BÁO CÁO NGHIÊN CƯÚ, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
vectorstock.com/10212084
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection
SÁNG KIẾN SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM
Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
1 DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT THPT
Trung học phổ thông
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
DHDA
Dạy học dự án
PP
Phương pháp
KT
Kĩ thuật
CNTT
Công nghệ thông tin
SGK
Sách giáo khoa
2 DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH
Các nhóm đang tích cực làm việc
Các nhóm đang tích cực làm việc
3
Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp
Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp
4
Giáo viên nhận xét hoạt động nhóm và chốt kiến thức
Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp
5 Bảng đối chiếu kết quả giảng dạy với cùng 1 lớp học trước và sau khi sử dụng PP, KT dạy học tích cực với 2 bài học khác nhau Lớp
Sĩ số
Trước khi áp dụng
Sau khi áp dụng
Giỏi
Khá
Trb
Giỏi
Khá
Trb
12A1
43
5 (11,6%)
28 (65,1%)
10(23,3%)
18 (41,9%)
25 (58,1%)
12A4
40
3 (7,5%)
22 (55,0%)
15(37,5%)
12 (30,0%)
26 (65,0%)
2 (5,0%)
11A5
41
2 (4,9%)
23 (56,1%)
16(39,0%)
14 (34,1%)
22 (53,7%)
5(15,2%)
11A7
42
33 (78,6%)
19(21,4%)
10 (23,8%)
27 (64,3%)
5(11,9%)
10A3
46
31 (67,4%)
12(26,1%)
14 (30,4%)
30 (65,2%)
2 (4,4%)
10A8
45
24 (53,3%)
21(46,7%)
8 (17,8%)
29 (64,4%)
8(17,8%)
3 (6,5%)
Bảng đối chiếu kết quả giảng dạy với 2 lớp học có trình độ nhận thức tương đương nhau, được dạy cùng 1 bài học nhưng với 2 PP dạy học khác nhau là truyền thống và tích cực Lớp
Sĩ số
Dạy học truyền thống
Dạy học tích cực
Giỏi
Khá
Trb
Giỏi
Khá
Trb
12A3
44
7 (15,9%)
19 (43,2%)
18(40,9%)
18(40,9%)
23 (52,3%)
3(6,8%)
12A4
40
6 (15,0%)
20 (50,0%)
14(35,0%)
16(40,0%)
19 (47,5%)
5(12,5%)
11A6
44
4 (9,0%)
21 (47,7%)
19(43,3%)
11(25,0%)
28 (63,6%)
5(11,4%)
11A7
42
3 (7,1%)
17 (40,5%)
22(52,4%)
11(26,2%)
25 (59,5%)
6(14,3%)
10A9
45
1 (2,2%)
18 (40,0%)
26(57,8%)
9(20,0%)
26 (57,8%)
10(22,2%)
10A8
45
1 (2,2%)
20 (44,4%)
24(53,4%)
11(24,4%)
25 (55,6%)
9(20,0%)
6 MỤC LỤC STT
Nội dung
Trang
1. Đặt vấn đề: 1
1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
7
2
1.2. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
9
2. Nội dung sáng kiến: 3
2.1. Thực trạng tình hình vấn đề
10
4
2.2. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
17
5
2.3. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
19
6
3. Hiệu quả mang lại:
41
7
4. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
43
8
5. Tài liệu tham khảo
44
9
6. Phụ lục
45
7 Tên sáng kiến: Sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Địa lí Trung học phổ thông. Tác giả: Phan Đức Tráng Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn Đơn vị: Trường THPT Lạng Giang số 3 1. Đặt vấn đề: 1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay thế giới đang diễn ra xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau để cùng phát triển, điều đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động của các nước. Yêu cầu hiện nay đối với người lao động là trình độ, năng lực hành động, khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời và các kỹ năng mềm khác.... Điều đó đã đặt áp lực lớn đối với nền giáo dục nhân loại là đào tạo ra những thế hệ người lao động đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hộ hiện đại. Nền giáo dục nước ta cũng không nằm ngoài quy luật của sự phát triển đó. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996), đuợc thể chế hoá trong Luật Giáo dục (12 - 1990), được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là Chỉ thị số 15 (4/1999). Điều 24.2 của Luật Giáo dục đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh". Gần đây nhất việc đổi mới nền giáo dục, được thể hiện ở Nghị quyết 29NQ/TW năm 2013 đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kì mới. Giáo dục đã chuyển từ việc
8 người thầy là trung tâm sang người học là trung tâm, chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học…. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết này thì cần phải làm nhiều việc như thay đổi sách giáo khoa, chuẩn bị các đồ dùng dạy học…và 1 trong những việc quan trọng là sử dụng những phương pháp dạy học tích cực trong các giờ dạy để thay đổi phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước rất quyết tâm để tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành công bước đầu. Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta áp dụng rộng rãi và phổ biến các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào các giờ dạy nhằm tạo được hứng thú và hiệu quả trong giảng dạy. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực và qua việc dự giờ các đồng nghiệp trong trường, trong huyện tôi thấy còn nhiều giáo viên chưa hiểu rõ ưu nhược điểm và cách sử dụng của từng phương pháp, kĩ thuật một cách rõ ràng, nhuần nhuyễn và hiệu quả. Việc sử dụng còn chưa được linh hoạt, lúng túng trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Chưa biết lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với mỗi đơn vị kiến thức nên chưa đem lại hiệu quả cao nhất đối với đơn vị kiến thức đó nếu sử dụng phương pháp và kĩ thuật khác. Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn viết sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Địa lí THPT”. Sáng kiến này nói về ưu nhược điểm và cách thức sử dụng
9 hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực được tôi sử dụng trong năm học 2018-2019 và 2019-2020 và mong muốn sáng kiến sẽ trở thành tài liệu tham khảo của giáo viên Địa lí nói riêng và giáo viên các môn học khác nói chung, nhằm góp phần nhỏ bé của mình để thực hiện thắng lợi Nghị quyết 29NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. 1.2. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
Hiện nay, việc áp dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy còn hạn chế. Nguyên nhân là do một số giáo viên vẫn còn có quan điểm cho rằng những kỹ thuật dạy học tích cực rất khó áp dụng vào giảng dạy trong thời gian 45 phút trên lớp nên cũng rất ít sử dụng các kỹ thuật này. Ngoài ra còn do cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học còn hạn chế. Đời sống một bộ phận cán bộ giáo viên còn nhiều khó khăn nên chưa đầu tư thỏa đáng vào việc đổi mới phương pháp kỹ thuật dạy học. Việc giáo viên sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực mặc dù không còn là điều xa lạ nhưng việc sử dụng mới dừng lại ở việc có sử dụng để cho thấy là có thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Chủ đề của sáng kiến này cũng đã có nhiều GV khác thực hiện nhưng tôi thấy vẫn chưa đầy đủ, cụ thể, chưa có hướng dẫn rõ ràng, chưa có những ví dụ cụ thể cho người xem dễ dàng học tập và thực hiện. Sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Địa lí THPT” của tôi đưa ra cụ thể những ưu nhược điểm, cách thức sử dụng và những lưu ý khi sử dụng của từng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; có những ví dụ cụ thể cho mỗi đơn vị kiến thức và cho toàn bộ bài giảng để sử dụng sao cho hiệu quả. Sáng kiến còn có những bài soạn minh họa, trong đó có ghi rõ cách thức sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực gồm có cả thời lượng dạy, cách thức tổ chức và áp dụng, cách xử lý những tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách giải quyết. Có kết quả đối chiếu giữa những khối lớp sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và sử dụng phương pháp dạy học truyền thống để đưa ra những kết luận chính xác nhất. Có những khái quát lại cho mỗi phương
10 pháp, kĩ thuật dạy học này phù hợp với đơn vị kiến thức nào (Khởi động, tìm kiến thức mới, củng cố hay mở rộng), loại bài học nào (bài mới, bài thực hành hay bài ôn tập). Có những lưu ý trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực cho giáo viên Địa lí nói riêng và các giáo viên khác nói chung thực hiện giảng dạy một cách hiệu quả. 2. Nội dung sáng kiến: 2.1. Thực trạng tình hình vấn đề
Mặc dù ngành giáo dục đang tiến hành đổi mới nhưng phần đông giáo viên vẫn ngại thay đổi, vẫn chưa tìm hiểu sâu về các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để sử dụng, nên việc sử dụng vẫn chưa đem lại hiệu quả cao, mặc dù các giáo viên đều biết dạy học tích cực tốt hơn dạy học truyền thống. Bảng so sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học tích cực DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG
DẠY HỌC TÍCH CỰC
Giáo viên là trung tâm
Định hướng học sinh/kiến tạo Phương pháp
- Các phương pháp truyền thụ và thông Giờ học là sự phối hợp hành động của báo chiếm ưu thế, trong đó bao gồm người dạy và người học và trong việc định hướng mục đích học tập và kiểm lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá giờ tra
dạy
- Các phương pháp nặng về định hướng hiệu quả truyền đạt Người học Người học có vai trò bị động, do bên Người học có vai trò tích cực và tự ngoài điểu khiển và kiểm tra
điều khiển Người dạy
Người dạy trình bày và giải thích nội Người dạy có nhiệm vụ đưa ra các tình dung mới cũng như chỉ đạo và kiểm tra huống có vấn đề và chỉ dẫn các công các bước học tập
cụ để giải quyết vấn đề. Giáo viên là người tư vấn
11 Quá trình học Học là một quá trình thụ động, việc Học là quá trình kiến tạo tích cực, quá học được tiến hành tuyến tính và hệ trình học được tiến hành trong các chủ thống
đề phức hợp và theo tình huống. Kết quả học tập là quá trình kiến tạo phụ thuộc cá nhân và tình huống cụ thể không nhìn thấy được Quá trình dạy
Quá trình dạy là quá trình chuyển tải Việc dạy được tiến hành với ý nghĩa tri thức từ người dạy sang người học, gợi ý, hỗ trợ và tư vấn cho người học. cuối quá trình, người học lĩnh hội nội Tính lặp lại các phương pháp dạy học dung học tập theo phương thức đã đã sử dụng bị hạn chế được lập kế hoạch và xác định trước. Quá trình dạy có thể lặp lại Đánh giá Kết quả học tập được đo và dự báo với Quá trình học là đối tượng đánh giá nhiều phương pháp khác nhau. Dạy nhiều hơn là kết quả học tập. Học sinh học và đánh giá là hai thành phần khác cần được tham gia vào quá trình đánh nhau của quá trình dạy học
giá
Chú trọng khả năng tái hiện chính xác Chú trọng việc ứng dụng tri thức trong tri thức
các tình huống hành động
Hiện nay việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực chưa được giáo viên sử dụng rộng rãi ở hầu hết các tiết học mà cơ bản mới dừng lại ở các giờ thao giảng hay dự thi giáo viên giỏi, tất cả giáo viên đều nỗ lực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, kết quả là có người thành công và có người chưa thành công như mong muốn. Trên thực tế, khảo sát và điều tra xã hội học cho thấy tỷ lệ giáo viên thực hiện được yêu cầu này ở các trường chưa phải là nhiều. Vậy thực chất, họ đang gặp những khó khăn gì?
12 + Khó khăn trước tiên là tâm lý ngại thay đổi các phương pháp truyền thống đã có từ trước đối với đa số giáo viên. + Tâm lý bày vẽ ra thì mất thời gian, công sức trong khi dạy như cũ vẫn không sao đối với 1 số lượng lớn giáo viên. + Chỉ có 45 phút mà làm hết phương pháp này đến phương pháp kia thì sao đủ thời gian cộng thêm lại phải đầu tư tài liệu, phương tiện như tranh ảnh, sơ đồ, bút dạ, giấy A0…gây tốn kém. + Cơ sở vật chất trường lớp chưa cho phép, sĩ số lớp đông sẽ khó tổ chức và quản lý khi học sinh thực hiện các hoạt động nhóm. + Phải soạn lại giáo án hoặc bài giảng sẽ mất thời gian hoặc có giáo viên muốn dạy phương pháp tích cực nhưng chưa biết soạn và dạy như thế nào nên xảy ra tình trạng cứ cho thảo luận nhóm lấy 1 phần nào đấy trong bài hoặc dùng máy chiếu trình chiếu bài giảng lên cho học sinh…trong giờ có người dự để được ghi nhận là có đổi mới phương pháp dạy học. + Giáo viên nói học sinh không thích phương pháp dạy học tích cực của giáo viên vì phải làm việc nhiều nên học sinh thích giáo viên đọc chép hơn vì không phải làm gì trong giờ học. Một thực tế nữa xảy ra đối với cấp quản lý là mặc dù đã thực hiện và có quy định đổi mới phương pháp dạy học nhưng việc kiểm tra, giám sát thường xuyên thì không diễn ra một cách liên tục nên làm cho giáo viên cũng không thực hiện việc đổi mới dạy học liên tục trong các giờ dạy của mình. Chỉ khi có những cuộc phát động thi đua hội giảng chào mừng những ngày lễ lớn (20/11, 22/12, 8/3, 26/3, 30/4) hoặc hội thi giáo viên giỏi thì giáo viên mới đầu tư vào bài soạn vào tư liệu, phương tiện dạy học để thực hiện các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. Để có cái nhìn chính xác về thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực của giáo viên, học sinh nhà trường, tôi đã tiến hành điều tra bằng 02 mẫu phiếu sau:
13 Mẫu phiếu 01: Điều tra việc sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đối với giáo viên Họ và tên giáo viên:……………………………………Năm sinh……………… Môn dạy……..………..Trường:………………………………………………… Thầy/cô đã sử dụng và mức độ sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nào trong các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực dưới đây, đánh dấu X vào những ô tương ứng. STT
Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT) dạy học tích cực
Mức độ Thường Thỉnh Chưa xuyên thoảng bao giờ
1 2 3
PP gợi mở, vấn đáp PP nêu và giải quyết vấn đề PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản đồ, Atlat 4 PP dạy học dự án 5 PP dạy học nhóm 6 PP dạy học đóng vai 7 PP dạy học bằng bản đồ tư duy 8 PP dạy học trực quan 9 KT “khăn trải bàn” 10 KT mảnh ghép 11 KT dạy học XYZ 12 KT hỏi chuyên gia 13 KT 3 lần 3 14 KT dạy học KWL 15 KT tổ chức trò chơi 16 KT động não 17 KT ổ bi 18 KT bể cá 19 KT tia chớp 20 KT chia sẻ nhóm đôi Thầy/cô còn sử dụng những PP, KT dạy học tích cực nào khác:………………… ……………………………………………………………………………………. Thầy/cô có thấy sự cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào bài học không? Vì sao? ……………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………….
14 Để sử dụng được các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy, thầy/cô cần phải làm gì? …………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… Sau khi tiến hành lấy phiếu điều tra từ 74 thầy cô giáo trường THPT Lạng Giang số 3, tôi thu được kết quả như sau: STT
Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT) dạy học tích cực
Mức độ Thường
Thỉnh
Chưa bao
xuyên
thoảng
giờ
1
PP gợi mở, vấn đáp
40 (54,1%) 34 (45,9%)
2
PP nêu và giải quyết vấn đề
16 (21,6%) 58 (78,4%)
3
PP hướng dẫn học khai thác lược đồ,
17 (23,0%) 57 (77,0%)
bản đồ, Atlat 4
PP dạy học dự án
2
(2,7%)
72 (97,3%)
5
PP dạy học nhóm
70 (94,6%)
6
PP dạy học đóng vai
3
(4,1%) 71 (95,9%)
7
PP dạy học bằng bản đồ tư duy
3
(4,1%) 71 (95,9%)
8
PP dạy học trực quan
20 (27,0%)
9
KT “khăn trải bàn”
14 (18,9%) 60 (81,1%)
10
KT mảnh ghép
10 (13,5%) 64 (86,5%)
11
KT dạy học XYZ (635)
8
(10,8%)
66 (89,2%)
12
KT hỏi chuyên gia
2
(2,7%)
72 (97,3%)
13
KT 3 lần 3
11 (14,9%) 63 (85,1%)
14
KT dạy học KWL
10 (13,5%) 64 (86,5%)
15
KT tổ chức trò chơi
15 (20,3%) 59 (79,7%)
16
KT động não
3
(4,1%) 71 (95,9%)
17
KT ổ bi
1
(1,4%)
18
KT bể cá
2
(2,7%) 72 (97,3%)
19
KT tia chớp
6
(8,1%) 68 (91,9%)
20
KT chia sẻ nhóm đôi
23 (31,1%) 51 (68,9%)
4
(5,4%)
54 (73,0%)
73 (98,6%)
Thầy/cô còn sử dụng PP, KT dạy học tích cực nào khác: Kết quả là 74/74 thầy cô không sử dụng phương pháp, kĩ thuật khác.
15 Thầy/cô có thấy sự cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào bài học không? Vì sao? Trả lời: - Có 20/74 giáo viên thấy cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào bài học. - Có 54/74 giáo viên thấy không cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào bài học. => Điều đó cho thấy giáo viên thực sự chưa quyết tâm đổi mới mình, đổi mới ngành và đa số vẫn giữ phương pháp dạy học truyền thống là truyền thụ kiến thức cho người học. Mẫu phiếu 02: Điều tra về sự hứng thú, hiệu quả bài học của học sinh khi tham gia những giờ học có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Họ và tên học sinh: ……………………………………… Lớp:………………... Môn học:………………… Trường:……………………………………………... Các em hãy đánh dấu X vào những ô tương ứng thể hiện mức độ hứng thú của mình đối với những giờ học sau: STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17
Giờ học có sử dụng Bài giảng điện tử PP gợi mở, vấn đáp PP nêu và giải quyết vấn đề PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản đồ, Atlat PP dạy học dự án PP dạy học nhóm PP dạy học đóng vai PP dạy học bằng bản đồ tư duy PP dạy học trực quan KT “khăn trải bàn” KT mảnh ghép KT hỏi chuyên gia KT 3 lần 3 KT dạy học KWL KT tổ chức trò chơi KT động não KT tia chớp
Rất hứng thú
Mức độ Hứng Không thú hứng thú
16 Các em đánh giá như thế nào về mức độ hiểu bài của mình sau các giờ dạy có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực ở trên (Rất hiểu bài, hiểu bài, còn mơ hồ):……………………………………………………………………….. Sau khi tiến hành lấy phiếu điều tra đối với 300/1400 em học sinh ở 3 khối lớp, tôi thu được kết quả như sau: STT
Giờ học có sử dụng
Mức độ Rất hứng thú
1
Bài giảng điện tử
215
(71,7%)
2
PP gợi mở, vấn đáp
156
(52%)
3
PP nêu và giải quyết vấn đề
101
(33,7%)
4
PP hướng dẫn học khai thác lược
123
(41%)
Hứng thú 56
Không hứng thú
(18,7%)
29
(9,6%)
110 (36,7%)
34
(11,3%)
120
(40%)
79
(26,3%)
92
(30,7%)
85
(28,3%)
15
(5%)
đồ, bản đồ, Atlat 5
PP dạy học dự án
6
PP dạy học nhóm
198
(66%)
71
(23,7%)
31
(10,3%)
7
PP dạy học đóng vai
221
(73,7%)
74
(24,7%)
5
(1,6%)
8
PP dạy học bằng bản đồ tư duy
151
(50,3%)
88
(29,3%)
61
(20,4%)
9
PP dạy học trực quan
179
(59,7%)
101 (33,7%)
20
(6,6%)
10
KT “khăn trải bàn”
188
(62,7%)
98
(32,7%)
14
(4,6%)
11
KT mảnh ghép
143
(47,7%)
132
(44%)
25
(8,3%)
12
KT hỏi chuyên gia
65
(21,7%)
98
(32,7%)
137
(45,6%)
13
KT 3 lần 3
101
(33,7%)
103 (34,3%)
96
(32%)
14
KT dạy học KWL
146
(48,7%)
115 (38,3%)
39
(13%)
15
KT tổ chức trò chơi
236
(78,7%)
60
(20%)
4
(1,3%)
16
KT động não
76
(25,3%)
128 (42,3%)
96
(42,4%)
17
KT tia chớp
98
(32,7%)
132
70
(23,3%)
(44%)
285
(95%)
Các em đánh giá như thế nào về mức độ hiểu bài của mình sau các giờ dạy có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực ở trên (Rất hiểu bài, hiểu bài, còn mơ hồ), kết quả là:
+ Rất hiểu bài: 142/300, tỷ lệ 47,3% + Hiểu bài: 135/300, tỷ lệ 45,0% + Còn mơ hồ: 23/300, tỷ lệ 7,7%
=> Điều đó cho thấy đa số các em đều rất hứng thú và hứng thú với các bài học có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, thích được hoạt động,
17 được làm việc và đa số các em đều rất hiểu bài do trong quá trình học tập, các em được làm việc, được tìm ra kiến thức, được trao đổi thảo luận với nhau nên ghi nhớ được nhanh hơn, nhiều hơn. 2.2. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Để lựa chọn được chủ đề của sáng kiến kinh nghiệm này, trước tiên tôi phải xác định những nội dung, công việc chính của Ngành trong giai đoạn hiện nay để sáng kiến có tính mới và tính sáng tạo. Việc này là quan trọng vì khi lựa chọn được chủ đề của sáng kiến hợp lý sẽ mang tính thời sự và được nhiều thầy cô giáo cùng quan tâm đóng góp ý kiến cũng như chia sẻ giúp sáng kiến có sức sống lâu dài hơn. Khi lựa chọn được nội dung của sáng kiến tôi đi tiến hành điều tra khảo sát từ giáo viên bằng mẫu phiếu 01 và học sinh bằng mẫu phiếu 02 để thấy được những khó khăn, vướng mắc, mâu thuẫn, bất hợp lý, bất cập... trong quá trình sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. Việc này rất quan trọng vì từ kết quả thu được và từ thực tiễn giảng dạy ở trường THPT Lạng Giang số 3 sẽ đưa ra những thay đổi, những cải tiến trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực sao cho hiệu quả hơn vào thực tế nhà trường. Điều đó cũng sẽ giúp cho sáng kiến kinh nghiệm của tôi có ý nghĩa, có tác dụng và có giá trị sử dụng cao hơn trong thực tiễn, sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các thầy cô giáo muốn làm mới mình, muốn đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực. Việc điều tra khảo sát này có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp tôi có cái nhìn tổng quan nhất và thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong nhà trường, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của người dạy và người học, tìm ra những vướng mắc của cả người dạy và người học từ đó đưa ra những cách giải quyết hoặc những cải tiến giúp người dạy và người học xích gần lại nhau hơn. Khi đã biết được thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong đại đa số giáo viên trong nhà trường, tôi đã tiến hành hội thảo với giáo viên tổ Sử - Địa – GDCD, tổ Ngữ Văn để có cái nhìn chính xác hơn, nghe được những tâm sự, chia sẻ thật lòng hơn từ những đồng nghiệp của mình đối
18 với việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. Tôi đánh giá việc này rất quan trọng vì khi trao đổi trực tiếp cùng các đồng nghiệp tôi nhận thấy được những khó khăn họ đang mắc phải, những trở ngại họ đang gặp và cũng được nhận được những kinh nghiệm rút ra từ chính những giáo viên này sau khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong mỗi giờ dạy để những lần sử dụng sau hiệu quả hơn. Từ đó tôi đã tổng hợp được những trở ngại, khó khăn chính mà giáo viên mắc phải trong khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và những giải pháp cơ bản để khắc phục những khó khăn mà giáo viên đang mắc phải. Sau khi hội thảo với giáo viên của 2 tổ Sử - Địa – GDCD và Ngữ văn, tôi đã tiến hành cùng soạn bài và dạy thử nghiệm với cô giáo Phan Thị Thanh Hà (môn Địa lí), cô Ngô Quỳnh Trang (môn Địa lí) và cô Nguyễn Thị Vân (môn Địa lí). Sau giờ dạy, chúng tôi lại cùng nhau đánh giá, rút kinh nghiệm xem giáo án soạn đã hợp lý chưa, phương pháp, kĩ thuật dạy học đã phù hợp chưa, trong tiết học thì học sinh được làm gì, thu được gì và cần thay đổi gì để tiết dạy sau soạn bài, sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp và hiệu quả hơn. Quá trình dạy thử nghiệm được diễn ra nhiều lần, cứ sau mỗi lần dạy lại cùng đánh giá rút kinh nghiệm, đưa ra phương thức soạn bài và sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học hiệu quả nhất đối với bài học đó thì thôi. Việc dạy thử nghiệm này là cực kì quan trọng vì nó giúp cho tôi trực tiếp biết được những khó khăn của giáo viên khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và trực tiếp tìm ra những giải pháp khắc phục những khó khăn đó cho sát với thực tiễn giảng dạy và hiệu quả hơn. Việc làm này có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của sáng kiến vì nó là quá trình thử nghiệm thực tế để đưa ra những kết luận mang tính khái quát cao, làm cơ sở vững chắc để áp dụng sáng kiến vào thực tiễn và phổ biến được rộng rãi. Ngoài ra trong suốt quá trình làm sáng kiến kinh nghiệm này tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp toán
19 học, phương pháp hỏi chuyên gia… Những phương pháp này kết hợp với những phương pháp tôi đã trình bày ở trên đã hỗ trợ cho nhau và cho tôi làm bản sáng kiến kinh nghiệm một cách hoàn thiện nhất. 2.3. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực 2.3.1. Các phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực, hay phương pháp giáo dục chủ động, phương pháp sư phạm hiện đại … là những cách gọi để chỉ những phương pháp, cách thức đề cao chủ thể nhận thức, chủ yếu phát huy tính tự giác, nhiệt tình chủ động của người học, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, người học được tham gia làm việc, được sáng tạo … giải quyết các vấn đề phù hợp với khả năng hiểu biết của mình, đề xuất ý kiến, tự nguyện trình bày hay tham gia tranh luận trước tập thể và người dạy. Thực chất phương pháp dạy học tích cực là hướng tới khả năng chủ động, sáng tạo của người học chứ không phải hướng tới việc phát huy tính tích cực của người dạy. Người thầy đóng vai trò là người hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, độc lập suy nghĩ thông qua việc thảo luận, thí nghiệm, thực hành, thâm nhập thực tế theo mục tiêu, nội dung của bài học, người thầy là người tổng hợp hoạt động, ý kiến của người học để xây dựng nội dung bài học. a. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề * Đặc trưng của phương pháp Là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt động, đặt ra và giải quyết các vấn đề. Hạt nhân của phương pháp này là một (hoặc một chuỗi) bài toán nhận thức, chứa đựng mâu thuẫn giữa cái cho và cái tìm. Khi mâu thuẫn của bài toán nêu vấn đề được học sinh tự giác chấp nhận như một nhu cầu bên trong, bức thiết phải giải quyết bằng được thì lúc đó học sinh được đặt trong tình huống có vấn đề. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh (hướng dẫn và điều khiển) học sinh tích cực, tự lực giải quyết vấn đề, đi đến những kết luận cần thiết. Phương pháp này có hiệu quả hay không trước hết phụ thuộc chủ yếu vào việc liệu giáo viên có cấu tạo thành công các bài toán nêu vấn đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề hay không.
20 Sau đây là một số cách thức cơ bản thiết kế mâu thuẫn của bài toán nêu vấn đề: + Tình huống nghịch lí: Nghịch lí là cái gì vô lí, trái với lẽ thông thường được mọi người công nhận, một điều gì không bình thường so với cách hiểu cũ của học sinh và đôi khi ban đầu thoạt nghe, tưởng chừng như vô lí làm học sinh ngạc nhiên. Ví dụ: “Vì sao Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ưu thế hơn Đồng bằng sông Hồng về sản xuất lúa nhưng năng suất lúa lại đứng sau Đồng bằng sông Hồng”
+ Tình huống khó khăn, bế tắc: Giữa cái đã biết và cái chưa biết cần phải khám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thức khoa học đã có và vốn kiến thức thực tiễn đa dạng. Ví dụ: "Khoảng cách về phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các nước đứng đầu về kinh tế ở ASEAN ngày càng lớn. Liệu có thể rút ngắn và và tiến tới xóa bỏ khoảng cách này không?".
+ Tình huống lựa chọn. Ví dụ: "Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, thu được nhiều lợi nhuận nhưng môi trường bị ô nhiễm và phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng chậm, nhưng liên tục và ổn định, môi trường không ô nhiễm và phá hoại. Trong hai định hướng trên, lựa chọn nào là thích hợp hơn cả, vì sao?".
+ Tình huống tại sao hay nhân quả. Đó là trường hợp đi tìm nguyên nhân của một kết quả, bản chất của một hiện tượng, nguồn gốc – quy luật của một hiện tượng, động cơ sâu xa của một hành vi. Ví dụ: “Vì sao Đồng bằng sông Hồng có năng suất lúa lớn nhất nước ta?”
* Tiến trình sử dụng phương pháp Việc tổ chức cho học sinh nhận thức và giải quyết vấn đề bao gồm các bước cơ bản sau đây: Bước 1. Đặt vấn đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề Bước 2. Giải quyết vấn đề
+ Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra + Thu thập và xử lí thông tin theo hướng các giả thuyết đã đề xuất Bước 3. Kết luận
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết + Phát biểu kết luận + Đề xuất vấn đề mới
21 Phương pháp này được dùng cho tất cả các bài học, từ dạy bài mới cho đến ôn tập, củng cố và được sử dụng rất linh hoạt từ nêu và giải quyết các vấn đề lớn đến nêu và giải quyết các vấn đề nhỏ hơn trong đó. b. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác bản đồ, lược đồ, Atlat Địa lí Bản đồ là một phương tiện dạy học đặc trưng của môn Địa lí. Bản đồ với ngôn ngữ đặc biệt của mình được coi như một hệ thống truyền đạt thông tin bằng cách mã hoá những thông tin cần truyền tải trong các hệ thống kí hiệu, màu sắc, chữ viết, con số. Với dạng mã hóa thông tin này, bản đồ có rất nhiều khả năng trong dạy học và được coi là cuốn sách giáo khoa thứ 2, được dùng để dạy và để học, để trả lời hầu hết các câu hỏi Địa lí. Kĩ năng khai thác bản đồ nói chung và Atlat Địa lí Việt Nam nói riêng là kĩ năng cơ bản của môn Địa lí. Nếu không nắm vững kĩ năng này thì khó có thể hiểu và giải thích được các sự vật, hiện tượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tự mình tìm tòi các kiến thức Địa lí khác. Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng làm việc với bản đồ, lược đồ, Atlat là không thể thiếu khi học môn Địa lí. - Khi làm việc với bản đồ, Atlat Địa lí, cần phải: + Hiểu hệ thống kí hiệu bản đồ + Nhận biết, chỉ và đọc được tên các đối tượng địa lí trên bản đồ. + Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thước, hình thái và vị trí các đối tượng địa lí trên lãnh thổ. + Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ. + Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ. + Xác định các mối quan hệ tương hỗ và nhân - quả thể hiện trên bản đồ. + Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế). Phương pháp này được dùng cho rất nhiều bài học từ dạy bài mới cho đến ôn tập nếu có sử dụng đến bản đồ, Atlat và chỉ trừ những bài không có bản đồ, Atlat để sử dụng thì sẽ không dùng được. Ví dụ: Dạy bài 16 - Địa lí 12. Đặt câu hỏi là dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 15, em hãy nhận xát sự phân bố dân cư nước ta và giải thích?
22 c. Phương pháp dạy học dự án * Khái niệm dự án và dạy học theo dự án Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, phải tạo ra các sản phẩm để thể giới thiệu, trình bày. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học dự án. * Công việc của giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong tiến trình thực hiện một dự án Giáo viên
Học sinh Giai đoạn 1: Chuẩn bị
(Trước khi thực hiện dự án. Thời gian chuẩn bị có thể từ 1 - 2 tuần) - Xác định đối tượng tiến hành dự án + Số lượng, năng lực HS
- Học sinh tìm hiểu cách thức và phương pháp học theo dự án.
+ Điều kiện CSVC tại trường
+ Biết được DHDA là gì?
+ Nội dung bài học sẽ tiến hành DA
+ Em sẽ làm những công việc gì khi học
- Xác định mục tiêu học tập
tập theo Phương pháp này?
+ DA cần đạt chuẩn nội dung nào?
- Tự xác định nhu cầu, khả năng và sở thích
+ Nhắm đến những kỹ năng nào?
của bản thân.
+ Sản phẩm cần đạt được là gì? - Xây dựng ý tưởng dự án
+ Em có những năng lực nền tảng nào? + Em có những kỹ năng làm việc nhóm nào?
+ Từ nội dung bài học
+ Em muốn là ai trong xã hội?
+ Từ hình hình thực tế xã hội
+ Em muốn được đánh giá kết quả học tập
+ Từ khả năng và nhu cầu HS - Xây dựng bộ câu hỏi định hướng của dự án
như thế nào? - Đọc SGK và tìm hiểu thông tin liên quan
+ Câu hỏi khái quát
đến nội dung bài học.
+ Câu hỏi bài học
- Xây dựng nhóm học tập
+ Câu hỏi nội dung - Xây dựng lịch trình đánh giá + Đánh giá thành phần, xuyên suốt dự án
+ Cùng sở thích, cùng mối quan tâm, có thể hỗ trợ nhau… + Phải có nhóm trưởng, người có khả
23 + Đánh giá tổng thể cuối dự án - Xây dựng kế hoạch triển khai dự án (thời
năng trình bày tốt, thư ký… + Tham khảo ý kiến và tiêu chí lập nhóm
gian, công việc của GV, HS, phối hợp với ai, của GV những công cụ hỗ trợ,..)
+ Cung cấp thông tin nhóm và thông tin
+ Trước khi bắt đầu dự án
cá nhân cho GV
+ Trong quá trình thực hiện dự án
- Tiếp cận với các trang web giáo viên giới
+ Sau khi kết thúc dự án
thiệu
- Xây dựng kế hoạch hỗ trợ học sinh làm sản phẩm - Tiếp cận với các công cụ trên Internet và các + Tìm kiếm thông tin, địa chỉ trang web phần mềm mới như làm phim, trình chiếu đa phương tiện…
và chia sẻ với HS + Lấy thông tin liên lạc của HS + Trao đổi ý kiến và chia sẻ với HS qua Zalo, Mail,…chung của nhóm, lớp.
Giai đoạn 2: Tiến hành (Bắt đầu dự án. Tiết 1: Giới thiệu dự án) - Tìm hiểu nhu cầu học sinh (bảng khảo sát)
- Thực hiện bảng khảo sát nhu cầu
+ HS đã có những kiến thức gì liên quan đến vấn đề bài học sẽ làm dự án? + HS có những kỹ năng gì về làm việc nhóm và CNTT?
- Đưa ra ý tưởng cho dự án
+ HS có ý tưởng gì cho dự án? - Triển khai dự án đến học sinh
- Tham gia vào các vai diễn nếu GV yêu cầu
+ Giới thiệu dự án: kịch, bài trình chiếu, để giới thiệu dự án một đoạn phim… nhằm kích thích các em qua một tình huống có vấn đề. + Phân vai và giao nhiệm vụ cho HS (HS - Nhận nhiệm vụ và hình thành ý tưởng cho xung phong hoặc chỉ định dựa trên năng lực sản phẩm. mỗi nhóm)
- Xây dựng kế hoạch làm sản phẩm, phân
- Ra các bài tập nhỏ nhằm hỗ trợ cho việc công nhiệm vụ cho từng thành viên trong thực hiện dự án.
nhóm.
- Giải quyết từ từ bộ câu hỏi định hướng.
- Làm bài tập và tìm hiểu thông tin từ nhiều
(nên đi từ câu hỏi nội dung - bài học - khái quát) nguồn để giải quyết các câu hỏi trong Bộ câu - Hỗ trợ học sinh làm sản phẩm (tiêu chí đánh hỏi định hướng. giá, bảng kiểm mục cho từng SP…)
24 - Theo dõi và đánh giá tiến độ làm việc của - Thường xuyên thông báo và trao đổi tiến độ học sinh.
công việc với GV thông qua zalo, email…
- Thu các bài tập nhỏ, các bài tập cá nhân
- Nộp các bài tập, biên bản hợp nhóm, kế
- Thu thập sản phẩm của HS để lên kế hoạch hoạch làm sản phẩm của nhóm cho buổi báo cáo sản phẩm.
- Nộp sản phẩm cuối cùng. Giai đoạn 3: Đánh giá
(Tiết 2-3. Thời gian có thể linh động tùy vào số lượng sản phẩm của học sinh) - Tổ chức báo cáo sản phẩm HS
- Từng nhóm trình bày SP (5-7’)
+ Điều hành thứ tự và thời gian báo cáo - Các nhóm còn lại đặt câu hỏi và nêu ý kiến của các nhóm
góp ý cho SP. (3-5’)
+ Đặt câu hỏi cho nhóm báo cáo - Tổ chức đánh giá sản phẩm
- Các nhóm cho điểm vào bảng kiểm mục và
+ Phát phiếu đánh giá, bảng kiểm mục bảng tiêu chí đánh giá. cho HS + Đánh giá sản phẩm từng nhóm
- Làm bài kiểm tra
- Tổ chức kiểm tra kiến thức + Phát bài kiểm tra trắc nghiệm đã chuẩn bị trước + Thu bài đúng thời gian quy định - Khảo sát ý kiến HS
- Làm phiếu khảo sát ý kiến
- Công bố kết quả điểm, khen thưởng - Rút kinh nghiệm
Dạy học dự án thường dùng cho những chuyên đề, chủ đề học tập lớn cần thời gian dài (giải quyết trong khoảng 3 tiết học trở lên). Ví dụ như chủ đề địa lí dân cư Việt Nam - Địa lí 12, gồm có 3 bài với thời lượng 3 tiết. GV sẽ dùng dạy học dự án để có đủ thời gian từ giao nhiệm vụ, tiến hành dự án và đánh giá dự án của HS. HS cũng có đủ thời gian để chuẩn bị, d. Phương pháp dạy học nhóm * Khái niệm:
Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước cả lớp.
25 Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ. Dạy học nhóm không phải một phương pháp dạy học cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học. Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 -6 học sinh. Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung. Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới. Ở mức độ cao, có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnh vực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những học sinh khác ở dạng bài giảng. * Các cách thành lập nhóm
Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Dưới đây là 10 cách thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau: - Các nhóm gồm những người tự nguyện, cùng chung mối quan tâm + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho HS tự nguyện lập nhóm theo ý thích của mình. + Ưu điểm: Đối với HS thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất. + Nhược điểm: Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất. - Các nhóm ngẫu nhiên + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho HS đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu sắc,....những HS giống nhau sẽ vào 1 nhóm. + Ưu điểm: Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất cả các HS đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các HS khác. + Nhược điểm: Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao. HS phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lập nhóm như vậy là bình thường. - Nhóm ghép hình
26 + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài liệu cần xử lý. HS được phát các mẩu xé nhỏ, những HS ghép thành bức tranh hoặc tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm. + Ưu điểm: Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch. + Nhược điểm: Cần một ít chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm. - Các nhóm với những đặc điểm chung + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV đưa ra 1 đặc điểm chung, những HS nào có đặc điểm đó thì vào 1 nhóm. Ví dụ tất cả những HS cùng sinh ra trong mùa đông, mùa xuân, mùa hè hoặc mùa thu sẽ tạo thành nhóm. + Ưu điểm: Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và HS có thể biết nhau rõ hơn. + Nhược điểm: Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên. - Các nhóm cố định trong một thời gian dài + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV chia các nhóm được duy trì trong một số tuần hoặc một số tháng. Các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng. + Ưu điểm: Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm học tập có nhiều vấn đề. + Nhược điểm: Sau khi đã quen nhau một thời gian dài thì việc lập các nhóm mới sẽ khó khăn. - Nhóm có HS khá để hỗ trợ HS yếu + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho những HS khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các HS yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm của người hướng dẫn. + Ưu điểm: Tất cả HS đều được lợi. Những HS giỏi đảm nhận trách nhiệm là người hướng dẫn, những HS yếu được giúp đỡ để tiến bộ. + Nhược điểm: Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm, trừ khi những HS giỏi hướng dẫn sai. - Nhóm theo năng lực học tập khác nhau + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV cho những HS yếu hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những HS đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm những bài tập nâng cao.
27 + Ưu điểm: HS có thể tự xác định mục đích học tập của mình. Ví dụ những HS yếu thì chỉ tập trung làm những bài tập cơ bản còn những HS khá giỏi thì tập trung làm những bài tập nâng cao. + Nhược điểm: Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy bị chia thành những HS thông minh và những HS kém. - Nhóm theo các dạng học tập + Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tình huống. Những HS thích học tập với hình ảnh, âm thanh hoặc biểu tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng. + Ưu điểm: HS sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào? + Nhược điểm: HS chỉ học những gì mình thích và bỏ qua những nội dung khác. - Nhóm với các bài tập khác nhau + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV chia việc cho từng nhóm cụ thể. Ví dụ, trong khuôn khổ một dự án, một số HS sẽ khảo sát một xí nghiệp, một số khác khảo sát một cơ sở chăm sóc xã hội… + Ưu điểm: Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với những gì đặc biệt quan tâm. + Nhược điểm: Thường chỉ có thể được áp dụng trong khuôn khổ một dự án lớn. - Nhóm HS nam và nữ + Thực hiện phân nhóm bằng cách GV xếp những HS nam vào 1 nhóm, nữ vào 1 nhóm. + Ưu điểm: Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề đặc trưng cho con trai và con gái. Ví dụ trong giảng dạy về dân số, giới tính, tình dục, chủ đề lựa chọn nghề nghiệp,... + Nhược điểm: Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng nam nữ. * Tiến trình dạy học nhóm
Bước 1: Nhập đề và giao nhiệm vụ gồm: Giới thiệu chủ đề, Xác định nhiệm vụ các nhóm và thành lập các nhóm. Bước 2: Làm việc nhóm gồm: Chuẩn bị chỗ làm việc, Lập kế hoạch làm việc, Thỏa thuận quy tắc làm việc, Tiến hành giải quyết nhiệm vụ và chuẩn bị báo cáo kết quả. Bước 3: Trình bày kết quả và đánh giá: Các nhóm trình bày, nhóm khác và giáo viên đánh giá.
28 Phương pháp này được dùng cho tất cả các bài học và hay dùng cho các bài học mới, thảo luận nhóm cùng thống nhất để tìm ra kiến thức mới. Ví dụ: Địa 10 – Bài 9: Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái đất, GV chia lớp làm 6 nhóm tìm hiểu quá trình phong hóa: Nhóm 1, 2 tìm hiểu quá trình phong hóa lí học; Nhóm 3, 4 tìm hiểu quá trình phong hóa hóa học; Nhóm 5, 6 tìm hiểu quá trình phong hóa sinh học. e. Phương pháp đóng vai * Đặc điểm của phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành làm thử một số cách ứng xử trong một tình huống đạo đức hoặc pháp luật giả định. Phương pháp đóng vai có thể thực hiện dưới dạng hoạt cảnh tình huống để giới thiệu bài. Phương pháp đóng vai cũng có thể xây dựng thành tiểu phẩm để củng cố bài học. Nghĩa là ở mỗi phần của bài học chúng ta đều có thể sử dụng phương pháp đóng vai tuỳ theo nội dung và mục đích của bài dạy. * Tác dụng của phương pháp đóng vai
Khi sử dụng phương pháp đóng vai trong bộ môn sẽ có những tác dụng sau: - Phương pháp đóng vai gây được hứng thú và sự chú ý cho người học. - Rèn cho học sinh tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước đông người. - Đóng vai giúp học sinh thực hành những kĩ năng trong môi trường an
toàn, được giám sát trước khi xảy ra các tình huống thực. - Đóng vai khích lệ thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng
định trước. HS có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn. - Phương pháp đóng vai buộc giáo viên và học sinh phải dành thời gian để
chuẩn bị bài trên lớp, điều đó sẽ nâng cao được hiệu quả giờ dạy, học bộ môn. * Các bước tiến hành:
Để phương pháp đóng vai thực sự có hiệu quả GV cần tiến hành theo các bước: Bước 1. Giáo viên giới thiệu tình huống vào cuối tiết học tuần trước để học
sinh các tổ nhóm xây dựng kịch bản và phân công sắm vai. Bước 2. Thể hiện kịch bản (tình huống)
29 Bước 3. Học sinh nhận xét rút ra bài học. Bước 4: Giáo viên nhận xét đánh giá
Ví dụ: Địa 12 – Bài 31: Vấn đề phát triển thương mại, du lịch. Mục 2 Du lịch, GV cho HS đóng vai người hướng dẫn viên du lịch để giới thiệu về tài nguyên du lịch, các điểm, trung tâm du lịch của nước ta, sự phát triển của ngành du lịch nước ta trong thời gian qua. g. Phương pháp Bản đồ Tư duy Xuất phát từ thực tế của bản thân khi còn là một học sinh trung học, học giả người Anh, Tony Buzan đã nghiên cứu và giới thiệu Bản đồ Tư duy (Mind map) vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX. Đây không chỉ đơn thuần là một công cụ ghi chép hoàn chỉnh mà là một phương pháp tư duy nhằm nâng cao khả năng tiếp nhận, ghi nhớ thông tin và kích thích khả năng sáng tạo của con người. Bản đồ Tư duy là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, khai thác “sức mạnh” của màu sắc, hình ảnh, ngôn từ chắt lọc, súc tích, nhằm kích thích khả năng sáng tạo vô tận của con người thông qua mạng lưới ý tưởng có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Để thành lập Bản đồ Tư duy, chúng ta cần một tờ giấy, một số cây bút và một bộ não chịu hoạt động. Bản đồ Tư duy hoạt động theo cơ chế liên tưởng của bộ não. Nếu não lười biếng không chịu suy nghĩ thì Bản đồ tư duy cũng không được hình thành. Dưới đây là 7 bước thành lập Bản đồ Tư duy do Tony Buzan giới thiệu. Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm của tờ giấy Bước 2: Dùng một hình ảnh hay bức tranh cho ý tưởng trung tâm Bước 3: Luôn sử dụng màu sắc. Bước 4: Nối các nhánh chính đến hình ảnh trung tâm và nối các nhánh
cấp 2, cấp 3...với nhánh cấp 1, cấp 2...để tạo ra sự liên kết. Bước 5: Vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng Bước 6: Sử dụng một từ khoá trong mỗi dòng Bước 7: Dùng những hình ảnh xuyên suốt
30
Bản đồ tư duy vvề khu vực Tây Nam Á – Bài 5 – Địa lí 11 Sử dụng Bản đồ T Tư duy góp phần rèn luyện phương ng pháp học h tập hiệu quả cho học sinh. Bởi Bản ản đồ Tư duy chính là công cụ tư duy, là phương ph pháp khai thác tối đa năng lực ực củ của não bộ, đặc biệt là năng lực sáng tạo, ạo, từ t đó xóa bỏ dần lối học gạo, học vẹt. Bản đồ Tư duy giúp hhọc sinh học tập tích cực, chủ động.. Trong quá trình thành lập thành lập Bản ản đồ Tư duy, học sinh phải độc lập p suy nghĩ, nghĩ rà soát kiến thức, liên tưởng, ng, phân tích, khái quát hóa để phát hiện mối liên hệệ bản chất của sự vật, hiện tượng và phản ản ánh m mối liên hệ đó lên bản đồ thông qua hệ h thống ký tự, hình ảnh, màu sắc của ủa cá nhân mà m không chịu sự gòò ép theo khuôn mẫu m của giáo viên. Phương ng pháp này còn c phát huy tối đa tính sáng tạo và phản ph ánh đậm nét cá tính của họcc sinh thông qua trí ttưởng tượng, óc thẩm mỹ, ỹ, năng nă khiếu hội họa cũng như góp phần ần cá th thể hóa quá trình đào tạo.
31 Bản đồ Tư duy giúp học sinh ghi chép và ghi nhớ thông tin hiệu quả hơn. Bản đồ Tư duy với hình ảnh, màu sắc sinh động đã xóa đi sự nhàm chán, đơn điệu và buồn tẻ của phương pháp ghi bài truyền thống theo dòng kẻ như những hình chữ nhật làm đóng khung tư duy và sự sáng tạo của bạn. Với những hiệu quả trên, phương pháp Bản đồ tư duy đã và sẽ góp phần quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hướng tới dạy học lấy học sinh làm trung tâm và quá trình cá thể hóa người học. Đồng thời, Bản đồ tư duy còn là phương pháp giúp học sinh tăng cường khả năng tự học, nhằm thực hiện mục tiêu biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo và học tập suốt đời của con người. Bản đồ tư duy có thể được sử dụng trong học tập môn địa lí như sau: - Sử dụng Bản đồ Tư duy trong phương pháp thảo luận nhóm.
Đối với phương pháp thảo luận nhóm, thay vì phát phiếu học tập và hoàn thành phiếu học tập như thông thường, giáo viên có thể yêu cầu các nhóm trình bày kết quả thảo luận nhóm với nội dung giáo viên đã giao thông qua các Bản đồ Tư duy. Hiển nhiên, mỗi bản đồ tư duy đó không chỉ phản ánh thái độ nghiêm túc, tích cực của cả nhóm trong việc khai thác, lĩnh hội kiến thức giống như một phiếu học tập mà còn in đậm tinh thần đoàn kết cũng như sự hợp tác ăn ý giữa các thành viên trong nhóm đồng thời vẫn thể hiện được màu sắc cá nhân của mỗi học sinh. Học sinh không chỉ được khám phá kiến thức mới mà còn được sáng tạo và khẳng định bản thân, được thuyết trình, học hỏi những cách thể hiện vấn đề theo những góc cạnh khác nhau và được bảo vệ ý tưởng, chính kiến của mình. - Sử dụng Bản đồ Tư duy trong phương pháp động não
Ở một góc độ nào đó, bản chất của phương pháp động não chính là bản đồ tư duy cả về nội dung và hình thức. Phương pháp động não được sử dụng khá phổ biến trong dạy học Địa lý nhằm phát huy tính sáng tạo, tập trung cao độ và rèn luyện khả năng phản ứng nhanh nhạy của người học. Giáo viên đưa ra một vấn đề có tính tình huống và yêu cầu học sinh giải quyết trong thời gian ngắn và theo hình thức “tiếp sức”. Các học sinh sẽ lần lượt “bật” ra ý tưởng càng nhanh
32 càng tốt, cho đến khi thời gian kết thúc. Khi đó, vấn đề có tính tình huống giáo viên tung ra được thể hiện ở trung tâm của Bản đồ Tư duy thông qua một bức tranh hay hình ảnh đồ họa. Mỗi ý tưởng của học sinh là một phân nhánh cấp 1. Kết thúc cuộc chơi, ta sẽ có một Bản đồ Tư duy đồ sộ là tập hợp sức mạnh tư duy của cả tập thể, đồng thời kích thích sự tham gia, hứng thú và nhiệt tình của tất cả người học trên tinh thần tôn trọng và học hỏi. - Sử dụng bản đồ tư duy trong củng cố kiến thức, ôn tập
Việc sử dụng Bản đồ tư duy để hệ thống hóa kiến thức về bản chất cũng giống như việc xây dựng sơ đồ, đều phát triển các nhánh theo cấu trúc của vấn đề. Tuy nhiên, ở Bản đồ tư duy hệ thống kênh chữ sẽ được súc tích hơn nữa, màu sắc cũng được sử dụng linh hoạt và phát huy hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, Bản đồ Tư duy còn sử dụng hệ thống các hình ảnh xuyên suốt để gây ấn tượng và tăng cường khả năng ghi nhớ của học sinh. - Ứng dụng bản đồ tư duy trong kiểm tra, đánh giá. Việc kiểm tra bằng bản đồ tư duy là một hình thức kiểm tra toàn diện. Thông qua đó, giáo viên không chỉ đánh giá được kiến thức của học sinh, khả năng ghi nhớ, sự chuyên cần học tập. Hơn thế nữa, nó còn cho phép giáo viên đánh giá được năng lực tư duy khoa học, tính logic, trí tưởng tượng, óc thẩm mỹ và sáng tạo của học sinh. Chính vì điều đó, sự phản hồi của học sinh thông qua bản đồ tư duy có giá trị hơn rất nhiều so với phương pháp kiểm tra tự luận và trắc nghiệm khách quan. Như vậy, bản đồ tư duy có thể được ứng dụng rộng rãi trong dạy học Địa lý tại Trường THPT nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của học sinh, hướng tới dạy học lấy người học làm trung tâm. Trên hết, bản đồ tư duy rèn luyện cho học sinh phương pháp tư duy tích cực, một nhân tố quan trọng giúp học sinh hoàn thiện phương pháp tự học nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo và học tập suốt đời. Phương pháp này rất phù hợp và hiệu quả cho những bài ôn tập nhằm mục đích khái quát, tái hiện lại những kiến thức đã được học một cách có trật tự.
33 Ví dụ: Địa 12 – Bài 11, 12: Thiên nhiên phân hóa đa dạng. Sau khi HS học xong bài này, GV yêu cầu HS củng cố lại bài bằng bản đồ tư duy để giờ sau GV kiểm tra. Ngoài các phương pháp dạy học tích cực ở trên thì còn rất nhiều các phương pháp dạy học tích cực khác như: Phương pháp dạy học hợp tác, dạy học theo góc, bàn tay nặn bột…Tùy theo kiến thức bài học, cơ sở vật chất trường lớp và năng lực của GV mà GV lựa chọn cho mình phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả nhất. Điều quan trọng là GV phải nắm rõ được bản chất, cách thức sử dụng của mỗi phương pháp dạy học. 2.3.2. Các kĩ thuật dạy học tích cực
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS. a. Kĩ thuật “Khăn trải bàn” * Khái niệm Kĩ thuật "khăn trải bàn" là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của người học và phát triển mô hình có sự tương tác giữa người học với người học. * Dụng cụ: Bút và giấy khổ lớn cho mỗi nhóm. * Thực hiện: Giáo viên chia nhóm, phân công nhóm trưởng, thư ký và giao dụng cụ. Giáo viên giao vấn đề, từng thành viên viết ý kiến của mình vào góc của tờ giấy. Nhóm trưởng và thư ký tổng hợp các ý kiến, đánh giá và lựa chọn những ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy.
34
Kĩ thuật này được dùng cho tất cả các bài học, rất phù hợp cho những bài học mới với những đơn vị kiến thức nhỏ, cần có sự trao đổi giữa các cá nhân với nhau để đưa ra kiến thức chuẩn. Ví dụ: Địa 11 – Bài 6: Hợp chúng quốc Hoa Kì. Mục II. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên của Hoa Kì. GV chia lớp làm 6 nhóm: Nhóm 1, 2 tìm hiểu và vùng phía Tây; Nhóm 3, 4 tìm hiểu về vùng phía Đông; Nhóm 5, 6 tìm hiểu về vùng Trung tâm. GV yêu cầu HS sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để hoàn thiện nội dung kiến thức của nhóm. b. Kĩ thuật mảnh ghép * Khái niệm Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của học sinh, nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác. (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2). * Thực hiện: Giáo viên giao việc cho từng nhóm. Các nhóm tiến hành thảo luận và rút ra kết quả, đảm bảo từng thành viên của nhóm đều có khả năng trình bày kết quả của nhóm.
35 Mỗi nhóm được tách ra và hình thành nhóm mới, sao cho mỗi nhóm mới sẽ có ít nhất 1 thành viên của các nhóm cũ, nhóm mới được thành lập theo sơ đồ.
Từng thành viên của nhóm mới lần lượt trình bày kết quả thảo luận của mình. * Lưu ý: Đảm bảo ở bước thảo luận đầu tiên, mọi thành viên đều có khả năng trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước khi tiến hành tách nhóm. Các chủ đề thảo luận cần được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính độc lập với nhau. * Ưu điểm: Đào sâu kiến thức trong từng lĩnh vực. Phát huy hiểu biết của học sinh và giải quyết những hiểu sai. Phát triển tinh thần làm việc theo nhóm. Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân. * Hạn chế: Kết quả thảo luận phụ thuộc vào vòng thảo luận thứ nhất, nếu vòng thảo luận này không có chất lượng thì cả hoạt động sẽ không có hiệu quả. Nếu số lượng thành viên không được tính toán kỹ sẽ dẫn đến tình trạng nhóm thừa người, nhóm thiếu người. Không sử dụng được cho các nội dung thảo luận có mối quan hệ ràng buộc “nhân – quả” với nhau. Phù hợp cho những bài mới có kiến thức cơ bản độc lập giữa các mục với nhau, như vậy các nhóm sẽ làm việc độc lập không bị phụ thuộc vào nhau và mới có thể trình bày lại cho nhau nghe được.
36 Ví dụ: Địa 11 – Bài 9: Các ngành kinh tế và các vùng kinh tế của Nhật Bản. GV sử dụng kĩ thuật mảnh ghép để tìm hiểu các ngành kinh tế của Nhật. GV chia lớp làm 6 nhóm, mỗi nhóm 6 người: Nhóm 1, 2 tìm hiểu ngành công nghiệp; Nhóm 3, 4 tìm hiểu ngành nông nghiệp; Nhóm 5, 6 tìm hiểu ngành Dịch vụ. Sau khi các nhóm tìm hiểu xong thì GV hình thành 6 nhóm mới với điều kiện là mỗi nhóm mới sẽ có 6 HS, trong đó có 2 em tìm hiểu được ngành công nghiệp, 2 em tìm hiểu được ngành nông nghiệp và 2 em tìm hiểu được ngành dịch vụ ở nhóm cũ để các em hỗ trợ nhau hoàn thiện việc tìm hiểu về các ngành kinh tế cho nhau. c. Kĩ thuật XYZ (còn gọi là kĩ thuật 635) * Khái niệm: Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật làm việc nhóm nhằm phát huy tính tích cực của mỗi thành viên trong nhóm, trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra Y ý kiến trong khoảng Z thời gian. Mô hình thông thường mỗi nhóm có 6 thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra 3 ý kiến trong khoảng thời gian 5 phút, do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635. * Thực hiện: Giáo viên chia nhóm, giao chủ đề cho nhóm, quy định số lượng ý tưởng và thời gian theo đúng quy tắc XYZ. Các thành viên trình bày ý kiến của mình, hoặc gửi ý kiến về cho thư ký tổng hợp, sau đó tiến hành đánh giá và lựa chọn. * Lưu ý: Số lượng thành viên trong nhóm nên tuân thủ đúng quy tắc để tạo tính tương đồng về thời gian, giáo viên quy định thời gian và theo dõi thời gian cụ thể. * Ưu điểm: Có yêu cầu cụ thể nên buộc các thành viên đều phải làm việc. * Hạn chế: Cần dành nhiều thời gian cho hoạt động nhóm, nhất là quá trình tổng hợp ý kiến và đánh giá ý kiến.
37 Phù hợp với những bài học mới, những đơn vị kiến thức cần sự sáng tạo cao, phát huy năng lực tư duy sáng tạo và nhanh nhẹn của mỗi cá nhân HS. Ví dụ: Địa 12 – Bài 17: Lao động và việc làm. Để tìm hiểu mục 3 vấn đề việc làm và hướng giải quyết việc làm. GV chia lớp làm 6 nhóm, mỗi nhóm có 6 HS và trong thời gian 5 phút phải đưa ra được 3 hướng giải quyết việc làm đối với người lao động hiện nay. Sau 5 phút thì nhóm trưởng và thư ký sẽ tổng hợp lại các ý kiến trên cơ sở không trùng nhau thành ý kiến của nhóm. d. Kĩ thuật hỏi chuyên gia: Kĩ thuật này giúp học sinh rèn một số kĩ năng như: đảm nhận trách nhiệm, xử lí thông tin, tư duy sáng tạo, thể hiện tự tin, giao tiếp, tìm kiếm sự hỗ trợ… Học sinh xung phong hoặc giáo viên phân công HS tạo thành nhóm chuyên gia theo chủ đề nhất định. Nhóm chuyên gia nghiên cứu tài liệu, thảo luận về chủ đề mình được phân công để trả lời các bạn trong lớp. Nhóm chuyên gia ngồi lên phía trên và trưởng nhóm sẽ điều khiển các bạn trong lớp đặt câu hỏi cho các chuyên gia. Trong trường hợp không giải đáp được, các chuyên gia có thể tìm đến sự hỗ trợ của giáo viên. Kĩ thuật này phù hợp với những bài mới có kiến thức không quá nhiều, quá hàn lâm, kiến thức gần gũi với thực tế cuộc sống, đủ để các chuyên gia hiểu và trả lời được cho các bạn còn lại trong lớp. Những tiết ôn tập sử dụng kĩ thuật này cũng rất hay do các chuyên gia đã được học, hiểu sâu lượng kiến thức đó từ các tiết học trước rồi và bây giờ sẽ trả lời được cụ thể cho các bạn trong lớp. Ví dụ: Địa 10 – Bài 13: Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển. GV sử dụng kĩ thuật hỏi chuyên gia để dạy, GV thành lập nhóm chuyên gia từ tiết học trước, tiết học này sẽ mời nhóm chuyên gia lên làm việc, lớp trưởng sẽ dẫn chương trình và tổng hợp lại các câu hỏi của các bạn trong lớp cho nhóm chuyên gia. Nhóm chuyên gia sẽ trả lời, nếu trả lời chưa thỏa đáng thì lại tiếp tục hỏi chuyên gia (GV), lúc này chuyên gia cao nhất chính là GV.
38 e. Kĩ thuật “3 lần 3” * Khái niệm Kĩ thuật “3 lần 3” là một kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của học sinh. * Thực hiện - Học sinh được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó. - Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt, 3 điều chưa tốt, 3 đề nghị cải tiến. - Sau khi thu thập ý kiến thì xử lí và thảo luận về các ý kiến phản hồi. * Lưu ý Trong giảng dạy Địa lý, kĩ thuật này thường được sử dụng đối với các vấn đề nêu ưu điểm, nhược điểm hoặc đánh giá thuận lợi, khó khăn của một nguồn lực nào đó trong phát triển kinh tế - xã hội…nêu nguyên nhân, kết quả và biện pháp khắc phục cho một sự vật hiện tượng địa lí nào đó. Ví dụ: Địa 12 – Bài 17: Lao động và việc làm. GV yêu cầu mỗi học sinh nêu lên 3 mặt mạnh, 3 hạn chế và 3 giải pháp để sử dụng hợp lý nguồn lao động của nước ta hiện nay. Địa 12 – Bải 15: Bảo vệ môi trường phòng chống thiên tai. GV yêu cầu HS nêu 3 đặc điểm, 3 hậu quả và 3 biện pháp khắc phục đối với bão. g. Kĩ thuật KWL * Khái niệm Là sơ đồ liên hệ các kiến thức đã biết liên quan đến bài học, các kiến thức muốn biết và các kiến thức học được sau bài học, trong đó: + K (Know) - những điều đã biết. + W (Want to Know) - Những điều muốn biết. + L (Learned) - những điều đã được học. * Cách tiến hành: Sau khi giới thiệu bài học, mục tiêu cần đạt của bài học, giáo viên phát phiếu học tập KWL. Kĩ thuật này có thể thực hiện cho cá nhân hoặc cho nhóm học sinh.
39 Ví dụ: Học sinh điền các thông tin trên phiếu như sau: Tên bài học:……………………………………………………………… Tên học sinh:……………………….Lớp:…………… Trường:………… K
W
(Những điều đã biết) (Những điều muốn biết) …………………….
L (Những điều đã học được sau bài học)
………………………… ……………………………………………….
Yêu cầu học sinh viết vào cột K những gì đã biết liên quan đến nội dung bài học hoặc chủ đề. Sau đó viết vào cột W những gì các em muốn biết về nội dung bài học hoặc chủ đề. Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, học sinh điền vào cột L của phiếu những gì vừa học được. Lúc này, học sinh xác nhận về những điều các em đã học được qua bài học đối chiếu với điều muốn biết, đã biết để đánh giá được kết quả học tập, sự tiến bộ của mình qua giờ học. * Tác dụng của việc sử dụng sơ đồ KWL Sử dụng sơ đồ này sẽ giúp cho học sinh xác định nhiệm vụ, động cơ, ý thức, tự giác học tập, biết đánh giá nhìn lại quá trình học tập của mình và tự điều chỉnh cách học. Ví dụ: Sau bài học, học sinh thấy khó khăn khi điền kết quả thu được vào cột “Điều đã học được” có nghĩa là chưa hiểu bài. Việc chưa hiểu bài có thể do chưa thực sự tập trung chú ý hoặc chưa tham gia tích cực vào hoạt động học tập. Điều đó sẽ giúp cho học sinh tự điều chỉnh hoặc cần nghiên cứu lại tài liệu hay cần đề nghị giáo viên hỗ trợ để bổ sung những kiến thức còn thiếu, chưa hiểu hoặc hiểu chưa rõ. Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động này sau khi học sinh điền những điều đã học được, giáo viên nên tổ chức cho học sinh nhận xét chéo kết quả của nhau, của cá nhân hoặc nhóm, sau đó giáo giáo viên đưa ra ý kiến của mình về kết quả học tập của học sinh, đồng thời qua đó giáo viên cũng đánh giá được kết quả giờ dạy của mình để điều chỉnh cách dạy. Như vậy kiến thức được hình thành ở học sinh chắc chắn, bền vững. Kết quả học tập sẽ được nâng cao khi cả người học và người dạy đều nhìn lại quá trình thông qua kết quả học tập ngay sau mỗi nội dung/hoạt động/bài học mà không phải chờ đợi đến giờ kiểm tra học sinh mới nhìn thấy kết quả của mình, giáo viên mới đánh giá được
40 kết quả học tập của học sinh và cách dạy của mình. Kĩ thuật này phù hợp với những bài học mới nhưng kiến thức có sự liên kết với 1 trong số những bài học trước (thậm chí ở các lớp dưới) để từ đó HS mới biết được mình đã biết gì, muốn biết gì thêm và biết thêm được gì sau bài học. Ví dụ: Địa 12 – Bài 26: Cơ cấu ngành công nghiệp. GV sử dụng kĩ thuật KWL để dạy. GV đưa phiếu điều tra từ tiết học trước để HS ghi những điều đã biết, những điều muốn biết vào trong phiếu và thu lại ở tiết học sau. GV tiến hành dạy và khi kết thúc bài học thì lại phát phiếu để học sinh ghi những điều đã học được sau bài học, sau đó GV thu lại. Trên cơ sở phiếu đó GV sẽ đánh giá được quá trình dạy của GV, học của HS để đưa ra phương pháp và kĩ thuật dạy học hiệu quả hơn, HS cũng điều chỉnh được cách học của mình. h. Kĩ thuật tổ chức Trò chơi (Game show) * Lưu ý Chọn trò chơi phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường; Xác định phạm vi, mục đích kỹ năng cần rèn luyện cho HS; Tổ chức, biên soạn câu hỏi cho trò chơi phải bám vào “Chuẩn kiến thức - kĩ năng” của bộ môn; Tổ chức trò chơi phải xác định được thời gian: Trừ các trò chơi tổ chức ở các tiết ngoại khóa (1 tiết hoặc nhiều hơn), các tiết làm bài tập trong 1 tiết thì các trò chơi tổ chức trong tiết dạy chỉ dừng ở thời gian là 4 – 6 phút; Trò chơi phải có sức hấp dẫn, thu hút được sự tham gia của HS, tạo không khí thoải mái, hấp dẫn trong học tập; Luôn thay đổi trò chơi để thu hút HS, tuy nhiên phải dựa vào dạng bài, kiểu bài để thực hiện . Khi tổ chức trò chơi GV là trọng tài công bằng, chính xác và là cổ động viên tích cực của HS tham gia trò chơi, cho điểm hoặc ngợi khen các em trước lớp. * Tác dụng Tổ chức các trò chơi (Game show) trong hoạt động học tập có tác dụng mở rộng, nâng cao hiểu biết và các kĩ năng hoạt động của học sinh. Tổ chức trò chơi tốt vừa phát huy được sự nhanh trí, sáng tạo, vừa rèn luyện tính tự lập và tinh
41 thần tập thể của các em. Ngoài ra, hứng thú học tập, niềm tin và tình cảm của học sinh được nâng cao. Nội dung học tập trở nên sinh động, gần gũi và thiết thực hơn đối với các em. Kĩ thuật này phù hợp dùng vào hoạt động khởi động hoặc củng cố bài mới, sẽ tạo hứng thú cho HS khi bước vào bài mới và kiểm tra được HS tiếp thu bài như nào sau khi học xong. Ví dụ: Địa 10 – Bài 37: Địa lí các ngành giao thông vận tải. Trước khi vào bài mới GV cho HS tham gia trò chơi ô chữ với từ khóa hàng dọc là “giao thông vận tải”, sẽ có 6 câu hỏi hàng ngang liên quan đến chủ đề giao thông vận tải. Khi HS trả lời hết 6 câu hỏi đó thì sẽ hỏi đến từ khóa hoặc từ khóa được các em tìm ra trước khi trả lời hết 6 câu hỏi hàng ngang cũng được. Ngoài ra còn nhiều kĩ thuật dạy học tích cực khác GV có thể tìm hiểu và sử dụng như: kĩ thuật trình bày 1 phút, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật nói cách khác, kĩ thuật đọc tích cực, kĩ thuật viết tích cực, kĩ thuật hoàn tất một nhiệm vụ, kĩ thuật công đoạn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật ủng hộ phản đối, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật ổ bi....Điều quan trọng là chúng ta biết cách sử dụng chúng và áp dụng vào những hoàn cảnh, đơn vị kiến thức cụ thể để đem lại hiệu quả cao. 3. Hiệu quả mang lại: - Hiệu quả kinh tế: + Để hoàn thiện sáng kiến kinh nghiệm này, tôi phải bỏ ra chi phí khá thấp. STT
Nội dung
Số lượng
Đơn giá
Thành tiền
1
Phiếu điều tra, khảo sát GV
74 tờ
300đ
22.000đ
2
Phiếu điều tra, khảo sát HS
300 tờ
300đ
90.000đ
3
Bảng phụ HS
6 chiếc
30.000đ
180.000đ
4
Giấy A0
3 tờ
5.000đ
15.000đ
5
Bút dạ
6 cái
5.000đ
30.000đ
6
Phấn mầu, trắng
2 hộp
4.000đ
8.000đ
7
Phiếu học tập cho 9 lượt dạy thử nghiệm
200 tờ
300đ
60.000đ
8
In, đóng quyển sáng kiến ra để hỏi ý 3 quyển
20.000đ
60.000đ
kiến chuyên gia, đồng nghiệp Tổng cộng
465.000đ
42 + Đối với giáo viên, những người trực tiếp cùng tôi dạy thử nghiệm đã tiết kiệm được chi phí tập huấn, bồi dưỡng (nếu có) trong khi lại được trực tiếp làm việc nên thu được kết quả cao trong quá trình dạy học. + Sáng kiến có giá trị sử dụng cao, dễ dàng áp dụng vào thực tiễn giảng dạy do các phương pháp và kĩ thuật dạy học được trình bày cụ thể, rõ ràng, có ví dụ minh họa kèm theo nên dễ xem, dễ hiểu và dễ thực hiện. Có giá trị sử dụng cao với giáo viên môn Địa nói riêng và giáo viên các môn khác nói chung. + Sáng kiến kinh nghiệm có chi phí thử nghiệm thấp, dễ thực hiện, thực hiện trong thời gian ngắn nên không mất quá nhiều thời gian, giáo viên có thể xem sáng kiến và thực hiện dạy thử qua một số tiết học là có thể sử dụng thành thạo và hiệu quả được 1 số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. + Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực này cũng không tốn kém nếu GV sử dụng bảng phụ cho HS dùng nhiều lần, lấy phấn viết, lấy dẻ lau để lau sạch và lại viết tiếp cho những lần dùng sau. Đặc biệt là những phiếu học tập dùng cho cá nhân, cặp đôi, dùng cho khảo sát thì GV có thể hoàn toàn yêu cầu các em HS trình bày ra giấy nháp của các em sau đó GV thu và dùng máy chiếu đa vật thể chiếu lên (máy điện thoại thông minh kết nối máy chiếu hoặc ti vi) thì hoàn toàn không tốn kém và lại sử dụng được những máy móc nhà trường đang hiện có. - Hiệu quả xã hội, môi trường: + Khi GV thực hiện thành thạo các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực thì điều kiện giảng dạy của GV trong những tiết học, lớp học và năm học sau sẽ được nâng cao hơn rất nhiều. + Quá trình sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực này trong giảng dạy cũng rất an toàn cho cả GV và HS, không gây nguy hiểm như việc sử dụng các thí nghiệm hoặc có nguy cơ không an toàn như đi trải nghiệm thực tế ngoài trường học. + Việc sử dụng thường xuyên các thiết bị dạy học có sẵn của nhà trường như máy chiếu, ti vi, phòng học thông minh… để ứng dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực cũng góp phần quan trọng vào việc bảo vệ tài sản (đồ điện
43 tử nếu đã sử dụng mà không sử dụng thường xuyên sẽ dễ dẫn đến hư hỏng) và nâng cao hiệu quả sử dụng của các thiết bị dạy học này. + Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực thường xuyên sẽ giúp GV thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quá trình sử dụng đồ dùng, thiết bị được trang bị giảng dạy của Nhà nước cũng như của xã hội. + Tạo lập được môi trường làm việc tích cực, môi trường học tập hiện đại, không khí học tập sôi nổi, hứng khởi của HS đối với mỗi giờ dạy của GV. Tạo được mối quan hệ, tương tác tốt giữa GV với GV, giữa HS với HS và giữa GV với HS, hình thành tốt cho các em các kỹ năng mềm khác như năng lực làm việc nhóm, khả năng nói trước đám đông, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tư duy lô gíc ... Giúp các em sử dụng hiệu quả nguồn học liệu của mình là sách giáo khoa, sách tham khảo cũng như việc khai thác thông tin từ mạng Internet để hoàn thành các bài tập được GV giao cho. 4. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến X
Chỉ có hiệu quả trong phạm vi đơn vị áp dụng. Đã được chuyển giao, nhân rộng ra phạm vi sở, ngành theo chứng cứ đính kèm. Đã phục vụ rộng rãi người dân trên địa bàn tỉnh, huyện/thành phố, hoặc
đã được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng trên địa bàn tỉnh, huyện/thành phố theo chứng cứ đính kèm. Đã phục vụ rộng rãi người dân tại Việt Nam, hoặc được chuyển giao, nhân rộng việc áp dụng tại nhiều tỉnh, thành theo chứng cứ đính kèm.
44 5. Tài liệu tham khảo 1. Lí luận dạy học địa lí – Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc. NXB Đại học sư phạm. 2. Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học – Bộ giáo dục và đào tạo theo Dự án Việt - Bỉ. NXB Đại học sư phạm. 3. Một số vấn đề trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông – Nguyễn Trọng Phúc. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 4. Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường phổ thông môn Địa lí (2014 – Vụ giáo dục) 5. Modull THPT 18: Phương pháp dạy học tích cực – Trăn Đỉnh Châu, Đặng Thu Thùy, Phan Thị Luyến (Bộ giáo dục và đào tạo). 6. Sách giáo khoa, sách giáo viên Địa lí 10, 11, 12, NXB Giáo dục. 7. Mạng Internet.
45 6. Phụ lục 6.1. Một số bài soạn cụ thể có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. ĐỊA LÍ 10:
TIẾT 43 - BÀI 36
VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI I. MỤC TIÊU BÀI HỌC: Sau bài học, học sinh cần: 1. Kiến thức: - Trình bày được vai trò, đặc điểm của ngành giao thông vận tải - Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải. 2. Kĩ năng: - Tính được khối lượng luân chuyển và cự li vận chuyển trung bình. - Phân tích sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố ngành GTVT. - Liên hệ thực tế ở Việt Nam và ở địa phương để hiểu được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới sự phát triển, phân bố ngành GTVT. 3. Thái độ: Chia sẻ khó khăn về hoạt động GTVT với các vùng. 4. Định hướng các năng lực được hình thành + Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực thuyết trình. + Năng lực chuyên biệt: làm việc với sơ đồ, video. II. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC - Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, dạy học nhóm. - Kĩ thuật khăn trải bàn III. CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS: 1. Giáo viên: - Hình ảnh GTVT - Video phần giới thiệu bài học
46 - Bài soạn, SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng, bảng phụ,... 2. Học sinh: Chuẩn bị bài trước khi đến lớp, có đủ sách giáo khoa, vở ghi, giấy nháp. IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP: 1. Ổn định lớp học – Khởi động: GV sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong thời gian 4 phút. Bước 1: GV ổn định lớp, cho HS xem 1 MV ca nhạc (bài hát: Tàu anh qua núi), yêu cầu học sinh trả lời 2 câu hỏi có liên quan đến MV: - Trong bài hát có nhắc đến địa danh nào? - Trong quá trình “đi dọc” gặp phải những khó khăn nào? Bước 2: HS xem video, suy nghĩ và làm câu trả lời. Bước 3: GV gọi khoảng 2-3 HS trả lời câu hỏi. Bước 4: GV chốt lại câu trả lời và dẫn dắt vào bài mới. 2. Bài mới: * Hoạt động 1. Tìm hiểu về vai trò ngành GTVT. - Mục tiêu: HS biết được vai trò của ngành GTVT. - Phương thức làm việc: Nhóm nhỏ (cặp đôi). (thời gian 8 phút)
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG CHÍNH I. Vai trò và đặc điểm 1. Vai trò:
* Bước 1: Giáo viên yêu cầu hs quan sát trong sgk trang 138, mục 1 và kết hợp với chùm hình ảnh được GV trình chiếu và cho biết GV đang nói đến vai trò nào của - Cung ứng vật tư kĩ thuật, ngành GTVT
nguyên nhiên liệu cho sản xuất;
* Bước 2: HS quan sát các hình ảnh và vận chuyển sản phẩm đến nơi tiêu
47 trao đổi theo từng cặp đôi để trả lời câu thụ giúp cho quá trình sản xuất xã hỏi của các hình ảnh.
hội diễn ra liên tục, bình thường.
* Bước 3: Đại diện của một vài cặp đôi - Đáp ứng nhu cầu đi lại của trình bày trước lớp, những HS còn lại người dân lắng nghe và bổ sung.
- Kết nối vùng miền
* Bước 4: GV nhận xét hoạt động và chốt - Phát triển KTXH vùng sâu vùng lại phần vai trò của GTVT bằng 1 slide xa tổng hợp ngắn gọn. GV nhấn mạnh nhận - Tăng cường sức mạnh quốc định “Để phát triển KTXH ở miền núi thì phòng - Giao lưu quốc tế.
GTVT phải đi trước 1 bước”
* Hoạt động 2. Tìm hiểu về đặc điểm ngành GTVT - Mục tiêu: HS biết được đặc điểm ngành GTVT. - Phương thức làm việc: GV sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn (thời gian 7 phút)
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG CHÍNH 2. Đặc điểm.
* Bước 1: GV chia lớp làm 6 nhóm cùng tìm hiểu về đặc điểm ngành giao thông vận tải. GV yêu cầu học sinh dựa vào SGK trang 138, mục 2 và cho biết những đặc điểm của ngành GTVT và viết vào phiếu học tập. Tìm hiểu đặc điểm của ngành GTVT Cá Cá nhân Cá nhân nhân Cá nhân
Kết quả làm việc của nhóm
Cá nhân
Cá nhân
Cá nhân
Cá nhân
- Sản phẩm của GTVT: là sự chuyên chở hàng hóa và hành khách
48 * Bước 2:
- Chất lượng của sản phẩm GTVT:
HS nghiên cứu và từng HS viết vào ô cá tốc độ chuyên chở, sự tiện nghi và nhân trên phiếu.
an toàn cho hành khách và hàng
Nhóm trưởng điều hành, thư ký ghi lại những hóa đặc điểm chung của ngành GTVT của mỗi - Tiêu chí đánh giá khối lượng: thành viên vào ô chính giữa của phiếu.
+ khối lượng vận chuyển: hành
* Bước 3: Các nhóm trình bày kết quả khách (người); hàng hóa (tấn) làm việc, các nhóm khác bổ sung.
+ khối lượng luân chuyển: hành
* Bước 4: Giáo viên đưa ra thông tin khách (người x km); hàng hóa (tấn phản hồi, nhận xét hoạt động và chốt x km) kiến thức.
+ cự li vận chuyển trung bình (km)
* Hoạt động 3. Tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố ngành GTVT - Mục tiêu: HS phân tích được ảnh hưởng của 2 nhóm nhân tố đối với sự phát triển và phân bố ngành GTVT. - Phương thức làm việc: HS làm việc nhóm (thời gian 15 phút) HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG II. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển
* Bước 1: GV chia lớp thành 6 nhóm theo vị GTVT trí ngồi và yêu cầu các em theo dõi phần II, (thông tin phản hồi ở phiếu sgk trang 139 để hoàn thành nhiệm vụ trong học tập) thời gian 7 phút. - Nhóm 1,2,3 làm phiếu học tập số 1: Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên đến sự phát triển và phân bố ngành GTVT? - Nhóm 4,5,6 làm phiếu học tập số 2: Ảnh hưởng của các điều kiện KT-XH đến sự phát
49 triển và phân bố ngành GTVT? * Bước 2: Các nhóm nghiên cứu, trao đổi hoàn thành phiếu học tập. Sau thời gian làm việc nhóm, GV yêu cầu các nhóm đổi phiếu học tập cho nhau theo quy ước như sau: 1 đổi cho 4, 2 đổi cho 5 và 3 đổi cho 6. Mục đích là để kiểm tra, bổ sung, chỉnh sửa phần kết quả làm việc của đội khác; thời gian hoàn thành là 3 phút. * Bước 3: Đại diện 2 nhóm trình bày kết quả làm việc của mình. Các nhóm còn lại theo dõi và bổ sung. * Bước 4: GV nhận xét hoạt động và chốt kiến thức trên phiếu của HS. Thông tin phản hồi: PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 II.1. Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên đến sự phát triển và phân bố ngành GTVT - ĐKTN quy định sự có mặt và vai trò của một số loại hình vận tải VD: Vùng hoang mạc: có lạc đà vận chuyển Vùng cực Bắc: có xe kéo trên tuyết - ĐKTN ảnh hưởng đến công tác thiết kế, thi công và khả năng khai thác các công trình GTVT VD: Địa hình miền núi: đường hầm giao thông Đất nước có nhiều sông hồ: nhiều cầu - Khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng đến hoạt động GTVT VD: Bão tuyết, lũ lụt ảnh hưởng đến quá trình đi lại
50 PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 II.2. Ảnh hưởng của các điều kiện KTXH đến sự phát triển và phân bố ngành GTVT - Sự phát triển và phân bố các ngành KT quốc dân có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển và phân bố GTVT VD: Nền kinh tế càng phát triển thì GTVT càng phát triển (slide giao thông Hoa Kỳ, Trung Quốc) - Phân bố dân cư, đặc biệt là sự phân bố các thành phố lớn và các chùm đô thị có ảnh hưởng sâu sắc tới sự vận tải hành khách, nhất là vận tải bằng ô tô (chùm vận tải đô thị) VD: Các đô thị lớn có các loại hình GTVT chính: bus, tàu điện ngầm, xe điện. 3. Củng cố: (1 phút) - Mục đích: Giúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được trong bài học và có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề trong học tập. - Phương thức làm việc: Hoạt động cả lớp thông qua bài tập tính cự li
vận chuyển trung bình. 4. Vận dụng và mở rộng: (1 phút) HS về nhà tìm hiểu vai trò tuyến xe bus số 07 của tỉnh Bắc Giang đối với sự phát triển khu du lịch tâm linh Tây Yên Tử.
51 ĐỊA 11 - BÀI 8: LIÊN BANG NGA Tiết 1 - TỰ NHIÊN DÂN CƯ VÀ XÃ HỘI I. MỤC TIÊU BÀI HỌC: Sau bài học, HS cần 1. Kiến thức: - Biết vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ LB Nga. - Trình bày được đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và thuận lợi, khó khăn của chúng đối với sự phát triển kinh tế. - Trình bày được các đặc điểm dân cư, xã hội và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển kinh tế. 2. Kĩ năng: - Sử dụng bản đồ, lược đồ để nhận biết và phân tích đặc điểm tự nhiên, phân bố dân cư của LB Nga. - Phân tích số liệu, tư liệu về biến động dân cư của LB Nga. 3. Thái độ: Khâm phục và học tập tinh thần hy sinh của dân tộc Nga để cứu loài người thoát khỏi ách phát xít Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai và tính sáng tạo của nhân dân Nga, sự đóng góp lớn lao của người Nga cho thành tự khoa học chung của thế giới. 4. Định hướng phát triển năng lực. - Năng lực chung: + Năng lực giao tiếp + Năng lực hợp tác - Năng lực chuyên biệt: + Năng lực tổng hợp tư duy lãnh thổ + Năng lực làm việc với bản đồ, bảng số liệu II. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: - Phương pháp đàm thoại gợi mở, nêu vấn đề, dạy học nhóm, sử dụng bản đồ, bảng số liệu. - Kĩ thuật dạy học KWL, XYZ.
52 III. CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS: 1. Chuẩn bị của GV: - Bản đồ địa lí tự nhiên LB Nga, bản đồ các nước trên thế giới, bảng phụ. - Phóng to bảng số liệu 8.1, 8.2 SGK, phiếu học tập. 2. Chuẩn bị của HS: - Đọc trước bài tự nhiên dân cư và xã hội Liên bang Nga ở nhà. - Có sách, vở, bút, giấy nháp. IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP: 1. Ổn định lớp - Khởi động: GV sử dụng kĩ thuật KWL trong thời gian 4 phút, yêu cầu HS viết ra giấy nháp những gì mình đã biết về nước Nga, những gì muốn biết về nước Nga. GV thu 1 số giấy nháp của HS sau đó dùng máy chiếu đa vật thể chiếu lên cho cả lớp xem, GV nhận xét, kết nối vào bài học và giới thiệu mục tiêu của bài học. 2. Bài mới: Hoạt động 1: Tìm hiểu vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ của LB Nga - Mục tiêu: Biết vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ LB Nga. - Phương thức làm việc: Nêu và giải quyết vấn đề với cả lớp, sử dụng bản đồ địa hình và khoáng sản Liên bang Nga. thời gian 6 phút. Hoạt động của GV và HS
Nội dung kiến thức
Bước 1: GV giới thiệu những số liệu
* Diện tích: 17,1 triệu km2
khái quát về đất nước Nga, sau đó
* Dân số: 143,0 triệu người (2005)
hướng dẫn HS dựa vào bản đồ tự nhiên
* Thủ đô: Mat-xcơ-va
của LB Nga, hình 8.1 SGK và kênh chữ SGK hãy trả lời các câu hỏi sau: - Hãy nhận xét về lãnh thổ của LB Nga?
I. Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ
- Cho biết LB Nga tiếp giáp với những - Nga có diện tích: 17,1 triệu km2 lớn quốc gia và đại dương nào?
nhất thế giới.
53 - Cho biết ý nghĩa của vị trí địa lí, diện - Lãnh thổ trải dài từ phần Đông Âu tích lãnh thổ đối với việc phát triển đến hết Bắc Á, kéo dài trên 11 múi kinh tế LB Nga?
giờ.
Bước 2: HS làm việc theo yêu cầu.
- Giáp với BBD, TBD, Biển Đen, Biển
Bước 3: Một HS trình bày, các HS Caxpi và giáp với 14 nước. khác bổ sung.
=> Giao lưu thuận lợi với nhiều nước,
Bước 4: GV nhận xét, chuẩn kiến thức. thiên nhiên đa dạng, giàu tài nguyên. Hoạt động 2: Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của LB Nga. - Mục tiêu: Trình bày được đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và
thuận lợi, khó khăn của chúng đối với sự phát triển kinh tế. - Phương thức làm việc: Hoạt động cá nhân và nhóm. thời gian: 20 phút. Hoạt động của GV và HS
Nội dung kiến thức II. Điều kiện tự nhiên:
Bước 1: GV chia lớp thành 6 nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm: - Các nhóm 1,2,3 sẽ tìm hiểu về phần phía Tây. - Các nhóm 4,5,6 sẽ tìm hiểu về phần phía Đông. Các nhóm dựa vào bản đồ, hình 8.1 và nội dung SGK, từng HS nghiên cứu làm ra nháp theo mẫu phiếu sau đó thảo luận nhóm hoàn thành phiếu học tập sau:
Phiếu học tập.
54 ĐKTN và TNTN của LB Nga Yếu tố
Phía Tây
Phía Đông
Địa hình Khí hậu Sông, hồ Đất và rừng Khoáng sản Thuận lợi Khó khăn
Bước 2: - HS làm ra nháp theo mẫu
Yếu tố Địa hình
Khí hậu Sông, hồ
Đất và rừng
phiếu chung. - Nhóm thảo luận hoàn thành nội dung vào bảng phụ của
Khoáng sản
nhóm. - Các nhóm đổi phiếu học tập của mình cho nhau để bổ sung cho hoàn chỉnh theo quy định nhóm 1 với nhóm 4, nhóm 2
Thuận lợi Khó khăn
Phía Tây - Phần lớn là đồng bằng (Đồng bằng Đông Âu và Tây Xi-bia) - Dãy núi già U-ran Ôn đới hải dương, cận nhiệt đới và cận cực lạnh. Có các sông lớn như sông Ô-bi, sông Von-ga - Đất đen ở đồng bằng Đông Âu. - ĐB Tây Xi-bia: đầm lầy - nhiều rừng taiga, thảo nguyên. - Dầu khí (Tây Xibia) - Than, sắt, kim loại màu (Uran) Phát triển nông nghiệp, công nghiệp, đô thị. Đất đầm lầy nhiều => khó khăn cho phát triển nông nghiệp.
Phía Đông Phần lớn là núi và cao nguyên.
Ôn đới, cận nhiệt đới lục địa và cận cực lạnh. Có nhiều sông lớn chảy lên phía bắc. (Lê-na, hồ Baican) - Đất pốt dôn nghèo dinh dưỡng. - Rừng taiga là chủ yếu. Phong phú: than, vàng, dầu khí, kim cương… Khai khoáng, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy điện. Địa hình chia cắt, khí hậu lạnh giá, khô hạn.
với nhóm 5 và nhóm 3 với nhóm 6. Bước 3: - GV gọi 2 nhóm có nội dung làm khác nhau lần lượt lên trình bày. - Các nhóm khác theo dõi và bổ sung. Bước 4: GV nhận xét và chuẩn hoá kiến thức trên phiếu của các nhóm. Hoạt động 3: Tìm hiểu về dân cư và xã hội của LB Nga
55 - Mục tiêu: Trình bày được các đặc điểm dân cư, xã hội và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển kinh tế. - Phương thức làm việc: GV sử dụng kĩ thuật XYZ, hướng dẫn học sinh khai thác bản đồ, bảng số liệu để tìm ra kiến thức. Thời gian 10 phút. Hoạt động của GV và HS
Nội dung kiến thức
Bước 1: - GV chia lớp làm 6 nhóm: + Nhóm 1,2,3: Tìm hiểu dân cư Nga.
III. Dân cư và xã hội
+ Nhóm 4,5,6: Tìm hiểu về xã hội Nga.
1. Dân cư:
- Các nhóm căn cứ vào mục III, phần 1 và - Dân số đông: 143 triệu người 2 sgk trang 64, 65 để làm.
(2005) đứng thứ 8 trên thế giới.
Bước 2:
- Dân số ngày càng giảm. .
- Mỗi thành viên trong nhóm có 5 phút để - Dân cư phân bố không đồng đều, viết ra 3 đặc điểm mà nhóm mình được tập trung chủ yếu ở phía Tây, 70% phân công.
dân số sống ở thành phố.
- Hết 5 phút, nhóm tập trung lại thảo luận để thống nhất được những đặc điểm chung 2. Xã hội: của vấn đề nhóm được phân công làm.
- Nhiều công trình kiến trúc, tác
Bước 3:
phẩm văn học nghệ thuật,nhiều
- GV gọi 2 nhóm có nội dung làm khác công trình khoa học lớn có giá trị. nhau lần lượt lên trình bày.
- Đội ngũ khoa học, kĩ sư, kĩ thuật
- Các nhóm khác theo dõi và bổ sung.
viên lành nghề đông đảo, nhiều
Bước 4: GV nhận xét, chuẩn kiến thức và chuyên gia giỏi. bổ sung thêm 1 số thông tin:
- Trình độ học vấn cao.
+ Kiến trúc: Cung điện mùa đông, cung * Thuận lợi cho LB Nga tiềp thu điện Kremli, Nhà hát lớn, Nhà thờ Ba ngôi thành tựu khoa học kĩ thuật thế giới sao, Lăng Lênin, Quảng trường Đỏ... + Văn hoá: Tác phẩm văn học nổi tiếng: Sông Đông êm đềm, Chiến tranh và hoà
và thu hút đầu tư nước ngoài.
56 bình, Thép đã tôi thế đấy... + LB Nga là nước đi đầu trong nghiên cứu vũ trụ. 3. Củng cố: thời gian 4 phút - Mục đích: Giúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được trong bài học và có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề trong học tập. - Phương thức làm việc: + GV tiếp tục sử dụng kĩ thuật KWL của phần khởi động, HS viết tiếp ra tờ giấy nháp lúc trước những gì mình đã học được về nước Nga trong tiết học này. + GV sẽ thu giấy nháp của một số bạn và chiếu lên cho cả lớp xem. + GV và HS cùng đối chiếu xem bạn HS đó lúc trước khi học thì muốn biết gì, khi học xong thì đã biết được gì về nước Nga, đó cũng là căn cứ đánh giá mức độ hiểu bài của HS. 4. Vận dụng và mở rộng: thời gian 1 phút Các em về nhà tìm hiểu rõ về 1 tác phẩm văn học, nghệ thuật, 1 nhà bác học …. nổi tiếng nào đó của nước Nga để trình bày trước lớp vào tiết học sau.
ĐỊA 12:
BÀI 7 - TIẾT 5:
57 ĐẤT NƯỚC NHIỀU ĐỒI NÚI (tiết 2) I. MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1. Kiến thức - Biết được vị trí, đặc điểm tự nhiên và so sánh được sự khác nhau về tự nhiên của đồng bằng châu thổ với đồng bằng ven biển. - Phân tích được những thế mạnh và hạn chế của thiên nhiên khu vực đồi núi và khu vực đồng bằng đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. 2. Kĩ năng - Sử dụng bản đồ Tự nhiên Việt Nam để trình bày được các đặc điểm nổi bật về địa hình, sông ngòi, đất đai... của khu vực đồng bằng và nhận xét mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng. - Nhận xét được mối quan hệ qua lại giữa các thành phần tự nhiên, địa hình đồi núi với đồng bằng, bờ biển, thềm lục địa… và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. 3. Thái độ, hành vi - Thấy được sự đa dạng của địa hình và tự nhiên Việt Nam và củng cố thêm lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần sẵn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Có thái độ học tập tốt hơn đối với môn Địa lí và nhận thấy được sự cần thiết trong sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. 4. Định hướng các năng lực được hình thành - Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo, năng lực tính toán… - Năng lực chuyên biệt: Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử dụng sơ đồ, bản đồ… II. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC - Phương pháp dạy học nhóm, cặp đôi. - Kĩ thuật viết tích cực, kĩ thuật công đoạn, kĩ thuật tổ chức trò chơi. III. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
58 1. Chuẩn bị của giáo viên - Bản đồ Tự nhiên Việt Nam. - Tranh ảnh, video về cảnh quan các đồng bằng của nước ta. 2. Chuẩn bị của HS - Chuẩn bị bài trước khi đến lớp, có đủ sách giáo khoa, vở ghi, giấy nháp. - Tìm kiếm tư liệu, hình ảnh về các đồng bằng châu thổ và ven biển, những ngành kinh tế tiềm năng và được coi là thế mạnh ở khu vực đồng bằng và đồi núi. IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 1. Ổn định lớp – Khởi động (3 phút) Bước 1: GV ổn định lớp xong và sau đó cho HS xem video giới thiệu về tự nhiên, kinh tế của một số khu vực trên đất nước Việt Nam. Trước khi cho HS xem, GV yêu cầu HS trả lời 2 câu hỏi: + Đoạn video này nói về những khu vực địa hình nào của Việt Nam? + Những khu vực địa hình mà video đề cập đến, đã và sẽ phát triển được những ngành kinh tế nào? Bước 2: HS xem video, suy nghĩ và viết câu trả lời ra nháp. Bước 3: GV thu 2-3 câu trả lời của HS và dùng máy chiếu đa vật thể chiếu lên cho cả lớp xem. Bước 4: GV cho HS bổ sung, nhận xét, chốt lại câu trả lời và dẫn dắt vào bài mới. 2. Bài mới * Hoạt động 1. Tìm hiểu về đặc điểm tự nhiên khu vực đồng bằng. - Mục tiêu: HS biết được vị trí, đặc điểm tự nhiên của các đồng bằng so sánh được sự khác nhau về tự nhiên của đồng bằng châu thổ với đồng bằng ven biển. - Phương thức làm việc: Cá nhân, nhóm HS làm việc và GV sử dụng kĩ thuật công đoạn để hoàn thành nội dung phiếu học tập, thời gian 18 phút. HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG CHÍNH
59 2. Các khu vực địa hình:
Bước 1.
GV kiểm tra 2-3 HS xem các em có a. Khu vực đồi núi chuẩn bị bài mới ở nhà theo yêu cầu b. Khu vực đồng bằng không. Em nào cho thầy biết tự nhiên Nội dung ở bảng phụ lục số 1 của Đồng bằng sông Hồng (Đồng bằng sông Cửu Long) có đặc điểm gì? GV chia lớp làm 6 nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm: + Nhóm 1, 4: Làm về Đồng bằng sông Hồng + Nhóm 2, 5: Làm về Đồng bằng sông Cửu Long + Nhóm 3, 6: Làm về Đồng bằng ven biển GV yêu cầu HS đọc nội dung (phần b) SGK trang 33, 34, kết hợp với nội dung tìm hiểu bài mới ở nhà, sau đó thảo luận để điền thông tin cần thiết vào phiếu học tập của nhóm theo mẫu: Đặc điểm
Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng ven biển miền Trung
Vị trí địa lí Điều kiện hình thành Diện tích Địa hình Đất
Bước 2: HS thảo luận nhóm để thống nhất nội dung ghi vào phiếu của nhóm, ghi xong phiếu của nhóm thì
60 chuyển phiếu của nhóm mình cho nhóm khác và nhận phiếu từ nhóm khác để xem và sửa cho nhóm bạn. Cứ như vậy các nhóm sẽ lần lượt làm hết 3 đồng bằng và tự sửa chữa cho nhau. (nhóm 1 chuyển cho nhóm 2, nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, nhóm 3 chuyển cho nhóm 4; nhóm 4 chuyển cho nhóm 5, nhóm 5 chuyển cho nhóm 6, nhóm 6 chuyển cho nhóm 1) Bước 3: Nhóm 1 treo phiếu học tập của nhóm mình lên bảng và trình bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung thêm. Sau đó lần lượt là nhóm 2 và 3 làm tương tự như nhóm 1. Bước 4: GV nhận xét phần làm việc, trình bày, kết quả của các nhóm và chốt kiến thức. Bảng phụ lục số 1: Đặc điểm tự nhiên các đồng bằng Yếu tố
Vị trí địa lí
ĐB sông Hồng
ĐB sông Cửu Long
ĐB ven biển
Nằm ở miền Bắc
Nằm ở miền Nam
Nằm ở ven biển
nước ta
nước ta
miền Trung nước ta
Điều kiện hình thành
Do phù sa sông Do phù sa sông Do biển và một Hồng và sông TB Tiền và sông Hậu phần phù sa sông bồi đắp
bồi đắp
bồi đắp
Diện tích
15.000 km2
40.000 km2
15.000 km2
Địa hình
- Cao ở Phía Tây, - Địa hình thấp, - Bề mặt bị chia cắt
61 tây Bắc, thấp dần ra vào mùa lũ nước thành biển.
ngập
trên
các
đồng
diện bằng nhỏ hẹp bởi
- Bề mặt chia cắt rộng.
các dãy núi ăn sát
thành nhiều ô vì có - Bề mặt tương đối ra biển. hệ thống đê kiên cố.
bằng phẳng, chưa - Phân thành 3 dải: có hệ thống đê Cồn cát, đầm phá; nhưng lưới
có
mạng Vùng trũng thấp ở
sông
ngòi, giữa; trong là dải
kênh rạch chằng ĐB. chịt. - Nhiều vùng trũng ngập nước. - Đất phù sa trong Đất phù sa được Đất nhiều cát, ít
Đất
đê không được bồi bồi
tụ
thường phù sa nên chua,
tụ thường xuyên nên xuyên nhưng có sự nghèo dinh dưỡng. đang bị bạc màu.
phân hóa, với 2/3
- Đất phù sa ngoài diện tích là đất đê
được
bồi
tụ phèn mặn.
thường xuyên nên màu mỡ. Hoạt động 2. Tìm hiểu về thế mạnh và hạn chế về tự nhiên của khu vực đồi núi đối với phát triển kinh tế - xã hội. - Mục tiêu: Phân tích được những thế mạnh và hạn chế về tự nhiên khu vực đồi núi đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. - Phương thức làm việc: HS làm việc cặp đôi, thời gian là 12 phút HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS Bước 1.
NỘI DUNG CHÍNH 3. Thế mạnh và hạn chế về tự nhiên
GV kiểm tra 2-3 HS xem các em có của khu vực đồi núi và đồng bằng chuẩn bị bài mới ở nhà theo yêu cầu đối với phát triển kinh tế - xã hội.
62 không. Em nào cho thầy biết ở khu a. Khu vực đồi núi vực đồi núi nước ta sẽ có thế mạnh Bảng phụ lục số 2: Thế mạnh và hạn phát triển những ngành kinh tế nào? GV yêu cầu: cứ 2 HS ngồi cạnh nhau sẽ làm 1 cặp, nếu sĩ sỗ lớp lẻ thì hình thành 1 nhóm có 3 người. GV yêu cầu HS dựa vào phần a của mục 3 trang 34 SGK để viết được những thế mạnh và hạn chế của khu vực đồi núi nước ta trong phát triển kinh tế - xã hội theo mẫu phiếu:
Thế mạnh
Khoáng sản Rừng và đất trồng Cao nguyên và thung lũng Thủy năng Tiềm năng du lịch
Hạn chế
Bước 2. HS thảo luận theo cặp đôi xác định để hoàn thiện phiếu học tập. Bước 3. GV chiếu kết quả làm việc của 1 số cặp đôi để HS báo cáo kết quả từ phiếu đó; những HS khác nhận xét và bổ sung. Bước 4. GV đánh giá kết quả làm việc của HS, mức độ hợp tác, trao đổi của HS và chuẩn lại kiến thức trong phiếu.
chế về tự nhiên của khu vực đồi núi trong phát triển kinh tế - xã hội
63 Bảng phụ lục số 2: Thế mạnh và hạn chế về tự nhiên của khu vực đồi núi trong phát triển kinh tế - xã hội Khoáng sản
Có nhiều loại nguồn gốc nội, ngoại sinh là nguyên nhiên liệu để phát triển nhiều ngành công nghiệp.
Rừng và đất Phong phú tạo cơ sở phát triển nền lâm – nông trồng Thế mạnh
nghiệp nhiệt đới.
Cao nguyên Diện tích rộng thuận lợi phát triển vùng chuyên và
thung canh cây CN, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc.
lũng Thủy năng Tiềm du lịch
Có tiềm năng thuỷ điện lớn.
năng Có KH mát mẻ, phong cảnh đẹp thuận lợi phát triển du lịch tham quan, nghỉ dưỡng… nhất là du lịch sinh thái.
Khó khăn cho giao thông, cho việc khai thác tài nguyên và giao lưu kinh tế giữa các vùng. Hạn chế Dễ xảy ra các thiên tai như lũ nguồn, lũ quét, xói mòn, trượt lở đất. Có một số thiên tai khác như lốc, mưa đá, sương muối, rét hại…gây thiệt hại lớn. Hoạt động 3. Tìm hiểu thế mạnh và hạn chế về tự nhiên của khu vực đồng bằng đối với phát triển kinh tế - xã hội. - Mục tiêu: Phân tích được những thế mạnh và hạn chế về tự nhiên khu vực đồng bằng đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. - Phương thức làm việc: Cả lớp, thời gian là 6 phút HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG CHÍNH
Bước 1. GV yêu cầu HS 3. Thế mạnh và hạn chế về tự nhiên của dựa vào phần b của mục 3 trang khu vực đồi núi và đồng bằng đối với 35 SGK để nêu được những thế phát triển kinh tế - xã hội. mạnh và hạn chế của khu vực b. Khu vực đồng bằng (HS về nhà hoàn đồng bằng nước ta trong phát thiện nội dung nhưng phải đạt được 1 số
64 triển kinh tế - xã hội.
yêu cầu như sau)
Bước 2. HS nghiên cứu và - Các thế mạnh: thực hiện nhiệm vụ GV giao.
+ Là cơ sở để phát triển nền nông nghiệp
Bước 3. HS trình bày trước nhiệt đới, đa dạng các loại nông sản mà lớp; HS khác nhận xét và bổ sung. nông sản chính là gạo. Bước 4. GV đánh giá việc + Cung cấp các nguồn lợi thiên nhiên trình bày, bổ sung của HS và chuẩn khác như lâm sản, khoảng sản và thủy kiến thức, yêu cầu HS về nhà làm sản. hoàn chỉnh phần thế mạnh, hạn chế + Là nơi có điều kiện để tập trung các của đồng bằng.
thành phố, các khu công nghiệp và các trung tâm thương mại. + Phát triển giao thông vận tải đường bộ, đường sông. - Các hạn chế: Thường xảy ra các thiên tai như bão, lũ, hạn hán … gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
3. Củng cố (thời gian 5 phút) - Mục đích: Giúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được trong bài học và có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề trong học tập. - Phương thức làm việc: GV tổ chức trò chơi ô chữ, HS trả lời 6 ô chữ hàng ngang và 1 từ khóa hàng dọc. T
F
E
R
A
L
Đ
Ồ
I
N
Ú
I
O
Á
N
G
S
Ả
N
G
I
A
O
T
H
I
Ề
U
T
H
I
N
Ư
Ớ
C
N
G
Đ
K N
H
H
Ấ
- Câu hỏi cho phần trò chơi ô chữ:
I
T
Ô
N
G
Ê
N
T
A
Ọ
T
I
65 Câu 1. Loại đất nào chiếm diện tích lớn nhất nước ta? Đất feralit Câu 2. Khu vực địa hình nào thuận lợi cho sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả? Đồi núi Câu 3. Thế mạnh lớn nhất của khu vực đồi núi để phát triển công nghiệp là gì? Khoáng sản Câu 4. Khó khăn lớn nhất của khu vực đồi núi trong khai thác tài nguyên và giao lưu kinh tế giữa các vùng là gì? Giao thông Câu 5. Khó khăn lớn nhất về tự nhiên trong phát triển KT-XH của khu vực đồi núi là gì? Nhiều thiên tai Câu 6. Vấn đề quan trọng nhất cần giải quyết trong mùa khô của nước ta là gì? Nước ngọt => Từ khóa: Đất nước nhiều đồi núi. 4. Vận dụng, mở rộng (Hoạt động cả lớp, 1 phút) - Vận dụng Mục đích: Giúp HS vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống (vấn đề) mới trong học tập hoặc trong cuộc sống. 1. Dựa vào bản đồ Tự nhiên Việt Nam, em hãy trình bày các đặc điểm nổi bật về địa hình của Đồng bằng châu thổ sông Hồng. 2. So sánh những điểm giống và khác nhau về tự nhiên giữa Đồng bằng sông Hồng với Đồng bằng sông Cửu Long? - Mở rộng - Mục đích: Giúp HS không bao giờ dừng lại với những gì đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trường, còn rất nhiều kiến thức khác cần phải học ở ngoài đời và vì quá trình học tập là suốt đời. Câu 1. Cần những biện pháp gì để khắc phục những khó khăn, hạn chế về tự nhiên của khu vực đồi núi, đồng bằng để phát triển kinh tế - xã hội?
66 Câu 2. Giải thích tại sao việc phòng chống thiên tai ở khu vực đồi núi và đồng bằng đều rất quan trọng? 6.2. Phiếu điều tra khảo sát giáo viên, học sinh và kết quả đánh giá sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực của những giáo viên tham gia dạy thử nghiệm.
67
68
69
70
71
72
73
74