp với những cơ sở có hạn chế về điều kiện kiểm soát khí hậu. Vi nang Vitamin A và D3 là một giải pháp kỹ thuật tiên tiến, hiệu quả trong việc khắc phục sự không ổn định của các vi chất hòa tan trong mỡ trong thức ăn chăn nuôi. Sản phẩm Lutavit A/D3 1000/200 NXT minh chứng cách công nghệ phối trộn hiện đại bảo vệ nguyên vẹn hoạt tính của vitamin, đảm bảo cung cấp ổn định cho vật nuôi, đồng thời hỗ trợ sức khỏe và nâng cao hiệu quả sản xuất chăn nuôi.

DŨNG NGUYÊN (Theo Feed&Additives)

Thách thức chu kỳ đẻ kéo dài

Hiện nay, các nhà sản xuất trứng thương mại tập trung tối đa hóa sản lượng mà vẫn giữ chất lượng vỏ trong một chu kỳ đẻ. Nhiều trang trại đã đạt được 500 trứng trong 100 tuần nhờ tối ưu giống, quản lý và dinh

dưỡng, minh chứng cho hiệu suất mà 10 - 20 năm trước còn khó tưởng tượng.

Gà siêu trứng là những cá thể năng suất cao, gần như đẻ mỗi ngày. Tuy nhiên, trứng chỉ có giá trị thương mại khi vỏ đảm bảo chất lượng, vì vỏ kém sẽ gây tổn thất kinh tế đáng kể. Vỏ trứng hình thành chủ yếu từ canxi, huy động từ thức ăn và dự trữ trong xương. Nhờ yếu tố di truyền, tỷ lệ khối lượng vỏ so với tổng khối lượng trứng hầu như không đổi, nên khi trứng lớn hơn, vỏ sẽ mỏng đi. Với thành phần vỏ chứa tới 96% canxi cacbonat, việc cung cấp đủ canxi là điều kiện thiết yếu để duy trì độ bền và ổn định của vỏ trứng.

Khi gà già, độ dày vỏ giảm do khả năng cung cấp canxi suy giảm, dẫn đến vỏ kém bền và nhiều trứng bị nứt hoặc dị dạng. Trong nửa đầu chu kỳ đẻ, tỷ lệ trứng vỡ hầu như không đáng kể, nhưng ở giai đoạn sau, con số này tăng rõ rệt, đòi hỏi can thiệp bằng dinh dưỡng hoặc quản lý chặt chẽ.

Nâng cao chất lượng vỏ

Độ bền vỏ trứng không chỉ phụ thuộc vào kích thước trứng, mà còn vào khả năng hấp thu, huy động và vận chuyển canxi. Vitamin D là phân tử thiết yếu, kích hoạt vận chuyển canxi và điều chỉnh tốc độ hấp thu. Do đó,

Vitamin D hoạt hóa tối ưu năng suất và độ bền vỏ trứng

Trong chăn nuôi gà đẻ, duy trì chu kỳ 100 tuần với 500 trứng mỗi con đồng nghĩa bảo đảm vỏ trứng chắc khỏe suốt thời gian dài. Ở gà lâu năm, khả năng chuyển hóa canxi giảm cũng giới hạn năng suất. Vitamin D hoạt hóa đóng vai trò then chốt, hỗ trợ hấp thu và vận chuyển canxi, giúp giữ vỏ trứng bền chắc và duy trì hiệu suất đẻ ổn định.

việc bổ sung Vitamin

D kết hợp với canxi

cần được duy trì

xuyên suốt chu kỳ

sản xuất.

Ở gà già, chức năng gan và thận suy

giảm do tác động môi trường, làm giảm sản xuất enzym chuyển hóa Vitamin D và cạn kiệt dự trữ canxi trong xương. Trong tình huống này, Vitamin D dạng hoạt hóa từ thực vật (Active D) là giải pháp hiệu quả, vì cung cấp trực tiếp các glycoside Vitamin D đã được hoạt hóa, sẵn sàng sử dụng mà không cần chuyển hóa. Ưu điểm này giúp duy trì khả năng huy động canxi từ thức ăn trong các giai đoạn quan trọng, đảm bảo đủ canxi cho quá trình hình thành vỏ trứng.

hoạt hóa/tấn thức ăn. Từ tuần thứ 60, các chỉ số được theo dõi gồm sản lượng trứng, độ bền vỏ và độ dày vỏ trứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở cả hai nhóm thử nghiệm, độ dày vỏ trứng được duy trì ổn định trong suốt quá trình, trong khi nhóm đối chứng giảm rõ rệt vào tuần thứ 80.

Nghiên cứu trên gà lông màu

Một nghiên cứu tại Đại học Sydney (University of Sydney) với 240 gà lông màu Hy-Line, 55 tuần tuổi, được nuôi tại cơ sở cao tầng của trường, đã đánh giá hiệu quả của Vitamin D dạng hoạt hóa. Sau 5 tuần thích nghi với thức ăn thương mại tiêu chuẩn, gà được chia thành ba nhóm: nhóm đối chứng với mức Vitamin D tiêu chuẩn; nhóm thử nghiệm 1 bổ sung 75 g Vitamin D3 dạng hoạt hóa/tấn thức ăn; nhóm thử nghiệm 2 bổ sung 125 g Vitamin D3 dạng

Việc bổ sung Vitamin D3 dạng hoạt hóa giúp tăng hấp thu và vận chuyển canxi tới vỏ trứng, duy trì chất lượng vỏ. Tỷ lệ khối lượng và độ dày vỏ được cải thiện rõ rệt, chứng minh hiệu quả của Vitamin D dạng hoạt hóa với gà già. Đồng thời, năng suất đẻ duy trì ổn định, cho thấy tổng sản lượng không giảm. Những kết quả này minh chứng Active D là giải pháp hiệu quả, hỗ trợ các nhà sản xuất đạt mục tiêu 100 tuần tuổi và 500 trứng mỗi con, đồng thời kéo dài thời gian sản xuất kinh tế bền vững.

Nuôi gà dưới tán quế giúp nông dân Lào Cai thu tiền tỷ mỗi năm

Tận dụng gần 3 ha rừng quế sẵn có, kiên trì đổi mới cách chăn nuôi suốt nhiều năm, ông Mai Văn Chung ở xã Bảo Nhai (tỉnh Lào Cai) đã xây dựng thành công mô hình nuôi gà thả rừng quy mô lớn. Mỗi năm, hàng chục tấn gà thương phẩm từ khu rừng quế thơm được đưa ra thị trường, mang lại doanh thu khoảng 1,4 tỷ đồng.

Sinh ra và lớn lên tại vùng đất Bảo Nhai, ông Mai Văn Chung, thôn Nậm Khắt Trong gắn bó với nghề chăn nuôi gà hơn 20 năm qua. Từ những bước đi ban đầu đầy khó khăn, đến nay ông đã xây dựng được mô hình nuôi

gà thả dưới tán rừng quế quy mô lớn, mang lại nguồn thu ổn định cho gia đình.

Ông Chung kể, năm 2007, khi nhiều hộ dân địa phương vẫn chủ yếu sản xuất nương rẫy, gia đình ông mạnh dạn thử nghiệm nuôi

gà lông trắng với khoảng 5.000 con. Thời

điểm đó, hình thức chăn nuôi này còn khá mới ở địa phương, chuồng trại chưa được

đầu tư bài bản, kinh nghiệm còn hạn chế nên việc chăn nuôi gặp nhiều khó khăn.

“Ngày đó chủ yếu vừa làm vừa học, thất bại cũng không ít. Có khi được lứa thì mất giá, có lúc giá tốt lại gặp dịch bệnh”, ông Chung nhớ lại.

Thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, dịch bệnh thường xuyên xảy ra khiến không ít lần đàn gà bị thiệt hại. Tuy nhiên, thay vì bỏ cuộc, ông Chung kiên trì bám nghề, rút kinh nghiệm qua từng vụ nuôi.

Đến khoảng năm 2013, nhận thấy mô hình nuôi gà lông trắng trong chuồng kín tiềm ẩn nhiều rủi ro và phụ thuộc lớn vào thị trường, ông Chung quyết định chuyển sang nuôi giống gà J của Công ty Dabaco, kết hợp thả đồi. Đây cũng là bước ngoặt giúp mô hình chăn nuôi của gia đình dần phát triển theo hướng hàng hóa.

Hiện nay, mỗi lứa gia đình ông Chung nuôi khoảng 10.000 - 12.000 con gà. Mỗi năm xoay vòng hai vụ chính, tổng sản lượng gà thương phẩm đạt hàng chục nghìn con. Riêng năm 2025, gia đình ông đã xuất bán ra thị trường khoảng 20 tấn gà thịt, với giá trung bình khoảng 70.000 đồng/kg, mang lại doanh thu khoảng 1,4 tỷ đồng.

Điểm đặc biệt trong mô hình chăn nuôi

của ông Chung là sự kết hợp giữa hệ thống chuồng trại kiên cố và không gian thả tự

nhiên dưới tán rừng

quế. Gia đình hiện có

4 khu chuồng nuôi

với tổng diện tích gần

1.300 m². Trong đó có

một chuồng dưới nhà

rộng khoảng 67 m², một chuồng lớn đặt phía trên khu rừng quế rộng khoảng 675 m² và hai chuồng

nhỏ, mỗi chuồng khoảng 300 m². Các khu chuồng được bố trí tách biệt để thuận tiện phân đàn và cách ly từng lứa gà. Sau khi nhập giống, gà con được nuôi úm trong chuồng khoảng một tháng để thích nghi với môi trường, sau đó mới thả ra khu vườn rừng rộng gần 3 ha. Theo ông Chung, việc thả gà sớm giúp đàn gà vận động nhiều, thích nghi với môi trường tự nhiên, nhờ đó thịt săn chắc hơn, chất lượng tốt hơn so với nuôi hoàn toàn trong chuồng. Không gian thả gà được tận dụng từ khu rừng quế và quế mỡ của gia đình. Các lứa gà được phân chia khu vực riêng, tuyệt đối không nuôi lẫn gà lớn với gà nhỏ. Gà mái và gà trống cũng được tách riêng nhằm hạn chế dịch bệnh và giúp đàn gà phát triển đồng đều.

Ngoài chăn nuôi gà, gia đình ông còn kết hợp nuôi heo thịt. Mỗi lứa xuất bán khoảng 60 con, góp phần đa dạng nguồn thu. Tuy nhiên theo ông Chung, chăn nuôi heo chịu tác động lớn từ biến động giá thị trường và dịch bệnh, vì vậy gà vẫn là vật nuôi chủ lực của gia đình.

Sau hơn hai thập kỷ gắn bó với nghề, ông Chung cho rằng, để chăn nuôi bền vững, người nông dân không thể làm theo kiểu nhỏ lẻ, manh mún mà cần đầu tư bài bản từ chuồng trại, con giống, thức ăn đến phòng chống dịch bệnh.

Ông Chung cho biết, với chăn nuôi quy mô lớn, phòng bệnh luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Gia đình luôn tuân thủ nghiêm ngặt lịch tiêm vaccine cho đàn gà, đồng thời kiểm soát chặt chẽ nguồn giống đầu vào. Chuồng trại được xử lý bằng đệm lót sinh học, thường xuyên rắc men vi sinh để giảm mùi hôi, hạn chế mầm bệnh và bảo vệ môi trường. “Nuôi nhiều thì phải giữ chuồng trại sạch sẽ. Chuồng bẩn là dịch bệnh dễ phát sinh ngay”, ông Chung nhấn mạnh.

“Nuôi quy mô lớn thì lợi nhuận cao hơn, nhưng rủi ro cũng lớn. Người nuôi phải tính toán cẩn thận và làm đúng kỹ thuật”, ông Chung tâm sự.

Được biết, mô hình nuôi gà dưới tán rừng quế của gia đình ông Chung không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn tạo việc làm cho lao động địa phương. Đồng thời, mô hình này cũng góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân vùng cao Bảo Nhai, từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang phát triển theo hướng hàng hóa, có quy mô và ứng dụng kỹ thuật. KHÁNH NGUYỄN

“Mạch sống”

hệ thống gia cầm

Arkansas

Nhà máy thức ăn chăn nuôi hiện đại tại Danville đang

trở thành “trái tim” của chuỗi sản xuất gia cầm tại

thung lũng sông Arkansas, giúp nâng công suất, tăng

độ ổn định sản xuất và tạo thêm cơ hội cho hàng trăm

nông hộ trong khu vực.

Đầu tư lớn để nâng cấp chuỗi sản xuất gia cầm

Tập đoàn gia cầm Mỹ Wayne-Sanderson Farms vừa hoàn tất việc thay thế nhà máy thức ăn chăn nuôi gần 60 năm tuổi tại

Danville bằng một cơ sở hoàn toàn mới, đánh dấu bước chuyển mạnh sang mô hình sản xuất hiện đại với mức đầu tư khoảng 43 triệu USD.

Nhà máy mới cao 171 feet (khoảng 52 m), tương đương 8 tầng, nổi bật giữa khu tổ hợp chăn nuôi khép kín rộng khoảng 8,5 ha gồm nhà máy chế biến, trại ấp và khu sản xuất thức ăn. Việc các bộ phận chủ chốt đặt trong cùng một khu phức hợp giúp các nhóm quản lý phối hợp trực tiếp, rút ngắn quy trình vận hành và tăng hiệu quả điều hành chuỗi sản xuất.

Theo lãnh đạo Công ty, nhà máy thức ăn là “mạch sống” của toàn bộ hệ thống chăn nuôi gà. Việc đầu tư cơ sở mới không chỉ nhằm thay thế tài sản cũ đã xuống cấp, mà còn chuẩn bị năng lực cho giai đoạn tăng trưởng dài hạn của ngành gia cầm tại vùng thung lũng sông Arkansas.

Khi vận hành tối đa, nhà máy có thể sản xuất tới 8.500 tấn thức ăn mỗi tuần, phục vụ mạng lưới 128 trang trại gia đình chăn nuôi gia công trong bán kính khoảng 60 km. Công nghệ mới cho phép nâng cao độ chính xác trong dinh dưỡng, cải thiện năng suất đàn gà và giảm rủi ro gián đoạn sản xuất.

Công nghệ tự động hóa và quản lý chất

lượng toàn diện

So với nhà máy cũ, cơ sở mới có năng lực

sản xuất vượt trội ở hầu hết các chỉ số. Hai dây chuyền ép viên công suất 45 tấn/giờ kết

hợp với hệ thống trộn hai trục hiện đại có thể đạt năng suất trộn khoảng 120 tấn mỗi giờ, cao hơn gấp đôi so với hệ thống trước đây. Kho chứa thức ăn thành phẩm cũng được mở rộng lên 1.200 tấn, tạo vùng đệm quan trọng khi nhu cầu tăng cao hoặc khi thời tiết cực đoan xảy ra.

Khu vực tiếp nhận nguyên liệu được thiết kế để xử lý hoàn toàn bằng xe tải, mỗi ngày tiếp nhận khoảng 35 xe ngô và 15 xe khô đậu tương. Hầu hết nguồn ngô tới 99% được thu mua trong phạm vi 250 km quanh khu vực, tận dụng lợi thế nguồn nguyên liệu địa phương.

Tại đây, nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất đều được kiểm tra chặt chẽ. Các xe chở ngũ cốc được lấy mẫu, quan sát trực tiếp và phân tích để phát hiện độc tố nấm mốc như aflatoxin. Hệ thống phân tích quang phổ giúp xác định chính xác hàm lượng protein và chất béo trong nguyên liệu, trong khi thiết bị kiểm tra độ bền viên cám đánh giá chất lượng sản phẩm cuối cùng.

Toàn bộ dây chuyền sản xuất được điều khiển bởi hệ thống tự động hóa CPM Beta Raven, từ khâu tiếp nhận nguyên liệu, nghiền, trộn cho tới đóng tải. Nhà máy hiện sản xuất 9 công thức thức ăn khác nhau, đáp ứng từng giai đoạn phát triển của đàn gia cầm từ gà giống non đến gà thịt trước khi xuất chuồng.

Sau khi hoàn thiện, thức ăn được chuyển tới sáu silo trên cao và nạp vào xe vận chuyển thông qua hệ thống trolley tự động. Xe tải

được cân trước và sau khi nạp hàng để đảm bảo chính xác lượng thức ăn giao cho từng trang trại. Với khoảng cách vận chuyển ngắn và hệ thống logistics tối ưu, thức ăn có thể

Khu tổ hợp gia cầm của WayneSanderson Farms đang ứng dụng công nghệ cảm biến của BinSentry để theo dõi tồn kho thức ăn tại các trang trại chăn nuôi gia công theo thời gian thực. Hệ thống này cho phép nhà máy cám tại Danville nắm được chính xác lượng thức ăn còn lại tại từng trại, từ đó chủ động lên kế hoạch vận chuyển và cung ứng kịp thời. Mỗi silo thức ăn tại trang trại đều được lắp cảm biến đo mức cám, dữ liệu được cập nhật khoảng hai giờ một lần và truyền trực tiếp về hệ thống điều phối của nhà máy. Các nhà quản lý cũng có thể kiểm tra lượng cám từ xa thông qua ứng dụng di động, giúp dự báo nhu cầu trong 24 giờ tới và đảm bảo đàn gà luôn có thức ăn. Sau khi áp dụng hệ thống BinSentry, khu tổ hợp đã hơn 14 tuần liên tiếp không xảy ra tình trạng thiếu cám cuối tuần, giảm khoảng 25 chuyến xe vận chuyển mỗi năm, tiết kiệm đáng kể chi phí logistics.

được phân phối nhanh chóng tới các trang trại, duy trì nguồn cung ổn định cho toàn bộ chuỗi sản xuất.

Sự kết hợp giữa công nghệ tự động hóa, kiểm soát chất lượng chặt chẽ và năng lực sản xuất lớn đang biến cơ sở tại Danville thành một mô hình tiêu biểu của ngành gia cầm Mỹ, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của các trang trại gia đình trong khu vực.

Thepoultrysite)

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook