Skip to main content

LANDSCAPE ARCHITECTURE - UNCLE HO'S MAUSOLEUM & BA DINH SQUARE

Page 1

TRƯỜN G

H IN

ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP. HCM

TRẦN THU UYÊN - 18510801840 - NT18A1

ÚC THÀNH TR

from:

I HỌC KIẾN ĐẠ

Ồ CHÍ ỐH M PH

o:

BÀI TẬP CÁ NHÂN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN

ĐỀ TÀI: LĂNG BÁC & QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH


TRƯỜN G

H IN

ÚC THÀNH TR

I HỌC KIẾN ĐẠ

from:

Ho Chi Minh's Mausoleum

Giớ thiệu về Lăn Hồ Chủ tịch Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn gọi là Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi gìn giữ thi hài Hồ Chí Minh. Lăng được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh từng chủ trì các cuộc meeting. Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975, gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét, chiều rộng 41,2 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, cầu thang. Bên ngoài lăng được ốp bằng đá granite xám, bên trong làm bằng đá xám và đỏ đã được đánh bóng. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ: "CHỦ TỊCH HỒ-CHÍ-MINH" bằng đá hồng màu mận chín. Xung quanh lăng là các khu vườn nơi hơn 250 loài thực vật được trồng từ khắp mọi miền của Việt Nam.

Ồ CHÍ ỐH M PH


TRƯỜN G

H IN

ÚC THÀNH TR

I HỌC KIẾN ĐẠ

from:

Ba Dinh Square

Giớ thiệu về Quảng trường Ba Đình

Quảng trường Ba Đình là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương, quận Ba Đình và là nơi Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng. Quảng trường này còn là nơi ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt, vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quảng trường Ba Đình ngày nay có khuôn viên với chiều dài 320 m và rộng 100 m, có 210 ô cỏ (7 hàng dọc x 30 hàng ngang) trước đây là 240 ô nhưng sau cắt 1 hàng ngang nhằm phục vụ xây dựng toà nhà Quốc hội, xen giữa là lối đi rộng 1,4 m. Giữa quảng trường là cột cờ cao 25 m. Đây là nơi diễn ra các cuộc diễu hành nhân dịp các ngày lễ lớn của Việt Nam, và cũng là một địa điểm tham quan, vui chơi, dạo mát của du khách và người dân Hà Nội.

Ồ CHÍ ỐH M PH


Bối cảnh kiến trúc của Lăng Những tác động về điều kiện tự nhiên, địa hình, chức năng, bối cảnh lịch sử ảnh hưởng đến thiết kế của Lăng và Quảng trường Ba Đình.

ĐỊA HÌNH: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình có diện tích ≈ 30 000 m2,nằm ở độ cao ≈ 5m so với mực nước biển. Địa hình bằng phẳng, thoát nước tốt. Đất đai chủyếu là đất phù sa cổ, có pH ≈ 6 - 7, tầng canh tác mỏng. Lăng Bác nằm trên quảng trường rộng, xung quanh là những công trình có tầm cao cả về lịch sử và kiến trúc. Mặt khác khi xây dựng Lăng nước ta chưa xây dựng các Công trình thủy điện ở Sông Đà, nên vào mùa mưa lũ, nước sông Hồng dâng cao, có nguy cơ vỡ đê, nước tràn vào Hà Nội. Với những yếu tố đó đòi hỏi Lăng phải có tầm cao tương xứng.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Hằng năm có 1641 giờ nắng và nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,6ºC, cao nhất là tháng 6, thấp nhất là tháng 1. Độ ẩm và lượng mưa khá lớn, 79%. Lượng mưa trung bình năm là 1.800mm. Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của 2 mùa nóng, lạnh. Giữa 2 mùa đó lại có 2 thời kỳ chuyển tiếp.

Địa điểm của Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình

CHỨC NĂNG CHÍNH: Chức năng quan trọng nhất là bảo đảm giữ gìn lâu dài thi hài Bác, thuận tiện cho số lượng lớn Nhân dân và khách nước ngoài đến viếng Bác liên tục, phải an toàn phòng chiến tranh, phá hoại. Phải tạo môi trường lý tưởng nhờ công trình kiên trúc, kèm các hệ thống thiết bị hiện đại có độ dự phòng cao hoạt động liên tục

Với những đặc điểm về khí hậu như trên có thể nói Hà Nội có đủ 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông, mỗi mùa có những đặc trưng riêng rất thuận lợi cho việc phát triển đa dạng cơ cấu chủng loại của các loại cây trồng, các loài hoa khác nhau.

LỊCH SỬ: Quảng trường Ba Đình là quảng trường lịch sử. Nơi đây ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quảng trường là trung tâm của Thủ đô, nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước. Vì vậy sau khi Bác mất, Bộ Chính trị và Chính phủ quyết định xây dựng Lăng Bác ở Quảng trường Ba Đình. Quyết định có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, đúng như lời đồng chí Lê Duẩn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta & non sông đất nước ta...”.


Lịch sử xây dựng Lăng Bác & Quảng trường Ba Đình

Lý do chính là thảm cỏ phù hợp hơn với khí hậu nhiệt đới của Việt Nam, trong những buổi mít ting, diễu hành quần chúng nhân dân đứng trên quảng trường ít chịu ảnh hưởng của bức xạ mặt trời hơn trên nền bê-tông.

Phương châm chỉ đạo thiết kế Lăng bác, lý do thiết kế Quảng trường Ba Đình thảm cỏ thay vì bê-tông Lăng Bác được quyết định xây tại Quảng trường Ba Đình. Cùng với việc thiết kế, xây dựng Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình lịch sử cũng được thiết kế, cải tạo, và xây dựng lại. Đây sẽ là nơi tổ chức các cuộc mít tinh, diễu binh, duyệt binh biểu dương lực lượng, ý chí quyết tâm xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cuối năm 1973 đầu 1974, ta có tổ chức cuộc thi thiết kế quy hoạch quảng trường. Quy trình làm vẫn là tuyển chọn đúc kết thành 1 phương án chọn gửi sang Liên Xô thiết kế kỹ thuật rồi lại gửi về Việt Nam trình phê duyệt.

Phương án 1 và 2: Các phương án ô cỏ được xen giữa nền bê tông trên Quảng trường Ba Đình

Phương châm chỉ đạo, các yêu cầu xuyên suốt trong quá trình thiết kế xây dựng Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình và các Công trình về Bác sau này (Bảo tàng HCM) - Bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch HCM nguyên vẹn và lâu dài, chống được các biến động có hại của khí hậu, thời tiết, có kế hoạch giữ gìn an toàn phòng chiến tranh, phòng địch phá hoại. - Thể hiện được tính hiện đại mà vẫn giữ được màu sắc dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị. - Bảo đảm được sự thuận tiện cho nhân dân, cán bộ và khách nước ngoài đến viếng đông và liên tục; bảo đảm sự kiên cố, bền vững của công trình; - Lăng Chủ tịch HCM đặt ở khu Ba Đình lịch sử và sớm xây dựng xong Lăng để đồng bào ta có thể viếng và chiêm ngưỡng Chủ tịch HCM

Phương án các ô cỏ vuông vức xen giữa các đường nhỏ trải bêtông sỏi chiếm cả Quảng trường Ba Đình được chọn

Trong mỗi buổi diễu hành, diễu binh, các chiến sỹ bộ đội hoặc lực lượng công nông tham gia các sự kiện thường phải tập hợp từ rất sớm và đứng đến trưa nên rất mệt, có trường hợp đã bị ngất xỉu do trời thì nắng nóng, nền quảng trường lại là bê-tông. Theo thiết kế, tại thời điểm đó thì Quảng trường Ba Đình vẫn có nền là bê-tông. Những trao đổi, bàn bạc qua lại đó đã khiến KTS nảy ra ý tưởng rằng thiết kế Quảng trường Ba Đình là những thảm cỏ thay vì bê-tông và bàn rất kỹ về chuyện đó dưới góc độ chuyên môn kiến trúc để trình bày xin ý kiến Bộ Chính trị. Vài hôm sau, Bộ Chính trị đã đồng ý với ý kiến làm nền Quảng trường Ba Đình là thảm cỏ. KTS Garon Ixacovich rất ngạc nhiên và hỏi ngay, lý do vì sao lại chọn thảm cỏ thay bêtông?

HỎI: Thảm cỏ có thể gây ảnh hưởng đến việc gìn giữ thi hài của Bác Hồ? ĐÁP: KTS trả lời ngay là việc này đã nghĩ tới, tuy nhiên khoảng cách thảm cỏ tới Lăng Bác qua đường Hùng Vương là rất xa tới 40m và từ đường Hùng Vương tới Lăng Bác còn có một khoảng cách nữa nên không gây ảnh hưởng gì. HỎI: Đã có quảng trường nào dùng thảm cỏ chưa? ĐÁP: KTS Việt Nam dẫn chứng ngay những thí dụ mà KTS đã biết, là 1 quảng trường tại Tasken và 1 quảng trường ngay tại Maxcơva, đương nhiên không phải hoàn toàn bằng cỏ. Phương án làm các ô cỏ vuông xen giữa những con đường nhỏ trải bêtông sỏi được chọn.


Kiến trúc công trình Lăng Những đặc điểm về kiến trúc của công trình Lăng Bác Lăng Bác gồm có công trình trung tâm và 2 lễ đài phụ 2 bên. Hình khối của Lăng phải đơn giản rõ ràng. Lăng gồm 1 bệ và 3 cấp nhỏ dần theo chiều cao; tạo thành thế đứng vững chãi, trang nghiêm, mang đậm nét độc đáo của kiến trúc dân tộc Việt Nam. PHẦN MÁI: tam cấp nhẹ nhàng và thanh thoát; tuy không có đường cong, nhưng hình tam cấp kết hợp khéo léo với những đường vát chéo mang những nét gọn gàng, giản dị của kiến trúc hiện đại, vừa phảng phất dáng vẻ mềm mại, uyển chuyển của mái cong kiến trúc cổ truyền dân tộc. PHẦN THÂN: là 1 phòng vuông vắn, bốn mặt là hàng cột đỡ mái, tạo ra dáng dấp của ngôi nhà 5 gian. Bốn cột ở 4 góc có kích thước 1.2x1.2 m, còn các cột còn lại có kích thước 1.2x0.9 m. BÊN TRONG của Lăng và 2 Lễ đài là phòng đặt thi hài, phòng phục vụ, phòng y tế, kỹ thuật, 2 phòng khách và các hệ thống thiết bị kỹ thuật

VẬT LIỆU bên ngoài Lăng phải bảo đảm tính giáo dục tư tưởng, tính kỹ thuật thẩm mỹ cao, vĩnh cửu tối đa. Do vậy tường bên ngoài Lăng ốp bằng đá hoa cương dày 4 – 6 cm. Khối chính Lăng ốp bằng đá hoa cương có các màu ghi sáng và sẫm để tạo không gian chỗ sáng tối, xa gần. Khối trung tâm ốp đá hoa cương màu đỏ, đó là căn phòng vĩnh cửu của Bác Hồ. Các loại đá hoa cương do Liên Xô sản xuất.

TAM CẤP của Lăng có Lễ dài chính (Lễ đài Chính phủ) có chỗ cho 70 - 100 người đứng dự mít tinh. Ở SAU LĂNG có hai bức tường cao ốp đá đỏ chạy song song với 2 Lễ đài trái và phải, phía trước bức tường là sân rộng và có nhiều ô trồng hoa hồng. Bức tường này làm chức năng kết thúc không gian phía sau của Lễ đài trái và phải

Hình khối đơn giản, rõ ràng Mái tam cấp nhẹ nhàng, thanh thoát, kết hợp hiện đại, truyền thống Thân lăng vuông vắn, khối chính ốp đá hoa cương màu sáng & sẫm Khối trung tâm ốp đá hoa cương đỏ Trong Lăng có hơn 200 bộ cửa làm bằng gỗ quý do đồng bào và chiến sỹ miền Nam gửi ra được các thợ mộc tay nghề cao của Việt Nam gia công.


Nhận xét về nghệ thuật kiến trúc Công trình Lăng

Nghệ thuật kiến trúc công trình Lăng mang đến cho khách tham quan cảm xúc bồi hồi, xúc động.

MẶT BẰNG TỔNG THỂ Mặt bằng gọn gàng chặt chẽ, đơn giản và khoa học. Đường đi từ sảnh đến phòng viếng không cầu kỳ quanh co, thuận tiện cho người đi viếng. Các khối kiến trúc chính, phụ, các mảng đặc tả, rỗng, sáng, tối được phân bố rõ ràng và gắn bó với nhau thành 1 khối cân đối, gọn gàng, vững chắc và trang nghiêm. Đường ngang, nét đứng vuông thành sắc cạnh đơn giản, trong sáng, gọn gàng tạo sự hiện đại, giản dị, trang nghiêm. Khối chính bao quanh có hàng cột đỡ mái, tỷ lệ tương xứng, hình khối chắc khỏe, màu sắc đậm, nhạt khác nhau, cho ta cảm thụ về tầm cao, độ lớn của Lăng, biểu hiện độ vươn cao của Công trình. Mái Lăng hơi vát có độ nghiêng vừa phải, nhắc lại bóng dáng mái đao trong công trình cổ. Mái có tỷ lệ cân xứng làm cho Lăng nhẹ nhàng trang nhã.

Mặt đứng chính của lăng Bác

Phối cảnh công trình lăng. Có thể thấy sự hài hòa, trang nghiêm, giản dị, vừa mang nét hiện đại, vừa mang nét truyền thống, tinh thân dân tọc

Việc tổ chức không gian trong phòng thi hài với tỷ lệ tương xứng giữa các mảng tường, các chi tiết kiến trúc, trang trí nghệ thuật, màu sắc đậm nhạt và vị trí đặt thi hài... tạo sự hài hòa, cân đối, trong sáng, trang nghiêm, giản dị. Bên ngoài phòng đặt thi hài bốn phía là hành lang giống như ngững ngôi ngà dân gian. Hàng cột đỡ mái chia thành 5 khoảng, cho ta bóng dáng ngôi nhà 5 gian quen thuộc trong kiến trúc Việt Nam. Bốn cột góc của Lăng hình vuông (1,2x1,2 m) gây ấn tường về thế cân bằng, vững chắc, ổn định của Lăng.

TÍNH HIỆN ĐẠI Biểu hiện ở phương án kết cấu, giải pháp hiện đại để chống lại các biến đổi của thiên nhiên, chống động đất, chống bom đạn.

Thi hài Bác được đặt cao hơn tầm đứng của người trên Lễ đài Chính phủ (Lễ đài chính) mà vẫn thấy Bác gần gũi với nhân dân với các đồng chí lãnh đạo, người kế tục sự nghiệp của Bác. Hàng chữ “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH” được đặt ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất với những nét chữ, trang nghiêm, giản dị.

TÍNH DÂN TỘC

Ở sảnh chính trên tường đá hoa cương màu đỏ có lời nói giản dị hưng chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác.

Ngày xưa các chùa chiền, lăng tẩm đều xây dựng bằng phương pháp bố cục đối xứng, Lăng Bác cũng vậy đã tạo ra thế trang nghiêm, cân đối của công trình.

Các cửa ở Lăng làm bằng gỗ quý của đồng bào Miền Nam gửi (trắc, gụ, nu, muồng... ), do các nghệ nhân Việt Nam gia công, lắp đặt.

Thể hiện ở các hệ thống thiết bị để giữ gìn lâu dài thi hài, tạo điều kiện tốt cho người đi viếng.


Quảng trường Ba Đình & sân vườn Phương châm chỉ đạo thiết kế Lăng bác, lý do thiết kế Quảng trường Ba Đình thảm cỏ thay vì bê-tông

Trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, thảm cỏ thiên nhiên màu xanh lục của 210 ô cỏ Gừng đưa từ miền Nam ra trồng, là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, tạo nên màu sắc đẹp, chịu được nắng gắt, kết hợp với hệ thống tưới phun bán tự động, làm dịu mát không khí Quảng trường Ba Đình

Phương án các ô cỏ vuông vức xen giữa các đường nhỏ trải bêtông sỏi chiếm cả Quảng trường Ba Đình được chọn

THIẾT KẾ: Theo thiết kế thì Quảng trường Ba Đình: vườn hoa tiếp giáp và Lăng Bác là một quần thể kiến trúc thống nhất. Tổng diện tích cải tạo và xây dựng là 14ha.

Đường Hùng Vương đi qua trước Lăng làm bằng bê tông cốt thép, dài 1060m rộng 40m, đoạn trước Lăng rộng 60m. Đường Bắc Sơn 280mx60m chia ra 2 làn ở giữa là vườn hoa rộng 12m.

Quảng trường ở phía trước Lăng diện tích là 2,8 ha chứa ≈ 10-20 vạn người dự mít tinh. Quảng trường chia thành 168 ô vuông có kích thước mỗi ô 10x10m để trồng cỏ bốn mùa. Giữa các ô cỏ là lối đi lát bằng gạch sỏi nổi rộng 1,4m.

Trước Lăng Bác là cột cờ cao 25m. sau thì được thay mới & cao 27m. Lăng và Quảng trường được chiếu sáng bằng hệ thống đèn cao áp thủy ngân. 4 cột đèn 4 góc Quảng trường cao 32m. Hệ thống chiếu sáng đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật, tiết kiệm năng lượng.

Toàn cảnh Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình nhìn từ trên cao


Công tác thiết kế và trồng cây ở Lăng và Quảng trường Giới thiệu công tác thiết kế và trồng cây ở Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình, các loại cây chính và bố cục,..

CÔNG TÁC TRỒNG CÂY, CỎ Công tác trồng cây xanh, cỏ ở xung quanh công trình phải các đạt yêu cầu sau: - Phải được chọn lọc sắp xếp theo thiết kế, phối hợp chặt chẽ với kiến trúc của Lăng và các công trình xung quanh. - Cây hoa, cây cỏ trồng ở đây phải có tính dân tộc, phong phú, đẹp, đặc trung cho xư nhiệt đới, xanh tươi 4 mùa. - Kích thước, màu sắc, hình dáng, sinh lý cây trồng phù hợp. - Kết hợp với cây trồng ở khu vực để tránh đơn độc. Việc chọn các loại cây với ý nghĩa tượng trưng của chúng, kết hợp với Quảng trường bằng thảm cỏ xanh độc đáo, làm cho Lăng có sắc thái dân tộc phong phú. Cây cỏ ở đây là những loài cây quí; tiêu biểu cho các miền, các dân tộc, nôi lịch sử, có cây Bác yêu thích.

Bản thiết kế đã thể hiện bố cục cảnh trí cổ truyền kết hợp với chức năng của Công trình kiến trúc hiện đại. Các vườn hoa tổ chức theo lối hình học đối xứng, hàng lối ngay thẳng, xen tỉa gọn gàng phù hợp với Công trình. Các loại cây trồng ở đây có lá xanh quanh năm, tán cây rộng, bộ rễ ít ăn ngang. Hai hàng vạn tuế trước 2 lễ đài phụ, có thân thẳng, lá xum xuê trên ngọn, trông trang nghiêm tựa 2 hàng tiêu binh, cây cao 1 - 1,5 m không che khuất tầm nhìn của đại biểu trên lễ đài. 2 bên cửa chính trồng 2 cây đại, cây không cao, dáng mập cổ kính, hoa trắng càng làm trang nghiêm. Hai loại cây này sống lâu năm, tượng trưng cho sự trường tồn mà nhân dân ta thường trồng ở các đền thờ, Khu di tích.


Công tác thiết kế và trồng cây ở Lăng và Quảng trường Giới thiệu công tác thiết kế và trồng cây ở Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình, các loại cây chính và bố cục,... Trên đường Hùng Vương trồng cây trò nâu ở Phú Thọ, đất tổ Hùng Vương phù hợp với yêu cầu kiến trúc vừa có ý nghĩa chính trị và lịch sử. Trên đường Bắc Sơn: Cây dầu nước có nhiều ở miền Nam vừa thích hợp với kiến trúc vừa có ý nghĩa: cây của miền Nam trồng ở Lăng Bác. Cây hoa Ban của núi rừng Tây Bắc cũng được trồng ở đây, tượng trưng cho lòng trung thành thủy chung của đồng bào các dân tộc Tây Bắc với Bác. Ngoài ra ở vườn sau Lăng còn trồng cây đa Tân Trào, cây đào Tô Hiệu là những cây gắn liền với các sự kiện lịch sử dân tộc.

Các ô vuông xung quanh Lăng trồng cây hoa có hương thơm mà lúc sinh thời Bác ưa thích như: Mộc, nhài, dạ hương, tường vi.

Cây thế, cây cảnh của nhân dân các tỉnh, thành gửi tặng

Vườn hoa sau Lăng trồng các loại cây hoa, cây có quả tượng trưng cho các vùng miền. Hàng ngọc lan sau tường lưu niệm có lá màu xanh sáng có hoa thơm, kín đáo tượng trưng cho dịu hiền, nhân đức cùng với hàng cây dâm bụt khép lại không gian sau Lăng. Luồng Thanh Hóa trồng thành khóm ở hai bên Lễ đài, góp phần kết thúc phần kéo dài chiều ngang của công trình.

Hoa Ban tím được đồng bào các dân tộc Điện Biên gửi tặng

Vườn tre được lấy giống từ Lam Sơn, Thanh Hóa

Cây Đại do các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng khi khánh thành Lăng

Cây xanh là 1 bộ phận của Lăng hòa vào hình khối và không gian kiến trúc Lăng, làm cho khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tô điểm cho công trình một cách hài hoà nhưng không lấn át. Toàn bộ cây bóng mát, cây trang trí, cây hoa, cây cảnh được trồng theo mảng lớn: Hình khối rõ ràng, đối xứng, đường nét vuông vức, kích thước tỷ lệ phù hợp với kiến trúc của Công trình Lăng. Làm nổi bật nội dung tư tưởng kiến trúc, thể hiện tính dân tộc, hiện đại, giản dị, trang nghiêm.


Công tác thiết kế và trồng cây ở Lăng và Quảng trường Những sản vật quý bao gồm cây cối, vật liệu xây dựng ở các địa phương trong cả nước gửi về xây dựng Lăng Bác. Các loại gỗ quí như: Gỗ nu, trắc, đinh hương, mun, sơn huyết, kim giao, cẩm lai, lát, giổi...Những loại gỗ quý này đã gia công hơn 200 bộ cửa ở Lăng và các đồ nội thất khác. Các loại gỗ đã được đồng bào, chiến sĩ Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 5, Bình Trị Thiên khai thác. Đoàn xe vận chuyển gỗ đầu tiên khởi hành ở Lộc Ninh ngày 14/02/1974 và ra Hà Nội ngày 01/03/1974. Vàng Bồng Miêu tỉnh Quảng Nam gửi ra để mạ chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác ở tường tiền sảnh. Đá quý Mã Não: 2 viên đá nhỏ gắn vào sao vàng, búa liềm ở cờ Tổ quốc, cờ Đảng trên tường phòng Bác Hồ nằm. Ngoài ra, đồng bào các địa phương miền Nam còn có người gửi cây quý để trồng trong vườn Bác: Bông sứ, mai vàng, mai tứ quý, bưởi Biên Hòa, dừa Bình Định, quế Trà My, mít Tố Nữ, mãng cầu xiêm, huệ Đà Lạt. Đặc biệt cây quế là cây thiêng của đồng bào Tây Nguyên. Cây dầu nước trồng hai bên đường Hùng Vương cùng với cây hoa ban Tây Bắc. Ở miền Bắc tất cả các tỉnh, thành, các bộ, các ngành đều cử những cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và những thanh niên nam, nữ ưu tú nhất về làm việc ở công trường xây dựng Lăng Bác. Ngoài ra các địa phương đã gửi những sản vật quý giá nhất về xây dựng Lăng Bác Đã tìm kiếm được hơn 300 mẫu đá gửi về Hà Nội, nhưng đã tuyển chọn được các loại đá để ốp trong Lăng Bác

Mặc dù trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng bào miền Nam từng giờ từng phút hướng về Hà Nội nơi đang khẩn trương xây dựng Lăng Bác, để sớm được đón đồng bào cả nước về Lăng viếng Bác, đặc biệt là đồng bào miền Nam đi trước về sau, nhưng chưa một lần được gặp Bác. Khi được tin TW Đảng, Chính phủ quyết định xây dựng Lăng Bác, đồng bào và chiến sĩ miền Nam vừa đánh giặc vừa đi tìm các sản vật quý giá nhất để dâng lên Lăng Bác TỔNG HỢP CÁC VẬT LIỆU QUÝ TỪ ĐỊA PHƯƠNG GỬI ĐẾN + Đá đỏ ở Bá Thước, Thanh Hóa dùng để ốp thành 2 lá cờ Tổ quốc và cờ Đảng trong phòng Bác nằm. + Đá Ngọc Bích khai thác ở Bản Piên, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng được gia công chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh khảm vào đá hoa cương ở mặt trước của Lăng và bậu cửa chính. + Đá núi Nhồi, Thanh Hóa có màu đen nhánh ốp ở hàng cột sảnh cầu thang lên xuống. + Đá Hòa Pháp, Hà Tây có màu trắng, vân mây ốp ở hai phòng khách sang trọng nhất trong Lăng. + Đá Cẩm Vân, Thanh Hóa: Ốp lan can ở phòng Bác nằm Những loại đá, sỏi, cát để xây dựng Lăng: + Đá Thác Bà, Yên Bái để đổ bê tông. + Cát Kim Bôi, Hòa Bình để đổ bê tông và lấp hố móng. + Sỏi Sông Lô, Tuyên Quang để gia công tấm bê tông sỏi nổi lát vỉa hè các lối đi ở Quảng trường.

+ Xi măng: Nhà máy xi măng Hải Phòng sản xuất loại xi măng đặc biệt mác 400. Những loại cây ở các địa danh lịch sử đã đem về trồng ở Lăng Bác. + Cây chò nâu ở đất Tổ trồng ở hai bên đường Hùng Vương. + Cây đa Tân Trào, Tuyên Quang: Trồng sau Lăng. + Cây đào Tô Hiệu: Trồng trong vườn. + Cây hoa ban ở núi rừng Tây Bắc: Trồng ở đường Bắc Sơn. + Tre luồng Thanh Hóa: Trồng hai bên Lễ đài. + Hàng vạn tuế, hai cây đại trồng trước Lăng. Ngoài ra trong vườn Lăng Bác còn có các cây hoa, cây cảnh tiêu biểu như: Hoa đào, nhài, mộc, trúc Pắc Bó, ngâu hoa vàng, ngâu hoa trắng, dạ hương, ngọc lan, mẫu đơn, tường vi, ngọc bút, dâm bụt, hoa hồng, mai vàng...


Với tấm lòng biết ơn và kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đem hết trí tuệ và tinh thần, tập trung cao độ để xây dựng ngôi nhà vĩnh hằng của Người giữa Ba Đình lịch sử. Sau hai năm xây dựng (1973- 1975), Lăng Bác được khánh thành với kiến trúc độc đáo trên nền không gian và môi trường thoáng đãng. Mỗi viên gạch, phiến đá, hàng cây, khóm hoa là sự nâng niu của từng con người, vùng quê, để Bác Hồ yên nghỉ nơi đây giữa lòng dân tộc Việt Nam. Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình là nơi diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của dân tộc, của Đảng, của Nhà nước, trở thành địa chỉ thiêng liêng, hấp dẫn của đồng bào cả nước và khách quốc tế, là nơi nhân dân ta đến viếng Bác, tham quan Lăng, nơi đón tiếp các Nguyên thủ quốc gia và bầu bạn trên thế giới. Trồng cây xanh quanh Lăng Bác chính là kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đồng thời cũng thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ kính yêu. Cho đến nay đã có 78 tỉnh thành, đơn vị, cá nhân đã gửi tặng 157 loại cây thế, cây cảnh và hàng ngàn cây xanh, cây ăn quả quý trồng ở khu vực Lăng Bác.


Cảm ơn cô đã theo dõi


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
LANDSCAPE ARCHITECTURE - UNCLE HO'S MAUSOLEUM & BA DINH SQUARE by Thu Uyen Tran - Issuu