Skip to main content

Nuôi dưỡng sự thỏa lòng

Page 1


RBC Ministries

NHAØ XUAÁT BAÛN TOÂN GIAÙO—2012

SÖÙ MAÏNG cuûa chuùng toâi laø laøm cho Kinh Thaùnh, nguoàn khoân ngoan ñem ñeán söï bieán ñoåi ñôøi soáng, deã hieåu vaø deã tieáp caän cho taát caû moïi ngöôøi.

KHAÛI TÖÔÏNG cuûa chuùng toâi laø nhìn thaáy moïi ngöôøi khaép moïi nôi kinh nghieäm moái lieân heä caù nhaân vôùi Ñaáng Christ, coù ñôøi soáng gioáng Chuùa vaø phuïc vuï Ngaøi.

Nuoâi Döôõng Söï Thoûa Loøng (Cultivating A Heart Of Contentment)

Baûo Löu Baûn Quyeàn:

©2005 RBC Ministries, Grand Rapids, Michigan

AÛnh Bìa: Terry Bidgood

Kinh Thaùnh: Trích töø Baûn Hieäu Ñính Truyeàn Thoáng 2011 bôûi Lieân Hieäp Thaùnh Kinh Hoäi. Ñöôïc pheùp söû duïng.

Baûn quyeàn ñöôïc baûo löu

In taïi Vieät Nam vôùi söï hoã trôï veà haønh chaùnh cuûa Hoäi Thaùnh Tin Laønh Vieät Nam (MN)

NộI DUNG:

Giới Hạn Tải Trọng

(I Ti-mô-thê 6:3-16) ....... 4

Vấn Đề Tiền Bạc

(I Ti-mô-thê 6:17-19) ...... 5

(Gary Inrig)

NNgười gây quỹ tôn giáo thường dễ bị hoài nghi. Họ kêu gọi người ta chuyển tiền cho họ

để dâng hiến cho Đức Chúa Trời.

Tuy nhiên, chúng ta cũng dễ quên rằng Chúa Giê-xu còn nói nhiều về vấn đề tiền

bạc hơn là nói về thiên đàng. Dẫu vậy, tôi chưa từng nghe bất kỳ ai nói rằng Chúa Giêxu “sống vì tiền”

Trong phần trích của

cuốn True North, Mục sư

Gary Inrig đưa ra lời chỉ dẫn cho linh hồn chúng ta. Trong

Tập sách này được trích từ cuốn

True North của Gary Inrig. True North được xuất bản bởi Discovery

House Publishers, một thành

viên của gia đình mục vụ RBC.

Gary tốt nghiệp Viện Thần Học

Dallas và hiện là Mục sư ở Trinity

Evangelical Free Church thuộc Redlands, California.

tư cách là người phát ngôn của Chúa, ông cho biết một tấm lòng rời rộng không chú trọng nhiều vào vấn đề tiền bạc bằng việc tìm thấy niềm vui và sự thỏa lòng nơi Đấng

đã tạo dựng chúng ta cho Ngài.

S

Samuel Plimsoll là một

người mang gánh nặng.

Ông tham gia ngành

thương mại than đá tại Anh vào thế kỷ 19, và bắt đầu

nhận thức được những nguy hiểm khủng khiếp mà các thủy thủ gặp phải. Mỗi năm,

hàng trăm thủy thủ phải bỏ

mạng trên tàu vì nguy hiểm

của sự quá tải. Những chủ tàu

chẳng ngần ngại theo đuổi

những món lợi lớn chưa từng

có, để rồi sẵn sàng đưa đẩy

tính mạng của người khác đến

chốn hiểm nguy. Khi tàu rời

cảng, nó chất đầy hàng hóa trên boong, khiến con tàu như

muốn chìm xuống biển sâu.

Một sự kiện khiến các ông

chủ những người đứng trên

bờ với sự an ninh trong lòng

về những món lợi lớn họ sẽ

có được––lấy làm thỏa lòng.

Năm 1873, thật kinh ngạc khi

có 411 con tàu bị chìm, chôn vùi hàng trăm người xuống

lòng biển. Nếu một người

đã ký kết chuyến hành trình

đường biển, thì điều ấy càng

tệ hại hơn; anh không thể rút lại điều mình đã ký, dẫu anh

nhận ra rằng con tàu không

an toàn chút nào. Pháp luật hỗ trợ vững chắc cho các chủ

tàu và gây ra tội ác khi cho tàu nhổ neo bất chấp độ nguy hiểm của con tàu lớn như thế nào. Trong những năm đầu

thập niên 1870, cứ mỗi ba tù nhân ở miền Tây Nam nước

Anh thì có một là thủy thủ, người đã từ chối bước lên

những con tàu được mệnh

danh là “tàu quan tài”.

Vấn đề này đã trở thành sứ mệnh của Plimsoll. Ý

tưởng của ông thật đơn giản.

Tất cả mọi con tàu đều cần

một giới hạn về sức tải để

xác định xem con tàu ấy có

đang chở quá tải hay không.

Ấp ủ suy nghĩ ấy, Plimsoll chạy đua vào cuộc bầu cử Quốc hội năm 1868 và được chọn. Ngay lập tức ông bắt

đầu chiến dịch với quy mô lớn để cứu mạng những thủy

thủ Anh. Ông có bài phát biểu hùng hồn tại Hạ Viện và viết một cuốn sách gây sửng sốt công chúng khi đề ra các điều khoản. Từng bước, ông chiếm

được sự đồng thuận nơi công

chúng và buộc Chính phủ

phải hành động. Dự Luật dành

cho những con tàu lớn không

đủ tiêu chuẩn ra khơi được

thông qua năm 1875, và một năm sau, dự luật về giới hạn

tải trọng do Plimsoll viết cũng

được thông qua. Tuy nhiên, vì

cớ sức ép từ những món lợi

có được, quốc hội đã từ chối.

Điều này cho phép các chủ

tàu tự định mức tải ở bất kỳ vị

trí nào mà họ muốn.

Plimsoll đã chiến đấu

trong suốt 14 năm nữa cho

đến khi luật được thông qua

để bảo đảm rằng mức giới

hạn được thiết lập vì sự an

toàn của con tàu. Đồng thời,

mức giới hạn tải trọng của

ông trở thành tiêu chuẩn quốc

tế. Ngày nay, ở bất kỳ cảng

biển nào trên thế giới, bạn sẽ

thấy thành quả công việc của Plimsoll. Thành quả ấy khiến

ông được mệnh danh là “Bạn

của Thủy thủ”. Trên thân của mỗi con tàu chở hàng bạn sẽ

thấy mức tải trọng Plimsoll, chỉ cho thấy độ sâu tối đa mà

một con tàu chuyên chở phải tuân theo để ra khơi an toàn và đúng luật.

Cuộc sống sẽ dễ dàng

hơn nhiều nếu người ta có một định mức Plimsoll. Điều hướng cuộc sống đòi hỏi sự

an toàn. Vậy, chúng ta hãy cùng xem một vài điểm nổi

bật quan trọng trong Kinh Thánh về mức giới hạn tải trọng. Chúng ta sẽ không đến nơi an toàn trừ khi chúng ta hiểu được mức giới hạn Plimsoll của Đức Chúa Trời. Vào giai đoạn đỉnh điểm của cơn sốt bán hàng qua

mạng năm 1999, tạp chí Fast Company cho biết về vấn đề

giới hạn tải trọng theo cách nói thế tục:

Điều gây sự quan tâm ngày

nay là câu hỏi được treo

trên tường ở các phòng họp

công ty và tại các buổi tiệc

cốc-tai, trên các bảng phát

hành bán cổ phiếu lần đầu

của công ty và tại các bàn

ăn trong nhà bếp là: Bao

nhiêu thì đủ?

Bao nhiêu tiền––để

đền bù cho công việc bạn

đang làm? Bao nhiêu thời gian––để tận hiến cho gia

đình của bạn? Bao nhiêu

vinh hoa danh tiếng––để

thỏa mãn cái tôi của bạn?

Bao nhiêu cơ hội suy gẫm

riêng tư––để đào sâu sự

hiểu biết? Bao nhiêu thứ là

đủ cho bạn? Và dầu bạn có

bao nhiêu thứ, và bạn tìm

thấy như thế nào––thì cuối

cùng––bạn có thỏa lòng

không? (Tháng 7-8,/1999, tr.110).

Đó là những câu hỏi khảo sát, đặc biệt cho những người tin theo Đấng Christ muốn sống theo giá trị thiên quốc.

Trong một xã hội được định hình theo chủ nghĩa tiêu dùng

ép buộc và ăn sâu, thì chúng

ta định mức giới hạn cho mình như thế nào? Trong Tân Ước, hai lần chúng ta được nhắc nhở về sự tham lam, hay thèm khát là sự thờ hình

tượng (Êph. 5:5; Côl. 3:5).

Vấn đề thỏa lòng và tham

lam hầu như là vấn đề chúng ta đang đối diện khi chúng ta tìm kiếm sự điều hướng cho

văn hóa của chúng ta. Lời của sứ đồ Phao-lô trong I Ti-môthê 6:3-16 đặc biệt rõ ràng về

vấn đề này:

Nếu có người dạy giáo lý

khác, không phù hợp với lời

chân chính và giáo lý tin

kính Chúa chúng ta là Đức

Chúa Giê-xu Christ, thì đó là kẻ kiêu ngạo, không hiểu

biết gì; nhưng mắc bệnh

ham tranh luận, cãi lẽ về

chữ nghĩa, gây ra sự ganh

ghét, bất đồng, phỉ báng, nghi kỵ xấu xa; sự tranh

cãi triền miên giữa những

kẻ có tâm trí hư hoại, đánh

mất chân lý, xem sự tin kính

như là phương tiện trục lợi.

Sự tin kính cùng sự thỏa

lòng, chính là nguồn lợi

lớn. Vì khi chào đời, chúng ta chẳng đem gì theo thì

lúc lìa đời cũng không thể

mang gì đi được; vì vậy, có

cơm ăn, áo mặc thì phải

thỏa lòng. Còn những ai tham giàu có thì rơi vào

sự cám dỗ, mắc vào cạm

bẫy, sa vào những tham muốn dại dột và nguy hại, là những điều nhận chìm con người trong sự hủy diệt và hư mất. Vì lòng tham

tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác, một số người vì

đeo đuổi nó mà lìa bỏ đức tin, tự chuốc lấy điều nỗi đau nhức nhối. Nhưng hỡi

con là người của Đức Chúa

Trời, hãy tránh xa những

điều đó và tìm kiếm điều

công chính, tin kính, đức tin, yêu thương, kiên nhẫn, mềm mại. Hãy vì đức tin mà chiến đấu dũng cảm, giành lấy sự sống đời đời, là sự sống mà con đã được

gọi đến, và vì đó mà con có

lời tuyên xưng tốt đẹp trước mặt nhiều nhân chứng.

Trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng ban sự sống cho muôn loài, và trước mặt

Đấng Christ Giê-xu là

Đấng có lời tuyên xưng tốt

đẹp khi làm chứng trước

Pôn-xơ Phi-lát, ta khuyên con phải giữ điều răn dạy

nầy một cách trọn vẹn, không chỗ trách được, cho

đến ngày Chúa chúng ta là

Đức Chúa Giê-xu Christ

hiện đến, là điều mà Đấng

Chủ Tể hạnh phước và duy

nhất, là Vua của các vua,

Chúa của các chúa sẽ tỏ

bày vào đúng thời điểm

của Ngài, là Đấng duy

nhất không hề chết, ngự

giữa ánh sáng không ai có

thể đến gần được, là Đấng

chưa người nào thấy hoặc

có thể thấy được. Cầu xin

sự tôn kính và quyền năng

đời đời thuộc về Ngài! A-men.

Có một câu chuyện kể về cô gái nhỏ có cha mắc bệnh phàn nàn kinh niên. Vào buổi tối nọ, trong bàn ăn, cô dõng dạt tuyên bố, “Con biết mỗitrong gia đình mình

thích thứ gì!” Cô không cần bất kỳ lời dỗ ngọt nào để bày

tỏ thông điệp mình: “Johnny thích ham-bơ-gơ; Janie thích kem cây; Jimmy thích pizza, còn mẹ thì thích gà.” Cha của cô đợi đến lượt mình, nhưng không có thông điệp nào dành cho ông cả. Ông hỏi con: “À, thế còn Bố?”. “Bố thích gì hả con?” Trong cái nhìn thơ ngây và đượm buồn của một đứa trẻ, cô bé trả lời: “Bố, Bố thích tất cả những gì chúng ta chưa có!”

Một quan sát viên mô tả xã hội chúng ta là “một xã hội của bất mãn không ngừng.”

Chúng ta đã được đào tạo bởi những nhà thuyết phục

ẩn mình trong xã hội rằng chúng ta cần mua, tiêu thụ, nâng cấp, và mở rộng. Trong bối cảnh như thế, khái niệm “đủ’ trở nên hiếm hoi. Không ai quảng bá cho đức hạnh

thỏa lòng. Nhưng Đức Thánh

Linh đã dùng lời đó để chỉ ra một trong những vấn đề quan

trọng và nhạy cảm nhất trong cuộc sống chúng ta.

Phân đoạn Kinh Thánh này bày tỏ ba quan điểm cho

chúng ta thấy về nhu cầu giới

hạn Plimsoll trong cuộc đời

mình, nếu chúng ta muốn điều

hướng một nền văn hóa vật

chất thành công. Những quan

điểm đó xoay quanh các từ

như sự tham lam, thỏa lòng

và đặc tính.

Bản thân chúng ta phải

nhạy bén trước những nguy

hiểm của lòng tham. Quý

mục sư thường đứng trong

vị trí được nghe người khác

thổ lộ về những bí mật đen

tối nhất trong đời sống họ.

Dần dần theo thời gian, các

vị mục sư tin rằng hầu như

họ đã nghe sự xưng nhận về

mọi tội lỗi. Vì vậy, tôi lấy làm

sửng sốt khi đọc về nhận định

của nhà truyền đạo Charles

Spurgeon thế kỷ 19 rằng ông

đã nghe hầu như tất cả mọi

tội lỗi xưng nhận, ngoại trừ

tội tham lam. Tôi nhận thấy rằng hơn một trăm năm sau, kinh nghiệm của tôi cũng y như vậy. Tôi chưa bao giờ nghe ai xưng nhận về sự tham lam thậm chí khi nó đã quá rõ ràng. Tôi cũng nhận ra rằng, thật lòng mà nói, tôi tranh đấu

với lòng tham của chính mình khi muốn có được điều người

khác đang sở hữu trong khi

tôi không có. Tiền bạc không phải là trọng tâm duy nhất của sự tham lam, nhưng trong nền

văn hóa của chúng ta, nó là

thứ thiết yếu

Phao-lô muốn chúng ta nhận ra rằng vấn đề không phải là ở tiền bạc nhưng là lòng ham mến tiền bạc. Trong

I Ti-mô-thê 6:9, ông nói rằng nếu ai ao ước giàu có

thì người ấy đang trong tình trạng nguy hiểm thuộc linh.

Lời chính xác của Phao-lô

là: “còn những ai ham giàu có”; đó là những người chỉ

đặt lòng vào sự giàu có. Đó

là sự cám dỗ đến sự tham lam như nan đề của một số người, đặc biệt là với những người

có nhiều tiền hơn tôi. Nhưng

chúng ta biết rằng “ham giàu

có” không phải dành riêng

cho người giàu. Trong thực

tế, thường thì những ai không có tiền thì họ lại càng khao

khát có được nó. Đó là lý do tại sao chúng ta cần đọc lời

của Phao-lô cách cẩn thận.

Những lời ấy không chỉ áp

dụng cho những người phải

đóng thuế thu nhập ở mức cao

ngất ngưỡng. I Ti-mô-thê 6:10

là một trong những câu Kinh

thánh mà người ta thường

trích dẫn không đúng và sai

lệch. Chúng ta thấy Kinh

thánh dạy rằng: “lòng tham

tiền bạc là cội rễ của mọi điều

ác.” Sự giàu có không phải là

không có những nguy hại của

nó, nhưng điều sứ đồ Phao-lô

chỉ ra rằng vấn đề không phải

ở tiền bạc mà “vì lòng tham

tiền bạc,” một ảnh hưởng có

thể biến giàu và nghèo trở nên

giống nhau.

Điều quan trọng là giữ

sự hài hòa của Kinh thánh. Nhiều người thịnh vượng sử

dụng sự giàu có và tận hưởng nó một cách có trách nhiệm, nhưng họ không ham mến nó.

Một số anh hùng đức tin trong

Kinh thánh là những người giàu có, tin kính Chúa như: Gióp, Áp-ra-ham, Đa-vít, và

Nê-hê-mi. Những người khác vui hưởng vị trí lớn lao và thịnh vượng như Giô-sép và Đa-ni-ên. Không ai trong họ bị lên án vì những điều họ có, và họ không sống vì những

tài sản của họ. Áp-ra-ham có thể kiểm soát sự giàu có của

mình; trong khi cháu trai Lót của ông đã bị cám dỗ bởi sự giàu có, khiến người đưa ra

những lựa chọn thiếu khôn ngoan và sai trật. Vấn đề không phải nằm ở giá trị bề ngoài nhưng trong giá trị tấm lòng.

Vấn đề tham lam là điểm

nổi bật trong nền văn hóa thịnh vượng của chúng ta. Như tôi đã viết, có một sự quan ngại rằng chúng ta đang trượt dài trong suy thoái

sau một thập kỷ của việc mở rộng kinh tế thị trường. Dầu nền kinh tế đi theo định hướng nào, thì rõ ràng chúng ta vẫn là người đo lường sự thành công trên bình diện của sự giàu có và thành quả vật chất. Các lợi nhuận tức thời có được trong thời đại

hoàng kim của giao dịch

mua bán qua mạng, những

bản hợp đồng đáng kinh

ngạc được ký kết giữa các

vận động viên, hay sự rầm

rộ tập trung vào những chỉ

số Dow (chỉ số giá trị chứng

khoán dựa trên giá cả hằng

ngày của một số hàng được

chọn) hay NASDAQ (Viết tắt

của National Association of Securities Dealers Automated Quotations) một hệ thống

máy tính tại Mỹ cung cấp giá

cổ phiếu hiện thời của người

đang rao bán) làm được ngày nay cuốn chúng ta vào việc

đo lường giá trị cá nhân của

chúng ta bằng mức độ chúng

ta được chấp nhận. Nhưng

không bao giờ là đủ. Các vận

động viên ký những bản hợp

đồng làm tiêu đề quảng cáo

có nguy cơ phải chịu đựng

trong vòng hai năm sau vì họ

bị trả lương thấp hay chưa

được đánh giá cao. Hàng ngàn năm trước đây, trước giả sách

Truyền đạo xưa đã nói: “Kẻ ham tiền bạc chẳng bao giờ

thỏa mãn về tiền bạc; kẻ ham

của cải chẳng bao giờ thỏa

mãn về lợi nhuận . . . Của cải càng thêm nhiều, người ăn xài

cũng gia tăng” (Tđ. 5:10-11).

Trong ấn bản của Fast Company đã đề cậo trước đây,

các nhà biên tập phản ánh dựa trên kết quả thăm dò được

tiến hành trên những độc giả

đạt thành công sáng chói:

Chẳng chóng thì chày, mọi

thứ đều quy ra tiền. Đối

với hầu hết người trả lời, tiền bạc là quan trọng nhất.

Đa số họ cho rằng tiền là

yếu tố mạnh mẽ nhất trong

sự thành công của họ, cho

sự thỏa mãn của họ, cho

khả năng xác định cấu trúc

và chất lượng cuộc sống

của họ.

Nếu tiền bạc rất đỗi

quan trọng, thì phải cần

thêm bao nhiêu tiền nữa

để người ta sẽ không vì nó

mà bận tâm lo lắng? . . .

Câu trả lời tối ưu hiện ra

đó là không có thứ gì được

gọi là “đủ”. Càng có nhiều

tiền, người ta lại càng mong muốn có thêm.

Chúng ta cũng yêu cầu

họ chọn những mặt hàng

và dịch vụ khác nhau trong

vai trò như một người đã

thành công hoặc có dấu

hiệu vượt bực––và trộn với

mẫu tương tự khác. Càng

kiếm được nhiều tiền

nhiều, người ta có khuynh

hướng chăm xem những

chiếc xe đắt tiền, nhà cao

cửa rộng, hay những bữa

tối tại các nhà hàng sang

trọng như một món “tráng miệng” của cuộc sống . . .

Chúng ta muốn có

tất cả: Nhiều tiền hơn và

nhiều thời gian hơn. Thành

công hơn và đời sống gia

đình thỏa nguyện hơn––

Càng có nhiều thứ tiện

nghi thì càng sảng khoái

tinh thần (tr.114,116).

Ở một phương diện nào

đó đọc những lời trên bây giờ

dường như là điều lạ thường,

vì một phần là sự sụp đổ của

nhiều công ty công nghệ và

việc giảm giá trị cổ phiếu.

Nhiều người có vẻ giàu có

vượt hơn cả suy tưởng vì giá

trị của việc lựa chọn cổ phiếu

của họ làm nên tên tuổi cho

họ khá khác biệt so với tình

hình tài chánh của họ chưa

đầy 18 tháng sau. Phao-lô

miêu tả sự không chắc chắn

của sự giàu có trong I Ti-môthê 6:17, nhưng trong thời đó

ông bận lòng với những ảnh

hưởng băng hoại của sự ham thích tiền bạc. Theo các nhà

biên tập của Fast Company nhận thấy rằng không bao giờ là đủ là một sự thật. Nhưng điều mà các nhà biên tập không làm được là làm yếu đi tên riêng của nó: sự tham lam. Quy luật cơ bản đó là khi sự tích trữ càng nhiều chừng nào, thì tham vọng càng mạnh mẽ chừng nấy. Từ

ngữ Hy Lạp dịch “tham lam” có nghĩa là “mong muốn có nhiều hơn nữa.” Theo quan điểm của Chúa Giê-xu và các sứ đồ, điều này không đơn thuần là một xu hướng phải tránh trong xã hội tiêu dùng kiểu tư bản. Nhưng thực ra nó là tử thù nguy hiểm cho linh hồn chúng ta vì lơ là mức giới hạn Plimsoll và nó là sự quá tải nguy hiểm cho đời sống chúng ta.

Sự ham thích tiền của có sức mạnh phá hủy ít nhất là bốn phương diện sau:

1. Tham lam phá hủy khải tượng của chúng ta về lẽ thật của Đức Chúa Trời.

Qua I Ti-mô-thê, sứ đồ Phaolô phải đối diện xung đột với những giáo sư giả. I Ti-mô-

thê 6:3-5 là lần cuối cùng ông

miêu tả họ trong thư tín này.

Quan điểm của ông rất thẳng

thắn: Thần học khiếm khuyết sản sinh ra lối sống khiếm khuyết. Nhưng đằng sau sứ

điệp giả của những giáo sư này là một động cơ sai trật:

họ “xem sự tôn kính như là

phương tiện trục lợi”. Điều

này có nghĩa là họ giả vờ tin

kính và thuộc linh để có thể

lừa dối kẻ khác chi trả cho

sự giảng dạy sai trật của họ.

Đằng sau vẻ mặt học thức và hiểu biết thuộc linh là sự ham muốn kiếm tiền sai trật.

2. Tham lam làm ô uế các

giá trị của chúng ta.

“Còn những ai ham giàu có

thì rơi vào sự cám dỗ, mắc

vào cạm bẫy, sa vào những tham muốn dại dột và nguy hại là những điều nhận chìm con người trong sự hủy diệt và hư mất” (I Ti-mô-thê 6:9).

Tất cả chúng ta đều đối diện với cám dỗ. Nhưng Phao-lô nhấn mạnh rằng có những cám dỗ đặc biệt dành cho kẻ để lòng mình nơi sự ham muốn giàu có. Có một lối

chơi chữ thú vị được đề cập ở đây trong bản ngữ gốc. Tiếng

Hy-lạp cho từ “trục lợi”, hay lợi nhuận được sử dụng trong

I Ti-mô-thê 6:5 là porismos.

Tiếng Hy lạp cho từ “cám dỗ ” là peirasmos. Những kẻ chống đối Phao-lô tưởng rằng

“sự tin kính là một phương tiện để trục lợi (porismos).”

Nhưng lòng tham của họ nơi sự theo đuổi nguồn lợi khiến họ sa vào chước cám dỗ (peirasmos). Thật không khó

để nhận ra điều Phao-lô đang suy nghĩ. Mong ước để có

được thăng tiến hay một bản hợp đồng đẩy tôi rời xa gia

đình mình. Một cơ hội béo bở khiến tôi phớt lờ việc giữ gìn sự liêm chính của mình. Mong ước giữ được lòng tin nơi những người có thể giúp đỡ cho sự thăng tiến trong công việc, khiến tôi sa vào chước cám dỗ và noi theo lối sống của họ. Để có thêm ít tiền, tôi bị cám dỗ bóp méo báo cáo các khoản chi tiêu hay điền không đúng sự thật vào bản khai thuế của tôi. “Nỗi ám ảnh theo đuổi giàu có là một ngọn lửa tự bùng cháy. Nó làm tiêu hao không chỉ thời gian và năng lượng, mà còn cả các giá trị . . .

Sự giàu có đẩy người ta vào

vòng lẫn quẩn ở nơi của

những quy định khác biệt, áp

lực to lớn khi muốn ngang

bằng địa vị, và toàn bộ các giá

trị đều bị nó làm cho méo

mó” (Philip Towner, I-II Ti-mô-thê và Tít, tr.139).

Ước muốn giàu có sản sinh

ra những ước muốn khác và làm nhấn chìm chúng ta trong

vòng xoáy của nó.

3. Tham lam lật úp đời

sống chúng ta. Khi Phao-

lô viết “là những điều nhận

chìm con người trong sự hủy

diệt và hư mất” (I Tim. 6:9),

ông dùng ngôn từ được vay

mượn trong ngành thủy thủ.

Chỉ một lần khác trong Kinh

Thánh từ liệu nhận chìm được

sử dụng là trong Lu-ca 5:7.

Khi Phi-e-rơ và những đồng

bạn mình nỗ lực kéo mẻ lưới diệu kỳ lên, họ “chở cá đầy

thuyền đến nỗi thuyền gần chìm [bị đắm].” Cũng giống

như Samuel Plimsoll nhận

thấy nhu cầu cho mức giới hạn tải trọng trên tàu để ngăn

nó không bị quá tải, chúng ta cần một “giới hạn cho sự tham lam” để tránh dẫn cuộc

đời chúng ta đến chốn “hủy

diệt hư mất.” Theo ý nghĩa

trực tiếp nhất, vì chúng ta không thể vừa yêu và hầu

việc Đức Chúa Trời vừa ham mến và làm tôi ma môn

(Lu-ca 16:13), ai yêu của cải

thì không biết Đấng Christ và người ấy được định cho

sự hư mất. Tuy nhiên, cũng có một bài học áp dụng cho những người tin theo Chúa.

Từ ngữ hư mất được sử dụng trong Kinh thánh “ngụ ý cho

sự mất đi tất cả những gì tốt

đẹp trong cuộc đời” (Moulton & Milligan, The Vocabulary

Of The Greek New Testament

––tạm dịch: Ngữ Vựng Tân

Ước Hy Lạp, tr. 445). Warren Wiersbe cũng đề cập rất hay

đến vấn đề này:

Tiền là “chúa của thế gian

này,” và nó khiến cho hàng

triệu người tận hưởng cuộc

sống bằng cách dựa vào

những thứ thay thế. Họ có

thể dùng tiền có thể mua sự giải trí, nhưng không thể mua được niềm vui. Họ có

thể dùng tiền để mua thuốc

ngủ, nhưng không mua

được sự bình an. Tiền của

họ sẽ thêm cho họ những

người quen biết, nhưng

rất ít bạn thật. Sự giàu có

của họ khiến người khác

hâm mộ và ghen tị, nhưng

không phải là yêu thương.

Tiền có thể mua những

dịch vụ y tế tốt nhất, nhưng

không mua được sức khỏe.

Vâng, thật là tốt khi chúng

ta có được những thứ mà

tiền mua và được cung ứng

điều chúng ta không thể bị

đánh mất mà tiền không

thể mua được. (On Being A

Servant Of God- tạm dịch:

Trở Nên Tôi Tớ Đức Chúa

Trời, tr.142)

4. Tham lam làm nghẹt

ngòi đức tin chúng ta. “một số người vì đeo đuổi nó mà

lìa bỏ đức tin, tự chuốc lấy nhiều nỗi đau nhức nhối” (I Tim. 6:10). Chúa Giê-xu thấy sự tham lam là một kẻ làm chết linh hồn, và Ngài đưa ra lời cảnh báo trực tiếp: “Hãy cẩn thận, đề phòng mọi thứ tham lam, vì sự sống của con người không cốt tại của cải mình dư dật” (Lu-ca 12:15). Cuộc sống không phải chỉ dành cho tiền của. Chỉ có Đức Chúa Trời là nguồn sự sống; duy chính Ngài tể trị sự sống; chí có Ngài là

Đấng ban sự sống. Niềm tin

nơi tiền bạc không thể đồng tồn

tại với đời sống tin cậy nơi Đức

Chúa Trời.

Điều hướng cuộc sống an toàn trong thế giới bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng vốn

ăn sâu và bắt buộc này, đòi

hỏi chúng ta xác định giới hạn

tải trọng rõ ràng. Chủ nghĩa

vật chất biểu trưng cho mối nguy hiểm rình rập mỗi giây

phút như những tảng băng trôi

khổng lồ làm đắm tàu Titanic.

Chúng ta dễ thấy mọi chuyện

đã trở nên quá trễ đối với

thuyền trưởng và những ông

chủ trên chiếc tàu vĩ đại ấy, họ

thật bất cẩn khi cứ mãi băng băng hết tốc lực vượt qua những ngọn nước nguy hiểm

đó. Khi chiêm ngưỡng băng trôi thì nó thật đẹp nhưng va phải nó thì lại quá nguy hiểm.

Chúng đòi hỏi chúng ta phải hết sức cẩn thận. Chủ nghĩa vật chất cũng giống như vậy. Khi nền văn hóa của chủ nghĩa tiêu dùng và lòng tham kết hợp thì những thảm họa sẽ chực chờ. Nhưng Kinh thánh không đơn thuần kêu gọi

chúng ta tránh né sự tiêu cực.

Kinh thánh khích lệ chúng ta theo đuổi hướng tích cực.

Chúng Ta Phải Nuôi

Dưỡng Sự Thỏa Lòng. Liều thuốc chữa trị cho lòng

tham là sự thỏa lòng, một phẩm chất không thể thiếu được cho đời sống thuộc linh thật. Lời của sứ đồ Phao-lô thật ấn tượng: “Sự tin kính

cùng sự thỏa lòng chính là nguồn lợi lớn.” Tôi nghi ngại rằng Phao-lô đang đề cập đến

việc có một dạng tin kính thật mà không có sự thỏa lòng.

Tôi cũng quan ngại khi ông

nói đến sự tin kính trưởng thành luôn gắn liền như một phần không thể tách rời với

sự thỏa lòng.

“Sự tin kính” là một cụm

từ yêu thích của sứ đồ Phao-

lô. I Ti-mô-thê Ông sử dụng

tám lần (bốn lần trong phân

đoạn Kinh thánh này) để miêu

tả điều chúng ta gọi là “tâm linh thật.” Ông dùng một

thuật ngữ được sử dụng nhiều trong thời đại của ông để miêu tả quan niệm về lòng mộ

đạo ngoại giáo và đưa ra một ý nghĩa Cơ đốc rõ ràng. Thuật

ngữ này miêu tả một thái

độ tôn kính và tôn trọng bề trong hầu bày tỏ ra bên ngoài. Sự tin kính thật khởi nguồn

bằng “lòng kính sợ Đức Chúa

Trời,” kính sợ trong sự hiện diện của Ngài, không chỉ thể

hiện qua việc thờ phượng mà còn qua lối sống đúng với

đặc tính và tiêu chuẩn của

Đức Chúa Trời, Đấng chúng ta yêu mến và phục vụ. Đó là đời sống có Chúa làm chủ, tình yêu với Đức Chúa Trời chuyển thành sự thờ phượng

và cư xử đúng đắn. Đối với

Phao-lô, phẩm chất này hết sức quan trọng đối với những

người theo Chúa. Bởi ông đã viết trong I Ti-mô-thê 4:7-8 rằng: “Tự luyện tập lòng tin

kính. Vì . . . sự tin kính ích lợi mọi mặt, vì có lời hứa cho đời này và cả đời sau nữa.”

Sự tin kính thật luôn đi với “sự thỏa lòng.” Đối với nhiều nhà triết học Hy lạp và La mã, đây là một từ quan trọng. Một từ miêu tả thái độ tự giác, khả năng nương dựa vào một nguồn dẫn của nó chứ không nương dựa vào nguồn khác.

Đối với các nhà triết học dòng Stoic (Hy lạp xa xưa), họ cho rằng con người lý tưởng là con người độc lập, không có nhu cầu về bất cứ điều gì và không cần đến bất kỳ ai. Tuy

nhiên, theo quan điểm của

Phao-lô thỏa lòng mang một ý nghĩa khác. Viết thư cho

người Phi-líp khi ông đang ở

tù, rằng: “Vì tôi đã học sống

thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ

. . . Trong mọi nơi, mọi tình

huống tôi đã học bí quyết để

sống dù no hay đói, dù dư

hay thiếu. “Tôi làm được mọi

sự nhờ Đấng ban năng lực

cho tôi” (Phi. 4:11-13). Vậy

thì thỏa lòng không phải là

tự giác, nhưng là sự đầy trọn

trong Đấng Christ. Nó không

phải là sự tự bỏ đi nhưng là

sự thỏa nguyện. Nó không

phải là chấp nhận hiện tại hay

đầu phục tham vọng, nhưng là

quy phục Đấng Christ và mục

đích của Ngài. Sự thỏa lòng

nơi Chúa không phải là sự tự

mãn hay thụ động hoặc tách

biệt cuộc sống ra khỏi thế giới này. Thay vào đó, như G.K.

Chesterton từng nói, “Đây là

khả năng ra khỏi tình trạng mà mọi thứ đang gắn liền với

nó.” Sự thỏa nguyện vững

bền đó là quà tặng của Đấng

Christ.

Phân biệt giữa những gì mà người ta gọi là “thỏa nỗi

khát vọng” và “thỏa sự có

được” thật sự giúp ích cho tôi

rất nhiều” Khát vọng cho biết

tôi là ai––đặc tính của tôi, các

mối quan hệ của tôi, và giá trị

của tôi. Sự có được là những

gì tôi đang sở hữu. Sự tin

kính bao gồm chọn lấy sự hài lòng với điều mình đang có

và không hài lòng trước khát vọng. Đó là sự thỏa lòng với những gì tôi đang có nhưng

không thỏa mãn trong việc tôi là ai. Tôi muốn trở nên

khôn ngoan hơn, sâu nhiệm

hơn, yêu thương hơn, và giống Đấng Christ hơn.

Thỏa lòng cũng là kết quả của viễn cảnh thiên quốc đời đời. Đó là nơi mà Phaolô muốn chúng ta trông đợi

trong I Ti-mô-thê 6:7: “Vì khi

chào đời chúng ta chẳng đem gì theo thì lúc lìa đời cũng không thể mang gì đi được”. Lời xác nhận này thật rõ ràng nhưng dễ bị lãng quên. Vật chất dường như quá hiển nhiên, còn cõi đời đời có vẻ như không thật. Nhưng đức tin cho chúng ta biết sự thật trái lại. “Bởi chúng ta không chú tâm đến những điều thấy được, nhưng chú tâm đến những điều không thấy được.

Vì những điều thấy được chỉ là tạm thời, còn những điều không thấh được là vĩnh cửu” (II Cô. 4:18). Vật chất hiện tại không có giá trị vĩnh viễn. Chúng là những thứ để chúng ta tận hưởng chứ không phải để cất giữ. Cuộc sống trên thế gian này thật rất giống như trò chơi Độc Quyền (Monopoly game). Dầu chúng ta có kiếm

được nhiều thế nào, thì cuối

cùng cũng như đựng tiền công

mình trong túi lủng.

John Piper gợi cho chúng ta sự tưởng tượng về một vị khách tham dự buổi triển lãm

nghệ thuật, người ấy lấy bức tranh xuống khỏi tường và

giữ chặt nó nơi cánh tay mình

đặng đến lối ra. Bạn trông thấy anh ta và liền hỏi, “Anh

đang làm chi vậy?” “Tôi đang trở thành nhà sưu tầm nghệ thuật,” anh ta trả lời. “Nhưng chúng thật sự không phải của anh, và họ không cho phép anh đem chúng ra khỏi đây. Anh có thể chiêm ngưỡng chúng, nhưng anh không thể lấy chúng đi được!” “Chắn chắn, chúng là của tôi mà.

Vì tôi đang giữ nó nơi cánh tay mình! Và tôi đang lo lắng

đến việc làm thế nào để đem chúng ra khỏi đây khi thời cơ chín mùi” (trích từ Desiring God Khao Khát Đức Chúa Trời, tr.156).

Chúng ta chẳng lấy làm khó gì khi thấy sự ngớ ngẫn trong kiểu hành xử như thế.

Tuy nhiên, tương tư như vậy, chúng ta thường chăm xem của cải vật chất, những thứ

mà Đức Chúa Trời giao phó cho chúng ta. Chúng ta chỉ nhận thức đúng đắn về tiền

và vật chất khi chúng ta nhận ra chúng không có giá trị đời đời.

Phao-lô muốn chúng ta nhận biết rằng giá trị lớn lao nhất của đời sống chúng ta vượt lên trên tiền bạc. “Vì vậy, có cơm ăn, áo mặc thì phải thỏa lòng.” (I Tim. 6:8). Những người sống trong thế giới Phương Tây luôn dư dật về những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, nên đối với họ, nếu chỉ nghĩ về đồ ăn và đồ mặc mà thôi thì thật khó. Danh mục những thứ “thiết yếu” của họ thường dài hơn nhiều. Ở những nước khác, tôi có gặp những Cơ đốc nhân, họ có ít những thứ cần nhu

cho đời sống thể chất ngoài những bữa ăn đạm bạc, quần áo sơ sài, nhưng tôi cảm nhận phải phục họ vì niềm vui thật của họ trong Đấng Christ. Đồ ăn và đồ mặc là quan trọng, nhưng chúng không phải là tất cả của cuộc sống. Vì vậy, Đức Chúa Trời phán “Vì vậy, Ta phán với các con: Đừng vì mạng sống mà lo phải ăn gì, uống gì; đừng vì thân thể mà lo phải mặc gì. Mạng sống không quý trọng hơn thức ăn sao, thân thể không quý trọng hơn quần áo sao?” (Ma. 6:25).

Chúng ta tích trữ của cải và tiền bạc bởi nó cho chúng cho ta cảm giác an toàn trước những bất trắc trong tương

lai. Nhưng ngay cả khi chúng ta sung mãn nhất, sự giàu có

cũng không phải là chốn an ninh. Chúng chẳng cho chúng ta sự đảm bảo thật trong thế

gian hiện tại này và hoàn toàn không đảm bảo gì cho cả cõi đời đời. Đó là lý do tại sao Chúa kể về sự ngu dại của người giàu kia khi tưởng mình “được nhiều của cải

để dành cho nhiều năm” và

chỉ để Chúa vay mượn trong

đời mình mà thôi. Người ấy

không tể trị trên sự giàu có

mình; cũng không cầm quyền trên sự sống mình. Tiền của

người ấy không thể bảo vệ

cho người khỏi sự chết hầu

đến, khỏi sự phán xét của

Đấng Chủ Tể, hay khỏi sự hư mất của tất cả những gì

mình đang thâu trữ. Đức Chúa Giê-xu phán rằng, “Ai thu trữ

của cải cho mình mà không

giàu có nơi Đức Chúa Trời thì

cũng như vậy.” (Lu-ca 12:21).

Sự bảo an lớn lao nhất của

chúng ta không đến từ sức

mạnh của sự giàu có, nhưng

đến từ lời hứa chắn chắn của

Đức Chúa Trời. “Cha các con ở trên trời đã biết mọi nhu cầu [đồ ăn và đồ uống] của các con. Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm vương quốc Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, thì Ngài sẽ ban cho các con mọi điều ấy nữa” (Ma. 6:32-33).

Một vài người quan sát thấy rằng việc chúng ta sợ chết cũng như sợ mất đi những gì chúng ta đang có. Nếu chúng ta lo thâu trữ kho báu mình trên đất, chúng ta sẽ mất đi mọi thứ. Đức Chúa Trời phán dạy, “Nhưng hãy

tích trữ của cải ở trên trời, là nơi không có mối mọt, ten rỉ làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy. Vì của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó.” (Ma. 6:20-21). Sự thỏa lòng là bông trái của sự an ninh nơi Đức Chúa Trời, là bông trái của niềm tin nơi bản tánh và lời hứa của Ngài.

Chúng Ta Phải Tập

Trung Vào Tâm Điểm

Của các đặc tính (tính cách). Phao-lô muốn

Ti-mô-thê tránh xa sự tham lam và tìm đến sự thỏa lòng, và hướng Ti-mô-thê đến sự cân nhắc quan trọng. Những

giáo sư giả là những người theo đuổi sự giàu có, nhưng

Phao-lô muốn Ti-mô-thê (và

chúng ta) hiệp nhau trong sự theo đuổi phẩm chất tin kính. Những người theo chủ nghĩa vật chất gây hại hội thánh Chúa tại Ê-phê-sô có

một mô thức thành công, là họ chỉ chuyên tâm theo đuổi mục tiêu giàu có sung mãn đời này. “Nhưng, hỡi con, là người của Đức Chúa Trời hãy tránh xa những điều đó”

(I Tim. 6:11a). Tiền của là

nguồn thiết yếu nhưng là

một mục tiêu khủng khiếp và khiếm khuyết. Thực ra đó là một mục tiêu cực kỳ nguy hiểm. Nguy hiểm đến mức mà chúng ta được kêu gọi để

tránh xa mong ước giàu có, tránh xa sự ham mến tiền bạc. Điều này nghe có vẻ lạ lẫm trong một xã hội vốn đã tôn sùng việc theo đuổi vật chất và trong cộng đồng Cơ Đốc có nhiều nhà tư bản hơn là các Thánh Đồ. Sự cám dỗ của nền “thần học thịnh vượng” với triết lý sống cho vật chất và sự tiêu dùng cố gắng thánh hóa điều Chúa kêu gọi chúng ta tránh xa. Tôi thấy giảng những sự này thì dễ hơn nhiều so với việc thực hành.

Tuy nhiên, chúng ta không đơn thuần chỉ tránh xa. Sự kêu gọi dành cho những người theo Chúa là tìm kiếm sự công bình trên linh trình theo Ngài. “Tìm kiếm điều công chính, tin kính, đức tin, yêu thương, kiên nhẫn, mềm mại” (6:11b). Lưu ý rằng ở đây chúng ta từ bỏ việc theo đuổi vật chất và thay vào đó là theo đòi việc xây dựng tính cách. Theo đòi là một từ ngữ

quan trọng. Nó cho chúng ta thấy tính cách sẽ được mài

giũa theo thời gian, không thể có được tức thời. Trong khi đó có những sự giàu có cấp tốc, nhưng không có tính

cách cấp tốc. Từ ngữ theo đòi cũng nhắc nhở chúng ta rằng trong khi những tiêu chuẩn

này là bông trái của công việc tay Đức Chúa Trời làm trên

đời sống chúng ta, thì chúng ta cũng có một vai trò thiết yếu. Tính cách ày phải được

phát triển và theo đòi cách hết lòng. Theo đòi cũng nhắc nhở chúng ta rằng đây là công

việc có chủ ý và mục đích, tức sự học đòi trong những kinh nghiệm sống từng ngày.

Chúng ta không chỉ tránh xa tiền bạc và bước theo

Chúa. Chúng ta cũng “hãy vì

đức tin mà chiến đấu dũng cảm” (6:12). Vì trong khi đời

sống Cơ Đốc luôn mang tính cá nhân, thì không bao giờ là cô lập. Người theo Chúa được gọi để phát triển nước Đức

Chúa Trời và sự vinh hiển của Ngài trên thế gian này. Một

đời sống tham lam là một đời

sống ích kỷ. Đời sống cho thiên quốc là đời sống nên

thánh. Trong thời chiến, cách nhìn nhận về nguồn tài chính

của chúng ta khác nhau. Vì vậy, một cụm từ thứ ba cần

được thêm trong vào trong cách Cơ đốc nhân nhìn nhận

tiền bạc. Chúng ta từ chối lòng tham. Chúng ta nuôi dưỡng sự thỏa lòng. Và chúng ta thực hành cam kết trong việc sử dụng những nguồn

lợi của chúng ta để mở mang vương quốc Đấng Christ trên

thế gian này. Ban cho là cách

để chúng ta tránh khỏi sự tham lam, bởi lòng rời rộng xây dựng hệ miễn dịch cho

chúng ta chống lại sự tham lam. Ban cho là cách chúng ta phát triển sự thỏa lòng, vì chúng ta tự do lựa chọn dùng nguồn lợi của mình cho người khác chứ không phải cho chính mình. Ban cho là cách để chúng ta chứng minh và phát triển cam kết trong trận chiến đức tin.

Mối quan tâm của chúng ta trong chương này là suy nghĩ về giới hạn tải trọng, về giới hạn Plimsoll mà chúng ta cần định ra cho đời sống mình để ngăn sự quá tải vật chất nguy hiểm. Dưới đây là bốn đề xuất

giúp chúng ta tập trung suy nghĩ về giới hạn tải trọng cá nhân.

1. Phát triển Một Lối

Sống Có Chừng Mực, Không

Xa Hoa. Đi ngược lại với văn hóa. Mua đồ giảm giả hoặc không mua. Đó là hành động tự kỷ luật và phương cách để

tháo bỏ sự tham lam khi chọn cách để chi tiêu ít hơn hầu

bao của bạn.

2. Nuôi Dưỡng Lòng

Rộng Rãi, Không Tham

Lam. Lòng thương xót và

sự rời rộng đi ngược lại với

tham lam. Ban cho nhiều hơn

những gì bạn nghĩ bạn có thể

theo như tấm lòng mà Đức

Chúa Trời đã đặt để trong

bạn hầu dám sống cho Thiên

Quốc!

3. Nhấn Mạnh Giá Trị

Cá Nhân, Hơn Giá Trị hiện

tại. Quyết định dành nhiều

thời gian suy nghĩ và phát

triển tính cách của bạn trong tương lai hơn là về tài chánh..

Nếu kế hoạch tài chánh cho

việc nghỉ hưu của bạn đã có

sẵn, thì kế hoạch cho việc

xây dựng tính cách của bạn

khi nghỉ hưu là gì? Hiện nay

bạn đang định đoạt tài sản tài

chính của bạn trong tương lai.

Bạn cũng cần định đoạt việc

sở hữu đặc tính của bạn trong

tương lai ngay từ bây giờ. Bạn chọn sẽ là người như thế nào khi về già?

4. Đầu Tư Vào Cõi Đời

Đời, Không Phải Cõi Đời

Tạm. Cầu nguyện cho kế hoạch thiên quốc sẽ gia thêm niềm yêu thích của bạn, thách thức ân tứ của bạn, và truyền cảm hứng cho việc đầu tư cho kho báu của bạn.

VẤN

Thế kỷ 21, thế kỷ mà

Tchúng ta đang bước vào một thế giới mới, đáng kinh ngạc đến nỗi không giống bất kỳ giai đoạn nào mà chúng ta từng trải qua. Chúng ta cần học những kỹ năng định hướng mới. Nếu phải thiết lập các khóa học của mình, chúng ta cũng cần điều chỉnh lại cuộc sống mình

để có thể tồn tại trước những điều kiện thay đổi nhanh

chóng.

Phát triển giới hạn Plimsoll những năm 1870 đã gia thêm cho sự an toàn đáng kể của

hàng hóa và thủy thủ qua việc định mức sâu tối đa mà con tàu có thể chở cách hợp pháp. Các thủy thủ cũng nhận thấy nhu cầu giữ vững con tàu của họ để chống lại xu hướng lắc

lư của nó, đặc biệt là trong vùng biển lớn. Công nghệ thực hiện việc này cho đến thời điểm xuất hiện các con quay, một thiết bị đơn giản tương tự như dạng đồ chơi con quay của trẻ em.

Năm 1852, Leon Foucalt, một nhà khoa học người

Pháp, khám phá ra nguyên tắc

và phát minh ra con quay đầu

tiên. Đó vẫn là mẫu khoa học mãi cho đến năm 1911, khi

Elmer Sperry, nhà khoa học

Mỹ, được cấp bằng sáng chế la bàn hồi chuyển, một thiết

bị chứng minh về tầm quan

trọng lớn lao của nó trong hàng loạt các ứng dụng định

hướng, không chỉ cho việc lái

tự động và hệ thống hướng dẫn trên tàu, máy bay, tên lửa

và tàu vũ trụ mà thôi. Công ty của ông cũng phát triển các thiết bị tạo tính ổn định kiểu con quay hồi chuyển lớn để

sử dụng trên các con tàu nhằm

giảm tải sự lắc lư của nó trên

đại dương. Trong những công nghệ gần đây, con quay nhỏ hơn đã được sử dụng kết nối

với bộ thăng bằng ổn định để giảm sự lắc lư và vì vậy tăng

độ an toàn và thoải mái khi ở trên tàu.

Nếu chúng ta muốn định hướng cho sự thay đổi trước

đại dương của cuộc sống hiện

đại cách thành công, chúng ta cần một thiết bị giữ sự ổn

định như vậy, và tôi muốn

khích lệ bạn rằng sự rộng rãi

được Đức Chúa Trời định cho chúng ta để phục sự như một con quay cá nhân trước sự lắc

lư dập dìu của chủ nghĩa vật chất hiện đại. Kinh thánh cho biết, điều này được tìm thấy

trong I Ti-mô-thê 6, cảnh báo trước mối nguy hiểm của lòng ham mến tiền bạc, Phao-lô

đề cập đến vấn đề tiền bạc và cũng đưa ra một vài hướng

dẫn trực tiếp nhằm cung cấp

sự định hướng an toàn cho chúng ta.

Hãy khuyên bảo những

người giàu ở thế gian nầy

đừng kiêu ngạo và đừng đặt

hi vọng vào của cải không

chắc chắn, nhưng hãy đặt hi

vọng nơi Đức Chúa Trời, là

Đấng mỗi ngày ban mọi vật

một cách dư dật để chúng ta vui hưởng. Họ phải làm việc thiện, làm nhiều việc phước

đức, có lòng rộng rãi, sẵn

sàng chia sẻ; như vậy, họ

tích lũy cho tương lai mình

một nền tảng vững bền để

nắm chắc sự sống thật.

(I Tim 6:17-19).

Nhiều năm trước, Howard

Stern, ông chủ đài phát thanh không mấy nổi tiếng thông

báo việc mình sẽ xem xét

chạy đua cho chức thống đốc

bang New York. Tuy nhiên, khi thời hạn gần kề cho việc

chính thức hóa ứng cử của mình, ông đã rút lui, và thông báo rằng việc giải trình tài

chính của ông “quá ư là cá nhân”. Ông là người làm nên tiếng tăm qua việc thăm dò và tiết lộ những chi tiết sâu kín và ô nhơ cùng cả những mối quan hệ phóng túng của mình!

Có lẽ điều tối kỵ cuối cùng trong thế kỷ 21 đó là tài chính cá nhân. Dẫu là Cơ đốc nhân, chúng ta, trở nên tránh né vấn

đề tiền bạc, ngay cả khi chúng

ta chi tiêu cách rõ ràng. Khi

bạn hỏi trực tiếp bất kỳ ai về

tài chính, bạn sẽ không tạo

được thiện cảm nơi người ấy.

Nếu một mục sư nói về vấn

đề tiền bạc, ông sẽ tạo nên

cảm giác tiêu cực hơn hầu hết

các đề tài khác .

Tôi không nói rằng sự kín

đáo này luôn sai. Tôi không

cảm thấy cần thiết phải thỏa

mãn sự tò mò của những

người hay tọc mạch về tình

trạng tài chính của tôi. Hội thánh có thể bị rút tiền và lẽ

thật Kinh Thánh bị bóp méo vì mục đích thiếu thuộc linh.

Đồng thời, việc thường xuyên

tách rời giữa niềm tin và tiền

bạc khiến tôi gặp rắc rối. Vấn đề tiền bạc. Sổ séc, thẻ tín dụng, và tài khoản tiết kiệm của tôi bày tỏ niềm tin, giá trị và các ưu tiên sâu kín nhất của tôi. Đó là lý do Lời Đức Chúa Trời đề cập đến vấn đề này nhiều lần và cũng là lý do mà Phao-lô trở lại chủ đề này trong phần cuối thư tín đầu tiên ông gởi cho Ti-mô-thê.

Trong I Ti-mô-thê 6:3-16, mối bận tâm của ông xoay quanh các từ tham lam (“tránh xa nó”), thỏa lòng (“nuôi dưỡng nó”) và đặc tính (theo

đòi). Bây giờ trong câu 17-19,

ông nói cách trực tiếp đến vấn

đề của lòng rộng rãi.

Tiền Là Một Nghịch

Lý và Phải Được Kiểm

Soát Cẩn Thận. Phao-lô

đã cảnh báo chống lại những

đam mê theo đuổi tiền bạc

và sự giàu có, lời cảnh báo

mà chúng ta cần cho thế giới

của những người chuộng tiêu

dùng. Nhưng tiền bạc cũng

là công cụ được sử dụng cho

sự vinh hiển của Đức Chúa

Trời. Một số người xem sự

giàu có như một sự xấu xa

về bản chất, thứ mà Cơ Đốc

nhân cần từ chối và tránh xa.

Đây không phải là quan điểm

Thánh Kinh. Kinh Thánh

không phải là vị tu sĩ từ chối tất cả mọi vật chất, cũng

không phớt lờ trước những nguy hiểm của tiền bạc. Tiền bạc là sự chu cấp của Đức

Chúa Trời. Ngài giao phó nó cho người ta để vui hưởng.

Sứ điệp của Phao-lô gởi

cho “những người giàu có trên thế gian này”. Sự cám dỗ ngay lập tức làm chúng ta mất giá trị và tưởng rằng Phao-lô

chỉ đề cập đến một vài người

ưu tú, chỉ hơn 10 phần trăm

trong xã hội chúng ta. Rõ ràng những lời này thích ứng cho họ, nhưng cũng thật dễ dàng

đánh mất tầm nhìn về phước hạnh lớn lao chúng ta được hưởng là thế nào khi chấp

nhận một cái nhìn hạn hẹp như thế.

Ted Turner thường không

phải là nguồn của sự khôn ngoan thật, nhưng trong một

bài phát biểu phê bình tại

trường Đại học Emerson vào

Tháng 5/2000, ông đã tỏ bày

một sự thật quan trọng:

Tất cả đều có liên hệ. . .

tôi ngồi xuống và nói, tôi

chỉ có 10 tỷ đô-la, nhưng

Bill Gate có 100 tỷ; tôi

cảm thấy giống như tôi đã

thất bại hoàn toàn trong

đời sống. Nhiều tỷ đô-la

cũng không làm bạn hạnh

phúc nếu bạn cứ bận tâm

lo nghĩ ai đó đang giàu có

hơn bạn . . . Vì vậy, đừng

để bạn mắc bẫy trong sự

đo lường thành công của

bạn bằng lượng vật chất

bạn kiếm được (People, tạm dịch: Con người, Ngày 12/6/2000, tr.62).

Vấn đề này vượt xa định nghĩa của chúng ta về sự

thành công. Cơ đốc nhân ở các nước phương Tây có lợi

thế sống trong một tiêu chuẩn mà thế giới phải ghen tị. Một con số đáng kinh ngạc là có

1.3 tỷ người kiếm được dưới

một đô-la mỗi ngày. Một trăm triệu trẻ em trên khắp thế giới vô gia cư, và không biết bao nhiêu cuộc đời, sống ở những nơi còn tệ hơn những

chỗ mà chúng ta chu cấp cho con thú cưng và động vật nuôi

của mình. Nạn đói và bệnh

tật là một thực tế xảy khiến cho hàng loạt người chết mỗi ngày.

Tuy nhiên, sự kêu gọi của

Đức Chúa Trời không phải

để người giàu cảm thấy mặc

cảm tội lỗi về sự giàu có

mình hay tước bỏ sự giàu có

của mình. Gương mẫu trong

Công Vụ 2, cho biết những

Cơ đốc nhân đầu tiên “bán

hết tài sản, của cải mình có

mà phân phát … tùy theo nhu

cầu của mỗi người” (Công vụ 2:45). Họ là gương mẫu sống động về Cơ đốc nhân yêu

thương chứ không phải một khuôn mẫu cứng ngắc. Giàu

có là ơn phước thiên thượng, thường được ban cho gián

tiếp qua sự ra đời của chúng ta ở một nước thịnh vượng, hay qua những kỹ năng và

khả năng bẩm sinh của chúng ta, hoặc vì cơ hội độc nhất mà Đức Chúa Trời chủ tể đã

định trước cho chúng ta. Chỉ có những người tự dối mình và kiêu ngạo nhất mới không nhận thấy ơn phước dư dật

hiện tại của họ đến từ những

yếu tố ngoài tầm kiểm soát của họ.

Tuy nhiên, giàu có không

phải luôn luôn đúng. Tôi

không được tự do để làm bất

cứ điều gì tôi muốn với số

tiền của tôi.

Luật pháp thời Cựu Ước cho thấy rõ ràng Đức Chúa

Trời không cho phép thâu trữ của cải bằng sự trả giá của người khác cách không kiểm soát. Chúa công bố trực tiếp về của cải của chúng ta qua việc dâng phần mười và các của dâng, và những luật lệ của Ngài liên quan đến quyền sở hữu cá nhân, bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và cho vay tiền cách bóc lột. Các lời tiên tri có đủ các sự lên án

đối với kẻ giàu, một hệ thống tầng lớp thao túng, bóc lột và

các tập quán kinh doanh cướp bóc và đàn áp. Bạn có thể đọc

A-mốt, Ê-sai, hay Giô-ên và

thấy rằng có nhiều tập quán

trong hệ thống thị trường

ngày nay thiếu mất tiêu chuẩn

của Đức Chúa Trời cho một xã hội công bằng và giàu

lòng thương xót. Hệ thống

kinh tế của chúng ta có lẽ là

kẻ kế thừa tốt nhất về lòng ích

kỷ và tội lỗi của nhân loại, nó

bị nhiễm độc nặng nề bởi tình

trạng đồi bại của chúng ta.

Không phải là chúng ta không

thấy điều này nhưng chúng ta chấp nhận cách không phê

bình hiện trạng này bởi chúng

khiến chúng ta thấy thoải mái.

Như đã nói, vui hưởng

tiền bạc vẫn là đúng, bởi vì

Đức Chúa Trời “Đấng mỗi

ngày ban mọi vật một cách dư dật để chúng ta vui hưởng” (I Tim. 6:17). Ngay đầu thư

tín, Phao-lô đối diện với thế giới quan khổ hạnh, từ bỏ hôn nhân và dùng những đồ ăn nhất định. “Mọi vật do Đức

Chúa Trời tạo dựng đều tốt

đẹp” Phao-lô viết, “không

có vật gì đáng loại bỏ, miễn

là được tiếp nhận với lòng biết ơn; vì nhờ lời Đức Chúa

Trời và lời cầu nguyện mà vật

đó được thánh hóa” (4:4-5).

Trong bối cảnh này, Lời Đức

Chúa Trời dạy rằng, điều này

không phải cổ xúy cho sự vui

hưởng tài sản cách bê tha, quá

độ. Rốt lại, I Ti-mô-thê 5:6 cho chúng ta biết “Nhưng quả phụ nào sống xa hoa tụy lạc

thì dù sống cũng như chết”.

Nhưng Chúa vẫn chu cấp cho

chúng ta mọi điều “để vui

hưởng,” một từ gắn liền với niềm vui trong sự chu cấp

ân điển của Chúa. Hay, như trước giả sách Truyền Đạo cho biết:

Kìa, ta thấy rằng thật là

tốt đẹp và thích đáng cho con người ăn, uống, và vui

hưởng mọi công lao mình

làm ra dưới ánh mặt trời trọn đời sống mà Đức Chúa Trời ban cho; vì đó là phần con người được hưởng.

Như thế, tất cả những ai

được Đức Chúa Trời ban sự

giàu có, của cải, cũng như cho quyền sử dụng của cải

ấy sẽ nhận lấy phần mình, và vui hưởng công lao mình

làm ra. Đó chính là món

quà Đức Chúa Trời ban tặng.(5:18-19).

Vui hưởng ơn phước vật

chất của chúng ta cách không tham lam và vui hưởng bằng

sự thỏa lòng là một phương

diện theo lời Kinh Thánh. Có

một phương diện khác không

kém phần quan trọng: Tiền

bạc có thể trở thành kẻ thay

thế Đức Chúa Trời, nên nó

phải được đặt vào đúng vị trí.

“Hãy khuyên bảo những

người giàu . . . đừng kiêu

ngạo và đừng đặt hy vọng vào

của cải không chắc chắn” (I

Tim. 6:17). Mối nguy hiểm

là chúng ta sử dụng tiền bạc

như bảng ghi thành tích cho

sự thành công trong cuộc

sống của chúng ta và trở nên

tự hào về thành quả mình đạt

được rồi kiêu ngạo, và coi

thường những người không thành công về tài chánh.

Chúng ta rất dễ tưởng tượng rằng chúng ta là tác giả cho

sự thành công của mình, và

chúng ta tự cho mình có đầy

đủ quyền tín nhiệm. Những

người khác thì ấp ủ và nuôi

dưỡng mộng tưởng khi thấy cung cách mà những người

giàu được đối xử. Tiền bạc ban cho quyền lực, đặc quyền và cơ hội và chúng ta bắt

đầu cảm thấy mình có thẩm quyền như thể chúng ta giá trị hơn và xứng đáng hơn những người bình dân vốn là những người không có nhiều tiền của.

Mối nguy hại thứ hai là chúng ta đặt sự trông cậy vào những gì chúng ta đang có. Nó trở thành sự an ninh cho chúng ta trước một tương lai không định trước được, chốn nương thân cho chúng ta trước những bão biển khôn lường của đời. Trớ trêu thay, chúng ta đặt cụm từ “Chúng tôi tin vào Chúa” (In God we trust) lên trên đồng đô la của chúng ta, nhưng “Tôi tin vào tiền của” lại được viết đâu đó kín giấu trong lòng chúng ta. Dầu vậy, tiền bạc có những giới hạn của nó. Tin cậy vào tiền bạc là điều dại dột, bởi vì

ít nhất nó không bảo đảm. Tất cả chúng ta biết những điều này có thể xảy ra: thị trường chứng khoán suy thoái, thị trường bất động sản sụp đổ, siêu lạm phát, nhà quản lý không trung thực, bất ngờ

bị mất việc, một căn bệnh

đau thương, tất cả những

điều ấy có thể vét sạch tiền

tiết kiệm của chúng ta. Một

tựa báo buổi sáng kể về câu

chuyện những người làm

trong ngành công nghệ cao, chỉ một năm trước họ đã ban

tặng những món quà Giáng

sinh rất đắt tiền bởi vì họ nên

giàu có nhờ việc chọn đúng

cổ phiếu. Nhưng năm này họ

lại khất việc gởi quà vì giá trị

cổ phiếu của họ sụp đổ cùng

với công ty. Nhiều người mất việc.

Một tựa báo Street Wall

biên niên các vận may thay

đổi của những “tiểu triệu

phú”, những người đã đưa

công ty công nghệ của mình

vọt lên vị trí hàng đầu ngay

trong đợt phát hành giá trị cổ phiếu lần đầu năm 1999. Chỉ qua một đêm họ đã có hàng trăm triệu đô la giá trị thực, và rồi họ tính toán để

sử dụng sao cho phù hợp. Sau đó, khi chỉ số NASDAQ giảm mạnh, mọi thứ thay đổi nhanh chóng. Vì cổ phiếu của “cựu

tiểu triệu phú” đã rớt xuống

96.8 phần trăm chỉ trong vài tháng, như có câu nói rằng

“Lên hương rất dễ. Nhưng một khi bắt đầu tụt dốc, không ai muốn nói chuyện với bạn. Đó là kinh nghiệm cá nhân thách thức nhất đời tôi”

(trích “Ex-centimillionaires See Stakes Plunge”, ngày 20/10/2000).

Vị vua khôn ngoan Sa-lômôn từng viết:

Hãy thôi nhờ cậy sự thông sáng của con. Khi con liếc mắt vào sự giàu sang, có phải nó đã bay mất rồi không? Chắc chắn nó mọc cánh như chim đại bàng, Và tung cánh bay lên trời cao.

Con chớ chịu vật vã đặng

làm giàu; (Châm 23:4-5).

Tin cậy vào tiền bạc cũng là sự vô tín. Giấc mơ của người Mỹ có sức mạnh lớn lao. Nó khiến nước Mỹ bị thế giới này ghen tị, không chỉ vì tiêu chuẩn sống mà

người Mỹ hưởng thụ, nhưng cũng vì những triển vọng mà nước Mỹ dành cho mỗi công dân của nó. Nhưng có một mặt đi xuống.Người Mỹ không ngừng theo đuổi nhiều điều hơn nữa. Chúng ta tin rằng nếu chúng ta cố gắng

hơn, làm nhiều hơn, chúng ta không chỉ đạt được ước

mơ của mình mà còn lấp đầy khoảng trống trong linh hồn

chúng ta. Chúng ta không chỉ cần có tất cả, mà còn cần có

ngay bây giờ. Chúng ta không chỉ cần có nhiều hơn, mà còn

cần những thứ tốt hơn. Và

danh tiếng khiến chúng ta nghĩ rằng không có lý do gì

để không có điều mình muốn.

Tiền bạc và vật chất là con đường để đi đến cuộc sống

sung túc.

Ngược lại, Lời Đức Chúa

Trời dạy khác. Phao-lô cho chúng ta biết thà trông cậy

vào Đức Chúa Trời thì hơn

(6:17), nhận biết tiền bạc là

hấp dẫn nhưng nó không thể thay thế mọi thứ được. Chính

Gióp cũng cảm thấy sức mạnh

của nó:

Nếu tôi tin cậy nơi vàng

hay gọi vàng ròng là nơi

nương nhờ của tôi; Nếu tôi vui mừng vì có nhiều của

cải, Và trong tay sở hữu

được thật nhiều; Nếu tôi

ngắm mặt trời chiếu sáng,

Nhìn vầng trăng lộng lẫy

nhô lên. Nếu lòng tôi âm

thầm bị chúng mê hoặc,Và

hôn tay tỏ lòng tôn kính

chúng, Thì điều đó đã là tội

ác đáng bị tòa xử phạt, Vì tôi đã chối bỏ Đức Chúa

Trời trên cao. (Gióp 31:2428).

Bởi bản chất con người, tiền bạc trở thành một nghịch lý, vì nó có thể làm các việc đại nghĩa, hay điều đại ác.

Vì vậy, Phao-lô nhấn mạnh, chúng ta phải sử dụng nó cách cẩn thận. Bước đầu tiên và quan trọng nhất là gìn giữ

tấm lòng chúng ta và bảo

đảm rằng chúng ta đang tin

cậy vào Đức Chúa Trời, chứ không phải tin cậy vào tiền

bạc. Trong I Ti-mô-thê 6:18, Phao-lô hướng chúng ta suy nghĩ đến bước tiếp theo.

Tiền Bạc Tạo ra Tiềm Năng Để Làm

Nên Sự Khác Biệt, Chứ Không Chỉ Để

Kiếm Sống. Cơ đốc nhân bước theo Chúa mình trong sự phát triển đời sống làm lành: “Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức”. Đức Chúa Trời, Đấng chu cấp cho chúng ta cách dư

dật, muốn chúng ta biết ơn

Ngài qua việc làm lành. Kinh Thánh nhấn mạnh rằng không

ai được cứu bởi việc lành, nhưng bởi ân điển ban cho

cách nhưng không của Đức

Chúa Trời. Cũng như vậy, con dân Đức Chúa Trời sẽ

chứng thực đời sống mới của

họ bằng việc lành qua năng quyền của Đức Thánh Linh.

Tân Ước nhấn mạnh mối liên

hệ này:

Ánh sáng của các con phải

chiếu sáng trước mặt mọi

người, để họ thấy những

việc làm tốt đẹp của các

con và ca ngợi Cha các con

ở trên trời. (Mat. 5:16).

Vì chúng ta là công

trình của tay Ngài, được

tạo dựng trong Đấng Christ

Giê-xu để thực hiện những

việc lành mà Đức Chúa

Trời đã chuẩn bị từ trước

để chúng ta làm theo (Êp. 2:10)

Đức Chúa Trời vĩ đại, cũng là Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê-xu Christ, là Đấng đã hi sinh vì chúng ta để chuộc chúng ta khỏi

mọi gian ác, và tinh luyện chúng ta thành một dân

thuộc riêng về Ngài, là dân

sốt sắng làm các việc lành.

(Tít 2:13-14)

Đây là lời chắc chắn. Ta muốn con nhấn mạnh những điều đó, để những

ai đã tin Đức Chúa Trời sẽ chú tâm vào việc lành. Đó

là điều tốt đẹp và ích lợi

cho mọi người. (Tít 3:8).

Anh em tín hữu chúng

ta phải học tập chú tâm

vào việc lành, để cung ứng

những trường hợp có nhu

cầu cấp bách, chứ đừng

sống một cuộc đời không

kết quả. (Tít 3:14)

Hãy quan tâm khích lệ nhau về lòng yêu thương và các việc lành. (Hê. 10:24).

Vậy nhờ Đức Chúa

Jêsus, chúng ta hằng dâng

sinh tế bằng lời ngợi ca

cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miệng tuyên xưng danh Ngài. Chớ

quên làm việc lành và chia

sẻ cho người khác, vì các tế lễ như thế làm hài lòng Đức

Chúa Trời. (Hê. 13:15-16)

Hãy ăn ở ngay lành

giữa dân ngoại, để dù họ

có nói xấu anh em là người

gian ác, họ vẫn thấy được

việc lành của anh em và tôn

vinh Đức Chúa Trời trong

ngày Ngài thăm viếng.

(I Phi. 2:12)

Phao-lô không đề cập chi

tiết những việc lành này là gì.

Rõ ràng trong tâm trí ông đã

nghĩ đến hành động chăm sóc

và thương xót, đáp ứng nhu

cầu cho mọi người. Thật quan

trọng khi ông đề cập đến việc

lành trước khi ông nói về lòng

rời rộng. Những người có tiền

của thường thấy dâng tiền dễ

hơn là dâng thời gian, nhưng

Đức Chúa Trời sẽ không cho phép những người lắm của suy nghĩ rằng họ có thể lựa chọn như vậy. Họ không chỉ

làm việc lành; mà cũng phải giàu có trong sự làm lành nữa. Người theo Chúa cũng cần

phát triển lối sống rộng rãi:

“Hãy răn bảo họ… kíp ban phát và phân chia của mình có”. Hai từ Hy-lạp được dịch là “kíp ban phát” và “phân

chia” về cơ bản là giống nhau

và cùng quan điểm về sự rời rộng trong tài chính. Tân ước không đề cập việc dâng phần mười là tiêu chuẩn Cơ Đốc.

Đó là luật lệ rõ ràng dưới thời Giao ước Cũ, thay vào đó, Giao ước Mới nhắc chúng ta nhớ đến ân điển của Đức

Chúa Trời dành cho chúng ta. Rời rộng là tiêu chuẩn ban ra thuộc Tân ước.

Các con đã nhận không, thì hãy cho không. (Ma. 10:8).

Tôi đã từng chỉ dạy cho anh em trong mọi việc rằng chúng ta phải cần cù

làm việc như thế để giúp đỡ

những người đau yếu, và

nhớ lại lời chính Chúa là

Đức Chúa Giê-xu đã phán:

‘Ban cho có phước hơn

nhận lãnh.’ (Công. 20:35)

Hãy nhớ rằng: Ai gieo

ít thì gặt ít, ai gieo nhiều

thì gặt nhiều. Mỗi người

nên quyên góp tùy theo lòng

mình đã định, không miễn

cưỡng hoặc do ép buộc, vì

Đức Chúa Trời yêu mến

người dâng hiến một cách

vui lòng. Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em ân

điển sung mãn để đáp ứng

mọi nhu cầu của anh em,

lại còn có dư dật để làm

mọi việc lành (II Cô. 9:6-8).

Ban cho cách rời rộng là

sự ban cho cân xứng, chứ không đơn thuần là ban cho bao nhiêu phần trăm. Trong

khi việc dâng phần mười là

lời chỉ dẫn hữu ích, thì với những người vốn đã quá giàu

trong ơn phước mà Đức Chúa

Trời ban cho thì ban cho rời

rộng vẫn còn chưa đủ. Như

Fred Smith nhận định, “Tôi

thật sự tin rằng việc dâng

phần mười đối với những

người giàu có chỉ như việc

lẩn trốn sự ban cho” (“A Holy

Boldness Toward Money,

Leadership, Spring, tạm dịch:

Sự Can Đảm Thánh Trước

Tiền Bạc” Lãnh Đạo, Spring 1981, tr.49).

Ban cho rời rộng cũng là

ban cho cách vui mừng, bởi vì

“Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng

của cách vui lòng”. Ban cho

rời rộng là việc làm có chủ

đích. Đó không phải là vì ép

uổng hay bất chợt nhưng có

sự suy xét và cầu nguyện.

Rời rộng là ống dẫn giúp

ngăn sự tham lam trong đời sống chúng ta. Khi Karl

Menninger viết tựa sách

Whatever Became Of Sin? (tạm dịch: Bất Cứ Điều Gì

Tựa Như Tội Lỗi) năm 1981, ông nhận được lá thư từ tác giả một cuốn sách khác bàn về vấn đề tiền bạc, tác giả này

đánh giá cao những chương viết về sự tham lam của

Menninger. Menninger trả lời: “Tôi nghĩ câu hỏi của ông về ‘Làm thế nào chúng ta có thể giúp người ta chuyển từ lòng tham lam đến sự rời rộng?’ là một câu hỏi đạo đức tuyệt vời qua mọi thời đại. Tôi muốn nói thêm, ‘Làm thế nào để chúng ta giúp họ chuyển từ lòng hận thù đến lòng khoan dung?’ Lòng tham là một trong những căn bệnh ‘không thể lành’; nó có thể trở thành nan y. Những người mắc bệnh về thần kinh đến phòng khám của Menninger chúng tôi trông có vẻ khỏe mạnh ––thậm chí chúng tôi không dùng kỹ năng chuyên nghiệp của mình––nhưng tham lam thì không như vậy” (John và

Sylvia Ronsvalle, Behind The Stained Glass Windows tạm

dịch: Đằng Sau Cánh Cửa

Sổ Ô Nhơ, tr.202). Đây là lời

tuyên bố đáng chú ý muôn

thuở. Tuy nhiên, có phương thuốc chữa trị cho lòng tham, nó bao gồm việc nuôi dưỡng

lòng rời rộng có chủ đích. Rời rộng là một lối sống

bắt buộc được truyền cho

Dân Chúa. Chúng ta phải giàu có lòng rời rộng bởi vì

Đức Chúa Trời vốn giàu lòng

rộng rãi đối cùng chúng ta.

Rời rộng còn là lối sống được

lựa chọn. Đó là quyết định có

chủ ý của người theo Chúa

để bắt chước sự tận hiến

chính mình và lòng rời rộng

của Chúa. Điều này xảy ra vì

những người giàu có trong

thế gian này biết rằng họ

không chỉ sống cho thế giới

hiện tại. Đó là lý do tại so

Phao-lô chuyển hướng sự chú

ý của chúng ta từ thế giới này

đến thế giới hầu đến trong I

Ti-mô-thê 6:19.

Tiền Bạc Cần Cho

Cõi Đời Đời. Phao-lô cho

biết, những người có lòng

rộng rãi “như vậy, họ tích lũy

cho tương lai mình một nền

tảng vững bền để nắm chắc

sự sống thật.” (6:19). Người

quản gia khôn ngoan thâu trữ phần thưởng cho cõi đời đời.

Ban cho và làm việc lành là

sự đầu tư cho cõi đời đời. Kinh thánh luôn nhắc nhở

chúng ta rằng sự trung tín của chúng ta ngày nay, lúc này có kết quả đời đời. Chúa ban thưởng cho Con Dân Ngài.

Sự rời rộng của chúng ta không chỉ là giúp đỡ những

người bên cạnh chúng ta lúc này, mà còn mang lại những ơn phước cho chúng ta trong cõi đời đời. Ban cho không phải là đánh mất sự giàu có, nhưng là cất giữ của cải trên thiên quốc. Đức Chúa Giêxu là Đấng dạy chúng ta suy nghĩ về việc cất giữ của cải thiên đàng:

“Các con đừng tích trữ của cải ở dưới đất, là nơi có mối mọt, ten rỉ làm hư, và kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy. Nhưng hãy

tích trữ của cải ở trên trời, là nơi không có mối mọt, ten rỉ làm hư, cũng chẳng

có kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy. Vì của

cải các con ở đâu, thì lòng

các con cũng ở đó.” (Mat.6:19-21).

Sự ban cho cho thấy chúng ta đang được thúc đẩy bởi các giá trị đời đời hay

cho giá trị hiện tại. D. L.

Moody thấy rằng, “Không

mất nhiều thời gian để nói

tài sản của một người ở đâu. Trong 15 phút, với hầu hết

mọi người, bạn có thể nói của

cải của họ đang trên đất hay

trên thiên đàng.” Sự khuyên

dạy của Chúa không có nghĩa

là chúng ta đừng đầu tư tiền

bạc để sinh lợi. Mà thay vào

đó, Ngài muốn chúng ta biết

chắc rằng chúng ta cần có

khải tượng xa hơn và quan

tâm về của cải đời đời hơn

của cải trên đất.

Người có lòng rộng rãi

“nắm giữ cuộc sống là người sống thật.” Quản gia khôn ngoan nắm giữ cuộc sống.

Chúng tôi nghe nhiều người

nói rằng “Cuộc đời này thật

tốt đẹp. Sống như thế này

mới thật sự sống!” Thường

thì điều đó mô tả một thời

gian vui thích đặc biệt. Có

một cách sống thực sự như

vậy, nó chỉ về một đời sống

sống động đầy trọn trên đất này theo cách phù hợp với

lời hứa của Đức Chúa Trời về cõi đời đời. Như Phao-lô viết ngay trong phần đầu thư tín này, “sự tin kính ích lợi

mọi mặt, vì có lời hứa cho đời nầy và cả đời sau nữa.

sự tin kính là ích cho mọi việc” (I Tim. 4:8). Cuộc đời

sẽ thật giàu có khi chúng ta sử dụng khả năng và nguồn

lực mà Đức Chúa Trời đã ban sẵn cho chúng ta để thay đổi

đời sống của người khác. Và

có một sự khác biệt lớn giữa việc sống với sự khao khát

của cải và sống đúng mục

đích. Đời sống là sung mãn nhất khi chúng ta dùng tiền

bạc của mình để mở mang

vương quốc Đức Chúa Trời.

Đó là sống thật, là giá trị vượt ra khỏi đời này để bước vào cõi đời đời.

Năm 1999, sự việc

Oseola McCarty qua đời đã làm cả đất nước chú ý. Ở

một mức độ nào đó, đây là điều ngạc nhiên, bởi vì Cô

McCarty đã sống cuộc đời giản dị. Cô sống cả đời mình

ở Hattiesburg, Mississippi bằng nghề giặt giũ cho những

người giàu có, với chiếc ván giặt kiểu cũ với giá 50 xu cho mỗi lần giặt.

Năm 87 tuổi, bà MacCarty

đã làm choáng các viên chức tại trường Đại học miền

Nam Mississippi khi ủng hộ 150.000 đô la. Ở đâu à có số tiền này? Bà đã sống cách đạm bạc, tiết kiệm từng chút, và đầu tư cách khôn ngoan. Dầu có tuổi, nhưng bà

đã dành dụm được 150.000

đô-la và quyết định làm công

việc nào đó tốt hơn là chỉ để riêng nó cho mình. “Số tiền

tôi có trong ngân hàng nhiều

hơn số tiền tôi dùng đến” bà

trả lời. “Tôi không thể mang

bất cứ thứ gì ở đây theo với

tôi, vì vậy tôi nghĩ cách tốt

nhất là cho những đứa trẻ này

để chúng được đến trường.”

Mọi sự chú ý làm bà bối rối, nhưng khi các phóng viên

hỏi tại sao bà làm những việc vừa rồi, bà đã mượn lời trong

Kinh Thánh thể này: “Ban

cho thì có phước hơn là nhận lãnh––Tôi muốn thực hành

điều này.”

Lòng rộng rãi là con quay hồi chuyển mà Đức Chúa

Trời ban cho nhằm mang lại

tính ổn định cho đời sống

chúng ta. Phao-lô vẽ ra sự

đối lập sống động giữa hai

cách sống, chỉ một trong hai cách đó là sống xứng đáng

làm môn đồ của Chúa Giê-xu

Christ. Những người mong ước sự giàu có, biểu trưng

cho lòng tham lam “là sự làm

đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất” (I Tim. 6:9). Con tàu

của họ bị lật úp trong biển chứa của cải vật chất và tiêu

dùng. Nhưng ai sống theo sự rời rộng của Đấng Christ thì “dồn chứa của cải của mình như một nền vững chắc cho đời hầu đến.” Họ không chỉ về đích an toàn, mà còn thịnh vượng khi đã đến nơi. Đồng sứ điệp ấy trong Hê-bơ-rơ cho biết:

Chớ tham tiền, hãy hài lòng với những gì mình có, vì chính Đức Chúa Trời có phán: “Ta sẽ chẳng lìa con, chẳng bỏ con đâu.” 6

Như vậy, chúng ta có thể nói cách mạnh dạn: “Chúa giúp đỡ tôi, tôi sẽ không sợ. Người đời làm gì tôi

được?”

NUOÂI DÖÔÕNG SÖÏ THOÛA LOØNG

( Khaùm Phaù Caùc Chuû Ñeà)

Dòch töø cuoán

Cultivating A Heart Of Contentment (Discovery Series)

Taùc gia & Dòch gia: RBC Ministries

NHAØ XUAÁT BAÛN TOÂN GIAÙO

Yeân Hoøa—Caàu Giaáy—Haø Noäi

Chòu traùch nhieäm xuaát baûn: Nguyeãn Coâng Oaùnh

Bieân taäp:

Trình baøy & Söûa Baûn In: Traàn Thò Xuaân Thuûy

Ñoái taùc lieân keát:

Muïc sö Nguyeãn Ngoïc Thuaän

UÛy ban Cô Ñoác Giaùo duïc HTTL Vieät Nam (MN)

Lieân heä: UBCÑGD/ HTTL Vieät Nam (MN)

155 Traàn Höng Ñaïo, Q.1

NTÑ. Traàn Thò Xuaân Thuûy

(0903 012 234—Email: thuy_tran@rbc.org)

hoaëc

Email: uybancdgd@gmail.com

In 2.000 baûn, khoå 10x15 (cm)

Taïi Cty TNHH DV-TM-SX-In Thieân Ngoân

Soá xuaát baûn: _____________________

In xong vaø noäp löu chieåu quyù ___/2012

Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook