Skip to main content

CON TOM 175

Page 1

CON TÔM THÁNG 7/2026

ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM www.contom.vn

CÔNG NGHỆ TÁI ĐỊNH HÌNH NGÀNH TÔM

VIETNAM SHRIMP NEWS THÁNG 7/2026

(16-17)


2

CON TÔM THÁNG 7/2026


CON TÔM THÁNG 7/2026

3


4

CON TÔM THÁNG 7/2026


CON TÔM THÁNG 7/2026

5


6

CON TÔM THÁNG 7/2026


CON TÔM THÁNG 7/2026

7


8 THƯ BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 7/2026

Đặc san CON TÔM Hội Thủy sản Việt Nam

Thưa Quý vị bạn đọc! Những tháng giữa năm luôn là giai đoạn nhiều thử thách đối với nghề nuôi tôm. Thời tiết diễn biến khó lường, mưa nắng thất thường, dịch bệnh tiềm ẩn, trong khi chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ vẫn còn nhiều biến động, tạo áp lực không nhỏ lên hoạt động sản xuất. Điều này đòi hỏi người nuôi, doanh nghiệp và các đơn vị trong chuỗi giá trị phải chủ động thích ứng, nâng cao năng lực quản lý để giảm thiểu rủi ro và duy trì hiệu quả. Trong bối cảnh đó, việc giữ vững đà tăng trưởng của ngành không chỉ phụ thuộc vào sản lượng mà còn đòi hỏi những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Từ quản lý môi trường ao nuôi, kiểm soát dịch bệnh, sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào đến (16-17) nâng cao chất lượng sản phẩm, mỗi khâu đều cần được tổ chức khoa học và linh hoạt hơn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Bên cạnh các giải pháp về quản lý và kỹ thuật, ứng dụng công nghệ đang trở thành xu hướng rõ nét của ngành tôm. Các thiết bị giám sát môi trường, hệ thống cho ăn tự động, nền tảng quản lý dữ liệu cùng nhiều giải pháp số đang từng bước hiện diện ở nhiều khâu sản xuất, góp phần tối ưu chi phí, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế, quy mô đầu tư và nhu cầu của từng mô hình nuôi. Đây là những nội dung trọng tâm mà Đặc san Con Tôm phát hành số tháng 7/2026 gửi đến quý bạn đọc thông qua các bài phân tích, ghi nhận từ thực tiễn sản xuất nhằm góp thêm thông tin tham khảo cho người nuôi, doanh nghiệp và các đơn vị hoạt động trong ngành. Bên cạnh đó, ấn phẩm tiếp tục cập nhật những diễn biến mới của thị trường tôm trong nước và thế giới, các tiến bộ kỹ thuật, mô hình sản xuất hiệu quả cùng nhiều thông tin chuyên ngành hữu ích. Rất mong tiếp tục được đồng hành cùng quý vị! Trân trọng! CON TÔM THÁNG 7/2026

CHỦ NHIỆM TS. Phạm Anh Tuấn

ĐẶC SAN CỦA HỘI THỦY SẢN VIỆT NAM www.contom.vn

PHỤ TRÁCH Đỗ Huy Hoàn, Phó Tổng Biên tập BAN BIÊN TẬP Dương Xuân Hùng, Cố vấn Phạm Thu Hồng, Nhà báo THƯ KÝ TÒA SOẠN Nhà báo Kim Tiến CỘNG TÁC NỘI DUNG Hải Đăng, Vũ Mưa, Anh Thư, Thảo Linh, Lê Cung, Phạm Duy Tương, Phan Thanh Cường, Nguyễn Anh, Lê Hoàng Vũ, Mai Xuân Trường KỸ THUẬT VI TÍNH Phạm Dương TÒA SOẠN Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 028.62777616 Email: toasoan.contom@gmail.com Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội Điện thoại: 0243.7713699 LIÊN HỆ QUẢNG CÁO TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM Điện thoại: 0243.7713699 DĐ: 083.661.5993 Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn ĐẶT MUA TẠP CHÍ Điện thoại: 0243.771.1756 Email: vuna@thuysanvietnam.com.vn TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG Tên tài khoản: TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM Số: 3106566688 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh

Ấn phẩm LHNB

VIETNAM SHRIMP NEWS THÁNG 7/2026

CÔNG NGHỆ TÁI ĐỊNH HÌNH NGÀNH TÔM

BAN BIÊN TẬP

Hộp thư Tòa soạn luôn hoan nghênh sự đóng góp và các bài viết đặc sắc về ngành tôm từ các CTV, bạn đọc gần xa. Thư và bài vở xin gửi về: Tạp chí Thủy sản Việt Nam - Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội Điện thoại: 0243.7713699 Email: toasoan.contom@gmail.com Hoặc liên hệ trực tiếp theo số điện thoại: 0374 099 498 (Ms. Kim Tiến) Website: www.thuysanvietnam.com.vn  www.contom.vn


CON TÔM THÁNG 7/2026

NỘI DUNG

Theo dòng thời sự T14-15: Giữ nhịp tăng trưởng trước biến động thời tiết

Vấn đề - Sự kiện T16-17: Công nghệ tái định hình ngành tôm

Tòa soạn - Bạn đọc T18-19: Siết chặt quản lý vi phạm trong lĩnh vực giống thủy sản

Thị trường xuất khẩu T24-25: Xuất khẩu tôm tăng mạnh, cơ hội mở từ EFTA

14

Nhìn ra thế giới T30: Nutraceuticals: Hướng tới nuôi tôm bền vững

Thức ăn - Dinh dưỡng T36-37: Cho ăn thông minh thúc đẩy tăng trưởng tôm sú

Khoa học - Kỹ thuật T38: Phòng bệnh đầu vàng trên tôm T39: Chủ động quản lý rủi ro trước mùa mưa bão

18

Thông tin doanh nghiệp T40: Các bước chuẩn bị trước khi thả giống T41: Xử lý phèn trong ao nuôi T42-43: Thức ăn tôm C.P.: Giải pháp dinh dưỡng hướng đến tôm kích cỡ lớn, FCR thấp T44-45: Đồng hành cùng người nuôi tôm

Mô hình điển hình T52: Quảng Ninh: Mở hướng làm giàu từ nuôi tôm công nghệ cao T53: Ecuador: Nuôi tôm gắn với phục hồi hệ sinh thái

Đồng hành cùng nhà nông T54-55: Sử dụng hiệu quả chế phẩm sinh học

37

9


10 TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 7/2026

QUẢNG NINH

HÀ TĨNH

Tăng cường liên kết phát triển ngành tôm

Người nuôi thận trọng xuống giống

Quảng Ninh đang đẩy mạnh tái cơ cấu ngành tôm theo hướng nâng cao chất lượng, tập trung phát triển các mô hình nuôi công nghệ cao, thâm canh và siêu thâm canh gắn với tiêu chuẩn an toàn sinh học và bảo vệ môi trường. Theo đó, tỉnh khuyến khích chuyển từ phương thức nuôi quảng canh sang sản xuất có kiểm soát chặt chẽ con giống, thức ăn, môi trường nước và quy trình chăm sóc, góp phần giảm rủi ro dịch bệnh, nâng cao năng suất và chất lượng. Cùng với chuyển đổi phương thức sản xuất, Quảng Ninh cũng quy hoạch các vùng nuôi tập trung, đầu tư đồng bộ hạ tầng điện, giao thông, cấp thoát nước và hệ thống xử lý môi trường. Đồng thời, địa phương khuyến khích người dân tham gia hợp tác xã, tổ hợp tác và liên kết chuỗi với doanh nghiệp, hướng tới phát triển ngành tôm bền vững. Đặc biệt, tỉnh thúc đẩy ứng dụng công nghệ như quan trắc môi trường tự động, tuần hoàn nước và các giải pháp sinh học nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng tôm và tăng khả năng cạnh tranh.

Trước áp lực chi phí sản xuất tăng trong khi giá tôm thương phẩm chưa cải thiện, nhiều hộ nuôi tại Hà Tĩnh đã chủ động giảm mật độ thả, giãn thời gian xuống giống và điều chỉnh kế hoạch sản xuất để hạn chế rủi ro. Ông Bùi Quang Liện (thôn Thanh Long, xã Thạch Khê) cho biết gia đình đang tập trung chăm sóc để đưa tôm đạt cỡ khoảng 35 con/kg nhằm nâng giá bán. Thời gian tới, ông sẽ thả nuôi gối vụ để tránh áp lực tiêu thụ cùng thời điểm, đồng thời lựa chọn nguồn thức ăn có giá phù hợp nhằm giảm chi phí. Theo ghi nhận, nhiều hộ nuôi trên địa bàn cũng đang cân nhắc thu hẹp quy mô sản xuất trong các vụ tiếp theo. Theo bà Nguyễn Thị Hoài Thúy, Trưởng phòng Quản lý nuôi trồng thủy sản, Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh, đối với những ao bảo đảm điều kiện môi trường và an toàn dịch bệnh, người dân không nên thu hoạch ồ ạt mà có thể bán tỉa từng đợt, kéo dài thời gian nuôi để tôm đạt cỡ lớn hơn (dưới 30 con/kg), qua đó nâng cao giá trị sản phẩm.

NINH BÌNH

ĐÀ NẴNG

Hướng đi hiệu quả từ mô hình nhà màng

Đổi mới kỹ thuật để tối ưu chi phí

Mạnh dạn chuyển đổi từ phương thức nuôi truyền thống, ông Nguyễn Đoan Trang (thôn Lạc Hồng, xã Giao Hòa) đã đầu tư mô hình nuôi tôm trong nhà màng kết hợp luân canh ngao giống, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trên diện tích 1,8 ha, gia đình ông xây dựng 29 nhà màng, gồm 26 nhà nuôi và 3 nhà xử lý nước. Theo ông Trang, hệ thống nhà màng giúp hạn chế tác động của thời tiết, qua đó duy trì ổn định các yếu tố môi trường. Nhờ kết hợp hệ thống xử lý nước, sục khí và cấp ôxy đồng bộ, mô hình cho phép tăng mật độ thả nuôi, nâng cao tỷ lệ sống, giảm nguy cơ dịch bệnh và cải thiện năng suất. Hiện mỗi năm, gia đình ông sản xuất 1 vụ ngao giống và 2 vụ tôm, đạt sản lượng khoảng 70 tấn tôm thương phẩm, doanh thu trung bình khoảng 5 tỷ đồng. Mô hình cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng hạ tầng và kỹ thuật hiện đại trong kiểm soát môi trường nuôi, góp phần nâng cao giá trị sản xuất và phát triển thủy sản theo hướng bền vững.

Chi phí thức ăn, vật tư tăng trong khi giá tôm thương phẩm giảm đang gây nhiều khó khăn cho người nuôi tại Đà Nẵng. Để duy trì hiệu quả sản xuất, nhiều hộ đã chủ động áp dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm chi phí và hạn chế rủi ro. Tại xã Thăng Trường, ông Nguyễn Văn Dưỡng sử dụng chế phẩm sinh học từ tỏi, gừng, sả và lá ổi để ổn định môi trường nước, cân bằng hệ vi sinh, giảm chi phí, giúp tôm khỏe mạnh và tăng khả năng hấp thu thức ăn. Trong khi đó, ông Đặng Minh Dung (xã Núi Thành) áp dụng công nghệ biofloc kết hợp hệ thống tuần hoàn nước khép kín, giúp tiết kiệm chi phí, tái sử dụng nguồn nước đồng thời hạn chế mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài và hạn chế mầm bệnh. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng, trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng, người nuôi cần linh hoạt áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tối ưu quy trình sản xuất và quản lý chi phí để duy trì hiệu quả và phát triển bền vững.

THANH HÓA

QUẢNG NGÃI

Nuôi tôm công nghệ cao, thu lãi gần 5 tỷ đồng/năm

Áp dụng ao lót bạt nâng hiệu quả sản xuất

Từng nhiều lần thiệt hại do dịch bệnh và thời tiết cực đoan, năm 2018, ông Lê Văn Phương (xã Hoằng Châu) chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao trên diện tích 1 ha. Mô hình áp dụng quy trình nuôi ba giai đoạn trong nhà lưới, giúp nâng cao tỷ lệ sống và hạn chế dịch bệnh. Nhận thấy hiệu quả vượt trội, năm 2021 ông đầu tư khoảng 10 tỷ đồng cải tạo toàn bộ 5 ha ao nuôi theo hướng công nghệ cao. Trang trại được xây dựng đồng bộ với ao nổi lót bạt, ao lắng, ao xử lý nước riêng biệt, hệ thống cấp - thoát nước khép kín cùng thiết bị quạt nước, sục khí và giám sát tự động các chỉ tiêu môi trường như nhiệt độ, pH, ôxy hòa tan. Mỗi năm, trang trại nuôi 3 vụ, sản lượng đạt 50 - 70 tấn tôm thương phẩm, lợi nhuận gần 5 tỷ đồng, đồng thời tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 20 lao động địa phương. Bên cạnh phát triển sản xuất, ông Phương còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm kỹ thuật cho nhiều hộ nuôi trong vùng.

Ông Phan Đình Chương (xã Bình Sơn) là một trong những hộ tiên phong phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại địa phương. Từ diện tích ban đầu khoảng 6.000 m², ông đã mở rộng lên 2,5 ha, áp dụng mô hình ao nuôi lót bạt và duy trì 3 vụ nuôi mỗi năm. Để nâng cao hiệu quả, ông lựa chọn con giống chất lượng, chú trọng quản lý môi trường ao nuôi, tăng cường hệ thống sục khí trong mùa nắng nóng và xử lý nước thải qua ao riêng trước khi xả ra môi trường. Bên cạnh đó, ông thường xuyên thay khoảng 20% lượng nước mỗi ngày, kết hợp sử dụng chế phẩm sinh học nhằm ổn định môi trường và hạn chế dịch bệnh. Nhờ áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, mỗi năm trang trại thu khoảng 30 tấn tôm thương phẩm, doanh thu đạt khoảng 2,5 tỷ đồng. Sản phẩm được tiêu thụ tại Hà Nội, Đà Nẵng và nhiều cơ sở trong tỉnh. Ngoài phát triển kinh tế gia đình, ông Chương còn hỗ trợ kỹ thuật nuôi, lựa chọn giống và xử lý môi trường cho 17 hộ dân trên địa bàn.

THẢO ANH

LÊ LOAN

DIỆU CHÂU

DUY MẠNH

NGUYỄN HẰNG

THANH HIẾU


TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 7/2026

HẢI PHÒNG

Nhân rộng mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực Ban Quản lý rừng và Khuyến nông Hải Phòng vừa bàn giao con giống và vật tư cho các hộ tham gia mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực hai giai đoạn theo tiêu chuẩn VietGAP gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm. Mô hình thuộc Chương trình Khuyến nông năm 2026, được triển khai tại hai xã An Trường và Chấn Hưng với quy mô 1.800 m² ao ương và 10.000 m² ao nuôi thương phẩm. Theo Ban Quản lý rừng và Khuyến nông Hải Phòng, mô hình hướng tới thay đổi phương thức nuôi truyền thống, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển thủy sản bền vững. Quy trình nuôi hai giai đoạn giúp kiểm soát tốt môi trường và chất lượng con giống ở giai đoạn ương, rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm, giảm nguy cơ dịch bệnh. Việc sử dụng tôm càng xanh toàn đực còn cho tốc độ sinh trưởng nhanh, kích cỡ đồng đều, nâng cao giá trị thương phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Toàn bộ con giống và chế phẩm sinh học cấp cho các hộ đều đạt tiêu chuẩn chất lượng Ảnh: Nông nghiệp hữu cơ

Toàn bộ con giống và chế phẩm sinh học cấp cho các hộ đều đạt tiêu chuẩn chất lượng. Trong quá trình triển khai, cán bộ kỹ thuật sẽ thường xuyên theo dõi, hướng dẫn quy trình VietGAP và hỗ trợ kết nối tiêu thụ, góp phần nâng cao hiệu quả mô hình và tạo tiền đề để nhân rộng trong thời gian tới. HUYỀN THƯƠNG

LÂM ĐỒNG

AN GIANG

Vùng tôm giống gặp khó vì vướng gia hạn đất

Hoàn thiện hạ tầng thủy lợi vùng tôm - lúa

Vùng sản xuất tôm giống trọng điểm tại xã Vĩnh Hảo (Lâm Đồng) đang đối mặt nguy cơ thu hẹp khi nhiều doanh nghiệp chưa được gia hạn thuê đất. Theo Hiệp hội Tôm tỉnh Lâm Đồng, khoảng 18 cơ sở sản xuất đã hết hạn thuê đất, trong khi còn 13 dự án của 9 doanh nghiệp đang chờ hoàn tất thủ tục gia hạn. Các doanh nghiệp chia sẻ, việc chậm gia hạn khiến hoạt động đầu tư bị đình trệ, khó tiếp cận vốn vay và không dám mở rộng sản xuất. Sản lượng tôm giống vì thế sụt giảm đáng kể so với trước. Hiện khu vực Vĩnh Hảo có 111 cơ sở với 725 trại sản xuất, mỗi năm cung cấp khoảng 25 tỷ post tôm giống. Hiệp hội Tôm tỉnh Lâm Đồng kiến nghị sớm gia hạn thuê đất theo quy định để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, đồng thời hoàn thiện thủ tục Khu sản xuất giống thủy sản tập trung Chí Công. Nếu các vướng mắc kéo dài, vùng sản xuất tôm giống với hơn 30 năm hình thành và phát triển có nguy cơ suy giảm, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng giống của ngành tôm.

An Giang đang triển khai đầu tư, nâng cấp hệ thống thủy lợi phục vụ vùng sản xuất tôm - lúa phía Nam Quốc lộ 80 nhằm nâng cao hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm nguồn nước phục vụ canh tác. Dự án tập trung cải tạo, nạo vét các tuyến kênh, xây mới và nâng cấp cống điều tiết, gia cố bờ bao, góp phần chủ động kiểm soát nguồn nước ngọt và nước mặn theo nhu cầu sản xuất. Sau khi hoàn thành, hệ thống thủy lợi sẽ đáp ứng yêu cầu cấp, thoát nước linh hoạt cho vùng sản xuất tôm - lúa, giảm nguy cơ xâm nhập mặn, hạn chế ngập úng cục bộ và tạo điều kiện để người dân áp dụng các mô hình canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc đầu tư hạ tầng thủy lợi được kỳ vọng sẽ thúc đẩy phát triển bền vững vùng tôm - lúa phía Nam Quốc lộ 80, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và thích ứng với điều kiện tự nhiên.

VĨNH LONG

CÀ MAU

Mở rộng vùng nuôi hiện đại

Nuôi tôm khép kín, nâng cao an toàn sinh học

Trong những năm gần đây, nuôi tôm công nghệ cao đang trở thành xu hướng sản xuất chủ đạo tại các vùng ven biển của tỉnh Vĩnh Long. Theo ngành nông nghiệp, đến cuối tháng 5/2026, toàn tỉnh có hơn 65.180 ha nuôi tôm nước lợ, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao đạt 19,550 nghìn ha. Nhiều địa phương tiếp tục mở rộng các mô hình nuôi nhiều giai đoạn, tuần hoàn và thâm canh công nghệ cao. Những hình thức sản xuất này được đầu tư đồng bộ với hệ thống ao lót bạt, thiết bị giám sát môi trường tự động, quy trình quản lý khép kín. Nhờ đó, năng suất và tỷ lệ sống của tôm được nâng cao, đồng thời giảm đáng kể chi phí sản xuất và khả năng tác động đến môi trường. Bên cạnh việc mở rộng diện tích nuôi, cơ quan chức năng tỉnh cũng chú trọng đầu tư hạ tầng vùng nuôi, tăng cường công tác quan trắc môi trường, triển khai các giải pháp nhận biết và phòng ngừa dịch bệnh, kiểm soát chất lượng con giống và hỗ trợ người dân áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến.

Sau nhiều năm tích lũy kinh nghiệm, anh Phạm Đức Ngà (xã Hiệp Thành) đã tự thiết kế và xây dựng trang trại nuôi tôm công nghệ cao với 6 ao ương, 12 ao nuôi thương phẩm. Điểm nổi bật của mô hình là toàn bộ nguồn nước cấp và nước thải đều được xử lý riêng biệt qua nhiều công đoạn. Hệ thống cấp, thoát nước được thiết kế bằng các tuyến cống ngầm khép kín, tách biệt hoàn toàn nhằm hạn chế lây lan mầm bệnh giữa các ao. Bên cạnh đó, tôm được thả trong ao ương khoảng 20 ngày trước khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm. Khi đạt cỡ khoảng 60 con/kg, trang trại tiến hành thu tỉa khoảng 60% sản lượng để giảm mật độ, phần còn lại tiếp tục nuôi đến cỡ lớn. Nhờ tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc an toàn sinh học, mỗi vụ trang trại thu khoảng 70 - 75 tấn tôm thương phẩm, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở mức 1,25 - 1,3. Mô hình cũng duy trì ổn định 3 - 3,5 vụ/năm, ngay cả khi nhiều vùng lân cận chịu ảnh hưởng của dịch bệnh.

NGUYỄN AN

DUY AN

THÁI THUẬN

NAM CƯỜNG

11


12 TIN TỨC

MỸ

 Giá tôm đông lạnh tăng, sức mua chững lại Giá tôm đông lạnh tại thị trường bán lẻ Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 6, tạo thêm áp lực đối với nhu cầu tiêu dùng. Theo số liệu thị trường, giá tôm đông lạnh tăng 18,5% so cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng bình quân của nhóm thủy sản đông lạnh. Mặc dù giá bán tăng, tôm đông lạnh vẫn là mặt hàng có doanh thu lớn nhất trong ngành thủy sản đông lạnh tại Mỹ. Tuy nhiên, sản lượng tiêu thụ lại giảm, cho thấy người tiêu dùng đang có xu hướng thắt chặt chi tiêu trước áp lực giá cả. Không chỉ riêng tôm, toàn bộ nhóm thủy sản đông lạnh cũng ghi nhận doanh thu tăng nhưng sản lượng bán ra giảm. Các chuyên gia nhận định chi phí vận chuyển, năng lượng, thức ăn và những biến động của thương mại quốc tế sẽ tiếp tục tác động đến mặt bằng giá thủy sản tại Mỹ trong thời gian tới, đồng thời ảnh hưởng đến sức mua của thị trường.

 Đưa tôm biển tự nhiên vào chương trình hỗ trợ thực phẩm Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự kiến bổ sung tôm khai thác tự nhiên trong nước vào danh mục thực phẩm của Chương trình Hỗ trợ Lương thực Khẩn cấp (TEFAP) từ năm tài chính 2027. Đây được xem là một giải pháp nhằm hỗ trợ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vừa tạo thêm đầu ra cho ngành khai thác tôm trong nước. Theo kế hoạch, sản phẩm được lựa chọn là tôm biển khai thác tự nhiên của Mỹ, đã bóc vỏ và loại bỏ chỉ lưng. Sau khi được USDA thu mua, tôm sẽ được phân phối thông qua hệ thống ngân hàng thực phẩm, bếp ăn cộng đồng và các tổ chức hỗ trợ xã hội để cung cấp nguồn thực phẩm giàu protein cho người dân có nhu cầu. Việc đưa tôm vào chương trình TEFAP được kỳ vọng sẽ góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp chế biến và ngư dân khai thác quy mô nhỏ. Theo lộ trình, những lô tôm đầu tiên có thể được phân phối từ tháng 1/2027, qua đó bổ sung thêm một kênh tiêu thụ ổn định cho ngành tôm khai thác của Mỹ. CARIBBEAN

Đẩy mạnh đào tạo nhân lực cho nuôi trồng thủy sản Trung tâm Giáo dục và Đổi mới Nuôi trồng Thủy sản Caribbean (CAEIH) vừa triển khai chương trình đào tạo mùa hè về nuôi trồng thủy sản năm 2026 dành cho sinh viên, chuyên gia và doanh nghiệp trong khu vực. Chương trình được xây dựng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, góp phần tăng cường an ninh lương thực và thúc đẩy kinh tế biển xanh. Khóa học được tổ chức theo hình thức trực tuyến với ba nội dung chính gồm tổng quan về nuôi trồng thủy sản tại Caribbean, quản lý chất lượng nước và hệ thống aquaponics. Học viên sẽ được trang bị kiến thức về các đối tượng nuôi có tiềm năng như tôm, cá rô phi, hàu và rong biển, cùng các giải pháp quản lý môi trường, thiết kế hệ thống nuôi và nâng cao hiệu quả sản xuất. Thông qua chương trình, CAEIH kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành nuôi trồng thủy sản tại khu vực Caribbean.

CON TÔM THÁNG 7/2026

 Ủy ban Nghề cá Địa Trung Hải (GFCM) phối hợp với Chính phủ Tây Ban Nha đang thử nghiệm công nghệ cửa lưới kéo bán nổi (flying doors) nhằm giảm tác động của nghề lưới kéo đáy đến hệ sinh thái biển. Công nghệ này giúp hạn chế xáo trộn nền đáy nhưng vẫn duy trì hiệu quả khai thác. Nếu thử nghiệm thành công, giải pháp có thể được áp dụng rộng rãi cho nhiều nghề khai thác tại Địa Trung Hải, trong đó có nghề khai thác tôm.  Ecuador đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng cho ngành tôm sau khi Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia (CNA) và Bộ Môi trường, Năng lượng ký biên bản hợp tác. Chương trình tập trung nâng cấp hạ tầng điện cho các vùng nuôi nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu diesel, cắt giảm chi phí vận hành và nâng cao sức cạnh tranh của ngành tôm. Hiện dưới 10% trang trại tôm tại Ecuador sử dụng điện, phần lớn vẫn vận hành bằng máy phát diesel.  Công ty Just Shrimp (Mỹ) vừa giới thiệu sản phẩm Shrimp Nuggets tại hàng trăm cửa hàng của hệ thống Harris Teeter. Sản phẩm được chế biến từ 100% protein tôm nuôi đạt chứng nhận 4 sao BAP của Mexico, không sử dụng chất bảo quản. Doanh nghiệp kỳ vọng dòng sản phẩm tiện lợi này sẽ đáp ứng nhu cầu của các gia đình, đồng thời góp phần thúc đẩy tiêu thụ thủy sản trong các bữa ăn hằng ngày.  Thị trường tôm Trung Quốc vẫn chưa ghi nhận tín hiệu phục hồi giá, dù Hải quan nước này tạm ngừng tiếp nhận khai báo nhập khẩu từ 7 nhà máy chế biến tôm của Ecuador do thay đổi phương pháp kiểm nghiệm dư lượng sulfite. Nguồn cung từ Ecuador vẫn dồi dào, trong khi người mua duy trì tâm lý thận trọng, tiếp tục gây áp lực lên giá tôm. Trước diễn biến này, doanh nghiệp Việt Nam được khuyến nghị theo dõi chặt chẽ quy định kiểm soát natri metabisulfit, đặc biệt đối với các sản phẩm tôm nguyên con còn đầu, còn vỏ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.  Ngành tôm Indonesia đang chịu sức ép bởi chi phí đầu vào tăng mạnh trong khi giá tôm chưa ổn định. Nhiều khoản chi cho thức ăn, con giống, hóa chất, bạt lót ao và nhiên liệu đồng loạt leo thang, làm gia tăng gánh nặng sản xuất đối với người nuôi. Trước bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các trang trại đang tập trung tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất để duy trì hoạt động.


TIN TỨC

CON TÔM THÁNG 7/2026

MALAYSIA - THÁI LAN

Thúc đẩy đối thoại tháo gỡ vướng mắc thương mại tôm Malaysia và Thái Lan đang tăng cường đối thoại để giải quyết các vướng mắc trong thương mại tôm phát sinh từ đầu tháng 6, hướng tới xây dựng giải pháp kỹ thuật nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu, vừa đáp ứng các yêu cầu về an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và sức khỏe động vật thủy sản. Trước đó, từ ngày 1/6, Malaysia đã tạm dừng nhập khẩu 5 loài tôm từ Thái Lan. Sau khi cân nhắc đưa vụ việc ra các cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và ASEAN, hai bên đã lựa chọn đàm phán trực tiếp để xử lý các vấn đề kỹ thuật liên quan. Theo phía Malaysia, nước này đã gửi 35 câu hỏi kỹ thuật tới Thái Lan nhằm phục vụ quá trình đánh giá rủi ro đối với tôm nhập khẩu. Hai bên kỳ vọng các cuộc trao đổi sẽ sớm tháo gỡ những vướng mắc hiện nay, từng bước khôi phục hoạt động thương mại tôm và tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng, chế biến thủy sản của cả hai quốc gia. INDONESIA

Ứng dụng công nghệ nâng cao phúc lợi tôm nuôi Công ty PT Brother (Indonesia) đã đưa vào vận hành hệ thống gây choáng điện trong nước A-HSU® tại trang trại nuôi tôm ở Cilacap, tỉnh Trung Java, nhằm giảm stress cho tôm trong quá trình thu hoạch và nâng cao chất lượng sản phẩm. Theo doanh nghiệp, thời gian vận chuyển tôm từ ao nuôi đến khu vực chế biến trước đây có thể kéo dài tới 12 giờ, ảnh hưởng đến chất lượng sau thu hoạch. Hệ thống A-HSU® được lựa chọn nhờ khả năng di chuyển linh hoạt trong khu vực nuôi rộng 3,5 ha, giúp rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả thu hoạch. Công nghệ gây choáng bằng điện trong nước không sử dụng hóa chất, có thể làm tôm mất ý thức trong chưa đầy một giây, góp phần cải thiện phúc lợi động vật và hạn chế tác động đến chất lượng nguyên liệu. PT Brother kỳ vọng việc ứng dụng công nghệ này sẽ nâng công suất thu hoạch lên khoảng 8 tấn/giờ, đồng thời góp phần nâng cao tiêu chuẩn sản xuất tôm tại Indonesia. THÁI LAN

Đề xuất gói hỗ trợ 170 triệu USD phục hồi ngành tôm Trước tình trạng sản lượng sụt giảm kéo dài và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế suy yếu, ngành tôm Thái Lan đang đề xuất Chính phủ triển khai gói hỗ trợ trị giá 5,54 tỷ baht (khoảng 170 triệu USD) nhằm thúc đẩy phục hồi sản xuất. Kế hoạch do Hiệp hội Tôm Thái Lan, đại diện người nuôi và Hiệp hội Thực phẩm Đông lạnh Thái Lan phối hợp xây dựng, bao gồm 11 nhóm giải pháp tập trung vào kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ và phát triển ngành tôm theo hướng bền vững. Mục tiêu đặt ra là nâng sản lượng tôm nguyên liệu phục vụ chế biến lên khoảng 400.000 tấn. Bên cạnh đó, ngành tôm Thái Lan cũng đề xuất đẩy mạnh ứng dụng năng lượng mặt trời tại các trang trại, tăng cường nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi tôm, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý vùng nuôi nhằm cải thiện năng suất và giảm rủi ro. Sau đợt bùng phát hội chứng tôm chết sớm (EMS) từ năm 2012, sản lượng tôm của Thái Lan giảm xuống còn khoảng 270.000 - 280.000 tấn mỗi năm, ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu. Các hiệp hội cho rằng việc phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp sẽ là yếu tố quan trọng để khôi phục vị thế của ngành tôm Thái Lan trên thị trường thế giới.

OANH THẢO

 Ban Tổ chức Global Shrimp Forum (GSF) vừa công bố chương trình hội nghị năm 2026, diễn ra từ ngày 1 - 3/9 tại Utrecht (Hà Lan). Sự kiện sẽ tập trung thảo luận các chủ đề như thương mại tôm toàn cầu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), xu hướng tiêu dùng, logistics và đầu tư. Chương trình cũng sẽ cập nhật nghiên cứu về hành vi tiêu dùng tôm tại Pháp và Đức, cơ hội đầu tư vào ngành tôm Ecuador, cùng tác động của Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Ấn Độ và Liên minh châu Âu (EU) đối với thương mại tôm toàn cầu.  Indonesia vừa được Liên minh châu Âu (EU) đưa trở lại danh sách các quốc gia được phép xuất khẩu sản phẩm thủy sản nuôi, mở ra cơ hội mở rộng thị trường tại một trong những khu vực có nhu cầu tiêu thụ lớn. Quyết định được ban hành theo Quy định thực thi (EU) 2026/1189 ngày 4/6/2026, sau quá trình đàm phán giữa hai bên. EU hiện là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ năm của Indonesia, với các mặt hàng chủ lực gồm tôm, cá sữa và cá da trơn.  Bern Aqua, thuộc Tập đoàn ADM, vừa trở thành nhà sản xuất thức ăn thủy sản đầu tiên tại Bỉ đạt chứng nhận Best Aquaculture Practices (BAP) cho nhà máy tại Olen. Doanh nghiệp hiện cung cấp thức ăn cho các trại giống, cơ sở ương nuôi cá và tôm tại hơn 50 quốc gia. Chứng nhận BAP ghi nhận những nỗ lực của Bern Aqua trong phát triển dinh dưỡng bền vững, tăng cường truy xuất nguồn gốc và thúc đẩy nuôi trồng thủy sản theo hướng có trách nhiệm.  Thị trường bột cá và dầu cá toàn cầu đang chịu áp lực do nguồn cung nguyên liệu biển bị gián đoạn. Tại Peru, lệnh cấm khai thác cá cơm tiếp tục được kéo dài vì tỷ lệ cá non cao và ảnh hưởng của hiện tượng El Niño, trong khi Trung Quốc cũng hạn chế khai thác theo lệnh cấm mùa vụ. Peru hiện chiếm khoảng 20% sản lượng bột cá và dầu cá toàn cầu, nên những biến động về nguồn cung tại quốc gia này được dự báo sẽ tiếp tục tác động đáng kể đến thị trường.  Công ty Nuôi trồng Thủy sản Tôm Tự nhiên (NSA) của Oman đặt mục tiêu sản xuất 3.200 tấn tôm thẻ chân trắng trong năm 2026. Đến cuối tháng 6, doanh nghiệp đã thu hoạch khoảng 1.000 tấn, bám sát kế hoạch đề ra. Hiện NSA đạt các chứng nhận BAP và ISO 22000, đồng thời đặt mục tiêu tăng sản lượng thêm 175% trong những năm tới, mở rộng xuất khẩu sang châu Âu, Hàn Quốc và Trung Quốc. 

13


14 THEO DÒNG THỜI SỰ

CON TÔM THÁNG 7/2026

Giữ nhịp tăng trưởng trước biến động thời tiết Sản lượng và xuất khẩu tôm đều tăng trong nửa đầu năm 2026, tạo nền tảng tích cực cho cả năm. Tuy nhiên, thời tiết cực đoan và dự báo El Niño quay trở lại đang đặt ra nhiều thách thức đối với mục tiêu duy trì đà tăng trưởng của ngành.

Ổn định sản xuất giúp đảm bảo nguồn cung cho chuỗi chế biến tôm

Sắc thái nửa đầu năm

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản lượng tôm nuôi trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 702.500 tấn. Trong đó, tôm thẻ chân trắng tiếp tục giữ vai trò chủ lực với 494.300 tấn, tăng 9,5%; tôm sú đạt 167.600 tấn, tăng 4,3%. Ngay từ đầu năm, giá tôm nguyên liệu ở mức khá đã tạo động lực để nhiều hộ nuôi và doanh nghiệp chủ động thả giống sớm. Tuy nhiên, giữa tháng 3, những đợt mưa trái mùa xuất hiện tại nhiều vùng nuôi trọng điểm đã làm độ mặn và các yếu tố môi trường biến động mạnh, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh. Không ít diện tích nuôi thả trước Tết Nguyên Đán bị thiệt hại, buộc người nuôi

phải cải tạo ao và chờ điều kiện môi trường ổn định mới tiếp tục xuống giống. Bước sang quý II, áp lực tiếp tục gia tăng khi thời tiết chuyển sang nắng nóng kéo dài, trong khi dịch bệnh vẫn xuất hiện cục bộ tại một số địa phương. Cùng thời điểm, giá thức ăn thủy sản tăng qua nhiều đợt, riêng trong quý II tăng khoảng 1.200 - 1.500 đồng/kg, làm chi phí sản xuất tăng đáng kể. Trong khi đó, giá tôm nguyên liệu có thời điểm giảm khiến hiệu quả kinh tế của nhiều vụ nuôi không như kỳ vọng. Từ tháng 5, thị trường bắt đầu ghi nhận tín hiệu tích cực hơn khi giá tôm phục hồi nhẹ và các doanh nghiệp chế biến duy trì thu mua để đáp ứng các đơn hàng xuất

Ảnh: Shutterstock

khẩu. Nhờ đó, hoạt động thả nuôi được nối lại ở nhiều địa phương. Các mô hình quảng canh và quảng canh cải tiến cơ bản hoàn thành kế hoạch xuống giống, trong khi các mô hình thâm canh và siêu thâm canh vẫn thận trọng hơn; đến cuối tháng 5 vẫn còn khoảng 25 - 30% diện tích chưa thả giống. Diễn biến này phản ánh xu hướng người nuôi ngày càng cân nhắc kỹ hơn về thời điểm đầu tư nhằm giảm rủi ro trong bối cảnh chi phí sản xuất và điều kiện tự nhiên còn nhiều biến động.

Biến động thời tiết

Nếu nửa đầu năm chịu tác động của các đợt mưa trái mùa thì giai đoạn còn lại được


CON TÔM THÁNG 7/2026

dự báo sẽ đối mặt với nhiều diễn biến khí tượng khác thường. Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông trong mùa mưa bão năm nay được dự báo thấp hơn trung bình nhiều năm và cũng ít hơn so năm 2025. Tuy nhiên, các cơn bão có khả năng xuất hiện với cường độ mạnh hơn, quỹ đạo phức tạp và khó dự báo. Đáng chú ý, cơ quan khí tượng nhận định hiện tượng El Niño có khả năng hình thành và mạnh dần từ cuối năm, đạt đỉnh trong khoảng tháng 11/2026 đến tháng 1/2027. Điều này khiến diễn biến thời tiết nửa cuối năm được dự báo chia thành hai giai đoạn khá rõ rệt. Từ tháng 7 đến tháng 9, lượng mưa vẫn ở mức tương đối cao, đặc biệt tại các tỉnh ven biển. Tuy nhiên, từ tháng 10 trở đi, lượng mưa có xu hướng giảm, nguy cơ khô hạn và xâm nhập mặn đến sớm hơn so với trung bình nhiều năm. Đối với nghề nuôi tôm, đây là kịch bản vừa có thuận lợi nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro. Trong giai đoạn mưa nhiều, nguy cơ thiệt hại do bão trên diện rộng được đánh giá không lớn, tạo điều kiện để các ao đang bước vào giai đoạn cuối vụ duy trì ổn định đến khi thu hoạch. Tuy nhiên, những ao mới thả hoặc tôm còn ở giai đoạn đầu vẫn đối mặt với nguy cơ sốc môi trường khi mưa lớn làm giảm đột ngột độ mặn và nhiệt độ nước, kéo theo khả năng bùng phát các bệnh như phân trắng, đốm trắng hoặc EMS nếu việc quản lý môi trường không được thực hiện chặt chẽ. Ngược lại, từ cuối năm, khi El Niño mạnh dần, nắng nóng kéo dài và độ mặn gia tăng sẽ tạo thêm áp lực đối với hoạt động sản xuất, nhất là tại các vùng phụ thuộc nguồn nước tự nhiên. Điều này không chỉ làm gia tăng nguy cơ mất ổn định chất lượng nước mà còn kéo theo chi phí bơm, cấp nước, xử lý ao và duy trì điều kiện sản xuất ở mức cao hơn.

Chủ động thích ứng

Mặc dù nguy cơ thiệt hại do bão được đánh giá thấp hơn những năm trước, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc rủi ro trong vụ nuôi sẽ giảm. Thách thức lớn hơn có thể đến từ những biến động âm thầm của môi trường như độ mặn tăng sớm, biên độ nhiệt ngày - đêm lớn hoặc chất lượng nguồn nước thay đổi, những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tôm nuôi. Để chủ động ứng phó với những biến động này, ngành nông nghiệp tại các địa

THEO DÒNG THỜI SỰ

phương nuôi tôm tiếp tục khuyến cáo người nuôi ưu tiên đầu tư hệ thống ao lắng, ao chứa và ao xử lý nhằm chủ động nguồn nước; đồng thời tăng cường áp dụng các mô hình nuôi an toàn sinh học để hạn chế tác động của thời tiết bất lợi và giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Bên cạnh đó, việc theo dõi thường xuyên các chỉ tiêu môi trường như độ mặn, pH, độ kiềm, nhiệt độ và ôxy hòa tan cần được thực hiện liên tục, đặc biệt trong các thời điểm giao mùa và giai đoạn El Niño được dự báo hoạt động mạnh. Đối với các mô hình quảng canh hoặc ao đất truyền thống, việc giảm mật độ thả hoặc chia nhỏ diện tích xuống giống theo từng đợt cũng là giải pháp giúp phân tán rủi ro trong điều kiện thời tiết khó dự báo. Ở góc độ thị trường, người nuôi cần tính toán thời điểm thả giống và thu hoạch phù hợp với nhu cầu tiêu thụ, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Theo quy luật nhiều năm, giá tôm thường cải thiện vào đầu quý IV khi nhu cầu chế biến phục vụ dịp cuối năm tăng lên. Do đó, người nuôi có thể chủ động bố trí lịch sản xuất để tôm đạt kích cỡ thương phẩm đúng thời điểm thị trường có nhu cầu cao, đồng thời linh hoạt điều chỉnh thời gian thu hoạch theo tín hiệu thu mua thực tế. Song song với đó, tăng cường liên kết với doanh nghiệp chế biến thông qua các hình thức hợp đồng tiêu thụ, quản lý chặt chi phí thức ăn, vật tư và thường xuyên cập nhật thông tin quan trắc môi trường, dự báo khí tượng sẽ giúp giảm thiểu đáng kể những rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất.

Triển vọng nửa cuối năm

Nửa cuối năm 2026 được dự báo sẽ tiếp tục là giai đoạn nhiều thử thách đối với ngành tôm. Trong khi El Niño có khả năng quay trở lại với cường độ mạnh, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng, khô hạn và xâm nhập mặn, thì thị trường vẫn duy trì những tín hiệu tích cực từ nhu cầu xuất khẩu và xu hướng phục hồi của giá tôm nguyên liệu. Kết quả của vụ nuôi vì thế sẽ phụ thuộc không chỉ vào diễn biến của thời tiết mà còn vào khả năng thích ứng của người nuôi, doanh nghiệp và các địa phương. Chủ động quản lý môi trường ao nuôi, điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp với điều kiện khí hậu và tăng cường liên kết trong chuỗi giá trị sẽ là những yếu tố quan trọng để ngành tôm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026. XUÂN TRƯỜNG

CON SỐ

2,35 tỷ USD

Là giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm trong nửa đầu năm 2026, tăng 14,2% so cùng kỳ năm trước.

Là diện tích ao nuôi tôm tại xã Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh bị sau bão số 1; 800 ha ngập nhiều công trình hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản cũng bị hư hỏng.

Là diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, phân bố tại các 1.400 vùng triều ven ha sông và khu vực cao triều xã Núi Thành, TP Đà Nẵng.

Là sản lượng tôm nuôi bình quân hằng 300 năm của tỉnh Vĩnh Long, bao gồm tôm nghìn sú, tôm thẻ chân tấn trắng và tôm càng xanh.

17 cơ sở

Là số cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống của tỉnh Cà Mau được công nhận an toàn dịch bệnh.

15


16 VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

CON TÔM THÁNG 7/2026

Công nghệ tái định hình ngành tôm Công nghệ đang tái định hình ngành tôm, từ phương thức quản lý ao nuôi đến vận hành toàn bộ chuỗi giá trị. Quá trình chuyển đổi này mở ra nhiều cơ hội nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời đòi hỏi cách tiếp cận phù hợp để phát huy tối đa giá trị đầu tư và năng lực cạnh tranh.

Công nghệ đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất của ngành tôm

Động lực cho chặng đường mới

Trong nhiều năm, nghề nuôi tôm được hình thành và phát triển dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của người sản xuất. Những hiểu biết tích lũy qua quá trình nuôi, từ nhận biết biến động của ao đến điều chỉnh các hoạt động chăm sóc, vẫn giữ vai trò quan trọng trong quyết định hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của ngành tôm, yêu cầu nâng cao năng suất, ổn định chất lượng và giảm thiểu rủi ro ngày càng trở nên cấp thiết, đòi hỏi phương thức sản xuất cần có thêm những công cụ hỗ trợ phù hợp. Ngành tôm hiện đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu,

diễn biến dịch bệnh phức tạp, chi phí đầu vào gia tăng và sự cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tế. Những yếu tố này khiến việc nâng cao khả năng kiểm soát sản xuất, sử dụng hiệu quả nguồn lực và duy trì tính ổn định trở thành yêu cầu quan trọng đối với người nuôi cũng như toàn chuỗi giá trị. Trong bối cảnh đó, ứng dụng công nghệ được xem là động lực quan trọng để nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của ngành tôm. Không chỉ hỗ trợ giảm thiểu rủi ro, công nghệ còn mở ra khả năng cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng tính chính xác trong quá trình ra quyết định và giúp hoạt động nuôi tôm thích ứng tốt hơn

Ảnh: Dân trí

với những thay đổi của điều kiện tự nhiên cũng như thị trường. Một giá trị quan trọng khác của công nghệ là góp phần thay đổi phương thức tiếp cận trong sản xuất, từ việc xử lý các vấn đề phát sinh sang chủ động phòng ngừa và kiểm soát. Khi các quyết định được hỗ trợ bởi thông tin khoa học và dữ liệu, người nuôi có thêm cơ sở để đánh giá tình hình, điều chỉnh phương án sản xuất và nâng cao khả năng ứng phó trước những biến động khó lường. Xu hướng ứng dụng công nghệ cũng không chỉ diễn ra ở khâu nuôi thương phẩm. Trong toàn bộ chuỗi giá trị ngành tôm, nhiều tiến bộ kỹ thuật đang được triển khai ở các lĩnh vực như chọn tạo


VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

CON TÔM THÁNG 7/2026

giống, xét nghiệm và kiểm soát dịch bệnh, công nghệ thức ăn, quản lý môi trường, chế biến, bảo quản, truy xuất nguồn gốc và logistics. Có thể nói, công nghệ đang từng bước hiện diện ở hầu hết các mắt xích của ngành hàng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.

Lan tỏa chưa đồng đều

Thực tế cho thấy, quá trình ứng dụng công nghệ trong ngành tôm Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm gần đây. Tại các vùng nuôi trọng điểm, đặc biệt là các mô hình thâm canh, siêu thâm canh, những giải pháp công nghệ đang được đưa vào nhiều công đoạn của chu trình sản xuất nhằm nâng cao khả năng kiểm soát, giảm rủi ro và cải thiện hiệu quả nuôi. Ở các địa phương có ngành tôm phát triển, người nuôi đã từng bước tiếp cận các giải pháp tự động hóa và công nghệ số như hệ thống cho ăn tự động, thiết bị theo dõi môi trường, máy bổ sung ôxy, camera giám sát, phần mềm ghi chép và lưu trữ dữ liệu sản xuất. Những công cụ này giúp giảm sự phụ thuộc vào thao tác thủ công, hỗ trợ theo dõi sát hơn diễn biến ao nuôi và nâng cao khả năng phản ứng trước những thay đổi bất thường của môi trường. Từ việc áp dụng các giải pháp riêng lẻ, nhiều mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ đã từng bước được hình thành theo hướng đồng bộ hơn, kết hợp giữa quy trình kỹ thuật, thiết bị hỗ trợ và phương thức quản lý phù hợp. Dù vậy, quá trình ứng dụng công nghệ trong ngành tôm hiện vẫn diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, phụ thuộc vào quy mô sản xuất, điều kiện đầu tư và năng lực quản lý của từng cơ sở nuôi. Mức độ tiếp cận công nghệ giữa các vùng nuôi, nhóm đối tượng sản xuất vẫn còn sự khác biệt đáng kể. Những trang trại có quy mô lớn, nguồn lực tài chính và nhân lực kỹ thuật tốt thường có điều kiện đầu tư hệ thống đồng bộ, trong khi nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận các giải pháp mới do hạn chế về vốn, kiến thức kỹ thuật cũng như khả năng vận hành thiết bị. Bên cạnh vấn đề đầu tư, một thách thức khác là việc ứng dụng công nghệ ở các địa phương vẫn còn mang tính đơn lẻ, tập trung vào từng thiết bị riêng biệt thay vì gắn với quy trình sản xuất tổng thể. Một thiết bị hiện đại chỉ phát huy hiệu quả khi người sử dụng hiểu được ý nghĩa của các dữ liệu thu thập được, biết cách phân tích và đưa ra quyết định phù hợp. Nếu thiếu kiến thức

Ứng dụng công nghệ giúp người nuôi theo dõi và quản lý ao nuôi thuận tiện hơn

vận hành, công nghệ có thể chưa phát huy hết giá trị so với chi phí đầu tư. Chi phí ban đầu cũng là một trong những rào cản lớn đối với quá trình chuyển đổi công nghệ. Không phải cơ sở nuôi nào cũng có khả năng triển khai hệ thống tự động hóa hoàn chỉnh với mức đầu tư lớn. Ngoài thiết bị và hạ tầng kỹ thuật, yếu tố con người cũng giữ vai trò quyết định đến hiệu quả ứng dụng công nghệ. Người nuôi cần được trang bị kỹ năng sử dụng thiết bị, khai thác dữ liệu và kết hợp thông tin công nghệ với kinh nghiệm thực tế trong quá trình sản xuất.

Lựa chọn phù hợp

Để công nghệ thực sự phát huy giá trị trong ngành tôm, người nuôi cần thay đổi cách tiếp cận theo hướng lựa chọn giải pháp phù hợp thay vì chạy theo mức độ hiện đại của thiết bị. Công nghệ không phải là sự thay thế hoàn toàn cho kinh nghiệm sản xuất, mà là công cụ hỗ trợ giúp nâng cao khả năng kiểm soát, giảm rủi ro và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực trong quá trình nuôi. Trước khi đầu tư, cơ sở nuôi cần xác định rõ những vấn đề đang gặp phải và mục tiêu cần cải thiện trong sản xuất. Việc lựa chọn công nghệ nên xuất phát từ nhu cầu thực tế, điều kiện ao nuôi, quy mô sản xuất và khả năng vận hành. Một giải pháp phù hợp, được sử dụng hiệu quả, có thể mang lại giá trị lớn hơn so với một hệ thống hiện đại nhưng chưa phù hợp với điều kiện của cơ sở nuôi. Đối với những mô hình có quy mô lớn, việc đầu tư các giải pháp đồng bộ có thể giúp nâng cao hiệu quả vận hành, tăng khả năng kiểm soát và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Trong khi đó, với các hộ nuôi quy mô nhỏ, áp dụng từng bước những giải pháp

Ảnh: ST

thiết thực, phù hợp với khả năng đầu tư như cải tiến phương thức quản lý, bổ sung công cụ hỗ trợ theo dõi sản xuất hoặc từng bước số hóa thông tin cũng có thể tạo ra những chuyển biến tích cực. Bên cạnh lựa chọn công nghệ, năng lực sử dụng cũng là yếu tố quyết định hiệu quả đầu tư. Người nuôi cần được trang bị kiến thức về vận hành thiết bị, khai thác thông tin và kết hợp dữ liệu thu thập được với kinh nghiệm thực tế để đưa ra quyết định phù hợp. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi người sử dụng hiểu rõ mục đích, biết cách vận hành và khai thác đúng giá trị mà công cụ này mang lại. Để thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ trong ngành tôm, cần có sự đồng hành của các cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp cung cấp giải pháp và các tổ chức hỗ trợ sản xuất trong việc chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực và xây dựng các mô hình phù hợp với từng vùng nuôi. THANH HIẾU

 Ngành tôm Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới, trong đó năng suất không còn là yếu tố duy nhất quyết định thành công, mà còn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát rủi ro, duy trì chất lượng và thích ứng với những thay đổi của thị trường. Trong hành trình đó, công nghệ sẽ tiếp tục là công cụ hỗ trợ quan trọng, giúp người nuôi nâng cao năng lực sản xuất và hướng đến phát triển bền vững hơn.

17


18 TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 7/2026

Siết chặt quản lý vi phạm trong lĩnh vực giống thủy sản Trong bối cảnh ngành thủy sản đang hướng tới phát triển theo hướng hiện đại, an toàn sinh học và có khả năng truy xuất nguồn gốc, việc tăng cường quản lý hoạt động sản xuất, ương dưỡng, xuất nhập khẩu và kinh doanh con giống trở thành yêu cầu cấp thiết.

Hệ thống chế tài đối với các vi phạm trong lĩnh vực giống thủy sản ngày càng chặt chẽ

Ngày 29/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 246/2026/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, nhằm tăng tính răn đe và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống thủy sản.

Xử lý nghiêm vi phạm

Theo quy định tại Nghị định 246/2026/NĐ-CP, các hành vi vi phạm trong quá trình sản xuất, ương dưỡng và khảo nghiệm giống thủy sản được quy định

với nhiều mức xử phạt khác nhau, tương ứng với tính chất và mức độ vi phạm. Ở nhóm vi phạm ít nghiêm trọng, mức phạt từ 3 - 5 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi như không báo cáo hoặc cập nhật đầy đủ thông tin về hoạt động sản xuất, ương dưỡng giống; không thông báo việc sử dụng giống thủy sản bố mẹ theo quy định; hoặc không ghi chép, lưu giữ đầy đủ hồ sơ phục vụ truy xuất nguồn gốc. Đối với các hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện

Ảnh: Vũ Mưa

sản xuất, mức xử phạt được nâng lên từ 10 - 15 triệu đồng nếu cơ sở không tuân thủ thời hạn sử dụng giống bố mẹ; không duy trì các điều kiện sản xuất, ương dưỡng theo quy định; hoặc hoạt động không đúng nội dung được ghi trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản. Mức xử phạt từ 15 - 20 triệu đồng đối với các vi phạm liên quan đến sản xuất giống thủy sản bố mẹ hoặc hoạt động sản xuất giống không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện theo

quy định. Đối với cơ sở sản xuất giống bố mẹ của các đối tượng thủy sản nuôi chủ lực, hành vi hoạt động khi chưa được cấp Giấy chứng nhận có thể bị xử phạt tới 30 - 40 triệu đồng; trong khi cơ sở sản xuất giống bố mẹ của các đối tượng khác bị phạt từ 20 - 30 triệu đồng. Ngoài ra, hành vi sản xuất hoặc ương dưỡng giống thủy sản không thuộc Danh mục loài được phép kinh doanh tại Việt Nam, khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc chưa được công nhận, sẽ bị xử phạt


TÒA SOẠN - BẠN ĐỌC

CON TÔM THÁNG 7/2026

từ 40 - 50 triệu đồng. Ngoài tiền phạt, cơ sở còn có thể bị đình chỉ hoạt động sản xuất, ương dưỡng từ 1 - 3 tháng. Bên cạnh các hình thức xử phạt chính, cơ quan quản lý còn áp dụng nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như buộc cơ sở thực hiện đầy đủ các điều kiện sản xuất theo quy định; buộc chuyển đổi mục đích sử dụng đối với giống vi phạm hoặc tiêu hủy nếu không đủ điều kiện chuyển đổi.

Siết kiểm soát giống xuất nhập khẩu

Theo quy định, tổ chức, cá nhân xuất khẩu giống thủy sản thuộc danh mục xuất khẩu có điều kiện nhưng không đáp ứng các yêu cầu theo quy định, hoặc nhập khẩu giống phục vụ khảo nghiệm, nghiên cứu, trưng bày không đúng mục đích hoặc quá thời hạn giấy phép sẽ bị xử phạt từ 30 - 40 triệu đồng. Trường hợp nhập khẩu giống thủy sản không có tên trong Danh mục loài được phép kinh doanh tại Việt Nam mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, mức xử phạt tăng lên từ 40 - 50 triệu đồng. Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền, các biện pháp khắc phục hậu quả cũng được áp dụng nghiêm ngặt. Tùy từng trường hợp, cơ sở vi phạm có thể bị buộc thả giống còn sống trở lại môi trường tự nhiên, chuyển đổi mục đích sử dụng, tái xuất hoặc tiêu hủy toàn bộ lô giống vi phạm nếu không đủ điều kiện xử lý theo quy định. Về đặt tên giống thủy sản, hành vi đặt tên giống không đúng quy định sẽ bị xử phạt từ 10 - 20 triệu đồng. Đồng thời, tổ chức, cá nhân vi phạm phải loại bỏ toàn bộ các yếu tố vi phạm trên nhãn hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh và các tài liệu liên quan nhằm tránh gây nhầm lẫn cho người sản xuất và người tiêu dùng. BẢO HÂN

VĂN BẢN MỚI  Ngày 5/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 2152/QĐBNNMT ban hành Kế hoạch phát triển hệ thống logistics nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam giai đoạn 2026 2030. Mục tiêu đến năm 2030, phát triển hệ thống logistics nông nghiệp hiện đại, gắn kết chuỗi cung ứng nông sản nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế. Cụ thể: Đáp ứng đủ năng lực dịch vụ logistics phục vụ các vùng sản xuất tập trung, đặc biệt đối với các ngành hàng chủ lực như gạo, cà phê, tôm, cá tra, rau quả, hạt điều, gỗ, cao su và chăn nuôi; 34/34 tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch, quy hoạch và bố trí nguồn lực phát triển hệ thống logistics nông sản; 80% doanh nghiệp dịch vụ logistics trong nông nghiệp ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số để cải thiện thời gian, chi phí logistics; 100% vùng sản xuất hàng hóa nông, lâm, thủy sản tập trung được cung cấp đầy đủ dịch vụ truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch, kiểm tra, kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, chế biến và phát triển thị trường. Cục Thủy sản và Kiểm ngư được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng kế hoạch hành động phát triển hệ thống logistics đối với lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư giai đoạn 2026 - 2030. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày ký.  Ngày 25/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành VBHN số 71/VBHNBNNMT quy định trình tự, thủ tục đánh giá rủi ro, cấp phép nhập khẩu thủy sản sống. Văn bản hợp nhất các quy định của Thông tư 25/2018/TTBNNPTNT, Thông tư 01/2022/ TT-BNNPTNT và Thông tư 17/2026/TT-BNNMT; áp dụng

cho các loài thủy sản sống nhập khẩu để dùng làm thực phẩm, làm cảnh, giải trí; trưng bày tại hội chợ, triển lãm; nghiên cứu khoa học. Trong đó, trường hợp phải đánh giá rủi ro: Áp dụng cho thủy sản sống lần đầu nhập khẩu để làm thực phẩm, làm cảnh, giải trí; Trường hợp không phải đánh giá rủi ro: Áp dụng cho loài đã được đánh giá rủi ro trước đó; nhập khẩu để nghiên cứu khoa học hoặc trưng bày hội chợ, triển lãm. Về trách nhiệm của doanh nghiệp: Tuyệt đối không phát tán, phóng sinh hoặc để thủy sản thoát ra môi trường tự nhiên; Nếu thủy sản thoát ra ngoài, phải xử lý ngay và báo cáo cơ quan quản lý trong vòng 24 giờ; Nếu bán thủy sản làm cảnh cho bên thứ ba, doanh nghiệp phải hướng dẫn họ thực hiện phương án kiểm soát và cùng chịu trách nhiệm nếu xảy ra vi phạm. Cùng đó, doanh nghiệp phải báo cáo ngay khi phát hiện thủy sản có khả năng thành thục sinh sản ngoài ý muốn, đồng thời phải ghi chép và lưu giữ đầy đủ hồ sơ nhập khẩu, vận chuyển, nuôi giữ, chế biến.  Ngày 27/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 245/2026/NĐ-CP quy định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026. Trong đó, thời gian gia hạn nộp thuế đối với số thuế giá trị gia tăng (bao gồm cả số thuế giá trị gia tăng phải phân bổ, số thuế phải nộp theo từng lần phát sinh) tối đa là 5 tháng. Thời gian gia hạn nộp thuế đối với số thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tối đa là 5 tháng; Thời gian gia hạn đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý II/2026 là 3 tháng; thời gian gia hạn đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp của quý

III/2026 là 2 tháng. Thời gian gia hạn đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026 là 5 tháng, thời hạn nộp tiền thuê đất được gia hạn chậm nhất là ngày 2/11/2026; Quy định này áp dụng cả trường hợp người nộp thuế có nhiều Quyết định, Hợp đồng thuê đất trực tiếp của Nhà nước và có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 245/2026/NĐ-CP. Nghị định có hiệu lực từ ngày ký ban hành đến hết ngày 31/12/2026.  Ngày 30/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư số 27/2026/TT-BNNMT quy định về danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Trong đó, danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, bao gồm các nhóm như giống cây trồng, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, keo dán gỗ và máy móc thiết bị nông nghiệp. Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, tập trung vào nhóm thuốc bảo vệ thực vật. Về nguyên tắc quản lý chất lượng: Đối với sản phẩm rủi ro trung bình, tổ chức, cá nhân phải tự công bố tiêu chuẩn áp dụng; thực hiện tự đánh giá hoặc thông qua tổ chức chứng nhận được công nhận để chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) tương ứng. Đối với sản phẩm rủi ro cao: Hàng hóa được xếp vào diện phải kiểm tra chuyên ngành trước khi thông quan. Bên cạnh việc tự công bố tiêu chuẩn, sản phẩm phải được tổ chức chứng nhận do cơ quan nhà nước chỉ định thực hiện chứng nhận phù hợp QCVN. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026. 

19


20

CON TÔM THÁNG 7/2026


CON TÔM THÁNG 7/2026

21


22

CON TÔM THÁNG 7/2026


CON TÔM THÁNG 7/2026

23


24 THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

CON TÔM THÁNG 7/2026

Xuất khẩu tôm Việt Nam trong tháng 6/2026 tăng mạnh

Xuất khẩu tôm tăng mạnh, cơ hội mở từ EFTA Trong tháng 6/2026, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt khoảng 458 triệu USD, tăng 24% so cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm, kim ngạch đạt 2,35 tỷ USD, tăng 14,2%.

Kết quả tích cực nói trên chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc và sự tăng trưởng mạnh của tôm hùm, trong khi doanh nghiệp vẫn chịu sức ép lớn từ thuế tại Mỹ và chi phí logistics. Trung Quốc và Hồng Kông tiếp tục là động lực chính, đạt khoảng 845 triệu USD trong 6 tháng đầu năm, tăng 44% và chiếm 36% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm. Riêng Trung Quốc đạt gần 809 triệu USD, tăng 47%. Các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia duy trì tăng trưởng, lần lượt đạt khoảng 271 triệu USD, 169 triệu USD và 126 triệu USD. Trong khi đó, xuất khẩu sang EU chỉ tăng nhẹ 2%.

Xuất khẩu tôm sang Mỹ trong tháng 6 đạt khoảng 62 triệu USD, tăng mạnh 32%. Tuy nhiên, lũy kế 6 tháng vẫn giảm 15%, xuống còn khoảng 290 triệu USD. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), mức tăng trong tháng 6 phần nào phản ánh xu hướng doanh nghiệp và nhà nhập khẩu đẩy nhanh giao hàng trước những thay đổi khó lường về thuế. Vì vậy, VASEP cho rằng sự phục hồi này vẫn mang tính ngắn hạn. Tôm Việt Nam tại Mỹ tiếp tục chịu sức ép từ thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và cạnh tranh gay gắt với các nguồn cung lớn.

Cơ hội mở từ EFTA

Việt Nam và Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do vào ngày 2/7 và dự kiến hoàn tất các thủ tục cần thiết để ký kết trong quý IV/2026, mở ra giai đoạn hợp tác kinh tế mới giữa Việt Nam với nhóm các nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EFTA sẽ mở ra cơ hội cho các sản phẩm thủy sản tiến sâu vào nhóm thị trường có sức mua cao, tiêu chuẩn cao, phù hợp với định hướng nâng giá trị sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.


THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

CON TÔM THÁNG 7/2026

Tôm chế biến và tôm đông lạnh chất lượng cao được đánh giá là nhóm sản phẩm có nhiều dư địa tại thị trường EFTA

Ảnh: PTC

Hiện, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang khối EFTA còn khiêm tốn, trong đó giao dịch tập trung chủ yếu ở Thụy Sĩ và Na Uy. Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Thụy Sĩ đạt 34,1 triệu USD, tăng 15% so năm 2024; sang Na Uy đạt 18,4 triệu USD, tăng 95%. Tính chung hai thị trường này đạt khoảng 52,6 triệu USD, tỷ trọng tuy nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhưng cho thấy dư địa tăng trưởng ở phân khúc thị trường có sức mua cao. VASEP đánh giá việc ký kết Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EFTA mang lại 3 lợi ích rõ nét. Đầu tiên là đa dạng hóa thị trường. Thị trường EFTA không lớn về dân số nhưng có trình độ phát triển cao, sức mua tốt và nhu cầu ổn định đối với thực phẩm chất lượng cao. Vì vậy, đây là cơ hội để thủy sản Việt Nam giảm bớt phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Tuy nhiên, đây không phải thị trường có thể mở rộng bằng cách cạnh tranh giá đơn thuần. Cơ hội phù hợp hơn nằm ở nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng và tiêu chuẩn cao như tôm chế biến, tôm đông lạnh chất lượng cao, cá tra phi lê/cắt portion, cá tra chế biến, cá ngừ, mực - bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và sản phẩm tiện dụng cho bán lẻ. Thứ hai là ưu đãi thuế và khung thương

mại ổn định hơn. Khi hiệp định được ký kết, phê chuẩn và có hiệu lực, các cam kết cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan sẽ giúp hàng hóa có xuất xứ Việt Nam tiếp cận EFTA thuận lợi hơn. Tuy nhiên, ưu đãi thuế chỉ thực sự có giá trị khi doanh nghiệp đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ, hồ sơ chứng nhận, yêu cầu an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường. Thứ ba là cơ hội hợp tác hai chiều. Na Uy và Iceland là những quốc gia có thế mạnh lớn về thủy sản, đặc biệt trong nuôi biển, khai thác, quản lý nguồn lợi, công nghệ lạnh, chế biến sâu và logistics. Vì vậy, FTA không chỉ mở cơ hội xuất khẩu, mà còn có thể thúc đẩy hợp tác về công nghệ, nguyên liệu, đầu tư, quản trị chuỗi cung ứng và phát triển sản phẩm mới. Với các doanh nghiệp Việt Nam có năng lực chế biến, nguồn nguyên liệu thủy sản chất lượng cao từ EFTA cũng có thể hỗ trợ phát triển sản phẩm phục vụ thị trường nội địa, kênh HORECA (khách sạn, nhà hàng, quán cà phê và dịch vụ ăn uống), bán lẻ hiện đại hoặc tái xuất.

Doanh nghiệp Việt cần chủ động

Tuy nhiên, EFTA cũng là thị trường có yêu cầu rất cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, môi trường, lao động và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam muốn đi xa hơn tại EFTA phải chuẩn bị từ vùng nuôi, tàu cá, nguyên liệu, nhà máy, chuỗi lạnh, nhãn mác đến chứng nhận bền vững. Nhiều sản phẩm thủy sản Việt Nam sử dụng một phần nguyên liệu nhập khẩu hoặc trải qua nhiều công đoạn chế biến. Do đó,

doanh nghiệp cần chờ và nghiên cứu kỹ biểu cam kết, quy tắc xuất xứ theo từng mã HS, cơ chế cộng gộp và thủ tục chứng nhận xuất xứ. Nếu không đáp ứng đúng hồ sơ, ưu đãi thuế sẽ khó chuyển thành lợi thế cạnh tranh thực tế. Ngoài ra, cạnh tranh tại thị trường nội địa là điều không thể tránh khỏi khi thủy sản EFTA, đặc biệt là cá hồi, cá thu, cá tuyết, cá thịt trắng và các sản phẩm lạnh/đông lạnh từ Na Uy, Iceland có thể vào Việt Nam thuận lợi hơn khi thuế giảm. Điều này tạo thêm áp lực cạnh tranh ở phân khúc cao cấp, nhà hàng khách sạn, bán lẻ hiện đại và sản phẩm tiện dụng. Song, nếu nhìn theo hướng tích cực, đây cũng là động lực để doanh nghiệp Việt Nam nâng chất lượng sản phẩm nội địa, đầu tư chế biến sâu, phát triển thương hiệu và chuẩn hóa hệ thống phân phối. Nhìn tổng thể, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EFTA là bước tiến hội nhập có ý nghĩa với ngành thủy sản, nhưng không phải là lợi thế tự động. Cơ hội sẽ thuộc về những doanh nghiệp chuẩn bị sớm về chất lượng, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ, bao bì, nhãn mác và khả năng làm việc với các hệ thống bán lẻ, nhập khẩu, foodservice tại Thụy Sĩ, Na Uy và Iceland. Trong ngắn hạn, VASEP khuyến nghị ngành thủy sản cần tiếp tục theo dõi tiến trình ký kết, phê chuẩn và công bố cam kết chi tiết. Còn về dài hạn, EFTA có thể trở thành một “ngách” thị trường giá trị cao, góp phần giúp thủy sản Việt Nam không chỉ bán nhiều hơn, mà bán tốt hơn, bền vững hơn và có vị thế cao hơn trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. CẢNH NGHI

25


26 GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

Tôm giữ vững vị thế mặt hàng chủ lực Theo số liệu từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam trong tháng 6 đạt khoảng 445,9 triệu USD, tăng 20,7% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm, xuất khẩu tôm đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tăng 13,6% so cùng kỳ và tiếp tục giữ vai trò là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của toàn ngành thủy sản Việt Nam, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch. Đà tăng trưởng của ngành tôm nhận được sự hỗ trợ lớn từ thị trường Trung Quốc và Hồng Kông, đặc biệt đối với các sản phẩm tôm sú, tôm hùm, tôm đông lạnh cùng các dòng sản phẩm cao cấp phục vụ kênh nhà hàng. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu tôm sang thị trường Mỹ vẫn đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt về giá và quy mô sản xuất từ Ecuador, Ấn Độ, Indonesia. Đồng thời, các rào cản kỹ thuật và rủi ro pháp lý tại Mỹ như thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, chương trình giám sát SIMP, đạo luật MMPA và yêu cầu truy xuất nguồn gốc đang đẩy chi phí tuân thủ của các doanh nghiệp Việt Nam lên cao.

Trung Quốc là thị trường thủy sản lớn nhất của Việt Nam Thông tin từ VASEP, trong 6 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch gần 1,4 tỷ USD, tăng khoảng 40% so cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, xuất khẩu sang Mỹ đạt khoảng 905 triệu USD, chịu tác động từ những biến động về chính sách thuế và thương mại. Sự tăng trưởng mạnh của thị trường Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhu cầu lớn đối với các mặt hàng chủ lực như tôm, cá tra và hải sản đông lạnh. Tuy nhiên, VASEP cho biết thị trường này cũng đang ngày càng siết chặt các quy định về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.

Thị trường Mỹ phục hồi nhưng chưa ổn định Mỹ tiếp tục là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của tôm Việt Nam, song diễn biến trong nửa đầu năm cho thấy đà phục hồi vẫn thiếu ổn định. Dù nhu cầu nhập khẩu tăng trong một số thời điểm, đặc biệt là tháng 6, nhưng xu hướng này chưa đủ tạo nền tảng tăng trưởng bền vững. Xuất khẩu tôm sang Mỹ vẫn chịu áp lực từ sức mua phục hồi chậm, cạnh tranh với các nguồn cung lớn như Ecuador và Ấn Độ, cùng những yếu tố về thuế quan, chi phí logistics và yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Để duy trì vị thế tại thị trường này, ngành tôm cần tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển hàng chế biến sâu, tối ưu chuỗi cung ứng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm nâng cao sức cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro.

Giá tôm nguyên liệu ổn định tại một số tỉnh Đầu tháng 7/2026, giá tôm nguyên liệu tại một số địa phương cơ bản giữ ổn định so với tháng trước. Tại Quảng Trị, giá các loại tôm nhìn chung ổn định so với đầu tháng 6/2026. Cụ thể, tôm đất (40 50 con/kg) đạt 400.000 đồng/kg; tôm bộp (45 - 50 con/kg) 650.000 đồng/kg; tôm sú (20 - 30 con/kg) 500.000 đồng/kg; tôm thẻ chân trắng (30 - 40 con/kg) 450.000 đồng/kg. Riêng tôm hùm (3 - 5 con/ kg) tăng 100.000 đồng/kg, lên 1.350.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, giá tôm sú tiếp tục ổn định so với đầu tháng 6/2026, trong đó cỡ 50 con/ kg đạt 220.000 đồng/kg, cỡ 40 con/kg đạt 250.000 đồng/kg và cỡ 30 con/kg đạt 300.000 đồng/kg. Trong khi đó, tôm thẻ chân trắng cỡ 100 con/kg giảm 3.000 đồng/kg, còn 90.000 đồng/kg.


GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

HÀ TĨNH

Giá thức ăn tăng, giá tôm giảm Tại Hà Tĩnh, từ đầu tháng 6, nhiều doanh nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản tăng giá thức ăn tôm thêm 1.200 - 1.500 đồng/kg, lên mức 33.500 - 40.000 đồng/kg tùy loại, đánh dấu lần điều chỉnh thứ ba kể từ đầu năm 2026. Trong khi đó, giá tôm thương phẩm lại giảm 10 20% so cùng kỳ năm trước, tùy kích cỡ. Hiện tôm thẻ chân trắng loại 70 con/kg được thu mua khoảng 100.000 đồng/kg; loại 60 con/kg ở mức 110.000 - 115.000 đồng/kg; loại 50 con/kg từ 120.000 - 125.000 đồng/kg; loại 40 con/kg khoảng 140.000 đồng/kg. Riêng tôm cỡ lớn 25 - 30 con/kg dao động 180.000 - 200.000 đồng/kg. Giá đầu vào liên tục tăng trong khi giá bán giảm đang tạo áp lực lớn lên hiệu quả sản xuất và lợi nhuận của người nuôi tôm trên địa bàn. GIA LAI

Tôm giảm giá, chi phí đầu vào tăng Tại các vùng nuôi trọng điểm của Gia Lai, giá tôm thẻ chân trắng đã giảm 20.000 - 30.000 đồng/kg so với trước. Hiện tôm cỡ 100 con/ kg được thu mua khoảng 90.000 đồng/kg, còn tôm cỡ 56 con/kg ở mức 110.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá thức ăn tăng gần 1.600 đồng/ kg khiến chi phí sản xuất tăng, lợi nhuận của người nuôi bị thu hẹp. Ngành thủy sản địa phương khuyến cáo các hộ nuôi chủ động áp dụng các giải pháp kỹ thuật, tăng cường quản lý môi trường ao, sử dụng con giống sạch bệnh và thực hiện nghiêm các biện pháp an toàn sinh học nhằm giảm chi phí, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất. VĨNH LONG

Giá tôm thẻ chân trắng giảm sâu, người nuôi phải treo ao Giá tôm thẻ chân trắng nguyên liệu tại Vĩnh Long tiếp tục giảm mạnh, khiến nhiều hộ nuôi rơi vào tình trạng không có lãi. Trước áp lực giá bán xuống thấp, nhiều hộ phải kéo dài thời gian nuôi (neo tôm) chờ giá phục hồi hoặc tạm ngưng thả giống vụ mới để hạn chế thua lỗ. Tại xã Long Thành, vùng nuôi trọng điểm của tỉnh, tôm cỡ 30 con/kg hiện được thu mua ở mức 105.000 - 115.000 đồng/kg, còn cỡ 40 con/kg dao động 90.000 - 100.000 đồng/kg, giảm 20.000 - 30.000 đồng/kg so với hai tuần trước. Theo ngành nông nghiệp địa phương, giá tôm giảm chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường lớn phục hồi chậm và áp lực cạnh tranh từ các nước xuất khẩu. Người nuôi được khuyến cáo theo dõi sát diễn biến thị trường, lựa chọn thời điểm thu hoạch phù hợp, đồng thời áp dụng tốt các biện pháp an toàn sinh học và quản lý ao nuôi để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất. ĐBSCL

Giữa tháng 7, giá các cỡ tôm lớn tăng nhẹ Giữa tháng 7, thị trường tôm nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận tín hiệu tích cực khi giá tôm thẻ chân trắng cỡ lớn tăng nhẹ khoảng 1.000 đồng/kg so với đầu tháng. Trong khi đó, giá các cỡ tôm nhỏ nhìn chung vẫn duy trì ổn định. Tại một số doanh nghiệp chế biến và cơ sở thu mua, tôm thẻ chân trắng cỡ lớn được điều chỉnh tăng nhẹ, phản ánh nhu cầu đối với phân khúc này có dấu hiệu cải thiện. Mặc dù giá tôm cỡ lớn có dấu hiệu phục hồi, nhưng xu hướng tăng chưa rõ nét khi sức mua từ các thị trường xuất khẩu chưa bứt phá, trong khi nguồn cung tại nhiều vùng nuôi trọng điểm vẫn khá dồi dào. ANH VŨ

27


28 GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

ECUADOR

Tháng 5, xuất khẩu tôm đạt kỷ lục Tháng 5 vốn là thời điểm cao điểm xuất khẩu tôm của Ecuador, tuy nhiên quy mô xuất khẩu trong năm 2026 đã vượt xa các năm trước. Theo đó, nước này xuất khẩu 165.538 tấn tôm trong tháng 5, tăng 9% so cùng kỳ năm trước và là mức xuất khẩu theo tháng cao nhất từ trước đến nay, vượt kỷ lục 151.521 tấn được thiết lập vào tháng 5/2025. Kim ngạch xuất khẩu đạt 847 triệu USD, tăng 8%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, Ecuador xuất khẩu 668.763 tấn tôm, tăng 13% so cùng kỳ năm trước; kim ngạch đạt 3,52 tỷ USD, tăng 12%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Ecuador, với khối lượng đạt 83.466 tấn trong tháng 5 và 342.669 tấn trong 5 tháng đầu năm, khẳng định vai trò là thị trường tiêu thụ chủ lực của ngành tôm nước này. MỸ

Tôm châu Á mất lợi thế giá Theo dữ liệu của Expana cập nhật đến giữa tháng 6/2026, chênh lệch giá giữa các phân khúc tôm tại thị trường Mỹ đang ở mức cao kỷ lục. Giá tôm EZ Peel nhập khẩu từ châu Á đạt 4,82 USD/pound, trong khi tôm HLSO từ Mỹ Latinh (chủ yếu từ Ecuador) chỉ ở mức 3,81 USD/ pound. So cùng kỳ năm trước, giá bán buôn của đa số phân khúc tôm tăng khoảng 15%, riêng tôm HLSO lại giảm gần 5%. Nguyên nhân chủ yếu là do chính sách thuế quan mới của Mỹ, với mức thuế áp lên tôm từ Việt Nam (20%), Indonesia (19%) và Ấn Độ (25%, có thể tăng lên 50% sau ngày 27/8), khiến chi phí tôm châu Á tăng đáng kể. Trong khi đó, Ecuador chỉ chịu mức thuế 15%, tạo lợi thế cạnh tranh và giúp nước này duy trì giá bán hấp dẫn hơn, qua đó nới rộng khoảng cách giá giữa tôm Mỹ Latinh và tôm châu Á trên thị trường Mỹ. Ả RẬP XÊ ÚT

Dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu tôm từ Indonesia Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Ả Rập Xê Út (SFDA) đã chính thức gỡ bỏ lệnh tạm ngừng nhập khẩu tôm từ Indonesia sau gần 9 tháng áp dụng. Trước đó, vào tháng 9/2025, Ả Rập Xê Út đã đình chỉ giấy phép xuất khẩu của 4 doanh nghiệp Indonesia sau khi cơ quan Mỹ phát hiện dấu vết đồng vị phóng xạ Cesium-137 trong một số lô tôm nhập khẩu từ quốc gia này. Indonesia xác nhận nguồn gốc phóng xạ liên quan đến một nhà máy thép tại Banten, khẳng định đây là sự cố cục bộ và không làm ảnh hưởng đến tính an toàn chung của chuỗi cung ứng thủy sản quốc gia. Indonesia đã nhanh chóng đạt được thỏa thuận với Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) để nối lại xuất khẩu ngay từ tháng 10/2025, nhưng phía Ả Rập Xê Út vẫn duy trì lệnh hạn chế nghiêm ngặt cho đến cuối tháng 5/2026. HÀN QUỐC

Nhập khẩu tôm giảm 14% trong tháng 5 Theo số liệu của Hải quan Hàn Quốc, nước này nhập khẩu 7.940 tấn tôm trong tháng 5/2026, giảm 14% so cùng kỳ năm trước; trị giá đạt 59,37 triệu USD, giảm 7%. Trong đó, lượng tôm nhập khẩu từ Việt Nam đạt 3.830 tấn, giảm 14%; từ Peru đạt 517 tấn, giảm 54%. Ngược lại, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 26%, đạt 2.230 tấn; từ Thái Lan tăng 11%, đạt 376 tấn. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, Hàn Quốc nhập khẩu 42.580 tấn tôm, tăng 5% so cùng kỳ; trị giá đạt 314,32 triệu USD, tăng 7%. Ba nguồn cung lớn nhất của thị trường này lần lượt là Việt Nam, Trung Quốc và Peru.


GIAO THƯƠNG THỊ TRƯỜNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

BRAZIL

Đẩy mạnh tiêu thụ tôm nội địa Trước nhu cầu từ thị trường EU chững lại và giá tôm xuất khẩu giảm do do cạnh tranh từ Ecuador và các nước châu Á, nhiều doanh nghiệp chế biến và hợp tác xã nuôi tôm ở Đông Bắc Brazil đang chuyển hướng mạnh sang thị trường nội địa, tập trung vào các đô thị lớn như São Paulo và Rio de Janeiro. Để thích ứng, các nhà máy đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng giá trị gia tăng như tôm bóc vỏ, tôm tẩm sẵn và tôm ăn liền nhằm mở rộng kênh bán lẻ trong nước. Nhờ đó, lượng tôm giao dịch tại chợ đầu mối Ceagesp tăng 14,3% so cùng kỳ, trong khi giá tôm duy trì ổn định và cạnh tranh tốt với các loại thịt khác. ẤN ĐỘ

Bang Andhra Pradesh can thiệp giảm giá thức ăn thủy sản Trước tình trạng giá thức ăn thủy sản tăng cao do chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang, chính quyền bang Andhra Pradesh (Ấn Độ) đã làm trung gian giữa người nuôi và doanh nghiệp để bình ổn giá. Theo thỏa thuận đạt được, giá bán lẻ tối đa của thức ăn thủy sản sẽ giảm 4 rupee/kg, từ 112 rupee xuống còn khoảng 108 rupee/kg (tương đương từ 1,34 USD xuống 1,29 USD/kg). Bên cạnh đó, chính quyền bang đã thành lập một ủy ban gồm đại diện ngành nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp sản xuất thức ăn và các cơ quan liên quan để xây dựng cơ chế định giá bền vững, đồng thời nghiên cứu các giải pháp về chế biến và kiểm soát ô nhiễm. Báo cáo của ủy ban dự kiến sẽ được hoàn thiện trong vòng 20 ngày. Ngoài biện pháp bình ổn giá thức ăn, bang Andhra Pradesh cũng tiếp tục duy trì chính sách trợ giá điện 1,5 rupee/kWh cho ngành nuôi trồng thủy sản. Trong hai năm qua, tổng kinh phí hỗ trợ đã đạt 1.543 crore rupee (khoảng 185 triệu USD). THÁI LAN

Giá tôm giảm mạnh Việc Malaysia chính thức tạm ngừng nhập khẩu 5 loài tôm của Thái Lan từ ngày 1/6/2026 đã khiến giá tôm nguyên liệu tại nước này giảm mạnh. Giá tôm thẻ chân trắng từ khoảng 200 baht/kg xuống còn khoảng 160 baht/kg. Mỗi năm, Malaysia nhập khoảng 10.000 tấn tôm từ Thái Lan. Hoạt động xuất khẩu, đặc biệt tại khu vực biên giới với sản lượng 30 - 100 tấn tôm tươi/ngày, hiện bị đình trệ do các quy định kiểm soát mới. Hai nước đang thúc đẩy đàm phán song phương và tín hiệu tích cực bước đầu được kỳ vọng sẽ sớm khơi thông thương mại, góp phần ổn định giá tôm và hỗ trợ người nuôi. INDONESIA

Xuất khẩu tôm tiếp tục sụt giảm Trong tháng 5/2026, Indonesia xuất khẩu 15.937 tấn tôm, giảm 27% so cùng kỳ năm trước; kim ngạch đạt 134 triệu USD, giảm 26%. Tính chung 5 tháng đầu năm, lượng tôm xuất khẩu đạt 78.341 tấn, giảm 16%. Ở từng nhóm sản phẩm, xuất khẩu tôm thẻ chân trắng tươi sống đạt 7.261 tấn, giảm 31%; tôm sú tươi sống đạt 763 tấn, giảm 11%; tôm chế biến sẵn đạt 3.526 tấn, giảm 41%. Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Indonesia. Tuy nhiên, trong tháng 5, lượng tôm xuất sang thị trường này chỉ đạt 8.178 tấn, giảm tới 44% so cùng kỳ năm trước. ĐỨC DŨNG

29


30 NHÌN RA THẾ GIỚI

CON TÔM THÁNG 7/2026

NUTRACEUTICALS

Hướng tới nuôi tôm bền vững Trước áp lực dịch bệnh, biến động môi trường và yêu cầu giảm sử dụng kháng sinh, ngành tôm đang chuyển từ tư duy phòng trị bệnh sang quản lý sức khỏe vật nuôi một cách chủ động. Trong đó, Nutraceuticals được xem là giải pháp dinh dưỡng giàu tiềm năng, góp phần tăng sức đề kháng và hướng tới nuôi tôm bền vững.

Nutraceuticals được kỳ vọng góp phần nâng cao sức khỏe và hiệu quả nuôi tôm

Dinh dưỡng chức năng

Trong nhiều năm qua, việc kiểm soát bệnh trên tôm chủ yếu dựa vào quản lý môi trường, xử lý nước và sử dụng thuốc trong một số trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay đang chuyển sang cách tiếp cận phòng ngừa, trong đó tăng cường sức khỏe tự nhiên của tôm được xem là nền tảng quan trọng. Trước thực tế đó, ngành thủy sản đang tìm kiếm các giải pháp bổ trợ theo hướng tự nhiên hơn, với dinh dưỡng giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng sức khỏe vật nuôi ngay từ đầu. Thuật ngữ Nutraceutical được nhà nghiên cứu Stephen DeFelice đưa ra năm 1989, là sự kết hợp giữa hai từ nutrition (dinh dưỡng) và pharmaceutical (dược phẩm). Khái niệm này chỉ các hợp chất có nguồn gốc từ thực phẩm hoặc tự nhiên, vừa cung cấp giá trị dinh dưỡng vừa mang lại lợi ích sinh học vượt ngoài chức năng dinh dưỡng cơ bản. Theo bài tổng quan của Dr. Pratapa M.G. và cộng sự thuộc Viện Nghiên cứu

Ảnh: ST

Nông nghiệp Tích hợp Mahatma Gandhi (ICAR, Ấn Độ), Nutraceuticals có tiềm năng cải thiện tăng trưởng, tăng cường miễn dịch, nâng cao khả năng kháng bệnh và giảm phụ thuộc vào kháng sinh cũng như hóa chất tổng hợp. Đối với tôm nuôi, các hợp chất này thường được bổ sung qua thức ăn nhằm hỗ trợ tiêu hóa, cân bằng hệ vi sinh đường ruột và tăng khả năng thích nghi trước các tác động bất lợi từ môi trường.

Nuôi tôm khỏe bắt đầu từ đường ruột

Trong các nhóm Nutraceuticals, probiotic và prebiotic được ứng dụng phổ biến nhất trong nuôi tôm. Probiotic bổ sung các vi sinh vật có lợi giúp duy trì cân bằng hệ vi sinh đường ruột, hỗ trợ tiêu hóa và hạn chế sự phát triển của vi khuẩn bất lợi. Trong khi đó, prebiotic là nguồn dinh dưỡng thúc đẩy sự phát triển của các vi sinh vật có lợi, góp phần duy trì môi trường đường ruột ổn định.

Đối với tôm, loài có hệ miễn dịch chủ yếu dựa vào cơ chế miễn dịch bẩm sinh, sức khỏe đường ruột có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi hệ tiêu hóa hoạt động ổn định, tôm hấp thu dinh dưỡng hiệu quả hơn, tăng trưởng đồng đều và nâng cao khả năng chống chịu trước các tác nhân gây stress. Bên cạnh probiotic và prebiotic, các dưỡng chất như axit amin, vitamin và axit béo thiết yếu cũng góp phần nâng cao sức khỏe tôm. Arginine và lysine tham gia vào quá trình sinh trưởng và đáp ứng miễn dịch; Vitamin C và Vitamin E hỗ trợ chống ôxy hóa, giúp giảm tác động của các yếu tố stress trong điều kiện nuôi mật độ cao. Ngoài ra, các hợp chất sinh học từ rong biển và thảo dược cũng đang được quan tâm nhờ khả năng kích thích miễn dịch tự nhiên. Các polysaccharide trong rong biển có thể hỗ trợ tăng cường hoạt động miễn dịch, cải thiện khả năng chống ôxy hóa và nâng cao sức khỏe tổng thể của tôm.

Giảm phụ thuộc kháng sinh

Cùng với các nhóm dưỡng chất truyền thống, công nghệ nano đang mở ra hướng phát triển mới cho Nutraceuticals. Các chế phẩm như nano-selenium hay nano-chitosan được nghiên cứu nhằm nâng cao khả năng hấp thu, tăng sinh khả dụng của hoạt chất và cải thiện hiệu quả sử dụng trong thức ăn. Tuy nhiên, để Nutraceuticals được ứng dụng rộng rãi trong nuôi tôm thương mại, vẫn cần thêm các nghiên cứu về liều lượng tối ưu, hiệu quả trên từng mô hình nuôi và khả năng áp dụng ở quy mô sản xuất. Nutraceuticals không thay thế hoàn toàn các biện pháp phòng trị bệnh, nhưng có thể trở thành công cụ hỗ trợ giúp người nuôi chuyển từ tư duy điều trị khi tôm mắc bệnh sang chủ động xây dựng sức khỏe vật nuôi, góp phần hướng tới các mô hình nuôi hiệu quả và bền vững hơn. LAN KHUÊ

(Theo Thefishsite)


NHÌN RA THẾ GIỚI

CON TÔM THÁNG 7/2026

Nguồn nguyên liệu mới từ vi tảo Trước biến động nguồn cung dầu cá, chi phí nguyên liệu thức ăn gia tăng và yêu cầu phát triển thủy sản bền vững, ngành tôm đang tìm kiếm các giải pháp dinh dưỡng thay thế nhằm nâng cao sức khỏe vật nuôi. Dầu Omega-3 từ vi tảo được xem là nguồn nguyên liệu tiềm năng, góp phần đa dạng hóa nguồn Omega-3, cân bằng dinh dưỡng trong thức ăn và giảm phụ thuộc vào dầu cá truyền thống. Trong nhiều thập kỷ, dầu cá là nguồn cung cấp Omega-3 quan trọng cho thức ăn thủy sản nhờ chứa hai axit béo thiết yếu EPA (eicosapentaenoic acid) và DHA (docosahexaenoic acid). Hai dưỡng chất này tham gia duy trì cấu trúc màng tế bào, hỗ trợ chuyển hóa năng lượng, tăng trưởng và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, nguồn cung dầu cá đang ngày càng chịu tác động bởi nhiều yếu tố như biến đổi khí hậu, biến động sản lượng khai thác và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng từ các ngành khác nhau. Đặc biệt, những hiện tượng thời tiết cực đoan như El Niño đã nhiều lần ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá cơm Peru, nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất dầu cá trên thế giới. Trong bối cảnh đó, dầu Omega-3 từ vi tảo đang mở ra thêm lựa chọn cho ngành thức ăn thủy sản, giúp các nhà sản xuất chủ động hơn trong việc xây dựng công thức dinh dưỡng, đồng thời giảm áp lực phụ thuộc vào nguồn dầu cá tự nhiên.

Cân bằng EPA và DHA trong dinh dưỡng tôm

Theo Veramaris, doanh nghiệp phát triển các dòng dầu Omega-3 từ vi tảo, việc bổ sung Omega-3 không chỉ cần đảm bảo tổng hàm lượng EPA và DHA mà còn phải chú trọng tỷ lệ cân bằng giữa hai axit béo này. Từ dòng sản phẩm giàu DHA với tỷ lệ EPA:DHA khoảng 1:3, Veramaris đã phát triển thêm dầu Omega-3 từ vi tảo có tỷ lệ EPA:DHA khoảng 1,5:1, giúp các nhà sản xuất thức ăn linh hoạt hơn trong việc xây dựng công thức phù hợp với nhu cầu của từng loài thủy sản. Đối với tôm nuôi, EPA và DHA là những axit béo quan trọng tham gia vào quá trình hình thành màng tế bào, chuyển hóa năng lượng, sinh trưởng và khả năng thích nghi với những thay đổi của môi trường nuôi. Do

Vi tảo là nguồn nguyên liệu giàu Omega-3

khả năng tự tổng hợp các axit béo này của tôm còn hạn chế, nguồn bổ sung từ thức ăn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược quản lý dinh dưỡng. Veramaris cho biết doanh nghiệp đã thực hiện các nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của dinh dưỡng Omega-3 đối với tôm. Kết quả cho thấy các axit béo này có khả năng tích lũy trong cơ thịt tôm, góp phần nâng cao giá trị dinh dưỡng của sản phẩm đối với người tiêu dùng. Bên cạnh vai trò trong sức khỏe vật nuôi, việc phát triển nguồn Omega-3 từ vi tảo còn giúp ngành tôm giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu cá, nguyên liệu vốn chịu nhiều biến động về nguồn cung và giá cả.

Hướng tới nguồn nguyên liệu bền vững

Nhu cầu về các nguồn Omega-3 thay thế tăng mạnh trong giai đoạn El Niño 2023 - 2024, khi nguồn cung dầu cá toàn cầu bị ảnh hưởng bởi sản lượng cá cơm Peru sụt giảm. Trước bối cảnh đó, nhiều nhà sản xuất thức ăn thủy sản đã bắt đầu

Ảnh: iStock

quan tâm hơn đến các nguồn nguyên liệu thay thế như dầu Omega-3 từ vi tảo nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Song song với đó, ngành thức ăn thủy sản cũng đẩy mạnh nghiên cứu các nhóm nguyên liệu chức năng như probiotic, prebiotic, enzyme và các hợp chất sinh học nhằm nhằm nâng cao hiệu quả nuôi, giảm áp lực sử dụng thuốc và hướng tới mô hình sản xuất bền vững hơn. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, chất lượng dinh dưỡng và tác động môi trường của sản phẩm, các giải pháp thay thế nguyên liệu truyền thống như dầu Omega-3 từ vi tảo được kỳ vọng sẽ giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi giá trị thủy sản. Đây cũng là xu hướng cho thấy ngành tôm đang chuyển dần từ mục tiêu tối ưu sản lượng sang quản lý sức khỏe vật nuôi thông qua dinh dưỡng, hướng tới hiệu quả và tính bền vững lâu dài. LAN KHUÊ

(Theo Aquafeed)

31


32

CON TÔM THÁNG 7/2026

THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP


CON TÔM THÁNG 7/2026

33


34

CON TÔM THÁNG 7/2026


CON TÔM THÁNG 7/2026

35


36 THỨC ĂN - DINH DƯỠNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

Hệ thống cho ăn tự động hỗ trợ quản lý lượng thức ăn và tần suất cho ăn

Ảnh: Tép Bạc

Cho ăn thông minh thúc đẩy tăng trưởng tôm sú Một nghiên cứu mới công bố trên Aquaculture Reports đã đánh giá tác động của phương pháp cho ăn tần suất cao bằng hệ thống cho ăn thông minh đối với tôm sú (Penaeus monodon), qua đó cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu quản lý cho ăn trong nuôi thương phẩm.

Thiết kế nghiên cứu

Tôm sú dùng trong nghiên cứu có khối lượng ban đầu trung bình khoảng 5,45 g/ con và chiều dài khoảng 70,5 mm. Tôm được nuôi trong ao nhà kính, mỗi ao có thể tích nước khoảng 400 m³. Trong quá trình nuôi, các điều kiện môi trường được duy trì tương đối ổn định: ôxy hòa tan trên 5 mg/L, độ mặn 26‰, nhiệt độ 25 - 28°C và pH khoảng 8,3. Hai nhóm thí nghiệm được bố trí như sau: Nhóm cho ăn tần suất thấp: cho ăn 4 lần/ngày vào các thời điểm 5h, 10h, 15h và 20h. Nhóm cho ăn tần suất cao: cho ăn 72 lần/ngày, trung bình 20 phút/lần. Điểm đáng chú ý là tổng lượng thức ăn hằng ngày được tính theo sinh khối tôm.

Ban đầu, lượng thức ăn bằng khoảng 5% tổng khối lượng tôm; khi tôm đạt chiều dài trên 10 cm thì giảm còn 3% sinh khối. Như vậy, khác biệt chính không phải là nhóm tần suất cao được ăn nhiều hơn, mà là cùng một lượng thức ăn nhưng được chia nhỏ thành nhiều lần hơn.

Kết quả

Sau 35 ngày, nhóm tôm được cho ăn 72 lần/ngày có kết quả tăng trưởng vượt trội so nhóm cho ăn 4 lần/ngày. Sự khác biệt về khối lượng bắt đầu rõ từ ngày thứ 14, còn sự khác biệt về chiều dài rõ hơn từ khoảng ngày thứ 21. Đến cuối thí nghiệm, tôm ở nhóm cho ăn tần suất cao đạt chiều dài trung bình khoảng 126,36 mm và khối

lượng trung bình 22,08 g/con. Trong khi đó, nhóm cho ăn tần suất thấp chỉ đạt chiều dài khoảng 109,50 mm và khối lượng 13,87 g/con. Như vậy, chỉ sau hơn một tháng, việc chia nhỏ bữa ăn đã tạo ra khác biệt khá lớn về kích cỡ tôm. Không chỉ tăng trọng tốt hơn, nhóm cho ăn nhiều lần còn có các chỉ tiêu tăng trưởng như tốc độ tăng trưởng đặc hiệu, tỷ lệ tăng trọng và tăng trưởng chiều dài đều cao hơn. Đặc biệt, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp hơn, cho thấy tôm sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. Đối với người nuôi, đây là điểm rất quan trọng, vì FCR thấp đồng nghĩa với giảm chi phí thức ăn và giảm lượng chất thải ra môi trường ao.


THỨC ĂN - DINH DƯỠNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

Hiệu quả khi cho ăn nhiều lần

Có thể hiểu đơn giản rằng tôm sú có tập tính ăn rải rác. Khi cho ăn nhiều bữa nhỏ, thức ăn xuất hiện trong ao thường xuyên hơn nhưng với lượng ít hơn mỗi lần. Điều này phù hợp hơn với tập tính bắt mồi của tôm. Tôm có thể ăn đều, giảm cạnh tranh, giảm tình trạng con lớn ăn nhiều, con nhỏ ăn ít, đồng thời hạn chế thức ăn dư thừa. Ngược lại, khi cho ăn 4 lần/ngày, lượng thức ăn mỗi lần lớn hơn nhiều. Nếu tôm không ăn hết trong thời gian ngắn, thức ăn sẽ tan rã, lắng xuống đáy, làm tăng chất hữu cơ và có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước. Trong ao nuôi mật độ cao, thức ăn thừa là một trong những nguồn chính làm tăng khí độc, bùn đáy và vi khuẩn có hại. Vì vậy, quản lý tần suất cho ăn không chỉ liên quan đến tăng trưởng, mà còn liên quan trực tiếp đến sức khỏe ao nuôi. Ngoài tăng trưởng, nghiên cứu còn phân tích hệ vi sinh đường ruột của tôm. Kết quả cho thấy nhóm cho ăn tần suất cao có độ đa dạng vi khuẩn đường ruột cao hơn. Trong nuôi thủy sản, hệ vi sinh đường ruột đa dạng và cân bằng thường được xem là dấu hiệu tốt, vì nó giúp hỗ trợ tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng và tăng sức khỏe đường ruột. Ở nhóm cho ăn 72 lần/ngày, các nhóm vi khuẩn có lợi hoặc có liên quan đến môi trường đường ruột ổn định như Rhodobacteraceae, Lachnospiraceae, Bacillus và Ruegeria xuất hiện nhiều hơn. Những nhóm này có thể liên quan đến phân giải chất hữu cơ, hỗ trợ tiêu hóa, tạo các chất chuyển hóa có lợi và giúp duy trì cân bằng vi sinh. Ngược lại, nhóm cho ăn 4 lần/ngày có tỷ lệ Vibrionaceae và Photobacterium cao hơn. Đây là các nhóm vi khuẩn cần được chú ý trong nuôi tôm, vì nhiều loài trong nhóm này có thể trở thành vi khuẩn cơ hội khi môi trường xấu, tôm bị stress hoặc chất hữu cơ tích tụ nhiều. Điều này không có nghĩa là cho ăn 4 lần/ngày chắc chắn gây bệnh, nhưng cho thấy cách cho ăn ít lần, lượng lớn mỗi lần có thể tạo điều kiện bất lợi hơn cho cân bằng vi sinh đường ruột và môi trường nuôi. Nghiên cứu cũng phân tích các chất chuyển hóa trong huyết thanh tôm. Kết quả cho thấy nhóm cho ăn tần suất cao có sự thay đổi tích cực ở nhiều chất liên quan đến chuyển hóa axit amin và tạo năng lượng. Một số chất như L-alanine, aspartate, citric axit, succinic axit và oxaloacetic axit tăng lên ở nhóm cho ăn nhiều lần. Nói đơn giản, khi tôm được ăn nhiều bữa nhỏ, cơ thể có thể sử dụng dinh dưỡng ổn định hơn. Các

Quản lý thức ăn hiệu quả góp phần nâng cao tốc độ sinh trưởng của tôm sú

quá trình tạo năng lượng và tổng hợp chất cần cho tăng trưởng hoạt động tốt hơn. Điều này giải thích vì sao nhóm tôm cho ăn tần suất cao vừa lớn nhanh hơn, vừa sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

Từ nghiên cứu đến thực tiễn

Kết quả nghiên cứu rất tích cực, nhưng người nuôi không nên hiểu rằng mọi ao nuôi đều phải áp dụng đúng 72 lần/ngày. Đây là tần suất được thử nghiệm trong điều kiện có hệ thống cho ăn thông minh, môi trường kiểm soát tốt và thời gian thí nghiệm 35 ngày. Trong thực tế, hiệu quả còn phụ thuộc vào loài tôm, cỡ tôm, mật độ, hệ thống nuôi, chất lượng nước, loại thức ăn, thời tiết và khả năng quản lý của từng trại. Điều quan trọng nhất rút ra từ nghiên cứu không phải là con số 72, mà là nguyên tắc: nên chia nhỏ lượng thức ăn và cho ăn rải đều hơn trong ngày, thay vì cho ăn ít lần với lượng lớn. Với các trại chưa có hệ thống tự động, có thể tăng dần số lần cho ăn trong khả năng quản lý, ví dụ từ 4 lần lên 6 - 8 lần/ ngày, kết hợp kiểm tra sàng ăn, đường ruột và chất lượng nước. Với các trại thâm canh hoặc siêu thâm canh đã có máy cho ăn, có thể thử nghiệm tần suất cao hơn nhưng cần theo dõi sát FCR, tốc độ lớn, chất lượng đáy và sức khỏe tôm. Một số đề xuất cho người nuôi: Thứ nhất, nên chuyển tư duy từ “cho ăn đủ lượng” sang “cho ăn đúng thời điểm, đúng lượng và chia nhỏ hợp lý”. Cùng một lượng thức ăn, cách phân bổ khác nhau có thể tạo ra hiệu quả rất khác nhau. Thứ hai, khi tăng tần suất cho ăn, không nên tự động tăng tổng lượng thức ăn. Nếu tăng số lần nhưng cũng tăng quá nhiều tổng

Ảnh: Thefishsite

lượng thức ăn, ao vẫn có nguy cơ dư thừa thức ăn và xấu nước. Cần tính lượng ăn theo sinh khối, tình trạng bắt mồi và tốc độ tăng trưởng thực tế. Thứ ba, cần kiểm tra sàng ăn, màu ruột, gan tụy, phân tôm và hoạt động bắt mồi. Nếu tôm ăn yếu, ruột rỗng, nước xấu hoặc đáy ao có mùi, cần điều chỉnh ngay lượng ăn và tần suất cho ăn. Thứ tư, với hệ thống cho ăn tự động, cần hiệu chỉnh máy định kỳ. Máy cho ăn thông minh chỉ hiệu quả khi lượng thức ăn, thời gian phun, vị trí đặt máy và vùng phân bố thức ăn phù hợp. Nếu máy rải không đều, một số khu vực thừa thức ăn trong khi khu vực khác tôm lại thiếu ăn. Thứ năm, nên kết hợp quản lý thức ăn với kiểm soát tốt môi trường. Cho ăn nhiều lần sẽ phát huy hiệu quả tốt nhất khi ôxy hòa tan ổn định, pH và kiềm phù hợp, đáy ao sạch, hệ vi sinh nước ổn định và tôm không bị stress. Tóm lại, nghiên cứu này cho thấy cho tôm sú ăn tần suất cao bằng hệ thống thông minh có thể cải thiện tăng trưởng, giảm FCR, làm hệ vi sinh đường ruột cân bằng hơn và tăng hiệu quả chuyển hóa dinh dưỡng. Đối với người nuôi, thông điệp thực tế nhất là: cho ăn nhiều bữa nhỏ, kiểm soát tốt tổng lượng thức ăn và theo dõi phản ứng của tôm sẽ hiệu quả hơn so với cho ăn ít bữa với lượng lớn. Đây là một hướng quản lý đáng quan tâm trong các mô hình nuôi tôm thâm canh, đặc biệt khi chi phí thức ăn ngày càng cao và yêu cầu giảm ô nhiễm ao nuôi ngày càng cấp thiết. THS LÊ XUÂN CHINH HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

37


38 KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 7/2026

Phòng bệnh đầu vàng trên tôm Bệnh đầu vàng do virus gây ra, có khả năng lây lan rất nhanh, khiến tôm chết hàng loạt chỉ trong vài ngày nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời.

Phòng bệnh

Thực hiện chẩn đoán bằng kỹ thuật RTPCR hoặc real-time RT PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710- 4:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực.

Trước hết, cần cải tạo ao kỹ lưỡng, loại bỏ bùn đáy, diệt mầm bệnh và xử lý nước theo đúng quy trình trước khi cấp vào ao nuôi. Hệ thống cấp và thoát nước nên tách biệt, có lưới lọc để ngăn chặn sinh vật mang mầm bệnh xâm nhập. Thiết kế hệ thống xi phông đáy để loại bỏ chất thải hữu cơ và mầm bệnh. Sử dụng giống khỏe mạnh, nguồn gốc từ đàn bố mẹ SPF và đã được kiểm dịch theo quy định. Trang bị lưới chắn chim, rào chắn ngăn chặn vật chủ trung gian như cua, còng. Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng ao và khử trùng sau mỗi lần sử dụng. Hạn chế người lạ vào khu vực nuôi; thực hiện vệ sinh, khử trùng người và phương tiện khi ra vào cơ sở. Duy trì các chỉ tiêu môi trường ổn định, hàm lượng ôxy hòa tan (DO) > 5 mg/L, pH 7,5 - 8,3), hạn chế thay nước đột ngột gây stress cho tôm. Sử dụng thức ăn chất lượng, bổ sung men vi sinh, Vitamin C, khoáng chất và chất kích thích miễn dịch (β-glucan) để nâng cao sức đề kháng. Định kỳ dùng chế phẩm sinh học để ức chế vi khuẩn có hại (Vibrio spp.) và ổn định hệ vi sinh vật ao nuôi. Theo dõi sức khỏe tôm hàng ngày.

Dấu hiệu

Xử lý khi nghi ngờ có bệnh

Tôm sú là loài mẫn cảm nhất với bệnh đầu vàng

Nguyên nhân

Bên do Yellow Head Virus genotype 1 (YHV-1), thuộc chi Okavirus, họ Roniviridae. Đây là loại virus có cấu trúc RNA sợi đơn, hình que và có màng bao lipid bên ngoài. Trong số 9 kiểu gen đã được phát hiện, YHV1 là dòng có độc lực cao nhất, gây ra tỷ lệ chết lên đến 70 - 100% chỉ trong 3 - 10 ngày.

Đặc điểm dịch tễ

Loài cảm nhiễm: Tôm sú (Penaeus monodon) là loài mẫn cảm nhất, dễ chết hàng loạt. Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) có thể nhiễm nhưng biểu hiện nhẹ. Ngoài ra, một số loài tôm khác như P. japonicus, P. chinensis, Metapenaeus ensis cũng có thể bị nhiễm. Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm mẫn cảm nhất và dễ phát bệnh nhất ở giai đoạn từ 30 - 70 ngày tuổi. Mùa vụ: Bệnh thường bùng phát mạnh vào đầu mùa mưa hoặc giai đoạn chuyển mùa khi thời tiết khắc nghiệt, nhiệt độ nước dao động lớn và độ mặn giảm đột ngột. Vùng xuất hiện bệnh: Phổ biến tại các vùng nuôi trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh Duyên hải miền Trung và miền Bắc. Phương thức truyền lây: - Truyền ngang: Tôm khỏe ăn xác hoặc

Ảnh: Truscendfishing

phân tôm bệnh; virus tồn tại trong nước, bùn đáy; lây qua động vật trung gian (cua, cá nhỏ, giáp xác) hoặc dụng cụ, con người. - Truyền dọc: Lây trực tiếp từ tôm bố mẹ mang mầm bệnh qua trứng và ấu trùng trong quá trình sinh sản.

Chẩn đoán xét nghiệm

Triệu chứng: Tôm tiêu thụ thức ăn lớn bất thường trong vài ngày, sau đó đột ngột bỏ ăn hoàn toàn, bơi lờ đờ, phản ứng chậm chạp và tấp vào ven bờ. Bệnh tích đặc trưng: Phần giáp đầu ngực của tôm chuyển sang màu vàng nhạt đến vàng sẫm. Khối gan tụy sưng to, có màu vàng sáng hoặc vàng nhạt. Thân tôm mềm, mắt chuyển sang màu sẫm, dạ dày và đường ruột hoàn toàn trống rỗng. Trên tôm thẻ chân trắng, các biểu hiện vàng đầu có thể không xuất hiện rõ ràng bằng mắt thường. Bệnh tích vi thể: Hoại tử tế bào diện rộng ở gan tụy, cơ quan tạo máu, mô lympho và mang; nhân tế bào bị phân mảnh nghiêm trọng.

Khi phát hiện tôm giảm ăn đột ngột, bơi bất thường hoặc chết nhanh không rõ nguyên nhân, cần kiểm tra ngay các yếu tố môi trường và thu mẫu gửi phòng xét nghiệm để xác định nguyên nhân. Xác tôm và chất thải phải được thu gom, xử lý bằng hóa chất đúng quy định trước khi xả ra môi trường. Nếu kết quả xác định ao nuôi nhiễm virus đầu vàng, cần thực hiện các biện pháp xử lý theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Sau khi kết thúc vụ nuôi, ao phải được vệ sinh, tiêu độc khử trùng kỹ trước khi thả nuôi vụ mới. THANH HIẾU


KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 7/2026

Chủ động quản lý rủi ro trước mùa mưa bão Trong nuôi tôm, mưa bão là yếu tố khó tránh nhưng thiệt hại không hoàn toàn phụ thuộc vào cường độ của thời tiết. Sự chuẩn bị về kỹ thuật và cách quản lý ao nuôi trước, trong và sau bão mới là yếu tố quyết định khả năng bảo vệ đàn tôm trước những biến động môi trường.

Chuẩn bị ao nuôi trước bão

Khi có cảnh báo bão hoặc mưa lớn, cần kiểm tra toàn bộ hệ thống ao nuôi, đặc biệt là bờ ao, cống cấp - thoát nước, bạt lót, máy quạt nước, máy bơm và hệ thống điện để kịp thời sửa chữa những vị trí hư hỏng. Đối với ao nuôi lót bạt, cần kiểm tra các điểm neo, mép bạt và hệ thống thoát nước nhằm hạn chế nguy cơ sạt lở hoặc nước tràn bờ. Mực nước ao cũng nên được điều chỉnh phù hợp, không để quá cao nhằm tạo khoảng chứa nước mưa, giảm nguy cơ tràn ao làm thất thoát tôm. Song song với đó, người nuôi cần chuẩn bị máy phát điện dự phòng, nhiên liệu và các thiết bị sục khí để đảm bảo hệ thống quạt nước vẫn hoạt động nếu xảy ra mất điện. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với các ao nuôi thâm canh và siêu thâm canh có mật độ tôm cao.

Duy trì môi trường ổn định

Trước khi bão đến, cần kiểm tra các chỉ tiêu môi trường như pH, độ kiềm, độ mặn và ôxy hòa tan để có biện pháp điều chỉnh phù hợp. Việc duy trì các thông số trong ngưỡng ổn định giúp tôm có sức chống chịu tốt hơn khi thời tiết chuyển xấu.

Trong thời gian này, nên vận hành quạt nước nhiều hơn vào ban đêm và sáng sớm nhằm tăng cường ôxy hòa tan, đồng thời hạn chế hiện tượng phân tầng nước khi có mưa lớn.

Điều chỉnh chế độ cho ăn

Trước bão từ một đến hai ngày, hoạt động bắt mồi của tôm thường giảm do thay đổi áp suất và điều kiện thời tiết. Người nuôi cần theo dõi lượng thức ăn trong sàng để điều chỉnh khẩu phần hợp lý, tránh dư thừa làm ô nhiễm môi trường. Trong thời điểm mưa bão, không nên cố gắng duy trì lượng thức ăn như bình thường. Có thể giảm từ 20 - 50% lượng thức ăn hoặc tạm ngừng cho ăn nếu thời tiết diễn biến quá xấu và tôm bắt mồi kém. Bên cạnh đó, việc bổ sung Vitamin C, khoáng chất và các chất hỗ trợ tăng cường miễn dịch có thể giúp tôm nâng cao sức đề kháng trước các biến động bất lợi.

Kiểm tra ao ngay sau bão

Ngay khi thời tiết ổn định, người nuôi cần kiểm tra toàn bộ hệ thống ao nuôi để phát hiện những hư hỏng như sạt lở bờ,

rách bạt, hỏng cống hoặc sự cố về hệ thống điện và quạt nước. Đồng thời, cần đo lại các chỉ tiêu môi trường, đặc biệt là pH, độ kiềm, độ mặn, ôxy hòa tan và nhiệt độ. Đảm bảo các thông số này phải nằm trong ngưỡng thích hợp. Nếu phát hiện sự thay đổi bất thường, việc điều chỉnh cần được thực hiện từ từ, tránh làm môi trường biến động thêm khiến tôm tiếp tục bị sốc. Nếu phát hiện đáy ao có dấu hiệu tích tụ nhiều chất thải hoặc khí độc gia tăng, cần áp dụng các biện pháp cải thiện phù hợp. Người nuôi cũng có thể sử dụng chế phẩm sinh học nhằm ổn định môi trường sau mưa bão.

Phục hồi sức khỏe đàn tôm

Cần quan sát hoạt động của tôm thông qua sàng ăn, màu sắc gan tụy, đường ruột và khả năng bắt mồi để đánh giá tình trạng sức khỏe. Khi tôm chưa phục hồi hoàn toàn, không nên tăng mạnh lượng thức ăn mà phải điều chỉnh dần theo sức ăn thực tế. Có thể bổ sung vitamin, khoáng chất, các chế phẩm sinh học và các sản phẩm hỗ trợ chức năng gan tụy theo khuyến cáo nhằm giúp tôm phục hồi nhanh, cải thiện tiêu hóa và tăng khả năng chống chịu.

Chủ động phòng bệnh

Nhiều bệnh nguy hiểm trên tôm thường xuất hiện sau các đợt mưa lớn do sức đề kháng của vật nuôi suy giảm và môi trường mất cân bằng. Vì vậy, người nuôi cần tăng tần suất theo dõi đàn tôm trong ít nhất 5 - 7 ngày sau bão. Nếu phát hiện các dấu hiệu bất thường như tôm bỏ ăn kéo dài, bơi lờ đờ, ruột rỗng, gan tụy đổi màu hoặc tỷ lệ chết tăng, cần nhanh chóng xác định nguyên nhân thông qua kiểm tra môi trường và xét nghiệm khi cần thiết.

Cần điều chỉnh khẩu phần hợp lý, tránh dư thừa làm ô nhiễm môi trường

Ảnh: Báo Quảng Ngãi

DIỆU CHÂU

39


40 KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 7/2026

Các bước chuẩn bị trước khi thả giống Chuẩn bị ao nuôi, nguồn nước và hệ thống thiết bị trước khi thả giống là những bước quan trọng quyết định sự thành công của cả vụ nuôi. Đây cũng là giải pháp giúp giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Cải tạo ao đúng quy trình

Sau khi thu hoạch, ao nuôi cần được tháo cạn nước, loại bỏ bùn đáy ở những khu vực tích tụ nhiều chất hữu cơ như quanh sàng ăn, hố xi phông hoặc góc ao. Việc giữ lại lớp bùn quá dày sẽ làm tăng lượng khí độc và tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn lưu sang vụ nuôi tiếp theo. Đối với ao đất, sau khi vệ sinh cần phơi đáy ao đến khi nền đáy nứt chân chim hoặc đạt độ khô phù hợp, tùy điều kiện thời tiết và loại đất. Những khu vực không thể phơi khô cần được xử lý bằng các biện pháp thích hợp nhằm hạn chế mầm bệnh và cải thiện chất lượng nền đáy. Đồng thời, người nuôi cần kiểm tra bờ bao, cống cấp thoát nước, bạt lót, đường ống, hệ thống xi phông và các vị trí

có nguy cơ rò rỉ để sửa chữa trước khi cấp nước.

Chủ động nguồn nước đầu vào

Nguồn nước quyết định phần lớn sự ổn định của môi trường ao nuôi. Do đó, nước cấp cần được lấy qua lưới lọc hoặc hệ thống lọc phù hợp nhằm hạn chế sinh vật mang mầm bệnh và các loài địch hại xâm nhập. Sau khi cấp vào ao lắng, nước cần được xử lý theo quy trình kỹ thuật của từng mô hình nuôi trước khi chuyển sang ao sản xuất. Trong thời gian này, người nuôi nên kiểm tra các chỉ tiêu như độ mặn, pH, độ kiềm, nhiệt độ, độ trong và ôxy hòa tan để bảo đảm phù hợp với đối tượng nuôi. Việc sử dụng ao lắng riêng không chỉ giúp chủ động nguồn

nước sạch mà còn giảm đáng kể nguy cơ đưa mầm bệnh từ bên ngoài vào hệ thống nuôi, đặc biệt trong điều kiện thời tiết diễn biến thất thường hoặc khi dịch bệnh xuất hiện tại địa phương.

Kiểm tra toàn bộ hệ thống thiết bị

Ở các mô hình nuôi thâm canh và siêu thâm canh, hệ thống quạt nước, sục khí và cấp điện cần được vận hành thử trước khi thả giống. Người nuôi nên kiểm tra công suất hoạt động của quạt nước, máy thổi khí, máy bơm, đường dây điện, tủ điều khiển và máy phát điện dự phòng nhằm bảo đảm thiết bị hoạt động ổn định khi cần thiết. Chỉ một sự cố mất điện hoặc hỏng quạt nước trong những ngày đầu sau khi thả cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe đàn tôm. Bên cạnh đó, các thiết bị đo môi trường như máy đo pH, ôxy hòa tan, độ mặn, nhiệt độ cần được hiệu chuẩn định kỳ để bảo đảm kết quả chính xác, phục vụ việc theo dõi và điều chỉnh trong suốt vụ nuôi.

Lựa chọn giống phù hợp

Các ao bạt cần được chà sạch bề mặt đáy để đảm bảo sạch cho ao nuôi

Ảnh: AquaKing

Chất lượng con giống là yếu tố quyết định tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng trong những giai đoạn đầu. Người nuôi nên lựa chọn giống từ các cơ sở sản xuất uy tín, có nguồn gốc rõ ràng, đáp

ứng các quy định về kiểm dịch và được xét nghiệm đối với các bệnh nguy hiểm theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn. Khi tiếp nhận, cần quan sát hình thái, màu sắc, khả năng bơi lội và phản xạ của tôm để đánh giá sức khỏe ban đầu. Bên cạnh chất lượng giống, việc lựa chọn thời điểm thả cũng cần căn cứ vào điều kiện thời tiết. Không nên thả giống ngay sau mưa lớn, khi nhiệt độ biến động mạnh hoặc các chỉ tiêu môi trường chưa ổn định, bởi đây là những thời điểm tôm giống rất dễ bị sốc.

Chuẩn bị kế hoạch quản lý ngay từ đầu vụ

Khâu chuẩn bị trước khi thả giống không chỉ dừng lại ở cải tạo ao hay lựa chọn con giống mà còn bao gồm việc xây dựng kế hoạch quản lý cho cả vụ nuôi. Trước khi xuống giống, người nuôi cần tính toán mật độ thả phù hợp với điều kiện hạ tầng, nguồn nước và khả năng quản lý. Việc thả nuôi với mật độ quá cao có thể giúp tăng sản lượng nhưng đồng thời làm gia tăng áp lực lên môi trường ao, nguy cơ phát sinh dịch bệnh và chi phí sản xuất. Song song với đó, xây dựng kế hoạch theo dõi các chỉ tiêu môi trường, lịch kiểm tra sàng ăn, quản lý thức ăn, lấy mẫu đánh giá tăng trưởng và ghi chép nhật ký sản xuất. LÊ LOAN


KHOA HỌC - KỸ THUẬT

CON TÔM THÁNG 7/2026

Xử lý phèn trong ao nuôi Nước trong những ao nuôi được xây dựng trong vùng nước lợ, ven biển hay nước ngọt có thể có pH thấp do được hình thành từ vùng đất phèn tiềm tàng. Đối với các ao nuôi thủy sản ở những vùng đất bị nhiễm phèn, lượng phèn sẽ rò rỉ từ đất vào nước trong quá trình đào ao, thêm vào đó khi trời mưa, nước mưa sẽ rửa trôi phèn từ trên bờ xuống làm cho ao bị nhiễm phèn. Đất phèn chiếm 63,40% tổng lượng đất ở Việt Nam. Trong đó, diện tích đất nhiễm phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là 41,1% ở hầu hết các tỉnh: Cà Mau, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long; ĐBSCL đóng góp 71% diện tích nuôi trồng thủy sản và 54% sản lượng thủy sản của cả nước. Có 2 loại phèn ảnh hưởng đến ao tôm hiện nay: - Phèn sắt (nước đỏ): Muối kép của sắt (III) sunfat kết hợp với muối của kim loại kiềm hay amoni. Loại phèn này làm nước đỏ, chân, mang, đuôi tôm vàng. - Phèn nhôm (nước trong): Muối sunfat kép của kali và nhôm. Khi ao có phèn nhôm, nước rất trong khó lên màu, tôm rất chậm lớn.

Ảnh hưởng của phèn đến tôm

- Khó gây màu nước do tảo phát triển chậm, đặc biệt đối với tôm con (PL) ở giai đoạn đầu thì màu nước cực kỳ quan trọng. - Làm giảm pH trong ao nuôi, mà pH là một trong các yếu tố quan trọng trong quá trình nuôi, tăng độc tính của khí độc. - pH thấp làm tôm stress, kém ăn, khó lột xác, mềm vỏ, chậm lớn, tôm màu xám đen, hợp chất phèn lơ lửng bám vào mang, cản trở quá trình hô hấp của tôm. - pH thấp ảnh hưởng đến sự hoạt hóa các enzyme trong ao. Từ đó làm cho việc sử dụng các sản phẩm vi sinh hoặc chế phẩm sinh học xử lý nước đáy, bổ sung thức ăn không hiệu quả.

Xử lý

Lót bạt toàn bộ nền đáy và bờ ao: Đây là cách sử dụng màng bạt để bao bọc lót xuống đáy ao hồ nuôi tôm. Các loại bạt này thường được làm từ chất liệu nhựa với kích thước, độ dày khác nhau phù hợp với diện tích của ao tôm và nhu cầu sử dụng của các hộ nuôi. Các vật liệu phổ biến nhất của bạt lót ao nuôi tôm đó chính là HDPE, PVC và cao su EPDM. Đây đều là các nguyên liệu nguyên sinh có độ bền cao đồng thời không gây độc hại cho tôm giống và người sử dụng. Cách này có tác dụng chính trong ngăn phèn, chống xói mòn, tạo môi trường nuôi hợp vệ sinh, hạn chế rủi ro bệnh tật ở tôm nuôi. Sử dụng hóa chất (EDTA hoặc vôi): Là phương pháp được nhiều người sử dụng. Tuy nhiên, điểm hạn chế của hai cách xử lý này là: Chi phí rất cao: Lót bạt, vệ sinh ao bạt, khó gây màu nước, nhân công; Sử dụng hóa chất khối lượng lớn gây tốn kém chi phí và công tạt; Hóa chất chỉ giải quyết được phèn nhôm, phèn sắt không có tác dụng nhiều; Phèn vẫn còn tồn dư trong nước chứ không mất đi, có thể bị xì phèn sau những trận mưa. Sử dụng vi sinh: Cũng là phương pháp được rất nhiều hộ nuôi áp dụng. Vi sinh có thể tồn tại trong môi phường nước phèn giúp ôxy hóa được cả phèn sắt và nhôm, vi sinh sẽ thúc đẩy quá trình chuyển hóa phèn nhanh chóng thành các hợp chất tan được trong nước. Vi sinh cũng

Trước và sau khi xử lý phèn bằng AQUALUM CONC

có tác dụng phân hủy các chất hữu cơ dư thừa, thức ăn, xác tảo, phân... giúp giảm khí độc, giảm mùi hôi của ao nuôi. Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm, thân thiện môi trường và hiệu quả cao và kéo dài. Hiện nay, Thái Nam Việt đã nghiên cứu và phát triển thành công dòng sản phẩm vi sinh đặc biệt có khả năng phân hủy cả phèn sắt và phèn nhôm trong ao nuôi một cách hiệu quả. Sau 3 ngày sử dụng sản phẩm, màu nước ao sẽ trong xanh đẹp, tôm khỏe hơn, ăn lên mồi.

AQUALUM CONC - Sản phẩm vi sinh xử lý phèn hiệu quả ngay từ lần đầu tiên sử dụng, hiệu quả cho cả phèn sắt và phèn nhôm: Mọi chi tiết vui lòng liên hệ: 088 893 6366 hoặc website: www.thainamviet.com để biết thêm thông tin chi tiết. Công ty chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày giải pháp cho các vấn đề khác trong ao nuôi ở số tiếp theo. Mời quý bà con đón đọc! THÁI NAM VIỆT

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Công nghệ Kỹ thuật Sinh hóa Thái Nam Việt Địa chỉ: 126 Lã Xuân Oai, phường Tăng Nhơn Phú, TP Hồ Chí Minh ĐT: 091 686 5938 - 0853895939 Email: info@thainamviet.com Website: thainamviet.com

41


42 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

Anh Nguyễn Quốc Nở ở Vĩnh Long

THỨC ĂN TÔM C.P.

Giải pháp dinh dưỡng hướng đến tôm kích cỡ lớn, FCR thấp

Nhằm đồng hành cùng người nuôi, C.P. Việt Nam phát triển các dòng thức ăn tôm ứng dụng Công nghệ Dinh dưỡng Đột phá, hướng đến tối ưu hiệu quả sử dụng, hỗ trợ tôm sinh trưởng ổn định trong suốt chu kỳ phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Hướng đến mục tiêu tôm kích cỡ lớn, FCR thấp

Trong bối cảnh người nuôi ngày càng quan tâm đến việc tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất, mục tiêu nuôi tôm đạt kích cỡ thương phẩm lớn đồng thời duy trì hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở mức thấp đang trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu. Đây không chỉ là thước đo hiệu quả của một vụ nuôi mà còn góp phần giảm chi phí thức ăn, nâng cao lợi nhuận và tăng tính bền vững trong sản xuất. Để đạt được mục tiêu này, bên cạnh con giống và quy trình quản lý ao nuôi, dinh dưỡng đóng vai trò then chốt. Một giải pháp thức ăn phù hợp giúp tôm hấp thu và sử dụng dinh dưỡng hiệu quả, tạo nền tảng cho tăng trưởng ổn định và cải thiện FCR.

Dinh dưỡng là chìa khóa nâng cao hiệu quả

Trong các yếu tố quyết định hiệu quả vụ nuôi, dinh dưỡng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Một sản phẩm thức ăn chất lượng không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của tôm mà còn cần hỗ trợ khả năng tiêu hóa và hấp thu hiệu quả, giúp tôm tăng trưởng ổn định, sử dụng thức ăn tối ưu và góp phần cải thiện hệ số FCR. Nhằm đồng hành cùng người nuôi, C.P. Việt Nam phát triển các

dòng thức ăn tôm ứng dụng Công nghệ Dinh dưỡng Đột phá, hướng đến tối ưu hiệu quả sử dụng, hỗ trợ tôm sinh trưởng ổn định trong suốt chu kỳ phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Minh chứng từ các mô hình đạt kết quả thực tế

Hiệu quả của giải pháp dinh dưỡng không chỉ được ghi nhận qua kết quả tăng trưởng mà còn được minh chứng từ nhiều mô hình nuôi thực tế trên cả nước. Nhiều hộ nuôi sử dụng thức ăn tôm C.P. đã đạt tôm thương phẩm kích cỡ 20 - 34 con/kg, đồng thời duy trì hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) từ 1,12 - 1,28.

Nuôi tôm hiệu quả và bền vững

Những kết quả từ thực tiễn sản xuất cho thấy, giải pháp dinh dưỡng phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng giúp người nuôi hướng đến mục tiêu tôm lớn, FCR thấp và nâng cao hiệu quả kinh tế. Khi kết hợp cùng con giống chất lượng và quy trình quản lý phù hợp, thức ăn tôm C.P. tiếp tục đồng hành cùng người nuôi trên hành trình phát triển bền vững. C.P. VIỆT NAM


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

Những hình ảnh dưới đây là một số mô hình tiêu biểu và khách hàng đạt kết quả thực tế, góp phần minh chứng cho hiệu quả của giải pháp dinh dưỡng trong điều kiện sản xuất

Anh Trần Quốc Việt ở Tây Ninh

Chú Trịnh Đức Thuấn ở TP Hồ Chí Minh

Anh Đỗ Tiến Ninh ở Quảng Ninh

Anh Nguyễn Khiêm ở An Giang

Anh Văn Minh Cường ở Khánh Hòa

Anh Trần Văn Toán ở Vĩnh Long

Anh Đặng Trung Kiên ở Vĩnh Long

Chị Lê Thị Đợi ở TP Cần Thơ

43


44 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại lễ khai mạc khóa tập huấn

Đồng hành cùng người nuôi tôm Sáng 16/7, tại Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ, Khóa tập huấn “Người nuôi tôm chuyên nghiệp” lần thứ 14 chính thức khai mạc với chủ đề “Sản xuất xanh và bền vững”. Chương trình do Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ phối hợp với Công ty TNHH MTV Thuốc Thú y và Chế phẩm sinh học Vemedim (Vemedim Animal Health) tổ chức. Tham dự lễ khai mạc có ông Hoàng Châu Lanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ; đại diện lãnh đạo Vemedim Corporation gồm ông Lưu Phước Hậu, Phó Tổng Giám đốc Thường trực kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV Thuốc Thú y và Chế phẩm sinh học Vemedim, cùng các Phó Tổng Giám đốc Lê Quốc Túy và Phạm Mạnh Hùng. Về phía Đại học Cần Thơ có GS.TS. Trần Ngọc Hải, Phó Giám đốc Đại học Cần Thơ; GS.TS.

Nguyễn Thanh Phương, nguyên Bí thư Đảng ủy Đại học Cần Thơ; cùng lãnh đạo Trường Thủy sản, các giảng viên, chuyên gia và khoảng 70 học viên là cán bộ kỹ thuật, đại diện hợp tác xã và nông hộ nuôi tôm trong khu vực. Diễn ra trong hai ngày 16 và 17/7, khóa tập huấn được thiết kế theo hướng kết hợp giữa lý thuyết, thảo luận chuyên đề và tham quan thực tế. Nội dung chương trình tập trung trang bị cho học viên hệ

GS.TS. Trần Ngọc Hải phát biểu tại lễ khai mạc khóa tập huấn


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

thống kiến thức và kỹ năng về quy trình nuôi tôm hiện đại, quản lý môi trường ao nuôi, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, cũng như các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm rủi ro dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng an toàn, thân thiện với môi trường. Thông qua chương trình, học viên có cơ hội tiếp cận các giải pháp đổi mới trong quản lý sản xuất, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ vào thực tiễn, từ đó từng bước chuyển đổi phương thức nuôi theo hướng xanh, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao giá trị sản phẩm. Ban tổ chức cho biết, sau 13 lần tổ chức thành công, chương trình “Người nuôi tôm chuyên nghiệp” đã trở thành cầu nối giữa các nhà khoa học, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và người nuôi tôm. Đây không chỉ là diễn đàn trao đổi chuyên môn mà còn góp phần đưa các tiến bộ kỹ thuật, mô hình nuôi tiên tiến và giải pháp quản lý hiệu quả đến gần hơn với người sản xuất, qua đó hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của ngành tôm. Tiếp nối kết quả đạt được, Vemedim tiếp tục đồng hành cùng Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ triển khai chương trình trong giai đoạn 2026 - 2027. Theo kế hoạch, doanh nghiệp sẽ tài trợ 6 khóa tập huấn, tổ chức định kỳ mỗi quý một khóa. Đại diện Vemedim chia sẻ, việc đồng hành cùng chương trình là một phần trong định hướng phát triển bền vững của doanh nghiệp, thông qua hoạt động hỗ trợ đào tạo, chuyển giao tri thức và kết nối giữa giới nghiên cứu với người nuôi. Đây cũng là cơ hội để các kết quả nghiên cứu khoa học và những giải pháp kỹ thuật mới được ứng dụng hiệu quả hơn vào thực tiễn sản xuất. Trong bối cảnh ngành tôm đang hướng tới các tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải và nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, việc nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý cho người nuôi được xem là yếu tố quan trọng. Các chương trình đào tạo chuyên sâu như “Người nuôi tôm chuyên nghiệp” đã và đang góp phần hình thành đội ngũ người nuôi có tư duy sản xuất hiện đại, chủ động tiếp cận công nghệ mới và thích ứng với yêu cầu phát triển của ngành.

Vemedim Animal Health tiếp tục đồng hành cùng Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ trong đào tạo và nâng cao năng lực cho người nuôi tôm

Chương trình tập huấn kết hợp tham quan thực tế, góp phần kết nối đào tạo với doanh nghiệp

THÙY KHÁNH

Ảnh: Vemedim

Khóa tập huấn thu hút khoảng 70 học viên là cán bộ kỹ thuật, đại diện hợp tác xã và nông hộ nuôi tôm tại khu vực ĐBSCL

45


46 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

Vì sao nhiều trại tôm vẫn thua lỗ dù đã đầu tư hàng tỷ đồng? “Một trại tôm đầu tư hàng tỷ đồng cho ao nuôi, hệ thống sục khí, con giống chất lượng và thức ăn cao cấp. Thế nhưng chỉ sau vài tháng, tôm chậm lớn, tỷ lệ sống giảm, chi phí thức ăn, hóa chất, vật tư tăng cao, thậm chí có vụ nuôi phải thu hoạch sớm để cắt lỗ”. Đây không còn là câu chuyện hiếm gặp mà đang là thực trạng của các trang trại tôm hiện nay. Phần lớn người nuôi tập trung vào con giống, thức ăn và phòng bệnh, nhưng lại vô tình bỏ qua yếu tố quyết định hiệu quả của vụ nuôi: chất lượng nước. Trong các ao nuôi tôm mật độ cao, thức ăn dư thừa, chất thải hữu cơ và bùn đáy liên tục tích tụ, làm giảm hàm lượng ôxy hòa tan (DO), đồng thời làm gia tăng các hợp chất độc hại như amoniac (NH3) và nitrit (NO2). Những điều kiện này tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây hại phát triển và làm mất cân bằng hệ sinh thái nước. Khi hàm lượng ôxy suy giảm và chất lượng nước ngày càng xấu đi, tôm sẽ bị stress, hệ miễn dịch suy yếu, hiệu quả sử dụng thức ăn giảm và phải tiêu tốn nhiều thức ăn hơn để đạt được cùng một mức tăng trưởng. Tình trạng thiếu ôxy cũng làm tăng nguy cơ tôm nổi đầu vào ban đêm – một dấu hiệu rõ ràng của việc thiếu ôxy. Hậu quả là người nuôi phải tốn nhiều chi phí hơn cho việc xử lý nước, đối mặt với nguy cơ bùng phát dịch bệnh cao hơn và chịu

những tổn thất kinh tế đáng kể trong suốt chu kỳ nuôi. Công nghệ NanoBubbles B.H.N giúp tạo ra môi trường nước tối ưu, cải thiện điều kiện nuôi và kiểm soát hiệu quả mầm bệnh ngay từ nguồn. Nhờ đó, người nuôi không chỉ gia tăng năng suất, tối ưu lợi nhuận mà còn an tâm hướng đến một mô hình nuôi bền vững. Đó là lý do nhiều trang trại nuôi tôm hiện đại trên thế giới đang chuyển từ tư duy “xử lý khi có sự cố” sang “chủ động duy trì chất lượng nước ổn định” bằng Công nghệ NanoBubbles. Không giống như các bọt khí thông thường, bọt khí Nano có kích thước cực nhỏ, có thể lơ lửng trong nước trong thời gian dài và phân tán đồng đều khắp toàn bộ ao nuôi. Bọt khí Nano có đặc tính không kết tụ với nhau khi hoạt động độc lập, vì vậy chúng duy trì kích thước siêu nhỏ trong thời gian dài. Điều này giúp ôxy hòa tan vào nước hiệu quả hơn, cải thiện khả năng tuần hoàn nước và tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật có lợi phát triển. Nhờ

đó, công nghệ Nano Bubble giúp duy trì chất lượng nước ổn định, giảm sự tích tụ của các hợp chất độc hại và chất thải hữu cơ, đồng thời giảm nhu cầu thay nước và sử dụng hóa chất xử lý. Nhằm đáp ứng nhu cầu của các trang trại nuôi tôm quy mô lớn, Công ty TNHH B.H.N đã phát triển dòng Máy tạo siêu bọt khí NanoBubbles NN22-90 với công suất lên đến 250 m³/ giờ (1.100 GPM). Hệ thống vận hành hoàn toàn tự động, cấp khí trực tiếp mà không cần sử dụng máy nén khí. Chúng tôi ứng dụng NanoBubbles kết hợp ozone để hỗ trợ khử trùng nguồn nước, loại bỏ vi khuẩn nhân lên trong màng sinh học (biofilm) và giảm chi phí xử lý môi trường. Qua nghiên cứu và

vận hành thực tế, hệ thống sẽ duy trì hàm lượng ôxy hòa tan (DO) 8 ppm trên toàn bộ ao nuôi – mức tối ưu để nuôi tôm, mặc dù chúng tôi có thể nâng DO lên mức rất cao. Để tối ưu chi phí sản xuất và đảm bảo về chất lượng ngày càng khắt khe hiện nay, việc kiểm soát môi trường nước ngay từ đầu là rất quan trọng. Khi chất lượng nước được duy trì ổn định, người nuôi sẽ giảm được rủi ro dịch bệnh, tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả của cả vụ nuôi. Đầu tư vào công nghệ NanoBubbles không đơn thuần là đầu tư vào một thiết bị, mà là đầu tư vào sự ổn định, năng suất và lợi nhuận bền vững cho tương lai.

B.H.N

Thông tin liên hệ: Công ty TNHH B.H.N Số điện thoại: 028.668.101.95~96 Website: bhnenc.com Email: bhnenc@gmail.com Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh


CON TÔM THÁNG 7/2026

THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

47


48 THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

Aquaproducts thúc đẩy kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm thủy sản Tận dụng phụ phẩm thủy sản để sản xuất protein thủy phân giá trị cao, Aquaproducts đang phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn theo hướng “zero waste”, góp phần nâng cao giá trị tài nguyên và giảm tác động đến môi trường trong ngành chế biến thủy sản.

Đầu tư công nghệ sinh học

Aquaproducts được thành lập năm 2014 bởi hai kỹ sư người Pháp là Thomas Levallois và François Dupuis, những người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nguyên liệu chế biến thủy sản và thức ăn thú cưng. Với định hướng phát triển các giải pháp công nghệ sinh học biển nhằm nâng cao giá trị phụ phẩm thủy sản, doanh nghiệp từng bước mở rộng hoạt động sang thị trường châu Á. Tháng 4/2023, Aquaproducts được cấp phép hoạt động tại Việt Nam và đầu tư nhà máy tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc 2 (nay thuộc tỉnh Tây Ninh). Trước đó, năm 2022, doanh nghiệp hợp tác với Mirova Sustainable Ocean Fund triển khai dự án Marine Biotech Vietnam để xây dựng nhà


THÔNG TIN DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

máy sản xuất protein thủy phân dạng bột từ phụ phẩm thủy sản. Nhà máy chính thức khánh thành và đi vào hoạt động ngày 11/6/2024. Theo ông Paul Vincent, Giám đốc Sản phẩm và Tiếp thị Aquaproducts, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư từ Pháp và hiện phát triển ba dòng sản phẩm chủ lực gồm bột cá biển thủy phân, bột cá hồi thủy phân và bột tôm thủy phân. Các sản phẩm được sản xuất từ phụ phẩm của ngành chế biến thủy sản nhằm gia tăng giá trị nguyên liệu và giảm phát thải ra môi trường. Bên cạnh đó, Aquaproducts còn nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học biển để chiết xuất chitin từ vỏ tôm, phát triển các nguyên liệu phục vụ ngành thức ăn chăn nuôi, thủy sản và thức ăn thú cưng.

Biến phụ phẩm thành tài nguyên

Aquaproducts hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ sinh học biển, tái chế và nâng cao giá trị phụ phẩm thủy sản thông qua công nghệ thủy phân enzyme. Doanh nghiệp tập trung sản xuất protein chức năng từ hải sản, cung cấp nguyên liệu cho ngành thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản và thức ăn thú cưng. Bên cạnh đó, Aquaproducts còn nghiên cứu chiết xuất chitin từ vỏ tôm nhằm phát triển các giải pháp dinh dưỡng bền vững. Định hướng nghiên cứu và phát triển này cũng là nền tảng để Aquaproducts theo đuổi mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất. Theo đó, doanh nghiệp áp dụng mô hình “zero waste”, tận dụng tối đa phụ phẩm thủy sản để tạo ra các nguyên liệu có giá trị gia tăng, đồng thời hạn chế phát sinh chất thải và giảm sử dụng hóa chất

Aquaproducts phát triển các giải pháp công nghệ sinh học biển nhằm nâng cao giá trị phụ phẩm thủy sản

mạnh trong quá trình sản xuất. Công nghệ cốt là thủy phân enzyme, cho phép chiết xuất protein biển và chitin phục vụ ngành thức ăn chăn nuôi và thức ăn thủy sản. Hiện nay, nhà máy của Aquaproducts cung cấp nguyên liệu cho thị trường Việt Nam, đồng thời đăng ký xuất khẩu sang Trung Quốc, Thái Lan, Philippines và châu Âu. Sau hơn hai năm hoạt động, doanh nghiệp đã trở thành đối tác của nhiều nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản như De Heus, Vĩnh Hoàn, Nutreco, Vienovo cùng nhiều khách hàng tại Thái Lan. Đáng chú ý, thị trường Thái Lan có nhu cầu cao đối với sản phẩm bột cá hồi thủy phân dùng trong thức ăn thú cưng. Do nguồn phụ phẩm cá hồi trong nước còn hạn chế, Aquaproducts hợp tác với các đối tác Na Uy, trong đó có Scanbio, để cung ứng nguyên liệu, đồng thời phối hợp với Maqpro Biotech mở rộng chuỗi cung ứng nguyên liệu sinh học biển trong khu vực.

Mở rộng năng lực sản xuất

Các sản phẩm được sản xuất từ phụ phẩm của ngành chế biến thủy sản

Theo đánh giá của Aquaproducts và các chuyên gia phát triển bền vững của Pháp, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn đang thất thoát lượng lớn protein từ phụ phẩm chế biến tôm. Phần dịch giàu protein sau chế biến thường bị thải bỏ, gây lãng phí nguồn tài nguyên có giá trị và làm gia tăng áp lực xử lý môi trường. Doanh nghiệp ước tính lượng protein

 Chúng tôi cam kết tái chế và nâng cao giá trị phụ phẩm thủy sản bằng công nghệ tiên tiến. Mục tiêu là xây dựng chuỗi cung ứng bền vững cho protein chức năng từ biển và trở thành trung tâm cung ứng nguyên liệu sinh học biển quan trọng tại Đông Nam Á. chưa được tận dụng có giá trị khoảng 2 tỷ USD mỗi năm. Từ thực tế đó, Aquaproducts phát triển giải pháp thu hồi protein từ dòng nước thải giàu dinh dưỡng để cô đặc thành nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản. Giải pháp này vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường, vừa nâng cao giá trị gia tăng cho ngành chế biến thủy sản. Hiện, Aquaproducts đang triển khai dự án theo hai giai đoạn. Sau nhà máy đầu tiên tại Tây Ninh, Aquaproducts tiếp tục hoàn thiện nhà máy thứ hai tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tiếp cận trực tiếp vùng nguyên liệu, rút ngắn thời gian vận chuyển và hạn chế quá trình phân hủy protein, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm. Theo kế hoạch, hệ thống nhà máy của Aquaproducts hướng đến công suất khoảng 10.000 tấn protein thủy phân dạng bột mỗi năm, phục vụ thị trường châu Á và từng bước xây dựng chuỗi nguyên liệu sinh học biển bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong ngành thủy sản. AQUAPRODUCTS

Liên hệ chúng tôi: Website: Aquaproducts.org ĐT: (+84) 901676543 Gmail:Contact@aqua products.org

49


50 HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

Doanh nghiệp thủy sản tăng tốc cho nửa cuối năm Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt gần 5,8 tỷ USD, tăng 12,8% so cùng kỳ năm trước, tạo nền tảng tích cực cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số của toàn ngành trong năm nay. Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký VASEP cho biết kết quả này không chỉ đến từ sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường nhập khẩu mà còn phản ánh khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, mở rộng thị trường và tận dụng hiệu quả các lợi thế về khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển và nhu cầu tiêu dùng ổn định. Để duy trì đà tăng trong nửa cuối năm, VASEP khuyến nghị doanh nghiệp tiếp tục khai thác hiệu quả các thị trường tăng trưởng như Trung Quốc, ASEAN và Hàn Quốc, đồng thời đáp ứng tốt hơn các yêu cầu tại Mỹ, EU và Nhật Bản. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần kiểm soát chi phí đầu vào,

Doanh nghiệp chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu

Ảnh: Bộ Công thương

logistics, đẩy mạnh chế biến sâu và nâng cao năng lực quản trị rủi ro nhằm tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh thị trường tiếp tục biến động.

HUYỀN THƯƠNG

C.P. VIỆT NAM

SAO TA

Đẩy mạnh lộ trình hướng tới Net Zero

Hoạt động nuôi tôm diễn biến tích cực

Tại Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam” 2026, C.P. Việt Nam được vinh danh trong Top 10 “Doanh nghiệp Xanh - NetZero Hành động”, ghi nhận những nỗ lực trong triển khai ESG, chuyển đổi xanh và thực hiện lộ trình hướng tới phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Ông Pawalit Ua-amornwanit, Tổng Giám đốc C.P. Việt Nam, cho biết danh hiệu là động lực để doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản trị ESG và triển khai các giải pháp giảm phát thải. Theo ông, với đặc thù ngành nông nghiệp - thực phẩm, mục tiêu Net Zero cần được hiện thực hóa bằng các giải pháp đồng bộ về năng lượng, tài nguyên và chuỗi cung ứng. Theo doanh nghiệp, chiến lược phát triển bền vững được triển khai xuyên suốt chuỗi giá trị, tập trung vào ba trụ cột gồm bảo vệ khí hậu, nâng cao chất lượng cuộc sống và kiến tạo thực phẩm bền vững. C.P. Việt Nam cũng đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và quản trị phát thải trong hoạt động sản xuất.

Công ty CP Thực phẩm Sao Ta vừa công bố kết quả kinh doanh tháng 6 với doanh thu đạt 16,94 triệu USD, giảm 14% so cùng kỳ năm trước. Về sản xuất, FMC ghi nhận 3.582 tấn tôm thành phẩm, tăng 2,7% so cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, sản lượng nông sản thành phẩm đạt 70 tấn, giảm 5%. Ở chiều tiêu thụ, sản lượng tôm thành phẩm đạt 1.509 tấn, giảm 6% so cùng kỳ, còn sản lượng tiêu thụ nông sản đạt 106 tấn, giảm 8%. Đối với hoạt động nuôi tôm, Sao Ta cho biết khu nuôi Xuân Phú đã hoàn tất việc thả giống, trong khi khu nuôi Vĩnh Thuận đang tiếp tục thả và dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 7. Theo doanh nghiệp, tôm tại các vùng nuôi hiện sinh trưởng thuận lợi, tạo nền tảng cho nguồn nguyên liệu trong các tháng cuối năm. Lũy kế quý II/2026, doanh thu của doanh nghiệp đạt 56,96 triệu USD (1.497 tỷ đồng), giảm 13% so cùng kỳ năm 2025. Tính chung 6 tháng đầu năm, doanh thu đạt 107,3 triệu USD (2.822 tỷ đồng), thấp hơn 21% so cùng kỳ năm trước.

SKRETTING VIETNAM

GROWMAX

Ghi dấu với các hoạt động vì cộng đồng

Được vinh danh “Thương hiệu xuất sắc châu Á 2026”

Skretting Vietnam vừa được trao Giải thưởng DBAV Business Awards 2025 ở hạng mục Community Impact (Large Enterprise), ghi nhận những đóng góp của doanh nghiệp đối với cộng đồng thông qua các hoạt động trách nhiệm xã hội. Giải thưởng được trao cho chương trình “Skretting Cùng Bé Đến Trường”, một hoạt động được doanh nghiệp duy trì trong suốt 15 năm qua. Thông qua chương trình, hơn 10.000 phần quà học tập đã được trao tặng cho học sinh tại các địa phương có hoạt động nuôi trồng thủy sản trên cả nước, góp phần hỗ trợ điều kiện học tập và động viên các em tiếp tục đến trường. Đại diện doanh nghiệp cho biết, phát triển bền vững không chỉ là nâng cao giá trị cho ngành nuôi trồng thủy sản mà còn gắn với trách nhiệm đồng hành cùng cộng đồng tại những địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động. Giải thưởng là sự ghi nhận đối với những nỗ lực bền bỉ của Skretting Vietnam, đồng thời là động lực để doanh nghiệp tiếp tục triển khai các hoạt động vì cộng đồng trong thời gian tới, góp phần lan tỏa các giá trị tích cực và thúc đẩy phát triển bền vững.

Ngày 27/6 tại TP Hồ Chí Minh, Công ty CP Thủy sản Công nghệ cao GrowMax được Viện Nghiên cứu Kinh tế châu Á trao tặng giải thưởng “Thương hiệu xuất sắc châu Á 2026” (Asian Excellent Brand 2026). Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của doanh nghiệp trong phát triển thương hiệu và thúc đẩy ngành tôm Việt theo hướng hiện đại, bền vững. GrowMax phát triển hệ sinh thái khép kín gồm tôm giống, thức ăn, chế phẩm sinh học, nuôi tôm công nghệ cao và chế biến xuất khẩu. Mô hình giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng toàn chuỗi, đồng thời cung cấp giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro cho người nuôi. Theo Hội đồng xét duyệt, GrowMax được đánh giá cao nhờ định hướng phát triển gắn với hiệu quả thực tế tại các vùng nuôi. Nhiều mô hình ứng dụng giải pháp của doanh nghiệp ghi nhận tôm tăng trưởng ổn định, cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), nâng cao tỷ lệ sống và duy trì hiệu quả kinh tế. Những kết quả này góp phần khẳng định uy tín của GrowMax trong chuỗi giá trị ngành tôm.

NAM CƯỜNG

DUY AN

THÁI THUẬN

LÊ LOAN


HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

CON TÔM THÁNG 7/2026

MINH PHÚ

HTX HÒA NGHĨA

Tăng cường năng lực chế biến thủy sản

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý nuôi tôm

Ngày 28/6/2026, Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tổ chức lễ khánh thành Nhà máy Chế biến Thủy sản Minh Phú Khánh An tại Khu công nghiệp Khánh An (Cà Mau), đánh dấu bước phát triển mới trong chiến lược mở rộng năng lực chế biến và nâng cao giá trị gia tăng cho ngành tôm xuất khẩu. Công trình được xây dựng trên diện tích 4,95 ha, với nhà xưởng rộng 24.500 m², tổng vốn đầu tư khoảng 1.500 tỷ đồng. Khi đi vào hoạt động, cơ sở có công suất thiết kế 35.000 tấn/năm và dự kiến tạo việc làm cho hơn 5.000 lao động. Dây chuyền sản xuất được đầu tư theo hướng tự động hóa, trong đó các khâu phân cỡ, phân màu và lột xẻ đạt mức tự động hóa 100%; công đoạn ép duỗi nobashi đạt 70 - 80%, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và tối ưu chi phí. Việc đưa nhà máy vào vận hành sẽ tăng năng lực chế biến của Minh Phú, góp phần ổn định đầu ra cho vùng nguyên liệu, nâng cao giá trị xuất khẩu và thúc đẩy chuỗi giá trị ngành tôm phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.

Hợp tác xã (HTX) nuôi trồng thủy sản Hòa Nghĩa (phường Khánh Hòa, TP Cần Thơ) đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong sản xuất khi đưa ứng dụng BITECH vào quản lý hoạt động nuôi tôm. Theo các thành viên HTX, thay vì ghi chép thủ công, ứng dụng cho phép theo dõi nhật ký ao nuôi, tổng hợp thu - chi và quản lý dữ liệu theo thời gian thực ngay trên điện thoại thông minh. Điều này giúp giảm sai sót trong ghi chép, hỗ trợ đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất và quản lý ao nuôi mọi lúc, mọi nơi. Ông Ngô Thanh Tuấn, Giám đốc HTX nuôi trồng thủy sản Hòa Nghĩa, cho biết tính năng tra cứu lịch sử nhập - xuất vật tư và tìm kiếm nhanh giúp HTX kiểm soát chính xác lượng vật tư tiêu hao theo từng ao nuôi, tự động tính toán giá thành sản xuất tạm tính, hạn chế thất thoát và lãng phí. Bên cạnh đó, ứng dụng còn hỗ trợ các thành viên chia sẻ thông tin về giá cả thị trường, kỹ thuật nuôi và kinh nghiệm sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.

HẢI ĐẠI VĨNH LONG

TONGWEI VIỆT NAM

Hỗ trợ xây dựng 4 căn nhà tình thương

Khai trương trung tâm phục vụ kỹ thuật tại Cà Mau

Vừa qua, Công ty TNHH Hải Đại Vĩnh Long tiếp tục hỗ trợ 240 triệu đồng để xây dựng 4 căn nhà tình thương dành cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Khoản kinh phí tài trợ góp phần giúp các hộ dân có điều kiện ổn định chỗ ở, từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống và yên tâm phát triển kinh tế. Hoạt động cũng thể hiện sự đồng hành của doanh nghiệp với các chương trình an sinh xã hội, hướng tới mục tiêu sẻ chia và hỗ trợ những hoàn cảnh còn nhiều khó khăn. Trong nhiều năm qua, bên cạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, Công ty TNHH Hải Đại Vĩnh Long thường xuyên tham gia các chương trình thiện nguyện và đóng góp cho các hoạt động vì cộng đồng tại các địa phương. Việc tiếp tục tài trợ xây dựng nhà tình thương không chỉ góp phần lan tỏa tinh thần nhân ái mà còn khẳng định cam kết của doanh nghiệp trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, chung tay cùng chính quyền địa phương chăm lo đời sống người dân.

Ngày 30/6, Công ty TNHH Tongwei Việt Nam phối hợp với Công ty TNHH MTV Thức ăn thủy sản Trung Kiên khai trương Trung tâm Phục vụ Kỹ thuật (phòng Lab) tại Đại lý Trung Kiên, xã Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Đây là hoạt động nhằm tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho người nuôi tôm tại vùng trọng điểm sản xuất của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trung tâm được đầu tư hệ thống thiết bị phục vụ kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng nước, phân tích mẫu tôm định kỳ và thực hiện xét nghiệm PCR để phát hiện sớm một số tác nhân gây bệnh. Việc đưa phòng Lab vào hoạt động ngay tại địa phương giúp người nuôi tiếp cận dịch vụ kỹ thuật thuận tiện hơn, hỗ trợ theo dõi sức khỏe tôm, đồng thời đưa ra giải pháp xử lý kịp thời và đạt hiệu quả tối ưu nhất trong suốt vụ mùa. Đại diện Tongwei Việt Nam cho biết, doanh nghiệp sẽ tiếp tục duy trì định hướng phát triển gắn với chất lượng sản phẩm và tăng cường hệ thống hỗ trợ kỹ thuật tại các vùng nuôi trọng điểm.

VMC VIỆT NAM

HTX NINH PHÚ

Trao học bổng hỗ trợ sinh viên ngành thủy sản

Tự chế hệ thống tiết kiệm điện cho nuôi tôm

Nhằm khuyến khích tinh thần học tập, nghiên cứu khoa học và đồng hành cùng công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành thủy sản, Công ty VMC Việt Nam (VMC Aqua Care) tiếp tục triển khai chương trình học bổng dành cho sinh viên Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong năm tuyển sinh 2026. Theo đó, doanh nghiệp tài trợ 3 suất Học bổng Tài năng, mỗi suất trị giá 5 triệu đồng, dành cho các sinh viên có thành tích học tập và nghiên cứu nổi bật. Chương trình không chỉ ghi nhận nỗ lực của sinh viên mà còn tạo động lực để các em tiếp tục theo đuổi đam mê nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nghề nghiệp trong lĩnh vực thủy sản. Đại diện Công ty VMC Việt Nam cho biết, việc đồng hành cùng các cơ sở đào tạo là một trong những hoạt động góp phần kết nối doanh nghiệp với nhà trường, đồng thời hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của ngành thủy sản trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh chi phí đầu vào ngành nuôi tôm ngày càng gia tăng, Hợp tác xã (HTX) Nuôi trồng thủy sản Ninh Phú (tỉnh Khánh Hòa) đã tự nghiên cứu, chế tạo hệ thống tiết kiệm điện từ máy móc cũ và linh kiện phế liệu, giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả. Theo ông Lê Minh Chính, Giám đốc HTX, hệ thống sử dụng động cơ không chổi than kết hợp bộ điều tốc tự thiết kế, cho phép tự điều chỉnh công suất theo nhu cầu thực tế, giảm tiêu hao điện năng. Bên cạnh đó, HTX lắp đặt 52 tấm pin năng lượng mặt trời để cung cấp điện cho khu sản xuất, ưu tiên sử dụng nguồn điện mặt trời vào ban ngày và chỉ dùng điện lưới khi cần. Hiện giải pháp được áp dụng trên 20 ao nuôi, giúp chi phí điện mỗi ao giảm từ khoảng 20 triệu đồng xuống còn 10 triệu đồng/tháng, tương đương mức tiết kiệm 50%. Nhờ đó, HTX duy trì giá thành nuôi tôm ở mức cạnh tranh, tăng khả năng chống chịu trước biến động chi phí đầu vào và thị trường.

DIỆU CHÂU

DUY MẠNH

THẢO ANH

NGUYỄN HẰNG

NGUYỄN AN

THANH HIẾU

51


52 MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH

CON TÔM THÁNG 7/2026

QUẢNG NINH

Mở hướng làm giàu từ nuôi tôm công nghệ cao Tận dụng lợi thế tự nhiên, nghề nuôi tôm tại Quảng Ninh đang chuyển mạnh sang hướng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm và năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của HTX Thủy sản xanh Đông Ngũ

Những nông dân công nghệ

Nếu như trước đây, đối với nhiều hộ nuôi tôm ở Quảng Ninh, mỗi vụ nuôi gần như là một cuộc “đánh cược” với thời tiết và dịch bệnh; thì ngày nay, với sự xuất hiện của các mô hình nuôi tôm công nghệ cao đã làm thay đổi hoàn toàn cách thức sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm. Tại nhiều địa phương như: Hải Lạng, Đầm Hà, Hà An hay Hải Ninh..., ngày càng nhiều hộ dân mạnh dạn đầu tư hệ thống nuôi thâm canh, siêu thâm canh ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước, nhà màng, công nghệ vi sinh và hệ thống giám sát môi trường tự động. Nhờ kiểm soát tốt các yếu tố môi trường, tỷ lệ sống của tôm tăng cao, thời gian nuôi được rút ngắn, năng suất nhiều khu nuôi đạt từ 25 - 30 tấn/ha/vụ, cao gấp nhiều lần so với phương thức nuôi truyền thống trước đây. Chính vì vậy, trên nhiều vùng triều ven biển Quảng Ninh đang xuất hiện ngày càng nhiều những “tỷ phú tôm” mới. Anh Nguyễn Văn Biền (thôn Quảng

Ảnh: Hải Hà

Nghĩa 3, xã Hải Ninh) đang sở hữu một khu nuôi tôm mang dáng dấp của một trang trại thủy sản hiện đại với hệ thống nuôi tôm trong nhà màng kiên cố, các bể nuôi được bố trí khoa học, hệ thống cấp ôxy, xử lý nước vận hành liên tục… Anh Biền chia sẻ, đầu năm 2024, anh đầu tư xây dựng hệ thống nuôi tôm công nghệ cao trên diện tích gần 1 ha với 29 bể nuôi trong nhà màng. Mỗi bể nuôi rộng khoảng 130 m², ứng dụng các công nghệ trong xử lý nước, nhiệt độ hiện đại, tổng vốn đầu tư lên tới hàng tỷ đồng. Vụ tôm năm nay, gia đình anh đã thu hoạch khoảng 18 tấn tôm thương phẩm. Với giá bán dao động từ 160.000 - 200.000 đồng/kg, mô hình đem lại hiệu quả kinh tế khả quan. Sau khi trừ chi phí đầu tư, gia đình anh đã thu lãi khoảng 2 tỷ đồng.

Hành trình xanh hóa

Là một trong những khu vực nuôi tôm trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh, xã Hải

Lạng hiện có khoảng 400 cơ sở nuôi tôm thâm canh và quảng canh trên diện tích khoảng 1.150 ha, mỗi năm thả khoảng 500 triệu con giống. Trong đó, khoảng 60 cơ sở đầu tư gần 300 ao nuôi có mái che, tổng diện tích khoảng 20 ha, mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn phương thức nuôi truyền thống. Các hộ dân đã đầu tư nhà lưới, nhà kính, hệ thống ôxy đáy, hệ thống xử lý nước tuần hoàn, hệ thống theo dõi tự động các chỉ số môi trường và sử dụng chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi. Đặc biệt, 100% hộ nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn đều sử dụng chế phẩm sinh học trong quá trình sản xuất; góp phần hạn chế hóa chất, giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điển hình là hợp tác xã (HTX) Thủy sản xanh Đông Ngũ (thôn Đông Dương, xã Đông Ngũ). Đơn vị đã ứng dụng công nghệ nano bạc để xử lý giúp chất lượng nước luôn được kiểm soát ở ngưỡng cho phép, phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của con tôm, nhờ đó đã tiết kiệm được chi phí sử dụng hóa chất xử lý, duy trì chất lượng nước ổn định. Mặc dù hệ thống ao nuôi được HTX thiết kế nhỏ chỉ 500 m2/ao, nhưng vẫn đảm bảo cho phép nuôi tôm công nghệ với mật độ cao nên không chỉ tối ưu hóa diện tích sử dụng mà còn tiết kiệm tài nguyên đất, nguồn nước mặn. Hệ thống ao nuôi được đưa vào khai thác từ tháng 8/2025 đến nay, sau chưa đầy 1 năm đi vào vận hành, HTX đã thực hiện nuôi 3 vụ tôm; trong đó nuôi thành công 2 vụ tôm đông và vụ đông xuân với tổng sản lượng 17 tấn, doanh thu đạt trên 3,6 tỷ đồng. Tôm vụ đông khi nuôi thành công sẽ mang lại giá trị cao về mặt lợi nhuận cũng như lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

VÂN ANH


MÔ HÌNH ĐIỂN HÌNH

CON TÔM THÁNG 7/2026

ECUADOR

Nuôi tôm gắn với phục hồi hệ sinh thái Trước áp lực từ biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về sản xuất bền vững, ngành tôm Ecuador đang thúc đẩy cách tiếp cận mới, trong đó phục hồi rừng ngập mặn không chỉ là giải pháp bảo tồn mà còn trở thành nền tảng giúp nâng cao khả năng thích ứng, ổn định sản xuất và phát triển ngành theo hướng dài hạn.

Phục hồi hệ sinh thái

Ecuador hiện là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới. Vì vậy, những thay đổi trong định hướng phát triển của ngành tôm nước này đang thu hút sự quan tâm, phản ánh xu hướng chuyển dịch của nuôi trồng thủy sản toàn cầu theo hướng gắn sản xuất với bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái. Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia Ecuador (CNA), Sustainable Shrimp Partnership (SSP) và Tổ chức Bảo tồn Quốc tế Ecuador (CI-Ecuador) vừa ký thỏa thuận triển khai sáng kiến “Mangroves for Climate”, tập trung bảo tồn, phục hồi rừng ngập mặn và thúc đẩy các phương thức nuôi tôm bền vững. Theo kế hoạch, đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu phục hồi 250 ha rừng ngập mặn tại các khu vực nuôi tôm, góp phần giảm khoảng 112.870 tấn CO2 phát thải và mở rộng các thực hành sản xuất được chứng nhận trên khoảng 20.000 ha trang trại. Đây là bước tiếp nối quá trình chuyển đổi của ngành tôm Ecuador theo hướng sản xuất có trách nhiệm với môi trường. Thay vì chỉ tập trung mở rộng quy mô và gia tăng sản lượng, ngành đang hướng tới sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ổn định lâu dài của vùng nuôi. Rừng ngập mặn được xem là “lá chắn xanh” của vùng ven biển, có vai trò bảo vệ bờ biển, hấp thụ carbon, duy trì đa dạng sinh học và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương. Đối với ngành nuôi tôm, hệ sinh thái này còn góp phần bảo vệ nguồn nước, giảm tác động của biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động môi trường. Bà Carolina Rosero, Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành CI-Ecuador, cho biết thỏa thuận hợp tác sẽ tạo nền tảng để các

Rừng ngập mặn và vùng nuôi tôm cùng tồn tại, hướng tới phát triển bền vững

bên phối hợp bảo tồn và quản lý bền vững rừng ngập mặn, qua đó tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ sinh kế cộng đồng ven biển. Ông José Camposano, Chủ tịch điều hành CNA, nhận định rừng ngập mặn không chỉ có ý nghĩa đối với tự nhiên mà còn góp phần duy trì sự cân bằng môi trường cho các hoạt động sản xuất ven biển. “Bảo vệ rừng ngập mặn không chỉ mang ý nghĩa về môi trường mà còn là khoản đầu tư nhằm nâng cao sức chống chịu và sự phát triển ổn định lâu dài của ngành tôm Ecuador”, Ông José Camposano chia sẻ.

Nuôi tôm cùng thiên nhiên

Theo Sustainable Shrimp Partnership, phát triển nuôi tôm bền vững không chỉ là quản lý tốt các yếu tố trong ao nuôi mà còn cần gắn với việc sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm tác động đến môi trường và nâng cao khả năng phục hồi của toàn bộ vùng nuôi. Sáng kiến mới cũng tiếp nối cam kết của ngành tôm Ecuador từ năm 2022 về việc duy

Ảnh: Aquafeed

trì mô hình nuôi không làm chuyển đổi các hệ sinh thái tự nhiên. Các hoạt động đang được triển khai bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ giám sát rừng ngập mặn, thực hiện các dự án phục hồi thí điểm với sự tham gia của cộng đồng ven biển và khu vực tư nhân, đồng thời thúc đẩy các giải pháp nâng cao tính bền vững trong sản xuất tôm. Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng coi trọng các tiêu chí về giảm phát thải, bảo vệ đa dạng sinh học, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường, cách tiếp cận của Ecuador phản ánh xu hướng mới của ngành tôm toàn cầu: sản xuất gắn với phục hồi hệ sinh thái. Sự chuyển dịch từ khai thác sang quản lý và phục hồi các giá trị tự nhiên không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn tăng khả năng thích ứng của vùng nuôi, tạo nền tảng cho chuỗi giá trị ngành tôm phát triển ổn định và nâng cao sức cạnh tranh trong dài hạn. PHƯƠNG NHI

(Theo Aquafeed)

53


54 ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

Sử dụng hiệu quả chế phẩm sinh học Chế phẩm sinh học ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nuôi tôm nhờ khả năng cải thiện chất lượng nước, ổn định môi trường và hỗ trợ nâng cao sức khỏe đàn tôm.

Vai trò

Nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh thường phát sinh lượng lớn chất hữu cơ từ thức ăn dư thừa, chất thải của tôm và xác sinh vật trong ao. Nếu không được xử lý kịp thời, các chất này sẽ tích tụ ở đáy ao, làm suy giảm chất lượng nước, phát sinh khí độc và tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển. Chế phẩm sinh học là các sản phẩm chứa vi sinh vật có lợi hoặc các hoạt chất sinh học giúp cải thiện môi trường và tăng cường sức khỏe vật nuôi. Khi được sử dụng hợp lý, các vi sinh vật có lợi sẽ tham gia phân hủy chất hữu cơ, chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ, hạn chế sự hình thành khí độc như amoniac (NH₃), nitrit (NO₂⁻) và hydro sulfua (H₂S). Đồng thời, chúng tạo ưu thế sinh học trong môi trường, cạnh tranh nguồn dinh dưỡng và không gian sống với các vi sinh vật gây hại. Không chỉ tác động đến môi trường ao nuôi, nhiều chế phẩm sinh học còn được bổ sung qua thức ăn nhằm cân bằng hệ vi sinh đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa, cải

thiện hấp thu dưỡng chất và nâng cao sức đề kháng. Đây cũng là một trong những giải pháp góp phần giảm phụ thuộc vào kháng sinh, hướng tới mô hình nuôi tôm an toàn và bền vững.

Các nhóm phổ biến

Tùy mục đích sử dụng, chế phẩm sinh học trong nuôi tôm được chia thành nhiều nhóm khác nhau. Nhóm xử lý môi trường nước được sử dụng phổ biến nhất. Thành phần thường gồm các chủng vi khuẩn như Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis, Nitrosomonas và Nitrobacter. Những vi sinh vật này có khả năng phân hủy chất hữu cơ, thúc đẩy quá trình chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ và góp phần duy trì chất lượng nước ổn định. Nhóm xử lý đáy ao tập trung vào việc phân hủy lớp bùn hữu cơ tích tụ trong quá trình nuôi. Nhiều sản phẩm được bổ sung thêm enzyme giúp phân giải protein, tinh bột và cellulose, từ đó giảm lượng mùn bã hữu cơ, hạn chế phát sinh khí độc và cải

thiện điều kiện đáy ao. Nhóm bổ sung qua thức ăn thường chứa các chủng vi sinh vật có lợi như Lactobacillus, Bacillus, nấm men Saccharomyces cerevisiae kết hợp với enzyme tiêu hóa. Nhóm này giúp cải thiện hệ vi sinh đường ruột, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn và hỗ trợ tôm phục hồi sau các giai đoạn chịu stress. Ngoài ra, trên thị trường còn có các chế phẩm sinh học kết hợp với enzyme, axit hữu cơ, beta-glucan, vitamin hoặc khoáng chất nhằm vừa cải thiện môi trường, vừa tăng cường miễn dịch cho tôm. Việc lựa chọn nhóm sản phẩm nào cần căn cứ vào tình trạng thực tế của ao nuôi và mục tiêu sử dụng.

Thời điểm bổ sung

Hiệu quả của chế phẩm sinh học phụ thuộc nhiều vào thời điểm sử dụng. Thay vì chỉ bổ sung khi ao nuôi xuất hiện vấn đề, người nuôi nên áp dụng ngay từ đầu vụ để hình thành hệ vi sinh có lợi và duy trì môi trường ổn định. Sau khi cải tạo ao và xử lý nước đạt yêu


ĐỒNG HÀNH CÙNG NHÀ NÔNG

CON TÔM THÁNG 7/2026

cầu, có thể sử dụng chế phẩm sinh học để tạo cân bằng hệ vi sinh trước khi thả giống. Trong quá trình nuôi, nên bổ sung định kỳ theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc căn cứ vào tình trạng thực tế của ao. Những thời điểm cần tăng cường sử dụng là sau mưa lớn, sau khi thay nước, sau khi sử dụng hóa chất, khi màu nước biến động, lượng chất hữu cơ tăng hoặc đáy ao xuất hiện nhiều bùn. Đối với chế phẩm bổ sung qua thức ăn, nên sử dụng thường xuyên trong các giai đoạn tôm tăng trưởng mạnh, lột xác, chuyển mùa hoặc khi sức khỏe đàn tôm có dấu hiệu suy giảm.

Nguyên tắc sử dụng

Muốn chế phẩm sinh học phát huy hiệu quả, người nuôi cần tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất về liều lượng và cách sử dụng. Đối với chế phẩm xử lý môi trường, nhiều sản phẩm cần được kích hoạt trước khi sử dụng nhằm tạo điều kiện để vi sinh vật phát triển tốt hơn khi đưa xuống ao. Thời điểm thích hợp để tạt là sáng sớm hoặc chiều mát, khi điều kiện môi trường tương đối ổn định. Một nguyên tắc quan trọng là không sử dụng đồng thời chế phẩm sinh học với thuốc sát trùng, chất diệt khuẩn hoặc kháng sinh.

Các hoạt chất này có thể tiêu diệt cả vi sinh vật có lợi, làm giảm hoặc mất tác dụng của chế phẩm. Sau khi sử dụng hóa chất, cần chờ đủ thời gian theo khuyến cáo rồi mới bổ sung chế phẩm sinh học để tái lập hệ vi sinh trong ao. Đối với chế phẩm trộn thức ăn, nên sử dụng chất bám dính để hạn chế thất thoát trong nước. Thức ăn sau khi phối trộn cần được sử dụng ngay, tránh phơi dưới nắng hoặc để quá lâu vì sẽ làm giảm hoạt lực của vi sinh vật.

Một số lưu ý

Hiệu quả của chế phẩm sinh học phụ thuộc không chỉ vào chất lượng sản phẩm mà còn vào điều kiện môi trường ao nuôi. Người nuôi cần thường xuyên theo dõi pH, độ kiềm, nhiệt độ, ôxy hòa tan và hàm lượng khí độc để điều chỉnh thời điểm sử dụng phù hợp. Trong điều kiện môi trường biến động mạnh hoặc sau khi xử lý hóa chất, cần ưu tiên phục hồi hệ vi sinh bằng chế phẩm sinh học trước khi tăng lượng thức ăn cho tôm. Bên cạnh đó, không nên phối hợp nhiều loại chế phẩm có cùng công dụng trong một thời điểm nếu chưa đánh giá được tính tương thích giữa các chủng vi sinh. Việc sử dụng quá nhiều sản phẩm cùng lúc không

 SÁCH KỸ THUẬT

 Chế phẩm sinh học chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được kết hợp với quy trình nuôi hợp lý. Người nuôi cần lựa chọn con giống khỏe mạnh, cải tạo ao đúng kỹ thuật, duy trì các chỉ tiêu môi trường trong ngưỡng thích hợp, quản lý lượng thức ăn theo nhu cầu của tôm và thường xuyên theo dõi sức khỏe đàn nuôi. những làm tăng chi phí mà còn có thể làm giảm hiệu quả do các chủng vi sinh cạnh tranh lẫn nhau. Đối với các chế phẩm dạng bột hoặc dạng lỏng chứa vi sinh vật sống, cần bảo quản theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, tránh ánh nắng trực tiếp, nhiệt độ cao hoặc môi trường ẩm ướt. Sau khi mở bao bì, nên sử dụng trong thời gian khuyến cáo để đảm bảo mật độ vi sinh vật còn sống đạt hiệu quả tối ưu. Điều cần lưu ý là chế phẩm sinh học không thể thay thế hoàn toàn các biện pháp quản lý khác. Nếu mật độ nuôi quá cao, cho ăn dư thừa hoặc chất lượng nước không được kiểm soát thì hiệu quả của chế phẩm cũng sẽ bị hạn chế. LÊ LOAN

 BÁCH KHOA THƯ

Kỹ thuật nuôi tôm hùm

Panulirus femoristriga

Ngành nuôi tôm hùm là một trong những lĩnh vực có giá trị kinh tế cao của thủy sản Việt Nam, đặc biệt tại các tỉnh ven biển miền Trung. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả và phát triển bền vững, người nuôi cần nắm vững các quy trình kỹ thuật cũng như kiến thức về sinh học và quản lý môi trường nuôi. Cuốn sách “Kỹ thuật nuôi tôm hùm” của kỹ sư nông nghiệp Nguyễn Thị Hồng được biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Nội dung sách giới thiệu những kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh học của tôm hùm, lựa chọn địa điểm nuôi, thiết kế lồng bè, chọn và vận chuyển giống, kỹ thuật chăm sóc, quản lý thức ăn, môi trường nuôi cũng như phòng, trị một số bệnh thường gặp. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ hiểu và bám sát thực tiễn sản xuất, đây là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho người nuôi, cán bộ kỹ thuật và sinh viên ngành thủy sản. Sách do Nhà xuất bản Thanh Hóa phát hành!

Tôm hùm đỏ chân sọc (Panulirus femoristriga) là loài tôm hùm gai sống ở các rạn san hô, nền đá và khu vực ven biển nhiệt đới thuộc khu vực Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương, phân bố từ Đông Phi đến Đông Nam Á, Nhật Bản và Bắc Australia. Loài này có đặc điểm nổi bật là các chân bò màu đỏ với những vạch sọc sáng xen kẽ, thân phủ nhiều gai cứng và không có càng lớn. Tôm thường sống đơn lẻ hoặc thành nhóm nhỏ trong các hốc đá, hoạt động chủ yếu về đêm để kiếm ăn. Thức ăn gồm động vật thân mềm, giáp xác nhỏ, nhím biển, giun nhiều tơ và các sinh vật đáy. Ban ngày, tôm ẩn mình trong các khe đá nhằm tránh kẻ thù. Với giá trị kinh tế cao, Panulirus femoristriga là một trong những loài tôm hùm được khai thác và nuôi thương phẩm tại một số quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

NAM CƯỜNG

NGUYỄN HẰNG

55


56 HỎI - ĐÁP

CON TÔM THÁNG 7/2026

HỎI - ĐÁP  Hỏi: Các biện pháp phòng bệnh do vi bào tử trùng (EHP) trong nuôi tôm? (Phan Văn Phương, xã Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị) Trả lời: Vệ sinh ao kỹ trước vụ nuôi: diệt tạp, sát trùng đáy bằng Chlorine, vôi nung, KMnO₄... Tuyệt đối không thả giống từ trại chưa xét nghiệm EHP bằng PCR. Chỉ sử dụng giống sạch bệnh, kiểm dịch rõ ràng. Trước khi thả, ngâm tôm giống với Iodine hoặc Chlorine liều nhẹ (2 - 5 ppm) giúp giảm nguy cơ mang mầm bệnh từ trại giống. Định kỳ xi phông đáy, sử dụng chế phẩm sinh học chứa Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis liều 108 CFU/g, với liều 100 g/1.000 m³ nước mỗi 7 - 10 ngày. Quản lý tảo hợp lý, tránh tảo tàn gây suy giảm chất lượng nước - tạo điều kiện EHP phát triển. Kiểm soát các yếu tố môi trường ao nuôi luôn nằm trong ngưỡng thích hợp cho tôm phát triển. Sử dụng thức ăn chất lượng cao, dễ tiêu, tránh dư thừa gây ô nhiễm. Bổ sung men tiêu hóa, Vitamin C, E, beta-glucan giúp gan khỏe, tăng miễn dịch. Xử lý khi ao đã nhiễm EHP Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu vi bào tử trùng, vì vậy nguyên tắc xử lý là: Giảm mật độ bằng cách sang tôm hoặc thu sớm bớt nếu cần; Giảm thức ăn 20 - 30%, chỉ cho ăn vào sáng sớm hoặc chiều mát, tránh dư thừa; Bổ sung silymarin (2 - 3 g/ kg), curcumin (3 - 5 g/kg), Vitamin C - E (2 g/kg) liên tục 7 - 10 ngày để phục hồi gan tụy; Dùng thảo dược kháng khuẩn như tỏi, gừng, nghệ (mỗi loại 3 - 5 g/kg thức ăn) hỗ trợ đường ruột; Tăng cường men tiêu hóa và vi sinh đường ruột để cạnh tranh với EHP; Nếu nặng, tạm ngừng cho ăn 1 - 2 ngày, cấy vi sinh đáy, sau đó phục hồi dần.  Hỏi: Xin hỏi kỹ thuật chăm sóc tôm càng xanh trong ruộng lúa như thế nào để đạt hiệu quả cao? (Nguyễn Hoàng Thái, xã An Châu, tỉnh An Giang) Trả lời: Tôm càng xanh rất nhạy cảm với môi trường, đặc biệt là biến động pH, ôxy và khí độc. Do đó, cần lưu ý: Duy trì mực nước ổn định 0,8 - 1,2 m, hạn chế thay nước liên tục sau giai đoạn đầu nuôi. Theo dõi các chỉ tiêu: pH 7,5 - 8,5, DO > 4 mg/L, độ kiềm 80 - 150 mg/L, NH₃ < 0,05 mg/L. Bổ sung chế phẩm sinh học định kỳ (vi sinh phân hủy bùn, men vi sinh đáy) để hạn chế tích tụ hữu cơ và khí độc. Không sử dụng phân hóa học hoặc thuốc bảo vệ thực vật sau khi thả tôm, đặc biệt các sản phẩm chứa gốc clo, đồng, lưu huỳnh. Tôm càng xanh trong ruộng lúa có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên như tảo, phiêu sinh, mùn bã hữu cơ. Tuy nhiên, để tăng trưởng nhanh và hạn chế tranh ăn, nên bổ sung thêm thức

ăn: Thức ăn công nghiệp: Dùng loại dành riêng cho tôm càng xanh, đạm 30 - 38%. Giai đoạn đầu nên dùng thức ăn có dạng mịn, sau đó chuyển sang dạng viên nổi hoặc chìm. Thức ăn tự chế: Có thể phối hợp bột cá, cám gạo, rau xanh, hến, ốc bươu vàng... tùy điều kiện. Bổ sung khoáng, vitamin, men tiêu hóa 2 - 3 lần/tuần để tăng sức đề kháng, đặc biệt vào giai đoạn chuyển mùa.  Hỏi: Ao ương tôm giống cần đáp ứng những yêu cầu gì? (Trần Công Hải, xã Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long) Trả lời: Diện tích ao ương chiếm khoảng 0,5 - 1% diện tích nuôi, thông thường khoảng 50 - 100 m2. Bờ ao cao ít nhất 1 - 1,2 m để duy trì mực nước. Đáy ao được đầm nén chắc, phẳng, có góc nghiêng về hướng thoát, đảm bảo làm sao nước được tháo cạn khi cần rút hết nước (san tôm sau khi ương). Thiết kế ao ương theo dạng ao nổi, có trải bạt đáy (chất liệu HDPE, các loại bạt nhựa tốt…). Tùy điều kiện, ao ương cũng có thể làm bằng ao đất, tuy nhiên, cần phải đảm bảo các yêu cầu như trên. Ao ương cần được che lưới lan nhằm hạn chế tối đa tia bức xạ ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, làm cho nhiệt độ nước tăng lên ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm. Hệ thống sục khí hoặc quạt nước được trang bị đều khắp mặt ao suốt thời gian ương, mục đích chính là cung cấp đủ hàm lượng ôxy hòa tan cho tôm phát triển.  Hỏi: Tôm nuôi trong ao trên cát sau 21 ngày thả xuất hiện tình trạng chết rải rác. Nguyên nhân do đâu và cần xử lý như thế nào? (Chu Thị Toán, phường Ninh Kiều, TP Cần Thơ) Trả lời: Tôm có thể chết từ từ nếu đáy ao tích tụ khí độc, tảo lắng đáy phân hủy âm ỉ, hoặc nhiễm bệnh gan tụy do stress kéo dài. Giải pháp: Quan sát kỹ đáy sàng ăn, phân tôm, màu gan, vỏ lưng. Nếu gan nhạt màu, mềm vỏ, phân lỏng là dấu hiệu rối loạn tiêu hóa; Kiểm tra H₂S bằng test nhanh. Nếu có mùi trứng thối hoặc H₂S vượt 0,01 mg/L, cần xử lý khẩn: Xi phông đáy kỹ khu vực quanh sàng ăn, sau đó tạt Zeolite; Tạt Hydrogen peroxide (H₂O₂ 3%) liều 5 - 10 lít/1.000 m³, nếu tôm nổi đầu hàng loạt; Sau đó phục hồi bằng vi sinh đáy, khoáng tạt và Vitamin C. Nếu tôm chết có dấu hiệu gan tụy hoại tử hoặc phân trắng, nên xét nghiệm thêm các bệnh nguy hiểm như EHP, vi khuẩn đường ruột để có hướng xử lý đúng (cách ly, giảm mật độ, thay nước...). BAN KHKT


CON TÔM THÁNG 7/2026

HỎI - ĐÁP

57


58

CON TÔM THÁNG 7/2026


CON TÔM THÁNG 7/2026

59


60

CON TÔM THÁNG 7/2026


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
CON TOM 175 by Thủy sản Việt Nam Website - Issuu