1 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
ĐẶC SAN CỦA HIỆP HỘI GIA CẦM VIỆT NAM
SỐ 113 THÁNG 10/2026
“CUỘC ĐUA”
CHẤT LƯỢNG VÀ CÔNG NGHỆ
Ảnh: Dabaco
>>20-21
Special Issue Animal Farming www.nguoichannuoi.vn
Giá: 30.000 đ
2 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
3 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
4 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
5 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
6 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
7 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
8
MỤC LỤC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Ảnh: ST
MỤC LỤC
9
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
50
10
MỤC LỤC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
ĐẶC SAN CƠ QUAN CHỦ QUẢN Hiệp hội Gia cầm Việt Nam HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TS. Nguyễn Quý Khiêm Nhà báo Dương Xuân Hùng Nhà báo Đỗ Huy Hoàn Thư ký tòa soạn Nguyễn Chi TỔNG BIÊN TẬP TS. Nguyễn Thanh Sơn TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP Nhà báo Đỗ Huy Hoàn HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GS.TS. Nguyễn Duy Hoan; PGS.TS. Phạm Kim Đăng; PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn; PGS.TS. Ngô Thị Kim Cúc; PGS.TS. Lê Văn Năm; TS. Lê Minh Lịnh; TS. Bạch Quốc Thắng; TS. Hoàng Tuấn Thành CỘNG TÁC NỘI DUNG Thu Hồng; Vũ Mưa; Kim Tiến; Phan Thanh Cường; Nguyên Anh; Hoàng Vũ; Minh Thanh; Dương Nghĩa; Lê Cung; Thùy Khánh; Sao Mai; Quỳnh Nga... MỸ THUẬT: Nguyễn Nam Sơn KỸ THUẬT VI TÍNH: Sao Mai TÒA SOẠN P906, tầng 9, Tòa nhà CT4, The Pride, KDT An Hưng, phường Hà Đông, Hà Nội. Điện thoại: 0243 77 11 756; Email: nguoichannuoivn@gmail.com Website: nguoichannuoi.vn TRỊ SỰ Nguyễn Thanh Đức GIẤY PHÉP XUẤT BẢN: 156/GP-XBĐS Khuôn khổ: 23,5 x 31 cm Nơi in: Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (TP HCM) LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: Ms. Ánh: 0963 555 554 Ms. Ngọc: 098 999 1977 Ms. Na: 0978 233 492 Email: quangcaoncn@gmail.com LIÊN HỆ ĐẶT BÁO: Ms. Ngọc Ánh: 0963 555 554 Email: phathanhtggc@mail.com SỐ TÀI KHOẢN: 261.10.00.3454936 Tên tài khoản ngân hàng: TẠP CHÍ THẾ GIỚI GIA CẦM Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Tràng An Swift code: BIDV VNVX. CITAD: 012022001 Địa chỉ Ngân hàng: Số 11 Cửa Bắc, phường Ba Đình, TP. Hà Nội Ấn phẩm sử dụng sản phẩm giấy thân thiện với môi trường.
Thưa quý vị bạn đọc! Theo số liệu mới nhất từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính chung 9 tháng năm 2026, sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng ước đạt gần 4,28 triệu tấn (tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước), sản lượng thịt gia cầm đạt hơn 2,02 triệu tấn (tăng 5,3%). Thị trường ghi nhận sự bứt phá về sản lượng, song chi phí thức ăn đầu vào gia tăng vẫn đang tạo áp lực lớn lên hiệu quả kinh tế của hộ nuôi. Một thực tế hiện nay của ngành chăn nuôi, đó là vấn đề chăn nuôi nhỏ lẻ tại các khu vực dân cư, đô thị bộc lộ nhiều bất cập và Việt Nam đã xây dựng lộ trình di dời những cơ sở này; điều này đặt ngành nông nghiệp nước ta trước một cuộc chuyển dịch quy mô chưa từng có. Giữa tâm bão của những thách thức về sinh kế và mặt bằng, cái nhìn thấu đáo sang hệ thống luật pháp của Trung Quốc và Thái Lan sẽ mang lại những gợi ý mang tính bước ngoặt. Những tư duy quản trị bằng công nghệ, phân nhóm rủi ro và dùng đòn bẩy kinh tế thay cho các mệnh lệnh hành chính thô sơ không chỉ là lời giải cho áp lực đất đai, mà còn mở ra tầm nhìn mới về một nền nông nghiệp hiện đại, nhân văn và bền vững. TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, đã có bài viết phân tích chuyên sâu về vấn đề này với tiêu đề “Hành trình ly hương của ngành chăn nuôi: Bài học từ các cường quốc láng giềng” trên số báo Người Chăn nuôi phát hành kỳ tháng 10, mời độc giả đón đọc. Cùng với đó, từ cuộc đua tăng đàn, tăng sản lượng, ngành chăn nuôi đang bước vào một cuộc cạnh tranh khác, nơi chất lượng, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc và mức độ thân thiện với môi trường ngày càng quyết định giá trị sản phẩm. Như chia sẻ của đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y, ngành sẽ tập trung vào 3 nhóm giải pháp trọng tâm: Một là, phát triển công nghệ đầu vào và hạ tầng sản xuất, nâng cao năng lực chọn tạo giống, phát triển công nghiệp thức ăn chăn nuôi, thiết bị trong nước, đồng thời thúc đẩy chăn nuôi tuần hoàn và an toàn sinh học. Hai là, chuyển mạnh từ chữa bệnh sang phòng bệnh, xây dựng đàn vật nuôi khỏe mạnh, sạch bệnh, qua đó giảm thiệt hại và chi phí sản xuất. Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu chăn nuôi quốc gia để phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc, dự báo thị trường và kiểm soát dịch bệnh. Trong giai đoạn cuối năm 2026 và đầu năm 2027, doanh nghiệp, người chăn nuôi heo và gia cầm cần tránh tình trạng tăng đàn tự phát nhằm hạn chế những rủi ro về thị trường và dịch bệnh diễn biến phức tạp. Cần chuyển trọng tâm từ kích thích tăng đàn sang điều tiết cung cầu, nâng năng suất, giảm giá thành và nâng chất lượng sản phẩm - đây chính là nền tảng cốt lõi giúp ngành chăn nuôi gia tăng sức bền nội địa và từng bước tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị thực phẩm toàn cầu. Như thường lệ, ấn phẩm Người Chăn nuôi tiếp tục cung cấp đến độc giả những diễn biến của thị trường chăn nuôi trong nước, quốc tế; hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp; đặc biệt là các mô hình sản xuất hiệu quả mang lại lợi nhuận cao và bền vững cho người nuôi; và nhất là những thông tin hữu ích về giải pháp khoa học công nghệ đang được ứng dụng mạnh mẽ. Mời quý độc giả đón đọc! Trân trọng!
BAN BIÊN TẬP
MỤC LỤC
11
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
14 Văn bản cuộc sống Sử dụng kháng sinh có trách nhiệm
16 Theo dòng thời sự Giải pháp “xanh” cho chăn nuôi phát thải thấp 22
18 Vấn đề chuyên đề Hành trình “ly hương” của ngành chăn nuôi: Bài học từ các cường quốc láng giềng 24 Thị trường Trứng gia cầm: Từ định kiến “cholesterol” đến siêu thực phẩm được khoa học giải oan
45
46 Thông tin doanh nghiệp Bắt kịp xu hướng an toàn thực phẩm 56 Khoa học kỹ thuật Dữ liệu AI mở kỷ nguyên ngành trứng 48
12
TIN TỨC SỰ KIỆN NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Top 10 doanh nghiệp uy tín ngành nông nghiệp công nghệ cao 2026 Ngày 5/10, Vietnam Report công bố Top 10 Công ty uy tín ngành nông nghiệp công nghệ cao năm 2026 (ảnh bên). Theo bảng xếp hạng này, có rất nhiều thương hiệu đến từ lĩnh vực chăn nuôi. Cụ thể: Công ty CP GreenFeed Việt Nam giữ vị trí đầu tiên. Đứng thứ hai là Công ty CP Thành Thành Công - Biên Hòa (Agris), tiếp đến là Công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam. Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai; Công ty CP Tập đoàn Dabaco Việt Nam; Công ty CP Nông nghiệp BAF Việt Nam; Công ty CP Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam; Công ty TNHH MTV Bò sữa Việt Nam; Công ty CP Phát triển Nông nghiệp Hòa Phát và Công ty CP Thức ăn chăn nuôi Vina - Hà Nam. Theo Vietnam Report, điểm đáng chú ý của nông nghiệp công nghệ cao hiện nay không còn nằm đơn thuần ở việc doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu công nghệ, mà là công nghệ có tạo ra hiệu quả kinh tế đủ lớn để tiếp tục đầu tư và nhân rộng hay không.
NGỌC ANH
Vinh danh 42 nhà khoa học của nhà nông, trao 24 giải nông dân sáng tạo Ngày 2/10, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của nhà nông” lần thứ VII. Theo Ban tổ chức, năm nay có 42 cá nhân được lựa chọn từ để cử của 25 tỉnh, thành phố và các cơ quan Trung ương. Cùng được tôn vinh có những nông dân nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật từ nhu cầu sản xuất. Trong đó, ông Hoàng Đình Quê, ở phường Tân An, tỉnh Bắc Ninh, được ghi nhận với sáng kiến quản lý chất thải trong trang trại chăn nuôi heo theo hướng kinh tế tuần hoàn. Giải pháp góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất tại trang trại có doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Dịp này Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cũng trao giải cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc lần thứ XI. Cuộc thi đã chọn ra 24 giải pháp xuất sắc từ 83 hồ sơ trong ba nhóm lĩnh vực: cơ khí và chế biến; chăn nuôi và thủy sản; trồng trọt, sinh học và môi trường.
HỒNG HẠNH
KHOA CHĂN NUÔI
70 năm vun đắp truyền thống, kiến tạo tương lai Sáng 9/10 tại Hà Nội, Khoa Chăn nuôi (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm thành lập (12/10/1956 12/10/2026), đánh dấu chặng đường đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ ngành chăn nuôi. Trải qua 70 năm xây dựng và phát triển, Khoa đã đào tạo hơn 7.000 kỹ sư, cử nhân cùng hàng trăm thạc sĩ, tiến sĩ. Nhiều thế hệ người học hiện đảm nhiệm các vị trí trong cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Nổi bật trong thành tựu nghiên cứu của Khoa là công trình về heo lai được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000. Hiện, Khoa đẩy mạnh đổi mới chương trình đào tạo, ứng dụng công nghệ số, mở rộng hợp tác với hơn 100 doanh nghiệp và tăng cường nghiên cứu gắn với thực tiễn sản xuất. Chương
trình đào tạo ngành chăn nuôi đạt chuẩn AUN-QA năm 2021; ngành chăn nuôi thú y được kiểm định chất lượng năm 2025. Hướng tới năm 2030, Khoa đặt mục tiêu trở thành một trong những trung tâm hàng đầu về đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chăn nuôi tại Việt Nam và khu vực châu Á.
THÙY KHÁNH
Cơ hội từ ngành học Quản lý trang trại thông minh Ngày 29/9/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 77/2026/TT-BGDĐT về Danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/12/2026. So với Danh mục cũ tại Thông tư 26/2020/TT-BLĐTBXH, quy định mới được xây dựng theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng, cập nhật nhiều ngành, nghề gắn với phát triển công nghệ cao và xác lập cơ chế thường xuyên rà soát, bổ sung. Cụ thể, Quản lý trang trại thông minh có mã ngành 620133 là một ngành mới được đào tạo ở các trình độ giáo dục trung học nghề, trung cấp và cao đẳng. Người theo hướng Quản lý trang trại thông minh có thể hình dung công việc tương lai không chỉ xoay quanh kiến thức về cây trồng, vật nuôi mà còn cần khả năng quản lý quy trình sản xuất, nhân sự, chi phí, dữ liệu và các hệ thống công nghệ được sử dụng tại trang trại.
DIỆU AN
Hơn 10.000 tấn heo nhiễm chất cấm đã được đưa ra thị trường Ngày 5/10, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP Hồ Chí Minh cho biết, vừa triệt phá đường dây sử dụng chất cấm trong chăn nuôi quy mô đặc biệt lớn, đưa hơn 10.000 tấn heo ra thị trường, trị giá trên 600 tỷ đồng. Kết quả điều tra bước đầu xác định, từ tháng 1/2026 bằng nhiều thủ đoạn, các đối tượng đã đưa hơn 10.000 tấn heo có sử dụng chất cấm tạo nạc ra thị trường tiêu thụ, ước tính giá trị trên 600 tỷ đồng, thu lợi nhiều tỷ đồng. Số heo trên được tiêu thụ tại địa bàn
TIN TỨC SỰ KIỆN
13
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và một số tỉnh, thành phía Nam. Liên quan vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã khởi tố vụ án về 4 tội danh gồm: “Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm”, “Buôn bán hàng cấm”, “Đưa hối lộ” và “Nhận hối lộ”; đồng thời khởi tố, bắt tạm giam 9 bị can.
MỘC LAN
Nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng mạnh 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi 3,43 tỷ USD nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu, giảm nhẹ 1,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, nhập khẩu ngô, đậu tương và lúa mì đều tăng mạnh về lượng. Đáng chú ý, 9 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 10,2 triệu tấn ngô, trị giá 2,59 tỷ USD, tăng 24,7% về lượng và 25,6% về giá trị. Nhập khẩu đậu tương đạt 2,7 triệu tấn, trị giá 1,32 tỷ USD, tăng lần lượt 38,4% và 45,8%. Trong khi đó, nhập khẩu lúa mì đạt 5,9 triệu tấn, trị giá 1,56 tỷ USD, tăng 40% về lượng và 38,9% về giá trị; giá bình quân 265,2 USD/tấn, giảm 0,8%.
BÙI ĐỊNH
VPA BẮT TAY ĐỐI TÁC TRUNG QUỐC
Mở đường cho doanh nghiệp gia cầm thâm nhập thị trường tỷ dân Sáng 7/10, tại Hà Nội, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA) Nguyễn Thanh Sơn đã có buổi làm việc với đoàn Hiệp hội Doanh nghiệp Hợp tác Kinh tế và Thương mại Đối ngoại Trung Quốc. Tại buổi làm việc, hai bên đã thẳng thắn trao đổi về thực trạng ngành chăn nuôi, gia cầm của Việt Nam và Trung Quốc. Trong đó, tập trung tìm kiếm các giải pháp đột phá trong sản xuất, chế biến sâu, thương mại và kết nối trực tiếp giữa các doanh nghiệp. Hai hiệp hội đều nhìn nhận dư địa hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước còn rất lớn, đặc biệt là ở các phân khúc mũi nhọn: Cung ứng và cải tiến con giống; sản xuất thức ăn chăn nuôi; chuyển giao thiết bị và công nghệ chăn nuôi thông minh; chế biến sâu các sản phẩm từ gia cầm; thúc đẩy chính ngạch thương mại nông sản. Tại buổi làm việc, hai bên thống nhất sẽ cùng nhau ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) về việc cùng tham gia tổ chức các hội chợ, triển lãm gia cầm tại thành phố Trịnh Giang, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc năm 2027 và các năm tiếp theo. Đây sẽ là bệ phóng pháp lý và cơ sở vững chắc để hai bên phối hợp tổ chức các đoàn doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm nông nghiệp quốc tế lớn trong thời gian tới.
BAN TRUYỀN THÔNG VPA
HƯNG YÊN
Hỗ trợ 2 tỷ đồng cho các cơ sở chăn nuôi công nghệ cao Theo quy định tại Nghị quyết số 14/2026/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hưng Yên; các cơ sở chăn nuôi ở Hưng Yên đầu tư mới hệ thống cho ăn tự động, camera nhiệt, cảm biến AI, robot, điện mặt trời và
một số thiết bị công nghệ khác có thể được hỗ trợ tới 50% chi phí, tối đa 2 tỷ đồng. Danh mục thiết bị được hỗ trợ như hệ thống cho ăn và cấp nước tự động; quạt thông gió thông minh; dàn lạnh tự động; hệ thống sưởi; thiết bị lọc không khí; điện mặt trời; máy phát điện sử dụng khí sinh học; robot phục vụ chăn nuôi; hệ thống phun sát trùng áp lực cao; camera tầm nhiệt và cảm biến âm thanh ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
HẢI LÝ
QUẢNG TRỊ
Quy hoạch hệ thống giết mổ gia súc, gia cầm đến năm 2035 Nhằm nâng khả năng kiểm soát an toàn thực phẩm, dịch bệnh và nguồn gốc sản phẩm, trong thời gian tới, tỉnh Quảng Trị sẽ tập trung đẩy mạnh xây dựng mạng lưới cơ sở giết mổ tập trung từng bước thu hẹp hoạt động giết mổ nhỏ lẻ trên địa bàn. Theo kế hoạch, đến năm 2030, tỉnh dự kiến hoàn thành 17 cơ sở giết mổ tập trung theo hướng liên xã, liên phường, gắn với vùng chăn nuôi và nhu cầu tiêu thụ. Các cơ sở hiện có trên địa bàn đủ điều kiện sẽ được ưu tiên nâng cấp, đồng thời thu hút, mời gọi doanh nghiệp, hợp tác xã và các thành phần kinh tế đầu tư cơ sở mới. Quảng Trị đặt mục tiêu đến 4 năm tới, có khoảng 70 - 80% gia súc và 80 - 90% gia cầm phục vụ tiêu dùng trên địa bàn được giết mổ tại các cơ sở tập trung đáp ứng quy định; 100% cơ sở giết mổ tập trung được kiểm soát. Hoạt động giết mổ từng bước được quản lý bằng cơ sở dữ liệu điện tử, kết hợp truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
TP HỒ CHÍ MINH
VÂN ANH
Thúc đẩy chăn nuôi tuần hoàn Chăn nuôi tuần hoàn, tận dụng chất thải để tạo khí sinh học, phân bón, nước tưới, được xem là hướng đi giúp giảm chi phí sản xuất. Theo các chuyên gia, hiệu quả của mô hình phụ thuộc vào việc giảm thất thoát thức ăn, nước ngay từ chuồng nuôi, phân loại chất thải và thiết kế hệ thống theo lượng chất thải thực tế. Sản phẩm sau xử lý như nước, bã, sinh khối trùn quế, ruồi lính đen phải được kiểm soát chất lượng, mầm bệnh trước khi sử dụng, đồng thời cần có nơi tiếp nhận phù hợp, tránh bón, tưới quá mức. Theo đại diện ngành nông nghiệp thành phố, công nghệ phải đi cùng phương án tài chính, thị trường đầu ra, giám sát môi trường và trách nhiệm của từng bên. Cơ sở cần tính đúng chi phí tiết kiệm được, theo dõi chi phí thực tế trước khi mở rộng mô hình.
TÂY NINH
HÀ MY
Tiêu hủy hơn 950 con heo do dịch tả heo châu Phi Từ đầu năm 2026 đến nay, tỉnh Tây Ninh ghi nhận 27 ổ dịch tả heo châu Phi tại 17 xã, phải tiêu hủy 954 con heo với tổng trọng lượng gần 50.000 kg. Riêng trong đầu tháng 10, thêm 1 ổ dịch xuất hiện tại ấp Đình, xã Thạnh Phước, buộc tiêu hủy 45 con heo, hơn 1.700 kg. Ngành chức năng đã cấp 93 lít hóa chất khử trùng cho 4 xã Nhơn Hòa Lập, Tân Thạnh, Bình Đức và Long Cang; lũy kế gần 6.200 lít, trong đó gần 5.400 lít cấp miễn phí. Người chăn nuôi được khuyến cáo tăng cường an toàn sinh học, vệ sinh, khử trùng chuồng trại và báo ngay cho chính quyền khi phát hiện heo có dấu hiệu bất thường hoặc chết đột ngột.
HUYỀN LINH
14
VĂN BẢN CUỘC SỐNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
SỬ DỤNG KHÁNG SINH CÓ TRÁCH NHIỆM Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang chịu áp lực lớn từ yêu cầu an toàn thực phẩm và nguy cơ kháng kháng sinh trên toàn cầu, việc sử dụng thuốc thú y minh bạch, khoa học và có trách nhiệm đang trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt. Vẫn còn nhức nhối
Báo cáo mới của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) cho biết, ngành chăn nuôi hiện tiêu thụ gần 75% tổng lượng thuốc kháng khuẩn được sử dụng trên toàn cầu. Tại nhiều quốc gia, việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi vẫn chưa được giám sát chặt chẽ. Nhiều trang trại duy trì việc bổ sung kháng sinh thường xuyên cho vật nuôi, trong khi một số nước vẫn cho phép sử dụng các loại thuốc này để kích thích tăng trưởng ở động vật nuôi lấy thịt. Theo các nhà khoa học, đây là một trong những nguyên nhân chính thúc đẩy sự xuất hiện và lan rộng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Tình trạng kháng kháng sinh (AMR) hiện được xem là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất. Theo báo cáo, nếu xu hướng hiện nay tiếp diễn, lượng kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi có thể vượt 143.000 tấn mỗi năm vào năm 2040, tăng khoảng 30% so với năm 2019 và cao hơn mức đỉnh 118.000 - 130.000 tấn từng ghi nhận vào năm 2013. Kháng sinh vốn là thành tựu y học vĩ đại để điều trị các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, ranh giới giữa “điều trị” và “lạm dụng” đã bị xóa nhòa từ lâu. Kháng sinh không chỉ được dùng để chữa bệnh mà còn bị lạm dụng một cách hệ thống cho mục đích phòng bệnh chủ động và kích thích sinh trưởng vật nuôi. Việc sử dụng liên tục với liều lượng dưới mức điều trị (subtherapeutic doses) thông qua thức ăn và nước uống đã biến các cơ sở chăn nuôi thành những “lò phản ứng” gia tốc quá trình tiến hóa của vi khuẩn, hình thành các gen kháng thuốc (ARGs - Antibiotic Resistance Genes) và các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc (MDR - Multidrug-Resistant). Trong chăn nuôi gia cầm: Khảo sát tại các vùng chăn nuôi trọng điểm như Đồng Tháp và Đông Nam bộ cho thấy, trung bình một con gà thịt tại Việt Nam tiêu thụ khoảng 470 mg đến 500 mg hoạt chất kháng sinh trong suốt vòng đời. Con số này cao gấp 5 đến 7 lần so với mức tiêu thụ trung bình tại các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU).
Nghị định 211/2026/NĐ-CP ngày 16/6/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi
Khoảng 72% đến 84% tổng lượng kháng sinh này được đưa vào cơ thể vật nuôi với mục đích “phòng bệnh” định kỳ theo lịch trình có sẵn của trang trại, thay vì điều trị khi có triệu chứng lâm sàng. Trong chăn nuôi heo: Tình trạng thậm chí nghiêm trọng hơn. Hàm lượng kháng sinh sử dụng trung bình ước tính đạt 286,6 mg hoạt chất trên mỗi kg heo hơi xuất chuồng. Tại các vùng chăn nuôi mật độ cao như Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, các nhóm kháng sinh như Tetracyclines, Macrolides, Aminoglycosides, và Polymyxins được tiêu thụ với khối lượng hàng tấn mỗi năm.
Siết chặt quản lý
EU hiện được xem là một trong những khu vực đi đầu trong việc siết chặt quản lý kháng sinh trong chăn nuôi. Từ tháng 9/2026, EU sẽ cấm nhập khẩu toàn bộ thịt, sữa và trứng được sản xuất bằng phương thức sử dụng kháng sinh làm chất kích thích tăng trưởng. Quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo động lực để các quốc gia xuất khẩu nâng cao tiêu chuẩn sản xuất, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào
kháng sinh trong ngành chăn nuôi. Ngày 17/9/2026, tại Hà Nội, Cục Chăn nuôi và Thú y tổ chức Hội nghị phổ biến các quy định về quản lý, sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Tại đây, ông Đinh Nam Phương, Chuyên viên Phòng Thuốc thú y và Thức ăn chăn nuôi (Cục Chăn nuôi và Thú y) cho biết, việc sử dụng kháng sinh sai mục đích làm tăng nguy cơ kháng thuốc và tồn dư. Quản lý phải đi vào thực hành hàng ngày. Quản lý kháng sinh bao quát cả chuỗi từ phòng bệnh bằng các biện pháp vaccine và an toàn sinh học; tới chẩn đoán (khám, xét nghiệm, dịch tễ); kê đơn (chỉ định, liều, liệu trình); bán thuốc (đúng đơn, hướng dẫn); sử dụng (đúng cách, ghi chép); giám sát (kháng kháng sinh và tồn dư…). Đối với cơ sở nuôi: Cần sử dụng đúng mục đích, ghi chép, đầy đủ và đảm bảo thời gian ngưng thuốc; người kê đơn cần chẩn đoán, lựa chọn thuốc, liều và liệu trình có căn cứ; cơ sở bán thuốc cần bán đúng đơn, hướng dẫn rõ và lưu chứng từ; cơ quan quản lý thì cần hướng dẫn, giám sát, cảnh báo và hỗ trợ thực hiện.
VĂN BẢN CUỘC SỐNG
15
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Chăn nuôi an toàn
Theo các chuyên gia, kiểm soát dịch bệnh luôn là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi. Trong đó, quản lý và sử dụng kháng sinh đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe vật nuôi, hiệu quả kinh tế cũng như môi trường. PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc, Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam chia sẻ, Dự án “Ứng dụng công nghệ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo để nâng cao an toàn sinh học và góp phần giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi heo tại hai vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam” hướng tới thay đổi thái độ, hành vi của người chăn nuôi, cải thiện an toàn sinh học và khuyến khích sử dụng kháng sinh thận trọng, qua đó góp phần phát triển chăn nuôi heo bền vững, cạnh tranh và tạo ra thực phẩm an toàn. Bắt đầu can thiệp thực địa từ tháng 7/2026, Dự án đã bước đầu ghi nhận những chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực hành của chủ trang trại. Dự kiến quá trình hoàn thiện mô hình sẽ kéo dài đến tháng 2/2027, nhằm tạo dựng chuẩn mực chăn nuôi an toàn sinh học có khả năng lan tỏa ra cộng đồng. Xây dựng chăn nuôi an toàn sinh học không chỉ là bài toán kỹ thuật. Đó còn là quá trình thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, trong đó người chăn nuôi trở thành chủ thể trực tiếp kiểm soát nguy cơ. Khi những thao tác vệ sinh, khử khuẩn, kiểm soát người và phương tiện, quản lý con giống, thức ăn, nước uống và các yếu tố có nguy cơ trở thành thói quen thường nhật, an toàn sinh học mới thực sự đi vào sản xuất. Đây cũng là nền tảng để ngành chăn nuôi giảm rủi ro dịch bệnh, hạn chế sử dụng kháng sinh và từng bước nâng cao chất lượng, an toàn của sản phẩm chăn nuôi.
Nguồn: Khoa Nông nghiệp, Trường Cao Đẳng Hưng Yên
VÂN ANH
→ Để hạn chế nguy cơ kháng kháng sinh trong chăn nuôi, De Heus đưa ra ba nguyên tắc cốt lõi cũng như mục tiêu cần đạt được trong sử dụng kháng sinh. Đó là, chỉ sử dụng kháng sinh khi thực sự cần thiết để điều trị bệnh; Việc sử dụng phải tuân thủ chỉ định của bác sĩ thú y, bảo đảm đúng thuốc, đúng liều lượng và đúng thời gian điều trị; Tránh sử dụng các loại kháng sinh đặc biệt quan trọng đối với y tế dành cho con người.
Trước lộ trình cấm kháng sinh, nhiều doanh nghiệp đã chủ động thay đổi, thử nghiệm và tung ra các giải pháp thay thế. Khối FDI như: C.P, De Heus, CJ, Japfa…, đẩy mạnh nghiên cứu công thức thức ăn không kháng sinh, bổ sung phụ gia sinh học, enzyme; đầu tư chuỗi chăn nuôi khép kín nhằm kiểm soát dịch bệnh. Doanh nghiệp trong nước như: GreenFeed, Dabaco, Masan MEATLife…, tung ra sản phẩm thịt “không kháng sinh”, xây dựng thương hiệu dựa trên yếu tố an toàn. Ngành dược thú y có xu hướng chuyển dịch sang vaccine, chế phẩm vi sinh, thảo dược.
16
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
GIẢI PHÁP “XANH” CHO CHĂN NUÔI PHÁT THẢI THẤP Giảm phát thải khí nhà kính đang chuyển từ yêu cầu về môi trường thành một tiêu chí của chất lượng và sức cạnh tranh ngành chăn nuôi. Từ tối ưu khẩu phần, nâng cao sức khỏe vật nuôi đến xử lý chất thải, năng lượng tái tạo và số hóa quản lý đàn, công nghệ đang mở ra hướng đi để ngành chăn nuôi vừa tăng năng suất, vừa giảm “dấu chân” carbon. Không chỉ là câu chuyện của khí mê-tan
Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Theo định hướng thực hiện NDC, đến năm 2030 lĩnh vực nông nghiệp phải giảm đáng kể phát thải so với kịch bản phát triển thông thường; trong đó, các giải pháp giảm phát thải khí mê-tan (CH₄) giữ vai trò quan trọng. Trong bức tranh ấy, chăn nuôi đứng trước bài toán kép: đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thịt, trứng, sữa, đồng thời giảm áp lực lên môi trường. Phát thải của ngành không chỉ đến từ vật nuôi mà còn liên quan đến sản xuất thức ăn, sử dụng năng lượng, vận chuyển, quản lý phân và nước thải. Đáng chú ý, năm 2016, phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi được ước tính khoảng 18,5 triệu tấn CO₂ tương đương, đến năm 2020 tăng lên hơn 30,84 triệu tấn CO₂ tương đương. Trong khi đó, quy mô đàn tiếp tục được định hướng tăng để đáp ứng nhu cầu thực phẩm và phát triển sản xuất hàng hóa. Với nhóm động vật nhai lại, quá trình lên
men thức ăn trong dạ cỏ là nguồn phát sinh CH₄ quan trọng. Phân và chất thải chăn nuôi lại liên quan đến cả CH₄ và N₂O. Vì vậy, giảm phát thải không thể chỉ trông chờ vào một công nghệ đơn lẻ mà cần một hệ thống giải pháp xuyên suốt chuỗi sản xuất. Theo FAO, nâng cao năng suất vật nuôi có thể làm giảm lượng phát thải tính trên mỗi đơn vị sản phẩm. Cải thiện chất lượng khẩu phần, quản lý đồng cỏ, cân bằng dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và nâng cao hiệu quả sinh sản đều có thể góp phần làm giảm cường độ phát thải. Đây cũng là điểm cần thay đổi trong cách nhìn về chăn nuôi phát thải thấp. Mục tiêu không nhất thiết chỉ là làm cho một con vật “thải ra ít khí hơn”, mà quan trọng là tạo ra nhiều thịt, trứng hoặc sữa hơn trên mỗi đơn vị thức ăn, nước, đất và năng lượng sử dụng.
Tối ưu khẩu phần, giảm phát thải từ dạ cỏ
Đối với bò và các vật nuôi nhai lại, dinh dưỡng là một trong những “mắt xích” công
nghệ có thể tác động trực tiếp đến phát thải. Các nghiên cứu của FAO tại hệ thống bò sữa ở Ethiopia cho thấy, một số giải pháp dinh dưỡng, trong đó có xử lý phụ phẩm bằng urê, bổ sung nguồn thức ăn giàu protein hoặc năng lượng, có thể làm giảm cường độ phát thải CH₄ từ 16 - 44%, đồng thời sản lượng sữa tăng 8 - 70%. Tại Việt Nam, hướng tiếp cận này đang được nghiên cứu theo hướng tận dụng nguồn phụ phẩm sẵn có. TS Lê Thụy Bình Phương, giảng viên Bộ môn Khoa học Sinh học Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, nhiều năm nghiên cứu hệ vi sinh vật dạ cỏ, khả năng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn và các giải pháp giảm CH₄. Một hướng nghiên cứu đáng chú ý là xử lý rơm bằng vi sinh và phối hợp với các phụ phẩm khác để cải thiện giá trị dinh dưỡng. Trong nghiên cứu in vitro năm 2025, việc bổ sung lá Psophocarpus scandens vào khẩu phần nền từ rơm đã xử lý giúp giảm CH₄ 8,7%
THEO DÒNG THỜI SỰ
17
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
trong điều kiện thí nghiệm. Cần nhấn mạnh, đây là kết quả trong hệ lên men mô phỏng dạ cỏ, chưa phải phép đo trực tiếp trên đàn bò thương phẩm. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến trang trại luôn cần được kiểm chứng qua các thử nghiệm thực tế. Năm 2026, nhiệm vụ khoa học và công nghệ do TS Lê Thụy Bình Phương chủ nhiệm tiếp tục đưa giải pháp xử lý rơm đến gần hơn với mô hình chăn nuôi. Khẩu phần sử dụng tới 95,8% nguyên liệu phụ phẩm, trong đó có rơm ủ vi sinh, bã nành và bụi malt. Báo cáo nghiệm thu ghi nhận hiệu quả kinh tế tăng 14,31% và lượng phát thải CO₂ tương đương giảm khoảng 54% so với mô hình đối chứng trong nhiệm vụ; quy trình được chuyển giao cho ba hộ chăn nuôi tại Củ Chi. Những kết quả này cho thấy một hướng đi đáng chú ý: giảm phát thải không nhất thiết đồng nghĩa với tăng chi phí, nếu công nghệ đồng thời biến phụ phẩm thành nguồn thức ăn có giá trị, giảm lãng phí và nâng hiệu quả sử dụng nguồn nguyên liệu. Tại những hệ thống chăn nuôi bò sữa quy mô lớn như TH, cảm biến AfiTag/AfiCollar được sử dụng trên đàn bò, dữ liệu được truyền về hệ thống Afifarm để theo dõi sức khỏe, năng suất và sinh sản. Bò có dấu hiệu bất thường được phát hiện sớm để tách khỏi đàn và điều trị. Ở khâu dinh dưỡng, phần mềm NDS hỗ trợ xây dựng khẩu phần, trong khi công nghệ 1-ONE giúp kiểm soát quá trình phối trộn, phân phối thức ăn.
Từ chất thải thành năng lượng
Biogas, đệm lót sinh học, ủ phân, tách chất rắn - chất lỏng, thu hồi khí và sử dụng năng lượng tái tạo đang được áp dụng ở nhiều mô hình chăn nuôi. Đặc biệt, việc thu hồi khí sinh học để phát điện hoặc thay thế nhiên liệu hóa thạch có thể tạo ra lợi ích kép: giảm tác động môi trường và giảm chi phí năng lượng. Cục Biến đổi khí hậu cũng ghi nhận các mô hình sử dụng hầm biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, tạo khí đốt và điện năng đang góp phần hình thành hướng sản xuất tuần hoàn trong nông nghiệp. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được thiết kế phù hợp với quy mô và điều kiện từng cơ sở. Với nông hộ nhỏ, một hệ thống xử lý quá phức tạp hoặc chi phí đầu tư cao có thể khó vận hành. Ngược lại, ở các trang trại tập trung, công nghệ xử lý chất thải cần được tính toán ngay từ khâu thiết kế chuồng trại để có thể thu gom, phân loại và tận dụng dòng vật chất hiệu quả. Kinh tế tuần hoàn vì thế không nên được
Giảm phát thải khí CH4 trong chăn nuôi
Trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi gia súc nhai lại như bò, trâu, dê là một trong những nguồn phát thải CH4 lớn nhất. Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu nhiều giải pháp khác nhau như bổ sung tảo biển, sử dụng phụ gia thức ăn hoặc chọn giống vật nuôi phát thải thấp. Trong đó, việc sử dụng các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên từ thảo mộc đang được đánh giá là hướng đi an toàn, thân thiện với môi trường và phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp xanh. Các hợp chất như tannin, saponin cùng tinh dầu tỏi, quế, đinh hương, hương thảo... đều chứa nhiều hoạt chất sinh học có khả năng tác động đến hệ vi sinh vật trong dạ cỏ. Thay vì tiêu diệt toàn bộ hệ vi sinh, các hoạt chất này chủ yếu ức chế nhóm vi sinh vật sinh CH4, đồng thời điều chỉnh quá trình lên men thức ăn theo hướng hiệu quả hơn. Nhờ đó, lượng hydro được chuyển sang các con đường trao đổi chất khác thay vì tạo thành khí CH4. Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy, việc bổ sung một lượng phù hợp tannin hoặc saponin vào khẩu phần ăn có thể làm giảm đáng kể lượng CH4 phát sinh mà không ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi. Bên cạnh đó, tinh dầu chiết xuất từ tỏi, quế, hồi hay đinh hương cũng được nhiều công trình nghiên cứu ghi nhận có khả năng kháng khuẩn tự nhiên. Không chỉ góp phần giảm phát thải khí nhà kính, các loại thảo mộc và tinh dầu còn giúp cải thiện sức khỏe đường ruột, tăng hiệu quả tiêu hóa thức ăn và hỗ trợ nâng cao sức đề kháng tự nhiên của vật nuôi. Đối với Việt Nam, tiềm năng ứng dụng giải pháp này khá lớn khi nước ta sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với nhiều loại cây chứa tannin, saponin và tinh dầu có giá trị. Việc tận dụng các loại cây bản địa để sản xuất phụ gia thức ăn không chỉ góp phần giảm chi phí nhập khẩu mà còn tạo thêm giá trị cho ngành dược liệu và nông nghiệp.
H.C
hiểu đơn giản là “xử lý chất thải”. Mục tiêu cao hơn là đưa chất thải trở lại chuỗi giá trị dưới dạng phân bón hữu cơ, năng lượng, nguyên liệu hoặc sản phẩm phụ có giá trị. Dù tiềm năng lớn, quá trình chuyển đổi sang chăn nuôi phát thải thấp vẫn gặp không ít rào cản. Trước hết là chi phí đầu tư. Phần lớn cơ sở chăn nuôi Việt Nam vẫn có quy mô nhỏ, khả năng tích lũy vốn hạn chế. Một hệ thống biogas, thiết bị cảm biến, công nghệ phối trộn thức ăn chính xác hay hệ thống xử lý chất thải hoàn chỉnh đều cần vốn đầu tư và nhân lực vận hành. Thứ hai là nhận thức và động lực kinh tế. Người chăn nuôi thường ưu tiên những giải pháp nhìn thấy ngay hiệu quả về tăng trọng, tỷ lệ sống, năng suất sữa hay giảm chi phí thức ăn. Trong khi đó, lợi ích của giảm phát thải đôi khi chỉ thể hiện trong trung và dài hạn. Thứ ba là dữ liệu. Muốn giảm phát thải phải biết phát thải từ đâu, ở mức nào và giảm được bao nhiêu. Việt Nam đang từng bước xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính; chăn nuôi đã nằm trong nhóm lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê theo danh mục cơ sở phát thải. Cuộc đua giảm phát thải sẽ không chỉ
diễn ra trong phạm vi môi trường. Khi các thị trường ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG, khả năng chứng minh sản phẩm được tạo ra với mức phát thải hợp lý sẽ ngày càng có giá trị. Vì vậy, ngành chăn nuôi cần chuyển từ tư duy “xử lý hậu quả” sang thiết kế hệ thống sản xuất phát thải thấp ngay từ đầu. Với Nhà nước, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đầu tư công nghệ xử lý chất thải, năng lượng tái tạo, cải thiện khẩu phần và xây dựng mô hình chăn nuôi tuần hoàn; đồng thời hoàn thiện cơ sở dữ liệu phát thải và cơ chế MRV để tạo nền tảng cho thị trường carbon. Với doanh nghiệp, đầu tư công nghệ giảm phát thải cần được nhìn như một khoản đầu tư cho năng suất và sức cạnh tranh, thay vì chỉ là chi phí môi trường. Với người chăn nuôi, những giải pháp gần với sản xuất nhất - khẩu phần cân bằng, quản lý đàn, phòng bệnh, sử dụng phụ phẩm hợp lý, xử lý chất thải và tiết kiệm năng lượng - chính là những “viên gạch” đầu tiên của mô hình phát thải thấp.
KHÁNH NGUYỄN
HÀNH TRÌNH “LY HƯƠNG” CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI
Bài học từ các cường quốc láng giềng Lộ trình cấm chăn nuôi tại khu vực dân cư, đô thị đang đặt ngành nông nghiệp Việt Nam trước một cuộc chuyển dịch quy mô chưa từng có. Giữa tâm bão của những thách thức về sinh kế và mặt bằng, cái nhìn thấu đáo sang hệ thống luật pháp của Trung Quốc và Thái Lan sẽ mang lại những gợi ý mang tính bước ngoặt. Những tư duy quản trị bằng công nghệ, phân nhóm rủi ro và dùng đòn bẩy kinh tế thay cho các mệnh lệnh hành chính thô sơ không chỉ là lời giải cho áp lực đất đai, mà còn mở ra tầm nhìn mới về một nền nông nghiệp hiện đại, nhân văn và bền vững.
Bài học Trung Quốc: Thượng tôn pháp luật gắn liền với tư duy kiến tạo vĩ mô
Trung Quốc vận hành nền chăn nuôi khổng lồ bằng thế kiềng ba chân vững chắc: Thượng tôn luật pháp để giữ kỷ cương, làm chủ công nghệ để minh bạch hóa và khơi thông cơ chế thị trường để tự sàng lọc. Trong đó, hai trụ cột pháp lý cốt lõi là Luật Chăn nuôi sửa đổi (2022) và Luật Phòng chống dịch bệnh động vật sửa đổi (2021). Về quản lý giống vật nuôi, Bắc Kinh nâng tầm an ninh nguồn gen thành chiến lược phòng thủ và tự chủ quốc gia. Đạo luật mới xóa bỏ tư duy phân cấp lỏng lẻo trước đây bằng cách thu hồi quyền phê duyệt các hoạt động xuất khẩu hoặc hợp tác quốc tế nguồn gen về duy nhất một đầu mối là Bộ Nông
nghiệp. Thực tế cho thấy, việc thả nổi cho cấp tỉnh quản lý rất dễ dẫn đến tình trạng thất thoát tài nguyên gen quý hiếm qua các dự án nghiên cứu núp bóng tài trợ ngoại quốc. Bằng cách siết chặt hàng rào kỹ thuật này, Trung Quốc không chỉ bảo tồn trọn vẹn tính đa dạng sinh học bản địa, mà còn sớm loại bỏ nguy cơ bị thất thoát nguồn gen quý hiếm. Về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, họ dũng cảm chuyển dịch từ tư duy “tiền kiểm” rườm rà sang cơ chế “Tự công bố - Hậu kiểm nghiêm ngặt”. Doanh nghiệp được trao quyền tự chủ đưa sản phẩm ra thị trường và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tuy nhiên, cái giá của sự gian lận là vô cùng đắt. Nếu hậu kiểm phát hiện chất cấm hoặc sai lệch tiêu chuẩn, doanh nghiệp không chỉ đối diện với án phạt tài chính khổng lồ mà còn lập tức bị lưu vết vào “Sách đen” tín dụng xã hội. Một khi điểm tín dụng bị hạ xuống mức “nguy hiểm”, dòng vốn ngân hàng sẽ bị đóng băng, cơ hội đấu thầu bằng không, đồng nghĩa với bản án tử hình cho doanh nghiệp sai phạm. Về quản lý vùng nuôi, thay vì đẩy người
chăn nuôi vào thế bí bằng các lệnh cấm mang tính áp đặt, luật Trung Quốc lồng ghép trực tiếp không gian chăn nuôi vào Quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Các địa phương bắt buộc phải duy trì một tỷ lệ “quỹ đất sạch” cố định dành riêng cho ngành này. Tại đây, việc di dời trang trại không còn là câu chuyện đơn độc của người nuôi, mà là một mắt xích trong tổng thể chiến lược quốc gia. Khi tước đi không gian sinh kế cũ, Nhà nước lập tức kích hoạt dòng ngân sách hỗ trợ và bù đắp bằng một quỹ đất đối ứng tương đương được bảo hộ về mặt pháp lý. Chính tư duy thượng tôn pháp luật gắn liền với tính nhân văn này đã giúp cuộc “đại dịch chuyển” diễn ra trong trật tự, tuyệt đối không gây sốc cho chuỗi cung ứng thị trường. Về quản lý kiểm dịch vận chuyển và thú cưng đô thị, được áp dụng theo hình thức “Căn cước công dân” cho vật nuôi: Hệ thống thẻ tai điện tử gắn chip định danh (Ear-tagging) và mã QR hóa toàn bộ quy trình kiểm dịch nội địa. Tại các trạm kiểm soát, việc quét mã thay thế hoàn toàn cho các sấp giấy tờ thủ công dễ
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ
19
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
làm giả, triệt tiêu tận gốc đường dây gian lận nguồn gốc xuất xứ vốn là nỗi nhức nhối bấy lâu. Tại đô thị, chó mèo được quản lý chi tiết như một “công dân số” thông qua microchip định danh dưới da và “hộ chiếu thú cưng”. Chủ nuôi thả rông vật nuôi hoặc lơ là tiêm phòng dại sẽ bị tước quyền nuôi dưỡng vĩnh viễn sau hai lần vi phạm.
Bài học từ Thái Lan: Khi luật pháp đồng hành cùng sinh kế và dòng chảy kinh tế
Ngành chăn nuôi vươn tầm thế giới của Thái Lan được bảo hộ bởi một hệ thống pháp lý cực kỳ linh hoạt và thực dụng, bao gồm Đạo luật Thức ăn chăn nuôi và Đạo luật Bệnh truyền nhiễm động vật. Luật pháp Thái Lan không áp đặt một bộ khung xơ cứng cho thị trường thức ăn chăn nuôi. Họ phân loại sản phẩm theo mức độ rủi ro một cách khoa học. Các loại thức ăn hỗn hợp thông thường được giải phóng khỏi các thủ tục hành chính nhờ cơ chế tự công bố trực tuyến trong vài phút. Ngược lại, các sản phẩm chứa kháng sinh bắt buộc phải kiểm duyệt ngặt nghèo để chặn đứng nguy cơ kháng kháng sinh (AMR). Điểm sáng nhất trong công tác kiểm soát dịch bệnh của Thái Lan chính là việc thể chế hóa cơ chế “An toàn theo chuỗi” (Compartmentalization). Khác với tư duy quản lý khép kín theo ranh giới địa lý, Đạo luật Thú y Thái Lan cho phép công nhận chứng chỉ an toàn sinh học theo từng chuỗi liên kết sản xuất khép kín của các doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là, dù một tỉnh đang là tâm dịch, các trang trại vệ tinh đạt chuẩn nằm trong chuỗi cung ứng đóng vẫn được miễn trừ phong tỏa cơ học, duy trì lộ trình vận chuyển và xuất khẩu bình thường. Cơ chế lập pháp thông minh này vừa đảm bảo mục tiêu dập dịch, vừa bảo vệ chuỗi giá trị nông nghiệp trước nguy cơ đổ vỡ dây chuyền. Với cách tư duy quản lý như trên đã giúp các tập đoàn lớn như C.P hay Betagro duy trì kim ngạch xuất khẩu thịt gà và thịt heo sang các thị trường khó tính (Nhật Bản, EU) ngay cả khi quốc gia hoặc vùng địa lý đó đang công bố dịch. Về kiểm soát giết mổ, Thái Lan đã hóa giải thành công bài toán “khai tử” các lò mổ nhỏ lẻ lậu, mất vệ sinh bằng một chiến lược thực dụng: Thay mệnh lệnh hành chính bằng quyền lợi kinh tế. Thay vì áp đặt các lệnh cấm cưỡng chế gây xung đột sinh kế, Chính phủ Thái Lan chủ động mở lối thoát tài chính cho người dân thông qua các gói tín dụng ưu đãi dài hạn (kỳ hạn từ 10 đến 15 năm) do Ngân
hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã (BAAC) kết hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã (MOAC) giải ngân. Cơ chế này vận hành theo mô hình “góp vốn cộng đồng”: Các hộ giết mổ nhỏ lẻ trong cùng một vùng được khuyến khích liên kết lại thành các hợp tác xã hoặc công ty cổ phần cấu trúc nhỏ. BAAC sẽ tài trợ tới 80% vốn đầu tư với lãi suất thấp hơn từ 3 - 4% so với thị trường để họ chung tay xây dựng các trung tâm giết mổ công nghiệp tập trung đạt chuẩn quốc gia. Song song với đó, chính quyền áp lộ trình đóng cửa các lò mổ thủ công cũ một cách rõ ràng. Người dân không cảm thấy bị tước đoạt sinh kế mà hiểu rằng họ đang được Nhà nước “gánh đỡ” một phần chi phí để nâng cấp lên một mô hình kinh doanh an toàn, bền vững và có lợi nhuận cao hơn.
Bài học kinh nghiệm và giải pháp cho nút thắt “Đại di dời cơ sở chăn nuôi” của Việt Nam
Khi đặt hệ thống quản lý hiện tại của Việt Nam cạnh hai quốc gia láng giềng, những khoảng trống về mặt pháp lý và công cụ điều tiết lộ ra rất rõ ràng. Để cuộc “đại ly hương” của hàng vạn cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu dân cư không biến thành một cuộc khủng hoảng sinh kế hay gây đứt gãy chuỗi cung ứng, hệ thống lập pháp và điều hành của Việt Nam có thể rút ra ba bài học sau. Bài học thứ nhất: Thay tư duy “Lệnh cấm cứng nhắc” bằng “Quy hoạch đất đai đối ứng” Hiện nay, hầu hết các địa phương khi áp dụng lộ trình cấm chăn nuôi mới chỉ đưa ra “tối hậu thư” bằng một mốc thời gian hành chính cụ thể. Tuy nhiên, phần lớn các tỉnh, thành đang rơi vào tình trạng lúng túng do thiếu quỹ đất sạch và không có đủ không gian cho các trang trại di dời. Việt Nam cần học tập mô hình của Trung Quốc, lồng ghép trực tiếp quy hoạch không gian chăn nuôi vào Quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Đất đai dành cho chăn nuôi phải được bảo vệ pháp lý như đất lúa. Khi bắt buộc một cơ sở chăn nuôi dịch chuyển, Nhà nước phải cấp một quỹ đất sạch đối ứng tương đương ở vùng xa dân cư. Luật pháp phải tạo ra lối thoát về không gian trước khi dựng lên rào cấm. Bài học thứ hai: Thay đòn bẩy hành chính bằng “Đòn bẩy tài chính công” Chi phí di dời cơ sở chăn nuôi cũ, xây dựng hệ thống chuồng trại ở bến đỗ mới là một gánh nặng quá sức đối với cả các trang trại vừa và nhỏ lẫn các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Ngân sách hỗ trợ trực tiếp từ các địa phương
hiện nay chỉ mang tính “muối bỏ bể” trước chi phí thực tế. Dựa trên kinh nghiệm thành công của Ngân hàng Chính sách BAAC (Thái Lan), Việt Nam cần sớm thiết lập các gói tín dụng xanh dài hạn với kỳ hạn từ 10 - 15 năm, thông qua hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước (tiêu biểu là Agribank) và Ngân hàng Chính sách Xã hội. Chính sách này nhắm đến hai mục tiêu cốt lõi: Một là, cấp vốn lãi suất ưu đãi cho các hộ chăn nuôi tự nguyện gom nhóm, di dời ra vùng tập trung nhằm đầu tư trang trại chuẩn GAP hoặc cơ sở giết mổ công nghiệp. Hai là, luật hóa các gói tài chính hỗ trợ chuyển đổi sinh kế sang ngành dịch vụ phụ trợ, bảo đảm an sinh cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ buộc phải giải nghệ. Bài học thứ ba: Số hóa toàn diện quy trình kiểm dịch, “khai tử” quản lý thủ công Quy trình kiểm dịch vận chuyển nội địa tại nước ta vẫn phụ thuộc nặng nề vào các sấp giấy tờ thủ công, tạo kẽ hở lớn cho các chủ hàng gian lận nguồn gốc, đặc biệt là chiêu trò “khai sản xuất nội tỉnh” nhằm né trạm kiểm dịch. Ở khâu thức ăn chăn nuôi, quy trình khảo nghiệm và chứng nhận hợp quy chồng chéo đang làm tăng chi phí và bó buộc doanh nghiệp. Cần số hóa triệt để bằng cách áp dụng thẻ tai gắn chip điện tử và mã hóa QR toàn bộ hành trình vận chuyển gia súc như Trung Quốc đang làm. Điều này loại bỏ hoàn toàn sự can thiệp thủ công đầy cảm tính của con người tại các trạm kiểm dịch. Ở khâu quản lý đầu vào, Việt Nam cần học Thái Lan đẩy mạnh cơ chế “Tự công bố trực tuyến - Hậu kiểm nghiêm khắc” dựa trên phân nhóm rủi ro. Thức ăn hỗn hợp thông thường cần được cởi trói thủ tục, nhưng nếu phát hiện chất cấm hay lạm dụng kháng sinh ở khâu hậu kiểm, doanh nghiệp phải lập tức bị đưa vào “Sách đen” chế tài kinh tế, cắt đứt vĩnh viễn dòng vốn tín dụng. Sự khác biệt lớn nhất giữa chúng ta và hai quốc gia láng giềng nằm ở công cụ điều tiết. Trong khi Việt Nam đang thiên về dùng mệnh lệnh hành chính có phần “cào bằng”, tức là đặt ra một mốc thời gian cứng và yêu cầu tuân thủ tuyệt đối, thì Trung Quốc lại chọn công cụ quy hoạch đất đai đối ứng, còn Thái Lan tận dụng đòn bẩy tài chính chính sách. Muốn người dân đồng thuận dịch chuyển, luật pháp phải kiến tạo một lối thoát kinh tế khả thi cho họ trước khi dựng lên các hàng rào cấm đoán.
NGUYỄN THANH SƠN
Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam
20
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
CHĂN NUÔI VIỆT “CUỘC ĐUA” CHẤT LƯỢNG VÀ CÔNG NGHỆ
Từ cuộc đua tăng đàn, tăng sản lượng, ngành chăn nuôi đang bước vào một cuộc cạnh tranh khác, nơi chất lượng, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc và mức độ thân thiện với môi trường ngày càng quyết định giá trị sản phẩm. “Một kilogram thịt” không còn được đánh giá chỉ bằng trọng lượng hay giá bán, mà bằng cả câu chuyện phía sau sản phẩm. Từ số lượng sang nhu cầu
Trong một thời gian dài, sản lượng đàn vật nuôi và sản lượng thịt, trứng, sữa là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, khi quy mô sản xuất ngày càng lớn, câu chuyện tăng trưởng đã chuyển sang một vấn đề khác. Thay vì bắt đầu từ năng lực sản xuất rồi tìm đầu ra, ngành chăn nuôi cần tổ chức sản xuất dựa trên tín hiệu thị trường. Người tiêu dùng muốn sản phẩm gì, phân khúc nào đang tăng trưởng, thị trường xuất khẩu yêu cầu tiêu chuẩn gì, sản phẩm nào có khả năng chế biến sâu và tạo giá trị gia tăng cao hơn…; phải trở thành cơ sở để quyết định quy mô và phương thức sản xuất. Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến từng nhấn mạnh, ngành chăn nuôi có tiềm năng lớn nhưng muốn trở thành “bếp ăn của thế giới” phải tự làm mới mình. Trong đó, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và liên kết “3 nhà” được xác định là những yếu tố quan trọng để nâng giá trị ngành. Từ góc độ thị trường, điều này đồng nghĩa với việc sản lượng không còn là đích đến cuối
cùng. Bởi hiện nay, tỷ lệ chế biến sâu, giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm, khả năng mở rộng thị trường và mức độ đa dạng hóa đầu ra cần được xem là những chỉ số ngày càng quan trọng. Bởi vậy, liên kết chuỗi trong chăn nuôi hiện đại trở thành một trong những hướng đi cốt lõi. Theo số liệu được công bố tháng 9/2026, cả nước có gần 3.000 dự án, kế hoạch liên kết chuỗi nông sản với sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp, hợp tác xã và hơn 211.000 hộ nông dân. Riêng chăn nuôi có 695 dự án, kế hoạch liên kết, chiếm 23,7% tổng số dự án liên kết nông nghiệp; trong đó, có 209 chuỗi liên kết thịt heo và 150 chuỗi liên kết thịt, trứng gia cầm.
Thước đo hiệu quả công nghệ
Nếu thị trường quyết định sản phẩm thì hiệu quả sản xuất quyết định khả năng cạnh tranh. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thức ăn chăn nuôi vẫn là khoản chi phí lớn trong chuỗi giá trị. Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y Phạm Kim Đăng, thức ăn chiếm khoảng 60 - 70% giá thành sản xuất, trong khi 70 - 80% một số nhóm nguyên liệu như
ngô, đậu tương và phụ gia vẫn phải nhập khẩu. Vì vậy, biến động giá nguyên liệu thế giới có thể tác động trực tiếp tới giá thành sản phẩm trong nước.
➢ Đại diện Cục Chăn và Thú y nuôi cho biết, ngành sẽ tập trung vào 3 nhóm giải pháp trọng tâm: Một là, phát triển công nghệ đầu vào và hạ tầng sản xuất, nâng cao năng lực chọn tạo giống, phát triển công nghiệp thức ăn chăn nuôi, thiết bị trong nước, đồng thời thúc đẩy chăn nuôi tuần hoàn và an toàn sinh học. Hai là, chuyển mạnh từ chữa bệnh sang phòng bệnh, xây dựng đàn vật nuôi khỏe mạnh, sạch bệnh, qua đó giảm thiệt hại và chi phí sản xuất. Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu chăn nuôi quốc gia để phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc, dự báo thị trường và kiểm soát dịch bệnh.
VẤN ĐỀ CHUYÊN ĐỀ
21
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Một trang trại có quy mô lớn nhưng tiêu tốn nhiều thức ăn, năng lượng, nước và nhân công vẫn có thể gặp khó khăn về giá thành. Vì thế, FCR (hệ số chuyển đổi thức ăn) trở thành một trong những chỉ số thiết yếu. Cùng một lượng thức ăn nhưng vật nuôi tăng trọng nhanh hơn, khỏe hơn và đạt trọng lượng xuất bán trong thời gian ngắn hơn sẽ tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn. Hiện nay, khoa học công nghệ đang giúp tìm ra lời giải cho bài toán này. Tự động hóa cho ăn, kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, thông gió, theo dõi sức khỏe vật nuôi, phân tích dữ liệu tăng trưởng và cảnh báo dịch bệnh đang từng bước chuyển chăn nuôi từ quản lý bằng kinh nghiệm sang quản trị bằng dữ liệu. Theo thông tin được công bố tại một số mô hình chăn nuôi công nghệ cao, Công ty Greenfeed đã tự động hóa trên 70% ở nhiều khâu sản xuất, giúp tiết kiệm nước và điện; trong khi C.P. Việt Nam đang phối hợp phát triển các giải pháp AI và chuyển đổi số cho chuỗi Feed - Farm - Food. Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, giai đoạn 2026 - 2030, ngành cần tập trung vào các công nghệ lõi, trong đó có chọn giống theo hệ gen, AI trong chẩn đoán dịch bệnh, tự động hóa và xây dựng dữ liệu lớn. Như vậy, công nghệ không còn được đo bằng số lượng máy móc được đầu tư mà bằng hiệu quả hệ tạo ra, là giảm FCR, giảm chi phí, tăng năng suất, giảm hao hụt, phát hiện sớm dịch bệnh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Thước đo này còn mở rộng sang kinh tế tuần hoàn, khi một trang trại hiện đại phải xử lý tốt chất thải, tận dụng phụ phẩm, tạo biogas, phân hữu cơ, tiết kiệm nước và năng lượng, giảm phát thải.
An toàn dịch bệnh trở thành điều kiện của thị trường
Với ngành chăn nuôi, một đàn vật nuôi có năng suất cao nhưng dễ nhiễm bệnh không thể tạo ra tăng trưởng bền vững. Tại nhiều địa phương, nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi, và các bệnh truyền nhiễm khác có thể làm đảo lộn sản xuất, gây thiệt hại cho người chăn nuôi và ảnh hưởng tới nguồn cung. Chính vì thế, an toàn sinh học và an toàn dịch bệnh hiện nay đang chuyển từ một yêu cầu kỹ thuật thành một chỉ số cạnh tranh. Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP BAF Việt Nam cho rằng, dịch bệnh, đặc biệt dịch tả heo châu Phi, đã
Chọn giống vật nuôi theo chất lượng sản phẩm Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, ngành đang định hướng xây dựng các công nghệ chiến lược, trong đó có chọn tạo giống vật nuôi theo chất lượng sản phẩm. Với giống bò H’Mông là một ví dụ. Các chuyên gia quốc tế đã đánh giá bò H’Mông trên nhiều phương diện, từ đặc điểm di truyền, tầm vóc đến thể trạng. Kết quả cho thấy, giống bò này có tiềm năng lớn, thậm chí có những lợi thế ngay từ “điểm xuất phát” so với Hanwoo - giống bò thịt cao cấp được Hàn Quốc đầu tư mạnh về chọn giống và công nghệ chăn nuôi. Từ tiềm năng đó, ngành chăn nuôi đang định hướng xây dựng công nghệ chiến lược nhằm chọn tạo giống bò theo chất lượng thịt, hướng tới phân khúc chất lượng cao. Để hiện thực hóa hướng đi này, ngành chăn nuôi dự kiến huy động sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học và đơn vị chuyên môn; đồng thời xây dựng hướng dẫn để đưa công nghệ vào các vùng chăn nuôi.
làm thay đổi căn bản cách nhìn về sản xuất. Nếu trước đây thiết kế trang trại chủ yếu hướng tới tối ưu năng suất, thì hiện nay khả năng kiểm soát rủi ro sinh học trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng. Thực tế tại các trang trại cũng cho thấy chi phí cho an toàn sinh học không nhỏ. Đại diện một doanh nghiệp chăn nuôi cho biết, chi phí đầu tư phòng chống dịch của trang trại tăng khoảng 20 - 30% so với thông thường và hệ thống phòng dịch làm tăng gần 10% giá vốn sản phẩm. Với xuất khẩu, yêu cầu còn cao hơn khi các thị trường ngày càng quan tâm tới vùng nuôi, quy trình an toàn sinh học, kiểm soát thuốc thú y, dư lượng kháng sinh, giết mổ và chế biến. Do đó, xây dựng vùng, cơ sở và chuỗi an toàn dịch bệnh đạt tiêu chuẩn quốc tế phải được xem như một khoản đầu tư mở cửa thị trường, chứ không chỉ là nhiệm vụ thú y. Chính vì thế, trong Kế hoạch quốc gia phòng, chống các bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng và dịch tả heo châu Phi giai đoạn 2026 - 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 779/QĐ-TTg ngày 2/5/2026, trọng tâm sẽ đặt vào giám sát, cảnh báo sớm, an toàn sinh học, vaccine, kiểm soát giết mổ và xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh, hướng tới hệ thống phòng chống dịch hiện đại và đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Hình thành chuỗi giá trị và dữ liệu minh bạch
Thước đo cuối cùng và cũng là yếu tố quan trọng là khả năng liên kết chuỗi và truy
xuất nguồn gốc. Nếu sản xuất vẫn bị chia cắt thành từng khâu riêng lẻ thì doanh nghiệp khó kiểm soát chất lượng từ đầu vào đến đầu ra, người chăn nuôi khó tiếp cận công nghệ và thị trường, còn người tiêu dùng khó biết sản phẩm được tạo ra như thế nào. Vì vậy, mô hình 3F (Feed - Farm - Food) ngày càng có ý nghĩa. Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đang đi theo hướng này. Một ví dụ là Mavin, doanh nghiệp này đã triển khai mô hình 3F, ứng dụng hệ thống quản trị SAP ERP và tích hợp các tiêu chuẩn ESG vào chiến lược phát triển. Trong khi, C.P. Việt Nam cũng vận hành chuỗi sản xuất khép kín, chú trọng khâu chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, liên kết chuỗi hiện đại không chỉ dừng ở hợp đồng mua bán mà phải được liên kết bằng dữ liệu. Nguồn gốc con giống, thức ăn, lịch tiêm phòng, thuốc thú y, tốc độ tăng trưởng, điều kiện chuồng nuôi, quá trình vận chuyển, giết mổ và chế biến cần được số hóa để có thể truy xuất đến từng khâu. Điều đó có nghĩa, chuỗi cung ứng hiện đại phải có “lý lịch” rõ ràng và có thể kiểm chứng. Nhìn từ bốn thước đo này có thể thấy ngành chăn nuôi đã và đang đặt khoa học công nghệ, kiểm soát dịch bệnh, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi đã và vào trung tâm của quá trình tái cấu trúc. Sự chuyển đổi ấy sẽ quyết định không chỉ quy mô mà cả chất lượng tăng trưởng của ngành chăn nuôi Việt Nam trong giai đoạn tới.
PHAN THẢO
22
NHÌN RA THẾ GIỚI NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
TRUNG QUỐC
Xoay chuyển cục diện thương mại gia cầm châu Á Từ một thị trường dẫn đầu nhập khẩu thịt gà, Trung Quốc đang nhanh chóng chuyển hướng sang xuất khẩu. Sản lượng tăng, giá thịt ức cạnh tranh và chính sách tự chủ nguồn cung đang giúp nước này chiếm lĩnh thị trường gia cầm châu Á, đồng thời tạo thêm áp lực cạnh tranh đối với các nhà xuất khẩu truyền thống. “Phủ sóng” thị trường châu Á
Thương mại thịt gia cầm châu Á đang chuyển dịch khi Trung Quốc nhanh chóng thu hẹp vai trò của một nước nhập khẩu lớn và vươn lên thành nguồn cung xuất khẩu đáng chú ý. Theo ông Gordon Butland, Giám đốc G&S Agriconsultants, nhập khẩu gia cầm của Trung Quốc năm nay đã giảm 36%, trong khi xuất khẩu tăng 50%, nối tiếp xu hướng của năm trước. Với đà này, Trung Quốc có thể sớm vượt Thái Lan để trở thành một trong những nước xuất khẩu thịt gà lớn nhất châu Á. Lợi thế đáng kể của Trung Quốc là giá thịt ức gà cạnh tranh. Do phần thịt này không được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng bằng các sản phẩm khác, nguồn cung dư thừa có thể được đưa ra thị trường quốc tế với mức giá hấp dẫn. Hiện thịt ức gà Trung Quốc rẻ hơn ít nhất 1.000 USD/tấn so với sản phẩm cùng loại từ Brazil hoặc Thái Lan. Theo Butland, điều này tương tự lợi thế mà đùi gà Mỹ từng có trên thị trường xuất khẩu do nhu cầu tiêu thụ nội địa thấp. Bà Jessie Khor, chuyên gia phân tích chính tại S&P Global Energy CERA cho rằng, xuất khẩu gia tăng của Trung Quốc có thể làm cạnh tranh trên thị trường quốc tế gay gắt hơn, đồng thời tạo áp lực giảm giá đối với các nước xuất khẩu khác. Sản lượng thịt gia cầm
Trung Quốc năm 2026 được CERA dự báo tăng 4,5% so với năm 2025, chủ yếu nhờ sản lượng giết mổ tăng. Về thị trường, thịt gia cầm Trung Quốc có thể mở rộng sang châu Phi và các đảo quốc Thái Bình Dương. Trong khi đó, xuất khẩu sản phẩm gia cầm chế biến, đã qua xử lý nhiệt, sang EU và Anh cũng đang tăng. Đây là những thị trường hiện chỉ cho phép Trung Quốc xuất khẩu các sản phẩm thịt gà đã được nấu chín. Các quy định vệ sinh, kiểm dịch nghiêm ngặt hơn cũng đang được áp dụng tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Saudi Arabia đối với thịt gia cầm nhập khẩu từ Trung Quốc.
Siết chặt nhập khẩu
Theo ông Butland, quy định mới của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) về đăng ký doanh nghiệp sản xuất thực phẩm ở nước ngoài xuất khẩu vào Trung Quốc, có hiệu lực từ ngày 1/6, đã đưa ra hệ thống kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn. Trong khi nỗ lực tháo gỡ các rào cản đối với hàng xuất khẩu, quốc gia này đồng thời đang nâng yêu cầu đối với hàng thực phẩm nhập khẩu. Điểm đáng chú ý là Trung Quốc không chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng mà xem xét toàn bộ chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. “Một sản phẩm hoàn hảo vẫn có thể bị từ
chối nếu hệ thống tạo ra sản phẩm đó có những điểm không nhất quán”, ông Butland cho biết, sau khi phân tích một loạt trường hợp thịt bị từ chối nhập khẩu và các cơ sở giết mổ bị đình chỉ. Các yếu tố được xem xét bao gồm tính nhất quán của hồ sơ và hệ thống ghi nhãn, điều kiện vệ sinh, dư lượng các chất cấm, khả năng duy trì chuỗi lạnh và nguy cơ nhiễm vi sinh vật như Salmonella cùng các mầm bệnh khác. Theo quy định hiện hành của GACC, doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nước ngoài xuất khẩu vào Trung Quốc phải đăng ký với cơ quan này; GACC cũng có thể thực hiện đánh giá bằng hồ sơ, kiểm tra trực tuyến hoặc kiểm tra tại chỗ dựa trên mức độ rủi ro.
Gia cầm Thái Lan “chịu trận”
Các yêu cầu mới đã tạo ra tác động đáng kể đối với ngành gia cầm Thái Lan. Theo ông Butland, 22 trong số 27 nhà máy chế biến gia cầm của Thái Lan đã bị đình chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc, trong khi những cơ sở còn lại đang được kiểm tra lại. “Trung Quốc nhận thấy nhiều nhà xuất khẩu mua chân và các bộ phận gia cầm từ những nguồn khác rồi đóng gói lại. Vì vậy, họ đang kiểm soát toàn bộ hệ thống”, ông Butland nói. Các lệnh đình chỉ đã ảnh hưởng đáng kể
23
NHÌN RA THẾ GIỚI NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
đến kim ngạch xuất khẩu thịt gà của Thái Lan trong năm nay. Do tiêu chuẩn ngày càng cao, ông Butland cho rằng các nhà xuất khẩu nhỏ và những nước mới tham gia thị trường châu Á sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. “Muốn duy trì xuất khẩu ổn định cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ, hiệp hội và doanh nghiệp”, ông nói, đồng thời cho rằng Brazil và ở một mức độ nhất định là Thái Lan đã làm tốt điều này. Tuy nhiên, để duy trì lợi thế, cả Brazil và Thái Lan vẫn phải kiểm soát chặt chẽ các quy trình, dịch bệnh và chất lượng sản phẩm. Việt Nam cũng đang nỗ lực nâng cấp ngành gia cầm theo hướng xuất khẩu và có tiềm năng tham gia sâu hơn vào thị trường này. Theo ông Butland, với một số quốc gia khác tại châu Á, cơ hội phù hợp hơn có thể nằm ở việc phát triển xuất khẩu sang các thị trường láng giềng thay vì hướng tới vị thế nhà xuất khẩu toàn cầu.
Chi phí logistics tạo thêm sức ép
Không chỉ đối mặt với sự cạnh tranh từ Trung Quốc, các nhà xuất khẩu gia cầm châu Á còn chịu sức ép từ chi phí logistics tăng cao. Rubashiny Veeramohan, chuyên gia phân tích giá của S&P Global Energy cho biết, cước vận chuyển, phí cảng do ùn tắc và chi phí bao bì tăng đang ảnh hưởng đến thương mại gia cầm. Khi cộng thêm giá thức ăn chăn nuôi tăng, tổng chi phí sản xuất và xuất khẩu cũng bị đẩy lên. Ngành gia cầm Thái Lan còn chịu thêm những khó khăn trong nước. Các đợt nắng nóng hồi tháng 4 làm giảm tốc độ tăng trưởng vật nuôi và sản lượng thịt gà. Tình trạng thiếu lao động do xung đột Campuchia - Thái Lan hồi đầu năm cũng gây ảnh hưởng đến sản xuất. Bên cạnh đó, người chăn nuôi phải tăng chi phí làm mát và thông gió, trong khi trọng lượng gà đưa tới lò mổ giảm, khiến lịch giao hàng bị chậm và khối lượng xuất khẩu bị hạn chế. Thị trường toàn cầu tiếp tục điều chỉnh trước những biến động về địa chính trị, nguồn cung và nhu cầu khiến các nhà xuất khẩu gia cầm châu Á phải đánh giá lại vị thế của mình. Khi cạnh tranh ngày càng gay gắt và thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn, năng lực kiểm soát chất lượng, dịch bệnh, chuỗi cung ứng và phối hợp trong nước sẽ trở thành những yếu tố ngày càng quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu.
TUẤN MINH Theo Agribiz
INDONESIA
Nâng cấp ngành chăn nuôi heo Indonesia đang đẩy nhanh quá trình phục hồi ngành chăn nuôi heo sau dịch tả châu Phi (ASF) với lô 546 heo giống thuần chủng DanBred nhập khẩu từ Đan Mạch. Đây là lần đầu tiên sau hơn 30 năm Indonesia nhập khẩu heo sống, mở ra kỳ vọng nâng chất lượng di truyền và khôi phục đàn heo quốc gia. Nguồn gen mới, kỳ vọng nâng năng suất chăn nuôi
Lô heo gồm ba dòng DanBred là Landrace, Yorkshire và Duroc, sẽ trở thành nền tảng cho chương trình nhân giống DanBred được chứng nhận của Sulawesi Optima Wirakarya (SOW). Về sau, tinh heo sẽ được nhập khẩu bổ sung nhằm hoàn thiện chương trình, giúp doanh nghiệp cung cấp nguồn heo giống chất lượng cao cho người chăn nuôi Indonesia, đồng thời hỗ trợ tái thiết đàn heo quốc gia trong dài hạn. Ông Sauland Sinaga, Chủ tịch Hiệp hội động vật dạ dày đơn Indonesia (AMI) cho rằng, nhập khẩu không đơn thuần nhằm tăng số lượng heo mà quan trọng hơn là nâng chất lượng nền tảng di truyền của ngành. Indonesia là thị trường giàu tiềm năng bởi ngành heo nước này vẫn còn nhiều dư địa phục hồi sau đại dịch ASF. Đan Mạch hiện là một trong những quốc gia cung cấp nguồn gen heo hàng đầu thế giới. Các dòng DanBred Landrace, Yorkshire và Duroc được biết đến với khả năng sinh sản tốt, tốc độ tăng trưởng nhanh, hiệu quả sử dụng thức ăn cao và chất lượng thịt tốt. Theo ông Sinaga, những đặc tính này có thể giúp cải thiện đáng kể năng suất các trang trại heo Indonesia. Sự kết hợp LandraceYorkshire có khả năng cho nhiều heo con hơn, tăng trưởng tốt và đạt hệ số chuyển hóa thức ăn thấp hơn, đồng nghĩa người chăn nuôi cần ít thức ăn hơn để sản xuất mỗi kg thịt heo. Hiện một nái tại Indonesia trung bình cho khoảng 8 heo con đạt tiêu chuẩn mỗi lứa, trong khi đàn giống nhập khẩu được kỳ vọng có thể đạt tới 14 con/lứa. Như vậy, sản lượng có thể tăng thêm khoảng 6 heo con mỗi nái trong mỗi lứa. Trước lo ngại việc nhập khẩu có thể tạo ra tình trạng độc quyền tại Bắc Sulawesi, ông Sinaga cho rằng nhu cầu heo giống hiện vẫn vượt xa nguồn cung. Theo ông, người chăn
nuôi nên xem đây là cơ hội tiếp cận nguồn gen tốt hơn, qua đó nâng năng suất và thu nhập. Mục tiêu dài hạn là nhân rộng nguồn gen ưu việt này trên toàn Indonesia, xây dựng nền tảng giống quốc gia vững mạnh hơn.
Tín hiệu tích cực với người chăn nuôi
Việc đưa heo giống Đan Mạch vào Indonesia cũng nhận được sự quan tâm tích cực từ người chăn nuôi. Ông Gilbert Wantalangi, Chủ tịch Hiệp hội Người chăn nuôi heo Bắc Sulawesi cho rằng, nguồn gen mới có thể thúc đẩy đầu tư và hỗ trợ người dân khôi phục sản xuất sau nhiều năm chịu thiệt hại bởi ASF. “Nếu được phân phối tới các trang trại, nguồn giống này sẽ giúp nâng năng suất và khuyến khích đầu tư mới tại Bắc Sulawesi”, ông Wantalangi nói. Dù đàn heo trong tỉnh đang từng bước phục hồi, ông ước tính quy mô hiện mới đạt khoảng 50 - 70% so với trước khi ASF xuất hiện. Trong khi đó, nhu cầu thị trường vẫn ở mức cao, khoảng 5.000 con/tháng. Nguồn cung hạn chế đã duy trì giá heo hơi ở mức cao. Từ đầu năm đến nay, giá heo sống tại Indonesia dao động khoảng 2,75 - 2,86 USD/kg, tương đương mức quy đổi khoảng 49.850 - 51.850 rupiah/kg theo tỷ giá 18.126 rupiah/USD. Trong thời gian tới, DanBred dự kiến mở rộng năng lực nhân giống tại Indonesia thông qua hợp tác với SOW, nhằm duy trì nguồn cung ổn định các dòng giống mới Theo ông Nielsen, hợp tác với SOW sẽ giúp DanBred duy trì kết nối chặt chẽ với khách hàng Indonesia, kết hợp nguồn gen ưu việt với chuyên môn kỹ thuật, quy trình sản xuất hiện đại, an toàn sinh học và tiêu chuẩn phúc lợi động vật, qua đó góp phần xây dựng ngành chăn nuôi heo Indonesia có khả năng chống chịu tốt hơn và phát triển bền vững trong những năm tới.
VŨ ĐỨC
Theo Pig333
24
THỊ TRƯỜNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
TRỨNG GIA CẦM
Từ định kiến “cholesterol” đến siêu thực phẩm được khoa học giải oan Các nghiên cứu y khoa mới nhất đã phủ nhận những định kiến cũ về trứng gia cầm, khẳng định đây là nguồn dinh dưỡng vàng, giúp bảo vệ não bộ, giúp xương chắc khỏe và ngăn ngừa nhiều bệnh mãn tính trên người.
THỊ TRƯỜNG
25
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Từ lâu, trứng gia cầm, đặc biệt là trứng gà luôn có mặt trong mọi căn bếp nhờ sự tiện lợi, giá thành rẻ và hương vị thơm ngon. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ, loại thực phẩm này từng bị hạn chế trong thực đơn của nhiều người vì nỗi sợ hãi mang tên “cholesterol”. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hàng loạt nghiên cứu khoa học quy mô lớn được công bố trên các tạp chí y khoa uy tín thế giới đã chính thức giải oan và nâng tầm trứng thành một trong những “siêu thực phẩm” toàn diện nhất cho sức khỏe hiện đại.
Tăng cường thị lực, chống lão hóa mắt Lòng đỏ trứng chứa một lượng lớn lutein và zeaxanthin, hai chất chống ôxy hóa cực mạnh thuộc nhóm carotenoid. Điều đặc biệt là các chất này trong trứng có tính sinh khả dụng rất cao, nghĩa là cơ thể người dễ dàng hấp thụ hơn nhiều so với từ các nguồn thực vật. Chúng tích tụ ở võng mạc, hoạt động như một bộ lọc ánh sáng xanh tự nhiên, giúp bảo vệ mắt khỏi tổn thương và làm giảm đáng kể nguy cơ đục thủy tinh thể cũng như thoái hóa điểm vàng do tuổi tác.
Phát hiện mới nhất về lợi ích của trứng
Trợ thủ đắc lực trong kiểm soát cân nặng và cơ bắp Chỉ với khoảng 78 calo nhưng lại cung cấp tới 6 g protein chất lượng cao (chứa đầy đủ 9 axit amin thiết yếu), trứng mang lại chỉ số no bụng (satiety index) rất cao. Ăn trứng vào bữa sáng giúp giảm cảm giác thèm ăn và giảm lượng calo tiêu thụ trong các bữa ăn tiếp theo, hỗ trợ đắc lực cho người đang trong chế độ giảm cân hoặc muốn duy trì, phát triển khối lượng cơ bắp. Để giúp người tiêu dùng có cái nhìn trực quan, dưới đây là bảng tổng hợp hàm lượng dinh dưỡng của 3 loại trứng gia cầm phổ biến nhất, tính trên khẩu phần chuẩn 100 g (phần ăn được):
Không còn dừng lại ở những hiểu biết cơ bản về protein, các nhà khoa học đã tìm ra những tác động sinh học mạnh mẽ của trứng đối với cơ thể con người. Lá chắn bảo vệ não bộ trước bệnh Alzheimer Một trong những điểm sáng của các nghiên cứu gần đây là khả năng bảo vệ hệ thần kinh của trứng. Trứng là một trong những nguồn cung cấp choline dồi dào nhất tự nhiên (khoảng 147 mg trong một quả trứng lớn). Choline là tiền chất của acetylcholine, chất dẫn truyền thần kinh chịu trách nhiệm về trí nhớ và nhận thức. Các dữ liệu lâm sàng mới cho thấy, những người duy trì thói quen ăn từ 5 quả trứng trở lên mỗi tuần có thể giảm tới 27% nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và suy giảm trí tuệ khi về già. Thúc đẩy mật độ xương đỉnh Trước đây người ta nghĩ rằng chỉ có sữa mới giúp chắc xương, các nghiên cứu mới sẽ khiến nhiều người thay đổi quan điểm. Việc tiêu thụ khoảng 100 g trứng mỗi ngày đã được chứng minh là có liên quan trực tiếp đến việc cải thiện mật độ xương ở các vùng quan trọng như cổ, xương đùi và cột sống thắt lưng. Cơ chế này được kích hoạt nhờ các peptide đặc biệt trong trứng giúp kích thích alkaline phosphatase, một enzyme chủ chốt trong quá trình xây dựng và khoáng hóa xương. Đảo ngược nguy cơ tiểu đường và huyết áp cao Trái ngược với những lo ngại trước đây cho rằng trứng làm tăng nguy cơ chuyển hóa, các nghiên cứu theo dõi dài hạn lại cho thấy kết quả hoàn toàn ngược lại. Nhóm người ăn từ 5 quả trứng/tuần có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 thấp hơn 28% và nguy cơ tăng huyết áp thấp hơn 32% so với những người hiếm khi ăn. Các axit amin và chất chống ôxy hóa trong trứng đóng vai trò ổn định đường huyết và cải thiện độ nhạy insulin.
Thành phần dinh dưỡng Trứng gà (mỗi 100 g)
Trứng vịt
Năng lượng (Calories)
223 kcal (Cao 158 kcal nhất)
149 - 166 kcal
Trứng cút
Protein (Chất đạm)
12.7 g
15.1 g
15.3 g (Giàu đạm nhất)
Lipid (Chất béo)
10 - 11 g
13.5 18.5 g
11 - 13.1 g
Cholesterol
372 - 425 mg
537 884 mg (Cao nhất)
422 - 844 mg
Sắt (Iron)
1.75 mg
2.7 mg
3.65 mg (Giàu sắt nhất)
Vitamin B12
0.89 mcg
5.4 mcg (Gấp 5 lần
1.58 mcg
Từ bảng trên cho thấy, trứng vịt sở hữu hàm lượng lipid, Vitamin B12 và năng lượng vượt trội, rất phù hợp cho người cần phục hồi thể trạng hoặc người lao động nặng. Trong khi đó, trứng cút tuy nhỏ nhưng có tỷ lệ đậm đặc protein và sắt rất cao, tỷ lệ gây
→ Thông tin tại Hội nghị WEO Global Leadership Conference Singapore 2026 do World Egg Organisation tổ chức tại Singapore vừa qua, sản lượng trứng toàn cầu năm 2024 đạt khoảng 93,7 triệu tấn. Trong giai đoạn 2014 - 2024, sản lượng toàn ngành tăng bình quân 3,3% mỗi năm. Một số dự báo cho thấy, tổng lượng trứng có thể đạt khoảng 99 triệu tấn trong năm 2025 và tiếp tục tăng trưởng lũy kế khoảng 22% đến năm 2035.
dị ứng thấp nên đặc biệt thích hợp cho trẻ em đang phát triển. Trứng gà duy trì vị thế là nguồn dinh dưỡng cân bằng, dễ kiểm soát năng lượng nhất cho chế độ ăn hàng ngày.
Lời khuyên từ chuyên gia dinh dưỡng
Trước những bằng chứng khoa học không thể phủ nhận, các tổ chức y tế lớn như Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) đã thay đổi khuyến nghị, không còn đặt hạn mức khắt khe đối với lượng trứng tiêu thụ hàng ngày. Tuy nhiên, để tối ưu hóa lợi ích, các chuyên gia dinh dưỡng đưa ra lời khuyên phân loại theo từng đối tượng. Đối với người trưởng thành khỏe mạnh, việc ăn từ 5 đến 7 quả trứng mỗi tuần là hoàn toàn an toàn và được khuyến khích để bổ sung vi chất. Đối với người có bệnh lý nền, chẳng hạn những người đang bị rối loạn lipid máu nặng, gan nhiễm mỡ hoặc có yếu tố nguy cơ tim mạch cao do di truyền vẫn có thể ăn trứng, nhưng nên giới hạn từ 2 đến 3 quả/tuần và ưu tiên cách chế biến luộc, hấp thay vì chiên rán nhiều dầu mỡ. Tóm lại trứng gia cầm không chỉ là một món ăn bình dân, mà thực sự là một “viên nang dinh dưỡng” trọn vẹn mà thiên nhiên ban tặng. Bổ sung trứng một cách khoa học vào thực đơn hàng ngày chính là cách đơn giản và tiết kiệm nhất để bảo vệ sức khỏe toàn diện từ não bộ cho đến xương khớp.
TS NGUYỄN THANH SƠN
26
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Giá gà biến động trái chiều, trứng ổn định Tháng 9, giá gà thịt tại ba miền biến động trái chiều trong khi giá trứng gà tiếp tục ổn định. Thị trường được dự báo có xu hướng cải thiện vào những tháng cuối năm khi nhu cầu tiêu thụ tăng. Cụ thể, gà thịt lông màu miền Bắc tăng 11.000 đồng/kg, lên 69.000 đồng/kg; trong khi miền Trung giảm 2.000 đồng/kg, còn 43.000 đồng/kg và miền Nam giảm 2.000 đồng/kg, xuống 45.000 đồng/kg. Đối với gà công nghiệp, giá miền Bắc giảm 5.000 đồng/kg, còn 32.000 đồng/kg. Ngược lại, giá tại miền Trung và miền Nam cùng tăng 4.000 đồng/ kg, lên 27.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá trứng gà ổn định tại cả ba miền. Miền Bắc ở mức 2.100 đồng/quả, miền Trung 1.880 đồng/quả và miền Nam 1.730 đồng/quả. Thị trường gà thịt và trứng được dự báo có thể phục hồi vào cuối năm 2026, nhờ nhu cầu tiêu thụ tăng trong dịp lễ, Tết, cưới hỏi, bếp ăn học sinh và chế biến thực phẩm.
Giá thức ăn tăng, giá heo hơi giảm, người nuôi chịu sức ép kép Đầu tháng 10/2026, nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi tiếp tục điều chỉnh tăng giá 300 - 400 đồng/kg, đánh dấu đợt tăng giá thứ 7 trong năm nay. Trong đó, Cargill tăng 300 đồng/kg; De Heus tăng 400 đồng/kg đối với một số sản phẩm cám heo con, đậm đặc heo, còn các sản phẩm khác tăng 300 đồng/kg. ViNaFeed Miền Bắc cũng tăng 300 - 400 đồng/kg tùy sản phẩm. Trong khi đó, giá heo hơi cuối tháng 9 phổ biến 56.000 - 58.000 đồng/kg, mức cao nhất 59.000 đồng/kg. Tại miền Bắc, giá dao động 57.000 - 59.000 đồng/kg; miền Trung - Tây Nguyên 56.000 - 58.000 đồng/kg; miền Nam phổ biến 56.000 - 58.000 đồng/kg. So với đầu tháng 7, khi giá heo hơi còn khoảng 63.000 - 66.000 đồng/kg, mặt bằng hiện nay đã giảm đáng kể. Trong khi đó, chi phí thức ăn chiếm khoảng 60 - 70% giá thành chăn nuôi, nên việc giá cám liên tục tăng đang thu hẹp biên lợi nhuận của người nuôi.
Thịt heo Việt lép vế ngay trên “sân nhà” Thịt heo nhập khẩu giá rẻ đang tạo thêm sức ép lên chăn nuôi trong nước, trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng và sức mua thị trường chưa phục hồi mạnh. 7 tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 112.090 tấn thịt heo, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2025. Giá nhập khẩu bình quân chỉ khoảng 43.000 đồng/kg, giảm 38,4% so với cùng kỳ. Tại TP Hồ Chí Minh, một số sản phẩm thịt heo đông lạnh nhập khẩu có giá thấp hơn đáng kể so với hàng trong nước, với mức chênh 50.000 - 80.000 đồng/kg tùy loại. Một số sản phẩm được bán khoảng 45.000 - 56.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá heo hơi trong nước thời gian qua giảm, phổ biến quanh 56.000 59.000 đồng/kg, khiến biên lợi nhuận của người chăn nuôi bị thu hẹp. Cùng với đó, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng, làm chi phí sản xuất gia tăng.
Giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi biến động Thị trường nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong tháng 9/2026 diễn biến trái chiều. Trong khi giá cám gạo giảm do nguồn cung dồi dào, giá ngô, đậu tương và thức ăn chăn nuôi thành phẩm tăng, tạo thêm áp lực lên chi phí sản xuất. Tại ĐBSCL, giá cám gạo giảm khoảng 74 đồng/kg so với tháng 8, xuống còn 7.465 đồng/kg, do nguồn cung trong nước và từ Campuchia dồi dào, trong khi nhu cầu thấp, giao dịch chậm. Ngược lại, giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
từ đầu tháng 9 tăng 200 - 400 đồng/kg đối với thức ăn heo, 300 - 400 đồng/kg đối với thức ăn gia cầm và 500 - 1.500 đồng/kg đối với thức ăn thủy sản, chủ yếu do giá nguyên liệu nhập khẩu tăng. Trong khi đó, giá sắn lát nội địa trên 5,5 triệu đồng/tấn khiến một số nhà máy thức ăn chăn nuôi điều chỉnh công thức, giảm tỷ lệ phối trộn nhằm kiểm soát giá thành.
9 tháng, giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tăng 24,6% Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2026 ước đạt 63,9 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2026 đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 156,8 triệu USD, tăng 67,6%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 170,9 triệu USD, tăng 15,4%. Trong khi đó, giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2026 ước đạt 430,8 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2026 đạt 4 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 1,18 tỷ USD, tăng 11,2%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,6 tỷ USD, tăng 12,7%.
ĐÀ NẴNG
Giá heo hơi duy trì ở mức 53.000 đồng/kg Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi ngày 9/10/2026 tiếp tục chịu sức ép giảm, đặc biệt tại khu vực Bắc Trung Bộ. Giá thu mua toàn vùng dao động trong khoảng 51.000 - 54.000 đồng/kg, thấp hơn mặt bằng của miền Bắc. Trong đó, tại Đà Nẵng, mức giá duy trì là 53.000 đồng/kg. Tính đến ngày 1/9, tổng đàn heo của Đà Nẵng đạt hơn 372.000 con, tăng 12,5%, tương ứng tăng 41.400 con so với cùng kỳ năm 2025. Trong 9 tháng năm 2026, số heo xuất chuồng ước gần 405.000 con, tăng 9,7%; sản lượng thịt heo hơi đạt khoảng 30.000 tấn, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Chăn nuôi gia cầm cũng duy trì ổn định, với tổng đàn gần 7,5 triệu con, tăng 1,2%. Sản lượng thịt gia cầm hơi 9 tháng đạt khoảng 20.600 tấn, tăng 2,3%; sản lượng trứng gà đạt 117,9 triệu quả, tăng 3,3%.
TP HỒ CHÍ MINH
Giá gà công nghiệp giảm, người nuôi tiếp tục gặp khó Giá gà công nghiệp lông trắng xuất chuồng giảm 3.000 - 4.000 đồng/kg so với gần 10 ngày trước, xuống còn 28.000 - 30.000 đồng/ kg, trong khi sức mua chưa tăng tương ứng, tiếp tục gây áp lực lên người chăn nuôi. Tại thị trường bán lẻ TP Hồ Chí Minh, giá thịt gà công nghiệp tại các siêu thị phổ biến 60.000 - 105.000 đồng/ kg, tùy loại; một số điểm bán cuối ngày giảm giá 20 - 50%. Giá gà chịu sức ép do nguồn cung dồi dào, lượng gà nhập khẩu giá thấp tăng, trong khi nhu cầu tiêu thụ chưa cải thiện rõ rệt. Với giá gà xuất chuồng hiện ở mức thấp, trong khi chi phí sản xuất và giá thức ăn vẫn cao, người nuôi tiếp tục đối mặt với áp lực về hiệu quả kinh tế.
ANH VŨ Tổng hợp
27
28
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
ĐỨC
Giá bán buôn các sản phẩm từ sữa của EU (không bao gồm Anh) Từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 8 năm 2026
Giá thịt bò toàn cầu tháng 9 năm 2024 – tháng 9 năm 2026
Xuất khẩu thịt bò Mexico sang Mỹ
Số lượng công ty thức ăn chăn nuôi giảm Tính đến 28/8, trong niên vụ 2025/26, Đức có 253 công ty thức ăn chăn nuôi, sản xuất được 22,5 triệu tấn thức ăn hỗn hợp. Trong 12 tháng trước đó, Đức có 260 công ty đã sản xuất 22,2 triệu tấn. Theo Trung tâm Nông nghiệp Liên Bang Đức (BZL), sản lượng trung bình tăng từ 85.496 tấn lên gần 89.000 tấn mỗi công ty. Trong cơ cấu sản phẩm, thức ăn cho heo chiếm lớn nhất, sản lượng giảm còn 8,3 triệu tấn do số lượng trang trại giảm; thức ăn cho bò đạt 6,7 triệu tấn, tăng 3%; thức ăn cho gia cầm đạt 6,6 triệu tấn, tăng 1,5%. Về nguyên liệu, ngũ cốc chiếm 48,2% tổng sản lượng thức ăn hỗn hợp, tăng nhẹ từ 10,7 triệu tấn trong niên vụ 2024/25 lên khoảng 10,9 triệu tấn trong niên vụ 2025/26; sản lượng khô dầu sử dụng gần 5,9 triệu tấn, tăng gần 2,4%.
EU Nguồn: AHBD
Nguồn cung thịt bò thắt chặt, dự báo nhập khẩu giảm vào 2027 Số liệu mới nhất về cán cân cung cầu thịt bò của EU cho thấy, áp lực ngày càng tăng đối với sản xuất trong nước, do đàn gia súc bị thu hẹp, các quy định về môi trường và áp lực về lợi nhuận ở một số quốc gia sản xuất chính. Theo AHDB, sản lượng thịt bò của EU trong 6 tháng đầu năm đạt 3,8 triệu tấn, giảm 2%. Trong đó, Ba Lan ghi nhận mức giảm lớn nhất với 10%, từ 32.000 tấn xuống còn 292.000 tấn; Ireland giảm 6% và Italia giảm 4%. Để bù đắp phần nào cho sản lượng trong nước giảm, nhập khẩu thịt bò của EU đã tăng khoảng 33.000 tấn, tương đương mức tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái (tính theo trọng lượng thân thịt). Năm 2026, nhập khẩu thịt bò của EU ước tính sẽ đạt 480.000 tấn, đây là mức cao nhất kể từ năm 2009, với điều kiện rằng lượng thịt dự trữ của Brazil đã tích lũy đủ và các nhà cung cấp còn lại có thể cung cấp thêm 200.000 tấn trong nửa cuối năm.
BRAZIL
Tháng 8, xuất khẩu thịt bò giảm
Xuất khẩu thịt bò của Brazil
Xuất khẩu thịt bò Brazil tháng 8/2026 đạt 233.500 tấn, giảm 22,2% so với cùng kỳ năm 2025; kim ngạch đạt 1,36 tỷ USD, giảm 15,2%. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng bởi sự sụt giảm lượng xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong tháng 8, xuất khẩu sang quốc gia châu Á này đạt 18.900 tấn, giảm 88,2%; kim ngạch 101,9 triệu USD, giảm 88,6%. Bù lại, nhập khẩu từ các thị trường khác tăng mạnh: Mỹ đứng đầu với 35.300 tấn, tăng 276%; EU đạt 23.400 tấn, tăng 108,6%; Nga đạt 22.000 tấn, tăng 54,5%; và Chile đạt 17.400 tấn, tăng 44,4%. Lũy kế 8 tháng đầu năm, Brazil đã xuất khẩu 2,202 triệu tấn thịt bò, tăng 5,3%; kim ngạch đạt 12,79 tỷ USD, tăng 21,7%. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất, với 899.200 tấn, đạt kim ngạch 5,51 tỷ USD, giảm 6,6%. Tuy sụt giảm, nhưng quốc gia này vẫn chiếm 40,8% tổng lượng xuất khẩu thịt bò của Brazil.
ẤN ĐỘ
Xuất khẩu thịt trâu tăng trưởng mạnh năm thứ hai liên tiếp Trong năm tài chính 2025-26, xuất khẩu thịt trâu của Ấn Độ đạt
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
5,1 tỷ USD, tăng 25,6% so với năm 2024-25. Đà tăng tiếp tục duy trì sang năm nay, trong tháng 4 - 6/2026, kim ngạch xuất khẩu thịt trâu của quốc gia nay đạt gần 1,5 tỷ USD, tăng 66,6% so với cùng kỳ năm trước, và giới chức kỳ vọng cả năm 2026-27 vượt 6 tỷ USD. Không chỉ xuất được nhiều hơn, Ấn Độ còn bán được giá cao hơn. Đơn giá bình quân tăng từ 3.591 USD/tấn năm 2025-26 lên khoảng 4.392 USD/ tấn trong quý đầu năm nay, nhờ chất lượng và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm được cải thiện. Ấn Độ hiện là nhà xuất khẩu thịt bò/trâu lớn thứ ba thế giới, sau Brazil và Australia. Tuy vậy, tăng trưởng vẫn bị hạn chế bởi nguồn cung do phần lớn trâu bò giết mổ ở Ấn Độ là những con kém năng suất từ ngành sữa, không phải đàn nuôi lấy thịt.
MỸ
Thịt thăn heo thâm nhập thị trường nhà ăn công ty Nhật Bản Mùa hè năm nay, các món ăn từ thịt thăn heo Mỹ đã được quảng bá trong các nhà ăn của 17 tập đoàn lớn tại Nhật Bản (Công ty Bảo hiểm Nhân thọ, Meiji Yasuda, Tập đoàn Truyền hình Nippon, TV Asahi và Hãng tin Kyodo…), vốn đã là thị trường nhập hàng đầu mặt hàng này. Chương trình là kết quả sau 6 tháng nghiên cứu, lập kế hoạch và phát triển thực đơn với Tập đoàn Shidax, một nhà cung cấp dịch vụ ăn uống lớn của Nhật Bản. Trước đây, Shidax đã sử dụng thịt heo Canada, Mexico và trong nước, đây là lần đầu tiên họ sử dụng thịt heo Mỹ cho chiến dịch quảng bá này, và đang cân nhắc tiếp tục sử dụng sau khi đầu bếp đánh giá cao chất lượng sản phẩm.
PHILIPPINES
Nhập khẩu thịt heo dự kiến giảm Theo Cơ quan Thống kê Philippines, quý II/2026, sản lượng thịt heo của nước này đạt 412.280 tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2025. Giá heo hơi bình quân tại trang trại giảm gần 19%, từ 211,91 peso/kg cùng kỳ năm 2025 xuống còn 172,44 peso/kg. Cục Công nghiệp Chăn nuôi Philippines dự báo sản lượng heo nhập khẩu trong năm nay sẽ giảm khoảng 50.000 tấn, khoảng 5,9%. Nguyên nhân do sản lượng trong nước tăng, đồng thời các doanh nghiệp chế biến thực phẩm đã nhập khẩu với khối lượng lớn hơn trong năm trước.
HY LẠP
Xuất khẩu sữa dự kiến vượt mốc 2 tỷ Euro Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm sữa chua của Hy Lạp dự kiến sẽ vượt mốc 2 tỷ Euro trong năm nay. Có được doanh thu này là nhờ sự tăng trưởng trong xuất khẩu sữa chua và phô mai. Theo Hiệp hội các nhà xuất khẩu Hy Lạp, xuất khẩu sữa chua của nước này đã tăng hơn gấp 4 lần trong 6 năm qua. Trong 6 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu sữa chua Hy Lạp đã tăng 38% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 362 triệu Euro; khối lượng tăng từ 114.344 tấn lên 157.100 tấn. Với phô mai, xuất khẩu đạt giá trị 589 triệu Euro trong nửa đầu năm 2026, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2025; khối lượng đạt 75.055 tấn, tăng 69.851 tấn. Dự kiến xuất khẩu phô mai sẽ đạt giá trị gần 1,2 tỷ Euro trong năm nay, phô mai feta (làm từ sữa cừu) hiện chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu phô mai. Tuy nhiên, dịch đậu cừu đang gây áp lực lên ngành sản xuất phô mai feta, dự kiến khiến sản lượng loại này giảm 10.000 tấn trong năm nay.
TUẤN DŨNG (Tổng hợp)
29
30
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
32
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
GIÁ TRỨNG BIẾN ĐỘNG
Đâu là thời điểm thích hợp để đầu tư máy phân loại trứng? Khi giá trứng giảm, nhiều chủ trang trại gà đẻ và vựa trứng có xu hướng trì hoãn đầu tư thiết bị mới để hạn chế áp lực tài chính. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm doanh nghiệp cần nhìn lại chi phí vận hành, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh dài hạn, thay vì chỉ dựa vào giá trứng hiện tại để quyết định. Quy mô nào nên bắt đầu đầu tư?
Theo kinh nghiệm thực tế, các trang trại gà đẻ từ khoảng 50.000 con có thể xem xét đầu tư máy phân loại trứng công suất 10.000 trứng/giờ. Tuy nhiên, quyết định cần dựa trên sản lượng trứng thực tế mỗi ngày, số giờ làm việc và khả năng mở rộng quy mô trong tương lai. Đối với các vựa trứng, nhu cầu đầu tư còn phụ thuộc vào lượng trứng thu mua, số lượng khách hàng và yêu cầu phân loại của thị trường. Khi khối lượng trứng tăng, việc phân loại thủ công không chỉ tốn nhân công mà còn gây khó khăn trong việc duy trì tốc độ xử lý và độ đồng đều của sản phẩm.
Giá trứng giảm có đồng nghĩa với việc nên hoãn đầu tư?
Thực tế, giá bán trứng là yếu tố quan trọng nhưng không phải yếu tố duy nhất quyết định hiệu quả kinh doanh. Khi biên lợi nhuận bị thu hẹp, việc kiểm soát chi phí vận hành càng trở nên cần thiết. Phân loại trứng thủ công đòi hỏi nhiều lao động, thời gian làm
việc kéo dài và phụ thuộc đáng kể vào kinh nghiệm của người thực hiện. Ngược lại, máy phân loại trứng tự động giúp giảm nhu cầu nhân công trực tiếp, rút ngắn thời gian xử lý và tạo ra sản phẩm đồng đều hơn về trọng lượng, thuận lợi cho việc đóng gói, phân phối và xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp. Đặc biệt, với các dây chuyền tích hợp chức năng rửa, sấy, phát hiện trứng vỡ, trứng máu và đóng vỉ tự động, doanh nghiệp có thể từng bước nâng cao chất lượng vệ sinh, kiểm soát sản phẩm và đáp ứng những thị trường có yêu cầu khắt khe hơn.
Đầu tư dài hạn cần được tính bằng hiệu quả vận hành
Thay vì chỉ nhìn vào số tiền phải bỏ ra ban đầu, chủ trang trại nên phân bổ chi phí đầu tư theo thời gian sử dụng dự kiến và so sánh với khoản tiết kiệm từ nhân công, thời gian vận hành cùng những lợi ích kinh doanh khác. Chẳng hạn, một khoản đầu tư được phân bổ trong nhiều năm có thể tạo ra chi phí bình quân hằng tháng thấp hơn nhiều
so với cảm nhận ban đầu. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế cần được tính toán dựa trên sản lượng, chi phí lao động, điện năng, bảo trì và công suất sử dụng của máy. Đầu tư đúng công suất sẽ giúp hạn chế tình trạng lãng phí thiết bị hoặc quá tải trong quá trình vận hành.
Lựa chọn nhà cung cấp: Không chỉ mua máy mà còn chọn đối tác đồng hành
Bên cạnh công suất và công nghệ, doanh nghiệp cần quan tâm đến độ tin cậy của thiết bị, khả năng cung cấp linh kiện, dịch vụ hậu mãi và hỗ trợ kỹ thuật khi phát sinh sự cố. Với 13 năm kinh nghiệm
trong lĩnh vực thiết bị công nghiệp, B.H.N hướng đến việc cung cấp giải pháp phân loại trứng phù hợp với nhu cầu và ngân sách của từng khách hàng. Đội ngũ kỹ thuật giàu kinh nghiệm cùng dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật 24/7 là nền tảng để B.H.N đồng hành với khách hàng trong suốt quá trình sử dụng thiết bị. Trong bối cảnh thị trường biến động, đầu tư hiệu quả không nhất thiết là đầu tư lớn nhất, mà là lựa chọn giải pháp phù hợp để tối ưu chi phí hôm nay và nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH B.H.N Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP.HCM Số điện thoại: 028.668.101.95 Website: bhnenc.com - Email: bhnenc@gmail.com
B.H.N
33 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
34
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
SỨC KHỎE ĐƯỜNG RUỘT Nền tảng chăn nuôi gia cầm bền vững Sức khỏe đường ruột có vai trò quan trọng đối với khả năng hấp thu dinh dưỡng, tăng trưởng, miễn dịch và hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn gia cầm. Kiểm soát tốt các bệnh đường ruột không chỉ giúp hạn chế thiệt hại do dịch bệnh mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, hướng tới phát triển chăn nuôi bền vững. Ngày 15/9/2026 tại TP Hồ Chí Minh và ngày 17/9/2026 tại Hà Nội, Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam tổ chức hội thảo chuyên đề “Hiểu đúng - Điều trị đúng - Bảo vệ bền vững sức khỏe đường ruột trong chăn nuôi gia cầm”. Chương trình quy tụ các chuyên gia trong nước và quốc tế, bác sĩ thú y, đại diện doanh nghiệp cùng người chăn nuôi, tập trung trao đổi về nhận diện bệnh, chẩn đoán, điều trị và xây dựng chiến lược phòng ngừa các bệnh đường ruột trên gia cầm.
Nhận diện đúng bệnh để lựa chọn giải pháp phù hợp
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Trịnh Quang Thanh, Tổng Giám đốc Olmix Asialand Việt Nam cho rằng, sức khỏe đường ruột là vấn đề được ngành chăn nuôi ngày càng quan tâm trong bối cảnh chi phí sản xuất, đặc biệt là giá thức ăn, còn nhiều biến động; đồng thời yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm soát các bệnh đường ruột ngày càng cao. Theo Tổng giám đốc Trịnh
Quang Thanh, đường ruột khỏe mạnh là nền tảng để vật nuôi phát huy tối đa tiềm năng tăng trưởng, nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi. Vì vậy, việc hiểu đúng, kiểm soát và có giải pháp phù hợp đối với sức khỏe đường ruột có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng mô hình chăn nuôi hiệu quả và bền vững. “Muốn xây dựng một đàn gia cầm khỏe mạnh, hãy bắt đầu từ đường ruột. Muốn xây dựng một ngành chăn nuôi bền vững, hãy bắt đầu từ tri thức và sự hợp tác”, Tổng Giám đốc Olmix Asialand Việt Nam Trịnh Quang Thanh nhấn mạnh. Trong chăn nuôi gia cầm, các vấn đề về đường ruột luôn được quan tâm bởi tác động trực tiếp đến sức khỏe và năng suất đàn. Khi chức năng đường ruột bị ảnh hưởng, khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng suy giảm, kéo theo tình trạng tăng trưởng không đồng đều, hệ số chuyển đổi thức ăn tăng và chi phí sản xuất gia tăng. Theo các chuyên gia, nhiều yếu tố có thể tạo điều kiện cho bệnh đường ruột phát sinh và diễn biến phức tạp, như điều kiện chuồng
nuôi, mật độ đàn, chất lượng thức ăn và nước uống, công tác vệ sinh, an toàn sinh học cũng như sức đề kháng của vật nuôi. Trong bối cảnh ngành chăn nuôi ngày càng chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, tăng cường an toàn sinh học và giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh, việc chủ động phòng bệnh, phát hiện sớm và xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh có ý nghĩa quan trọng trong quản lý sức khỏe đàn. Tại hội thảo, Dr. Marcellinus Antonius Maria Boereboom, chuyên gia tư vấn thú y quốc tế, trình bày chuyên đề “Nhận diện E.coli và các bệnh đường ruột trên gà, vịt trong điều kiện chăn nuôi hiện nay”. Nội dung tập trung vào việc nhận diện các dấu hiệu lâm sàng, xác định yếu tố nguy cơ trong môi trường chăn nuôi và đánh giá tác động của bệnh đến hiệu quả sản xuất. Theo chuyên gia, nhận diện đúng bệnh ngay từ đầu là cơ sở để xây dựng phương án xử lý phù hợp. Trên thực tế, các biểu hiện rối loạn đường ruột có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nếu chỉ dựa vào
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
35
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
triệu chứng bên ngoài mà chưa xác định đầy đủ nguyên nhân, việc điều trị có thể không đạt hiệu quả như kỳ vọng, đồng thời làm gia tăng chi phí và áp lực quản lý đàn. Vì vậy, hiểu đúng về bệnh và xác định chính xác nguyên nhân là những bước quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị, kiểm soát bệnh và hạn chế nguy cơ tái phát. Cũng tại chương trình, Dr. Tomislav Dumanovsky, Quản lý khách hàng chiến lược toàn cầu của Dopharma, chia sẻ chuyên đề “Bằng chứng kiểm soát hiệu quả bệnh đường ruột trên gia cầm từ các thử nghiệm thực địa”. Thông qua các kết quả thử nghiệm thực địa, Dr. Tomislav Dumanovsky nhấn mạnh vai trò của việc xây dựng chương trình kiểm soát bệnh có hệ thống, thay vì chỉ tập trung xử lý khi đàn đã xuất hiện những biểu hiện bệnh rõ rệt. Theo đó, quản lý sức khỏe đàn cần được triển khai đồng bộ, từ điều kiện chuồng nuôi, an toàn sinh học, dinh dưỡng, chất lượng nước đến việc theo dõi đàn, chẩn đoán và lựa chọn giải pháp phù hợp. Cách tiếp cận này hướng tới mục tiêu giảm áp lực bệnh, duy trì năng suất và tối ưu hiệu quả kinh tế của trang trại.
Chủ động phòng bệnh, nâng cao sức khỏe đường ruột
Một trong những nội dung trọng tâm của hội thảo là chuyên đề “Tăng cường sức khỏe đường ruột - Nền tảng phòng bệnh bền vững” do bác sĩ thú y Nguyễn Minh Đức, Giám đốc Kỹ thuật Olmix Asialand Việt Nam, trình bày. Theo nội dung được chia sẻ tại hội thảo, đường ruột không chỉ đảm nhiệm chức năng tiêu hóa mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng hấp thu dinh dưỡng, tăng trưởng và sức khỏe tổng thể của vật nuôi. Khi hệ tiêu hóa hoạt động ổn định, gia cầm có điều kiện khai thác tốt hơn giá trị dinh dưỡng từ thức ăn, duy trì tốc độ tăng trưởng và khả năng đáp ứng miễn dịch. Ngược lại, những rối loạn kéo dài ở đường ruột có thể làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn và gia tăng nguy cơ phát sinh các vấn đề sức khỏe khác. Do đó, thay vì chỉ tập trung xử lý khi bệnh xuất hiện, việc duy trì sức khỏe đường ruột ngay từ đầu cần được xem là một phần quan trọng trong chiến lược phòng bệnh chủ động, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giảm thiểu các rủi ro trong quá trình sản xuất. Bên cạnh các nội dung về nhận diện và phòng bệnh, hội thảo cũng dành sự quan tâm đến công tác chẩn đoán thông qua chuyên đề “Olmix đồng hành cùng người chăn nuôi
trong công tác chẩn đoán bệnh” do bác sĩ thú y Huỳnh Thị Bích Truyền, Giám đốc Công ty TNHH ViphaLab, chia sẻ. Theo bà Huỳnh Thị Bích Truyền, chẩn đoán đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguyên nhân gây bệnh và lựa chọn hướng xử lý phù hợp. Việc kết hợp giữa quan sát, theo dõi thực địa và các phương pháp xét nghiệm có thể cung Ông Trịnh Quang Thanh, Tổng Giám đốc Olmix Việt Nam phát biểu tại Hội thảo cấp thêm cơ sở khoa học để đánh giá chính xác tình trạng đàn. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp Đặc biệt, khi bệnh đường ruột có thể liên với yêu cầu của ngành chăn nuôi hiện nay, quan đến nhiều yếu tố, việc xác định đúng không chỉ nhằm kiểm soát dịch bệnh và duy nguyên nhân sẽ giúp người chăn nuôi hạn trì năng suất mà còn hướng tới nâng cao hiệu chế xử lý theo kinh nghiệm đơn thuần, đồng quả sử dụng thức ăn, giảm chi phí, sử dụng thời có cơ sở xây dựng chương trình điều trị, thuốc thú y hợp lý và phát triển mô hình quản lý đàn và kiểm soát chi phí hiệu quả chăn nuôi bền vững hơn. hơn. Thông qua hội thảo, Olmix Asialand Việt Trong khuôn khổ chương trình, phần Nam tiếp tục thể hiện định hướng đồng hành thảo luận mở thu hút sự quan tâm của đông cùng doanh nghiệp, bác sĩ thú y và người đảo đại biểu với nhiều câu hỏi và trao đổi chăn nuôi trong việc cập nhật kiến thức khoa thực tế xoay quanh công tác quản lý bệnh học, nâng cao năng lực chẩn đoán và ứng đường ruột, an toàn sinh học, dinh dưỡng, dụng các giải pháp quản lý sức khỏe vật nuôi. chẩn đoán và các giải pháp hỗ trợ sức khỏe Đại diện doanh nghiệp cho biết, hiểu vật nuôi. Các nội dung được chia sẻ đều cho đúng để phòng đúng, chẩn đoán đúng để thấy, quản lý sức khỏe đường ruột cần được điều trị đúng và duy trì sức khỏe đường ruột tiếp cận theo hướng tổng thể và chủ động. tốt là những yếu tố quan trọng góp phần bảo Trong đó, phòng bệnh, an toàn sinh học, vệ đàn gia cầm, nâng cao hiệu quả sản xuất dinh dưỡng phù hợp, theo dõi đàn và chẩn và hướng tới phát triển chăn nuôi bền vững. đoán chính xác cần được kết nối thành một chương trình quản lý thống nhất. NGỌC ÁNH
VỀ OLMIX ASIALAND VIỆT NAM Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sản xuất phụ gia thức ăn chăn nuôi, sản phẩm cho cây trồng từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên như tảo biển, nấm men, gỗ; đồng thời phân phối vaccine, thuốc thú y và các sản phẩm thủy sản từ những thương hiệu quốc tế. Với định hướng cung cấp các giải pháp cho ngành chăn nuôi, Olmix hướng tới việc hỗ trợ người chăn nuôi nâng cao hiệu quả kinh tế, sức khỏe và phúc lợi vật nuôi. Năm 2026, Olmix trở thành thành viên của EW Group, tập đoàn hoạt động trên phạm vi toàn cầu trong các lĩnh vực di truyền giống, dinh dưỡng và sức khỏe vật nuôi. Việc gia nhập EW Group được kỳ vọng mở rộng cơ hội hợp tác, nghiên cứu và phát triển các giải pháp khoa học phục vụ mục tiêu nâng cao sức khỏe vật nuôi và phát triển chăn nuôi bền vững.
36
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Aquaproducts đồng hành cùng Hội thảo “Feeding the future: The one health evolution” tại Thái Lan
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
37
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Aquaproducts (Marine Biotech Vietnam) vừa qua đã tham gia và đồng hành cùng Hội thảo Kỹ thuật Quốc tế “Feeding the Future: The One Health Evolution” diễn ra tại Khách sạn Eastin Grand Hotel Phayathai, Bangkok, Thái Lan. Sự kiện hội tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu cùng đại diện các doanh nghiệp uy tín trong ngành chăn nuôi gia cầm và heo từ khu vực Đông Nam Á và châu Âu. Quy tụ dàn chuyên gia hàng đầu khu vực và quốc tế
Hội thảo “Feeding the Future: The One Health Evolution” được tổ chức với mục tiêu thúc đẩy các giải pháp phát triển chăn nuôi bền vững, tập trung vào mô hình dinh dưỡng sinh thái, giảm đạm và lập trình hệ vi sinh đường ruột giai đoạn sớm cho vật nuôi. Sự kiện quy tụ dàn diễn giả và chuyên gia uy tín từ các viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu Thái Lan cũng như các tập đoàn dinh dưỡng hàng đầu thế giới: ■ PGS. TS. Yuwares Ruangpanit - Khoa Chăn nuôi, Đại học Kasetsart (Thái Lan) chia sẻ về quản lý dinh dưỡng giai đoạn sớm ở gia cầm. ■ TS. Pradeep Padmaja Jayaprasad - Tập đoàn Leiber GmbH (Đức) trình bày chiến lược ứng dụng nấm men chức năng cho chăn nuôi bền vững. ■ Ông Fabrice Manghebati - CEO Manghebati SAS (Pháp) chia sẻ giải pháp chiết xuất thực vật kiểm soát sức khỏe đường ruột và bệnh cầu trùng. ■ TS. Chi Man - Tập đoàn Corbion (Hà Lan) giới thiệu giải pháp Algae Omega-3 DHA nâng cao hiệu suất sinh sản và giá trị thương phẩm. ■ TS. Winai Thongmak - Chuyên gia chăn nuôi heo từ Live Informatics (Thái Lan) phân tích tầm quan trọng của dinh dưỡng sề nuôi con. ■ TS. Yongyuth Theapparat - Đại học Prince of Songkla (Thái Lan) trình bày về trục vi sinh vật - đường ruột (Gut Microbiome-Gut-X Axis).
Aquaproducts chia sẻ giải pháp đạm sinh học và Peptide chức năng
Tại Hội thảo, ông Thomas Levallois, Giám đốc Điều hành của Aquaproducts (Marine Biotech Vietnam) đã có bài trình bày chuyên sâu với chủ đề: “Cải thiện sức khỏe heo con và năng suất đàn heo nái thông qua bổ sung Peptide chức năng trong các giai đoạn sinh sản”. Bài phát biểu tập trung phân tích cơ chế tác động của các chuỗi peptide chiết xuất sinh học từ nguồn nguyên liệu biển (Marine Functional Peptides). Việc bổ sung dòng sản phẩm peptide chức năng giúp nâng cao khả năng hấp thu dinh dưỡng, tối ưu hóa chất lượng sữa nái, đồng thời tăng cường sức đề kháng cho heo con ngay từ giai đoạn đầu đời. Chỉ số / Hiệu quả thực tế từ Peptide chức năng Mục tiêu Aquaproducts Sức khỏe Tăng cường khả năng thu nhận thức ăn trong giai heo nái sinh đoạn nuôi con, giảm tình trạng mất sức và cải sản thiện chỉ số thể trạng (BCS). Tăng trưởng Nâng cao trọng lượng cai sữa, đồng đều đàn heo heo con theo con và giảm tỷ lệ hao hụt trong 21 ngày đầu đời. nái Độ vẹn toàn Cải thiện chiều cao nhung mao đường ruột, hỗ trợ đường ruột phát triển hệ miễn dịch tự nhiên và giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh.
Aquaproducts (Marine Biotech Vietnam)
Là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các giải pháp đạm thủy phân, peptide sinh học từ nguồn phụ phẩm biển bền vững. Với định hướng ứng dụng công nghệ enzym hiện đại, Aquaproducts cung cấp các dòng nguyên liệu giá trị gia tăng cao cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản. Các giải pháp cốt lõi của Aquaproducts bao gồm PEPTITOM, PEPTIMAR và PEPTISALM: ■ Dòng Peptide Chức năng: Tập trung vào việc kích thích bắt mồi, tối ưu hóa quá trình tiêu hóa - hấp thu, nâng cao sức khỏe đường ruột và tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên cho heo, gia cầm và thủy sản. ■ Nguồn đạm sinh học bền vững: Thay thế các nguồn đạm truyền thống bằng giải pháp thủy phân có độ tiêu hóa cao, giúp giảm chi phí công thức thức ăn và thân thiện với môi trường. Website: aquaproducts.org Số điện thoại: +84 (0) 272.3.83.99.88 Email: contact@aquaproducts.org
Định hướng phát triển chăn nuôi xanh
Bên cạnh bài trình bày kỹ thuật, đoàn đại diện Aquaproducts cũng tham gia phiên thảo luận cùng các chuyên gia hàng đầu để thảo luận về chủ đề “Lập trình dinh dưỡng giai đoạn sớm: Đột phá công nghệ hay xu hướng thời hạn?”. Sự tham gia tích cực của Aquaproducts tại thị trường quốc tế khẳng định cam kết của Công ty trong việc cung cấp các giải pháp nguyên liệu dinh dưỡng biển bền vững, đồng hành cùng người chăn nuôi và các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi hướng tới tiêu chuẩn chăn nuôi xanh, không kháng sinh và an toàn thực phẩm.
AQUAPRODUCTS
38
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Chuồng nuôi gà thịt hở phụ thuộc vào thông gió tự nhiên nên việc kiểm soát môi trường khó khăn hơn chuồng kín. Tuy nhiên, thành công của mô hình này phụ thuộc chủ yếu vào cách quản lý chuồng nuôi.
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
39
40 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
KIỂM SOÁT CHUỘT MỐI NGUY AN TOÀN SINH HỌC Chuột gây nhiều rủi ro cho các trang trại gia cầm, từ phát tán mầm bệnh, làm nhiễm bẩn thức ăn đến phá hoại công trình, thiết bị và đe dọa an toàn sinh học. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể kiểm soát chuột bằng cách kết hợp quản lý trang trại chặt chẽ với chương trình kiểm soát chủ động, triển khai quanh năm thay vì chỉ xử lý khi chuột xuất hiện. ☐ AVIAGEN
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
41
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Nhiều người chăn nuôi chỉ xem chuột là loài gây hại vì chúng ăn thức ăn, nhưng trên thực tế, mối đe dọa mà chúng gây ra lớn hơn nhiều. Chuột cống và chuột nhắt có thể mang nhiều loại mầm bệnh nguy hiểm đối với gia cầm, trong đó có E. coli, Salmonella, Campylobacter, Mycoplasma, virus Newcastle, virus Metapneumovirus, cùng với mạt và giun ký sinh đường ruột. Trong quá trình di chuyển khắp trang trại, chúng có thể phát tán các tác nhân gây bệnh qua chân và cơ thể. Chuột cũng gây thiệt hại kinh tế đáng kể. Chỉ một quần thể khoảng 100 con chuột có thể phá hoại gần 1 tấn thức ăn gia cầm mỗi năm. Đáng lo ngại hơn, lượng thức ăn bị chúng làm nhiễm bẩn bởi phân, nước tiểu và lông có thể gấp khoảng 10 lần lượng thức ăn chúng thực sự ăn. Ngoài ra, chuột thường xuyên cắn phá dây điện, gỗ và vật liệu cách nhiệt, làm tăng chi phí sửa chữa, bảo trì và thậm chí có thể gây nguy cơ cháy.
Kiểm soát tổng hợp - giải pháp hiệu quả nhất
Không có một biện pháp đơn lẻ nào có thể kiểm soát chuột lâu dài. Vì vậy, trang trại cần triển khai chương trình quản lý dịch hại tổng hợp, kết hợp các biện pháp phòng ngừa, đặt bẫy và sử dụng bả quanh năm, bất kể có phát hiện chuột hay không. Trước hết, cần hạn chế các điều kiện thu hút chuột bằng cách loại bỏ nguồn thức ăn, nước uống và nơi trú ẩn của chúng. Đồng thời, sử dụng bẫy hoặc hộp đặt bả để giảm số lượng chuột và duy trì giám sát thường xuyên nhằm phát hiện sớm nguy cơ tái xâm nhập.
Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo
Những dấu hiệu phổ biến cho thấy chuột đang xuất hiện trong trang trại gồm: tiếng cào hoặc tiếng động trong tường; phân chuột gần khu vực chứa thức ăn; vết nước tiểu có thể phát hiện dưới tia cực tím; hang mới đào; dấu răng cắn; vết dầu hoặc vết bẩn do chuột cọ vào đường ống; và mùi hôi đặc trưng dai dẳng. Đèn pin cũng có thể hỗ trợ phát hiện chuột vào ban đêm, bởi mắt chuột có khả năng phản chiếu ánh sáng. Đánh giá quy mô quần thể chuột giúp xác định mức độ kiểm soát phù hợp. Nếu chỉ phát hiện một vài dấu hiệu mà chưa trực tiếp nhìn thấy chuột, số lượng chuột có thể còn ít. Thường xuyên bắt gặp chuột vào ban đêm cho thấy trang trại đã có chuột xâm nhập; còn nếu thấy nhiều chuột vào ban ngày, đó có thể là dấu hiệu quần thể đã tăng cao.
Phòng ngừa bắt đầu từ trang trại
Thiết kế và bảo trì trang trại đóng vai trò
Kế hoạch đặt bả kiểm soát loài chuột, thể hiện các điểm đặt bả tạm thời và cố định
quan trọng trong việc ngăn chuột xâm nhập. Hàng rào bao quanh trang trại nên được lắp tấm kim loại chắn ở phần chân để hạn chế chuột tìm đường vào khu vực bên trong. Chuồng nuôi cần được thiết kế nhằm giảm tối đa các điểm xâm nhập, với cửa đóng kín, nền móng bê tông chắc chắn và phần nền bao quanh chuồng được thiết kế để hạn chế chuột đào hang. Trang trại cần thường xuyên kiểm tra và bịt kín mọi khe hở mà chuột có thể chui qua. Cần phát quang thảm thực vật quanh khu vực chu vi trang trại và giữa các dãy chuồng; những khu vực này nên được rải sỏi nếu điều kiện cho phép. Không để thiết bị, chất độn chuồng hoặc vật liệu xây dựng không sử dụng nằm ngổn ngang, bởi đây có thể trở thành nơi làm tổ lý tưởng cho chuột. Thức ăn chăn nuôi phải luôn được bảo quản trong thùng kín chống chuột hoặc các thùng kim loại có nắp đậy. Thức ăn rơi vãi cần được dọn sạch ngay; đồng thời loại bỏ các khu vực đọng nước. Rác thải, đặc biệt là rác thực phẩm, phải được thu gom khỏi trang trại. Gia cầm chết cũng cần được thu gom và xử lý kịp thời theo đúng quy định để tránh thu hút chuột và các loài gây hại khác.
Đặt bả - quy trình quản lý thường xuyên
Một chương trình đặt bả hiệu quả cần được triển khai trước khi đưa đàn gia cầm vào nuôi. Hoạt động của chuột phải được theo dõi và ghi chép trong suốt vòng đời của đàn. Việc nắm được quy mô ước tính và vị trí tập trung của quần thể chuột sẽ giúp lựa chọn biện pháp kiểm soát phù hợp nhất. Bẫy sập và bẫy hộp hữu ích khi số lượng chuột còn thấp. Bẫy nên được đặt sát tường, phía sau các vật dụng, tại những góc tối và những nơi phát hiện phân chuột hoặc dấu răng cắn. Cần kiểm tra bẫy hằng ngày.
Hộp đặt bả cố định nên được bố trí tại những khu vực tập trung hoạt động của chuột, cả bên trong và bên ngoài chuồng nuôi, dọc theo tường và gần các lối ra vào. Các hộp đặt bả cần được kiểm tra, bổ sung bả mới định kỳ. Nên luân phiên hoạt chất và chất dẫn dụ khoảng 4 tháng/lần để duy trì hiệu quả kiểm soát, đồng thời vệ sinh kỹ các hộp đặt bả mỗi năm. Luôn đeo găng tay khi thao tác với bả để hạn chế hơi người bám vào bả, bởi điều này có thể làm giảm khả năng chuột tiếp cận.
Giám sát liên tục
Kiểm soát chuột không phải là công việc chỉ thực hiện một lần. Ngay cả khi quần thể chuột đã giảm đáng kể, việc kiểm tra định kỳ các hộp đặt bả và toàn bộ môi trường trang trại vẫn cần thiết. Nếu số lượng chuột không giảm như dự kiến, người chăn nuôi nên tìm đến đơn vị kiểm soát dịch hại chuyên nghiệp để đánh giá lại và tăng cường chương trình kiểm soát. Một chương trình kiểm soát chuột hiệu quả không chỉ bảo vệ công trình và nguồn thức ăn. Quan trọng hơn, nó góp phần tăng cường an toàn sinh học, giảm nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe đàn gia cầm và duy trì hiệu quả sản xuất. Kiểm soát chuột thường xuyên sẽ giúp người chăn nuôi chủ động phòng ngừa, không để loài gây hại nhỏ này trở thành mối đe dọa lớn đối với trang trại.
→ Để biết thêm thông tin, truy cập Trung tâm Thông tin Aviagen hoặc quét mã QR.
42
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Trong chăn nuôi heo, hiệu quả của khẩu phần không chỉ được nhìn qua tốc độ tăng trọng mà còn thể hiện ở cách vật nuôi sử dụng nguồn dinh dưỡng để hình thành mô cơ, tích lũy mỡ và tạo nên giá trị thân thịt. RAMIL GP là phụ gia dinh dưỡng từ các hoạt chất tự nhiên, được phát triển theo hướng hỗ trợ tiêu hóa, hấp thu và chuyển hóa dưỡng chất, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng acid amin, hỗ trợ phát triển mô cơ và kiểm soát tích lũy mỡ.
Tăng hiệu quả sử dụng acid amin, hỗ trợ phát triển mô cơ
Trong khẩu phần ăn của heo, protein và acid amin là những dưỡng chất quan trọng đối với quá trình tăng trưởng và hình thành mô cơ. Tuy nhiên, hiệu quả của khẩu phần không chỉ phụ thuộc vào lượng dinh dưỡng được cung cấp mà còn nằm ở khả năng tiêu hóa, hấp thu và sử dụng những dưỡng chất đó trong cơ thể. Sau khi được hấp thu, acid amin có thể được sử dụng cho nhiều quá trình khác nhau. Khi khả năng khai thác dinh dưỡng không tối ưu, một phần acid amin có thể bị phân giải và không được sử dụng hiệu quả cho quá trình tổng hợp protein. RAMIL GP được phát triển từ các hoạt chất tự nhiên, gồm ginsenosides, chiết xuất
thực vật và peptide lên men. Sản phẩm hướng đến việc hỗ trợ hoạt động của đường ruột, quá trình tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, tạo điều kiện để các chất dinh dưỡng trong khẩu phần được khai thác hiệu quả hơn. Khi nguồn acid amin được hấp thu và sử dụng tốt hơn, cơ thể có điều kiện phân bổ nguồn dinh dưỡng cho quá trình tổng hợp protein và phát triển mô cơ. Đây là một trong những yếu tố có ý nghĩa đối với mục tiêu cải thiện tỷ lệ nạc và giá trị thân thịt ở heo.
Hỗ trợ chuyển hóa tại gan, hướng đến cân bằng giữa tích lũy cơ và mỡ
Từ đường tiêu hóa, dưỡng chất tiếp tục đi vào các quá trình chuyển hóa của cơ thể.
Trong đó, gan giữ vai trò trung tâm trong nhiều hoạt động liên quan đến chuyển hóa protein, lipid và năng lượng. Bên cạnh tác động hỗ trợ tiêu hóa và hấp thu, các hoạt chất trong RAMIL GP hỗ trợ hoạt động chuyển hóa giúp cơ thể khai thác nguồn dưỡng chất từ khẩu phần theo hướng phù hợp hơn với nhu cầu tăng trưởng. Đối với heo nuôi thịt, một cơ thể tăng trưởng hiệu quả cần đạt được sự cân đối giữa phát triển mô cơ và tích lũy mô mỡ. Khi dinh dưỡng được sử dụng hiệu quả cho quá trình tổng hợp protein, đồng thời quá trình chuyển hóa lipid được hỗ trợ, việc kiểm soát tích lũy mỡ trở thành một phần quan trọng trong bài toán nâng cao chất lượng thân thịt.
43
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Kiểm soát stress ôxy hóa, hỗ trợ chất lượng mô cơ
Bên cạnh dinh dưỡng và chuyển hóa, trạng thái ôxy hóa trong cơ thể cũng có liên quan đến quá trình tăng trưởng và chất lượng mô. Trong điều kiện chăn nuôi, nhiều yếu tố có thể làm gia tăng stress ôxy hóa, ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý của vật nuôi. RAMIL GP được định hướng hỗ trợ khả năng chống ôxy hóa của cơ thể, góp phần duy trì sự cân bằng giữa quá trình tạo ra và trung hòa các gốc ôxy hóa hoạt động (ROS). Khi trạng thái ôxy hóa được kiểm soát, môi trường sinh lý thuận lợi hơn cho quá trình duy trì và phát triển mô cơ. Với heo thịt, chất lượng sản phẩm cuối cùng không chỉ được đánh giá bằng khối lượng xuất bán hay tỷ lệ nạc. Các đặc tính như màu sắc, cấu trúc, độ săn chắc và khả năng giữ nước của thịt cũng ngày càng được quan tâm. Vì vậy, những yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái mô cơ trong suốt quá trình nuôi cần được nhìn nhận cùng với các chỉ tiêu tăng trưởng. Trong chăn nuôi heo, hiệu quả sử dụng thức ăn ngày càng được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh hơn thay vì chỉ dựa vào tốc độ tăng trọng. Nguồn dinh dưỡng đưa vào khẩu phần cần được tiêu hóa, hấp thu và sử dụng hiệu quả để phục vụ quá trình hình thành mô cơ, đồng thời hạn chế sự tích lũy mỡ không mong muốn. Cùng với đó, việc duy trì trạng thái ôxy hóa ổn định cũng có ý nghĩa đối với quá trình tăng trưởng và chất lượng mô cơ. Đây là những yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với tỷ lệ nạc, mỡ lưng và giá trị thân thịt khi heo xuất bán. Từ yêu cầu đó, RAMIL GP - phụ gia thức ăn chăn nuôi từ chiết xuất thực vật (Phytogenics) được TVOne Việt Nam phát triển với hướng tác động tập trung vào quá trình sử dụng dinh dưỡng của vật nuôi, từ tiêu hóa và hấp thu đến sử dụng acid amin, chuyển hóa protein - lipid và hỗ trợ chống ôxy hóa. Khi các quá trình này được hỗ trợ đồng bộ, nguồn dưỡng chất trong khẩu phần có điều kiện được khai thác tốt hơn cho tăng trưởng và phát triển mô cơ. Qua đó, RAMIL GP góp phần hướng đến cơ cấu thân thịt hợp lý hơn, với tỷ lệ nạc được cải thiện, mỡ lưng được kiểm soát và chất lượng thịt được chú trọng ngay từ trong quá trình nuôi.
TV ONE
DABACO
Top 5 Công ty uy tín ngành Thực phẩm Đồ uống năm 2026 Mới đây, Vietnam Report đã công bố Top 10 và Top 5 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2026; trong đó, Công ty CP Tập đoàn Dabaco Việt Nam lần thứ 6 tiếp tục được vinh danh. Kết quả khảo sát của Vietnam Report cho thấy, các tiêu chí lựa chọn thực phẩm của người tiêu dùng ngày càng tập trung vào chất lượng và mức độ minh bạch của sản phẩm. Xu hướng này cho thấy cạnh tranh trong ngành thực phẩm không chỉ nằm ở sản lượng, giá bán hay độ phủ thị trường. Khả năng kiểm soát chất lượng, duy trì sự ổn định của sản phẩm và tạo dựng niềm tin đang ngày càng ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định mua hàng. Ở nhóm thực phẩm tươi sống, đông lạnh, chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào quá trình kiểm soát từ con giống, dinh dưỡng, điều kiện chăn nuôi, an toàn sinh học đến chế biến và phân phối. Đây cũng là
chuỗi giá trị Dabaco đã đầu tư trong nhiều năm nhằm tăng khả năng chủ động về nguồn nguyên liệu và ổn định chất lượng sản phẩm. Trước đó, ngày 29/9, tại Bộ Công thương diễn ra chương trình giới thiệu Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026. Theo quyết định mới được ban hành, Dabaco có 5 sản phẩm được công nhận Thương hiệu quốc gia năm 2026, gồm: Thức ăn chăn nuôi cao cấp Dabaco, Lợn Dabaco, Gà Dabaco, Trứng gà Dabaco và Dầu đậu nành Coba.
XUÂN LAN
HANVET
Kỷ niệm 38 năm ngày thành lập Sáng 1/10/2026, Công ty CP Dược và Vật tư Thú y (HANVET) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 38 năm ngày thành lập (1/10/1988 - 1/10/2026) với chủ đề xuyên suốt: “Vững bước - Tiên phong”. Chia sẻ tại buổi lễ, TS Nguyễn Hữu Vũ, Tổng Giám đốc HANVET tự hào điểm lại những thành tựu nổi bật của HANVET sau 38 năm hình thành phát triển: Vốn điều lệ tăng từ 4 tỷ đồng (khi cổ phần hóa, năm 1998) lên 300 tỷ đồng (năm 2026); với tổng tài sản đạt gần 2.000 tỷ đồng; Trên 600 cán bộ công nhân viên, trong đó hơn 40% có trình độ đại học và sau đại học; Có 16 dây chuyền đạt chuẩn GMP-WHO, gồm 8 dây chuyền dược phẩm và 8 dây chuyền vaccine, sinh phẩm; hệ thống quản lý đạt chuẩn ISO; phòng thí nghiệm đạt chuẩn GLP và an toàn sinh học cấp III; Trên 300 sản phẩm dược, 40 sản phẩm vaccine và kháng thể được phép lưu hành; Sản phẩm của HANVET có chất lượng tốt, ổn định, được người chăn nuôi khắp cả nước tin dùng, là lựa chọn tin cậy
của các tập đoàn chăn nuôi lớn; đã xuất khẩu tới hơn 30 quốc gia, trong đó vaccine và kháng thể đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới; Doanh số vượt mốc 1.000 tỷ đồng… Với khát vọng trở thành doanh nghiệp có thương hiệu trên trường quốc tế, theo ông Nguyễn Hữu Vũ, phải quyết tâm thực hiện các mục tiêu: Nâng tổng tài sản tích lũy mỗi năm, hướng tới nâng định giá Công ty lên hàng trăm triệu USD. Công ty đầu tư vào con người để có đội ngũ chuyên môn sâu, quản trị giỏi; đầu tư sâu cho nghiên cứu phát triển (R&D) và đổi mới sáng tạo; đầu tư vào chất lượng sản phẩm; đầu tư vào công nghệ, quy trình sản xuất và chuyển đổi số; đầu tư thương hiệu uy tín.
HẢI LÝ
DOANH CHIẾN LƯỢC GIẢMTIN THIỂU NGUY CƠNGHIỆP ASF QUA THỨC ĂN 44 THÔNG
Vai trò mới nổi của Phytogenics NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
☐ TS. ELISABETH HOLL VÀ TS. BERNHARD ECKEL Quản lý Kỹ thuật Cấp cao và Phó Chủ tịch Dr. Eckel Animal Nutrition
Dịch tả heo châu Phi (ASF) tiếp tục gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi heo toàn cầu, trong khi vaccine hiệu quả vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Vì vậy, kiểm soát nguy cơ ASF qua thức ăn chăn nuôi đang được đặc biệt quan tâm. Dịch tả heo châu Phi (ASF) vẫn là một trong những dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngành chăn nuôi heo toàn cầu. Kể từ khi lan từ Đông Âu sang châu Á vào năm 2018, virus ASF đã khiến hàng trăm triệu con heo chết hoặc bị tiêu hủy, đồng thời tiếp tục đe dọa ngành sản xuất heo trên toàn thế giới. Kiểm soát ASF vẫn là bài toán khó đối với ngành chăn nuôi. Dù nhiều nguồn lực đang được dành cho nghiên cứu và phát triển vaccine, việc đưa vaccine vào sử dụng vẫn cần nhiều thời gian, một phần do virus ASF có cấu trúc phức tạp và vaccine phải trải qua quá trình đánh giá, theo dõi và kiểm soát nguy cơ nghiêm ngặt. Vaccine virus sống giảm độc lực sử dụng virus đã được làm suy yếu để tạo miễn dịch cho vật nuôi. Tuy nhiên, một số vaccine ASF được ghi nhận có thể biến đổi trở lại dạng virus gây bệnh. Hiện chỉ có một số ít quốc gia đang thử nghiệm vaccine trên thực tế, và thế giới vẫn chưa có một chiến lược tiêm phòng ASF được công nhận rộng rãi. Trong khi chưa có thuốc điều trị hiệu quả, an toàn sinh học trên toàn bộ chuỗi sản xuất vẫn là biện pháp then chốt để phòng, chống ASF.
Thức ăn - đường lây truyền tiềm ẩn
Trong các ổ dịch ASF, việc xác định chính xác nguồn và đường lây truyền thường không đơn giản. Tại châu Âu, virus ASF chủ yếu lây
lan qua heo rừng. Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, hoạt động của con người có thể góp phần làm virus phát tán tại Romania (Hayes et al., 2026). So với lây truyền trực tiếp giữa các con vật, ASF lây qua thức ăn ít phổ biến hơn. Tuy nhiên, nguy cơ không thể xem nhẹ bởi thức ăn nhiễm virus có thể khiến nhiều vật nuôi phơi nhiễm cùng lúc. Việc trao đổi nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thị trường quốc tế, nguồn nguyên liệu từ các khu vực có nguy cơ cao và quy trình xử lý nguyên liệu còn hạn chế đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về các biện pháp giảm thiểu nguy cơ. Mục tiêu là hạn chế virus nhiễm vào nguyên liệu trước khi thức ăn được đưa tới trang trại.
An toàn sinh học thức ăn
Xử lý nhiệt ở nhiệt độ thích hợp và kéo dài thời gian bảo quản có thể giúp giảm nguy cơ virus lây truyền qua thức ăn. Tuy nhiên, các biện pháp này có thể làm tăng chi phí, trong khi nguy cơ thức ăn bị tái nhiễm virus sau xử lý vẫn còn. Các chất phụ gia thức ăn được sử dụng để giảm tải lượng virus phải đáp ứng hai yêu cầu quan trọng: không gây độc và phát huy tác dụng nhanh. Một số chất khử trùng hóa học như formaldehyde cũng đặt ra những hạn chế nhất định do đặc tính gây ung thư, khiến việc sử dụng bị kiểm soát. Do đó, các giải pháp có nguồn gốc tự nhiên
và bền vững hơn được ưu tiên nhằm bảo vệ vật nuôi, người lao động và môi trường.
Phytogenics là gì?
Phytogenics là các chất chuyển hóa thứ cấp của thực vật, đảm nhiệm nhiều vai trò bảo vệ khác nhau. Nhóm hoạt chất sinh học này bao gồm terpenoid, flavonoid, polyphenol, axit phenolic và saponin, thường được sử dụng trong dinh dưỡng vật nuôi nhờ nhiều lợi ích đối với sức khỏe. Chúng có thể phát huy tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, điều hòa miễn dịch và/hoặc chống ôxy hóa. Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh hoạt tính kháng virus của phytogenics, mở ra hướng ứng dụng đầy tiềm năng trong phát triển các chất phụ gia thức ăn có nguồn gốc tự nhiên nhằm giảm nguy cơ virus. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy, các chế phẩm có nguồn gốc thực vật có thể kháng virus bằng cách ngăn ngừa virus xâm nhập vào tế bào và ức chế quá trình nhân lên của virus (Wang et al., 2015). Các cơ chế tác động đã được ghi nhận ở nhiều hợp chất có nguồn gốc thực vật gồm: ngăn virus bám vào tế bào bằng cách liên kết với các thành phần trên màng tế bào; ức chế virus nhân lên bằng cách ngăn cản virus tương tác với các thụ thể đặc hiệu trên tế bào chủ; làm thay đổi các con đường vận chuyển nội bào mà virus lợi dụng để xâm nhập và phát tán trong tế bào;
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
45
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
đồng thời ức chế các yếu tố của tế bào tham gia vào quá trình nhân lên của virus. Những tác động này có thể làm giảm sự hình thành và giải phóng các hạt virus có khả năng gây nhiễm. Do ASF virus có màng bao lipid nên dễ bị tác động bởi các phân tử có khả năng phá vỡ cấu trúc màng bao lipid, từ đó ngăn cản quá trình virus hòa màng với tế bào chủ.
Cơ sở khoa học
Công thức phytogenic độc quyền Anta®Shield của Dr. Eckel là giải pháp hoàn toàn tự nhiên, giúp giảm nguy cơ virus ASF lây truyền từ thức ăn sang vật nuôi. Sản phẩm được phát triển từ các hợp chất hoạt tính sinh học có khả năng làm mất ổn định màng tế bào. Những hợp chất này đã được sử dụng từ hàng nghìn năm để bảo vệ thực phẩm và thức ăn chăn nuôi khỏi các tác nhân gây bệnh. Phối hợp với Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Dr. Eckel đã đánh giá hoạt tính diệt virus của một số hợp chất thực vật đối với ASF. Thức ăn được gây nhiễm ASFV sau đó được xử lý bằng từng hợp chất riêng lẻ hoặc phối hợp, rồi so sánh với hỗn hợp axit hữu cơ (OAB). Mức độ bất hoạt virus được đánh giá bằng phương pháp nuôi cấy tế bào và PCR thời gian thực.
Tăng an toàn thức ăn nhờ hoạt tính kháng virus
Kết quả thử nghiệm nuôi cấy tế bào gần đây đã được trình bày tại Hội nghị IPVS ở Việt Nam và được thể hiện trong Hình 1. Trong điều kiện thí nghiệm, tất cả các chất phụ gia được thử nghiệm đều làm giảm
Hình 1: Hiệu quả giảm tải lượng virus dịch tả lợn châu Phi (ASF) trong thức ăn nhiễm virus ASF bằng các hợp chất có nguồn gốc thực vật (phytogenics) và axit hữu cơ Bà Đào Thị Hương Giang, Giám đốc Ngành hàng Gia cầm, Công ty TNHH Olmix Giám đốc Bệnh viện Thú y, Giảng viên Bộ môn Bệnh truyền nhiễm và Thú y cộng Asialand Việt Nam phát biểu tại Hội thảo đồng, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, ThS. BSTY Nguyễn Thị Thu Năm
hoặc bất hoạt ASFV. Trong các nghiệm thức sử dụng từng chất riêng lẻ, Phyt.A04 - chế phẩm gốc thực vật chứa các hoạt chất sinh học từ hoa bia cho thấy hoạt tính diệt virus rất mạnh. Sau 24 giờ, Phyt.A04 làm giảm hiệu giá virus ASF 3.58 log10 và loại bỏ hoàn toàn virus sau 3 ngày. Hợp chất Phyt.B có nguồn gốc từ cam thảo cũng cho thấy hoạt tính kháng virus rõ rệt. Ở cả hai nồng độ được thử nghiệm, virus đều không còn được phát hiện sau 3 và 7 ngày. Cả hai hợp chất phytogenic đều loại bỏ virus khỏi thức ăn nhanh hơn axit hữu cơ. Hiệu quả rõ rệt nhất được ghi nhận khi kết hợp các chất phụ gia. Công thức cho kết quả tốt nhất là hỗn hợp axit hữu cơ kết hợp với Phyt.A04 và Phyt.B01. Sau một ngày xử lý, công thức này cho tải lượng virus thấp nhất; đến ngày thứ 3 và thứ 7, không còn phát hiện virus. Nghiên cứu cho thấy, một số phụ gia có nguồn gốc thực vật, đặc biệt khi được phối hợp theo công thức tạo hiệu ứng hiệp đồng, có thể trở thành một giải pháp bổ sung giúp giảm nguy cơ nhiễm virus trong
thức ăn. Tuy nhiên, giải pháp này không thay thế các biện pháp an toàn sinh học hiện có mà bổ sung thêm một lớp bảo vệ, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm ASF.
Lợi ích khác của phytogenic
So với các chất giảm thiểu nguy cơ có nguồn gốc hóa học truyền thống, các giải pháp phytogenic như Anta®Shield có thể mang lại nhiều lợi ích. Chúng tác động theo nhiều cơ chế khác nhau, phù hợp với các chiến lược giảm sử dụng kháng sinh, đồng thời hỗ trợ sức khỏe đường ruột và khả năng tiêu hóa, hấp thu dưỡng chất. Các giải pháp này cũng thuận tiện khi sử dụng, giảm lo ngại về tồn dư hóa chất và đáp ứng tốt xu hướng ưu tiên các nguyên liệu tự nhiên của người tiêu dùng. Nhờ đó, phytogenic có thể trở thành một công cụ hữu ích trong chương trình an toàn sinh học thức ăn tổng thể, vừa kiểm soát mầm bệnh, vừa góp phần bảo đảm sức khỏe, phúc lợi và năng suất vật nuôi. ☐
46
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
BẮT KỊP XU HƯỚNG AN TOÀN THỰC PHẨM Với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực vaccine thú y và các giải pháp phòng bệnh cho vật nuôi trên toàn cầu, HIPRA - công ty dược phẩm công nghệ sinh học từ châu Âu theo đuổi cách tiếp cận phòng ngừa chủ động, giúp người chăn nuôi xây dựng chương trình kiểm soát bệnh phù hợp thay vì chỉ phản ứng khi vấn đề đã xảy ra. Không chỉ cung cấp những giải pháp toàn diện cho gia cầm, gia súc, thú cưng trên toàn cầu, HIPRA còn chú trọng đến những cải tiến sáng tạo hướng đến hỗ trợ ngành chăn nuôi bền vững. ☐ HIPRA
Ngày 25/6/2026, Công ty Hipra đã tổ chức hội thảo kỹ thuật về an toàn thực phẩm và các giải pháp kiểm soát Salmonella tại TP Hồ Chí Minh
THÔNG TIN DOANH NGHIỆP
47
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Bắt kịp xu hướng an toàn thực phẩm, mở rộng cơ hội kinh doanh bền vững
Khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, chất lượng và an toàn của thực phẩm, ngành chăn nuôi gia cầm đang đứng trước yêu cầu chuyển dịch từ việc chỉ kiểm soát sức khỏe đàn vật nuôi sang một cách tiếp cận toàn diện hơn - chủ động kiểm soát các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm ngay từ trang trại. Chủ động kiểm soát Salmonella giúp bảo vệ sức khỏe đàn gia cầm, giảm thiểu rủi ro trong quá trình sản xuất và nâng cao giá trị của chuỗi chăn nuôi. Khi an toàn thực phẩm ngày càng được quan tâm, một chương trình kiểm soát Salmonella hiệu quả còn giúp người chăn nuôi tăng khả năng đáp ứng yêu cầu khắt khe hơn của khách hàng, tạo sự khác biệt cho sản phẩm và mở rộng cơ hội tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao hơn, từ đó xây dựng nền tảng cho tăng trưởng kinh doanh bền vững.
Salmonella: Bài toán từ sức khỏe đàn gà đến an toàn thực phẩm
Salmonella có thể đặt ra thách thức xuyên suốt chuỗi sản xuất gia cầm. Nếu chỉ tập trung vào việc xử lý khi vấn đề xuất hiện, người chăn nuôi có thể bỏ qua cơ hội kiểm soát nguy cơ ngay từ đầu. Vì vậy, một chiến lược kiểm soát Salmonella hiệu quả cần hướng đến phòng ngừa chủ động, kết hợp nhiều biện pháp quản lý phù hợp với từng giai đoạn sản xuất. Đặc biệt, giải pháp an toàn thực phẩm không phải chỉ là thêm vào một kháng nguyên phòng ngừa Salmonella mà là một giải pháp toàn diện hơn. Khi kiểm soát Salmonella được đặt trong mối liên hệ giữa sức khỏe đàn gia cầm và an toàn thực phẩm, giá trị của các giải pháp phòng ngừa không chỉ dừng lại ở hiệu quả trên đàn gà mà còn mở rộng đến toàn bộ chuỗi giá trị.
Vaccine - giải pháp chủ động phòng ngừa Salmonella sớm
Tại Việt Nam, HIPRA chính thức giới thiệu sản phẩm Avisan Secure, vaccine Salmonella chuyên biệt dành cho ngành chăn nuôi gia cầm. Avisan Secure là vaccine vô hoạt với công nghệ nhũ tương kép, phòng Salmonella enteritidis và Salmonella typhimurium. Một trong những điểm nổi bật của Avisan Secure là sử dụng công nghệ nhũ tương kép W/O/W (nước trong dầu trong nước) với
Avisan Secure - giải phảp giúp bảo vệ đàn gia cầm - chủ động kiểm soát Salmonella - bắt kịp xu hướng an toàn thực phẩm
HIPRA là công ty dược phẩm công nghệ sinh học từ châu Âu, tập trung vào việc phòng bệnh cho con người và vật nuôi, với nhiều loại vaccine chất lượng cao và dịch vụ chẩn đoán tiên tiến. HIPRA có hơn 50 năm kinh nghiệm về nghiên cứu, sản xuất và phát triển các loại vacccine, với 6 nhà máy sản xuất, 3 trung tâm nghiên cứu, 11 trung tâm chẩn đoán hiện diện tại hơn 100 quốc gia trên 5 châu lục. Montanide™ 888, giúp an toàn cho đàn gà, giảm phản ứng sau tiêm. Avisan Secure được định hướng sử dụng trong chương trình phòng ngừa Salmonella cho đàn gà giống và gà đẻ, góp phần giúp giảm lây truyền dọc SE/ST ở đàn gà con từ gà bố mẹ đã được tiêm chủng. Với Avisan Secure, HIPRA tiếp tục mở rộng danh mục giải pháp chuyên biệt cho ngành gia cầm, với định hướng đưa kiểm soát Salmonella từ một vấn đề cần xử lý trở thành một phần chủ động trong chiến lược quản lý sức khỏe đàn và an toàn thực phẩm.☐
CÔNG TY TNHH HIPRA VIỆT NAM Địa chỉ: Tầng 14, Tòa nhà Havana, 132 Hàm Nghi, phường Bến Thành, TP.HCM Điện thoại: (+84) 28 3914 0456 Email: vietnam@hipra.com Website: https://hipra.com
48
MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
CHĂN NUÔI ATSH ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ Trước những thách thức lớn về dịch bệnh và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, việc chuyển đổi từ phương thức chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi an toàn sinh học (ATSH) kết hợp công nghệ số không còn là lựa chọn, mà đã trở thành con đường tất yếu để ngành chăn nuôi phát triển bền vững. Đây chính là “chìa khóa vàng” giúp nông dân và doanh nghiệp chủ động bảo vệ thành quả sản xuất, nâng cao giá trị nông sản địa phương. An toàn sinh học - “Lá chắn thép” bảo vệ đàn vật nuôi
ATSH là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và quản lý, nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài vào trang trại và không cho dịch bệnh lây lan. Thực tiễn đã chứng minh, các trang trại thực hiện tốt ATSH có thể giảm thiểu tới 85 - 90% nguy cơ bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm như Dịch tả heo châu Phi hay Cúm gia cầm…
Công nghệ số - “Bộ não thông minh” tối ưu hóa sản xuất
Nếu ATSH là bức tường thành kiên cố thì công nghệ số chính là hệ thống cảnh báo và điều hành thông minh, giúp tối ưu hóa mọi nguồn lực: - Giám sát môi trường tự động (IoT): Hệ thống cảm biến tự động theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ khí độc (NH3, H2S) trong chuồng. Khi có biến động, hệ thống tự động kích hoạt giàn làm mát, quạt thông gió, giúp vật nuôi luôn trong trạng thái thoải mái nhất, kích thích tăng trưởng. - Trí tuệ nhân tạo (AI) nhận diện dịch bệnh sớm: Ứng dụng camera AI theo dõi biểu hiện của đàn vật nuôi 24/7. Công nghệ có khả năng phát hiện sớm những cá thể có hành vi bất thường (bỏ ăn, ủ rũ, ho) trước khi bệnh phát tán diện rộng. - Số hóa quản lý và truy xuất nguồn gốc: Việc sử dụng phần mềm quản lý trang
Trên nền thức ăn tự phối trộn, chế phẩm sinh học được bổ sung nhằm xây dựng quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học Ảnh: Trung tâm Truyền thông KH&CN
trại giúp ghi chép chính xác nhật ký chăn nuôi (lịch tiêm vaccine, tiêu thụ cám, nước uống…). Kết hợp tem điện tử mã QR giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra nguồn gốc, nâng cao uy tín và giá trị thương hiệu cho nông sản trên thị trường. Từ xây dựng khẩu phần thức ăn có cơ sở khoa học, bổ sung chế phẩm vi sinh đến quản lý đàn heo bằng nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR; Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Nghệ An đã triển khai Dự án “Ứng dụng công nghệ sinh học kết hợp nhật ký điện tử xây dựng mô hình chăn nuôi heo an toàn sử dụng thức ăn tự phối trộn trên địa bàn tỉnh Nghệ An”. ThS Nguyễn Đình Tiến, đại diện nhóm thực hiện Dự án cho biết, thay vì phối trộn thức ăn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nguồn nguyên liệu tại địa phương sẽ được sử dụng trên cơ sở khẩu phần phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của đàn heo. Cách tiếp cận này vừa phát huy lợi thế nguồn nguyên liệu sẵn có, vừa hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm chi phí đầu vào. Trên nền thức ăn tự phối trộn, chế phẩm sinh học được bổ sung nhằm xây dựng quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học. Dự án đặt mục tiêu giảm 20 - 30% tỷ lệ mắc bệnh, giảm 40% lượng kháng sinh sử dụng và giảm trên 80% mùi hôi chuồng trại. Các chỉ tiêu này tập trung vào những
vấn đề trực tiếp của chăn nuôi heo. Giảm tỷ lệ mắc bệnh giúp hạn chế rủi ro trong sản xuất; giảm sử dụng kháng sinh gắn với yêu cầu nâng cao an toàn thực phẩm; trong khi kiểm soát mùi hôi góp phần hạn chế tác động của hoạt động chăn nuôi đến môi trường. Theo ThS Nguyễn Đình Tiến, việc kết hợp công nghệ sinh học với hệ thống nhật ký điện tử hướng tới tạo ra sản phẩm thịt heo an toàn, có khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng và an toàn thực phẩm. Đồng thời, mô hình góp phần tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Mục tiêu đặt ra là 100% đàn heo trong mô hình được truy xuất nguồn gốc bằng mã QR. Thông tin trong quá trình chăn nuôi được ghi nhận và quản lý trên nhật ký điện tử, tạo cơ sở theo dõi quy trình sản xuất và minh bạch nguồn gốc sản phẩm. Dự án dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026 - 2027, phấn đấu tạo ra khoảng 90 120 tấn thịt heo thương phẩm mỗi năm, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và vệ sinh thú y; đồng thời, hướng tới xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất, có khả năng ứng dụng tại các hộ chăn nuôi và hợp tác xã trên địa bàn Nghệ An.
NGỌC HÂN
MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ
49
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
PHÁP
Máng ăn tự động giúp đàn heo đồng đều Tại một trang trại ở Pháp, hệ thống máng ăn tự động kết hợp cân điện tử đang giúp người nuôi theo dõi từng cá thể, điều chỉnh khẩu phần theo nhu cầu và xác định chính xác thời điểm xuất chuồng. Công nghệ này góp phần nâng độ đồng đều của đàn, giảm lao động thủ công và sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. Cho ăn theo nhu cầu
Tại trang trại của Jean Michel Langlais ở Lamballe-Armor, Brittany (Pháp), hệ thống 48 máng ăn tự động tích hợp cân điện tử đang giúp quản lý đàn heo theo từng cá thể. Mỗi khi heo vào máng, hệ thống tự động xác định khối lượng để điều chỉnh lượng và loại thức ăn phù hợp. Khi đạt khối lượng mục tiêu, heo được tự động phun dấu nhận biết, báo hiệu sẵn sàng xuất chuồng, giúp người nuôi không phải cân hoặc đánh giá bằng mắt. Khu chuồng mới được xây dựng năm 2023, có sức chứa 1.960 con. Toàn trang trại hiện có 500 heo nái và khoảng 5.000 chỗ nuôi heo thịt. Heo được nuôi từ 25 - 115 kg, đạt mức tăng trọng bình quân 948 g/ngày và hệ số chuyển đổi thức ăn 2,28. Trước khi áp dụng hệ thống tự động, Langlais xác định heo đạt khối lượng xuất chuồng bằng cách kết hợp cân và quan sát, với độ chính xác khoảng 94%. Nay tỷ lệ này tăng lên 96%, đồng thời hệ thống có thể dự báo số heo sẵn sàng xuất chuồng trước hai tuần, giúp trang trại chủ động kế hoạch vận chuyển và phối hợp với lò mổ. Đáng chú ý, việc cho ăn theo nhu cầu từng con giúp cải thiện rõ rệt độ đồng đều của đàn. Langlais cho biết, trước đây với thức ăn lỏng, sau 200 ngày một nhóm 600 con vẫn có khoảng 100 con tăng trưởng kém; hiện nay, con số này giảm còn 10 con. Trang trại chuyển sang thức ăn khô tại các khu chuồng có máng tự động, đồng thời nuôi riêng heo đực và heo cái hậu bị, áp dụng chương trình cho ăn bốn giai đoạn với khẩu phần được điều chỉnh theo từng giai đoạn tăng trưởng.
Hạn chế cạnh tranh trong đàn
Khu chuồng mới được chia thành sáu khu vực. Khu trung tâm là nơi tiếp nhận khoảng 280 con. Mỗi khu có bốn ô chuồng, mỗi ô được bố trí hai máng ăn tự động, phục vụ khoảng 70 con. Trong giai đoạn vỗ béo, mỗi con heo có thể đến máng ăn tới năm lần mỗi ngày. Mỗi lần, máng cung cấp khoảng 200 g thức ăn. Một lượng nhỏ nước được trộn
cùng thức ăn để kích thích heo ăn, trong khi phần lớn nhu cầu nước được đáp ứng qua hệ thống máng uống gắn trên tường. Cửa máng luôn mở khi không có heo bên trong. Khi một con bước vào, cửa sẽ đóng lại và hệ thống nhận diện con vật thông qua thẻ tai điện tử. Bên trong máng có cảm biến theo dõi lượng thức ăn. Khi thức ăn trong máng hết, cảm biến sẽ kích hoạt việc cấp khẩu phần tiếp theo. Ông Langlais nhận thấy sự khác biệt khá rõ trong đàn kể từ khi áp dụng hệ thống. Heo có xu hướng hoạt động tích cực và tập trung thành nhóm. Khi người nuôi bước vào ô chuồng, chúng nhanh chóng di chuyển về phía sau thay vì tập trung chen nhau trước máng ăn. Theo ông, việc heo không phải xếp hàng chờ ăn cũng là một dấu hiệu cho thấy lượng thức ăn được cung cấp đáp ứng sát nhu cầu của đàn.
Tối ưu chi phí thức ăn
Tháng 12 năm ngoái, Langlais cải tạo khu chuồng 1.330 con, thay hệ thống cho ăn lỏng bằng 38 máng ăn tự động, với chi phí 6.700 euro/máng. Trang trại tận dụng phần mềm quản lý sẵn có, đồng thời lắp đường dẫn thức ăn từ hệ thống cho ăn nhiều giai đoạn Optimat của Asserva đến từng máng. Thức ăn được vận chuyển bằng khí nén. Mỗi con heo được gắn thẻ tai điện tử UHF, với chi phí 0,65 euro/thẻ, giúp hệ thống nhận diện và theo dõi từng cá thể. Đây cũng là yêu cầu quan trọng đối với trang trại nuôi heo không sử dụng kháng sinh, nhằm bảo đảm truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin
theo yêu cầu của lò mổ Cooperl. Công nghệ UHF còn tương thích với hệ thống nhận diện tại lò mổ. Theo Asserva, hệ thống có thời gian hoàn vốn khoảng 4 - 6 năm, tùy hiệu quả quản lý trước đó. Ngoài giảm công lao động, hệ thống giúp sử dụng thức ăn hiệu quả hơn, kiểm soát tăng trưởng và nâng độ đồng đều của đàn. Langlais cũng đang thử nghiệm phần mềm IRIS để điều chỉnh khẩu phần theo từng con, dựa trên tốc độ tăng trọng và lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày. Những con tăng trưởng tốt, tiêu tốn ít thức ăn được cung cấp khẩu phần giàu dinh dưỡng hơn; trong khi những con tăng trưởng chậm nhưng ăn nhiều sẽ nhận khẩu phần có mức năng lượng và axit amin thấp hơn. Trang trại hiện vẫn có một khu chuồng 1.700 con sử dụng thức ăn lỏng. Với các khu chuồng áp dụng hệ thống tự động, Langlais có thể theo dõi tốc độ tăng trưởng, lượng thức ăn tiêu thụ của từng con và đối chiếu kết quả sau xuất chuồng. Việc quản lý dựa trên dữ liệu từng cá thể giúp trang trại tối ưu khẩu phần, kiểm soát tăng trưởng và nâng độ đồng đều của đàn.
MI LAN
Theo Pigworld
50
MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Lão nông Đồng Tháp làm giàu từ những “phòng lạnh” nuôi gà Với niềm đam mê chăn nuôi, ông Nguyễn Đức Lữ (Bảy Lữ), 70 tuổi, ở phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp, đã mạnh dạn đầu tư hệ thống chuồng kín, kiểm soát nhiệt độ và ứng dụng công nghệ số vào quản lý đàn gà. Mô hình giúp ông duy trì quy mô hơn 60.000 con, giảm nhân công, kiểm soát dịch bệnh và đạt doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Nuôi gà trong môi trường kiểm soát
Năm 2010, sau khi rời công việc vận tải đường bộ, ông Lữ chuyển sang nuôi heo. Quá trình tìm hiểu thực tế giúp ông nhận thấy chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học, khép kín có nhiều tiềm năng, từ đó quyết định chuyển hướng đầu tư. Ông chọn mô hình nuôi gà lạnh và liên kết với doanh nghiệp theo hợp đồng. Hiện ông hợp tác với Công ty Japfa để nuôi giống gà Cobb 500, cung cấp gà thịt cho hệ thống siêu thị và bếp ăn tại các khu công nghiệp trên cả nước. Theo thỏa thuận, doanh nghiệp cung cấp con giống, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm, giúp người nuôi chủ động hơn về đầu vào cũng như đầu ra. Điểm khác biệt của mô hình nằm ở hệ thống chuồng nuôi kín. Ba trang trại của ông đều được trang bị máy lạnh, quạt thông gió, hệ thống hút mùi và các thiết bị kiểm soát môi trường. Nhiệt độ, độ ẩm được điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của đàn gà. Theo ông Lữ, kiểm soát tốt môi trường giúp đàn gà hạn chế tác động bất lợi của thời tiết, phát triển đồng đều và giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Sau khoảng 45 ngày, gà đạt trọng lượng khoảng 3 kg/con và được xuất bán theo hợp đồng. “Nuôi gà lạnh có ưu điểm là mình chủ động được nhiệt độ. Khi nóng thì làm mát, lạnh thì làm ấm. Hệ thống quạt cũng giúp hút mùi nên môi trường xung quanh ít bị ảnh hưởng. Gà được giữ trong điều kiện phù hợp sẽ ăn tốt, nhanh lớn”, ông Lữ chia sẻ. Hiện ông Bảy Lữ có 3 trang trại với tổng diện tích hơn 5.000 m², quy mô trên 60.000 con. Mỗi năm, các trang trại xuất khoảng 5 lứa. Giá gà tại chuồng hiện khoảng 31.000 - 32.000 đồng/kg, có thời điểm cao hơn; lợi nhuận bình quân đạt 5.000 - 8.000 đồng/ kg. Tổng doanh thu mỗi năm từ các trang trại đạt khoảng 20 - 25 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 10%.
Ông Lữ (ngoài cùng bên trái) trực tiếp kiểm tra nhiệt độ, thức ăn, nước uống cho gà
Giảm nhân công, tăng hiệu quả
Không chỉ đầu tư vào chuồng trại, ông Lữ còn chú trọng ứng dụng công nghệ vào quá trình chăm sóc và quản lý đàn gà. Nhiều khâu trong trang trại được tự động hóa, từ kiểm soát môi trường đến hỗ trợ chăm sóc đàn, qua đó giảm đáng kể nhu cầu lao động trực tiếp. Với tổng đàn trên 60.000 con, 3 trang trại chỉ cần 8 lao động thường xuyên. Đây là một trong những yếu tố giúp mô hình duy trì hiệu quả trong bối cảnh chi phí nhân công ngày càng tăng. Theo ông Lữ, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng quy trình chăn nuôi nghiêm ngặt. Người nuôi phải tuân thủ lịch tiêm phòng, sử dụng thuốc đúng liều, đúng bệnh; đồng thời thường xuyên ghi chép, theo dõi trọng lượng và tốc độ tăng trưởng của đàn để kịp thời điều chỉnh khẩu phần thức ăn cũng như biện pháp chăm sóc. Môi trường chăn nuôi cũng được ông đặc biệt quan tâm. Nền chuồng được lót trấu; chất thải sau đó được thu gom, xử lý và bán làm phân bón cho cây trồng. Cách làm này
Ảnh: Báo Đồng Tháp
vừa góp phần hạn chế ô nhiễm, vừa tận dụng phụ phẩm chăn nuôi để tạo thêm giá trị. Ông Trần Công Lên, người dân phường Đạo Thạnh đánh giá, mô hình của ông Bảy Lữ mang lại hiệu quả rõ rệt. Theo ông, thời gian nuôi được rút ngắn đáng kể so với cách nuôi truyền thống, trong khi đàn gà phát triển nhanh, đem lại nguồn thu nhập tốt cho gia đình. Không chỉ làm kinh tế, ông Lữ còn tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn, đóng góp xây dựng đường giao thông và thực hiện các chương trình an sinh xã hội tại địa phương. Với những thành tích trong sản xuất, kinh doanh và đóng góp cho cộng đồng, năm 2014, ông Nguyễn Đức Lữ được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về thành tích sản xuất, kinh doanh giỏi. Năm 2025, ông được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Ở tuổi 70, ông vẫn tiếp tục gắn bó với những trang trại gà và dự định tìm địa điểm phù hợp trong vùng quy hoạch chăn nuôi để mở rộng sản xuất.
MINH KHUÊ
MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
51
52
KHOA HỌC KỸ THUẬT
11
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Chiến lược dinh dưỡng thực tiễn tăng cường khả năng kháng bệnh ở gia cầm
Trong điều kiện chăn nuôi thực tế, việc quản lý dinh dưỡng hiệu quả đóng vai trò then chốt trong việc tăng cường hệ miễn dịch, nâng cao khả năng kháng bệnh cũng như duy trì sức khỏe tổng thể và năng suất của gia cầm. Dưới đây là một số chiến lược dinh dưỡng hiệu quả, thiết thực và khả thi về mặt kinh tế, có thể dễ dàng áp dụng ngay tại trang trại. vệ gia cầm khỏi độc tố nấm mốc (Mycotoxin) 1Bảo
Mycotoxin là các hợp chất độc hại do nấm mốc sinh ra, có thể làm nhiễm bẩn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất hoặc bảo quản. Ngay cả ở nồng độ thấp, việc tiếp xúc kéo dài với độc tố này có thể làm tổn hại đến tính toàn vẹn của đường ruột, giảm hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng, gia tăng stress ôxy hóa, ức chế phản ứng miễn dịch và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát. Do đó, cần bảo vệ thức ăn chăn nuôi khỏi độ ẩm, sự phát triển của nấm mốc, côn trùng và tránh lưu kho quá lâu. Các loại nguyên liệu có nguy cơ cao cần được kiểm tra định kỳ, đồng thời các sản phẩm kiểm soát mycotoxin cần được lựa chọn dựa trên loại độc tố cụ thể và hiệu quả đã được kiểm chứng.
tra định kỳ chất lượng nguyên liệu và thức ăn thành phẩm 2Kiểm
Nguyên liệu cần được đánh giá về thành phần dinh dưỡng, các chất nhiễm bẩn, tình trạng pha trộn tạp chất và sự biến động chất lượng; trong đó bao gồm cả việc phát hiện nguy cơ bột đậu nành bị pha trộn với các loại nguyên liệu kém chất lượng, giá rẻ. Thức ăn thành phẩm cần được kiểm tra về độ chính xác của hàm lượng dinh dưỡng, độ đồng đều khi phối trộn, chất lượng viên thức ăn và nguy cơ hao hụt dinh dưỡng. Việc giám sát thường xuyên giúp phát hiện các sai sót trong công thức, sự biến động của nguyên liệu và các vấn đề liên quan đến bảo quản, từ đó đảm bảo khẩu phần ăn an toàn, cân đối và ổn định cho gia cầm.
cấp dinh dưỡng cân đối, không chỉ chú trọng tăng trưởng nhanh 3Cung
Khẩu phần ăn cân đối cần cung cấp đầy đủ năng lượng, protein, các axit amin thiết yếu, vitamin và khoáng chất phù hợp với độ tuổi, giai đoạn sản xuất và điều kiện môi trường
của gia cầm. Quá trình phát triển tế bào miễn dịch, sản sinh kháng thể, cơ chế phòng vệ chống ôxy hóa và tái tạo mô đều phụ thuộc vào việc cung cấp đầy đủ dưỡng chất. Ngay cả tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng ở mức độ nhẹ cũng có thể làm suy giảm chức năng miễn dịch trước khi xuất hiện những tổn thất rõ rệt về tốc độ tăng trưởng hay năng suất trứng.
4
Duy trì chất lượng protein và sự cân bằng axit amin
Cần đặc biệt chú trọng đến các axit amin như methionine, lysine, threonine và tryptophan. Threonine hỗ trợ sản xuất mucin và chức năng hàng rào bảo vệ đường ruột, trong khi methionine góp phần vào cơ chế phòng vệ chống ôxy hóa. Đồng thời, cần tránh cung cấp dư thừa protein trong khẩu phần ăn, vì lượng protein không được tiêu hóa hết có thể thúc đẩy quá trình lên men vi sinh vật không mong muốn trong đường ruột.
bụi và hạn chế hoạt động bình thường của mề; ngược lại, thức ăn quá thô hoặc xay không đều có thể dẫn đến tình trạng gia cầm chọn lọc thức ăn và hấp thu dinh dưỡng không đồng đều. Việc phân bố kích thước hạt phù hợp và đồng nhất sẽ hỗ trợ chức năng tiêu hóa diễn ra bình thường. Việc thường xuyên phân tích kích thước hạt (sàng lọc), kết hợp với giám sát chất lượng xay nghiền, độ đồng đều khi phối trộn, chất lượng viên thức ăn và tỷ lệ bột mịn, sẽ giúp duy trì chất lượng thức ăn ổn định.
Duy trì hàm lượng chất xơ thô 5Ưuđườngtiênruộtdinh dưỡng cho sức khỏe 7 thích hợp trong khẩu phần cho giai đoạn phát triển và gà đẻ Việc sử dụng chế phẩm sinh học (probiotics) và các loại axit hữu cơ có thể được xem là một phần của chương trình quản lý sức khỏe đường ruột tổng thể. Các loại chế phẩm sinh học phù hợp có thể hỗ trợ hệ vi sinh vật có lợi, cải thiện sự cân bằng vi sinh và tăng cường chức năng hàng rào bảo vệ ruột. Axit hữu cơ có thể giúp tạo ra môi trường bất lợi cho một số vi sinh vật gây hại và hỗ trợ sức khỏe hệ tiêu hóa.
Khẩu phần thương mại dành cho gà giai đoạn phát triển thường chứa khoảng 5 - 7% chất xơ thô, trong khi khẩu phần cho gà đẻ thường chứa khoảng 3 - 6%, tùy thuộc vào các thành phần nguyên liệu, nguồn chất xơ, mức năng lượng của khẩu phần và giai đoạn sản xuất. Nguồn và loại chất xơ cũng rất quan trọng vì chất xơ hòa tan và không hòa tan có thể ảnh hưởng khác nhau đến chức năng đường ruột.
trì kích thước hạt và chất lượng vật lý phù hợp cho thức ăn 6Duy chỉnh dinh dưỡng trong điều kiện stress nhiệt và các thách 8Điều Thức ăn quá mịn có thể làm tăng lượng
KHOA HỌC KỸ THUẬT
53
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
thức có thể dự báo trước khác
Betaine, với vai trò là chất điều hòa áp suất thẩm thấu (osmolyte), giúp duy trì cân bằng nước trong tế bào và có thể làm giảm năng lượng cần thiết cho quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu của tế bào. Vitamin C, E và selen hỗ trợ cơ chế phòng vệ chống ôxy hóa; trong khi đó, việc bổ sung chất điện giải và điều chỉnh chỉ số DCAD (chênh lệch cationanion trong khẩu phần) một cách thích hợp sẽ giúp duy trì cân bằng điện giải và cân bằng axit-bazơ.
9
Tránh sử dụng phụ gia thức ăn chăn nuôi không cần thiết hoặc quá mức
Các loại phụ gia cần được lựa chọn dựa trên nhu cầu cụ thể của trang trại, bằng chứng khoa học, chất lượng sản phẩm, liều lượng khuyến cáo và lợi ích mong đợi. Hiệu quả của chúng cần được đánh giá thông qua các chỉ số có thể đo lường được như lượng thức ăn tiêu thụ, tốc độ tăng trưởng, hiệu quả chuyển đổi thức ăn, độ đồng đều của đàn, sức khỏe đường ruột và tỷ lệ tử vong.
10
Đảm bảo sử dụng kháng sinh một cách hợp lý
Chỉ nên sử dụng kháng sinh khi có chỉ định lâm sàng và dưới sự hướng dẫn của bác sĩ thú y. Bất cứ khi nào có thể, việc lựa chọn kháng sinh nên dựa trên kết quả kiểm tra độ nhạy cảm với kháng sinh (AST). Việc sử dụng không cần thiết hoặc không đúng cách có thể góp phần gây ra tình trạng kháng kháng sinh, làm mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột có lợi và làm tăng nguy cơ tồn dư thuốc.
11
Kết hợp dinh dưỡng với tiêm phòng, an toàn sinh học và quy trình quản lý tốt
Dinh dưỡng hỗ trợ khả năng miễn dịch nhưng không thể giúp gia cầm hoàn toàn miễn nhiễm với dịch bệnh. Tiêm phòng mang lại sự bảo vệ miễn dịch đặc hiệu, trong khi các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh, quản lý chất độn chuồng, kiểm soát vật trung gian truyền bệnh và quản lý môi trường hợp lý sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh. Kết quả tốt nhất về sức khỏe đàn gia cầm đạt được khi chế độ dinh dưỡng cân đối được kết hợp với một chương trình phòng bệnh toàn diện.
KARTIK BHATT VÀ ARUNA KUNIYAL
Chủ động kiểm soát bệnh viêm hồi tràng trên heo Viêm hồi tràng do Lawsonia intracellularis gây ra là bệnh phổ biến trên heo. Bệnh có thể gây tổn thất đáng kể về tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời. Nguyên nhân
Viêm hồi tràng, còn gọi là bệnh viêm ruột tăng sinh (Porcine Proliferative Enteropathy - PPE), do vi khuẩn Lawsonia intracellularis gây ra. Lawsonia intracellularis là vi khuẩn ký sinh nội bào, phát triển và nhân lên trong các tế bào biểu mô niêm mạc hồi tràng. Do cư trú bên trong tế bào, vi khuẩn này khó bị loại bỏ hoàn toàn bằng điều trị kháng sinh, gây nhiều thách thức trong kiểm soát bệnh. Vi khuẩn lây lan chủ yếu qua đường phân. Heo nhiễm bệnh có thể tiếp tục bài thải vi khuẩn qua phân trong thời gian lên tới 12 tuần kể từ khi các triệu chứng lâm sàng đã biến mất. Ngoài cơ thể vật chủ, L. intracellularis vẫn có khả năng tồn tại trong môi trường khoảng hai tuần ở nhiệt độ từ 5 - 15°C và tiếp tục lây nhiễm cho những cá thể mẫn cảm.
Biểu hiện
Viêm hồi tràng có thể biểu hiện ở hai thể lâm sàng chính. Thể cấp tính: Thường gặp ở heo trên 4 tháng tuổi, với các dấu hiệu như tiêu chảy ra máu hoặc phân màu đen, cơ thể xanh xao, suy nhược và có thể chết đột ngột do xuất huyết đường tiêu hóa. Thể mãn tính: Phổ biến hơn ở heo từ 6 - 20 tuần tuổi. Heo mắc bệnh thường tiêu chảy kéo dài, phân mềm hoặc sệt, tăng trọng chậm, đàn phát triển không đồng đều và kéo dài thời gian xuất bán. Đáng lưu ý, nhiều đàn heo mắc bệnh viêm hồi tràng thể cận lâm sàng thường không có biểu hiện bệnh rõ rệt, nhưng heo vẫn dương tính với L. intracellularis khi xét nghiệm. Dạng bệnh này có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tăng trưởng và hiệu quả sản xuất của đàn heo.
Chẩn đoán kết hợp theo dõi đàn
Việc chẩn đoán không nên chỉ dựa trên biểu hiện tiêu chảy vì nhiều bệnh đường tiêu hóa khác cũng có triệu chứng tương tự. Khi nghi ngờ viêm hồi tràng, có thể lấy mẫu phân, dịch miệng hoặc mẫu máu để xét nghiệm phát hiện Lawsonia intracellularis. Đối với những trường hợp heo chết, việc khám bệnh tích kết hợp xét nghiệm mô bệnh học sẽ giúp xác định chính xác nguyên nhân. Song song với xét nghiệm, người nuôi cần thường xuyên theo dõi tốc độ tăng trọng, lượng thức ăn tiêu thụ, hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ đồng đều của đàn. Những chỉ tiêu này có thể phản ánh sớm sự hiện diện của bệnh ngay cả khi chưa xuất hiện triệu chứng điển hình.
Chủ động phòng bệnh
Do vi khuẩn có khả năng tồn tại trong môi trường và lây lan qua nhiều con đường, kiểm soát viêm hồi tràng cần kết hợp đồng bộ các biện pháp phòng bệnh. Trước hết, cần thực hiện nghiêm các nguyên tắc an toàn sinh học như kiểm soát người và phương tiện ra vào trại, áp dụng quy trình “cùng vào - cùng ra”, vệ sinh và khử trùng chuồng nuôi, dụng cụ giữa các lứa nuôi, đồng thời duy trì chương trình kiểm soát chuột, chim và côn trùng nhằm hạn chế nguồn mang mầm bệnh. Ngoài ra, cần giảm các yếu tố gây stress cho đàn heo thông qua quản lý mật độ nuôi, môi trường chuồng trại, dinh dưỡng và chăm sóc phù hợp. Việc xây dựng chương trình tiêm phòng theo khuyến cáo của bác sĩ thú y cũng góp phần hình thành miễn dịch, giảm mức độ tổn thương đường ruột, hạn chế sự bài thải vi khuẩn và giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh trong quá trình chăn nuôi.
LÊ LOAN
(Theo Thepigsite)
54
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
STREPTOCOCCUS SUIS Ở HEO
Nhận biết và hướng khắc phục
Streptococcus suis (S. suis) là một trong những vi khuẩn gây bệnh quan trọng trên heo, thường gặp ở heo con sau cai sữa. Bệnh có thể gây nhiễm trùng huyết, viêm màng não, viêm khớp, viêm đa thanh mạc và gây chết nhanh nếu không được phát hiện, xử lý kịp thời. Kiểm soát bệnh cần kết hợp điều trị với cải thiện môi trường, giảm stress và tăng cường an toàn sinh học. Vi khuẩn thường tồn tại trong đàn
S. suis là cầu khuẩn Gram dương, có thể tồn tại tự nhiên ở đường hô hấp trên, đặc biệt tại vùng amidan của heo khỏe. Do đó, phát hiện vi khuẩn trong đàn chưa đồng nghĩa heo đang mắc bệnh. Bệnh thường bùng phát khi sức đề kháng giảm hoặc đường hô hấp bị tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào máu. Heo sau cai sữa là nhóm có nguy cơ cao do phải trải qua nhiều thay đổi như tách mẹ, chuyển chuồng, thay đổi thức ăn và ghép đàn. Mật độ nuôi cao, thông thoáng kém, nhiệt độ biến động, nền chuồng ẩm bẩn và các bệnh hô hấp kế phát cũng làm tăng nguy cơ phát bệnh. Đặc biệt, các bệnh như PRRS, cúm heo và một số bệnh hô hấp khác có thể làm suy yếu hàng rào bảo vệ đường hô hấp, tạo điều kiện cho S. suis phát triển và gây bệnh.
Dấu hiệu cần phát hiện sớm
Bệnh cấp tính thường biểu hiện bằng sốt, bỏ ăn, ủ rũ, giảm vận động và đi lại khó khăn. Một số heo xuất hiện viêm khớp, sưng khớp, què hoặc không muốn đứng. Khi vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết, heo có thể sốt cao, suy yếu nhanh và chết trong thời gian ngắn. Ở thể viêm màng não, các biểu hiện thường rõ hơn như đi không vững, mất thăng bằng, đi vòng, run cơ, nằm nghiêng, chèo chân, co giật hoặc không thể đứng. Ngoài ra, bệnh có thể gây viêm phổi, viêm đa thanh mạc và viêm nội tâm mạc. Vì các dấu hiệu này có thể tương đồng với nhiều bệnh nhiễm trùng khác, không nên chỉ dựa
vào triệu chứng để kết luận S. suis là nguyên nhân duy nhất.
Chẩn đoán để tránh điều trị sai
Khi đàn xuất hiện nhiều heo sốt, chết đột ngột, viêm khớp hoặc có triệu chứng thần kinh, nên lấy mẫu từ heo mới mắc bệnh hoặc mới chết để xét nghiệm. Nuôi cấy vi khuẩn, PCR và kiểm tra bệnh tích giúp xác định tác nhân. Với những trại bệnh tái phát hoặc điều trị không đáp ứng, nên thực hiện kháng sinh đồ để xác định độ nhạy của chủng vi khuẩn đang lưu hành. Đây là bước quan trọng vì việc sử dụng một loại kháng sinh kéo dài hoặc lặp lại nhiều lần có thể tạo áp lực chọn lọc kháng thuốc, khiến hiệu quả điều trị giảm dần.
Xử lý khi heo đang phát bệnh
Các kháng sinh nhóm beta-lactam như penicillin hoặc amoxicillin thường được sử dụng trong điều trị nhiễm S. suis, nhưng lựa chọn thuốc cần dựa vào tình trạng thực tế, kết quả kháng sinh đồ và quy định sử dụng thuốc thú y tại địa phương. Không nên mặc định một loại thuốc luôn có hiệu quả đối với mọi chủng vi khuẩn. Với heo có biểu hiện toàn thân hoặc thần kinh, điều trị đường tiêm thường được ưu tiên để thuốc đạt nồng độ điều trị nhanh và ổn định hơn. Điều trị càng sớm thì cơ hội hồi phục càng cao, đặc biệt trước khi tổn thương thần kinh trở nên nghiêm trọng. Thuốc chống viêm, giảm đau có thể được sử dụng hỗ trợ trong những trường hợp phù hợp nhằm giảm phản ứng viêm,
cải thiện khả năng ăn uống và vận động của heo. Không nên tự ý tăng liều, phối hợp nhiều loại kháng sinh hoặc kéo dài thời gian điều trị khi chưa có chỉ định thú y.
Không nên lạm dụng kháng sinh để phòng bệnh
Một tình trạng thường gặp tại các trại từng có S. suis là sử dụng kháng sinh định kỳ cho cả đàn nhằm “chặn bệnh”. Biện pháp này có thể làm giảm triệu chứng trong thời gian ngắn nhưng không giải quyết được các yếu tố khiến bệnh tái phát, đồng thời làm tăng nguy cơ kháng thuốc. Nếu bệnh thường xuyên xuất hiện sau cai sữa, cần xác định nguyên nhân liên quan đến quản lý đàn, môi trường và các bệnh kế phát trước khi tăng cường sử dụng kháng sinh. Nguyên tắc quan trọng là đúng bệnh đúng thuốc - đúng liều - đúng đường dùng - đủ thời gian, đồng thời tuân thủ thời gian ngừng thuốc đối với heo thương phẩm.
Giảm stress cho heo sau cai sữa
Cai sữa là thời điểm cần được kiểm soát chặt. Hạn chế thay đổi thức ăn quá đột ngột, bảo đảm heo được cung cấp đủ nước sạch và thức ăn dễ tiêu. Không nên ghép quá nhiều nhóm heo khác nguồn vào cùng một ô. Khi chuyển chuồng hoặc vận chuyển, cần giảm tối đa các tác động gây stress. Mật độ nuôi cũng phải phù hợp. Chuồng quá chật làm tăng tiếp xúc giữa heo bệnh và heo khỏe, đồng thời làm tăng lượng mầm bệnh trong môi trường.
KHOA HỌC KỸ THUẬT
55
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Vệ sinh chuồng trại để giảm áp lực mầm bệnh
Chuồng phải thông thoáng, khô ráo nhưng tránh gió lùa trực tiếp. Phân và chất thải cần được loại bỏ thường xuyên, hạn chế nền chuồng ẩm ướt. Quy trình vệ sinh cần thực hiện theo thứ tự loại bỏ chất hữu cơ rửa sạch - để khô - sát trùng. Chỉ phun thuốc sát trùng trên nền chuồng còn nhiều phân, thức ăn thừa hoặc chất hữu cơ sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả sát trùng. Nếu có điều kiện, nên áp dụng nguyên tắc cùng vào - cùng ra, vệ sinh và sát trùng chuồng giữa các lứa. Heo mới nhập cần được kiểm soát nguồn gốc và cách ly trước khi nhập đàn.
Kiểm soát bệnh kế phát
Khi S. suis liên tục tái phát, cần kiểm tra lại toàn bộ tình trạng sức khỏe đàn, đặc biệt các bệnh hô hấp và tiêu hóa. Nếu heo thường xuyên ho, khó thở, tiêu chảy hoặc tăng trưởng kém, việc chỉ tập trung xử lý S. suis sẽ không giải quyết được vấn đề. Kiểm soát tốt bệnh nền giúp giảm stress và duy trì sức đề kháng, từ đó hạn chế cơ hội để S. suis chuyển từ trạng thái mang trùng sang gây bệnh.
Phòng bệnh từ tổng thể
Hiện chưa có vaccine có thể bảo vệ đồng đều trước tất cả các chủng S. suis. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất vẫn là quản lý tổng hợp: con giống khỏe, giảm stress sau cai sữa, mật độ nuôi phù hợp, chuồng thông thoáng, vệ sinh sát trùng tốt, kiểm soát bệnh kế phát và phát hiện sớm heo bệnh. Đối với những trại thường xuyên tái phát, nên ghi chép tỷ lệ mắc bệnh theo từng lứa tuổi, thời điểm xuất hiện, triệu chứng, tỷ lệ chết và đáp ứng với thuốc. Những dữ liệu này giúp bác sĩ thú y xác định chính xác thời điểm và nguyên nhân khiến bệnh bùng phát. S. suis cũng có thể gây bệnh cho người. Người chăm sóc cần đeo găng tay, khẩu trang và bảo hộ phù hợp khi tiếp xúc với heo bệnh, đặc biệt khi xử lý heo chết hoặc mô, dịch tiết nghi nhiễm. Kiểm soát S. suis không nên chỉ dựa vào kháng sinh. Muốn giảm tái phát và giảm thiệt hại lâu dài, cần đồng thời giảm áp lực mầm bệnh, hạn chế stress, kiểm soát bệnh kế phát và nâng cao an toàn sinh học. Đây là hướng giúp giảm tỷ lệ bệnh, hạn chế sử dụng kháng sinh và duy trì hiệu quả điều trị trong đàn heo.
HOÀNG YẾN
Giảm nguy cơ PRDC từ kiểm soát mầm bệnh đường hô hấp Hội chứng hô hấp phức hợp ở heo (PRDC) là bệnh lý hô hấp nghiêm trọng do sự kết hợp của nhiều loại virus, vi khuẩn, cùng các yếu tố bất lợi về môi trường và quản lý chăn nuôi. Các mầm bệnh thường được phát hiện trong phổi heo mắc PRDC gồm circovirus type 2 ở heo (PCV2), Mycoplasma hyopneumoniae (M. hyo) và virus hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở heo (PRRSv). Virus cúm A ở heo cũng cần được lưu ý dù thời gian bài thải virus thường ngắn và khả năng tồn tại trong mô phổi không kéo dài.
Tập trung kiểm soát PCV2
Tiêm phòng PCV2 có thể góp phần giảm tác động của PRDC và các bệnh đồng nhiễm. Đến nay, 8 kiểu gene PCV2 đã được xác định, trong đó PCV2a, PCV2b và PCV2d có ý nghĩa lâm sàng rõ nhất. PCV2d hiện phổ biến và thường được phát hiện tại các cơ quan có tổn thương do bệnh lâm sàng hoặc cận lâm sàng. Một số nghiên cứu cho thấy, PCV2d có xu hướng bị kích hoạt mạnh hơn khi đồng nhiễm M. hyo và PRRSv so với PCV2a và PCV2b, đi kèm biểu hiện bệnh rõ hơn.
Ba hướng phòng ngừa
Quản lý nái hậu bị: Mua heo từ bên ngoài làm tăng nguy cơ đưa mầm bệnh vào đàn. Với nái hậu bị nhập đàn, cần cách ly ở khoảng 50 - 60 kg trước khi triển khai chương trình tiêm phòng và cho tiếp xúc với đàn. Các vaccine được đề cập gồm vaccine phòng cúm heo, M. hyo, PRRSv và Actinobacillus pleuropneumoniae; vaccine PCV2 được tiêm ở giai đoạn sau, khoảng 180 ngày tuổi. Heo con theo mẹ: Việc tiêm phòng cần căn cứ tình hình dịch bệnh tại trại và phù hợp với kế hoạch phòng bệnh cho đàn nái. Trong trường hợp không có vaccine thương mại phù hợp, vaccine tự chủng có thể được cân nhắc, đặc biệt đối với Bordetella và Pasteurella. Quản lý tiểu khí hậu: Cần thường xuyên theo dõi nhiệt độ, lưu thông không khí theo từng giai đoạn và hạn chế gió lùa. Ở khu vực heo cai sữa, cần duy trì hai vùng tiểu khí hậu:
phần chuồng thông thoáng và phần chuồng có mái che, được sưởi ấm.
Đánh giá vaccine phối hợp
Tháng 1/2025, Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA) phê duyệt vaccine phối hợp bất hoạt phòng M. hyo và PCV2, có tên Cirbloc M Hyo của Ceva Santé Animale. Vaccine chứa kháng nguyên PCV2d dạng tiểu đơn vị và một chủng M. hyo đã được sử dụng trong vaccine Hyogen. Nhóm thú y VetXperts, gồm 110 chuyên gia về heo tại Đức, Hà Lan, Bỉ và Pháp, đã đánh giá vaccine trong điều kiện thực tế tại 24 trại chăn nuôi từ sinh sản đến xuất chuồng. Kết quả ban đầu cho thấy 11/24 trại dương tính với PCV2, trong đó ghi nhận PCV2a, PCV2d và trường hợp hai kiểu gene cùng lưu hành. Hơn 38% mẫu gộp có tải lượng virus cao (Ct < 30). Đánh giá phổi tại lò mổ trên 20 trại cho thấy viêm phế quản - phổi xuất hiện tại 19 trại. Sau khi triển khai vaccine, tỷ lệ trại dương tính với PCV2 giảm mạnh và không còn mẫu có tải lượng virus cao theo ngưỡng Ct < 30. Khảo sát hơn 30.000 phổi trước và sau khi sử dụng vaccine cho thấy 34,5% trong số 5.127 phổi của heo được tiêm vaccine mới có tổn thương viêm phế quản - phổi, tương đương kết quả ghi nhận với vaccine Hyogen. Về độ an toàn, khảo sát 15 cơ sở sản xuất heo con không ghi nhận tình trạng nái động dục trở lại do heo con lờ đờ, không bú. Trong nhóm 6 cơ sở nuôi heo thịt với gần 15.000 ô chuồng, 1/3 cơ sở ghi nhận tăng tăng trọng bình quân ngày, 50% giảm các vấn đề hô hấp và 25% giảm sử dụng kháng sinh. Kết quả thực địa cho thấy kiểm soát PRDC cần được triển khai đồng thời qua quản lý đàn, tiêm phòng và cải thiện điều kiện chuồng nuôi, thay vì chỉ tập trung vào một tác nhân riêng lẻ.
DIỆU CHÂU
(Theo Foodagribusiness.world)
56
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
DỮ LIỆU AI MỞ KỶ NGUYÊN NGÀNH TRỨNG Mới đây, RaboResearch phối hợp cùng Tổ chức Trứng Thế giới (WEO) đã công bố báo cáo có tiêu đề “Tương lai của chuỗi giá trị trứng: Dữ liệu, công cụ kỹ thuật số và các hệ thống thông minh, kết nối sẽ định hình lại ngành như thế nào”; nhằm tập trung phân tích tác động của quá trình chuyển đổi số đối với ngành này trong thập kỷ tới và xa hơn nữa.
Công cụ kỹ thuật số dần trở nên phổ biến
Những áp lực này đang làm gia tăng giá trị của các công nghệ như cảm biến, thị giác máy tính, robot và phân tích dữ liệu chuyên sâu. Thay vì chỉ dựa vào việc kiểm tra định kỳ, các nhà sản xuất giờ đây có thể giám sát đàn gia cầm liên tục, qua đó phát hiện sớm
các vấn đề tiềm ẩn trước khi chúng trở nên nghiêm trọng. Những bước tiến tiếp theo trong ngành sản xuất trứng có thể không chỉ đến từ việc cải thiện di truyền, dinh dưỡng hay quản lý đàn gia cầm, mà còn từ việc khai thác hiệu quả hơn các dữ liệu đã được thu thập xuyên suốt chuỗi cung ứng.
Ngành chăn nuôi gia cầm được nhận định vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình ứng dụng kỹ thuật số, với mức độ tiến triển khác biệt rõ rệt giữa các khu vực, mô hình kinh doanh và hệ thống sản xuất. Tuy nhiên, một số yếu tố tác động mạnh mẽ đang thúc đẩy hoạt động → Tương lai của ngành công nghiệp trứng sẽ tiếp đầu tư. tục dựa trên các nền tảng cốt lõi: di truyền học Tình trạng thiếu hụt lao động vững chắc, dinh dưỡng, sức khỏe vật nuôi, hệ thống vẫn là thách thức tại nhiều quốc chuồng trại và công tác quản lý. Các công nghệ gia, rủi ro dịch bệnh tiếp tục đe dọa hoạt động sản xuất, trong thông minh, tự động hóa, nền tảng dữ liệu và AI khi chi phí thức ăn chăn nuôi và có thể củng cố những nền tảng này thay vì thay thế năng lượng vẫn biến động khó chúng. Những tổ chức kết hợp được sự xuất sắc lường. Đồng thời, các nhà bán lẻ và trong sản xuất với công nghệ và dữ liệu sẽ có vị thế người tiêu dùng cũng đang đòi hỏi những tiêu chuẩn cao hơn về tính tốt nhất để tạo ra giá trị trong ngành công nghiệp minh bạch, phúc lợi động vật và trứng vào năm 2040. sự bền vững.
Xây dựng chuỗi giá trị trứng thông minh hơn
Ngành công nghiệp trứng toàn cầu đã gia tăng hiệu quả và tạo ra giá trị to lớn trong nhiều thập kỷ nhờ những tiến bộ về di truyền, dinh dưỡng, sức khỏe vật nuôi, hệ thống chuồng trại và quản lý trang trại, cũng như các cải tiến ở những khâu tiếp theo trong chuỗi giá trị. Những nền tảng này vẫn đóng vai trò thiết yếu và sẽ tiếp
57
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
tục quyết định hiệu suất đàn gia cầm, chất lượng trứng, sức khỏe vật nuôi và hiệu quả sản xuất. Hiện nay, ngành đang bước vào giai đoạn mà các công nghệ thông minh, tự động hóa, hệ thống dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành những tài sản sản xuất thực thụ. Quá trình chuyển đổi số trong ngành trứng vẫn đang ở giai đoạn đầu, với mức độ ứng dụng khác nhau tùy thuộc vào khu vực, hệ thống sản xuất, quy mô doanh nghiệp và mức độ liên kết chuỗi. Một trong những nội dung trọng tâm của báo cáo là phần lớn dữ liệu cần thiết để nâng cao hiệu suất hoạt động vốn đã tồn tại sẵn. Thách thức nằm ở chỗ các thông tin này thường nằm rải rác trong những hệ thống riêng biệt và thiếu sự kết nối, trao đổi dữ liệu hiệu quả với nhau. Để giải quyết vấn đề này, các tác giả đã xây dựng một Khung Chuỗi giá trị Trứng Thông minh và Kỹ thuật số. Mô hình này mô tả 8 chức năng có sự liên kết chặt chẽ, nhằm hỗ trợ quy trình sản xuất trứng hiện đại, bao gồm: lãnh đạo và nhân sự, cảm biến và khả năng kết nối, thị giác máy tính, giám sát bằng âm thanh, hệ thống dữ liệu vận hành, nền tảng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ robot. Các cảm biến hiện đã có khả năng thu thập dữ liệu về điều kiện khí hậu, thức ăn, nguồn nước, mức tiêu thụ năng lượng và tình trạng thiết bị. Hệ thống camera có thể giám sát hành vi và sự phân bố của đàn gia cầm, phát hiện trứng đẻ rơi vãi, theo dõi tỷ lệ tử vong cũng như trạng thái thiết bị; trong khi đó, các hệ thống âm thanh có thể hỗ trợ phát hiện những thay đổi về sức khỏe hoặc mức độ căng thẳng của gia cầm. Công nghệ robot và tự động hóa cũng giúp giảm bớt các công việc lặp đi lặp lại và nâng cao tính đồng bộ trong quy trình. Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng không một công nghệ đơn lẻ nào có thể tạo ra giá trị khi hoạt động tách biệt. Những lợi ích thực sự chỉ xuất hiện khi các công cụ này được tích hợp và sử dụng kết hợp với nhau. Trí tuệ nhân tạo bổ sung thêm một lớp giá trị bằng cách chuyển đổi các luồng thông tin này thành các cảnh báo, dự báo và khuyến nghị. Mục tiêu không phải là thay thế người nông dân, bác sĩ thú y hay chuyên gia dinh dưỡng, mà là hỗ trợ họ phát hiện vấn đề sớm hơn và đưa ra các quyết định sáng suốt hơn. Theo RaboResearch, cơ hội lớn hơn nằm ở việc kết nối dữ liệu giữa các công đoạn khác nhau trong chuỗi giá trị trứng. Ví dụ, các dự báo về đàn gia cầm có thể được đối
Ngành công nghiệp trứng toàn cầu đã gia tăng hiệu quả và tạo ra giá trị to lớn trong nhiều thập kỷ
chiếu với kết quả phân loại, lượng hàng tồn kho và nhu cầu của khách hàng. Nhờ đó, các nhà sản xuất và đơn vị đóng gói có thể sớm nhận biết tình trạng thiếu hụt hoặc dư thừa để điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp. Trong nhiều trường hợp, dữ liệu vốn đã tồn tại nhưng lại nằm rải rác ở các hệ thống không được thiết kế để kết nối với nhau. Do đó, sự tiến bộ sẽ phụ thuộc vào khả năng tích hợp và các tiêu chuẩn chung cũng nhiều như phụ thuộc vào các loại cảm biến, camera hay ứng dụng AI mới. Phần lớn các doanh nghiệp trong ngành vẫn đang ở giai đoạn xây dựng khả năng hiển thị dữ liệu cơ bản hoặc bắt đầu kết nối các hệ thống riêng lẻ. Chỉ một số ít doanh nghiệp tiên phong mới chuyển sang mô hình quản lý dự báo, và RaboResearch dự tính rằng phải mất một thập kỷ hoặc lâu hơn nữa mới hình thành được một chuỗi giá trị có sự phối hợp đồng bộ trên diện rộng. Thay vì hướng tới quy trình sản xuất trứng hoàn toàn tự động, báo cáo nhận định “thực hành có sự giám sát” là hướng đi thực tế hơn: các hệ thống kỹ thuật số sẽ đảm nhận nhiều hơn các tác vụ giám sát và dự báo, trong khi con người vẫn chịu trách nhiệm về chiến lược, đầu tư và các quyết định dựa trên chuyên môn. Tương lai không phải là viễn cảnh công nghệ thay thế chuyên môn sản xuất, mà là sự kết hợp hài hòa giữa công nghệ thông minh, dữ liệu với sự xuất sắc trong quy trình sản xuất và khả năng phán đoán của con người. Các cảm biến, thị giác máy tính, robot và hệ thống tự động hóa có thể nâng cao hiệu suất lao động, tính ổn định trong vận hành và hiệu quả sử dụng năng lượng; đồng thời tăng
Ảnh: Shutterstock
→ Khung Chuỗi Giá trị Trứng Thông minh và Kỹ thuật số của RaboResearch coi ngành công nghiệp trứng như một hệ điều hành sống động, có khả năng cảm nhận, quan sát, lắng nghe, ghi nhớ, phân tích và hành động, đồng thời giải thích cách các công nghệ thông minh được tích hợp vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày.
cường khả năng giám sát sức khỏe, đánh giá phúc lợi, kiểm soát chất lượng và tỷ lệ phân loại trứng, cũng như khả năng truy xuất nguồn gốc. Mặc dù dữ liệu cụ thể về gà đẻ trứng còn hạn chế, báo cáo này nêu bật các bằng chứng từ những lĩnh vực chăn nuôi khác cho thấy hiệu quả sử dụng thức ăn được cải thiện từ 5% đến 15% nhờ các công nghệ giám sát chính xác. Dù những con số này không thể áp dụng trực tiếp cho gà đẻ, chúng vẫn minh chứng cho những cơ hội to lớn mà các công cụ kỹ thuật số có thể mang lại.
ĐĂNG KHÔI
Theo Nan-Dirk Mulder, Chuyên gia toàn cầu cấp cao về protein động vật
58
DINH DƯỠNG NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
TỪ THỨC ĂN ĐẾN TRANG TRẠI
Đo dấu chân carbon ngành heo Mỹ Một chương trình nghiên cứu quy mô lớn tại Mỹ đang xây dựng bộ dữ liệu mới về dấu chân carbon của nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Cập nhật dữ liệu theo từng bang giúp đánh giá vòng đời chính xác hơn, qua đó hỗ trợ ngành heo xác định các giải pháp giảm phát thải từ thức ăn, quản lý phân chuồng đến sản xuất cây trồng. Năm 2024, Hội đồng heo quốc gia Mỹ (NPB) khởi động chương trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng trong toàn bộ hệ thống sản xuất, từ heo, phân chuồng đến đất và cây trồng, từ đó xây dựng các đánh giá vòng đời (LCA) chính xác hơn. Theo TS Chris Hostetler, Giám đốc Khoa học vật nuôi của NPB, mục tiêu trong tương lai là giúp người chăn nuôi heo tại Mỹ có thể đánh giá dấu chân carbon ngay tại trang trại.
Thức ăn - mắt xích quan trọng nhất
Theo bà Lara Moody, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu và Giáo dục Thức ăn chăn nuôi (IFEEDER), LCA là quá trình cần rất nhiều dữ liệu và độ chính xác của dữ liệu quyết định mức độ sát thực tế của kết quả. Ở động vật dạ dày đơn như heo và gia cầm, thức ăn chiếm khoảng 70 - 80% dấu chân môi trường của quá trình sản xuất. Đây vừa là khâu còn nhiều bất định trong dữ liệu LCA, vừa là lĩnh vực có dư địa lớn nhất để giảm tác động môi trường. Các nhà khoa học đang nghiên cứu toàn bộ dòng chảy chất dinh dưỡng, từ nguyên liệu thức ăn, quá trình chuyển hóa thành khối lượng cơ thể heo, lượng dinh dưỡng thải qua phân cho đến những gì xảy ra trên đồng ruộng sau khi phân được sử dụng làm phân bón. Nhóm nghiên cứu do TS Laura Greiner, Đại học bang Iowa, dẫn dắt với sự tham gia của IFEEDER. Tổ chức này được Hiệp hội Công nghiệp Thức ăn chăn nuôi Mỹ (AFIA) cùng các đối tác thành lập năm 2009, nhằm kết nối doanh nghiệp, giới nghiên cứu và cơ quan quản lý trong phát triển chuỗi cung ứng thức ăn chăn nuôi và thức ăn thú cưng bền vững. Theo Moody, người chăn nuôi có thể giảm dấu chân môi trường thông qua cải thiện phương thức lưu trữ, xử lý và sử dụng phân chuồng, cũng như điều chỉnh chiến lược bón phân. Trong khi đó, các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi có thể tập trung vào lựa chọn,
Dấu chân carbon trong ngành chăn nuôi heo bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị từ khâu sản xuất thức ăn chăn nuôi, nuôi dưỡng tại trang trại, cho đến chế biến và tiêu thụ Ảnh: Pixabay.com
chế biến nguyên liệu và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.
Nâng hiệu quả sử dụng thức ăn
TS Mike Tokach, Đại học bang Kansas, đang nghiên cứu các giải pháp chế biến và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi heo. Theo ông, các trang trại heo tại Mỹ đã áp dụng nhiều biện pháp như cho ăn theo giai đoạn, cho ăn riêng theo giới tính và các chiến lược dinh dưỡng khác, nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, đồng thời hạn chế lượng chất dinh dưỡng dư thừa bài tiết ra môi trường. Hướng nghiên cứu hiện nay tập trung vào cho ăn chính xác, enzyme và các chất phụ gia thức ăn. Phytase hiện được sử dụng rộng rãi, trong khi các enzyme khác như protease và carbohydrase tiếp tục được nghiên cứu. Theo TS Tokach, những enzyme này có thể cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn khoảng 1 - 3%. Tuy nhiên, mức cải thiện nhỏ như vậy
không dễ đo lường trong điều kiện sản xuất thực tế. Người chăn nuôi vì thế phải cân nhắc giữa lợi ích về hiệu quả thức ăn và chi phí bổ sung enzyme.
Đo dấu chân carbon từng vùng sản xuất
Một trọng tâm của dự án là cập nhật dữ liệu về dấu chân môi trường của các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Mỹ. Ngô và đậu tương đã có dữ liệu về năng lượng sản xuất, nhưng dữ liệu cấp bang trong cơ sở dữ liệu của Global Feed LCA Institute phần lớn vẫn dựa trên số liệu từ năm 2012. Với một số nguyên liệu, dữ liệu thậm chí chỉ có một giá trị trung bình cho toàn nước Mỹ. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt giữa các vùng sản xuất. Lượng nước tưới, phân bón, nhiên liệu và phương thức canh tác khác nhau giữa các bang có thể khiến dấu chân môi trường của cùng một loại nguyên liệu chênh lệch đáng kể. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đang cập nhật dữ liệu
DINH DƯỠNG
59
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
cho 20 bang sản xuất ngô và đậu tương lớn nhất của Mỹ, đồng thời bổ sung dữ liệu cấp bang cho bã chưng cất, khô dầu đậu tương, hominy, cao lương và cám mì. Bã chưng cất là một ví dụ điển hình. Trước đây, nguyên liệu này chỉ có một giá trị dấu chân môi trường đại diện cho toàn nước Mỹ, trong khi điều kiện trồng và chế biến ngô tại Iowa có thể rất khác Pennsylvania. Để đánh giá chính xác hơn, LCA cần tính đến năng lượng sử dụng để trồng ngô, vận chuyển đến nhà máy ethanol và chế biến thành ethanol, trong đó bã chưng cất là sản phẩm đồng hành. Ở cấp trang trại, khoảng cách vận chuyển bã chưng cất từ nhà máy đến trang trại cũng có thể được đưa vào tính toán. Do đó, một trang trại tự trồng ngô làm thức ăn cho heo có thể có dấu chân môi trường khác với trang trại đưa ngô đến nhà máy ethanol rồi sử dụng bã chưng cất làm thức ăn. Việc tái sử dụng phân heo để bón cho cây trồng cũng có thể giúp giảm tác động môi trường của toàn hệ thống. Theo TS Tokach, nhiều nhà sản xuất đã tận dụng tốt việc tái tuần hoàn chất dinh dưỡng giữa chăn nuôi và trồng trọt, qua đó hạn chế thất thoát dinh dưỡng và giảm dấu chân môi trường. Tuy nhiên, quản lý phân chuồng vẫn có sự khác biệt giữa các bang do quy định về sử dụng phân, phương thức bón và hàm lượng dinh dưỡng trong đất không giống nhau. Những khác biệt này cho thấy LCA càng được xây dựng trên dữ liệu cụ thể theo vùng và theo trang trại, kết quả càng phản ánh sát hơn dấu chân môi trường thực tế của hoạt động chăn nuôi.
Hướng tới LCA sát từng trang trại
Theo Tokach, mục tiêu dài hạn là giúp người chăn nuôi thực hiện LCA với độ chính xác cao hơn, thay vì phụ thuộc vào các giá trị trung bình cấp bang hoặc những giả định chung. Khi dữ liệu ngày càng chi tiết, số lượng giả định và giá trị ước tính trong quá trình đánh giá sẽ giảm xuống. Điều này cho phép dấu chân carbon được xác định sát hơn với điều kiện thực tế của từng trang trại. Xa hơn, các nhà cung cấp thức ăn chăn nuôi có thể trực tiếp cung cấp dữ liệu dấu chân môi trường của từng loại thức ăn hoặc từng nguyên liệu. Khi đó, người chăn nuôi không chỉ biết một khẩu phần có giá bao nhiêu và mang lại hiệu quả tăng trưởng thế nào, mà còn có thể lượng hóa tác động môi trường của chính khẩu phần đó.
DŨNG NGUYÊN Theo Allaboutfeed
Chia khẩu phần theo thời điểm, tối ưu dinh dưỡng gà đẻ Điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng trứng, tăng khả năng tiêu hóa canxi và phốt pho, giảm phát thải amoniac và tiết kiệm 4,5% chi phí thức ăn trên mỗi kg trứng thương phẩm. Điều chỉnh khẩu phần theo nhu cầu
Nghiên cứu được thực hiện trên gà mái Hy-Line Brown 63 tuần tuổi trong 12 tuần. Gà được chia thành ba nhóm: nhóm đối chứng sử dụng một khẩu phần cơ sở duy nhất; hai nhóm cho ăn theo phương pháp chia khẩu phần, gồm Split-1 và Split-2. Ở hai nhóm này, 40% lượng thức ăn hằng ngày được cung cấp vào buổi sáng và 60% vào buổi chiều. Split-1 giảm 10% lượng protein thô so với nhóm đối chứng, trong khi Split-2 giảm 15%. Split-1 vẫn duy trì mức năng lượng trao đổi, axit amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn hóa, canxi và phốt pho tương đương nhóm đối chứng. Với Split-2, năng lượng trao đổi, axit amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn hóa và canxi giảm 5%, trong khi phốt pho giảm 13%. Kích thước hạt đá vôi cũng được điều chỉnh. Khẩu phần đối chứng chỉ sử dụng đá vôi hạt thô, trong khi hai khẩu phần chia cữ sử dụng đá vôi hạt mịn vào buổi sáng và đá vôi hạt thô vào buổi chiều, nhằm đáp ứng nhu cầu canxi tăng cao vào cuối ngày, khi quá trình hình thành vỏ trứng diễn ra mạnh.
Không ảnh hưởng tăng trưởng, giảm chi phí thức ăn
Kết quả cho thấy, lượng thức ăn tiêu thụ và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm. Tốc độ tăng trưởng của gà ở hai nhóm chia khẩu phần cũng tương đương nhóm đối chứng, ngay cả ở Split-2, nhóm có mức dinh dưỡng thấp hơn. Tỷ lệ đẻ có xu hướng cao nhất ở nhóm đối chứng, tiếp đến là Split-1 và Split-2. Tuy nhiên, ở Split-1, dù lượng protein thô tiêu thụ hằng ngày giảm 10%, tỷ lệ đẻ không giảm đáng kể so với đối chứng. Đáng chú ý, Split-1 giúp giảm 4,5% chi phí thức ăn trên mỗi kg trứng thương phẩm so với khẩu phần đối chứng. Theo nhóm nghiên cứu, đây là lợi ích kinh tế đáng kể, bởi giảm chi phí thức ăn mà vẫn duy trì năng suất có thể cải thiện hiệu quả sản xuất. Kết quả cũng cho thấy, cần tiếp tục xác
định mức cắt giảm dinh dưỡng tối ưu, sao cho vừa giảm chi phí vừa duy trì năng suất và chất lượng trứng.
Vỏ trứng chắc hơn, giảm trứng loại
Chia khẩu phần theo thời điểm không chỉ mang lại lợi ích về chi phí mà còn cải thiện chất lượng trứng. Trong giai đoạn 9 - 12 tuần của thí nghiệm, tỷ lệ trứng bị hạ cấp ở nhóm Split-1 thấp hơn 19,3% so với nhóm đối chứng. Đến tuần 11 và 12, tỷ lệ trứng nứt ở nhóm đối chứng và Split-2 cao hơn đáng kể so với Split-1. Đến cuối thí nghiệm, trứng của nhóm Split-1 có độ dày và độ bền vỏ cao hơn rõ rệt so với cả nhóm đối chứng và Split-2. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, cho thấy cung cấp canxi đúng thời điểm có thể cải thiện độ bền vỏ và giảm hao hụt trứng. Vỏ trứng chắc hơn cũng góp phần nâng cao an toàn thực phẩm do giảm nguy cơ nứt vỡ, hạn chế khả năng vi khuẩn xâm nhập và kéo dài thời gian bảo quản, đặc biệt trong quá trình vận chuyển.
Tăng tiêu hóa, giảm phát thải
Sau 12 tuần, nhóm Split-1 có khả năng tiêu hóa phốt pho và canxi cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng và Split-2. Theo các nhà nghiên cứu, việc sử dụng đá vôi hạt mịn vào buổi sáng và đá vôi hạt thô vào buổi chiều dường như giúp cung cấp canxi phù hợp hơn với nhu cầu hình thành vỏ trứng, đặc biệt khi nhu cầu canxi tăng cao vào buổi tối. Điều chỉnh thành phần khẩu phần theo nhu cầu trong ngày cũng giúp nâng cao khả năng tiêu hóa protein và canxi, qua đó cải thiện hiệu quả sử dụng dinh dưỡng. Một lợi ích khác là cả hai chế độ chia khẩu phần đều làm giảm nồng độ amoniac. Kết quả này cho thấy, việc sử dụng chất dinh dưỡng hiệu quả hơn có thể làm giảm lượng nitơ bài tiết, từ đó góp phần hạn chế phát thải khí và giảm tác động môi trường của chăn nuôi.
ĐAN LINH
Theo Worldpoultry
60
KHOA HỌC KỸ THUẬT NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
QUẢ TRỨNG Dưới góc nhìn dinh dưỡng có trách nhiệm Là nguồn thực phẩm quen thuộc trong mỗi bữa cơm của gia đình Việt, quả trứng cũng là điểm cuối của một chuỗi sản xuất dài, nơi dinh dưỡng, sức khỏe đàn gà, chất lượng thức ăn, công nghệ chăn nuôi và hiệu quả sử dụng tài nguyên có mối liên hệ chặt chẽ. Để tạo ra một quả trứng đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn và giá trị dinh dưỡng, câu chuyện thực tế đã bắt đầu từ rất lâu trước khi xuất hiện trên bàn ăn.
Từ món ăn quen thuộc đến nguồn thực phẩm quan trọng
Dễ chế biến, phù hợp với nhiều đối tượng, cung cấp protein cùng nhiều vitamin và khoáng chất thiết yếu, sản phẩm trứng ngày càng được nhìn nhận không chỉ là một thực phẩm phổ biến mà còn là một phần quan
trọng trong chế độ dinh dưỡng. Tuy nhiên, để có một quả trứng chất lượng, phía sau đó là cả một chuỗi giá trị; từ con giống, thức ăn, nước uống, chuồng nuôi, an toàn sinh học, chăm sóc sức khỏe đàn gà đến thu gom, bảo quản và phân phối, mỗi mắt xích đều có thể tác động đến sản phẩm cuối cùng. Người tiêu dùng hiện nay cũng không chỉ quan tâm trứng có ngon hay không mà ngày càng đặt câu hỏi: Trứng có gì? Được sản xuất như thế nào? Giá trị dinh dưỡng ra sao? Sự
thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng đang thúc đẩy thị trường hướng tới những sản phẩm trứng có giá trị gia tăng, trong đó có trứng giàu Omega-3. Thay vì chỉ tập trung vào sản lượng, nhà sản xuất có thể điều chỉnh khẩu phần ăn của gà theo hướng tạo ra sản phẩm có thành phần dinh dưỡng khác biệt. Cùng với đó, trên thị trường và trong hoạt động nghiên cứu, phát triển sản phẩm đã xuất hiện những hướng tiếp cận sử dụng khẩu phần có bổ sung nguyên liệu thực vật, thảo dược hoặc các nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên khác.
KHOA HỌC KỸ THUẬT
61
NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
Dinh dưỡng chính xác tạo nên giá trị từ bên trong quả trứng
Đằng sau một quả trứng tưởng như quen thuộc trên bàn ăn là một quá trình dinh dưỡng được tính toán từ rất sớm. Trong chăn nuôi gà đẻ hiện đại, bài toán không còn đơn thuần là cung cấp đủ thức ăn mà hướng tới dinh dưỡng chính xác - đúng thành phần, đúng tỷ lệ và phù hợp với nhu cầu của gà ở từng giai đoạn phát triển. Bên cạnh năng lượng, protein và acid amin, các vitamin, khoáng chất và vi chất dù chỉ được sử dụng với hàm lượng nhỏ vẫn giữ vai trò quan trọng đối với nhiều quá trình sinh lý của gà. Hiệu quả của những dưỡng chất này không chỉ thể hiện ở sức khỏe, năng suất đàn mà còn liên quan đến quá trình hình thành và chất lượng quả trứng. Canxi (Ca) là một ví dụ điển hình. Đây là khoáng chất tham gia vào quá trình phát triển, khoáng hóa bộ xương và được huy động với lượng đáng kể trong quá trình hình thành vỏ trứng. Vì vậy, câu chuyện dinh dưỡng canxi không chỉ bắt đầu khi gà bước vào giai đoạn đẻ mà cần được chuẩn bị từ giai đoạn hậu bị, khi bộ khung xương đang hình thành và tích lũy khoáng chất. Tuy nhiên, canxi không hoạt động đơn lẻ mà cần được cân đối cùng phospho, Vitamin D và các yếu tố liên quan đến quá trình chuyển hóa khoáng. Bên cạnh đó, các vitamin nhóm B và kẽm (Zn) cũng giữ những vai trò đáng chú ý. Vitamin nhóm B tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng; trong khi kẽm liên quan đến hoạt động của nhiều enzyme, cấu trúc mô và chức năng miễn dịch. Điều này cho thấy, câu chuyện về một quả trứng không chỉ nằm ở thời điểm gà đẻ trứng, mà bắt đầu từ cả quá trình xây dựng nền tảng sức khỏe và dinh dưỡng cho đàn gà. Chính vì thế, khoa học đang ngày càng đi sâu vào việc nâng cao chất lượng quả trứng thông qua bổ sung dinh dưỡng trong thức ăn cho gà, ví dụ như: màu, kích thước lòng đỏ, độ chắc của lòng trắng, hoặc bổ sung thêm thành phần vi chất như DHA, Se, Omega, mùi vị... Những dưỡng chất được bổ sung với lượng nhỏ nhưng nếu được quản lý chính xác có thể tạo nên khác biệt lớn tới hiệu quả sản xuất.
Từ máng ăn đến sức khỏe đàn gà
Nếu dinh dưỡng góp phần quyết định năng suất thì sức khỏe đàn gà là điều kiện để
năng suất ấy được duy trì. Sức khỏe gia cầm chịu tác động của nhiều yếu tố như mầm bệnh, môi trường, quản lý, mật độ nuôi, stress nhiệt, nước uống, an toàn sinh học và miễn dịch. Trong đó, dinh dưỡng mất cân đối hoặc thức ăn không bảo đảm chất lượng có thể ảnh hưởng đến thể trạng, chức năng miễn dịch và khả năng chống chịu của vật nuôi. Đặc biệt, sức khỏe đường ruột ngày càng được xem là một mắt xích quan trọng. Một hệ tiêu hóa khỏe giúp gà khai thác tốt hơn giá trị dinh dưỡng của khẩu phần. Khi khả năng tiêu hóa, hấp thu được cải thiện, đàn gà có thêm điều kiện duy trì thể trạng và năng suất; đồng thời lượng dưỡng chất không được sử dụng và bài tiết ra môi trường cũng có thể được kiểm soát tốt hơn. Đây cũng là lý do chăn nuôi hiện đại ngày càng chuyển từ tư duy chỉ xử lý bệnh khi phát sinh sang chủ động quản lý sức khỏe đàn vật nuôi. Khi vật nuôi mắc bệnh và có chỉ định điều trị, thuốc thú y vẫn cần được sử dụng đúng hướng dẫn chuyên môn. Điều quan trọng là xây dựng hệ thống phòng bệnh chủ động, trong đó con giống, vaccine, an toàn sinh học, môi trường, quản lý và dinh dưỡng cùng tham gia bảo vệ sức khỏe đàn gà.
Lời giải cho chăn nuôi bền vững
Câu chuyện dinh dưỡng không dừng lại ở sức khỏe hay năng suất, mà còn là hiệu quả sử dụng thức ăn gắn với mục tiêu giảm tác động môi trường. Một khẩu phần được tối ưu giúp gà khai thác tốt hơn giá trị dinh dưỡng, đồng thời hạn chế lượng dưỡng chất dư thừa bị bài tiết. Đặc biệt với protein, cung cấp phù hợp nhu cầu và nâng cao khả năng sử dụng acid amin có ý nghĩa đối với cả hiệu quả dinh dưỡng và quản lý chất thải. Khi gà tiêu hóa, hấp thu tốt, phần dưỡng chất được cơ thể sử dụng hiệu quả hơn; lượng chất dinh dưỡng không tiêu hóa hoặc dư thừa đi vào phân có thể giảm. Từ đó, dinh dưỡng liên quan trực tiếp đến quản lý phân, nước thải và khí thải trong chăn nuôi. Một kilogram thức ăn tạo ra bao nhiêu quả trứng? Bao nhiêu dưỡng chất được hấp thu và bao nhiêu bị thải ra môi trường? Những câu hỏi này đang trở thành một phần của bài toán chăn nuôi bền vững. Hiệu quả sử dụng thức ăn thường được phản ánh qua các chỉ số như FCR. Khi hiệu quả được cải thiện, lượng tài nguyên đầu vào cho mỗi đơn vị sản phẩm được tối ưu, đồng thời góp phần giảm chất thải
→ Đến năm 2050, nhu cầu thực phẩm toàn cầu được dự báo tăng khoảng 30 - 40%, trong khi nhu cầu protein động vật có thể tăng tới 40 - 50%. Sự gia tăng dân số, thu nhập và tốc độ đô thị hóa được dự báo tiếp tục tạo áp lực lên hệ thống thực phẩm. Trong bối cảnh này, trứng được đánh giá là một nguồn protein quan trọng nhờ giá trị dinh dưỡng, tính tiện lợi và khả năng tiếp cận nhiều nhóm người tiêu dùng.
phát sinh. Vì vậy, tối ưu dinh dưỡng không chỉ là bài toán kinh tế mà còn là giải pháp môi trường. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến giá trị dinh dưỡng và nguồn gốc sản phẩm; doanh nghiệp chú trọng chất lượng, tính khác biệt; trong khi người chăn nuôi phải cân bằng giữa năng suất, chi phí và sức khỏe đàn. Cùng với đó là yêu cầu giảm sử dụng kháng sinh, tiết kiệm tài nguyên và hạn chế tác động đến môi trường. Dinh dưỡng là điểm giao của những yêu cầu đó. Một quả trứng chất lượng cần một đàn gà khỏe, và một đàn gà khỏe cần chương trình dinh dưỡng phù hợp. Thức ăn vì thế không đơn thuần là đầu vào sản xuất mà còn là công cụ quản lý năng suất, sức khỏe vật nuôi, chất lượng trứng và hiệu quả môi trường. Với chủ đề “Protein tiếp sức và bảo vệ”, Ngày Trứng thế giới 2026 sẽ tập trung vào vai trò của protein trong trứng và các dưỡng chất thiết yếu đối với việc duy trì sức khỏe thể chất, sự phát triển trí não cũng như sức khỏe toàn diện trong suốt cuộc đời. Câu chuyện về quả trứng có thể được nhìn rộng hơn từ bàn ăn đến trang trại: từ hạt cám đến quả trứng, mỗi thành phần dinh dưỡng đều góp phần tạo nên giá trị sản phẩm, đồng thời tác động đến hiệu quả chăn nuôi và dấu chân môi trường của ngành.
NGỌC ÁNH
62 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
63 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026
64 NGƯỜI CHĂN NUÔI SỐ 113 - 10/2026