

TỐT HƠN VÀNG RÒNG

Mart DeHaan

Giới Thiệu
Tốt Hơn Vàng Ròng
Sự khôn ngoan biến đổi đời sống
của Kinh Thánh
Ba ngàn năm trước, vua Sa-lô-môn đã viết:
“Vì thà được khôn ngoan hơn là được tiền bạc, hoa lợi nó sinh ra tốt hơn vàng ròng. Sự khôn ngoan quý báu hơn châu ngọc, chẳng một báu vật nào con ưa thích sánh kịp nó được” (Châm Ngôn 3:14-15).
Ngày nay, chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng quá tải thông tin và nhiều vấn đề nan giải cho thấy tại sao chúng ta cần sự khôn ngoan mà vua Sa-lômôn từng nói đến.
Tôi ước ao những trang sách sau đây, phỏng theo
loạt bài tôi viết trong những năm qua, sẽ giúp bạn
hiểu được tại sao sứ mệnh của Mục vụ Lời Sống
Hằng Ngày là “làm cho Kinh Thánh, nguồn khôn ngoan có quyền năng biến đổi đời sống, trở nên dễ hiểu và dễ tiếp cận đối với mọi người”.
Mart DeHaan
một Lẽ Cần Của Sự Khôn Ngoan
Sự Khôn Ngoan Trong
Chủ Nghĩa Hiện Thực
Sự Khôn Ngoan Trong Tinh Thần Thận
Câu Chuyện Về Sự Khôn Ngoan
Loại Khôn Ngoan Khác Nhau
TỔNG BIÊN TẬP: J. R. Hudberg
BIÊN DỊCH: Quốc Minh
BIÊN TẬP: Lời Sống Hằng Ngày
THIẾT KẾ BÌA: Stan Myers
ẢNH BÌA: Image Bank
THIẾT KẾ NỘI DUNG: Steve Gier
Hình ảnh trong sách: (trang 1) Image Bank; (trang 5) Billy Frank Alexander Design từ Stock. xchng; (trang 9) Ron Jeffreys từ Stock.xchng; (trang 13) Hagit Berkovich từ RGBStock; (trang 17) Jason Krieger từ Stock.xchng; (trang 19) iStockPhoto; (trang 23) Andy Stafiniak từ Stock.xchng; (trang 27) David Abernethy từ RGBStock.
Phần Kinh Thánh được trích từ Bản Truyền thống Hiệu đính, bản quyền © 2010 của Liên hiệp Thánh Kinh Hội. Đã được phép sử dụng. Bản quyền được bảo lưu.
© 2008 Our Daily Bread Ministries, Grand Rapids, MI
Bản quyền được bảo lưu.
Vietnamese Discovery Series “Better Than Gold”

một
Lẽ Cần Của
Sự Khôn Ngoan
Nếu tôi có thể viết một bức thư để suy ngẫm về
những dấu mốc trên chặng đường thuộc linh của mình, thì bức thư sẽ như thế này:
“Aaron thân mến, tôi hy vọng anh vẫn mạnh khỏe. Thật tiếc khi chúng ta không thể giữ liên lạc với nhau từ lúc anh chuyển đi. Tôi nhớ những cuộc trò chuyện của chúng ta về cuộc sống, về tôn giáo và về đội Detroit Tigers.
Tôi viết thư này bởi vì tôi bắt đầu cảm thấy mình cần có sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan mà anh đã không thấy được ở nơi tôi.
Anh từng nói: “Nhóm người trong nhà thờ thật sự không tốt hơn ai cả, chỉ là họ nghĩ như vậy thôi. Những người tuyệt vời
nhất mà tôi từng biết đều chưa bao giờ đến nhà thờ.”
Mặc dù lúc đó tôi tranh luận với anh, nhưng anh đã giúp tôi thấy rằng không phải chỉ những người nhân danh Chúa Jêsus để xây bệnh viện, cô nhi viện, hay thực hiện những công tác cứu trợ, mới hành động vì ích lợi của nhân loại.
Tôi vẫn còn nhớ những bức thư anh gửi cho tòa soạn, những cuộc diễu hành anh đã tham gia để phản đối nạn phân biệt chủng tộc, tội ác chiến tranh, hay đấu tranh để bảo vệ môi trường.
Kể từ lần cuối cùng chúng ta trò chuyện, tôi đã thấy
lòng nhân hậu và thiện chí của những người có lối sống và
niềm tin khác nhau. Tôi cảm thấy rằng không cần phải trở
thành tín đồ của Đấng Christ mới yêu thương, sống chan hòa, hay thậm chí
trở thành người hùng khi đối mặt với nhu cầu của nhân loại.
Những kinh nghiệm đó gợi cho tôi
nhớ đến ánh mắt hoài nghi của anh
mỗi khi tôi nói về việc trở nên con
người mới trong Đấng Christ. Tôi
vẫn còn nhớ như in những câu hỏi của
anh khi tôi trích dẫn câu nói của sứ
đồ Phao-lô: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng
Christ, người ấy là tạo vật mới, những
gì cũ đã qua đi, nầy, mọi sự đều trở nên mới”. Anh không tin điều đó vì
từ nhỏ anh đã được nuôi dưỡng trong môi trường nhà thờ và anh biết rõ


Một người không cần phải trở thành tín đồ của Đấng Christ mới yêu thương, sống chan hòa, hay thậm chí trở thành người hùng khi đối mặt với nhu cầu của nhân loại.
rằng không phải tất cả mọi thứ đều trở nên mới.
Aaron này, tôi ước gì tôi đã mau nghe và chậm nói. Chính bản thân tôi đã đủ nhận thức để nhìn nhận lại những điều mình
nói. Có lúc, tôi đã tự hỏi: tại sao kinh nghiệm cải đạo tạo ra những thay đổi giống như phản ứng cảm xúc hơn là sự thay đổi
lâu dài trong cuộc sống?
Thời điểm này, hành trình thuộc linh của tôi có nhiều điểm tương đồng với những điều tôi học được trong đời sống hôn nhân. Điểm tương đồng lớn nhất là những gánh nặng cảm xúc
chúng tôi đem vào trong cả hai. Những khuynh hướng của tôi
trước và sau khi kết hôn cũng là điều xảy ra trước và sau khi tôi tin nhận Chúa Jêsus. Tính ích kỷ đã khiến tôi không thể lắng nghe những mối bận tâm của vợ mình, cũng khiến tôi không thể nghe được tiếng của Đấng Christ đang sống trong tôi. Tôi đã mất khá nhiều thời gian để nhận ra rằng trong đức tin lẫn hôn nhân, sự tăng trưởng và trưởng thành không tự nhiên mà đến. Và tôi đã không chuẩn bị sẵn sàng cho điều hóa ra là thử thách lớn nhất trong cuộc đời tôi. Tôi đã không biết rằng kẻ thù lớn nhất mà tôi phải đối mặt chính là

Kẻ thù lớn nhất mà
tôi phải đối mặt chính là bản tính
ích kỷ của mình.

bản tính ích kỷ của mình.
Tôi không có ý xem thường những
khoảnh khắc đẹp đẽ trong hôn nhân hay khi cải đạo. Nhưng tôi nhận ra mình đã có những mong đợi sai lầm.
Tôi đã nghĩ rằng sự cứu rỗi sẽ biến tôi thành một người tốt và tôi mong đợi
hôn nhân sẽ làm cho tôi hạnh phúc.
Tôi đã không thấy được rằng trong
cả hai trường hợp, nếu tôi không học biết và sống theo sự khôn ngoan Chúa ban thì những lỗi lầm của tôi sẽ ảnh hưởng xấu đến tôi.
Khi tôi ngẫm lại những cuộc nói chuyện của chúng ta, tôi thấy mình đã sai lầm khi cho rằng cuộc đời tôi hoàn toàn được thay đổi nhờ đức tin nơi Đấng Christ; đức tin không tự khắc biến tôi trở thành người tốt đẹp hay khôn ngoan.
Đúng như thế, suy nghĩ của tôi đã thay đổi kể từ lần cuối cùng chúng ta trò chuyện. Cuộc sống khó khăn hơn tôi tưởng và ngay bây giờ tôi càng thấy rõ hơn mối tương quan giữa việc
bước vào hôn nhân và bước vào mối quan hệ với Đấng Christ.
Dựa vào lời hứa nguyện của cặp đôi trước mặt mọi người, vị
Mục sư tuyên bố họ đã là vợ chồng, nhưng họ chưa trưởng thành trong tình yêu của mình. Và khi chúng ta đặt đức tin
nơi Đấng Christ, Đức Chúa Trời chính thức tuyên bố chúng ta được vô tội, chứ không phải được tốt đẹp hay khôn ngoan.
Trong cả hai trường hợp, có sự khác biệt giữa lời tuyên bố chính thức và cuộc sống sau đó.
Bây giờ tôi tin rằng những người trong nhà thờ, trong những
lúc tốt nhất của chúng tôi, có rất nhiều điểm chung với những nhóm làm công tác hỗ trợ. Chúng tôi làm theo kế hoạch, không phải vì chúng tôi tốt đẹp hơn những người khác nhưng vì biết rằng chúng tôi cần Chúa và cần nhau để cùng vượt qua những khó khăn đang gặp phải. Tôi ước gì mình biết điều này sớm hơn, đó là việc tin nhận Chúa Jêsus không đồng nghĩa là có sự khôn ngoan như Ngài.
Cảm ơn anh đã đọc lá thư này. Nếu anh sẵn lòng chia sẻ, tôi rất muốn biết về cuộc sống của anh.”

hai
Sự Khôn Ngoan Trong
Chủ Nghĩa Hiện Thực
Những nghệ sĩ theo chủ nghĩa hiện thực thường
vẽ cuộc sống với những vết nhơ, nếp nhăn và vết sẹo. Những người theo chủ nghĩa lý tưởng thì mô tả đối tượng theo những gì họ có thể tưởng tượng. Cả hai đều quan trọng. Lý tưởng định hướng cho chúng ta. Còn hiện thực thúc đẩy chúng ta.
Tuy nhiên, nếu thiếu sự khôn ngoan, thì cả hai đều có những hạn chế. Chủ nghĩa hiện thực có thể lấy đi những giấc mơ của chúng ta. Chủ nghĩa lý tưởng có thể khiến chúng ta phí hoài thời gian vào việc tìm kiếm sự hoàn hảo.
Chúng ta cần sự khôn ngoan để thấy được mối liên hệ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lý tưởng, đặc biệt trong vấn đề đức tin. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan mà qua đó chúng ta nhận biết Ngài yêu thương chúng ta đến dường nào (Châm Ngôn 9:10; I Giăng 4:1819) và cũng cho chúng ta thấy được Đức Chúa Trời là Đấng thật tốt lành khi dẫn dắt chúng ta bước đi theo lý tưởng của Ngài, thật
nhân từ khi chấp nhận con người chúng ta và quá yêu thương đến nỗi không bỏ mặc chúng ta khi Ngài tìm thấy chúng ta.
Chủ nghĩa lý tưởng trong Kinh Thánh. Trong thế giới hoàn hảo, chúng ta sẽ sống mãi mãi. Đó chính là cách Kinh
Thánh bắt đầu và kết thúc. Tất cả đều tốt lành – khởi đầu bằng thiên đàng và kết thúc bằng thiên đàng.
Một ngày nào đó, vũ khí chiến tranh sẽ được dùng để rèn thành nông
cụ (Ê-sai 2:4) và chiên con sẽ được
ăn yên ổn bên cạnh muông sói (Ê-sai 65:25). Sứ đồ Giăng viết: “Ngài sẽ lau
ráo nước mắt trên mắt họ. Sẽ không có sự chết, cũng không có tang chế, than khóc, hoặc đau đớn nữa; vì những
sự thứ nhất đã qua rồi” (Khải Huyền 21:4).
Thế nhưng, chủ nghĩa lý tưởng của
Kinh Thánh không chỉ nói về tương
lai. Kinh Thánh kêu gọi chúng ta kính mến Đức Chúa Trời bằng cả tấm lòng


Chúng ta cần sự khôn ngoan để thấy được mối liên hệ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lý tưởng, đặc biệt trong vấn đề đức tin.
và yêu người lân cận như chính mình. Kinh Thánh nhấn mạnh
đến quy tắc đạo đức “yêu thương” và những đức tính như “vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ” (Ga-la-ti 5:22-23).
Không ai có thể sống theo lý tưởng này mọi lúc. Làm thế nào
chúng ta có thể bước vào mối quan hệ với một Đức Chúa Trời đã đuổi người nam và người nữ đầu tiên ra khỏi vườn Ê-đen khi
họ chẳng làm gì ngoài việc ăn trái của cây mà Ngài đã cảnh báo?
Làm sao chúng ta có thể cảm thấy an ninh nơi Đấng Tạo Hóa khi Ngài áp đặt sự đau đớn và sự chết vào thế giới của chúng ta chỉ vì sự bội tín nhỏ nhặt? (Sáng Thế Ký 3:16-19).
Chủ nghĩa hiện thực của các ra-bi Do Thái. Có một câu trả lời đến từ Do Thái giáo vào thế kỷ thứ nhất. Một số ra-bi dạy rằng nếu chúng ta chỉ giữ một điều răn Đức Chúa Trời truyền dạy, thì cũng đồng nghĩa chúng ta đã vâng giữ toàn bộ luật pháp.
Thoạt nhìn, lối tiếp cận này có vẻ là giải pháp tốt. Bởi chúng ta biết rằng không ai trong chúng ta có thể vâng giữ tất cả luật pháp của Chúa cách trọn vẹn. Có lẽ chúng ta chỉ có thể giữ một số điều răn trong một khoảng thời gian nào đó, hoặc ít nhất là từng điều một.
Nhưng liệu có thầy dạy luật thông thái nào thật sự có ý nói rằng miễn là bạn không giết hàng xóm của mình thì bạn có thể ăn trộm của họ không? Chắc hẳn chúng ta đã bỏ sót điều gì đó.
Hẳn là họ đang nói về việc giữ một điều răn theo cách để tuân thủ những điều còn lại.
Chủ nghĩa hiện thực của Gia-cơ. Bất kể các thầy dạy luật
Do Thái có ý gì khi áp dụng lối tiếp cận “một cho tất cả” đối với
luật pháp, thì một người thầy khác lại bày tỏ trách nhiệm giải
trình của chúng ta đối với Đức Chúa Trời theo cách hoàn toàn
khác biệt: “Vì người nào giữ trọn cả luật pháp mà vi phạm một
điều, thì cũng bị kể như đã phạm tất cả” (Gia-cơ 2:10). Và phần còn lại trong bức thư của Gia-cơ cho biết sự khôn ngoan là hiện
thực về lý tưởng của Đức Chúa Trời. Khi Gia-cơ nhấn mạnh
đến tính hợp lý của luật pháp, ông đang thúc giục những người
đã được tha thứ nhớ lại nguyên tắc yêu thương mà cũng chính
là trọng tâm của luật pháp Đức Chúa Trời (2:12-13).
Gia-cơ viết thư này với tư cách là tín đồ của Đấng Christ (1:1), người được thúc giục bởi đức tin nơi Đấng Christ để theo đuổi lý tưởng yêu thương người lân cận, vì ông đã nhận được sự tha
thứ và ân điển của Chúa (2:8). Trong thực tế, Gia-cơ thúc giục những người đã tin nhận Chúa Jêsus phản chiếu tấm lòng của
Ngài (1:26-2:8).
Gia-cơ viết thư này cho những người đang bị bắt bớ vì đức tin nơi Đấng Christ. Ông biết họ cần có sự khôn ngoan để bày
tỏ đức tin trong lúc đối diện với đủ mọi khó khăn và cám dỗ. Vì thế ông viết: “Nếu người nào trong anh em thiếu sự khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho, vì Đức Chúa Trời là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không lời phiền trách” (Gia-cơ 1:5).
Sự khôn ngoan mà Gia-cơ nói đến ở đây là sự hiểu biết mà
Đức Chúa Trời muốn ban cho con dân Ngài để họ có thể phản chiếu hình ảnh của Chúa Jêsus trong những hoàn cảnh thực tiễn.
Chủ nghĩa hiện thực của Chúa Jêsus. Trái với những nhà lãnh đạo tôn giáo thường lên án và tách mình khỏi những người mà họ cho là thấp kém hơn về mặt đạo đức, Chúa Jêsus lại là bạn
của tội nhân. Lu-ca ghi lại cách Chúa Jêsus kết nối tình bạn này với sự khôn ngoan. Ông trích dẫn lời Chúa Jêsus nói: “Còn Con Người đến, ăn và uống thì các ngươi lại nói: ‘Kìa, đó là người ham ăn mê uống, bạn của người thu thuế và kẻ có tội.’ Nhưng sự khôn ngoan được biện minh nhờ kết quả của nó” (Lu-ca 7:34-35).
Nếu Chúa Jêsus tránh né và kết tội những người cần Ngài, thì chắc hẳn Ngài sẽ không được nhớ đến và yêu mến bởi sự khôn ngoan biến đổi đời sống của Ngài.
Thay vì kết tội những người đang tự hủy hoại bản thân mình, Chúa Jêsus bày tỏ lòng nhân từ với họ. Ngài tìm đến những người bị người khác xa lánh. Ngài chạm vào những người bị bệnh phong, tôn trọng phụ nữ và yêu mến trẻ thơ.
Chúa Jêsus là hiện thân cho sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Bởi tấm gương và sự dạy dỗ của Ngài, Ngài kết hợp chủ nghĩa lý tưởng đầy cảm hứng với chủ nghĩa hiện thực khắc nghiệt. Chúng ta sẽ không thể tìm thấy bức tranh nào rõ ràng hơn về việc trung thành với những nguyên tắc khắt khe nhất nhưng vẫn bày tỏ được lòng thương xót với những người dễ bị tổn thương nhất.
Khi Chúa Jêsus dồn ép những người tự xưng công bình bằng lý luận về chủ nghĩa đạo đức lý tưởng của họ, Ngài làm như vậy để hạ họ xuống cách yêu thương (Ma-thi-ơ 5:20-48). Khi Chúa Jêsus bày tỏ lòng nhân từ thay vì luân lý đạo đức, Ngài làm như vậy để bày tỏ rằng Ngài đến không phải để xét đoán nhưng để cứu chuộc (Giăng 3:17; 12:47).

Ý Nghĩa Của
Sự Khôn Ngoan
Trong một loạt các quảng cáo trên TV dành cho các trang
vàng danh bạ doanh nghiệp trực tuyến, diễn viên David
Carradine đã đóng vai cố vấn của những người tìm việc trẻ. Khi được hỏi làm thế nào để được khai sáng, vị cố vấn nói với các học trò rằng trang web yellowbook.com sẽ giúp họ tìm được bất cứ điều gì họ đang tìm kiếm chỉ bằng cách gõ từ khóa.
Có thể dễ dàng như vậy sao? Gia-cơ đã nói rằng những người theo Đấng Christ có thể có sự khôn ngoan bằng cách cầu xin: “Nếu người nào trong anh em thiếu sự khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho, vì Đức Chúa Trời là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không lời phiền trách” (Gia-cơ
1:5). Thật khó tin nhưng đây là sự thật. Chỉ có một điều kiện duy nhất – lời cầu xin sự khôn ngoan của chúng ta phải xuất phát từ
đức tin nơi Đức Chúa Trời (c.6-8).
Tại sao chúng ta cần sự khôn ngoan từ nơi Chúa? Gia-
cơ đang viết cho những người bị thử thách về đức tin (1:2-3). Họ có thể biết trước mình sẽ bị bắt bớ về mặt tôn giáo và xã hội.
Nhưng họ không thể lường trước được những điều họ gây thất vọng cho nhau.
Chúa Jêsus dạy những môn đồ của Ngài phải yêu thương nhau (Giăng 15:17). Thế nhưng, chỉ một vài năm sau, những môn
đồ đầu tiên của Chúa Jêsus cho thấy rằng những người thuộc về
Ngài không phải lúc nào cũng làm theo điều Ngài dạy (Gia-cơ 4:1-2). Bằng những định kiến, những lời gây tổn thương và thái
độ đạo đức giả, gia đình và những người bạn của Chúa Jêsus đã hành xử như kẻ thù.
Trong bối cảnh đầy xung đột này, Gia-cơ đảm bảo với độc giả rằng sự khôn ngoan chúng ta cần thật sự gần gũi hơn chúng ta nghĩ (1:5). Không chỉ nói cho chúng ta biết làm thế nào để tìm
được sự khôn ngoan, Gia-cơ còn hướng dẫn chúng ta cách nhận biết sự khôn ngoan “đến từ thiên thượng” và sự khôn ngoan “thuộc về thế gian, xác thịt và ma quỷ” (3:15-17).
Sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời sẽ thế nào? Sau
khi viết về định kiến và sự nghèo khó, Gia-cơ mô tả cho các độc giả của ông về sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời ban cho con cái Ngài. Trong chương ba của bức thư, ông viết:
“Trong anh em, ai là người khôn ngoan, hiểu biết? Hãy dùng
lối sống tốt đẹp của mình mà bày tỏ những việc mình làm xuất phát từ sự khiêm nhu của lòng khôn ngoan. Nhưng nếu anh em ghen ghét một cách đắng cay và tranh cạnh trong lòng, thì chớ khoe khoang hay dùng lời dối trá chống lại chân lý. Sự khôn ngoan đó không đến từ thiên thượng, nhưng thuộc về thế gian, xác thịt và ma quỷ. Vì ở đâu có sự ghen ghét và tranh cạnh thì ở đó có sự xáo trộn và đủ mọi việc ác. Nhưng sự khôn ngoan từ thiên thượng thì trước hết là thanh sạch, rồi hiếu hòa, dịu dàng, nhường nhịn, đầy lòng thương xót và bông trái tốt lành, không chút thành kiến hay giả dối” (3:13-17).
Gia-cơ nói sự khôn ngoan từ thiên thượng là…
“Thanh sạch”. Sự khôn ngoan “từ thiên thượng” không hề trộn lẫn đức tin nơi Chúa Jêsus và dục vọng cá nhân (3:14-17, 4:1-3).
Sự khôn ngoan bắt đầu với động cơ có thể gây sửng sốt cho những người sẵn sàng làm tất cả mọi thứ có thể để đạt được điều mình muốn trong lúc xung đột. Dường như thật đáng tôn trọng
khi sẵn sàng làm bất cứ việc gì có thể để giải quyết vấn đề, nhưng
Gia-cơ cho biết rằng sự khôn ngoan từ Chúa trước hết đặt ra một số câu hỏi khác: Tại sao tôi lại buồn bực? Tấm lòng của tôi đang ở đâu? Những động cơ nào đưa tôi vào cuộc xung đột này? Ý định ban đầu của tôi có phải là thực sự tin cậy Chúa và sự chu cấp của Ngài dành cho tôi không?
Chỉ khi động cơ của chúng ta là tin cậy Chúa và bày tỏ sự hiện diện của Ngài trong chúng ta, thì chúng ta mới có thể phản ứng với xung đột theo cách thật sự…
“Hiếu hòa”. Khi tấm lòng chúng ta phản chiếu tấm lòng của
Chúa thì chúng ta thật sự mong ước sự hiếu hòa. Sự khôn ngoan giúp chúng ta đánh giá đúng đắn rằng sự hòa thuận, chứ không
phải xung đột (1:5), là tặng phẩm từ Đức Chúa Trời. Đây là lý tưởng mới sản sinh ra sự khôn ngoan…
“Dịu dàng”. Trong thế giới cổ đại, từ này được dùng cho những vị vua cai trị đất nước với sự liêm chính, nhẫn nhịn, và
có sự khoan hồng thích hợp. Đó cũng là kiểu khôn ngoan giúp
thần dân của Vua Jêsus bày tỏ uy quyền của Ngài với tinh thần nhân hậu.
Sự dịu dàng trở thành nền tảng cho sự khôn ngoan...
“Nhường nhịn”. Sẵn sàng lấy điều thiện trả điều ác là biểu hiện
của sức mạnh thay vì yếu đuối.
Việc nương cậy Chúa, thay vì tập trung vào những người đã
làm chúng ta tổn thương, cho phép chúng ta hành động kiên
nhẫn để đạt được kết quả…
“Đầy lòng thương xót và bông trái tốt lành”. Khi tấm lòng
chúng ta đầu phục sự khôn ngoan của Đấng Christ, chúng ta sẽ thấy được giá trị việc bày tỏ lòng nhân từ cho người không xứng đáng trong khi chờ đợi bông trái hòa thuận. Với sự thông sáng
Chúa ban, chúng ta dành cho người khác khoảng không gian họ cần. Với sự kiên nhẫn, chúng ta cho nhau thời gian để kinh
nghiệm ảnh hưởng càng hơn của Đấng Christ trên đời sống của mỗi người.
Khi chúng ta không đối xử với người khác cách thiển cận và hời hợt, thì chúng ta đang bày tỏ sự khôn ngoan...
“Không chút thành kiến”. Trong phần đầu bức thư, Gia-cơ đã viết về những tín hữu đối xử thiên vị với người giàu sang và có thế lực hơn những người nghèo khó, thiếu thốn (2:1-10). Thế nhưng trong chương 3, Gia-cơ nói rằng việc đối xử với người khác không chút thành kiến là cách để bày tỏ sự khôn ngoan và tấm lòng của
Đức Chúa Trời.
Khi không để mình bị ảnh hưởng bởi sự giàu có, địa vị xã hội và ngoại hình, chúng ta sẽ bày tỏ sự hiện diện của Đấng Christ để sống với sự khôn ngoan…
“Không giả dối”. Dấu hiệu này bao hàm những đặc tính còn
lại. Gia-cơ sử dụng ý này để ca ngợi tính chính trực của sự khôn ngoan mà Chúa muốn ban cho chúng ta. Khi thuận cảnh, không ai muốn nói ngôn ngữ đức tin trong lúc thực hiện những mục tiêu xuất phát từ sự ghen ghét và tham vọng.
Chúng ta có thể mong đợi điều gì từ sự khôn ngoan của Chúa? Gia-cơ bày tỏ rằng Chúa không làm cho sự khôn ngoan dễ dàng tiếp cận chỉ để giúp chúng ta có được điều mình muốn ở bất kì thời điểm nào (1:2-5, 4:1-3). Sự thông sáng Chúa ban nhằm giúp chúng ta tăng trưởng trong sự kiên nhẫn và
trưởng thành trọn vẹn trong Đấng Christ.
Những đặc tính này có thể không đem đến giải pháp nhanh
chóng như chúng ta mong đợi, nhưng sẽ giúp chúng ta có tấm
lòng được bày tỏ bằng thái độ hòa thuận, chứ không phải tham
muốn hay xung đột (3:18).

bốn
Sự Khôn Ngoan Trong
Tinh Thần Thận Trọng
Tháng 4 năm 2006, Jeb Corliss có ý định nhảy dù từ
đỉnh của tòa tháp Empire State. Đến phút cuối cùng, những nhân viên bảo vệ đã chặn anh lại và cảnh sát New York buộc tội anh với hành vi liều lĩnh gây nguy hiểm.
Có một ‘cú nhảy’ khác mà chúng ta thực hiện thậm chí còn nguy hiểm hơn – kết luận sai lầm trong những vấn đề quan trọng. Kinh Thánh cho thấy một ví dụ điển hình về hành động này. Câu chuyện xảy ra cách đây hơn 3.400 năm nhưng là bài học cho chúng ta ngày nay. Công cuộc chinh phục “Đất Hứa” đã kết thúc, giờ là lúc các binh sĩ đang đóng quân ở phía đông sông Giô-đanh trở về đoàn tụ với gia đình (Giô-suê 22).
Khi vùng đất đã hòa bình yên ổn, có người nghe tin những chi phái ở phía đông đã lập một bàn thờ. Tin tức lan truyền nói rằng “phía đông” đã sa vào sự thờ thần tượng trở lại. Cơn thịnh nộ nổi lên.
Chỉ vài năm trước, Đức Chúa Trời đã giáng tai họa khiến
24.000 người chết vì tội thờ lạy thần tượng (Dân Số Ký 25:9).
Vì thảm họa quốc gia vẫn còn in đậm trong tâm trí họ, nên
những chi phái ở phía tây đã hành động nhanh chóng. “Khi dân Y-sơ-ra-ên nghe tin người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se đã lập một bàn thờ trong địa phận Giô-đanh thuộc đất Ca-na-an, đối diện với dân Y-sơ-ra-ên thì cả hội chúng Y-sơ-ra-ên họp lại tại Si-lô, để tiến đánh họ” (Giô-suê 22:11-12).
Trước khi hành động dại dột được thực hiện thì sự khôn ngoan được bày tỏ. Nếu một nhóm người trong dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy các thần khác thì luật pháp chép rằng họ phải “điều tra, tìm hiểu, xem xét kỹ càng” trước khi dùng gươm tiêu diệt người dân trong thành đó (Phục Truyền 13:14-15). Vì vậy, những chi
phái ở phía tây cử một nhóm người để điều tra và đề cử một người được tôn trọng để dẫn dắt nhóm này (Dân Số Ký 25:1-9, Giô-suê 22:13-14). Khi nhóm điều tra này gặp những anh em ở phía đông, họ đã sẵn sàng cho tình huống xấu nhất. Họ buộc tội những chi phái ở phía đông đã phớt lờ quá khứ và gây nguy hiểm cho tương lai của dân tộc. Sau khi nghe những lời buộc tội, người đại diện cho những chi phái phía đông đảm bảo với họ rằng bàn thờ đó không phải để dâng của tế lễ. Đó là đài tưởng niệm để thế hệ mai sau nhớ về mối liên hệ của họ với cả dân tộc và với Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên (Giô-suê 22:24-27). Cả dân Y-sơ-ra-ên vui mừng khi
nghe tin: “Bàn thờ nầy làm chứng giữa chúng ta rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời” (c.34).
Nếu như lời kết luận ban đầu được thực thi, chắc hẳn sẽ có rất nhiều người phải chết. Một quốc gia sẽ tranh chiến lẫn nhau.
Chúng ta cần phải học điều mà dân Y-sơ-ra-ên đã học. Việc đưa ra những kết luận sai lầm thể hiện ở nhiều cách. Chỉ nghe xung đột từ một phía (Châm Ngôn 18:17), buộc tội một người dựa vào sự giao thiệp của người đó (Lu-ca 7:34) và lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng (Giô-suê 22:11), chỉ mới là một số hành động gây tổn hại. Chúng ta đều cần phải nghe sự khôn ngoan của Gia-cơ: “mau nghe, chậm nói, chậm giận” (Gia-cơ 1:19).

Sự Khôn Ngoan
Của Vua Sa-lô-môn
TSa-lô-môn. Kinh Thánh cho chúng ta biết về sự giàu có và tầm ảnh hưởng rất lớn của ông. Những công trình kiến trúc đã tôn vinh tầm nhìn của ông. Những câu châm ngôn đầy thực tế phản ánh sự khôn ngoan của ông. Thế nhưng Sa-lô-môn đã có một cuộc đời đầy khó khăn và rắc rối mà có thể cho chúng ta biết nhiều điều về Chúa và về chính mình. Khởi đầu thỏa hiệp của Sa-lô-môn. Thời kỳ làm vua của Sa-lô-môn đã có những thỏa hiệp về văn hóa và tôn giáo. Nhằm cải thiện mối quan hệ với nước láng giềng phía nam, vua Sa-lônăm
rong một khía cạnh nào đó, thật dễ lý tưởng hóa vua
môn đã cưới con gái của Pha-ra-ôn
làm vợ (I Các Vua 3:1). Thêm vào đó, dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng ở những
nơi cao của dân bản xứ (I Các Vua 3:23). Tuy vậy, Sa-lô-môn yêu mến Chúa
và Ngài kiên nhẫn với ông. Trong thế giới tan vỡ của chúng ta, Chúa có thể
sử dụng những ước nguyện của chúng ta để tôn vinh Ngài – ngay cả khi chúng ta không biết mình tồi tệ ra sao.
Giấc ngủ đưa đến thành công.
Một trong những quyết định nổi tiếng
nhất của Sa-lô-môn được đưa ra khi
ông ngủ. Ông được ban cho một cơ
hội mà tất cả chúng ta đều ao ước. Khi

Trong thế giới tan vỡ của chúng ta, Chúa có thể sử dụng những ước nguyện của chúng ta để tôn vinh Ngài – ngay cả khi chúng ta không biết mình tồi tệ ra sao.

Chúa hiện ra với Sa-lô-môn và phán rằng Ngài sẽ ban cho ông
điều ông mong muốn, Sa-lô-môn đã xin Chúa ban cho ông sự hiểu biết và sáng suốt. Chúa không những hứa ban cho ông điều
ông cầu xin mà còn ban sự giàu có và danh vọng. Một số người bỏ qua chi tiết Sa-lô-môn cầu xin Chúa trong lúc ngủ (I Các Vua 3:15). Chúa có thể cùng làm việc với chúng ta trong nhiều cách để bày tỏ sự tốt lành của Ngài chứ không phải của chúng ta.
Màn ra mắt không mấy ấn tượng của Sa-lô-môn. Chúa có thể giới thiệu sự khôn ngoan của Sa-lô-môn bằng việc đưa ông đấu trí với những bộ óc khôn ngoan đẳng cấp thế giới. Nhưng hành động khôn ngoan đầu tiên của Sa-lô-môn được ghi lại là cuộc phân xử xung đột cho hai kỹ nữ. Cả hai đều mới
sinh con. Nhưng một trong hai người đã bị mất con trong một tai nạn và bây giờ cho rằng mình là mẹ của đứa bé còn sống. Hai người phụ nữ này xin vua Sa-lô-môn phân xử cho cuộc tranh chấp của họ. Với sự sáng suốt Chúa ban, Sa-lô-môn đã trao đứa bé cho người mẹ thật sự của nó (3:16-28). Chúa bày tỏ lòng nhân
từ cho những người bị xem là không xứng đáng.
Tầm nhìn thấu đáo của Sa-lô-môn. Vua Sa-lô-môn cho chúng ta thấy cách để nhìn biết hai mặt của bản tính con người.
Bằng phương pháp đe dọa “chặt đứa bé còn sống ra làm hai”
gây sợ hãi nhưng hiệu quả đối với hai người phụ nữ, Sa-lô-môn nhận thấy hai phản ứng. Một người sẵn sàng để đứa bé phải
chết còn hơn là người kia có được nó. Người còn lại bày tỏ rằng
bà thà để đứa bé thuộc về người kia chứ không thể để nó chết.
Bằng cách vạch ra mặt tốt và mặt xấu trong bản chất con người,
Sa-lô-môn đã thực thi công lý và bày tỏ lòng khoan dung trong
cuộc xung đột rắc rối này. Sự khôn ngoan tìm kiếm điều khác biệt giữa bằng chứng còn sót lại của việc chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời và những biểu hiện xuất phát từ sự nổi loạn chống nghịch Ngài.
Kết thúc buồn của Sa-lô-môn. Điều đáng buồn là sự khôn ngoan của Sa-lô-môn đã không giúp ông tránh khỏi những lựa chọn dại dột. Sa-lô-môn đã vi phạm luật lệ được đặt ra cho các vua Y-sơ-ra-ên (Phục Truyền 17:14-20). Ông lạm dụng địa vị của mình để hưởng thụ bằng tiền của dân chúng. Bằng những hành vi buông tuồng, ông đã có rất nhiều của cải riêng, vợ và các tình nhân. Nhưng không dừng ở đó, Sa-lô-môn còn xây dựng những
bàn thờ thần ngoại bang cho các bà vợ của mình (I Các Vua 11:18). Sự khôn ngoan chỉ mang lại ích lợi khi chúng ta vâng phục Chúa và sử dụng sự sáng suốt Ngài ban cho.
Bài học về sự thất bại của Sa-lô-môn. Thực tế cuộc đời
của Sa-lô-môn có thể là bài học quan trọng nhất dành cho chúng ta. Qua sự dại dột của Sa-lô-môn, chúng ta thấy rằng mọi sự khôn ngoan của thế gian không thể nào thay đổi được
bản chất của con người. Tất cả chúng ta đều ở dưới tiêu chuẩn
của Đức Chúa Trời, và nếu thành thật, thậm chí chúng ta còn không đạt được những mong đợi của chính mình. Có ai trong chúng ta không ao ước mình sẽ yêu thương nhiều hơn, tiết độ
hơn, và tập trung hơn vào những điều thật sự quan trọng? Là những người theo Chúa Jêsus, chúng ta khát khao bày tỏ Ngài trong đời sống mình nhiều hơn.
Đó là lý do chúng ta cần suy ngẫm những điều sứ đồ Phao-lô
muốn nói khi ông viết rằng Chúa Jêsus đã trở nên sự khôn ngoan
của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta (I Cô-rinh-tô 1:30).
Chúa Jêsus đã làm những điều mà Sa-lô-môn không thể. Mặc
dù Sa-lô-môn có thể nhận biết và tìm kiếm sự khôn ngoan, nhưng
Chúa Jêsus đã thể hiện Ngài chính là sự khôn ngoan trong mọi việc Ngài làm.
Sa-lô-môn đau khổ vì những tội lỗi của mình, nhưng Chúa Jêsus đã chịu đau đớn và chịu chết vì tội lỗi của chúng ta – và mở đường để chúng ta bước vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus trở nên phương tiện giúp chúng ta có thể dùng sự hiểu biết đến gần Ngài và trong Ngài để tìm thấy sự an ninh, ý nghĩa và thỏa lòng.

sáu
Khôn Ngoan Nhờ
Có Nhiều Cố Vấn
Không có lãnh đạo, dân tộc sẽ sụp đổ, nhưng nhờ
có nhiều cố vấn mà được an toàn” (Châm ngôn 11:14).
Câu châm ngôn cổ xưa này đưa ra lời khuyên khôn ngoan dành cho những người đang bị tổn hại và cho các thành viên trong gia đình, cũng như các mục sư được kêu gọi để giúp đỡ họ. Những thách thức trong đời thực. Nhiều người trong chúng ta có người thân hay bạn bè đang sống trong sự đau đớn và rối ren dường như đã trở thành một phần trong cuộc sống: nghiện ngập, mất trí nhớ, tự kỷ, trầm cảm, bị ngược đãi trong
hôn nhân hay là chứng rối loạn ăn uống nguy hiểm đến tính mạng. Chúng ta không thể biết có bao nhiêu người đang vật lộn với những căng thẳng hậu chấn thương, rối loạn giới tính, những cơn hoảng loạn, bệnh tâm thần phân liệt, hoặc rối loạn ám ảnh cưỡng chế.
Đây chỉ là một vài nỗi đau cần đến sự khôn ngoan của Sa-lômôn và sự khôn ngoan từ Thánh Linh của Đấng đã đến để giải
cứu chúng ta (Giăng 3:17, 12:47).
Nỗi đau tăng thêm vì sự chỉ trích. Chúng ta cần suy nghĩ
về cách đáp ứng với những người đang đối diện với các vấn đề liên quan đến sức khỏe tinh thần và cảm xúc. Nếu không cẩn
thận, chúng ta có thể vô tình tăng thêm nỗi đau của họ khi nói rằng điều họ đang tranh chiến cho thấy họ thiếu đức tin, thiếu cầu nguyện, hay thiếu thời gian học Lời Chúa.
Bao nhiêu người trong chúng ta hiểu được mối liên hệ mật
thiết giữa thể xác và tâm hồn khi đối diện với thương tổn và các

Bao nhiêu người trong chúng ta hiểu
được mối liên hệ mật thiết giữa thể xác và tâm hồn?

ký ức thiêu đốt tâm hồn như chiếc bàn là nóng? Bao nhiêu người trong chúng
ta có sự sáng suốt để giúp đỡ những người bị hủy hoại vì sự lạm dụng tình dục, vì phải đứng nơi tiền tuyến của các cuộc chiến, hoặc có quá khứ bị bạo hành gia đình?
Những áp lực từ niềm tin. Bất kỳ ai đối mặt với những khủng hoảng như thế đều cảm thấy quá sức. Nhiều
người nhận ra giới hạn của mình, nhưng cảm thấy bị ép buộc
khi phải hành động như thể Kinh Thánh, sự cầu nguyện và mối
thông công là những cách duy nhất tôn kính Chúa khi đối diện các nan đề về cảm xúc và tinh thần.
Cũng dễ hiểu khi có sự giằng xé giữa điều chúng ta nghĩ là
giải pháp theo Kinh Thánh và những phương cách thế tục. Là người tin Chúa, chúng ta không muốn mắc sai lầm khi xem một vấn đề thuộc linh là bệnh thể chất hay tinh thần. Nhưng chúng ta cũng không nên xem căn bệnh về thể chất hay tinh thần là vấn
đề thuộc linh.
Tìm kiếm câu trả lời. Chúng ta phải phụ thuộc vào Chúa,
chỉ duy Ngài mà thôi. Nhưng Đức Chúa Trời của Kinh Thánh cung ứng cho con dân Ngài trong phạm vi nào? Chẳng phải nhiều người trong chúng ta đã cảm tạ Chúa khi nhận sự giúp
đỡ từ những chuyên gia y tế hay nhân
viên xã hội khi họ đồng hành với
chúng ta qua những nan đề sức khỏe, bệnh về tâm thần, sự nghiện ngập,
chấn thương do chiến tranh hoặc là sự nghèo túng sao?
Nếu ý định của chúng ta là tìm kiếm
sự giúp đỡ bày tỏ sự khôn ngoan của
Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ chẳng
mất mát gì khi nhờ bác sĩ tìm ra những
nguyên nhân khiến tâm trí chúng ta
bất ổn. Đức tin không hề bị tổn thất khi
chúng ta nhờ các chuyên gia phân tích


Đức tin không hề bị tổn thất khi
chúng ta nhờ các chuyên gia phân
tích những suy nghĩ, cảm xúc hay chọn lựa của mình.
những suy nghĩ, cảm xúc hay chọn lựa của mình.
Đừng ai một mình gánh chịu sức nặng của vấn đề tâm linh
bị phức tạp hóa bởi bệnh tật về thể chất, cảm xúc và tinh thần.
Chúng ta cũng đừng cho rằng lòng khao khát tin cậy Chúa cần
được tách biệt với lời khuyên của mục sư và các chuyên gia y tế.
Cần cân nhắc nhiều quan điểm. Những cố vấn, bác sĩ và
các nhóm làm công tác hỗ trợ có thể không bao giờ thay thế
được trách nhiệm giải trình của chúng ta đối với Chúa. Cũng như việc tư vấn chuyên môn và tư vấn y tế không thể thay thế sự quan tâm chăm sóc của mục sư và hội thánh. Thà qua đời sớm, mang bệnh tật trong thân thể và gặp nan đề tâm linh thay
vì sống lâu, bình an, và mạnh khỏe mà không nhận biết mình cần nương dựa vào Đấng Christ mỗi ngày.
Đấng Christ là Chúa của mọi lẽ thật. Chúng ta cần nhớ rằng
Đức Chúa Trời cung ứng cho chúng ta qua nhiều người, dẫu họ
có nhận biết Ngài hay không.
Vâng, luôn có những mối nguy hiểm. Bất kỳ vị bác sĩ, người tư vấn, hay lãnh đạo thuộc linh nào cũng có thể vô tình khiến chúng
ta lạc lối. Đó là lí do vì sao chúng ta cần chú ý đặc biệt vào sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn. Bởi vì lời khuyên sai lầm vẫn có thể đến từ những nguồn đáng tin cậy, nên chúng ta cần cân nhắc nhiều quan điểm khi xem xét những vấn đề nan giải. “Không có lãnh đạo, dân tộc sẽ sụp đổ, nhưng nhờ có nhiều cố vấn mà được an toàn” (Châm ngôn 11:14).

Những Loại Khôn Ngoan
Khác Nhau
Theo một câu chuyện dân gian của Phật giáo, có hai nhà sư gặp một cô gái trẻ bên dòng sông. Thận trọng trước dòng nước, cô gái nhờ hai nhà sư giúp đưa cô qua sông. Một nhà sư thấy do dự, nhưng nhà sư còn lại nhanh nhẹn cõng cô gái lên vai, đưa qua sông và để cô xuống ở bờ bên kia. Cô gái cảm ơn nhà sư rồi rời đi. Khi họ tiếp tục cuộc hành trình, nhà sư kia tỏ vẻ suy tư và lo lắng. Không thể im lặng được nữa nên ông nói: “Này người anh em, sư phụ của chúng ta dạy rằng phải tránh mọi tiếp xúc với phụ nữ, thế mà anh lại cõng cô ấy lên vai rồi đưa qua sông”. Nhà sư còn lại trả lời: “Anh ơi, tôi đã đặt cô ấy xuống ở bờ bên kia rồi nhưng anh mới là người đang cõng cô ấy đấy”. bảy
Câu hỏi về sự khôn ngoan. Sự sáng suốt của nhà sư gợi lên một câu hỏi thú vị. Nếu những người tin Chúa công nhận sự sáng suốt về mặt đạo đức và tâm linh của tôn giáo khác, thì chúng ta có làm suy yếu tính đặc trưng của đức tin mình không?
Tôi tin điều đó sẽ củng cố đức tin của chúng ta khi nhận

biết rằng Lời Chúa giúp chúng ta nhìn thấy sự khôn ngoan bên ngoài những trang Kinh Thánh. Là tiêu chuẩn cho sự khôn ngoan, Kinh Thánh bày tỏ cách để nhận biết sự khôn ngoan trong luân lý đạo đức, trong tôn giáo và trong tự nhiên ở thế giới xung quanh chúng ta. Quan trọng hơn hết, Kinh Thánh bày tỏ cho chúng ta biết làm thế nào ba loại khôn ngoan này giúp chúng ta nhận biết nhu cầu của bản thân về sự khôn ngoan đem đến sự cứu chuộc của thập tự giá.
Sự khôn ngoan trong tự nhiên có thể giúp mọi người
sống cuộc đời ý nghĩa hơn.

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu rõ hơn xem ba loại khôn ngoan này giúp chúng ta thế nào trong mối liên hệ với những người không cùng niềm tin, mà không ảnh hưởng đến tính đặc trưng của Đấng Christ.
Sự khôn ngoan trong tự nhiên. Sách Châm Ngôn cho chúng ta thấy những ví dụ về sự khôn ngoan trong các nền văn hóa và tín ngưỡng trên thế giới. Vua Sa-lô-môn cho thấy chúng ta có thể học gì từ các loài vật, từ nông nghiệp và từ sự suy ngẫm cá nhân. Chẳng hạn:
• Người khôn ngoan là người biết khiêm nhường để học
cách sống của loài kiến (Châm Ngôn 6:6-8).
• Trận chiến quan trọng nhất là trận chiến trong tâm trí (Châm Ngôn 16:32, 25:28).
Sự khôn ngoan trong tự nhiên có thể giúp mọi người sống cuộc đời ý nghĩa hơn. Thế nhưng, sự khôn ngoan này tự nó
không thể đem lại cho chúng ta niềm hy vọng trong thế giới này, là nơi mọi thành tựu của chúng ta đều sẽ thay đổi hay mất đi
(Truyền Đạo 1:1-11).
Sự khôn ngoan tôn giáo. Nhiều người từ nhiều nền văn hóa
khác nhau cảm thấy khó khăn khi nghĩ rằng ở phía bên kia sự
sống sẽ không có những kỳ quan của thế giới tự nhiên. Vì thế, nhiều tôn giáo cố gắng đưa ra niềm hy vọng bên kia phần mộ.
Những lời sau đây có sự tương đồng với các hệ thống tôn giáo
khác:
• Những ai chỉ đặt hy vọng vào
đời này sẽ nhận lấy sự tuyệt
vọng (Truyền Đạo 2:15-20).
• Không có gì quan trọng hơn
sự sống đời đời (Truyền Đạo 12:13-14).
Bằng việc tin vào sự sống sau khi qua đời, các tín đồ của nhiều tôn giáo
có được lòng can đảm để hy sinh vì cuộc sống tốt đẹp ở bên kia. Nhưng một số người lại không coi trọng cuộc sống hiện tại, và vì thế họ lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ra những cuộc


Sự khôn ngoan tôn giáo không làm cho con người trở nên tốt đẹp chỉ bằng cách mang lại niềm hy vọng về sự bất tử.
chiến tranh không cần thiết, và khiến nhiều người phải hy sinh.
Sự khôn ngoan tôn giáo không làm cho con người trở nên tốt đẹp chỉ bằng cách mang lại niềm hy vọng về sự bất tử.
Sự khôn ngoan đạo đức. Đời sống tâm linh thiếu đi đạo đức
có thể gây ra nhiều nan đề, từ thần tượng giả dối cho đến sự bóc lột người nghèo. Theo Kinh Thánh, sự khôn ngoan về đạo đức
rất quan trọng đến nỗi Đấng Tạo Hóa không chỉ ghi luật pháp của Ngài vào bảng đá mà còn ghi vào tấm lòng của chúng ta (Rôma 2:14-15). Kinh Thánh phản ánh lương tâm của con người khi nói rằng: “Vậy thì, bất cứ điều gì các con muốn người ta làm cho mình, hãy làm điều đó cho họ” (Ma-thi-ơ 7:12) và “Đừng
để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-ma 12:21).
Một lần nữa, sự khôn ngoan chúng ta có là sự khôn ngoan chưa trọn vẹn. Khi nghĩ về tình yêu dưới góc độ của sự khôn ngoan đạo đức, vấn đề của chúng ta không nằm ở việc nhận biết nhưng ở khía cạnh hành động. Bất kể chúng ta muốn yêu thương nhiều như thế nào đi nữa thì chúng ta cũng dễ dàng sa
vào lối suy nghĩ ích kỷ. Không một ai trong chúng ta có thể trao hoặc nhận đủ tình yêu thương mà tấm lòng mình khao khát.
Sự khôn ngoan cứu chuộc. Tất cả chúng ta đều bị tổn thương. Để làm những điều đúng đắn, chúng ta cần nhiều hơn sự khôn ngoan trong tự nhiên, sự khôn ngoan tôn giáo và sự khôn ngoan đạo đức. Chúng ta cần đến sự khôn ngoan cứu chuộc để giải quyết những tội lỗi của người khác và của chính mình.
Chúa Jêsus ban sự khôn ngoan cứu chuộc khi Ngài phán:
“Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:28) và “Người mạnh khỏe không cần đến thầy thuốc đâu, nhưng là người đau ốm. Ta đến không phải để gọi người công chính, nhưng gọi kẻ có tội” (Mác 2:17).
Lời mời gọi của Đấng Christ dành cho những người bị tổn thương và yếu đuối không phải là mới mẻ. Trải qua nhiều thế
kỷ, các nhà tiên tri Do Thái đã tuyên bố rằng Đức Chúa Trời không chỉ ngự ở thiên đàng mà Ngài còn ở nơi vực sâu tối tăm
với những người có lòng đau thương và tâm hồn thống hối (Thi
Thiên 34:18, Ê-sai 57:15).
Điều mới lạ với Đấng Christ là tại những bước ngoặt của thế
giới, và ngay tại trung tâm của lịch sử nhân loại, Đức Chúa Trời
đã giãi bày bí mật sự khôn ngoan cứu
chuộc của Ngài. Bằng hành động của
tình yêu thương vô biên, Đấng Tạo
Hóa của chúng ta đã trở nên sinh tế,
chết thay cho chúng ta (I Cô-rinh-tô 1:17-31).
Sự khôn ngoan này vô cùng sâu sắc.
Giờ phút đen tối nhất của lịch sử nhân
loại chính là thời điểm Đấng Tạo Hóa
đã ban cho chúng ta sự tha thứ và sự
sống đời đời của Ngài.
Bởi sự khôn ngoan cứu chuộc của Đấng Christ, những người bị hủy hoại
và vô vọng đã học cách yêu thương như họ đã được yêu thương, và học


Giờ phút đen tối nhất của lịch sử nhân loại chính là thời điểm Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng ta sự tha thứ và sự sống đời đời của Ngài.
cách tha thứ như họ đã được tha thứ.
Khi nhìn biết Chúa Jêsus chính là món quà khôn ngoan mà
Đức Chúa Trời đã ban cho (I Cô-rinh-tô 1:30), chúng ta sẽ trân trọng khao khát của Sa-lô-môn về sự khôn ngoan hơn. Giờ đây chúng ta không chỉ ca ngợi giá trị của sự khôn ngoan trong đời sống thực tiễn mà còn có thể nhìn biết nguồn của mọi sự khôn ngoan.
“Phước cho người nào tìm được sự khôn ngoan và nhận được sự thông sáng! Vì ích lợi từ khôn ngoan tốt hơn ích lợi từ bạc, hoa lợi nó sinh ra tốt hơn vàng. Sự khôn ngoan quý báu hơn châu ngọc, chẳng một báu vật nào con ưa thích sánh kịp nó
được” (Châm Ngôn 3:13-15).
Ngay cả khoản dâng nhỏ nhất cũng giúp Mục vụ Lời Sống Hằng Ngày đem Kinh Thánh, là Lời khôn ngoan có quyển năng biến đổi đời sống đến với nhiều người. Chúng tôi không được tài trợ bởi bất kỳ tổ chức nào.