Minh Thanh, Hải Đăng, Vũ Mưa, Anh Thư, Thùy Khánh, Lê Cung, Phạm Duy Tương, Phan Thanh Cường, Nguyễn Anh, Lê Hoàng Vũ, Mai Xuân Trường
KỸ THUẬT VI TÍNH
Phạm Dương
TÒA SOẠN
Lầu 2, Nhà B, 116 Nguyễn Đình Chiểu, P. Tân Định, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 028.62777616
Email: toasoan.contom@gmail.com
Văn phòng tại Hà Nội: Tầng 1, nhà A8, số 10 Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội
Điện thoại: 0243.7713699
LIÊN HỆ QUẢNG CÁO
TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM
Điện thoại: 0243.7713699
DĐ: 083.661.5993
Email: quangcao@thuysanvietnam.com.vn
ĐẶT MUA TẠP CHÍ
Điện thoại: 0243.771.1756
Email: vuna@thuysanvietnam.com.vn
TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG
Tên tài khoản: TẠP CHÍ THỦY SẢN VIỆT NAM
Số: 3106566688
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
Ấn phẩm LHNB
Thưa Quý vị bạn đọc!
Năm 2026 mở ra giai đoạn phát triển đầy biến động của ngành tôm Việt Nam, với cả cơ hội và áp lực đan xen. Biến đổi khí hậu, diễn biến khó lường của thị trường và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm đang đặt ra bài toán cấp thiết về sự thích ứng linh hoạt và phát triển bền vững. Tại khu vực ĐBSCL, không khí sản xuất khá sôi động ngay từ đầu năm. Sau một vụ nuôi 2025 tương đối thuận lợi, nhiều địa phương đã nhanh chóng bước vào vụ mới với tâm thế chủ động. Đáng chú ý, việc thả nuôi năm nay được triển khai sớm hơn so với các năm trước. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tín hiệu tích cực của thị trường khi giá tôm duy trì ở mức tốt trong thời gian dài, đặc biệt tăng cao vào giai đoạn cuối năm do nguồn cung hạn chế. Trước cơ hội này, nhiều doanh nghiệp và hộ nuôi quy mô lớn đã đẩy nhanh tiến độ sản xuất để tận dụng lợi thế. Song song với tôm nước lợ, lĩnh vực tôm hùm cũng có nhiều diễn biến đáng chú ý. Năm 2025 ghi nhận bước ngoặt quan trọng của tôm hùm Việt Nam khi lần đầu tiên vươn lên dẫn đầu nguồn cung cho Trung Quốc, thị trường tiêu thụ tôm hùm lớn nhất thế giới. Tổng giá trị xuất khẩu tôm sang Trung Quốc - Hồng Kông đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng tới 55% so năm 2024.
Tuy nhiên, bước sang năm 2026, bức tranh không chỉ có màu sáng. Bên cạnh những cơ hội lớn, ngành hàng này cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, từ cạnh tranh quốc tế đến rủi ro trong nuôi trồng và biến động địa chính trị toàn cầu. Tất cả những yếu tố này đòi hỏi các doanh nghiệp và người nuôi cần áp dụng các giải pháp tổng thể. Đây là những nội dung tiêu biểu của Đặc san Con Tôm phát hành tháng 3/2026. Cùng với đó, Con Tôm tiếp tục gửi đến bạn đọc những tin tức mới, mô hình điển hình trong và ngoài nước, các bài viết kỹ thuật hữu ích giúp bà con nuôi tôm đạt được hiệu quả cao nhất. Mời các bạn đón đọc và góp ý.
Trân trọng! BAN BIÊN TẬP
Tòa soạn luôn hoan nghênh sự đóng góp và các bài viết đặc sắc về ngành tôm từ các CTV, bạn đọc gần xa. Thư và bài vở xin gửi về: Tạp chí Thủy sản Việt Nam - Tầng 1, nhà A8, số 10
Nguyễn Công Hoan, P. Giảng Võ, Hà Nội
Điện thoại: 0243.7713699
Email: toasoan.contom@gmail.com
Hoặc liên hệ trực tiếp theo số điện thoại: 0374 099 498 (Ms. Kim Tiến)
T18-19: Bảo đảm mục tiêu tăng trưởng nuôi trồng thủy sản năm 2026
Thị trường xuất khẩu
T24-25: Mở rộng điểm đến xuất khẩu, tôm hùm bứt phá
Nhìn ra thế giới
T30-31: Thuế quan dậy sóng thị trường tôm toàn cầu
Thức ăn - Dinh dưỡng
T38-39: Illite: Khoáng tự nhiên cải thiện tăng trưởng và sức khỏe tôm
Khoa học - Kỹ thuật
T40: Chế phẩm thảo dược cho tôm thẻ chân trắng
T42: Giảm stress hiệu quả cho tôm nuôi
T43: Quy trình phòng ngừa dịch bệnh trong trại sản xuất tôm giống
Thông tin doanh nghiệp
T44-45: C.P. Việt Nam: Vinh danh dấu ấn kỷ lục kích cỡ lớn
T46: Xử lý nấm và vi khuẩn trong ương nuôi tôm
T47: Công nghệ Nanobubble: Nâng cao hiệu quả nuôi tôm cá
Mô hình điển hình
T52: Thanh Hóa: Khai thác thế mạnh công nghệ trong nuôi tôm
T53: Singapore: Tăng tốc nuôi thủy sản công nghệ cao
Đồng hành cùng nhà nông
T54: Giảm thiểu rủi ro từ bệnh đốm trắng
THANH HÓA
Chuẩn bị tốt các điều kiện cho vụ mới
Sau Tết Nguyên đán, tại các vùng nuôi tôm trọng điểm của Thanh Hóa, người dân đang khẩn trương chuẩn bị cho vụ nuôi mới. Ao nuôi được tháo cạn, nạo vét bùn đáy, bón vôi xử lý môi trường nhằm loại bỏ mầm bệnh và khí độc tích tụ. Với những diện tích không thể tháo cạn, người nuôi sử dụng bơm sục đáy để làm sạch trước khi cấp nước mới. Bên cạnh cải tạo ao, việc lựa chọn con giống cũng được đặc biệt chú trọng. Người nuôi ưu tiên các lô giống khỏe mạnh, đồng đều, có giấy chứng nhận kiểm dịch và chỉ thả khi điều kiện thời tiết ổn định. Đến cuối tháng 2/2026, các cơ sở trên địa bàn đã ương dưỡng khoảng 65 triệu con giống tôm thẻ chân trắng, sẵn sàng cung ứng cho vụ mới. Cùng với đó, địa phương đang thúc đẩy chuyển dịch từ nuôi nhỏ lẻ sang thâm canh ứng dụng công nghệ cao. Nhiều hộ đã đầu tư hệ thống quạt nước công suất lớn, máy cho ăn tự động và thiết bị quan trắc môi trường, sử dụng chế phẩm sinh học, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
NAM CƯỜNG
ĐÀ NẴNG
Đẩy mạnh nuôi tôm thâm canh ứng dụng công nghệ cao
Thời gian qua, TP Đà Nẵng đang đẩy mạnh các mô hình nuôi tôm thâm canh ứng dụng công nghệ cao. Tại một số vùng nuôi trọng điểm, người dân đã đưa nguồn nước biển vào hệ thống xử lý nhiều cấp trước khi cấp cho ao ương giống và ao nuôi thương phẩm. Nhờ đó, môi trường nước được kiểm soát tốt hơn, hạn chế mầm bệnh phát sinh. Đặc biệt, nhiều hộ nuôi mạnh dạn đầu tư công nghệ đã đạt hiệu quả rõ rệt. Mô hình nuôi tôm ứng dụng quy trình Biofloc kết hợp ao nuôi khung sắt phủ bạt giúp tỷ lệ sống của tôm giống đạt trên 90%, giảm đáng kể lượng thức ăn và hạn chế thay nước trong suốt quá trình nuôi. Ở giai đoạn nuôi thương phẩm, năng suất có thể đạt trên 40 tấn/ha. Bên cạnh đó, một số cơ sở nuôi đã lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường nước tự động để theo dõi liên tục các chỉ số quan trọng. Nhờ kiểm soát tốt các yếu tố kỹ thuật, năng suất và hiệu quả đầu tư của người nuôi cũng được nâng lên rõ rệt.
NGUYỄN HẰNG
HÀ TĨNH
Hiệu quả nuôi tôm càng xanh luân canh
Từ vùng đất hoang hóa ven chân núi Hồng Lĩnh, anh Võ Minh, xã Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã thành công với mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh với cá nước ngọt. Năm 2021, ở vụ nuôi đầu tiên, anh thận trọng thả mật độ từ 8 - 10 con/m² nhằm đảm bảo tôm sinh trưởng tốt, hạn chế rủi ro dịch bệnh. “Sau khoảng 7 tháng nuôi, tôi thu hoạch được gần 3 tấn tôm càng xanh thương phẩm, giá bán khoảng 300.000 đồng/kg, doanh thu đạt gần 1 tỷ đồng”, anh Minh chia sẻ. Kết quả khả quan đã tạo thêm động lực để anh mạnh dạn mở rộng quy mô sản xuất. Đến nay, mô hình nuôi tôm càng xanh của gia đình anh đã phát triển trên diện tích 10 ha, nuôi 2 vụ mỗi năm với mật độ phổ biến từ 8 - 15 con/m². Bình quân mỗi năm, gia đình anh xuất bán từ 4 - 4,5 tấn tôm thương phẩm. Với giá bán ổn định trong khoảng 300.000 - 350.000 đồng/ kg, doanh thu đạt hơn 1,3 tỷ đồng/năm, sau khi trừ chi phí cho lợi nhuận đáng kể.
DIỆU CHÂU
GIA LAI
Khuyến cáo tuân thủ kỹ thuật vụ nuôi
Sau thiệt hại do cơn bão số 13 cuối năm 2025, người dân tại các vùng nuôi tôm nước lợ ở Gia Lai đang khẩn trương cải tạo ao, xử lý môi trường và gia cố hạ tầng để chuẩn bị cho vụ nuôi chính năm 2026. Cùng với việc khôi phục cơ sở hạ tầng, ngành chức năng địa phương khuyến cáo người nuôi tuân thủ chặt chẽ lịch thời vụ, không thả giống khi điều kiện môi trường chưa bảo đảm an toàn. Trước khi thả nuôi, ao phải được nạo vét bùn đáy, phơi khô và rải vôi khử trùng đúng liều lượng. Nguồn nước cấp vào ao cần qua ao lắng và được xử lý đạt các chỉ tiêu về pH, độ mặn, độ kiềm và các yếu tố môi trường theo quy định. Bên cạnh đó, con giống phải có nguồn gốc rõ ràng, kèm giấy chứng nhận kiểm dịch nhằm hạn chế rủi ro dịch bệnh. Ngành nông nghiệp địa phương cũng khuyến khích người nuôi áp dụng các mô hình an toàn sinh học như Biofloc, Semi-Biofloc nhằm ổn định môi trường nước, giảm phát sinh mầm bệnh và hạn chế tác động đến hệ sinh thái xung quanh. LÊ LOAN
QUẢNG TRỊ
Nhân rộng mô hình nuôi tôm sú hai giai đoạn
Thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị triển khai mô hình nuôi tôm sú 2 giai đoạn tại một số địa phương như Bắc Trạch và Vĩnh Thủy, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực. Tham gia mô hình, người nuôi được cán bộ khuyến nông hướng dẫn từ khâu chọn giống, quản lý môi trường ao nuôi đến phòng, chống dịch bệnh. Quy trình nuôi hai giai đoạn giúp kiểm soát tốt tỷ lệ sống của tôm, hạn chế rủi ro dịch bệnh và tối ưu chi phí sản xuất. Nhờ đó, hiệu quả kinh tế được cải thiện. Bên cạnh triển khai mô hình, công tác tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cũng được chú trọng. Trong năm 2025, Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị đã tổ chức nhiều hội nghị và lớp tập huấn với gần 1.000 lượt người tham gia; riêng các lớp đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật nuôi tôm thu hút hơn 360 lượt nông dân và cán bộ cơ sở. Thời gian tới, địa phương dự kiến tiếp tục mở rộng mô hình nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thủy sản bền vững. NGUYỄN AN
KHÁNH HÒA
Hướng dẫn lịch thời vụ nuôi tôm nước lợ năm 2026
Nhằm chủ động mùa vụ và hạn chế rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa ban hành hướng dẫn lịch thời vụ nuôi tôm nước lợ năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Theo đó, đối với tôm sú nuôi thâm canh, bán thâm canh hoặc mô hình nuôi đa dạng sinh học (kết hợp với các đối tượng thủy sản khác), thời gian thả giống từ tháng 2 đến tháng 8. Ở những vùng nuôi có điều kiện cơ sở hạ tầng và nguồn nước đảm bảo, người dân có thể thả giống đến hết tháng 9. Đối với tôm thẻ chân trắng, thời gian thả giống từ tháng 1 đến tháng 9; những khu vực ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt, chủ động nguồn nước có thể thả giống đến cuối năm. Theo Chi cục Thủy sản và Biển đảo, các địa phương cần căn cứ điều kiện thực tế từng vùng nuôi để hướng dẫn người dân lựa chọn thời điểm thả giống phù hợp. Đối với các cơ sở nuôi ứng dụng công nghệ cao, có khả năng kiểm soát tốt môi trường và dịch bệnh, có thể chủ động thả nuôi quanh năm.
DUY MẠNH
VĨNH LONG
Chủ động phòng, chống dịch bệnh trên tôm nước lợ
Sáng 10/3, Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long đã tổ chức Hội thảo “Triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên tôm nước lợ mùa vụ năm 2026” (ảnh).
Theo đánh giá của ngành chuyên môn, mặc dù sản xuất tôm trong thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực, song nghề nuôi tôm vẫn đối mặt nhiều rủi ro do tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết bất thường và nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Từ đầu năm 2026 đến nay, diện tích tôm nuôi bị thiệt hại khoảng 125,93 ha, chủ yếu ở giai đoạn 15 - 60 ngày tuổi, với một số bệnh thường gặp như: vi bào tử trùng, bệnh phân trắng, bệnh đường ruột,... Để vụ nuôi 2026 thành công, ông Phạm Minh Truyền, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long đề nghị, các địa phương, cơ quan chuyên môn và người nuôi tôm phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng, chống dịch bệnh; tuân thủ lịch
ĐỒNG THÁP
Phát triển vùng nuôi tôm hiện đại
Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu, tỉnh Đồng Tháp đang thúc đẩy phát triển nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tại các vùng nuôi trọng điểm. Nhiều mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh được triển khai với hệ thống ao lót bạt, xử lý nước tuần hoàn và thiết bị quan trắc môi trường tự động. Tại xã Tân Phú Đông - vùng nuôi thủy sản lớn nhất tỉnh - tổng diện tích nuôi trồng đạt khoảng 6.320 ha, sản lượng hằng năm khoảng 44.000 tấn. Bên cạnh các mô hình nuôi tôm công nghiệp và quảng canh truyền thống, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao với diện tích hơn 140 ha. Theo địa phương, việc chuyển sang mô hình nuôi công nghệ cao giúp kiểm soát tốt môi trường nước, nâng cao năng suất, giảm rủi ro dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục khuyến khích mở rộng nuôi tôm công nghệ cao, đồng thời tăng cường liên kết giữa người nuôi, doanh nghiệp và cơ sở chế biến.
THANH HIẾU
Ảnh: Cẩm Trúc
thời vụ, quản lý tốt môi trường ao nuôi và sử dụng con giống đảm bảo chất lượng. Đồng thời, cần tăng cường liên kết sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hướng tới phát triển nghề nuôi tôm bền vững, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và ổn định sinh kế cho người dân vùng nuôi.
HUYỀN THƯƠNG
CẦN THƠ
Năm 2026 được dự báo xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết bất lợi trong giai đoạn chuyển mùa. Nắng nóng có khả năng xuất hiện từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5/2026, với nhiệt độ cao nhất khoảng 37°C, kéo dài từng đợt 7 - 10 ngày. Cùng với đó, xâm nhập mặn trong mùa khô 2025 - 2026 được dự báo cao hơn trung bình nhiều năm, đỉnh mặn tập trung vào cuối tháng 2 và tháng 3. Trước tình hình này, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ yêu cầu các địa phương căn cứ khung lịch thời vụ chung để hướng dẫn người nuôi thả giống phù hợp với điều kiện thực tế. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật cải tạo ao nuôi, lựa chọn con giống và áp dụng quy trình nuôi an toàn sinh học; theo dõi chặt chẽ các yếu tố môi trường. Ngành chuyên môn cũng khuyến khích các hộ nuôi nước lợ áp dụng mô hình sản xuất phù hợp như nuôi tôm 2 - 3 giai đoạn, hoặc nuôi kết hợp với cá rô phi và một số đối tượng thủy sản khác để giảm rủi ro dịch bệnh. DUY AN
AN GIANG
Chi phí đầu vào tăng, người nuôi thận trọng thả giống
Đầu tháng 3, nhiều hộ nuôi tôm tại vùng Miệt Thứ bắt đầu chuẩn bị cho vụ nuôi đầu năm. Tuy nhiên, giá vật tư đầu vào tăng cao khiến người nuôi phải tính toán kỹ trước khi thả giống. Theo ông Huỳnh Văn Thắng, xã Vĩnh Phong, với diện tích 90 công đất, chi phí cho một vụ nuôi năm nay tăng gần 20 triệu đồng so năm trước, chủ yếu do giá thức ăn và con giống tăng. Hiện giá nhiều loại thức ăn tăng khoảng 20.000 - 30.000 đồng/bao so cùng kỳ năm trước. Với hình thức mua trả chậm đến cuối vụ, nhiều đại lý cộng thêm khoảng 10 - 15% so với giá thanh toán tiền mặt. Giá tôm giống cũng có xu hướng tăng. Theo người nuôi, với mức chi phí hiện nay, giá tôm thương phẩm cần tăng thêm để đảm bảo lợi nhuận. Ngoài áp lực chi phí, người nuôi tôm còn đối mặt với rủi ro thời tiết và dịch bệnh. Trước tình hình trên, ngành thủy sản địa phương tổ chức các lớp tập huấn, khuyến cáo người nuôi
sử dụng thức ăn hợp lý, áp dụng kỹ thuật nuôi phù hợp nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.
THẢO ANH
CÀ MAU
Mở rộng sản xuất lúa - tôm theo hướng bền vững
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ rệt đến sản xuất nông nghiệp vùng ven biển ĐBSCL, mô hình lúa - tôm đang dần khẳng định là hướng đi phù hợp, hiệu quả và bền vững. Tại Cà Mau, mô hình lúa - tôm được triển khai từ năm 2000, dựa trên nguyên tắc trồng lúa vào mùa mưa, nuôi tôm vào mùa khô. Tỉnh Cà Mau có khoảng 93.000 ha sản xuất lúa - tôm trong đó khu vực phía Bắc hơn 47.000 ha, phía Nam hơn 43.000 ha. Trên diện tích này, nhiều nông dân sáng tạo trong chuyển đổi sản xuất từ đất lúa kém hiệu quả sang mô hình luân canh tôm - lúa, cua - tôm kết hợp lúa, hay lúa - tôm càng xanh - tôm thẻ chân trắng. Nhờ đó, rủi ro dịch bệnh được giảm thiểu, hiệu quả kinh tế tăng cao, và đặc biệt là hàng trăm ha lúa - tôm đã được sản xuất theo chuẩn BAP, ASC, GlobalGAP,… tạo tiền đề mở rộng vùng nguyên liệu sạch, an toàn, chất lượng. Điểm nổi bật của mô hình lúa - tôm Cà Mau là sản phẩm sạch, thân thiện môi trường. THÁI THUẬN
CHÂU Á
Xuất khẩu tôm chững do xung đột Trung Đông
Căng thẳng giữa Israel, Iran và United States đang làm gián đoạn tuyến vận tải qua Biển Đỏ, buộc nhiều tàu container chở hàng từ châu Á sang châu Âu phải vòng qua châu Phi. Sự thay đổi này kéo dài thời gian vận chuyển thêm khoảng hai tuần và làm tăng đáng kể chi phí cước tàu, gây áp lực cho các nước xuất khẩu tôm lớn như Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam. Năm 2025, riêng thị trường Mỹ và châu Âu đã chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu tôm của Ấn Độ. Trong ngắn hạn, châu Âu có thể đối mặt với tình trạng thiếu hàng tạm thời từ châu Á, dù lượng tồn kho lớn từ cuối năm trước tại Mỹ và châu Âu được xem là “tấm đệm” trước khi nguồn cung mới cập cảng. Nhu cầu tiêu thụ dự kiến tăng trở lại vào dịp lễ Phục Sinh và mùa xuân, đặc biệt trong tháng 5 tại châu Âu. Tuy nhiên, nguy cơ giá dầu leo thang có thể tiếp tục đẩy chi phí nuôi, vận chuyển và chế biến tôm tăng cao, khiến việc tính toán chi phí và kế hoạch tài chính của ngành thêm khó lường.
NGA
Tăng tốc nhập khẩu và khai thác tôm
Nga đang lên kế hoạch mở rộng nhập khẩu lẫn
sản xuất tôm trong những năm tới nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa đang duy trì ở mức cao.
Theo Hiệp hội Thủy sản Nga, khối lượng tôm nhập khẩu năm trước tăng ít nhất 2%, trong khi giá trị
nhập khẩu tăng 20%. Ấn Độ, Việt Nam và Trung
Quốc là những nhà cung cấp lớn nhất, trong đó Ấn Độ đứng đầu với khoảng 19.000 tấn xuất sang
Cơ quan Kiểm tra Thực phẩm Canada (CFIA) đã ra lệnh thu hồi sản phẩm tôm chín đông lạnh TS Sushi EBI phân phối tại bang Quebec cho khách sạn, nhà hàng và bếp ăn tập thể do phát hiện chất 3-amino-2-oxazolidinone (AOZ)dấu hiệu của việc sử dụng hóa chất cấm furazolidone. Sản phẩm đóng gói 155 g, mã UPC 8 16553 00490 3, hạn 02/6/2027.
Tổ chức FAI vừa ra mắt nền tảng trực tuyến Shrimp Hub, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nuôi, chế biến và bán lẻ tôm đưa yếu tố phúc lợi động vật vào trung tâm hoạt động sản xuất. Nền tảng cung cấp khóa đào tạo, công cụ đánh giá và kiến thức chuyên gia, giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả nuôi, tăng tỷ lệ sống, đồng thời chuẩn bị tốt hơn cho các chương trình chứng nhận thủy sản.
Nga trong năm 2025. Do điều kiện khí hậu không phù hợp cho nhiều loài tôm nước ấm, Nga phải nhập khẩu tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm đỏ Argentina cùng hơn 25 loài tôm nước ấm khác. Ngoài ra, Nga cũng đặt mục tiêu phục hồi sản lượng khai thác trong nước. Năm 2025, sản lượng tôm nước lạnh chỉ đạt khoảng 26.000 tấn. Trong năm nay, giới khoa học đang theo dõi chặt chẽ hoạt động khai thác tôm phương Bắc tại biển Okhotsk nhằm tìm cách tăng sản lượng. Tổng quy mô thị trường tôm Nga, bao gồm cả nhập khẩu ước đạt 100.000 - 112.000 tấn/năm.
ẤN ĐỘ
Chuỗi nhà hàng hải sản Captain D’s ra mắt món Crispy Crunchy Shrimptôm chiên phủ bột hoành thánh giòn để phục vụ nhu cầu tăng cao trong mùa Chay tại Mỹ, bán đến 5/4 với giá từ 5,99 USD. Sản phẩm được đưa vào nhiều combo hải sản cùng các món bổ sung như hàu chiên và gumbo. Theo đại diện nhà hàng, ông Jonathan Muhtar, mùa Chay luôn là thời điểm nhu cầu hải sản tăng mạnh tại hệ thống.
Kỳ vọng phục hồi xuất khẩu tôm sang Mỹ Hãng xuất khẩu tôm lớn của Ấn Độ Apex Frozen Foods bày tỏ lạc quan về triển vọng kinh doanh khi Mỹ giảm thuế nhập khẩu tôm, đồng thời doanh số tại châu Âu tiếp tục tăng. Trong báo cáo tài chính quý III/2026, doanh thu công ty đạt 264 crore INR (khoảng 32 triệu USD), tăng 15% so cùng kỳ, chủ yếu nhờ doanh số tôm sang EU tăng mạnh và giá tôm toàn cầu duy trì ở mức tốt. Dù sản lượng bán ra giảm 5% xuống 2.754 tấn và khối lượng xuất khẩu sang Mỹ giảm 12%, doanh số tại châu Âu tăng tới 22%, phản ánh chiến lược giảm phụ thuộc vào thị trường Mỹ. Việc Mỹ hạ thuế tôm Ấn Độ từ 50% xuống 25% kể từ ngày 7/2/2026 được kỳ vọng cải thiện đáng kể sức cạnh tranh và giúp doanh nghiệp tăng công suất chế biến. Cùng đó, Hiệp định Thương mại tự do Ấn Độ - EU mới được phê duyệt là động lực dài hạn, mở rộng cơ hội cho các sản phẩm giá trị gia tăng. Apex cũng đang thăm dò thị trường mới như Nga và Australia nhằm đa dạng đầu ra.
Oman, một quốc gia Tây Á vừa khởi công dự án nuôi tôm thẻ chân trắng mới với tổng vốn đầu tư khoảng 23,5 triệu rial (tương đương 51,5 triệu euro). Dự án rộng 15 ha, công suất dự kiến 7.500 tấn mỗi năm, có thể trở thành một trong những dự án nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước này. Sáng kiến phù hợp định hướng Oman Vision 2040 nhằm thúc đẩy đầu tư ngoài dầu mỏ, đồng thời tạo việc làm và cơ hội kinh doanh cho thanh niên địa phương.
Thành phố Umea (Thụy Điển) đang thúc đẩy dự án nuôi cá và tôm trên đất liền theo mô hình tuần hoàn, tận dụng nguồn nhiệt dư từ nhà máy nhiệt điện để vận hành hệ thống nuôi đa bậc dinh dưỡng (IMTA). Dự án do Đại học Umea cùng các đối tác triển khai, dự kiến thử nghiệm quy mô nhỏ từ mùa xuân trước khi xây dựng cơ sở lớn tích hợp với nhà máy điện, nhằm tạo hệ thống nuôi thủy sản tiết kiệm tài nguyên và thân thiện khí hậu.
ECUADOR
Tôm SONGA vào “danh sách đỏ” của FDA
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm
Mỹ (FDA) đã đưa Công ty Sociedad Nacional de Galapagos C.A. (SONGA), một nhà sản xuất tôm
lớn của Ecuador, vào cảnh báo nhập khẩu 16-81 do nghi ngờ sản phẩm nhiễm vi khuẩn Salmonella.
Theo thông báo công bố ngày 6/2/2026, việc bị
đưa vào “Red List” đồng nghĩa các lô tôm của SONGA xuất khẩu sang Mỹ sẽ bị kiểm soát chặt hơn. Cảnh báo 16-81 cho phép FDA áp dụng cơ chế giữ hàng không cần kiểm tra thực tế (DWPE) đối với các sản phẩm thủy sản bị nghi nhiễm Salmonella. Theo đó, các lô hàng của SONGA khi cập cảng Mỹ có thể bị tự động tạm giữ nếu nhà nhập khẩu không cung cấp bằng chứng hợp lệ - thường là kết quả xét nghiệm gần nhất theo phương pháp của FDA - chứng minh sản phẩm không nhiễm khuẩn. Các biện pháp này sẽ được duy trì cho đến khi doanh nghiệp chứng minh được việc tuân thủ ổn định và triển khai hiệu quả các biện pháp khắc phục.
THÁI LAN
Chuyển giao công nghệ nuôi trồng cho Bangladesh
Công ty Thai Union Feedmill (TFM) vừa ký biên
Tập đoàn thức ăn thủy sản BioMar vừa mua lại 30% cổ phần còn lại tại công ty con ở Ecuador, qua đó nắm toàn quyền sở hữu BioMar Ecuador nhưng vẫn duy trì hợp tác thương mại với đối tác địa phương. Doanh nghiệp cũng dự kiến nâng công suất nhà máy tại nước này từ 300.000 tấn lên 410.000 tấn trong năm 2026, đồng thời xem xét mở rộng thêm nhằm đáp ứng triển vọng tăng trưởng dài hạn của ngành nuôi tôm Ecuador.
Sea Cuisine, một thương hiệu của High Liner Foods vừa ra mắt sản phẩm cá minh thái Alaska và tôm tẩm bột pha bia Guinness, đưa hương vị của đồ uống có cồn vào quầy hải sản đông lạnh. Sản phẩm đã có mặt tại khoảng 1.500 siêu thị thuộc hệ thống Kroger và gói cỡ lớn tại Costco, trong kế hoạch mở rộng thị trường Bắc Mỹ.
bản ghi nhớ (MOU) với các đối tác tại Bangladesh nhằm chuyển giao công nghệ và tiêu chuẩn nuôi trồng thủy sản của Thái Lan, qua đó nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của quốc gia Nam Á này. Thỏa thuận được công bố tại lễ ký kết ở Bangkok, tập trung phát triển các loài có giá trị cao như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm càng xanh và cá chẽm. Theo TFM, hợp tác sẽ bao gồm chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, thúc đẩy đổi mới và áp dụng các tiêu chuẩn nuôi trồng của Thái Lan để giúp ngành thủy sản Bangladesh đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Lễ ký kết có sự tham dự của Đại sứ Bangladesh tại Thái Lan Faiyaz Murshid Kazi, Chủ tịch Bangladesh Shrimp and Fish Foundation Syed Mahmudul Huq và đại diện TFM. TFM cho biết thỏa thuận sẽ mở rộng mạng lưới kinh doanh tại các thị trường tiềm năng, đồng thời thúc đẩy chuỗi sản xuất thủy sản theo hướng trách nhiệm môi trường và xã hội. Các bên kỳ vọng hợp tác này góp phần củng cố an ninh lương thực và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững cho ngành thủy sản hai nước.
BRAZIL
Xuất khẩu tôm hùm đổi hướng sang Trung Quốc
Xuất khẩu tôm hùm của Brazil đang ghi nhận sự dịch chuyển đáng kể về thị trường tiêu thụ.
Trong nhiều năm, Mỹ là điểm đến chủ lực, song từ khi các mức thuế mới được áp dụng năm 2025, dòng thương mại đã thay đổi rõ rệt khi Trung
Quốc vươn lên trở thành thị trường lớn nhất. Giai đoạn 2020 - 2024, lượng đuôi tôm hùm Brazil nhập vào Mỹ liên tục giảm và rơi mạnh trong năm 2025, chỉ còn khoảng 829.000 pound, giảm 60% so năm trước và thấp hơn 65% so mức trung bình 5 năm.
Trái lại, Trung Quốc nhập gần 4 triệu pound trong năm 2025, tăng 7% so 2024 và cao hơn 64% so trung bình 5 năm, chiếm tới 53% tổng xuất khẩu của Brazil. Sự dịch chuyển này
chủ yếu do thuế quan khiến sản phẩm Brazil kém cạnh tranh tại Mỹ, buộc doanh nghiệp chuyển hướng sang Trung Quốc. Một số thị trường khác như Australia, Singapore hay Hồng Kông cũng tăng nhập nhưng quy mô còn nhỏ.
TUẤN MINH
Chương trình đào tạo ngành tôm SustainED của Ecuador đã khởi động kế hoạch năm 2026 bằng hội thảo kỹ thuật đầu tiên tập trung vào quản lý sức khỏe và tác động của biến đổi mùa vụ đến sản xuất tôm. Sự kiện quy tụ hơn 80 chuyên gia cùng bảy diễn giả trong và ngoài nước, thảo luận các chủ đề như phát hiện sớm dịch bệnh, biến động mầm bệnh theo mùa, dinh dưỡng chức năng và các công cụ sinh học nhằm giúp người nuôi chủ động ứng phó thách thức.
Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 đã chính thức mở đăng ký tham dự, đồng thời bán vé ưu đãi đăng ký sớm cho sự kiện dự kiến diễn ra từ ngày 1 - 3/9 tại Utrecht. Đây là kỳ diễn đàn lần thứ năm, với chương trình được mở rộng và cải tổ đáng kể nhằm nâng cao trải nghiệm cho đại biểu, diễn giả và nhà tài trợ, bao gồm khu triển lãm thiết kế lại và không gian họp toàn thể lớn hơn. Phiên khai mạc sẽ có sự trở lại của Jan Lambregts, chuyên gia kinh tế của Rabobank, với phân tích về bối cảnh kinh tế và địa chính trị toàn cầu. Diễn đàn cũng giới thiệu định dạng “talk show” mới, đồng thời dành phiên bế mạc thảo luận về xu hướng AI agentic trong chuỗi giá trị tôm, cùng nhiều chuyên đề về thị trường EU, Trung Đông và xu hướng tiêu thụ thủy sản.
Tăng tốc vụ tôm mới
Ảnh: Báo Nghệ An
Sau vụ nuôi tôm nước lợ năm 2025 đạt kết quả khả quan, nhiều địa phương tại ĐBSCL đã khẩn trương chuẩn bị cho vụ nuôi năm 2026. Vụ mới được khởi động sớm, kỳ vọng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của ngành tôm.
Giáp biển Đông, đẩy sớm vụ nuôi
Khác với thông lệ nhiều năm, vụ nuôi tôm nước lợ năm 2026 tại ĐBSCL khởi động sớm không phải do điều kiện môi trường thuận lợi, mà chủ yếu xuất phát từ tín hiệu tích cực của thị trường. Trong suốt năm 2025, giá tôm duy trì ở mức cao và tăng mạnh vào những tháng cuối năm, trong khi nguồn cung nguyên liệu có dấu hiệu thiếu hụt. Diễn biến này đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp và trang trại nuôi quy mô lớn tại các tỉnh, thành ven biển như Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau chủ động thả nuôi sớm nhằm đón cơ hội thị trường.
Tại vùng nuôi của Công ty CP Thực phẩm Sao Ta (TP Cần Thơ), đến cuối tháng 11/2025, doanh nghiệp đã hoàn tất thả giống vụ mới trên diện tích hơn 250 ha. Đến giữa tháng 2/2026, khu nuôi cũ cũng cơ bản hoàn thành việc thả giống. Nhiều trang trại nuôi tôm thâm canh, ao
lót bạt mật độ cao trên địa bàn cũng triển khai vụ nuôi sớm trước dự báo thiếu hụt nguyên liệu trong quý I/2026. Theo thống kê, đến cuối tháng 2/2026, các vùng nuôi tại TP Cần Thơ đã thả nuôi gần 11.000 ha tôm nước lợ, trong đó gần 2.000 ha tôm sú. Đây không phải là diễn biến bất ngờ, bởi trong vụ nuôi năm 2025, nhiều diện tích nuôi tôm sú bằng nguồn giống thế hệ mới đã đạt hiệu quả tốt cả ở ao đất lẫn ao lót bạt mật độ cao. Bên cạnh đó, từ nửa cuối năm 2025, giá tôm sú liên tục tăng trong khi nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường.
Tại Cà Mau, diện tích nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh đã thả giống khoảng 25.406 ha, chiếm hơn 70% kế hoạch; diện tích còn lại đang được cải tạo, chuẩn bị cho vụ nuôi mới. Trong khi đó, sau khi hợp nhất địa giới, tỉnh Vĩnh Long có khoảng 70.000 ha nuôi tôm nước lợ, với sản lượng năm 2025 ước đạt 334.000 tấn, thuộc nhóm địa
phương có diện tích và sản lượng tôm lớn của khu vực ĐBSCL. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu thả nuôi khoảng 71.300 ha, sản lượng 314.700 tấn, trong đó có 7.500 ha nuôi theo hướng công nghệ cao. Trước diễn biến giá tôm tăng và nguồn nguyên liệu khan hiếm vào cuối năm 2025, nhiều vùng nuôi công nghệ cao của tỉnh đã chủ động xuống giống sớm; đến giữa tháng 1/2026 đã có khoảng 1.600 ha được thả nuôi.
Biển Tây - Chạy đua cùng
độ mặn
Trong khi tại các vùng nuôi giáp biển Đông, chỉ những trang trại và mô hình nuôi thâm canh, ao lót bạt mới có điều kiện xuống giống sớm nhờ chủ động nguồn nước mặn dự trữ từ vụ trước, thì tại khu vực ven biển Tây thuộc các tỉnh An Giang và Cà Mau, độ mặn năm nay xuất hiện sớm và gia tăng nhanh. Ngay sau Tết Nguyên đán, nhiều hộ nuôi đã khẩn trương cải tạo ao
rơm rạ sau vụ lúa trên vuông tôm để kịp lấy
nước mặn phục vụ thả giống.
Tại vùng Miệt Thứ của tỉnh An Giang, ngay từ đầu tháng 2, độ mặn tại nhiều khu
vực nuôi đã đạt ngưỡng phù hợp cho việc cấp nước vào vuông tôm. Tuy nhiên, việc
mặn đến sớm và tăng nhanh cũng khiến
một số hộ nuôi gặp khó khăn trong khâu
chuẩn bị, đặc biệt là huy động máy móc cải tạo ao đầm trong thời gian ngắn. Ở các vùng nuôi ven biển và dọc sông
Cái Lớn như U Minh Thượng, An Biên, Tây Yên, Đông Thái (An Giang), không khí vào vụ mới trở nên khẩn trương hơn khi ngay từ tuần đầu tháng 2, độ mặn đã đạt 12 - 15‰. Với nhiều năm kinh nghiệm canh tác mô hình tôm - lúa, anh Nguyễn Văn Mực (xã Tây Yên) cho biết: “Năm nay độ mặn đến sớm, thời tiết trước và sau Tết ít lạnh nên khá thuận lợi cho việc thả giống tôm sú quảng canh. Nếu không xảy ra mưa trái mùa và nắng nóng kéo dài, khả năng vụ tôm này
đạt năng suất tốt là khá cao”.
Tuy vậy, một số hộ nuôi vẫn giữ tâm lý
thận trọng. Ông Trần Tập, xã Vĩnh Hòa cho rằng những năm mặn lên sớm thường đi
kèm nguy cơ nắng nóng gay gắt vào cuối
tháng 3 đến tháng 4. Vì vậy, gia đình ông
chủ động trữ thêm một ao nước ngọt để
điều tiết độ mặn khi cần thiết.
Thận trọng trước nhiều
biến động
Song song với không khí xuống giống
khẩn trương tại nhiều vùng nuôi, giai đoạn
đầu vụ cũng bắt đầu xuất hiện một số yếu
tố bất lợi. Những ngày giữa tháng 3, nhiều
biến động về thời tiết, thị trường và dịch
bệnh đã lần lượt tác động đến hoạt động sản xuất của người nuôi tôm.
Trước hết là các đợt mưa trái mùa xảy ra trên diện rộng với lượng mưa khá lớn, khiến một số diện tích tôm nuôi bị thiệt hại. Ông
Ngô Công Luận, Giám đốc hợp tác xã Nông ngư 14/10 Hòa Nhờ A, xã Hòa Tú (TP Cần Thơ) cho biết: “Diện tích tôm thả trước Tết Nguyên đán của hợp tác xã gần như thiệt hại hoàn toàn sau các trận mưa trái mùa vừa qua. Hiện độ mặn tại vùng nuôi chỉ dao động khoảng 2 - 3‰ nên chưa thể thả nuôi trở lại, buộc phải chờ khi độ mặn ổn định mới tiếp tục xuống giống”.
Một biến số khác từng được người nuôi kỳ vọng nhiều nhất là giá tôm nguyên liệu hiện cũng diễn biến theo chiều hướng kém tích cực. Giá tôm thẻ chân trắng cỡ 30 con/ kg, đạt yêu cầu kiểm soát kháng sinh và màu sắc tại cổng nhà máy chế biến hiện chỉ dao động khoảng 135.000 - 140.000 đồng/
kg; trong khi giá thu mua phổ biến tại ao nuôi, qua thương lái thu gom và ướp đá, chỉ ở mức 120.000 - 125.000 đồng/kg. So với thời điểm cuối năm 2025, mức giá này đã giảm khoảng 20.000 - 25.000 đồng/kg. Giá tôm sú thương phẩm cũng giảm đáng kể, kể cả đối với các cỡ tôm lớn.
Trong khi giá tôm nguyên liệu giảm, chi phí vật tư đầu vào phục vụ nuôi trồng lại có xu hướng tăng theo biến động giá nhiên liệu. Theo ghi nhận tại các xã Vĩnh Phong, Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên (An Giang) cho thấy giá thức ăn tôm phổ biến từ 560.000 - 900.000 đồng/bao (20 - 25 kg), tùy thương hiệu và công dụng. Với hình thức mua trả chậm đến cuối vụ, nhiều đại lý cộng thêm khoảng 10 - 15% so với giá thanh toán tiền mặt. Bên cạnh đó, giá tôm giống cũng có xu hướng tăng khiến chi phí vốn càng cao.
Ngoài áp lực chi phí, người nuôi tôm còn đối mặt với rủi ro thời tiết và dịch bệnh. Thời tiết diễn biến thất thường, nắng nóng xen kẽ mưa trái mùa dễ làm môi trường ao nuôi biến động, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát sinh. Đáng chú ý, bệnh do vi bào tử trùng EHP - tác nhân thường gặp trong các mô hình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh - đã xuất hiện rải rác tại một số khu vực nuôi. Loại bệnh này tuy không gây chết hàng loạt ngay lập tức nhưng khiến tôm chậm lớn, kéo dài thời gian nuôi, làm tăng chi phí thức ăn và ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Sự xuất hiện của EHP trong giai đoạn đầu vụ vì vậy càng làm gia tăng nguy cơ rủi ro, khiến nhiều hộ nuôi tôm thêm thận trọng trong quá trình thả giống và chăm sóc. Trước những khó khăn và thách thức đó, ngành thủy sản các địa phương đã và đang tăng cường triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ người nuôi. Các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật được tổ chức thường xuyên nhằm cung cấp thông tin về quy trình nuôi an toàn sinh học, quản lý môi trường ao nuôi và phòng, chống dịch bệnh hiệu quả. Đồng thời, cơ quan chuyên môn cũng khuyến cáo người nuôi lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, sử dụng thức ăn hợp lý, cân đối khẩu phần, hạn chế lãng phí và giảm chi phí sản xuất. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp, kết hợp theo dõi chặt chẽ diễn biến môi trường và dịch bệnh được kỳ vọng sẽ giúp người nuôi chủ động hơn trong sản xuất, từng bước nâng cao năng suất, giảm thiểu rủi ro và cải thiện hiệu quả kinh tế trong vụ nuôi.
AN XUYÊN
62,3 nghìn tấn
30 nghìn tấn
Là sản lượng tôm thu hoạch trong tháng 2/2026, tăng 7,4% so cùng kỳ năm trước.
800 triệu con
Là sản lượng tôm mà tỉnh Quảng Ninh phấn đấu đạt được trong năm 2026, tăng khoảng 15% so năm trước.
308 nghìn tấn
260 hộ
Là ước nhu cầu con giống tôm thẻ chân trắng trong vụ xuân - hè của tỉnh Hà Tĩnh năm nay. Là sản lượng tôm nuôi của Vĩnh Long năm 2025, chiếm gần một nửa tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh. Là số hộ nuôi tôm siêu thâm canh của xã Hưng Mỹ, tỉnh Cà Mau hiện nay.
Tôm hùm trước bài toán thích ứng
Năm 2025, xuất khẩu tôm hùm đã tạo nên cú bứt phá ngoạn mục khi trở thành “đầu kéo” tăng trưởng tại thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, bước sang năm 2026, bức tranh không chỉ có màu sáng. Bên cạnh những cơ hội lớn, ngành hàng này cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, từ cạnh tranh quốc tế đến rủi ro trong nuôi trồng và biến động địa chính trị toàn cầu.
Xuất khẩu tôm hùm lập kỷ lục
Năm 2025 ghi nhận bước ngoặt quan trọng của tôm hùm Việt Nam khi lần đầu tiên vươn lên dẫn đầu nguồn cung cho thị trường Trung Quốc, thị trường tiêu thụ tôm hùm lớn nhất thế giới. Trong đó, riêng tôm hùm xanh đạt 840 triệu USD, tăng 131% so năm 2024, trở thành nhân tố quyết định tạo nên mức tăng trưởng chung.
Không chỉ tăng về giá trị, tôm hùm Việt Nam còn thay đổi cục diện thị phần. Nếu năm 2024, Canada là nhà cung cấp tôm hùm lớn nhất cho Trung Quốc thì đến năm 2025, Việt Nam đã vượt lên chiếm khoảng 34,5% thị phần, tương đương hơn 24.000
tấn. Trong khi đó, Canada giảm mạnh xuống còn khoảng 22%.
Theo các chuyên gia, lợi thế địa lý giúp tôm hùm Việt Nam có thể vận chuyển nhanh, giữ được độ tươi sống trở thành yếu tố then chốt trong cuộc cạnh tranh này. Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam ngày càng linh hoạt trong tổ chức logistics, đặc biệt là vận chuyển hàng sống, đáp ứng tốt yêu cầu khắt khe của thị trường.
Xu hướng tiêu dùng tại Trung Quốc cũng góp phần thúc đẩy nhu cầu tôm hùm. Thêm vào đó, sự phát triển của thương mại điện tử, hệ thống bán lẻ hiện đại và chuỗi nhà hàng cao cấp càng làm gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm tươi sống, giá trị cao. Chính vì thế, mặt hàng tôm hùm càng có cơ hội tiếp tục tăng trưởng mạnh.
Cơ hội cho năm 2026
Năm 2026, dù được cảnh báo nhiều thách thức, nhưng ngành tôm hùm Việt Nam vẫn
Một yếu tố quan trọng khác là chính sách thuế tại thị trường tỷ dân này. Trong năm 2025, Trung Quốc áp thuế bổ sung 25% đối với nhiều mặt hàng thủy sản từ Canada, trong đó có tôm hùm. Điều này khiến sản phẩm từ Canada trở nên kém cạnh tranh, buộc các nhà nhập khẩu Trung Quốc phải tìm kiếm nguồn thay thế. Và Việt Nam, với nguồn cung ổn định và khả năng giao hàng nhanh, đã tận dụng hiệu quả cơ hội này.
Ảnh: Thảo Quyên
đứng trước những cơ hội đáng kể để tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.
Trước hết, nhu cầu tiêu thụ tại Trung Quốc vẫn được đánh giá tích cực. Minh chứng là ngay trong tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm hùm sang thị trường này đã đạt trên 100 triệu USD, cho thấy sức mua vẫn ở mức cao. Trung Quốc cũng chủ động đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường xa và tiềm ẩn rủi ro. Chính điều này đã giúp tôm hùm Việt Nam mở rộng thị phần. Đến năm 2025, xuất khẩu tôm hùm Việt Nam sang Trung Quốc cơ bản được thực hiện qua kênh chính ngạch ổn định hơn, giúp giảm mạnh rủi ro ách tắc biên giới. Ngoài ra, việc cải thiện công nghệ bảo quản, vận
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp cần tập trung vào ổn định chất lượng, chuẩn hóa quy cách sản phẩm, tối ưu logistics cho hàng sống và tăng cường kết nối trực tiếp với hệ thống phân phối hiện đại tại Trung Quốc. Quan trọng hơn, năng lực cạnh tranh trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào khả năng giữ vững chất lượng, tốc độ giao hàng và độ bám thị trường của từng doanh nghiệp.
chuyển và truy xuất nguồn gốc cũng tạo điều kiện để tôm hùm Việt Nam đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế.
Ngoài thị trường Trung Quốc, cơ hội của tôm hùm Việt Nam cũng mở ra ở các thị trường khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, nơi nhu cầu đối với thủy sản cao cấp đang ngày một tăng.
Một điểm đáng chú ý khác là sự phát triển của hệ thống phân phối hiện đại. Thương mại điện tử, chuỗi siêu thị và nhà hàng cao cấp đang mở ra kênh tiêu thụ mới cho tôm hùm. Nếu tận dụng tốt các kênh này, doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, giảm phụ thuộc vào trung gian và nâng cao giá trị gia tăng.
Nắm chắc mọi cơ hội
Dù được nhận định có nhiều cơ hội lớn, nhưng năm 2026 cũng được dự báo là “phép thử” đối với ngành tôm hùm Việt Nam khi hàng loạt thách thức xuất hiện.
Trước hết là áp lực cạnh tranh quốc tế gia tăng. Cụ thể, từ ngày 1/3/2026, Trung Quốc đã gỡ bỏ mức thuế 25% đối với tôm hùm Canada. Điều này đồng nghĩa với việc tôm
Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN
hùm Canada sẽ quay trở lại mạnh mẽ, đặc biệt ở phân khúc nhà hàng cao cấp. Bên cạnh đó, Australia cũng đang đẩy mạnh xuất khẩu sau khi thương mại được khôi phục hoàn toàn, trong khi các nước Đông Nam Á như Indonesia, Philippines hay Malaysia cũng gia tăng hiện diện. Một điều đang lưu tâm nữa là tác động của bối cảnh địa chính trị toàn cầu. Các xung đột tại một số khu vực trên thế giới có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng, đẩy chi phí logistics tăng cao và ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, các sản phẩm giá trị cao như tôm hùm dễ bị tác động khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu.
Thứ ba là khó khăn về sản xuất trong nước. Năm 2025, nhiều vùng nuôi tôm hùm tại miền Trung bị thiệt hại do mưa bão, dịch bệnh và biến động môi trường. Điều này không chỉ làm giảm sản lượng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng con giống và chi phí nuôi.
Ngoài ra, các yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đăng ký cơ sở chế biến từ phía Trung Quốc ngày càng khắt khe. Những quy định mới nếu không được đáp ứng kịp thời có thể trở thành rào cản lớn đối với xuất khẩu. Để vượt qua những thách thức này, ngành hàng tôm hùm Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, về phía sản xuất, cần quy hoạch lại vùng nuôi theo hướng bền vững, ứng dụng công nghệ cao để giảm rủi ro dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, nâng cao chất lượng con giống và kiểm soát chặt chẽ môi trường nuôi để đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Về phía doanh nghiệp, cần tập trung chuẩn hóa quy cách sản phẩm, nâng cao chất lượng và tăng cường truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, cần đầu tư mạnh vào logistics cho hàng tươi sống, yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh của tôm hùm Việt Nam.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần tăng cường đàm phán thương mại, tháo gỡ rào cản kỹ thuật và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường. Đồng thời, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để giảm rủi ro.
Sau một năm 2025 bùng nổ, tôm hùm Việt Nam đang bước vào năm 2026 với cả cơ hội và thách thức đan xen. Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng cho tôm hùm Việt Nam vẫn rất rộng, nếu doanh nghiệp biết tận dụng lợi thế sẵn có và thích ứng nhanh với xu hướng thị trường.
PHAN THẢO
Bảo đảm mục tiêu tăng trưởng nuôi trồng thủy sản năm 2026
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Công văn số 458/BNNMT-TSKN gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc tăng cường chỉ đạo phát triển nuôi trồng thủy sản nhằm bảo đảm thực hiện kế hoạch tăng trưởng năm 2026.
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục
giữ vai trò chủ lực
Năm 2025, ngành thủy sản triển khai sản xuất trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là những thay đổi về chính sách thuế và thương mại của một số thị trường lớn, cùng với căng thẳng thương mại và xung đột lợi ích giữa các nền kinh tế. Những yếu tố này đã tác động đáng kể tới chuỗi cung ứng và tiêu thụ thủy sản toàn cầu.
Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, ngành thủy sản vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng sản lượng thủy sản năm 2025
đạt khoảng 9,95 triệu tấn, tăng 3% so năm 2024, trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 6,1 triệu tấn, tăng 5,1%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tiếp tục duy trì ở mức cao, ước đạt 11,32 tỷ USD, trong đó các sản phẩm từ nuôi
trồng đóng góp hơn 8 tỷ USD.
Để tiếp tục phát huy kết quả đạt được và hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị UBND các tỉnh, thành phố tăng cường chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tổ chức triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản.
Quản lý chặt vật tư đầu vào và chất lượng giống
Bộ cũng khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển giống thủy sản, nhất là giống thủy sản bố mẹ. Huy động nguồn lực nghiên cứu, chọn tạo giống theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phát triển thức ăn thủy sản theo hướng giảm phát thải, thân thiện môi trường cũng được coi là giải pháp quan trọng để từng bước “xanh hóa” các vùng nuôi và nâng cao giá trị sản phẩm.
Điều chỉnh cơ cấu nuôi, phát triển nuôi biển
Trong tổ chức sản xuất, Bộ đề nghị các địa phương cần thực hiện nghiêm khung lịch mùa vụ thả giống đối với các đối tượng nuôi chủ lực, đồng thời linh hoạt điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế. Chuẩn bị đầy đủ các phương án, điều kiện cần thiết để ứng phó với thiên tai, thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến sản xuất nuôi trồng thủy sản.
Cơ cấu sản xuất nuôi trồng thủy sản cần được rà soát, điều chỉnh theo hướng hợp lý hơn. Trong đó, tiếp tục ổn định và nâng cao hiệu quả các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ, cá tra, cá rô phi và cá biển. Chủ động theo dõi, dự báo diễn biến thị trường, kiểm soát quy mô sản xuất, tránh phát triển nóng, tự phát, gây mất cân đối cung - cầu và rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, các địa phương được khuyến khích phát triển có chọn lọc các đối tượng nuôi đặc thù hoặc có tiềm năng thị trường như tôm hùm, cua biển, nhuyễn thể, rong biển,… phù hợp với điều kiện sinh thái và lợi thế của từng vùng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương cần rà soát, chuẩn bị đầy đủ nguồn giống, thức ăn thủy sản và các sản phẩm xử lý môi trường để phục vụ sản xuất trong năm 2026, đặc biệt đối với các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ, cá tra và các loài nuôi biển. Các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống thủy sản. Mục tiêu là bảo đảm các cơ sở hoạt động đúng quy định, được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất và duy trì kiểm tra định kỳ nhằm bảo đảm chất lượng con giống cung cấp ra thị trường.
Bộ
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu
các địa phương đẩy mạnh tổ chức sản xuất
theo chuỗi giá trị. Việc tăng cường liên kết
giữa các khâu từ sản xuất giống, cung ứng thức ăn, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm rủi ro cho người nuôi.
Các doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tập trung, liên kết thu mua sản phẩm với người nuôi và chia sẻ thông tin về nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Cùng với đó, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học - công nghệ, công nghệ sinh học và công nghệ số trong nuôi trồng thủy sản. Khuyến khích phát triển mô hình nuôi thông minh, nuôi trồng tuần hoàn, nuôi phát thải thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nuôi tham gia đầu tư vào nuôi trồng công nghệ cao, chế biến sâu, dịch vụ hậu cần và các dịch vụ hỗ trợ phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Giám sát chặt chẽ công tác phòng, chống dịch bệnh
Song song với phát triển sản xuất, công
tác phòng chống dịch bệnh thủy sản cần
được thực hiện nghiêm túc và đồng bộ. Các
địa phương phải bố trí nguồn lực để triển
khai hiệu quả kế hoạch quốc gia phòng chống một số dịch bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi giai đoạn 2021 - 2030.
Cơ quan chuyên môn cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở để theo dõi sát tình hình dịch bệnh, hướng dẫn người nuôi thực hiện các biện pháp phòng bệnh chủ động và xử lý kịp thời khi phát sinh dịch bệnh.
Trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương, lựa chọn một số doanh nghiệp sản xuất thủy sản phục vụ xuất khẩu và các cơ sở sản xuất giống thủy sản trên địa bàn để hỗ trợ giám sát dịch bệnh, hỗ trợ chuyên môn trong quá trình xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh; đồng thời tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản đăng ký cấp Giấy chứng nhận và duy trì cơ sở an toàn dịch bệnh theo quy định.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao năng lực sản xuất nuôi trồng thủy sản, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến và xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy ngành thủy sản phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.
BẢO HÂN
VĂN BẢN MỚI
Ngày 25/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 41/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản. Nghị định này bao gồm 9 chương và 57 Điều, áp dụng cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài hoạt động hoặc liên quan đến hoạt động thủy sản trong lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả vùng biển và các đảo. Trong đó, về quản lý nuôi trồng thủy sản, Nghị định quy định chi tiết về điều kiện cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản, cấp và thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất. Các cơ sở phải đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống kiểm soát chất lượng,... Nghị định này thay thế các Nghị định trước đó liên quan đến việc thi hành Luật Thủy sản và bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Ngày 12/02/2026, HĐND tỉnh
Đắk Lắk ra Nghị quyết số 05/NQ-HĐND hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản hoặc một phần chi phí sản xuất ban đầu để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do bão số 13 và mưa lũ tháng 11/2025 trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đối với cây trồng, thủy sản hỗ trợ theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 5 Nghị định số 9/2025/NĐ-CP ngày 10/01/ 2025 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch hại thực vật. HĐND tỉnh giao UBND tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết theo đúng quy định pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu trình, đối tượng được hỗ trợ, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng quy định của pháp luật; không để xảy ra thất thoát, tiêu cực trong quá trình thực hiện.
Ngày 12/02/2026, Cục Hải quan ban hành Công văn 11816/CHQ-GSQL về việc hướng dẫn các quy định mới liên quan đến ghi nhãn hàng hóa theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026. Theo đó, Cục Hải quan lưu ý các đơn vị một số nội dung gồm: Kích thước nhãn hàng hóa, kích thước
của chữ và số trên nhãn hàng hóa nhập
khẩu được quy định tại khoản 4 Điều 37 Nghị định 37/2026/NĐ-CP; Viết tắt tên
nước hoặc vùng lãnh thổ xuất xứ hàng
hóa trên nhãn gốc được quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 42; Thông tin tên
đầy đủ và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 42; Cụm từ tiếng Anh thể hiện xuất xứ hàng hóa được quy định tại Điều 47; Ghi nhãn điện tử được quy định tại mục 3 chương IV,…
Ngày 01/03/2026, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, đã ban hành Công văn 229/XNK-TLH về một số khuyến nghị nhằm giảm thiểu tác động của xung đột giữa Mỹ, IsraelIran và khu vực Trung Đông. Cụ thể, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đề nghị Hiệp hội và các doanh nghiệp đa dạng nguồn cung ứng hàng hóa cũng như tìm kiếm các thị trường khác có nguồn cầu tương tự để lựa chọn phương án thay thế, giảm thiểu ảnh hưởng khi hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang Israel, Iran và khu vực Trung Đông gặp khó khăn; Khi đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán cần quan tâm và chú trọng về logistics, vận chuyển, giao hàng và bảo hiểm nhằm bảo vệ doanh nghiệp trước rủi ro và tổn thất khi có sự cố, đồng thời, cần mua bảo hiểm đầy đủ cho hàng hóa để phòng ngừa rủi ro và giảm tổn thất khi phát sinh sự cố tại thị trường nhập khẩu; Thường xuyên, chủ động phân tích, phối hợp trao đổi thông tin với các Bộ, ngành có liên quan nhằm kịp thời thống nhất phương án ứng phó đối với các tình huống tương tự trong tương lai; Chủ động xây dựng kế hoạch phòng ngừa, thích ứng để giảm thiểu nguy cơ, rủi ro, tổn thất từ các sự cố trong thương mại, vận chuyển quốc tế và các vấn đề liên quan, chuẩn bị phương án phản ứng kịp thời để hạn chế ảnh hưởng đối với chuỗi cung ứng; Thường xuyên trao đổi với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan tại nước ngoài để tìm kiếm những đơn hàng mới, thị trường mới có tiềm năng, từ đó có phương án thay thế hoặc ưu tiên khai thác, tận dụng tối đa các cơ hội.
Ảnh: Báo Dân Việt
Mở rộng điểm đến xuất khẩu,
tôm
hùm bứt phá
Ngành thủy sản Việt Nam nói chung và con tôm nói riêng đang có cơ hội bứt phá khi xuất khẩu tăng mạnh đầu năm 2026, thị trường xuất khẩu cũng được mở rộng. Tuy nhiên, rào cản kỹ thuật, thuế quan, biến động địa chính trị vẫn là những khó khăn mà ngành phải đối mặt.
Mở rộng xuất khẩu
Ngày 18/3, Hiệp hội Chế biến và Xuất
khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, lần đầu tiên thủy sản Việt Nam mở rộng xuất khẩu tới 97 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,7 tỷ USD, tăng 20% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng với mức tăng 54%, đạt khoảng 513 triệu USD, trở thành thị trường lớn nhất của thủy sản Việt Nam. Tiếp đến là Nhật Bản với khoảng 233 triệu USD, tăng 5%; Hàn Quốc đạt 114 triệu USD, tăng 3%. Riêng thị trường Mỹ có
dấu hiệu chững lại, đạt khoảng 209 triệu USD, giảm 3% do tác động từ thuế chống bán phá giá và các quy định kỹ thuật ngày càng khắt khe.
Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong đó, tôm giữ vai trò dẫn dắt với kim ngạch khoảng 690 triệu USD, tăng 20%; cá tra đạt 331 triệu USD, tăng 28%; mực và bạch tuộc đạt 111 triệu USD, tăng 23%. Đáng chú ý, nhóm nhuyễn thể có vỏ tăng mạnh nhất, khoảng 38 - 39%; cua, ghẹ và các loại giáp xác khác tăng 24%. Điều này cho thấy, nhu cầu đang dịch chuyển sang các sản phẩm
có giá trị gia tăng và phân khúc đa dạng hơn.
Tuy nhiên, theo VASEP, mức tăng trưởng này chưa phản ánh hoàn toàn xu hướng bền vững, do một phần đến từ yếu tố kỹ thuật và tâm lý thị trường. Nhiều doanh nghiệp, nhà nhập khẩu đã đẩy mạnh giao hàng sớm để đón đầu các thay đổi chính sách, nhất là các quyết định liên quan đến thuế chống bán phá giá và quy định nhập khẩu tại Mỹ. Trong khi đó, ngành vẫn đối mặt áp lực từ rào cản thương mại, tiêu chuẩn môi trường khắt khe và chi phí logistics tăng cao do biến động địa chính trị.
Để duy trì đà tăng trưởng, VASEP
kiến nghị Bộ Công Thương và hệ thống
thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tăng
cường cảnh báo sớm rủi ro thị trường, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, xuất khẩu. Đồng thời, cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại sang các thị trường tiềm năng như Brazil, Nam Mỹ và Nam Á nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, việc tăng cường kết nối qua các sự kiện chuyên ngành cũng được xem là giải pháp quan trọng để mở rộng đối tác, đa dạng hóa thị trường và củng cố tăng trưởng trong năm 2026.
Tôm hùm bứt phá
Xét theo mặt hàng, tôm vẫn giữ vai trò đầu tàu khi kim ngạch tháng 2/2026
đạt khoảng 310 triệu USD, tăng 17%; tính chung 2 tháng đạt 690 triệu USD, tăng gần 20% so cùng kỳ.
Điểm đáng chú ý trong cơ cấu sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam 2 tháng đầu năm là sự bứt phá mạnh mẽ của nhóm tôm hùm. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này
đạt 259 triệu USD, tăng 65% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, tôm hùm xanh đạt 206 triệu USD, tăng 32% so cùng kỳ năm trước. Tôm hùm bông đạt gần 1,3 triệu USD, tăng 43%. Tôm hùm các loại khác đạt 52 triệu USD, tăng 6.138%.
Tôm thẻ chân trắng vẫn là mặt hàng chủ lực với 341,5 triệu USD, chiếm 49,5% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm, chỉ tăng 4,5%. Tôm sú đạt 44,6 triệu USD, tăng 13%.
Ngành tôm hiện đang chịu sức ép mới khi Bộ Thương mại Mỹ công bố kết quả cuối cùng của kỳ rà soát hành chính lần thứ 19 (POR19) đối với tôm đông lạnh Việt Nam.
Theo đó, 2 bị đơn bắt buộc là STAPIMEX và nhóm Thông Thuận/TTCR bị áp mức biên độ 25,76%, trong khi 22 doanh nghiệp được hưởng thuế suất riêng rẽ ở mức 4,58%. Điều này làm gia tăng rủi ro chi phí và tâm lý thận trọng từ phía nhà nhập khẩu Mỹ trong ngắn hạn. Tính riêng trong tháng 2, xuất khẩu tôm sang Mỹ đã giảm gần 60% so cùng kỳ.
VASEP cho biết, từ ngày 1/1/2026, các lô hàng từ những nghề cá bị Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) từ chối công nhận tương đương theo quy định MMPA có thể bị hạn chế nhập khẩu vào Mỹ; đồng thời các nước bị từ chối một phần còn phải áp dụng Certification of Admissibility (COA) cho các lô hàng liên quan.
NOAA cũng nêu rõ Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia bị từ chối công nhận đối với một phần nghề cá, đồng nghĩa rủi ro tuân thủ đối với hải sản khai thác vào Mỹ đã tăng lên đáng kể trong năm nay. Trong tháng 2, xuất khẩu cá ngừ sang các thị trường chính giảm nhẹ, riêng xuất khẩu sang Mỹ giảm gần 26% so cùng kỳ.
Ngoài POR19 và MMPA, Nhà Trắng còn ban hành biện pháp thu thuế nhập khẩu bổ sung 10% đối với hàng nhập khẩu vào Mỹ trong 150 ngày, có hiệu lực từ 24/2/2026.
Tác động cụ thể tới từng nhóm thủy sản còn cần theo dõi thêm ở khâu thực thi và mã hàng áp dụng, nhưng rõ ràng đây là một yếu tố có thể khiến đơn hàng trong tháng 3 thận trọng hơn.
Nỗ lực giữ thị trường Mỹ
Trong một diễn biến liên quan, bên lề Hội chợ Thủy sản Bắc Mỹ, Cơ quan đại diện và Thương vụ Việt Nam tại Mỹ đã phối hợp với VASEP tổ chức buổi làm việc với đại
diện Viện Thủy sản Quốc gia Mỹ (National Fisheries Institute - NFI) cùng các chuyên gia và doanh nghiệp trong ngành nhằm trao đổi về các vấn đề liên quan đến quy định của Mỹ đối với thủy sản nhập khẩu. Đặc biệt là việc thực thi Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển (Marine Mammal Protection Act - MMPA).
Tại buổi làm việc, đại diện phía Việt Nam đã trao đổi với NFI về tiến trình triển khai các yêu cầu của Mỹ theo MMPA, trong đó trọng tâm là quá trình rà soát kết quả so sánh tương đương (comparability finding) đối với một số nghề khai thác thủy sản của Việt Nam. Phía Việt Nam cho biết hiện còn một số nghề khai thác đang trong quá trình đánh giá và cần tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, dữ liệu để đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật của Mỹ.
Trong trao đổi, các chuyên gia của NFI đánh giá cao việc phía Việt Nam chủ động duy trì đối thoại trực tiếp với NOAA, đặc biệt là việc tổ chức các cuộc họp kỹ thuật nhằm làm rõ các nội dung liên quan đến hệ thống quản lý nghề cá, cơ chế giám sát hoạt động khai thác và các biện pháp giảm thiểu tác động đối với động vật có vú biển. Các chuyên gia cũng cho rằng, một trong những thách thức hiện nay là việc thiếu dữ liệu dài hạn về tương tác giữa hoạt động khai thác thủy sản và các loài động vật có vú biển. Do nhiều chương trình quản lý và giám sát mới được triển khai gần đây nên chưa đủ thời gian để hình thành bộ dữ liệu đầy đủ phục vụ đánh giá của NOAA.
Trên cơ sở đó, phía NFI khuyến nghị Việt Nam tiếp tục làm rõ các biện pháp đang được triển khai nhằm tăng cường thu thập dữ liệu, trong đó có hệ thống nhật ký khai thác của ngư dân, chương trình quan sát viên, cũng như các biện pháp giảm thiểu bycatch (sản lượng đánh bắt không chủ đích).
Đồng thời, các chuyên gia cũng đề xuất xây dựng lộ trình cam kết cụ thể với NOAA, bao gồm các mốc báo cáo định kỳ về tiến độ thực hiện các chương trình giám sát và thu thập dữ liệu.
Đại diện NFI khẳng định, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà nhập khẩu thủy sản Mỹ đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. Đối với một số sản phẩm thủy sản quan trọng, Việt Nam hiện là nguồn cung quan trọng đối với thị trường Mỹ, đồng thời đóng vai trò bổ trợ cho nhu cầu tiêu dùng và chế biến tại thị trường này.
CẢNH NGHI
Thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026 ghi nhận tín hiệu tích cực, trong đó tôm tiếp tục là mặt hàng chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch toàn ngành. Cụ thể, tháng 2/2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 707 triệu USD, tăng 8% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế hai tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,7 tỷ USD, tăng 20,2%, cho thấy đà phục hồi của ngành đang được duy trì. Trong cơ cấu mặt hàng, tôm tiếp tục dẫn đầu. Riêng tháng 2/2026, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt khoảng 310 triệu USD, tăng 17% so cùng kỳ. Lũy kế hai tháng đầu năm, xuất khẩu tôm đạt 689,5 triệu USD, tăng gần 20% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch thủy sản.
Xuất khẩu tôm sang Mỹ đối mặt nhiều sức ép
Theo VASEP, xuất khẩu tôm Việt Nam tại thị trường Mỹ đang đối mặt nhiều sức ép khi kim ngạch trong tháng 2 giảm gần 60%.
Nguyên nhân chủ yếu do Bộ Thương mại Mỹ (DOC) công bố kết quả rà soát hành chính POR19, áp mức thuế chống bán phá giá khoảng 25,46% đối với một số doanh nghiệp Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp khác chịu mức khoảng 4,28%. Bên cạnh đó, Mỹ còn áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung 10% trong thời hạn 150 ngày đối với một số mặt hàng nhập khẩu từ ngày 24/2/2026, khiến nhà nhập khẩu thận trọng hơn và làm gia tăng rủi ro cho xuất khẩu tôm.
Tôm thẻ chân trắng vẫn là động lực chính của xuất khẩu tôm
Số liệu từ VASEP cho thấy, tháng 1/2026, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 379,6 triệu USD, tăng 22% so cùng kỳ năm trước. Xét theo cơ cấu sản phẩm, tôm thẻ chân trắng tiếp tục giữ vai trò động lực chính của xuất khẩu tôm Việt Nam. Trong tháng 1/2026, kim ngạch xuất khẩu tôm thẻ chân trắng đạt 216,9 triệu USD, chiếm 57,1% tổng giá trị xuất khẩu và tăng 31% so cùng kỳ năm trước. Cả hai nhóm hàng gồm tôm chế biến và tôm đông lạnh nguyên liệu đều ghi nhận mức tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu tương đối đồng đều ở nhiều phân khúc thị trường. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sú đạt 29,2 triệu USD, tăng 34% so cùng kỳ năm trước nhưng tỷ trọng vẫn còn khiêm tốn trong cơ cấu xuất khẩu. Diễn biến này cho thấy tăng trưởng của ngành tôm Việt Nam hiện nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tôm thẻ chân trắng - mặt hàng nhạy cảm hơn trước các biến động về giá cả và chính sách thương mại trên thị trường quốc tế.
QUẢNG TRỊ
Ngư dân trúng mùa ruốc đầu năm
Đầu năm Bính Ngọ 2026, ruốc biển xuất hiện dày đặc gần bờ xã Ninh Châu. Sản lượng cao, giá ổn định, nhiều ngư dân thu tiền triệu mỗi ngày. Ruốc tấp vào khu vực cách bờ không xa, ở độ sâu khoảng 10 đến 15 m, thuận lợi cho các thuyền nhỏ đánh bắt. Chỉ cần quan sát con nước và màu biển, ngư dân nhiều kinh nghiệm có thể nhận biết thời điểm vươn khơi hiệu quả. Hiện ruốc tươi có giá 10.000 đến 12.000 đồng/kg. Nếu phơi đạt độ khô, ruốc có thể bán khoảng 160.000 đồng/kg. Nhờ giá ổn định và nguồn ruốc dồi dào, nhiều hộ thu tiền triệu mỗi ngày. Với gia đình có 2 đến 3 thuyền tham gia khai thác, thu nhập bình quân gần chục triệu đồng/ngày.
QUẢNG NGÃI
Ruốc xuất hiện dày đặc gần bờ, ngư dân bội thu
Sau Tết Nguyên đán 2026, ngư dân xã Đông Sơn (Quảng Ngãi) liên tiếp trúng đậm ruốc biển. Theo ngư dân địa phương, năm nay ruốc xuất hiện sớm và tập trung thành từng đàn lớn gần bờ. Đây là loài hải sản nhỏ, thường xuất hiện theo mùa. Vì vậy, khi ruốc vào mùa, bà con tranh thủ ra khơi để kịp đánh bắt. Mỗi ngày, ngư dân ra khơi từ rạng sáng và trở về vào chiều muộn, bình quân mỗi tàu thu được khoảng 1 - 2 tấn ruốc. Ruốc tươi hiện có giá 20.000 - 25.000 đồng/kg, còn ruốc phơi khô dao động 75.000 - 80.000 đồng/kg. Ngay khi thuyền cập bãi, thương lái chèo thúng ra tận nơi thu mua. Mùa ruốc không chỉ mang lại nguồn thu nhập khá cho ngư dân mà còn tạo thêm việc làm cho nhiều lao động ven biển trong các công đoạn sàng lọc, rửa và phơi ruốc.
ĐBSCL
Áp lực
chi phí đầu vào nuôi tôm tăng
Bước vào vụ nuôi mới, nhiều vùng nuôi tôm tại ĐBSCL đang đối mặt với áp lực chi phí khi giá thức ăn thủy sản và con giống đồng loạt tăng. Theo ghi nhận, trong thượng tuần tháng 3/2026, giá nhiều loại thức ăn tôm đã tăng khoảng 20.000 - 30.000 đồng/bao 20 kg so cùng kỳ năm trước. Hiện giá thức ăn phổ biến dao động từ 560.000 - 900.000 đồng/bao 20 - 25 kg, tùy loại và hàm lượng dinh dưỡng. Thức ăn vốn chiếm khoảng 50% tổng chi phí nuôi tôm, vì vậy chỉ cần giá tăng nhẹ cũng khiến chi phí sản xuất tăng đáng kể. Bên cạnh đó, giá tôm giống tại khu vực ĐBSCL cũng có xu hướng nhích lên do chi phí vận chuyển tăng và giá nguyên liệu sản xuất chịu tác động từ thị
trường quốc tế. Trước áp lực đầu vào, nhiều hộ nuôi đã lựa chọn giảm mật độ thả hoặc thu hẹp diện tích nuôi nhằm hạn chế rủi ro.
CÀ MAU
Giá tôm xuất khẩu tăng, người nuôi phấn khởi
Năm 2025, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt gần 4,65 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2024, tiếp tục là ngành hàng chủ lực của thủy sản. Giá tôm nguyên liệu tăng mạnh từ cuối năm 2025 đến nay, cao hơn khoảng 30 - 50% so cùng kỳ năm trước, mang lại lợi nhuận bình quân khoảng 100.000 đồng/kg cho người nuôi. Tại Cà Mau, nhiều hộ nuôi tôm đạt hiệu quả tốt. Tôm sú cỡ 20 con/kg hiện có giá khoảng 320.000 đồng/kg. Nhờ nuôi với mật độ hợp lý, mỗi ao có thể thu từ 1,6 - 1,7 tấn tôm thẻ chân trắng hoặc 800 kg đến 1,2 tấn tôm sú, lợi nhuận có thể vượt 50% doanh thu khi sản xuất thuận lợi. Các mô hình nuôi tôm sạch, sinh thái và tuần hoàn đang được mở rộng, giúp giảm chi phí và tăng lợi nhuận khoảng 20% so cách nuôi truyền thống. Tôm từ các mô hình tôm - rừng, tôm - lúa còn được thu mua cao hơn 10 - 15%.
Đa dạng sản phẩm khô từ tôm càng xanh
Bên cạnh các loại tôm khô truyền thống như tôm đất, tôm bạc, tôm sú, thời gian gần đây một số cơ sở chế biến tại Cà Mau đã phát triển thêm sản phẩm tôm càng xanh khô, hướng tới phân khúc giá trị cao. Nguồn nguyên liệu chủ yếu là tôm càng xanh nuôi xen canh trong mô hình lúa - tôm. Nhờ kích thước lớn, thịt dày, loại tôm này được đánh giá phù hợp cho các sản phẩm chế biến sâu. Tôm sau khi tuyển chọn được luộc chín vừa độ, sấy ở nhiệt độ thích hợp để giữ độ mềm, hương thơm và vị ngọt tự nhiên. Hiện khô tôm càng xanh được bán trên thị trường với giá khoảng 1 - 1,3 triệu đồng/kg, tùy kích cỡ. Sản phẩm góp phần đa dạng hóa mặt hàng tôm khô của Cà Mau, đồng thời nâng giá trị cho mô hình lúa - tôm. ANH VŨ
Xung đột Trung Đông gây áp lực logistics, tác động thị trường tôm
Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông từ đầu năm 2026 đang làm gián đoạn các tuyến vận tải chiến lược, kéo dài thời gian giao hàng và đẩy chi phí logistics tăng mạnh. Nhiều hãng tàu phải điều chỉnh hành trình, thậm chí đi vòng qua châu Phi, khiến thời gian vận chuyển tăng 10 - 20 ngày và chi phí container lạnh tăng thêm 2.000 - 4.000 USD. Dù nhu cầu tôm tại khu vực vẫn ổn định, xuất khẩu của Việt Nam chịu ảnh hưởng chủ yếu ở khâu vận chuyển. Trung Đông hiện chiếm khoảng 14% kim ngạch thủy sản, với tôm thẻ chân trắng là sản phẩm chủ lực. Trên phạm vi toàn cầu, giá dầu tăng cùng gián đoạn chuỗi cung ứng có thể làm tăng chi phí sản xuất, vận chuyển và khiến nhà nhập khẩu thận trọng hơn. Trước thực tế này, doanh nghiệp cần linh hoạt điều chỉnh logistics, đa dạng hóa thị trường để giảm rủi ro trong bối cảnh biến động kéo dài.
EU Nhập
tôm lập kỷ lục năm 2025
Năm 2025, nhập khẩu tôm của EU đạt mức cao kỷ lục với 455.776 tấn, tăng 21% so năm 2024; kim ngạch đạt 2,87 tỷ euro, tăng 22%, cho thấy nhu cầu phục hồi rõ rệt và giá tương đối ổn định. Riêng tháng 12/2025, nhập khẩu đạt 37.460 tấn, tăng 31% so cùng kỳ; giá trị đạt 242 triệu euro, tăng 23%. Nhu cầu tăng mạnh trong quý IV, duy trì mức tăng hai chữ số qua các tháng cuối năm. Nam Âu tiếp tục dẫn dắt thị trường với 271.608 tấn, tăng 19%; Tây Bắc Âu đạt 168.552 tấn, tăng 22%; Đông Âu đạt 15.616 tấn, tăng 26%. Về nguồn cung, Ecuador đứng đầu với 241.947 tấn, tăng 35%; Ấn Độ đạt 66.843 tấn, tăng 44%; Việt Nam đạt 57.758 tấn, tăng 14%.
INDONESIA
Đầu 2026, xuất khẩu tôm giảm sản lượng, giá trị cải thiện Tháng 1/2026, xuất khẩu tôm của Indonesia đạt 16.070 tấn, giảm 6% so cùng kỳ; giá trị đạt 154 triệu USD, tăng 9%, cho thấy giá xuất khẩu cải thiện. Năm 2025, tổng xuất khẩu đạt 201.113 tấn (đi ngang), trong khi kim ngạch đạt 1,78 tỷ USD, tăng 11%. Về sản phẩm, tôm thẻ chân trắng tiếp tục chủ lực, tháng 1 đạt 8.183 tấn (-7%). Tôm sú đạt 587 tấn, tăng 68%. Nhóm tôm chế biến giảm mạnh 24% còn 3.739 tấn; tôm tẩm bột đạt 684 tấn, giảm 8%. Theo thị trường, xuất khẩu sang Mỹ đạt 10.408 tấn (-11%); Nhật Bản giảm 7%, EU giảm 27%, Canada giảm 47%. Ngược lại, Trung Quốc tăng 32%, Malaysia tăng 239%, Việt Nam tăng 276%. Diễn biến cho thấy nhu cầu suy yếu tại phương Tây, trong khi châu Á tăng nhập, hỗ trợ giá xuất khẩu.
khẩu tôm năm 2025 đạt kỷ lục 5,66 tỷ USD Năm 2025, xuất khẩu tôm của Ấn
năm 2024; kim
đạt 5,66 tỷ
tăng 14%. Sản lượng tăng mạnh giai đoạn tháng 3 - 7, cao nhất vào tháng 5 với 78.753
Mỹ vẫn đứng đầu với 276.348 tấn (-9%). Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 154.291 tấn (+10%); EU đạt 119.748 tấn (+39%); Việt Nam đạt 69.292 tấn (+61%); Nhật Bản đạt 40.643 tấn (+6%). Về sản phẩm, tôm thẻ chân trắng đạt 605.966 tấn (+7%); tôm sú đạt 56.587 tấn (+36%); nhóm giá trị gia tăng đạt 76.389 tấn (+14%).
Giảm thuế với Ấn Độ, hỗ trợ xuất khẩu tôm
Mỹ chính thức giảm thuế đối ứng với hàng hóa Ấn Độ từ 25% xuống 18%, đồng thời bãi bỏ mức thuế bổ sung 25% áp dụng từ tháng 8/2025. Chính sách có hiệu lực từ đầu tháng 2/2026, kèm cơ chế hoàn thuế đối với các khoản đã thu trước đó. Động thái này được kỳ vọng hỗ trợ xuất khẩu tôm Ấn Độ sang Mỹ, thị trường tiêu thụ lớn nhất. Trước đó, tổng mức thuế lên tới khoảng 50% đã khiến xuất khẩu sụt giảm mạnh trong nửa cuối năm 2025. Dù thuế giảm, tôm Ấn Độ vẫn chịu mức thuế đối ứng 18% cùng các loại thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp. Ở chiều ngược lại, Ấn Độ cam kết giảm thuế nhập khẩu với hàng công nghiệp và một số nông sản Mỹ, đồng thời dự kiến tăng mua hàng hóa Mỹ trong 5 năm tới.
TRUNG QUỐC
Nhập khẩu tôm hùm kỷ lục, Việt Nam vươn lên dẫn
đầu
Năm 2025, nhập khẩu tôm hùm của Trung Quốc đạt 69.774 tấn, tăng so với 60.834 tấn năm 2024. Việt Nam vươn lên dẫn đầu với 24.067 tấn, chiếm khoảng 34,5%; Canada giảm còn 15.355 tấn (22%); Mỹ đạt 9.931 tấn (14,2%); Australia đạt 6.950 tấn (khoảng 10%). Động lực chính đến từ nhu cầu phân khúc cao cấp phục hồi. Trong năm 2025, thuế 25% với tôm hùm Canada khiến nguồn cung dịch chuyển sang Việt Nam. Về xuất khẩu, tôm Việt Nam sang Trung Quốc - Hồng Kông đạt 1,3 tỷ USD (+55%), trong đó tôm hùm xanh đạt 840 triệu USD (+131%). Dự kiến từ 3/2026, khi Canada được gỡ thuế, cạnh tranh tại thị trường Trung Quốc sẽ gia tăng, đặc biệt ở phân khúc cao cấp.
NA UY
Năm 2025, xuất khẩu tôm tăng giá trị, giảm sản lượng
Theo Hội đồng Hải sản Na Uy, năm 2025 Na Uy xuất khẩu 31.842
tấn tôm, đạt 1,8 tỷ NOK, tăng 12% so năm trước dù sản lượng giảm.
Nguyên nhân chủ yếu do giá tăng và chuyển dịch sang sản phẩm
giá trị gia tăng như tôm luộc đông lạnh và tôm bóc vỏ. Tôm luộc
đông lạnh là động lực chính cho tăng trưởng, trong khi tôm bóc vỏ
đông lạnh dẫn đầu về giá trị với 839 triệu NOK. Ngược lại, tôm tươi
đông lạnh giảm 33% về khối lượng nhưng giá tăng 45%, nhờ nhu
cầu mạnh từ Trung Quốc. Về thị trường, Trung Quốc là điểm đến lớn nhất, với xuất khẩu tăng 244%, đạt 8.392 tấn. Châu Âu tiếp tục chiếm ưu thế ở phân khúc chế biến, nổi bật là Anh, trong khi xuất khẩu sang Canada và Iceland giảm.
CANADA
Giá tôm hùm Nova Scotia lập đỉnh do nguồn cung khan hiếm
Giá tôm hùm sống tại Nova Scotia đang tăng mạnh, đạt mức kỷ lục 14,50 CAD/pound (khoảng 10,49 USD) tại bến cảng, tăng 38% chỉ trong một tuần và cao hơn 81% so với đầu mùa cuối tháng 11/2025. Theo các nguồn trong ngành, đà tăng giá diễn ra liên tục do nguồn cung hạn chế. Dan Fleck cho biết mức giá này áp dụng cho tôm hùm cỡ tiêu chuẩn và vẫn đang tăng gần như mỗi ngày. Trong khi đó, Tommy Amirault cho biết giá đã hai lần điều chỉnh tăng trong tuần, phản ánh biến động cung cầu nhanh. Nguyên nhân chính là thời tiết khắc nghiệt khiến ngư dân khó ra khơi thường xuyên. Đồng thời, nguồn cung từ Mỹ giảm do mùa khai thác tại Maine và Massachusetts đã kết thúc.
LAN KHUÊ
Thuế quan dậy sóng thị trường tôm toàn cầu
Thị trường tôm thế giới đang đối mặt với một biến số khó lường: sự bất định về thuế quan. Không chỉ làm tăng chi phí nhập khẩu, những thay đổi chính sách thương mại tại Mỹ đang làm tê liệt kế hoạch quảng bá, phân phối và tiêu dùng tôm, đe dọa nhu cầu thị trường trong thời gian dài.
Thị trường tôm toàn cầu biến động do thuế quan Ảnh: Fishfactory
Khuyến mãi chạy, nền tảng thị trường lung lay
Tuần đầu của mùa Chay năm nay, tôm vẫn xuất hiện dày đặc trong các chương trình khuyến mãi tại Mỹ. Từ Walmart, Kroger
đến các chuỗi đồ ăn nhanh như Long John Silver’s, White Castle hay Del Taco, nhiều
sản phẩm tôm được quảng bá rầm rộ với mức giá hấp dẫn. Nhìn bề ngoài, thị trường dường như vẫn ổn định.
Tuy nhiên, thực tế không hẳn như vậy.
Sau khoảng 9 tháng thích nghi với các mức thuế mới, ngành thủy sản Mỹ từng bắt đầu
tìm lại một số điểm cân bằng, cho phép các
doanh nghiệp ký hợp đồng và triển khai
chương trình khuyến mãi như bình thường.
Phần lớn các chiến dịch đang diễn ra hiện
nay đã được lên kế hoạch từ nhiều tháng trước, dựa trên nguồn hàng nhập khẩu trước thuế hoặc đã tính toán sẵn chi phí thuế.
Triển vọng ban đầu cho năm 2026 cho rằng sự ổn định này sẽ tiếp tục khi chuỗi cung ứng dần thích nghi với chế độ thuế mới. Nhưng phán quyết của tòa án cho rằng phần lớn các mức thuế do chính quyền Donald Trump áp đặt là bất hợp pháp đã khiến thị trường một lần nữa rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sự bất định về thuế thậm chí có thể gây tác động nghiêm trọng hơn chính bản thân mức thuế. Khi doanh nghiệp không biết chi phí ngày mai ra sao, toàn bộ chuỗi cung ứng từ nhập khẩu, phân phối đến quảng bá đều bị đình trệ.
Tôm chịu sức ép lớn nhất
Một trong những trụ cột của tiêu thụ thủy sản là hoạt động quảng cáo và khuyến mãi. Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), chi tiêu quảng cáo cho thực phẩm từng suy giảm mạnh sau khủng hoảng tài chính năm 2008 và chỉ phục hồi trong những năm gần đây nhờ quảng cáo số. Tuy nhiên, khi thị trường trở nên bất ổn, đây cũng là khoản chi đầu tiên bị cắt giảm. Điều này đặc biệt bất lợi với sản phẩm thủy sản như tôm. Tại thị trường bán lẻ Mỹ, tôm đông lạnh là nhóm thủy sản lớn nhất với doanh số khoảng 4 tỷ USD trong 52 tuần tính đến giữa năm 2025. Khoảng 94% nguồn cung là hàng nhập khẩu và việc tiêu thụ phụ thuộc rất lớn vào các chương trình khuyến mãi.
Dữ liệu bán lẻ tháng 1/2026 do Circana công bố cho thấy giá các sản phẩm tôm đông lạnh đã tăng 16% so cùng kỳ năm trước, trong khi sản lượng bán ra giảm 11%. Trước đó, suốt nửa cuối năm 2025, lượng tiêu thụ các loại hải sản tươi sống cũng liên tục thấp hơn 8 - 10% so cùng kỳ.
Đáng chú ý, đến cuối năm 2025, lần đầu tiên thịt heo, thịt bò và gia cầm đông lạnh đã vượt thủy sản đông lạnh để trở thành nhóm protein lớn nhất tại kênh bán lẻ Mỹ.
Thậm chí trong đợt lạnh giá cực đoan đầu năm 2026, khi người dân Mỹ tăng mua tích trữ thực phẩm thì hầu hết các mặt hàng thủy sản đều được hưởng lợi, ngoại trừ tôm. Đây là tín hiệu cho thấy sự suy giảm nhu cầu đang mang tính cấu trúc.
Cuộc cạnh tranh mới giữa
Ecuador và Ấn Độ
Bất ổn thuế quan cũng đang làm thay đổi cán cân cạnh tranh giữa các quốc gia cung ứng tôm cho thị trường Mỹ. Ecuador không có công cụ điều chỉnh tỷ giá để giảm tác động của thuế quan,
bởi nước này sử dụng trực tiếp đồng USD.
Trong khi đó, các đối thủ trong ngành
tôm toàn cầu như Ấn Độ, Việt Nam hay
Indonesia đã phản ứng bằng cách nâng
giá bán lên sát trần thuế quan khi các mức thuế mới có hiệu lực trong năm 2025.
Trong bối cảnh các đối thủ châu Á chịu
mức thuế cao hơn, các nhà nhập khẩu Mỹ vẫn chấp nhận mức giá này vì lo ngại thuế còn tiếp tục tăng.
Kết quả là đến tháng 10/2025, Ecuador
đã vượt Ấn Độ trở thành nguồn cung tôm lớn nhất theo tháng cho thị trường Mỹ, vừa mở
rộng thị phần vừa nâng giá bán. Xuất khẩu
tôm Ecuador sang Mỹ tăng 26% so năm 2024.
Tuy nhiên, lợi thế này đang đứng trước
nguy cơ đảo chiều. Mức thuế bổ sung 50%
đối với tôm Ấn Độ đã được dỡ bỏ, trong khi mức thuế toàn cầu 10% áp dụng với Ecuador chỉ có hiệu lực 150 ngày và chưa rõ điều gì sẽ xảy ra sau đó. Theo chuyên gia ngành hàng thủy sản Gorjan Nikolik của Rabobank, ngay cả khi sản lượng Ecuador tiếp tục tăng, đà tăng mạnh của xuất khẩu sang Mỹ chưa chắc có thể kéo dài.
Một nghiên cứu của Ngân hàng Dự trữ
Liên bang Boston chỉ ra rằng khi chi phí trở
nên rõ ràng và ổn định, doanh nghiệp sẵn
sàng đầu tư. Nhưng khi chi phí chỉ tồn tại
dưới dạng những kịch bản có thể xảy ra, họ sẽ chọn cách chờ đợi.
Đó cũng là điều đang xảy ra với thị
trường tôm. Các chương trình khuyến mãi
mùa Chay năm 2026 vẫn diễn ra vì đã được
lên kế hoạch từ trước. Nhưng các chiến dịch quảng bá mùa hè vốn chưa được chốt vẫn
đang bị treo lại. Nhà nhập khẩu không biết chi phí thực tế sẽ là bao nhiêu, nhà bán lẻ cũng không thể quyết định sản phẩm nào sẽ
được quảng bá.
Năm 2025, người tiêu dùng Mỹ đã phải chi thêm khoảng 200 tỷ USD vì thuế nhập khẩu. Nhưng chi phí lớn hơn - những khoản đầu tư không được thực hiện, các chiến dịch quảng bá bị hủy bỏ và những khách hàng tiềm năng chưa bao giờ tiếp cận với sản phẩm thủy sản, lại không xuất hiện trong bất kỳ bảng thống kê nào.
Khoảng cách doanh số 100 triệu USD
giữa thủy sản đông lạnh và thịt đông lạnh tại quầy bán lẻ chính là biểu hiện rõ ràng
của chính sách thuế quan bất định đó. Và
nếu tình trạng hỗn loạn thuế quan kéo dài, nền tảng tiêu dùng thủy sản, đặc biệt là tôm, có thể bị xói mòn sâu hơn trước khi thị trường kịp phục hồi.
TUẤN MINH (Theo Seafoodnews)
Giá tôm thẻ chân trắng toàn cầu lao dốc sau mùa lễ
Thị trường tôm thế giới tiếp tục đi xuống trong tuần 10 (2 - 8/3) khi nhu cầu tiêu thụ suy yếu sau giai đoạn cao điểm lễ hội. Chỉ số giá tôm toàn cầu giảm đáng kể so cùng kỳ năm trước, trong
đó Trung Quốc và Ecuador ghi nhận mức giảm mạnh, còn các thị trường lớn như Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Thái Lan xuất hiện xu hướng biến động trái chiều.
Trung Quốc, Ecuador kéo giá
tôm giảm
Giá tôm thẻ chân trắng (TTCT) nuôi trên thị trường thế giới tiếp tục giảm trong tuần 10 khi nhu cầu tiêu thụ chững lại sau mùa lễ hội. Theo dữ liệu từ Food World, UCN Global Shrimp Index - chỉ số tổng hợp giá tôm từ các quốc gia sản xuất lớn gồm Trung Quốc, Ecuador, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Thái Lan với cỡ quy đổi 60 con/kg, đã giảm xuống còn 3,55 USD/kg, thấp hơn 5,6% so cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc là một trong những thị trường ghi nhận mức giảm mạnh nhất. Tại nhiều tỉnh nuôi tôm trọng điểm, giá tôm sụt giảm rõ rệt trong tuần 10. Riêng tại Quảng Đông, giá tôm cỡ 60 con/kg giảm hơn 10%, khiến giá tại nhiều khu vực rơi xuống dưới 40 nhân dân tệ/kg, tương đương khoảng 5,8 USD/kg theo tỷ giá hiện hành.
Ở Ecuador, quốc gia xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới, giá tôm cổng trại cũng giảm đáng kể trong tháng gần đây. Cụ thể, giá tôm cỡ 30/40 con/kg giảm 11,1% so tháng trước, xuống còn 3,6 USD/kg. Tôm cỡ lớn 20/30 con/kg cũng giảm 2,17%, còn khoảng 4,50 USD/kg. Các cỡ nhỏ hơn tiếp tục xu hướng đi xuống, với tôm 50/60 con/kg ở mức 3 USD/kg, tôm 60/70 con/kg khoảng 2,75 USD/kg và tôm 70/80 con/kg chỉ còn khoảng 2,5 USD/kg.
Các nhà nhập khẩu cho biết giá tôm đông lạnh nhập khẩu giao ngay tại Trung
Quốc đã bắt đầu giảm sau kỳ nghỉ Tết
Nguyên đán. Tuy nhiên, lượng tồn kho hiện đã giảm khoảng 70%, khiến nhu cầu tái nhập hàng tăng lên. Vì vậy, giới thương mại nhận định giá hợp đồng tương lai khó có khả năng giảm sâu thêm trong giai đoạn đầu tháng 3.
Ấn Độ, Việt Nam và
Đông Nam Á trái chiều Tại Ấn Độ, xu hướng giá tôm trong tuần
10 có sự phân hóa rõ rệt ở bang Andhra Pradesh - vùng nuôi tôm lớn nhất của nước này. Giá tôm cỡ 30 con/kg tăng khoảng 3% so tuần trước, trong khi các cỡ tôm nhỏ và trung bình lại giảm từ 3 - 5%.
Hiện giá tôm 30 con/kg tại ao đạt khoảng 515 rupee/kg, tương đương 5,68 USD/kg. Trong khi đó, tôm cỡ 60 con/kg được giao dịch quanh mức 330 rupee/kg, tương đương khoảng 3,64 USD/kg.
Tại Việt Nam, giá tôm nguyên liệu giảm khá mạnh do thị trường bước vào giai đoạn thấp điểm sau Tết Nguyên đán. Các nhà máy chế biến khởi động lại hoạt động thu mua khá chậm, trong khi xuất khẩu vẫn trong chu kỳ trầm lắng theo mùa. Trong tuần 10, giá tôm ở hầu hết các cỡ giảm từ 8% đến 12%.
Ở khu vực ĐBSCL, giá tôm cỡ 20 con/ kg hiện khoảng 195.000 đồng/kg, tương đương khoảng 7,8 USD/kg. Tôm cỡ 30 con/ kg ở mức khoảng 143.000 đồng/kg, tương đương khoảng 5,7 USD/kg.
Trong khi đó, thị trường Indonesia cho thấy tín hiệu ổn định hơn. Giá tôm cỡ 30 - 50 con/kg tăng nhẹ từ 1 - 3% so tuần trước, còn giá tôm cỡ 60 con/kg hầu như không thay đổi.
Trái lại, tại Thái Lan, xu hướng giảm giá vẫn tiếp diễn. Giá tôm cỡ 70 - 80 con/kg giảm khoảng 3,6% trong tuần 10, trong khi tôm cỡ 60 con/kg giảm thêm 1,7%. Tính chung, giá TTCT tại Thái Lan hiện thấp hơn từ 11 - 17% so cùng kỳ năm trước. Theo các nhà quan sát thị trường, khoảng cách giá giữa tôm Thái Lan với tôm từ Ấn Độ và Indonesia đang dần thu hẹp, phản ánh sự cạnh tranh ngày càng mạnh trên thị trường tôm toàn cầu.
VŨ ĐỨC (Theo Shrimpnews)
Khoáng tự nhiên cải thiện
tăng trưởng và sức khỏe tôm
Một nghiên cứu mới cho thấy việc bổ sung các khoáng silicat tự nhiên vào khẩu phần có thể cải thiện hiệu quả nuôi tôm thẻ chân trắng. Trong đó, illite nổi lên như một phụ gia dinh dưỡng tiềm năng, giúp tăng trưởng nhanh hơn, cải thiện tiêu hóa và nâng cao sức khỏe tôm.
Dinh dưỡng mới
Trong nuôi tôm thẻ chân trắng (TTCT) cũng như nhiều loài thủy sản quan trọng khác, các phụ gia dinh dưỡng có nguồn gốc tự nhiên đang ngày càng thu hút sự quan tâm. Những chất bổ sung này được xem là giải pháp an toàn và bền vững nhằm cải thiện tăng trưởng, hỗ trợ miễn dịch và giúp vật nuôi chống chịu tốt hơn với các yếu tố stress môi trường.
Ba loại khoáng silicat gồm bentonite, zeolite và illite hiện được nghiên cứu rộng rãi nhờ khả năng hấp phụ mạnh, trao đổi ion và ổn định pH. Khi bổ sung vào thức ăn thủy sản, các đặc tính này được cho là giúp ổn định môi trường đường ruột, giảm các tác nhân kích thích trong lòng ruột và hỗ
trợ quá trình hấp thu dinh dưỡng, từ đó gián
tiếp cải thiện sức khỏe và hiệu quả tăng
trưởng của vật nuôi.
Trong khi bentonite và zeolite đã được
khảo sát trên nhiều loài thủy sản, việc sử dụng illite tinh khiết trong khẩu phần của
tôm họ Penaeidae trước đây gần như chưa được nghiên cứu. Khoảng trống này đã thúc đẩy nhóm khoa học tiến hành thí nghiệm nhằm đánh giá và so sánh tác động của ba loại khoáng trên đối với tăng trưởng, các chỉ số sinh lý máu, phản ứng miễn dịch và khả năng tiêu hóa của TTCT.
So sánh ba loại khoáng silicat
Tôm giống được lấy từ một trại sản xuất thương mại tại Hàn Quốc và chuyển về cơ sở nghiên cứu thủy sản của Đại học Quốc gia Kunsan. Trước khi bắt đầu thí nghiệm, tôm được thuần hóa trong hai tuần để chuyển dần từ thức ăn trại giống sang khẩu phần thử nghiệm.
Sau giai đoạn thích nghi, tôm có khối lượng trung bình khoảng 0,02 g được phân bổ ngẫu nhiên vào 12 bể nuôi dung tích 50 lít, mật độ 20 con mỗi bể. Thí nghiệm kéo dài 9 tuần với bốn khẩu phần thức ăn khác nhau, mỗi khẩu phần lặp lại ba lần. Các khẩu phần được thiết kế đồng đạm
và đồng năng lượng, chứa khoảng 35% protein thô và gần 9,7% lipid. Thức ăn đối chứng sử dụng bột phụ phẩm cá ngừ, bột gan mực, khô đậu tương và bột mì làm nguồn nguyên liệu chính. Ba khẩu phần còn lại được bổ sung lần lượt 5% bentonite, zeolite hoặc illite, thay thế tương ứng lượng tinh bột trong công thức. Mức bổ sung 5% được lựa chọn vì đây là liều lượng phổ biến đối với khoáng silicat, đủ để quan sát các thay đổi về tăng trưởng và tiêu hóa mà không gây pha loãng dinh dưỡng hay ảnh hưởng đến chất lượng viên thức ăn.
Illite nổi bật về tăng trưởng, tiêu hóa và sức khỏe tôm Kết quả cho thấy tôm ăn khẩu phần bổ sung illite đạt hiệu quả sinh trưởng cao nhất. Khối lượng cuối cùng của nhóm này đạt trung bình 5,95 g, cao hơn rõ rệt so
Nissui
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) cũng
được cải thiện đáng kể ở nhóm illite và zeolite, lần lượt ở mức 1,10 và 1,16, so với
1,26 ở nhóm bentonite và 1,32 ở nhóm đối
chứng. Khả năng tiêu hóa protein thô đạt mức cao nhất ở nhóm illite với 93,3%, vượt
đáng kể so với các khẩu phần khác.
Ngoài tăng trưởng, illite còn mang lại nhiều lợi ích sinh lý. Tôm sử dụng khẩu phần này có khả năng tận dụng thức ăn tốt hơn, cải thiện trạng thái chống ôxy hóa và duy trì sức khỏe gan tụy ổn định. Các nhà nghiên cứu cho rằng khoáng này có thể hỗ trợ hệ tiêu hóa và tăng khả năng hấp thu khoáng chất, qua đó góp phần cải thiện toàn diện hiệu quả nuôi.
Ngược lại, bentonite - dù được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản - lại không tạo ra khác biệt rõ rệt trong điều kiện thí nghiệm. Điều này có thể do vai trò của bentonite thường thể hiện rõ hơn khi vật nuôi chịu stress hoặc tiếp xúc với độc tố, trong khi môi trường thí nghiệm có chất lượng nước ổn định và khẩu phần không chứa độc tố.
Triển vọng
Nhìn chung, các khoáng silicat như illite có thể tăng cường khả năng thích nghi sinh lý của tôm thông qua nhiều cơ chế khác nhau, từ bảo vệ gan tụy, tăng cường hệ chống ôxy hóa, kích thích miễn dịch đến hấp phụ độc tố và thậm chí có khả năng kháng khuẩn nhất định.
Tuy vậy, hiệu quả của các khoáng này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm loài nuôi, tính chất khoáng, môi trường nuôi và mục tiêu sử dụng. Do đó, việc thử nghiệm theo từng loài và điều kiện nuôi cụ thể vẫn là bước cần thiết trước khi áp dụng rộng rãi trong sản xuất.
Khi bổ sung khoáng ở mức quá cao, nguy cơ “pha loãng dinh dưỡng” có thể xảy ra nếu các nguyên liệu giàu dưỡng chất bị thay thế bởi thành phần có hàm lượng tro cao. Vì vậy, việc duy trì công thức thức ăn cân bằng và sử dụng liều lượng hợp lý là yếu tố quan trọng
để đảm bảo an toàn và hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu cho thấy illite không
chỉ hỗ trợ chuyển hóa protein mà còn cải thiện chức năng tiêu hóa và khả năng hấp thu khoáng của tôm. Tuy nhiên, các nghiên cứu tiếp theo vẫn cần được thực hiện ở quy mô trang trại, đồng thời phân tích dư lượng khoáng trong mô tôm và đánh giá tác động môi trường để xác nhận đầy đủ tính bền vững của phụ gia này trong nuôi tôm thương mại.
MI LAN
(Theo Globalseafood)
Sterol thực vật thay thế cholesterol
trong thức ăn tôm
Trước thách thức chi phí và môi trường của ngành tôm, sterol thực vật trong công thức thức ăn được xem là hướng đi mới giúp đáp ứng nhu cầu cholesterol của vật nuôi, đồng thời nâng cao
hiệu quả kinh tế và tính bền vững.
Bài toán cholesterol
Trong công thức thức ăn tôm, việc đảm bảo đủ cholesterol luôn là yêu cầu quan trọng vì tôm không thể tự tổng hợp hợp chất này. Các nhà sản xuất thường bổ sung cholesterol thông qua các nguyên liệu truyền thống như dầu cá, dầu mực hay bột cá.
Tuy nhiên, khi ngành thức ăn chăn nuôi ngày càng chuyển sang sử dụng nhiều nguyên liệu có nguồn gốc thực vật nhằm giảm chi phí và giảm áp lực lên tài nguyên biển, nguy cơ thiếu hụt cholesterol trong khẩu phần của tôm đã trở thành mối quan ngại lớn trong nhiều năm qua.
Một số giải pháp đã được áp dụng để khắc phục vấn đề này, chẳng hạn bổ sung phospholipid hoặc axit mật nhằm cải thiện khả năng hấp thu. Dù vậy, việc đáp ứng nhu cầu cholesterol cho tôm vẫn là một thách thức tốn kém đối với các nhà sản xuất thức ăn. Trong bối cảnh đó, sterol thực vật được xem là một hướng tiếp cận mới đầy tiềm năng.
Sterol thực vật - giải pháp
hiệu quả và tiết kiệm Một nghiên cứu gần đây của ADM đã đánh giá tác động của việc bổ sung sterol vào khẩu phần thức ăn cho TTCT. Thí nghiệm sử dụng ba loại khẩu phần: khẩu phần cơ bản không bổ sung sterol, khẩu phần bổ sung 1 g/kg cholesterol tinh (>92%) và khẩu phần bổ sung 1 g/kg sterol thực vật (>95%).
Tôm được nuôi trong hệ thống tuần hoàn (RAS) và cho ăn trong 62 ngày, từ trọng lượng ban đầu khoảng 0,5 g/con đến khi đạt 10 - 15 g/con. Kết quả cho thấy việc bổ sung sterol dù là cholesterol hay sterol thực vật đều giúp cải thiện đáng kể tốc
độ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) so với khẩu phần cơ bản. Đáng chú ý, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tăng trưởng giữa nhóm tôm được bổ sung cholesterol và nhóm được bổ sung sterol thực vật. Ngoài ra, hàm lượng cholesterol trong mô gan tụy của tôm ăn khẩu phần sterol thực vật cũng tương đương với nhóm bổ sung cholesterol. Điều này cho thấy tôm có khả năng chuyển hóa một phần sterol thực vật thành cholesterol để đáp ứng nhu cầu sinh lý của cơ thể.
Nghiên cứu trên chứng minh sterol thực vật có thể mang lại hiệu quả tăng trưởng tương đương cholesterol trong khẩu phần thức ăn tôm thực tế, đồng thời giúp cải thiện hiệu quả chi phí.
Trước nhu cầu ngày càng lớn của ngành, ADM đã phát triển sản phẩm Plant Sterols AN - nguồn sterol thực vật cô đặc với hàm lượng trên 95%. Sản phẩm dạng bột khô này có độ ổn định cao trong quá trình chế biến thức ăn, thời gian bảo quản dài và dễ sử dụng trong công thức. Khi bổ sung vào thức ăn tôm, sản phẩm giúp duy trì tăng trưởng nhanh và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn, đồng thời cho phép các nhà sản xuất giảm phụ thuộc vào những nguyên liệu giàu cholesterol có nguồn gốc động vật. Theo kế hoạch, sản phẩm này sẽ được phân phối tại thị trường Việt Nam thông qua bộ phận dinh dưỡng vật nuôi của ADM từ đầu năm 2026. VŨ ĐỨC (Theo Aquafeed)
Chế phẩm thảo dược
cho tôm thẻ chân trắng
Nuôi tôm thẻ chân trắng (TTCT) đang đối mặt với nhiều thách thức về dịch bệnh và áp lực môi trường. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm có nguồn gốc thảo dược được xem là hướng đi tiềm năng nhằm hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức khỏe và giảm thiểu rủi ro bệnh cho tôm nuôi.
Thách thức từ dịch bệnh
TTCT hiện là một trong những đối tượng
nuôi chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Nhờ khả năng thích nghi rộng với các điều kiện môi trường, tốc độ sinh trưởng nhanh và hiệu quả kinh tế cao, loài tôm này được nuôi phổ biến trong nhiều mô hình khác nhau, từ bán thâm canh đến thâm canh và siêu thâm canh. Trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng TTCT không ngừng tăng, đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản cũng như kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của đối tượng nuôi này đã tạo sinh kế cho hàng trăm nghìn hộ dân ven biển, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nhiều ngành dịch vụ liên quan như sản xuất giống, thức ăn, chế phẩm sinh học và chế biến thủy sản. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về quy mô và mật độ nuôi, nghề nuôi tôm cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh. Điều kiện nuôi thâm canh với mật độ cao và áp lực môi trường lớn khiến tôm dễ bị tổn thương và trở thành đối tượng dễ nhiễm các tác nhân gây bệnh.
Trong quá trình nuôi, TTCT có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều loại bệnh do vi khuẩn,
virus và ký sinh trùng gây ra. Các tác nhân gây bệnh này thường tồn tại trong môi trường nước, bùn đáy hoặc trong các sinh vật trung gian và có thể bùng phát khi điều kiện ao nuôi không ổn định.
Một trong những bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND), còn được gọi là hội chứng tôm chết sớm. Đây là bệnh có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi do tôm chết nhanh và tỷ lệ chết cao.
Nguyên nhân chính gây bệnh được xác định là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus mang độc tố đặc hiệu. Ngoài ra, các yếu tố như quản lý môi trường ao nuôi kém, chất lượng nước không ổn định hoặc mật độ nuôi cao cũng có thể làm gia tăng nguy cơ phát sinh bệnh.
Tiềm năng thảo dược
Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp và việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản ngày càng được kiểm soát chặt chẽ, nhiều nghiên cứu đã tập trung tìm kiếm các giải pháp thay thế an toàn và bền vững hơn.
Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, nhiều loại thảo dược có khả
năng kháng khuẩn, tăng cường hệ miễn dịch và hỗ trợ cải thiện sức khỏe thủy sản. So với các loại thuốc tổng hợp, chiết xuất từ thảo dược thường ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đồng thời hạn chế nguy cơ tồn dư hóa chất trong sản phẩm.
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng. Theo thống kê, cả nước có hơn 12.000 loài thực vật, trong đó hơn 6.000 loài được ghi nhận có tác dụng làm thuốc và có tiềm năng ứng dụng trong y học cũng như chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.
Trong lĩnh vực thủy sản, nhiều loại thảo dược đã được nghiên cứu và ghi nhận có tác dụng kháng khuẩn, kích thích tăng trưởng và tăng cường miễn dịch cho vật nuôi. Một số loại cây như lựu, diệp hạ châu, bàng, thầu dầu, sim, cỏ mực,… được chứng minh có tiềm năng ứng dụng trong phòng trị bệnh cho tôm cá.
Bên cạnh đó, các loại dược liệu quen thuộc như trà xanh, mật gấu và tỏi cũng được biết đến rộng rãi trong đời sống hằng ngày của người dân. Đây là những loại cây phổ biến ở nhiều vùng miền, thường được sử dụng làm thức uống, gia vị hoặc thực phẩm cho con người. Tuy nhiên, các nghiên
cứu về khả năng ứng dụng của chúng trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là đối với tôm nuôi, vẫn còn tương đối hạn chế.
Kết quả tích cực
Trước tiềm năng của các loại dược liệu
tự nhiên, năm 2022, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giao Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển công nghệ cao chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học “Nghiên cứu tạo chế phẩm kích thích bắt mồi, thúc đẩy tăng trưởng, phòng và trị bệnh cho TTCT (Litopenaeus vannamei) từ cây dược liệu”. Đề tài do TS Lê Văn Nhân làm chủ nhiệm, được triển khai trong giai đoạn từ tháng 1/2022 đến tháng 12/2025, sử dụng nguyên liệu từ ba loại cây phổ biến gồm trà xanh, mật gấu và tỏi.
Kết quả phân tích cho thấy chiết xuất methanol từ lá cây mật gấu chứa 53 thành phần hóa học khác nhau. Trong khi đó, trà xanh có 32 hợp chất và tỏi có 30 hợp chất.
Các hợp chất này được ghi nhận có nhiều hoạt tính sinh học, trong đó đáng chú ý là khả năng kháng khuẩn. Thử nghiệm in vitro cho thấy các chiết xuất thảo dược này có
khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn
Vibrio parahaemolyticus, tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm.
Cụ thể, cao chiết tỏi tạo vòng kháng khuẩn từ 10,41 - 15,32 mm ở nồng độ 200 - 500 mg/mL. Cao chiết trà xanh đạt đường
kính vòng kháng khuẩn 10,82 - 16,52 mm
ở cùng mức nồng độ. Đáng chú ý, cao chiết từ cây mật gấu cho hiệu quả mạnh nhất, với đường kính vòng kháng khuẩn từ 12 - 24 mm ở nồng độ 50 - 500 mg/mL.
Nồng độ ức chế tối thiểu đối với vi khuẩn gây bệnh được ghi nhận là 62,5 µg/ mL đối với chiết xuất lá mật gấu, trong khi lá trà xanh và tỏi có mức 125 µg/mL. Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu lần lượt là 125 µg/ mL đối với lá mật gấu và 250 µg/mL đối với trà xanh và tỏi.
Nghiên cứu cũng đã xây dựng được quy trình tạo chế phẩm kích thích bắt mồi, thúc đẩy sự tăng trưởng, phòng và trị bệnh cho TTCT từ chiết xuất của cây trà xanh, mật gấu và tỏi.
Kết quả thử nghiệm bước đầu ở quy mô phòng thí nghiệm cho thấy, khi bổ sung chế phẩm thảo dược vào thức ăn, tôm nuôi có khả năng phát hiện và tiếp cận thức ăn nhanh hơn, sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. Đồng thời, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm cũng cao hơn so với nhóm đối chứng không sử dụng chế phẩm.
LÊ LOAN
4 yếu tố ngăn chặn dịch bệnh
trên tôm hùm
Vị trí thích hợp
Địa điểm nuôi cần nằm trong vùng quy hoạch, không bị ảnh hưởng mạnh bởi sóng, gió và an toàn trong mùa mưa bão, xa các cửa sông để tránh nước ngọt từ sông đổ ra trong mùa mưa. Nguồn nước phải sạch, nền đáy là cát hoặc cát pha bùn có lẫn san hô và không bị ô nhiễm. Độ sâu mực nước nơi đặt lồng tối thiểu khi triều thấp là 4 m (đối với nuôi lồng găm), từ 4 - 8 m (đối với nuôi lồng sắt) và hơn 8 m (đối với nuôi lồng nổi); có dòng chảy nhẹ mỗi khi triều lên, dòng chảy tầng đáy có lưu tốc khoảng từ 1 - 2 cm/giây.
Con giống tốt
Chọn tôm giống khỏe mạnh, vận chuyển và thả giống đúng quy trình kỹ thuật để tôm nuôi cho tỷ lệ sống cao, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình nuôi.
Tôm giống cần phải được kiểm tra một số dấu hiệu bệnh thường gặp như: bệnh đỏ thân, bệnh sữa,... và phải sát trùng trước khi thả vào lồng/bè nuôi. Tùy theo kết quả theo dõi, kiểm tra nguồn gốc, chất lượng đàn giống thu mua mà chọn thuốc sát trùng cho thích hợp. Trong nuôi tôm hùm thường dùng Formalin nồng độ 100 - 200 ppm tắm cho tôm trong 20 - 30 phút.
Thức ăn chất lượng
Thức ăn phải được bảo quản tốt, còn tươi (không sử dụng thức ăn ươn, thối) và
được mua hoặc có nguồn gốc từ những vùng không có dịch bệnh. Thức ăn cho tôm hùm
được rửa sạch, tùy vào giai đoạn tôm nuôi mà có thể để nguyên hoặc cắt nhỏ, sau đó
để ráo nước rồi nhúng vào dung dịch thuốc tím (KMnO4, lượng 3 - 5 mg/L nước biển),
trộn đều và ngâm khoảng 10 - 20 phút để sát trùng rồi cho tôm ăn. Cho ăn với số lượng phù hợp với đặc điểm sinh lý, điều kiện môi trường, giai đoạn phát triển của tôm nuôi. Tăng sức đề kháng cho tôm bằng cách sử dụng Vitamin C, một số khoáng chất trộn hay tiêm vào thức ăn cho tôm hùm. Một số loại vitamin và khoáng chất dùng cho tôm sú trên thị trường hiện nay cũng có thể sử dụng cho nuôi tôm hùm lồng.
Quản lý chặt chẽ
Sát trùng lồng, nền đáy nơi đặt lồng nuôi trước khi đặt lồng/bè. Ngoài các biện pháp cọ rửa lồng/bè nuôi, phơi nắng lưới và khung lồng, cần phải dùng nước vôi quét bên trong và ngoài lồng/bè nuôi để sát trùng, tiêu diệt mầm bệnh.
Nuôi tôm ở mật độ phù hợp, thường xuyên phân cỡ tôm, hạn chế sự phân đàn trong một lồng nuôi nhằm giảm khả năng ăn lẫn nhau trong quá trình lột xác, làm hao hụt tôm nuôi.
Định kỳ treo túi vôi quanh lồng nuôi trước và sau thời gian thường xuất hiện bệnh ở tôm.
Thường xuyên chăm sóc, quản lý đàn tôm nuôi, vệ sinh lồng/bè cho nước thông thoáng, tránh bị rong rêu bám làm bịt lỗ lưới.
Thao tác đánh bắt, phân cỡ đàn tôm nên nhẹ nhàng, tránh xây xát cho tôm. Bởi trong môi trường nuôi tôm hùm lồng luôn tồn tại các sinh vật gây bệnh cho tôm. Nếu để tôm bị tổn thương, các sinh vật gây bệnh dễ xâm nhập vào cơ thể thông qua các vùng tổn thương này.
NAM CƯỜNG
Giảm stress hiệu quả cho tôm
nuôi
Stress là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và hiệu quả sản xuất trong nuôi tôm. Khi tôm bị stress, khả năng bắt mồi giảm, tăng trưởng chậm, sức đề kháng suy yếu và dễ mắc các bệnh nguy hiểm.
Nguyên nhân gây stress ở tôm
Trong môi trường nuôi, tôm
có thể bị stress do nhiều yếu tố khác nhau, trong đó phổ biến nhất là sự biến động của các yếu tố môi trường nước. Những thay đổi đột ngột về nhiệt độ, độ mặn, pH hoặc hàm lượng ôxy hòa tan có thể khiến tôm khó thích nghi và dẫn đến tình trạng stress. Bên cạnh đó, chất lượng nước kém cũng là nguyên nhân quan trọng. Sự tích tụ của các khí độc như ammonia (NH₃), nitrite (NO₂⁻) hoặc hàm lượng chất hữu cơ cao trong ao nuôi có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tôm. Khi các yếu tố này vượt ngưỡng cho phép, tôm thường có biểu hiện bơi yếu, giảm ăn hoặc nổi đầu.
Mật độ nuôi quá cao cũng có thể làm gia tăng stress. Trong
stress. Vào mùa hè, sử dụng màn lưới đen, chống nắng căng phía trên mặt ao để hạn chế bức xạ của ánh sáng mặt trời, giảm tăng nhiệt nước ao, tránh gây sốc cho tôm.
Ngoài ra, nên hạn chế các tác động mạnh trong ao nuôi như kéo lưới, xử lý hóa chất hoặc thay nước đột ngột.
Phòng ngừa
Ngoài ra, các hoạt động quản lý
như thay nước, thu tỉa hoặc xử lý
hóa chất không đúng cách cũng có thể gây stress cho tôm.
Dấu hiệu tôm bị stress
Khi tôm bị stress, các biểu
hiện thường xuất hiện khá rõ
trong hoạt động và khả năng
bắt mồi. Một trong những dấu
hiệu dễ nhận thấy là tôm giảm
ăn hoặc bỏ ăn, lượng thức ăn dư
nhiều trong sàng. Tôm cũng có
thể bơi lờ đờ, phản xạ chậm hoặc
tập trung gần khu vực quạt nước, nơi có hàm lượng ôxy cao hơn. Trong một số trường hợp, tôm nổi đầu vào sáng sớm, bơi dạt vào bờ hoặc tụ thành từng nhóm bất thường. Màu sắc cơ
thể tôm có thể nhạt hơn bình thường hoặc chuyển sang màu sậm, vỏ mềm và quá trình lột xác không đồng đều. Khi tình
điều kiện mật độ lớn, tôm phải cạnh tranh thức ăn và không gian sống, đồng thời môi trường ao nuôi dễ bị ô nhiễm nhanh hơn.
trạng stress kéo dài, tôm dễ bị suy yếu, tăng trưởng chậm và dễ nhiễm các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn hoặc virus.
Xử lý
Khi phát hiện tôm có dấu hiệu stress, người nuôi cần nhanh chóng kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao như ôxy hòa tan, pH, nhiệt độ, độ mặn và hàm lượng khí độc. Nếu ôxy thấp, cần tăng cường vận hành quạt nước hoặc hệ thống sục
khí để cải thiện điều kiện hô hấp cho tôm. Trường hợp các chỉ tiêu môi trường biến động hoặc
khí độc tăng cao, có thể tiến hành thay nước từng phần hoặc sử dụng các chế phẩm phù hợp
để ổn định chất lượng nước.
Trường hợp thấy có sự biến
động nhiệt như trời quá nóng hoặc quá lạnh, cần lưu ý điều chỉnh lại nhiệt độ nước ao để tránh làm tôm bị sốc dẫn tới
Các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH, độ mặn và hàm lượng ôxy hòa tan cần được theo dõi thường xuyên để kịp thời điều chỉnh khi có biến động. Ôxy hòa tan trong nước cần được duy trì ở mức phù hợp để đảm bảo hoạt động hô hấp của tôm. Người nuôi sử dụng hệ thống quạt nước hoặc sục khí giúp tăng cường trao đổi ôxy và cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi. Bên cạnh đó, kiểm soát hàm lượng các khí độc như ammonia và nitrite thông qua việc quản lý lượng thức ăn hợp lý, định kỳ xi phông đáy ao và sử dụng các chế phẩm sinh học để phân hủy chất hữu cơ. Môi trường nước sạch và ổn định sẽ giúp tôm sinh trưởng tốt và giảm nguy cơ bị stress. Cung cấp khẩu phần ăn phù hợp với từng giai đoạn phát triển giúp tôm hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. Cần theo dõi sàng ăn và điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp với nhu cầu thực tế của tôm. Ngoài ra, việc bổ sung các vitamin và khoáng chất cần thiết trong khẩu phần ăn có thể giúp tăng cường sức khỏe và khả năng thích nghi của tôm trước các biến động của môi trường. NGUYỄN HẰNG
Cần theo dõi sàng ăn và điều
Ảnh: Tép Bạc
Quy trình phòng ngừa dịch bệnh
trong trại sản xuất tôm giống
Phòng ngừa dịch bệnh là yếu tố quan trọng trong sản xuất tôm giống, giúp hạn chế rủi ro, bảo vệ sức khỏe tôm và đảm bảo hiệu
Kiểm soát nguồn tôm
bố mẹ
Nguồn tôm bố mẹ là yếu tố
đầu tiên quyết định đến chất lượng và sức khỏe của tôm giống. Tôm bố mẹ phải được lựa chọn từ các cơ sở cung cấp uy tín, có nguồn gốc rõ ràng và được kiểm tra bệnh trước khi đưa vào trại sản xuất. Việc xét nghiệm nhằm phát hiện sớm các mầm bệnh nguy hiểm như virus, vi khuẩn hoặc ký sinh trùng.
Ngoài ra, tôm bố mẹ cần được nuôi dưỡng trong môi trường sạch, đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ nhằm tăng
sức đề kháng. Các trại giống
thường áp dụng quy trình cách ly tôm bố mẹ trước khi cho sinh
sản để tránh lây nhiễm mầm
bệnh sang các đàn tôm khác.
Quản lý và xử lý nguồn nước
Nguồn nước sử dụng trong
trại sản xuất tôm giống phải
được xử lý kỹ trước khi đưa vào
hệ thống bể nuôi. Nước thường
được lọc qua nhiều lớp như lưới
lọc, cát hoặc hệ thống lọc sinh
học để loại bỏ tạp chất và sinh
vật có hại.
Sau quá trình lọc, nước được
khử trùng bằng các phương
pháp như Chlorine, tia cực tím
hoặc ozone nhằm tiêu diệt vi khuẩn, virus và các mầm bệnh
tiềm ẩn. Bên cạnh đó, thường xuyên kiểm tra các chỉ tiêu môi
trường như nhiệt độ, độ mặn, pH và ôxy hòa tan để duy trì
điều kiện sống tối ưu cho ấu
trùng tôm.
Trong quá trình ương, định kỳ thay nước và kiểm soát chất lượng nước giúp hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, đồng thời tạo môi trường ổn
định cho tôm giống phát triển.
Định kỳ kiểm tra mật số vi khuẩn Vibrio trong nước.
Vệ sinh và khử trùng
trại giống
Vệ sinh trại giống là một
trong những biện pháp quan trọng nhằm ngăn chặn sự xâm nhập và lây lan của mầm bệnh.
Trước mỗi vụ sản xuất, toàn
bộ hệ thống bể nuôi, dụng cụ, đường ống và thiết bị cần được
vệ sinh sạch sẽ và khử trùng.
Các dụng cụ sử dụng trong
trại như vợt, xô, ống xi phông phải được phân loại riêng cho
từng khu vực để tránh lây nhiễm chéo. Nhân viên làm việc trong trại cũng cần tuân thủ các quy định về vệ sinh như rửa tay, khử trùng giày dép và hạn chế tiếp xúc với các nguồn bệnh từ bên ngoài.
Ngoài ra, khu vực sản xuất cần được thiết kế hợp lý, tách biệt các khu như khu nuôi tôm bố mẹ, khu ương ấu trùng và khu xử lý nước nhằm giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh.
Hạn chế người ra vào, có hố sát trùng tại cổng và lối vào từng khu vực.
Quản lý dinh dưỡng
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng giúp tôm giống phát triển khỏe mạnh và tăng khả năng chống chịu bệnh tật. Tuy nhiên, nếu thức
ăn không đảm bảo chất lượng hoặc bị nhiễm khuẩn thì có thể trở thành nguồn lây bệnh.
Trong trại giống, các loại
thức ăn như tảo, luân trùng và
Artemia cần được nuôi và bảo
quản trong điều kiện sạch. Thức
ăn phải được kiểm tra chất lượng
trước khi sử dụng và cho ăn với
lượng phù hợp để tránh dư thừa
gây ô nhiễm môi trường nước. Đồng thời, cần bổ sung các chế phẩm sinh học và vitamin giúp tăng cường sức đề kháng cho tôm ấu trùng, từ đó giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh.
Theo dõi sức khỏe tôm giống
Việc theo dõi sức khỏe tôm giống cần được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình sản xuất. Người quản lý trại giống cần quan sát các dấu hiệu bất thường như tôm bơi yếu, màu sắc thay đổi, giảm ăn hoặc tỷ lệ chết tăng.
Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ bệnh, cần nhanh chóng kiểm tra và phân tích mẫu để xác định nguyên nhân. Việc phát hiện sớm sẽ giúp áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế sự lây lan và giảm thiểu thiệt hại.
Bên cạnh đó, việc ghi chép đầy đủ các thông tin về môi trường, thức ăn và tình trạng sức khỏe của tôm cũng giúp người quản lý đánh giá và cải thiện quy trình sản xuất.
THANH HIẾU
C.P. VIỆT NAM
Vinh danh dấu ấn kỷ lục kích cỡ lớn
Vừa qua, C.P. Việt Nam đã tổ chức Lễ trao thưởng cho hai khách hàng đạt thành tích xuất sắc trong chương trình “Chinh Phục Kỷ Lục Kích Cỡ Lớn 2025”.
Trong bối cảnh ngành tôm còn nhiều biến động về môi trường, dịch bệnh và chi phí đầu vào, yêu cầu nâng cao kích cỡ thương phẩm, tối ưu hệ số chuyển đổi thức ăn và đảm bảo lợi nhuận đang trở thành ưu tiên của người nuôi. Việc đạt kích cỡ lớn trong điều kiện thực tế vì vậy không chỉ là thành tích riêng lẻ, mà phản ánh xu hướng nuôi theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế. Từ những kết quả nổi bật đó, các mô hình đạt kích cỡ ấn tượng đã được ghi nhận và vinh danh. Vừa qua, C.P. Việt Nam đã tổ chức Lễ trao thưởng cho hai khách hàng đạt thành tích xuất sắc trong chương trình “Chinh Phục Kỷ Lục Kích Cỡ Lớn 2025”. Dấu ấn từ những con số ấn tượng
Hai khách hàng được vinh danh đã ghi nhận mức kích cỡ thương phẩm ấn tượng:
- Khách hàng chị Lâm Quý Linh - Đại lý Quý Linh (xã Khánh Hòa, TP Cần Thơ - Sóc Trăng cũ) đạt 11,7 con/kg.
- Khách hàng anh Lê Văn Phước - Đại lý Lập Duyên (xã Bình Đại, tỉnh Vĩnh Long) đạt 10,9 con/kg. Trong điều kiện nuôi thâm canh hiện nay, đây là những mốc kích cỡ nổi bật, cho thấy khả năng kiểm soát quy trình và quản lý ao nuôi hiệu quả. Thành tích này là kết quả của sự phối hợp đồng bộ từ con giống, dinh dưỡng, chế phẩm sinh học đến quản lý
môi trường và quy trình kỹ thuật trong suốt vụ nuôi.
Phần thưởng cho sự đầu tư và
đồng hành xuyên suốt
Phần thưởng 02 xe Mitsubishi XForce Xceed đã được trao đến chị Lâm Thúy Linh và anh Lê Văn Phước, ghi nhận quá trình
đầu tư nghiêm túc và những nỗ lực bền bỉ nhằm đạt kích cỡ thương phẩm ấn tượng.
Chia sẻ tại sự kiện, đại diện quý khách hàng cho biết việc đạt được mốc kích cỡ ấn tượng đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ từng khâu trong suốt quá trình nuôi, đồng thời duy trì sự phối hợp kỹ thuật liên tục.
Thành công nhờ triển khai giải pháp đồng bộ
Kết quả này cho thấy khi toàn bộ quy trình - từ con giống, dinh dưỡng, chế phẩm sinh học đến quản lý môi trường và hỗ trợ kỹ thuật - được triển khai đồng bộ, mục tiêu kích cỡ lớn hoàn toàn có thể đạt được trong điều kiện thực tế sản xuất.
Chương trình “Chinh Phục Kỷ Lục Kích Cỡ Lớn 2025” là một trong những hoạt động trọng tâm của C.P. Việt Nam, nhằm đồng hành cùng người nuôi nâng cao giá trị thương phẩm, tối ưu hiệu quả kinh tế và gia tăng sức cạnh tranh cho tôm Việt Nam trên thị trường.
Lan tỏa hướng nuôi hiệu quả và bền vững
Những thành tích được vinh danh
không chỉ là dấu ấn riêng của hai khách hàng, mà còn mở ra kỳ vọng về một hướng nuôi hiệu quả hơn - nơi quy trình kỹ thuật được triển khai đồng bộ và giá trị thương phẩm được đặt làm trọng tâm. Đây cũng là tín hiệu tích cực cho xu hướng nuôi thâm canh kiểm soát tốt kích cỡ, chất lượng và lợi nhuận trong giai đoạn ngành tôm đang chuyển mình mạnh mẽ.
Ban lãnh đạo C.P. Việt Nam trao giải cho chị Lâm Thúy Lĩnh
Ban lãnh đạo C.P. Việt Nam trao giải cho anh Lê Văn Phước
Anh Lê Văn Phước - Đại lý Lập Duyên
Xử lý nấm và vi khuẩn trong ương nuôi tôm
Trong sản xuất giống và nuôi tôm thương phẩm, nấm và vi khuẩn có hại là nguyên nhân gây thiệt hại nặng nề cho vụ nuôi. Đặc biệt như nấm đồng tiền (nấm chân chó), gây dính chân trong sản xuất giống, đồng thời tạo điều kiện để vi khuẩn có hại gây bệnh cho tôm nuôi.
AQ-6S
Vi sinh chuyên xử lý chất hữu
các loài
khuẩn như Bacillus subtilis, B. pumilus, B. amyloliquefaciens,...
Nguyên nhân
Nấm gây dính chân tôm giống thường xuất hiện ở giai đoạn Zoea 2. Khi nước cấp vào bể ương chưa được xử lý kỹ, cho ăn tảo khô quá sớm hoặc kiểm soát lượng tảo cho ăn không chặt chẽ dẫn đến dư thừa chất hữu cơ tạo điều kiện cho nấm phát triển.
Ngoài môi trường nước và bùn đáy ao, những nơi nấm bám vào cũng là nơi cư trú cho các loài vi khuẩn có hại gây bệnh cho tôm nuôi.
Tác hại
Nấm đồng tiền có mùi tanh rất hấp dẫn với tôm nên tôm dễ dàng ăn phải các cá thể nấm này. Khi vào trong đường ruột, nấm sẽ sản sinh ra độc tố gây bệnh đường ruột làm tôm bỏ ăn, từ đó tôm ốp thân, còi cọc, chậm
lớn và có thể chết.
Ở giai đoạn Zoea 2, khi bị nấm gây dính chân, ấu trùng
tôm sẽ không thể di chuyển để bắt mồi, không thể chuyển giai
đoạn dẫn đến chết.
Khi tôm ăn phải các cá thể
nấm có vi khuẩn cư trú, các vi khuẩn có hại này sẽ là tác nhân
cơ hội gây bệnh khi tôm đã bị
bệnh đường ruột, gây thiệt hại
nặng nề cho vụ nuôi.
Cách xử lý
Đối với các ao đã từng bị nhiễm nấm đồng tiền: Bắt
buộc khâu tẩy nấm và tiêu diệt bào tử nấm cần được chú trọng và xử lý một cách triệt để trước
khi thả tôm, kết hợp với việc
sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý
nước nhằm ức chế vi khuẩn có
hại và bổ sung lợi khuẩn cho môi trường.
Đối với ao nuôi đang có
tôm:
- Phải đặc biệt lưu ý khi dùng
biện pháp cơ học như chà, tẩy các cá thể nấm, vì khi làm việc này có thể vô tình làm cho các bào tử nấm phát tán mạnh hơn và các cá thể nấm khi bị chà bong tróc ra sẽ phát sinh độc tố khi tôm ăn phải.
- Giảm và kiểm soát lượng thức ăn cho ăn, bổ sung các dưỡng chất hỗ trợ hệ tiêu hóa tôm.
PROCOZOLL
Enzyme đậm đặc giúp phân hủy mạnh mẽ các chất hữu cơ lơ lửng, kiểm soát tảo với các loại enzyme như Protease, Amylase,...
- Nâng cao độ đục hoặc mực nước nhằm làm giảm ánh sáng, ngăn cản cản sự quang hợp của nấm sẽ làm nấm chết.
- Tăng cường quạt nước, sục khí.
- Tránh cho ăn gần bờ.
- Biện pháp sinh học: Bổ sung chế phẩm vi sinh ức chế nấm và vi khuẩn có hại.
Đối với nấm gây dính chân ấu trùng ở giai đoạn Zoea 2: - Xử lý kỹ nguồn nước cấp vào bể ương.
- Kiểm soát chất lượng thức ăn và lượng cho ăn để hạn chế chất hữu cơ dư thừa.
- Quản lý chặt chẽ môi trường nước trong bể ương.
- Định kỳ xi phông đáy.
- Biện pháp sinh học: Dùng
SLUDGE REMOVER TABLET Vi sinh dạng viên nén chuyên xử lý nhớt bạt - ức chế nầm đồng tiền sau 24 - 48h với các chủng vi khuẩn hoạt lực mạnh như B. amyloliquefaciens, B.subtilis, B. pumilus,...
chế phẩm vi sinh xử lý nguồn nước cấp và môi trường nước trong quá trình ương nhằm ức chế vi khuẩn có hại và bổ sung lợi khuẩn để xử lý lượng chất hữu cơ dư thừa trong bể.
Đề xuất giải pháp từ
Thái Nam Việt
Việc phát hiện sớm nấm xuất hiện trong ao sẽ giúp cho việc xử lý nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Sử dụng chế phẩm sinh học để khống chế nấm và vi khuẩn mang lại hiệu quả cao và không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước, đảm bảo sức khỏe và sự phát triển cho ấu trùng và tôm nuôi, hạn chế được tổn thất cho vụ nuôi. THÁI NAM VIỆT
Website: thainamviet.com
CÔNG NGHỆ NANOBUBBLE
Nâng cao hiệu quả nuôi tôm cá
Nuôi tôm cá là một trong những ngành thủy sản quan trọng tại Việt Nam, đóng góp lớn cho nguồn thực phẩm và xuất khẩu. Tuy nhiên, quá trình nuôi tôm cá hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức như chất lượng nước suy giảm, nguy cơ dịch bệnh và chi phí thức ăn ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, công nghệ Nanobubble (bong bóng nano) đang trở thành một giải pháp hiện đại giúp cải thiện môi trường nuôi và nâng cao hiệu quả sản xuất.
sinh và giúp môi trường nuôi an toàn hơn.
Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn
Môi trường nước giàu ôxy giúp tôm cá tăng cường trao đổi chất, cải thiện khả năng tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng. Nhờ đó, tôm cá phát triển nhanh hơn, giảm lượng thức ăn dư thừa và hạn chế ô nhiễm trong ao nuôi.
Hướng đến nuôi cá
Những thách thức trong nuôi tôm cá hiện nay
Chất lượng nước chưa ổn định
Trong các ao nuôi cá mật độ cao, lượng chất thải hữu cơ và thức ăn dư thừa dễ làm giảm lượng ôxy hòa tan trong nước. Đồng thời, các khí độc như NH3, H2S hay NO2 có thể tích tụ ở đáy ao, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tốc độ phát triển của tôm cá.
Nguy cơ bùng phát dịch bệnh
Môi trường nuôi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn và mầm bệnh phát triển. Nếu chất lượng nước không được kiểm soát tốt, cá dễ bị stress, giảm sức đề kháng và phát sinh nhiều loại bệnh gây thiệt hại cho người nuôi.
Hiệu quả sử dụng thức ăn chưa cao
Thức ăn chiếm phần lớn chi
phí trong nuôi tôm cá. Khi tôm
cá không tiêu thụ hết hoặc khả năng hấp thụ dinh dưỡng kém, thức ăn dư thừa sẽ phân hủy trong nước, làm ô nhiễm môi trường ao nuôi và gia tăng chi phí sản xuất.
Tăng cường ôxy hòa tan và cải thiện môi trường nước
Nanobubble là các bong
bóng khí có kích thước siêu nhỏ ở mức nanomet, có khả năng tồn tại lâu và phân tán đều trong nước. Nhờ đó, công nghệ này giúp tăng hiệu quả hòa tan ôxy, cải thiện quá trình sục khí và duy trì môi trường nước ổn định cho ao nuôi
Hỗ trợ kiểm soát vi khuẩn và mầm bệnh
Nanobubble có khả năng
tạo ra các phản ứng ôxy hóa tự
nhiên, giúp ức chế sự phát triển
của vi khuẩn và phá vỡ màng
sinh học – nơi trú ẩn của nhiều mầm bệnh. Điều này góp phần
giảm sự phụ thuộc vào kháng
bền vững tại Việt Nam
Việc ứng dụng công nghệ
Nanobubble trong nuôi tôm cá không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước và giảm nguy
cơ dịch bệnh mà còn nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường. Đây
được xem là một giải pháp công nghệ tiên tiến, phù hợp với xu
hướng phát triển nuôi trồng
thủy sản hiện đại và bền vững
tại Việt Nam
Để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của ngành nuôi trồng
thủy sản, Công ty TNHH B.H.N
Thông tin liên hệ: Công ty TNHH B.H.N
đã nghiên cứu và chế tạo thành công bộ tạo Nanobubble thế hệ mới – Model NN22-250. Thiết bị có công suất lên đến 250 m³/ giờ, giúp tạo ra lượng bong bóng nano dồi dào, nhanh chóng nâng cao nồng độ ôxy hòa tan trong nước. Nhờ công suất lớn và khả năng khuếch tán ôxy hiệu quả, NN22-250 giúp rút ngắn thời gian tăng ôxy hòa tan, cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi, tạo môi trường sống ổn định cho tôm, cá và các loài thủy sản. Đồng thời, thiết bị còn hỗ trợ giảm tích tụ khí độc và chất hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả nuôi trồng.
Với thiết kế tối ưu, vận hành ổn định và phù hợp với nhiều mô hình nuôi khác nhau, Nanobubble NN22-250 là giải pháp công nghệ hiện đại giúp người nuôi thủy sản nâng cao hiệu quả sản xuất và hướng tới phát triển bền vững.
Số điện thoại: 028.668.101.95~96
Website: bhnenc.com
Email: bhnenc@gmail.com
Địa chỉ: Số DP-18 Dragon Parc2, KDC Phú Long, đường Nguyễn
Hữu Thọ, xã Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh
B.H.N
Tầm quan trọng của việc giữ màu nước
trong ao tôm
Màu nước trong ao nuôi tôm là màu sắc nước nhìn thấy được ban ngày dưới ánh nắng mặt trời. Màu nước ao lý tưởng để giúp tôm thẻ chân trắng (TTCT) phát triển tốt, cho màu sắc thương phẩm đẹp là màu nâu đậm (màu cafe nhạt) hoặc màu vàng đục (màu bã trà); đây cũng là màu nước ao giàu khoáng chất thiết yếu cho TTCT, ngoài ra trong nước còn có hiện diện các loài tảo lục (Chlorophyta), tảo khuê (Bacillariophyta) hay gọi tảo silic phát triển ưu thế, là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm nuôi.
Vai trò của màu nước
Trong nuôi TTCT công nghiệp, giữ màu sắc
nước ao đạt chuẩn rất quan trọng, ngoài việc giúp ngăn chặn ánh nắng xuyên thấu đáy ao, ngăn chặn rong, tảo đáy, còn giữ ổn định hệ đệm trong ao, các chỉ số môi trường, nhất là nhiệt độ nước ao ổn định. Bên cạnh đó, trong nước ao đạt chuẩn còn có các khoáng chất cần thiết cho tôm. TTCT có tốc độ tăng trưởng nhanh nên chu kỳ lột xác ngắn. Sau mỗi đợt lột xác, tôm có khả năng hấp thu khoáng chất trong môi trường nước rất tốt, nhờ đó tôm săn chắc và cho màu sắc đẹp. Ngoài ra, nước ao đạt chuẩn còn có một lượng tảo có lợi là tảo lục, tảo khuê… đây là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm. Tảo có trong nước ao tôm còn giữ vai trò như hệ thống lọc sinh học vô cùng quan trọng giúp ổn định các thông số môi trường… Đó là lý do người nuôi cần phải gây màu nước và giữ màu sắc nước ao ổn định trong suốt vụ nuôi tôm.
Cách gây màu nước và duy trì
Có nhiều phương pháp gây màu nước
khác nhau như bón phân NPK, Urê hoặc sử dụng bột cá, bột đậu nành… Tuy nhiên, với các phương pháp này, màu nước sẽ lên nhiều loài tảo không tốt cho sức khỏe tôm. Đồng thời kích thích tảo phát triển quá mức, dẫn dến hiện tượng tảo tàn, gây ô nhiễm môi trường ao nuôi.
Một phương pháp nữa là tạt khoáng kèm chế phẩm vi sinh để gây màu nước. Kết quả là màu nước ao có lên nhưng lên với tốc độ khá chậm. Chính vì vậy, mong muốn của người nuôi là làm thế nào để gây màu nước một cách hiệu quả, duy trì màu nước bền trong suốt quá trình nuôi.
Giải pháp từ BIO
Hiện, theo ghi nhận thực tế, nhiều người nuôi đã áp dụng phương pháp gây màu nước sau đây và cho hiệu quả tốt. Cụ thể: Nước đưa vào ao lắng lọc và xử lý diệt khuẩn đạt chuẩn để thả tôm. Sau 3 – 5 ngày diệt khuẩn, nước này sẽ được cấp sang ao nuôi và trước khi thả tôm giống khoảng 12 giờ, sử dụng sản phẩm gây màu BIO POND COLOR for Aqua (liều 500 g/2.000 m³) hòa vào trong nước và tạt đều lên khắp mặt nước ao, màu sắc nước sẽ hình thành màu nâu đậm sẵn sàng để thả tôm. Khi thả TTCT cần duy trì hàm lượng ôxy hòa tan thường xuyên ở mức > 5 ppm và tôm ở giai đoạn đầu (khoảng 20 ngày đầu) nên tạt kèm khoáng đa và vi lượng BIO PREMIX FOR SHRIMP NEW mỗi ngày 1 lần, liều 2 kg/1.000 m³ nước. Sau khi thả tôm 12 giờ kế tiếp tạt kèm chế phẩm vi sinh BIO BACIPRO for Aqua hoặc BIO SUPER BAC để cung cấp vi khuẩn có lợi giúp cạnh tranh, lấn át vi khuẩn có hại cũng như giúp tảo, phiêu sinh phát triển ổn định và hấp phụ một phần khí
độc như NH3, H2S, NO2 có trong nước ao; các khí độc này do tôm bài thải, do xác tảo, thức ăn thừa… gây ra. TTCT nuôi với mật độ cao, cần làm sạch môi trường nước ao nuôi mỗi ngày bằng cách xi phông nước trong ao tôm (khoảng 2 lần/ngày) để hút các chất bài thải của tôm, xác tảo, thức ăn thừa… ra ngoài và cấp nước mới (sạch) từ ao sẵn sàng bù vào ao nuôi; do vậy màu nước trong ao cũng sẽ giảm dần cho nên người nuôi theo dõi độ trong của nước nếu > 35 cm thì tạt kèm sản phẩm gây màu BIO POND COLOR for Aqua và chế phẩm vi sinh; chu kỳ sử dụng thường từ 5 đến 10 ngày dùng 1 đợt gây màu ao nuôi tôm. Độ trong thích hợp nuôi TTCT công nghiệp với mật độ cao trên 200 con/ m³ nước hiện nay là 25 – 35 cm (tùy mật độ tôm thả trong ao nuôi).
Việc duy trì màu nước ao nuôi đạt chuẩn trong suốt quá trình nuôi tôm sẽ góp phần giữ ổn định hệ đệm, giảm một phần khí độc như NH 3, H 2S, NO 2… phát sinh trong quá trình nuôi, giúp tôm giảm stress, tôm sẽ phát triển nhanh đều cỡ, săn chắc và cho màu sắc đẹp, góp phần tăng năng suất và giá thành tôm nuôi khi thu hoạch.
Sản phẩm Bio Pond Color và Bio Bacipro
Doanh nghiệp đối mặt rủi ro chi phí vận tải
Những tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam ghi nhận tín hiệu tích cực về kim ngạch. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo đà tăng trưởng này vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, đặc biệt từ biến động địa chính trị như xung đột tại Trung Đông, đang gây áp lực lớn lên chuỗi cung ứng và vận tải quốc tế.
Cụ thể, một số hãng tàu quốc tế đã bắt đầu hạn chế hoặc điều chỉnh hành trình qua các khu vực có nguy cơ cao, buộc tàu phải đi vòng qua châu Phi thay vì đi theo các tuyến hàng hải truyền thống. Điều này không chỉ làm chậm tiến độ giao hàng mà còn làm tăng đáng kể chi phí vận tải.
Trước tình hình đó, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam kiến nghị các cơ quan quản lý theo dõi sát diễn biến xung đột, kịp thời cung cấp thông tin, cảnh báo cho doanh nghiệp. Đồng thời, cần xem xét các giải pháp hỗ trợ khi chi phí logistics và nhiên liệu tăng mạnh, nhất là trong trường hợp xung đột kéo dài.
C.P. VIỆT NAM
Đồng hành cùng Lễ hội Xuân hồng 2026
Lễ hội Xuân hồng là chiến dịch hiến máu tình nguyện lớn nhất
Việt Nam, được tổ chức thường niên vào dịp đầu năm mới. Năm 2026 đánh dấu năm thứ 15 liên tiếp Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam đồng hành cùng chương trình Lễ hội Xuân hồng. Sự gắn bó lâu dài
của công ty đã được Ban Tổ chức ghi nhận và vinh danh, góp phần lan tỏa những hành động đẹp và khuyến khích cộng đồng tham gia phong trào hiến máu tình nguyện. Đồng hành cùng chương trình năm nay, C.P. Việt Nam trao tặng 5.000 phần quà thực phẩm là các sản phẩm tươi, sạch, an toàn được sản xuất từ chuỗi khép kín của doanh nghiệp, dành cho tình nguyện viên và người tham gia hiến máu. Những phần quà này góp phần chăm sóc sức khỏe, giúp người hiến máu nhanh chóng hồi phục và tiếp thêm năng lượng sau khi tham gia chương trình. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, nhân viên C.P. Việt Nam cũng trực tiếp tham gia hiến máu tại sự kiện, cùng chung tay lan tỏa nghĩa cử cao đẹp vì cộng đồng.
THẢO ANH
Trung Đông là thị trường tiêu thụ lớn đối với cá hồi, tôm, cá
Về phía doanh nghiệp, cần chủ động làm việc với đối tác nhập khẩu và hãng tàu để điều chỉnh kế hoạch giao hàng, đồng thời cân nhắc các phương án vận tải thay thế nhằm giảm thiểu rủi ro.
DUY MẠNH
VIỆT ÚC QUẢNG NINH
Đặt mục tiêu cung ứng hơn 1 tỷ con giống
Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, không khí sản xuất tại Công ty TNHH Việt Úc Quảng Ninh đã khẩn trương trở lại. Từ mùng 8 đến mùng 10 tháng Giêng âm lịch, doanh nghiệp đã xuất 15 triệu con tôm giống VUS LEADER 21 ra thị trường, mở màn cho vụ nuôi mới với nhiều kỳ vọng về tăng trưởng và chất lượng. Theo ông Đỗ Văn Cường, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Việt Úc
Quảng Ninh, năm nay doanh nghiệp đặt mục tiêu cung ứng hơn 1 tỷ con giống, tăng gần 60% so năm 2025. Bên cạnh thị trường truyền thống là Quảng Ninh, doanh nghiệp đang đẩy mạnh mở rộng sang
Hải Phòng, Hưng Yên, đồng thời kéo dài phạm vi cung ứng tới Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Chiến lược trọng tâm vẫn là phát triển mạnh dòng tôm giống thích nghi thời tiết lạnh, qua đó gia tăng thị phần khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Ngay sau khi hoàn tất lô tôm đầu xuân, đội ngũ kỹ thuật và công nhân đã rà soát hệ thống trại giống, chuẩn bị cho giai đoạn cao điểm quý II/2026. LÊ LOAN
SAO TA Chuẩn bị thả giống khu nuôi mới
Trong tháng 2/2026, Công ty CP Thực phẩm Sao Ta ghi nhận doanh số đạt 10,85 triệu USD, giảm 48% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng tiêu thụ tôm thành phẩm đạt 951 tấn, giảm 47% so cùng kỳ; và sản lượng tiêu thụ nông sản thành phẩm đạt 77 tấn, giảm 19% so cùng kỳ. Theo lý giải, kỳ nghỉ Tết Nguyên đán năm nay rơi trọn vào tháng 2 và kéo dài hơn so với thông lệ, khiến hoạt động sản xuất và tiêu thụ trong tháng bị ảnh hưởng đáng kể. Ngoài ra, doanh nghiệp cho biết đã hoàn tất việc thả tôm giống tại khu nuôi hiện hữu và đang chuẩn bị thả giống tại khu nuôi mới, tạo tiền đề cho hoạt động sản xuất trong các tháng tiếp theo. Trong năm 2025, Thực phẩm Sao Ta đặt kế hoạch kinh doanh với tổng doanh thu 6.540 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế dự kiến 420 tỷ đồng. Tuy nhiên, kết thúc năm 2025 với lãi trước thuế đạt 411,38 tỷ đồng, Thực phẩm Sao Ta mới hoàn thành 97,9% và không hoàn thành kế hoạch năm tài chính 2025. NGUYỄN HẰNG
SKRETTING VIETNAM
Tham gia đối thoại chuyển đổi số ngành thủy sản
Ngày 27/2, tại TP Cần Thơ, Skretting Vietnam tham gia Hội nghị Đối thoại Chính sách về chuyển đổi số trong phát triển thủy sản bền vững do Agriterra phối hợp với Liên minh Hợp tác xã TP Cần Thơ tổ chức. Tại Hội nghị, ông Duco Onnes - Tổng Giám đốc Skretting Vietnam - đã chia sẻ góc nhìn của doanh nghiệp về nhu cầu thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành tôm Việt Nam. Theo ông, ngành tôm hiện vẫn đối mặt với nhiều thách thức như sản xuất còn phân mảnh, chi phí cạnh tranh cao, dịch bệnh phức tạp và yêu cầu ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc từ các thị trường nhập khẩu. Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông cho rằng quá trình chuyển đổi số cần tập trung vào ba định hướng chính: tăng cường minh bạch và kết nối toàn bộ chuỗi giá trị; ứng dụng dữ liệu để nâng cao hiệu quả quản lý, sản xuất; đồng thời cải thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường và yêu cầu của thị trường xuất khẩu. DIỆU CHÂU
DE HEUS
Hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chăn nuôi
Ngày 10/3, tại Hà Nội, Tập đoàn De Heus phối hợp Tập đoàn
Hùng Nhơn tổ chức họp báo công bố Chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2036. Theo đó, hai bên ký kết hợp tác chiến lược trong các lĩnh vực chăn nuôi, sản xuất giống, chế biến thực phẩm và xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp khép kín tại
Việt Nam. Hai bên dự kiến mở rộng các dự án tại Tây Ninh và Gia Lai với vốn đầu tư gần 6.000 tỷ đồng, nâng tổng mức đầu tư giai đoạn 2026 - 2036 lên khoảng 18.300 tỷ đồng. Mục tiêu là xây dựng vùng
nguyên liệu sạch, an toàn dịch bệnh, đồng thời phát triển các nhà
máy thức ăn chăn nuôi đạt chuẩn quốc tế. Mô hình này giúp kiểm soát chất lượng xuyên suốt từ con giống, dinh dưỡng, chăn nuôi đến chế biến và đầu ra, giảm rủi ro dịch bệnh, tối ưu sử dụng tài nguyên và hạn chế tác động môi trường. Sau khi hoàn thiện toàn bộ hệ thống, chuỗi liên kết Hùng Nhơn - De Heus dự kiến đạt doanh thu gần 2 tỷ USD mỗi năm.
NAM CƯỜNG
TÂM VIỆT
Tham gia hội thảo phòng chống dịch bệnh tôm tại Vĩnh Long
Ngày 10 - 11/3/2026, Công ty TNHH Thủy sản Tâm Việt tham gia Hội thảo “Triển khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh trên tôm nước lợ mùa vụ năm 2026” do Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long tổ chức. Tham gia Hội thảo, Công ty đã giới thiệu nhiều giải pháp sinh học hướng tới mục tiêu phòng bệnh chủ động, quản lý môi trường và nâng cao sức khỏe tôm. Các giải pháp này được đội ngũ kỹ thuật của công ty nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng thực tế tại nhiều vùng nuôi trong thời gian qua, bước đầu nhận được phản hồi tích cực từ người nuôi tôm. Thông qua sự kiện, Tâm Việt mong muốn tiếp tục đồng hành cùng ngành thủy sản và người nuôi tôm trong xây dựng quy trình nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững, góp phần kiểm soát dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất. Với đội ngũ kỹ thuật giàu kinh nghiệm cùng các sản phẩm sinh học chuyên biệt, doanh nghiệp cam kết mang đến những giải pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế của các vùng nuôi.
THANH HIẾU
VMC VIỆT NAM
Tăng cường liên kết chuỗi giá trị trong chăn nuôi gia cầm
Ngày 6/3, Công ty CP Sản xuất & Thương mại VMC Việt Nam, Công ty CP Nông nghiệp Kỷ Nguyên Xanh và Công ty TNHH Olmix Asialand Việt Nam đã tiến hành ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MoU), hướng tới tăng cường liên kết chuỗi giá trị trong ngành chăn nuôi gia cầm. Theo nội dung Biên bản ghi nhớ, ba doanh nghiệp sẽ phối hợp cung ứng thuốc thú y, vaccine và phụ gia thức ăn chăn nuôi; đồng thời triển khai các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo chuyên môn và chuyển giao giải pháp cho hệ thống trang trại. Bên cạnh đó, các bên cũng sẽ tăng cường phối hợp truyền thông, tổ chức các chương trình đào tạo và cập nhật tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả sản xuất cho người chăn nuôi. Chương trình hợp tác tạo điều kiện để các trang trại và đơn vị sản xuất tiếp cận các sản phẩm, giải pháp và công nghệ mới, góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.
NGUYỄN LAM
NÔNG NGHIỆP QUYẾT THẮNG
Hiệu quả nhờ nuôi tôm sạch
Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Quyết Thắng (phường Long Hương, TP Hồ Chí Minh) là một trong những mô hình kinh tế tập thể nổi bật của địa phương. Hiện, HTX Nông nghiệp Quyết Thắng đang duy trì mô hình nuôi tôm siêu thâm canh theo công nghệ tuần hoàn nước khép kín trong nhà màng. Với diện tích nhỏ chỉ 2.000 m2 (4 ao nuôi), HTX vẫn thu được 20 tấn tôm ngay vụ đầu tiên, tương đương năng suất 100 tấn/ha/vụ, cao gấp 8 - 10 lần so phương pháp nuôi truyền thống. Ngoài khu nuôi, HTX bố trí thêm 7.000 m2 làm ao tuần hoàn và ao xử lý nước thải, đảm bảo toàn bộ quy trình khép kín, không gây ô nhiễm môi trường. Nhờ chủ động môi trường nuôi, mỗi năm, HTX Quyết Thắng có thể sản xuất 3 vụ, nâng tổng sản lượng lên mức cao ổn định. Bên cạnh đó, việc nuôi tôm sạch, không dùng kháng sinh và đạt chuẩn VietGAP, tôm của HTX luôn được các doanh nghiệp và đại lý ưu tiên thu mua. Sản phẩm có thịt chắc, đồng đều, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm và hướng đến xuất khẩu.
DUY AN
TRƯỜNG THỦY SẢN, ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Làm việc với đoàn Ngân hàng Thế giới
Ngày 28/2 - 2/3/2026, đoàn Ngân hàng Thế giới bao gồm các chuyên gia thủy sản đến từ nhiều quốc gia cùng với Giáo sư Patrick Sorgeloos (Đại học Gent, Vương quốc Bỉ) đã đến làm việc với Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ và tham quan các mô hình sản xuất trứng bào xác Artemia, nuôi tôm siêu thâm canh; sản xuất giống tôm biển. Tại đây, đại diện Trường Thủy sản đã giới thiệu các hoạt động đào tạo và những thành tựu nghiên cứu khoa học được ứng dụng trong sản xuất thủy sản ở ĐBSCL. Đoàn rất ấn tượng với các kết quả, thành tựu đạt được của Trường, đặc biệt là các mô hình nuôi thủy sản bền vững, thân thiện với môi trường như CTU-RAS, nuôi kết hợp, nuôi thức ăn tự nhiên theo mô hình kinh tế tuần hoàn,... Tại buổi làm việc, hai bên đã thảo luận các hướng hợp tác trong việc chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực về nuôi trồng thủy sản (ngắn hạn và dài hạn) cho các quốc gia ở châu Phi cũng như khu vực Nam Á trong thời gian sắp tới.
THÁI THUẬN
THỦY SẢN HOẰNG PHONG
Lan tỏa nuôi tôm công nghệ cao
Tại Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Thủy sản Hoằng Phong (xã Hoằng Châu, tỉnh Thanh Hóa), phong trào nuôi tôm công nghệ cao đang dần lan tỏa. Ông Lường Văn Trang, Giám đốc hợp tác xã, cho biết: “Chúng tôi hiện có 286 ha nuôi tôm nước lợ với 147 hộ tham gia, mỗi năm cho sản lượng khoảng 300 tấn. Những hộ nuôi theo công nghệ cao đều đạt hiệu quả kinh tế vượt trội, trung bình 700 - 800 triệu đồng/ năm, có hộ thu tiền tỷ”. Theo ông Trương Văn Miên, thành viên hợp tác xã, trước kia gia đình chỉ nuôi tôm trong ao đất quảng canh, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, dịch bệnh thường xuyên xảy ra, hiệu quả thấp. “Chuyển sang nuôi tôm công nghệ cao, tôi thấy khác hẳn. Quy trình khép kín giúp kiểm soát từ khâu chọn giống, xử lý môi trường nước đến quản lý dịch bệnh. Tôm phát triển khỏe mạnh, ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết thất thường”, ông Miên chia sẻ. Mô hình này cho phép nuôi tới 3 vụ/năm, mật độ cao tới 500 con/m2. Đặc biệt, vụ Đông tôm có giá bán cao, dao động 280.000 - 300.000 đồng/kg. HUYỀN THƯƠNG
THANH HÓA
Khai thác thế mạnh công nghệ trong nuôi tôm
Nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, giá trị kinh tế cao, đặc biệt với con tôm, tỉnh Thanh Hóa đang thúc đẩy chuyển dịch sang mô hình phát triển chiều sâu, lấy ứng dụng khoa học - kỹ thuật làm nền tảng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Đột phá bằng công nghệ
Thời gian qua, ngành nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa tiếp tục ghi nhận những chuyển biến tích cực về cả quy mô và chất lượng. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt trên 19.200 ha, với sản lượng ước đạt hơn 80.000 tấn/năm. Trong đó, các đối tượng nuôi chủ lực đóng góp mang lại giá trị kinh tế cao như tôm thẻ chân trắng. Nhiều hộ nuôi tôm đã đầu tư hệ thống quạt nước công suất lớn, máy cho ăn tự động, thiết bị quan trắc môi trường thông minh và áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Việc sử dụng chế phẩm sinh học ngay từ đầu vụ cũng được nhân rộng nhằm hạn chế hóa chất, kháng sinh, hướng tới sản xuất bền vững.
Gia đình anh Hồ Văn Dương ở tổ dân phố
Yên Châu, phường Ngọc Sơn là một trong những hộ đầu tiên đưa mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao có mái che về nhân rộng tại địa phương từ năm 2019. Từ 2 ha đầu tư ban đầu, đến nay diện tích nuôi của gia đình
đã mở rộng lên 6,5 ha. Để đạt được năng suất,
giá trị kinh tế vượt trội, công tác quản lý, giám sát luôn được đặt lên hàng đầu.
Nhờ thực hiện tốt công tác quản lý, mô hình của gia đình anh Dương còn được cấp mã số cơ sở nuôi trồng theo quy định của Luật Thủy sản. Điều này không chỉ giúp quản lý tốt dịch bệnh mà còn là “giấy thông hành” để sản phẩm của gia đình “tiến” vào các thị trường khó tính.
Xuất hiện các tỷ phú
Áp dụng công nghệ cao cũng đã giúp không ít nông dân tại Thanh Hóa trở thành tỷ phú và với ông Lê Văn Phương ở thôn Châu Triều, xã Hoằng Châu là một điển hình tiêu biểu.
trắng công nghệ cao. Tổng số vốn đầu tư lên tới khoảng 10 tỷ đồng, hệ thống ao nuôi được xây dựng bài bản gồm ao nổi lót bạt, ao lắng, ao xử lý nước riêng biệt; lắp đặt quạt nước, hệ thống sục khí tự động và thiết bị theo dõi các chỉ số môi trường như pH, ôxy hòa tan, nhiệt độ,… Ông Phương cho biết, quy trình nuôi được áp dụng theo hướng an toàn sinh học. Thay vì sử dụng kháng sinh, hóa chất, ông sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý nước, phân hủy chất hữu cơ, hạn chế ô nhiễm. Các chỉ tiêu môi trường được kiểm tra hằng ngày, kịp thời điều chỉnh khi có biến động. Nhờ đó, tỷ lệ sống của tôm đạt cao, thời gian nuôi rút ngắn, chi phí được kiểm soát tốt hơn. Trung bình mỗi năm, trang trại nuôi 3 vụ, sản lượng đạt từ 50 - 70 tấn tôm thương phẩm. Với giá bán dao động 200.000250.000 đồng/kg, doanh thu bình quân đạt khoảng 12 tỷ đồng/năm, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 5 tỷ đồng.
Ông Phương chia sẻ, 4 yếu tố then chốt quyết định trong việc thành bại với mô hình nuôi tôm công nghệ cao, đó là chọn con giống chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng; Cải tạo ao nuôi kỹ lưỡng, đảm bảo quy trình kỹ thuật; Quản lý chặt chẽ môi trường nước trong suốt quá trình nuôi; Liên kết hợp tác xã, doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra ổn định.
VÂN ANH
Theo tìm hiểu, năm 2019, sau nhiều lần tham gia các lớp tập huấn, đi tham quan, học hỏi mô hình nuôi tôm công nghệ cao trong và ngoài tỉnh, ông Phương nhận ra muốn nuôi bền vững phải kiểm soát được môi trường, con giống và quy trình kỹ thuật. Nghĩ là làm, ông bàn với gia đình chuyển đổi toàn bộ 5 ha ao đất sang nuôi tôm thẻ chân Bước vào vụ xuân hè 2026, người nuôi tôm tại Thanh Hóa đang khẩn trương hoàn tất cải tạo ao đầm, chuẩn bị con giống và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao. Sự chủ động ngay từ đầu vụ được kỳ vọng tạo đà cho mục tiêu tăng trưởng sản lượng và
Nuôi tôm công nghệ góp phần nâng cao năng suất
Ảnh: Báo Tuổi Trẻ
SINGAPORE
Tăng tốc nuôi thủy sản công nghệ cao
Singapore đang tăng tốc chiến lược phát triển nông nghiệp công nghệ cao, với trọng tâm nâng cấp nguồn giống thủy sản và đổi mới công nghệ. Gói bổ sung 70 triệu USD cho quỹ chuyển đổi nông nghiệp - thực phẩm được kỳ vọng sẽ giúp các trang trại tôm, cá nâng cao năng suất và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.
Đầu tư công nghệ và giống
chất lượng cao
Chính phủ Singapore vừa công bố một
loạt sáng kiến mới nhằm nâng cao năng
suất và củng cố an ninh thực phẩm trong
bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu ngày
càng nhiều biến động. Phát biểu tại Quốc
hội ngày 4/3, Bộ Phát triển Bền vững và Môi
trường cho biết các trang trại trong nước sẽ
được tăng cường hỗ trợ để ứng dụng công
nghệ, cải thiện hiệu quả sản xuất và tiếp
cận nguồn giống thủy sản chất lượng cao.
Trọng tâm của chương trình là khoản bổ sung 70 triệu USD cho Quỹ Chuyển đổi
Cụm Nông nghiệp - Thực phẩm (ACT Fund), dự kiến giải ngân trong 5 năm kể từ tháng 4/2026. Nguồn vốn này sẽ tiếp tục hỗ trợ các trang trại triển khai công nghệ mới, đồng thời mở rộng các dự án hợp tác trong toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp.
Theo Thứ trưởng Bộ Phát triển Bền vững và Môi trường Zaqy Mohamad, quỹ ACT sau khi được tăng vốn sẽ không chỉ tài trợ cho các dự án riêng lẻ của từng trang trại mà còn
đồng tài trợ cho các mô hình hợp tác giữa trang trại với doanh nghiệp công nghệ, đơn vị logistics và các đối tác trong chuỗi giá trị. Những sáng kiến này hướng tới việc phát triển các giải pháp chung cho toàn ngành, như hệ thống vận chuyển tích hợp giúp giảm chi phí logistics và đảm bảo độ tươi của sản phẩm. Song song với đầu tư công nghệ, Singapore cũng đẩy mạnh nâng cấp nguồn giống thủy sản. Chính phủ hỗ trợ các sáng kiến của doanh nghiệp nhằm tăng nguồn cung tôm thẻ chân trắng và cá mú giống. Các chương trình này sẽ kết hợp với gói hỗ trợ trại giống tích hợp, khuyến khích áp dụng thức ăn chuyên biệt và vaccine chất lượng cao nhằm tối ưu tốc độ tăng trưởng và tăng khả năng kháng bệnh cho vật nuôi.
Điều chỉnh chiến lược sản xuất nội địa
Theo Thứ trưởng Zaqy Mohamad, các diễn biến gần đây tại Trung Đông cũng như các xung đột thương mại quốc tế đã cho thấy
mức độ mong manh của hệ thống cung ứng thực phẩm toàn cầu, buộc Singapore phải chuẩn bị tốt hơn cho những kịch bản gián đoạn có thể xảy ra.
Một trong các mục tiêu mới là nâng tỷ lệ cung ứng nội địa lên khoảng 20% đối với nhóm thực phẩm giàu chất xơ. Ông Zaqy nhận định việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tối ưu hóa mô hình sản xuất được xem là yếu tố then chốt.
Ở giai đoạn tiếp theo của Quỹ ACT, Chính phủ sẽ hỗ trợ các dự án trình diễn công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Một số công nghệ đã chứng minh hiệu quả ở nước ngoài nhưng chưa chắc phù hợp với điều kiện nuôi biển nhiệt đới quy mô nhỏ của Singapore, do đó cần được thử nghiệm trong môi trường sản xuất thực tế trước khi triển khai rộng rãi. Trong số các công nghệ tiềm năng có thể được thử nghiệm có máy tiêm vaccine tự động cho cá.
Mô hình dự báo mới sẽ tích hợp dữ liệu thời tiết và các yếu tố môi trường để đưa ra cảnh báo sớm, giúp người nuôi chủ động ứng phó trước khi sự cố xảy ra. Đồng thời, hệ thống bảng điều khiển theo dõi rủi ro và công cụ giám sát nguồn cung thực phẩm cũng giúp Singapore phản ứng nhanh hơn trước các biến động gần đây, như dịch cúm gia cầm tại Brazil năm 2025.
Theo các nhà hoạch định chính sách, các trang trại trong nước, đặc biệt là những mô hình ứng dụng công nghệ cao, có thể trở thành nguồn cung thực phẩm tươi ổn định khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn kéo dài. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng và rủi ro địa chính trị ngày càng khó lường, mô hình sản xuất thông minh là chìa khóa xây dựng một ngành nông nghiệp bền vững hơn trong tương lai.
DŨNG NGUYÊN (Theo Fishfarmingexpert)
Giảm thiểu rủi ro từ bệnh đốm trắng
Kiểm soát bệnh đốm trắng cần được thực hiện thông qua các biện pháp kỹ thuật như quản lý chất lượng nước, duy trì môi trường ổn định và tăng cường sức đề kháng cho tôm. Đây là những yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro trong nuôi tôm.
Đặc điểm của bệnh đốm trắng
Bệnh đốm trắng do virus gây ra. Tôm nhiễm bệnh thường có biểu hiện bơi lờ đờ, giảm ăn hoặc bỏ ăn, vỏ xuất hiện các đốm trắng tròn nhỏ. Khi bệnh bùng phát, tôm có thể chết hàng loạt trong thời gian ngắn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi.
Virus gây bệnh có khả năng tồn tại trong môi trường nước, bùn đáy ao và trong các sinh vật trung gian như cua, còng, tôm tạp. Ngoài ra, các yếu tố như nhiệt độ thay đổi đột ngột, chất lượng nước kém, mật độ nuôi cao hoặc sức khỏe tôm suy giảm cũng có thể làm tăng nguy cơ bùng phát bệnh.
Trong thực tế sản xuất, bệnh đốm trắng thường xảy ra ở các ao nuôi có môi trường không ổn định hoặc quy trình quản lý chưa chặt chẽ. Vì vậy, thay vì chỉ tập trung xử lý khi bệnh xuất hiện, người nuôi cần chủ động áp dụng các biện pháp phòng ngừa ngay từ đầu vụ nuôi.
Kiểm tra con giống
Con giống là yếu tố nền tảng quyết định đến sự thành công của vụ nuôi tôm. Việc lựa chọn tôm giống khỏe mạnh, sạch bệnh không chỉ giúp tôm sinh trưởng tốt mà còn góp phần giảm thiểu nguy cơ bùng phát các bệnh nguy hiểm, trong đó có bệnh đốm trắng.
Người nuôi cần lựa chọn nguồn giống sạch bệnh. Nguồn giống phải không mang virus khi thả vào ao nuôi và cũng không phải là nguồn chứa virus. Để có con giống không nhiễm bệnh đốm trắng, người nuôi nên lựa chọn con giống từ các cơ sở sản xuất uy tín, có quy trình kiểm soát dịch bệnh chặt chẽ và nguồn gốc rõ ràng. Tôm giống cần được kiểm tra và chứng nhận không mang các mầm bệnh nguy hiểm trước khi xuất bán. Bên cạnh yếu tố nguồn gốc, người nuôi cũng cần quan sát các đặc điểm bên ngoài của tôm giống. Tôm khỏe mạnh thường có kích cỡ đồng đều, màu sắc sáng, ruột đầy thức ăn và phản xạ bơi lội nhanh nhẹn.
Khi kiểm tra trong bể hoặc khay, tôm giống khỏe sẽ bơi ngược dòng nước tốt và phản ứng nhanh khi bị tác động.
Ngoài ra, nên lựa chọn tôm giống có kích cỡ phù hợp với điều kiện nuôi và mật độ thả. Tôm giống đạt chất lượng thường có khả năng thích nghi tốt với môi trường ao nuôi, tỷ lệ sống cao và tốc độ tăng trưởng ổn định. Trước khi thả nuôi, cần tiến hành thuần hóa tôm giống để giúp tôm thích nghi dần với các điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ mặn và pH của ao nuôi.
Tuân thủ quy trình xử lý nước
Nên có ao lắng để xử lý nước trước khi đưa nước vào ao nuôi, nước cấp vào ao nuôi phải được lọc qua lưới dày để không cho cá tạp và những vật mang mầm bệnh vào ao. Tuân thủ đầy đủ thao tác khử trùng.
Quản lý môi trường ao nuôi Môi trường ao nuôi ổn định là yếu tố
quan trọng giúp hạn chế nguy cơ phát sinh bệnh đốm trắng. Việc kiểm soát các chỉ tiêu môi trường nước cần được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình nuôi.
Các yếu tố như nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn và hàm lượng ôxy hòa tan cần được duy trì trong ngưỡng thích hợp để đảm bảo điều kiện sống tốt cho tôm. Biến động lớn của các chỉ tiêu này có thể làm tôm bị stress, từ đó làm suy giảm hệ miễn dịch và tăng nguy cơ nhiễm bệnh.
Bên cạnh đó, chất lượng đáy ao cũng cần được chú ý. Bùn đáy tích tụ nhiều chất hữu cơ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Do đó, người nuôi nên thực hiện xi phông đáy định kỳ, kết hợp sử dụng các chế phẩm sinh học để phân hủy chất hữu cơ và cải thiện chất lượng môi trường.
Thực hiện biện pháp an toàn sinh học
Áp dụng các biện pháp an toàn sinh học giúp hạn chế sự xâm nhập và lây lan của virus gây bệnh đốm trắng vào ao nuôi. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.
Trước khi thả nuôi, ao cần được cải tạo kỹ lưỡng thông qua các bước như tháo cạn nước, loại bỏ bùn đáy, phơi đáy và xử lý ao bằng các loại hóa chất phù hợp. Quy trình
SÁCH KỸ THUẬT
này giúp tiêu diệt mầm bệnh còn tồn tại trong ao từ vụ nuôi trước.
Ngoài ra, cần hạn chế tối đa sự xâm nhập của các sinh vật mang mầm bệnh như cua, còng hoặc cá tạp vào ao nuôi. Hệ thống lưới lọc nước, rào chắn xung quanh ao và kiểm soát chặt chẽ các thiết bị, dụng cụ sử dụng trong khu vực nuôi là những biện pháp cần thiết.
Tăng cường sức đề kháng
cho tôm
Sức khỏe và khả năng miễn dịch của tôm có ảnh hưởng trực tiếp đến nguy cơ nhiễm bệnh đốm trắng. Khi tôm khỏe mạnh, khả năng chống chịu với các tác nhân gây bệnh sẽ cao hơn.
Chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng giúp tôm phát triển tốt và tăng cường sức đề kháng. Người nuôi nên lựa chọn thức ăn có chất lượng đảm bảo, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm. Đồng thời, cần quản lý lượng thức ăn hợp lý để tránh dư thừa gây ô nhiễm môi trường ao nuôi. Việc bổ sung các chất tăng cường miễn dịch như vitamin, khoáng chất hoặc các chế phẩm sinh học cũng có thể giúp cải thiện sức khỏe của tôm. Các sản phẩm này hỗ trợ quá trình tiêu hóa, tăng cường chức năng miễn dịch và giúp tôm thích nghi tốt hơn
Cách nuôi tôm càng xanh
Đốm trắng là một trong những dịch bệnh nguy hiểm trên tôm. Bệnh có thể xuất hiện ở nhiều hình thức nuôi khác nhau và khi bùng phát thường lan nhanh, gây thiệt hại nghiêm trọng.
với sự thay đổi của môi trường.
Giám sát và phát hiện sớm dấu hiệu bệnh
Theo dõi thường xuyên tình trạng sức khỏe của tôm là biện pháp quan trọng để phát hiện sớm nguy cơ bệnh đốm trắng. Người nuôi cần quan sát hoạt động, mức độ ăn và các biểu hiện bất thường của tôm trong quá trình nuôi.
Khi tôm có dấu hiệu giảm ăn, bơi yếu hoặc nổi đầu, cần kiểm tra ngay các chỉ tiêu môi trường và tình trạng sức khỏe của tôm. Việc phát hiện sớm sẽ giúp người nuôi có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế sự lây lan của bệnh trong ao nuôi.
Trong trường hợp nghi ngờ tôm nhiễm bệnh, cần tiến hành lấy mẫu để kiểm tra và xác định nguyên nhân. Đồng thời, cần hạn chế các hoạt động có thể làm lây lan mầm bệnh sang các ao khác trong khu vực nuôi.
THANH HIẾU
Crangon crangon
Cuốn sách “ Cách nuôi tôm càng xanh ” là tài liệu hữu ích dành cho người nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là những ai quan tâm đến mô hình nuôi Macrobrachium rosenbergiiloài tôm nước ngọt có giá trị kinh tế cao. Nội dung sách được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, bao quát từ khâu chọn giống, chuẩn bị ao nuôi, quản lý môi trường nước đến kỹ thuật chăm sóc và phòng trị bệnh. Không chỉ dừng lại ở lý thuyết, sách còn cung cấp nhiều kinh nghiệm thực tế, giúp người nuôi tối ưu năng suất và giảm thiểu rủi ro. Những hướng dẫn cụ thể về quy trình kỹ thuật giúp người đọc có thể áp dụng hiệu quả trong thực tế. Với cách trình bày khoa học, nội dung cập nhật và mang tính ứng dụng cao, đây là một tài liệu tham khảo đáng giá cho nông dân, kỹ thuật viên và sinh viên ngành thủy sản, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm càng xanh tại Việt Nam. Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành!
LÊ LOAN
Là một loài giáp xác nhỏ sống phổ biến ở các vùng ven biển châu Âu, đặc biệt tại biển Bắc và biển Baltic. Loài tôm này có kích thước khiêm tốn, thường dài từ 3 - 5 cm, với màu nâu xám đặc trưng giúp chúng ngụy trang hiệu quả trên nền cát hoặc bùn dưới đáy biển. Tôm nâu sinh sống ở độ sâu lên đến 50 m, thích nghi tốt với môi trường nước lợ, nơi có nhiều thức ăn như sinh vật phù du, giun nhỏ và mảnh vụn hữu cơ. Chúng hoạt động chủ yếu về đêm và có tập tính đào cát để ẩn nấp vào ban ngày. Về giá trị kinh tế, tôm nâu là đối tượng khai thác quan trọng trong ngành thủy sản châu Âu, thường được chế biến thành các món ăn truyền thống như tôm luộc hoặc dùng trong salad. Nhờ hương vị ngọt tự nhiên và thịt chắc, loài tôm này được đánh giá cao trên thị trường, dù sản lượng khai thác phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường và mùa vụ.
DUY AN
BÁCH KHOA THƯ
HỎI - ĐÁP
Hỏi: Khi phát hiện tôm bị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính
(AHPND) thì cần xử lý như thế nào?
(Hoàng Mạnh Tới, xã Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)
Trả lời
Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính còn được biết đến là Hội
chứng chết sớm, do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra.
Bệnh này có tốc độ lây lan nhanh, tỷ lệ chết có thể lên đến 90% sau 3 - 5 ngày phát hiện.
Nếu phát hiện Vibrio parahaemolyticus mang gen gây bệnh
AHPND nhưng tôm không chết cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, tăng cường sức đề kháng cho tôm, ngăn chặn sự phát tán tôm bệnh sang các ao nuôi khác; Điều chỉnh các yếu tố môi trường nuôi trong ngưỡng thích hợp, không để biến động mạnh gây ảnh hưởng đến sức khỏe, làm giảm sức đề kháng của tôm nuôi.
Nếu phát hiện Vibrio parahaemolyticus mang gen độc lực gây bệnh AHPND và tôm chết thì không được tự chữa trị, không xả nước thải, chất thải chưa qua xử lý ra môi trường; Tôm bệnh đạt kích cỡ thương phẩm: có thể sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hoặc các mục đích khác (trừ động vật thủy sản làm giống hoặc thức ăn tươi sống cho động vật thủy sản khác); Tôm bệnh không đạt kích cỡ thu hoạch: Không vứt tôm mắc
bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh ra môi trường,…
Chỉ được phép vận chuyển tôm ra ngoài vùng có dịch sau khi đã xử lý theo hướng dẫn của Cơ quan Thú y; Không vứt tôm mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh ra môi trường; Xử lý nước ao nuôi, nước thải, khử trùng các dụng cụ, ao bể, nền đáy, diệt giáp xác bằng các loại hóa chất được phép sử dụng; Căn cứ vào tình hình thực tế và theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành nuôi trồng thủy sản của địa phương để quyết định nuôi tiếp hay tạm dừng. Nếu nuôi tiếp, áp dụng Quy trình nuôi tôm nước lợ an toàn trong vùng dịch bệnh theo hướng dẫn của cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản.
Hỏi: Xin tư vấn các biện pháp giảm nhiệt độ ao nuôi tôm vào mùa nắng nóng?
(Nguyễn Văn Hải, xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa)
Trả lời:
Vào ngày nắng nóng để hạn chế nhiệt độ trong ao quá cao làm ảnh hưởng đến tôm người nuôi cần duy trì màu nước ở dạng màu trà và giữ độ trong không quá 35 cm. Ở nhiệt độ 26 - 320C, nên cho tôm ăn đúng khẩu phần phù hợp với quy trình, tránh cho ăn dư thừa; khi trời nắng nóng nhiệt độ tăng tôm sẽ giảm ăn, do vậy chỉ cho tôm ăn lượng thức ăn bằng 70 - 80% lượng thức ăn so với bình thường và tăng lượng thức ăn vào cữ ăn trời mát. Sử dụng màn lưới đen chống nắng căng phía trên mặt ao để hạn chế bức xạ của ánh sáng mặt trời, giảm tăng nhiệt nước
ao, tránh gây sốc cho tôm. Cần bổ sung nước mát (ở tầng đáy) của ao lắng vào ao nuôi để duy trì độ sâu và giảm độ mặn nước ao. Tăng cường sục khí trong ao để hàm lượng ôxy được cung cấp đủ ở mọi tầng nước. Hạn chế dùng chài, vó đánh bắt kiểm tra tôm vào ngày nắng nóng để hạn chế hiện tượng đục cơ trên tôm. Định kỳ xi phông nền đáy ao nhằm giảm lượng mùn bã hữu cơ trong ao, hạn chế sự phát sinh các khí độc ảnh hưởng đến tôm. Dùng chế phẩm sinh học EM gốc định kỳ xử lý môi trường nước ao nuôi để hạn chế chất hữu cơ và khí độc ở đáy ao. Đồng thời EM kết hợp với vitamin làm tăng vi sinh vật phù du trong nước làm tăng thức ăn cho tôm ức chế sự phát triển vi khuẩn có hại. Ngoài ra, việc chế biến và sử dụng EM tỏi, chuối bổ sung vào thức ăn cho tôm hàng ngày giúp tăng cường khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, kích thích tăng trưởng.
Hỏi: Mật độ nuôi ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe tôm?
(Trần Đình Tuấn, xã Bắc Trạch, tỉnh Quảng Trị)
Trả lời: Mật độ nuôi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và năng suất của tôm thẻ chân trắng. Nếu mật độ nuôi không hợp lý, tôm có thể bị suy giảm sức khỏe, tăng nguy cơ dịch bệnh và giảm năng suất Cạnh tranh thức ăn và ôxy: Khi tôm được nuôi ở mật độ cao, sự cạnh tranh về thức ăn và hàm lượng ôxy hòa tan trở nên khốc liệt hơn. Nếu không được cung cấp đủ thức ăn, tôm dễ bị còi cọc, chậm lớn, và nếu ôxy hòa tan trong nước giảm, tôm sẽ bị căng thẳng, nổi lên mặt nước và dễ mắc các bệnh liên quan đến hô hấp.
Tích tụ chất thải và ô nhiễm môi trường nước: Mật độ cao đồng nghĩa với lượng chất thải hữu cơ từ phân tôm và thức ăn dư thừa nhiều hơn, làm tăng nguy cơ ô nhiễm nước. Khi lượng chất hữu cơ phân hủy trong ao quá lớn, nồng độ khí độc sẽ tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ miễn dịch của tôm, khiến tôm dễ mắc bệnh gan tụy và bệnh đốm trắng.
Tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh: Trong điều kiện nuôi mật độ dày đặc, khi tôm bị bệnh, mầm bệnh có thể lây lan rất nhanh qua nước và tiếp xúc trực tiếp. Các bệnh phổ biến như hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND), bệnh đốm trắng (WSSV) hay bệnh đầu vàng (YHV) thường bùng phát mạnh hơn trong ao có
mật độ cao.
Giảm sức đề kháng của tôm: Khi sống trong môi trường có mật độ cao, tôm thường bị căng thẳng do không gian sống hạn chế và chất lượng nước kém. Tình trạng stress kéo dài sẽ làm giảm khả năng miễn dịch, khiến tôm dễ bị tổn thương và nhiễm bệnh hơn.