Skip to main content

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM (NGỮ VĂN 12)

Page 1

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC

vectorstock.com/28062412

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection

SÁNG KIẾN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM (NGỮ VĂN 12) WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM

Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO … TRƯỜNG THPT …

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM (NGỮ VĂN 12)

Tác giả: ... Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn Đơn vị công tác: Trường THPT ...

Năm học 2017 - 2018


MỤC LỤC

I. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

6

II. Mô tả giải pháp

7

1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiếnk

8

1.1. Yêu cầu của CT và SGK Ngữ văn

8

1.2. Thực trạng dạy học kí hiện đại Việt Nam của GV và HS

10

2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

13

2.1. Xác định rõ mục tiêu dạy học kí hiện đại Việt Nam theo định hướng

14

phát triển năng lực CTVH 2.2 .Quan tâm hình thành những tri thức về kí hiện đại cho HS

15

2.3. Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí hiện đại để phát triển năng

19

lực cảm thụ văn học cho HS 2.4. Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực CTVH cho

42

HS thông qua đọc hiểu văn bản kí hiện đại III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại

48

1. Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm

48

2. Thời gian thực nghiệm

48

3. Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm

48

4. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm

50

5. Giáo án thực nghiệm

50

2


5.1. Thiết kế giáo án minh họa cho chủ đề: Kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12)

50

5.2. Thuyết minh về giáo án thực nghiệm

67

6. Kết quả thực nghiệm

68

IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

70

Phụ lục

71

3


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Phát triển năng lực cảm thụ văn học cho học sinh trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12). 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh đại trà, học sinh giỏi. 3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Tháng 9/2017 đến tháng 5/2018 4. Tác giả: - Họ và tên: PHẠM THỊ KIỀU OANH - Năm sinh : 1978 - Nơi thường trú: Yên Chính – Ý Yên – Nam Định - Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn - Chức vụ công tác: Tổ trưởng chuyên môn. - Nơi làm việc : Trường THPT Mỹ Tho - Địa chỉ liên hệ : Yên Chính – Ý Yên – Nam Định - Điện thoại: 0987211170 - Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100 % 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến - Tên đơn vị: Trường THPT Mỹ Tho - Địa chỉ: Yên Chính – Ý Yên – Nam Định. - Điện thoại: 03503825642

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CTVH

:

Cảm thụ văn học

ĐC

:

Đối chứng

GV

:

GV

HS

:

HS

PPDH

:

PPDH

SGK

:

SGK

THCS

:

Trung học cơ sở

THPT

:

Trung học phổ thông

TN

:

Thực nghiệm

VB

:

Văn bản

5


BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến Đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học, trong đó có năng lực cảm thụ văn học – một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản là mục tiêu quan trọng của dạy học Ngữ văn hiện nay. Có thể thấy trong chương trình Ngữ văn hiện hành, số lượng văn bản văn học chiếm tỉ lệ lớn hơn so với các kiểu loại văn bản khác như văn bản thông tin, văn bản nhật dụng. Nếu năng lực đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi đối tượng đọc, với tất cả các kiểu loại văn bản thì năng lực CTVH là yêu cầu đặt ra với người đọc khi đọc hiểu các văn bản nghệ thuật. Điểm nổi bật của năng lực CTVH là đọc văn bản trong quá trình nhận thức và rung động thẩm mĩ. Qua việc đọc, người đọc sẽ thiết lập một trường liên tưởng thẩm mĩ giữa cá nhân mình với văn bản. Người có năng lực CTVH tốt là người có trường liên tưởng thẩm mĩ phong phú, có xúc cảm tinh tế. Yếu tố quyết định để có trường liên tưởng thẩm mĩ phong phú với những rung cảm thực sự của quá trình đọc hiểu văn bản văn học chính là phải sống thật sâu sắc với những điều mình đã đọc, đã nghe. Năng lực CTVH ở mỗi cá nhân hoàn toàn không giống nhau bởi vốn sống và vốn hiểu biết, trình độ kiến thức và sự nhạy cảm khi đọc hiểu các tác phẩm văn học. Tuy nhiên mỗi người đều có thể rèn luyện cách đọc để từng bước nâng cao năng lực CTVH cho bản thân mình, từ đó khả năng thấu cảm cuộc sống sẽ ngày một tốt hơn “Khi đọc, tôi không chỉ thấy dòng chữ mà còn thấy cảnh tượng ở sau dòng chữ, trí tưởng tượng nhiều khi dẫn tôi đi rất xa, vẽ thêu ra lắm điều thú vị”. Chương trình Ngữ văn THPT lựa chọn 02 VB kí vào dạy học đọc - hiểu cho HS lớp 12 đã khẳng định vị trí quan trọng của thể loại này trong việc hướng tới phát triển năng lực của người học, trong đó có năng lực đọc hiểu và năng lực cảm thụ văn học. Kí là một thuật ngữ văn học để gọi tên một thể loại có sự đan xen khá đặc biệt của yếu tố tự sự và trữ tình, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vốn tri thức phong phú và nguồn cảm xúc dào dạt, là kết quả của tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học. Kí không những không thua kém các thể loại khác về màu sắc thẩm mĩ mà còn có thể linh hoạt vận dụng, kết hợp các phương thức tiếp cận, lí giải, phản ánh, khái quát hiện thực của các thể loại khác, tạo nên giá trị phong phú và độc đáo của riêng mình. Với sự phong phú về mặt thể loại, khả năng tác động trực tiếp tới người đọc,

6


văn bản kí, đặc biệt là kí hiện đại có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS. Ngoài việc cung cấp cho HS mã “sự thực”, kí giúp HS có những cảm nhận, những rung động tinh tế trước vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, của con người,... những đối tượng miêu tả thường thấy của văn bản kí. Hai văn bản kí hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 là tùy bút Người lái đò sông Đà và bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? có đầy đủ phẩm chất của một tác phẩm kí văn học – một thể loại không chỉ đòi hỏi người viết phải có “ngòi bút sang trọng” mà người đọc cũng phải biết thưởng thức “một cách sang trọng”. Các VB kí được đưa vào chương trình THPT có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển năng lực CTVH cho người học. Thế nhưng qua việc dự giờ các tiết dạy học đọc hiểu VB kí hiện đại của đồng nghiệp tại nơi công tác và dự giờ sinh hoạt chuyên môn ở các trường bạn chúng tôi nhận thấy: Dạy học tác phẩm kí hiện nay thường sa vào hai khuynh hướng, hoặc là đọc hiểu kí như một tác phẩm truyện, hoặc là có đề cập đến đặc trưng của thể kí thì cũng qua loa, chiếu lệ. Đa số GV chỉ tập trung truyền đạt kiến thức mà ít chú ý đến các biện pháp nhằm phát triển năng lực cảm thụ cho HS. Hơn nữa, do áp lực thi cử, hiện nay tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra phổ biến trong các giờ đọc hiểu văn bản kí. HS thường nghe và ghi chép lại bài giảng của GV hơn là tự mình tìm hiểu, khám phá, cảm thụ VB. Điều đó chưa phát huy hết vai trò của thể kí khi được lựa chọn vào giảng dạy trong CT Ngữ văn 12. Việc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu nhằm hình thành và phát triển năng lực cho người học đặc biệt là năng lực CTVH qua loại hình văn bản này chưa được quan tâm đúng mức nên giờ học chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Thực trạng ấy dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được kĩ năng đọc hiểu văn bản kí cho HS; nhiều HS còn thụ động trong việc tiếp nhận văn bản; khả năng CTVH còn hạn chế và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống chưa cao. Từ những lí do trên, tôi lựa chọn vấn đề Phát triển năng lựccảm thụ văn học cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12) làm đề tài trong SKKN của mình với mong muốn khắc phục thực trạng dạy học kí trong trường phổ thông hiện nay, góp phần dạy học kí theo đặc trưng thể loại để phát triển năng lực CTVH cho HS.

7


II. Mô tả giải pháp 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Yêu cầu của CT và SGK Ngữ văn Qua việc khảo sát yêu cầu CT Ngữ văn bậc THPT, tôi nhận thấy CT giáo dục phổ thông xác định mục tiêu chung của các VB kí trong CT Ngữ văn 12 như sau: - Hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một số trích đoạn tác phẩm kí Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông?(Hoàng Phủ Ngọc Tường): vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cuộc sống, con người và quê hương qua những trang viết chân thực, đa dạng, hấp dẫn. - Hiểu một số đặc điểm và sự đóng góp của thể loại kí Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX. - Biết cách đọc hiểu một tác phẩm kí hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại. - Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học. GSK Ngữ văn12 xác định mục tiêu cụ thể của các VB kí như sau: a. Mục tiêu dạy học văn bản Người lái đò Sông Đà. - Phân tích được vẻ đẹp đa dạng của con Sông Đà vừa “hung bạo” vừa “trữ tình” cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy. Từ đó thấy được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc. - Hiểu và yêu mến tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn trong việc khắc họa những kì công của tạo hóa, những kì tích lao động của con người. b. Mục tiêu dạy học văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Phân tích được vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông Hương qua ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tình yêu, niềm tự hào của tác giả với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương và cũng là cho đất nước. - Nhận biết được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật viết bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bảng: 1.2. Hệ thống câu hỏi trong mục hướng dẫn học bài Người lái đò sông Đà

Ai đã đặt tên cho dòng sông

(Nguyễn Tuân)

(Hoàng Phủ Ngọc Tường)

8


Câu hỏi hướng dẫn học bài:

Câu hỏi hướng dẫn học bài:

Câu 1. Chứng minh rằng Nguyễn Tuân đã Câu 1. Sông Hương vùng thượng lưu quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng khi được tác giả miêu tả như thế nào? Những viết về sông Đà và người lái đò sông Đà

hình ảnh, chi tiết, những liên tưởng và thủ pháp nghệ thuật nào cho thấy nét riêng trong lối viết kí của tác giả?

Câu 2. Trong thiên tùy bút, tác giả đã dùng Câu 2. Đoạn tả sông Hương chảy những biện pháp nghệ thuật nào để khắc họa xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành được một cách ấn tượng hình ảnh của một phố bộc lộ những phẩm chất nào con sông Đà hung bạo?

trong ngòi bút tác giả? Hiệu quả thẩm mĩ của lối viết đó?

Câu 3. Cách viết của nhà văn đã thay đổi Câu 3. Sông Hương khi chảy vào như thế nào khi chuyển sang biểu hiện sông thành phố Huế có nét đặc trưng gì? Đà như một dòng chảy trữ tình?

Phát hiện của tác giả về nét riêng biệt của dòng sông cho thấy những điều gì

Câu 4. Phân tích hình tượng người lái đò trong tình cảm của tác giả với xứ Huế trong cuộc chiến đấu với con sông hung dữ. và dòng sông? Từ đó hãy cắt nghĩa vì sao trong con mắt Câu 4. Tác giả đã tô đậm những Nguyễn Tuân, thiên nhiên Tây Bắc quý như phẩm chất gì của sông Hương trong vàng nhưng con người Tây Bắc mới thật lịch sử và thơ ca? Phân tích cách nhìn xứng đáng là vàng mười của đất nước ta?

độc đáo mang tính phát hiện của tác

Câu 5. Chọn phân tích một số câu văn thể giả? hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp trong cách Câu 5. Qua đoạn trích, anh chị có sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân.

nhận xét gì về nét riêng trong văn chương của tác giả?

Luyện tập:

Luyện tập:

1. Tìm đọc trọn vẹn tùy bút Người lái đò 1. Anh (chị) tâm đắc nhất với đoạn văn nào trong bài bút kí? Qua đoạn

sông Đà.

2. Phân tích và phát biểu cảm nghĩ về một văn đó, hãy phân tích những nét đặc đoạn văn khiến anh (chị) thấy yêu thích, say sắc về ý tưởng, hình ảnh và ngôn ngữ mê nhất trong thiên tùy bút.

của tác giả.

9


Như vậy, từ kết quả khảo sát có thể kết luận: - CT đã có sự quan tâm đến loại hình VB kí so với các loại hình VB khác như tự sự, trữ tình,... nhưng kí chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Riêng kí hiện đại Việt Nam thì đến lớp 12 HS mới được học, còn lớp 10 và 11 các em không được học một VB nào. - Câu hỏi hướng dẫn học bài trong SGK đặt ra ở mỗi bài cũng khác nhau, không có mô hình câu hỏi cụ thể cho từng thể loại nhất định trong khi GV phải dạy đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại. Các câu hỏi mà người soạn SGK đưa ra đều mang tính “cá nhân” khi thể hiện những điều mà người viết sách tâm đắc, hệ thống câu hỏi rời rạc, vụn vặt, chưa đạt đến sự khái quát theo đặc trưng thể loại trong dạy học Ngữ văn. Không có loại hình câu hỏi nên mỗi bài (dù giống nhau về thể loại) lại dạy theo một kiểu khác nhau, từ đó không hình thành được PPDH cho GV và HS. - Câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài quan tâm nhiều tới nội dung kiến thức mà chưa chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại nhằm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất người học theo định hướng đổi mới giáo dục. 1.2. Thực trạng dạy học kí hiện đại Việt Nam của GV và HS Để có thêm cơ sở thực tiễn về dạy học kí theo định hướng phát triển năng lực CTVH cho HS, tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng dạy học kí hiện đại Việt Nam cho HS ở các trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Nam Định thông qua hình thức sử dụng phiếu hỏi đối với GV dạy 12 của các huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc; dùng phiếu thăm dò ý kiến đối với HS ở các trường THPT trong huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đó là các trường THPT Đại An, THPT Phạm Văn Nghị, THPT Lý Nhân Tông. a. Khảo sát tình hình học kí hiện đại của GV ở trường THPT - Số GV được phỏng vấn: 135. - Thời gian phỏng vấn: 8/10/2017 - Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực tế dạy học văn bản kí hiện đại của GV hiện nay ở các trường THPT trong địa bàn tỉnh Nam Định để làm cơ sở thực tiễn cho SKKN. - Nội dung khảo sát: (Phụ lục 1)

10


- Kết quả khảo sát Bảng: 1.3. Kết quả khảo sát GV ở câu hỏi từ 1- 7 Câu hỏi

Kết quả đánh giá của GV A

B

C

D

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

1

0

0

0

0

123

91,1

12

8,9

2

0

0

0

0

45

33,3

90

66,7

3

35

25,9

40

29,6

38

28,1

22

16,3

4

12

8,9

35

25,9

53

39,2

40

29,6

5

20

14,8

50

37

40

29,6

25

18,5

6

0

0

43

31,8

80

59,25

12

8,9

7

12

8,9

60

44,4

43

31,9

20

14,8

Qua phân tích kết quả khảo sát thực trạng về tình hình dạy kí hiện đại của 135 GV Ngữ văn trên địa bàn cá huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc như trên, có thể đưa ra kết luận: Hầu như tất cả các GV đều nhận thấy tầm quan trọng của việc dạy kí hiện đại trong việc phát triển năng lực cho HS, trong đó có năng lực CTVH. Tuy nhiên vẫn còn không ít GV có cái nhìn đơn giản và hời hợt về vấn đề phát triển năng lực cho HS thông qua dạy học các VB kí, dẫn đến việc chưa chú trọng những yếu tố và các giải pháp thiết thực để cải thiện tình trạng “uể oải” trong dạy học hiện nay. Điều này cho thấy, muốn phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại, nhất thiết GV phải là người dẫn đường tích cực nhất trong quá trình này; quan trọng hơn, cần tăng cường trau dồi các kĩ năng cụ thể trong hoạt động đọc cho HS thông qua hệ thống biện pháp rèn luyện hợp lí, chi tiết. Có như vậy, hoạt động dạy học các VB kí mới gắn liền với định hướng phát triển năng lực người học, giúp các em tự tin hơn khi nghị luận về một vấn đề văn học bằng chính cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm mang dấu ấn cá nhân của mình. b. Khảo sát tình hình học kí hiện đại của HS ở trường THPT Tôi sử dụng 242 phiếu điều tra cho 06 lớp 12 ban khoa học cơ bản của 03 trường THPT trong huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đó là trường THPT Tống Văn Trân, trường THPT Phạm Văn Nghị, trường THPT Đại An, cụ thể như sau:

11


Bảng: 1.4. Đối tượng khảo sát học sinh STT

Tên trường

Lớp

Số học sinh

1

Trường THPT Tống Văn Trân - Tỉnh

12 A2

40

Nam Định

12 A6

39

Trường THPT Phạm Văn Nghị - Tỉnh 12 A4

40

Nam Định

12 A7

41

Trường THPT Đại An - Tỉnh Nam Định

12 A3

42

12 A8

40

6 lớp

242

2 3 4

Tổng

- Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực tế học đọc hiểu văn bản kí hiện đại Việt Nam của HS ở một số trường THPT hiện nay để làm cơ sở thực tiễn cho SKKN. - Nội dung khảo sát: (Phụ lục 2) - Kết quả điều tra khảo sát Bảng: 1.5. Kết quả khảo sát HS Không

Câu hỏi

1. Em biết các cụm từ“năng lực đọc hiểu”, 168

Thỉnh

Thường

thoảng

xuyên

52

22

“năng lực CTVH” khi xác định mục tiêu của (69,4%) (21,5%)

(9,1%)

các bài học không? 2. Trước khi vào giờ học đọc hiểu các VB nói 18

150

74

chung, VB kí nói riêng, các em có được yêu (7,4%)

(62%)

(30,6%)

92

30

cầu chuẩn bị bài ở nhà không? 3. Khi chuẩn bị bài ở nhà (nếu có), em có tìm 120

thêm tài liệu tham khảo hoặc những đường link (49,6%) 938%)

(12,4%)

về bài học không? 4. Khi học đọc hiểu các VB kí, em có chú ý các 22

89

131

kỹ năng đọc không?

(36,8%)

(54,1%)

5. Trong quá trình tổ chức các hoạt động đọc, 11

151

80

thầy (cô) có thường đặt các câu hỏi để khơi gợi (4,5%)

(62,4%)

(33%)

(9,1%)

cảm xúc và những liên tưởng, tưởng tượng cho

12


các em không? 6. Trong quá trình học đọc hiểu VB kí, em có 25

137

hay bình giá những hình ảnh, những chi tiết (10,3%) 956,6%)

88 (36,4%)

nghệ thuật hoặc các câu văn đặc sắc trong VB không? 7. Khi học đọc hiểu VB kí, em có chú ý đến 13

177

52

việc liên hệ, so sánh, đối chiếu,… với các loại (5,4%)

(73,1)

(21,5%)

130

45

hình nghệ thuật khác không? 8. Khi học xong VB kí, em có làm các bài tập 67

luyện tập trong SGK hoặc thầy (cô) giao về (27,7%) (53,7%)

(18,6%)

nhà không? Có thể thấy, kết quả khảo sát đã phần nào phác thảo được bức tranh học đọc hiểu VB kí ở nhà trường phổ thông. Học kí hiện đại vừa cung cấp cho HS tri thức phong phú về mọi lĩnh vực của đời sống, vừa bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ, đồng thời rèn luyện những kĩ năng viết cần thiết, nhất là văn biểu cảm cho các em. Song, việc học thể loại này đang diễn ra một cách tự nhiên, không ý thức, chưa có tính mục đích rõ ràng. Do đó, tôi nhận thấy việc phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12) trong khuôn khổ thực hiện của SKKN là hoàn toàn có cơ sở thuyết phục về mặt thực tiễn. Điều này rất cần thiết trong việc hình thành cho các em những năng lực cơ bản, thái độ sống nhân văn, sâu sắc của một công dân trong xã hội hiện đại. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến Một trong những định hướng đúng đắn trong lịch sử khoa học nghiên cứu về lí luận và phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo đặc trưng thể loại. Mỗi thể loại có những đặc điểm riêng về cách thức tổ chức tác phẩm, về hiện tượng đời sống được miêu tả và mối quan hệ của nhà văn đối với đối tượng phản ánh. Những đặc điểm ấy chi phối cách tiếp nhận VB của người học. Tiếp cận đúng hướng, hiểu đúng đặc trưng thể loại là tìm ra đúng chìa khoá để “mở cửa” bước vào thế giới nghệ thuật và các tầng lớp ý nghĩa của VB. Dạy học kí hiện đại Việt Nam trong trường THPT hiện nay cũng không phải là một ngoại lệ. Để hướng tới phát triển hệ

13


thống năng lực tổng hợp cho người học chứ không phải là một tập hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ rời rạc, tôi đề xuất 04 biện pháp cơ bản như sau: 2.1. Xác định rõ mục tiêu dạy học kí hiện đại Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực CTVH Để việc dạy học mang tính định hướng, bám sát mục tiêu giáo dục, việc đầu tiên của mỗi GV là phải xác định được mục tiêu dạy học đúng đắn. Mục tiêu bao gồm: mục tiêu chung của chủ đề (chuyên đề) và mục tiêu của từng bài học. 2.1.1. Mục tiêu chung CT giáo dục phổ thông xác định mục tiêu chung của các VB kí trong CT ngữ văn 12 như sau: - Hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một số trích đoạn tác phẩm kí Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường): vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cuộc sống, con người và quê hương qua những trang viết chân thực, đa dạng, hấp dẫn. - Hiểu một số đặc điểm và sự đóng góp của thể loại kí Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX. - Biết cách đọc hiểu tác phẩm kí hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại. - Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài nghị luận văn học. a. Về kiến thức - Hình thành những hiểu biết chung về thể loại, tác giả và tác phẩm. - Nhận diện, phân tích và đánh giá hình tượng nghệ thuật của văn bản - Nhận diện, phân tích và đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật VB. b. Về kĩ năng - Rèn luyện cách đọc hiểu văn bản kí theo đặc trưng thể loại - Tích hợp kĩ năng đọc hiểu văn bản kí với kĩ năng đọc làm văn nghị luận về một tác phẩm/đoạn trích thơ. - Rèn luyện kĩ năng tìm kiếm tư liệu, xử lí thông tin, thuyết trình, thảo luận, làm việc nhóm… c. Về thái độ - Trân trọng, tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên của đất nước. - Có ý thức quan sát, ghi chép đời sống theo đặc trưng của thể kí

14


- Có ý thức đọc hiểu văn bản kí theo đặc trưng thể loại để phát triển năng lực CTVH. - Có ý thức ứng dụng những kết quả đọc hiểu từ văn bản kí vào thực tiễn đời sống của bản thân. 2.1.2. Mục tiêu cụ thể a. Mục tiêu dạy học văn bản Người lái đò Sông Đà - Phân tích được vẻ đẹp đa dạng của con Sông Đà vừa “hung bạo” vừa “trữ tình” cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy. Từ đó thấy được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc. - Hiểu và yêu mến tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn trong việc khắc họa những kì công của tạo hóa, những kì tích lao động của con người. b. Mục tiêu dạy học văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Phân tích được vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông Hương qua ngòi bút tài hoa của HPNT và tình yêu, niềm tự hào của tác giả với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương và cũng là cho đất nước. - Nhận biết được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật viết bút kí của HPNT. 2.2 .Quan tâm hình thành những tri thức về kí hiện đại cho HS 2.2.1. Xác định những tri thức HS cần huy động khi đọc hiểu văn bản kí hiện đại Việt Nam 2.2.1.1. Tri thức về thể loại a. Tùy bút - Tùy bút: là tác phẩm văn xuôi tự sự cỡ nhỏ, có cấu trúc phóng túng, nhà văn viết về một “sự thực” nào đó để thể hiện những ấn tượng suy nghĩ cá nhân về những sự việc, những vấn đề cụ thể và thể hiện quan điểm về nghệ thuật, về cuộc sống. - Đặc điểm của tùy bút: + Tùy bút thiên về biểu cảm, chú trọng thể hiện cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của tác giả trước các hiện tượng và vấn đề của cuộc sống. + Trong tuỳ bút, cái tôi tác giả đa dạng, tài hoa, nên thể loại nào, tác phẩm nào cũng có những nét độc đáo riêng.

15


+ Ngôn ngữ của tuỳ bút giàu hình ảnh và giàu chất thơ. - Đặc điểm tùy bút Nguyễn Tuân Thể loại tùy bút mang đặc điểm nổi bật trong phong cách viết kí của Nguyễn Tuân đúng với quan niệm của nhà văn: “Đời là một trường du hí”, “sống là chơi mà viết cũng là chơi”. Với Nguyễn Tuân “viết” là một hình thức chơi văn độc đáo và Nguyễn Tuân đã đóng dấu “cái tôi độc tấu” của mình lên thể loại này. Ông là nhà văn đem đến cho tùy bút những phẩm chất nghệ thuật mới theo cách nói vui vui của ông: “Tùy bút là tùy vào bút mà viết”. Tùy bút của Nguyễn Tuân có những đặc điểm nổi bật in đậm cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn. Vì vậy, khi dạy VB, GV cần hướng dẫn HS lưu ý một số đặc điểm nổi bật trong tùy bút Nguyễn Tuân: + Tùy bút của Nguyễn Tuân rất đậm chất kí. Ghi chép sự thật và thông tin thời sự, chính xác, đó là nét riêng của tùy bút Nguyễn Tuân. Cũng do quan niệm đi, sống và viết, xê dịch nên tùy bút của ông pha chút du kí, kí sự hay phóng sự điều tra. Chính nét riêng này khiến tùy bút của ông có lượng thông tin đáng tin cậy và có nhiều giá trị tư liệu. + Tùy bút của Nguyễn Tuân giàu tính trữ tình. Những trang viết của Nguyễn Tuân giàu tính cảm xúc, lắng thấm những cảm nghĩ của nhà văn, thông qua cái “Tôi” chủ quan mà phản ánh hiện thực cuộc sống. + Tùy bút của Nguyễn Tuân có phẩm chất văn chương qua sự tìm tòi sáng tạo về cách diễn ý, tả cảnh, dùng từ, đặt câu... Câu văn trong tùy bút của Nguyễn Tuân có kiến trúc đa dạng, giàu nhạc tính, giàu giá trị tạo hình. + Tùy bút của Nguyễn Tuân là sự kết tinh tài hoa và uyên bác, khi tập trung miêu tả “sự thực” bằng sự huy động vốn liếng tri thức chuyên môn cực kỳ giàu có của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau (sử học, địa lí học, quân sự, võ thuật, vũ đạo, văn chương, hội họa, điêu khắc âm nhạc, điện ảnh…). b. Bút kí - Bút kí: kết hợp việc ghi chép con người, sự kiện cùng với việc bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của người viết. - Đặc điểm bút kí: + Thường nói về người thật, việc thật cùng những suy nghĩ, bình luận chân

16


thật của người viết. + Thường được xem là thể loại trung gian giữa phóng sự và tùy bút. - Đặc điểm bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường + Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc lộ một trí tuệ sắc sảo, uyên bác: Nhà văn hiểu tường tận những gì mà mình viết. Với lượng thông tin giàu có nên đọc các tác phẩm của ông, người đọc như được tiếp xúc với một kho kiến thức phong phú với sự am hiểu sâu sắc về văn hóa, triết học, lịch sử, địa lý, âm nhạc, điện ảnh, mỹ thuật, văn chương,… + Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường đậm chất tùy bút. Đọc những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận về bút kí có sự thay đổi thú vị. Thể loại chuyên ghi chép các sự kiện xác thực qua ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thấm đẫm chất trữ tình. “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, “Hoa trái quanh tôi”, “Những ngọn núi ảo ảnh”, “Miền cỏ thơm”,…chính là sản phẩm của một phong cách kí độc đáo, với những trang viết vừa trí tuệ, vừa nặng trĩu suy tư và đậm đà chất Huế. + Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có chất tự do, tản mạn. Sự kiện đôi khi chỉ là cái cớ để nhà văn bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình. + Xuyên suốt các tác phẩm kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường là lòng yêu quê hương đất nước, là tâm huyết với tinh hoa, văn hóa dân tộc. Những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, dù viết về vùng nào, đối tượng nào, dù viết về những năm tháng chiến tranh hay cuộc sống đương đại, đều lấp lánh niềm tự hào về những nét đẹp của quê hương đất nước. 2.2.1.2. Tri thức về tác giả và tác phẩm a. Nguyễn Tuân và tùy bút Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân được mệnh danh là “người nghệ sĩ suốt đời đi săn tìm cái Đẹp”, gây ấn tượng sâu sắc với độc giả bằng phong cách nghệ thuật độc đáo: phóng túng, tài hoa và uyên bác. Với Nguyễn Tuân, viết tùy bút như một lối chơi độc tấu và nhà văn rất thành công với thể loại này. - Tùy bút Người lái đò sông Đà là kết quả nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 của ông. Mối duyên kỳ ngộ khiến Nguyễn Tuân nặng lòng với con sông nơi thượng nguồn Tây Bắc. Và dù không phải là dòng sông quê hương nhưng vẫn được nhà văn quan sát và miêu tả bằng tất cả

17


niềm say mê và niềm yêu tha thiết. Con sông Tây Bắc đã trao tên cho nhà văn Nguyễn Tuân để làm nên một trong những tuyệt tác của văn học Việt Nam hiện đại – tùy bút Người lái đò sông Đà. b. Hoàng Phủ Ngọc Tường và bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Từng ao ước được vẽ lại đời mình bằng màu nước sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường là người con của xứ Huế thơ mộng. Tâm hồn ông thấm đẫm chất trầm tư, diễm ảo của xứ sở “ lắm sương, nhiều nắng” này với phong cách hướng nội, xúc tích, mê đắm và tài hoa. - Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bút kí viết về Huế năm 1983 mà nhân tố quan trọng làm nên giá trị đặc sắc của tác phẩm là màu sắc văn hóa rất đậm nét của một cái Tôi thẳm sâu chất tâm linh Huế không thể lẫn. Không có lời nào có thể nói hết về giá trị, về những lóng lánh tài hoa trên trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường với những “phút linh” không trở lại...khi miêu tả vẻ đẹp muôn màu của hình tượng sông Hương trong mối quan hệ với thành phố Huế. 2.2.2. Cách thức tổ chức hoạt động hướng dẫn HS hình thành tri thức đọc hiểu văn bản kí Bước một: GV đề xuất các câu hỏi, bài tập Để hình thành những tri thức về thể loại, về tác giả và VB như là yêu cầu đầu tiên nhằm mục đích tạo hứng thú cũng như sự tò mò, say mê khám phá cho HS trước giờ học đọc hiểu VB kí, GV cần xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập cho HS chuẩn bị ở nhà. Dưới đây là hệ thống câu hỏi và bài tập minh họa: Câu 1: Thế nào là tùy bút và bút kí? Chỉ ra điểm nổi bật nhất trong đặc điểm tùy bút của Nguyễn Tuân và bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Câu 2: Sưu tầm các đánh giá, nhận xét, lời bình có giá trị và uy tín về văn bản, về vẻ đẹp con người cũng như tài năng viết kí của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường? Câu 3: Hãy tìm một số tranh, ảnh, clip liên quan đến văn bản và thuyết minh ngắn gọn cho cả lớp cùng nghe. Câu 4: Đọc kĩ văn bản, xác định bố cục và nội dung chính của văn bản. Câu 5: Nhận định ban đầu về giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh của VB.

18


Bước hai: HS nhận nhiệm vụ và thực hiện nhiệm vụ Để thực hiện nhiệm vụ được giao, HS buộc phải huy động tri thức về thể loại đã được học ở THCS, sưu tầm qua sách, báo hoặc internet,...Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ này, HS bước đầu đã có sự khám phá, hiểu biết và những rung động nhất định về văn bản. Sau đó, HS báo cáo sản phẩm trên lớp hoặc được GV tổ chức cho tìm hiểu phần Tiểu dẫn trong SGK và trình bày, hoặc kết hợp cả hai. 2.3. Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí hiện đại để phát triển năng lực cảm thụ văn học cho HS Mục tiêu đọc hiểu là các vấn đề thuộc về nội dung thông tin, giá trị nội dung, nghệ thuật và thông tin thẩm mĩ, ý nghĩa nhân sinh mà người viết truyền tải trong VB cùng những nội dung, xúc cảm mà bạn đọc sáng tạo, cảm nhận, khám phá khi có sự tương tác với VB. Dựa vào đặc trưng loại hình VB kí, tôi đề xuất các kĩ năng đọc hiểu phù hợp nhằm hướng đến mục tiêu phát triển năng lực người học cho HSPT trong đó có năng lực CTVH, một trong những năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn. Trên cơ sở hệ thống các kĩ năng đọc hiểu cơ bản, người dạy có thể xây dựng và vận dụng các kĩ năng đọc phù hợp để thực hiện mục đích phát triển năng lực CTVH cho HS. Mỗi loại VB, với những đặc trưng riêng về nội dung, mục đích phản ánh và hình thức nghệ thuật cần những kĩ năng đọc hiểu phù hợp. Đặc trưng nổi bật của kí hiện đại thể hiện ở mối quan hệ giữa nội dung sự thật và tính chất nghệ thuật, phẩm chất văn hóa của hiện thực được phản ánh… Bởi vậy, kĩ năng đọc hiểu kí hiện đại Việt Nam bao gồm hai nhóm: kĩ năng nắm bắt thông tin sự thực và kĩ năng phát hiện thông tin thẩm mĩ và đặc sắc nghệ thuật của văn bản kí. Văn bản kí với những đặc trưng riêng về mặt loại hình cần có hệ thống kĩ năng đọc hiểu tương ứng, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi để rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản và phát triển năng lực CTVH cho HS. Trong quá trình đọc hiểu văn bản có các hệ thống kĩ năng tương ứng như kĩ năng đọc lướt, kĩ năng đọc chính xác, kĩ năng đọc phân tích, kĩ năng đọc sáng tạo, kĩ năng đọc kết nối, kỹ năng đọc tích lũy,... Cách phân loại các kĩ năng này dựa vào bản chất của đọc hiểu: là quá trình nhận thức tích cực, chủ động và quá trình kiến tạo ý nghĩa

19


VB. Dưới đây là hệ thống kĩ năng mà tôi đề xuất trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản kí hiện đại Việt Nam nhằm mục đích phát triển năng lực CTVH cho HS theo định hướng đổi mới. 2.3.1. Hướng dẫn HS đọc lướt để nắm được đề tài, chủ đề, bố cục của văn bản kí a. Giới thiệu về kĩ năng đọc lướt Kĩ năng đầu tiên để xác định mục tiêu đọc hiểu một VB kí hiện đại là kĩ năng đọc lướt. Đối tượng của hoạt động đọc lướt bao gồm toàn bộ nội dung phần tiểu dẫn giới thiệu về VB và nội dung VB. Kĩ thuật đọc lướt là đọc nhanh, đọc toàn cảnh, bao quát toàn bộ các nội dung liên quan đến VB. Với hai mảng nội dung cơ bản là thông tin sự thực và thông tin nghệ thuật, kĩ năng đọc lướt giúp người đọc định hướng chú ý vào các mảng nội dung đó để bước đầu xác định mục tiêu khái quát của hoạt động đọc hiểu VB kí. Với đối tượng đọc hiểu là VB thuộc loại hình văn học kí thì mục tiêu khái quát của hoạt động đọc hiểu bao gồm các phương diện cơ bản sau: - Xác định được vị trí và PCNT của tác giả - Nắm được thể loại, tiểu loại, bố cục VB. - Xác định được đề tài, chủ đề của VB. - Bước đầu dự đoán nội dung triết lí nhân sinh, ý nghĩa văn hoá, xã hội... b. Xác định nhiệm vụ đọc Để xác định mục tiêu đọc cụ thể cần đọc nhanh, đọc lướt các nội dung liên quan đến VB có trong SGK, tài liệu học tập và các tài liệu liên quan có thể tìm kiếm được. Khi đọc lướt, đọc nhanh các thông tin đó, có được cái nhìn toàn cảnh, người đọc sẽ có được những dữ liệu ban đầu để định hướng hoạt động tư duy. c. Cách tổ chức hoạt động đọc cho HS Kí hiện đại bao gồm nhiều tiểu loại với những đặc trưng riêng biệt nên kỹ năng đọc lướt là cần thiết. Việc đọc lướt, bước đầu sẽ giúp HS thực hiện mục đích xác định các yếu tố có liên quan đến VB để có định hướng cho các hành động đọc tiếp theo. Dưới đây là các thao tác mà chúng tôi đề xuất cho hoạt động này: Bước một: GV Hướng dẫn HS đọc lướt toàn bộ các nội dung liên quan để bao quát tổng thể các yếu tố của VB: nhan đề, tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, các

20


yếu tố hỗ trợ văn bản như hình ảnh, cách trình bày, lời giới thiệu, lời nhận xét, đánh giá, thẩm bình... Đọc lướt để xác định mục tiêu, cách thức đọc hiểu VB kí hiện đại cần lưu ý một số phương diện thuộc về đặc trưng của loại hình văn học kí: - Xác định thể loại: Kí bao gồm trong đó nhiều tiểu loại với những đặc điểm khác nhau về nội dung phản ánh và phương thức trình bày nghệ thuật. Cần xác định đó là kí thông tin hay kí nghệ thuật, kí văn học hay kí báo chí, là tùy bút hay bút kí,...để từ đó khái quát những nét chung cơ bản nhất về đặc trưng thể loại. - Xác định đề tài, chủ đề của văn bản : VB viết về điều gì, đâu là hạt nhân sự thật trong VB. Yếu tố “sự thực” đó có vai trò ra sao trong VB, là đối tượng phản ánh của VB hay là “điểm tựa” nghệ thuật, là chất liệu để xây dựng hình tượng nghệ thuật của tác giả. Ví dụ : Khi dạy đọc hiểu bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?của Hoàng Phủ Ngọc Tường, GV phải hướng dẫn HS hiểu và cảm nhận được đây là tác phẩm mà nhà văn đã dành hết tâm sức, tình cảm, thậm chí cả tinh hoa và tinh huyết của một đời văn để say sưa khám phá và miêu tả. Nếu Nguyễn Tuân đặc biệt nhạy cảm trước những vẻ đẹp dữ dội nên có thiên hướng tìm đến những cái tận cùng mãnh liệt như gió, bão, thác, ghềnh... thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại rất dễ rung cảm trước những vẻ đẹp nên thơ, mĩ lệ của cuộc đời. Vẻ đẹp khiến cho tâm hồn tác giả rung động sâu sắc, thấm thía nhất là Huế cố đô, là dòng sông Hương mà gần trọn cuộc đời ông gắn bó. Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? thể hiện rõ niềm say đắm, tự hào của tác giả về dòng sông Hương của xứ Huế. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lặng lẽ trằm vào con sông quê hương bao nhiêu dáng vẻ vừa quen, vừa lạ; bao nhiêu vẻ đẹp tiềm ẩn, bao nỗi niềm yêu thương. Dường như ông đã viết Ai đã đặt tên cho dòng sông ? bằng sự cộng hưởng tài năng và xúc cảm trong một nhà văn, một nhà thơ, một nhạc sĩ, một họa sĩ... để áng văn này trở thành một tác phẩm tuyệt bích ngợi ca gấm vóc, non sông. - Xác định xuất xứ và bố cục của văn bản: Đây là các yếu tố có thể dễ dàng xác định khi đọc lướt. Từ đó để có sự phân chia thời gian, mục đích cụ thể phù hợp cho từng giai đoạn đọc tiếp theo. Dưới đây là hệ thống câu hỏi minh họa khi dạy học đọc hiểu VB Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân:

21


Câu 1: Coi phần Tiểu dẫn như một VB thuyết minh, đọc nhanh phần giới thiệu về VB “ Người lái đò sông Đà” trong SGK và xác định: vị trí, PCNT của Nguyễn Tuân; xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác; đề tài và nội dung chính của văn bản. Câu 2: Văn bản Người lái đò sông Đà thuộc tiểu loại kí nào? Nêu đặc điểm của tiểu loại kí đó trong PCNT của Nguyễn Tuân. Câu 3: Giới thiệu một số tư liệu (bài viết, hình ảnh, video) về sông Đà mà em đã sưu tầm được trong quá trình chuẩn bị bài ở nhà. Câu 4: VB chia làm mấy đoạn? Xác định nội dung từng đoạn? Kĩ năng đọc lướt giúp HS biết được văn bản trình bày vấn đề gì, từ cơ sở đó để tìm các tài liệu tham khảo, huy động tri thức nền liên quan. Đến đây, việc sưu tầm, tham khảo và bao quát các ý kiến đánh giá về tác giả, về văn bản mà HS chuẩn bị ở nhà trước giờ học sẽ được sử dụng như một việc làm hữu hiệu để góp phần phát triển năng lực CTVH cho các em khi đọc hiểu văn bản kí hiện đại. Bước hai: GV có thể giới thiệu hoặc hướng dẫn, giao nhiệm vụ để HS trình bày kết quả mà các em đã sưu tầm được qua việc đọc sách báo và tìm kiếm trên mạng internet,... Đó phải là những ý kiến tiêu biểu của các nhà nghiên cứu, các thế hệ bạn đọc trước đánh giá về sự thành công hoặc giá trị của VB, về vị trí và PCNT của tác giả, về sự ra đời của VB... Từ sự trình bày của HS, GV nên lựa chọn, trích dẫn một vài ý kiến đánh giá đáng tin cậy của những cây bút uy tín để thu hút HS, gợi sự tò mò và nhu cầu khám phá VB. Những ý kiến đó nếu được lựa chọn khéo và phù hợp, sẽ kích thích HS chủ động khám phá các giá trị của VB một cách có định hướng. Ví dụ: Khi dạy đọc hiểu bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có thể chọn trích dẫn một số ý kiến sau: (1) Nhà văn Nguyễn Tuân: “Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa”. (2) Nhà văn Tô Hoài: “Nếu có thể so sánh thì tôi nghĩ rằng Sơn Nam thuộc đến ngóc ngách những sự tích xưa của sài Gòn, Bến Nghé, tôi thì nhớ được ít nhiều tên phố, tên làng vùng Hà Nội, Hoàng Phủ Ngọc Tường thì trằm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế.” (3) Đạo diễn điện ảnh Đặng Nhật Minh: “Có thể nói chất Huế đầy ắp trong con người anh. Nếu có một ai đó muốn tìm hiểu thế nào là một tâm hồn Huế, thiết

22


nghĩ chỉ cần đọc bút kí của HPNT là có thể biết được phần nào”.(Trích Lời giới thiệu tập “Miền cỏ thơm” của HPNT). (4) HPNT từng tâm sự: “Với tôi, sông Hồng là nỗi nhớ về phù sa của đời người, sông Cửu Long là sức mạnh để đi tới biển và sông Hương như nỗi hoài vọng về một cái Đẹp nào đó chưa đạt tới ở đời.”( Trích “Sử thi buồn”) (5) Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết trong bài thơ “Vọng Huế”: “Sao thèm hát một điệu gì xưa lắm Thèm đọc một đoạn văn Hoàng Phủ Ngọc Tường Có ai đó rót chiều vào chén ngọc Huế dịu dàng xây bằng khói và sương” Qua những đặc trưng đã xác định của VB, trên cơ sở những thông tin bao quát toàn cảnh để xác định mục tiêu đọc, cách thức đọc thì các hoạt động đọc tiếp theo sẽ có được sự tập trung khi xác định chính xác những điểm sáng thẩm mĩ, những chi tiết,...thật sự quan trọng trong việc tạo nên các hình tượng nghệ thuật của VB. 2.3.2. Hướng dẫn HS đọc chính xác để nhận diện các thông tin trong VB a. Giới thiệu về kĩ năng đọc chính xác Sau khi đã đọc lướt, HS cần đọc xuyên suốt từ đầu đến cuối VB để nhận diện hiện thực cuộc sống và thế giới nghệ thuật trong VB kí. Muốn có kĩ năng đọc chính xác trong đọc hiểu tác phẩm văn chương, trước hết HS phải nắm vững những gì cần hiểu về ngôn từ trong mối quan hệ với văn cảnh, trong sự lựa chọn và kết hợp, trong việc nhóm họp chúng thành hệ thống và phân bố theo một trật tự nào đó trong tác phẩm. Mặt khác, kĩ năng đọc chính xác đòi hỏi người đọc phải tinh mắt không được bỏ sót một từ nào, thậm chí từng dấu câu… Qua đó, người đọc nắm được ý nghĩa của từ khoá, ý nghĩa của câu, của đoạn và tìm thấy mạch ý của văn bản tác phẩm. b. Xác định nhiệm vụ đọc Đọc chính xác bao gồm nhiều hành động đọc: đọc kĩ, đọc chậm, đọc sâu. Đọc kĩ sự kiện, con người, hiện tượng đời sống, lịch sử xã hội được phản ánh trong VB. Đọc chậm để phát hiện, chọn lọc và ghi chú, ghi nhớ các tình tiết, chi tiết, hình ảnh, câu văn, nội dung tri thức quan trọng về đối tượng “sự thực” của VB kí. Vì thế, hiệu quả của kĩ năng đọc chính xác là nắm bắt được ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ của VB để bước đầu nắm được lớp nghĩa hiển ngôn. Lớp nghĩa này chính là nội dung sự

23


thực và thông tin nghệ thuật thể hiện trong VB. Đọc chính xác là hành động đọc để hiểu đúng nghĩa của từ, nghĩa của câu, nghĩa của tổ hợp các yếu tố ngôn ngữ cấu tạo nên VB kí. Vì vậy mục đích tương ứng cần thực hiện là: - Phát hiện mạch sự kiện, hiện tượng về lịch sử, xã hội, văn hóa chủ đạo của VB kí. - Nắm bắt và ghi nhớ phần nội dung thông tin về “người thật việc thật” của VB kí. - Xác định vị trí điểm nhìn của người trần thuật. - Theo dõi sự phát triển của mạch cảm xúc trữ tình của tác giả trong văn bản. - Cảm thụ vẻ đẹp của sự phối hợp, hài hòa giữa lời văn trần thuật và miêu tả trong VB kí. c. Cách tổ chức hoạt động đọc Để thực hiện được các mục đích cần thực hiện linh hoạt các thao tác đọc, thao tác tư duy. Thực hiện thuần thục các thao tác ấy sẽ giúp người đọc khám phá và nắm bắt được các lớp nội dung của VB do câu chữ mang lại. Kĩ năng đọc chính xác giúp HS nắm vững được nội dung thông tin từ VB ngôn từ bởi phương tiện biểu đạt của tác phẩm là ngôn ngữ. Do vậy đọc chính xác là quá trình làm sống động thế giới ngôn từ của VB. Đây cũng là yếu tố quan trọng trong cấu trúc của năng lực CTVH. Hiểu nội dung câu chữ trong VB ở bước đọc chính xác là nền tảng ban đầu quan trọng để HS tiếp tục thực hiện các bước đọc hiểu tiếp theo. Muốn vậy, GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi, HS nhận nhiệm vụ và trả lời. Ví dụ: khi dạy đọc hiểu VB Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân cần hướng dẫn HS xác định được: - Đối tượng trần thuật của VB là gì? - Hãy tóm tắt thông tin về đối tượng được phản ánh trong văn bản bằng sơ đồ tư duy. - Sử dụng thao tác ghi chú để đánh dấu những hình ảnh, chi tiết, câu văn gây ấn tượng mạnh mẽ với em về vẻ đẹp của đối tượng được phản ánh và cái Tôi của tác giả (nhân vật người trần thuật).

24


2.3.3. Hướng dẫn HS đọc diễn cảm để cảm nhận được giọng điệu của tác giả thể hiện trong văn bản kí a. Giới thiệu về kĩ năng đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là một phương pháp đặc thù của dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông. Đây là cách thức hoạt động giúp HS tiếp xúc với VB, thâm nhập vào thế giới hình tượng, cảm thụ trực tiếp tác phẩm, gợi lên những cảm xúc, rung động, những ấn tượng thẩm mĩ làm tiền đề cho quá trình cảm thụ, phân tích tác phẩm một cách thấu đáo. Đọc diễn cảm còn để xác định giọng điệu chủ đạo của tác giả thể hiện trong VB. Đây là kĩ năng cơ bản giúp học sinh cảm nhận được giá trị của tác phẩm với những rung động trên “bề sâu, bề xa” của các tín hiệu thẩm mĩ. Một VB kí hấp dẫn, nhưng nếu đọc không đúng giọng điệu, nhịp điệu người đọc không thể cảm được tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện trong từng câu, từng chữ của VB. Mục đích của đọc diễn cảm là tác động đến người nghe về mặt tình cảm, tạo cho HS những cảm hứng tươi mới, những xúc động mạnh mẽ về văn bản đồng thời kích thích liên tưởng, tưởng tượng, tạo sự thâm nhập thuận lợi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. b. Xác định nhiệm vụ đọc Muốn đọc diễn cảm đúng và hay đòi hỏi người đọc phải cảm thụ và hiểu sơ bộ về tác phẩm, quan điểm, ý đồ tác giả, phải thâm nhập, nhìn thấy bên trong thế giới hình tượng hiện lên sinh động đập vào mắt, phải lắng nghe cái thần, cái giọng của bài văn để điều chỉnh giọng đọc cho tương ứng với giọng điệu, sắc điệu của bài văn. Và khi đọc diễn cảm phải kích thích quá trình tâm lý cảm thụ bên trong của HS, khơi gợi ở HS sự tri giác, hình dung tưởng tượng, liên tưởng, nhập thân, cảm xúc, giúp HS nhìn thấy bên trong một cách sáng rõ cái đã đọc được, nghe được, gợi lên những tình cảm và ấn tượng thẩm mỹ nhất định. Bên cạnh đó, khi đọc diễn cảm cần chú ý đến yêu cầu đọc đúng rồi mới đến đọc hay. Đọc đúng từ, đúng câu, đúng nhịp điệu, giọng điệu, cấu tứ, mạch lạc VB, đúng ý nghĩa câu chữ, đúng thông điệp mà nhà văn ký thác qua văn bản, đúng thái độ, tình cảm của tác giả. Đọc đúng vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của cảm đúng, hiểu đúng bài văn. Đọc hay là đọc đúng, đồng thời truyền được rung động, cảm xúc và cảm thụ, đánh giá mang màu sắc chủ quan của người đọc. Diễn cảm ở đây hoàn

25


toàn không phải là sự uốn éo, kiểu cách nơi đầu lưỡi mà thể hiện những cảm xúc nội tại của tâm hồn. Trong VB kí, nhất là kí nghệ thuật, cảm xúc, suy tư của người viết là mạch cảm hứng trữ tình chủ đạo. Vì vậy, ngoài sự tác động từ phía nội dung sự thực luôn nóng hổi hơi thở cuộc sống, từ những hiện thực và hình ảnh rất gần gũi với cuộc đời thì tác động từ cảm xúc, suy nghĩ của người viết đến người đọc cũng rất mạnh mẽ. Những tác động đó làm cho người đọc nảy sinh xúc cảm, suy nghĩ và thái độ riêng của bản thân về VB. Trên cơ sở đó có thể thấy, đọc diễn cảm góp phần không nhỏ vào mục tiêu phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại hiện nay. c. Cách thức tổ chức hoạt động đọc GV có thể sử dụng biện pháp này trước khi hướng dẫn HS bước vào đọc hiểu chi tiết văn bản; hoặc kết hợp với quá trình đọc hiểu; cũng hoàn toàn có thể sử dụng sau khi đã hoàn tất việc tìm hiểu văn bản. Ở mỗi thời điểm nó đều có tác dụng riêng; hoặc là tạo những ấn tượng chung; hoặc kiểm nghiệm hay khắc sâu một sắc thái tình cảm nào đó; hoặc củng cố, thống nhất, nâng cao mọi ấn tượng về văn bản. Để phát triển năng lực CTVH cho HS, theo chúng tôi nên sử dụng hệ thống câu hỏi cảm xúc ở hoạt động đọc này. Đây là hệ thống câu hỏi tìm ra phản ứng trực giác của người đọc bị tác động bởi nội dung và hình thức của tác phẩm ở mức độ ấn tượng ban đầu. Nó đi sâu vào cảm xúc thẩm mĩ, vào thế giới tâm hồn của người đọc. Trả lời hệ thống câu hỏi này, người đọc xác định được cảm xúc của mình khi đọc diễn cảm đoạn văn (hoặc VB), thể hiện được ấn tượng tương đối rõ nét của mình trước hình thức nghệ thuật hay nội dung trực tiếp có tính chất vật chất của tác phẩm. V.G. Manantxan gọi loại câu hỏi này là: “Cảm xúc vật chất”. Trong hệ thống các câu hỏi cảm xúc luôn xét đến sự chi phối của thể loại và lứa tuổi để có những câu hỏi vừa sức không bị “nhàm sáo”, luôn luôn bám sát giọng điệu của văn bản. Và rõ ràng, để có được câu hỏi thoả mãn yêu cầu đó, người dạy cũng như người học không thể hời hợt với tác phẩm ngay từ phút đầu. Chẳng hạn, khi đọc VB Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, dễ dàng nhận thấy giọng điệu ngợi ca đầy tự hào của tác giả khi viết về vẻ đẹp của con sông Tây Bắc. Ấy là khi tác giả trực tiếp cất lên nỗi niềm: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống làn nước sông

26


Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về.”. Ấy là khi nhà văn xao xuyến mà thốt lên: “ Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh, lắm chứng, chốc dịu dàng đấy rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.” Sau khi HS đọc diễn cảm xong đoạn văn mà GV giao nhiệm vụ hoặc bản thân các em thấy yêu thích, GV có thể đặt các câu hỏi: Câu 1: Ấn tượng nhất của em về đoạn văn (hoặc VB) mà em vừa đọc? Câu 2: Từ việc đọc diễn cảm, em nhận thấy tình cảm của tác giả với sông Đà như thế nào? Câu 3: Nhịp điệu của các câu trong đoạn văn có để lại cho em cảm giác đặc biệt nào không? Câu 4: Qua đoạn văn, em có những tưởng tượng ban đầu như thế nào về vẻ đẹp của sông Đà? 2.3.4. Hướng dẫn HS đọc phân tích hình tượng nghệ thuật qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc để thấy được chiều sâu ý nghĩa của VB a. Giới thiệu về kĩ năng đọc phân tích Nếu đọc chính xác cho kết quả là lớp nghĩa hiển ngôn thì kĩ năng đọc phân tích sẽ cho kết quả là lớp nghĩa hàm ẩn của VB kí. Cảm hứng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước; về tình yêu cái đẹp; về cuộc sống và con người là lớp ý nghĩa trọng tâm của kí hiện đại. Kĩ năng đọc phân tích sẽ giúp HS nhận ra những ý nghĩa đó. Do đó người đọc cần biết cách dựa trên các nghĩa hiển ngôn và sự liên kết với bối cảnh của VB mà thực hiện các thao tác suy ý để tìm ra nghĩa hàm ẩn có trong VB. Trên cơ sở tri thức nền về thể loại, về các yếu tố khác liên quan đến tác giả, tác phẩm và đề tài, chủ đề của VB kí, người đọc đọc và thực hiện các thao tác tư duy cụ thể để tìm đến lớp nghĩa ẩn sau lớp cấu trúc ngôn từ.

27


Kĩ năng đọc phân tích cần sự hỗ trợ của nhiều cách đọc, kiểu đọc khác nhau. Đọc phân tích không phải là đọc một lượt từ đầu đến cuối VB. Phân tích là thao tác tư duy diễn ra một cách liên tục trong toàn bộ quá trình đọc và tập trung khi đọc đi đọc lại, đọc từng đoạn trọng tâm cần chú ý, đọc những chi tiết quan trọng mà trí nhớ đã có ấn tượng, đã lưu lại rõ nét khi đọc lướt, đọc chính xác. Những kết cấu ngữ pháp, hình ảnh, biểu tượng còn chưa được tư duy sâu ở bước đọc trước sẽ được tư duy, liên tưởng, phân tích kĩ khi đọc phân tích. b. Nhiệm vụ đọc Đọc phân tích bao gồm nhiều hành động đọc. Đọc thầm và hình dung hình tượng ngôn từ tạo nên hình ảnh, biểu tượng nghệ thuật, tín hiệu trong VB kí. Đọc tập trung, dồn nén vào hình tượng nghệ thuật trung tâm của VB để thấy chất thơ đời sống hòa quyện vào vẻ đẹp thẩm mĩ của kí. Đọc sâu và đọc kĩ VB để phân tích mối quan hệ ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ, tầng cấu trúc hình tượng và tầng cấu trúc tư tưởng của tác phẩm. Đọc lại nhiều lần để lựa chọn và phân tích những yếu tố hình thức nhằm hình thành thao tác cụ thể hóa nghệ thuật thông qua ngôn từ, hình ảnh, biểu tượng, ẩn dụ, so sánh theo định hướng nội dung của tên VB kí. Đọc toàn bộ VB, đọc nhiều lần để nhận rõ nội dung tư tưởng được khái quát hóa thông qua ý nghĩa của ba tầng cấu trúc của VB kí hiện đại: sự thật đời sống – chất thơ của tác phẩm – tư tưởng tình cảm của tác giả. Nhân vật chính trong kí hiện đại thường mang tính tự thuật (người trong cuộc hoặc người chứng kiến) và cảm hứng trữ tình (bộc lộ tâm tư của người trần thuật) khá rõ nét. Chất trữ tình này có sắc độ khác nhau: từ phóng sự nhiều tính khách quan, qua kí sự, bút kí đến tùy bút ngày càng đậm hơn tính chủ quan. Cốt lõi của kí là sự thật nhưng là sự thật đã được tinh lọc, sáng tạo lại trong quá trình điển hình hóa của nhà văn. Đó là những sự thật đã mĩ hóa gây xúc động sâu đậm cho người đọc. Điều này là điểm phân biệt kí văn học (chỉ cần chân thực, phải mang tính thẩm mĩ) với kí báo chí (phải tuyệt đối xác thực, kịp thời, thông tin khách quan). Ở kí văn học, thể loại đậm chất trữ tình nhất là tùy bút và bút kí. Bản ngã của nhà văn được thể hiện trong hai tiểu loại này gần như trong thơ trữ tình. Chính nhờ đặc trưng này của kí mà ta có thể khẳng định cảm hứng chủ đạo của các VB kí hiện đại thường bắt nguồn từ cảm xúc của người viết trước các vấn

28


đề về thiên nhiên, xã hội, văn hóa hay con người. Vì vậy, đọc hiểu VB kí cần phân tích các yếu tố ngôn ngữ để tìm ra lớp nghĩa hàm ẩn của VB. Đó là kĩ năng phát hiện các lớp ý nghĩa chứa đựng trong các mối liên kết giữa các yếu tố của VB như liên kết ngôn ngữ, liên kết ý tứ, liên kết giữa các yếu tố nghệ thuật. Cụ thể là: - Tìm và phân tích được các điểm sáng thẩm mĩ trong VB kí: đó là những hình ảnh đẹp, câu văn hay mang nội dung khái quát vấn đề có tính triết lí, nhân sinh; các biện pháp nghệ thuật, từ ngữ có tính chất biểu tượng,... - Các yếu tố nghệ thuật bao gồm: Đối tượng trần thuật: sự thực, dòng sự kiện hay dòng tâm tư, là con người, thiên nhiên hay vẻ đẹp văn hoá...; Người trần thuật, mối quan hệ giữa người trần thuật và đối tượng trần thuật: là người quan sát, ghi chép (kí sự, phóng sự) hay là người trải nghiệm (hồi kí, nhật kí, bút kí), người bàn luận, phẩm bình (tuỳ bút, bút kí, tản văn)...; Nghệ thuật trần thuật (ngôn từ, giọng điệu, điểm nhìn trần thuật, từ ngữ,...) c. Cách tổ chức hoạt động học Sau khi đọc chính xác để nắm bắt được khái quát tầng cấu trúc ngôn từ của VB, đọc diễn cảm để có những ấn tượng ban đầu về VB thì hành động tiếp theo là phân tích ý nghĩa của các mối liên kết để tạo nên VB ấy. Đọc phân tích khi đọc hiểu VB kí hiện đại là đọc kĩ VB để phát hiện, phân tích các yếu tố nghệ thuật cấu thành nên ý nghĩa của VB. Dưới đây là các thao tác mà tôi đề xuất khi hướng dẫn HS hiện hoạt động này: Bước một: Xác định người trần thuật và điểm nhìn trần thuật của VB Trước hết cần xác định người trần thuật trong VB kí hiện đại là tác giả với tư cách là người chứng kiến, tham gia vào sự kiện, sự thực – đối tượng trần thuật của VB kí. Chính Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng từng giãi bày những nhọc nhằn trong công việc viết kí: “Cái nghề viết kí nó thật vất vả, giống như nghề lính đặc công, muốn đánh phải tai nghe, mắt thấy, tay sờ. Không đi đến tận thực tế thì không thể viết được, mà cũng đừng nên viết.”. Cách diễn đạt như vậy cho ta hiểu rằng ý tưởng và cảm hứng sáng tạo của người viết kí chủ yếu được tạo ra không phải từ tưởng tượng mà bằng những cuộc đi, những nếm trải của họ. Trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoảng Phủ Ngọc Tường, người trần thuật là người trực tiếp quan sát, chứng kiến và miêu tả “Trong những dòng sông

29


đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất”. Cũng có lúc cái Tôi không trực tiếp chứng kiến mà là cái “tôi” của suy tưởng, hình dung “Trong đêm khuya, chưa bao giờ tôi được nghe một mùi đất thơm đến như vậy, xao xuyến như da thịt, sâu thẳm như thời gian”. Có khi, ông lại say sưa kể như khuyến dụ người đọc cùng tìm theo những bước chân mình từng qua, những xúc cảm mà mình có để thấy chiều sâu văn hóa Huế: “Chúng tôi trở lại làng trên con đường đất chi chít những mồ mả thẳng tắp chạy giữa cánh đồng, và ngồi lại trước một ngôi mộ cổ; bia mộ khá lớn, đề niên hiệu nhà Lê”,… Người ta nói “văn chính là người”. Tiếp xúc với bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? chúng ta không chỉ được tiếp cận với hiện thực về thiên nhiên, con người xứ Huế của hôm qua và hôm nay mà còn được hiểu thêm về thế giới nội tâm hết sức đa dạng, tinh tế của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Xác định điểm nhìn trần thuật là xác định vị trí, vai trò của người trần thuật trong mối quan hệ với đối tượng trần thuật. Trong VB kí, người trần thuật và điểm nhìn trần thuật có ý nghĩa rất quan trọng đối với thành công của tác phẩm. Bởi vì, VB kí có nhiệm vụ miêu tả một “sự thực” nào đó, nhưng không phải như vốn có mà là “sự thực” được cảm nhận bởi trí tuệ, tâm hồn và được ghi lại bởi một nhà ngôn ngữ. Do đó, quan điểm, cảm xúc của người trần thuật về đối tượng và năng lực ngôn ngữ của người trần thuật quyết định thành công của VB. Và VB ra đời là do ý muốn chủ quan, nhu cầu ghi lại và giãi bày quan điểm, suy nghĩ của người viết về đối tượng. Chẳng hạn, sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân đúng là con sông của mảnh đất xa xôi nơi đại ngàn Tây Bắc với đặc điểm đa dạng về địa lí, lịch sử, văn hóa nhưng nó không chỉ đơn giản được ghi lại với các thông tin như một VB khoa học mà đó là hình tượng nghệ thuật về sông Đà được xây dựng dưới ngòi bút phóng túng, tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân, mà một trong số các yếu tố cấu thành là mảng thông tin “sự thực”. Điểm nhìn nghệ thuật xuất phát từ ý đồ nghệ thuật của nhà văn và chi phối sự lựa chọn phương thức trình bày.Ví dụ, trong tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã có sự lựa chọn điểm nhìn một cách đa dạng. Có khi trong tâm trạng của một khách lãng du đi thuyền trên sông Đà, khi thì như một người đi rừng dài ngày khao khát được gặp lại sông Đà, khi thì trên tàu bay mà say mê nhìn xuống dòng

30


nước sông Đà,...Trong hơn 30 trang của tùy bút, lúc thì nhà văn nói chuyện con sông, lúc kể chuyện người lái đò, đoạn này hiện thực dữ dội, đoạn kia lãng mạn giàu chất thơ, hết ngoái dĩ vãng lại vọng tới tương lai, dù là bức chân dung “gọn quánh như sừng mun” hay cái tên in đủ luôn tính cách “hung bạo và trữ tình” của các “sự thực” được phản ánh, tất cả đều xoáy vào một tiêu điểm: vẻ đẹp của người lao động, vẫn xoay quanh một chủ đề khẳng định và ngợi ca đất nước, ngợi ca gấm vóc non sông. Và đằng sau những “sự thực” được phản ánh đó ngời lên vầng sáng của cái Tôi rọi vào với tất cả ý thức văn hóa công dân của mình. Chính điều này tạo nên sự đa dạng về điểm nhìn trong tùy bút Nguyễn Tuân. Vì vậy, ở thao tác đầu tiên của hoạt động đọc này, HS phải trả lời được các câu hỏi khái quát như: Câu 1: Xác định người trần thuật trong VB? Câu 2: Để thể hiện cái nhìn, quan điểm, thái độ với các mã “sự thực” được phản ánh trong VB, người trần thuật đã lựa chọn những điểm nhìn nào? Câu 3: Việc lựa chọn điểm nhìn như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng hình tượng? Bước hai: Phân tích đối tượng trần thuật, nghệ thuật trần thuật qua việc phát hiện và giải mã các tín hiệu nghệ thuật của VB Sau khi xác định được các yếu tố nghệ thuật của VB thì cần quan tâm đến việc đọc kĩ, phân tích để tìm ra ý nghĩa của chúng. Trong VB kí, đối tượng “trần thuật” là “sự thực” nhưng sự thực ấy được nhìn qua lăng kính nghệ thuật của nhà văn trở thành những hình tượng. Nói cách khác, đối tượng trần thuật chính là người thật, việc thật, phẩm chất nghệ thuật của “sự thực” được chọn làm đối tượng thẩm mĩ của VB. Như vậy, xác định đối tượng trần thuật và phân tích cấu trúc của đối tượng, các yếu tố nghệ thuật được sử dụng để xây dựng hình tượng nghệ thuật, xác lập ý nghĩa nghệ thuật, ý nghĩa nhân sinh của đối tượng trần thuật là nhiệm vụ của kĩ năng đọc phân tích. Nghệ thuật trần thuật bao gồm người trần thuật với tư cách là một hình tượng nghệ thuật, giọng điệu trần thuật với từ ngữ, câu văn, hình ảnh, các biện pháp tu từ, điểm nhìn trần thuật…Thông tin thẩm mĩ ẩn chứa trong các yếu tố đó của VB. Bởi vậy sau khi đọc, kĩ năng đọc phân tích giúp HS chọn lọc và lí giải ý

31


nghĩa các thông tin ấy. Chẳng hạn, khi hướng dẫn HS đọc phân tích vẻ đẹp trữ tình của hình tượng sông Đà, GV cần cho HS tìm những hình ảnh, chi tiết gây ấn tượng mạnh mẽ với các em về hình dáng, sắc nước, vẻ gợi cảm của dòng sông,... dưới những điểm nhìn khác nhau của tác giả. Ví như, khi từ trên tàu bay nhìn xuống, Nguyễn Tuân thấy “Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.” Áng tóc ấy được đặt trong tháng hai xuân tới, tuôn dài trong không gian Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo và bảng lảng, ảo huyền khói núi Mèo đốt nương xuân. Câu văn dài, nhịp văn co duỗi nhịp nhàng mang dấu ấn của một ngòi bút tài hoa và sự nhọc công của một “phu chữ”. Không tài hoa sao được khi nhà văn ví dòng sông như mái tóc của người con gái đương xuân, nhất là khi áng tóc ấy được đo bằng không gian dữ dội , kì vĩ của thiên nhiên Tây Bắc?. Không trữ tình sao được khi áng tóc ấy hiện lên trong mây trời Tây Bắc có màu trắng của hoa ban tinh khôi, màu đỏ nồng nàn, ấm áp của hoa gạo, của lãng đãng gợi nhớ gợi thương trong làn khói Mèo đốt nương xuân? Để HS có thể tự mình hình dung, tưởng tượng được vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật, hiểu và cảm nhận được tài năng của tác giả, GV cần hướng dẫn các em theo chân những điểm sáng thẩm mỹ của VB. Theo tôi, nên tập trung sử dụng hệ thống câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng. Sự tưởng tượng càng phong phú và mãnh liệt thì cảm xúc càng phát triển. Đây là thời điểm để đem lại cho người đọc khoái cảm thẩm mĩ xen lẫn xúc cảm của liên tưởng, nhất là khi tác động đến cái đẹp đa dạng của hình tượng được phản ánh bằng ngòi bút tài hoa của người viết kí. Để thực hiện tốt thao tác này, HS cần trả lời các câu hỏi: Câu 1: Tại sao tác giả lại chọn “sự thực” đó làm đối tượng trần thuật? Câu 2: Đối tượng trần thuật ấy được tác giả miêu tả với những ấn tượng đặc biệt nào? Câu 3: Liệt kê các hình ảnh, chi tiết, câu văn mà tác giả dùng để miêu tả “sự thật” đó. Câu 4: Cảm nhận của em về một số hình ảnh, câu văn mà em cho là quan trọng nhất trong việc khắc họa vẻ đẹp của hình tượng.

32


Câu 5: Thử nhắm mắt lại và tưởng tượng tâm trạng (bức tranh) mà nhân vật vừa trải qua (hoặc vừa chứng kiến). Câu 6: Các biện pháp nghệ thuật được dùng khi trần thuật có ý nghĩa như thế nào đối với việc thể hiện tư tưởng của nhà văn? Bước ba: Đọc phân tích hình tượng tác giả trong VB Hình tượng tác giả là một hình tượng nghệ thuật được sáng tạo trong tác phẩm văn học như hình tượng nhân vật nhưng theo một nguyên tắc khác. Nếu hình tượng nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, miêu tả theo một quan niệm và chủ đích nghệ thuật nhất định thì hình tượng tác giả được biểu hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện. Như cách I.W.Goethe từng nói: Mỗi nhà văn, dù muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩm. Chẳng hạn như đến với bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? chúng ta đã nhận ra một Hoàng Phủ Ngọc Tường với tư cách là hình tượng tác giả dẫn dắt độc giả bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Đó là một hình tượng một cái Tôi thống nhất với con người nhà văn ở những phẩm chất như: tài hoa, uyên bác. Tuy nhiên, thống nhất mà không đồng nhất. Tác giả đã khéo léo hóa thân thành một người kể chuyện, dẫn chuyện đầy lịch lãm; đồng thời nhập vai một người con đất Huế trong hành trình khám phá vẻ đẹp đa dạng của dòng sông xứ Huế, con người xứ Huế và văn hóa Huế nói chung. Đó là cái duyên của một người cầm bút chắc tay trong thể kí, cũng là nét phong cách định hình khẳng định tên tuổi của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Trước hết, ở Hoàng Phủ, ta nhận ra một cái Tôi rất mực tài hoa. Nét tài hoa trong bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện ở các biện pháp tu từ đặc sắc. Đầu tiên là việc sử dụng thủ pháp so sánh. Trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? nhà văn thường dùng lối so sánh phức hợp, tức là chỉ có một đối tượng được so sánh nhưng có rất nhiều đối tượng làm chuẩn so sánh. Khi miêu tả dòng sông Hương trong lòng thành phố Huế, nhà văn đã so sánh nhiều tầng bậc: “Đấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”. Từ việc so sánh điệu chảy lặng lờ

33


của sông Hương với điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế, nhà văn đã tiếp tục tô đậm ấn tượng thị giác để làm nổi bật đối tượng so sánh qua hình ảnh: “trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy”. Chưa dừng lại ở đó, nhà văn tiếp tục so sánh những ánh hoa đăng bồng bềnh ẩn hiện trên sông như tâm trạng người con gái ngập ngừng, vương vấn, dùng dằng nửa muốn đi, nửa muốn ở... Những ấn tượng khó gọi tên nhất bỗng chốc hiện hình rõ nét qua những trải nghiệm sâu thẳm tự bên trong. Rõ ràng, những so sánh phức hợp liên hoàn, thiên về cảm nhận như vậy đã khiến cho câu văn vừa gợi hình, vừa gợi cảm và đánh thức rất nhiều rung động với những liên tưởng đa chiều trong tâm hồn người đọc. Điều gì đã giúp nhà văn có những so sánh ấn tượng như vậy ?. Câu trả lời chỉ có thể là: cái Tôi tài hoa, hướng nội với trăm ngàn cảm xúc phong phú về thiên nhiên, tạo vật đã xe kết những hình ảnh rời rạc thành một sự liên hoàn trong cảm nhận của tác giả. Hình ảnh cuộc đời hiện ra vì thế không nhất phiến như một mặt phẳng mà bao giờ nó cũng lấp lánh nhiều chiều, gợi hình dung không dứt và những liên tưởng sâu sa. Nhìn cuộc sống ở chiều sâu, quan sát và miêu tả nó bằng tình yêu sâu nặng, tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường đương nhiên tìm đến thủ pháp nhân hóa để thể hiện sống động, đầy nội tâm những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm. Xuyên suốt tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? hình ảnh sông Hương đã được nhân hóa thành một con người có một cuộc đời, có một thế giới nội tâm phong phú. Con sông ấy có lúc rầm rộ, mãnh liệt ; lúc dịu dàng, say đắm ; khi thì nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại khi thì vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của ngoại ô vùng Kim Long; có lúc nó là người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở, có khi nó lại trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya... Hành trình hơn một trăm cây số của sông Hương từ nơi khởi nguồn đến khi ra đến biển được hình dung như hành trình đời sống với bao nhiêu xúc cảm và trải nghiệm của một người con gái say đắm trong tình yêu và nồng nàn khát vọng dâng hiến. Phải tinh tế, tài hoa lắm mới có thể nhìn thấy trong những sự vật vô tri thuộc về tự nhiên phập phồng hơi thở của khát vọng, tình yêu trong trái tim con người. Cũng phải tài tình lắm mới có thể diễn tả thành câu chữ những ân tình sâu nặng ấy của tự nhiên thành trang văn như bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Cái “Tôi” tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện rõ nét trong cách

34


liên tưởng của nhà văn. Nhiều câu văn đẹp được viết trên cơ sở những liên tưởng giữa những sự việc, hiện tượng được nhắc đến. Nhìn dòng Hương chầm chậm thả mình trôi trên đất Huế, nhà văn đã liên tưởng đến nhiều con sông nổi tiếng khác trên thế giới như sông Xen của Paris, sông Đa nuýp của Pudapet để chợt thấy yêu hơn điệu chảy lặng tờ của con sông quê hương. Với Hoàng Phủ Ngọc Tường đi xa là để về gần, đến với những con sông xứ người là để tìm về sông Hương trong niềm nhớ. Cái Tôi tài hoa của nhà văn còn được bộc lộ trong những trang viết thấm đẫm chất thơ. Nhà văn không chỉ men theo sự kiện mà còn để cảm xúc dẫn dắt trong một ấn tượng được gọi tên bằng trái tim. Bài bút kí có nhiều câu văn đẹp như thơ, trung chiêng mơ hồ giữa khả giải và bất khả giải. Cảm nhận nét trầm tư, diệu vợi của sông Hương khi gần về đến Huế nhà văn buông bút “Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lý, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà…”. Cách ngắt nhịp, phép điệp, những so sánh giàu hình ảnh... khiến cho câu văn trở thành một khúc thơ ngân vang trong lòng người đọc. Vẻ trầm tư khiến sông Hương vừa thiêng liêng, vừa huyền diệu; vừa trí tuệ, vừa trữ tình. Từ chất thơ vô hình, nhà văn kéo dài liên tưởng đến những chân trời cảm giác mới với âm thanh ngân nga của tiếng chuông chùa vẳng lại và tiếng gà xa đưa từ đôi bờ loang ngân nơi mặt sông bát ngát... Hiện diện trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? không chỉ là một cái Tôi của bậc du tử tài hoa mà còn là phẩm chất của một cái Tôi rất mực uyên bác. Nhà văn ý thức rõ “vai trò của người cầm bút chính là vai trò của người thư kí trung thành trong việc trình bày lượng thông tin chứa đựng trong thể kí” và lấy đó là mục tiêu khi chắp bút tác phẩm này. Ta thấy một cái Tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống. Những tri thức về địa lí, lịch sử, triết học, quân sự, văn hóa… khiến cho trang viết của ông vừa thâm hậu như châm ngôn, vừa lấp lánh một thứ ánh sáng lạ kì hấp dẫn người đọc bằng sự tò mò, khát vọng đến những chân trời chưa tới. Chính vì vậy, để phát triển năng lực CTVH cho HS khi dạy đọc hiểu VB kí, như một điều tất yếu, GV phải hướng dẫn HS tìm hiểu về hình tượng tác giả được

35


thể hiện trong VB. Đây là điều cần thiết bởi trong thực tế dạy học, GV thường hay chú trọng vào đối tượng được phản ánh trong VB mà quên đi vẻ đẹp cái Tôi tác giả hoặc nếu có hướng dẫn thì cũng qua loa, chiếu lệ. Chẳng hạn khi dạy Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường có thể đặt các câu hỏi: Câu 1: Sức hấp dẫn của thể kí xét đến cùng là sức hấp dẫn của cái Tôi tác giả. Cái Tôi nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện lên trong VB là người như thế nào? Nêu khái quát những ấn tượng tiêu biểu nhất của em? Câu 2: Hiện diện trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? không chỉ là một cái Tôi của bậc du tử tài hoa mà còn là phẩm chất của một cái Tôi rất mực uyên bác. Bằng hiểu biết về VB hãy lý giải tại sao? Bước bốn: Đọc có phản hồi, có phản biện về các giá trị của văn bản và các ý kiến đánh giá của người đi trước về văn bản Đây là bước rất quan trọng của hoạt động rèn kĩ năng đọc phân tích. Kĩ năng này bao gồm hai thành tố đọc – phân tích. Hoạt động đọc diễn ra cùng với tư duy phân tích các yếu tố nghệ thuật của VB. HS cần đọc nhiều lần và huy động toàn bộ con người tinh thần của mình để hiểu VB. Thực hiện nhiều cách đọc, kiểu đọc để có cái nhìn nhiều chiều, trên cơ sở cảm nhận của bản thân và tham khảo ý kiến của người đọc trước, phản biện các ý kiến của người khác hoặc suy nghĩ của chính mình để có được kết quả là cách hiểu thấu đáo của chính bản thân mình nhờ việc đọc và phân tích. Để thao tác này đạt hiệu quả như mong muốn trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS, theo tôi, GV nên sử dụng câu hỏi nêu vấn đề. Chẳng hạn như sau khi hướng dẫn HS đọc chi tiết về vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, GV có thể đặt câu hỏi để hướng dẫn HS đọc có phản hồi, phản biện về giá trị của VB: Câu 1: Phạm Phú Phong khi đọc bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? từng thốt lên rằng: “Nếu sông Hương biết nói, chắc hẳn nó sẽ rất yên tâm khi tìm đến với những trang viết tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường”. Bằng kiến thức đã thu nhận được từ hình tượng sông Hương, em hãy lý giải tại sao? Câu 2: “Hành trình từ nguồn ra bể, sông Hương đã sống với Huế cả một mối

36


tình trọn vẹn”, em có đồng ý với ý kiến này không? Tại sao? Việc tham khảo ý kiến đánh giá của người đọc trước về văn bản cũng là một cách hỗ trợ việc hiểu sâu hơn VB. Tham khảo để hiểu thêm, kiểm chứng kết quả đọc phân tích của mình. Tóm lại: Văn bản kí hiện đại gồm hai mảng nội dung sự thực và hư cấu nên hoạt động đọc phân tích cần thực hiện được các mục tiêu: nắm vững, hiểu rõ ý nghĩa, vai trò của thông tin sự thực, hiểu và cảm giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mĩ của thông tin hư cấu, từ đó tìm đến với giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của VB. 2.3.5. Hướng dẫn HS đọc bình luận về nghệ thuật viết kí để thấy được sự sáng tạo của tác giả trong văn bản kí a. Giới thiệu về kĩ năng đọc bình luận Mục tiêu của kĩ năng này là để hoàn thiện giá trị chỉnh thể về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật của tác phẩm kí và tích luỹ tri thức công cụ, tri thức về kĩ năng để đọc hiểu các VB kí khác cùng thể loại. Muốn tổ chức thành công hoạt động này GV cần hướng dẫn HS kĩ năng đọc bình luận. Đọc bình luận là một kĩ năng thu nạp trong nó nhiều thao tác có tính chất tổng hợp. Mục tiêu hướng tới là tổng hợp kiến thức văn học và trải nghiệm cá nhân HS để có cái nhìn khái quát chỉnh thể tác phẩm, vừa để hình thành kĩ năng khái quát hoá nghệ thuật về giá trị nhân văn của tác phẩm kí. Bình luận ở đây là sự thể hiện quan điểm, thái độ và khả năng khái quát một cách cao nhất của độc giả sau khi đọc hiểu VB. Đồng thời, đây cũng là bước tổng hợp các tri thức thể loại, tri thức kĩ năng, kinh nghiệm để làm “công cụ” đọc hiểu các VB khác. b. Xác định nhiệm vụ đọc Các kĩ năng đọc trước là tiền đề để thực hiện kĩ năng đọc bình luận. Đọc lướt toàn VB để thấy vấn đề nội dung và cái mới về hình thức của VB kí. Đọc xâu chuỗi ý nghĩa nhân sinh - giá trị nghệ thuật hài hòa giữa sự thực đời sống, điểm nhìn nghệ thuật và giọng điệu, văn phong của tác giả. Đọc trọn vẹn VB và đưa ra những lời bình của cá nhân bạn đọc HS về giá trị văn hóa của tác phẩm kí. Đọc bình luận là kĩ năng tổng hợp, đòi hỏi tư duy khái quát, năng lực tóm tắt, suy luận, liên hệ, đánh giá về các phương diện giá trị của VB. Trên cơ sở đặc trưng thể loại VB kí, kết quả đọc bình luận VB kí Việt Nam hiện đại bao gồm các yếu tố

37


sau sau: - Phát hiện, nhận định các giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh của VB kí. - Đánh giá những phương diện nội dung mang ý nghĩa văn hoá của VB kí. - Phát hiện và đánh giá ý nghĩa, giá trị nghệ thuật của các yếu tố làm nên chất trữ tình của VB kí. - Khái quát đặc điểm thể loại thể hiện trong VB kí. c. Cách tổ chức hoạt động đọc Kĩ năng đọc bình luận có vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình đọc hiểu. Thực hiện thao tác tư duy tổng hợp để rèn luyện kĩ năng đọc này sẽ giúp HS có thể tổng hợp, khái quát hoá được các nội dung đã đọc hiểu, góp phần làm phong phú hơn hệ thống đặc điểm vốn đã phức tạp của kí. Theo tôi, hoạt động đọc này rất phù hợp khi hướng dẫn HS tổng kết bài học. Ví dụ khi dạy đọc hiểu VB Ai đã đặt tên cho dòng sông? của HPNT có thể đặt các câu hỏi cho HS: Câu 1: Sau khi đọc hiểu xong VB, em thu nhận được những nội dung thông tin chính gì về sông Hương? Câu 2: Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bút kí đậm chất trữ tình nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn đã sử dụng các biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh rất thành công. Hãy chọn các hình ảnh hoặc các câu văn mà em cho là tiêu biểu nhất trong bài để chứng minh điều này. Câu 3: Em rút ra được thông điệp nhân văn gì về vẻ đẹp văn hóa Huế, về tình cảm của Hoàng Phủ Ngọc Tường với quê hương, đất nước qua áng văn đẹp và rất mực tài hoa này? Câu 4: Nhà văn đã kết thúc đoạn trích bằng câu hỏi bâng khuâng: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Ý nghĩa của câu hỏi tu từ này? Câu 5: Qua VB này, em hãy rút ra những đặc điểm nổi bật trong phong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. 2.3.6. Hướng dẫn HS đọc so sánh, đối chiếu với các văn bản khác hoặc các loại hình nghệ thuật khác a. Giới thiệu về kĩ năng đọc so sánh

38


Hướng dẫn HS so sánh, đối chiếu với các văn bản khác hoặc các loại hình nghệ thuật khác chính là hoạt động mở rộng tri thức đọc hiểu, từ vấn đề đặt ra trong VB liên hệ, mở rộng các hiểu biết liên quan để có thể hiểu rõ, hiểu sâu, hiểu rộng vấn đề, trên cơ sở đó phát triển năng lực CTVH cho HS. Huy động các tri thức liên quan đến đối tượng phản ánh trong VB là thao tác tư duy quan trọng để giải mã các yếu tố sự thực và yếu tố thẩm mĩ của VB văn học nói chung và VB kí hiện đại nói riêng. b. Cách tổ chức hoạt động đọc Một số nhà nghiên cứu khẳng định việc đối chiếu văn bản với các loại hình nghệ thuật khác có tác dụng làm hiện hình cảm thụ của HS, thúc đẩy HS hình thành những ấn tượng sâu sắc về VB. Khi dạy học các VB kí hiện đại trong CT Ngữ văn 12, theo chúng tôi, hoạt động này có thể diễn ra trước, trong và sau giờ học đọc hiểu VB. Thông thường, GV hay đối chiếu văn bản với nghệ thuật hội hoạ hoặc điện ảnh. Tuy nhiên cần lưu ý, việc sử dụng các hình ảnh này nên mang tính chất đối chiếu, so sánh về hai cách nhìn, hai cách tiếp nhận và hướng tới khơi gợi cảm thụ chứ hoàn toàn không được dùng hình ảnh làm tài liệu trực quan như một số GV vẫn hay làm bởi đó là biện pháp thủ tiêu trí tưởng tượng của HS. HS dễ có xu hướng đồng nhất văn bản với các tác phẩm nghệ thuật khác. Chẳng hạn khi dạy Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, GV có thể hướng dẫn HS liên văn bản với những bài thơ viết về sông Hương, về xứ Huế như Vọng Huế, Tạm biệt Huế, Đây thôn Vĩ Dạ, Dòng sông mang tên em,...với những câu thơ rất hay viết về sông Hương xứ Huế như: “Sông Hương hóa rượu cho ta uống Ta tỉnh, đền đài nghiêng ngả say” hoặc: “Nhịp cầu cong và con đường thẳng Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu Con sông dùng dằng, con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu” GV cũng có thể giúp HS phát triển năng lực cảm thụ khi cho các em nghe

39


những ngân rung tha thiết về giai điệu của những dòng sông xứ sở qua các ca khúc nổi tiếng như “Dòng sông ai đã đặt tên” của nhạc sĩ Trần Hữu Pháp, “Dòng sông quê anh, dòng sông quê em” của nhạc sĩ Đoàn Bổng,... Hoặc cũng có thể cho HS xem những thước phim tư liệu, những bức tranh về sông Đà, sông Hương qua cách cảm nhận của các họa sĩ nhiều thời. 2.3.7. Hướng dẫn HS đọc kết nối mở rộng ý nghĩa của văn bản kí với đời sống để ứng dụng những kết quả đọc hiểu vào thực tiễn a. Giới thiệu về kĩ năng đọc kết nối Đọc kết nối là kĩ năng đọc được tổ chức để tìm ra mối liên hệ giữa ý nghĩa VB với cuộc sống, nghĩa là tìm ra các giá trị ý nghĩa đời sống của vấn đề đặt ra trong VB kí hiện đại để tăng tính thực tế của môn học. Đây là một trong những nội dung quan trọng của mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất người học của giáo dục hiện nay. Nghệ thuật đọc bao hàm tất cả các kĩ năng của nghệ thuật khám phá độc lập: sự sắc sảo trong quan sát, trí nhớ luôn hiện hữu, trí tưởng tượng phong phú và trí tuệ được rèn luyện để phân tích và phản ánh. b. Nhiệm vụ đọc Văn bản kí hiện đại Việt Nam cung cấp những góc nhìn khác, nghệ thuật hơn về những sự vật, hiện tượng bình thường trong đời sống hàng ngày. Mỗi VB kí bao giờ cũng có ý nghĩa thực tiễn với bạn đọc, có thể đơn giản là cung cấp vốn tư liệu, hình ảnh, kiến thức; có thể bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ, năng lực CTVH,... Để thực hiện tốt các kĩ năng đọc kết nối nhằm hướng tới phát triển năng lực CTVH khi học đọc hiểu VB kí hiện đại Việt Nam, GV cần hướng dẫn HS các nhiệm vụ đọc sau: - Bài học về cuộc sống được HS rút ra từ ý nghĩa của VB. Những vấn đề được đề cập đến trong VB đã giúp HS nhận thức được những điều mới mẻ gì về quan điểm sống, cách sống, lối ứng xử nhân văn trong cuộc sống. - Hiệu quả tác động của VB đối với suy nghĩ, quan niệm, đời sống tình cảm, thái độ ứng xử của HS. Ví dụ: Tự hào về các giá trị văn hoá của quê hương sau khi đọc hiểu Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ đó có ý thức, thực hiện các hành động cụ thể để tôn vinh và bảo vệ các nét đẹp của văn hoá quê hương và dân tộc.

40


c. Cách tổ chức hoạt động đọc Bước một: Kết nối với kinh nghiệm của bản thân để dự đoán tác động của văn bản Khi đọc hiểu VB, HS xác định được những tác động của VB tới chính bản thân các em. VB đã làm thay đổi suy nghĩ hay tạo nên điều mới mẻ gì cho HS về kiến thức, thái độ, kĩ năng, xúc cảm thẩm mĩ, trường liên tưởng, tưởng tượng,...?. VB kí hiện đại Việt Nam với đối tượng miêu tả là sự thật cuộc sống cùng với sự đan cài cảm xúc, suy ngẫm, hay đánh giá của người viết sẽ có những tác động nhất định và làm thay đổi, phát sinh suy nghĩ, xúc cảm mới ở người đọc. Chẳng hạn, dòng sông Đà xa xôi nơi thượng nguồn Tây Bắc mà nhiều người lao động vẫn hàng ngày xuôi ngược mưu sinh thấy nó chỉ là một dòng sông như bao dòng sông khác trên mọi miền đất nước: lúc hiền hòa, khi thác dữ,.... Nhưng khi đọc Người lái đò sông Đà (SGK Ngữ văn 12) sẽ hiểu thêm về vai trò, cảm nhận thêm về vẻ đẹp, sự độc đáo mãnh liệt tùng lai chưa từng thấy của dòng sông để có những đồng cảm với tác giả: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống làn nước sông Đà”; “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.”. Bước hai: Liên hệ với thực tế để tìm ra bài học cuộc sống, quan niệm nhân văn về hiện thực được thu nhận từ văn bản Văn bản tác động đến suy nghĩ, tình cảm của HS, làm nảy sinh cảm xúc nhân văn, thúc đẩy những hành động đẹp, những suy nghĩ tích cực về cuộc sống. Với sự năng động và khả năng nhìn nhận hiện thực đa chiều trong đó có góc nhìn văn hoá, VB kí hiện đại Việt Nam chứa đựng nhiều lớp ý nghĩa nhân văn sâu sắc, gần gũi cuộc sống. Trên cơ sở nội dung thông tin sự thật và các phương tiện nghệ thuật, thông tin thẩm mĩ của VB, HS huy động kinh nghiệm sống, vốn văn hoá, thẩm mĩ để kết nối các phương diện thông tin của VB cùng những trải nghiệm của bản thân để mở rộng ý nghĩa của VB. Chẳng hạn khi dạy Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông? có thể giao bài tập: Bài 1: Nhà thơ Bế Kiến Quốc đã từng viết:

41


“Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng? Tất cả trả lời: sinh bên một dòng sông” Là người Việt, ai cũng có một dòng sông trong trái tim mình. Hãy thể hiện suy nghĩ của riêng em về dòng sông quê hương mà em gắn bó. Bài tập 2: Không chỉ sông Đà hay sông Hương là “chứng nhân lịch sử” mà còn rất nhiều “chứng nhân lịch sử” khác trên đất nước Việt Nam. Hãy nêu một dẫn chứng mà em biết ở địa phương em và nhận xét về ý thức giữ gìn di sản, di tích ấy? Tóm lại, các kĩ năng đọc hiểu trên chưa thể bao trùm được tất cả các hoạt động học tập, hoạt động nhận thức của việc đọc hiểu VB kí Việt Nam hiện đại nhưng đó là hệ thống kĩ năng cơ bản nhất. VB kí hiện đại, với những đặc trưng riêng về mặt thể loại, thì việc vận dụng các kĩ năng đọc hiểu một cách chủ động, sáng tạo, phù hợp với đối tượng HS sẽ đạt được hiệu quả cao trong việc thực hiện mục tiêu phát triển năng lực người học nói chung và năng lực CTVH nói riêng. 2.4. Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực CTVH cho HS thông qua đọc hiểu văn bản kí hiện đại Trong quá trình dạy học đọc hiểu VB kí Việt Nam hiện đại, trên cơ sở mục tiêu phát triển năng lực người học, GV lựa chọn các nội dung phù hợp thuộc từng bài học cụ thể để thiết kế các bài tập giúp HS rèn luyện kĩ năng đọc hiểu VB, đồng thời để GV đánh giá năng lực CTVH cho HS, cũng là để HS tự đánh giá kết quả học tập của mình. Đây là giai đoạn quan trọng để GV và HS có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp, từng bước nâng cao kĩ năng đọc hiểu nhằm phát triển năng lực người học theo định hướng đổi mới. Với ngữ liệu cũ (VB đã được học) thì hệ thống bài tập sẽ được xây dựng nhằm củng cố kiến thức đã học, làm sâu sắc hơn những rung động thẩm mĩ của HS qua giờ học; với ngữ liệu mới (VB kí ngoài CT) thì hệ thống bài tập sẽ hướng tới mục đích rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo và năng lực cảm thụ cho người học. 2.4.1. Phân loại câu hỏi, bài tập - Theo 4 mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao. - Câu hỏi, bài tập được xây dựng theo hình thức: Trắc nghiệm khách quan và tự luận. - Câu hỏi, bài tập được xây dựng theo nội dung: gồm có Đọc hiểu và Làm văn. 2.4.2. Thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập

42


a. Câu hỏi, bài tập đọc hiểu văn bản Rèn luyện kĩ năng là một quá trình lặp lại nhiều lần các hình thức hoạt động. Để có kĩ năng đọc hiểu VB kí, ngoài việc thực hiện hoạt động đọc hiểu trên lớp với sự hướng dẫn của GV, thì việc tự rèn luyện của HS có vai trò rất quan trọng. Hệ thống bài tập đọc hiểu với những ngữ liệu mới có tính chất như là “công cụ” để HS thực hiện các hoạt động rèn kĩ năng. Tuy nhiên, nhằm hướng tới phát triển năng lực CTVH cho HS thông qua hệ thống các bài tập đọc hiểu VB kí hiện đại, GV cần xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu theo các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao. Đặc biệt phải bám sát cấu trúc của năng lực CTVH và đặc trưng thể loại mà thiết kế câu hỏi cho phù hợp. Hình thức câu hỏi, bài tập có thể là kết hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận; hoặc tự luận dưới dạng câu trả lời ngắn. - Ví dụ minh họa khi hướng dẫn HS làm bài tập đọc hiểu khi dạy học xong Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đề 1: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4: “Xuân hạ thu đông tôi vẫn thường lên thăm vườn An Hiên của chị Tùng ở Kim Long. Khu vườn xưa cổ sầm uất, mùa nào cũng có những loại hoa đang nở, những trái cây đang chín, nhưng luôn toả sáng thần thái yên tĩnh và khoáng đạt, giống như một tự do nội tâm. Ngày xưa, Nguyễn Du đã sống rất lâu ở vùng này, và bây giờ, trước sân nhà bà Tùng vẫn toả bóng một cây hồng cổ, giống hồng Tiên Điền nổi tiếng mà chính cụ Nghè Mai, cháu nội Nguyễn Du đã tặng cho gia đình bà. Mùa thu, tôi ngồi đọc Kiều dưới mái rêu phong của chiếc cổng vòm quay mặt ra sông ăn những trái hồng ngọt và thanh đến độ tưởng như mỗi miếng vừa ngậm vào nửa chừng đã tan thành dư vang của một tiếng chim. Tôi đọc sách trong trạng thái vừa thích thú vừa lơ đãng, miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang đổi sắc không ngừng dưới ánh nắng và trong mùi hương trốn tìm của hoa trái trong vườn. Chính trong những giờ phút bồng bềnh giữa cõi thực và cõi thơ ấy,tôi đã cảm nhận ra cái âm hưởng sâu thẳm của Huế trên mỗi trang Kiều: Dòng sông đáy nước in trời và những nội cỏ thơm, nắng vàng, khói biếc, nỗi u hoài của dương liễu và sắc đẹp nồng nàn của hoa

43


trà mi, những mùa thu quan san, những vầng trăng thắm thiết…Một trăm ba mươi năm, (rồi nữa ba trăm năm sau), nhà thơ đã qua đời, mà vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, cỏ hoa vẫn y nguyên quanh chỗ tôi ngồi. Thiên nhiên của mảnh đất Kinh – xưa đã để lại một cái bóng mông lung nhưng rất dễ nhận ra trong thơ Nguyễn Du. Ngược lại, chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vang bóng trong thời gian, hình tượng cặp tình nhân lí tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở.” (Trích Ai đã đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường) Câu 1: Nhân vật “tôi” đã phát hiện ra điều gì khi “ngồi đọc Kiều dưới mái rêu phong của chiếc cổng vòm quay mặt ra sông”? Những từ ngữ in nghiêng trong văn bản gợi nhắc đến những câu thơ nào trong Truyện Kiều? Câu 2: Nêu nội dung của đoạn trích? Câu 3: Đoạn văn thấp thoáng hình tượng nhân vật “tôi”, anh/chị cảm nhận gì về vẻ đẹp của hình tượng đó? Câu 4: Thông điệp mà em rút ra được từ đoạn văn trên? Đoạn văn gợi cho em suy nghĩ gì về tình cảm của tác giả với quê hương xứ sở? Đề 2: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4: “Sương mù là một nét phong vận riêng của sông Hương, xuất hiện khoảng cuối năm đến đầu hạ, vào tinh mơ, cuối chiều và những đêm trăng lạnh; cũng nhiều khi ghé lại bất ngờ như một gã lãng du. Nhiều tháng dài thành phố xưa hư ảo trong sương; dòng sông mịt mùng trôi trong cơn mê dài, chỉ còn những ánh lửa thuyền chài lay động ý thức giữa cõi thực và cõi mộng. Người ta ngồi nói chuyện với nhau trong khoang thuyền chỉ lờ mờ nhìn thấy mặt nhau qua màn sương, trong khi bên ngoài những nét cong mềm của cầu Trường Tiền, những mái lầu đội nón của hoàng thành và những cây bàng, cây bồ đề trụi hết lá hai bên sông đều nhạt nhòa đi thành những nét xuất thần trên một bức tranh lụa cổ. Mùa này, những thiếu nữ Huế thường đi ra ngoài với áo trắng dài, nhìn cứ như những dáng người từ sương mù sinh ra. Dù đi xa hoặc phải thay đổi lối sống, họ vẫn giữ mãi mầu áo ấy như kỷ niệm của tình yêu trinh bạch, và những tháng năm âm ỷ mộng đầy trời. Những

44


tháng sương mù đã đưa Huế quay lại với linh hồn một cố đô sâu thẳm trong thời gian; và dù qua bao nhiêu thành phố trên thế giới, người ta vẫn giữ về Huế một ấn tượng riêng của tâm hồn mình, như trong một câu phương ngôn Nhật Bản: “đừng quấy động những gì đã yên tĩnh”” (Trích Sử thi buồn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, NXB.Văn học, 1986) Câu 1: Nội dung chính của văn bản trên là gì? Câu 2: Nêu hai hình ảnh so sánh được tác giả sử dụng trong văn bản trên? Câu 3: Tìm những từ ngữ, hình ảnh nói về đặc điểm của sông Hương và Huế trong những tháng sương mù. Những từ ngữ, hình ảnh đó cho thấy tác giả là người như thế nào? Câu 4: Tác giả muốn nói điều gì khi trích dẫn câu phương ngôn Nhật Bản vào trong văn bản: “đừng quấy động những gì đã yên tĩnh”? Điều đó gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? b. Câu hỏi, bài tập cảm thụ văn học - Mục tiêu của hệ thống bài tập này là nâng cao năng lực CTVH cho HS sau quá trình đọc hiểu các VB kí bằng hệ thống các bài tập theo các mức độ từ đơn giản đến phức tạp; từ viết đoạn văn đến bài văn. - Đề bài gồm 2 mức độ: vận dụng và vận dụng cao. - Hình thức: tự luận Dưới đây là hệ thống bài tập minh họa: + Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân: Câu 1: Nêu ý nghĩa lời đề từ trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân? Câu 2: Từ trên máy bay nhìn xuống, nhà văn so sánh dáng vẻ của sông Đà như thế nào? Cảm nhận của em về vẻ đẹp ấy? Câu 3: Trong tâm thế của người đi rừng lâu ngày gặp lại sông Đà, niềm vui hội ngộ của nhà văn được miêu tả như thế nào? Nêu ý nghĩa? Câu 4: Cảm nhận vẻ đẹp dữ dội, hiểm trở vang khúc anh hùng ca của hình tượng sông Đà? Câu 5: Cảm nhận vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của hình tượng sông Đà? Câu 6: Nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là tài hoa, uyên

45


bác. Từ hình tượng người lái đò sông Đà, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. + Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường Câu 1: Nêu ý nghĩa nhan đề bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Câu 2: Trong bài tùy bút, nhà văn đã miêu tả sông Hương với vẻ đẹp của một “thiên nữ tính” rất đậm đà. Anh (chị) hãy chép 05 câu văn thể hiện “ thiên nữ tính” ấy và nêu ý nghĩa? Câu 3: Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sử dụng một câu văn rất đẹp để tôn vinh vẻ đẹp của dòng sông xứ Huế: “ Giống như sông Xen của Pari, sông Đanuyp của Buđapét, sông Hương chảy giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng là một đô thị cổ trải dọc hai bên bờ sông”. Nêu ngắn gọn những cảm nhận của em về nội dung và nghệ thuật của câu văn này? Câu 4: Vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Câu 5: Sức hấp dẫn của thể kí xét đến cùng là sức hấp dẫn của cái Tôi tác giả. Bằng hình tượng sông Hương, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. Câu 6: “Chất thơ” trong tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường? c. Câu hỏi, bài tập vận dụng sáng tạo Hệ thống bài tập này là các nhiệm vụ học tập, các tình huống để HS thực hiện các hoạt động tư duy nhằm lĩnh hội, đào sâu, nắm bắt và vận dụng một cách thành thục các tri thức, kĩ năng đã có để giải quyết các vấn đề của cuộc sống sau khi học đọc hiểu VB kí hiện đại. Đó là những tình huống học tập được thiết kế để HS tự giác, chủ động, độc lập thực hiện hoạt động học tập trong quá trình chuẩn bị bài, ôn tập bài, rèn luyện kĩ năng học tập mà không có sự hướng dẫn của GV. Khi thiết kế các bài tập loại này có thể dựa vào các định hướng sau: - Đặt ra các tình huống để HS có thể kết nối nội dung, ý nghĩa VB với cuộc sống thực tế của HS. - Tạo cơ hội, gợi dẫn để HS có cơ hội trải nghiệm thực tế vấn đề đặt ra trong VB hoặc HS được tiếp xúc với đối tượng trần thuật trong VB ở ngoài cuộc sống.

46


Dưới đây là hệ thống bài tập minh họa: + Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân Bài tập 1: Thử tưởng tượng em là một nhà quay phim, dựa vào văn bản Người lái đò sông Đà em hãy ghi ra một số hình ảnh, góc cảnh mà em định sẽ quay bộ phim tài liệu có tên “Sông Đà tôi yêu”. Bài tập 2: Qua hình tượng người lái đò sông Đà, em hãy bình luận về ý kiến “Lao động của con người làm nảy sinh ý tưởng và hình thành cái đẹp”. Bài tập 3: Khi học xong VB Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân em ấn tượng nhất với những câu văn nào của tùy bút. Hãy tưởng tượng vẻ đẹp của sông Đà qua những câu văn đó và vẽ thành một bức tranh hoàn chỉnh. (Phụ lục 3) + Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường Bài tập 1: Sông Hương, cho đến nay đã trở thành một biểu tượng giàu giá trị văn hóa và lịch sử của mảnh đất Huế thơ mộng. Để hiểu sâu sắc hơn về những giá trị đó của con sông xinh đẹp này, có ý kiến đề xuất: “xây dựng một theme park – không gian lịch sử, nghệ thuật, du lịch có sức hấp dẫn hơn đối với đại chúng về Sông Hương”. Nếu được xây dựng công viên đó, em có những ý tưởng gì? Bài tập 2: Hãy ghi lại ấn tượng sâu sắc của em về bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của HPNT bằng một hình thức nghệ thuật khác như vẽ tranh, làm thơ, soạn nhạc,... 2.4.3. Cách sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập - Các bài tập được giao đều hướng đến mục tiêu giúp HS tự kiểm tra, đánh giá mức độ, kĩ năng đọc hiểu và năng lực CTVH của bản thân để có sự tự điều chỉnh hoạt động học tập cho phù hợp. - Các câu hỏi, bài tập này thường được dùng trong và sau khi dạy học. - Tùy theo năng lực của đối tượng người học mà GV lựa chọn sử dụng bao nhiêu câu hỏi và bài tập cho phù hợp. Đối với GV, bài tập là yếu tố để điều khiển quá trình giáo dục. Đối với HS, bài tập là một nhiệm vụ cần thực hiện, là một phần nội dung học tập. Hệ thống bài tập mà tác giả luận văn đề xuất thường được dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS hoặc để HS tự kiểm tra kết quả học tập của mình nhằm phát triển các năng lực đọc hiểu và năng lực CTVH.

47


III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại Để làm sáng rõ khả năng ứng dụng cũng như kiểm nghiệm được tính khả thi của những biện pháp được đề xuất trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12) tôi đã tiến hành thực nghiệm. Quá trình thực nghiệm cụ thể như sau: 1. Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm - Đối tượng thực nghiệm: HS lớp12 (bậc THPT) và GV dạy Ngữ văn 12 (CT SGK Ngữ văn 12, tập 1, Ban cơ bản). - Địa bàn thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm tại hai trường THPT Lý Nhân Tông – huyện Ý Yên và THPT Mỹ Tho – Huyện Ý Yên – Tỉnh Nam Định. Cả hai trường đều có đội ngũ GV có kinh nghiệm, có năng lực giảng dạy; tuy nhiên chất lượng HS của hai trường có sự khác nhau, cụ thể là mặt bằng chất lượng HS của trường THPT Mỹ Tho cao hơn so với trường THPT Lý Nhân Tông. Mỗi trường chúng tôi chọn 2 lớp (một lớp thực nghiệm, một lớp đối chứng), cụ thể như sau: Bảng: 3.1. Đối tượng thực nghiệm và đối chứng Tên trường Trường THPT Mỹ Tho Trường THPT Lý Nhân Tông

Lớp thực nghiệm

Lớp đối chứng

Lớp

Sĩ số

GV dạy

Lớp

12A1

36

Nguyễn Thị Lệ

12A10 35

Nguyễn Thị Lệ

12A2

38

Phạm Thị Quỳnh

12A7

Phạm Thị Quỳnh

Sĩ số GV dạy

39

2. Thời gian thực nghiệm Các giờ dạy đọc hiểu chuyên đề kí hiện đại Việt Nam của CT Ngữ văn12 THPT được bố trí ở cuối học kì I, do đó tôi tiến hành thực nghiệm vào tháng 12 năm học 2017 – 2018. 3. Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm 3.1. Nội dung thực nghiệm Để đạt được mục đích thực nghiệm ở trên, tôi tiến hành áp dụng các biện pháp đã đề xuất vào hai bài dạy cụ thể trong CT Ngữ văn lớp 12. Đó là bài: Người lái đò sông Đà (tiết 46,47) và bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? (tiết 49,50). Tiếp theo, tôi

48


tiến hành soạn các bài kiểm tra đầu ra nhằm đánh giá năng lực đọc hiểu, năng lực CTVH của HS sau quá trình rèn luyện kĩ năng đọc hiểu kí hiện đại theo đặc trung thể loại nhằm hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất người học. 3.2. Cách thức tiến hành Quá trình thực nghiệm được tổ chức với ba giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực nghiệm Trước khi triển khai thực nghiệm, tôi tiến hành soạn và hoàn thiện việc thiết kế giáo án. Sau đó, tôi trao đổi với GV dạy lớp đối chứng và lớp thực nghiệm về nội dung và các biện pháp nhằm phát triển năng lực CTVH cho HS trong quá trình dạy học hai VB kí Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông?. Tại các lớp đối chứng, GV sử dụng giáo án của chính bản thân họ soạn và giảng dạy. Còn ở các lớp thực nghiệm, GV sử dụng giáo án do tôi thiết kế để giảng dạy. - Giai đoạn 2: Triển khai thực nghiệm Trước khi tiến hành thực nghiệm, tôi đã bàn bạc và thống nhất với GV dạy thực nghiệm về tinh thần cơ bản của việc dạy thực nghiệm: mục đích, ý nghĩa của việc thực nghiệm; cách thức thực nghiệm. Bên cạnh đó, tôi cũng đề nghị với GV nghiên cứu giáo án mà tôi đã thiết kế và mạnh dạn đề xuất cách tổ chức giờ học thực nghiệm trên lớp sao cho hiệu quả nhất. Trong quá trình thực nghiệm, GV tiến hành dạy theo giáo án đã soạn trên các đối tượng đã xác định theo đúng CT, kế hoạch giảng dạy ở trường lựa chọn thực nghiệm. Đồng thời, cho HS làm bài viết kiểm tra (chung đề, chung đáp án) nhằm đánh giá và khảo sát chất lượng học tập của HS ở lớp thực nghiệm (lớp dạy bằng giáo án thực nghiệm) và lớp đối chứng (lớp dạy theo giáo án thường). + Giai đoạn 3: Thu thập, xử lý kết quả thực nghiệm Sau quá trình dạy học và cho HS lớp thực nghiệm thực hiện bài viết kiểm tra, khuyến khích các em vận dụng những gì đã rèn luyện được vào bài đọc hiểu và làm văn của mình, tôi thu lại sản phẩm và tiến hành phân tích. Từ đó đánh giá kết quả sau cùng của việc phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam. Có thể nói, kết quả là một trong những nội dung quan trọng của thực nghiệm, bởi kết quả thực nghiệm có tác dụng làm sáng rõ tính đúng đắn và khẳng định tính khả thi

49


của những biện pháp được đề xuất trong SKKN. 4. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm Tôi chọn hình thức kiểm tra là đưa ra các bài tập (bằng những đề đọc hiểu VB kí trong và ngoài CT cùng những đề NLVH) để yêu cầu các em thực hiện các kỹ năng đọc hiểu và viết bài CTVH hoàn chỉnh. Sau đó, tôi thu lại kết quả, tiến hành chấm bài, thống kê kết quả đạt hay không đạt yêu cầu theo các tiêu chí vừa nêu, rồi so sánh kết quả kiểm tra của hai lớp đối chứng và lớp thực nghiệm. 5. Giáo án thực nghiệm 5.1. Thiết kế giáo án minh họa cho chủ đề: Kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12) NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - Nguyễn Tuân A. Mục tiêu cần đạt 1. Về kiến thức. - Phân tích được vẻ đẹp đa dạng của con Sông Đà vừa “hung bạo” vừa “trữ tình” cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy. Từ đó thấy được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc. - Hiểu và yêu mến tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn trong việc khắc họa những kì công của tạo hóa, những kì tích lao động của con người. 2. Về kĩ năng - Rèn luyện cách đọc hiểu văn bản kí theo đặc trưng thể loại - Tích hợp kĩ năng đọc hiểu văn bản kí với kĩ năng đọc làm văn nghị luận về một tác phẩm/đoạn trích thơ. - Rèn luyện kĩ năng tìm kiếm tư liệu, xử lí thông tin, thuyết trình, thảo luận, làm việc nhóm… 3. Về thái độ - Trân trọng, tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên của đất nước - Có ý thức quan sát, ghi chép đời sống theo đặc trưng của thể kí - Có ý thức đọc hiểu văn bản kí theo đặc trưng thể loại để phát triển năng lực CTVH.

50


- Có ý thức ứng dụng những kết quả đọc hiểu từ văn bản kí vào thực tiễn đời sống của bản thân B.Thiết kế bài học I. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh. 1. Chuẩn bị của GV. - Sách giáo khoa Ngữ văn 12 (tập một), tài liệu tham khảo. - Soạn bài; giới thiệu một số tác phẩm kí hiện đại Việt Nam cho HS tự tìm hiểu. - Phim tư liệu, tranh ảnh về sông Đà. - Giấy Ao: 8 tờ, bút dạ 4 cái. - Phiếu học tập - Thiết kế nhiệm vụ cho HS chuẩn bị ở nhà trước giờ học. + Thế nào là tùy bút? Chỉ ra điểm nổi bật nhất trong đặc điểm tùy bút của Nguyễn Tuân? + Sưu tầm các đánh giá, nhận xét, lời bình có giá trị và uy tín về văn bản, về vẻ đẹp con người cũng như tài năng viết kí của Nguyễn Tuân? + Hãy tìm một số tranh, ảnh, clip liên quan đến văn bản và thuyết minh ngắn gọn cho cả lớp cùng nghe. + Đọc tóm tắt văn bản; xác định bố cục và nội dung chính của văn bản. 2. Chuẩn bị của học sinh. - Đọc SGK và tài liệu tham khảo. - Hoàn thành các nhiệm vụ được giao của GV trước khi đọc hiểu VB trên lớp học. - Học bài cũ và soạn bài: Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. II. Tổ chức dạy học 1. Ổn định tổ chức (3 phút) 2. Tiến trình bài dạy

Hoạt động của GV - HS

Nội dung cần đạt

Hoạt động 1: Khởi động Bài tập 1: GV chia lớp học thành 4

51


nhóm; các nhóm sẽ tham gia trò chơi ô chữ, nhóm nào tìm ra từ khóa nhanh nhất sẽ là nhóm giành chiến

1. Cô Tô

thắng. Bộ câu hỏi gồm 6 câu như

2. Chùa Đàn

sau:

3. Lai Châu

1.Câu hỏi gồm 4 chữ cái: Hòn đảo

4. Huấn Cao

nào trên đất nước ta đã xuất hiện

5. Yên hoa

trong một tác phẩm kí của Nguyễn

6. Tờ hoa

Tuân? 2. Câu hỏi gồm 7 chữ cái: Bá Nhỡ là nhân vật trong tác phẩm nào của Nguyễn Tuân? 3.Câu hỏi gồm 7 chữ cái: Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”,ông lái đò sinh ra ở mảnh đất nào? 4. Câu hỏi gồm 7 chữ cái: Tên nhân vật chính trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân? 5.Câu hỏi gồm 6 chữ cái: Điền từ còn thiếu vào chỗ trống: “...tam nguyệt há Dương Châu”? 6. Câu hỏi gồm 5 chữ cái: Quá trình Từ khóa: TÀI HOA nhọc nhằn của con ong làm ra giọt mật, con trai làm ra hạt ngọc “đầy đặn, ánh ngời” được Nguyễn Tuân viết trong tùy bút nào? Bài tập 2: Bằng kĩ thuật trình bày một phút, GV tổ chức cho HS chia sẻ nhanh những ấn tượng của mình về tác giả Nguyễn Tuân qua câu gợi -“ ...thầy phù thủy của ngôn từ, người thợ dẫn: “Nguyễn Tuân trong tôi

52


là….”sau đó phản hồi, bổ sung để kim hoàn của ngôn ngữ Tiếng Việt.” giúp HS hồi cố những kiến thức về - “...ông hoàng của thể kí hiện đại Việt Nam” tác giả Nguyễn Tuân và dẫn vào tùy - “...người nghệ sĩ suốt đời đi săn tìm cái bút Người lái đò sông Đà.

Đẹp.” Lời vào bài: Với cá tính độc đáo ấy, Nguyễn Tuân đã tìm tới thể tuỳ bút – một miền đất hứa của những cây bút tài năng để tiếp tục khẳng định cá tính sáng tạo của mình. Giờ học ngày hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu tài năng ấy qua áng văn tài hoa, tuyệt mĩ nhất của Nguyễn Tuân: Người lái đò sông Đà

Hoạt động 2: Hình thành kiến I. TÌM HIỂU CHUNG thức

1. Tác giả Nguyễn Tuân

Hướng dẫn HS tìm hiểu khái quát a. Sự nghiệp văn chương. về tác giả, tác phẩm

- Trước Cách mạng: Một chuyến đi, Chiếc lư

Bài tập 1: Coi phần Tiểu dẫn là một đồng mắt cua, Thiếu quê hương, Vang bóng văn bản thuyết minh, hãy đọc và một thời → con người chỉ muốn xê dịch cho tóm tắt những nét chính về tác giả khuây cảm giác thiểu quê hương. Nguyễn Tuân. Nêu ngắn gọn vai trò - Sau Cách mạng: Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, của Nguyễn Tuân với sự phát triển Sông Đà, … → khát khao hòa nhịp với đất của VHVN hiện đại.

nước với cuộc đời này.

HS trả lời.

Đóng góp của Nguyễn Tuân: Thúc đẩy

GV chốt lại kiến thức cơ bản.

thể tùy bút và bút kí đạt đến trình độ nghệ

GV cho HS xem phim tư liệu, thuật bậc cao; làm phong phú ngôn ngữ văn tranh ảnh liên quan đến Nguyễn học dân tộc; đem đến cho nền văn học dân Tuân.

tộc phong cách tài hoa và độc đáo. + Anh Đức: “mỗi chữ, mỗi dòng tuôn ra dưới

HS trình bày một số lời bình giá, đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện nhận xét về tác giả và tác phẩm có riêng.”. uy tín từ việc sưu tầm của cá nhân + Nguyễn Đình Thi: “Nguyễn Tuân là nhà các em để giới thiệu cho cả lớp.

văn suốt đời đi săn tìm cái Đẹp và cái Thật”

53


HS trình bày. GV nhận xét và chốt kiến thức.

b.Phong cách nghệ thuật độc đáo của

GV yêu cầu HS nêu những nét nổi Nguyễn Tuân: bật nhất trong phong cách nghệ - Nhà văn luôn nhìn con người, sự vật, hiện thuật của Nguyễn Tuân.

tượng ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.

HS trả lời.

- Sử dụng ngôn ngữ tài tình, bút pháp nghệ

GV chốt lại kiến thức cơ bản.

thuật sắc sảo. - Kiến thức uyên bác. “Cảm xúc mạnh, hơi thở nồng” (Nguyễn Đăng Mạnh) là sức hấp dẫn của tùy bút Nguyễn Tuân. 2. Văn bản “Người lái đò Sông Đà”.

GV yêu cầu HS nêu hoàn cảnh sáng a. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác tác và xác định thể loại của văn bản. - In trong tập “Sông Đà” (1960) của Nguyễn HS trả lời.

Tuân.

GV chốt lại kiến thức cơ bản.

- Đó là thành quả nghệ thuật Nguyễn Tuân thu hoạch được trong chuyến đi tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi vào năm 1958. b. Thể loại Tùy bút: là thể loại kí hiện đại thiên về bộc lộ những suy tưởng, cảm xúc chủ quan của tác

Bài tập 2: Đọc lướt và tìm “sự thực” giả. được phản ánh trong VB? Nêu ngắn c. Nội dung gọn đặc điểm của những mã sự thực - Thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc ấy.

qua hình ảnh con sông Đà hung bạo mà trữ

HS làm việc cá nhân và trả lời, GV tình. chốt kiến thức.

- Thể hiện vẻ đẹp con người Tây Bắc qua hình ảnh người lái đò anh hùng trí dũng mà đậm chất tài hoa, nghệ sĩ trên sông Đà. d. Lời đề từ Sông Đà đến với người đọc bằng ấn tượng

54


Bài tập 3: Lời đề từ cho em hiểu gì của tác giả về cảm hứng chủ đạo của đoạn - Một con sông rất đẹp, với vẻ đẹp của người trích?

lao động cất tiếng hát say mê trên dòng sông.

“Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng - Một con sông có cá tính độc đáo, mãnh liệt tùng lai chưa từng thấy.

sông”

(Wladyslaw Broniewski, nhà thơ Ba Như vậy: Lời đề từ cho thấy cảm hứng chủ Lan.)

đạo của đoạn trích: ngợi ca vẻ đẹp độc đáo

“Chúng thủy giai đông tẩu

của sông Đà, vẻ đẹp của người lao động trên

Đà giang độc bắc lưu”

dòng sông.

(Nguyễn Quang Bích)

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 1. Bố cục - Đoạn 1: Sự hùng vĩ, hung bạo của sông Đà

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

và hình tượng người lái đò trong cuộc chiến

Bài tập 1:

đấu với con sông hung dữ

- Xác định bố cục của đoạn trích? (Từ đầu văn bản đến ...vì người lái đò ấy đã Nêu nội dung chính của từng đoạn?

nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước

- Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Sông Đà.) Tuân, sông hiện lên với những vẻ - Đoạn 2: Vẻ trữ tình, thơ mộng của dòng đẹp nào?

sông Đà. (Phần còn lại của văn bản)

HS trả lời, GV chốt kiến thức.

2. Nội dung cụ thể

GV cho HS xem một đoạn phim kí a. Hình tượng Sông Đà sự về Sông Đà dài 3 phút, để HS

Sông Đà hung bạo

thấy rõ về lai lịch và sự hung bạo của con sông.

Cảnh đá bờ sông dựng vách thành.

Bài tập 2: Sự hùng vĩ, hung bạo của Cảnh mặt ghềnh Hát Loóng. sông Đà được thể hiện qua những Những cái hút nước Sông Đà. phương diện nào?

Thác đá Sông Đà.

HS trả lời. GV: chia lớp làm 4 nhóm để tìm hiểu về sự hung bạo của Sông Đà theo 4 nội dung trên. Thời gian thảo

55


luận là 10 phút, HS thảo luận nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn. Sau đó cử đại diện của nhóm lên trình bày. Nhóm 1 trình bày: Cảnh đá bờ sông - Cảnh đá bờ sông dựng vách thành: Chỗ ấy dựng vách thành.

lòng sông vừa hẹp vừa sâu. Để diễn tả độ

HS đọc đoạn “Hùng vĩ...phụt đèn hẹp, độ sâu của dòng sông, Nguyễn Tuân đã điện” và thực hiện các yêu cầu:

dùng rất nhiều cách diễn đạt.

- Chỉ ra các câu văn miêu tả độ cao, + Dùng kiến thức thực tế:“Mặt sông chỗ ấy độ độ hiểm trở của vách đá hai bên chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” → Hình dòng sông?

ảnh tả thực, giúp người đọc hình dung được

- Nguyễn Tuân đã thể hiện tài quan độ cao và cái lạnh lẽo, âm u ở những khúc sát, tìm hiểu, khả năng vận dụng sông có đá dựng vách thành. các ngành nghệ thuật khác nhau + Dùng hình ảnh so sánh:“Có vách đá thành như thế nào để khắc họa vẻ đẹp ấy?

chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu” →

- Phát biểu ấn tượng của em về so sánh gợi lưu tốc dòng chảy lớn, vào mùa dòng sông sau khi đọc xong đoạn nước lũ vô cùng nguy hiểm. văn?

+ Có khi dùng liên tưởng, tưởng tượng:

GV: đánh giá và chốt kiến thức

“Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh... cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện” --> so sánh cảm giác của con người giữa thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với một khoảnh khắc của đời sống hiện đại giữa chốn thị thành. Ấn tượng về cảnh đá bờ sông dựng vách thành: cao, hẹp, âm u, lạnh lẽo,...vừa vững chãi, thâm nghiêm, vừa kiên cố, bí ẩn.

Nhóm 2 trình bày: Quãng mặt - Những quãng mặt ghềnh:“dài hàng cây ghềnh Hát Loóng. HS thảo luận và số… tóm được qua đấy.” thực hiện các yêu cầu:

+ Câu văn với nhiều vế được ngắt ra với

- Ghi lại câu văn ấn tượng nhất khi những thanh trắc liên tiếp, những từ láy tác giả miêu tả sự hung bạo của tượng hình, diễn tả hợp âm dữ dội của sóng,

56


Sông Đà ở quãng mặt ghềnh Hát của gió, của đá, của nước sông Đà. Lóong.

+ Tâm địa tàn độc: “gùn ghè suốt năm như

- Chỉ ra nghệ thuật đặc sắc trong lúc nào cũng muốn đòi nợ xuýt bất cứ người câu văn đó? Nêu tác dụng của lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy.” chúng?

Gợi sự hung bạo dữ dội của sóng nước Đà

- Nêu ấn tượng của em về cảnh giang, luôn đe dọa, cướp đoạt tính mạng con Sông Đà trong quãng này?

người.

GV đánh giá và chốt kiến thức

- Những hút nước:Nguyễn Tuân đã dùng

Nhóm 3 trình bày: Những cái hút nhiều cách so sánh, miêu tả khác nhau để tạo nước. HS thảo luận và thực hiện các ấn tượng cho người đọc: yêu cầu:

+ Miêu tả trực tiếp: Nước ở đây biết thở và

- Ghi lại các hình ảnh, các câu văn kêu như cửa cống cái bị sặc. miêu tả những cái hút nước Sông + Miêu tả gián tiếp: lừ lừ những cánh quạ Đà?

đàn

- Chỉ ra và phân tích nghệ thuật + Miêu tả cảm giác thực của người lái đò, miêu tả của Nguyễn Tuân; từ đó người chèo thuyền qua quãng ấy: hút nước nêu những cảm nhận về vẻ đẹp xoáy giống như cái giếng bê tông thả xuống hung bạo của dòng sông qua những sông; nước ặc ặc như vừa rót dầu sôi vào; câu văn này?

làm cho thuyền trồng cây chuối và mươi phút

Đại diện nhóm 3 trả lời.

sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.

GV thu thập ý kiến nhận xét, bổ -> Để tạo cảm giác mãnh liệt cho người đọc sung của các nhóm khác rồi đánh về sự hung dữ, hiểm nguy của những hút giá và chốt kiến thức.

nước.

Nhóm 4 trình bày: Thác đá trên - Cảnh thác đá: Nguyễn Tuân như một nhà sông.

quay phim tài ba chọn được góc độ độc đáo

HS thảo luận và thực hiện các yêu để miêu tả tiếng nước thác và thạch trận lòng cầu:

sông.

- Liệt kê ra câu văn miêu tả âm + Từ xa tiếng thác như oán trách van xin, thanh thác nước Sông Đà? Nhận xét đến gần thì nó gầm lên những âm thanh về các từ ngữ và hình ảnh miêu tả?

cuồng nộ như tiếng ngàn con trâu mộng

57


- Tâm địa hung hãn, ác độc của đá đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nước Sông Đà được tái hiện qua các từ nổ lửa. Dùng lửa tả nước là cách miêu tả rất ngữ nào? Ý nghĩa của những từ ngữ độc đáo của Nguyễn Tuân. Âm thanh nước ấy?

thác như bản hợp xướng của đại ngàn Tây

- Ấn tượng đậm nét nhất của em về Bắc muôn cung nghìn bậc, đáng sợ khôn thác đá sông Đà.

lường.

Đại diện nhóm 4 trả lời.

+ Tới gần, nó bày ra cả một chân trời đá:

Các nhóm khác nêu ý kiến phản hồi một số hòn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền, (có thể đặt thêm câu hỏi cho nhóm mặt hòn nào cũng ghồ ghề, hòn nào cũng bạn).

méo mó nhăn nhúm. Bãi đá ngầm được nhà

GV nhận xét, chốt lại kiến thức và văn miêu tả như một thạch trận dàn bày công bình giá về một vài cách miêu tả ấn phu, khéo léo với ba trùng vây kiên cố: hàng tượng của nhà văn. Ví như: đá “hất tiền vệ có trách nhiệm lừa dụ con thuyền vào hàm”, hay “tiu nghỉu”, “khiêu sâu thạch trận; tuyến giữa sẽ đón đánh trực khích” để thấy được chữ dùng của diện trong khi tuyến đầu vòng lại đánh khuýp NT rất công phu, rọi cái nhìn đầy quật vu hồi; tuyến cuối cùng kiên cố nhất với độc đáo vào thói du côn, du đồ của những boong-ke chìm và pháo đài nổi… thiên nhiên man dại

Như vậy, bằng cách nhân hoá hợp lí Mặt

GVyêu cầu HS:

nước hò la vang dậy..., ta thấy đá không vô

- Đọc diễn cảm toàn bộ đoạn văn.

tri, vô giác mà cũng đầy mưu mô, nham hiểm

- Từ việc đọc diễn cảm, em nhận như kẻ thù số một của con người. thấy tình cảm của tác giả với sông Đà như thế nào?

->Những con thác giận dữ ầm ầm va vào bờ

- Nêu những ấn tượng mạnh mẽ đá được Nguyễn Tuân cảm nhận như sức nhất của em về vẻ đẹp hung bạo của mạnh ghê gớm, man dại của thiên nhiên; gợi sông Đà; sự hung bạo ấy của con liên tưởng về một trận động rừng, động đất sông tạo cho em những liên tưởng hay lở núi nào đó thời tiền sử. gì?

Tóm lại

GV: yêu cầu HS khái quát lại nội - Sông Đà đã thực sự được chinh phục và chi dung vừa tìm hiểu. Sau đó chốt lại phối bởi thứ quyền năng riêng của người cầm vấn đề.

bút – quyền năng của ngôn từ. Sự hung bạo

58


đã nổi lên thành hình, thành khối dưới ngòi bút Nguyễn Tuân. - Chất vàng tìm thấy ở thiên nhiên Tây Bắc: GV mở rộng: Theo em mục đích Vẻ đẹp hoang dại, hùng vĩ và tiềm năng thủy của Nguyễn Tuân lên Tây Bắc để điện to lớn của Sông Đà. tìm chất vàng ở thiên nhiên đã được -> Nhà văn đã dự cảm được vị trí vai trò của thực hiện chưa? Đó là gì?

Đà giang trong sự nghiệp xây dựng của đất nước.

GV hướng dẫn HS tìm hiểu vẻ đẹp b. Sông Đà trữ tình trữ tình của Sông Đà: HS: Đọc diễn cảm đoạn văn từ: “Đã có lần....mình dây cổ điển trên dòng trên.”, GV nhận xét cách đọc của HS. Bài tập1: HS làm việc cá nhân và - Nhà văn quan sát dòng sông ở nhiều góc độ trả lời các yêu cầu sau:

để thấy được vẻ đẹp phong phú, tuyệt mĩ

- Đọc VB em thấy sông Đà được giàu chất thơ của hình tượng sông Đà: quan sát ở vị trí, thời điểm nào?Việc + Từ trên máy bay nhìn xuống. lựa chọn điểm nhìn như vậy có tác + Đi rừng dài ngày bỗng gặp lại sông Đà. dụng gì trong việc xây dựng hình + Đi thuyền trên sông Đà. tượng của tác giả? - Đặt sông Đà dưới nhiều góc độ để quan sát cho em cảm nhận thêm -> Khẳng định một cái Tôi nghiêm túc, cẩn điều gì về cái Tôi của Nguyễn trọng và dạt dào cảm xúc trong tìm kiếm và Tuân?

phát hiện.

GV chốt lại vấn đề. Bài tập 2: Vẫn là 4 nhóm đã chia, GV giao mỗi nhóm một nhiệm vụ; các nhóm thảo luận nhóm trong 5 phút và trả lời các yêu cầu sau: Nhóm 1:

59


- Nhân vật “Tôi” đã phát hiện ra điều gì khi từ máy bay nhìn xuống - Từ trên độ cao của máy bay nhìn xuống: sông Đà?

+ Dáng vẻ: dòng sông như một áng tóc mun

đi rừng dài ngày bắt gặp sông Đà

dài ngàn ngàn, vạn vạn sải. Áng tóc ấy được

và khi đi thuyền trôi trên dòng miêu tả: Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như sông?

một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn

- Dưới góc nhìn ấy, vẻ đẹp nào của hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa sông Đà được lựa chọn để miêu tả?

ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói

- Cảm nhận của em về một số hình núi Mèo đốt nương xuân ảnh và câu văn mà em ấn tượng Nhận xét: Câu văn trải dài với ngữ điệu đặc nhất.

biệt khiến ta liên tưởng tới tóc chị Hoài thuở

- Nhận xét về nghệ thuật trần thuật nào đã từng vương vấn trong văn Nguyễn của Nguyễn Tuân qua đoạn văn Tuân. Dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn, miêu tả vẻ đẹp trữ tình của sông Đà. Sông Đà như một người thiếu nữ kiều diễm Đại diện nhóm 1 trả lời.

giữa núi rừng Tây Bắc.

GV thu thập ý kiến nhận xét, bổ +Tả làn mây mùa xuân và ánh nắng mùa thu sung của các nhóm khác rồi đánh để thấy sắc nước sông Đà - mặt nước sông giá và chốt kiến thức

Đà lấp lánh sắc màu thay đổi qua các mùa. Mùa xuân: “dòng xanh ngọc bích chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô.” Mùa thu: dòng phù sa “lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa...”

GV: Đoạn văn thấp thoáng hình Đó là những sắc màu nguyên thuỷ đậm nét tượng nhân vật “tôi”, anh/chị cảm chứ không lờ lờ, nửa vời như bao con sông nhận gì về vẻ đẹp của hình tượng khác. đó?

-> Thể hiện sự quan sát tinh tế và quá trình

Nhóm 2:

lao động nghệ thuật công phu, nghiêm túc

- Nhân vật “tôi” đã phát hiện ra điều của Nguyễn Tuân. gì khi đi rừng dài ngày bắt gặp - Trong tâm thế của một người đi rừng dài sông Đà?

ngày được gặp lại sông Đà:

60


- Dưới góc nhìn ấy, vẻ đẹp nào của + Niềm vui hội ngộ đã đem đến cho Nguyễn sông Đà được lựa chọn để miêu tả?

Tuân những liên tưởng độc đáo: Tôi nhìn cái

- Cảm nhận của em về một số hình miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba ảnh và câu văn mà em ấn tượng Đường thi khiến người đọc như cảm nhận nhất.

được độ xốp, độ giòn, độ tươi, độ trong của

Đại diện nhóm 2 trả lời.

nắng,...trong niềm vui hân hoan của những

GV cho các nhóm còn lại nhận xét, ngày mưa dầm bỗng gặp một ngày trời nắng. bổ sung rồi đánh giá và chốt kiến Niềm hạnh phúc ấy như một giấc mơ đẹp thức.

vừa chợt tỉnh bỗng được nối dài. + Bờ sông Đà rợp cánh chuồn chuồn chuồn, bươm bướm làm xốn xang tâm hồn người người gặp gỡ khiến nhà văn thốt lên như một niềm ngây ngất, mê say: “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn, bươm bướm trên sông Đà.” + Sông Đà còn mang vẻ đẹp gợi cảm: “đằm đằm, ấm ấm” như gặp lại cố nhân xa thì thương, gần thì nhớ của Nguyễn Tuân. -> Những câu văn đẹp như thơ, như họa khiến người đọc khao khát rộng mở tâm hồn

Nhóm 3:

mình để khát vọng hướng đến những chân

- Nhân vật “tôi” đã phát hiện ra điều trời chưa tới. gì trong tư thế của một du khách đi - Trong tư thế của một du khách để cảm nhận thuyền trôi trên dòng sông?

cảnh con thuyền trôi trên sông giữa đôi bờ

- Dưới góc nhìn ấy, vẻ đẹp nào của thương nhớ: sông Đà được lựa chọn để miêu tả?

+ Thuyền tôi trôi trên sông Đà...Câu văn

- Cảm nhận của em về một số hình nhiều thanh bằng gợi cảm giác êm ả, êm đềm ảnh và câu văn mà em ấn tượng của dòng chảy. nhất.

+ Cảnh hai bên bờ sông đầy thi vị: bãi ngô non đầu mùa, cỏ gianh, con hươu thơ ngộ

- Nhận xét về nghệ thuật trần thuật ngẩng đầu... với vẻ đẹp nguyên sơ, huyền

61


của Nguyễn Tuân.

thoại.

Đại diện nhóm 3 trả lời.

Nhận xét: Nguyễn Tuân đã viết những câu

GV thu thập ý kiến nhận xét, bổ văn mang dáng dấp mềm mại, yên ả, trải dài sung của các nhóm khác rồi đánh như chính dòng nước; dụng công tạo ra một giá và chốt lại vấn đề.

không khí mơ màng, khiến người đọc có cảm giác như được lạc vào một thế giới kì ảo. Sự tài hoa đã đem lại cho áng văn những trang tuyệt bút, tạo dựng nên cả một không gian trữ tình đủ sức khiến người đọc say đắm trước vẻ đẹp của dòng sông và của những

Nhóm 4: Sau khi tìm hiểu xong vẻ trang viết tài hoa. đẹp của hình tượng sông Đà, hãy Đánh giá: thực hiện các yêu cầu sau:

- Sông Đà mang vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng

- Đánh giá khái quát về vẻ đẹp của không chỉ có giá trị trong văn chương nghệ sông Đà.

thuật, mà còn có giá trị lớn về kinh tế cho đất

- Đánh giá khái quát về phong cách nước. nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

- Nguyễn Tuân thể hiện một phong cách tài

Đại diện nhóm 4 trả lời.

hoa, lịch lãm qua việc miêu tả, cảm nhận về

GV nhận xét và chốt lại vấn đề.

Sông Đà – con sông Tây Bắc đã trao tên cho một công trình nghệ thuật tuyệt tác.

Trên nền khung cảnh thiên nhiên

2. Hình tượng người lái đò sông Đà

hùng vĩ của Tây Bắc, Nguyễn Tuân đã khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của người lao động – người lái đò sông Đà. GV: Đọc đoạn văn Tới cái thác rồi... Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo;

- Anh hùng, trí dũng.

yêu cầu HS nêu ấn tượng về những

- Nghệ sĩ, tài hoa.

vẻ đẹp nổi bật mà Nguyễn Tuân không tiếc lời ngợi ca ở hình tượng nhân vật này.

62


Hướng dẫn HS tìm hiểu vẻ đẹp anh

a. Anh hùng trí dũng

hùng, trí dũng của hình tượng. Bài tập 1: HS thảo luận nhóm theo kỹ thuật khăn trải bàn trong 10 phút

- Cảnh vượt thác qua ngòi bút tài hoa của

để trả lời các yêu cầu sau:

Nguyễn Tuân hiện ra như một trận thuỷ

- Em có nhận xét gì về sự tương

chiến trên sông:

quan giữa dòng sông Đà và người

+ Sông Đà như một kẻ thù nham hiểm, mưu

lái đò qua cảnh vượt thác?

mô quỷ quyệt: sóng nước hò reo quyết vật

- Trong cuộc chèo thuyền vượt thác, ngửa mình thuyền; thạch trận với đủ 3 lớp hình ảnh người lái đò sông Đà hiện

trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những

lên như thế nào?

hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm.

- Thử tưởng tượng bản thân em

Thiên nhiên dữ dội, hiểm độc với sức mạnh

cũng đang trải qua những trùng vi

được nâng lên hàng thần thánh.

thạch trận nguy hiểm như người lái

+ Con người: nhỏ bé, không hề có phép màu,

đò Lai Châu. Hãy nêu một vài cảm

vũ khí trong tay chỉ là chiếc cán chèo trên

nhận của em về cuộc quyết đấu sinh một con đò đơn độc hết chỗ lùi. Nhưng thác tử ấy.

dữ đã không chặn bắt được con thuyền; con

GV gọi bất kì một nhóm trả lời; các

người chiến thắng sức mạnh thần thánh của

nhóm khác ngồi nghe và nhận xét,

tự nhiên.

bổ sung hoặc đặt câu hỏi cho nhóm

Nhận xét: Với nghệ thuật tạo tình huống đầy

vừa trình bày.

thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất nhân vật, sử dụng ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật: + Sự ngoan cường, dũng cảm, tài trí, ý chí

GV: Huy động nhiều kiến thức để

quyết tâm và nhất là kinh nghiệm lên thác

miêu tả sông Đà và người lái đò

xuống ghềnh của một “tay lái ra hoa”.

sông Đà, lại dùng rất nhiều động từ

+ Người lái đò thầm lặng, vô danh nơi ngọn

mạnh cũng như các biện pháp tu từ

thác sông Đà gió thốc đã thực sự trở thành

và một trường liên tưởng, tưởng

người anh hùng phi thường đạp bằng mọi thử

tượng phong phú,...em rút ra nhận

thách đến từ phía thiên nhiên hung bạo để

63


xét gì về cái Tôi của Nguyễn Tuân?

giành lấy sự sống -> Cái Tôi uyên bác và rất mực tài hoa.

Hướng dẫn HS tìm hiểu vẻ đẹp nghệ b. Nghệ sĩ tài hoa sĩ tài hoa của hình tượng Bài tập 2: GV yêu cầu HS thảo luận nhóm theo hình thức cặp đôi; thời gian thảo luận là 5 phút và thực hiện các yêu cầu sau: - Sau cuộc vượt thác, người lái đò

- Sau cuộc vượt thác, những người lái đò bên

có hành động và suy nghĩ như thế

lửa cháy lại ung dung bình thản đốt lửa

nào? Ấn tượng của em về điều đó.

nướng cơm lam, lại hướng suy nghĩ về công

- Nêu nhận xét khái quát về hình

việc về những đàn cá anh vũ, cá dầm xanh,

tượng người lái đò sông Đà?

...không ai bàn tán thêm một lời nào về chiến

HS thảo luận, đại diện nhóm trả lời.

thắng nơi cửa ải nước với đủ tướng dữ quân

GV chốt lại kiến thức cơ bản cần

tợn vừa rồi.

đạt.

Chính điều đó làm nên phong thái ung dung,

HS so sánh, đối chiếu với các VB

nghệ sĩ, cốt cách tài hoa, tài tử của những

khác để làm nổi bật vẻ đẹp của hình

người lao động vô danh đang hàng ngày

tượng:

chiến đấu để giành lấy sự sống từ tay những

Lại hình dung một thế kỷ không xa

con thác sông Đà. Hình tượng nhân vật đã

Thủy điện nuốt tươi sức phóng túng

khiến cái Tôi Nguyễn Tuân trực tiếp cất lên

sông Đà

lời ngợi ca: Nói chuyện với người lái đò sông

Đà đã gửi thần linh vào tùy bút

Đà như càng lai láng thêm cái lòng muốn

Văn như thuyền độc mộc thác thăng được đề thơ vào sông nước. hoa - Nguyễn Vũ Tiềm Bài tập 3: Cảnh ông lái đò sau cuộc

Tóm lại: Nguyễn Tuân đã phát hiện ra ở

vượt thác, leo ghềnh lại ngồi trong

những con người bình thường ấy một điều kì

hang đá, nướng ống cơm lam... nói

diệu: chủ nghĩa anh hùng đâu phải chỉ có ở

lên quan niệm gì của Nguyễn Tuân

nơi bom rền, súng nổ mà hiện diện ngay

64


về vẻ đẹp của con người?

trong cuộc sống của những người lao động

HS suy nghĩ độc lập và trả lời.

bình thường đang ngày đêm đấu tranh với

GV chốt lại vấn đề.

thiên nhiên để xây dựng cuộc sống.

Hướng dẫn HS tổng kết văn bản

III. TỔNG KẾT

GV yêu cầu HS thảo luận nhóm

1. Nội dung: Qua tuỳ bút, Nguyễn Tuân đã

(theo kĩ thuật XYZ):

ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và

-Tại sao tác giả lại đặt tên cho tuỳ

con người lao động Tây Bắc trong công cuộc

bút là “Người lái đò Sông Đà”?

xây dựng đất nước đồng thời thể hiện tình

Sông Đà hay Người lái đò Sông Đà

yêu say đắm với thiên nhiên, với con người

là nhân vật chính của tuỳ bút?

và cuộc sống mới của nhà văn.

- Qua đoạn trích, em hiểu thêm gì

2. Nghệ thuật: Người lái đò Sông Đà đã kết

về tình cảm và tài năng của Nguyễn

tinh những nét phong cách nghệ thuật đặc

Tuân?

sắc của Nguyễn Tuân: một nhà văn tài hoa uyên bác, hiểu biết nhiều lĩnh vực văn hoá, ngôn ngữ phong phú, hình ảnh độc đáo mới lạ, biến hoá, gợi cảm, giàu chất tạo hình.

Hoạt động 3: Luyện tập Bài tập1: GV yêu cầu HS làm tại lớp: Đoạn trích tùy bút Người lái

- Làm bài kiểm tra 15 phút tại lớp

đò sông Đà mang lại cho em những nhận thức và tình cảm gì (về thiên nhiên đất nước hoặc về người lao động)?. Viết khoảng 10 - 15 dòng. Bài tập 2: GV phát phiếu bài tập

- HS làm bài ở nhà

đọc hiểu cho HS làm ở nhà (bài tập với ngữ liệu ngoài sách giáo khoa đoạn trích trong Tờ hoa của Nguyễn Tuân) để rèn luyện kĩ năng đọc hiểu một văn bản kí hiện đại cùng đề tài). Hoạt động 4: Vận dụng

65


(HS chọn một trong hai bài để làm) Bài tập 1: Qua hình tượng người lái đò sông Đà, em hãy bình luận

- HS làm bài ở nhà

về ý kiến “Lao động của con người làm nảy sinh ý tưởng và hình thành cái đẹp”. Bài tập 2: Khi học xong VB Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân em ấn tượng nhất với những câu văn nào của tùy bút. Hãy tưởng tượng vẻ đẹp của sông Đà qua những câu văn đó và vẽ thành một bức tranh hoàn chỉnh. Hoạt động 5: Bổ sung Bài tập 1: Nhà thơ Bế Kiến Quốc đã từng viết: “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng? Tất cả trả lời: sinh bên một dòng

- HS làm bài ở nhà

sông” Là người Việt, ai cũng có một dòng sông như thế trong trái tim mình. Hãy thể hiện suy nghĩ của riêng em về dòng sông quê hương mà em gắn bó. Bài tập 2: Tìm đọc toàn văn tùy bút Người lái đò sông Đà. 5.2. Thuyết minh về giáo án thực nghiệm Giáo án dạy thực nghiệm được soạn trên tinh thần vẫn bám sát yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng song đã chú ý đến việc đổi mới PPDH nhằm rèn luyện kĩ năng đọc hiểu và phát huy năng lực CTVH của học sinh.

66


Khi thiết kế các hoạt động dạy học tôi đã hướng tới việc tăng cường tổ chức các hoạt động cho HS, các vấn đề GV nêu ra kích thích sự chủ động, sáng tạo, giúp HS phát huy được hứng thú học tập, huy động được tri thức nền, nhập tâm vào việc đọc văn bản từ đó nhằm rèn luyện kĩ năng đọc hiểu, phát triển năng lực CTVH của mình. Dưới đây là mô tả các hoạt động cơ bản khi định hướng thiết kế giáo án thực nghiệm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân: 4.2.1.Các hoạt động trước giờ học (Bước chuẩn bị) Đây là bước rất quan trọng để chuẩn bị tâm lí, kiến thức, hứng thú,… cho việc thực hiện hoạt động đọc hiểu văn bản. Bởi vậy, cần có những hướng dẫn cụ thể cho khâu chuẩn bị bài để HS chuẩn bị tâm lí, hứng thú, huy động tri thức nền, các phương tiện bổ trợ để hoạt động đọc hiểu đạt hiệu quả cao. Thông thường, trong bước chuẩn bị bài, GV hướng dẫn HS thực hiện các nhiệm vụ sau: - Thế nào là tùy bút và bút kí? Chỉ ra điểm nổi bật nhất trong đặc điểm tùy bút của Nguyễn Tuân và bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường? - Sưu tầm các đánh giá, nhận xét, lời bình có giá trị và uy tín về văn bản, về vẻ đẹp con người cũng như tài năng viết kí của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường? - Hãy tìm một số tranh, ảnh, clip liên quan đến văn bản và thuyết minh ngắn gọn cho cả lớp cùng nghe. - Đọc tóm tắt văn bản; xác định bố cục và nội dung chính của văn bản. 4.2.2. Các hoạt động trong giờ đọc hiểu văn bản Vận dụng kết hợp các kĩ năng đọc để tổ chức hoạt động đọc hiểu văn bản, trong đó chủ chốt là các kĩ năng đọc chính xác, đọc diễn cảm, đọc phân tích, đọc bình luận, đọc so sánh, đọc tích lũy,đọc kết nối. - Hướng dẫn HS xác định các hình tượng nghệ thuật trong VB kí. - Hướng dẫn HS xác định các yếu tố nghệ thuật (từ ngữ, câu văn, hình ảnh, giọng điệu trần thuật, điểm nhìn trần thuật,…) của văn bản; cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng để thiết lập trường liên tưởng, tưởng tượng, thẩm mĩ,... - Hướng dẫn HS xác định ý nghĩa nhân sinh và tư tưởng nghệ thuật của văn bản. - Hướng dẫn HS mở rộng vấn đề và liên hệ thực tế, giáo dục kĩ năng, lối sống,

67


thái độ, kinh nghiệm sống… từ vấn đề đặt ra trong VB. 4.2.3. Các hoạt động sau giờ học đọc hiểu văn bản Đây là bước thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học được để rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản nhằm phát triển năng lực CTVH. - Hướng dẫn HS tham gia các tình huống học tập mới để rèn kĩ năng, để thể hiện suy nghĩ, quan điểm của bản thân về tác phẩm và các vấn đề đặt ra trong tác phẩm. - Hướng dẫn HS thực hiện các bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu và làm văn. 6. Kết quả thực nghiệm Sau khi kết thúc các tiết dạy thực nghiệm, tôi đã tiến hành kiểm tra năng lực của HS nhằm so sánh mức độ nhận thức giữa hai lớp thực nghiệm và đối chứng. (Đề kiểm tra: Phụ lục 3.1). Quá trình làm bài của HS được giám sát chặt chẽ để đảm bảo tính chính xác và khách quan. Chúng tôi sử dụng thang điểm để đánh giá là: - Giỏi: điểm 8 – 10 - Khá: điểm 7 – dưới 8 - Trung bình: điểm 5 – dưới 7 - Yếu kém: điểm dưới 5 Qua quá trình chấm bài của HS, tôi thu được kết quả như sau: Bảng: 3.2. Bảng đánh giá kết quả bài kiểm tra Điểm giỏi Nhóm

Số TN

THPT

(36 HS)

Mỹ Tho ĐC (35 HS) THPT

TN

Lý Nhân (38 HS) Tông

ĐC

Tỉ

Điểm khá lệ Số

Tỉ

Điểm trung bình lệ Số

Điểm yếu

Tỉ lệ Số

Tỉ

lượng (%)

lượng (%)

lượng (%)

6

16,7

15

41,7

13

36,1 2

5,5

4

11,4

11

31,5

16

45,7 4

11,4

5

13,2

16

42,1

14

36,8 3

7,9

4

10,3

14

35,9

17

43,5 4

10,3ư

68

lượng (%)

lệ


(39 HS) Bảng: 3.3. Bảng tổng hợp kết quả của lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng Tổng Điểm giỏi Nhóm

Số

Số

Tỉ

lượng lượng (%) Thực nghiệm 74 Đối chứng

74

Điểm khá lệ Số

Tỉ lệ

Điểm

trung

bình Số

Tỉ lệ

Điểm yếu Số

Tỉ lệ

lượng %

lượng %

lượng %

11

14,9

31

41,9

27

36,5

5

6,7

8

10,8

25

33,8

33

44,6

8

10,8

Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả tổng hợp của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Qua quá trình dạy học thực nghiệm và tổng hợp kết quả làm bài kiểm tra của 4 lớp (2 lớp thực nghiệm và 2 lớp đối chứng với tổng số 148 HS), tôi nhận thấy như sau: có sự chênh lệch về điểm giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng. Ở các lớp thực nghiệm, tỉ lệ điểm giỏi và điểm khá cao hơn lớp đối chứng. Cụ thể: tỉ lệ điểm giỏi, điểm khá ở lớp thực nghiệm chiếm 14,9% và 41,9%; trong khi ở lớp đối chứng, các tỉ lệ này lần lượt là 10,8% và 33,8%. Ở lớp đối chứng phổ điểm ở mức trung bình cao hơn: thực nghiệm chiếm 36,5%; trong khi đối chứng là 44,6%. Với điểm yếu kém, lớp TN có tỉ lệ là 6,7% trong khi lớp ĐC chiếm 10,8%. Kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng đã cho thấy HS ở các lớp thực nghiệm hiểu bài, nắm vững kĩ năng đọc hiểu VB, đặc biệt, năng lực

69


CTVH được nâng lên đáng kể khi cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của sông Đà và sông Hương. Có không ít những bài viết có suy nghĩ độc đáo, sâu sắc, thể hiện sự chín chắn trong nhận thức, trong những rung cảm tinh tế, mãnh liệt trước cái Đẹp của các em, khiến người chấm bài cảm thấy thích thú và trân trọng. IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm: “Phát triển năng lực cảm thụ văn học cho học sinh trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12)” là kết quả của bản thân tôi đúc rút từ thực tế giảng dạy và ôn tập cho HS, không sao chép và vi phạm bản quyền của tác giả khác. Nếu phát hiện có bất kỳ vi phạm gì tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Trên đây là kết quả nghiên cứu và thực nghiệm sáng kiến kinh nghiệm “Phát triển năng lực cảm thụ văn học cho học sinh trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12)”, rất mong nhận được sự nhận xét đánh giá của Hội đồng khoa học Sở GD - ĐT Nam Định để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn chỉnh đầy đủ và áp dụng có hiệu quả hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ý Yên,ngày 24 tháng 5 năm 2018 Người viết

CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

70


PHỤ LỤC Phụ lục 1. Phiếu khảo sát GV PHIẾU ĐIỀU HỎI THÔNG TIN Chào quý thầy (cô)! Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các văn bản kí trong CT Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực người học, tôi đang thực hiện đề tài: “Phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam”, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy (cô )bằng cách trả lời chân thực nhất những câu hỏi sau đây. Các câu hỏi sẽ chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Xin cảm ơn! Xin hãy cho biết một vài thông tin cá nhân: Năm sinh:……………………Năm vào ngành GD………….................... Trường:……………………………………………………….................... Giới tính:…………… Hãy cho biết ý kiến của thầy (cô) bằng cách khoanh tròn vào chữ số tương ứng theo quy ước trong từng câu hỏi hoặc trả lời vào phần để trống: Câu hỏi 1:Thầy (cô) đánh giá như thế nào về mức độ cần thiết phát triển năng lực CTVH cho HS THPT trong dạy học Ngữ văn 12? A. Không cần thiết

B. Ít cần thiết

C. Cần thiết

D. Rất cần thiết

Câu hỏi 2: Theo Thầy (Cô), dạy học văn bản kí hiện đại trong CT và SGK Ngữ văn 12 có vai trò như thế nào trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS? A. Không quan trọng B. Bình thường C. Quan trọng D. Rất quan trọng Câu hỏi 3:Thầy (cô) đánh giá như thế nào về sự nhạy cảm, tinh tế, khả năng liên tưởng, tưởng tượng, nhập thân... vào thế giới nghệ thuật trong văn bản kí hiện đại của HS hiện nay? A. Không tốt

B. Bình thường

C. Tốt

D. Rất tốt

Câu hỏi 4:Khi soạn giáo án và thực hiện tiến trình dạy học trên lớp, Thầy (cô) có chú trọng PPDH kí theo đặc trưng thể loại không? A. Không chú trọng

B. Ít chú trọng

C. Chú trọng D. Rất chú trọng

Câu hỏi 5: Khi yêu cầu HS chuẩn bị ở nhà các tri thức nền căn bản cho giờ đọc hiểuVB kí hiện đại, thầy (cô) có cung cấp cho các em thêm tài liệu tham khảo hoặc những đường link viết về văn bản và tác giả của văn bản không?

71


A. Không khi nàoB. Thỉnh thoảngC.Thường xuyênD. Rất thường xuyên Câu hỏi 6:Thầy (cô) có thường thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập trong các tiết học kí hiện đại để khuyến khích HS bộc lộ năng lực CTVH? A.Không khi nào B. Thỉnh thoảng C.Thường xuyên D. Rất thường xuyên Câu hỏi 7: Với thầy (Cô), khi tự mình xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực cảm thụ cho HS là việc làm: A. Đơn giản

B. Bình thường

C. Khó D. Rất khó

Phụ lục 2. Phiếu khảo sát HS PHIẾU ĐIỀU HỎI THÔNG TIN Chào các em! Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các văn bản kí trong CT Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực người học, cô rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các em, bằng cách trả lời chân thực nhất những câu hỏi sau đây. Các câu hỏi sẽ chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Xin cảm ơn các em! Xin hãy cho biết một vài thông tin cá nhân: Năm sinh:……………………………………………………… Lớp:…………Trường:…………………………………………… Giới tính:……………………………… Câu hỏi

Không

1. Em có nghe thấy thầy cô nhắc đến năng lực đọc hiểu, năng lực CTVH khi xác định mục tiêu bài học không? 2. Trước khi vào giờ học đọc hiểu các VB nói chung, VB kí nói riêng, em chuẩn bị bài ở nhà không? 3. Khi chuẩn bị bài ở nhà, em có tìm thêm tài liệu tham

72

Thỉnh

Thường

thoảng

xuyên


khảo hoặc những đường link về bài học không? 4. Khi học đọc hiểu các VB kí, em có chú ý các kỹ năng đọc không? 5. Trong quá trình tổ chức các hoạt động đọc, thầy (cô) có thường đặt câu hỏi để khơi gợi cảm xúc và liên tưởng, tưởng tượng cho các em không? 6. Trong quá trình học đọc hiểu VB kí, em có hay bình giá những hình ảnh, những chi tiết nghệ thuật hoặc các câu văn đặc sắc trong VB không? 7. Khi học đọc hiểu VB kí, em có chú ý đến việc liên hệ, so sánh (liên văn bản), đối chiếu,... với các loại hình nghệ thuật khác không? 8. Khi học xong VB kí, em có làm các bài tập luyện tập trong SGK hoặc thầy (cô) giao về nhà không? Phụ lục 3. Bài tập sáng tạo của HS

73


Cảnh đá bờ sông dựng vách thành trong cảm nhận của em Nguyễn Yến Nhi Lớp 12A1 - Trường THPT Mỹ Tho

Cảnh sông Đà từ trên tàu bay nhìn xuống trong tưởng tượng của em Hoàng Thanh Hương lớp 12A1 - Trường THPT Mỹ Tho

74


Phụ lục 4: Đề kiểm tra khảo sát kết quả thực nghiệm ĐỀ KIỂM TRA NGỮ VĂN 12 (Thời gian làm bài 120 phút) I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) (Đề thi hết HKI, lớp 12 năm học 2016-2017 của Sở) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 4: Mùa xuân, tự nhiên tôi muốn gác hết mọi việc bận rộn để lên rong chơi trên những đồi cỏ gần vùng mộ Vua. Ở đó tôi có thể nằm ngửa trên cỏ, ngước mắt nhìn chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao. Tôi đã tìm đến định sống ở nhiều đô thị bắc nam; ở đó tôi có thể tìm thấy mọi cái cần cho cuộc sống của tôi, chỉ thiếu một cái mà tôi không chịu nổi, là thiên nhiên. Mùa hạ, trong những khu vườn Huế, khí đất xông lên hùng mạnh, cỏ mọc xanh lạ thường. Trái cây sắp chín nằm chờ trên cành, và khắp đây đó trong vùng Kim Long, khói đốt cỏ tỏa ra mịt mùng xanh mờ một vùng ven sông. Trên một chiếc bình phong cổ khuất trong cây lá của một khu sân vắng vẻ còn dấu chạm lỗ chỗ của một câu đối nói đến những bầy chim nhạn thường về đậu kêu om sòn trên bãi sông Hương trước mặt nhà. Tôi lớn lên không hề thấy bóng chim nhạn ven sông này. Chắc cũng giống như lũ côn trùng kia, chúng đã di trú về một vùng đất nào yên tĩnh hơn. Nhưng liệu có nơi nào gọi là “yên tĩnh hơn” trên hành tinh này. Hình như càng ngày nó càng trở nên ồn ào hơn xưa; và đó cũng là lỗi của chúng ta đã tước đoạt “quyền yên tĩnh” của thế hệ trẻ ngày mai. Mùa thu trời trở gió heo may lành lạnh làm người ta tự nhiên thấy nhớ nhung một quê hương nào không biết. Vào mùa này, các văn nhân thường mở hội leo núi, mang theo túi thơ bầu rượu lên các đỉnh núi cao mừng tiết “Trùng Cửu”. Núi đó có thể là núi Ngự Bình, núi Kim Phụng hoặc những rừng thông vùng đồi Thiên An, và văn nhân có thể là Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương, Hàn Mặc Tử. Những văn nhân ngồi uống rượu trên đầu núi, nghe tiếng chuông chùa thánh thót trên thành phố dầm mình trong sương khói; đi thăm núi trở về, băng qua sườn đồi, vó ngựa còn thơm nồng hương cỏ, gọi lũ bướm bay theo. Thơ Tuy Lý vương nói: “Minh triêu sất mã sơn đầu quá – Ngọa thính tùng thanh ức ngã sầu”

75


Một thứ hạnh phúc kéo dài trong nhiều năm tháng thật khó có ở đời; hạnh phúc chỉ tồn tại trong từng khoảnh khắc. Đó là khoảnh khắc mà ta nằm buông mình trên cỏ, ngửa mặt nhìn từng đám mây chẳng biết bay về đâu. Vâng, đó chính là những áng mây mà người đời Đường đã từng thấy: “Bạch vân vô tận thi” (Huế 4.8.2003, Hoàng Phủ Ngọc Tường) (Miền cỏ thơm, Tạp chí sông Hương, số 178-179, tháng 1-2.) Câu 1. Liệt kê những chi tiết nói về “cỏ” trong các mùa ở xứ Huế Câu 2. Qua những chi tiết nó về “cỏ”, xứ Huế hiện lên như thế nào? Câu 3. Cách nhà văn gợi nhắc đến những văn nhân như Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương, Hàn Mặc Tử có tác dụng gì? Câu 4. Thông điệp người viết muốn gửi gắm đến qua những câu văn: “Chắc cũng giống như lũ côn trùng kia, chúng đã di trú về một vùng đất nào yên tĩnh hơn. Nhưng liệu có nơi nào gọi là “yên tĩnh hơn” trên hành tinh này. Hình như càng ngày nó càng trở nên ồn ào hơn xưa; và đó cũng là lỗi của chúng ta đã tước đoạt “quyền yên tĩnh” của thế hệ trẻ ngày mai”. II. LÀM VĂN (7 điểm) Cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà và Sông Hương trong tùy bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường). ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Câu 1. (1,0 điểm) Những chi tiết nói về “cỏ” trong các mùa ở xứ Huế: Mùa xuân: đồi cỏ vùng mộ Vua, nằm ngửa mặt trên cỏ, nhìn thấy chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao; Mùa hạ: cỏ mọc xanh lạ thường trong những khu vườn Huế và vùng Kim Long, khói đốt cỏ tỏa ra mịt mùng xanh mờ một vùng ven sông; Mùa thu: vó ngựa của những văn nhân đi thăm núi trở về, băng qua sườn đồi, còn thơm nồng hương cỏ, gọi lũ bướm bay theo. - Điểm 1,0: Trả lời đúng và đầy đủ như trên. - Điểm 0,25-0,75: Nêu đúng nhưng chưa đầy đủ như trên.

76


- Điểm 0: Trả lời sai hoàn toàn hoặc không trả lời. Câu 2. (0,5 điểm) Qua những chi tiết nói về “cỏ”, xứ Huế hiện lên với những khu vườn xanh mát, bình yên; có núi, đồi, sông nước hữu tình, thơ mộng; với thiên nhiên nguyên sơ, hồn nhiên, mang sức sống mãnh liệt và một vẻ đẹp trữ tình, lãng mạn. - Điểm 0,5: Trả lời đúng và đầy đủ như trên. - Điểm 0,25: Nêu đúng 1/2 ý trên hoặc nêu được 2 ý nhưng sơ sài hoặc chưa rõ. - Điểm 0: Trả lời sai hoàn toàn hoặc không trả lời. Câu 3. (0,5 điểm) Cách nhà văn gợi nhắc đến những văn nhân như Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương, Hàn Mặc Tử có tác dụng: Gợi lên vẻ đẹp con người xứ Huế với thú vui tao nhã, sống thanh nhàn, hoà hợp với thiên nhiên yên tĩnh, thơ mộng, thanh bình; tạo vẻ đẹp cổ điển cho đoạn văn; thể hiện một nét phong cách bút kí riêng của Hoàng Phủ Ngọc Tường: tài hoa, uyên bác trong góc nhìn mang chiều sâu văn hoá. - Điểm 0,5: Trả lời đúng và đầy đủ như trên. - Điểm 0,25: Nêu đúng 1 đến 2 ý trên hoặc nêu được 2, 3 ý trên nhưng sơ sài hoặc chưa rõ. - Điểm 0: Trả lời sai hoàn toàn hoặc không trả lời. Câu 4. (1,0 điểm) Thông điệp người viết muốn gửi gắm qua những câu văn: “Chắc cũng giống … ngày mai”: Nhắc nhở về thực trạng: những khoảng không gian yên tĩnh, trong lành, thơ mộng đang bị thu hẹp; môi trường sống tự nhiên, cân bằng đang bị chính con người can thiệp thô bạo; Đề nghị mọi người hãy trân trọng thiên nhiên, bảo vệ môi trường để không làm mất đi quyền được sống trong những không gian yên tĩnh, nơi con người có thể hoà hợp, thân thiện với thiên nhiên … - Điểm 1,0: Trả lời đúng và đầy đủ như trên. - Điểm 0,25-0,75: Nêu đúng 1-2 ý trên hoặc nói được cả 2 ý trên nhưng sơ sài hoặc chưa rõ ràng, mạch lạc. - Điểm 0: Trả lời sai hoàn toàn hoặc không trả lời. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) II. Làm văn (7 điểm)

77


1. Kỹ năng: - Nắm vững phương pháp làm bài nghị luận một ý kiến bàn về văn học - Kết cấu bài viết chặt chẽ. - Diễn đạt lưu loát, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc. 2. Kiến thức: a. Giải thích(0,5 điểm) - “Thơ mộng”: Vẻ đẹp gợi lên những cảm xúc đẹp đẽ, cảm giác dịu dàng, ước mơ lãng mạn.“Trữ tình”: Biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người trước cuộc sống. -> “Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình”: Vẻ đẹp thi vị, có khả năng khơi gợi những cảm xúc lãng mạn được miêu tả để biểu hiện những cảm xúc, tình cảm của người nghệ sĩ trước cuộc sống. b. Điểm gặp gỡ và nét riêng trong cảm hứng, mục đích và cách thức của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường khi miêu tả vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà và sông Hương. (1,0 điểm) - Cảm hứng: cả hai nhà văn đều có niềm say mê tìm kiếm và khẳng định vẻ đẹp của con sông như một vẻ đẹp của quê hương đất nước mình song với Nguyễn Tuân, sông Đà là con sông của quê hương đất nước của miền Tây Bắc mà nhà văn yêu mến, còn với Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương lại có mối quan hệ máu thịt khi gắn với Huế - quê hương của chính nhà văn. - Mục đích: Nguyễn Tuân hướng tới khẳng định vẻ đẹp độc đáo của con sông Tây Bắc còn Hoàng Phủ Hoàng Tường lại suy tư và xúc động đến bâng khuâng khi tìm trong chính sông Hương câu trả lời cho câu hỏi: Ai đã đặt tên cho dòng sông? c. Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà và sông Hương (4,0 điểm) Sông Đà (2,0 điểm) - Diện không gian được miêu tả: + Diện rộng: không gian Tây Bắc thơ một và tươi đẹp được nhìn từ trên cao, vào mùa xuân và bằng tâm thế của một cố nhân lâu ngày gặp lại, một “tình nhân chưa quen biết”. + Diện hẹp: bờ bãi sông Đà ở nơi địa hình bằng phẳng và ít có sự tác động của bàn tay con người.

78


- Cảnh sắc thiên nhiên: được mô tả ở nhiều góc độ như màu sắc, âm thanh, hình ảnh…với sự kết hợp của yếu tố thực và yếu tố tưởng tượng, của quan sát và rung động, chiêm nghiệm. - Không khí: tĩnh lặng và huyền ảo như một bờ tiền sử, như một nỗi niềm cổ tích xưa. - Cốt cách, tâm hồn của con sông: + Vẻ hiền hòa trong nhịp sông, nhịp vận động khi cùng con thuyền êm trôi giữa đôi bờ cỏ hoang dại. + Vẻ mơ mộng, đa cảm khi vừa gắn bó thấm thiết với vùng đất vừa đi tới (lắng nghe giọng nói êm êm của người xuôi) vừa không nguôi thương nhớ những vùng đất nó đã đi qua (dòng sông quãng này lững lờ trôi như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc). - Kết quả: bức tranh sông Đà thơ mộng trữ tình hiện lê như một bức bích họa rát gợi cảm và giàu tính thẩm mĩ. d. Đánh giá (0,5 điểm) - Thành công: sông Đà và sông Hương hiện lên trong những trang văn không chỉ là con sông địa lý vô tri mà là một sinh thể, một con người vừa có diện mạo xinh đẹp, vừa có tâm hồn sâu lắng, phong phú. - Có được thành công ấy là nhờ vốn tri thức phong phú, năng lực quan sát tinh tường, trí tưởng tượng và năng lực sáng tạo dồi dào ở 2 người nghệ sĩ. Đóp góp của Nguyễn Tuân là chạy đua với tài của tạo hóa để tái hiện lại hình ảnh con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình. Đóng góp của Hoàng Phủ Ngọc Tường là làm sống dậy một hình tượng riêng của con sông xứ Huế cả ở diện mạo 3. Cách cho điểm: - Điểm 6,0 -7,0 : Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, lập luận chặt chẽ, kiến thức phong phú, hành văn lưu loát, văn phong giàu hình ảnh, cảm xúc, bài viết có sáng tạo. - Điểm 5,0 - dưới 6,0: Đáp ứng khá tốt các yêu cầu trên nhưng phần giải thích ý kiến còn vụng về, sơ lược hoặc phần bàn luận ý kiến chưa thật tốt. Có thể còn một số sai sót về diễn đạt. - Điểm 4,0- dưới 5,0 : Đáp ứng cơ bản các yêu cầu trên nhưng phần giải thích

79


ý kiến và cảm nhận đều chưa thật tốt còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả. - Điểm 2,0- dưới 4,0: Đáp ứng khoảng một nửa yêu cầu của đề bài, văn nghèo cảm xúc, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả. - Điểm 0,5- dưới 2,0: Không hiểu đề hoặc bài viết có ý nhưng sơ lược, chưa làm nổi bật vấn đề, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt. - Điểm 0: Không làm bài.

80


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook