ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN SINH HỌC
vectorstock.com/3242209
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection DẠY KÈM QUY NHƠN TEST PREP PHÁT TRIỂN NỘI DUNG
Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Bảo vệ môi trường WORD VERSION | 2020 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM
Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
I – ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐ TNST) bản chất là những hoạt động giáo dục (HĐGD) nhằm hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kỹ năng (KN) sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại. Nội dung của HĐ TNST được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở. Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng,… để HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm”. Từ quan niệm này cho thấy, HĐ TNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của HS, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Đây là những HĐGD được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để HS trải nghiệm và sáng tạo. Điều đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức HĐ TNST phải đa dạng, linh hoạt, HS tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Sinh học là môn khoa học gắn liền chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống, do vậy việc tổ chức các HĐ TNST trong môn sinh học rất cần thiết. Giúp HS nắm bắt được các vấn đề lý thuyết một cách tốt nhất, HS được trải nghiệm những hoạt động, hành động mà theo phương pháp truyền thống thì không thể có được. Vấn đề đáng báo động hiện nay đối với Việt Nam cũng như thế giới là vấn đề về môi trường. Cuộc sống hiện đại, công nghiệp hóa, kinh tế phát triển nhưng ý thức của con người về việc bảo vệ môi trường rất hạn chế kéo theo đó, môi trường sống của chúng ta đang dần bị hủy hoại nghiêm trọng. Tài nguyên rừng biển cạn kiệt, chất độc tích tụ nhiều, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí diễn ra trầm trọng… và từ đó bệnh tật gia tăng, tỷ lệ bệnh ung thư ngày càng tăng nhanh….Vì vậy, nhiệm vụ của nhà trường phải trang bị cho HS ý thức về bảo vệ môi trường sống là rất quan trọng. Với mục đích trang bị cho học sinh về kiến thức bảo vệ môi trường, có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Tôi chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Bảo vệ môi trường”
1
II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là gì? Theo Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐ TNST) bản chất là những hoạt động giáo dục (HĐGD) nhằm hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kỹ năng (KN) sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại. Nội dung của HĐ TNST được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở. Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng,… để HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm”. 2.Các phương pháp của hoạt động trải nghiệm sáng tạo Ở đây có 4 phương pháp chính, đó là: 2.1. Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ) GQVĐ là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, GQVĐ của HS. Các em được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc GQVĐ giúp HS lĩnh hội tri thức, KN và phương pháp. Trong tổ chức HĐ TNST, phương pháp GQVĐ thường được vận dụng khi HS phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động. Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày. Để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích thích HS tích cực tìm tòi cách giải quyết. Đối với tập thể lớp, khi GQVĐ GV phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo dục HS. Phương pháp trên được tiến hành theo các bước cụ thể như sau: Bước 1: Nhận biết vấn đề Trong bước này GV cần phân tích tình huống đặt ra giúp HS nhận biết được vấn đề để đạt yêu cầu, mục đích đặt ra. Do đó, vấn đề ở đây cần được trình bày rõ ràng, dễ hiểu đối với HS. Bước 2: Tìm phương án giải quyết Để tìm ra các phương án GQVĐ, HS cần so sánh, liên hệ với cách GQVĐ tương tự hay kinh nghiệm đã có cũng như tìm phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lí ở giai đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm
2
được phương án giải quyết thì cần quay trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại và hiểu vấn đề. Bước 3: Quyết định phương án giải quyết GV cần quyết định phương án GQVĐ, khi tìm được phải phân tích, so sánh, đánh giá xem có thực hiện được việc GQVĐ hay không. Nếu có nhiều phương án giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu. Nếu các phương án đã đề xuất mà không giải quyết được vấn đề thì tìm kiếm phương án giải quyết khác. Khi quyết định được phương án thích hợp là đã kết thúc việc GQVĐ. 2.2. Phương pháp sắm vai Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành cách ứng xử, bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em.Sắm vai thường không có kịch bản cho trước mà HS tự xây dựng trong quá trình hoạt động. Đây là phương pháp giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào cách ứng xử cụ thể mà các em quan sát được. Việc "diễn" không phải là phần quan trọng nhất của phương pháp này mà là xử lí tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn đó. Mục đích của phương pháp trên không phải chỉ ra cái cần làm mà bắt đầu cho một cuộc thảo luận. Để bắt đầu cho một cuộc thảo luận thú vị người sắm vai nên làm một cái gì đó sai, hoặc phải thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nếu người sắm vai làm đúng mọi chuyện thì chẳng có gì để thảo luận. Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các KN giao tiếp cho HS. Thông qua sắm vai, HS được rèn luyện, thực hành những KN ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó. Về mặt tâm lý học, thông qua các hành vi, cá nhân nhận thức và giải quyết tốt hơn vấn đề của bản thân, vai trò lĩnh hội được trong quá trình sắm vai cho phép HS thích ứng với cuộc sống tốt hơn. Trong trò chơi cũng như trong cuộc sống, các em mong muốn có được một vai yêu thích, khi sắm một vai HS bước ra từ chính bản thân mình. Điều này trở thành phương tiện để thể hiện niềm vui, nỗi buồn, mối quan tâm, băn khoăn, mong muốn được chia sẻ, sự do dự, ngập ngừng,... của chính các em. Thông qua các vai được sắm trong trò chơi, HS thể hiện các khía cạnh khác nhau trong tính cách như: sự ưa thích, tình cảm, sự hiểu biết về nhân vật mà các
3
em đang sắm vai đó và những người bạn đang chơi cùng với hành động của chúng là điều đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với HS. Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm: - Nêu tình huống sắm vai (phù hợp với chủ đề hoạt động; phải là tình huống mở; phù hợp với trình độ HS). - Cử nhóm chuẩn bị vai diễn (có thể chuẩn bị trước khi tiến hành họat động): yêu cầu nhóm sắm vai xây dựng kịch bản thể hiện tình huống sao cho sinh động, hấp dẫn, mang tính sân khấu nhưng không đưa ra lời giải hay cách giải quyết tình huống. Kết thúc sắm vai là một kết cục mở để mọi người thảo luận. - Thảo luận sau khi sắm vai: khi sắm vai kết thúc, người dẫn chương trình đưa ra các câu hỏi có liên quan để HS thảo luận. Ví dụ, trong tình huống trên câu hỏi thảo luận có thể là: 1) Bạn hiểu thế nào là tình yêu?. Tình yêu khác gì so với tình bạn khác giới?. 2) Tình cảm của bạn trong tình huống trên đã thực sự là tình yêu chưa?. 3) Có nên yêu ở tuổi học trò không?. Vì sao?,... - Thống nhất và chốt lại các ý kiến sau khi thảo luận. 2.3. Phương pháp trò chơi Trò chơi là tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, việc làm hoặc hình thành thái độ thông qua một trò chơi nào đó. Đặc thù của trò chơi: Trò chơi không phải là thật mà là giả vờ như làm một cái gì đó nhưng mang tính chân thật (nhập các vai chơi một cách chân thật, thể hiện động tác, hành vi phù hợp…). Hơn nữa, đây là một hoạt động tự do, tự nguyện không thể gò ép hoặc bắt buộc chơi khi các em không thích, không đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của chúng. Trò chơi được giới hạn bởi không gian và thời gian, có qui tắc tổ chức (luật chơi do nội dung chơi quy định). Đặc thù này sẽ quy định quy mô, số lượng người chơi, điều kiện, vật chất, cũng như xác định tính chất, phương pháp hành động, tổ chức và điều khiển hành vi cũng như những mối quan hệ lẫn nhau của người chơi. Trò chơi là một hoạt động mang tính sáng tạo cao, thể hiện ở việc lựa chọn chủ đề chơi, phân vai tạo ra tình huống, hoàn cảnh chơi, sử dụng phương tiện thay thế trong các trò chơi sáng tạo, lựa chọn các phương thức hành động và phân chia tình huống chơi để giải quyết nhiệm vụ chơi trong những trò chơi có luật.
4
Trò chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện HS, giúp các em nâng cao hiểu biết về thế giới hiện thực xung quanh, kích thích trí thông minh, lòng ham hiểu biết, học cách giải quyết nhiệm vụ. Ngoài ra, trò chơi là phương tiện giáo dục phẩm chất nhân cách cho HS. Các phẩm chất nhân cách được hình thành thông qua chơi như tính hợp tác, tính đồng đội, tính tập thể, tính kỷ luật, tự chủ, tích cực, độc lập, sáng tạo, sự quan tâm lo lắng đến người khác, thật thà, dũng cảm, kiên nhẫn,…Trò chơi còn là phương tiện giáo dục thể lực cho HS, giáo dục thẩm mỹ, hình thành các KN giao tiếp, KN xã hội,... Trò chơi là một phương thức giải trí tích cực, hiệu quả, mang lại niềm vui, sự hứng khởi, hồn nhiên, yêu đời cho HS,.... để các em tiếp tục học tập và rèn luyện tốt hơn. Về mặt tâm lý học, trong quá trình diễn ra trò chơi tất cả các thành viên của nhóm đều tham gia hết mình và từ đó các em sẽ được trải nghiệm, bởi vì mỗi cá nhân cũng như cả nhóm đang sống trong một tình huống khác với những gì các em đã sống trong cuộc sống thực. Việc tổ chức trò chơi được GV tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Chuẩn bị trò chơi - Xác định đối tượng và mục đích của trò chơi: thông thường, trò chơi nào cũng có tính giáo dục, phụ thuộc vào các góc độ tiếp cận khác nhau đối với loại, dạng trò chơi và người sử dụng, tổ chức trò chơi. Vì thế xác định đối tượng và mục đích trò chơi phù hợp là công việc cần thiết khi tổ chức trò chơi. - Cử người hướng dẫn chơi (GV). - Thông báo kế hoạch, thời gian, nội dung trò chơi đến HS. - Phân công nhiệm vụ cho các lớp, tổ nhóm, đội chơi để chuẩn bị điều kiện phương tiện (lực lượng; phục trang như quần áo, khăn, cờ; còi; phần thưởng) cho cuộc chơi. Bước 2: Tiến hành trò chơi - Ổn định tổ chức, bố trí đội hình: tùy từng trò chơi, địa điểm tổ chức, số lượng người chơi mà GV bố trí đội hình, phương tiện cho phù hợp, có thể theo hàng dọc, hàng ngang, vòng tròn hay chữ U,.... - GV xác định vị trí cố định hoặc di động sao cho mọi khẩu lệnh các em đều nghe thấy, các động tác HS quan sát, thực hiện được, ngược lại bản thân GV phải phát hiện được đúng, sai khi các em chơi - GV giới thiệu trò chơi phải ngắn gọn, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ thực hiện, bao gồm các nội dung sau: Thông báo tên trò chơi, chủ đề chơi.
5
- Nêu mục đích và các yêu cầu của trò chơi; Nói rõ cách chơi và luật chơi. Cho HS chơi nháp/chơi thử 1 -2 lần. Sau đó HS bắt đầu chơi thật. - Dùng khẩu lệnh bằng lời, còi, kẻng, chuông, trống để điều khiển cuộc chơi. - GV hay nhóm trọng tài cần quan sát, theo dõi kỹ, chính xác để đánh giá thắng thua và rút kinh nghiệm.... Bước 3: Kết thúc trò chơi - Đánh giá kết quả trò chơi: GV công bố kết quả cuộc chơi khách quan, công bằng, chính xác giúp HS nhận thức được ưu điểm và tồn tại để cố gắng ở những trò chơi tiếp theo. - Động viên, khích lệ ý thức, tinh thần cố gắng của các em, tuyên dương, khen ngợi hay khen thưởng bằng vật chất, tạo không khí vui vẻ, phấn khởi và để lại những ấn tượng tốt đẹp trong tập thể HS về cuộc chơi. - Dặn dò các em những điều cần thiết (thu dọn phương tiện, vệ sinh nơi chơi,…) 2.4. Phương pháp làm việc nhóm Làm việc theo nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học - giáo dục, trong đó, GV sắp xếp HS thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm. Làm việc nhóm có ý nghĩa rất lớn trong việc: - Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của HS, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự khẳng định khả năng, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao. - Giúp HS hình thành các KN xã hội và phẩm chất nhân cách cần thiết như: KN tổ chức, quản lí, GQVĐ, hợp tác, có trách nhiệm cao, tinh thần đồng đội, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, sự ủng hộ cá nhân và khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, xác định giá trị của sự đa dạng và tính gắn kết. - Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân người học được khẳng định và phát triển. Nhóm làm việc sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau và như vậy sẽ giúp cho những em nhút nhát, thiếu tự tin có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học,.... Để phương pháp làm việc nhóm thực sự phát huy hiệu quả, GV cần lưu ý một số vấn đề sau: a) Thiết kế các nhiệm vụ đòi hỏi sự phụ thuộc lẫn nhau
6
Có một số cách sau đây để tạo ra sự phụ thuộc giữa HS trong nhóm với nhau như: - Yêu cầu HS chia sẻ tài liệu; - Tạo ra mục tiêu nhóm; - Cho điểm chung cả nhóm; - Cấu trúc nhiệm vụ như thế nào để HS phụ thuộc vào thông tin của nhau; - Phân công các vai trò bổ trợ và có liên quan lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm, từ đó tạo ra sự phụ thuộc tích cực. b) Tạo ra những nhiệm vụ phù hợp với KN và khả năng làm việc nhóm của HS Khi thiết kế nhiệm vụ cho nhóm GV cần lưu ý các vấn đề sau: - Đưa ra nhiệm vụ phù hợp với khả năng và đảm bảo thời gian cho HS tham gia đầy đủ nhưng không bắt chúng chờ đợi quá lâu để được khuyến khích hay nhiệm vụ quá nặng nhọc; - Điều tiết sự đi lại của HS xung quanh lớp học. c) Phân công nhiệm vụ công bằng giữa các nhóm và các thành viên GV cố gắng xây dựng nhiệm vụ như thế nào để mỗi thành viên trong nhóm đều có công việc và trách nhiệm cụ thể, từ đó tạo ra vị thế của họ trong nhóm, lớp. Muốn vậy, các nhiệm vụ phải được thiết kế cụ thể, giao việc rõ ràng và mỗi thành viên phải tiếp nhận nhiệm vụ đó, có trách nhiệm giải quyết vì tập thể, nhóm. d) Đảm bảo trách nhiệm của cá nhân Để cá nhân có trách nhiệm với công việc của mình GV cần: - Giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên trong nhóm; - Thường xuyên thay đổi nhóm trưởng cũng như người đại diện nhóm báo cáo; - Sử dụng quy mô nhóm nhỏ, đặc biệt với nhiệm vụ chung có tính chất tìm hiểu, thu thập tư liệu hoặc các nhiệm vụ thực hành, thí nghiệm; - Phân công HS trong nhóm đảm nhận các vai trò khác nhau như phân tích ở trên; - Đánh giá mức độ tham gia của cá nhân đối với kết quả công việc của nhóm hoặc yêu cầu mỗi HS hoàn thành công việc trước khi làm việc nhóm. e) Sử dụng nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc khác nhau Có nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc như: - Hình thành nhóm theo nhiệm vụ; - Hình thành nhóm học tập theo quy tắc ngẫu nhiên (đếm theo số thứ tự tương đương với số nhóm muốn hình thành. Có thể thay đổi bằng cách đếm theo tên các loài hoa, con vật,... cho thêm vui nhộn; - Phân chia nhóm theo bàn hay một số bàn học gần nhau, hoặc dùng đơn vị tổ của HS để làm một hay một số nhóm, theo giới, mức độ, thói quen làm việc, khả năng của HS; - Một vài người lại thích để HS tự chọn, tuy nhiên, điều này thích hợp nhất đối với những lớp ít HS, những lớp mà các em đã biết rõ về nhau. g) Hướng dẫn HS phương pháp, KN làm việc nhóm (KNLVN)
7
KNLVN là yếu tố quyết định thành công của học theo nhóm. Với lợi thế linh hoạt và chủ động về thời gian, nội dung, HĐGD sẽ rất tốt cho việc rèn luyện KNLVN và thực hành các KN xã hội khác. Vì vậy, để rèn luyện KNLVN cho HS có hiệu quả, khi tiến hành làm việc theo nhóm trong HĐ TNST, GV cần tiến hành theo các bước sau: B1:Chuẩn bị cho hoạt động: - GV hướng dẫn HS trao đổi, đề xuất vấn đề, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cách thực hiện và lập kế hoạch; tự lựa chọn nhóm theo từng nội dung; phân công nhóm trưởng và các vai trò khác cho từng thành viên; - Hướng dẫn từng nhóm phân công công việc hợp lí, có liên quan, phụ thuộc nhau; - Chú trọng HS vào một số KNLVN cần thiết cho hoạt động (chọn 2 - 3 KN để nhấn mạnh): giải thích sự cần thiết; làm rõ khái niệm và cách thể hiện; tạo ra tình huống để luyện tập; tổ chức cho HS tự nhận xét, đánh giá; yêu cầu HS thể hiện các KN đó trong hoạt động. B2. Thực hiện: - GV quan sát, nắm bắt thông tin ngược từ HS xem các nhóm có hiểu rõ nhiệm vụ không?, có thể hiện KNLVN đúng không?, các vai trò thể hiện như thế nào?; - Giúp đỡ những nhóm vận hành đúng hướng và duy trì mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; - Khuyến khích, động viên các nhóm hoặc cá nhân làm việc tốt; - Can thiệp, điều chỉnh hoạt động của nhóm khi thấy cần thiết,... B3. Đánh giá hoạt động: Ở bước này GV cần: - Lôi cuốn HS nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động của nhóm, mức độ tham gia của từng thành viên; - Gợi mở cho HS phân tích sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên trong nhóm, thể hiện các KNLVN; - Điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở đánh giá đúng sự cố gắng của từng nhóm, chú trọng phân tích những KNLVN mà HS đã thể hiện; - Đưa ra kết luận gồm kết quả hoạt động và mức độ thể hiện các KNLVN (cái gì đã làm tốt, cần rèn luyện thêm và rèn luyện như thế nào). 3. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo: Bảo vệ môi trường 3.1. Hình thức tổ chức Tổ chức hoạt động ngoại khóa thi giữa 3 khối: Đội khối 10, đội khối 11, đội khối 12. 3.2. Nội dung Được chia thành 3 phần thi: Điểm các phần thi chấm theo thang điểm 10 -
Phần thi thứ nhất: Phần thi kiến thức Ban giám khảo sẽ đưa ra một tình huống trong cuộc sống, các đội sẽ dựa vào kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi giải quyết tình huống.
8
Tình huống: Tâm sự của dòng sông Ngày xưa, tôi là một dòng sông đẹp nhất vùng. Chị ngỗng vẫn thường dẫn đàn con của mình xuống xin được tắm nước của tôi. Chị ấy bảo rằng: Nước của em trong và sạch lắm rất tốt cho làn da của mẹ con chị. Không chỉ riêng gì gia đình chị ngỗng mà gia đình các loài cá, cua, tôm, các loại rong rêu, cây cỏ rất đông đúc sống ở tất cả mọi tầng của tôi. Tôi lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc và rất tự hào về bản thân mình. Nhưng vào một ngày, tôi bỗng cảm thấy khó chịu trong người, ngứa ngáy, hôi thối, da dẻ chuyển màu đen ngòm, …ôi tại sao tôi lại như thế này, bạn bè của tôi thì lần lượt bỏ tôi ra đi, chị ngỗng không còn đến tắm hằng ngày nữa, thay vào đó là các loại rác thải ngổn ngang, bao ni long, xác động thực vật , gia đình cá thì chết nổi bồng bềnh trên mặt nước,…….. Cứu tôi với! Câu hỏi: 1. Dòng sông trong câu chuyện trên gặp phải chuyện gì? 2. Bạn có biết nguyên nhân vì sao? 3. Nếu dòng sông kêu cứu bạn, bạn sẽ làm gì? Các đội thi dựa vào những hiểu biết của mình để giải quyết các câu hỏi trên. Tùy vào chất lượng câu hỏi để cho điểm mỗi đội ( thang điểm 10) -
Phần thì thứ 2: Tổ chức hoạt động trò chơi phân loại rác Mỗi đội chọn ra 3 thành viên để chơi trò chơi này. Ban giám khảo sẽ đưa cho mỗi đội một bì rác như nhau gồm tất cả các loại rác. Yêu cầu các đội phải phân loại ra được 3 loại rác: rác hữu cơ, rác vô cơ và rác tái chế trong vòng 5 phút. Đội nào phân loại đúng nhanh chính xác đội đó sẽ đạt điểm cao nhất.
-
Phần thi thứ 3: Phần thi giải quyết tình huống 3 đội sẽ bắt thăm tình huống của mình. Bằng cách tổ chức một hình thức nghệ thuật: đóng kịch, vẽ tranh, thơ, bình luận….. để giải quyết các tình huống đó. + Tình huống 1: Vào năm 2020 môi trường của chúng ta bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đại diện của ủy ban bảo vệ môi trường thế giới quay trở về quá khứ để tim kiếm các nhà khoa học thiên tài, phối hợp cứu để cứu lấy môi trường. Nếu bạn là một trong những nhà khoa học được chọn bạn sẽ làm gì giải quyết các vấn đề môi trường? +Tình huống 2: 3 người làm trong 3 lĩnh vực nghành nghề khác nhau( Bác nông dân, giám đốc một nhà máy công nghiệp, người trồng rừng) đang tranh luận về vấn đề bảo vệ môi
9
trường, mỗi người đều có ý kiến riêng của mình. Hãy cho biết nếu là những người đó bạn sẽ giải quyết vấn đề như thế nào? +Tình huống 3: Đọc và suy ngẫm về bài thơ sau: XIN ĐỔI KIẾP NÀY Nếu đổi được kiếp này tôi xin hóa thành cây, Thử những nhát rìu rạch sâu da thịt. Trong biển lửa bập bùng thử mình cháy khét, Thử chịu thói độc tàn, thử sống kiên trung. Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa ruộng đồng, Thử nếm vị thuốc sâu, thử sặc mùi hóa chất, Thử chịu bão giông, thử sâu rày, khô rát, Thử ngập mặn, triều cường, núi lửa, sóng thần dâng. Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa đại dương, Thử dầu loang hắc nồng, mùi cá trôi hôi thối, Đau vì kiệt tài nguyên, khổ vì không biết nói, Thử biết gồng mình, thử quằn quại đứng lên. Nếu đổi được kiếp này, tôi xin làm không khí, Thử khói bụi ngày đêm, thử ngột ngạt trưa hè, Thử không còn xanh vì lũ người ích kỷ, Thử tiếng ồn đinh tai, thử cái chết cận kề. Tôi làm gì đây? khi vẫn kiếp con người ! Tôi nhận về bao nhiêu ? Tôi lấy gì trả lại ? Tôi phá hoại những gì ? Tôi đã từng hối cải? Xin đổi được kiếp này ... ! Trời đất có cho tôi ??? ( Nguyễn Thị Bích Ngân – Lớp 8 A1, THCS Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội) Bạn làm gì để trả lời những câu hỏi của tác giả bài thơ? Dựa vào phần trình bày của 3 đội để cho điểm mỗi đội theo thang điểm 10
10
III – KẾT LUẬN Thông điệp của buổi trải nghiệm sáng tạo: Bảo vệ môi trường không phải là nhiệm vụ riêng của một quốc gia, một tổ chức nào. Đó là nhiệm vụ chung của mọi người trên thế giới. Mỗi chúng ta , tùy nơi sống, lứa tuổi, công việc đều có thể tham gia bảo vệ môi trường Đây mới chỉ là một chuyên đề nhỏ chỉ mới đưa r ý tưởng hoạt động. Trong thời gian tới tôi sẽ nghiên cứu thêm để viết được kịch bản rõ ràng của buổi ngoại khóa và đưa vào thực hiện thực tế để xây dựng thành một chuyên đề sáng kiến kinh nghiệm. Rất mong được sự phối hợp của các thành viên trong tổ, sự hỗ trợ của Đoàn trường và nhà trường để tôi có thể hoàn thiện đề tài. Cùng một chủ đề, một nội dung giáo dục nhưng hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức theo nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tùy theo lứa tuổi và nhu cầu của học sinh, tùy theo điều kiện cụ thể của từng lớp, từng trường, từng địa phương. Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí cũng như nhu cầu, nguyện vọng của học sinh. Tổ chức thảo luận Đây có lẽ là cách thức tổ chức dạy học trải nghiệm đơn giản và dễ thực hiện nhất với điều kiện nước ta cũng như mặt bằng chung của các trường phổ thông hiện nay. Thảo luận có thể diễn ra trong phạm vi hẹp trong lớp học dưới sự hướng dẫn điều khiển của giáo viên học sinh cùng nhau trao đổi tìm ra nguyên nhân và giải pháp thực hiện chủ đề cùng trao đổi. Giáo viên chỉ là người tổ chức còn học sinh là người chủ trì, dẫn dắt, thực hiện. Tuy nhiên đây cũng chỉ là bước đầu của học tập trải nghiệm hình thức tổ chức này sẽ khó phát huy hết năng lực người học và đặc biệt là những em học sinh còn chưa chú ý tới học tập. Bởi vậy giáo viên cần có những hình thức tổ chức hấp dẫn với tất cả đối tượng học sinh nhằm phát triển năng lực ở người học. Tổ chức các trò chơi Trò chơi là một loại hoạt động giải trí, thư giãn đồng thời là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Việc lựa chọn trò chơi phù hợp sẽ có tác dụng rất tích cực tới con người nói chung và đặc biệt đối với thanh niên học sinh nói riêng. Muốn để cho trò chơi là một con được học tập tích cực đòi hỏi phải có sự chọn lọc, tư duy của người giáo viên trong cách lựa chọn trò chơi để tổ chức học tập trải nghiệm. Trò chơi mang lại những thuận lợi trong quá trình tổ chức dạy học trải nghiệm rõ nét nhất là: việc phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh, giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn… Bên cạnh những thuận lợi là khó khăn về mặt tổ chức lựa chọn địa điểm thời gian cho phù hợp để đảm bảo nội dung chương trình chuẩn.
11
Một số trò chơi được sử dụng nhiều trong các trường phổ thông hiện nay như: trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi mô phỏng game truyền hình…Có thể thấy tổ chức trò chơi là hoạt động quen thuộc dễ thực hiện trong quá trình học tập trải nghiệm và có ý nghĩa giáo dục tích cực. Tổ chức các cuộc thi Tổ chức các cuộc thi có thể trong nhà trường, lớp học hay ngoài không gian trường học. Nội dung cuộc thi rất phong phú và dễ lồng ghép bất cứ nội dung giáo dục nào. Và đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi cuộc thi đều phải mang ý nghĩa giáo dục nhất định. Việc lựa chọn cách thức thực hiện hay làm cho cuộc thi trở nên hấp dẫn mang tính giáo dục hiệu quả đòi hỏi chất xám từ các nhà tổ chức mà không ai khác đó chính là những thầy cô giáo người trực tiếp làm nhiệm vụ giáo dục. Nếu như tổ chức cuộc thi chỉ là hình thức thì thật khó đem tới hiệu quả và bộc lộ hết năng lực của người học. Cuộc thi có nhiều cách tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi giải ô chữ, đố vui về các địa danh trên đất nước ta, hội thi kể chuyện theo tranh về môi trường, … Mỗi hình thức có thể tổ chức với một chủ đề trong đó mang một hay nhiều nội dung giáo dục mà ở đó có sự gắn kết với nội dung chương trình cũng như giáo dục kĩ năng sống. Tổ chức các câu lạc bộ Đây là hình thức hoạt động ngoại khóa của một nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu…dưới định hướng của nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với các thầy cô giáo và những người trưởng thành khác. Hoạt động câu lạc bộ đòi hỏi lịch sinh hoạt định kì và với các chủ đề thảo luận nghiên cứu khác nhau như: câu lạc bộ về biến đổi khí hậu, câu lạc bộ xanh…Việc thực hiện duy trì câu lạc bộ đòi hỏi có những nguyên tác nhất định về: tinh thần, thời gian, địa điểm, sự công bằng, sự công hiến sáng tạo, tôn trọng, bình đẳng… Sinh hoạt tập thể Hình thức sinh hoạt tập thể là hình thức tổ chức quen thuộc diễn ra thường xuyên tại các trường học phổ thông. Đây là hình thức tổ chức có sự gắn kết cao, đồng thời cũng là yếu tố chính để duy trì và phát triển các phong trào và đoàn thể thanh thiếu niên. Lao động công ích Lao động công ích là hình thức hoạt động mang tính tập thể cao. Có thể được tổ chức trong khuôn viên nhà trường hoặc làng xóm như: Vệ sinh vườn trường, sân trường lớp học; vệ sinh đường làng ngõ xóm, trồng và chăm sóc vườn hoa, chăm sóc và bảo vệ di tích lịch sử, các công trình công cộng, di sản văn hóa… Tuy nhiên việc lao động công ích phải xuất phát từ việc làm của mỗi cá nhân, cái tâm của mỗi người góp sức mình để tham gia xây dựng, tu bổ công trình công trình công cộng vì lợi ích chung của cộng đồng nhằm bảo tồn các công trình, biết yêu quý giá trị lao động cũng như có những hành động cần thiết để bảo vệ, phòng chống khắc phục hành động chưa đúng đắn. Tổ chức tham quan dã ngoại
12
Đây là hình thức tổ chức học tập trải nghiệm hiệu quả nhất bởi tính hấp dẫn đối với học sinh. Các hình thức tham quan dã ngoại mà hiện nay được các nhà trường phổ thông ở thành phố lựa chọn để giáo dục trong môn Địa Lí: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, nhà máy, xí nghiệp; tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề, tham quan các viện bảo tàng, tham quan du lịch truyền thống. Mỗi hình thức tham quan dã ngoại lại gắn với một chủ để học tập giáo dục trong chương trình hay là nguồn bổ sung kiến thức thực tiễn hoặc kĩ năng sống cần thiết cho học sinh. Tuy nhiên việc tổ chức tham quan dã ngoại không phải trường nào cũng có cơ hội và khả năng thực hiện do yếu tố kinh phí, đảm bảo thời gian chương trình, sự đồng thuận từ phía phụ huynh, xã hội. Diễn đàn Diễn đàn được tổ chức với quy mô khác nhau ở khối lớp, cấp trường, cấp quận/ huyện, cấp tỉnh hoặc cao hơn nữa. Chủ đề của diễn đàn có thể xây dựng dựa trên nội dung các hoạt động giáo dục, những nhu cầu, mong muốn của các em với nhà trường. Cũng từ đó các bậc phụ huynh, thầy cô giáo thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của các em để từ đó tìm ra những giải pháp cho phù hợp để xây dựng biện pháp giáo dục cho phù hợp. Với cách thức tổ chức diễn đàn như thế này yêu cầu về mặt thời gian, sự công phu từ người diễn thuyết đồng thời dễ đi lạc hướng. Bởi vậy giáo viên cần xây dựng chương trình cụ thể khoa học và có tính định hướng để nhằm đi đúng mục đích giáo nhằm phát triển năng lực ở người học. Giao lưu Giao lưu có những đặc trưng riêng biệt khó hòa lẫn với các hình thức tổ chức khác. Đó là giao lưu phải có đối tượng là những nhân vật điển hình có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực nào đó thực sự là tấm gương sáng cho các em noi theo, phù hợp với hung thú của học sinh. Thu hút sự tham gia đông đảo cũng như hung thú của học sinh. Đồng thời, đòi hỏi sự trao đổi thông tin tình cảm chân thực những vấn đề cần thiết liên quan tới nội dung học tập và hứng thú của các em. Tổ chức sự kiện Các hình thức tổ chức sự kiện quen thuộc thướng bắt gặp trong nhiều nhà trường phổ thông như: Lễ khai mạc, nhập học, lễ tốt nghiệp, lễ vinh danh học sinh có thành tích xuất sắc, buổi triển lãm về biển đảo, hội diễn khoa học, hoạt động học tập thực tế du lịch khảo sát thực tế, tìm hiểu di sản văn hóa, về phong tục tập quán, khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước ngoài… Việc tổ chức sự kiện đòi hỏi sự công phu cũng như chuẩn bị kĩ càng ở cả học sinh và giáo viên làm sao để học sinh biết hợp tác với nhau làm việc nhóm hiệu quả và kĩ năng giải quyết vấn đề thực tế ngay trong quá trình tổ chức sự kiện. Hoạt động chiến dịch
13
Mỗi chiến dịch mang một chủ đề định hướng học tập trải nghiệm như: Chiến dịch giờ trái đất, chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học, chiến dịch ứng phó với biến đổi khí hậu, chiến dịch bảo vệ rừng ngập mặn, chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn… Quy mô của hoạt động chiến dịch có thể tổ chức trong không gian nhà trường hoặc ngoài nhà trường. Việc tổ chức có thể diễn ra thường xuyên nhưng phải phù hợp với điều kiện địa phương và nhà trường và đảm bảo những vấn đề đó là vấn đề lâu dài có tính cấp thiết và giáo dục cao. Sân khấu tương tác Là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi người tham gia. Phần diễn chính là một cuộc chia tay thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả. Nội dung của sân khấu tương tác là các vấn đề, những điều trực tiếp tác động tới cuộc sống của học sinh. Học sinh tự chọn ra vấn đề bức thiết, các em tự xây dựng kịch bản và cuối cùng là chọn ra những diễn viên cho vở diễn đó để thực hiện và sẽ không có sự giúp đỡ từ bên ngoài. Sân khấu tương tác có thể diễn ra trong phạm vi trong lớp học hoặc rộng hơn là phạm vi toàn trường. Bên cạnh 12 hình thức tổ chức cơ bản trên còn có hình thức tổ chức thí nghiệm, điều tra, hoạt động tình nguyện… Mỗi hình thức tổ chức đều có những ưu và nhược điểm nhất định nhưng tựu chung lại đều hướng tới mục đích giáo dục không chỉ về kiến thức mà còn cả về kĩ năng nhằm phát triển năng lực ở người học. Rèn luyện tính tự tin, tính sáng tạo và tư duy có vấn đề.
HÌNH THỨC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG ThS. BÙI NGỌC DIỆP Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam 1. Đặt vấn đề Hoạt động giáo dục (HĐGD) ở trường Tiểu học sau năm 2015 cần quán triệt tinh thần và mục tiêu của Nghị Quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nghĩa là cần tổ chức các HĐGD theo hướng tăng cường sự trải nghiệm, nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh, tạo ra các môi trường khác nhau để học sinh được trải nghiệm nhiều nhất, đồng thời là sự khởi nguồn sáng tạo, biến những ý tưởng sáng tạo của học sinh thành hiện thực để các em thể hiện hết khả năng sáng tạo của mình. Nói tới trải nghiệm sáng tạo (TNST) là nói tới việc học sinh phải kinh qua thực tế, tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện nào đó và tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, cách giải quyết mới không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có.
14
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) nhằm định hướng, tạo điều kiện cho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn, qua đó tổ chức khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các em tích cực nghiên cứu, tìm ra những giải pháp mới, sáng tạo những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành ý thức, phẩm chất, kĩ năng sống và năng lực cho học sinh. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một số hình thức tổ chức các HĐTNST trong nhà trường phổ thông. 2. Quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông HĐTNST là các HĐGD thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông. HĐTNST là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, HĐTNST là các HĐGD có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường nhằm phát triển, nâng cao các tố chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, đồng thời quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh. Thông qua việc tham gia vào các HĐTNST, học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân. Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân. Các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,… Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết. HĐTNST về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. HĐTNST có nội dung rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội. Nội dung giáo dục của HĐTNST thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi. HĐTNST có thể tổ chức theo các quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường. Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm và quy mô lớp có ưu thế hơn về nhiều mặt như đơn giản, không tốn kém, mất ít thời gian, học sinh tham gia được nhiều hơn và có nhiều khả năng hình thành, phát triển các năng lực cho học sinh hơn. HĐTNST có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, tổng phụ trách Đội, ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những nghệ nhân, những người lao động tiêu biểu ở địa phương,… 3. Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông HĐTNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định. Dưới đây là một số hình thức tổ chức của HĐTNST trong nhà trường phổ thông: 3.1. Hoạt động câu lạc bộ (CLB)
15
Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với thầy cô giáo, với những người lớn khác. Hoạt động của CLB tạo cơ hội để học sinh được chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,… CLB là nơi để học sinh được thực hành các quyền trẻ em của mình như quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,… Thộng qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em. CLB hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: CLB học thuật; CLB thể dục thể thao; CLB văn hóa nghệ thuật; CLB võ thuật; CLB hoạt động thực tế; CLB trò chơi dân gian… 3.2. Tổ chức trò chơi Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học sinh nói riêng. Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi”. Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐTNST như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn,… 3.3. Tổ chức diễn đàn Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người lớn khác có liên quan. Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực. Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em. Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau. Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác. Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh. Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho học sinh được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định mình. Qua các diễn đàn, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và những người lớn có liên quan nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và mong đợi của các em về bạn bè, thầy cô, nhà trường và gia đình,… tăng cường cơ hội giao lưu giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em với trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ em trong trường học. Giúp học sinh thực hành quyền được bày tỏ ý kiến, quyền được lắng nghe và quyền được tham gia,… đồng thời giúp các nhà quản lí giáo dục và hoạch định chính sách nắm bắt, nhận biết được những vấn đề mà học sinh quan tâm từ đó có những biện pháp giáo dục và xây dựng chính sách phù hợp hơn với các em. 3.4. Sân khấu tương tác
16
Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia. Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả. Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống. Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,… 3.5. Tham quan, dã ngoại Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với học sinh. Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em học sinh được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em. Nội dung tham quan, dã ngoại có tính giáo dục tổng hợp đối với học sinh như: giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử, truyền thống của Đảng, của Đoàn, của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa; Tham quan các công trình công cộng, nhà máy, xí nghiệp; Tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề; Tham quan các Viện bảo tàng; Dã ngoại theo các chủ đề học tập; Dã ngoại theo các hoạt động nhân đạo… 3.6. Hội thi / cuộc thi Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ. Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc. Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình tổ chức HĐTNST. Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức. Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi học sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó. Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi. Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn. 3.7. Tổ chức sự kiện Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội cho học sinh được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện năng lực tổ chức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động. Thông qua hoạt động tổ chức sự kiện học sinh được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc tổ chức, tính năng động, nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, có khả năng làm việc theo nhóm, có sức khỏe và niềm
17
đam mê. Khi tham gia tổ chức sự kiện học sinh sẽ thể hiện được sức bền cũng như khả năng chịu được áp lực cao của mình. Ngoài ra, các em còn phải biết cách xoay xở và ứng phó trong mọi tình huống bất kì xảy đến. Các sự kiện học sinh có thể tổ chức trong nhà trường như: Lễ khai mạc, lễ nhập học, lễ tốt nghiệp, lễ kỉ niệm, lễ chúc mừng,…; Các buổi triển lãm, buổi giới thiệu, hội thảo khoa học, hội diễn nghệ thuật; Các hoạt động đánh giá thể lực, kiểm tra thể hình, thể chất của học sinh; Đại hội thể dục thể thao, hội thi đấu giao hữu; Hoạt động học tập thực tế, du lịch khảo sát thực tế, điều tra học thuật; Hoạt động tìm hiểu về di sản văn hóa, về phong tục tập quán; Chuyến đi khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước ngoài… 3.8. Hoạt động giao lưu Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để cho học sinh được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó. Qua đó, giúp các em có tình cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách. Hoạt động giao lưu có một số đặc trưng sau: - Phải có đối tượng giao lưu. Đối tượng giao lưu là những người điển hình, có những thành tích xuất sắc, thành đạt trong các lĩnh vực nào đó, thực sự là tấm gương sáng để học sinh noi theo, phù hợp với nhu cầu hứng thú của học sinh. - Thu hút sự tham gia đông đảo và tự nguyện của học sinh, được học sinh quan tâm và hào hứng. - Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và sôi nổi giữa học sinh với người được giao lưu. Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của học sinh, đáp ứng nhu cầu của các em. Với những đặc trưng trên, hoạt động giao lưu rất phù hợp với các HĐTNST theo chủ đề. Hoạt động giao lưu dễ dàng được tổ chức trong mọi điều kiện của lớp, của trường. 3.9. Hoạt động chiến dịch Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức không chỉ tác động đến học sinh mà tới cả các thành viên cộng đồng. Nhờ các hoạt động này, học sinh có cơ hội khẳng định mình trong cộng đồng, qua đó hình thành và phát triển ý thức “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Việc học sinh tham gia các hoạt động chiến dịch nhằm tăng cường sự hiểu biết và sự quan tâm của học sinh đối với các vấn đề xã hội như vấn đề môi trường, an toàn giao thông, an toàn xã hội,… giúp học sinh có ý thức hành động vì cộng đồng; tập dượt cho học sinh tham gia giải quyết những vấn đề xã hội; phát triển ở học sinh một số kĩ năng cần thiết như kĩ năng hợp tác, kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năng đánh giá và kĩ năng ra quyết định. Mỗi chiến dịch nên mang một chủ đề để định hướng cho các hoạt động như: Chiến dịch giờ trái đất; Chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học; Chiến dịch ứng phó vơi biến đổi khí hậu; Chiến dịch bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng ngập mặn; Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn; Chiến dịch tình nguyện hè, Chiến dịch ngày thứ 7 tình nguyện… Để thực hiện hoạt động chiến dịch được tốt cần xây dựng kế hoạch để triển khai chiến dịch cụ thể, khả thi với các nguồn lực huy động được và học sinh phải được trang bị trước một số kiến thức, kĩ năng cần thiết để tham gia vào chiến dịch. 3.10. Hoạt động nhân đạo
18
Hoạt động nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồng cảm của học sinh trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Thông qua hoạt động nhân đạo, học sinh biết thêm những hoàn cảnh khó khăn của người nghèo, người nhiễm chất độc da cam, trẻ em mồ côi, người tàn tật, khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những đối tượng dễ bị tổn thương trong cuộc sống,… để kịp thời giúp đỡ, giúp họ từng bước khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Hoạt động nhân đạo giúp các em học sinh được chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm và giá trị vật chất của mình với những thành viên trong cộng đồng, giúp các em biết quan tâm hơn đến những người xung quanh từ đó giáo dục các giá trị cho học sinh như: tiết kiệm, tôn trọng, chia sẻ, cảm thông, yêu thương, trách nhiệm, hạnh phúc,… Hoạt động nhân đạo trong trường phổ thông được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hiến máu nhân đạo; Xây dựng quỹ ủng hộ các bạn thuộc gia đình nghèo, có hoàn cảnh khó khăn; Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam; Quyên góp cho trẻ em mổ tim trong chương trình “Trái tim cho em”; Quyên góp đồ dùng học tập cho các bạn học sinh vùng cao; Tổ chức trung thu cho học sinh nghèo vùng sâu, vùng xa… 4. Kết luận HĐTNST trong nhà trường phổ thông được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra những con người có chí hướng, có đạo đức, có định hướng tương lai, có khả năng sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh. HĐTNST về cơ bản mang tính chất là các hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. HĐTNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của học sinh, vì vậy nên tổ chức cho học sinh và giáo viên cùng tham gia bàn bạc, nêu ý kiến hoặc tự học sinh xây dựng kế hoạch và phân chia công việc, nhiệm vụ rồi thực hiện. Tùy thuộc vào đặc trưng về văn hóa, khí hậu, đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, nhà trường có thể lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả. Các hình thức tổ chức HĐTNST được trình bày ở trên là những gợi ý để nhà trường tổ chức có hiệu quả nhất hoạt động giáo dục của mình, đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục.
Tài liệu tham khảo [1]. Chiến lược Phát triển Giáo dục 2011 - 2020 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt ngày 13 tháng 6 năm 2012 (Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). [2]. Bộ GD&ĐT (2006), Chương trình giáo dục phổ thông - HĐGD ngoài giờ lên lớp. [3]. Bộ GD&ĐT, Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau 2015 (Bản dự thảo). [4]. Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng (1998), Tổ chức hoạt động giáo dục, NXB Giáo dục. [5]. Đặng Vũ Hoạt (1996), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS, NXB Giáo dục. [6]. Kỷ yếu hội thảo “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào điều kiện Việt Nam”, Hà Nội ngày 10 - 12, tháng 12 năm 2012.
KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
19
KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẾT TRUNG THU “ TIẾNG NÓI TUỔI THƠ”
I. Mục tiêu: - Học sinh hiểu thêm ý nghĩa ngày tết trung thu. Các em biết trang trí trai hè, bầy và trang trí mâm cỗ trung thu, rước đèn trung thu, làm một số sản phẩm dùng hoặc trang trí được để bầy bán, biết mua bán tại quầy hàng yêu thương, thêm quan tâm giúp đỡ ban bè có hoàn cảnh khó khăn nhân ngày tết thiếu nhi… - Học sinh có được các năng lực: Tổ chức, phán đoán, tự ra quyết định, hợp tác và giao tiếp…; - HS tự tin, khéo léo, yêu giá trị của lao động, có ý thức bảo vệ môi trường. Tạo mối quan hệ mật thiết giữa HSvới HS, giữa HS với GV và các bậc PH, các ban ngành đoàn thể trong xã. 2. Nội dung và hình thức tổ chức: 2.1 Nội dung: - Hoạt động trang trí trại trung thu, bầy mâm cỗ trung thu, rước đèn trung thu. - Hoạt động mua bán một số sản phẩm do chính các em làm ra, một số sản phẩm địa phương do người nông dân làm ra để trích một phần tặng các ban có hoàn cảnh khó khăn. 2.2. Hình thức: Tổ chức học sinh toàn trường tham gia. Mỗi lớp bầy một mâm cỗ trung thu. Mỗi khối trang trí một trại hè. Mỗi lớp cử 1 bạn đứng bán hàng tai quầy hàng yêu thương. 3. Chuẩn bị hoạt động: -
Địa điểm: Sân trường
-
Thời gian: Một ngày thứ ba, ngày 15/9/2015
-
Thành phần:
+ Cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh nhà trường; + Phụ huynh học sinh, đoàn thanh niên của xã, đại diện cấp ủy, chính quyền, tổ chức xã hội của địa phương; + Khách mời là đại diện PGD, HĐĐ huyện Hiệp Hoà, các đồng trí TPTĐ của các liên đội trong toàn huện -
Cơ sở vật chất:
+ Sân khấu, âm thanh, băng rôn khẩu hiệu…. + Đồ để cắm trai hè, giấy mầu, kéo, hồ dán, giây nhóng nhánh,đèn nháy… + Hoa quả, bánh kẹo… + 25 phần quà để tặng học sinh có hoàn cảnh khó khăn. + Một gian hàng: bàn ghế, các loại hàng….
20
+ Giấy bút, máy ảnh… -
Phân công nhiệm vụ:
+ Công tác tổ chức: BGH và tổng phụ trách Đội, Liên đội trưởng/ Hội đồng tự quản trường, một số giáo viên khác và trưởng Ban đại diện cha mẹ học sinh trường; + Công tác tuyên truyền: Hội đồng tự quản các lớp, HS toàn trường. + Tiếp đón đại biểu: BGH, TPTĐ, HĐTQ nhà trường. + Ban giám khảo: TPTĐ, GV mỹ thuật, chủ tịch HĐTQ các lớp. + Người đứng bán hàng: Kế toán, mỗi lớp củ 1 HS + Chuẩn bị sân khấu: Tổ hành chính, các GV dạy kê. + Lế tân: Tổ hành chính. + Giáo viên chủ nhiệm các lớp: Giúp HS hiểu thêm ý nghĩa của ngày tết trung thu. Định hướng cho học sinh xây dựng kế hoạch, tuyên truyền, thực hiện các nội dung trong quá trình trang trí trại hè, bầy mâm cỗ trung thu, rước đèn trung thu, mua bán, phán đoán các tình huống, hướng dẫn học sinh một số kỹ năng liên quan (xây dựng kế hoạch, tuyên truyền, trang trí trai, bầy mâm cỗ trung thu, trưng bày gian hàng, cách đặt hàng, chào mời, nhận tiền, đưa hàng, cân đong, ra quyết định….kĩ năng thu thập thông tin…); theo dõi, giám sát, giúp đỡ, đánh giá khi học sinh tổ chức trang trí trai, bầy mâm cỗ trung thu, mua bán; huy động nhiều nguồn lực:( tiền, đồ để cắm và trang trí trại, hoa quả bánh kẹo, 25 phần quà, hàng hóa, con người…) phục vụ cho hoạt động của ngày hội trung thu. + Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe: Nhân viên y tế, bảo vệ nhà trường, công an xã. + Phân công địa điểm căm trại cho từng khối, bầy mâm cỗ trung thu của mỗi lớp, địa điểm đặt quầy hàng yêu thương. - Lấy ý kiến của học sinh và phụ huynh học sinh về việc cắm và trang trí trại hè, bầy mâm cỗ trung thu, mua bán, các mặt hàng, công tác tổ chức ngày hội trung thu…. 4. Tiến hành hoạt động: (Tuần 1: Hướng dẫn HS XD Kế hoạch, Tuần 2: HS TC tuyên truyền, từ Tuần 1 đến tuần 2: GV HD HS các kĩ năng liên quan và phán đoán các tình huống có thể sẩy ra Tuần 3: Huy động nguồn lực, tổ chức ngày hội trung thu) *) Hoạt động cụ thể trong ngày hội trung thu: a) Buổi sáng: - Từ 7 h đến 8h : Đoàn thanh niên xã cùng tra mẹ HS căm trạ hè giúp các em. HS cùng giáo viên làm 1 số sản phẩm và chuẩn bị hàng hoá bán tại quầy hàng. - Từ 8h đếm 10h: Các em tự trang trí trại của khối mình. Tổ hành chính cùng Gv dạy kê chuẩn bị sân khấu. - Từ 10h đến 10h 30: Chấm trang trí các trại hè. b) Buổi chiều: - Từ 13h 30 đến 14h: Bầy quầy hàng ( GVCN và những HS được cử đứng bán hàng của các lớp)
21
- Từ 14h đến 14h 30: Đón tiếp khách.( BGH, TPTĐ, HĐTQ nhà trường) - Từ 14 30 đến 15h: Khai mạc và tặng quà cho HS có hoàn cảnh đặc biệt( Liên đội trưởng/CTHĐTQ trường ) - Từ 15h đến 15h 30: Thi bầy mâm cỗ trung thu( HS các lớp) - Từ 15h 30 đến 16h 30: Chấm mân cỗ trung thu, thăm quan trại và các mâm cỗ, mua bán tại quầy hàng yêu thương. - Từ 16h 30 đến 16h 50: GV,HS, PHHS, khách mời cùng rước đèn trung thu vòng quanh sân trường. - Từ 16h 50 : HS cùng PHHS và khách mời phá cỗ trung thu. 5. Đánh giá, rút kinh nghiệm sau khi tiến hành: - HS tự đánh giá; * Đối với HS, GV hướng dẫn HS tự viết BC có đối chiếu với những nội dung thực hiện ( trang trí trại, bầy mâm cỗ trung thu…), những cách giải quyết tình huống phát sinh, kinh nghiệm rút ra, xây dựng ý tưởng mới. D&TĐ - "Việc xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm sáng tạo được gọi là thiết bị hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) cụ thể. Đây là việc quan trọng, quyết định tới một phần sự thành công của hoạt động". Đó là chia sẻ của TS Ngô Thị Thu Dung – Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứu phát triển giáo dục cộng đồng (CCE), nơi thường tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh, sinh viên. TS Dung cho biết: Việc thiết kế các HĐTNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Công việc này bao gồm một số việc: Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh. Bước 2: Đặt tên cho hoạt động Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lý đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn.
22
- Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động. - Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch HĐTNST, nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động. Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường, nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời mục tiêu. Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó. Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động. Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị. Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là: - Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động - Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động - Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò Tùy theo chủ đề của HĐTNST ở mỗi tháng, đặc điểm HS và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng. Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau: - Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?) - Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động? - Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động? Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động.
23
Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đẩy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong dó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ. Ví dụ: “Thảo luận về việc phát huy truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo”. Hình thức thảo luận là chủ đạo, có thể xen kẽ hình thức văn nghệ, trò chơi hoặc đố vui. Trong “Diễn đàn tuổi trẻ với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”, nên chọn hình thức báo cáo, trình bày, thuyết trình về vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc làm chính, kết hợp với thi đàn, hát dân ca, trò chơi dân gian hoặc gặp gỡ, giao lưu với các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu… để tăng tính đa dạng, tính hấp dẫn cho diễn đàn. Bước 5: Lập kế hoạch Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn và hy vọng, mặc dù có tính toàn, nghiên cứu kỹ lưỡng. Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì phải lập kế hoạch. Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài liệu) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu. Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiên mỗi một mục tiêu. Vì đạt được mục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cai nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kỳ người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được. Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu. Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao?
24
Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân. Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc. Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động Rõ soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được. Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh. Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng căn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động. Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sin
1.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM LÀM TĂNG HỨNG THÚ CHO HỌC SINH QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG BỘ MÔN SINH HỌC
2.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Ngành giáo dục Việt Nam đang đứng trước một vấn đề rất nan giải: Đó là việc ngày càng có nhiều học sinh bỏ học. Các em bỏ học với rất nhiều lý do và một trong những lý do đó là các em chán học, không muốn đến trường. Xuất phát từ tình hình này, mô hình “ Trường học thân thiện” của Bộ giáo dục đã ra đời. Phải gây được sự hứng thú, ham mê học hỏi, khám phá ở các em học sinh đó là yêu cầu cấp bách của ngành giáo dục đặt ra cho mỗi Thầy, Cô giáo. Làm sao để các em thấy được mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Qua thực tế giảng dạy bộ môn Sinh học ở trường trung học phổ thông chúng tôi nhận thấy có một thực trạng là phần lớn học sinh chưa chú trọng đến việc tìm hiểu các kiến thức của bộ môn Sinh. Nguyên nhân có nhiều, song trước hết có lẽ vì học và dạy các kiến thức Sinh học là một công việc khó. Người dạy cũng như người học trước hết phải có niềm say mê, yêu thích khoa học, thích khám phá, tìm hiểu những bí ẩn của thiên nhiên... Đó là những yêu cầu khắt khe, mang tính đặc thù của bộ môn Sinh học. Mặt khác, xu hướng nghề nghiệp hiện nay khá rộng mở đối với các ngành thi của khối A với 3 môn Toán, Lí, Hóa. Chính tính thực dụng trong học tập khiến học sinh ngày càng thờ ơ với bộ môn Sinh học. Đặc biệt, việc giảng dạy các kiến thức lý thuyết trên lớp đã trở nên đơn điệu, xơ cứng, không phù hợp với tâm lý con người hiện đại. Điều này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến hứng thú học tập, khả năng sáng tạo của học sinh. Giải quyết thực trạng trên đây, theo chúng tôi, cần phải kết hợp đổi mới phương pháp giảng dạy cả giờ chính khoá lẫn hoạt động ngoại khoá, mà trước hết là phải có một quan niệm đúng về tầm quan trọng, ý nghĩa của những hoạt động ngoại khoá Sinh học. Theo dõi quá trình đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học ở nhà trường phổ thông trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy nội dung đổi mới thường tập trung vào giờ chính khoá, còn hình thức ngoại khóa thì ít được chú trọng triển khai. Phải chăng hoạt động ngoài giờ của học sinh là không quan trọng, không 25
đóng vai trò trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn? Đã đến lúc cần xác định lại vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá, phát huy cao độ tính năng động sáng tạo, niềm hứng thú của học sinh qua các hoạt động ngoại khóa Sinh học. Đó là lý do mà tôi đã chọn đề tài này. II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI: 1/ Thuận lợi: - Do đặc thù của bộ môn rất gần gũi với thiên nhiên, với cuộc sống nên dễ gây hứng thú cho học sinh với môn học nếu giáo viên có định hướng và phương pháp tốt. - Phần lớn các em rất yêu thích và rất muốn khám phá những bí ẩn của tự nhiên, những điều kì diệu của sự sống 3.
- Kiến thức sinh học rất đa dạng,phong phú, có rất nhiều nội dung để giáo viên đưa vào hoạt động ngoại khóa giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và vận dụng các kiến thức đó vào thực tiễn - Công nghệ thông tin phát triển mạnh khiến các em học sinh có điều kiện tìm hiểu thông tin để tham gia tốt các hoạt động ngoại khóa - Được sự ủng hộ nhiệt tình từ Ban giám hiệu nhà trường, Ban chấp hành Đoàn trường, các em học sinh, và đặc biệt là sự giúp đỡ của các giáo viên trong tổ. 2/ Khó khăn: - Theo sự phát triển của nền kính tế thị trường, nên rất nhiều học sinh ở bậc Trung học phổ thông ngay từ lớp 10 đã có những định hướng tương lai trong việc chọn khối thi, trường thi. Phần lớn các em chọn khối A với 3 môn Toán - Lí – Hóa với nhiều trường thi và nhiều cơ hội về việc làm khi ra trường, vì vậy rất nhiều môn học khác trong đó có môn Sinh ít được các em quan tâm - Trong nhà trường hiện nay, các hoạt động ngoại khóa chưa thực sự được chú trọng,việc tổ chức các hoạt động này phần lớn còn tùy tiện, tuỳ hứng, chưa có kế hoạch cụ thể, cũng chưa được đánh giá rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc. - Trong chương trình của bậc học phổ thông, không quy định giờ cho hoạt động ngoại khoá. Ban Giám Hiệu các trường phần lớn chỉ tập trung cho giờ học chính khoá và quan niệm ngoại khoá chỉ là vui chơi, giải trí nên không chú trọng, ai làm cũng được, không làm cũng chẳng sao. - Chương trình chính khoá quá nặng, nhà trường cũng như giáo viên không còn thời gian tổ chức hoạt động ngoại khoá. - Tổ chức ngoại khoá cần phải có kinh phí mà nguồn kinh phí này rất hạn chế - Hoạt động ngoại khoá chưa có một kế hoạch, chương trình hướng dẫn chung cho các trường phổ thông nên không có định hướng cụ thể, các trường tự biên tự diễn. III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI: A. Cơ sở lí luận: Hứng thú trong học tập có được khi học sinh yêu thích môn học, ý thức được tầm quan trọng của việc học. Muốn tạo sự hứng thú cho học sinh, giáo viên cần đa dạng các phương pháp dạy học. Giáo viên dạy học sinh cách tự học, rèn luyện các kĩ năng tư duy logic và sáng tạo, kĩ năng giải quyết vấn đề, ngoài ra còn phải dạy học sinh cách diễn đạt bằng lời nói, kĩ năng viết, thuyết trình trước đám đông. Để rèn kĩ năng thì phải dành thời gian để các em tự rèn luyện, do đó phải nghĩ ra phương pháp tạo điều kiện cho các em chủ động tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá chiếm lĩnh kiến thức. Phải làm sao để các em áp dụng nguyên tắc học thông qua hành ở mọi nơi, mọi lúc. Phải tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập thông qua sinh hoạt ngoại khóa, tham quan thực tế thiên nhiên, qua các bài giảng sinh động, luôn cho các em thấy được “ học mà chơi,chơi mà học”. Hứng thú sẽ nảy sinh khi các em được cùng làm việc trong một nhóm, tự mình tìm hiểu, nghiên cứu thiết kế một phần của bài học, tự mình thuyết trình về những vấn đề đã nghiên cứu, các em sẽ ý thức được vai trò làm chủ và sẽ tự tin hơn trong học tập. 26
4.
Hoạt động ngoại khoá Sinh học theo quan niệm đổi mới phương pháp dạy học là một hình thức tự học tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối liền bục giảng với thực tiễn đời sống, mở rộng, kéo dài trường suy tưởng - thẩm định về bài học cho học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học trong giờ chính khoá. Hoạt động ngoại khoá Sinh học, vì thế, vừa là hoạt động giáo dục, vừa là hoạt động trí tuệ. Qua hoạt động ngoại khoá Sinh học học sinh được phát triển cân đối về trí tuệ và đạo đức Hoạt động ngoại khoá Sinh học càng cần thiết và bổ ích, thu hút nhiều học sinh tham gia khi được áp dụng vào quá trình dạy học những nội dung mang tính giáo dục cao như: bảo vệ môi trường, phòng chống HIV-AIDS, sức khỏe sinh sản trẻ vị thành niên vì những lí do sau: +Thứ nhất: Ngoại khoá Sinh học góp phần làm sáng tỏ những vấn đề mà giáo viên và học sinh rất khó thực hiện trong giờ chính khoá do hạn chế về điều kiện và thời gian giảng dạy. Ví dụ: Để làm rõ đặc điểm của tuổi dậy thì, biện pháp tránh thai an toàn... những vấn đề về tình bạn, tình yêu, tâm sinh lý tuổi dậy thì, vấn đề giới, thông tin về kế hoạch hoá gia đình và tránh thai, thông tin về các bộ phận thân thể, các bệnh lây nhiễm qua dường tình dục... là những điều mà hiện nay học sinh chưa được trang bị kiến thức một cách đầy đủ, khiến các em rất tò mò mong muốn được tìm hiểu. Những nội dung này khó có thể thực hiện được trong giờ chính khoá. + Thứ hai: Ngoại khoá Sinh học cho phép người dạy khắc phục được những bất cập trong chương trình giữa thời gian cho phép và khối lượng kiến thức cần phải truyền đạt, có thể mở rộng và đào sâu những nội dung quan trọng, bổ sung những vấn đề chưa được đặt ra trong chương trình chính khoá. . + Thứ ba: Ngoại khoá Sinh học còn tăng cường tính giáo dục, tính xã hội cho nội dung bài học. Qua hoạt động ngoại khoá Sinh học, học sinh có thể hiểu sâu hơn về ý thức của mỗi công dân trong bảo vệ môi trường, cùng chung tay trong việc phòng chống HIV-AIDS. Thế nhưng, lâu nay trong nhà trường phổ thông, hoạt động ngoại khoá Sinh học được hiểu là hoạt động ngoài giờ học, là một hoạt động phụ, nằm ngoài quản lý chuyên môn. Việc tổ chức ngoại khoá Sinh học tuỳ thuộc vào quỹ thời gian vốn rất hẹp hòi, vào năng lực và nhiệt tình của người dạy và nhu cầu, hứng thú của người học. Sở dĩ có tình trạng như vậy vì chương trình nội khoá lâu nay chỉ chú trọng cung cấp kiến thức về mặt số lượng, coi nhẹ việc rèn luyện kĩ năng, tách rời lý thuyết với thực hành. Mọi yêu cầu mục đích của môn học coi như đã được giải quyết triệt để khi bài giảng trên lớp chấm dứt. Theo chúng tôi, quan niệm về hoạt động ngoại khoá sinh học như trên là chưa thoả đáng, chưa quan tâm đúng mức đến lợi ích của hoạt động này trong quá trình giảng dạy và học tập bộ môn. B. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài: 1/ Tạo hứng thú cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa: Tổ chức hoạt động ngoại khoá Sinh học là một công việc vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa có ý nghĩa khoa học. Tuy nhiên, để tổ chức tốt hoạt động này cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về khâu tổ chức và nghiên cứu kĩ về chương trình. Căn cứ vào
5.
tình hình thực tế ở nhà trường phổ thông và nhu cầu học tập của bộ môn, chúng tôi xin đề xuất một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá Sinh học cho đối tượng là học sinh THPT như sau: Có thể tổ chức bằng hai hình thức sau: 1.1 Tổ chức đơn giản trong giờ ra chơi hoặc sinh hoạt cuối tuần: 1.1.1 Chuẩn bị: - Chuẩn bị của Giáo viên: + Giới hạn nội dung cho học sinh nghiên cứu + Đồng hồ bấm giây + Bảng đen,phấn 27
trắng,khăn lau bảng(để trong một túi) + Những câu hỏi trắc nghiệm với nội dung ngắn gọn - Chuẩn bị của học sinh: + Tìm hiểu các kiến thức liên quan đến nội dung mà giáo viên đã giới hạn + Mỗi lớp cử 5 học sinh tham gia 1.1.2. Hình thức tổ chức: Giáo viên bộ môn Sinh kết hợp với Giáo viên bộ môn khác để thực hiện + Tổ chức thi theo từng khối lớp + Học sinh ngồi trên những ghế nhựa giữa sân trường mà giáo viên đã xếp sẳn + Mỗi câu hỏi Giáo viên đưa ra học sinh chỉ được suy nghĩ trả lời trong 10 giây + Có 3 giáo viên tham gia điều khiển: Một giáo viên đọc to nội dung các câu hỏi, hai giáo viên bấm đồng hổ,kiểm tra việc trả lời của học sinh .Những học sinh nào chọn đáp án sai hoặc chậm sẽ bị loại + Qua 10 câu hỏi từ dễ đến khó ,những học sinh còn ngồi lại sẽ được nhận một phần thưởng (3 cuốn vở) + Tiếp tục thi đấu 3 học sinh còn lại cuối cùng sẽ được nhận phần thưởng cao hơn (5 cuốn vở) 1.2. Tổ chức ngoại khóa theo chuyên đề: Tổ chức sinh hoạt ngoại khóa sẽ giúp các em có điều kiện tìm hiểu,tiếp cận đối với các kiến thức về HIV/AIDS,về sinh sản,giới tính...Các em có thể nói lên những suy nghĩ của mình cũng như lắng nghe ý kiến của các bạn. Đây là một sân chơi lành mạnh và rất cần thiết với các em, đặc biệt là học sinh bậc trung học phổ thông 1.2.1 Ngoại khóa về HIV/ AIDS a)Chuẩn bị: - Chuẩn bị của Giáo viên: + Lập kế hoạch,dự trù kinh phí gởi cho Ban giám hiệu vào đầu năm học + Tổ chuyên môn phân công giáo viên chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm cho chuyên đề trên + Giáo viên chọn một số vấn đề để các em thi thuyết trình + Cùng với Đoàn trường hướng dẫn các em tập một số tiểu phẩm liên quan đến chuyên đề + Thành lập Ban giám khảo chấm thi thuyết trình và tiểu phẩm. Chuẩn bị của Học sinh: + Tìm hiểu các kiến thức liên quan đến chuyên đề 6.
+ Cử 1 học sinh thi thuyết trình và nhóm học sinh thi tiểu phẩm b) Hình thức tổ chức: Giáo viên kết hợp với đoàn trường để tổ chức - Tổ chức thi theo từng khối lớp theo 2 phần riêng - Thi loại trực tiếp, chọn 6 lớp vào bán kết sau đó chọn 3 lớp vào thi chung kết. c) Phần thực hiện chương trình: Trong thời gian 90 phút + Lời khai mạc: Giới thiệu chương trình,mục đích ý nghĩa của chương trình (5phút) + Phần thi thuyết trình của của học sinh xen kẻ với tiểu phẩm (75 phút) + Tổng kết: (10 phút) Ban tổ chức đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm, trao quà cho học sinh có bài thuyết trình hay nhất và tiểu phẩm xuất sắc nhất 1.2.2 Ngoại khóa về giới tính, sức khỏe vị thành niên 1.2.2.1 Tổ chức các buổi báo cáo và tư vấn của giáo viên cho học sinh: Đây là việc làm rất cần thiết để bổ sung thêm các kiến thức về giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh bởi nếu chỉ cung cấp kiến thức và giáo dục cho các em qua bài giảng là chưa đủ. a)Chuẩn bị: Chuẩn bị của giáo viên: + Lên kế hoạch tổ chức trước, dự trù kinh phí và thông qua sự đồng ý của Ban giám hiệu. + Chuẩn bị các báo cáo thật đầy đủ, dễ hiểu. Tuỳ thời gian cho phép, giáo viên có thể bố trí báo cáo tổng quát, đầy đủ trong một buổi hoặc báo cáo theo chuyên đề vào nhiều buổi. + Liên hệ trước với bộ phận thiết bị để mượn máy chiếu, hệ thống âm thanh,.. - Chuẩn bị của học sinh: + Vở, viết để ghi chép + Chuẩn bị trước những câu hỏi có liên quan đến nội dung của báo cáo đã được thông báo trước. b)Hình thức tổ chức: giáo viên kết hợp với Đoàn thanh niên để tổ chức - Tổ chức theo từng khối lớp vào sáng thứ hai ở hội trường - Giáo viên sẽ báo cáo nội dung một cách đầy đủ và dễ hiểu, học sinh lắng nghe và ghi chép - Khoảng thời gian cuối buổi giáo viên tư vấn, trả lời những câu hỏi thắc mắc có liên quan mà học sinh nêu ra 1.2.2.2.Tổ chức các buổi 28
thuyết trình và thi tìm hiểu về sức khoẻ sinh sản cho học sinh theo khối lớp: Chuyên đề “ Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và trách nhiệm làm cha mẹ” Hoạt động này được tổ chức sau các buổi giáo viên đã báo cáo và tư vấn cho học sinh về vấn đề sức khoẻ sinh sản. Mục đích của cuộc thi này nhằm kiểm tra lại mức độ hiểu biết của học sinh sau khi đã được nghe báo cáo và tư vấn a) Chuẩn bị : - Chuẩn bị của Giáo viên: + Lập kế hoạch,dự trù kinh phí và thông qua sự đồng ý của Ban giám hiệu + Giáo viên chọn một số vấn đề, hướng dẫn để các em thi thuyết trình 7.
+ Tổ chuyên môn phân công giáo viên ra các câu hỏi để các em tham gia thi đố em + Thành lập Ban giám khảo chấm thi - Chuẩn bị của Học sinh: + Tìm hiểu các kiến thức liên quan đến chuyên đề + Mỗi lớp cử một đội dự thi gồm 4 học sinh theo nhóm để thi đố em và mỗi đội cử một học sinh đại diện thi thuyết trình. b) Hình thức tổ chức: Các giáo viên giảng dạy môn Sinh kết hợp với Đoàn thanh niên để tổ chức - Tổ chức thi theo khối lớp với các chuyên đề như trên - Mỗi lớp làm thành một đội với 4 học sinh, mỗi lượt thi gồm 3 đội. - Tổ chức thành nhiều lượt thi cho tất cả các lớp đều được tham gia, nếu không đủ thời gian sẽ tổ chức vào nhiều buổi - Mỗi lượt thi đều có phần thi thuyết trình do một học sinh đại diện trong mỗi đội trình bày và tiếp theo là phần thi trả lời câu hỏi trắc nghiệm. Ban giám khảo sẽ chấm điểm và chỉ chọn đội có điểm cao nhất vào vòng sau - Cuối cùng tổ chức thi cho 3 đội có số điểm cao nhất để tranh giải nhất, nhì, ba và phát thưởng. 1.2.3 Ngoại khóa về môi trường : Dựa vào tâm lý của học sinh hiện nay, tôi cho rằng cần đưa giáo dục môi trường vào trường học dưới hình thức các tiết học ngoại khóa. Ở đó các em vừa được chơi các trò chơi thú vị chứa các thông điệp về bảo vệ môi trường, vừa được cung cấp thêm rất nhiều kiến thức bổ ích về môi trường, bảo vệ môi trường mà trong trường học chưa đáp ứng đủ. Hoạt động ngoại khóa này làm cho học sinh biết được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống của chính mình.Từ đó học sinh có ý thức và thái độ đúng đắn trong việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như bảo vệ môi trường sống. a) Chuẩn bị : - Chuẩn bị của giáo viên : + Giới hạn nội dung cho học sinh nghiên cứu: các vấn đề liên quan đến môi trường, ô nhiễm môi trường, tài nguyên thiên nhiên, sức khỏe con người … + Giáo viên chọn một số vấn đề để các em thi thuyết trình và thi đố em + Cùng với Đoàn trường hướng dẫn các em vẽ tranh cổ động liên quan đến bảo vệ môi trường + Thành lập Ban giám khảo chấm thi thuyết trình,đố em và thi vẽ tranh - Chuẩn bị của học sinh : +Tham khảo sách, báo, truyền hình, mạng internet để sưu tầm nội dung có liên quan đến chủ đề + Giấy, bút màu b) Hình thức tổ chức: Giáo viên kết hợp với đoàn thanh niên để tổ chức + Tổ chức thi thuyết trình và đố em loại trực tiếp theo từng khối lớp vào sáng thứ hai + Mỗi khối chọn 1 đội c) Phần thực hiện chương trình: Trong thời gian 100 phút
8.
+ Lời khai mạc: Giới thiệu chương trình, mục đích ý nghĩa của chương trình (5phút) + Phần thi thuyết trình của học sinh xen kẻ với một vài tiết mục văn nghệ về chủ đề môi trường (50 phút) + Phần thi vẽ tranh cổ động liên quan đến chủ đề bảo vệ môi trường (20phút) + Phần thi đố em dành cho 3 đội( 15phút) + Tổng kết: (10 phút) Ban tổ chức đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm, trao quà cho học sinh có bài thuyết trình hay nhất và tiểu phẩm xuất sắc nhất 2/ Đưa nội dung của một số bài thực hành vào giờ ngoại khóa: Trong chương trình sinh lớp 10,11,12 có môt số tiết thực hành: Sinh 10: Đa dạng 29
thế giới sinh vật Sinh 11: Tập tính của động vật Sinh 12 – Ban cơ bản: Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Qua một vài năm dạy chương trình sinh 10,11,12 tôi nhận thấy việc cho các em xem những đoạn phim mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn chưa tạo được hứng thú cao, chưa phát huy được tính tích cực chủ động, cũng như tinh thần tập thể trong học tập. Qua tìm hiểu tôi được biết với các kiến thức về tin học, các em có khả năng tự mình sưu tập các đoạn phim, tranh ảnh liên quan đến các chủ đề mà giáo viên đưa ra, trình chiếu bằng PowerPoint. Tuy nhiên để các em giới thiệu thành quả của mình thì thời gian một tiết trên lớp không đủ, vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa nội dung các bài này vào tiết ngoại khóa. Để thực hiện được điều này thì trước tiết thực hành 3 tuần tôi đã hướng dẫn học sinh từng nhóm tìm hiểu, sưu tập nội dung liên quan bằng hai hình thức + Sưu tập tranh ảnh liên quan đến nội dung bài thực hành, có bài thuyết trình về nội dung mà các em đã tìm hiểu + Sưu tập các đoạn phim trình chiếu bằng PowerPoint, cử đại diện nhóm thuyềt minh về các đoạn phim và tranh ảnh sưu tập được Tất cả phần chuẩn bị của học sinh được giáo viên kiểm tra, tư vấn thêm. Giáo viên chọn 3 hoặc 4 nhóm làm tốt nhất cho trình bày trước lớp, các nhóm khác xem, nghe và nhận xét rút kinh nghiệm. Tiết thực hành thực hiện theo hình thức trên diễn ra rất vui, sôi nổi với vai trò làm chủ thuộc về các em học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức và định hướng. Khi làm việc cùng nhau trong một nhóm sẽ giúp các em hiểu nhau hơn,c ác em có dịp để khẳng định mình, kể cả những em có sức học yếu. Chính điều này sẽ giúp các em yêu mến hơn lớp học và trường học của mình. 3/ Tổ chức tham quan thực tế thiên nhiên: Được tham quan thực tế thiên nhiên là mơ ước của rất nhiều em học sinh, nhưng do khó khăn về mặt kinh phí nên rất nhiều trường học không tổ chức.Theo tôi chúng ta nên tổ chức một lần vào giữa năm học cho những em có thành tích học tập cao, đây là phần thưởng động viên các em học tập tốt hơn.Việc tham quan thực tế thiên nhiên sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về sự đa dạng ,phong phú của thế giới sinh vật,các em sẽ có ý thức cao hơn trong việc bảo vệ môi trường Chuẩn bị: 9.
+ Giáo viên lên kế hoạch tham quan trình cho Ban giám hiệu vào đầu năm học + Liên hệ với địa phương nơi các em đến tham quan Hình thức tổ chức: Kết hợp với Đoàn trường và giáo viên của bộ môn Địa + Mỗi lớp chọn 5 học sinh có thành tích cao trong học tập + Trước khi đi tham quan 2 tuần, giáo viên phải liên hệ trước địa điểm tham quan, chuẩn bị xe, thức ăn, nước uống và nội dung sẽ tham quan + Giáo viên bộ môn đi theo hướng dẫn và quản lí. IV. KẾT QUẢ: Lợi ích trực tiếp do được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học +Việc tổ chức sinh hoạt ngoại khóa vào giờ ra chơi hoặc là trong giờ sinh hoạt cuối tuần đã lôi kéo được rất nhiều học sinh đến tham gia thi và cổ vũ. Ngoài việc các em được củng cố, nâng cao kiến thức,rèn kĩ năng trả lời câu hỏi trắc nghiệm thì hình thức này còn tạo ra một không khí sôi nổi trong trường học, các em đã được thể hiện mình qua hình thức “ chơi mà học,học mà chơi” + Đưa nội dung thực hành vào hoạt động ngoại khóa kết quả thu được rất khả quan. Hai học sinh lớp 10 có thể vừa trình chiếu vừa thuyết minh về tranh ảnh và những đoạn phim liên quan đến đa dạng sinh vật với nội dung rất hay và cách sắp xếp rất khoa học và ấn tượng, cuối bài các em còn đưa ra thông điệp “ Hãy bảo vệ sự đa dạng của sinh vật,bảo vệ môi trường sống” Ở lớp 11 các em đã trình chiếu được clip về tập tính động vật rất phong phú đa dạng, 30
kèm theo lời thuyết trình cho từng đoạn phim hấp dẫn, dí dỏm thu hút người nghe. Các em còn cung cấp thêm một vài tập tính rất kì lạ của động vật mà nội dung sách giáo khoa chưa đề cập tới, ngoài ra khi thực hiện chuyên đề đã xây dựng cho các em ý thức làm việc trong tập thể, các em đã có kiến thức rất đa dạng,phong phú về tập tính của nhiều loài động vật. Vốn hiểu biết của các em về tập tính đã được nâng lên khi các em được nghe phần trình bày của các nhóm trước lớp. + Hoạt động ngoại khóa Sinh học còn là cơ sở thực tế tạo hưng phấn cho học sinh trong giờ chính khóa.Vốn sống,vốn hiểu biết của Thầy trò được mở rộng +Ngoại khóa Sinh học có hiệu quả đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy –học tập. Học sinh không chỉ học chay, học thụ động mà các em sẽ được trực tiếp được tìm hiểu các vấn đề mà sách đã viết và cả không viết, những điều mà Thầy Cô không có điều kiện truyền thụ cho các em trong giờ dạy chính khóa + Học sinh được bồi dưỡng lòng tự hào về truyền thống dân tộc, yêu thêm quê hương và có tính thần tương thân tương ái trong cuộc sống khi được tham quan thực tế trong thiên nhiên. + Học sinh được học lý thuyết trên lớp kết hợp với thực tiễn ngoài xã hội, được tham quan cùng Thầy Cô, bạn bè qua đó thắt chặt tình cảm thầy trò, bè bạn. + Học sinh được phát huy khả năng, khơi gợi hứng thú tự nghiên cứu trong các trò chơi thi đố. + Ngoại khóa về môi trường còn giúp cho các em học sinh hiểu thêm về môi trường, ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đối với đời sống con người. Từ đó hình thành thái độ yêu thiên nhiên, có ý thức giữ vệ sinh trường lớp, bảo vệ môi trường sống. 10.
Qua buổi sinh hoạt ngoại khóa, trong phần thi đố em kết quả có 75% học sinh trả lời đúng 5 câu hỏi đầu, 20% trả lời đúng 10 câu hỏi và có 8% số học sinh trả lời đúng 15 câu hỏi. Kết quả trên chứng tỏ các em đã tích cực tìm hiểu thêm các thông tin về môi trường để mở rộng sự hiểu biết và có thái độ đúng đắn với môi trường. Ý thức giữ vệ sinh trường lớp của các em được nâng cao. Cụ thể là: 100% học sinh không vứt rác bừa bãi, tham gia đầy đủ các phong trào của trường như : “Sạch và xanh”, Ngày chủ nhật xanh. + Ngoại khóa về “ giới tính và sức khoẻ sinh sản” đã giúp cho học sinh có những hiểu biết đúng đắn về “ giới tính và sức khoẻ sinh sản”. Từ đó xây dựng cho các em thái độ và kỹ năng sống đúng đắn để có được một tương lai tốt đẹp - Sau khi học sinh có những hiểu biết đúng đắn về vấn đề giới tính và sức khoẻ sinh sản thì các em đã trở thành lực lượng tuyên truyền tốt cho những người xung quanh, đặc biệt là bạn bè cùng trang lứa. V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM: - Để tổ chức sinh hoạt ngoại khóa có hiệu quả giáo viên cần phải có sự ủng hộ của Ban giám hiệu, Ban chấp hành Đoàn trường và đội ngũ giáo viên trong tổ. Vì vậy giáo viên cần có một kế hoạch cụ thể, thiết thực được ban giám hiệu duyệt vào đầu năm học, ngoài ra giáo viên phải có sự chuẩn bị thật kĩ về nội dung thì buổi sinh hoạt ngoại khóa mới có hiệu quả cao. - Để đưa nội dung thực hành vào giờ ngoại khóa thì giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo từ trước để định hướng cho các em về cách thức phải làm. Giáo viên cần kiểm tra phần chuẩn bị của các nhóm trước tiết thực hành để quyết định chọn nhóm nào lên báo cáo. Giáo viên phải để học sinh thể hiện vai trò làm chủ của mình trong tiết thực hành. - Phải có sự quán triệt từ cán bộ quản lý – giáo viên – phụ huynh và học sinh về tầm quan trọng trong hoạt động ngoại khoá ở nhà trường phổ thông. - Phải có kế hoạch chu đáo, các đối tượng tham gia nhiệt tình, có rút kinh nghiệm nghiêm túc của Ban hoạt động ngoại khoá, để hoạt động ngày đi vào 31
nền nếp và hiệu quả hơn. - Phải làm cho các chương trình, nội dung ngoại khoá mang tính thiết thực, có ích, có ý nghĩa thực tiễn đối với giáo viên và học sinh; không làm công tác này một cách chiếu lệ, phong trào, thiếu tính giáo dục và ứng dụng. - Phải có chủ trường “Nhà trường và phụ huynh cùng làm” bởi công tác này đòi hỏi nguồn kinh phí quá lớn, nhà trường không tự tổ chức tốt nếu không có sự hỗ trợ kinh phí từ phụ huynh học sinh. - Phải có những thành viên có kinh nghiệm phụ trách từng mảng hoạt động và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về công việc được giao. Trong Ban Giám hiệu phải phân công, phân nhiệm rõ ràng từng thành viên chịu trách nhiệm trực tiếp về các hoạt động này. VI. CÁC VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ: - Tổ chức các lớp bồi dưỡng công tác ngoại khoá trong nhà trường phổ thông, nhân rộng các điển hình các trường làm tốt công tác này cho các đơn vị khác cùng học tập. 11.
-Tổ chức các chương trình gameshow mang tính trí tuệ nhằm tạo sân chơi lành mạnh và tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội phát huy khả năng cá nhân. - Sở GD&ĐT nên hỗ trợ thêm kinh phí để các trường THPT trên địa bàn tỉnh mua sắm trang thiết bị (hình ảnh, vật mẫu, phim…) để các hoạt động ngoại khóa phong phú, hấp dẫn hơn, giúp các em thích thú tham gia và mang lại hiệu quả tích cực. VII. KẾT LUẬN: Trên cơ sở phân tích nội dung chương trình sinh học trong hai lớp 10 và 11 tôi chỉ đưa ra được một số giải pháp để tăng sự hứng thú cho học sinh đối với môn Sinh học, và nếu như những bộ môn khác cũng có những phương pháp làm tăng sự hứng thú cho học sinh đối với môn học của mình thì tôi thiết nghĩ số học sinh bỏ học sẽ giảm đi nhiều. Ngoài ra thông qua những giải pháp trên tôi mong muốn dạy cho các em phương pháp tự học, tự nghiên cứu, phương pháp làm việc trong tập thể để sau này khi làm việc trong một lĩnh vực nào đó, những phương pháp học tập hôm nay sẽ giúp các em có nhiều sáng tạo trong công việc. Trên đây là một số nét lớn về thực trạng và hiệu quả hoạt động ngoại khoá Sinh học ở trường THPT Dầu Giây trong những năm qua. Tuy chưa thật phong phú đa dạng về hình thức tổ chức, hiệu quả chưa thực cao nhưng đó là sự nỗ lực của nhà trường và tập thể giáo viên trong tổ chuyên môn. Tôi xin mạn phép trình bày và cũng rất muốn góp một tiếng nói để công tác ngoại khoá ở trường phổ thông thực có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập . Tôi mong rằng các đồng nghiệp sẽ đóng góp ý kiến và đưa ra những giải pháp mới có hiệu quả hơn để mọi người cùng nhau học tập, góp phần tăng hứng thú cho học sinh đối với bộ môn Sinh học và nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Sinh ở trường trung học phổ thông ngày càng tốt hơn. Tôi xin chân thành cám ơn. VIII. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Sinh học – Nhà xuất bản giáo dục năm 2007 2. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Sinh học – Nhà xuất bản giáo dục năm 2008 Dầu Giây, ngày 20/4/2012 Người viết sáng kiến Bùi Thị Thúy Lam 12. heo TS Tính, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một dạng hoạt động giáo dục. Hoạt động trải
nghiệm sáng tạo được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, các hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa như: Kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia…, thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội…
32
13. Mỗi hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng những khả năng giáo dục nhất định. Nhờ các hình thức
tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu, nguyện vọng của học sinh. 14. Trong quá trình thiết kế, tổ chức thực hiện và đánh giá hoạt động tải nghiệm sáng tạo, cả giáo viên
lẫn học sinh đều có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình, làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động. 15. Dựa trên khảo sát thực tiễn của các hình thức tổ chức hoạt động trong các nhà trường, cùng với
sự nghiên cứu chương trình của một số nước trên thế giới, có thể phân loại các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo thành các nhóm sau: 16. Hình thức có tính khám phá: Thực địa, thực tế; Tham quan; Cắm trại; Trò chơi. 17. Hình thức có tính tham gia lâu dài: Dự án và nghiên cứu khoa học; Các câu lạc bộ. 18. Hình thức có tính thể nghiệm/ tương tác: Diễn đàn; Giao lưu; Hội thảo/xemina; Sân khấu hóa. 19. Hình thức có tính cống hiến:Thực hành lao động việc nhà, việc trường; Các hoạt động xã hội/ tình
nguyện.
33