Hình thái làng Chăm ở Ninh Thuận

Page 1

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI LÀNG CHĂM Ở NINH THUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023
Mục lục 1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI NGHIÊN CỨU....................................4 1.1. Khái niệm Làng Chăm.......................................................................................................4 1.2. Hiện trạng định cư..............................................................................................................6 1.3. Phạm vi và đối tượng bài nghiên cứu..................................................................................7 1.3.1. Phạm vi không gian....................................................................................................7 1.3.2. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................8 2. CHƯƠNG 2: MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU......................................................9 2.1. Hính thái cấu trúc giao thông làng Chăm 9 2.2. Hình thái kiến trúc 13 2.3. Kinh tế địa phương 14 2.3.1. Hiện trạng làng nghề hiện nay...................................................................................14 2.3.2. Xác định giá trị cần bảo tồn......................................................................................15 3. CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN ...............................................................................16 3.1 Vấn đề của hình thái Làng Chăm trong bối cảnh đô thị hoá 16 3.2 Một số đề xuất của tác giả áp dụng vào phạm vi chuyên ngành 17

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm Làng Chăm

. Làng Chăm ( Palei)

- Làng Chăm hay còn được gọi là Palei, là khu vực định cư sinh sống với phần lớn là cộng đồng người Chăm với dân số mỗi làn từ vài trăm đến vài ngàn. Những ngồi làng thường nằm ở nông thôn, song cũng có những ngôi làng ở thành thị. Hiện nay trên toàn tỉnh Ninh Thuận có khoảng 22 làng Chăm phân bố rải rác, phân bố ở 12 xã và 6 huyện thị: Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Sơn, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Phước, Thuận Nam.

Bảng 1. Danh sách các làng Chăm ( Palei) ở Ninh Thuận

STT Tên làng Chăm Tên tiếng Chăm Vị trí

1 Làng Bình Nghĩa Palei Bhar RiYa Xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc

2 Làng An Nhơn Palei Pamblap A Lhak Xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải

3 Làng Phước Nhơn Palei Pamblamp Biraw Xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải

4 Làng Thành Ý Palei TaBhơng Xã Thành Hải, Tp Phan Rang- Tháp Chàm

5 Làng Lương Tri Palei Cang Xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn

6 Làng Phú Nhuận Palei Bhauh Thơng Huyện Ninh Phước

7 Làng Phước Đồng Palei Blang KaCak Huyện Ninh Phước

8 Làng Hiếu Lễ Palei Cauk Xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước

9 Làng Chất Thường Palei Bhauh DàNà Xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước

10 Làng Hoài Trung Palei Bhauh BìNì Xã Phước Thái, huyện Ninh Phước

11 Làng Như Bình Palei Jà Xã Phước Thái, huyện Ninh Phước

12 Làng Hữu Đức Palei Hamutaran Xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước

13 Làng Hậu Sanh Palei Thun Xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước

14 Làng Vu Bổn Palei PaBhar Huyện Ninh Phước

15 Làng Hiếu Thiện Palei PaBlao Xã Phước Nam, huyện Ninh Phước

16 Làng Văn Lâm Palei Ram

17

18

Làng Phước Lập Palei la Li U

Làng Chung Mỹ Palei Bhơng Con

19 Làng Mỹ Nghiệp Palei CaKlaing

20 Làng Bàu Trúc Palei Hamu Craok

21 Làng Thành Tín Palei Cwak Pa Tih

22 Làng Tuấn Tú Palei Pa Tuh

Xã Phước Nam, huyện Ninh Phước

Xã Phước Nam, huyện Ninh Phước

Thị trấn Phước Dân, huyện Ninh

Phước

Thị trấn Phước Dân, huyện Ninh

Phước

Xã Phước Dân, Tp Phan Rang- Tháp Chàm

Xã Phước Hải, huyện Ninh Phước

XãAnHải, TpPhanRang-ThápChàm

Ví trí phân bố các Làng Chăm ( 2023) Ví trí phân bố các Làng Chăm ( 1965)

1.2. Hiện trạng định cư

Sơ đồ định cư các làng Chăm

- Các làng Chăm sinh sống thành các cụm dân cư phân bố rải rác (các túi đô thị trong 1 vùng lãnh thổ), tận dụng các điều kiện tự nhiên sẵn có vào lao động sản xuất.

- Xây dựng tháp Chăm (Công trình tôn giáo) ở vị trí đồi rừng, địa thế cao với quan niệm phong thuỷ đây là vị trí thần linh.

Mối liên hệ của hệ thống thuỷ văn và làng Chăm khu vực

- Lịch sử thuỷ văn: Ngày xưa, dưới thời vua Po Kong Girai (Shinhavarmen II từ khoảng năm 1151 – 1205), khi tiến hành xây dựng đập Nha Trinh, công trình thuỷ lợi đã dẫn đến một thời kì phát triển rực rỡ của cộng đồng làng Chăm bấy giờ. Đập Nha Trinh là một đập thủy lợi nằm trên sông Cái Phan Rang tại tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam. Qua hơn 800 năm tồn tại, ngày nay, đập nước vẫn giữ vai trò điều tiết thủy lợi, vừa là khu du lịch sinh thái độc

đáo với nhiều cảnh đẹp, hấp dẫn du khách của tỉnh Ninh Thuận. Nền kinh tế nông nghiệp là nền kinh tế chính của đại đa số cộng đồng ở Ninh Thuận Hệ thống thuỷ lợi đã hiệu quả mang lại “dẫn thuỷ nhập điền “mang đến nguồn sống cho vùng đất khô cằn Ninh Thuận phát triển. Các làng phân bố định cư bám theo dòng nước chảy, khai hoang mở rộng bản làng, ruộng đất.

- Hầu hết các làng Chăm ở Ninh Thuận đều tọa trên mặt bằng cao ráo, bằng phẳng, bao bọc xung quanh là những cánh đồng, sông, hào. Với cách bố trí này tạo một lợi thế có thể phòng vệ với thú dữ (ngày xưa), tránh ngập lụt, đón gió tốt hơn ở những vùng đất thấp.

1.3. Phạm vi và đối tượng bài nghiên cứu

1.3.1.Phạm vi không gian

. Không gian nghiên cứu

- Phạm vi xung quanh tháp Pô Kloong Garai trong bán kính 10km

Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.Đối tượng nghiên cứu

- Các cộng đồng dân cư Chăm pa trong phạm vi nghiên cứu

- Hiện trạng có 15 làng Chăm hiện hữu,

Phân bố làng Chăm

2. CHƯƠNG 2: MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

2.1. Hính thái cấu trúc giao thông làng Chăm

. Một số cấu trúc Làng minh hoạ

Làng Bàu Trúc ( Ảnh vệ tinh) Làng Bàu Trúc ( Cấu trúc giao thông) Làng Thành Ý ( Ảnh vệ tinh) Làng Thành Ý ( Cấu trúc giao thông) Làng Phước Nhơn ( Ảnh vệ tinh) Làng Phước Nhơn ( Cấu trúc giao thông) Làng An Nhơn ( Ảnh vệ tinh) Làng An Nhơn ( Cấu trúc giao thông)

Làng Vụ Bổn ( Ảnh vệ tinh)

Làng Vụ Bổn ( Cấu trúc giao thông)

Nhận xét:.

- Hình thái làng theo trục Bắc Nam. Đồng bào Chăm còn quan niệm rằng, hướng Bắc là hướng của ma quỷ, hướng Đông là hướng của thần thánh và hướng Nam là hướng đi của trần gian. Cho nên Palei thường bố trí cổng chính về phía Nam, cổng phụ về phía Bắc.

- Đường xá trong palei Chăm khá thoáng đãng. Nhà cửa được bố trí theo liên gia trong dòng họ (gơp); dòng họ này lại chia ra thành chi họ (ciet prauk). Các liên gia được bố trí theo từng dãy nằm song song cách nhau bằng lối rộng và thẳng đủ cho xe bò có thể tránh nhau. Lối đi xuyên suốt từ đầu đến cuối làng dễ dàng cho việc vận chuyển sản phẩm nông nghiệp ( lúa) đến từng hộ gia đình để phơi nắng, làm khô và cất giữ.

2002 2012 2022 Làng Bàu Trúc từ 2002 đến 2022 (Ảnh vệ tinh)

Nhận xét:.

- Diện tích các làng Chăm không mở rộng đáng kể trong phạm vi 20 năm khảo sát ( từ 2002 đến 2022), mà chỉ dày đặc thêm. Nguyên nhân chủ yếu về diện tích làng ban đầu được xây dựng ở vị trí cao nhất định, cùng với truyền thống văn hoá đại gia đình sống quây quần bên nhau.

2002 2012 2022 Làng Thành Ý từ 2002 đến 2022 ( Ảnh vệ tinh) 2002 2012 2022 Làng Phước Nhơn từ 2002 đến 2022 ( Ảnh vệ tinh) 2002 2012 2022 Làng An Nhơn từ 2002 đến 2022 ( Ảnh vệ tinh) 2002 2012 2022 Làng Vụ Bổn từ 2002 đến 2022 (Ảnh vệ tinh)

- Hình thái làng ban đầu đồng đều giữa các căn hộ, không có sự đa dạng trong hình thái cấu trúc nên đô thị ( các công trình lớn như trường học, bệnh viện, …). Các cấu trúc đô thị lớn mới chỉ xuất hiện gần đây.

2.2. Hình thái kiến trúc

. Một số đặc điểm chung

Với đặc điểm khí hậu khắc nghiệt, nên Ông bà Chăm xưa đã có cách thích ứng, hòa hợp với điều kiện khắc nghiệt.Trong đó phải kể đến và quan trọng nhất đó là " Khuôn viên ở " của người Chăm. Với một bố cục không gian theo " Phong Thủy Chăm " kết hợp giải pháp kiến trúc tối ưu với đặc điểm khí hậu địa phương.

Nhà người Chăm luôn được bao bọc bởi hàng rào, xưa là cây củi hay tre, nay bằng tường thành. Cổng vào nhà người Chăm cũng là hướng Nam. Đi theo lối chính rẽ vào chẹt, nhưng khách chưa thấy cổng ngay mà người Chăm còn mời khách ngoặt thêm 3 – 4 bước nữa mới tới cổng để bước vào nhà. Điểm đặc biệt là đầu rào giữa nhà này với nhà khác không bao giờ thẳng hàng với nhau mà phải chếch khoảng một bước chân.

Khuôn viên nhà Chăm có thể có một hay vài gia đình chung sống. Trong khuôn viên ấy có nhà 5 căn, tùy công dụng của nó mà được bố trí khác nhau. Sang yơ là ngôi nhà được xây dựng đầu tiên, hướng Đông Tây, vừa dùng để ở, vừa dùng cho phong tục tập quán mang tính gia đình. Sang mưyuw dựng song song với sang yơ, cửa lớn mở ra hướng Nam, thông với sang yơ. Sang twai hay sang halơm dùng để tiếp khách và dành cho khách lưu trú. Sang gan (nhà ngang), cửa mở hướng Đông nối với đầu hồi sang yơ. Sang ging (nhà bếp) nằm biệt lập và cách quãng hẳn các nhà kia, có khi nằm khuất sau sang gan.

Ngoài ra, người Chăm còn dựng thêm một gian trống và thoáng ở chỗ thuận tiện trong khuôn viên nhà, để cối xay lúa bên dưới, phía trên là giàn để cất nông cụ và các dụng cụ khác.

Mặt bằng điển hình khuôn viên nhà Chăm

. Vật liệu

Gỗ, tre, tranh, ngói gạch, đá, đất sét trộn rơm. Là những vật liệu truyền thống có sẵn tại địa phương, dễ tìm và thân thiện với môi trường.

Ngày nay với các vấn đề về kinh tế, tiện nghi và khan hiếm nguồn vật liệu tự nhiên mà cá nhà ở người Chăm mới đã thay thế bằng các vật liệu gạch, xi măng, nhưng vẫn giữ được kết cấu và bố trí trục, không gian theo nhà truyền thống.

2.3. Kinh tế địa phương

“Làng nghề truyền thống” là: Một địa phương, một khu vực lãnh thổ mà tại đó đa số người dân kiếm sống bằng một ngành nghề đặc trưng được truyền từ đời này sang đời khác mang bản sắc văn hóa, dân tộc được nhiều người thừa nhận.

Ngoài kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận cũng nổi tiếng với các làng nghề thủ công với các nghệ nhân dày dặn kinh nghiệm. Nổi tiếng nhất với 2 làng nghề chính là gốm và dệt vải.

2.3.1.Hiện trạng làng nghề hiện nay

Các làng nghề của người Chăm nơi đây đang dần có dấu hiệu mai một, thậm chí là biến mất hẳn trong tương lai nếu không có kế hoạch bảo tồn, giữ gìn và tôn tạo. Hiện nay một số làng nghề trong địa bàn tỉnh Ninh Thuận không thể tự duy trì nền kinh tế tự lập mà cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước để duy trì một các tạm thời, ví như cây đã mất rể, mất đi động lực tự phát triển.

Nguyên nhân là vì thu nhập của các nghề thủ công không cao do còn nhiều khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Từ đó, lớp người trẻ không “mặn mà” lắm với những nghề thủ công này nên họ thường sẽ học nghề, đi làm thuê ở trung tâm thành phố hoặc những nơi khác với mong muốn có thu nhập ổn định để duy trì cuộc sống. Cũng chính từ đó mà các làng nghề truyền thống dần thiếu đi người tiếp nối.

Ngoài ra, sự cạnh tranh của các sản phẩm thủ công trên thị trường khá “yếu thế” khi nó thiếu mẫu mã đa dạng để đáp ứng được nhiều nhu cầu của khách hàng, cũng chính vì là sản phẩm thủ công nên năng suất thấp, phụ thuộc nhiều yếu tố như thời tiết, môi trường, …nên khó đáp ứng được thị trường lớn hơn.

2.3.2.Xác định giá trị cần bảo tồn

Giá trị đặc biệt nhất của các làng nghề đó chính là tính thủ công, duy nhất và có thể dễ dàng thêm thắt để phù hợp với thị hiếu khách hàng.

Muốn bảo tồn, gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống thì cần giải quyết được vấn đề thị trường đầu ra cho sản phẩm, nguyên vật liệu và nghệ nhân. Bảo tồn có tính kế thừa, kết hợp với các yếu tố mới, nhu cầu thời đại để kiến tạo ra sản phẩm mới phù hợp. Làng nghề sẽ không bị mất đi. Nâng tầm giá trị sản phẩm, một số ví dụ:

- Lồng bàn mấy tre đan giá 30 triệu đồng.

- Sản phẩm thủ công mỹ nghệ đan tre Làng Phú Vinh, Hà Nội

- Sản phẩm được đặt riêng và thời gian hoàn thành lên đến 3 tháng

- Hộp đựng giấy kết hợp vật liệu truyền thống sơn mài của thương hiệu Hanoia

- Hanoia đã đưa nghệ thuật sơn mài áp dụng lên các đồ vật hiện nay như đồ gia đình, nội thất, trang sức,.. đưa sơn mài vươn tầm quốc tế

- Tác phẩm làng gốm Bàu Trúc đính cườm – Hoạ sĩ Sĩ Hoàng

- Kết hợp các yêu tố mới vào sản phẩm truyền thống tạo nên sản phẩm mới có tính độc đáo

Với kinh nghiệm dày dặn của các nghệ nhân cùng tay nghề tỉ mỹ, tinh xảo. Nếu biết kết hợp nó với nhu cầu thời đại và quảng bá. Các tác phẩm thủ công mỹ nghệ văn hoá khu vực này không thua kém bất cứ sản phẩm thủ công mỹ nghệ nào.

▪ CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN

3.1 Vấn đề của hình thái Làng Chăm trong bối cảnh đô thị hoá

Hiện trạng các làng Chăm vẫn giữ nguyên toàn vẹn được hình thái làng, kiến trúc và văn hoá sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng đang dần có sự thay đổi để hoà hợp với hiện trạng

xã hội. Giáo dục, ngôn ngữ, chữ viết, cùng văn hoá người Việt ngày càng được giao thoa rõ ràng hơn đối với các thế hệ sau này. Một số thay đổi nhỏ trong phạm vi chuyên ngành: Quy hoạch, thiết kế đô thị và kiến trúc được tác giả nhận định và đánh giá theo hiện trạng như sau:

Phạm vi quy hoạch:

+ Bắt đầu có sự đa dạng về chức năng sử dụng đất. Từ đất ở và đất nông nghiệp nay xuất hiện thêm đất Công trình công cộng.

+ Giao thông mở rộng kết nối dễ dàng hơn các làng Chăm và cộng đồng người Kinh ở khu đô thị khác. Mở rộng thị trường nguồn cung – cầu các sản phẩm trong thương mại nhằm phát triển kinh tế thuận lợi 2 bên.

Thiết kế đô thị:

+ Các vật liệu được sử dụng trong xây dựng và hạ tầng đô thị ( xi măng, nhựa đường, sắt thép,… )đã dần thay đổi hình ảnh đô thị làng Chăm.

+ Cây xanh đã được bao phủ nhiều hơn trong không gian làng hơn trước kia ( Người Chăm quan niệm cây xanh tạo ra bóng tối, nơi mà ma quye và người xấu ẩn nấp)

Kiến trúc:

+ Với tác động của hiệu quả kinh tế, các nhà Chăm đã thay đổi về hướng nhà từ chỉ quay sang hướng Đông đón nắng với quan niệm phong thuỷ, thay đổi thành hướng nhà ra mặt đường tiếp cận thuận lợi di chuyển và kinh tế.

+ Hiện tượng nhà trống, để không dần xuất hiện. Kinh tế địa phương không thể nuôi sống được tất cả người trong cộng đồng. Cácc thế hệ sau đi đến các địa phương khác tìm kiếm việc làm mang lại kinh tế.

3.2 Một số đề xuất của tác giả áp dụng vào phạm vi chuyên ngành

Tỉnh Ninh Thuận được biết đến với tỉnh Thành có nhiều người Chăm nhất trên cả nước, đồng thời các bản sắc văn hoá, công trình kiến trúc, lễ hôi,.. được gìn giữ đến ngày hôm nay mang lại một hình ảnh chung của toàn tỉnh Ninh Thuận. Tỉnh thành đậm đà bản sắc vưan hoá Chăm.

Văn hoá là gì? Có rất nhiều cách diễn giải cho khái niệm này. Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Có thể hiểu ngắn gọn văn hoá là toàn bộ mọi thứ xung quanh con người.

Vậy đối với việc gìn giữ bảo tồn các bản sắc văn hoá lâu đời, đồng thời hoà hợp với các bản sắc văn hoá đại chúng, hoà nhập với quốc gia và cả quốc tế trong bối cảnh đô thị hoá ngày nay là một câu hỏi lớn đối với toàn bộ các ngành nghề liên quan. Đặc biệt đối với các nhà quy hoạch, kiến trúc sư trong việc định hình các giá trị cốt lõi và đổi mới sáng tạo trong công cuộc sáng tạo.

Với phạm vi và nguồn lực có hạn của tác giả, tác giả đề xuất một số giải pháp liên quan đến chuyên ngành có thể tác động đến và giải quyết được câu hỏi “ Làm sao bảo tồn, gìn giữ các bản sắc văn hoá lâu đời phù hợp với thời đại?”

Phạm vi quy hoạch

+ Gìn giữ được nguyên tắc “ Phong thuỷ Chăm” trong phạm vi quy hoạch và phân chia không gian từng lô đất cho một đại gia đình nhiều hộ.

+ Chú trọng tổ chức các không gian công cộng, không gian phục vụ dịch vụ nhằm hỗ trợ các làng nghề truyền thống phát triển. Ngoài kinh tế sản phẩm, cần đổi mới các hình thức kinh tế mới như du lịch trải nghiệm, du lịch cư trú và dịch vụ du lịch khác ( ẩm thức, thư giãn,..).

Phạm vi thiết kế đô thị:

+ Quy định hình thức kiến trúc, rào chắn, màu sắc, vật liệu đối với các công trình xây mới nhằm gìn giữ được bản sắc đặc trưng ngôi làng

+ Sử dụng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ vào các vật dụng trong không gian công cộng, biển hiệu

Phạm vi kiến trúc:

+ Các công trình công cộng ( trung tâm, uỷ ban) còn quá cững ngắc với hình thái kiến trúc. Không có sự biến đổi phù hợp với bối cảnh văn hoá gây ra một sự xung đột trong hình ảnh. Cần được nhà nước quan tâm hỗ trợ hơn trong phạm vi thiết kế và phê duyệt xây dựng.

+ Kiến trúc nhà ở xây mới được khuyến khích và tuân theo các quy định về chiều cap, màu sắc, vật liệu,… phù hợp.

. Giải pháp đề xuất về bảo tồn làng nghề trong phạm vi nghiên cứu tác giả:

Bảo tồn làng nghề. Cần bảo tồn các giá trị văn hoá, giá trị tinh thần mà làng nghề mang lại. Bảo tồn thường chia làm 2 loại chính: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn có tính kế thừa.

+ Bảo tồn nguyên vẹn. Giữ nguyên bản sản phẩm bao gồm cả nguyên liệu, quy trình, phương thức thực hiện nhằm đưa ra các sản phẩm truyền thống giữ nguyên được giá trị lịch sử, văn hoá.

+ Bảo tồn có tính kế thừa. Giữ lại phần đặc trưng của làng nghề địa phương, kết hợp với các sáng tạo mới trong khoa học công nghê, vật liệu, phương thức tạo ra những sản phẩm mới đa dạng về mẫu mã, màu sắc, kích thước, … nhưng vẫn giữ được cái hồn văn hoá riêng biệt. Tính kế thừa có thể có nhiều mức độ kế thừa, kế thừa bán phần hoặc kế thừa 1 phần.

Thực tiễn: Làng nghề gốm Bàu Trúc.

Một số đặc điểm văn hoá riêng biệt cần gìn giữ:

+ Phương thức nặn gốm đứng, nghệ nhân sẽ xoay quanh bàn gốm để kiến tạo nên sản phẩm. Các sản phẩm tạo ra không chỉ bao gồm các sản phẩm có trục xoay mà sẽ đa dạng về hình thái hữu cơ.

Nghệ nhân đứng xoay quanh bàn nặn để tạo nên sản phẩm

+ Vật liệu đất sét tự nhiên của địa phương. Với nguồn đất sét tự nhiên đại phương phù hợp tạo nên các sản phẩm này.

+ Hoa văn trang trí của gốm Bàu Trúc được tạo nên trong quá trình nặn, và không có bước trang trí vẽ thêm vào để trang trí và phủ men. Sản phẩm tạo ra mộc mạc và có màu sắc cam của đất nung tự nhiên.

Một số điểm không còn phù hợp với thời đại

+ Cách nung đất sét thủ công ngoài trời, đốt bằng sản phẩm hậu nông nghiệp gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung, cùng với lượng khói bụi ảnh hưởng đến chất lượng không khí khu vực. Nhiệt độ không ổn đinh trong quá trình nung tăng số lượng sản phẩm chưa đạt chất lượng.

Sản phẩm gốm được nung ngoài trời bằng cách đốt các sản phẩm hậu nông nghiệp

Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề được thực hiện dựa trên những hoạt động sau:

+ Bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống.

+ Phát triển làng nghề gắn với du lịch và xây dựng nông thôn mới.

+ Phát triển sản phẩm mới dựa trên nền tảng làng nghề truyền thống

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
Issuu converts static files into: digital portfolios, online yearbooks, online catalogs, digital photo albums and more. Sign up and create your flipbook.