RENAISSANCE Art



Lịch sử và Nền tảng của Phòng Trưng Bày Nghệ Thuật Hiện Đại
Phòng Trưng Bày Nghệ Thuật Hiện Đại tại Palazzo Pitti chính thức được thành lập vào ngày 11 tháng 6 năm 1924 trong những căn phòng từng thuộc về các Đại Công Tước cuối cùng của dòng Lorraine. Tuy nhiên, ý tưởng thiết lập một không gian triển lãm dành cho nghệ thuật hiện đại ở Tuscany đã có từ ít nhất hai mươi năm trước, khi bộ sưu tập của Diego Martelli
nhân tố khởi đầu của Phòng Trưng Bày – đến thành phố Florence. Từ lâu, người bảo trợ đã có ý định tạo ra một bảo tàng chứng kiến các xu hướng thẩm mỹ tiên tiến nhất thời bấy giờ, từ
cuộc cách mạng Macchiaioli đến mối quan tâm tiên phong của chính Diego đối với nghệ thuật Pháp, với việc mua hai bức tranh của Pissarro mặc cho trường phái Ấn tượng gặp nhiều phản
đối từ giới phê bình lúc đó.
Ban đầu, bộ sưu tập được chọn trưng bày tại các không gian của Palazzo Vecchio, sau đó Hội Leonardo da Vinci đã đưa ra đề nghị thiết lập một phòng trưng bày thành phố bằng cách tổ
chức lại các bộ sưu tập nghệ thuật hiện đại giữa Học Viện Mỹ Thuật và Thành Phố Florence.
Ban đầu, ý tưởng là sử dụng Palazzina delle Cascine, nhưng sau khi ký kết Công Ước giữa
Thành Phố và Nhà Nước vào năm 1914, vài năm sau, việc lựa chọn là đặt các bộ sưu tập tại
tầng Piano nobile thứ hai của Cung Điện Pitti, thay vì các phòng của Opificio delle Pietre Dure.
Quyết định cuối cùng sử dụng các căn phòng này được đưa ra vào năm 1921, sau Sắc Lệnh
Hoàng Gia ngày 3 tháng 10 năm 1919 , khi Nhà Savoy quyết định chuyển giao tất cả tài sản cho
Nhà Nước. Biên bản ngày 8 tháng 1 năm 1924 đã chính thức hóa việc khởi động các công trình phục hồi tại các phòng của Cung Điện, được thực hiện nhờ sự đóng góp của Hội Những Người
Bạn của Phòng Trưng Bày Nghệ Thuật Hiện Đại.
Cuộc sống bên trong bảo tàng vẫn diễn ra ngay cả khi cửa đã đóng với khách tham quan. Ví dụ, để giữ gìn các tác phẩm, cần chăm sóc và kiểm tra thường xuyên: việc “phục chế” (sửa chữa tác phẩm) chỉ được thực hiện khi thực sự cần thiết. Hằng ngày, bảo tàng sẽ kiểm tra tình trạng của các tác phẩm, lau bụi hoặc làm sạch nhẹ nhàng.
Tất cả công việc này đều có thể diễn ra ngay trong các phòng trưng bày, phía sau cánh cửa đóng.
15201525
Phục hưng nghĩa là tái sinh nên trong thời này nó không ngừng một phát triển lớn mạnh. Không thời nào có sự phát triển đáng yêu như nghệ thuật hội họa, nó trưởng thành một cách nhanh chóng dưới thời Phục hưng. Ở đây ta có thể biết một số họa sĩ đại tài ở miền Florence như Leonardo da Vinci, Michelangelo, bậc thầy danh họa xứ Umbrian như Raphael oà họ không hề thua kém các họa sĩ thành Viên như: Titian, Tintoretto oà Veronese.
Do sự tình cờ, một chủ đề đã kết nối cuộc đời của bốn bậc thầy hội họa trong thời Phục hưng cực thịnh. Mỗi người đều bắt đầu sự nghiệp hội họa của mình bằng thời kỳ học việc với một danh sự đã có chỗ đứng vững
chắc trong làng hội họa, và mỗi người
đều trải qua một con đường như nhau
để được công nhận từ bước đầu rồi
dần dần vượt khỏi tầm ảnh hưởng của
thầy mình. Người đầu tiên trong số
đó là Leonardo da Vinci, ông lớn tuổi hơn hai họa sĩ xứ Florence, thụ nghiệp với danh sư Andrea del Verrocchio, một họa sĩ tài ba. Thành tựu vĩ đại của Verrocchio đã ảnh hưởng rất lớn đến các
họa phẩm đầu tay của Michelangelo.
Bức nổi tiếng nhất của Verrocchio là danh tác “Chúa rửa tội”, Thiên thần mộng mơ lãng mạn ở góc bên trái nghe nói là do Leonardo vẽ.
Mona Lisa là tên của Lisa del Giocondo, một thành viên của gia đình Gherardini tại Florence và Tuscany và là vợ của mộ thương nhân tơ lụa giàu có người Florence là Francesco del Giocondo. Bức tranh được đặt hàng cho ngôi nhà mới của họ và để kỷ niệm ngày sinh của đứa con trai thứ hai, Andrea.
Tuy nhiên các tác phẩm mà chúng ta cứu vãn được tới nay, đều là những danh tác vĩ đại thi vị nhất của loài người. Bức tranh người đẹp muôn thuở
Mona Lisa đã trở thành kiệt tác hội họa nổi tiếng nhất thế giới. Người ta chỉ có thể chiêm ngưỡng nó qua làn kính dày, giữa đám người xem. Nó luôn luôn thách thức mọi nỗ lực muốn tìm hiểu thấu đáo về nó. Nó là bức tranh độc nhất mà ta chỉ có thể chiêm ngưỡng trong tĩnh lặng mà thôi.
Cả ba bức danh họa của Leonardo đều vẽ chân dung ba người đẹp, đều có một vẻ “trầm mặc bí ẩn”. Đặc
tính này tỏ ra hấp dẫn nhất trong bức chân dung
Nàng Cecilia Gallarani; bí ẩn nhất nằm trong bức “Mona Lisa” và thách thức nhất trong “Gineora de Benci”. Ta không thể nào liếc sơ bức “Mona Lisa” một lần rồi thôi, bởi ta còn mong khám phá thêm về nó. Có lẽ ta sẽ có cái nhìn trung thực hơn về bức “Gineora de Benci” vì nó mang một vẻ đẹp ám ảnh, hầu như không bức chân dụng phụ nữ
nào trên đời
này có thể sánh kịp.
Leonardo da Vinci sinh ra tại Vinci, một thị trấn nhỏ ở Ý, vào năm 1452. Là con ngoài giá thú của một công chứng viên giàu có và một nông dân, Leonardo không được giáo dục chính thức như những đứa trẻ quý tộc cùng thời, nhưng ông bộc lộ trí tuệ và năng khiếu sáng tạo từ nhỏ. Cha ông đã nhận thấy tiềm năng này và gửi Leonardo đến học nghề ở xưởng của Andrea del Verrocchio, một nghệ nhân và họa sĩ nổi tiếng ở Florence, nơi Leonardo được đào tạo về hội họa, điêu khắc và kỹ thuật.
Về tính cách, Leonardo được miêu tả là người hài hước, hòa nhã và đầy lôi cuốn. Ông sống độc lập và tự do, thường chọn mặc quần áo sặc sỡ, phong cách khác biệt so với quy tắc thời đó. Leonardo có tinh thần tò mò hiếm có và không ngừng đặt câu hỏi về thế giới xung quanh. Ông thích tự quan sát thiên nhiên, nghiên cứu và ghi chép lại những phát hiện của mình. Người ta còn nói rằng Leonardo là người ăn chay – điều khá hiếm vào thời kỳ đó, vì ông yêu động vật và thường mua lại những con chim trong lồng
để thả chúng về tự do.
Leonardo nổi tiếng với xu hướng cầu toàn, một đặc điểm thể hiện trong từng tác phẩm của ông. Điều này đôi khi khiến ông mất nhiều năm để hoàn thành một bức tranh hoặc có lúc còn bỏ dở giữa chừng, vì ông luôn muốn đạt đến sự hoàn hảo. Ông không thích gò bó trong các quy tắc và trật tự, chọn cuộc sống phiêu lưu, nghiên cứu mọi lĩnh vực từ hội họa, điêu khắc, kiến trúc đến thiên văn học, cơ học và giải phẫu học.
Leonardo dành cả đời mình để khám phá, sáng tạo và thử nghiệm, không ngừng học hỏi về thiên nhiên và con người. Đến cuối đời, Leonardo sống tại Pháp dưới sự bảo trợ của vua Francois I, người coi ông là một người bạn thân cận và tôn kính ông như một nhà tri thức lớn.
Leonardo da Vinci qua đời vào năm 1519, để lại một di sản tri thức và nghệ thuật vô giá, không chỉ là minh chứng cho tài năng xuất chúng mà còn là biểu tượng cho khát vọng hiểu biết không ngừng.
Chúng ta có thể nói rằng, tác phẩm của Leonardo dễ nhận biết trong cách tạo hình mái tóc huyền hoặc của nhân vật hòa hợp nhờ khuyết các nét viền cứng. Hình thức đó hòa trộn khó phân biệt (theo từ ngữ Ý là “sfumato”), ánh màu tinh tế, tạo sự chuyển tiếp linh hoạt giữa các
gam màu và hình thể. Khuôn mặt thiên thần trong bức
“Thánh Nữ Đồng Trinh trên núi” nay bày ở phòng trưng bày quốc gia London, khuôn mặt thánh nữ trong phiên bản ở Paris của bức này, đều thể hiện nội tâm trong sáng, đầy nét nghệ thuật của ông, mà không đối thủ nào có thể sánh kịp!
Phẩm chất vô địch này khiến nhiều họa sĩ cảm nghĩ như thể ông thuộc một thế giới cách biệt hẳn với họ vậy.
Thực ra thì ông đã tự mình đi một hướng độc đáo rồi
ra hẳn nước ngoài theo lời mời của vua Francis I, sang sống bên Pháp. Những ai cố bắt
chước ông, như Bernardio Luini ở Milan (1485-1532) chẳng hạn, cũng
chỉ nắm bắt được bề ngoài như nụ cười nửa miệng hay sự huyền ảo giả tạo mà thôi.
Chiếc bóng của thiên tài vĩ đại là một điều phi thường. Dưới bóng , các họa sĩ thăng hoa nhiều đến độ chúng ta không còn khả năng phân biệt tác phẩm nào của họ với tác phẩm của Rembrandt, nhưng Leonardo lại một mình một bóng đơn độc dị thường, quá sâu sắc, quá đậm nét và hấp dẫn đến độ không ai có thể tiếp cận nổi.
Cả hai đều để lại ảnh hưởng to lớn, nhưng có thể nói Leonardo là biểu tượng của sự kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học, trong khi Rembrandt đại diện cho chiều sâu cảm xúc trong nghệ thuật thị giác. Vì vậy, vĩ đại của ai
lớn hơn có lẽ phụ thuộc vào lĩnh vực mà chúng ta trân trọng hơn: sự sáng tạo toàn diện của Leonardo hay kỹ thuật bậc thầy và cảm xúc mạnh mẽ của Rembrandt. Ông là người có những ý tưởng vượt trước thời đại của mình, đặc biệt là khái niệm về máy bay trực thăng, xe tăng, dù nhảy, sử dụng năng lượng Mặt Trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép, cùng nhiều sáng chế khác. Một vài thiết kế của ông
đã được thực hiện và khả thi trong lúc ông còn sống. Ứng dụng khoa học trong chế biến kim loại và trong kỹ thuật ở thời đại Phục Hưng còn đang ở trong thời kỳ trứng nước. Thêm vào đó, ông có đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng, quang học và nghiên cứu về thủy lực. Những sản phẩm lưu lại trong cuộc đời ông chỉ còn lại vài bức hoạ, cùng với một vài quyển sổ nháp tay (rơi vãi trong nhiều bộ sưu tập khác nhau các sáng tác của ông), bên trong chứa đựng các ký hoạ, minh hoạ về khoa học và bút ký.
Thánh gia
Là học trò của Ghirlandaio
Michelangelo đã vẽ bức tranh này cho một thương gia Agnolo Doni, để kỉ niệm hôn nhân và sự ra đời đứa con của họ vào năm 1504 đã diễn ra trong một thời kỳ rất quan trọng đối với nghệ thuật Florentine đầu thế kỷ 16.
15051506
Bức tượng David của Michelangelo
là một trong những tác phẩm nổi
bật nhất của thời Phục hưng.
Thời kỳ Phục hưng Ý không chỉ là
một giai đoạn lịch sử: đó là một
cuộc cách mạng tư tưởng và
nghệ thuật, nơi những ý tưởng mới bùng nổ như lửa cháy rừng. Triết lý “chủ nghĩa
nhân văn” nhấn mạnh sự
vĩ đại của con người và
những thành tựu đáng tự hào của họ. Các
nghệ sĩ không còn là
những người phục vụ
tôn giáo; họ trở thành
bậc thầy sáng tạo với kỹ
thuật phối cảnh tinh xảo, làm
sống động mọi hình ảnh.
Dưới sự bảo trợ của những gia
đình quyền lực như Medici, họ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật
có khả năng truyền tải cảm xúc
sâu sắc. Leonardo da Vinci với
bức Mona Lisa mở ra một thế giới huyền bí, trong khi Michelangelo với David khắc họa tinh
thần quyết tâm và sức mạnh con người. Những tác phẩm
ấy không chỉ phản ánh nghệ
thuật; chúng trở thành di sản sống động của nhân
loại, ghi dấu một thời kỳ mà sức sáng tạo của con người chạm đến những đỉnh cao chưa từng có.
1508 - 1512
Bức “Siêu nhân lgnudo”, trích từ bích hoa trên trần đền thánh Sistine
“The Ignudi” là cụm từ được đặt ra bởi Michelangelo để mô tả 20 ảnh khỏa thân nam mà anh ta kết hợp vào Sistine nhà nguyện bức bích họa trần. Những con số này thú vị ở chỗ chúng không phù hợp với chủ đề của các bức tranh, vì vậy ý nghĩa thực sự của chúng là một bí ẩn trong thế giới nghệ thuật.
Bức “Thánh John ra đời”, Domenico Ghirlandaio.
Bức tranh mở ra một khung
cảnh đầy kịch tính: Elisabeth, người mẹ cao tuổi vừa hạ sinh
một đứa trẻ, đang nằm nghỉ
ngơi, trong khi người hầu phục
vụ đồ uống và những vị khách
lạ
đến thăm. Nhưng những vị
khách ấy lại là thành viên gia
đình danh giá Tornabuoni từ
Florence thế kỷ 15, mang theo
rượu và trái cây - những món hoàn toàn xa lạ với Israel cổ đại.
1485 - 1490
Bức “Ngày phán xét cuối cùng” (The Last Judgment)
Mở ra trước mắt chúng ta cảnh tượng kinh hoàng khi Chúa Kitô xuất hiện, phán xét linh hồn con người: những người được chọn vươn tay hướng tới ánh sáng vĩnh cửu, trong khi những kẻ bị kết án chìm trong tuyệt vọng và đau đớn.
Đức Mẹ sầu bi
Một chủ đề nổi bật trong nghệ thuật Kitô giáo, mô tả hình ảnh
Đức Mẹ Maria nâng đỡ thân xác của Chúa Giêsu đã chết. Trong một số tác phẩm, ta có thể thấy thêm các nhân vật như Thánh Gioan Tông Đồ, Maria Mađalena và đôi khi là những nhân vật khác ở hai bên
Đức Mẹ, nhưng phần lớn các tác phẩm chỉ tập trung vào hình ảnh của Mẹ và Con.
Tại sao bức tranh Truyền Sống lại nổi tiếng như vậy?
Ban đầu, con người không giống như bây giờ: sự sa ngã đã làm thay đổi bản chất đạo đức và tinh thần của họ. Kinh Thánh chia con người thành năm trạng thái đạo đức: trạng thái khi được sáng tạo, sau khi sa ngã, khi được cứu chuộc, sau khi chết và trước khi phục sinh, và trạng thái vĩnh cửu sau phục sinh.
Khi cố gắng giải thích bản chất con người ngoài những gì Chúa đã mặc khải, người ta có thể rơi vào quan điểm nguy hiểm về nhân học và tâm lý. Một
số người muốn che giấu tội lỗi của con người bằng cách định nghĩa lại bản chất của họ, trong khi một số khác làm giảm nhẹ thực tế để tránh sự cần thiết của sự hiện thân của Chúa Giêsu.
Nhiều người ngày nay chấp nhận chủ nghĩa nhân văn hiện đại, coi con người chỉ là sinh vật tiến hóa
cao mà không có trách nhiệm đạo đức tuyệt đối.
Quan điểm này thường đổ lỗi cho cách nhìn của
Kinh Thánh về con người trong các vấn đề xã hội và cố gắng tách con người khỏi trách nhiệm về hành vi và suy nghĩ của mình.
Bức The Creation of Man (Sự Sáng Tạo của Con Người) của Michelangelo nổi tiếng vì cách ông mô tả khoảnh khắc Chúa truyền sự sống cho Adam. Hình ảnh hai bàn tay gần chạm nhau của Chúa và Adam gợi lên sự sống động và sức mạnh của mối liên kết thiêng liêng giữa Chúa và loài người. Michelangelo còn thể hiện Adam với cơ thể khỏe khoắn, thể hiện vẻ đẹp và giá trị của con người trong nghệ thuật
Phục Hưng.
Bức tranh mang thông điệp nhân văn sâu sắc và tinh tế, vừa tôn vinh sự sáng tạo vừa phản ánh niềm tin rằng con người mang hình ảnh của Chúa. Đây là lý do tác phẩm này vẫn thu hút và truyền cảm hứng cho người xem qua nhiều thế kỷ.
Trong các tác phẩm của Raphael, ta cảm nhận
được hơi hướng của Perugino như trong bức
“Thánh George giết rồng”, trong đó hình ảnh công chúa cầu nguyện mang phong thái sáng
tác của Perugino. Chàng hiệp sĩ tăng tốc độ, phóng ngọn thương giết rồng. Raphael đã ở lại
Florence suốt bốn năm vì mục đích cao cả.
Lúc đó Leonardo và Michelangelo đều đang hoạt động nghệ thuật ở đó. Kết quả Raphael đã tiếp nhận tinh hoa Phục hưng và kỹ thuật sáng tác mới, đặc biệt là nhờ từ Leonardo, nên các họa phẩm của ông có một sức sống mới. Chúng ta đã thấy những gì ông học được từ Leonardo như trong bức “Tiểu họa Đức Mẹ Cooper” tranh vẽ mềm mại, các đường viền ở đó cân đối đến mức hoàn hảo. Khuôn mặt bà mẹ như mỉm cười, như cầu nguyện trong khi ôm
Chúa Con. Họ nhìn chúng ta với vẻ mơ màng vì sự ngọt ngào, bao hàm sự hướng nội mà ta thường thấy ở tranh của Leonardo hơn. Phía sau nhân vật này là phong cảnh của nông thôn, rồi nổi bật lên hình ảnh một nhà thờ nằm cheo leo trên đỉnh đồi. Về sau, ông quay về với đề tài Thánh Nữ và Chúa Con nhiều lần, và mỗi lần lại có một bố cục thanh lịch khác nhau. Bức “Đức Mẹ Alba”, trái lại có hơi hướng hùng tính của Michelangelo, tuy vẫn dịu dàng như phong cách của Raphael. Cảm xúc được nâng
tự họa thời trai trẻ” của họa sĩ thì các sử gia thích thú nghĩ rằng chàng thanh niên sáng sủa này chính là Raphael. Trong thực tế người ta vẫn truyền rằng ông đẹp trai, rất trầm tư và dịu dàng. Và người ta đã đồng ý đây chính là
Bindo thời trẻ, và bởi lúc đó ông ta mới 22 tuổi (trong khi Raphael đã 33), Bindo không phải là một thanh niên “tưởng tượng” mà chính là một chàng trai có thực. Raphael là một trong số các họa sĩ vẽ chân dung có thần nhất. Nhờ vậy ông nổi danh là họa sĩ chân dung tuyệt đỉnh. Bindo Altoviti cũng đẹp trai, giàu có và khá giống Raphael. So hai người, ta có cảm giác họ có địa vị tương đương, vì diện mạo cao quý của họ lộ ra trước mắt chúng ta một cách rõ ràng. Nửa khuôn mặt người mẫu chìm trong bóng tối. Đôi môi chàng
đầy đặn, cân đối nhờ đôi mắt
lên cao ở nét mặt trông chờ của Mẹ Maria. Khung cảnh chạm vào nếp áo phía trên khuỷu tay của Mẹ. Bà nghiêng sang trái và ý nghĩa đã hoàn toàn bộc lộ: tình yêu không bao giờ đơn phương, nó có cho đi và nhận lại. Cuộc đời Raphael rất ngắn ngủi, nhưng lúc sinh thời ông là một trong những thiên tài không ngừng phát huy năng lực siêu phàm. Từ khi Vasari mô tả bức “Bindo Altovity” như là “Chân dung
sâu kiến nghị, hơi có vẻ ngạo nghễ. Chiếc áo mượt mà bị che khuất một nửa, với chiếc mũ bê-rê bình dị, cùng chiếc áo chẽn quí giá mà giản dị. Chàng giơ một tay lên ngực trầm tĩnh, có thể là khoe chiếc nhẫn, cũng có thể để thể hiện tâm lý ổn định.Bức tranh này lại cho ta thấy hai người nhập một: họa sĩ và Bindo “khi còn trẻ”. Ngày nay người ta không còn ưa thích Raphael nữa, vì tranh của ông quá hoàn hảo, không có gì sai sót so với thời đại của chúng ta. Tuy nhiên, hình tượng tuyệt vời của con người trong tranh: các tuyệt tác của ông ở Vatican tỏ ra không kém cạnh khi so với bức bích họa trong nhà nguyện Sistine. Ví như bức “Trường học Athens” đã làm cho các tượng đài đồ sộ của các nhà hiền triết vĩ đại xa xưa, trở nên bất tử và bức này không có đối thủ xét theo vẻ đẹp cổ điển của nó. Ảnh hưởng vĩ đại của Raphael lên các thế hệ họa sĩ kế tục.
Thường gọi là Raphael là họa sĩ và kiến trúc sư nổi tiếng người Ý. Cùng với Michelangelo và Leonardo da Vinci, ông hình thành bộ ba bậc thầy vĩ đại.
Raphael là một họa sĩ rất năng suất, ông có một xưởng vẽ rất lớn, và bất chấp cái chết khá sớm của ông ở tuổi 37, đã để lại một khối lượng lớn các tác phẩm. Nhiều tác phẩm của ông được tìm thấy trong tòa thánh Vatican, nơi những bức bích họa trong Dãy phòng Raffaello ở ngay trung tâm, và đây cũng là các tác phẩm lớn nhất trong sự nghiệp của ông.
Bữa ăn tối cuối cùng ( Last Supper ), Tintoretto vẽ .
Một bức tranh sơn dầu trên vải được thực hiện vào năm 1592 –1594, nó được đặt trong Basilica di San Giorgio Maggiore trong Venice, Nước Ý.
Trong khi Leonardo tập trung vào cảm xúc của các tông đồ và sự tiết lộ về sự phản bội của Giu-đa, Tintoretto lại chọn một cách tiếp cận mới. Bức tranh được bao phủ bởi ánh sáng huyền ảo, và các thiên thần nhỏ bay lượn xung quanh bàn tiệc như thể, Tintoretto thêm vào những nhân vật phụ như người phục vụ đang đi lại quanh bàn. Điều này tạo cảm giác sống động, như thể đây là một bữa ăn bình thường trong quán trọ. Nhìn vào tranh, người xem có cảm giác như đang tham dự cùng Chúa và các tông đồ trong khung cảnh ấy. Đây không chỉ là một bữa ăn cuối, mà còn là một khoảnh khắc kỳ diệu và tràn đầy ý nghĩa về tình yêu thương và sự kết nối giữa Chúa và con người.
Thánh Paul cải đạo ( The Conversion of Saint Paul ), Tintoretto vẽ.
Trước khi biết đến thánh Paul, Saul là một kẻ ngược đãi và đang làm hại những người theo đạo. Sau khi ông và quân của mình tiến vào thành, ông nhìn thấy một tia sáng bao quanh mình và ông đã nghe thấy giọng nói:
“Saul, Saul, tại sao ngươi lại làm vậy với ta? ”.
Chúa ở bờ biển Galilee ( Christ at the Sea of Galilee ), Tinntoretto vẽ.
Mô tả một khoảnh khắc đầy cảm xúc khi Chúa
Giêsu giơ tay về phía các tông đồ trên chiếc thuyền, giữa cơn sóng dữ dội trên biển. Đây là ví dụ tiêu biểu của phong cách kiểu cách châu Âu, nổi bật với việc phóng đại tỷ lệ và tạo nên sự căng thẳng trong bố cục.
1575 - 1580
Tìm ra Moses (The Finding of Moses ), Paolo Veronese vẽ.
Câu chuyện kể về một cậu bé sơ sinh bị bỏ lại trong một chiếc giỏ trên sông Nile, được con gái của Pharaoh tìm thấy và được bà nuôi dưỡng như con trai ruột của mình, Moses. Cây cầu và thành phố gợi nhớ đến Verona. Bức tranh nhỏ này, có lẽ là từ bộ sưu tập của Charles I của Anh. 1545
Mùa hè ( Summer ) , Tintoretto vẽ.
Mùa hè là một trong ba bức tranh nổi tiếng trong một chu kỳ của Jacopo Tintoretto mô
tả sự nhân cách hóa của bốn mùa. Mùa hè
được thể hiện là Ceres, nữ thần nông nghiệp, với thuộc tính của bà, thân cây lúa mì. Trong hai Mùa còn lại, Mùa xuân là Flora, đượctrang trí bằng hoa, trong khi Mùa thu là một vị thần trẻ trung, có lẽ là Vertumnus, nằm giữa những cành cây hoặc dây leo với một quả bí hoặc quả bầu lớn.
1555 1560
Thần Vệ nữ và Adonis ( Venus and Adonis ), Titian vẽ.
Adonis là một thanh niên điển trai, một đứa trẻ mồ côi hoàng gia, dành phần lớn thời gian đời mình để săn bắn. Venus yêu chàng sau khi một trong những mũi tên của Cupid bắn nhầm vào nàng. Họ cùng nhau đi săn, trong những lúc ấy, Venus có nhiệm vụ cảnh báo người yêu mình về những con vật nguy hiểm. Bức tranh cho thấy chàng Adonis trẻ tuổi đang cố thoát ra khỏi sự đeo bám của Venus Một ngày nọ, Adonis đi săn một mình, không có Venus đi cùng và thế là chàng bị một con lợn rừng làm bị thương. Venus lúc ấy đang chu du trên bầu trời trong cỗ xe của mình. Nàng nghe thấy tiếng khóc của chàng nhưng không tài nào cứu được.