Skip to main content

sử dụng trò chơi trong dạy học địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập

Page 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỊA LÍ

vectorstock.com/20159066

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection DẠY KÈM QUY NHƠN EBOOK PHÁT TRIỂN NỘI DUNG

Sáng kiến Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM

Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT QUANG HÀ =====***=====

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học địa

lí 12 (phần địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh

Tác giả sáng kiến: Nguyễn Phương Thảo Mã sáng kiến: 32.58.04

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


MỤC LỤC Trang 1. LỜI GIỚI THIỆU .................................................................................................. 1 2. TÊN SÁNG KIẾN .................................................................................................. 1 3. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN ......................................................................................... 1 4. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN ................................................................. 2 5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN .................................................................... 2 6. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG THỬ .... 2 7. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN .............................................................. 2 7.1. MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 2 7.1.1. Mục đích ............................................................................................... 2 7.1.2. Nhiệm vụ .............................................................................................. 2 7.1.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ....................................................... 2 7.1.4. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 3 7.1.5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 3 7.1.6. Đóng góp mới của đề tài........................................................................ 3 7.1.7. Cấu trúc đề tài ....................................................................................... 4 7.2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN ................................................................................. 4 7.2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH................ 4 7.2.1.1. Một số khái niệm ................................................................................ 4 a. Trò chơi .................................................................................................... 4 b. Trò chơi dạy học ...................................................................................... 5 c. Hứng thú .................................................................................................. 6 7.2.1.2. Những vấn đề lí luận cơ bản về trò chơi dạy học ................................ 6 a. Cấu trúc chung của trò chơi dạy học ......................................................... 6 b. Phân loại trò chơi dạy học ........................................................................ 7 c. Chức năng dạy học của trò chơi ................................................................ 9


d. Ưu, nhược điểm của việc sử dụng trò chơi trong dạy học ....................... 10 e. Yêu cầu khi thiết kế trò chơi dạy học ...................................................... 10 f. Nguyên tắc thiết kế trò chơi dạy học ....................................................... 11 g. Yêu cầu khi tổ chức trò chơi dạy học...................................................... 11 h. Quy trình thực hiện trò chơi dạy học ...................................................... 12 7.2.1.3. Những vấn đề lí luận cơ bản về việc tạo hứng thú cho HS qua trò chơi trong giảng dạy địa lí .................................................................................... 13 a. Ý nghĩa của việc tạo hứng thú học tập cho HS trong giảng dạy............... 13 b. Ý nghĩa của việc sử dụng trò chơi dạy học để nâng cao hứng thú học tập của HS đối với môn địa lí ........................................................................... 13 7.2.1.4. Cơ sở tâm sinh lí học đối với hoạt động học tập của HS khối 12 THPT ...................................................................................................................... 14 a. Những đặc điểm cơ bản về tâm sinh lí của HS khối 12 THPT................. 14 b. Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn địa lí của HS khối 12 THPT ......................................................................................................... 16 7.2.2. THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ 12 (PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN) NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH .................................................................................................................. 17 7.2.2.1. Các trường hợp có thể ứng dụng việc sử dụng trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) ....................................................................... 17 7.2.2.2. Thiết kế và sử dụng một số trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) .................................................................................................... 18 a. Nhóm trò chơi khởi động ........................................................................ 18 b. Nhóm trò chơi kích thích học tập............................................................ 22 c. Nhóm trò chơi khám phá tri thức ............................................................ 29 7.2.2.3. Thiết kế bài học minh họa cụ thể ...................................................... 31 a. Ý tưởng thiết kế bài học.......................................................................... 31 b. Thiết kế giáo án minh họa ...................................................................... 32 7.2.3. BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHI THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ 12 (PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN)..... 38


7.2.3.1. Thiết kế và sử dụng các loại trò chơi dạy học phù hợp ...................... 38 7.2.3.2. Tăng cường sử dụng phương tiện, kĩ thuật dạy học hỗ trợ ................ 38 7.2.3.3. Nâng cao năng lực của GV trong việc thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học địa lí ....................................................................................... 39 7.2.3.4. Nâng cao nhận thức, hành vi và thái độ tích cực cho HS khi thực hiện các trò chơi dạy học do GV đề ra .................................................................. 40 7.3. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN............................................................ 40 7.3.1. Kết quả khảo sát thái độ, nhận thức, hành vi của HS đối với việc sử dụng trò chơi học tập vào bài dạy của GV ................................................................... 41 8. NHỮNG THÔNG TIN CẦN ĐƯỢC BẢO MẬT ............................................... 43 9. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN .......................... 43 10. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN CÓ THỂ THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN ................................................................................... 43 10.1. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN THEO Ý KIẾN TÁC GIẢ .................................................... 43 10.2. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN CÓ THỂ THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN THEO Ý KIẾN CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ......... 44 11. DANH SÁCH NHỮNG TỔ CHỨC/ CÁ NHÂN ĐÃ THAM GIA ÁP DỤNG THỬ HOẶC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN LẦN ĐẦU ................................................. 44 TƯ LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 48


DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Mô tả thiết kế trò chơi ô chữ trong học bài “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” Hình 2: Mô tả thiết kế trò chơi đuổi hình bắt chữ trong học bài “Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển” Hình 3: Mô tả thiết kế trò chơi đuổi hình bắt chữ trong học bài “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” Hình 4: Mô tả thiết kế trò chơi theo dòng dữ kiện trong học bài “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” Hình 5: Mô tả thiết kế trò chơi theo dòng dữ kiện trong bài 6 “Đất nước nhiều đồi núi” Hình 6: Mô tả thiết kế trò chơi mảnh ghép trong học bài “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” Hình 7: Một số hình ảnh về các trò chơi thiết kế bởi power point Hình 8: Mô tả thiết kế trò chơi “Tập làm thủ môn” trong bài “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” Hình 9: Giao diện thiết kế trò chơi “Việt Nam kì thú” Hình 10: Trang slide Power Point thể hiện kết quả các đội thi Hình 11: Trang slide Power Point thể hiện cách thiết kế trò chơi thực hành kĩ năng địa lí Hình 12: Sự hứng thú của HS trong giờ học sử dụng trò chơi

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Phân biệt ba loại trò chơi trong dạy học Bảng 2: Phân bố phần trăm ý kiến HS được nghiên cứu yêu thích nhất các hình thức tổ chức dạy học (%) Bảng 3: Phân bố phần trăm lợi ích HS thấy lớn nhất khi GV sử dụng trò chơi trong học tập (%)


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. LỜI GIỚI THIỆU Quá trình dạy – học là một hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng, hiệu quả cơ bản phụ thuộc vào chủ thể nhận thức – người học. Để việc học có hiệu quả cao, người học phải thực sự có hứng thú trong quá trình học. Khi có hứng thú, say mê trong học tập thì việc lĩnh hội tri thức trở nên dễ dàng hơn; ngược lại, khi hiểu được bài, người học lại có thêm hứng thú để tiếp tục quá trình học tập. Để tạo được niềm hứng thú này, người giáo viên (GV) – người điều khiển, hướng dẫn học sinh (HS) tham gia vào quá trình học, có vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều HS chưa có cái nhìn đúng về môn địa lí. Với suy nghĩ đây là môn học thuộc lòng, thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, khó chọn trường thi Đại học nên các em thường ngại học, học một cách đối phó, miễn cưỡng. Điều này khiến chất lượng học tập chưa cao, HS dễ quên kiến thức, thiếu những kĩ năng địa lí cơ bản. “Học mà chơi – Chơi mà học” là một phương châm được đề cao trong hoạt động dạy học do có tác dụng khơi dậy nhiều hứng thú cho người dạy lẫn người học đồng thời tạo ấn tượng sâu sắc về bài học, giúp việc học nhẹ nhàng mà hiệu quả. Trong chương trình địa lí 12, phần địa lí tự nhiên với nhiều bài học sinh động song nếu không chủ động, tích cực, nhiều HS sẽ khó nắm bắt nội dung bài học. Một trong những cách giải quyết vấn đề này là khéo léo lồng ghép các trò chơi trong giờ học. Trong quá trình giảng dạy thực tế, tôi nhận thấy việc làm trên không chỉ hình thành được hứng thú cho HS đối với môn học mà còn nâng cao hiểu biết kiến thức và các kĩ năng hoạt động theo nhóm, tập thể, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học địa lí lớp 12. Chính vì lí do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài : “Thiết kế và sử dụng trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS” để ghi lại ý tưởng mà bản thân đã thực hiện trong qúa trình giảng dạy địa lí 12 ở trường THPT Quang Hà năm học 2018 – 2019. 2. TÊN SÁNG KIẾN Thiết kế và sử dụng trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS. 3. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN – Họ và tên: Nguyễn Phương Thảo 1


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

– Địa chỉ tác giả sáng kiến: trường THPT Quang Hà (phân hiệu 2) – Bá Hiến – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc – Số điện thoại: E_mail: 4. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN Bà Nguyễn Phương Thảo – GV trường THPT Quang Hà 5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Công tác giảng dạy môn địa lí lớp 12 (phần địa lí tự nhiên). 6. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG THỬ Ngày 6/9/2018 7. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN 7.1. MỞ ĐẦU 7.1.1. Mục đích – Giúp GV nhận thấy việc sử dụng trò chơi trong dạy học địa lí là hợp lí, có hiệu quả. – Giúp HS có khả năng lĩnh hội kiến thức, tăng tính tích cực, chủ động trong giờ học. – Góp phần nâng cao kết quả học tập đối với các HS lớp 12 trường THPT Quang Hà. 7.1.2. Nhiệm vụ – Xây dựng các lí luận liên quan đến việc sử dụng trò chơi trong việc tạo hứng thú học tập môn địa lí cho HS. – Đưa ra cách áp dụng cụ thể việc sử dụng trò chơi vào các bài học trong chương trình địa lí 12. – Thiết kế các trò chơi có thể sử dụng để giảng dạy môn địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên). - Thiết kế một bài dạy cụ thể minh họa cho sáng kiến. 7.1.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu Toàn thể HS khối lớp 12 trường THPT Quang Hà (phân hiệu 2) năm học 2018 – 2019.

2


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

7.1.4. Phạm vi nghiên cứu * Giới hạn nội dung Chỉ nghiên cứu về việc ứng dụng, sử dụng trò chơi trong dạy học những phần, nội dung có liên quan trong bài học địa lí lớp 12 (phần địa lí tự nhiên). Không đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu tất cả những trò chơi áp dụng được trong giảng dạy Chỉ nghiên cứu phương tiện duy nhất: các trò chơi để tạo hứng thú học tập cho HS. Ngoài ra không đề cập đến các phương tiện tạo hứng thú học tập khác. * Giới hạn thời gian nghiên cứu Năm học 2018 – 2019, từ tháng 09 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018. 7.1.5. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp phân tích, tổng hợp: thu thập, tổng hợp các kiến thức về cơ sở lí luận của đề tài; sưu tầm và xây dựng cách thức sử dụng trò chơi vào trong từng tiết học cụ thể. – Phương pháp thực nghiệm sư phạm: ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào các tiết dạy cụ thể trên lớp. Từ đó, đánh giá hiệu quả thực hiện từ không khí học tập trên lớp và kết quả học tập của HS. – Phương pháp thu thập và xử lí số liệu: lấy ý kiến HS theo các mẫu phiếu đánh giá, tổ chức các bài kiểm tra kết quả học tập của HS. Từ đó, tiến hành xử lí số liệu, đưa ra kết quả tổng hợp để đánh giá khách quan nhất hiệu quả từ việc áp dụng sáng kiến. – Phương pháp phỏng vấn: trao đổi với đồng nghiệp về việc áp dụng cách thức này. 7.1.6. Đóng góp mới của đề tài – Việc sử dụng trò chơi trong quá trình giảng dạy địa lí không phải là điều hoàn toàn mới lạ với GV. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đưa ra cơ sở lí luận, hệ thống lí thuyết cụ thể về cách áp dụng này. Sáng kiến kinh nghiệm trên đã đóng góp một phần thực hiện mục tiêu trên. – Đã có nghiên cứu về việc sử dụng trò chơi trong quá trình dạy địa lí nói riêng và giảng dạy các môn học nói chung. Tuy nhiên về việc sử dụng trò chơi và áp dụng cụ thể trong chương trình địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) thì đến sáng kiến kinh nghiệm này mới được đề cập cụ thể. – Đề tài trên bước đầu đã thiết kế được các trò chơi cụ thể, chi tiết có thể sử dụng để giảng dạy môn địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên).

3


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

– Đề tài là tư liệu tham khảo hiệu quả, thiết thực cho các GV trong quá trình thực giảng. 7.1.7. Cấu trúc đề tài Nội dung chính của đề tài được chia làm 3 phần: Phần 1: Cơ sở lí luận của việc sử dụng trò chơi trong giảng dạy địa lí nhằm tạo hứng thú học tập cho HS Phần 2: Thiết kế và sử dụng trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS Phần 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả khi thiết kế và sử dụng trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) 7.2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 7.2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH 7.2.1.1. Một số khái niệm a. Trò chơi Một số nhà tâm lí – giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross, S.Hall, V.Stern... cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa. Còn G.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ. Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội. Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục. Đối với tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa: Một là kiểu loại phổ biến của chơi. Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia. Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi... Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản. Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức. Trò chơi là sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện, bất giác không gọi là trò chơi. 4


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

b. Trò chơi dạy học Có những quan niệm khác nhau về trò chơi dạy học. Trong lí luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập... không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi dạy học. Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng (gọi tắt là trò chơi có luật), trò chơi dạy học còn được hiểu là loại trò chơi có luật có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do GV nghĩ ra và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học. Trò chơi dạy học có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những trò chơi đầu tiên của mẹ với con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các vật đó và dùng hình thức đó để dạy con, những trò chơi đó có chứa đựng các yếu tố dạy học. Tổng hợp các lí thuyết nghiên cứu về trò chơi dạy học của các nhà nghiên cứu Xô Viết, tác giả Trương Thị Xuân Huệ trong công trình nghiên cứu: “Sử dụng phương pháp trò chơi trong công tác chuẩn bị trí tuệ cho trẻ em học toán lớp 1” khẳng định rằng trò chơi dạy học được hiểu là trò chơi có nhiệm vụ giáo dục, trò chơi dạy học là trò chơi có nội dung và luật chơi cho trước do người lớn sáng tác và đưa vào cuộc sống của trẻ. Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì những trò chơi giáo dục được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay HS tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kĩ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của HS khi tham gia trò chơi gọi là trò chơi dạy học. Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi dạy học được tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và được định hướng vào mục tiêu, nội dung học tập. Trò chơi dạy học được sáng tạo ra và được sử dụng bởi các nhà giáo và người lớn dựa trên những khuyến nghị của lí luận dạy học, đặc biệt là của lí luận dạy học các môn học cụ thể. Chúng phản ánh lí thuyết, ý tưởng, mục tiêu của nhà giáo, là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bài bản cứng nhắc như những giờ học.

5


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho HS. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá. c. Hứng thú Có nhiều định nghĩa khác nhau về hứng thú.Tuy nhiên, trong nghiên cứu này sử dụng định nghĩa “hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với những đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa mang lại sự khoái cảm cho cá nhân trong hoạt động” của tác giả Huỳnh Văn Sơn. Học hay còn gọi là học tập, học hành, học hỏi quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích và có thể liên quan đến việc tổng hợp các loại thông tin khác nhau. Từ định nghĩa về hứng thú và học tập ở trên, hứng thú học tập chính là thái độ của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập vì sự lôi cuốn về tình cảm, ý nghĩa thiết thực trong quá trình nhận thức. 7.2.1.2. Những vấn đề lí luận cơ bản về trò chơi dạy học a. Cấu trúc chung của trò chơi dạy học Trò chơi dạy học có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, nhưng về cấu trúc, nó kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động và quan hệ hiện thực. Đó là cấu trúc phức tạp, gồm những thành tố sau: Mục đích hay chủ định chơi: là những nhiệm vụ học tập của HS trong khi tham gia chơi. Mục đích này chi phối tất cả những yếu tố của trò chơi. Khi trò chơi kết thúc, mức độ đạt được của mục đích chơi được phản ánh ở kết quả hiện thực mà HS thu được và kết quả đó cũng là kết quả giải quyết các nhiệm vụ học tập – HS học được những gì cụ thể thì chính những cái đó phải thể hiện trong kết quả chơi. Các hành động hay hành động chơi: là những hoạt động thực sự mà người tham gia trò chơi tiến hành để thực hiện vai, nhiệm vụ và vai trò của mình trong trò chơi. Luật chơi hay quy tắc chơi: là những quy định nhằm bảo đảm sự định hướng các hoạt động và hành động chơi vào mục đích chơi hay nhiệm vụ học tập, chỉ ra các mục tiêu và kết quả của các hành động, các phương thức và tính chất của hoạt động và hành động, xác định trình tự và tiến độ của các hành động, tạo ra các tiêu chí điều chỉnh các quan hệ và hành vi của người tham gia và tiêu chí đánh giá hoạt động, hành động chơi có đáp ứng các nhiệm vụ học tập hay không. 6


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Đối tượng hoạt động và giao tiếp: là những thành tố chính của các hoạt động, tuy nhiên để đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định và thiết kế chặt chẽ, được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi. Các quá trình, tình huống và quan hệ: là những tiến trình, biến số và khuynh hướng của các hoạt động, hành động chơi, biểu thị tác động của luật chơi. Dưới ảnh hưởng của luật chơi, chúng diễn ra như là động thái của trò chơi, nhưng hướng vào mục đích của dạy học. b. Phân loại trò chơi dạy học * Căn cứ vào dữ liệu nghiên cứu trò chơi trong học tập Trò chơi được chia thành 3 nhóm sau: – Nhóm trò chơi dùng lời Nhóm trò chơi này chủ yếu dùng bằng ngôn ngữ. Nhiệm vụ của GV chủ yếu là đọc câu hỏi. Thông qua câu trả lời của người học, GV sẽ là người công bố đáp án, hình thức hỏi – đáp giúp các em tái hiện hoặc củng cố thêm kiến thức. – Nhóm trò chơi sử dụng phương tiện trực quan Các phương tiện trực quan trong môn địa lí phổ biến là tranh ảnh, bản đồ, tập bản đồ, phim, sơ đồ, mô hình, sa bàn. Với các phương tiện nhìn thấy bằng mắt này, GV kết hợp dùng lời để mô tả, yêu cầu HS quan sát, nghiên cứu, ghi chép và trả lời nhằm tái hiện kiến thức, đánh giá, phản biện, giải thích các vấn đề địa lí. – Nhóm trò chơi có sử dụng công nghệ Trong nhóm trò chơi này, GV và HS đều phải sử dụng máy tính, điện thoại thông minh có kết nối mạng để phục vụ cho việc tìm kiếm và tổng hợp kiến thức. * Căn cứ vào các mức độ sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học Có các mức độ sử dụng trò chơi dạy học sau: Mức độ 1 – sử dụng trò chơi trước khi học: GV tổ chức cho người học chơi để kích hoạt không khí lớp học, tạo sự hưng phấn cho HS trước khi học tập. Mức độ 2 – sử dụng trò chơi như một hình thức học tập: GV tổ chức trò chơi để người học tiếp nhận nội dung một cách sinh động, hào hứng. Mức độ 3 – sử dụng trò chơi như một nội dung học tập: GV tổ chức chơi để người học trải nghiệm tình huống trong lúc chơi, từ đó người học tự khám phá nội dung học tập.

7


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Tương ứng với ba mức độ trên có thể đặt tên ba nhóm trò chơi là trò chơi khởi động, trò chơi kích thích học tập và trò chơi khám phá tri thức với những đặc điểm được phân biệt trong bảng dưới đây. Bảng 1: Phân biệt ba loại trò chơi trong dạy học Nhóm trò Khởi động chơi

Kích thích học tập

Khám phá tri thức

Mục tiêu

Tạo hưng phấn trước Kích thích tính tích Khám phá tri thức khi học cực học tập

Tác dụng

Thư giãn, kích hoạt Học hào hứng, sôi Trải nghiệm, tạo tình tâm thế học tập huống có vấn đề động

Đặc điểm

Chơi ra chơi, học ra Thao tác chơi là hình Thao tác chơi là nội học thức học tập dung học tập

Yêu cầu

Trò chơi đa dạng

Sử dụng kĩ thuật, Sáng tạo công nghệ

* Căn cứ vào chức năng trong quá trình dạy học Căn cứ vào chức năng, trò chơi dạy học có 3 nhóm sau: - Nhóm trò chơi phát triển nhận thức Đó là loại trò chơi đòi hỏi người tham gia phải sử dụng các chức năng nhận thức, nỗ lực hoạt động nhận thức, thực hiện các hành vi và hành động nhận thức để tiến hành các nhiệm vụ chơi, hoàn thành các luật và quy tắc chơi, tuân thủ những yêu cầu và mục đích chơi, nhờ vậy mà cải thiện và phát triển được khả năng nhận thức, quá trình và kết quả nhận thức của mình. Trò chơi phát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ: các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác, các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ, các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy - Nhóm trò chơi phát triển các giá trị Đó là những trò chơi có nội dụng văn hoá, xã hội, trong đó các quan hệ chơi phóng tác hoặc lí tưởng hoá các quan hệ đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, gia đình, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự... Các quy luật hay quy tắc chơi được định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái độ, tình cảm tích cực, động viên ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất cá nhân của người tham gia. Ví dụ: Các trò chơi phân vai theo các chủ đề, các trò chơi đóng kịch,…. Chúng là môi trường giao tiếp và chia sẻ kinh nghiệm sống, giúp HS học và rèn luyện những kĩ năng xã hội, kĩ năng cộng tác...

8


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Một số trò chơi đòi hỏi khả năng đánh giá sự vật hay hành vi, hành động, tính cách con người, khả năng giải đáp những tình huống khác nhau. - Nhóm trò chơi phát triển vận động Các trò chơi phát triển vận động là loại trò chơi được chơi hơi khác những trò chơi vận động, nó có vi phạm rộng hơn. Trò chơi vận động trực tiếp đòi hỏi các vận động phải tuân theo luật hay quy tắc, nội dung chơi chủ yếu là vận động. Nó đương nhiên có chức năng phát triển vận động. Còn trò chơi phát triển vận động vừa gồm các trò chơi vận động vừa gồm những trò chơi khác. c. Chức năng dạy học của trò chơi Trò chơi có các chức năng dạy học sau: Cải thiện khả năng giao tiếp: Các trò chơi sẽ làm tăng cơ hội tương tác của các cá nhân với tập thể và với môi trường xung quanh. Phát triển kĩ năng thuyết trình: Thông qua việc thực hiện các yêu cầu trò chơi đưa ra, người chơi cần phải chủ động, tích cực, cần chớp thời cơ thể hiện quan điểm của mình và thuyết phục đồng đội hoặc giám khảo. Điều này sẽ phát triển các kĩ năng thuyết trình. Rèn luyện trí nhớ: Các hoạt động đòi hỏi phải tái hiện trong thời gian ngắn hoặc dài những kinh nghiệm tri giác, thị giác hoặc thính giác. Trí nhớ được trắc định bằng các trò đố, trong đó phải huy động tri thức từ quá khứ để giải đáp những câu hỏi đánh đố. Bởi vì trò chơi đố có thể được xây dựng cho tất cả những lĩnh vực học tập trong nhà trường, nên có thể sử dụng chúng như những biện pháp để giúp HS tập dượt tri thức đã học trước đây và bằng cách đó nâng cao hiệu suất trí nhớ của họ. Rèn luyện tính sáng tạo: Hiểu theo nghĩa phát kiến ra một biến thể mới của hoạt động. Rõ ràng là các kiểu trò chơi khác biệt nhau ở mức độ độc đáo mà nó khuyến khích hoặc hạn chế. Những phương án khác của trò chơi thích hợp nhất cho việc kích thích tính sáng tạo là giải trí bằng đồ họa, vẽ tranh, nghĩ ra các trò chơi, câu đố, mô tả những phát kiến tưởng tượng... Học những kĩ năng phán đoán: Chỉ một loại năng lực lường trước những dữ liệu của các hành động có thể xảy ra trong tương lai ở trong một tình huống, và đánh giá những nhân tố nào quyết định xác suất lớn nhất xảy ra điều gì đó. Học và rèn luyện hành vi có luật: Có nghĩa là cá nhân hiểu các luật lệ, quy tắc chi phối hoạt động, tuân theo luật, tôn trọng những thoả thuận đã nhất trí với nhau để tránh vi phạm luật và làm theo những gì đã nhất trí. Mọi trò chơi có thể kích thích những tiến bộ hướng tới những mục tiêu này nhất là trò chơi dạy học. 9


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Học cách làm chủ thái độ đối với thành công và thất bại: Có nghĩa là cá nhân tán thành những phản ứng được chấp nhận về mặt xã hội trước sự thắng và bại. Bất cứ hoạt động nào hễ có mục đích vươn tới hoặc có đối thủ để chiến thắng đều tạo ra những cơ hội tốt để bồi dưỡng thái độ này. Cải thiện kĩ năng tự quản: Thông qua các trò chơi cho phép người tham gia biết được họ có thể cải thiện kĩ thuật tự đánh giá bản thân ở chỗ nào. d. Ưu, nhược điểm của việc sử dụng trò chơi trong dạy học * Ưu điểm – Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn HS do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học. – Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, đo đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lí thuyết mới. – Trò chơi có nhiều HS tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kĩ năng học tập hợp tác cho HS. * Nhược điểm: – Khó củng cố kiến thức, kĩ năng một cách có hệ thống. – HS dễ sa đà vào việc chơi mà ít chú ý đến tính chất học tập của các trò chơi. e. Yêu cầu khi thiết kế trò chơi dạy học Lựa chọn hoặc tự thiết kế trò chơi đảm bảo những yêu cầu: - Tổ chức trò chơi địa lí phải phù hợp với đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức và hoàn cảnh học tập của HS, phù hợp với điều kiện vật chất và không gian, thời gian thực hiện. - Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình. - Hình thức chơi đa dạng giúp HS được thay đổi các hoạt động học tập trên lớp, giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động. - Luật chơi đơn giản để HS dễ nhớ, dễ thực hiện. Cần đưa ra các cách chơi có nhiều HS tham gia để tăng cường kĩ năng học tập hợp tác. - Các dụng cụ chơi cần đơn giản, dễ làm hoặc dễ tìm kiếm tại chỗ - Xây dựng bầu không khí vui tươi, sống động, thu hút tất cả mọi người cùng tham gia.

10


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

- Giáo dục chiều sâu: Thông qua các trò chơi giúp cho các em HS nhận thức được tinh thần đoàn kết, tình đồng đội và kỷ luật tập thể, tính trung thực. - Tuy mang tính tự nguyện tham gia nhưng phải đề cao tinh thần kỷ luật, ý thức tập thể của HS; đề cao được vai trò, tính tích cực, sáng tạo của các cá nhân HS. - Bảo đảm tính giáo dục: Dạy học không chỉ để mang lại tri thức và kĩ năng mà còn phải thực hiện mục tiêu giáo dục đối với HS. Vì vậy cách tổ chức trò chơi phải bảo đảm tính văn hóa, chuẩn mực. f. Nguyên tắc thiết kế trò chơi dạy học – Đảm bảo tính mục đích: Mục đích của trò chơi là phát huy tính tích cực học tập của HS. Vì vậy nhiệm vụ chơi, luật chơi và hành động của trò chơi đòi hỏi HS phải sử dụng các giác quan, các thao tác trí tuệ, đặc biệt là thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, để lĩnh hội kiến thức của bài học, môn học. – Đảm bảo tính chất của hoạt động chơi: Mỗi trò chơi học tập phải là trò chơi đích thực, thực sự hấp dẫn, kích thích tính tích cực, tự lập, sáng tạo của HS. Những trò chơi nhằm tích cực hóa hoạt động học tập cho HS phải tạo cơ hội cho các em hứng thú, tự nguyện tham gia vào trò chơi, tích cực vận dụng vốn hiểu biết và năng lực trí tuệ của mình để giải quyết nhiệm vụ học tập trong những hoàn cảnh chơi sinh động với yếu tố thi đua lẫn nhau. – Đảm bảo tính hệ thống và tính phát triển: Các trò chơi được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, tạo thành một hệ thống gồm các nhóm trò chơi nhằm nâng cao năng lực phát triển trí tuệ của HS. – Đảm bảo tính đa dạng: Các trò chơi hệ thống phải đa dạng, phong phú tạo cơ hội cho HS thực hành, vận dụng vốn hiểu biết thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và khả năng tư duy để giải quyết nhiệm vụ học tập trong những tình huống chơi đa dạng, phong phú. g. Yêu cầu khi tổ chức trò chơi dạy học – Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho HS hứng thú học tập vừa hướng cho HS tiếp tục tập trung các nội dung khác của bài học một cách có hiệu quả. – Trò chơi sử dụng phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí không gây nhàm chán. – Quan sát, theo dõi và bao quát lớp học để kịp thời giúp đỡ, khuyến khích, động viên người chơi khi cần thiết.

11


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

– Bảo đảm tính an toàn khi tổ chức chơi: Việc tổ chức trò chơi thường tạo không khí vui nhộn, thoái mái, dễ dẫn đến sự bất cẩn trong thao tác. GV cần thận trọng kiểm soát các tình huống chơi để tránh xảy ra tai nạn ngoài ý muốn. – Giải thích rõ luật chơi: Trò chơi chỉ thật sự phản ánh nội dung khi được thể hiện đúng bản chất. Do đó GV cần giải thích rõ luật chơi để HS không làm sai lệch nội dung học tập. – Xoa dịu tính hiếu thắng của người chơi: Việc tổ chức trò chơi nhằm mục đích học tập chứ không để tranh giành thứ hạng, khẳng định tài năng. GV nên nhấn mạnh ý nghĩa này để HS không hiếu thắng, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng với nhau. Dùng yếu tố thi đua để lôi cuốn HS tích cực tham gia trò chơi, song cũng không nhấn mạnh vào yếu tố thi đua một cách quá mức, biến thi đua thành ganh đua. – Chú trọng phân tích ý nghĩa sau khi thực hiện trò chơi: Chơi là cần thiết, nhưng không phải là điều chủ yếu của phương pháp. Việc rút ra bài học từ trò chơi mới là mục đích cuối cùng của phương pháp. Vì vậy GV không chỉ đầu tư vào cách tổ chức chơi mà còn chuẩn bị chu đáo cho phần phân tích ý nghĩa của trò chơi. h. Quy trình thực hiện trò chơi dạy học Bước 1: GV giới thiệu tên, mục đích của trò chơi. Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau: – Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi), quản trò, trọng tài. – Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, bảng, phấn, cờ phất...) – Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm... – Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi. (nếu có) Bước 3: Thực hiện trò chơi Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau: – GV hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.

12


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội đoạt giải. + Một số HS nêu kiến thức, kĩ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện. 7.2.1.3. Những vấn đề lí luận cơ bản về việc tạo hứng thú cho HS qua trò chơi trong giảng dạy địa lí a. Ý nghĩa của việc tạo hứng thú học tập cho HS trong giảng dạy Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết Trung Ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (121996), được thể chế hóa trong luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4-1999). Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi ‘‘Phương pháo giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS’’. Theo đó, ta có thể nhận thấy, trong yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục, việc tạo hứng thú học tập cho HS là một trong những mục tiêu cơ bản người GV cần đạt được. Sự hứng thú biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của người HS. Nếu không có hứng thú thì dù có “Dắt con ngựa tới hồ nước thì cũng không thể bắt nó uống nước“. M.Gorki đã từng nói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc.” Trong dạy học, nhà giáo dục Willama Ward cho rằng: “Chỉ nói thôi là thầy giáo xoàng. Giảng giải là thầy giáo tốt. Minh họa và biểu diễn là thầy giáo giỏi. Truyền được cảm hứng là thầy giáo vĩ đại”. Đối với hoạt động nhận thức sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú kết quả sẽ không có gì cả, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực (chán học, không muốn học, sợ học...). Ngược lại, nếu có hứng thú học tập, HS sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động học của mình, làm nảy sinh sự mong muốn hoạt động một cách sáng tạo. Từ đó, kết quả học tập sẽ được nâng cao. Và cứ thể sẽ là cơ sở khiến HS càng thấy hứng thú hơn trong quá trình học tập. b. Ý nghĩa của việc sử dụng trò chơi dạy học để nâng cao hứng thú học tập của HS đối với môn địa lí Có nhiều cách thức để người GV địa lí áp dụng dụng nhằm gây hứng thú học tập cho HS như: dùng đồ dùng trực quan, tổ chức tham quan dã ngoại, tổ chức chương

13


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

trình ngoại khóa,... Trong đó, việc dùng các trò chơi sao cho phù hợp với bài học cũng là một cách thức tạo được sự mới lạ và thích thú đối với HS. Môn địa lí là môn học có rất nhiều nội dung sinh động về tự nhiên và các kiến thức kinh tế – xã hội, có nhiều phương tiện trực quan trong quá trình dạy học (như các bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ,...), là nguồn tư liệu hiệu quả để có thể thiết kế các trò chơi trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt trong chương trình địa lí 12, phần địa lí tự nhiên với những kiến thức về thiên nhiên Việt Nam cũng cho phép và có nhiều điều kiện để thiết kế các trò chơi học tập. Thông qua các trò chơi, kiến thức tự nhiên tưởng chừng rất hàn lâm nhưng sẽ trở nên sinh động hơn khi được tiếp nhận bằng thái độ học tập hứng thú, từ đó hun đúc thêm cho HS tình yêu quê hương, đất nước. Trò chơi được sử dụng hợp lí sẽ giúp cho HS lĩnh hội tri thức trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, gây hứng thú học tập đối với môn địa lí, làm cho những kiến thức HS tự chiếm lĩnh ngày càng sâu sắc hơn. Đặc biệt thông qua trò chơi, HS có thể tự tìm tòi, nghiên cứu, rèn luyện tri thức trong quá trình học tập ngoài giờ lên lớp. Nếu nhóm HS nào đó quen với không khí trầm, các em có thể ít hào hứng, hoặc tỏ ra miễn cưỡng lúc đầu. Nhưng trò chơi bao giờ cũng mang bản chất lôi cuốn hấp dẫn với mọi đối tượng, nó khuyến khích mức độ tập trung công việc thực sự cũng như kích thích niềm ham mê đối với bài học. Trò chơi có tác dụng hoà đồng sâu rộng và thu hút mức độ tập trung của HS. Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của HS thể hiện qua các tiết học có trò chơi làm nảy sinh tình cảm của các em đối với môn học. 7.2.1.4. Cơ sở tâm sinh lí học đối với hoạt động học tập của HS khối 12 THPT a. Những đặc điểm cơ bản về tâm sinh lí của HS khối 12 THPT HS khối 12 là lứa tuổi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời, khác với HS THCS và HS ở các lớp đầu cấp THPT, các em HS khối 12 đã có bước phát triển đặc biệt về nhận thức và tình cảm. * Đặc điểm về sự phát triển thể chất Tuổi 17, 18 là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối. Nhìn chung, lứa tuổi HS khối 12 có sức khỏe và sức chịu đựng rất tốt. Sự phát triển của thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lí, nhân cách cũng như thái độ học tập và khả năng tiếp thu kiến thức bài học.

14


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Tuy nhiên ở một số HS có cường độ học tập cao, khối lượng công việc được giao vượt quá khả năng thực hiện, các em không có thời gian cần thiết để phục hồi sức làm việc sau một ngày học và sự mệt mỏi thể chất cũng ảnh hưởng nhiều đến các quá trình nhận thức, cảm xúc và ý chí. * Đặc điểm về ý thức học tập Nhìn chung HS khối 12 đã ý thức được tầm quan trọng của năm học cuối cấp, năm học phải đứng trước nhiều cơ hội, nhiều thách thức và việc hoàn thành chương trình năm học, vượt qua các kì thì cuối cấp có vai trò đặc biệt quan trọng. Do đã ý thức được tầm quan trọng này nên HS khối 12 có ý thức học tập cao hơn, tích cực đầu tư vào các môn học đặc biệt là các môn thi THPT Quốc gia của mình. Tuy nhiên lại hay học lệch, học tủ, học chỉ vì mục đích thi cử, học qua loa đại khái đối với những môn không phải thi. Điều này dẫn đến sự mất cân đối về kiến thức ở các môn học, sự cố gắng quá sức ở các môn học để thi, sự uể oải ở các môn học còn lại. * Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ Do cấu trúc và chức năng của não bộ phát triển cùng với sự phát triển của các quá trình nhận thức và hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của HS khối 12 có sự thay đổi quan trọng. Ở lứa tuổi này, HS có khả năng tư duy logic, tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo. Những đặc điểm trên sẽ tạo điều kiện để HS thực hiện các phép toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm bắt được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, không phải HS nào cũng phát huy được hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân. * Đặc điểm về nhận thức Lứa tuổi HS khối 12 cũng là lứa tuổi quyết định sự hình thành thế giới quan. Nhìn chung ở lứa tuổi này, thế giới quan của HS tương đối đã được định hình. Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan đó là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và sự tồn tại của loài người. Chính ở giai đoạn này, HS sẽ dành nhiều sự quan tâm đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội, vấn đề giữa vai trò và quyền lợi, quyền lợi nghĩa vụ và tình cảm... Tất cả những điều ấy chiếm một vị trí trung tâm trong suy nghĩ của HS khối 12. Tuy nhiên cũng có một bộ phận HS do bị ảnh hưởng xấu, bị tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, của cơ chế hội nhập giao thoa về văn hóa... dẫn đến có lối sống không lành mạnh, ăn chơi, lêu lổng, thích hưởng thụ, sống dễ dãi, buông thả bản thân. Đây là những HS chưa hình thành cho mình một thế giới quan khoa học và đúng đắn. 15


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Về mặt nhận thức, HS gặp khó khăn trong khả năng tiếp thu bài vở, xác định động cơ học tập và tự đánh giá bản thân. * Đặc điểm cảm xúc Đời sống tình cảm của HS khối 12 rất phong phú và muôn màu. HS lớp 12 gặp khó khăn về cảm xúc trí tuệ ở mức độ cao nhất. Sự “mệt trí”, “sức ép” và sự “thất vọng khi không đạt được mục tiêu” là ba cảm nhận gặp khá nhiều ở HS. Khó khăn trong hành vi thể hiện chủ yếu qua cách học “đợi nước đến chân mới nhảy”, “làm việc riêng” và “không tuân theo kế hoạch”. Khi gặp khó khăn tâm lí trong học tập, HS lớp 12 tập trung sử dụng các đáp ứng hướng vào giải quyết vấn đề. Ngoài ra, các em cũng sử dụng đáp ứng định hướng thuộc cảm xúc và tìm sự né tránh. HS yếu sẽ hướng đến sự né tránh nhiều hơn các HS khá. Xét về giới, nữ có xu hướng thực hiện những đáp ứng định hướng vào cảm xúc và sự né tránh nhiều hơn so với các em nam. b. Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn địa lí của HS khối 12 THPT Hứng thú học tập, nhất là hứng thú với môn học thường có mối liên hệ chặt chẽ đối với kết quả học tập. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn địa lí. Các yếu tố này được chia làm hai nhóm chính: yếu tố chủ quan xuất phát từ chính mỗi cá nhân HS và yếu tố khách quan từ bên ngoài chi phối. * Yếu tố chủ quan Trình độ phát triển trí tuệ của người học: Đây là yếu tố quan trọng giúp HS nhận thấy tầm quan trọng của việc học môn học này có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống và nghề nghiệp sau này của mình. Thái độ đúng đắn đối với nội dung môn học: khi HS có trình độ phát triển trí tuệ, nhận thức, các em sẽ thể hiện thái độ học tập tích cực, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo khi học môn này. * Yếu tố khách quan Đặc điểm môn học: là cơ cấu, nội dung, tính chất, sự sắp xếp chương trình môn học theo đặc điểm của ngành học. Người dạy: bộc lộ qua trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, thái độ trong việc tổ chức, điều khiển quá trình dạy – học. Điều kiện cơ sở vật chất: như tài liệu, sách vở, phương tiện dạy học. Tuy không là yếu tố quyết định nhưng là yếu tố cần thiết tác động đến kết quả học tập của người

16


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

học. Nếu được học tập trong điều kiện vật chất đầy đủ, HS thấy thoải mái, dễ chịu, giúp các em học tập tốt hơn. Môi trường học tập: là không khí lớp học, mối quan hệ bạn bè, thầy cô,.... Trong tập thể có nề nếp, có sự thi đua học tập cũng là yếu tố giúp từng cá nhân vươn lên trong học tập. Trong các yếu tố khách quan, yếu tố về người dạy được xem là yếu tố trực tiếp tạo nên hứng thú của người học. Việc thiết kế và tổ chức học tập với các phương pháp dạy học tích cực của GV có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành hứng thú học tập cho HS. 7.2.2. THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ 12 (PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN) NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH 7.2.2.1. Các trường hợp có thể ứng dụng việc sử dụng trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) – Sử dụng để giới thiệu bài học: Để có được một giờ học hiệu quả, cách giới thiệu để vào bài có vai trò rất quan trọng. Sự chú ý lớn nhất của HS trong tiết học chính là ở trong các phút đầu giờ. Tận dụng triệt để để gây hứng thú cho HS trong thời gian này là rất cần thiết. GV có thể đưa ra một trò chơi vừa kích thích được hứng thú của HS, vừa kiểm tra được bài cũ, và có những gợi mở vào bài học mới, tạo ấn tượng mạnh hơn, giúp HS nhớ lâu hơn về nội dung bài học. – Sử dụng trong quá trình giảng bài mới: Trong quá trình giảng bài, để khắc ghi kiến thức và tạo hứng thú cho HS, GV có thể áp dụng theo các cách thức sau: + Dùng trò chơi để củng cố kiến thức bài học: Sau mỗi phần hoặc hết bài, GV có thể củng cố kiến thức cho HS bằng cách sử dụng trò chơi. + Dùng trò chơi để gợi mở, kích thích HS tìm ra kiến thức: Ở mỗi nội dung kiến thức bài học, GV có thể yêu cầu HS tìm hiểu trong SGK, các tài liệu tham khảo, các kiến thức đã có trả lời các câu hỏi gợi mở được xây dựng theo hình thức trò chơi. Từ đó giúp HS chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng cần có trong bài. + Xây dựng nội dung bài dạy thành một cuộc thi: trong đó có các phần thi với các trò chơi khác nhau, nội dung thi tương ứng với nội dung bài học, từ đó hình thành được nội dung kiến thức, kĩ năng, các năng lực cần có cho HS. Trong chương trình địa

17


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

lí tự nhiên Việt Nam, tôi đã thiết kế và thực giảng có hiệu quả bài “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” theo hình thức này. – Sử dụng trong các tiết học thực hành: Các tiết học thực hành với đặc trưng tăng cường hoạt động từ HS, củng cố kiến thức, luyện tập các kĩ năng là các tiết dạy có khả năng áp dụng cao việc sử dụng trò chơi để mang lại hiệu quả giờ dạy. Trong chương trình địa lí tự nhiên Việt Nam, tôi đã sử dụng trò chơi tại tiết thực hành bài 13 “Thực hành: Đọc bản đồ địa hình, điền vào lược đồ trống một số dãy núi và đỉnh núi”. – Sử dụng trong các tiết học ôn tập: Với mục đích hệ thống và củng cố lại các kiến thức đã học, tiết học ôn tập cũng rất thích hợp để lồng ghép các trò chơi hoặc xây dựng thành một cuộc thi gồm các trò chơi. – Sử dụng trong các tiết học tự chọn: Một trong những hạn chế của việc sử dụng trò chơi trong dạy học là yếu tố về thời gian. Ngoài ra là việc không đảm bảo được khả năng ghi chép nội dung bài học của HS. Việc đưa trò chơi vào các tiết học tự chọn là một giải pháp cho vấn đề này. Thực tiễn giảng dạy, tôi đã áp dụng phần thi “Việt Nam kì thú” trong tiết ôn tập trong nội dung tự chọn và đã có được không khí rất sôi nổi trong giờ học. – Sử dụng trong các tiết học chuyên đề: các buổi học chuyên đề buổi chiều có thể được nhẹ nhàng hơn, giảm bớt áp lực ôn thi cuối cấp nếu GV khéo léo lồng ghép các trò chơi trong quá trình giảng dạy mà vẫn đảm bảo nội dung bài học. Vậy nhìn chung hầu như tất cả các trường hợp trong chương trình giảng dạy địa lí đều có thể sử dụng trò chơi. Tùy đặc điểm nội dung bài học, đối tượng HS, mục đích giảng dạy, GV có thể thiết kế và sử dụng các trò chơi địa lí đảm bảo phù hợp và mang lại hiệu quả. Do đặc điểm từng bài và để đảm bảo công tác giảng dạy có sự đổi mới qua từng bài học nên không phải tất cả các bài học trong chương trình địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) GV đều sử dụng trò chơi mà nên chọn những bài tiêu biểu, dễ triển khai. 7.2.2.2. Thiết kế và sử dụng một số trò chơi trong giảng dạy địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) Trong phần cơ sở lí luận, sáng kiến đã đề cập đến nhiều cách phân loại trò chơi dạy học. Trong phần nội dung này, tác giả đề xuất các trò chơi theo cách phân loại dựa trên các mức độ sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học. a. Nhóm trò chơi khởi động Những trò chơi này có thể sử dụng khi bắt đầu vào tiết học, nó có tác dụng khởi động tư duy của HS, dẫn dắt HS tìm hiểu nội dung, học tập một cách tự nhiên, thoải 18


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

mái và vui vẻ. Không chỉ vậy, trò chơi này còn được sử dụng khi chuyển tiếp sang một nội dung mới trong giờ học. Cách chuyển tiếp này giúp HS thay đổi trạng thái, kích thích hoạt động trí tuệ để đạt được mục tiêu bài học. Những trò chơi được sử dụng trong nhóm này có thể là: * Trò chơi ô chữ Trò chơi ô chữ trong dạy học có nhiều dạng khác nhau, thường có 2 hình thức phổ biến Hình thức 1: giải những ô chữ hàng ngang rồi tìm từ khóa trong ô chữ hàng dọc. Hình thức 2: giải các ô chữ hàng ngang, lấy ra các chữ tạo nên ô chữ chìa khóa nhưng chưa được sắp xếp theo thứ tự thành một từ hoàn chỉnh (cách thức này dễ thiết kế trò chơi hơn) nhưng mang tính đánh đố HS nhiều hơn. Mỗi ô chữ bao gồm câu hỏi và nội dung ô chữ có liên quan trực tiếp đến bài học. Ví dụ: Trong bài 9 “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa”, để khởi động bài mới, GV tổ chức cho HS chơi trò chơi giải ô chữ. Ô chữ chìa khóa gồm các chữ màu đỏ được lấy ra từ các ô chữ hàng ngang.

Hình 1: Mô tả thiết kế trò chơi ô chữ trong học bài 9 “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” Ô chữ

Nội dung câu hỏi

Đáp án

1

Đây là dãy núi được coi là ranh giới giữa vùng núi Trường Sơn Bạch Bắc và vùng núi Trường Sơn Nam. Mã

2

Đây là cánh cung đầu tiên ở phía Tây trong 4 cánh cung của vùng Sông núi Đông Bắc. Gâm 19


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

3

Đây là tài nguyên khoáng sản có trữ lượng và giá trị lớn nhất ở Dầu khí vùng biển nước ta.

4

Đây là một trong những thế mạnh tiêu biểu của vùng đồi núi Khoáng nước ta. sản

5

Các cánh cung ở vùng núi Đông Bắc chụm lại ở dãy núi này.

Tam Đảo

6

Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh nào của nước ta?

Quảng Ninh

Ô chữ chìa khóa: Gió mùa Vậy qua trò chơi, GV vừa củng cố lại được nội dung về các kiến thức đã học ở bài “Đất nước nhiều đồi núi”, “Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển” vừa gợi mở và giới thiệu được nội dung bài mới: “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa“ * Trò chơi đuổi hình bắt chữ Trò chơi này được lấy ý tưởng từ game show truyền hình “Đuổi hình bắt chữ”. Để thực hiện, GV có thể sưu tầm hoặc thiết kế các hình ảnh thể hiện các chữ có liên quan đến nội dung bài học. Mở đầu bài học, GV tổ chức cho HS nhìn hình đoán chữ. Trò chơi này chủ yếu hướng tới mục tiêu tạo hưng phấn cho HS trong giờ học, giúp HS thư giãn, kích hoạt tâm thế học tập. Hình thức 1: Chỉ đưa ra một hình rồi đoán chữ Ví dụ như để mở đầu bài “Thiên nhiên chịu ảnh hưởng của biển”, GV tổ chức trò chơi đuổi hình bắt chữ, từ đó lần lượt tìm ra ba từ khóa: “Biển Đông”, “rừng ngập mặn”, “dầu khí”, từ đó giới thiệu vào nội dung bài học.

Hình 2: Mô tả thiết kế trò chơi đuổi hình bắt chữ trong học bài “Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển” Hình thức 2: Lần lượt đưa ra các hình để HS gọi tên. Rồi từ tất cả các hình đã có, nêu nội dung của hình tổng thể.

20


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Ví dụ như cách mở đầu bài “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” dưới đây:

Hình 3: Mô tả thiết kế trò chơi đuổi hình bắt chữ trong học bài “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” GV lần lượt đưa ra các hình ảnh, yêu cầu HS gọi tên hình ảnh đó. Sau khi gọi tên được 4 bức hình (“bão”, “hạn hán”, “cắt giảm khí thải”, “trồng rừng”), GV yêu cầu HS đưa ra nội dung lớn nhất 4 bức hình truyền tải. Với các bức hình đã có, GV đã giới thiệu được nội dung bài học: “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” Ngoài ra, để tăng thêm tính sôi nổi và tạo không khí cởi mở, vui vẻ trong giờ học, GV có thể thiết kế thêm các phần quà bên dưới. HS trả lời được câu hỏi sẽ được tự chọn một phần quà. Các phần quà có thể là: một chiếc kẹo mút, một tràng pháo tay, một lời khen (“Em thật xuất sắc!”), một lời chúc (“Chúc em học giỏi và yêu thích môn địa lí”) * Trò chơi theo dòng dữ kiện GV lần lượt đưa ra các dữ kiện. Trả lời được ở các dữ kiện càng ở đầu sẽ được điểm càng cao. Càng trả lời được ở các dữ kiện sau, số điểm sẽ càng thấp hơn. Tùy vào ý đồ thiết kế trò chơi và nội dung bài học, GV có thể đưa ra thang điểm phù hợp cho từng dữ kiện. Ở trò chơi này thường có hai hình thức sau: Hình thức 1: Dữ kiện đưa ra là các thông tin được thể hiện bằng chữ. Hình thức 2: Dữ kiện đưa ra là hình ảnh. 21


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Ví dụ minh họa cho hình thức 2: Để vào bài “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên nhiên nhiên”, GV có thể đố HS gọi tên một vườn quốc gia theo lần lượt các dữ kiện bằng hình ảnh.

Hình 4: Mô tả thiết kế trò chơi theo dòng dữ kiện trong học bài “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” b. Nhóm trò chơi kích thích học tập Là các trò chơi để người học tiếp thu nội dung bài học một cách sinh động, hào hứng. Giới thiệu một số trò chơi kích thích học tập: * Trò chơi “Ai nhiều hơn” Đây là trò chơi tôi ứng dụng rất nhiều trong quá trình dạy với ưu điểm trò chơi dễ thực hiện, dễ tổ chức, lồng ghép trong tiến trình học, không cần sự hỗ trợ của máy móc, máy tính, máy chiếu, khai thác được tâm lí thích thi đua giữa các nhóm HS, tạo

22


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

ra không khí sôi nổi, đưa vận động vào trong quá trình học giúp HS tích cực, giảm được cảm giác uể oải trong giờ học. Cùng một nội dung bài học, GV có thể chia bảng thành nhiều cột (tùy theo số lượng nhóm chơi, thường tôi chia lớp thành 4 nhóm tương ứng 4 dãy bàn HS). Trong một thời gian nhất định (tùy theo nội dung trình bày, GV ấn định trước và thông qua trước khi các nhóm thi). Đại diện các nhóm sẽ lên viết các nội dung trả lời lên bảng. Các thành viên khác của nhóm có thể lần lượt thay phiên nhau hoàn thiện phần nội dung của mình. Hết thời gian, nhóm nào viết được nhiều ý đúng nhất, nhóm đó thắng cuộc. Trò chơi này đặc biệt thích hợp với những nội dung đánh giá những thuận lợi, khó khăn. Ví dụ: Khi học bài 7 “Đất nước nhiều đồi núi”, để tìm hiểu nội dung về thế mạnh về tự nhiên của khu vực đồi núi đối với phát triển kinh tế – xã hội, GV chia lớp thành 4 nhóm thi xem nhóm nào viết được nhiều nhất các thế mạnh của vùng đồi núi trong thời gian 3 phút. Hoặc khi học bài 10 “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa”, để tìm hiểu nội dung về ảnh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa đến các hoạt động sản xuất khác và đời sống, GV có thể cho các nhóm thi xem nhóm nào viết được nhiều nhất các khó khăn, trở ngại trong thời gian 2 phút. Hoặc khi học về bài 11 “Thiên nhiên phân hóa đa dạng”, các nhóm có thể thi liệt kê các câu ca dao, tục ngữ, dân ca thể hiện đặc điểm phân hóa thiên nhiên theo Bắc – Nam và theo Đông – Tây ở nước ta trong thời gian 5 phút. HS có thể liệt kê các câu như: “Trường Sơn đông nắng, tây mưa. Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình” “Hải Vân đèo lớn vượt qua. Mưa xuân ai bỗng đổi ra nắng hè”, “Anh lên xe, trời đổ cơn mưa. Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ. Em xuống núi, nắng về rực rỡ. Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư”, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Bên nắng đốt, bên mưa quây”,.... * Trò chơi ô chữ Khác với trò chơi ô chữ trong phần khởi động bài học, trò chơi ô chữ để kích thích học tập thường dựa vào nội dung liên quan đến nội dung bài học. Thường tôi sử dụng ô chữ trong phần củng cố bài. Ví dụ: Khi củng cố bài “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai”, tôi sử dụng ô chữ sau:

23


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Hình 4: Mô tả thiết kế trò chơi ô chữ trong học bài “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai Trò chơi này tôi xây dựng theo hình thức 1 của trò chơi giải ô chữ: giải các ô chữ hàng ngang rồi tìm từ khóa trong ô chữ hàng dọc. Ô chữ

Nội dung câu hỏi

Đáp án

1

Đây là thiên tai thường xuất hiện ở vùng biển Bão biển nhiệt đới, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất và đời sống.

2

Một trong các giải pháp phòng chống ảnh Đê biển hưởng của bão ở vùng ven biển nước ta là xây dựng….

3

Các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất ở vùng đồi Chống xói mòn núi (trồng rừng, canh tác nông lâm,...) có tác dụng gì?

4

Một trong các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh Sách đỏ Việt Nam học ở nước ta là ban hành…….

5

Đây là một trong những nguyên nhân gây ô Nước thải nhiễm môi trường đô thị.

6

Đây là một trong những hướng mới của việc Du lịch sinh thái phát triển du lịch nhằm bảo vệ môi trường ở nước ta.

7

Đây là hệ quả của việc Trái Đất nóng lên, làm tăng mực nước biển và đại dương. Ô chữ chìa khóa: Bền vững

24

Băng tan


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Qua đây, GV củng cố được nội dung bài học và khẳng định ý nghĩa của bài: phát triển bền vững là mục tiêu lớn nhất trong việc bảo vệ tài nguyên và môi trường nước ta. * Trò chơi theo dòng dữ kiện Trò chơi này không chỉ thích hợp khi giới thiệu bài học mà còn có thể sử dụng hiệu quả trong phần củng cố bài hoặc chuyển ý giữa các phần nội dung trong bài học. Ví dụ: Khi dạy bài 6 “Đất nước nhiều đồi núi”, phần “Khu vực đồi núi”, để củng cố lại đặc điểm vùng núi Tây Bắc, tôi đã thiết kế trò chơi theo dòng dữ kiện theo hình thức 1 (Dữ kiện đưa ra là các thông tin được thể hiện bằng chữ). Nội dung như sau:

Hình 5: Mô tả thiết kế trò chơi theo dòng dữ kiện trong bài 6 “Đất nước nhiều đồi núi” * Trò chơi đi tìm các mảnh ghép Khi tìm hiểu nội dung địa lí, GV đưa ra các mảnh ghép nhỏ. Mỗi mảnh ghép sẽ có các câu hỏi tương ứng. HS được tùy chọn mảnh ghép để mở và trả lời ô từ khóa tương ứng với mảnh ghép mình chọn. GV cứ tiếp tục lật các mảnh ghép cho đến khi HS gọi đúng tên bức hình. Ví dụ khi dạy bài 9 “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa”, để củng cố lại nội dung về đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa của khí hậu nước ta, tôi xây dựng trò chơi đi tìm mảnh ghép như sau:

25


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Hệ thống câu hỏi Câu 1: Mọi nơi ở nước ta trong năm có mấy lần Mặt Trời qua thiên đỉnh? Trả lời: hai lần Câu 2: Ở những sườn núi đón gió biển và các khối núi cao, lượng mưa trung bình hàng năm của nước ta có thể lên đến bao nhiêu? Trả lời: 3500 – 4000mm Câu 3: Gió mùa mùa đông thổi vào nước ta hầu như bị chặn lại bởi dãy núi nào? Trả lời: Bạch Mã Câu 4: Gió mùa mùa đông tác động đến nước ta trong khoảng thời gian nào? Trả lời: Từ tháng XI đến tháng IV năm sau. Câu 5: Gây phơn Tây Nam ở nước ta có nguồn gốc từ khối khí nào? Trả lời: Khối khí nhiệt đới ẩm Bắc Ấn Độ Dương. Câu 6: Nguyên nhân chủ yếu nào gây mưa vào mùa hạ cho hai miền Bắc, Nam và mưa vào tháng IX cho Trung Bộ nước ta? Trả lời: Hoạt động của gió Tây Nam cùng với dải hội tụ nhiệt đới. Hình ảnh cần tìm: Gió mùa mùa đông ở khu vực Đông Nam Á Hình 6: Mô tả thiết kế trò chơi mảnh ghép trong học bài “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” * Trò chơi trả lời câu hỏi Bản chất đây là các bài tập dạng trắc nghiệm hoặc hỏi đáp nhanh nhưng GV đã khéo léo quy định thời gian và tổ chức thi giữa các nhóm, giữa các HS để tạo ra không khí thi đua, xây dựng sự hứng thú trong giờ học. Theo từng cách thức chơi, GV có thể 26


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

gắn cho trò chơi những cái tên thật “kêu” như: “Ai nhanh hơn”, “Ai là chuyên gia”, “đường đua siêu tốc”,… Về hình thức chơi: Loại trò chơi này GV thường chia lớp thành các đội chơi hoặc chọn ra đại diện của từng đội chơi để lên chơi. GV lần lượt đưa ra các câu hỏi và yêu cầu các đội chơi/ người chơi trả lời. Kết thúc bộ câu hỏi, nhóm nào/ người chơi nào có số lượng câu trả lời đúng nhiều nhất sẽ là nhóm chiến thắng. Thường có hai hình thức chơi như sau: Hình thức 1: Đội nào có tín hiệu xin trả lời nhanh nhất sẽ được trả lời. Hình thức 2: Khi hết thời gian quy định các đội chơi sẽ đồng loạt giơ đáp án. Về cách xây dựng câu hỏi: GV dễ dàng thiết kế trên phần mềm power point. Ngoài ra có thể áp dụng các kĩ thuật trong phần mềm này để thiết kế sinh động hơn bộ câu hỏi. Hiện nay trên mạng Internet có các trò chơi power point cho phép tải miễn phí, với giao diện đẹp, cách thiết kế đơn giản như các trò chơi: “ăn khế trả vàng”, “vượt chướng ngại vật”, “em tập làm thủ môn”, “vòng quay may mắn”, “hộp quà bí mật”…

Hình 7: Một số hình ảnh về các trò chơi thiết kế bởi Power Point Trong quá trình giảng dạy năm nay, cùng với không khí chiến thắng của bóng đá Việt Nam, tôi đã thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra bài cũ với trò chơi “em tập làm thủ môn” khi củng cố bài “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” và đã được phản hồi khá tích cực từ HS.

Hình 8: Mô tả thiết kế trò chơi “Tập làm thủ môn” trong bài “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” 27


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Ngoài ra, GV có thể lấy ý tưởng từ các game show trên truyền hình để thiết kế hình thức trò chơi. Trò chơi “Việt Nam kì thú” tôi sưu tầm và thiết kế bộ câu hỏi là một trò chơi theo hình thức như vậy. Các đội chơi sẽ tự chọn cho mình một gói câu hỏi thuộc một lĩnh vực về tự nhiên, trả lời câu hỏi và nhận kết quả được ghi trên slide câu hỏi mình lựa chọn. Áp dụng trò chơi này trong tiết dạy tự chọn với nội dung ôn tập kiến thức tôi đã có một tiết học thật sự mới mẻ và khơi gợi được sự hứng thú từ HS.

Hình 9: Giao diện thiết kế trò chơi “Việt Nam kì thú” Về cách thức xác định đội chiến thắng: để thêm màu sắc đặc trưng môn học, GV có thể thể hiện kết quả của các đội chơi như cuộc đua giữa các “xe đua”. Mỗi một câu hỏi đúng, “xe đua” sẽ đi qua một tỉnh thành ven biển của nước ta. GV bên cạnh việc đưa ra đáp án đúng còn thông báo tỉnh thành mà “xe đua” các đội chơi đang đến. Kết thúc phần chơi, “xe đua” nào đi được xa nhất là “xe đua” của đội chiến thắng. Không chỉ cách xác định kết quả này mang đến sự mới lạ mà còn cung cấp thêm thông tin về đặc điểm lãnh thổ, các tỉnh thành ven biển của nước ta.

Hình 10: Trang slide power point thể hiện kết quả các đội thi 28


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

* Trò chơi thực hành kĩ năng địa lí Cũng như trò chơi trả lời câu hỏi, bản chất của trò chơi thực hành kĩ năng địa lí là các bài tập về kĩ năng địa lí như kĩ năng về biểu đồ, atlat, bảng số liệu nhưng GV đã khéo léo quy định thời gian hoặc tổ chức thi giữa các nhóm, giữa các HS để tạo ra không khí thi đua, xây dựng sự hứng thú trong giờ học. Ví dụ: Khi dạy bài 13 “Thực hành: Đọc bản đồ địa hình, điền vào lược đồ trống một số dãy núi và đỉnh núi”, ở bài tập 1, sau khi dành thời gian cho HS xác định các dãy núi, đỉnh núi, cao nguyên, dòng sông trong Atlat, tôi đã cho HS lên bảng tự chọn câu hỏi cho mình rồi xác định các núi, cao nguyên, đỉnh núi, sông trên bản đồ theo yêu cầu của câu hỏi mình chọn. Qua đó, HS cũng đã rèn luyện được phản ứng nhanh, và tái hiện lại được các kiến thức vừa tìm hiểu trước đó.

Hình 11: Trang slide Power Point thể hiện cách thiết kế trò chơi thực hành kĩ năng địa lí c. Nhóm trò chơi khám phá tri thức Việc tổ chức trò chơi khám phá tri thức nhằm tạo cơ hội cho HS trải nghiệm và có cơ sở nhận định, phân tích, lí giải... từ đó phát hiện tri thức khoa học. Trong trò chơi nhóm này, GV cần đặt câu hỏi khám phá tri thức sau khi chơi. Việc này đòi hỏi GV không chỉ đầu tư vào việc lựa chọn trò chơi phù hợp, có kĩ năng tổ chức trò chơi trên lớp mà còn chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt HS phát hiện tri thức ẩn chứa trong trò chơi. Trong phần địa lí tự nhiên Việt Nam, tôi thường dùng các trò chơi này vào tiết đầu tiên của chương trình học để gợi mở, hướng dẫn HS phương pháp học hiệu quả cho một năm học cuối cấp với những kì thi và những lựa chọn đầu tiên trên trang sách cuộc đời của các em. Hoặc có thể dùng trong những trường hợp kiểm tra bài cũ đầu giờ, cần nhắc nhở HS về ý thức học tập. Sau đây là một số trò chơi khám phá tri thức có thể áp dụng:

29


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

* Trò chơi “đếm số chiến lược” Cách chơi: Hai người chơi đếm số theo thứ tự từ 1 đến 30, mỗi lần đếm ít nhất là 1 số và nhiều nhất là 3 số. Nếu ai đếm đến số 30 trước sẽ là người chiến thắng. Để chiến thắng trong trò chơi này thì người chơi phải đếm được con số 26. Muốn chắc đếm được con số 26 thì phải có được con số 22. Muốn chắc có con số 22 thì cần phải có con số 18,... Trò chơi này có ý nghĩa: Phải làm chủ cuộc sống của mình, phải lên kế hoạch cụ thể, rõ ràng cho tương lai, từng bước chinh phục các mục tiêu nhỏ để hướng đến mục tiêu cuối cùng. Nếu đếm số một cách tùy tiện thì kết quả đạt được cũng chỉ theo may rủi, không rõ ràng. Theo nghĩa hẹp hơn, trong việc chiếm lĩnh tri thức, cần phải từ từ, từng bước một, học chắc các kiến thức cơ bản để tạo tiền đề cho các kiến thức cao hơn. * Trò chơi “ai xa nhất” Cách chơi: trò chơi cần 1 nhóm, khoảng 3 – 4 HS tham gia chơi. GV phát cho HS mỗi em một tờ giấy, yêu cầu HS ném tờ giấy ra xa theo cách mình cho là hiệu quả nhất. Ai ném xa nhất người đó chiến thắng. Có nhiều cách thực hiện: gấp tờ giấy thành máy bay rồi ném, vo lại rồi ném, hoặc vo lại rồi cuộn trong đó một vật gì nặng (cái bút, viên sỏi,....) rồi ném. Theo cách cuối cùng là hiệu quả nhất. Trò chơi này có ý nghĩa: phương pháp học tập rất quan trọng. Việc gấp tờ giấy thành máy bay vừa tốn thời gian mà hiệu quả không cao. Việc vo tờ giấy lại, cuộn vào trong đó là vật nặng vừa nhanh mà có thể khiến tờ giấy ban đầu được ném đi xa nhất. Cách vo giấy là biểu tượng về phương pháp. Viên sỏi là biểu tượng cho tri thức, kiến thức, kĩ năng được luyện tập, đây sẽ là các yếu tố giúp mục tiêu được thực hiện nhanh hơn. * Trò chơi “bạn có thể” Cách chơi: GV đưa ra một tờ giấy yêu cầu HS giữ trong 1 phút. HS thực hiện theo một cách dễ dàng. Tiếp theo, GV yêu cầu HS giữ tờ giấy hết tiết học. HS có thể sẽ nhăn nhó. GV tiếp tục đưa ra điều kiện “Nếu giữ tờ giấy đến hết tiết học, em sẽ được thưởng” (tùy theo từng trường hợp, GV đưa ra các phần thưởng thực sự hấp dẫn HS). HS sẽ nhận làm ngay. Trò chơi này có ý nghĩa: Làm việc gì nói chung và học tập nói riêng đều cần có mục tiêu. Khi rõ mục tiêu của mình là gì, lợi ích có được khi thực hiện ta sẽ có động lực để vượt qua những khó khăn để chinh phục thử thách. 30


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

* Trò chơi “khăn giấy tiện dụng” Cách chơi: Mỗi nhóm nhận 1 khăn giấy. Nhóm thảo luận và liệt kê những việc có thể thực hiện bằng khăn giấy cho một cá nhân. Cử một người trong nhóm thực hiện cụ thể trên lớp học. Nhóm làm được nhiều việc nhất sẽ thắng. Trò chơi này có ý nghĩa: Trò chơi cho thấy nếu xây dựng kế hoạch, sắp xếp hợp lí thì công việc sẽ đạt hiệu quả cao hơn; Trò chơi cũng nhấn mạnh tác dụng của việc sử dụng nguyên liệu hợp lí, khéo léo gửi đến cho HS thông điệp sử dụng tiết kiệm tài nguyên của đất nước. * Trò chơi “vẽ hình theo nhiệm vụ” Cách chơi: 3 HS tham gia trò chơi, cả lớp quan sát. Mỗi HS nhận một tờ giấy nhỏ trong đó ghi nhiệm vụ vẽ 1 hình hình học khác nhau (VD: tam giác, hình tròn, hình vuông). GV giao cho 1 HS cầm 1 viên phấn, 2 HS còn lại nắm lấy bàn tay của HS giữ viên phấn đó. Sau hiệu lệnh, 3 HS cùng lúc điểu khiển viên phấn để vẽ hình theo nhiệm vụ của mình. Kết quả thường là những nét vẽ nguệch ngoạc, không ai vẽ được chính xác hình của mình được giao, thậm chí viên phấn bị gãy nát... Trò chơi này có ý nghĩa: Nếu làm việc nhóm mà sự thiếu thống nhất thì công việc chung của nhóm bị hạn chế, đồng thời mỗi người không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình do bị công việc của người khác cản trở. Trò chơi là một nhắc nhở khéo léo các thành viên khi tham gia hoạt động nhóm cần tích cực, chủ động và trách nhiệm. 7.2.2.3. Thiết kế bài học minh họa cụ thể Để rõ hơn về việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học, tôi xin minh họa cụ thể qua việc thiết kế bài học cụ thể: bài 15: “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” (địa lí 12). a. Ý tưởng thiết kế bài học Bài học này được thiết kế theo tiến trình của một cuộc thi. Mỗi phần thi tương ứng với một phần nội dung bài học. Qua việc tham gia chơi, các kiến thức, kĩ năng trong bài sẽ được hình thành ở HS. Kết thúc một phần thi, trong khi trọng tài (1 GV trợ giảng hoặc 1 HS của lớp) tổng hợp điểm, HS có thể ghi chép nội dung kiến thức trong bài học ở phần vừa tìm hiểu. Với mục đích chính là nêu bật được ý đồ thiết kế bài dạy của tác giả nên phần thiết kế bài học sẽ làm rõ về các trò chơi được khai thác và sử dụng, các kiến thức và kĩ năng được hình thành. Nội dung chi tiết các câu hỏi được thể hiện cụ thể trong bài dạy tác giả đã in đĩa đính kèm.

31


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Công tác chuẩn bị cho bài học: GV chia lớp thành 4 nhóm với các nhiệm vụ sau: Nhóm

Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu

Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu thời gian hoạt động, khu vực ảnh hưởng, hậu quả, biện pháp phòng chống

Nhóm 1

Biểu hiện và nguyên nhân của tình trạng mất cân bằng sinh thái môi trường

Bão

Nhóm 2

Biểu hiện và nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường

Ngập lụt.

Nhóm 3

Nơi hay xảy ra ô nhiễm môi trường

Lũ quét

Nhóm 4

Biện pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường

Hạn hán

Khi tìm hiểu bài mới, GV sử dụng kĩ thuật mảnh ghép tạo ra 4 nhóm mới từ 4 nhóm ban đầu để tham gia các phần thi theo sát nội dung môn học. b. Thiết kế giáo án minh họa Tiết 16, bài 15: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI I. Mục tiêu bài học 1. Kiến thức – Hiểu được một số vấn đề chính về bảo vệ môi trường ở nước ta: mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường (nước, không khí, đất). – Hiểu được đặc điểm phân bố, thời gian hoạt động, hậu quả, biện pháp phòng chống một số loại thiên tai chủ yếu ở nước ta (bão, ngập lụt lũ quét, hạn hán,...) - Biết được đặc điểm các thiên tai khác ở nước ta (động đất, sương muối, mưa đá,...) – Hiểu được nội dung chiến lược Quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường. 2. Kĩ năng – Kĩ năng liên hệ thực tế để giải thích nguyên nhân phát sinh và tác hại của mỗi loại thiên tai. – Kĩ năng vận dụng vào thực tiễn các biện pháp phòng chống thiên tai. 32


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

- Kĩ năng làm việc nhóm. 3. Thái độ – Có nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề bảo vệ môi trường, các loại thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống. 4. Định hướng các năng lực được hình thành. – Năng lực giải quyết vấn đề: Hợp tác cùng các thành viên trong nhóm trong quá trình tìm hiểu vấn đề ô nhiễm môi trường và các loại thiên tai chủ yếu. – Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ: Dựa trên thông tin, bảng số liệu xác định những khu vực chịu ảnh hưởng của các loại thiên tai chủ yếu. – Năng lực hợp tác nhóm II. Chuẩn bị của GV và HS 1. Đối với GV – Giáo án power point. – Các tư liệu, tranh ảnh, clip liên quan đến bài học. – Bộ trò chơi thiết kế theo các hoạt động học. – Máy tính, máy chiếu, loa. – 4 tờ giấy khổ A2 – 4 lá cờ đuôi nheo 2. Đối với HS – Tìm hiểu nội dung bài học theo các nhóm đã phân công – Sách giáo khoa, vở ghi. – Bút, giấy III. Hoạt động dạy và học 1. Ổn định lớp. 2. Kiểm tra bài cũ – GV sử dụng “vòng quay”, một thiết kế trong power point để chọn ngẫu nhiên 1 HS lên bảng kiểm tra bài cũ. – GV sử dụng trò chơi “em tập làm thủ môn” để kiểm tra bài cũ. 3. Bài mới

33


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Hoạt động 1: Đặt vấn đề – GV sử dụng trò chơi “đuổi hình bắt chữ”, yêu cầu lần lượt HS gọi tên từng bức hình. HS trả lời được các câu hỏi, sẽ được một phần quà ở bên dưới. Các phần quà có thể là: một chiếc kẹo mút, một tràng pháo tay, một lời khen (“Em thật xuất sắc!”), một lời chúc (“Chúc em học giỏi và yêu thích môn địa lí”) Với 4 bức hình với nội dung: bão, hạn hán, cắt giảm khí thải và trồng rừng, GV đã giới thiệu được nội dung bài học: “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” Dùng kĩ thuật mảnh ghép, GV tạo ra 4 nhóm mới, tương ứng với 4 đội chơi. GV giới thiệu hình thức học theo các phần thi để HS chủ động trong quá trình học Hoạt động 2: Tìm hiểu bảo vệ môi trường 1. Mục tiêu – Nêu được nguyên nhân, biểu hiện của tình trạng mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường. – Phân tích được các tác nhân gây nên tình trạng mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường. – Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng liên hệ thực tế, tổng hợp kiến thức về vấn đề môi trường ở nước ta, kĩ năng hợp tác nhóm, giải quyết vấn đề. 2. Phương thức – Phương pháp đặt vấn đề, sử dụng trò chơi trong dạy học. 3. Tổ chức hoạt động Hoạt động của GV và HS

Nội dung chính

Vòng 1: Khởi động

1. Bảo vệ môi trường Có 2 vấn đề quan trọng:

Nội dung: Tìm hiểu về bảo vệ

– Tình trạng mất cân bằng sinh thái môi trường: gia tăng thiên tai và những bất thường về thời tiết, khí hậu

môi trường Phần thi thứ 1 - GV triển khai luật chơi

+ Có 6 câu hỏi. Mỗi đáp án đúng được 10 – Tình trạng ô nhiễm môi trường: ô nhiễm môi trường: nước, không khí, đất. điểm. + Sau 5 giây suy nghĩ, các đội giơ đáp án. + Chỉ được đưa tín hiệu trả lời sau khi đồng hồ bấm giờ thông báo hết giờ.

34


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

- Các nhóm tham gia thi. - GV đưa ra đáp án, chuẩn kiến thức. Phần thi thứ 2 - GV phổ biến luật chơi + Đại diện đội chơi cùng lên bảng viết các hoạt động có thể làm để bảo vệ tài nguyên và môi trường. Các thành viên khác của nhóm có thể bộ trợ, tiếp sức. Thời gian: 2 phút. + Sau 2 phút, số điểm của nhóm bằng số hoạt động đúng nhóm ghi được. - Các nhóm tham gia thi. - GV đưa ra đáp án, chuẩn kiến thức. Hoạt động 3: Tìm hiểu về một số loại thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống 1. Mục tiêu – Trình bày được nguyên nhân, hậu quả và biện pháp phòng chống một số loại thiên tai chủ yếu ở nước ta. – Rèn luyện kĩ năng liên hệ thực tế, sử dụng bản đồ, kĩ năng hợp tác nhóm. 2. Phương thức – Phương pháp đặt vấn đề, sử dụng trò chơi trong dạy học. 3. Tổ chức hoạt động. Hoạt động của GV và HS

Nội dung

Vòng 2: Vượt chướng ngại vật Nội dung: Tìm hiểu về một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống Phần thi 1 - GV triển khai luật chơi + Các nhóm thảo luận điền vào phiếu học tập.

35

2. Một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống (Chuẩn nội dung trong phần phụ lục)


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

+ Thời gian: 10 phút. + Tuỳ theo kết quả, các nhóm sẽ có điểm theo đánh giá của ban giám khảo, điểm tối đa là: 40 điểm. - Các nhóm tham gia thi - GV đưa ra đáp án, chuẩn kiến thức. Phần thi thứ 2 – GV phổ biến luật chơi Đại diện mỗi đội chơi lên lựa chọn câu hỏi, thảo luận với cả đội trong 2 phút rồi trả lời. Trả lời đúng được 10 điểm. – Nếu đội đang chơi trả lời chưa đúng, các đội còn lại được trả lời, trả lời đúng được 5 điểm. - Các nhóm tham gia thi. - GV đưa ra đáp án, chuẩn kiến thức. Hoạt động 4: Tìm hiểu về một số loại thiên tai khác và chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường 1. Mục tiêu – Trình bày được đặc điểm các thiên tai khác ở nước ta – Rèn luyện kĩ năng liên hệ thực tế, kĩ năng hợp tác nhóm 2. Phương thức – Phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học. 3. Tổ chức hoạt động Hoạt động của GV và HS

Nội dung

2. Một số thiên tai chủ yếu và biện Nội dung: Tìm hiểu về một số thiên tai pháp phòng chống khác và chiến lược quốc gia về bảo vệ tài e. Các thiên tai khác nguyên và môi trường. - Động đất diễn ra mạnh nhất ở khu vực Phần thi 1 Tây Bắc, rồi đến khu vực Đông Bắc, biểu hiện yếu ở Miền Trung và Nam Bộ. – GV triển khai luật chơi Vòng 3: Tăng tốc

+ Có 4 câu hỏi, tín hiệu trả lời bằng hình - Các loại thiên tai khác: thức phất cờ. Lốc, mưa đá, sương muối... + Đội đưa tín hiệu trước được trả lời trước, nếu sai các đội còn lại được quyền 36


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

3. Chiến lược quốc gia về bảo vệ TN và + Chỉ được đưa tín hiệu trả lời khi đọc hết MT. câu hỏi. Các nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi - Các nhóm tham gia thi trường.(SGK) - GV đưa ra đáp án, chuẩn kiến thức.

trả lời. Mỗi đáp án đúng được 10 điểm.

Phần thi thứ 2 – GV phổ biến luật chơi + Sau mỗi dữ kiện được lật mở, các nhóm sẽ phất cờ trả lời. Trả lời được ở dự kiện 1, được 20 điểm, dữ kiện 2 được 15 điểm, dữ kiện 3 được 10 điểm, dữ kiện 4 được 5 điểm - Các nhóm tham gia thi. - GV đưa ra đáp án, chuẩn kiến thức. Hoạt động 5: Luyện tập 1. Mục tiêu: Nhằm củng cố lại kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng trong bài học. 2. Phương thức: Phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học. 3. Tổ chức hoạt động: Vòng 4: Về đích Nội dung: Củng cố bài – GV triển khai luật chơi + Mở lần lượt các ô chữ chìa khoá. + Đội đưa tín hiệu trước được trả lời trước, nếu sai đội còn lại được quyền trả lời. Mỗi đáp án đúng được 10 điểm. + Trả lời được ô từ khoá được 30 điểm. - Các nhóm tham gia thi. - GV đưa ra đáp án ô chữ và sơ đồ tư duy để củng cố bài học. Hoạt động 6: Tổng kết – Vận dụng 1. Mục tiêu: - Nhận xét tinh thần và kết quả học tập của HS trong buổi học. - Giúp HS vận dụng và liên hệ kiến thức thực tế về việc bảo vệ tài nguyên môi trường và các loại thiên tai bị ảnh hưởng nơi địa phương nơi các em sinh sống. 37


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

2. Nội dung: - GV tổng kết điểm của các đội chơi, nhận xét tinh thần học tập của HS, trao thưởng cho các đội chơi. - GV hướng dẫn HS tự đặt vấn đề và liên hệ thực tế địa phương. GV có thể đưa ra một số lựa chọn như: Tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm môi trường tại địa phương, tìm hiểu các loại thiên tai nào có ở địa phương mình sinh sống. Phụ lục:

7.2.3. BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHI THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ 12 (PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN) 7.2.3.1. Thiết kế và sử dụng các loại trò chơi dạy học phù hợp Trong chương trình dạy học địa lí tự nhiên Việt Nam, người GV có thể sử dụng nhiều dạng trò chơi khác nhau. Tuy nhiên, để sử dụng trò chơi trong dạy học có hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn các loại trò chơi dạy học phù hợp và phải linh hoạt, khéo léo sử dụng nhiều loại trò chơi khác nhau để đạt được ý đồ dạy học của mình. Điều này đòi hỏi GV phải nắm vững tác dụng của mỗi loại trò chơi. Tùy theo mục đích của việc sử dụng trò chơi mà GV lựa chọn các loại trò chơi dạy học cho phù hợp. 7.2.3.2. Tăng cường sử dụng phương tiện, kĩ thuật dạy học hỗ trợ Trong lí luận dạy học hiện nay, chúng ta thường chia phương tiện dạy học gồm 2 loại là:

38


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Phương tiện dạy học thông thường như: ngôn ngữ, bảng phấn, sách giáo khoa, tài liệu học tập. Phương tiện kĩ thuật như: phương tiện nghe, nhìn, tổ hợp nghe nhìn, các dụng cụ, thiết bị, máy móc kĩ thuật thực hành, thực nghiệm, thí nghiệm, các phương tiện tương tác mạnh có tính năng sư phạm chung không bó hẹp ở từng môn học, đa chức năng (máy tính điện tử, các phần mềm dạy học trên máy vi tính, các phần mềm sử dụng trên mạng và bản thân các kiểu mạng truyền thông giáo dục) Trong dạy học môn địa lí, việc GV sử dụng trò chơi kết hợp với các phương tiện dạy học cần chú ý các vấn đề sau: Sử dụng trò chơi kết hợp với sử dụng máy chiếu Overhead, Projector đòi hỏi người GV cần phải biết được các yêu cầu cần thiết khi sử dụng loại phương tiện này. Sử dụng trò chơi với trình chiếu power point: GV phải sắp xếp trình tự trò chơi một cách logic trong bài học. Trong quá trình giảng dạy, đến lúc GV muốn tổ chức trò chơi cho HS thì cần phải thông báo nhiệm vụ cần giải quyết cho HS. Xây dựng các trò chơi phải có đáp án sẵn (nếu có thể minh họa bằng hình ảnh, lời giải thích...) điều này, giúp GV tiết kiệm thời gian không phải giảng giải nhiều mà HS vẫn nắm vấn đề một cách sâu sắc hơn. Khi đưa ra đáp án đúng, GV phải trình chiếu lên màn hình để tất cả HS có thể quan sát được. 7.2.3.3. Nâng cao năng lực của GV trong việc thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học địa lí Cần phải coi trọng việc bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức cho GV về tính tích cực của việc tổ chức trò chơi trong dạy học thông qua bộ môn địa lí bằng các chuyên đề, các lớp tập huấn, hội thảo, cuộc thi, đề tài... để tạo điều kiện cho GV có cơ hội giao lưu, học hỏi, mở rộng tầm nhìn, nâng cao năng lực chuyên môn, qua đó có thêm kinh nghiệm để xây dựng, thiết kế, tổ chức trò chơi học tập vào trong bộ môn mình một cách linh hoạt hơn. GV cần rèn luyện các kĩ năng tổ chức, quản lí trò chơi. Có thể nói việc điều khiển trò chơi là một nghệ thuật, vì trò chơi có sôi nổi, có hấp dẫn hay không , có phát huy tính tích cực học tập của HS hay không, không chỉ phụ thuộc vào nội dung của trò chơi mà còn phụ thộc vào cả người điều khiển trò chơi. Vì vậy, trong quá trình tổ chức trò chơi học tập cho HS, GV cần phải biết kết hợp giữa giọng nói, điệu bộ, cử chỉ,... một cách linh hoạt, có như vậy mới tạo cho người chơi cảm giác hồ hởi, phấn khởi, tham gia chơi nhiệt tình.

39


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Áp dụng trò chơi trong dạy học là điều không mới nhưng không phải GV nào cũng làm được. Việc thực hiện cũng có thể gặp khó khăn như HS thụ động, thiếu thiết bị để tham gia, kết nối mạng có sự cố. Vì thế, để thực hiện hiệu quả trò chơi rất cần sự nhiệt tình sáng tạo của người thầy. Người thầy lúc này là nhà sản xuất, nhà biên kịch, là người dẫn chương trình, người phán xử với rất nhiều “vai diễn” khác nhau. Chỉ có những ai đam mê, tâm huyết với nghề, có trách nhiệm với HS thì mới đảm nhận hoàn hảo “vai diễn” của mình dù có khó khăn đến mấy để môn học địa lí không còn tẻ nhạt và nhàm chán. 7.2.3.4. Nâng cao nhận thức, hành vi và thái độ tích cực cho HS khi thực hiện các trò chơi dạy học do GV đề ra Hoạt động học tập của HS với bản chất là hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo để hình thành phẩm chất năng lực của người học. GV cần hướng dẫn cho HS hiểu được mục đích, yêu cầu nội dung môn học cần phải đạt được để HS có thời gian chuẩn bị trước bài học của mình. Trong dạy học hiện đại, đòi hỏi HS phải phần nào tự mình tích lũy dữ kiện, tìm kiếm thông tin dựa vào kinh nghiệm cá nhân dưới sự hổ trợ của GV, nên khi tổ chức các trò chơi học tập GV cần yêu cầu HS tìm kiếm thông tin trên tài liệu, sách tham khảo, internet...để chuẩn bị lĩnh hội nội dung bài học nhanh chóng hơn. Trong quá trình tổ chức trò chơi học tập, GV cần phải đáp ứng thỏa mãn nhu cầu hứng thú của người chơi, phải coi HS là trung tâm, là chủ thể trong trò chơi. GV chỉ đóng vai trò là người tổ chức hướng dẫn là “điểm tựa”, là “thang đỡ” giúp người chơi trong những lúc thật cần thiết, để tạo điều kiện cho HS tham gia vào trò chơi một cách tự tin, mạnh dạn, giúp các em chú ý vào nội dung bài học một cách tự nhiên, không gượng ép, bắt buộc, khô cứng. Dạy học thông qua trò chơi học tập cũng là một trong những con đường giúp GV thực hiện được mục đích dạy học, giáo dục của mình. Trong trò chơi, GV cùng HS khám phá, cùng giải quyết, cùng đi đến những kết luận cụ thể. Điều này đã tạo cho HS hoạt động nhận thức tích cực trong khi chơi, vận dụng vốn kinh nghiệm kiến thức đã có vào hoàn cảnh mới, được thử sức mình trong các điều kiện khác nhau để hoàn thành nhiệm vụ mà trò chơi đặt ra. Với các trò chơi đa dạng và hấp dẩn, HS sẽ có hứng thú và đó cũng là động lực quan trọng để thúc đẩy tính tích cực nhận thức của HS. 7.3. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Để đánh giá hiệu quả của việc triển khai phương pháp trên, tôi thực hiện khảo sát theo hai hướng: khảo sát thái độ, nhận thức, hành vi của HS đối với việc sử dụng trò chơi học tập vào bài dạy của GV (qua phiếu thu thập ý kiến HS); đánh giá hiệu quả 40


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

giảng dạy sau khi áp dụng phương pháp (qua các bài kiểm tra, kết quả thi khảo sát chất lượng ôn thi THPTQG lần 1 của HS trong học kì I năm học 2018 – 2019) 7.3.1. Kết quả khảo sát thái độ, nhận thức, hành vi của HS đối với việc sử dụng trò chơi học tập vào bài dạy của GV Trong các hình thức tổ chức dạy học, sử dụng trò chơi cũng là một trong các phương tiện HS yêu thích. Bảng 2: Phân bố phần trăm ý kiến HS được nghiên cứu yêu thích nhất các hình thức tổ chức dạy học (%) Ý kiến

%

Sử dụng trò chơi trong quá trình học tập.

31,5

Dùng đồ dùng trực quan

5,5

Tổ chức ngoại khóa

20,9

Tổ chức đi thăm quan dã ngoại

42,1

Tổng số

100,0

Do trò chơi với các đặc trưng mới lạ, có tính chất thi đua nên có thể thấy hiệu quả trước tiên là tạo nên sự hứng thú, kích thích tư duy của HS, từ đó, giúp HS hiểu bài nhanh, nhớ bài lâu, không khí lớp học nhẹ nhàng, cho HS thêm yêu quê hương, đất nước. Bảng 3: Phân bố phần trăm lợi ích HS thấy lớn nhất khi GV sử dụng trò chơi trong học tập (%) Ý kiến

%

Tạo nên hứng thú, kích thích tư duy cho HS

30,1

Không khí lớp học nhẹ nhàng, giảm căng thẳng

20,7

Hiểu bài nhanh

11,2

Nhớ bài lâu

20,1

Hình thành những kĩ năng tốt (kĩ năng giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm,....)

17,9

Tổng số

100,0

Theo kết quả thăm dò ý kiến HS như trên, tôi thấy ý tưởng và việc áp dụng giảng dạy thực nghiệm của mình đã đạt được mục tiêu đề ra: tạo được hứng thú học tập cho HS. 7.3.2. Kết quả đánh giá hiệu quả giảng dạy sau khi áp dụng phương pháp Tôi chọn hai lớp HS có trình độ học lực gần như nhau để tiến hành dạy thực nghiệm. Cùng dạy bài 15 (bài “Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai”), đối với 41


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

mỗi lớp, tôi áp dụng hai phương pháp giảng dạy khác nhau: một lớp không sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học; một lớp thiết kế bài học theo một cuộc thi (đã trình bày cụ thể ở ví dụ minh họa). Kết thúc bài học, tôi cho HS làm bài kiểm tra 15 phút. Kết quả thu được như sau: Đối với lớp không được sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học: Tổng số HS

Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm trung bình

Điểm yếu kém

Số HS

%

Số HS

%

Số HS

%

Số HS

%

28

2

7,14

8

28,57

14

50

4

14,29

Đối với lớp được sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học: Tổng số HS 29

Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm trung bình

Điểm yếu kém

Số HS

%

Số HS

%

Số HS

%

Số HS

%

4

13,79

11

37,93

12

41,38

2

6,90

Sau khi thực hiện giảng dạy, HS ở lớp được dạy theo giáo án xây dựng bài dạy theo một cuộc thi đã chủ động, tích cực, hào hứng hơn trong quá trình học. Cùng với đó, HS có kết quả thi tốt hơn. Kết quả khảo sát chất lượng ôn thi THPTQG lần 1 năm học 2018 – 2019 do Sở GD và ĐT Vĩnh Phúc tổ chức, thứ bậc 13 trong toàn tỉnh về kết quả thi môn địa đã cho thấy hiệu quả bước đầu của việc áp dụng sáng kiến này. Sự hứng thú của HS đối với môn địa lí đã được ghi nhận không chỉ qua kết quả thăm dò ý kiến HS mà còn qua tỉ lệ HS lựa chọn môn địa lí để thi THPTQG. Có 75,68% HS khối 12 trường THPT Quang Hà (phân hiệu 2) lựa chọn môn địa để thi THPT Quốc gia. Mặc dù có các nguyên nhân khách quan (nề nếp học tập, vai trò của GV chủ nhiệm lớp, sức khỏe của HS tại thời điểm kiểm tra...) nhưng nhìn chung những kết quả trên phần nào đã cho thấy những hiệu quả bước đầu khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của tôi vào thực tế giảng dạy.

Hình 12: Sự hứng thú của HS trong giờ học sử dụng trò chơi 42


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

8. NHỮNG THÔNG TIN CẦN ĐƯỢC BẢO MẬT Sáng kiến kinh nghiệm này không có những thông tin cần được bảo mật. 9. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN * Đối với nhà trường: Thứ nhất: Thường xuyên tạo điều kiện cho đội ngũ GV phổ thông được tiếp cận với các phương hướng dạy học mới bằng cách mở các hội thảo, hội nghị... bàn về đổi mới hoạt động dạy học. Thứ hai: cần trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ giảng dạy: phòng học bộ môn, máy chiếu, máy tính, phông chiếu.... tạo điều kiện để thực hiện ý đồ của chương trình và SGK, đồng thời có cơ sở để cải tiến hoạt động dạy học theo hướng các phương pháp dạy học hiện đại. * Đối với GV: GV cần phải hiểu rõ về cách thiết kế và tổ chức trò chơi dạy học và vận dụng linh hoạt trong giảng dạy. GV phải tự trau dồi kiến thức cho bản thân từ các tài liệu tham khảo (sách tham khảo, tạp chí, mạng internet,... ) và các đợt tập huấn về dạy học tích cực. * Đối với HS: Cần chủ động, tích cực, có nhận thức đúng đắn về cách học địa lí để đạt hiệu quả tốt nhất, có các kĩ năng cần thiết để tham gia vào các trò chơi trong quá trình học. 10. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN CÓ THỂ THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 10.1. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN THEO Ý KIẾN TÁC GIẢ Phần địa lí tự nhiên (Địa lí 12 – Cơ bản) đề cập tới các nội dung về tự nhiên Việt Nam, là nội dung có nhiều phương tiện dạy học trực quan, có thể cho phép sử dụng nhiều trò chơi với nhiều mục đích khác nhau trong quá trình giảng dạy. Qua thực dạy, tôi nhận thấy HS đã chủ động, hứng thú hơn trong giờ học, hiệu quả học tập cao hơn và đã hình thành cho HS những năng lực cần thiết, thái độ sống tích cực, củng cố tình yêu quê hương, đất nước ở các em. Việc vận dụng thành công sáng kiến kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy phần địa lí tự nhiên Việt Nam (chương trình địa lí 12) là cơ sở để GV tiếp tục triển khai việc sử dụng trò chơi đối với nội dung các bài học khác, đồng thời giúp HS hứng thú với môn học, hình thành những năng lực để có thể chủ động, tự tin, sáng tạo, tích cực lĩnh hội tri thức mới ở các bài học tiếp theo.

43


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

10.2. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN CÓ THỂ THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN THEO Ý KIẾN CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN Thông qua bài học áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên, HS thấy hứng thú hơn đối với môn địa lí, kết quả học tập có tiến bộ, HS tích cực, chủ động trong giờ học. Các tiết dạy dự giờ được tác giả đưa vào sử dụng các trò chơi trong quá trình học cũng nhận được nhiều nhận xét tích cực từ đồng nghiệp. Đây là động lực, là cơ sở để GV chia sẻ kinh nghiệm, tiếp tục triển khai trong các năm học tiếp theo. 11. DANH SÁCH NHỮNG TỔ CHỨC/ CÁ NHÂN ĐÃ THAM GIA ÁP DỤNG THỬ HOẶC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN LẦN ĐẦU Số TT 1 1

Tên tổ chức/cá nhân Khối 12

Địa chỉ

Phạm vi/Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

Trường THPT Sử dụng trò chơi trong học tập phần nội Quang Hà (phân dung địa lí tự nhiên Việt Nam hiệu 2)

Lớp 12A2, Trường THPT Sử dụng trò chơi trong bài “Bảo vệ môi 12A4 Quang Hà (phân trường và phòng chống thiên tai” (Địa lí hiệu 2) 12– Cơ bản)

Bình Xuyên, ngày... tháng 2 năm 2019

Bình Xuyên, ngày 15 tháng 2 năm 2019

PHÓ HIỆU TRƯỞNG

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

Nguyễn Viết Ngọc

Nguyễn Phương Thảo

44


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

PHIẾU KHẢO SÁT NHẬN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI CỦA HỌC SINH LỚP 12 ĐỐI VỚI VIỆC GV SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ

A. THÔNG TIN NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN 1. Họ và tên HS: ........................................................................................ 2.Tuổi: ....................................................................................................... 3. Mức học lực trung bình năm học 2017 - 2018: ...................................... 4. Hạnh kiểm năm học 2017 - 2018: .......................................................... B. NHẬN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI VIỆC GV SỬ DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ TRONG BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ 1. Em yêu thích hình thức dạy học nào sau đây khi GV sử dụng trong giờ học? (xếp thứ tự ưu tiên từ thích nhất (1) đến giảm dần (2,3,4…) a. Sử dụng trò chơi trong quá trình học tập. b. Sử dụng đồ dùng trực quan (hình ảnh, bản đồ,…) c. Tổ chức ngoại khóa d. Đi thăm quan, dã ngoại 2. Em có yêu thích việc GV sử dụng trò chơi trong quá trình giảng bài không? a. Có b. Không 3. Nếu có thì lí do mà em yêu thích là gì? (xếp thứ tự ưu tiên từ thích nhất (1) đến giảm dần (2,3,4…) a. Không khí lớp nhẹ nhàng, giảm căng thẳng b. Hiểu bài nhanh c. Nhớ bài lâu d. Hình thành những kĩ năng tốt (kĩ năng giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm, ….) 4. Nếu không thì lí do tại sao? 45


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

................................................................................................................... ................................................................................................................... ................................................................................................................... 5. Trong giờ học, nếu GV không sử dụng bất cứ một phương tiện dạy học nào em sẽ cảm thấy? (Xếp theo thứ tự ưu tiên: em cho là quan trọng nhất (1) đến giảm dần ( 2,3,4)…) a. Giờ học nặng nề b. Thời gian trôi qua lâu c. Ngồi học không tập trung d. Hiểu bài mông lung e. Buồn ngủ f. Lười ghi bài g. Lớp học trầm 6. Trong giờ học, nếu GV sử dụng trò chơi phù hợp với bài học mà em thấy thích, em sẽ: (chọn thứ tự ưu tiên) a. Chú ý nghe giảng b. Thường xuyên phát biểu bài c. Không buồn ngủ và ngủ trong lớp d. Tìm đọc thêm tài liệu ngoài SGK e. Học bài cũ đồng thời đọc bài mới 7. Theo em, việc GV sử dụng trò chơi trong quá trình giảng dạy có mang lại hiệu quả không? a. Có b. Không 8. Nếu GV sử dụng trò chơi phù hợp với nội dung bài học, em sẽ thấy hiểu bài ở mức nào? a. Hiểu được kiến thức trong bài b. Không những hiểu bài mà còn giải thích được hiện tượng địa lí trong thực tế 46


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

c. Chỉ hiểu loáng thoáng d. Không hiểu gì 10. Để sử dụng phương tiện này hiệu quả hơn, theo em GV cần: ................................................................................................................... ................................................................................................................... ................................................................................................................... ................................................................................................................... ...................................................................................................................

47


Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

TƯ LIỆU THAM KHẢO 1.

Ths. Nguyễn Kim Chuyên, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp cơ sở, xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trong dạy học môn Giáo dục học ở Trường Đại học Đồng Tháp, tháng 6 năm 2002

2.

Nguyễn Thị Bích Hồng, Phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học, Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Số 54 năm 2014

3.

Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2003), Lí luận dạy học đại học, NXB Đại học Sư phạm.

4.

Vũ Minh Hồng (1980), Trò chơi học tập, NXB Giáo dục.

5.

Hoàng Thị Bích Thủy, Bùi Thị Kim Trúc, Gợi ý một số cách tạo hứng thú cho lời vào bài trong dạy học phân môn Tập đọc ở Tiểu học, tư liệu tham khảo số 25 – 2011

6.

Trang web: https://tailieu.vn; , https://23doc.vn; https://www. Youtube.com

48


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
sử dụng trò chơi trong dạy học địa lí 12 (phần địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú học tập by Dạy Kèm Quy Nhơn Official - Issuu