Skip to main content

CON TOM 177 (2)

Page 1

CON TÔM THÁNG 9/2026

ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM

Ảnh: Shutterstock

www.contom.vn

VIETNAM SHRIMP NEWS THÁNG 9/2026

BÀI TOÁN NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN TÔM (16-17)


2

CON TÔM THÁNG 9/2026


CON TÔM THÁNG 9/2026

3


4

CON TÔM THÁNG 9/2026


CON TÔM THÁNG 9/2026

5


6

CON TÔM THÁNG 9/2026


CON TÔM THÁNG 9/2026

7


THƯ BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 9/2026

Đặc san CON TÔM Hội Thủy sản Việt Nam CHỦ NHIỆM TS. Phạm Anh Tuấn PHỤ TRÁCH Đỗ Huy Hoàn, Phó Tổng Biên tập BAN BIÊN TẬP Dương Xuân Hùng, Cố vấn Phạm Thu Hồng, Nhà báo THƯ KÝ TÒA SOẠN Nhà báo Kim Tiến CỘNG TÁC NỘI DUNG Hải Đăng, Vũ Mưa, Anh Thư, Thảo Linh, Lê Cung, Phạm Duy Tương, Phan Thanh Cường, Nguyễn Anh, Lê Hoàng Vũ, Mai Xuân Trường KỸ THUẬT VI TÍNH Phạm Dương TÒA SOẠN Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan.contom@gmail.com Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội Điện thoại: 0243.7713699 LIÊN HỆ QUẢNG CÁO TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM Điện thoại: 0243.7713699 DĐ: 083.661.5993 Email: quangcao@thuysanvietnam.com. vn ĐẶT MUA TẠP CHÍ Điện thoại: 0243.771.1756 Email: vuna@thuysanvietnam.com.vn TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG Tên tài khoản: TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM Số: 3106566688 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh Ấn phẩm LHNB

Thưa Quý vị bạn đọc! Ngành tôm đang chuẩn bị bước vào giai đoạn cao điểm chế biến và xuất khẩu. Sau gần ba quý, bên cạnh tín hiệu tích cực từ thị trường, nguồn cung cho các nhà máy cũng đang có những thay đổi đáng chú ý. Sự khác biệt về kích cỡ, chất lượng và thời điểm thu hoạch khiến việc cân đối sản lượng cho từng nhu cầu trở nên quan trọng hơn. Tôm cỡ lớn hiện có xu hướng khan hơn, trong khi một số cỡ nhỏ lại dồi dào. Vì vậy, nguồn hàng chưa phải lúc nào cũng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Bài toán này không chỉ nằm ở khâu thu mua, mà còn liên quan đến lịch thả nuôi, thời điểm thu hoạch và sự phối hợp giữa vùng nuôi với cơ sở chế biến. Trong bối cảnh đó, liên kết vùng (16-17) nuôi với doanh nghiệp, bảo vệ quỹ đất và chuẩn hóa từ chứng nhận, kiểm soát kháng sinh đến truy xuất nguồn gốc đang được chú trọng. Với người nuôi, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp cung ứng đầu vào và thu mua cũng là cách giảm bớt rủi ro từ biến động chi phí và nhu cầu thị trường. Ở chiều ngược lại, chi phí đầu vào cũng đang chịu tác động từ biến động nguồn cung trên thị trường quốc tế. Trong 7 tháng đầu năm 2026, nguồn cung bột cá và dầu cá thế giới giảm đáng kể; theo Tổ chức Nguyên liệu Biển (IFFO), sản lượng bột cá giảm 49%, dầu cá giảm 30% so cùng kỳ năm trước. Khi các nguồn cung mới chưa thể nhanh chóng bù đắp phần thiếu hụt, việc tìm kiếm và phối hợp nhiều nguồn protein, lipid, đồng thời tối ưu công thức đang trở thành hướng được quan tâm. Đây là những nội dung chính của Đặc san Con Tôm phát hành số tháng 9/2026. Bên cạnh đó, ấn phẩm còn gửi tới Quý bạn đọc các chuyên trang, chuyên mục quen thuộc như hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm theo mùa vụ, cập nhật nghiên cứu mới về dinh dưỡng và thức ăn, thông tin thị trường, giới thiệu mô hình nuôi hiệu quả... Mời các bạn đón đọc! CON TÔM THÁNG 9/2026

ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM www.contom.vn

Ảnh: Shutterstock

8

VIETNAM SHRIMP NEWS THÁNG 9/2026

BÀI TOÁN NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN TÔM

Trân trọng! BAN BIÊN TẬP

Hộp thư Tòa soạn luôn hoan nghênh sự đóng góp và các bài viết đặc sắc về ngành tôm từ các CTV, bạn đọc gần xa. Thư và bài vở xin gửi về: Tạp chí Thủy sản Việt Nam - Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội Điện thoại: 0243.7713699 Email: toasoan.contom@gmail.com Hoặc liên hệ trực tiếp theo số điện thoại: 0374 099 498 (Ms. Kim Tiến) Website: www.thuysanvietnam.com.vn  www.contom.vn


CON TÔM THÁNG 9/2026

NỘI DUNG

9

Theo dòng thời sự T14-15: Cân đối nguồn tôm cuối năm

Vấn đề - Sự kiện T16-17: Bài toán nguyên liệu thức ăn tôm

Tòa soạn - Bạn đọc T18-19: Trợ lực từ chính sách để ngành tôm nâng hiệu quả, giảm phát thải

Thị trường xuất khẩu

11

T24-25: Sự phân hóa tại các thị trường chủ lực và ứng biến từ doanh nghiệp

Nhìn ra thế giới T30-31: Thích ứng bền vững cho ngành tôm

Thức ăn - Dinh dưỡng T36-37: Tiềm năng axit triterpenic từ hương thảo

Khoa học - Kỹ thuật T38: Quản lý chất hữu cơ đáy ao T39: Duy trì hệ vi sinh ổn định trong ao

31

Thông tin doanh nghiệp T40-41: 18 con/kg: Cùng sú C.P. thắng EHP trên ao lót bạt đáy 100% T44: Dinh dưỡng tối ưu cho nuôi trồng thủy sản T48: Bảo vệ gan tụy: Bí quyết của sự thành công

Mô hình điển hình T52: Khôi phục lợi thế từ mô hình nuôi tôm sú tại Quảng Trị T53: Brazil: Nuôi tôm trên vùng đất khô hạn mở hướng đi mới

Đồng hành cùng nhà nông T54-55: Các bước kiểm tra ao trước khi cho ăn

54


10

TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 9/2026

QUẢNG NINH

HÀ TĨNH

Làm giàu từ trang trại tôm VietGAP

Chủ động ứng phó nắng nóng

Từ một hộ nuôi nhỏ lẻ, ông Bùi Văn Trình, phường Móng Cái 2 từng bước mở rộng quy mô và xây dựng trang trại nuôi tôm theo tiêu chuẩn VietGAP rộng 6,8 ha. Hiện trang trại duy trì 3 vụ tôm/ năm, mang lại thu nhập bình quân khoảng 3,6 tỷ đồng/năm. Để nâng cao hiệu quả, gia đình ông chú trọng tổ chức sản xuất theo quy trình, kiểm soát các điều kiện trong ao và duy trì chăm sóc, quản lý tôm phù hợp từng giai đoạn. Không chỉ phát triển kinh tế gia đình, trang trại còn tạo việc làm thường xuyên cho 15 - 18 lao động, cùng khoảng 20 lao động thời vụ. Ông Trình cũng tích cực chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất với các hộ dân trong vùng. Qua đó, mô hình không chỉ nâng cao thu nhập mà còn góp phần thúc đẩy phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tại địa phương. HUYỀN THƯƠNG

Nắng nóng kéo dài làm gia tăng nguy cơ biến động môi trường, dịch bệnh trong sản xuất, nuôi trồng thủy sản tại Hà Tĩnh. Trước tình hình này, các cơ sở sản xuất giống, hợp tác xã và người dân đang chủ động áp dụng giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế rủi ro, ổn định sản xuất. Tại Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản Hà Voọc, phường Trần Phú, ông Lê Thế Liên hiện duy trì 6 ao với khoảng 370.000 con tôm thẻ chân trắng. Sau hơn một tháng thả giống, tôm sinh trưởng tốt nhờ thường xuyên kiểm tra chất lượng nước, điều chỉnh thức ăn, bổ sung khoáng chất và vận hành quạt nước duy trì hàm lượng ôxy hòa tan. Đối với thủy sản lồng bè, các hộ nuôi cũng thường xuyên vệ sinh lưới, giảm mật độ khi cần thiết để tăng lưu thông nước, duy trì hàm lượng ôxy và hạn chế dịch bệnh. NGUYỄN LAM

NGHỆ AN

Công nghệ giúp nâng hiệu quả sản xuất

HUẾ

Xen canh lúa - tôm trên vùng đất phèn, mặn

Ông Nguyễn Văn Hòa, xã Hải Châu phát triển mô hình nuôi tôm công nghệ cao theo hướng khép kín, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ năm 2019, ông Hòa đầu tư khoảng 13 tỷ đồng xây dựng trang trại, từng bước hoàn thiện quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 3 giai đoạn. Trang trại hiện có 19 ao, gồm 14 ao nuôi theo công nghệ khép kín, 4 ao ương và 5 ao xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn. Hệ thống nuôi được đầu tư các thiết bị kiểm soát nhiệt độ, hàm lượng ôxy hòa tan, thức ăn và xử lý chất thải, giúp chủ động các điều kiện trong quá trình sản xuất. Nhờ kiểm soát chặt chẽ các khâu, sản lượng tôm của trang trại đạt khoảng 65 - 70 tấn/năm. Doanh thu khoảng 10 tỷ đồng/năm, lợi nhuận trên 3 tỷ đồng. DUY MẠNH

Trung tâm Khuyến nông TP Huế vừa tổ chức Hội nghị tổng kết mô hình “Hỗ trợ ứng dụng kỹ thuật xen canh lúa - tôm tăng hiệu quả sản xuất trên vùng đất phèn, mặn vụ hè thu năm 2026”. Mô hình được triển khai từ tháng 5 đến tháng 9 tại 4 xã ven đầm phá, với quy mô 18 ha, 10 hộ tham gia. Tổng số tôm giống thả 900.000 con, mật độ 5 con/m². Sau 70 ngày, tôm đạt 47 - 71 con/kg, tỷ lệ sống 50 - 67%. Dự kiến sau 3 tháng, tôm đạt 40 - 52 con/kg, tỷ lệ sống 46 - 62%, sản lượng khoảng 10,7 tấn, năng suất bình quân 595 kg/ha. Hiệu quả kinh tế dự kiến đạt khoảng 19 triệu đồng/ ha, cao hơn mức 13 triệu đồng/ha của sản xuất lúa vụ đông xuân. Đây là năm thứ 3 Trung tâm Khuyến nông TP Huế triển khai mô hình, nhằm tận dụng diện tích hè thu kém hiệu quả và tăng thu nhập cho người dân. DIỆU CHÂU

THANH HÓA

QUẢNG NGÃI

Đầu tư nhà màng, doanh thu 10 tỷ đồng/năm

Ứng dụng công nghệ 4.0 trong nuôi tôm

Gia đình anh Nguyễn Văn Kiên, xã Tân Tiến, là một trong những hộ ứng dụng kỹ thuật hiệu quả trong nuôi tôm tại địa phương. Từ năm 2017, gia đình anh đầu tư 15 ao nuôi trong nhà màng trên diện tích khoảng 2 ha, áp dụng hình thức thâm canh, siêu thâm canh kết hợp sử dụng chế phẩm sinh học để kiểm soát môi trường và hạn chế dịch bệnh. Các bể nuôi hình tròn, khung sắt, lót bạt HDPE và có mái che, diện tích khoảng 300 m²/bể. Hệ thống cung cấp ôxy được bố trí xung quanh, kết hợp thiết bị theo dõi, kiểm soát các yếu tố môi trường trong quá trình sản xuất. Theo anh Kiên, với mật độ 380 - 400 con/m², thời gian mỗi vụ khoảng 115 - 120 ngày, tỷ lệ sống đạt 83 - 95%, sản lượng 20 - 25 tấn/vụ. Mô hình đạt doanh thu khoảng 10 tỷ đồng/năm, lợi nhuận khoảng 2 tỷ đồng. THANH HIẾU

Trung tâm Khuyến nông Quảng Ngãi đang triển khai mô hình “Ứng dụng công nghệ 4.0 trong nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm” tại phường Trà Câu, xã Lân Phong và xã Bình Sơn, góp phần thúc đẩy ứng dụng kỹ thuật và số hóa trong sản xuất. Trung tâm đã tổ chức tập huấn cho 60 hộ nuôi về cải tạo ao, xử lý nước, chọn giống, quản lý thức ăn, môi trường và phòng, trị bệnh. Người nuôi cũng được hướng dẫn cập nhật dự báo thời tiết để chủ động ứng phó với điều kiện bất lợi. Mô hình ứng dụng máy cho ăn tự động và hệ thống giám sát pH, ôxy hòa tan, nhiệt độ... kết nối với điện thoại thông minh, giúp theo dõi môi trường. Mô hình được triển khai tại 6 hộ, quy mô 2.000 m²/hộ. Mỗi hộ được hỗ trợ 300.000 con giống P12, có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm soát an toàn dịch bệnh. NAM CƯỜNG


TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 9/2026

11

ĐẮK LẮK

Quản lý chỉ dẫn địa lý tôm hùm bông Ngày 26/8, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 2683/QĐ-UBND về quy chế quản lý chỉ dẫn địa lý “Phú Yên” cho sản phẩm tôm hùm bông. Theo quy chế, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải là tôm tươi sống, trọng lượng trên 0,7 kg/ con, được nuôi, thu hoạch, bảo quản và kinh doanh trong khu vực địa lý được bảo hộ, đồng thời bảo đảm truy xuất nguồn gốc. Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, việc sử dụng chỉ dẫn địa lý “Phú Yên” không được mặc nhiên áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh tôm hùm bông. Tổ chức, cá nhân sử dụng chỉ dẫn địa lý phải thông báo đến Sở Khoa học và Công nghệ để được Vùng nuôi tôm hùm bông được quản lý, kiểm soát về nguồn gốc và chất lượng Ảnh: Cafef kiểm tra, ghi nhận. Quy chế cũng quy định việc kiểm soát nguồn gốc, quy trình kỹ thuật, thu hoạch, bảo quản và chất Việc quản lý nhằm bảo đảm chỉ dẫn địa lý được sử dụng đúng đối lượng sản phẩm từ vùng sản xuất đến thị trường; phân định tượng, duy trì chất lượng, nguồn gốc và nâng cao khả năng kiểm trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý soát sản phẩm tôm hùm bông “Phú Yên” trên thị trường. LÊ LOAN và kiểm soát việc sử dụng chỉ dẫn địa lý. AN GIANG

CẦN THƠ

Tôm - lúa kết hợp cua, tăng giá trị trên cùng diện tích Tăng cường quan trắc môi trường vùng nuôi tôm Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp Nam Quý, xã Đông Thái đang phát huy hiệu quả mô hình “1 vụ tôm - 1 vụ lúa” kết hợp nuôi cua, góp phần đa dạng nguồn thu và giảm chi phí sản xuất. HTX thành lập năm 2020, hiện có 97 thành viên với 150 ha sản xuất; riêng mô hình tôm - lúa được triển khai trên khoảng 97 ha. Theo ông Phạm Chí Thương, Chủ tịch - Giám đốc HTX, năm 2025, tôm đạt năng suất bình quân 450 kg/ha/vụ, giá bán khoảng 185.000 đồng/kg, lợi nhuận sau chi phí khoảng 70,25 triệu đồng/ha. Vụ lúa ST25 đạt 6,8 tấn/ha, lợi nhuận khoảng 57 - 70 triệu đồng/ha. Cua nuôi xen đạt năng suất khoảng 550 kg/ha/vụ, giá bán 300.000 đồng/ kg, lợi nhuận ước 150 triệu đồng/ha. PHƯƠNG LINH

TP Cần Thơ triển khai kế hoạch quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2026 - 2030. Đối với tôm nước lợ, thành phố có khoảng 52.490 ha, gồm 12.690 ha tôm sú và 39.790 ha tôm thẻ chân trắng. 16 điểm quan trắc được bố trí tại các khu vực nước lợ, mặn trọng điểm. Các chỉ tiêu theo dõi gồm pH, nhiệt độ, độ mặn, ôxy hòa tan, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, hóa chất độc hại, thuốc bảo vệ thực vật và vi sinh vật gây bệnh. Năm 2026, dự kiến phân tích 824 mẫu dinh dưỡng và vi sinh; từ năm 2027 - 2030 là 624 mẫu/năm, cùng 55 mẫu/năm về thuốc bảo vệ thực vật và kim loại nặng. Kết quả phải được phát hành trong tối đa 3 ngày. NGUYỄN HẰNG

VĨNH LONG

CÀ MAU

Tăng sản lượng tôm trên cùng diện tích

Tận dụng cơm dừa khô cho tôm càng xanh

Các mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tại Vĩnh Long đang cho hiệu quả nổi bật, với năng suất bình quân đạt 40 - 60 tấn/ ha, cao hơn nhiều lần so phương thức truyền thống. Dù diện tích nuôi tôm công nghệ cao chiếm khoảng 32,35% diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, khu vực này đóng góp 56,68% sản lượng tôm thẻ chân trắng và 54,03% tổng sản lượng tôm nước lợ của tỉnh. Hiệu quả mô hình đến từ việc ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật. Người nuôi chủ động theo dõi chất lượng nước, hàm lượng ôxy hòa tan và các yếu tố môi trường trong ao, qua đó hạn chế nguy cơ dịch bệnh và giảm rủi ro sản xuất. Với năng suất cao trên cùng diện tích, mô hình đang góp phần nâng sản lượng, rút ngắn thời gian nuôi và cải thiện hiệu quả kinh tế. THÁI THUẬN

Tại xã Vĩnh Phước, Cà Mau, ông Nguyễn Văn Sử nuôi tôm càng xanh kết hợp lúa ST25 trên diện tích 35 công. Tận dụng gần 200 gốc dừa, gia đình ông sử dụng cơm dừa khô làm thức ăn bổ sung cho tôm. Khoảng 60 ngày sau khi thả, tôm được cho ăn cơm dừa khô đã lột vỏ, cắt nhỏ, khoảng 2 ngày/lần. Ông Sử đồng thời bổ sung lúa ngâm nảy mầm trong quá trình nuôi. Sau 4 - 5 tháng, mỗi vụ thu 400 - 600 kg tôm, cỡ khoảng 20 con/kg. Lứa gần nhất dự kiến đạt 600 kg, đã được thương lái đặt mua với giá 110.000 đồng/kg. Theo ông Sử, cách làm này nhằm tận dụng những con tôm nhỏ còn lại sau vụ nuôi. Tuy nhiên, hiệu quả dinh dưỡng và tác động đến môi trường nước khi sử dụng cơm dừa vẫn cần được đánh giá cụ thể. DUY AN


12

TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 9/2026

 Cơ quan Thủy sản Quốc gia Mỹ (NOAA Fisheries) đề xuất kéo dài thêm 10 năm Dự báo sản lượng tôm năm 2026 đạt khoảng 250.000 tấn lệnh tạm dừng cấp giấy phép liên bang mới cho tàu khai thác tôm tại Vịnh Mexico. Lệnh Liên đoàn Nuôi trồng thủy sản Thái Lan dự báo hiện hành sẽ hết hạn ngày 26/10/2026, sau sản lượng tôm nước này năm 2026 đạt khoảng 20 năm áp dụng nhằm kiểm soát số lượng 250.000 tấn, tương đương năm 2025 và thấp hơn tàu tham gia nghề khai thác tôm. Số giấy mục tiêu tăng trưởng của ngành. Theo ông Banjong phép đã giảm từ 1.933 năm 2008 xuống còn Nisaphawanich, Chủ tịch Liên đoàn và cố vấn Hiệp 1.287 năm 2024. Hội đồng Quản lý Nghề cá hội Tôm Thái Lan, dịch bệnh kéo dài tại các vùng Vịnh Mexico đề xuất gia hạn 10 năm, trong nuôi đang hạn chế khả năng mở rộng sản xuất. Ba khi NOAA Fisheries cũng đang xem xét vấn đề sức khỏe chính được ngành tôm Thái Lan ghi nhận gồm hội chứng phân trắng (WFS), bệnh đốm trắng (WSSV) và hội chứng chết sớm phương án 5 năm. Cơ quan này tiếp nhận ý (EMS). Các bệnh này làm tăng tỷ lệ chết, kéo dài thời gian nuôi, tăng chi phí xử lý và kiến công chúng đến ngày 24/9. ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng giống, thức ăn. Nguồn nguyên liệu không ổn định  Nghề khai thác tôm tại New England, cũng gây khó khăn cho các nhà máy chế biến và hoạt động xuất khẩu. Ngành tôm Thái Lan kiến nghị tăng cường quản lý sức khỏe vật nuôi, nâng năng suất và phát triển các Đông Bắc Mỹ, nhiều khả năng tiếp tục dòng giống phù hợp với điều kiện địa phương. Sản lượng năm 2026 được nhận định có đình chỉ do nguồn lợi chưa phục hồi. Ủy thể phục hồi trong nửa cuối năm nếu công tác quản lý ao nuôi và sử dụng giống thích ban Nghề cá Biển các bang Đại Tây Dương (ASMFC) lần đầu đóng cửa nghề khai thác nghi được cải thiện. tôm ở Vịnh Maine năm 2013, sau khi sản lượng mùa đông xuống mức thấp nhất kể từ INDONESIA năm 1978. Lệnh đóng cửa tiếp tục được gia Ưu tiên tôm trong nước, duy trì nhập khẩu phục vụ chế biến hạn vào các năm 2018, 2021 và 2024. Lần Bộ Hàng hải và Thủy sản Indonesia (KKP) đề nghị doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gia hạn năm 2024 cho phép thực hiện một và nhập khẩu ưu tiên sử dụng tôm thẻ chân trắng sản xuất trong nước, đồng thời duy hoạt động khai thác nghiên cứu mùa đông trì nhập khẩu để bổ sung nguyên liệu phục vụ chế biến. Động thái này được đưa ra sau quy mô hạn chế nhằm thu thập dữ liệu sinh khi Indonesia xác nhận một lô 120 tấn thủy sản từ Ecuador cập cảng Tanjung Perak, học và đánh giá tình trạng nguồn lợi. Surabaya trong tháng 6. Lô hàng được chuyển trực tiếp đến các nhà máy chế biến theo  ADM đã đưa vào vận hành nhà máy cơ chế khu vực hải quan đặc biệt. Trước khi đưa vào sản xuất, tôm được kiểm tra an toàn sinh học và cho kết quả âm tính với virus gây bệnh đốm trắng (WSSV). Theo KKP, doanh thức ăn thủy sản tại Thiên Tân, Trung nghiệp nên ưu tiên thu mua tôm trong nước khi nguồn cung đáp ứng yêu cầu về quy Quốc, chuyên sản xuất thức ăn cho tôm và cách, chất lượng, sản lượng và tính ổn định. Tuy nhiên, nhập khẩu vẫn cần thiết khi sản cá ở giai đoạn giống và ương dưỡng. Nhà lượng nội địa biến động theo mùa vụ hoặc không đáp ứng về kích cỡ, qua đó hỗ trợ các máy có công suất thiết kế khoảng 5.000 nhà máy duy trì sản xuất và thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Tôm là một trong những mặt tấn/năm, sản xuất thức ăn với kích thước hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Indonesia. Theo KKP, bình quân 5 năm gần đây, hạt từ 50 micromet đến 3 mm. Cơ sở này phục vụ khách hàng tại Trung Quốc và các nước này xuất khẩu khoảng 229.250 tấn tôm/năm, trị giá khoảng 1,93 tỷ USD thị trường châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời tăng năng lực sản xuất tại chỗ của TRUNG QUỐC ADM trong khu vực. THÁI LAN

Cho phép 8 doanh nghiệp tôm Ecuador xuất khẩu trở lại

Trung Quốc đã cho phép 8 doanh nghiệp tôm Ecuador xuất khẩu sản phẩm trở lại, theo Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia Ecuador (CNA). CNA không công bố tên doanh nghiệp cũng như nguyên nhân đình chỉ trước đó. Một số doanh nghiệp nằm trong danh sách cấm nhập khẩu của Trung Quốc từ tháng 10/2025, trong khi các doanh nghiệp khác bị đình chỉ từ tháng 1/2026. Sau quyết định mới, Trung Quốc vẫn duy trì lệnh cấm nhập khẩu đối với 6 doanh nghiệp tôm Ecuador. Chủ tịch điều hành CNA José Antonio Camposano cho biết việc dỡ bỏ đình chỉ đối với 8 doanh nghiệp là kết quả của quá trình phối hợp giữa cơ quan quản lý và khu vực tư nhân. CNA kỳ vọng tiếp tục đối thoại với phía Trung Quốc để xử lý trường hợp của 6 doanh nghiệp còn lại. Trung Quốc hiện là thị trường xuất khẩu tôm nuôi lớn nhất của Ecuador. Năm 2025, Ecuador xuất khẩu 3,07 tỷ pound tôm, trị giá 7,47 tỷ USD. Trong đó, Trung Quốc chiếm 49,5% sản lượng, tương đương 1,52 tỷ pound, với giá trị 3,27 tỷ USD.

 Các chuyên gia Chile và Colombia đã thành lập Hiệp hội Sức khỏe Động vật Thủy sản Ibero-Mỹ (SISAQUA), nhằm tăng cường hợp tác khoa học, kỹ thuật về phòng ngừa, giám sát và kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Mạng lưới tập trung vào các đối tượng như cá hồi, tôm, cá rô phi, nhuyễn thể và các loài bản địa. SISAQUA cũng thúc đẩy đào tạo chuyên môn, nâng cao an toàn sinh học và nghiên cứu giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, kháng kháng sinh và các bệnh mới nổi.


CON TÔM THÁNG 9/2026

EU

Giảm nhập khẩu tôm nguyên liệu Sau khi đạt mức kỷ lục 614.646 tấn tôm nguyên liệu và sản phẩm giá trị gia tăng trong năm 2025, nhập khẩu của EU đang có xu hướng giảm trong năm 2026. Lượng tôm nguyên liệu nhập khẩu giảm 3% trong quý I và 13% trong quý II. Nếu thị trường cải thiện trong nửa cuối năm, tổng lượng nhập khẩu cả năm có thể đạt gần 370.000 tấn, giảm khoảng 9% so năm 2025. Diễn biến giữa các nguồn cung cũng có sự phân hóa. Trong năm 2025, xuất khẩu tôm sang EU của Ấn Độ tăng 45%, Việt Nam tăng 8% và Indonesia tăng 59%. Bước sang đầu năm 2026, Ấn Độ và Việt Nam tiếp tục gia tăng hiện diện tại thị trường này. Đáng chú ý, tôm chế biến và các sản phẩm giá trị gia tăng đang duy trì tốt hơn so với tôm nguyên liệu. Các nhà cung cấp châu Á chiếm ưu thế ở phân khúc này, trong đó Việt Nam tiếp tục giữ thị phần lớn. Xu hướng tiêu dùng tiện lợi tại châu Âu cũng đang hỗ trợ nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến, thay vì chỉ tập trung vào tôm nguyên liệu. MỸ

 Tôm Ấn Độ chịu mức thuế chống bán phá giá cao hơn Ngày 4/9/2026, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) công bố kết luận cuối cùng đợt rà soát hành chính lần thứ 20 (POR20) đối với thuế chống bán phá giá (AD) tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ, áp dụng cho giai đoạn từ 1/2/2024 đến 31/1/2025. Theo đó, mức thuế của các doanh nghiệp đều tăng so với POR19. Nhóm Devi Group, gồm Devi Fisheries, Satya Seafoods, Usha Seafoods và Devi Aquatech, chịu mức 4,04%, tăng từ 2,71%; Sandhya Aqua Exports chịu 7,01%, tăng từ 5,08%. Mức thuế chung áp dụng cho 106 doanh nghiệp không được thẩm tra riêng tăng lên 5,53%, từ 3,76%. Mức thuế mới được áp dụng làm mức ký quỹ tiền mặt đối với các lô tôm Ấn Độ nhập khẩu vào Mỹ kể từ ngày công bố. Cộng với thuế chống trợ cấp (CVD) bình quân khoảng 5,77% đã áp dụng trước đó, tổng mức thuế đối với tôm Ấn Độ tại thị trường Mỹ tiếp tục ở mức cao, trong bối cảnh Ấn Độ và Ecuador cạnh tranh thị phần.

 Nhu cầu tôm tăng trở lại Theo Expana, nhu cầu tôm tại Mỹ tăng lên mức 95,95 điểm trong tháng 6 - 7/2026, đưa thị trường trở lại vùng “ổn định” (Steady) sau thời gian nằm trong vùng co hẹp. Tuy nhiên, diễn biến tiêu thụ vẫn cho thấy nhu cầu chưa phục hồi rõ rệt. Mỹ nhập khẩu 75.397 tấn tôm trong tháng 6, tăng 4% so cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất từ đầu năm. Giá trị nhập khẩu tăng 1%, đạt 641 triệu USD, trong khi giá nhập khẩu bình quân giảm khoảng 3%, còn 8,50 USD/kg. Lũy kế 6 tháng, Mỹ nhập 385.037 tấn tôm, giảm 6% về lượng và 5% về giá trị. Ở kênh bán lẻ, dữ liệu Circana do 210 Analytics phân tích cho thấy doanh số tôm đông lạnh tại Mỹ trong tháng 7 tăng 4,5% về giá trị nhưng giảm 8% về lượng, trong khi giá bán tăng 16,5%. Lượng tiêu thụ tôm tươi cũng giảm 8%. Theo Expana, tiêu thụ tôm bình quân đầu người tại Mỹ năm 2025 đạt khoảng 5,07 pound/người, tăng nhẹ so với 4,91 pound năm 2024 nhưng vẫn thấp hơn mức 5,81 pound của năm 2021. Diễn biến này phản ánh sự cải thiện về nhu cầu, nhưng sức mua tại thị trường Mỹ vẫn cần thêm thời gian để xác lập xu hướng rõ nét. OANH THẢO

TIN TỨC

13

 Thai Union Feedmill đã công bố cơ cấu cổ đông của liên doanh tại Ecuador, được thành lập ngày 4/9/2026 để triển khai nhà máy thức ăn thủy sản trị giá 55 triệu USD. Sau khi tăng vốn đăng ký từ 27 lên 30 triệu USD, Thai Union Feedmill nắm 76,67%, Avanti Feeds và Fevalri mỗi bên 10%, Pacific Aqua Solution 3,33%. Nhà máy dự kiến hoàn thành năm 2028, nâng tổng công suất sản xuất của Thai Union Feedmill khoảng 80%. Fevalri là doanh nghiệp chế biến tôm Ecuador, trong khi Avanti Feeds hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thức ăn, giống và chế biến tôm.  Cơ quan An toàn và Sức khỏe Thủy sản Peru (Sanipes) và Hiệp hội Nuôi trồng thủy sản Quốc gia Peru (SNA) ký thỏa thuận hợp tác nhằm tăng cường quản lý sức khỏe và sản xuất thủy sản, tập trung vào nuôi tôm. Các cơ sở nuôi được khuyến khích cập nhật dữ liệu sản xuất, môi trường và dịch bệnh lên nền tảng SANISMART, qua đó hỗ trợ cảnh báo sớm các tác nhân như Vibrio parahaemolyticus, Hepatobacter penaei và virus gây bệnh đốm trắng.  WildTechDNA ra mắt ORYA, nền tảng xét nghiệm DNA đa tác nhân dành cho nuôi trồng thủy sản, cho phép sàng lọc nhiều mầm bệnh trong một lần kiểm tra và cho kết quả sau khoảng 15 phút. Bộ xét nghiệm dạng cầm tay, không cần phòng thí nghiệm hay chuyên gia sinh học phân tử, được phát triển cho tôm và cá hồi. Công nghệ sử dụng phương pháp khuếch đại DNA đẳng nhiệt, hỗ trợ người nuôi phát hiện sớm mầm bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời.  El Niño đang tạo ra những rủi ro khác nhau đối với các vùng nuôi tôm và có thể kéo dài đến đầu năm 2027. Theo chuyên gia khí tượng Hà Lan Reinout van den Born, nhiệt độ nước tăng có thể làm giảm ôxy hòa tan, trong khi mưa lớn khiến độ mặn giảm và gây ngập ao. Ecuador và Peru có nguy cơ mưa lớn; Mexico, Guatemala và Venezuela có thể nóng, khô hơn. Ấn Độ đối mặt nguy cơ gió mùa yếu hoặc thất thường. Tại Việt Nam, hạn hán và xâm nhập mặn có thể gia tăng ở ĐBSCL. 


14

THEO DÒNG THỜI SỰ

CON TÔM THÁNG 9/2026

Cân đối nguồn tôm cuối năm Mùa cao điểm chế biến, xuất khẩu đang đến gần, nhưng nguồn tôm nguyên liệu có sự phân hóa rõ theo kích cỡ và chất lượng. Trong khi tôm cỡ lớn khan hàng, một số cỡ nhỏ lại dồi dào, doanh nghiệp phải chủ động cân đối nguồn cung để đáp ứng từng đơn hàng.

Doanh nghiệp có lo thiếu tôm?

Theo quy luật thị trường, những tháng cuối năm (từ tháng 9 đến tháng 12), nhu cầu tiêu thụ tôm tại hầu hết các thị trường tăng mạnh do nhiều lễ hội, Tết như Noel, Tết Dương lịch, Tết Nguyên Đán… Vì vậy, ngay từ cuối quý III, doanh nghiệp đã chủ động chuẩn bị tôm nguyên liệu nhằm hạn chế nguy cơ thiếu hụt hoặc tăng giá vào mùa cao điểm. Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm Sao Ta, chia sẻ: “Cuối năm là giai đoạn rất quan trọng, thậm chí mang tính quyết định đến kết quả sản xuất cả năm của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp đều có sự chuẩn bị từ sớm, cả về hợp đồng, nguyên liệu, nhân lực… cho giai đoạn này”. Hầu hết doanh nghiệp đều lên kế hoạch từ khá sớm theo phương châm “có xuất, có nhập”, qua đó bảo đảm nguồn

tôm đạt yêu cầu về chất lượng và kích cỡ cho mùa cao điểm. Riêng năm nay, giá tôm giảm mạnh và kéo dài ảnh hưởng đến tâm lý người sản xuất, khiến diện tích thả nuôi giảm, kéo theo nguy cơ nguồn cung tôm thẻ chân trắng sụt giảm vào cuối năm. Vòng xoáy “giá thấp - chi phí cao”, chủ yếu do thức ăn và vật tư đầu vào tăng, đang đặt nguồn nguyên liệu trước nhiều rủi ro. Giá tôm gần đây tăng nhẹ ở một số kích cỡ, nhưng theo người nuôi, mức tăng chưa đủ hấp dẫn để đẩy mạnh thả nuôi trở lại, nhất là khi thời tiết, dịch bệnh vẫn tiềm ẩn rủi ro. Ông Võ Văn Phục, Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy sản sạch Việt Nam, cho biết giá tôm tăng nhưng nguồn cung vẫn hạn chế, nhất là tôm thẻ chân trắng kích cỡ lớn. Công ty hiện chủ yếu dựa vào nguồn tôm từ vùng nuôi của mình, song cũng lo ngại khi bệnh đốm trắng đang xuất hiện.

Theo các doanh nghiệp, nguy cơ thiếu nguyên liệu có thể xảy ra nhưng chủ yếu mang tính cục bộ, nhất là với những đơn vị không có điều kiện dự trữ. Nếu xảy ra vào cuối năm, mức tác động có thể không quá lớn do nhu cầu nguyên liệu của doanh nghiệp khi đó cũng giảm.

Nguyên liệu - Không chỉ là số lượng

Những diễn biến từ đầu năm đến nay cho thấy, câu chuyện nguồn cung tôm nguyên liệu dịp cuối năm có thiếu hụt hay không dường như không làm doanh nghiệp quá lo, mà điều đáng quan tâm hơn là có đủ tôm đúng kích cỡ, chất lượng và giá phù hợp với những đơn hàng đã ký kết. Giá tôm nguyên liệu gần đây phân hóa rõ theo kích cỡ. Tôm cỡ lớn đang tăng giá khá tốt nhưng nguồn cung rất ít. Ngược lại, một số cỡ nhỏ có giá thu


CON TÔM THÁNG 9/2026

mua dưới giá thành, nhưng nguồn cung dồi dào hơn. Một điểm đáng chú ý khác là lợi nhuận của cả người nuôi lẫn doanh nghiệp đều bị bào mòn bởi chi phí đầu vào. Doanh nghiệp chịu áp lực từ logistics, lãi suất ngân hàng, thuế…, trong khi người nuôi phải gánh nhiều lần tăng giá thức ăn cùng hàng loạt vật tư đầu vào khác. Giá tôm xuất khẩu không tăng, kéo theo giá thu mua giảm mạnh và kéo dài, khiến cả người nuôi lẫn doanh nghiệp đều lâm vào thế khó. Chất lượng và truy xuất nguồn gốc ngày càng là yêu cầu khắt khe từ các thị trường nhập khẩu. Tại EU, doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động, phúc lợi động vật, môi trường, kinh tế tuần hoàn và bao bì tái chế. Tỷ lệ tôm Việt Nam đạt chứng nhận ASC còn thấp hơn Ecuador (30 - 40%), gây khó khăn khi tiếp cận hệ thống phân phối cao cấp. Tại Mỹ, cùng với các biện pháp phòng vệ về thuế, doanh nghiệp còn đối mặt ngày càng nhiều yêu cầu phi thuế quan.

Vẫn còn dư địa tăng trưởng

Nhìn về những tháng còn lại của năm, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng tôm Việt Nam vẫn còn dư địa tăng trưởng tại thị trường Trung Quốc, khối CPTPP cùng các thị trường tiềm năng như Australia và Nhật Bản. Đồng thời, chu kỳ mua hàng mùa cao điểm đang có dấu hiệu khởi động khi tồn kho tại Mỹ và châu Âu được đánh giá giảm dần. Các nhà nhập khẩu có xu hướng mua bù sớm để phục vụ giai đoạn tiêu thụ mạnh cuối năm, khi các chuỗi bán lẻ, siêu thị, nhà hàng tăng dự trữ hàng hóa cho mùa lễ hội. Tuy vậy, theo Tổng Thư ký VASEP Nguyễn Hoài Nam, hoạt động ký kết đơn hàng xuất khẩu thủy sản năm 2026 nhìn chung vẫn khá thận trọng, do đang xuất hiện sự lệch pha giữa sản xuất trong nước và nhu cầu nhập khẩu tại một số thị trường. Nói cách khác, đơn hàng cuối năm có thể tăng nhưng không đồng đều, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động lựa chọn thị trường và phân bổ nguồn lực phù hợp. Mùa cao điểm cuối năm 2026 đang mở ra cơ hội cho ngành tôm, đặc biệt nhờ lực

kéo từ Trung Quốc và phân khúc tôm hùm, cùng tín hiệu các nhà nhập khẩu Âu - Mỹ bắt đầu mua bù để phục vụ mùa lễ hội. Nhưng đây cũng là năm độ lệch pha giữa cung và cầu nguyên liệu bộc lộ rõ: giá tôm trong nước trồi sụt bất thường suốt nửa đầu năm khiến người nuôi thận trọng, trong khi nguy cơ “treo ao” trên diện rộng có thể khiến nhà máy thiếu nguyên liệu đúng thời điểm đơn hàng dồn về.

THEO DÒNG THỜI SỰ

CON SỐ Là giá trị kim ngạch xuất khẩu 3,29 tỷ tôm 8 tháng đầu USD năm 2026, tăng 12,3% so cùng kỳ năm trước.

Hướng đi bền vững, lâu dài

Trong bối cảnh đó, hướng đi bền vững mà doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý cùng hướng tới là chủ động một phần nguyên liệu thông qua vùng nuôi liên kết; bảo vệ quỹ đất nuôi tôm; đồng thời đẩy nhanh chuẩn hóa từ chứng nhận ASC, kiểm soát kháng sinh đến truy xuất nguồn gốc. Với người nuôi, các chuyên gia khuyến nghị tăng cường liên kết theo mô hình hợp tác, qua đó hình thành mối liên kết với doanh nghiệp cung ứng đầu vào và thu mua nguyên liệu, hạn chế rủi ro biến động chi phí. Ở cấp quản lý, định hướng năm 2026 nhấn mạnh củng cố liên kết chuỗi với ba trụ cột: chủ động nguồn nguyên liệu để giảm phụ thuộc nhập khẩu; đẩy mạnh chế biến sâu, tăng tỷ trọng sản phẩm giá trị cao; và chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu ESG, giảm phát thải. Cùng với đó là củng cố chuỗi từ vùng nuôi, nhà máy chế biến, logistics đến thị trường, bảo đảm giao hàng ổn định và minh bạch nguồn gốc. Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam Mai Văn Hoàng đề xuất đầu tư hệ thống cấp, thoát nước riêng cho vùng nuôi, điện 3 pha phục vụ nuôi công nghệ cao, đồng thời tăng cường nghiên cứu dịch bệnh, dinh dưỡng và nguồn gen tôm bố mẹ để chủ động nguồn giống. Hiệp hội cũng yêu cầu doanh nghiệp minh bạch nguồn gốc tôm nguyên liệu nhằm bảo vệ thương hiệu tôm Việt Nam trước các hàng rào kỹ thuật ngày càng chặt từ Mỹ và EU. Cục Thủy sản và Kiểm ngư khẳng định sẽ phối hợp với địa phương tìm giải pháp ổn định sản xuất, nguồn nguyên liệu và tăng trưởng bền vững. XUÂN TRƯỜNG

Là sản lượng tôm nuôi của tỉnh Quảng 23 Ninh trong 8 nghìn tháng đầu năm tấn 2026, đạt mức cao so với nhiều năm trước đây.

Là diện tích nuôi tôm công nghệ cao của tỉnh Nghệ An, 128 ha tập trung chủ yếu tại các xã Quỳnh Anh, Diễn Châu và An Châu.

5%

Là mức đáp ứng nhu cầu tôm hùm giống từ nguồn khai thác tự nhiên trong nước tại Khánh Hòa.

Là số cơ sở sản xuất tôm giống của xã Năm Căn, tỉnh 68 cơ Cà Mau, đáp ứng sở khoảng 50% nhu cầu giống của người nuôi trong xã.

15


16

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

CON TÔM THÁNG 9/2026

Bài toán nguyên liệu thức ăn tôm Nguồn cung bột cá, dầu cá biến động trong khi nhu cầu thức ăn tôm tiếp tục tăng, khiến khoảng cách giữa nhu cầu và nguyên liệu biển ngày càng rõ. Tại Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 (Global Shrimp Forum - GSF 2026), DSM-Firmenich dự báo mức thiếu hụt có thể lên tới 400.000 tấn vào năm 2028, thúc đẩy ngành thức ăn tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới và tối ưu công thức.

Thức ăn là khoản chi phí lớn trong cơ cấu giá thành nuôi tôm

Nguồn cung thu hẹp

Nguồn cung bột cá và dầu cá toàn cầu giảm mạnh trong 7 tháng đầu năm 2026. Theo Tổ chức Nguyên liệu Biển (IFFO), sản lượng bột cá giảm 49% so cùng kỳ năm trước, trong khi dầu cá giảm 30%. Peru và Chile ghi nhận mức giảm đáng kể, cùng với sản lượng thấp hơn tại một số nước châu Phi và Bắc Âu. Peru là một trong những quốc gia cung cấp bột cá và dầu cá lớn trên thế giới. Theo IFFO, trong điều kiện bình thường, nước này chiếm khoảng 20% sản lượng bột cá toàn cầu. Năm 2026, hoạt động khai thác cá cơm tại khu vực Bắc - Trung Peru gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của El Niño ven bờ và tỷ lệ cá chưa đạt kích thước khai

Ảnh: Tép bạc

thác cao. Hoạt động khai thác bị gián đoạn, sau đó tạm dừng từ ngày 10/6. Mùa khai thác đầu tiên được cấp hạn ngạch 1,914 triệu tấn, nhưng sản lượng thực tế chỉ đạt khoảng 25% hạn ngạch khi mùa vụ kết thúc. Mức khai thác thấp tiếp tục gây sức ép lên nguồn nguyên liệu biển phục vụ sản xuất bột cá và dầu cá trên thị trường quốc tế. Theo IFFO, phần thiếu hụt từ Nam Mỹ có thể được bù đắp một phần khi các khu vực châu Á, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ và Oman, bước vào mùa khai thác cao điểm trong quý IV. Tuy nhiên, khả năng bù đắp còn phụ thuộc vào sản lượng thực tế cũng như lượng nguyên liệu được đưa ra thị trường tại từng khu vực.

Tại Trung Quốc, sản lượng bột cá lũy kế đến tháng 7/2026 cao hơn cùng kỳ năm trước. Bước sang tháng 8, hoạt động sản xuất bước vào giai đoạn cao điểm theo mùa. Tuy vậy, IFFO lưu ý nguồn nguyên liệu cung ứng trong những tháng tới vẫn cần được theo dõi. Ở phía nhu cầu, thị trường thức ăn thủy sản cũng có sự phân hóa giữa các nhóm đối tượng. Một số loài như cá vược miệng rộng, cá lóc và cá trê vàng đang chịu áp lực do giá bán tại trại ở mức thấp. Lượng thả nuôi các loài này trong nửa đầu năm 2026 giảm so cùng kỳ, qua đó có thể kéo giảm nhu cầu thức ăn. Ngược lại, nhu cầu đối với các loài có giá trị cao vẫn được duy trì hoặc có dấu hiệu cải thiện.


VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

CON TÔM THÁNG 9/2026

17

Diễn biến này cho thấy nhu cầu thức ăn không chỉ phụ thuộc vào quy mô sản xuất mà còn chịu tác động từ giá bán và chi phí đầu vào. Khi hiệu quả nuôi bị thu hẹp, người dân có xu hướng điều chỉnh quy mô hoặc mật độ thả, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến lượng thức ăn sử dụng.

Cung tăng chậm hơn nhu cầu

Phát biểu tại Global Shrimp Forum 2026 ở Utrecht, Hà Lan, ông Adolfo Fontes, Giám đốc Business Intelligence của DSMFirmenich, ước tính khoảng cách giữa nhu cầu nguyên liệu biển và nguồn cung dành cho các nhà sản xuất thức ăn có thể lên tới khoảng 400.000 tấn vào năm 2028. Theo ông Fontes, khoảng cách này bắt đầu được nhận thấy từ năm 2026, trong bối cảnh một số nguồn cung chủ lực, trong đó có cá cơm Peru, chịu tác động của El Niño. Ông cho biết, trong giai đoạn 2000 - 2025, sản lượng thức ăn thủy sản tăng khoảng 230%, trong khi sản lượng nguyên liệu biển sử dụng trong thức ăn chỉ tăng khoảng 40%. Cùng với đó, tỷ lệ nguyên liệu biển trong công thức đã giảm từ khoảng 25% xuống còn khoảng 10%. Xu hướng này cũng thể hiện rõ ở thức ăn tôm. Tại Global Shrimp Forum 2026, các chuyên gia cho biết protein có nguồn gốc biển kết hợp với dầu cá hiện được ước tính chiếm khoảng 10% khối lượng thức ăn Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu biển trên mỗi đơn vị thức ăn giảm không đồng nghĩa với việc nhu cầu tuyệt đối cũng giảm. Khi lượng thức ăn sử dụng và sản lượng tôm tiếp tục tăng, tổng nhu cầu nguyên liệu vẫn có thể gia tăng dù tỷ lệ bột cá, dầu cá trong công thức thấp hơn trước. Sản lượng tôm toàn cầu được ước tính tiến gần 6 triệu tấn trong năm 2026, qua đó duy trì nhu cầu đối với thức ăn cũng như các nguồn protein, lipid sử dụng trong công thức. Sức ép cung - cầu cũng phản ánh trên thị trường giá. Theo ông Fontes, giá bột cá và dầu cá hiện cao hơn mức thông thường và cao hơn năm 2023, thời điểm thị trường chịu ảnh hưởng rõ rệt từ El Niño. Ông cho rằng biến động giá hiện nay không chỉ liên quan đến thời tiết mà còn gắn với mức tăng nhu cầu nguyên liệu biển trong ba năm qua.

Các thành phần mới cần đáp ứng yêu cầu về giá, chất lượng và nguồn cung ổn định

Đối với doanh nghiệp sản xuất thức ăn tôm, biến động nguồn cung và giá nguyên liệu làm gia tăng nhu cầu điều chỉnh cơ cấu nguyên liệu và công thức sản xuất. Việc thay đổi công thức đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu về dinh dưỡng, chất lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Ở khâu thương phẩm, thức ăn là một trong những khoản chi phí quan trọng. Do đó, biến động giá thức ăn có thể tác động đến chi phí sản xuất và quyết định thả nuôi của người sản xuất. Từ nguồn nguyên liệu, nhà máy thức ăn đến trang trại, biến động trên thị trường bột cá và dầu cá vì thế không chỉ là câu chuyện của ngành nguyên liệu biển mà còn liên quan đến nhiều khâu trong chuỗi sản xuất tôm.

Tìm nguồn thay thế

Bên cạnh bột cá và dầu cá, protein đơn bào, bột côn trùng và dầu tảo đang được phát triển như những lựa chọn bổ sung cho thức ăn thủy sản. Theo ông Fontes, sản lượng protein đơn bào đạt khoảng 40.000 tấn năm 2025 và có thể tăng lên 150.000 - 200.000 tấn trong thời gian tới. Nếu khoảng 35% được sử dụng cho thủy sản, lượng cung dành cho lĩnh vực này tương đương 50.000 - 70.000 tấn. Bột côn trùng cũng được xem là một lựa chọn giàu tiềm năng về protein. Sản lượng năm 2024 được ước tính khoảng 15.000

Ảnh: Shutterstock

tấn, trong khi một số dự báo cho rằng quy mô có thể tăng lên khoảng 250.000 tấn. Tuy nhiên, việc gia tăng quy mô còn phụ thuộc vào năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế. Việc một số doanh nghiệp rút khỏi lĩnh vực này cũng đặt ra câu hỏi về khả năng gia tăng nhanh nguồn cung trong thời gian ngắn. Dầu tảo là một hướng bổ sung khác, với sản lượng được ước tính khoảng 20.000 tấn năm 2025 và dự kiến đạt khoảng 36.000 tấn vào năm 2030. Dù vậy, quy mô hiện tại vẫn còn nhỏ so với nhu cầu của ngành thủy sản. Với quy mô hiện nay, các nguồn mới chưa đủ để nhanh chóng bù đắp lượng bột cá và dầu cá thiếu hụt trên thị trường. Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là tìm một thành phần thay thế mà còn là phối hợp nhiều nguồn protein, lipid và tối ưu công thức. Đối với thức ăn tôm, các công thức giảm tỷ lệ nguyên liệu biển cần đồng thời bảo đảm giá trị dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa và hiệu quả tăng trưởng. Trong khi đó, các thành phần mới phải đáp ứng yêu cầu về giá thành, chất lượng và tính ổn định trong cung ứng. Do đó, mức độ thay thế bột cá và dầu cá vẫn phụ thuộc vào quy mô sản xuất, hiệu quả kinh tế cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng của từng loại nguyên liệu. LAN KHUÊ


18

TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 9/2026

Trợ lực từ chính sách để ngành tôm nâng hiệu quả, giảm phát thải Dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản đang đặt trọng tâm vào nuôi trồng thâm canh, công nghệ cao, an toàn sinh học và phát triển bền vững. Nếu được triển khai, chính sách sẽ tạo thêm dư địa để các vùng nuôi đầu tư hạ tầng, công nghệ, kiểm soát dịch bệnh và từng bước chuyển từ sản xuất theo sản lượng sang nâng cao hiệu quả.

Các mô hình nuôi tôm bền vững sẽ được định hướng ưu tiên hỗ trợ

Không chạy theo sản lượng bằng mọi giá

Ngành tôm Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi phương thức sản xuất khi chi phí đầu vào, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và các yêu cầu ngày càng cao từ thị trường xuất khẩu cùng tác động trực tiếp đến hiệu quả của người nuôi. Vì vậy, ngành tôm đang chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Cùng đó, chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng tiếp tục nhấn mạnh phát triển thủy sản theo hướng kinh tế tuần hoàn, thân thiện

với môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm an toàn dịch bệnh và an toàn sinh học. Với nuôi tôm, công nghệ cao không chỉ được hiểu là tăng mật độ nuôi. Quan trắc môi trường, cảm biến, tự động hóa cho ăn, kiểm soát ôxy, quản lý dữ liệu ao nuôi, xử lý và tuần hoàn nước hay các giải pháp sinh học phòng ngừa dịch bệnh đang trở thành những công cụ giúp người nuôi kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất. Mục tiêu không chỉ tạo ra nhiều tôm hơn mà còn giảm chi phí, nâng tỷ lệ sống, ổn định chất lượng sản phẩm và giảm tác động đến môi trường.

Ảnh: Báo Dân trí

Ưu tiên mô hình sản xuất bền vững

Theo dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản thâm canh, công nghệ cao, an toàn sinh học và bền vững. Trong đó, đối tượng được xem xét hỗ trợ là tổ chức, cá nhân có hoạt động nuôi trồng thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam và đáp ứng các điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, chính sách yêu cầu cụ thể về quy hoạch, quyền sử dụng hợp pháp đất, mặt nước hoặc khu vực biển; phương án sản

xuất; thiết kế kỹ thuật; giải pháp công nghệ; kiểm soát môi trường, dịch bệnh, chất thải và an toàn sinh học. Đồng thời, cơ sở nuôi phải sử dụng con giống có nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng yêu cầu chất lượng; thực hiện ghi chép, lưu trữ dữ liệu và truy xuất nguồn gốc; phải có vốn đối ứng và cam kết duy trì hoạt động theo quy định. Các tiêu chí đánh giá tập trung vào những chỉ số trực tiếp như năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất, tỷ lệ sống, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó là yêu cầu giảm hệ số chuyển đổi thức ăn, lượng nước, năng lượng và vật tư đầu vào; giảm nước thải, chất thải, phát thải và tác động đến môi trường. Ngoài ra, dự thảo Nghị định còn định hướng ưu tiên hỗ trợ các mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững. Theo đó, cơ sở nuôi đáp ứng điều kiện có thể được ưu tiên lồng ghép, bố trí hỗ trợ từ các chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt khi áp dụng công nghệ nuôi tuần hoàn ít thay nước, tiết kiệm tài nguyên; nuôi sinh thái, nuôi hữu cơ, nuôi kết hợp; hoặc công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính.


TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 9/2026

Hỗ trợ đi đôi cùng tiêu chí đầu ra

Một điểm mới trong chính sách hỗ trợ của dự thảo là nhấn mạnh các chỉ tiêu đầu ra. Theo đó, dự án phải xác định mục tiêu về năng suất, hiệu quả sử dụng nước và năng lượng, giảm phát thải, kiểm soát môi trường, dịch bệnh và thời gian duy trì kết quả sau hỗ trợ. Kết quả thực hiện được cập nhật vào hệ thống dữ liệu quản lý chuyên ngành. Về dài hạn, chính sách công nghệ cao chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng tổ chức lại sản xuất. Liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, người nuôi, cơ sở sản xuất giống và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu sẽ quyết định khả năng hình thành chuỗi tôm ổn định. Chính vì thế, dự thảo yêu cầu dự án có đầu ra hoặc hợp đồng tiêu thụ ổn định; có nhật ký sản xuất, dữ liệu môi trường và truy xuất nguồn gốc; đồng thời duy trì hoạt động và tạo việc làm theo cam kết. Đối với ngành tôm, đây có thể là bước quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên dữ liệu, công nghệ và tiêu chuẩn. Khi hiệu quả kinh tế, an toàn sinh học, giảm phát thải và khả năng truy xuất cùng trở thành tiêu chí đánh giá, mục tiêu phát triển ngành tôm bền vững sẽ có cơ sở thực chất hơn. Tuy nhiên, những nội dung trên hiện vẫn nằm trong dự thảo Nghị định. Hiệu quả chính sách khi được ban hành sẽ phụ thuộc không chỉ vào mức hỗ trợ mà còn vào khả năng tổ chức thực hiện, lựa chọn đúng đối tượng, đầu tư hạ tầng vùng nuôi và tạo điều kiện để người nuôi, doanh nghiệp tiếp cận công nghệ phù hợp. BẢO HÂN

VĂN BẢN MỚI  Ngày 12/8/2026, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã gửi công văn số 134/CVVASEP tới Bộ Tài chính kiến nghị tháo gỡ vướng mắc về tỷ giá trên hóa đơn điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu. Theo VASEP, từ khi Nghị định số 252/2026/NĐ-CP và Nghị định số 254/2026/NĐ-CP có hiệu lực ngày 1/7/2026, một số doanh nghiệp gặp khó khăn khi xác định tỷ giá. Cùng một giao dịch xuất khẩu bằng ngoại tệ có thể phải sử dụng hai cơ sở tỷ giá: tỷ giá trên hóa đơn theo quy định về thuế, hải quan và tỷ giá ghi nhận doanh thu, công nợ theo chế độ kế toán. Điều này dẫn đến chênh lệch giá trị quy đổi, gây khó khăn trong đối chiếu dữ liệu, xác định doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp và hoàn thuế giá trị gia tăng. Trước mắt, VASEP đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn thống nhất tỷ giá áp dụng cho từng mục đích và có cơ chế chuyển tiếp, không xử phạt các sai sót kỹ thuật không làm thiếu nghĩa vụ thuế. Về lâu dài, Hiệp hội kiến nghị xem xét sửa quy định theo hướng cho phép sử dụng tỷ giá giao dịch thực tế theo pháp luật kế toán.  Ngày 20/8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3331/QĐ-BNNMT về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ. Theo đó, công bố 7 thủ tục hành chính

được sửa đổi, bổ sung thuộc lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư (gồm 3 thủ tục cấp tỉnh và 4 thủ tục cấp xã). Các thủ tục cấp tỉnh liên quan đến cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận thủy sản, sản phẩm thủy sản đạt yêu cầu xuất khẩu vào Mỹ; công nhận, giao quyền quản lý và sửa đổi, bổ sung quyết định công nhận, giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng trên địa bàn từ 2 xã trở lên. Ở cấp xã, các thủ tục được sửa đổi, bổ sung gồm công nhận, giao quyền quản lý và sửa đổi, bổ sung quyết định công nhận, giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng; xác nhận nguồn gốc các loài thủy sản thuộc Phụ lục CITES và loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm có nguồn gốc từ nuôi trồng hoặc khai thác tự nhiên. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/9/2026.  Ngày 22/8/2026, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) ban hành Văn bản số 1096/XNK-NH về việc trả lời kiến nghị của hiệp hội, doanh nghiệp. Trong đó, Cục Xuất nhập khẩu trả lời VASEP về các rào cản kỹ thuật và thuế quan, chi phí logistics, đặc biệt là cước vận tải biển. Cục Xuất nhập khẩu cho biết, các bộ, ngành và cơ quan liên quan đều đang nỗ lực triển khai các giải pháp tháo gỡ; bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã chủ trì, tích cực triển khai Quyết định số 2229/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics đến

năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm giảm tỷ trọng chi phí logistics và nâng cao xếp hạng LPI. Trong thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộ các nhiệm vụ của Chiến lược; ưu tiên phát triển hệ thống hạ tầng logistics có tính kết nối liên vùng, đa phương thức nhằm tối ưu hóa chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.  Ngày 25/8/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Công văn số 7848/NHNN-CSTT trả lời kiến nghị của VASEP liên quan đến việc kiến nghị ngân hàng giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp thủy sản. Theo đó, về cơ chế quyết định lãi suất cho vay: Theo quy định hiện hành, lãi suất cho vay và phí cấp tín dụng là do tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận dựa trên cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vốn vay và mức độ tín nhiệm của khách hàng. Các tổ chức tín dụng có quyền tự quyết định việc miễn, giảm lãi, phí cho khách hàng theo quy định nội bộ của tổ chức đó. Trong đó, các giải pháp đã và đang thực hiện để hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất là: Tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành để hỗ trợ các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay; Chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất... 

19


20

CON TÔM THÁNG 9/2026


CON TÔM THÁNG 9/2026

21


22

CON TÔM THÁNG 9/2026


CON TÔM THÁNG 9/2026

23


24

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

CON TÔM THÁNG 9/2026

Doanh nghiệp cần đẩy mạnh sản phẩm chế biến, tiện lợi và có thương hiệu

Ảnh: Báo Đầu tư

Sự phân hóa tại các thị trường chủ lực và ứng biến từ doanh nghiệp Thương mại tôm toàn cầu tiếp tục mở rộng, nhu cầu tại các thị trường chủ lực cũng đang có sự phân hóa rõ rệt. Là một trong những quốc gia sản xuất tôm lớn trên thế giới, Việt Nam cần có một hướng đi đúng đắn để phát huy thế mạnh, qua đó giữ vững và nâng cao vị thế.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 8/2026 ước đạt 1,08 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm lên 7,94 tỷ USD, tăng 10,9% so cùng kỳ năm trước. Tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của ngành thủy sản với kim ngạch đạt 485,5 triệu USD, tăng 5,7% so cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng đầu năm 2026 đạt 3,29 tỷ USD, tăng 12,3% so cùng kỳ năm trước, và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Trong tháng 8/2026, Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất với kim ngạch đạt 1,13 tỷ USD, tăng 37,6%

so cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, xuất khẩu tôm sang Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN cũng ghi nhận mức tăng lần lượt 10%, 16% và 48%. Đây là những tín hiệu tích cực đối với ngành tôm, nhất là khi thị trường Trung Quốc đang nổi lên như một trong những động lực tăng trưởng đáng chú ý của thủy sản Việt Nam. Tôm tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực nhưng cũng chịu áp lực cạnh tranh lớn nhất. Việc cạnh tranh với các quốc gia có lợi thế về chi phí và nguồn cung đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nâng chất lượng, kiểm soát giá thành, đồng thời tăng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

Sự phân hóa từ các thị trường chủ lực

Tổng nhập khẩu tôm của bốn thị trường lớn gồm Mỹ, Trung Quốc, EU và Nhật Bản những năm gần đây tương đối ổn định ở mức 2,4 - 2,5 triệu tấn. Tuy nhiên, phía sau con số này, dòng chảy thương mại giữa các nguồn cung và thị trường đang thay đổi nhanh chóng. Nhập khẩu tôm Mỹ tăng từ 759.660 tấn năm 2024 lên 791.190 tấn năm 2025, nhưng suy yếu từ cuối năm do các biến động về thuế quan. Sang năm 2026, nhập khẩu giảm 11% trong quý I và 2% trong quý II. Nếu xu hướng nửa đầu năm tiếp tục, tổng nhập khẩu cả năm có thể giảm khoảng 5 - 10%.


THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

CON TÔM THÁNG 9/2026

Trong bối cảnh đó, cơ cấu nhà cung cấp đang thay đổi đáng kể. Ecuador tiếp tục tăng xuất khẩu vào Mỹ, trong khi lượng hàng từ Ấn Độ biến động mạnh hơn. Nếu xu hướng hiện tại duy trì, Mỹ có thể nhập khoảng 270.000 tấn từ Ecuador trong năm 2026, so với khoảng 230.000 tấn từ Ấn Độ. Trong cơ cấu sản phẩm, Ecuador ngày càng cạnh tranh ở tôm bóc vỏ, trong khi Việt Nam vẫn có vị trí trong nhóm tôm tẩm bột. Thái Lan, Việt Nam và Indonesia tiếp tục có lợi thế ở các sản phẩm chế biến phức tạp, sử dụng nhiều lao động. Tại thị trường Trung Quốc, trong nửa đầu năm 2026, quốc gia này đã nhập khẩu khoảng 2,31 triệu tấn thủy sản, tương đương giá trị 10,1 tỷ USD. Việt Nam trở thành nguồn cung thủy sản lớn thứ ba vào thị trường Trung Quốc, sau Nga và Ecuador. Trong cơ cấu nhập khẩu thủy sản của Trung Quốc, tôm hùm là một trong những nhóm tăng trưởng nổi bật. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng hải sản cao cấp này năm 2025 tăng khoảng 47%, trong đó Việt Nam chiếm khoảng 36%, trở thành nguồn cung lớn nhất vào thị trường này. Theo Rabobank, người tiêu dùng Trung Quốc ngày càng phân hóa trong chi tiêu nhưng vẫn sẵn sàng trả tiền cho thực phẩm được đánh giá cao về sức khỏe, dinh dưỡng và tiện lợi. Tại EU, nguồn cung tôm từ châu Á đã tăng đáng kể trong năm 2025. Xuất khẩu sang EU của Ấn Độ tăng 45%, Việt Nam tăng 8% và Indonesia tăng 59%. Trong đầu năm 2026, các sản phẩm tôm từ Ấn Độ và Việt Nam tiếp tục gia tăng hiện diện. Đáng chú ý, sản phẩm giá trị gia tăng có khả năng chống chịu tốt hơn tôm nguyên liệu. Các nhà cung cấp châu Á chiếm ưu thế trong phân khúc này và Việt Nam tiếp tục giữ thị phần lớn nhất với khoảng cách đáng kể so với các nguồn cung khác. Nhật Bản vẫn là thị trường nhỏ nhất trong bốn thị trường lớn nhưng tương đối ổn định. Nhập khẩu tăng từ 207.082 tấn năm 2024 lên 210.141 tấn năm 2025. Trong năm 2026, nhập khẩu tăng 2% trong quý I nhưng giảm 9% trong quý II và dự kiến cả năm giảm nhẹ, dù vẫn trên 200.000 tấn. Khác với các thị trường tăng trưởng chủ yếu nhờ tôm nguyên liệu, Nhật

Tôm chế biến có lợi thế hơn tại thị trường EU

Bản có phân khúc tôm chế biến phát triển ổn định. Ấn Độ hiện là nhà cung cấp tôm lớn nhất cho Nhật Bản nhờ giá nguyên liệu cạnh tranh và khả năng đáp ứng quy cách. Việt Nam dẫn đầu nguồn cung tôm bóc vỏ, đồng thời cùng Thái Lan có vị trí tốt ở các nhóm sản phẩm chế biến sâu. Ở nhóm tôm chế biến một công đoạn, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam giữ vị trí đáng kể; trong khi với sản phẩm chế biến sâu hơn, Việt Nam và Thái Lan nổi bật hơn nhờ kinh nghiệm với các sản phẩm ăn liền như tôm luộc và tôm sushi.

Doanh nghiệp cần nỗ lực tăng giá trị hàng xuất khẩu

Rõ ràng, các thị trường chủ lực đang có sự phân hóa rõ rệt, Mỹ đối mặt với nhu cầu yếu; nhập khẩu của Trung Quốc tăng nhanh hơn tiêu dùng; châu Âu ngày càng chú trọng đúng sản phẩm và kênh bán hàng; trong khi Nhật Bản tiếp tục ưu tiên các sản phẩm chế biến phù hợp từng phân khúc. Theo ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm Sao Ta, trong nhiều năm, sản lượng vẫn là một trong những động lực quan trọng của xuất khẩu thủy sản. Nguồn cung tăng giúp doanh nghiệp có thêm nguyên liệu, mở rộng quy mô chế biến và đáp ứng các đơn hàng lớn. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào sản lượng ngày càng bộc lộ giới hạn. Nguồn lợi tự nhiên không phải vô hạn. Diện tích nuôi, nguồn nước, chi phí thức ăn,

25

Ảnh: ST

con giống, lao động và năng lượng đều có giới hạn. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường. Vì thế, bài toán không còn đơn giản là xuất khẩu thêm bao nhiêu tấn tôm, cá. Quan trọng hơn là mỗi tấn hàng có thể tạo ra bao nhiêu USD. Cùng một lượng tôm nguyên liệu, nếu chỉ sơ chế và xuất khẩu dưới dạng sản phẩm phổ thông thì giá trị tạo ra sẽ khác rất xa so với việc phân loại, chế biến sâu, phát triển sản phẩm tiện lợi, sản phẩm cao cấp hoặc sản phẩm được thiết kế riêng cho từng thị trường. Đây chính là khoảng trống mà doanh nghiệp thủy sản cần tập trung khai thác. Thị trường quốc tế đang thay đổi nhanh. Người tiêu dùng không chỉ quan tâm sản phẩm có nguồn gốc từ đâu mà còn quan tâm sản phẩm được sản xuất như thế nào, có tiện lợi hay không, có đáp ứng các yêu cầu về môi trường hay không. Điều này đang tạo ra dư địa lớn cho chế biến sâu. Với tôm, thay vì chỉ xuất khẩu tôm đông lạnh nguyên con hoặc sơ chế, doanh nghiệp có thể phát triển các sản phẩm chế biến, đóng gói theo khẩu phần, thực phẩm tiện lợi hoặc các dòng sản phẩm có thương hiệu. Nói cách khác, lợi thế của ngành thủy sản trong tương lai không chỉ nằm ở việc có nhiều nguyên liệu mà nằm ở khả năng biến nguyên liệu thành sản phẩm mà thị trường sẵn sàng trả giá cao hơn. CẢNH NGHI


26

GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 9/2026

Xuất khẩu tôm sang Mỹ giảm, châu Á tăng tốc Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 8 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026, tăng 11,8% so cùng kỳ. Tuy nhiên, xuất khẩu tôm sang Mỹ chịu sức ép từ các rào cản thuế quan. Kim ngạch 8 tháng đạt 427,6 triệu USD, giảm 13,4%; riêng tháng 8 giảm 22%, còn khoảng 70 triệu USD. Thuế theo Điều 301 ở mức 12,5%, cao hơn mức 10% của một số đối thủ, cùng nguy cơ thuế chống bán phá giá cao khiến doanh nghiệp thận trọng hơn tại thị trường này. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sang các thị trường châu Á tăng trưởng tích cực. Trung Quốc - Hồng Kông đạt 1,13 tỷ USD trong 8 tháng, tăng 37,6%; Nhật Bản tăng 10%, Hàn Quốc tăng 16% và ASEAN tăng 48% trong tháng 8.

Giá tôm nguyên liệu tăng theo cỡ Sản xuất tôm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 8 tháng đầu năm 2026 với sản lượng đạt 1,18 triệu tấn, tăng 7,4%. Riêng tháng 8, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 119.000 tấn, tăng 6,6%; tôm sú đạt 29.800 tấn, tăng 4,9%. Mặt bằng giá tôm nguyên liệu trong tháng 8 cũng được ghi nhận: tôm thẻ chân trắng cỡ 50 - 100 con/kg có giá 85.000 - 130.000 đồng/kg; tôm sú cỡ 30 - 40 con/kg khoảng 140.000 - 175.000 đồng/kg. Những ngày đầu tháng 9, giá tôm thẻ chân trắng tại ao phổ biến ở mức 180.000 đồng/kg đối với cỡ 20 con/kg; 137.000 đồng/kg đối với cỡ 30 con/kg; 113.000 đồng/kg đối với cỡ 50 con/kg và khoảng 88.000 đồng/kg đối với cỡ 80 con/kg. QUẢNG TRỊ

 Giá các loại tôm ổn định Đầu tháng 9/2026, giá nguyên liệu tôm tại Quảng Trị cơ bản ổn định so với đầu tháng 8. Tôm đất cỡ 40 - 50 con/kg đạt 400.000 đồng/ kg; tôm bộp cỡ 45 - 50 con/kg đạt 650.000 đồng/kg; tôm sú cỡ 20 - 30 con/kg đạt 500.000 đồng/kg và tôm thẻ chân trắng cỡ 30 - 40 con/kg ở mức 450.000 đồng/kg. Đáng chú ý, giá tôm hùm cỡ 3 - 5 con/kg duy trì ở mức 1,35 triệu đồng/kg. Mặt bằng giá ổn định ở nhiều nhóm tôm cho thấy thị trường nguyên liệu tại địa phương chưa có biến động đáng kể trong thời gian đầu tháng. Các mức giá có sự chênh lệch khá rõ giữa từng đối tượng và kích cỡ, phản ánh đặc điểm nguồn cung cũng như nhu cầu tiêu thụ của từng nhóm sản phẩm.

 Tôm Hói Hà chịu giá thấp do khó vận chuyển Tôm nuôi tại Hói Hà, xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị đang được thương lái thu mua thấp hơn thị trường khoảng 20.000 30.000 đồng/kg do vùng nuôi biệt lập, phải vận chuyển bằng đường thủy qua sông Nhật Lệ. Theo khảo sát, giá tôm trên thị trường khoảng 130.000 đồng/kg, trong khi người nuôi tại Hói Hà chỉ bán được khoảng 100.000 đồng/kg. Người dân kiến nghị đầu tư hạ tầng giao thông, điện và hệ thống cấp nước để giảm chi phí, cải thiện điều kiện sản xuất và nâng giá trị tôm thương phẩm.


CON TÔM THÁNG 9/2026

KHÁNH HÒA

Tôm hùm giống khan hiếm, giá tăng cao Theo Chi cục Thủy sản và Biển đảo Khánh Hòa, toàn tỉnh cần khoảng 60 - 70 triệu con tôm hùm giống mỗi năm, nhưng nguồn khai thác tự nhiên trong tỉnh chỉ đáp ứng khoảng 5%; 95% còn lại phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Indonesia, Malaysia và Singapore. Việc một số nước trong khu vực hạn chế hoặc kiểm soát chặt xuất khẩu tôm hùm giống sang Việt Nam khiến nguồn cung thu hẹp, đẩy giá con giống tăng cao. Hiện tôm hùm xanh giống có giá khoảng 50.000 đồng/con, trong khi tôm hùm bông hơn 65.000 đồng/con. Với một lồng nuôi tôm hùm xanh, chi phí riêng cho con giống hiện khoảng 25 triệu đồng. Mức giá này đang tạo thêm áp lực chi phí cho người nuôi, nhất là khi nhu cầu thả giống bước vào giai đoạn cao điểm. Tình trạng khan hiếm cũng khiến một số người nuôi phải tìm mua tôm giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc, tiềm ẩn nguy cơ chất lượng thấp và tỷ lệ hao hụt cao. AN GIANG

Tôm càng xanh vào mùa, giá ổn định Bước vào mùa thu hoạch tôm càng xanh, hoạt động thu hoạch, phân loại và thu mua tại một số vùng nuôi ở An Giang diễn ra khá nhộn nhịp. Người nuôi tranh thủ thu hoạch những diện tích tôm đạt kích cỡ, sau đó phân loại để bán cho thương lái. Theo Trung tâm Khuyến nông An Giang, giá tôm càng xanh tại ao hiện dao động 120.000 - 130.000 đồng/kg. Mức giá này được ghi nhận khá ổn định trong tháng 8/2026, từ ngày 17/8 đến 28/8. Sau khi thu hoạch, tôm được phân loại ngay tại khu vực nuôi. Những con đạt kích cỡ, còn khỏe, nguyên càng và có chất lượng tốt được ưu tiên thu mua để đưa đi tiêu thụ. Việc phân loại tại ao giúp người nuôi xác định rõ giá trị từng nhóm tôm, đồng thời đáp ứng yêu cầu của thương lái về kích cỡ và chất lượng sản phẩm. Giá tôm thực tế có thể thay đổi tùy kích cỡ, chất lượng và thời điểm thu hoạch. CÀ MAU

Tôm càng xanh tạo điểm sáng xuất khẩu Tại xã Vĩnh Phước, diện tích tôm càng xanh - lúa đạt hơn 6.500 ha, sản lượng khoảng 1.200 tấn/năm. Sản phẩm không chỉ được tiêu thụ tươi trong nước mà còn được chế biến, cấp đông để xuất khẩu sang Australia, Hồng Kông và Thái Lan. Về giá, theo cập nhật thị trường ngày 8/9/2026, tôm càng xanh tại ao có giá khoảng 120.000 đồng/kg; loại 15 - 20 con/kg khoảng 220.000 đồng/kg, trong khi loại lớn 6 - 15 con/kg có thể đạt 380.000 đồng/kg. Trước đó, tại Cà Mau, giá tôm càng xanh thu mua tại ruộng dao động khoảng 80.000 - 120.000 đồng/kg, tùy kích cỡ. Việc gia tăng chế biến sâu và mở rộng thị trường xuất khẩu được kỳ vọng góp phần ổn định đầu ra, nâng giá trị sản phẩm và tăng sức cạnh tranh cho tôm càng xanh Cà Mau. ANH VŨ

GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

27


28

GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 9/2026

THÁI LAN

Xuất khẩu tôm tháng 7 tăng mạnh Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan Thái Lan, tháng 7/2026, xuất khẩu tôm thẻ chân trắng của nước này đạt 2,808 nghìn tấn, tăng 32,11% so cùng kỳ năm trước; trị giá 868,13 triệu Baht, tăng 32,12%. Xuất khẩu tôm sú đạt 1,09 nghìn tấn, tăng 16,64%, nhưng trị giá giảm 1,62%, xuống 191,04 triệu Baht. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm thẻ chân trắng của Thái Lan đạt 17,65 nghìn tấn, tăng 8,01%; trị giá 5,2 tỷ Baht, tăng 2,02%. Trung Quốc và Mỹ là hai thị trường lớn nhất, với giá trị xuất khẩu lần lượt đạt 1,84 tỷ Baht, tăng 23,64%, và 1,5 tỷ Baht, tăng 9,05%. Xuất khẩu tôm sú trong 7 tháng đạt 8,09 nghìn tấn, tăng 10,2%; trị giá 1,58 tỷ Baht, tăng 9%. Trung Quốc và Myanmar tiếp tục là hai thị trường lớn nhất, với giá trị xuất khẩu lần lượt đạt 716,84 triệu Baht, tăng 28,06%, và 302,73 triệu Baht, tăng 9,84%. NHẬT BẢN

Tháng 7, nhập khẩu tôm tăng hơn 7% Tháng 7/2026, Nhật Bản nhập khẩu 19,95 nghìn tấn tôm, trị giá 182,37 triệu USD, tăng lần lượt 7,29% về lượng và 7,3% về trị giá so cùng kỳ năm trước. Việt Nam và Ấn Độ, hai nguồn cung lớn nhất, đều ghi nhận mức tăng khá, lần lượt đạt 4.988 tấn, tăng 13,19% và 4.240 tấn, tăng 15,78%. Indonesia giảm nhẹ 0,62%, trong khi Thái Lan giảm 8,01%. Trung Quốc và Ecuador tăng mạnh, lần lượt 45,28% và 23,17%. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, Nhật Bản nhập khẩu 114,81 nghìn tấn tôm, giảm 2,36%; trị giá đạt 1,06 tỷ USD, giảm 4,08% so cùng kỳ năm trước. Việt Nam tiếp tục dẫn đầu với 26,96 nghìn tấn, giảm 3,15% về lượng và 4,22% về trị giá. Ấn Độ đạt 21,13 nghìn tấn, tăng 4,6%, còn Indonesia đạt 17,5 nghìn tấn, giảm 4,44%. CANADA

Xuất khẩu tôm hùm giảm chạm đáy 5 năm Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Canada, xuất khẩu tôm hùm Homarus americanus trong tháng 7/2026 giảm xuống mức thấp nhất trong 5 năm, chỉ đạt 6.978 tấn, giảm 17,1% so tháng 7/2025 và thấp hơn 14,7% so mức trung bình 5 năm gần đây. Trong đó, xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh 30,2% so cùng kỳ, còn 3.079 tấn; xuất khẩu sang EU - Anh giảm 22,6%, còn 1.483 tấn. Tại châu Âu, Tây Ban Nha (388 tấn) và Bỉ (324 tấn) là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất. Xu hướng giảm đã kéo dài và ngày càng rõ qua nhiều tháng. Tháng 5/2026, xuất khẩu tôm hùm của Canada đạt 8.629 tấn, giảm 9,3% so cùng kỳ năm trước. Sự sụt giảm được cho là kết quả của nhiều yếu tố cộng hưởng. Nguồn cung tại cả Canada và Mỹ đều giảm 10 - 15% do nước biển lạnh và nguồn lợi suy giảm. Riêng tại Mỹ, quy định mới nâng trọng lượng khai thác tối thiểu từ 0,98 lb lên 1,18 lb, khiến sản lượng giảm tới 30% tại một số khu vực. Cùng với đó, căng thẳng thuế quan Canada - Mỹ kéo dài từ đầu năm khiến các nhà nhập khẩu Mỹ thận trọng hơn, dù Canada đã loại thủy sản khỏi danh sách hàng hóa chịu biện pháp trả đũa thuế quan vào cuối tháng 8/2026.


GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 9/2026

TRUNG QUỐC

 Giảm 33% số lô tôm bị từ chối trong tháng 7 Trong tháng 7/2026, Trung Quốc từ chối 156 lô tôm nhập khẩu do phát hiện dư lượng natri metabisulfite, chất thường được sử dụng để hạn chế tình trạng đen đầu và giữ màu tươi cho tôm. Con số này giảm 78 lô, tương đương 33%, so với tháng 6. Đây là lần đầu số lô tôm bị từ chối giảm kể từ khi Hải quan Trung Quốc thay đổi phương thức lấy mẫu vào tháng 4. Thay vì chỉ kiểm tra phần thịt, cơ quan này lấy mẫu cả đầu và vỏ tôm, nơi dư lượng natri metabisulfite thường tập trung cao hơn. Số lô bị từ chối vì vậy tăng từ 12 lô trong tháng 4 lên 202 lô tháng 5 và 234 lô tháng 6, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng đông lạnh từ Ecuador. Trong tháng 8, Trung Quốc cho phép 8 cơ sở chế biến của Ecuador xuất khẩu trở lại, gồm Expalsa, Omarsa, Frigolandia, Expotuna, Ceaexport, Total Seafood, Ocean Treasure và Limbopack. Tuy nhiên, đây chủ yếu là các trường hợp bị đình chỉ từ cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Hiện còn 6 cơ sở của Ecuador bị đình chỉ, thuộc Santa Priscila, Omarsa và Songa.

 Giá tôm cỡ lớn tăng nhẹ Nguồn cung hạn chế, trong khi nhu cầu dự kiến tăng trước Tết Trung thu khiến giá tôm thẻ chân trắng cỡ lớn tại Trung Quốc nhích lên, còn các kích cỡ khác cơ bản ổn định. Áp lực dịch bệnh gia tăng cũng khiến nhiều hộ nuôi tại khu vực miền Đông Trung Quốc dự kiến tạm dừng hoạt động sau đợt thu hoạch hiện tại. Ngày 4/9, tại tỉnh Quảng Đông, tôm thẻ chân trắng cỡ 60 con/ kg có giá 36 CNY/kg, tăng 1 CNY/kg so cuối tháng 8; cỡ 80 con/ kg đạt 29 - 31 CNY/kg, tăng 1 CNY/kg. Tại Phúc Kiến, giá tôm thẻ chân trắng cỡ 60 con/kg ở mức 35 CNY/kg, tăng 1 CNY/kg so ngày 28/8. MỸ

Nhập khẩu tôm tăng 5,89% Theo Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA), tháng 7/2026, Mỹ nhập khẩu 76,43 nghìn tấn tôm, tăng 5,89% so cùng kỳ năm trước. Ấn Độ tiếp tục là nhà cung cấp lớn nhất, dù lượng tôm xuất sang Mỹ giảm 9,65%; nhập khẩu từ Indonesia cũng giảm 31,05%. Ngược lại, nguồn cung từ Ecuador tăng mạnh 51,63%, đưa nước này lên vị trí thứ hai trong tháng. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, Mỹ nhập khẩu 463,66 nghìn tấn tôm, giảm 4,32% so cùng kỳ năm trước. Ecuador dẫn đầu với 171,95 nghìn tấn, tăng 31,02%; tiếp đến là Ấn Độ đạt 147,41 nghìn tấn, giảm 23,44%, Indonesia 71,28 nghìn tấn, giảm 14,8% và Việt Nam 28,93 nghìn tấn, giảm 11,99%. Diễn biến này cho thấy nguồn cung tôm vào Mỹ đang có sự dịch chuyển rõ hơn giữa các nhà cung cấp lớn, trong đó Ecuador tiếp tục gia tăng hiện diện, còn nguồn cung từ châu Á có xu hướng thu hẹp. TUẤN DŨNG

29


NHÌN RA THẾ GIỚI

CON TÔM THÁNG 9/2026

Thích ứng bền vững cho ngành tôm

Ảnh: Undercurrent News

30

Căng thẳng địa chính trị, hàng rào thuế quan, biến đổi khí hậu và thói quen tiêu dùng chậm thay đổi đang đặt ngành tôm trước nhiều thách thức. Những vấn đề này được thảo luận tại Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 vừa tổ chức đầu tháng 9 tại Hà Lan, cùng bài toán thích ứng bền vững.

Nhận diện khó khăn

Chưa đầy một tuần sau Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 (Global Shrimp Forum - GSF 2026), cơn đau đầu thuế quan lại đe dọa ngành tôm Ấn Độ. Hai vị Thượng nghị sĩ Bill Cassidy và Cindy Hyde-Smith tái trình Luật thuế tôm Ấn Độ, nhằm tăng thêm thuế đối với tôm và tôm nước ấm nhập từ Ấn Độ. Dự luật từng được đưa ra năm 2023 nhưng không được thông qua. Tuy nhiên, mới đây, Hiệp hội Tôm Louisiana lại tiếp tục nỗ lực kêu gọi lấy chữ ký để đề nghị Chính quyền Tổng thống Donald Trump đưa ra sắc lệnh hành pháp nhằm hạn chế số lượng tôm nhập khẩu, xu hướng bảo hộ ngành tôm là không thể phủ nhận. Sự nhất quán của ông Donad Trump trong việc sử dụng công cụ thuế là một biến số quan trọng khác. Không chỉ Ấn Độ, các nước sản xuất tôm lớn khác trên thế giới buộc phải chuẩn bị cho những tình huống kém lạc quan. Điều quan trọng hơn, Mỹ luôn là một trong hai quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới. Sự đứt gãy ở thị trường này sẽ làm

tôm tại Pháp và 20% tại Đức sử dụng tôm ít nhất một lần mỗi tuần trong bữa ăn tại nhà. Số liệu từ Circana chứng minh, giá vẫn là rào cản lớn nhất đối với việc tăng tần suất mua tôm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, ngành tôm không nên quá phụ thuộc vào giảm giá, tìm kiếm khách hàng bằng giảm giá và khuyến mại quá mức. Từ phía nhà sản xuất, tính bền vững là một phần quan trọng dẫn đến hành vi mua hàng của các nhà phân phối, bán lẻ. Theo dữ liệu của Circana, 98% nhà bán lẻ khảo sát coi bền vững là yếu tố quan trọng trong thu mua, 96,5% đang triển Và thách thức khác khai chiến lược mua hàng từ các nguồn Làm thế nào để người tiêu dùng châu có trách nhiệm xã hội và môi trường, Âu mua và ăn tôm thường xuyên hơn là và 92% kỳ vọng doanh số sản phẩm bền một nội dung được thảo luận trong khuôn vững tăng nhanh hơn. khổ GSF 2026. Theo dữ liệu Circana, tại châu Âu, tôm Những lựa chọn để thành công Tới thời điểm hiện tại, kim ngạch chưa phải là thực phẩm thường xuyên trong bữa ăn. Khảo sát người tiêu dùng tại thương mại tôm vẫn tiếp tục được mở Pháp và Đức cho thấy, lần lượt 88% và 66% rộng. Đối với Ấn Độ, áp lực thuế quan người tiêu dùng mua tôm ít nhất một lần khiến quốc gia này phải đa dạng hóa thị mỗi năm. Vậy nhưng, chỉ 19% người mua trường và điều đáng nói là, họ đã làm tốt

rạn nứt cấu trúc ổn định của ngành hàng, dễ thấy nhất là cuộc đua giảm giá để tạo lợi thế chiếm lĩnh các thị trường khác. Trớ trêu ở chỗ, nếu kịch bản này xảy ra, lợi nhuận vốn đang mỏng dần do chi phí tăng từ thức ăn tới khâu vận chuyển, logistics lại càng mỏng thêm nữa. Đối với các nhà sản xuất tôm, vấn đề không chỉ nằm ở việc gia tăng sản lượng và tối ưu hóa chi phí. Thành công sẽ nằm ở đa dạng hóa thị trường và đáp ứng các hàng rào kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.


NHÌN RA THẾ GIỚI

CON TÔM THÁNG 9/2026

việc này. Trong năm 2025, châu Âu, Trung Quốc, Việt Nam đều nhập khẩu nhiều tôm Ấn Độ hơn. Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga đảm đương sản lượng còn lại, khiến cú hụt chân do thuế quan của thị trường Mỹ được bù đắp. Kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2025 của Ấn Độ đạt gần 800 nghìn tấn, cao hơn 9% so cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, chiếc chìa khóa thành công của Ấn Độ không chỉ nằm ở đa dạng hóa thị trường. Chuỗi cung ứng thức ăn cho thủy sản được thiết kế để người nuôi có thể đa dạng hóa các loại tôm, tạo ra cơ hội thị trường cao hơn và khả năng phục hồi tốt hơn. Đối với Việt Nam, theo các chuyên gia, năng lực cạnh tranh nằm ở khâu chế biến. Các sản phẩm đã qua chế biến chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam nhập khẩu một lượng lớn tôm từ Ấn Độ hay Ecuador để chế biến và tái xuất. Thị trường nội địa được đánh giá là một vùng đệm quan trọng cho các nhà sản xuất và chế biến tôm. Theo ước tính của một chuyên gia, nhu cầu tiêu thụ nội địa tại Việt Nam có thể vượt quá 200 nghìn tấn. Nếu khai thác tốt mảng thị phần này, ngành tôm Việt Nam có thể vượt qua sóng gió. Ngành tôm Ecuador đã chứng kiến sự tăng trưởng liên tục từ năm 2024. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,2 triệu tấn và sau một năm, con số này lên mức 1,39 triệu tấn. Sáu tháng đầu năm 2026, Ecuador đã xuất khẩu 822 nghìn tấn tôm, hướng tới đạt sản lượng xuất khẩu 1,6 triệu tấn cho cả năm. Đa dạng hóa thị trường là lời giải của tôm Ecuador, dù trong thời điểm hiện tại, Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ một nửa tổng kim ngạch tôm xuất khẩu của nước này. Mỹ đã vượt qua Liên minh châu Âu trở thành quốc gia nhập khẩu tôm Ecuador lớn thứ hai thế giới. Nhiều lô hàng tôm Ecuador cũng đến tới các quốc gia châu Á, trong đó, có cả Việt Nam. Điều đáng nói, đối với ngành tôm Ecuador, mở rộng thị trường song hành với đa dạng sản phẩm, giúp các nhà sản xuất và chế biến gia tăng năng lực ứng phó với những biến động khó lường từ thị trường nhập khẩu. KHÁNH NGUYÊN

31

Viễn cảnh phi hành gia nuôi tôm trong vũ trụ Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy việc nuôi tôm trong môi trường mô phỏng vi trọng lực có tính khả thi, mở thêm góc nhìn về sản xuất thực phẩm tươi sống cho các nhiệm vụ không gian dài ngày. Các nhà khoa học từ Đại học Khoa học Okayama, Nhật Bản vừa công bố nghiên cứu trên Tạp chí Khoa học Vi trọng lực, tìm hiểu phản ứng và tập tính ăn của tôm trong môi trường mô phỏng trạng thái vi trọng lực. Kết quả bước đầu gợi mở khả năng phát triển hệ thống nuôi thủy sản phục vụ đời sống phi hành gia.

Vì sao nên bắt đầu bằng con tôm?

Nuôi thủy sản trong không gian phức tạp hơn nhiều so với trên Trái Đất. Nguồn lực hạn chế, điều kiện vi trọng lực và yêu cầu kiểm soát môi trường tạo ra nhiều thách thức đối với sản xuất thực phẩm tươi sống phục vụ các nhiệm vụ dài ngày. Các nhà nghiên cứu xem xét khả năng đưa các loài thủy sản như tôm vào hệ thống sản xuất thực phẩm trong không gian. Tôm là lựa chọn đáng chú ý bởi hàm lượng dinh dưỡng cao, tốc độ sinh sản tương đối nhanh và yêu cầu chăm sóc đơn giản hơn so với các loài giáp xác có kích thước lớn. Để tìm hiểu khả năng thích nghi, nhóm nghiên cứu tiến hành thử nghiệm với tôm he Nhật Bản non trong môi trường mô phỏng vi trọng lực. Thông qua hệ thống chiếu sáng và camera, trong 15 phút thử nghiệm, các

nhà khoa học nhận thấy tôm bám vào tấm lưới nhựa đặt bên trong bể để giữ thăng bằng. Chúng không chủ động tìm kiếm thức ăn mà ăn những viên thức ăn trôi tới gần miệng. Khi dòng nước chuyển động êm hơn, tôm ăn hiệu quả hơn. Thử nghiệm kéo dài 4 ngày với tôm Artemia cũng cho thấy chúng tiếp tục ăn tảo, sinh trưởng và phát triển bình thường, không xuất hiện vấn đề sức khỏe rõ rệt. Kết quả bước đầu cho thấy các sinh vật thủy sinh nhỏ có khả năng thích nghi với môi trường mô phỏng vi trọng lực. Tuy nhiên, vi trọng lực có thể tác động đến một số đặc điểm sinh học của tôm, như quá trình hình thành lớp giáp xác, khả năng vận động và di chuyển. Những tác động này cần được đánh giá qua các nghiên cứu dài hạn hơn.

Tiến tới nuôi thủy sản trong vũ trụ

Các nhà nghiên cứu cho rằng kết quả trên mở thêm hướng phát triển hệ thống nuôi thủy sản trong không gian. Hệ thống tích hợp có thể cung cấp nguồn đạm tươi sống, đồng thời tái sử dụng nước và chất dinh dưỡng trong các hệ thống hỗ trợ sự sống khép kín như trạm vũ trụ. Nghiên cứu cũng cung cấp thêm cơ sở cho việc thiết kế thiết bị phục vụ nuôi thủy sản ngoài không gian. Dù vậy, còn nhiều vấn đề cần làm rõ trước khi tôm có thể trở thành nguồn thực phẩm cho phi hành gia. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào tăng trưởng, sinh sản, dinh dưỡng và sức khỏe của tôm trong điều kiện thực tế ngoài không gian. LINH SAM (Theo Shrimp.news)


32

CON TÔM THÁNG 9/2026

THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP


CON TÔM THÁNG 9/2026

33


34

CON TÔM THÁNG 9/2026


CON TÔM THÁNG 9/2026

35


36

THỨC ĂN - DINH DƯỠNG

CON TÔM THÁNG 9/2026

Tiềm năng axit triterpenic từ hương thảo Axit triterpenic từ hương thảo cho thấy tiềm năng hỗ trợ tăng trưởng và nâng cao khả năng chống chịu của tôm trước điều kiện thiếu ôxy, mở ra hướng bổ sung hợp chất có nguồn gốc thực vật vào thức ăn.

Hương thảo chứa các axit triterpenic có tiềm năng hỗ trợ tôm chống stress

Thiếu ôxy là một trong những dạng stress môi trường phổ biến trong nuôi tôm thẻ chân trắng, đặc biệt ở các hệ thống thâm canh mật độ cao, khi chất lượng nước suy giảm hoặc trong quá trình vận chuyển. Thiếu ôxy làm rối loạn cân bằng ôxy hóa - khử, gây stress ôxy hóa và tổn thương tế bào, trực tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng, làm suy giảm đáng kể chức năng miễn dịch bẩm sinh. Trong bối cảnh đó, Rui Feng, Xiaomin Li và cộng sự tại Đại học Trung Sơn, Trung Quốc đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sử dụng các axit triterpenic có nguồn gốc từ hương thảo (Rosmarinus

Ảnh: ST

officinalis) như một phụ gia thức ăn giúp giá khả năng chống chịu. Bài báo được tôm thích nghi tốt hơn với stress thiếu ôxy. công bố trực tuyến ngày 29/7/2026 trên Aquaculture, tập 626, mã bài 744425. Thử nghiệm với nhiều mức Kết quả cho thấy mức bổ sung 0,045% bổ sung mang lại hiệu quả tăng trưởng tổng thể tốt Nguyên liệu sử dụng chứa 41,15% axit nhất. Tôm ở nghiệm thức này có khối lượng triterpenic, trong đó ba thành phần chính cuối, tăng trọng, tốc độ tăng trưởng đặc biệt là ursolic axit, oleanolic axit và betulinic và lượng thức ăn tiêu thụ cao hơn đối chứng, axit. Nghiên cứu sử dụng 540 tôm giống đồng thời hệ số chuyển đổi thức ăn thấp hơn. có khối lượng ban đầu khoảng 0,69 g/ Phân tích hồi quy dựa trên tăng trọng xác con, bố trí sáu khẩu phần bổ sung lần định mức bổ sung tối ưu khoảng 0,0416%. lượt 0; 0,015; 0,03; 0,045; 0,06 và 0,075% axit triterpenic trong 56 ngày. Sau giai Cải thiện cấu trúc gan tụy đoạn nuôi, tôm tiếp tục được thử thách và đường ruột Lợi ích này đi kèm với sự cải thiện rõ thiếu ôxy cấp tính trong 24 giờ để đánh


THỨC ĂN - DINH DƯỠNG

CON TÔM THÁNG 9/2026

Hình 1. Ảnh hưởng của axit triterpenic từ hương thảo đến biểu hiện các gene chống ôxy hóa, miễn dịch và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng sau stress thiếu ôxy. Các nhóm bổ sung duy trì tỷ lệ sống cao hơn rõ rệt so với đối chứng sau 24 giờ thiếu ôxy. Nguồn: Feng và cộng sự (2026).

về cấu trúc gan tụy và đường ruột. Ở mức 0,015 - 0,06%, các ống gan tụy có cấu trúc hoàn chỉnh hơn, số lượng tế bào B, R và E tăng, trong đó nhóm 0,03 - 0,045% thể hiện hình thái gan tụy tốt nhất. Đường ruột cũng phát triển tốt hơn, với nhung mao dài và dày hơn; riêng ở mức 0,045%, độ dày thành ruột đạt khoảng 322 µm so với khoảng 160 µm ở đối chứng. Sau thiếu ôxy, gan tụy của nhóm đối chứng bị tổn thương rõ, trong khi gan tụy của các nhóm 0,03 - 0,045% vẫn duy trì cấu trúc mô tương đối nguyên vẹn. Tuy nhiên, khi tăng liều lên 0,075%, lợi ích không tiếp tục tăng, đồng thời xuất hiện một số dấu hiệu bất lợi ở mô gan tụy và đường ruột. Bên cạnh tác động lên mô gan tụy và đường ruột, axit triterpenic còn hỗ trợ chức năng tiêu hóa. Kết quả đánh giá hoạt tính enzyme tiêu hóa trước và sau thiếu ôxy cho thấy các nhóm bổ sung có khả năng duy trì hoặc phục hồi hoạt động tiêu hóa tốt hơn, đồng thời giảm tổn thương gan tụy do stress thiếu ôxy.

37

Hình 2. Cấu trúc gan tụy, đường ruột và cơ của tôm thẻ chân trắng sử dụng các mức axit triterpenic khác nhau. Các mức bổ sung trung bình, đặc biệt 0,03 - 0,045%, giúp duy trì cấu trúc gan tụy tốt hơn sau thiếu ôxy, trong khi mức 0,075% không tạo thêm lợi ích và xuất hiện tổn thương ở gan tụy và đường ruột. Nguồn: Feng và cộng sự (2026).

biểu hiện các gene chống ôxy hóa, hoạt tính enzyme chống ôxy hóa và các gene liên quan đến miễn dịch. Trước và sau stress, các mức axit triterpenic thích hợp làm tăng hoạt tính SOD, GSH-Px và tổng khả năng chống ôxy hóa, đồng thời giảm MDA - chỉ thị phản ánh mức độ peroxy hóa lipid. Nhóm 0,045% thể hiện phản ứng ổn định nhất, với sự tăng biểu hiện của các gene chống ôxy hóa như nrf2, cat và gpx, đồng thời làm tăng biểu hiện các gene nrf2, cat, gpx, myd88, dorsal, relish, hsp70 và hif-1α. Sau thiếu ôxy, hif-1α, gene quan trọng trong đáp ứng với tình trạng thiếu ôxy, cũng tăng biểu hiện ở nhóm 0,045%. Những thay đổi sinh lý này được phản ánh trực tiếp ở tỷ lệ sống: sau 24 giờ thiếu ôxy, nhóm đối chứng chỉ còn khoảng 40% tôm sống, trong khi hầu hết các nhóm bổ sung axit triterpenic duy trì tỷ lệ sống quanh 90% hoặc cao hơn. Các chỉ số sinh hóa cũng cho thấy mức độ stress thấp hơn; chẳng hạn AST ở nhóm đối chứng đạt khoảng 30,9 U/L sau thiếu ôxy, trong khi nhóm 0,03 Tăng khả năng chống chịu và 0,045% chỉ khoảng 5,6 - 6,3 U/L. thiếu ôxy Glucose huyết tương cũng giảm từ 1,73 Khả năng chống chịu thiếu ôxy của mmol/L ở đối chứng xuống khoảng 1,20 tôm được cải thiện, đi kèm với sự gia tăng - 1,27 mmol/L ở hai nhóm này. Các chỉ

số này gợi ý mức độ stress và tổn thương gan tụy ở các nhóm bổ sung thấp hơn so với đối chứng.

Công cụ hỗ trợ

Nhìn chung, axit triterpenic từ hương thảo cho thấy tiềm năng như một phụ gia chức năng giúp tôm tăng trưởng tốt hơn đồng thời tăng khả năng chống chịu khi hàm lượng ôxy giảm. Khoảng bổ sung 0,015 - 0,06% đều tạo ra những tác động tích cực, nhưng mức 0,045% cho hiệu quả toàn diện nhất và mức tối ưu theo tăng trọng được ước tính là 0,0416%. Điểm đáng lưu ý là hiệu quả mang tính phụ thuộc liều: 0,075% không tạo thêm lợi ích và còn làm tăng ALT sau thiếu ôxy, đồng thời xuất hiện dấu hiệu tổn thương ở gan tụy và đường ruột. Kết quả cho thấy axit triterpenic có tiềm năng trở thành phụ gia thức ăn hỗ trợ tăng trưởng, chức năng chống ôxy hóa, miễn dịch, tiêu hóa và khả năng chống chịu thiếu ôxy ở tôm. Tuy nhiên, nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện thí nghiệm và cần tiếp tục đánh giá ở điều kiện sản xuất thực tế. THS LÊ XUÂN CHINH Học viện Nông nghiệp Việt Nam


38

KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 9/2026

Quản lý chất hữu cơ đáy ao Trong ao nuôi thâm canh, chất hữu cơ tích tụ dưới đáy là điều khó tránh khỏi. Nếu không được quản lý tốt, lớp bùn này sẽ trở thành nguồn phát sinh các khí độc như NH₃, H₂S và NO₂⁻, làm suy giảm chất lượng nước, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm và tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

Đáy ao dễ phát sinh khí độc

Thông thường, người nuôi thường tập trung theo dõi các chỉ tiêu như pH, độ kiềm, hàm lượng ôxy hòa tan hay độ mặn mà ít quan tâm đến tình trạng đáy ao. Thực tế, đáy ao là nơi tích tụ phần lớn chất hữu cơ trong suốt vụ nuôi, bao gồm thức ăn dư thừa, phân tôm, xác tảo, sinh vật phù du chết và các vật chất lơ lửng lắng xuống. Khi lượng chất hữu cơ tích tụ vượt quá khả năng phân hủy tự nhiên của hệ vi sinh vật hiếu khí, lớp bùn đáy sẽ chuyển sang trạng thái yếm khí. Đây là điều kiện thuận lợi để các vi khuẩn yếm khí phát triển, tạo ra nhiều hợp chất độc hại như amoniac (NH₃), hydro sulfide (H₂S), nitrit (NO₂⁻) và methane (CH₄). Trong đó, NH₃ và H₂S là hai khí độc đặc biệt nguy hiểm đối với tôm nuôi.

Tác động

Khí độc thường không gây chết tôm ngay lập tức mà tác động âm thầm trong thời gian dài. Khi nồng độ NH₃ tăng cao, tôm bị tổn thương mang, giảm khả năng trao đổi khí, ăn kém và chậm lớn. Trong khi đó, H₂S có độc tính mạnh hơn, chỉ cần xuất hiện với hàm lượng thấp cũng có thể làm giảm lượng ôxy vận chuyển trong cơ thể,

Thường xuyên kiểm tra sàng sẽ giúp hạn chế lượng thức ăn dư thừa

khiến tôm nổi đầu, bơi yếu và tăng tỷ lệ chết. Đáy ao nhiều chất hữu cơ còn là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cơ hội, đặc biệt là nhóm Vibrio, phát triển. Điều này làm tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh đường ruột, bệnh phân trắng hoặc hoại tử gan tụy cấp (AHPND), nhất là trong điều kiện thời tiết biến động hoặc mật độ nuôi cao. Ao nuôi tích tụ nhiều chất hữu cơ thường có lớp bùn đáy màu đen, phát sinh mùi hôi và xuất hiện nhiều bọt khí khi khuấy hoặc xi phông đáy. Đồng thời, màu nước biến động bất thường, độ trong giảm và lượng cặn lơ lửng tăng. Đây là những dấu hiệu cho thấy quá trình phân hủy yếm khí đang diễn ra mạnh, làm phát sinh các khí độc.

Ảnh: Báo Hà Tĩnh

Chủ động giảm tích tụ chất hữu cơ

Kiểm soát chất hữu cơ cần được thực hiện xuyên suốt vụ nuôi, bắt đầu từ quản lý thức ăn. Cho ăn đúng nhu cầu, điều chỉnh khẩu phần theo sức ăn và thường xuyên kiểm tra sàng ăn sẽ giúp hạn chế lượng thức ăn dư thừa. Kiểm soát mật độ tảo cũng là một giải pháp quan trọng để giảm tích tụ chất hữu cơ. Tảo phát triển quá mức không chỉ làm môi trường nước biến động mạnh mà còn tạo ra lượng lớn vật chất hữu cơ sau khi tảo tàn. Lượng xác tảo này lắng xuống đáy, làm tăng tải lượng hữu cơ, tiêu hao ôxy trong quá trình phân hủy và tạo điều kiện hình thành các vùng yếm khí. Vì vậy, cần quản

lý màu nước ổn định, tránh để tảo tàn đột ngột. Bên cạnh đó, cần bố trí quạt nước hợp lý để tạo dòng chảy liên tục. Với các ao nuôi mật độ cao, có thể kết hợp hệ thống sục khí đáy để tăng hàm lượng ôxy, hỗ trợ quá trình phân hủy hiếu khí. Đặc biệt, vào ban đêm và rạng sáng - thời điểm ôxy giảm thấp nhất - cần tăng thời gian vận hành quạt nước nhằm duy trì điều kiện phân hủy hiếu khí và giảm nguy cơ khí độc tích tụ. Đối với ao nuôi thâm canh và siêu thâm canh, nên thực hiện xi phông đáy định kỳ nhằm loại bỏ bùn và chất thải trước khi chúng phân hủy. Tần suất xi phông cần điều chỉnh theo mật độ nuôi, lượng thức ăn và tình trạng đáy ao. Ngoài các biện pháp cơ học, cần định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ và ổn định hệ vi sinh trong ao. Song song với đó, theo dõi định kỳ các chỉ tiêu như NH₃, NO₂⁻, hàm lượng ôxy hòa tan và độ kiềm để phát hiện sớm dấu hiệu bất thường. Khi các chỉ tiêu này tăng hoặc giảm đột ngột, cần đánh giá đồng thời tình trạng đáy ao thay vì chỉ xử lý phần nước. THANH HIẾU


KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 9/2026

39

Duy trì hệ vi sinh ổn định trong ao Hệ vi sinh đóng vai trò quan trọng trong phân hủy chất hữu cơ, chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ và góp phần duy trì chất lượng nước ao tôm. Tuy nhiên, hoạt động của hệ vi sinh có thể bị ảnh hưởng khi lượng thức ăn thừa, chất thải tăng cao hoặc các yếu tố môi trường thay đổi đột ngột.

Định kỳ bổ sung vi sinh

nhiều sau thời gian cho ăn, Chế phẩm vi sinh thường cần đánh giá lại khẩu phần được sử dụng để bổ sung các cho những cữ tiếp theo. nhóm vi khuẩn có khả năng Cần đặc biệt chú ý những phân hủy chất hữu cơ hoặc giai đoạn tôm thay đổi sức ăn tham gia chuyển hóa các hợp hoặc môi trường biến động. chất chứa nitơ. Cho ăn vượt nhu cầu trong Trước khi sử dụng, cần xác Kiểm soát lượng thời điểm này có thể khiến định mục đích xử lý và lựa thức ăn chất hữu cơ tăng nhanh, kéo Khẩu phần cần được điều theo sự gia tăng nhu cầu ôxy chọn chế phẩm phù hợp. Các sản phẩm hướng đến phân hủy chỉnh theo sức ăn thực tế, và các hợp chất chứa nitơ. chất hữu cơ, hỗ trợ chuyển kích cỡ, mật độ và tình trạng hóa nitơ hoặc cải thiện nền sức khỏe của tôm. Khi tôm Duy trì các thông số đáy có thể có thành phần và giảm ăn do thời tiết hoặc môi môi trường ổn định Ôxy hòa tan (DO) cần được cơ chế hoạt động khác nhau. trường thay đổi, cần giảm Vì vậy, không nên sử dụng lượng thức ăn tương ứng thay đặc biệt chú ý vì nhiều nhóm vi sinh tham gia phân hủy nhiều sản phẩm cùng lúc chỉ vì duy trì khẩu phần cũ. Sử dụng sàng ăn và theo chất hữu cơ và chuyển hóa với mục tiêu tăng lượng vi dõi phản ứng bắt mồi giúp nitơ cần môi trường giàu ôxy. sinh trong ao. Người nuôi nên bổ sung kiểm soát lượng thức ăn chính DO thường giảm vào ban đêm chế phẩm vi sinh vào thời điểm xác hơn. Nếu thức ăn còn và thấp nhất vào gần sáng, do đó cần theo dõi ở thời điểm này để có phương án vận hành quạt nước, sục khí phù hợp. Quạt nước có tác dụng cung cấp ôxy, vừa tạo dòng chảy, hạn chế vùng nước tù và gom chất thải về khu vực tập trung, qua đó giảm tích tụ chất hữu cơ ở đáy ao. Ao có mật độ cao cần bố trí quat nước hợp lý để giảm các vùng đáy thiếu ôxy, nơi chất hữu cơ dễ tích tụ và phân hủy không hoàn toàn. pH cũng cần được theo dõi vào các thời điểm cố định Bổ sung chế phẩm vi sinh vào thời điểm môi trường tương đối ổn định Ảnh: Tép Bạc trong ngày để nhận biết biên môi trường tương đối ổn định, tránh lúc tôm đang chịu stress do thiếu ôxy, biến động nhiệt độ hoặc sau mưa lớn. Liều sử dụng cần tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất.

độ dao động. Độ kiềm có vai trò quan trọng đối với khả năng đệm của nước, giúp hạn chế biến động pH. Sau mưa lớn hoặc khi cấp nước mới, cần kiểm tra lại pH, độ kiềm, độ mặn và nhiệt độ.

Giảm thiểu sử dụng hóa chất

Hóa chất giúp sát khuẩn, xử lý nước nhưng sử dụng không phù hợp có thể làm xáo trộn hệ vi sinh, ảnh hưởng cả vi sinh có lợi và bất lợi. Do đó, không nên sử dụng hóa chất theo thói quen hoặc chỉ dựa vào màu, mùi nước. Cần xác định rõ vấn đề, nguyên nhân và lựa chọn sản phẩm phù hợp, sử dụng đúng liều theo hướng dẫn, không tự ý tăng liều. Khi bắt buộc phải sử dụng chất sát khuẩn hoặc sản phẩm có khả năng ảnh hưởng đến hệ vi sinh, cần tính toán thời điểm xử lý phù hợp. Không nên bổ sung vi sinh ngay sau khi xử lý hóa chất nếu hoạt chất vẫn còn khả năng tác động đến vi sinh vật. Cần dựa vào đặc tính của từng sản phẩm và hướng dẫn kỹ thuật để xác định thời điểm bổ sung trở lại. NGUYỄN AN


40

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

18 CON/KG

Cùng sú C.P. thắng EHP trên ao lót bạt đáy 100% Mô hình nuôi tôm sú C.P. trên ao lót bạt đáy 100% của anh Dương Thành Cận tại xã Long Phú, TP Cần Thơ cho kết quả tích cực, với đàn tôm tăng trưởng nhanh, đạt kích cỡ khoảng 18 con/kg trong điều kiện áp lực EHP. Kết quả thực tế này thu hút sự quan tâm của nhiều hộ nuôi trong và ngoài khu vực.

Anh Dương Thành Cận cùng đội ngũ nhân viên kinh doanh khu vực xác nhận kết quả tôm sú size lớn 18 con/kg

Khởi đầu bằng con giống chất lượng

Theo Anh Dương Thành Cận, việc lựa chọn con giống là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của cả vụ nuôi. Sau khi được đội ngũ kỹ thuật C.P. Việt Nam tư vấn, anh quyết định lựa chọn tôm giống sú C.P. thắng EHP CPF SUPER MONODON của C.P. Việt Nam để thả nuôi trên hệ thống ao bạt đáy kết hợp máy cho ăn và thức ăn chuyên dụng dành cho tôm sú.

13 tấn. Mặc dù đã đạt kích cỡ thương phẩm, anh Dương Thành Cận vẫn tiếp tục nuôi do tôm còn tăng trưởng tốt và môi trường ao luôn sạch, ổn định. Theo anh Cận, trước đây để nuôi tôm sú đạt khoảng 20 con/kg thường mất ít nhất 6 tháng. Với tôm sú C.P. thắng EHP CPF SUPER MONODON cùng quy trình nuôi hiện nay, thời gian này được rút xuống còn hơn 4 tháng, qua đó rút ngắn chu kỳ nuôi và nâng cao hiệu quả sản xuất.

tạo nên hiệu quả của mô hình. Tôm sú C.P. thích nghi tốt trên ao lót bạt đáy 100%; việc kết hợp máy cho ăn với thức ăn chuyên dụng giúp kiểm soát lượng thức ăn, duy trì môi trường ao sạch và tạo nền tảng cho đàn tôm tăng trưởng ổn định.

Điểm đến của nhiều người nuôi

Những kết quả từ mô hình của anh Dương Thành Cận đã thu hút nhiều đoàn tham quan trong và ngoài khu vực đến Kết quả thực tế từ ao nuôi Quy trình nuôi tạo nên khác biệt tham quan thực tế. Tại đây, các đoàn trực Sau 5 tháng nuôi, đàn tôm đạt khoảng Theo anh Dương Thành Cận, quy trình tiếp quan sát đàn tôm, môi trường ao nuôi, 18 con/kg, với sản lượng dự kiến khoảng nuôi đồng bộ là một trong những yếu tố hệ thống ao lót bạt đáy 100% và quy trình


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

Anh Cận cùng nhân viên C.P. thăm tôm sú nuôi trên ao bạt đáy

Nhiều đoàn khách hàng cùng nhân viên C.P. Việt Nam từ các khu vực đến tham quan mô hình nuôi

chăm sóc, đồng thời trao đổi kinh nghiệm sản xuất cùng anh Cận và đội ngũ kỹ thuật C.P. Việt Nam.

Đồng hành cùng người nuôi

Bên cạnh chất lượng con giống, C.P. Việt Nam còn đồng hành cùng khách hàng thông qua đội ngũ kỹ thuật trong suốt quá trình nuôi. Kết quả từ mô hình của anh Dương Thành Cận cho thấy sự kết hợp giữa con giống, thức ăn chuyên dụng và giải pháp kỹ thuật đồng bộ đã phát huy hiệu quả trong điều kiện áp lực EHP. C.P. VIỆT NAM

Anh Dương Thành Cận (bên trái) cùng đại diện C.P. Việt Nam tại ao nuôi

41


42

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

SOTIBAC

Chế phẩm sinh học xử lý môi trường ao nuôi hướng đến nuôi trồng thủy sản bền vững Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản đang chuyển mạnh từ phương thức xử lý môi trường bằng hóa chất sang các giải pháp sinh học. Trong xu hướng đó, các chế phẩm sinh học chứa vi sinh vật có lợi ngày càng được ứng dụng rộng rãi nhờ khả năng cải thiện chất lượng nước, phân hủy chất hữu cơ và hạn chế sự phát sinh khí độc. SOTIBAC là một trong những chế phẩm được phát triển theo định hướng này, sử dụng sự kết hợp giữa vi khuẩn Bacillus subtilis và nấm men Saccharomyces cerevisiae để hỗ trợ quản lý môi trường ao nuôi tôm và cá. Bên cạnh đó, sản phẩm SOTIBAC đã đăng ký thương hiệu bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ. chủng vi sinh được sử dụng phổ biến nhất trong chế phẩm sinh học thủy sản nhờ tính ổn định và hiệu quả xử lý môi trường. Bên cạnh đó, Saccharomyces cerevisiae đóng vai trò hỗ trợ cân bằng hệ vi sinh thông qua việc cung cấp vitamin nhóm B, acid amin, enzyme và các hoạt chất sinh học. Nấm men còn góp phần kích thích sự phát triển của các vi sinh vật có lợi khác, hỗ trợ quá trình phân hủy chất hữu cơ và góp phần cải thiện sức khỏe vật nuôi.

Cơ chế cải thiện môi trường ao nuôi Chế phẩm SOTIBAC hỗ trợ xử lý môi trường, hướng đến nuôi tôm bền vững

Thành phần vi sinh – Nền tảng tạo nên hiệu quả của SOTIBAC

SOTIBAC được phối hợp từ Bacillus subtilis, Saccharomyces cerevisiae. Hàm lượng vi sinh vật có lợi đạt tối thiểu 1010 CFU/kg cho mỗi chủng, giúp bổ sung một lượng lớn vi sinh vật có ích vào hệ sinh thái ao nuôi. Bacillus subtilis là nhóm vi khuẩn hiếu khí có khả năng sinh nhiều enzyme ngoại bào như protease, amylase, lipase và

Ảnh: ST

cellulase. Những enzyme này giúp phân giải nhanh thức ăn dư thừa, phân tôm cá, xác tảo và các hợp chất hữu cơ tích tụ dưới đáy ao, từ đó giảm lượng bùn đáy và hạn chế sự hình thành các khí độc như NH3 và H2S. Đồng thời, Bacillus còn có khả năng cạnh tranh dinh dưỡng và không gian sống với nhiều vi khuẩn gây bệnh, góp phần duy trì sự cân bằng hệ vi sinh trong môi trường nước. Các nghiên cứu cũng cho thấy Bacillus subtilis là một trong những

Khi được bổ sung vào ao, các vi sinh vật trong SOTIBAC nhanh chóng thích nghi và phát triển trong cột nước cũng như lớp bùn đáy. Chúng sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng, thúc đẩy quá trình khoáng hóa chất hữu cơ thành các hợp chất đơn giản hơn. Nhờ đó, lượng bùn đáy giảm dần, nước ao trở nên trong hơn và hàm lượng ôxy hòa tan được duy trì ổn định. Việc giảm tích tụ chất hữu cơ đồng nghĩa với việc hạn chế nguồn cơ chất để hình thành các khí độc như amoniac (NH3), hydro sulfide (H2S) và nitrit (NO2). Đây là những yếu tố thường gây stress, giảm tăng trưởng và làm tăng nguy cơ bùng


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

43

Sản phẩm chế phẩm sinh học SOTIBAC

phát bệnh trên tôm, cá. Khi môi trường được cải thiện, vật nuôi có điều kiện sinh trưởng thuận lợi hơn, giảm hiện tượng nổi đầu, giảm sốc môi trường và nâng cao tỷ lệ sống.

Lợi ích trong nuôi tôm và nuôi cá

Ở các ao nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, lượng thức ăn sử dụng lớn khiến chất hữu cơ tích tụ nhanh. Việc định kỳ sử dụng SOTIBAC giúp đẩy nhanh quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, hạn chế hình thành lớp bùn đen dưới đáy ao, giảm mùi hôi và cải thiện độ trong của nước. Điều này góp phần duy trì môi trường ổn định, giảm áp lực của vi khuẩn gây bệnh và hỗ trợ tôm phát triển khỏe mạnh. Đối với ao nuôi cá, đặc biệt là những mô hình có mật độ cao hoặc nuôi kéo dài,

sản phẩm giúp hạn chế hiện tượng nước ô nhiễm do phân cá và thức ăn dư thừa. Môi trường nước ổn định hơn giúp giảm biến động các chỉ tiêu chất lượng nước, hạn chế hiện tượng cá nổi đầu do thiếu ôxy và tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng.

Xu hướng sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Việc ứng dụng chế phẩm sinh học đang trở thành giải pháp được khuyến khích trong nuôi trồng thủy sản hiện đại. Khác với hóa chất xử lý môi trường, vi sinh vật có lợi hoạt động theo cơ chế sinh học tự nhiên, góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái ao nuôi, giảm nguy cơ tồn dư hóa chất trong sản phẩm và hướng tới phát triển bền vững. Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận việc sử dụng các chủng Bacillus

trong ao nuôi giúp cải thiện chất lượng nước, giảm mật độ vi khuẩn gây bệnh và nâng cao hiệu quả nuôi ở nhiều đối tượng thủy sản.

Kết luận

SOTIBAC là chế phẩm sinh học xử lý môi trường ao nuôi dựa trên sự kết hợp giữa Bacillus subtilis và Saccharomyces cerevisiae, hướng đến mục tiêu phân hủy nhanh chất hữu cơ, giảm khí độc, cải thiện chất lượng nước và duy trì hệ vi sinh có lợi trong ao nuôi. Khi được sử dụng đúng kỹ thuật và kết hợp với quản lý thức ăn, quản lý đáy ao và các chỉ tiêu môi trường, sản phẩm góp phần xây dựng mô hình nuôi tôm, nuôi cá an toàn sinh học, giảm rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi. MỸ PHÚ


44

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

Dinh dưỡng tối ưu cho nuôi trồng thủy sản Trong bối cảnh chi phí thức ăn chiếm phần lớn giá thành sản xuất, nâng cấp dinh dưỡng không còn đơn thuần là tăng hàm lượng protein mà hướng đến tối ưu toàn diện công thức thức ăn. Sự cân đối giữa protein, chất béo và các axit amin thiết yếu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, cải thiện tăng trưởng, tăng sức đề kháng và hướng đến sản xuất thủy sản bền vững.

Tối ưu công thức thức ăn

Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng, quyết định trực tiếp đến quá trình hình thành mô cơ và tốc độ tăng trưởng của tôm, cá, đồng thời cũng là nguyên liệu có giá thành cao nhất trong công thức thức ăn. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng protein không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng mà còn ở chất lượng nguồn nguyên liệu, khả năng tiêu hóa và sự cân đối với các dưỡng chất khác, đặc biệt là các axit amin thiết yếu. Khi protein không được tiêu hóa và hấp thu hiệu quả, phần dư thừa sẽ bị đào thải, vừa làm tăng chi phí thức ăn, vừa gia tăng lượng chất hữu cơ và các hợp chất chứa nitơ trong môi trường nuôi Bên cạnh protein, chất béo là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng trong khẩu phần thức ăn thủy sản, đồng thời hỗ trợ hấp thu các vitamin tan trong chất béo như A, D, E và K. Việc duy trì hàm lượng chất béo ở mức phù hợp không chỉ giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng cho các hoạt động sinh trưởng và trao đổi chất mà còn tạo nguồn năng lượng dự trữ, giúp tôm, cá thích nghi tốt hơn với những biến động của điều kiện môi trường. Ngoài ra, chất béo được cân đối hợp lý trong khẩu

phần còn góp phần nâng cao tỷ lệ sống, cải thiện sức khỏe và hỗ trợ đáp ứng miễn dịch của vật nuôi. Một yếu tố ngày càng được quan tâm trong công thức thức ăn hiện đại là sự cân đối giữa hai axit amin thiết yếu Methionine và Cystine. Methionine tham gia vào quá trình tổng hợp protein, hỗ trợ phát triển mô cơ và cải thiện khả năng bắt mồi. Trong khi đó, Cystine là tiền chất tham gia tổng hợp Glutathione - một chất chống ôxy hóa nội sinh có vai trò bảo vệ tế bào, đặc biệt là gan tụy của tôm và các cơ quan nội tạng của cá trước tác động của stress môi trường. Sự cân đối giữa protein, chất béo và các axit amin thiết yếu không chỉ góp phần cải thiện tốc độ tăng trưởng mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và hạn chế lượng chất thải phát sinh trong quá trình nuôi.

Nâng cấp dinh dưỡng theo hướng toàn diện

Từ định hướng này, Công ty New Hope Vĩnh Long đã tập trung nghiên cứu và cải tiến công thức dinh dưỡng của nhiều dòng thức ăn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và

đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng cao của người nuôi. Đối với dòng thức ăn T902 dành cho tôm thẻ chân trắng, công ty đã nâng hàm lượng protein từ 42% lên 43%, đồng thời tăng hàm lượng chất béo tổng số từ 3% lên 5% và nâng tỷ lệ Methionine + Cystine từ 0,8% lên 0,9%. Việc điều chỉnh đồng thời các chỉ tiêu dinh dưỡng giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu tăng trưởng của tôm trong điều kiện nuôi mật độ cao, đồng thời hỗ trợ cải thiện khả năng hấp thu dưỡng chất và nâng cao sức khỏe đàn tôm. Đối với các dòng thức ăn dành cho cá, chiến lược “Nâng cấp độ đạm - Nâng tầm hiệu quả” cũng được áp dụng trên nhiều sản phẩm. Cụ thể, FB32 được nâng từ 32N lên 33N và chuyển sang phiên bản FB32 Plus; DH02 và RP203 được nâng từ 30N lên 32N. Riêng DH30+, phiên bản cải tiến từ dòng RP004, không

chỉ tăng hàm lượng protein mà còn nâng hàm lượng chất béo từ 3% lên 6%, góp phần cải thiện khả năng hấp thu dinh dưỡng, giúp cá tăng trưởng nhanh, đồng đều và nâng cao tỷ lệ thịt sau thu hoạch. Những cải tiến về công thức dinh dưỡng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, cải thiện FCR và cung cấp nguồn năng lượng phù hợp cho quá trình sinh trưởng của cá. Đồng thời, việc cân đối các thành phần dinh dưỡng giúp tăng khả năng hấp thu, hỗ trợ tăng trưởng đồng đều, rút ngắn thời gian nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển thủy sản theo hướng hiệu quả, tiết kiệm chi phí và bền vững. New Hope Vĩnh Long – Vì nông dân mưu lợi, vì người dùng tạo phúc! NEW HOPE VĨNH LONG


CON TÔM THÁNG 9/2026

45


46

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

NANOBUBBLE GIẢI PHÁP TỐI ƯU PHÂN TÁN KHÍ

Duy trì ôxy hòa tan trong nước Trong nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, ôxy hòa tan (DO) là yếu tố quan trọng đối với hô hấp của tôm, hoạt động của hệ vi sinh và sự ổn định của chất lượng nước. Khi mật độ nuôi và sinh khối tăng cao, nhu cầu ôxy trong ao cũng tăng, đòi hỏi giải pháp cung cấp và duy trì DO hiệu quả. Công nghệ Nanobubble của B.H.N được phát triển nhằm tối ưu quá trình đưa khí vào nước thông qua việc tạo ra các bọt khí có kích thước rất nhỏ. Khi kích thước bọt khí giảm, tổng diện tích bề mặt tiếp xúc giữa pha khí và pha nước có thể tăng lên đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình truyền khí. Công nghệ Nanobubble hướng đến việc tăng hiệu quả sử dụng khí và phân tán khí trong môi trường nước. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với các hệ thống nuôi có mật độ cao. Trong ao nuôi tôm, hệ thống Nanobubble B.H.N có thể được bố trí tại các khu vực cấp nước, đường tuần hoàn hoặc các vị trí được tính toán dựa trên đặc điểm thủy động lực của ao. Khi kết hợp

với hệ thống tuần hoàn và quản lý dòng nước phù hợp, giải pháp có thể hỗ trợ đưa nước giàu ôxy đến những khu vực có nhu cầu ôxy cao, góp phần giảm hiện tượng phân tầng hoặc chênh lệch DO giữa các khu vực trong hệ thống.

Duy trì DO 7 - 8 ppm trong ao nuôi tôm

Trong thực tế vận hành, B.H.N hướng đến việc duy trì DO ở mức 7 - 8 ppm trong ao nuôi tôm, tùy thuộc vào thể tích nước, mật độ thả, sinh khối, nhiệt độ, độ mặn, tải lượng hữu cơ, thiết kế hệ thống tuần hoàn và cấu hình thiết bị. Mức DO cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hô hấp của tôm, đồng thời hỗ trợ hoạt động của hệ vi sinh vật hiếu khí tham gia phân hủy chất hữu cơ và chuyển hóa các hợp chất Nitơ. Đối với hệ thống nuôi thâm canh, việc kiểm soát DO ổn định cũng giúp người nuôi chủ động hơn trong quản lý thức ăn, sinh khối và chất lượng nước, thay vì chỉ xử lý tình trạng thiếu ôxy khi DO đã giảm xuống mức nguy hiểm.

Tăng DO cho hệ thống tôm giống - lên đến 20 ppm

Trong quá trình đóng gói

và vận chuyển tôm giống, ôxy hòa tan là yếu tố quan trọng giúp duy trì điều kiện môi trường phù hợp cho tôm. Công nghệ Nanobubble B.H.N có thể hỗ trợ nâng ôxy hòa tan trong nước lên đến 20 ppm, tùy thuộc vào điều kiện vận hành và cấu hình hệ thống. Nước được tăng cường ôxy trước khi đóng gói giúp tạo nguồn nước có hàm lượng ôxy hòa tan cao hơn, hỗ trợ tôm duy trì trạng thái tốt trong quá trình vận chuyển. Việc chủ động nâng DO trước khi đóng tôm có thể góp phần giảm stress trong quá trình vận chuyển, hỗ trợ duy trì sức khỏe của tôm và nâng cao tỷ lệ sống, đặc biệt trong các chuyến vận chuyển kéo dài. Việc lựa chọn công suất máy, lưu lượng nước, vị trí lắp đặt và phương án tuần hoàn cần được tính toán dựa trên thể tích hệ thống, sinh khối tôm, mật độ nuôi, nhiệt độ, độ mặn, tải lượng

hữu cơ và mục tiêu DO. Cách tiếp cận này giúp Nanobubble không chỉ trở thành một thiết bị tạo ôxy mà là một phần của giải pháp quản lý môi trường nước và kiểm soát DO cho nuôi tôm hiện đại.

B.H.N sắp ra mắt Probiotic chuyên dụng cho nuôi tôm

Giải pháp vi sinh hỗ trợ sức khỏe đường ruột, tiêu hóa và sức đề kháng của tôm, đồng thời hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước và môi trường đáy ao. Với định hướng kết hợp sức khỏe tôm và quản lý môi trường, Probiotic B.H.N hướng đến xây dựng hệ vi sinh ổn định, hỗ trợ tôm phát triển khỏe mạnh và nâng cao hiệu quả nuôi. Probiotic B.H.N – Đường Ruột Khỏe • Tôm Khỏe • Ao Nuôi Ổn Định. B.H.N

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96 Website: bhnenc.com Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh


CON TÔM THÁNG 9/2026

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

47


48

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

BẢO VỆ GAN TỤY

Bí quyết của sự thành công Bên cạnh khả năng bắt mồi và màu nước, hình thái, màu sắc gan tụy là dấu hiệu quan trọng phản ánh sức khỏe tôm. Khi chức năng gan tụy suy giảm, sức đề kháng yếu, tôm dễ mắc bệnh, chậm lớn và hao hụt.

Chức năng của gan tụy

- Tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng. - Chức năng lưu trữ: Dự trữ các hạt lipid, glycogen, dinh dưỡng và các khoáng chất. - Giải độc và chống stress khi gặp điều kiện bất lợi. - Tạo máu và hỗ trợ miễn dịch. - Chức năng ảnh hưởng đến quá trình bài tiết của tôm, thời gian lột xác, sự sinh trưởng và thành thục sinh sản của tôm. Tôm khỏe là tôm có gan tụy đầy và đều; có màu nâu vàng hoặc nâu đen đẹp mắt; khi bóp bể dịch gan màu nâu vàng sệt lại, không chảy và không chai cứng; thấy rõ dạ dày hình hạt gạo có màu đen, nâu đen rõ rệt. Gan tụy tôm nhiễm bệnh thường có màu đỏ, vàng, nhạt đến trắng, đen. Gan bệnh là khi khối gan tụy teo lại có màu đen và bị chai cứng hoặc dai như cao su, ruột tôm rỗng dẫn đến chết rải rác. Gan bị hoại tử cấp độ nhẹ có màu vàng, bị nhũn gan, gan hơi sưng đến hoại tử cấp tính thì gan có màu nhạt dần đến trắng, khối gan teo lại, ruột tôm rỗng không có thức ăn hoặc bị đứt đoạn, tôm thường bị mềm vỏ, tỷ lệ tôm chết khá cao thường xảy ra từ khi tôm 10 ngày tuổi.

Thức ăn: Vi khuẩn gây bệnh từ thức ăn bị mốc, thức ăn ôi thiu; Quản lý lượng ăn: Do cho tôm ăn quá nhiều, gan tụy tiết enzyme tiêu hóa hoạt động quá mức nên bị tổn thương. Cho tôm ăn quá ít, tôm đói dẫn đến ăn xác tôm bệnh chết, ăn mùn bã hữu cơ; Môi trường: Ảnh hưởng của khí độc; tảo độc; độc tố từ thuốc và hóa chất trừ sâu, diệt cỏ, diệt giáp xác côn trùng, khí độc. Ngoài ra các yếu tố chất lượng nước bất lợi (pH, DO...) cũng khiến tôm stress và gây ảnh hưởng xấu đến gan tụy của tôm.

Biện pháp bảo vệ gan tụy

- Xử lý đáy, phơi ao, diệt khuẩn nước thật kỹ trước khi thả nuôi. - Lựa chọn nguồn tôm bố mẹ, tôm giống sạch bệnh (kiểm tra bệnh bằng phương pháp PCR). - Quản lý tốt chất lượng nước, mật độ tảo, thường xuyên kiểm tra các chỉ tiêu nước để có các biện pháp kịp thời giảm stress cho tôm. - Cho tôm ăn vừa đủ, lựa chọn loại thức ăn phù hợp. - Áp dụng hệ thống nuôi tuần hoàn kín để tránh bị ô Gan tụy tổn thương là nhiễm từ môi trường. do đâu? - Các biện pháp từ vi sinh: Bổ Do di truyền: Dòng vi sung vi sinh có lợi cho đường khuẩn, virus gây bệnh lây từ bố ruột, hỗ trợ tiêu hóa giảm gánh mẹ cho tôm con; nặng cho gan tụy. Bổ sung vi

an toàn và thân thiện môi trường. Sản phẩm hỗ trợ tăng Công ty Thái cường hoạt động cho hệ thống gan, ruột của động Nam Việt đang chú vật thủy sản trọng hướng này với STIMULIVSLP., sản phẩm thảo dược nhập khẩu 100% từ Ấn Độ, thành phần chính là cây kế sữa. Sản phẩm hỗ trợ bảo vệ, phục hồi tế bào gan, kích thích bắt mồi và tăng cường sinh hỗ trợ xử lý nước và đáy miễn dịch tôm. Liều dùng tối để giảm khí độc tạo môi trường thiểu 1 g/kg thức ăn, giúp hỗ nuôi thuận lợi. Không chỉ vậy trợ bảo vệ gan tụy trước các tác khi kết hợp với các sản phẩm nhân gây hại. hỗ trợ tăng cường chức năng Công ty Thái Nam Việt gan sẽ đem lại hiệu quả tối đang chú trọng hướng này với ưu nhất giúp vụ mùa ổn định STIMULIVSLP., sản phẩm thảo và thành công. Ưu điểm của dược nhập khẩu 100% từ Ấn phương pháp này là hiệu quả Độ, thành phần chính là cây kế cao, tiết kiệm, an toàn, thân sữa. Sản phẩm hỗ trợ bảo vệ, thiện với môi trường. phục hồi tế bào gan, kích thích Vi sinh có lợi hỗ trợ tiêu bắt mồi và tăng cường miễn hóa, giảm gánh nặng cho gan dịch tôm. Liều dùng tối thiểu tụy, đồng thời xử lý nước và 1 g/kg thức ăn, giúp hỗ trợ bảo đáy, hạn chế khí độc. Kết hợp vi vệ gan tụy trước các tác nhân sinh với sản phẩm hỗ trợ chức gây hại. năng gan giúp tăng hiệu quả, THÁI NAM VIỆT STIMULIV SLP.

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Công nghệ Kỹ thuật Sinh hóa Thái Nam Việt Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, phường Tăng Nhơn Phú, TP Hồ Chí Minh ĐT: 0916 86 59 38 - 0853 89 59 39 Email: info@thainamviet.com Website: thainamviet.com


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

49

Vemedim hướng tới sản xuất xanh và bền vững Diễn ra trong hai ngày 15 - 16/10/2026, tại Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, khóa tập huấn “Người nuôi tôm chuyên nghiệp - Sản xuất xanh và bền vững” sẽ mang đến cho người nuôi tôm những kiến thức cập nhật về công nghệ, dinh dưỡng, quản lý môi trường và sức khỏe vật nuôi. Chương trình do Đại học Cần Thơ phối hợp cùng Công ty Vemedim tổ chức, góp phần kết nối nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất thủy sản. Trong bối cảnh ngành tôm ngày càng chú trọng hiệu quả, an toàn sinh học và phát triển bền vững, việc nâng cao năng lực cho người nuôi được xem là một trong những yếu tố quan trọng để xây dựng chuỗi sản xuất chuyên nghiệp. Theo chương trình, khóa tập huấn quy tụ các chuyên gia, giảng viên của Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ và đại diện doanh nghiệp, tập trung vào nhiều nội dung thiết thực như: công nghệ cao, tuần hoàn, thân thiện môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu; dinh dưỡng và thức ăn trong điều kiện nuôi hiện nay; quản lý môi trường nước; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong nuôi tôm hiện đại. Đáng chú ý, Vemedim trực tiếp tham gia nội dung chuyên môn về “Sử dụng chế phẩm sinh học hiệu quả trong nuôi tôm”, do TS. Lê Thị Hải Yến Phó Giám đốc Trung tâm R&D

đến từ Vemedim trình bày. Đây là dịp để người nuôi tiếp cận những kiến thức gắn với thực tiễn sản xuất, đồng thời trao đổi về giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý ao nuôi. Trong khuôn khổ chương trình, học viên còn có hoạt động tham quan thực tế tại nhà máy sản xuất của Vemedim tại Khu công nghiệp Sông Hậu, tìm hiểu phân xưởng công nghệ sinh học tiêu chuẩn quốc tế và hoạt động đánh giá chất lượng thuốc thủy sản theo tiêu chuẩn cGMP. Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp được kỳ vọng tạo thêm không gian kết nối giữa khoa học - công nghệ - sản xuất, qua đó góp phần nâng cao chuyên môn cho người nuôi và thúc đẩy ngành tôm phát triển theo hướng xanh, hiệu quả và bền vững. Vui lòng đăng ký trước ngày 09/10/2026 qua mã QR. BÌNH NGUYÊN

Đăng ký trước 09/10/2026 qua QR code


50

HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

Doanh nghiệp tôm trước nhiều kịch bản thị trường Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) Lê Hằng cho biết, doanh nghiệp thủy sản đang chủ động xây dựng phương án kinh doanh trước những biến động của thị trường. Theo ba kịch bản VASEP đưa ra, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt 11,8 - 12,5 tỷ USD, tùy diễn biến đơn hàng, sức mua và chính sách thương mại tại các thị trường lớn. Ở kịch bản cơ sở, kim ngạch dự kiến đạt 12,1 - 12,3 tỷ USD, tăng 8 - 10% so với năm 2025. Kết quả này dựa trên kỳ vọng Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản và các thị trường CPTPP duy trì ổn định, trong khi xuất khẩu sang Mỹ và EU không suy giảm mạnh. Ngành tôm tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh lớn Ảnh: ST Với ngành tôm, cạnh tranh tiếp tục là áp lực lớn, nhất là trước các quốc gia có lợi thế về chi phí và nguồn cung như Theo VASEP, dư địa tăng trưởng vẫn còn, song kết quả phụ Ecuador. Doanh nghiệp cần kiểm soát giá thành, nâng chất thuộc nhiều vào khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường biến động thị trường. HUYỀN THƯƠNG nhập khẩu, đồng thời chủ động đa dạng hóa thị trường. C.P. VIỆT NAM

TẬP ĐOÀN THĂNG LONG

Đồng hành cùng sự phát triển của Đồng Nai

Ra mắt bộ đôi sản phẩm khoáng mới

Ngày 18/8/2026, Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam và ông Pawalit Ua-amornwanit, Tổng Giám đốc Công ty, được UBND TP Đồng Nai trao Bằng khen ghi nhận những đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy hợp tác giữa Đồng Nai với các đối tác Thái Lan giai đoạn 2021 - 2026. C.P. Việt Nam chính thức đầu tư vào Việt Nam từ năm 1993. Sau hơn 30 năm, doanh nghiệp phát triển chuỗi Feed - Farm - Food, gồm sản xuất thức ăn, chăn nuôi và chế biến thực phẩm. Năm 2025, doanh nghiệp nộp ngân sách gần 1.600 tỷ đồng tại Đồng Nai, đồng thời tạo thêm việc làm cho lao động địa phương. Thời gian tới, doanh nghiệp sẽ tiếp tục ứng dụng công nghệ, tự động hóa, nâng cao kiểm soát chất lượng và sử dụng hiệu quả tài nguyên trong chuỗi sản xuất. DIỆU CHÂU

Tập đoàn Thăng Long vừa giới thiệu bộ đôi sản phẩm Super Kamag và Super Magcan, hướng đến bổ sung và cân bằng khoáng chất trong ao nuôi tôm. Super Kamag có thành phần chính là kali (K) và magiê (Mg) với hàm lượng cao, trong khi Super Magcan bổ sung canxi (Ca) và magiê (Mg). Theo doanh nghiệp, bộ đôi sản phẩm hỗ trợ khắc phục các vấn đề liên quan đến thiếu khoáng, giúp tôm lột xác và nhanh cứng vỏ. Bên cạnh đó, sản phẩm còn có khả năng hỗ trợ giảm chất hữu cơ lơ lửng, góp phần ổn định pH và cân bằng môi trường nước ao. Doanh nghiệp cho biết đây là nhóm sản phẩm mới được phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm soát khoáng chất và môi trường trong quá trình nuôi tôm. DUY MẠNH

SKRETTING VIETNAM

Kết nối tri thức thủy sản tại Hà Lan Vừa qua, tại Hà Lan, đại diện Skretting Vietnam đã có các buổi trao đổi với chuyên gia từ Wageningen University & Research (WUR), các tổ chức và đối tác trong chuỗi giá trị thủy sản. Nội dung trao đổi tập trung vào các vấn đề đang được quan tâm như quản lý, tiết kiệm nước, số hóa, dinh dưỡng, sức khỏe vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu và kinh tế tuần hoàn. Đây cũng là những yếu tố ngày càng có vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả và khả năng thích ứng của hoạt động thủy sản. Chuyến công tác là dịp để doanh nghiệp cập nhật các hướng tiếp cận mới, trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia và đối tác, đồng thời tìm kiếm các giải pháp phù hợp với thực tiễn sản xuất. NAM CƯỜNG

VIỆT ÚC

Hướng đến AquaTech 2030 Tập đoàn Việt Úc đang định hướng chuyển đổi từ doanh nghiệp thủy sản truyền thống sang Tập đoàn Công nghệ Thủy sản (AquaTech), lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng phát triển. Theo đó, doanh nghiệp tập trung xây dựng hệ sinh thái khép kín từ di truyền, sản xuất giống, thức ăn, nuôi trồng đến chế biến và dược thủy sản. Công nghệ Genomics được xác định là một trong những nền tảng quan trọng, phục vụ chọn tạo giống có tốc độ tăng trưởng, khả năng thích nghi và tỷ lệ sống cao. Giai đoạn tới, doanh nghiệp đặt mục tiêu nâng thị phần tôm giống tại Việt Nam lên 50%, đồng thời mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế. Đến năm 2030, Việt Úc hướng tới quy mô doanh nghiệp đạt 1 tỷ USD, từng bước xây dựng hệ thống công nghệ thủy sản có khả năng phục vụ cả thị trường trong nước và quốc tế. THANH HIẾU


HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 9/2026

51

SAO TA

HẢI ĐẠI VĨNH LONG

Sản lượng tôm tăng mạnh

Chung tay vì cộng đồng

Công ty CP Thực phẩm Sao Ta vừa công bố kết quả kinh doanh tháng 8/2026 với doanh thu đạt 32,1 triệu USD, giảm 13% so cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, sản lượng tôm thành phẩm đạt 3.791 tấn, tăng 31%. Trái lại, sản lượng tôm tiêu thụ trong tháng chỉ đạt 2.578 tấn, giảm 13%. Chênh lệch giữa sản lượng sản xuất và tiêu thụ cho thấy công suất chế biến được duy trì, song sức tiêu thụ vẫn chịu ảnh hưởng từ những biến động của thị trường xuất khẩu. Trong hoạt động nuôi tôm, Sao Ta cho biết các vùng nuôi tiếp tục vận hành ổn định, với năng suất thu hoạch khả quan. Doanh nghiệp bố trí lịch thả nuôi hợp lý, kết hợp thu hoạch luân phiên giữa các vùng nhằm chủ động nguồn nguyên liệu, duy trì công suất chế biến và tăng khả năng phối hợp giữa vùng nuôi với nhà máy. LÊ LOAN

Công ty TNHH Hải Đại Vĩnh Long vừa tài trợ kinh phí xây dựng Nhà Đại đoàn kết cho gia đình ông Huỳnh Tấn Tài, ấp Hòa Thạnh 2, xã Phú Quới, tỉnh Vĩnh Long, góp phần giúp hộ còn khó khăn có chỗ ở ổn định, an toàn hơn. Công trình được triển khai với sự chấp thuận, phối hợp của chính quyền địa phương cùng sự chung tay của người dân. Sau thời gian xây dựng, ngôi nhà đã hoàn thành, mang đến cho gia đình ông Tài một mái ấm khang trang, vững chắc hơn. Nhân dịp này, doanh nghiệp cũng trao tặng gia đình một số phần quà, góp phần động viên tinh thần và hỗ trợ gia đình ổn định cuộc sống. Hoạt động nằm trong chương trình đồng hành cùng các hoạt động an sinh xã hội tại địa phương của Hải Đại Vĩnh Long.

GROWMAX

CẨM PHẢ

Trao học bổng cho học sinh vùng ven biển

Đầu tư nuôi tôm 3 giai đoạn

Sáng 5/9/2026, Tập đoàn GrowMax tổ chức trao học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại một số trường học vùng ven biển An Giang, nhân dịp khai giảng năm học 2026 - 2027. Hoạt động nằm trong chương trình của Quỹ Khuyến học GrowMax nhằm hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Trong đợt này, GrowMax trao 15 suất học bổng, mỗi suất 1 triệu đồng, cho học sinh Trường THCS và THPT Ba Hòn (xã Kiên Lương); đồng thời trao 10 suất tại Trường Tiểu học Tô Châu - phân hiệu 2 (phường Tô Châu). Các suất học bổng được trao vào đầu năm học, góp phần hỗ trợ chi phí học tập và động viên học sinh tiếp tục đến trường. Quỹ Khuyến học GrowMax được thành lập từ năm 2022, với tổng trị giá 8 tỷ đồng. PHƯƠNG LINH

Được đầu tư đồng bộ trên diện tích gần 8 ha tại xã Hải Hòa (tỉnh Quảng Ninh), Hợp tác xã (HTX) Nuôi tôm công nghệ cao Cẩm Phả hiện có 12 ao trong nhà bạt, vận hành theo công nghệ 3 giai đoạn. Các ao có diện tích từ 200 - 1.000 m²; riêng một ao thương phẩm bằng bể xi măng rộng 1.000 m² được đầu tư khoảng 4,6 tỷ đồng. Nhờ quy trình khép kín, sau khoảng 90 ngày, tôm thu hoạch đạt kích cỡ khoảng 30 con/kg. Toàn bộ quá trình sản xuất được số hóa, kết hợp hệ thống xử lý nước cấp và nước thải đồng bộ, giúp kiểm soát môi trường, hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất. Mô hình nuôi trong nhà bạt cho phép sản xuất quanh năm. Hệ số quay vòng đạt từ 7 - 9 vụ/năm, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng hạ tầng và gia tăng sản lượng. NGUYỄN AN

TRƯỜNG THỦY SẢN, ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÂN HƯNG

Gắn kết đào tạo với thực tiễn

Hướng tới vùng tôm đạt chuẩn ASC

Chiều 25/8/2026, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ tổ chức tọa đàm “Nâng cao hiệu quả thực tập rèn nghề và chất lượng đào tạo ngành thủy sản”. Tại tọa đàm, đại diện Trường Thủy sản chia sẻ về chương trình đào tạo và công tác chuẩn bị cho sinh viên thực tập, rèn nghề. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp, nhà tuyển dụng trao đổi về yêu cầu thực tế đối với sinh viên, từ kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề đến tác phong làm việc. Các ý kiến tại buổi tọa đàm góp phần tăng cường kết nối giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đồng thời giúp nhà trường có thêm cơ sở điều chỉnh chương trình theo yêu cầu của thị trường lao động. Tọa đàm cũng mở thêm cơ hội hợp tác giữa Đại học Cần Thơ và doanh nghiệp trong đào tạo, thực tập, rèn nghề, góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành thủy sản. THẢO ANH

HTX Nuôi tôm năng suất cao Tân Hưng (tỉnh Cà Mau) thường xuyên phối hợp với các cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho thành viên. Nội dung tập trung vào kỹ thuật nuôi năng suất cao, quản lý môi trường, phòng trị bệnh, sử dụng chế phẩm sinh học... Qua đó, nhiều hộ từng bước thay đổi tập quán, nâng cao hiệu quả sản xuất. Để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, HTX đang phối hợp với Tập đoàn Doanh nghiệp xã hội Minh Phú xây dựng vùng nuôi đạt chứng nhận ASC. Theo kế hoạch năm 2026, HTX tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, đồng thời mở rộng thêm 700 ha nuôi tôm quảng canh cải tiến hai giai đoạn hướng tới chứng nhận này. Việc phát triển vùng nuôi đạt ASC được kỳ vọng nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu. THANH HIẾU

DUY AN


52

MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH

CON TÔM THÁNG 9/2026

Khôi phục lợi thế từ mô hình nuôi tôm sú tại Quảng Trị Nuôi tôm sú 2 giai đoạn gắn với liên kết sản xuất, tiêu thụ đang cho hiệu quả tích cực tại Quảng Ninh và Vĩnh Thủy, mở hướng nâng cao hiệu quả sản xuất.

Thay đổi tư duy sản xuất

Kiểm tra tôm và đánh giá kết quả nuôi tại mô hình nuôi tôm sú 2 giai đoạn

Nhiều ưu việt

Khác với phương thức thả giống nuôi trực tiếp, tôm giống ở giai đoạn đầu được ương với mật độ 800 - 1.200 con/m2 trong ao hoặc bể có lưới che trước khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm. Sau khoảng 25 - 30 ngày ương nuôi, tôm đạt kích cỡ 1.500 - 2.500 con/kg thì chuyển sang ao nuôi thương phẩm. Kết quả, tại các điểm thực hiện mô hình ở các xã Vĩnh Thủy và Quảng Ninh, sau 95 - 130 ngày nuôi, tôm đạt kích cỡ từ 30 - 32 con/kg, tỷ lệ sống trên 80%, sản lượng thu hoạch từ 2,3 - 3,1 tấn/0,5 ha. Trừ chi phí, lợi nhuận đạt từ 200 - 250 triệu đồng/0,5 ha. Là một trong những hộ dân tham gia mô hình, anh Trần Khả Năng ở thôn Trúc Ly, xã Quảng Ninh cho biết, sau nhiều năm gắn bó với nghề nuôi tôm, năm 2026, anh đã quyết định thay đổi phương thức sản xuất, bằng việc triển khai mô hình nuôi

Ảnh: Lan Anh

tôm sú 2 giai đoạn gắn với chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Dưới sự hướng dẫn tận tình của các cán bộ Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị, trên diện tích 0,5 ha anh Năng thả nuôi 12,5 vạn con giống. Sau gần 4 tháng nuôi, tôm đạt kích cỡ bình quân 30 con/kg, tỷ lệ sống trên 85%, sản lượng thu hoạch trên 3,1 tấn. Trừ chi phí, mô hình cho lợi nhuận trên 250 triệu đồng. Để đạt được kết quả này, theo anh Năng, ngoài quy trình nuôi 2 giai đoạn, một điểm mới của mô hình đó là lần đầu tiên giống tôm sú gia hóa Moana được đưa vào nuôi. Ông Phan Văn Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị chia sẻ, giống tôm sú gia hóa Moana là giống được thuần hóa, chọn lọc qua nhiều thế hệ nhằm duy trì những đặc tính di truyền ưu việt như khả năng sinh trưởng nhanh, sức khỏe tốt, thích nghi với điều kiện môi trường, kích cỡ đồng đều.

Bên cạnh sử dụng con giống chất lượng, quy trình nuôi tôm sú 2 giai đoạn cũng giúp người nuôi thay đổi cách tổ chức sản xuất. Anh Nguyễn Hải Khôi ở thôn Huỳnh Xá, xã Vĩnh Thủy là một trường hợp điển hình. Anh được hướng dẫn đầu tư đồng bộ hệ thống ao xử lý, ao ương và ao thương phẩm, đáp ứng yêu cầu về xử lý nước, quản lý môi trường và an toàn sinh học. Anh Khôi tâm sự, trước đây việc kiểm soát môi trường ở giai đoạn đầu vụ gặp nhiều khó khăn, tôm nhỏ, sức đề kháng yếu nên dễ bị ảnh hưởng khi môi trường biến động hoặc phát sinh dịch bệnh. Sau khi áp dụng quy trình hai giai đoạn, người nuôi chủ động kiểm soát môi trường, theo dõi sức khỏe tôm và giảm nguy cơ dịch bệnh, giúp tôm thích nghi tốt hơn trước khi bước vào giai đoạn nuôi thương phẩm. Chia sẻ về hiệu quả của mô hình, anh Khôi cho biết, sau 100 ngày nuôi, tôm nuôi đạt kích cỡ bình quân từ 30 - 32 con/ kg. Sản lượng dự kiến đạt trên 2,4 tấn. Trừ chi phí, cho lợi nhuận trên 240 triệu đồng. Ông Hoàng Việt Thịnh, Phó Trưởng phòng Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị, nhận định: “Mô hình nuôi tôm sú thâm canh hai giai đoạn là hướng ứng dụng khoa học công nghệ phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay. Kết quả bước đầu tại Vĩnh Thủy cho thấy mô hình có tính khả thi và cần tiếp tục được theo dõi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật để có cơ sở nhân rộng trong thời gian tới”. VÂN ANH


MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH

CON TÔM THÁNG 9/2026

53

BRAZIL

Nuôi tôm trên vùng đất khô hạn mở hướng đi mới Nông dân vùng Đông Bắc Brazil đã chuyển sang nuôi tôm như một nguồn sinh kế thay thế, tận dụng nguồn tài nguyên bản địa và hợp tác thông qua các mô hình liên kết.

Thay đổi đến từ các ao nuôi tôm

Cuộc đời của bà Rejane Madalena de Alcântara, đến từ Coité do Nóia thuộc vùng nội địa bang Alagoas, đã thay đổi nhờ quyết định vào năm 2018 của người em trai, khi ấy đang làm giáo viên một trường công trên địa bàn. Sau khi nghe học sinh kể về nghề này, ông đã dùng một phần tiền lương để xây dựng những ao nuôi đầu tiên. Sản lượng và thu nhập khả quan thúc đẩy ông thuyết phục 8 người anh chị em còn lại, trong đó có bà Rejane, cùng tham gia. Khu đất của người cha đã qua đời đã được cải tạo thành một cơ sở nuôi tôm của gia đình. Tính tới tháng 2/2026, gia đình đã vận hành 29 ao nuôi. Mỗi gia đình quản lý một khu vực, tạo sự gắn kết giữa các thế hệ. Thu nhập từ các ao nuôi tôm được bà Rejane dùng để trang trải chi phí gia đình và trả phí trị liệu cho một người con trai. Nguồn thu từ nuôi tôm giúp thay đổi cuộc sống của cả gia đình.

trên vùng đất bán khô hạn Brazil được triển khai dưới sự hợp tác của Bộ Nghề Cá và Nuôi trồng Thủy sản Brazil và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO). Nông dân tại sáu thị trấn thuộc vùng nội địa bang Alagoas, một trong những nơi nghèo nhất ở Brazil, được đào tạo kỹ thuật, hỗ trợ thiết bị và công cụ số để giám sát, gia tăng sản lượng. Kỹ sư thủy sản Iury Amorim là một trong những người đầu tiên nhận thấy tiềm năng nuôi tôm tại Alagoas. Nguồn nước lợ của vùng bán khô hạn không phù hợp cho tưới tiêu hay sinh hoạt nhưng lại rất phù hợp với việc nuôi tôm biển. Vì vậy, anh Iury Amorim đã xây dựng ao nuôi tôm đầu tiên trên khu đất của gia đình. Thành công của anh khuyến khích các nông hộ khác, từ đó Hiệp hội những người nuôi tôm bang Alagoas được thành lập. Hiệp hội quy tụ hơn 80 nông hộ với khoảng 180 ao nuôi. Từ các ao nuôi này, hơn 1.000 tấn Lời giải cho nhiều bài toán khó tôm được nuôi mỗi năm. Dự án hỗ trợ các nông hộ nhỏ nuôi tôm Theo các chuyên gia, nuôi tôm ở vùng khô hạn là một hướng đi mới của nuôi tôm bền vững. Công nghệ có thể tác động vào hệ thống ao nuôi, tạo ra lượng khoáng cần thiết giúp tôm sinh trưởng. Điều đáng nói, nếu nuôi tôm ở nơi nhiều nước, sự tác động này lại khó thực hiện hơn. Vì vậy, các chuyên gia cho rằng, công nghệ đổi mới sáng tạo này có ý nghĩa quan trọng trong việc cân bằng phát triển ngành thủy sản với gìn giữ môi trường sống, góp phần giải quyết hai vấn đề: an ninh lương thực và an ninh nguồn nước.

Sinh kế bền vững từ nghề nuôi tôm đã đưa anh Marinho Eduardo Martins về với quê hương. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nông nghiệp tại Arapiraca, bang Alagoas, do năng suất trồng sắn, đậu, thuốc lá và dứa thấp, anh Marinho phải lên thành phố làm công nhân. Sau khi tham gia một chuyến học hỏi kinh nghiệm và chứng kiến ​​t hành công của những người nuôi tôm lân cận, anh quyết định đầu tư vào mô hình này. Hai ao nuôi tôm của gia đình anh được thu hoạch theo chu kỳ từ 60 - 90 ngày, mang đến nguồn thu nhập ổn định. Dự án cũng hỗ trợ quản lý và kỹ thuật, giúp anh cải thiện năng suất. “Nếu được sống trong môi trường tốt, tôm sẽ khỏe mạnh và phát triển tốt. Tôi sử dụng các vật tư chất lượng cao cho ao nuôi tôm nhưng đến nay chưa hề bị thua lỗ”, anh Marinho chia sẻ.

Tại Đông Bắc Brazil, nghề nuôi tôm đang giúp hàng trăm gia đình nông thôn cải thiện sinh kế

Ảnh: FAO

KHÁNH AN


54

ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG

CON TÔM THÁNG 9/2026

Ảnh: Nguyễn Hoàn

Các bước kiểm tra ao trước khi cho ăn

Kiểm tra ao trước mỗi cữ ăn giúp người nuôi điều chỉnh khẩu phần sát với sức ăn của tôm, hạn chế thức ăn thừa, giảm tích tụ chất hữu cơ và giữ môi trường ổn định.

Đánh giá hoạt động của tôm

Tôm khỏe thường phản ứng nhanh với thức ăn, có xu hướng tập trung và bắt mồi tương đối đồng đều. Ngược lại, tôm giảm vận động, phản ứng chậm, phân đàn hoặc xuất hiện nhiều cá thể yếu là những dấu hiệu cần lưu ý. Người nuôi cũng nên kiểm tra màu sắc, hình thái bên ngoài, đường ruột và gan tụy nếu có điều kiện lấy mẫu. Những bất thường như đường ruột không đầy, phân trắng, gan tụy teo hoặc nhạt màu cần được xem xét cùng các chỉ tiêu môi trường thay vì chỉ điều chỉnh lượng thức ăn. Điều quan trọng là không đánh giá sức khỏe tôm chỉ dựa vào lượng thức ăn còn lại. Tôm có thể giảm ăn do nhiều nguyên nhân, từ biến động nhiệt độ, pH, độ mặn, ôxy hòa tan đến chất lượng nước, stress hoặc vấn đề sức khỏe.

Đo các chỉ tiêu môi trường

Trước cữ ăn, nên kiểm tra những chỉ tiêu có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến

hoạt động và khả năng bắt mồi của tôm. Trong đó, ôxy hòa tan (DO), nhiệt độ, pH, độ kiềm và độ mặn là những thông số cần được theo dõi thường xuyên. Ôxy hòa tan cần đặc biệt chú ý vào ban đêm và gần sáng, khi quá trình hô hấp của tôm, vi sinh vật và tảo làm lượng ôxy trong nước giảm. Nếu ôxy thấp, tôm dễ bị stress, giảm hoạt động và bắt mồi kém. Khi đó, việc tăng thức ăn có thể làm lượng chất hữu cơ tiếp tục tích tụ và tạo thêm áp lực cho ao. Nhiệt độ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu và khả năng sử dụng thức ăn. Khi nhiệt độ biến động mạnh hoặc ở mức bất lợi, hoạt động trao đổi chất của tôm thay đổi, khả năng tiêu hóa và bắt mồi có thể giảm. pH và độ kiềm cần được theo dõi để phát hiện những biến động của môi trường. Sau mưa lớn, pH có thể thay đổi nhanh, trong khi độ kiềm thấp khiến khả năng đệm của nước giảm. Nếu các chỉ tiêu chưa ổn định, cần ưu tiên xử lý môi trường thay vì cố duy trì lượng thức ăn theo kế hoạch.

Kiểm tra màu nước và đáy ao

Nước có dấu hiệu quá đục, quá trong, thay đổi màu nhanh, xuất hiện nhiều bọt lâu tan, váng hoặc mùi bất thường đều cần được kiểm tra. Đây có thể là dấu hiệu hệ sinh thái trong ao đang mất cân bằng hoặc lượng chất hữu cơ tăng cao. Đáy ao cần được quan sát thông qua màu bùn, lượng chất thải và khả năng tích tụ thức ăn thừa. Nếu khu vực đáy xuất hiện nhiều chất hữu cơ, nước có mùi bất thường hoặc tôm có dấu hiệu tập trung ở vùng đáy không thuận lợi, cần xem xét lại lượng thức ăn và quy trình quản lý đáy.

Quan sát sàng ăn

Với ao sử dụng sàng ăn, đây là công cụ quan trọng để đánh giá sức ăn thực tế của tôm. Sàng nên được đặt ở vị trí phù hợp, dễ kiểm tra và đại diện cho khu vực tôm hoạt động. Sau thời gian cho ăn theo quy trình của trang trại, người nuôi kiểm tra lượng thức ăn còn lại, tình trạng thức ăn và hoạt động


ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG

CON TÔM THÁNG 9/2026

của tôm quanh sàng. Không nên chỉ nhìn số lượng viên thức ăn mà cần xem thức ăn còn nguyên, mềm, vỡ hay đã bị phân hủy. Nếu thức ăn còn nhiều, cần xác định nguyên nhân trước khi quyết định cữ tiếp theo. Trong trường hợp tôm bắt mồi tốt nhưng lượng thức ăn còn rất ít, có thể cân nhắc điều chỉnh tăng theo quy trình quản lý của ao. Ngược lại, nếu thức ăn thừa nhiều hoặc tôm giảm hoạt động, nên giảm lượng cho ăn và kiểm tra lại môi trường.

Căn cứ diễn biến thời tiết

Thời tiết có thể thay đổi nhanh và tác động trực tiếp đến môi trường ao. Vì vậy, trước khi cho ăn, người nuôi nên xem xét diễn biến thời tiết trong ngày, đặc biệt khi có mưa, nắng nóng, gió mạnh hoặc thay đổi nhiệt độ lớn. Sau mưa, tôm thường dễ chịu tác động bởi sự thay đổi nhiệt độ, pH, độ mặn và độ kiềm. Trong những thời điểm này, không nên duy trì khẩu phần như ngày bình

55

thường. Tương tự, khi nắng nóng kéo dài, thể giúp hạn chế thức ăn dư và giảm tải nhiệt độ nước tăng có thể làm nhu cầu ôxy cho hệ thống. của hệ thống tăng lên. Đặc biệt, không nên điều chỉnh lượng thức ăn quá mạnh chỉ dựa trên một lần Quyết định lượng thức ăn kiểm tra. Nên theo dõi liên tục qua các cữ Sau khi hoàn thành các bước kiểm ăn để nhận biết xu hướng và điều chỉnh tra, người nuôi mới đưa ra quyết định về từng bước. lượng thức ăn cho cữ tiếp theo. Có thể chia thành ba tình huống cơ bản: tôm Ghi chép để quản lý theo khỏe, môi trường ổn định; tôm giảm ăn xu hướng Mỗi lần kiểm tra, người nuôi nên ghi nhưng chưa có dấu hiệu bất thường rõ; và tôm có dấu hiệu bất thường kèm biến lại các thông tin cơ bản như thời điểm cho ăn, lượng thức ăn, lượng thức ăn còn trên động môi trường. Ở trường hợp thứ nhất, có thể duy trì sàng, DO, nhiệt độ, pH, độ mặn, thời tiết khẩu phần theo kế hoạch và tiếp tục theo và nhận xét về hoạt động của tôm. Những ghi chép này giúp đối chiếu dõi sàng ăn. Với trường hợp tôm giảm ăn, cần giảm lượng thức ăn phù hợp và tăng giữa lượng thức ăn và phản ứng thực tế cường theo dõi thay vì cố cho ăn đủ khẩu của tôm. Chẳng hạn, nếu lượng ăn giảm liên tục cùng thời điểm pH hoặc độ mặn phần dự kiến. Nếu tôm có biểu hiện bất thường rõ rệt biến động, người nuôi có thể nhanh hoặc môi trường đang biến động mạnh, chóng nhận ra mối liên hệ và kiểm tra cần ưu tiên xác định và xử lý nguyên nguyên nhân. nhân. Việc tạm giảm hoặc ngưng cho ăn NGUYỄN HẰNG trong một khoảng thời gian phù hợp có

 SÁCH KỸ THUẬT

 BÁCH KHOA THƯ

Kỹ thuật ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng theo công nghệ Biofloc

Tôm cẩm thạch

Là tài liệu chuyên ngành cung cấp kiến thức và hướng dẫn thực hành về ứng dụng công nghệ Biofloc trong giai đoạn ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng. Nội dung tập trung vào các nguyên lý cơ bản của hệ thống Biofloc, quản lý chất lượng nước, tạo và duy trì floc, kiểm soát thức ăn, mật độ ương và các yếu tố môi trường trong suốt quá trình sản xuất. Tài liệu góp phần giúp người học và người sản xuất hiểu rõ hơn cơ chế hoạt động của hệ thống, chủ động kiểm soát môi trường và nâng cao hiệu quả ương giống. Sách được thực hiện trong khuôn khổ Dự án Nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ VN14-P6, với sự phối hợp và hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, cán bộ kỹ thuật, cơ sở sản xuất giống và những người quan tâm đến công nghệ Biofloc trong nuôi trồng thủy sản. NGUYỄN HẰNG

Tôm cẩm thạch (Saron marmoratus) là một loài giáp xác nhỏ sống phổ biến trong các rạn san hô Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Điều khiến nó nổi bật không nằm ở kích thước - chỉ dài vài centimet - mà ở lớp vỏ mang những hoa văn phức tạp, đan xen giữa nâu, trắng, tím và xanh, tạo cảm giác như những đường vân đá cẩm thạch tự nhiên. Saron marmoratus có khả năng thay đổi sắc độ cơ thể để hòa lẫn với môi trường xung quanh. Khả năng ngụy trang linh hoạt này giúp nó tránh khỏi các loài săn mồi như cá lớn, đồng thời tiếp cận con mồi một cách hiệu quả. Tôm cẩm thạch là loài hoạt động về đêm. Ban ngày, chúng thường ẩn nấp trong các khe đá hoặc dưới tán san hô; buổi tối, chúng bắt đầu di chuyển để tìm kiếm thức ăn. Trong thế giới thủy sinh cảnh, tôm cẩm thạch được nhiều người chơi bể cá ưa chuộng nhờ vẻ đẹp độc đáo và hành vi thú vị. NAM CƯỜNG


56

HỎI - ĐÁP

CON TÔM THÁNG 9/2026

HỎI - ĐÁP  Hỏi: Khi thời tiết nắng nóng kéo dài, cần điều chỉnh việc chăm sóc tôm như thế nào? (Trần Công Nam, xã Kim Đông, tỉnh Ninh Bình) Trả lời: Khi nắng nóng kéo dài, cần ưu tiên ổn định môi trường nước, duy trì hàm lượng ôxy hòa tan và giảm các yếu tố gây stress cho tôm. Người nuôi nên theo dõi thường xuyên nhiệt độ, pH, hàm lượng ôxy hòa tan, độ kiềm và các chỉ tiêu phù hợp với từng đối tượng. Tăng cường quạt nước, sục khí, nhất là vào ban đêm và sáng sớm, để hạn chế thiếu ôxy. Đồng thời, cần điều chỉnh lượng thức ăn theo sức ăn thực tế. Có thể chia nhỏ các cữ ăn, ưu tiên thời điểm nhiệt độ nước thấp hơn và kiểm tra sàng ăn thường xuyên. Trong những ngày nhiệt độ cao, hạn chế các thao tác gây xáo trộn mạnh như kéo lưới, san chuyển hoặc thay nước đột ngột. Khi cần cấp hoặc thay nước, nên thực hiện từ từ và bảo đảm nguồn nước đầu vào đạt yêu cầu. Bên cạnh đó, cần tăng cường theo dõi sức khỏe tôm để phát hiện sớm dấu hiệu giảm ăn, stress hoặc bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời.  Hỏi: Dấu hiện để nhận biết tôm trong ao đang mắc bệnh? (Nguyễn Công Phương, xã Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) Trả lời: Những dấu hiệu bên ngoài có thể giúp phát hiện sớm tôm mắc bệnh gồm: tôm giảm hoặc bỏ ăn, bắt mồi chậm; hoạt động bất thường, bơi lờ đờ, nổi hoặc dạt vào bờ; phân bố

không đều trong ao; màu sắc cơ thể thay đổi, thân đục hoặc nhợt nhạt; vỏ mềm, có các đốm hoặc vùng đổi màu bất thường; gan tụy nhạt màu hoặc teo nhỏ khi quan sát qua lớp vỏ; đường ruột đứt đoạn, rỗng hoặc phân bất thường; tôm chậm lớn, kích cỡ không đồng đều. Một số trường hợp tôm có thể mòn đuôi, cụt râu, đen mang, đỏ thân hoặc xuất hiện các tổn thương trên vỏ. Tuy nhiên, các dấu hiệu này không phải lúc nào cũng đặc trưng cho một bệnh cụ thể. Khi tôm có biểu hiện bất thường, người nuôi cần kết hợp theo dõi lượng thức ăn, tỷ lệ chết, màu nước và các chỉ tiêu môi trường như hàm lượng ôxy hòa tan, pH, độ kiềm, NH₃, H₂S để đánh giá nguyên nhân. Nếu tôm giảm ăn kéo dài, chết tăng hoặc xuất hiện dấu hiệu bất thường rõ rệt, nên lấy mẫu kiểm tra để xác định tác nhân trước khi sử dụng thuốc hoặc hóa chất.  Hỏi: Những ngày gần đây, mặt nước ao tôm xuất hiện nhiều bọt nhớt, váng bẩn, lợn cợn. Hiện tượng này do nguyên nhân nào và cần xử lý ra sao? (Phạm Đình Chương, xã Núi Thành, TP Đà Nẵng) Trả lời: Hiện tượng mặt nước ao tôm xuất hiện nhiều bọt nhớt, váng bẩn và lợn cợn thường liên quan đến sự tích tụ chất hữu cơ, thức ăn dư thừa, phân tôm và xác tảo trong nước. Khi hàm lượng chất hữu cơ tăng cao, hoạt động phân hủy diễn ra mạnh, làm nước ao dễ phát sinh bọt, váng và các hạt lơ lửng. Hiện tượng này cũng có thể xuất hiện khi tảo phát triển dày, tảo tàn hoặc hệ vi sinh trong ao hoạt

động kém, khiến chất hữu cơ không được phân giải hiệu quả. Khi phát hiện, cần kiểm tra các chỉ tiêu môi trường. Tăng cường quạt nước, sục khí để nâng ôxy và tạo dòng chảy gom chất thải về khu vực thu gom. Đồng thời, kiểm tra và điều chỉnh lượng thức ăn theo sức ăn thực tế của tôm, tránh dư thừa. Có thể xi phông đáy, loại bỏ bùn và chất hữu cơ tích tụ nếu điều kiện cho phép; bổ sung chế phẩm sinh học phù hợp để hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ và ổn định môi trường.  Hỏi: Làm thế nào để hạn chế khí độc NH₃, H₂S trong ao? (Lê Văn Hòa, xã Đại Lãnh, tỉnh Khánh Hòa) Trả lời: Trước hết, người nuôi cần cho ăn phù hợp, tránh dư thừa; định kỳ kiểm tra các chỉ tiêu như pH, hàm lượng ôxy hòa tan, NH₃, H₂S để kịp thời điều chỉnh. Duy trì ôxy hòa tan ổn định, nhất là ban đêm và sáng sớm, giúp hạn chế điều kiện hình thành H₂S. Bên cạnh đó, cần quản lý chất hữu cơ trong ao thông qua siphon, thu gom chất thải và kiểm soát bùn đáy. Có thể sử dụng chế phẩm sinh học phù hợp để hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ, nhưng cần lựa chọn sản phẩm rõ nguồn gốc và sử dụng đúng hướng dẫn. Đối với NH₃, duy trì pH ở mức phù hợp, hạn chế biến động pH trong ngày và kiểm soát lượng thức ăn là những biện pháp quan trọng. Khi khí độc tăng cao, cần xác định nguyên nhân và xử lý từng yếu tố thay vì chỉ tập trung vào việc thay nước. BAN KHKT


CON TÔM THÁNG 9/2026

HỎI - ĐÁP

57


58

CON TÔM THÁNG 9/2026


CON TÔM THÁNG 9/2026

59


60

CON TÔM THÁNG 9/2026


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
CON TOM 177 (2) by Thủy sản Việt Nam Website - Issuu