Skip to main content

Sáng kiến Phương pháp đọc hiểu bài thơ “Tràng Giang” và “Đây thôn Vĩ Dạ” theo đặc trưng thể loại

Page 1

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

vectorstock.com/28062412

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection

Sáng kiến Phương pháp đọc hiểu bài thơ “Tràng Giang” và “Đây thôn Vĩ Dạ” theo đặc trưng thể loại giảng dạy môn ngữ văn lớp 11 WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM

Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


MỤC LỤC

Mục lục

2

1. Lời giới thiệu

5

2. Tên sáng kiến: Phương pháp đọc hiểu “Tràng giang” và “Đây thôn Vĩ Dạ” theo đặc trưng thể loại

5

3. Tác giả sáng kiến

5

4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến

5

5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

6

6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

6

7. Mô tả bản chất của sáng kiến

6

7.1. Về nội dung của sáng kiến

6

Chương I: Những vấn đề chung

6

1. Cơ sở lý luận

10

2. Cơ sở thực tiễn

10

Chương II; Đọc hiểu “Tràng Giang” và “Đây thôn Vĩ Dạ” theo đặc trưng thể loại.

10

A. Đọc hiểu bài thơ Tràng Giang của Huy Cận

10

I. Đọc hiểu hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề

11

II. Đọc hiểu tâm trang, tình cảm và cảm xúc của nhân vật trữ tình

12

III. Đọc hiểu những đặc sắc về nghệ thuật

18

B. Đọc hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

23

I. Đọc hiểu hoàn cảnh ra đời của bài thơ

23

II. Đọc hiểu tâm trạng, tình cảm và cảm xúc của nhân vật trữ tình

25

III. Đọc hiểu những đặc sắc về nghệ thuật

31

Chương III: Giáo án thực nghiệm

34

Tiết 85-86: Đọc văn: Đây Thôn Vĩ Dạ

34

7.2: Khả năng áp dụng sáng kiến

47

8.Những thông tin cần được bảo mật

47

9.Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

47

1


10.Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có được do áp dụng sáng kiến 48 10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả 10.2. Đánh giá của tổ chức:

48 49

11. Danh sách những tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu. Thư mục tham khảo

49 50

2


BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1.Lời giới thiệu Chín mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Thơ mới ra đời, tạo nên một bước ngoặt trong lịch sử thơ ca Việt Nam, trải qua bao thăng trầm, xong cùng với thời gian nó đã được trả về đúng với giá trị đích thực. Dòng Thơ mới xuất hiện trên văn đàn mang đến một nguồn sống dạt dào, mới mẻ, thanh tân từ nội dung cho đến nghệ thuật thể hiện. Đánh giá về Thơ mới Vương Trí Nhàn cho rằng “ Ảnh hưởng của Thơ mới diễn ra trên phạm vi toàn xã hội...Phải nói Thơ mới đã in dấu của nó vào cả thế kỷ” còn Lê Đình Kỵ thì khẳng định “ Thơ mới là cả một bước phát triển quan trọng, xét về một mặt nào đó là cả một cuộc cách mạng trong tiến trình của thơ ca Việt Nam, đưa thơ ca cổ điển Việt Nam đạt đến hiện đại”. Sự xuất hiện của Thơ Mới gắn liền với sự ra đời của phong trào Thơ mới 1932 – 1945. Trào lưu văn hóa này ra đời phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã hội. Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội. Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng, tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn hóa Đông-Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của phong trào Thơ Mới 1932 – 1945. Nổi bật trong phong trào Thơ mới phải kể đến Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính… và không thể không kể đến Huy Cận, Hàn Mặc Tử - một trong số ít những nhà thơ có sự sáng tạo độc đáo, dồi dào và mãnh liệt vào bậc nhất của phong trào Thơ mới. Xuất hiện vào giai đoạn toàn thịnh của phong trào Thơ mới, Huy Cận là một trong những thi sĩ có công đưa phong trào này lên tới đỉnh cao. Ở độ chín nhất, phong cách thơ Huy Cận có sự kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố cổ điển, nhất là cổ điển Đường thi với yếu tố thơ mới. Cụ thể là hòa hợp trong mối “sầu vạn kỉ” của Huy Cận cả nỗi sầu vũ trụ và nỗi sầu thế nhân từng chan chứa trong thơ Đường với nỗi cô đơn của cái tôi cá nhân cá thể thời thơ mới. Nỗi niềm ấy 3


thường chung đúc vào hình ảnh điển hình nhất của cái tôi trong Lửa thiêng: kẻ lữ thứ bơ vơ trong không gian vô cùng vô tận, trôi dạt trong thời gian vô thủy vô chung. Đồng thời là sự hòa hợp giữa hệ thống thi pháp của Thơ Đường với những thi pháp của thơ tượng trưng Pháp. Vì những lẽ đó mà bước vào mỗi thi phẩm của Huy Cận ta đều thấy bàng bạc một phong vị Đường thi. Giai đoạn 1930- 1945, văn học công khai tuy được phép lưu hành nhưng chịu sự kiểm duyệt khắt khe của thực dân Pháp. Tinh thần yêu nước khó bộc bạch trực diện. Những nghệ sĩ chân chính thường phải bày tỏ tấc lòng với nước non kín đáo, bóng gió. Ở “Tràng Giang” Huy Cận đã kín đáo gửi lòng yêu nước vào nỗi buồn và niềm thiết tha trước thiên nhiên tạo vật. Đó là nỗi buồn sầu của một người dân thuộc địa trước giang sơn bị mất chủ quyền(nỗi buồn sông núi) đã hòa lẫn với nỗi bơ vơ trước tạo vật vô biên hoang vắng. Đây không chỉ là nỗi buồn của một cá thể mà còn là nỗi buồn bơ vơ của một thế hệ. Đồng thời thiết tha với thiên nhiên tạo vật cũng là thiết tha với giang sơn tổ quốc mình. Đối với học sinh điều này khó nhận ra vì nó không thể hiện qua ngôn từ cụ thể nào, mà khuất lấp sau cảm giác bơ vơ và thái độ tha thiết. Hơn nữa những đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ cũng là một khía cạnh tương đối khó lĩnh hội đối với học sinh. Cùng chịu ảnh hưởng từ trường phái thơ tượng trưng siêu thực Pháp, trong rất nhiều sáng tác của Hàn Mặc Tử người ta không phân biệt được giữa hư và thực, giữa cái hữu hình và vô hình, giữa nội tâm và ngoại giới, giữa chủ thể và khách thể… Mọi giác quan bị trộn lẫn, mọi logic bình thường trong tư duy và ngôn ngữ, trong ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn bất ngờ. Thơ Hàn Mặc Tử có một diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn. Tuy nhiên, đằng sau thế giới hình ảnh phức tạp ấy vẫn hiện rõ một tâm hồn chứa chan lòng yêu sống, tha thiết và đau đáu hướng về cuộc đời và “Đây Thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ như thế. Mặc dù là một thi phẩm rất hay và độc đáo, thể hiện được cơ bản những đặc điểm thơ Hàn Mặc Tử nhưng nó chưa nhận được sự quan tâm đúng mức cũng như vẫn còn có những cách tiếp cận chưa thỏa đáng của cả thầy và trò khi học tác phẩm này như: Chỉ xem tác phẩm như một bài thơ tả cảnh xứ Huế hoặc tiếp cận tác phẩm như một bài thơ tình thuần túy-Tình yêu đơn phương của thi sĩ với Hoàng Cúc. 4


Vì vậy khi tiếp cận tác phẩm cần bám sát văn bản và hình tượng, kết hợp với hoàn cảnh ra đời để cảm nhận đúng bức tranh phong cảnh và tâm cảnh, tình yêu và tình quê, tình đời và tình người mà Hàn Mặc Tử gửi gắm. Hơn nữa bài thơ có những đặc điểm nghệ thuật hết sức độc đáo, thể hiện rõ đặc trưng thi pháp thơ Hàn Mạc Tử. Tuy nhiên với học sinh đây là phần rất khó tiếp nhận. Thông qua bài viết này, người viết mong muốn mang đến một cách thức phù hợp nhất để tìm hiểu tác phẩm đó là “ Phương pháp đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại”. Đây còn là nguyên tắc của bộ môn Ngữ văn ở chương trình phổ thông. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy trong quá trình thực hiện tôi nhận thấy tính ưu việt của phương pháp này hơn hẳn các phương pháp trước đây được vận dụng, nó được thể hiện rõ qua thái độ, niềm say mê, kết quả tiếp nhận của học sinh. Cho nên phương pháp dạy học văn theo đặc trưng thể loại là một hướng đi đang được áp dụng rộng rãi và thu được những kết quả khả quan, giúp người học hiểu sâu sắc hơn về giá trị cũng như ý nghĩa của tác phẩm. 2. Tên sáng kiến: Phương pháp đọc hiểu bài thơ “Tràng Giang” và “Đây thôn Vĩ Dạ” theo đặc trưng thể loại. 3.Tác giả sáng kiến: - Họ và tên: ………… 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: ……………. 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: - Giảng dạy môn ngữ văn lớp 11 Vấn đề dạy học văn theo đặc trưng thể loại được đưa ra không đơn thuần là một đơn vị kiến thức mà quan trọng hơn “Chủ yếu đó còn là vấn đề phương pháp” (Vấn đề giảng dạy văn học theo đặc trưng thể loại của Trần Thanh Đạm). Đối với Thơ mới và hai tác giả Huy Cận, Hàn Mặc Tử đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu như: “Phong cách thơ Huy Cận qua Lửa Thiêng” của Nguyễn Thị Kim Ứng - NXB văn học- 2013. “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân-NXB văn học 1999. “Vũ trụ thơ” của Đặng Tiến. “Hàn Mạc Tử thơ và đời” của Lữ Hữu Nguyên (NXB VH 1999), “ Hàn Mặc Tử một cá tính sáng tạo độc đáo” của Bích Hà < NXB hội nhà văn 2006>… 5


Tuy nhiên những công trình nghiên cứu này thường ở mức độ khái quát hoặc trên một quy mô lớn chứ chưa đi vào cụ thể, chưa được ứng dụng thực tiễn trong việc dạy học văn ở nhà trường phổ thông. Vì vậy, với bài viết này, người viết mong muốn mang đến cho thầy cô thêm một hướng tiếp cận để giảng cho học sinh hiểu cụ thể về bài thơ Tràng Giang và Đây Thôn Vĩ Dạ trong chương trình ngữ văn lớp 11. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 2 năm 2019 7. Mô tả bản chất của sáng kiến: 7.1. Về nội dung của sáng kiến: CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Cơ sở lí luận. 1.1.Vấn đề thể loại trong quá trình tiếp nhận văn học. Khái niệm: Theo từ điển thuật ngữ văn học “Thể loại là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với hiện tượng đời sống ấy”. Các thể loại văn học “Là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó được biến đổi và được thay thế” (D.Li-kha-chốp). Vì vậy khi tiếp cận với các thể loại văn học cần tính đến thời đại lịch sử của văn học và những biến đổi, thay thế của chúng. Thể loại là một phạm trù mang tính lịch sử, nó vừa có tính ổn định lại vừa vận động biến đổi, chịu sự tác động của nhiều yếu tố cá nhân nghệ sĩ và thời đại. Nó phản ảnh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa cũ, vừa mới, vừa biến đổi, vừa ổn định. So với khái niệm “loại” thì khái niệm “thể” nhỏ hơn về phạm vi bao trùm, có số lượng và biến động nhiều hơn loại. “Thể” được hiểu là hình thức tổ chức

6


ngôn ngữ trong tác phẩm. Xét về quy mô loại rộng hơn thể, mỗi loại bao gồm một số thể. Vấn đề phân chia thể loại văn học đã được đề cập tới từ thời xa xưa. Sự phân chia thể loại văn học: Ở mỗi quốc gia và ở các giai đoạn lịch sử khác nhau các nhà nghiên cứu có cách phân chia khác nhau dựa trên một cơ sở nhất định nào đó. Ở Phương Tây ngay từ thời Hy Lạp cổ đại trong cuốn “Nghệ thuật thi ca” Aritxtot đã phân chia văn học gồm có ba thể loại chính là: Tự sự, trữ tình, kịch. Ông coi có là ba phương thức mô phỏng. Vai trò: Thể loại văn học thuộc phạm trù lí luận văn học, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động dạy và học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Mỗi tác phẩm văn học đều trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. Nó có thể có dung lượng, nội dung, hình thức…khác nhau. Song chúng cùng thuộc một loại thể nhất định. Không có một tác phẩm văn học nào lại không thuộc vào một thể loại nào đó. Vì vậy người đọc tiếp nhận tác phẩm văn chương dựa trên tiêu chí thể loại là một hướng tiếp cận mới, khoa học, hiệu quả. Thể loại với những đặc trưng của nó có vai trò quan trọng đối với việc tiếp nhận tác phẩm văn học. Bởi lẽ nhà văn sáng tác theo thể loại thì cả người dạy và người học đều có thể cảm thụ theo loại thể. Phương thức nhà văn sử dụng để tái hiện hiện thực đời sống sẽ quy định phương thức cảm thụ của người đọc theo hướng mà nhà văn đã định ra. Từ đó nó có quy định phương hướng giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường. Bạn đọc muốn đi sâu tìm hiểu tác phẩm cần phải đi trên con đường mà nhà văn đã đi. Song để đi được trên con đường ấy, người đọc cần phải hiểu lý thuyết về tác phẩm, trong đó lý thuyết về thể loại là vấn đề cốt yếu. Nó là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa khám phá tác phẩm văn chương hiện thực. 1.2. Lí thuyết đọc- hiểu tác phẩm. Khái niệm: Theo từ điển Tiếng việt: “Đọc là phát ra thành lời những điều đã được viết ra theo đúng trình tự, là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào tập hợp kí hiệu đó. Đọc là hiểu thấu bằng cách nhìn vào biểu hiện bên ngoài” (tr.418). Đọc là một quá trình hoạt động tâm lí nhằm tiếp cận ý nghĩa kí hiệu ngôn ngữ được in hay được viết. Đọc là hoạt động đặc trưng của con người để tiếp nhận 7


thông tin và truyền thông tin; là một hoạt động mang tính văn hóa, phản ánh đời sống và chất lượng. Đọc hiểu theo đặc trưng thể loại - một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học. Vai trò: Đọc là con đường duy nhất để tiếp nhận tác phẩm văn học. Song bạn đọc không chỉ dừng lại ở lớp vỏ ngôn từ mà phải tìm ra tầng ý nghĩa sau câu chữ. Qua đó thấy được tư tưởng, tình cảm, thái độ mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm. Thực tế cho thấy trong qua trình đọc không phải ai cũng có thể tiếp nhận tác phẩm văn học đúng như ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ. Vì đọc không dừng lại ở biết mà còn phải hiểu. Do đó người đọc cần phải tìm ra cách đọc hữu hiệu nhất, con đường ngắn nhất để tìm hiểu tác phẩm văn chương. Phương pháp đọc - hiểu theo đặc trưng thể loại là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao, phù hợp với quan điểm dạy học tích cực phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. 1.3. Đặc trưng thể loại trữ tình. Khái niệm: Theo từ điển thuật ngữ Văn học “Trữ tình là một trong ba phương thức thể hiện đời sống bên cạnh loại tự sự và kịch”. Trữ tình là loại tác phẩm phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩa, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh. Ở đây nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực. Tương ứng với nó là phương thức phản ánh hiện thực bằng cách bộc lộ cảm xúc. Đặc trưng: Loại trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người. Trong tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ… được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Tác giả có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào. Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì… Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác 8


phẩm trữ tình. Tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động. Những chi tiết chân thật, sinh động trong đời sống dễ khêu gợi những tình cảm sâu sắc, mới mẻ. Có điều những chi tiết trong tác phẩm trữ tình bao giờ cũng hết sức cô đọng, súc tích. Tác phẩm trữ tình bao giờ cũng mang đậm dấu ấn riêng của nhà thơ. Đó là những nỗi niềm chủ quan thầm kín nhưng khi sáng tác nhà thơ luôn luôn nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ cho một loại người, một thế hệ và cả những chân lí phổ biến… Người ta thường nói đến từ chân trời của cái “tôi” đến chân trời của cái “ta”, “Từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả” cũng trên ý nghĩa này. Trong tác phẩm trữ tình có nhân vật trữ tình và nhân vật trong tác phẩm trữ tình. Nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ của mình, là nguyên nhân trực tiếp khêu gợi nguồn cảm hứng cho tác giả. Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ miêu tả mà chính là những cảm xúc, ý nghĩa, tình cảm, tâm trạng, suy tư … về lẽ sống và con người được thể hiện trong tác phẩm. Phần lớn nhân vật trữ tình xuất hiện với tư cách là những tình cảm, tâm trạng, suy tư… của chính bản thân nhà thơ. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả. Do tính chất tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng, hóa thân vào đối tượng để xây dựng nhân vật trữ tình theo qui luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật. Có thể coi đây là những nhân vật trữ tình nhập vai. Lời văn trong tác phẩm trữ tình đòi hỏi bộc lộ những tình cảm mạnh mẽ, những ý tập trung, hàm súc do đó nó phải tìm cho mình những lời văn phù hợp với yêu cầu gây ấn tượng mạnh, không phải chỉ bằng ý nghĩa của từ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ nữa. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người khẳng định đặc điểm quan trọng nhất của lời văn trong tác phẩm trữ tình là giàu nhạc tính. Nhạc tính này, do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc. Do đó khi hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản giáo viên cần nắm vững các đặc trưng theo thể loại của văn bản đó. 9


2. Cơ sở thực tiễn. M.Gorki đã từng nói “Văn học là nhân học”, dạy văn không chỉ dạy kiến thức, kĩ năng mà còn tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm, thái độ của người học, qua đó nhằm bồi dưỡng và phát triển nhân cách của họ. Bộ môn ngữ văn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên thực tế cho thấy hiện nay môn Ngữ văn chưa được đặt đúng vị trí. Học sinh chán học văn, học với tâm lí ép buộc, thụ động do đó hiểu lơ mơ về tác phẩm… và làm ra những bài văn dở khóc dở cười, sai cả những kiến thức cơ bản. Nguyên nhân là do đâu? Chúng ta không thể đổ lỗi hoàn toàn về phía học sinh. Một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng trên là do cách dạy của giáo viên quá giáo điều, cứng nhắc, chưa biết phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo từ phía người học; khiến cho học sinh không biết vận dụng kiến thức, kĩ năng để tiếp nhận tác phẩm văn học. Vì vậy mà việc đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để tạo ra sự hứng thú, hấp dẫn với người học. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra phương pháp phù hợp mang lại hiệu quả nhất định đó là “Đọc - hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại”. Những tri thức về đặc trưng thể loại sẽ là công cụ đắc lực để giúp học sinh khám phá, tìm tòi, tự chiếm lĩnh tri thức về tác phẩm văn học trong nước cũng như nước ngoài. CHƯƠNG 2: ĐỌC HIỂU “TRÀNG GIANG” VÀ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI A. Đọc hiểu tác phẩm Tràng Giang – Huy Cận. I. Đọc hiểu hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa nhan đề. 1.Hoàn cảnh sáng tác. Huy Cận là một nhà thơ sinh ra và lớn lên trong thời kì Pháp thuộc, vì vậy thơ ông vừa mang hướng cổ xưa của thơ Đường, cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp. Được sáng tác vào một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi Huy Cận vừa tròn 20 tuổi, bài thơ “Tràng giang” mang đậm phong vị thơ Đường và được đánh giá là tác phẩm hay nhất, tiêu biểu nhất cho hồn thơ Huy Cận. Huy Cận từng viết: “Tôi có thú vui thường vào chủ nhật hằng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để ngoạn cảnh sông Hồng và hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp gợi 10


cho tôi nhiều cảm xúc. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ do sông Hồng gợi cảm hứng mà còn mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương”. Đứng trước dòng sông Hồng mênh mang – con sông đầy vị phù sa mà đất mẹ đã bồi tụ nên, tình yêu nước, yêu quê hương cùng những tâm sự sâu thẳm trong lòng tác giả như được con sông khơi lên và bộc lộ tất cả qua bài thơ “Tràng giang”.

2.Ý nghĩa nhan đề. “Tràng giang”- nhan đề chỉ gồm hai chữ nhưng mang bao nhiêu ý nghĩa. “Tràng” (trường) là dài, “giang” là sông. Hai từ ghép lại với ý nghĩa sông dài, cũng mang ẩn ý về nỗi lòng tác giả buồn đến mênh mang. Với nhan đề này, ta thấy được chất thơ Đường đã có sự ảnh hưởng rất lớn đến Huy Cận. Viết về con sông Hồng và mang cảm xúc chung về những con sông quê hương khác, Huy Cận không chỉ muốn miêu tả một dòng sông với bóng hình chân thực của nó nữa, nhà thơ đã phóng bút tạo nên một dòng sông đầy những cảm xúc của lòng người. Vốn mang trong mình sự cô đơn, xa nhà, xa quê, Huy Cận càng nhìn sông Hồng rộng lớn và mênh mông thì càng sầu não. Chàng trai trẻ nhớ về miền Hà Tĩnh quê mình, lại thấy sao kiếp người nhỏ bé, chênh vênh. Gió thu nhẹ thổi làm cho tâm hồn thi sĩ càng thêm buồn. Nhìn về phía dòng sông – nơi chợ chiều vắng vẻ, hoang sơ, nơi nước mênh mang chẳng có một bóng con đò chở khách, Huy Cận nhớ nhà. Một nỗi sầu mà ai xa quê cũng từng gặp, nhưng đâu chỉ có thế. Với nhan đề bài thơ, người ta còn liên tưởng đến một chàng trai đau khổ khi nhìn cảnh đau thương mà thực dân Pháp đã gây nên, muốn đứng lên, muốn đấu tranh cho dân tộc nhưng chẳng thấy một ngã rẽ nào mà cuối con đường có ánh sáng. Những 11


muộn phiền về gia đình, quê hương , những tình yêu thân thuộc đối với đất nước, dân tộc,… nhưng sóng nước cứ mênh mang giống như kiếp người vô định, lòng tác giả như chán chường hơn. Từ nơi sông Hồng rộng và dài cùng cảm xúc của Huy Cận đã tạo nên nhan đề “Tràng giang” đậm phong vị thơ Đường, bộc lộ được tâm sự của nhà thơ trước nỗi nhớ khôn nguôi, tạo nên mạch thơ xuyên suốt cho hồn thơ Huy Cận trong thời kì đầu của phong trào Thơ mới. II. Đọc hiểu tâm trạng và tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình. 1. Một “cái tôi” cô đơn trước không gian rộng lớn.

Không gian được trải ra từ mặt sông lên đến chót vót đỉnh trời, không gian được mở ra từ thẳm sâu vũ trụ vào tận thăm thẳm tâm hồn con người. Ấy là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển, vừa được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho thơ mới. Có lẽ vì thế chăng mà Tràng Giang hiện ra như một bức tranh tạo vật trường cửu, lớn lao, vừa hoang sơ vừa cổ kính, trong đó thi sĩ hiện lên như một lữ thứ đơn độc lạc loài? Trước hết, Tràng Giang là một không gian mênh mông vô biên. Ngay cái tên bài thơ đã như một cửa ngõ mở vào vô biên rồi. Tràng Giang gợi ra hình ảnh một con sông chảy mênh mang giữa trời đất. Và câu đề từ, tuy vẫn còn nằm ngoài văn bản, nhưng nó đã như một bức rèm môi giới ta với vô tận mà người đọc cần vén lên, như một hành lang mở thông vào vô biên mà người đọc cần bước theo: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. 12


Dầu sao, những hình ảnh sống động của một thế giới có thể cảm nhận hoàn toàn trực quan chỉ thực sự mở ra với những câu đầu: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song”. Có lẽ chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thế này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời. Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. Đúng là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước trong bài Đăng cao nổi tiếng của Đỗ Phủ: “Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ Bất tận trường giang cổn cổn lai.” (Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc, Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi) Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy Cận- có cải biên, chỉ dùng tương xứng thôi. Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả Đăng cao đặt ở giữa câu, thì tác giả Tràng Giang lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy nguyên điệp điệp và song song tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà ý hướng và âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội vào vô biên. Suốt dọc bài thơ, Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông vô biên bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật nữa. Vừa dùng cái lớn lao để gợi sự mênh mông, vừa dùng cái hữu hạn để gợi sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, bao cồn đất, bao bờ xanh, bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc, ấy là một cành củi khô, một bóng chim nhỏ,… Nhưng có lẽ bức tranh vô biên của Tràng Giang đạt đến tận cùng là ở hai câu này: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.” Câu trên diễn tả sự vô biên về cả chiều rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ: “Nắng xuống, trời lên”. Hai động từ 13


ngược hướng lên và xuống đem lại một cảm giác rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Có cái gì như phi lý! Có lẽ không chịu được vẻ phi lý mà có nhiều người đã cố tình in và viết thành “sầu chót vót” để dễ hình dung hơn. Tiếc rằng, “sâu” mới là sự xuất thần của hồn thơ. Đây không phải là sự lạ hóa ngôn từ. Nếu có, thì là sự lạ hóa trong cách nhìn, trong cảm giác. Ánh mắt tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tình để nhận biết về chiều cao, mà nó như xuyên vào đáy vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu. Song, dầu sao, đây vẫn là chiều sâu của một cái nhìn ngước lên. Cho nên, mới là “sâu chót vót”. Chót vót vốn là từ láy độc quyền của chiều cao, bỗng phát huy một hiệu quả không ngờ. Nó còn gợi sắc thái chưa hoàn tất. Dường như cái nhìn của thi sĩ vươn tới đâu thì trời sẽ sâu tới đó, mỗi lúc một chót vót hơn. Vừa tương xứng vừa hô ứng với câu trên, câu thứ hai mở ra bát ngát, tít tắp. Câu thơ được viết giản dị, không chữ nào lạ, ngỡ như chỉ là sự sắp xếp các chiều kích của Tràng Giang, thế thôi! Vậy mà thấy “động”. Các trạng thái “tĩnh”, các tính từ dường như “cựa quậy” đòi động từ hóa. Trong áp lực của cái nhìn xa hút, có cảm giác “sông dài” (ra) trời rộng (thêm) bến cô liêu (đi) vậy! Thật lạ là, không có chữ nào lạ hóa, mà vẫn mới lạ. Thế mới biết, cái lạ chân chính trong nghệ thuật chỉ có thể bắt nguồn từ cái mới lạ của cảm xúc. 2. Một cõi quạnh hiu hoang vắng và nỗi niềm của tác giả.

Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi, nên không gian Tràng Giang cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả cái trạng thái tĩnh của thế giới. có lẽ 14


triết học nơi đây đã quan niệm tĩnh là gốc của động, tĩnh là cội nguồn của thế giới? Cùng với nó, tĩnh tại và thanh vắng cũng trở thành một tiêu chuẩn mỹ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của Tràng giang lại là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông của đồng loại. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. Đúng ra, con người có thoáng hiện ra trong hình bóng chiếc thuyền ở đầu bài thơ. Một chiếc thuyền “xuôi mái”, thụ động buông trôi trên dòng nước luân lạc. Và nó cũng chỉ hiện ra thoáng chốc, rồi sau đó nép mình vào bờ bãi nào mà mất hút trên sóng nước, trả lại không gian cho sự ngự trị của muôn ngả sông, nghìn luồng sóng: “Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng.” Khát thèm âm thanh của cuộc sống người, thi sĩ lắng nghe, không dám mơ đến thứ âm thanh náo động vui tươi, chỉ mong gặp thứ âm thanh xoàng xĩnh nhất, buồn chán nhất của cuộc sống người, thế mà cũng không có: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.” Chữ “đâu” có người hiểu theo nghiã phủ định (đâu có). Thực ra trong văn cảnh này chỉ có thể hiểu theo nghĩa nơi chốn (đâu đó): Nghe vẳng lại từ một làng xa nào ở đâu đó tiếng “vãn chợ chiều” xào xạc. Một âm thanh gợi buồn bởi không có gì buồn bằng cảnh chợ chiều, cảnh tan chợ. Âm thanh này còn làm cho cảnh vật càng thêm vắng lặng: có vắng lặng lắm mới nghe được tiếng “vãn chợ chiều” ở một làng xa… Rồi cả những phương tiện giao lưu gợi sự có mặt của con người cũng không hề có: “Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật.”

15


Và sự phủ định cuối cùng: “Không khói hoàng hôn…”. Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng của “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén – Ngày vắng xem hoa bợ cây” (Nguyễn Trãi), “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” (Bà Huyện Thanh Quan), hay “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” (Nguyễn Khuyến) nữa. Tràng giang hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế. Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi, cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh này, hơn nghìn năm trước Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu.” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?) (Tản Đà dịch) Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sông để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà là để vượt thoát, để trốn chạy nỗi cô đơn cố hữu mà thôi: “Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên thành một tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

16


Đứng trước những dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta, nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn. Đứng bên dòng sông lớn, hãy lắng nghe nhịp triều miên viễn mênh mang. Nó là nhịp của vĩnh hằng, nhịp của vũ trụ, Và, tôi muốn nói đến một đặc sắc khó thấy hơn của Tràng giang nói riêng và Lửa thiêng nói chung: hình như Huy Cận đã nghe thấy và đã chuyển được nhịp chảy trôi miên viễn ấy vào trong âm hưởng của bài thơ. Huy Cận đã thể hiện điều đó bằng thứ âm vang lạ lùng của chữ nghĩa. Mà chủ yếu là nhờ sự âm vang của các yếu tố lặp và trùng điệp. Hãy chú ý đến những từ láy, nhất là láy nguyên. Đâu phải ngẫu nhiên thi phẩm có mật độ từ láy nguyên dày đến vậy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,…ẩn hiện trong toàn bài. Chúng không chỉ gợi được dáng nét – dáng nét đường bệ, mà còn gợi được nhịp chuyển động - chuyển động triền miên. Rồi, những câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp nhau, đuổi nhau không ngừng nghỉ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp // Con thuyền xuôi mái nước song song”, “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót – Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”. Trong đó, các vế câu vừa tách rời, vừa kết nối liên tiếp như một chuỗi dài cũng đã góp phần tạo ra nhịp điệu chảy trôi, rong ruổi, miên man. Rồi rải rác các vế chỗ này nối, chỗ kia tiếp: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”,… Hàng nối hàng, 17


bờ tiếp bờ, tất cả phụ họa, hô ứng lẫn nhau cứ song song, điệp điệp, cứ nối tiếp, nối tiếp không cùng…, khi hiện thành câu chữ, khi chìm trong âm vang. Tất cả những yếu tố ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau tạo nên một âm hưởng cứ ngầm chảy đây đó trong bài thơ: âm hưởng trôi xuôi bất tận. Phải chăng đó là cái nhịp chảy trôi âm thầm vè phía hư vô không thể cưỡng được của cõi thế này? Có thể nói đây là thứ âm hưởng vừa nằm trong vừa nằm ngoài ngôn ngữ, nó vừa thuộc về ý thức vừa thuộc về vô thức của người làm thơ. Tôi cho đây là một trong những chỗ vi diệu nhất của thi phẩm này. Nó khiến cho ta có được một cảm tưởng thật rõ rệt: cái mặt bằng chữ nghĩa của cả bài thơ cũng như đang chuyển động xuôi dòng. Dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian… Từ thuở khai thiên lập địa, sông chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là tứ thơ đầy mơ hồ và hư ảo của không gian Tràng giang? III. Đọc hiểu những đặc sắc về nghệ thuật của “Tràng giang” Có thể coi nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ “Tràng giang” là ở sự kết hợp hài hoà hai phẩm chất màu sắc cổ điển và chất hiện đại. 1. Màu sắc cổ điển trong “Tràng giang” Màu sắc cổ điển đậm đà, in dấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bài thơ mới. - Cổ điển ở nhan đề Tràng giang : Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán. Tràng (một âm đọc khác của trường) gọi sự cổ kính, giang là tên chung để chỉ các dòng sông. Hai chữ này gọi một không gian cổ kính, trang trọng, bát ngát như trong Đường thi, gợi nhớ câu thơ nổi tiếng của Lí Bạch : “Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu’’ (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng). - Cổ điển ở đề từ : “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ, sông dài tạo ấn tượng về cái vô cùng của không gian. Trời rộng và sông dài mở ra không gian ba chiều gọi cảm giác rợn ngợp của con người cô đơn, bé nhỏ trước cái mênh mang, bất tận của trời đất. Tâm trạng này từng được diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ cô đọng, đầy ám ảnh của Trần Tử Ngang : 18


“Tiền bất kiến cổ nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thương nhiên nhi thế hạ.” (Người trước không thấy ai Người sau thì chưa tới Ngẫm trời đất thật vô cùng Một mình xót xa mà rơi lệ.) - Cổ điển ở tứ thơ sóng đôi : Tràng giang được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi. Có dòng “Tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình và (cũng có) dòng “tràng giang” tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng. Đầy vốn là cấu tứ quen thuộc của Đường thi. Tiếp cận “tràng giang” trong tư cách là dòng sông thiên nhiên có thể thấy một điều đặc biệt : khổ thơ nào cũng có thông điệp về nước. Thông điệp trực tiếp là : nước, con nước, dòng,… Thông điệp gián tiếp là : sóng gọn, cồn nhỏ, bèo dạt, bờ xanh, bãi vàng,… Tiếp cận “tràng giang” với tư cách là dòng sông cảm xúc trong tâm hồn lại phát hiện thêm một điều thú vị nữa : cảnh nào cũng gợi buồn. Sóng buồn vô hạn (buồn điệp điệp) ; gió đầy tử khí (đìu hiu). Gợi nhớ đến câu : “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” (Chinh phụ ngâm); Bến sông cô đơn, vắng vẻ (bến cô liêu), nước vội nỗi buồn trải khắp không gian (sầu trăm ngả). - Cổ điển ở nghệ thuật đối: Màu sắc cổ điển còn được bộc lộ qua cách sử dụng nghệ thuật đối của Đường thi nhưng khá linh hoạt và phóng túng. Chẳng hạn : “Sóng gạn tràng giang buồn điệp điệp” đối với “Con thuyền xuôi mái nước song song” ; “Nắng xuống” đối với “trời lên” ; “Sông dài” đối với “trời rộng”,… Nhưng đóng góp quan trọng hơn cả là nghệ thuật đối được sử dụng một cách triệt để bằng hai hệ thống hình ảnh mang tính tương phản giữa một bên là những sự vật nhỏ bé, gợi suy ngẫm về cái hữu hạn của kiếp người : thuyền, củi, 19


bến, bèo, cánh chim,… và một bên là những hình ảnh lớn lao, hùng tráng gợi liên tưởng về cái vô hạn của vũ trụ : sông dài, trời rộng, lớp lớp mây cao, núi bạc,… - Sử dụng hệ thống từ láy gợi âm hưởng cổ kính (10 lần/16 dòng thơ, cách ngắt nhịp truyền thống: 3/4. Hệ thống từ láy trải khắp bài thơ : tràng giang, điệp điệp, song song, lơ thơ, đìu hiu, chót vót, mênh mông, lặng lẽ, lớp lớp, dợn dợn. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng sáng tạo thi liệu của Đường thi với rất nhiều hình ảnh và chất liệu quen thuộc. Đặc biệt câu kết mượn thẳng ý thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu : “Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai – Tản Đà dịch). Điểm khác biệt ở hai tác giả là : Nỗi nhớ nhà của Thôi Hiệu được gợi từ hình ảnh “khói sóng” còn nỗi nhớ của Huy Cận không cần tác động của ngoại giới (Không khói hoàng hôn) vì đã là một yếu tố nội tâm thường trực. Đây cũng là nét khác biệt cơ bản của hai cách phô diễn cảm xúc tạo nên đặc điểm riêng của thi pháp thơ trung đại và thi pháp thơ hiện đại. 2. Màu sắc hiện đại trong “Tràng giang” Dù bài thơ “Tràng giang” có in đậm màu sắc cổ điển trên một số phương diện như đã phân tích thì hiện đại vẫn là nét chính của thi phẩm này. Bởi cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của “cái tôi” cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ một cách trực tiếp qua cách diễn đạt cô đọng và hàm súc. Tâm trạng của một “cái tôi” lãng mạn đó lại được thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ quy tắc ước lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nỗi buồn đó được thể hiện đa dạng với nhiều cung bậc và hết sức tinh tế. Ngay trong khổ thơ đầu, nỗi sầu muộn đã thấm vào cái nhìn cảnh vật. Tuy thuyền và nước song song nhưng thuyền về ngược hướng với nước lại gợi liên tưởng về một sự ngổn ngang trăm mối trong lòng. Và hình ảnh gây ấn tượng chính là hình ảnh củi trong câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Theo lời thổ lộ của chính tác giả, trong bản thảo, ông đã băn khoăn nhiều, cân nhắc rất kĩ trước khi chọn hình ảnh này. Quả nhiên, chi tiết giàu chất thực đó mang đến cho câu thơ một màu sắc hiện đại. Hình ảnh củi không chỉ tạo một ấn

20


tượng mới mẻ mà còn gọi những liên tưởng và suy ngẫm về kiếp người lam lũ, tủi cực, lênh đênh… Mạch cảm xúc trong khổ thơ tiếp theo diễn tả nỗi ám ảnh về cái hờ hững, mất liên lạc giữa con người và tạo vật cùng cảm giác trống trải của tâm hồn con người trước cái thế giới hoang vắng với hình ảnh bóng cây lơ thơ trên nhũng cù lao nhỏ trơ trọi và ngọn gió hiu hắt buồn như thổi về từ nghìn năm trước. Cảm giác trống trải trước một không gian hoang sơ, vắng lặng càng được tồ đậm khi tác giả sử dụng nghệ thuật diễn tả cái động để làm nổi bật cái tĩnh : “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.” Câu thơ này từng gợi ra hai cách hiểu. Một, âm thanh vẳng tới mơ hồ như có như không của phiên chợ vãn ở làng xa khiến nhân vật trữ tình thấm thìa hơn nỗi cô đơn trước một không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Hai, đây chỉ là một ý nghĩ bất chợt, gần như một ảo giác do những mong mỏi thầm kín trong thẳm sâu hồn người vào khi chiều xế trong thời điểm tâm hồn rơi vào một nỗi cô đơn mang tính muôn thuở. Nhưng câu thơ “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót” mới thực sự gây ấn tượng mạnh bởi cách sử dụng nghệ thuật tiểu đối, bởi lối dùng từ mới mẻ, táo bạo (sâu chót vót thay cho cách diễn đạt thông thường cao chót vót) vừa mở ra chiều cao mênh mang đến thăm thẳm của bầu trời vừa diễn tả nỗi cô đơn của “cái tôi” trữ tình, đặc biệt là cảm giác rợn ngợp của con người hữu hạn trước một vũ trụ vô biên. Nếu câu thơ vừa phân tích chủ yếu gợi ấn tượng rợn ngợp bởi nỗi cô đơn do chiều cao vô cùng của bầu trời đem lại thì câu thơ tiếp theo sử dụng nhịp 2/2/3 cùng hàm ý nhấn mạnh vào các tính từ miêu tả không gian: sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu… nghe tựa như một tiếng thở dài đầy bâng khuâng và sầu muộn của “cái tôi” trước tạo vật hững hờ. Nỗi sầu muộn đó sẽ còn tiếp tục gây ám ảnh trong khổ thơ tiếp theo khi “cái tôi” trữ tình đối diện với một thiên nhiên gần như ngoảnh mặt làm ngơ với bao nỗi niềm cần chia sẻ của con người: “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. 21


Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Trong khổ thơ có những câu hỏi không thể có câu trả lời. Những câu hỏi như để khơi sâu thêm nỗi buồn, cảm giác hẫng hụt và đặc biệt là tình cảnh bơ vơ của’“cái tôi” trước một thế giới không còn là nơi nương tựa quen thuộc như muôn nghìn năm trước nữa. Trong khổ thơ còn có sự diễn đạt mang tính tăng cấp nhấn vào các ngôn từ mang tính phủ định khiến người đọc nảy sinh những liên tưởng và so sánh. Từ ‘‘khách vắng teo” của Nguyễn Khuyến qua “Đã vắng ngưòi sang những chuyến đò” của Xuân Diệu cho đến hàng loạt ‘‘không đò”, “không cầu”, “lặng lẽ” của Huy Cận là cả một hành trình “càng đi sâu càng thấy lạnh” (Hoài Thanh) của con ngưòi khi bước vàó thế giới hiện đại. Khổ thơ cuối diễn tả một sự đối lập cao độ giữa con ngưòi với vũ trụ. Cái mênh mông của không gian : “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tương phản gay gắt với hình ảnh “Chim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa”. Rõ ràng, không còn là cánh chim mang tính nghệ thuật thuần tuý duy mĩ như trong Đường thi “Chiếc cò bay với ráng pha – Sông xanh cùng với trời xa một màu” (Vương Bột) hay cảnh “Bạch lộ song song phi hạ điền” (Đôi cò trắng song song bay xuống cánh đồng – Thiên Trường vãn vọng – Trần Nhân Tông) nữa. Cánh chim ở đây chứa đựng “cái tôi” rợn ngợp trước hoàng hôn, gọi ám ảnh về cái hữu hạn của kiếp ngưòi trước cái vô hạn của tạo hoá. Nhu cầu tìm về một hình ảnh thân thương, quen thuộc sưởi ấm lòng người trong bối cảnh nỗi cô đơn đang ngập tràn tâm trạng như sắp dìm “cái tôi” trữ tình vào một nỗi buồn vừa mang tính muôn thuở vừa chưa từng trải qua bao giờ sẽ là một tất yếu. Đấy là lí do vì sao bài thơ kết thúc bởi hai câu : “Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Vừa như chịu ảnh hưởng từ hai câu thơ của nổi tiếng của Thôi Hiệu : “Nhật mộ hương quan hà xứ thị-Yên ba giang thượng sử nhân sầu” vừa như muốn đối

22


lập với người xưa bằng lối bộc lộ cảm xúc trực tiếp theo phong cách của con người thời hiện đại. B. Đọc hiểu bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử. I. Đọc hiểu hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Hoàng Cúc ( 1913 – 1989)

Thời còn làm việc ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử thường lui tới chỗ Hoàng Tùng Ngâm. Ngâm người Huế, vào Quy Nhơn làm việc, sống chung với người bác ruột là viên chức cao cấp ở Sở Địa Chánh. Tiếng là sống chung, nhưng thực ra Ngâm ở riêng một túp lều tranh cạnh nhà người bác. Nhờ vậy mà bạn bè Ngâm tự do tụ họp.

23


Mỗi khi đến, Hàn thường thấy thấp thoáng ở nhà bên một thiếu nữ cốt cách đoan trang. Hỏi ra thì biết đó là Hoàng Thị Kim Cúc, ái nữ của ông bác Ngâm. Tử lặng lẽ theo dõi nàng. Nàng không đẹp, nhưng mặn mà duyên dáng, lại rất thùy mị dịu dàng. Sự hiện diện xa gần của nàng tạo nên một vầng thực ảo mơ hồ đã làm rung động chàng trai giàu mơ mộng. Tử đem lòng yêu người con gái ấy, và thầm gọi nàng bằng cái tên rất thơ - Hoàng Cúc. Theo cách của Trương Chi, Hàn Mặc Tử kín dáo bộc bạch nỗi lòng thiết tha của mình với người con gái họ Hoàng trong mấy vần thơ: Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa Sương điểm trăng lồng bóng thướt tha Vẻ mặt khác chi người quốc sắc Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta. (Hoa Cúc) Đó là một thứ tình trong sáng, ủ mãi thành một chất men nồng say muốn tràn ra khỏi lòng người, mãnh liệt mà không đường đột. Cùng với nhiều biến cố khác trong đời, mối tình với Hoàng Cúc đã ghi dấu bước trưởng thành của Hàn Mặc Tử. Tập “Gái quê” Hàn Mặc Tử định đề tặng Hoàng Cúc ở trang đầu, nghĩ lại, sợ không tiện, lại thôi. Hoàng Cúc rời Quy Nhơn, Hoàng Tùng Ngâm người em thúc bá của nàng vẫn còn làm công chức ở Quy Nhơn. Hàn Mặc Tử, dù vẫn thường gặp Ngâm, song không hỏi về Hoàng Cúc. Mối tình đầu chàng cất kỹ trong lòng, không một lần gợi lại. Cho đến mùa hè năm 1939, Hàn Mặc Tử nhận được thư Hoàng Cúc nhờ Hoàng Tùng Ngâm chuyển lại. Trong thư, nàng gửi một phiến phong cảnh in hình một cô gái Huế chèo đò trên sông, dưới một nhánh trúc la đà với mấy lời thăm hỏi sức khỏe của nhà thơ và lời mời “Ra chơi thôn Vĩ”. Chỉ có vậy thôi, nhưng Hàn Mặc Tử vô cùng xúc động. Cái thủa ban đầu lưu luyến chợt sống lại trong lòng nhà thơ bất hạnh, vâng, lúc ấy Hàn Mặc Tử đã mắc bệnh ngặt nghèo. Trái tim chàng lại rung lên bao buồn thương nhớ tiếc, nhưng trí óc tỉnh táo giúp chàng nhận ra đây có thể chỉ là sự chạnh lòng của người thiếu nữ nhân hậu ấy trước hoàn 24


cảnh bi đát của mình. Tuy vậy, nhà thơ vẫn biết ơn nàng. Để tạ lòng cố nhân, chàng soạn bài “Đây thôn Vĩ Dạ” nhờ Hoàng Tùng Ngâm gửi tặng lại Hoàng Cúc. II. Đọc hiểu tâm trạng, tình cảm và cảm xúc của nhân vật trữ tình. 1. Nét đẹp của phong cảnh và tâm trạng của tác giả:

Hình ảnh thôn Vĩ Dạ Bài thơ ba khổ, mười hai dòng, mới đọc tưởng là đơn giản, nhưng thật ra, giống như nhiều bài thơ khác của Hàn Mặc Tử, bài thơ này thật không dễ hiểu. Nó không đơn thuần là một bài thơ tả cảnh thôn Vĩ. Giữa câu này với câu khác, giữa khổ thơ nọ với khổ thơ kia có cảm giác đứt đoạn, như chẳng liên hệ gì với nhau. Từ trong mạch sâu của cảm xúc, trong toàn khối ý tứ thì đây là một bài thơ gửi gắm cả bầu tâm sự của nhà thơ bất hạnh, tha thiết gắn bó với con người, với cuộc đời, mà giờ đây cảm thấy bệnh tật hiểm nghèo sắp chia lìa ông với tất cả. “Đây thôn Vĩ Dạ”, cái tên của bài thơ nghe như một tiếng chào mời, một lời giới thiệu và bài thơ đã bắt đầu từ ý thư của Hoàng Cúc: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Câu thơ nghe như là một lời trách, nhưng có lẽ là trách yêu và chắc người bị trách cảm thấy rất hạnh phúc khi được trách. Hố sâu ngăn cách giữa Hàn Mặc Tử với mọi người vì bệnh tật hiểm nghèo khiến cho nhà thơ vô cùng cô đơn, tuyệt vọng. Nay lại có người quan tâm thăm hỏi chân thành, người đó lại là người mình thầm yêu trộm nhớ, lập tức kỉ niệm thôn Vĩ xa xưa hiện về bừng sáng và sống động. Đây là thôn Vĩ Dạ tươi đẹp, êm đềm trong kí ức của Hàn Mặc Tử. 25


Đây là thôn Vĩ được ngắm nhìn bởi “cặp mắt xanh non” và “cái nhìn biếc rờn”, một thuở trong trắng yêu đời của chàng thi sĩ Hàn Mặc Tử đang xây giấc mộng màu hồng ở tuổi vị thành niên. Cho nên “nắng” như là nắng cõi thần tiên: “nắng hàng cau nắng mới lên”, nó rất sáng, rất tươi bởi vì sương còn đọng đẫm trên lá cau, thân cau của thôn Vĩ Dạ. Cây cau thường đứng cao nhất trong vườn nên mới đón được ánh hồng ban mai để rực sáng lên. Nhưng đây cũng là ánh nắng buổi đầu đời của tuổi thanh xuân nên nó lưu lại trong tâm hồn thi sĩ một kỉ niệm không thể nhạt phai. Phải chăng đó là cái nắng rất sáng, rất tươi mà có lần Xuân Diệu đã thốt lên: “Tôi muốn tắt nắng đi - Cho màu đừng nhạt mất”. Có lẽ đấy cũng là “nắng mới” được nhắc đến hai lần trong bài thơ cùng tên của thi sĩ Lưu Trọng Lư: - Mỗi lần nắng mới hắt bên song, Xao xác gà trưa gáy não nùng. - Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội, Áo đỏ người đưa trước giậu phơi. Nắng kỉ niệm được nhắc tới hai lần: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên” làm bừng sáng cả câu thơ và nghe như tiếng reo vui. Vườn cây thôn Vĩ Dạ trong “nắng mới”, trong kí ức và kỉ niệm cũng đẹp như tiên cảnh với lá ngọc cành vàng “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Hai từ “mướt quá” làm cho câu thơ như một tiếng reo vui, trầm trồ thích thú. Thực tế màu xanh của lá có thể “mướt quá”, long lanh dưới ánh nắng, nhưng không thể “xanh như ngọc”. Đây vẫn là màu xanh trong kí ức, trong kỉ niệm của tuổi thanh xuân nên mới trong trẻo đến thế. Thuở xưa có một chàng thi sĩ trẻ trung, thiết tha gắn bó với đời, với người, chưa hề vương chút mặc cảm bệnh tật đau thương nên nhìn cảnh thôn Vĩ Dạ thấy cái gì cũng rực sáng, long lanh. Câu thơ có một từ “ai” nghe thật thiết tha như nói với người yêu. “Vườn ai” là vườn của nhà ai đó, nhưng “vườn ai” cũng có thể là vườn nhà người mình yêu, ở đó lưu giữ nhiều kỉ niệm như vườn Thúy từng lưu giữ bao nhiêu kỉ niệm đẹp giữa Thúy kiều và Kim Trọng. Cảnh thì đẹp thần tiên, người thì thật thân thiết, cho nên tình cảm với thôn Vĩ thật đằm thắm. Ẩn hiện sau khóm trúc, thấp thoáng trong “vườn ai” là khuôn “mặt chữ điền” thật hiền hậu. 26


Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Những câu thơ của Hàn Mặc Tử giàu sức tạo hình, hài hòa màu sắc, đường nét, ánh sáng, mảng khối, trước mắt chúng ta là bức tranh chân dung. Chiếc lá trúc che ngang làm cho khuôn mặt chữ điền phúc hậu, hiền hòa trở nên dễ mến thương. Biết rõ hoàn cảnh đau thương của Hàn Mặc Tử lúc viết bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, người đọc cảm động, xót thương và yêu quý ông hơn. Có cảm giác sau mỗi hình ảnh đẹp về cảnh, về người thôn Vĩ Dạ là những nỗi đau mà ông nén chịu để cố gắng bám lấy sự sống tươi đẹp. Kể từ khi bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” ra đời đến nay, nhiều thế hệ bạn đọc biết và yêu thương một vùng quê trù phú, cây trái, vườn tược bốn mùa xum xuê tươi tốt ngọt lành, con người hiền hòa, phúc hậu. Đằng sau cảnh thiên nhiên mĩ lệ ấy ẩn hiện một tấm lòng yêu đất nước quê hương. Đoạn thơ mở đầu “Đây thôn Vĩ Dạ” không chỉ là nỗi nhớ thương tha thiết của nhà thơ về một vùng đất thơ mộng mà còn là khát khao hướng tới cái đẹp của cuộc đời, cái đẹp của tình người, đành rằng nó thấp thoáng, chập chờn, xa xôi, mờ ảo. 2. Hình ảnh gió, mây, sông, trăng và cảm xúc của tác giả: Khổ thơ thứ nhất là sự bừng sáng của kỉ niệm, thi sĩ sống lại một thuở tâm hồn còn trong trắng, hồn nhiên, yêu đời, đang xây những giấc mộng đẹp và chưa hề mặc cảm về những hoạn nạn đau thương mà mình có thể gặp trong cuộc đời.

27


Sang đến khổ thơ thứ hai, thi sĩ trở về với thực trạng đau thương. Do trực cảm về bệnh tật hiểm nghèo sẽ dẫn đến sự chia lìa, vĩnh quyết giữa thi sĩ với người thân, với cuộc đời, cho nên ý thơ thoắt “buồn thiu”. Nắng mới hàng cau vừa bừng sáng bỗng vụt tắt, nhường chỗ cho những hình ảnh chia lìa, tan tác, buồn thương hiu hắt: Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay. Khổ thơ thấm đượm dư vị xót xa. Kỷ niệm xưa về thôn Vĩ Dạ, về tình người càng đẹp bao nhiêu thì thực tại càng đau đớn buồn bã bấy nhiêu. Trên đời này không gì khổ bằng chuyện vui nhớ lại trong ngày đau thương. Thi sĩ là người hay mơ mộng “là thi sĩ nghĩa là ru với gió - Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Xuân Diệu). Trong khổ thơ của Hàn Mặc Tử cũng có đủ mây, gió, trăng, hoa, sông nước, thuyền bến…nhưng chỉ gợi lên nỗi buồn tan tác, chia li. Xưa nay gió mây thường gắn với nhau, gió cuốn mây bay; nhưng trong thơ của Hàn Mặc Tử, gió mây lại ngả đôi đường:” Gió theo lối gió, mây đường mây”. Sự chia li thật phũ phàng. Thôn Vĩ Dạ đối diện với Cồn Hến, một đồi đất nổi lên giữa dòng sông Hương, trên đó người dân trồng nhiều bắp. Dòng nước sông Hương trôi lững lờ, gió trên sông Hương nhẹ lay động hoa bắp, gợi lên cảm giác buồn hiu hắt. Cái buồn của cảnh vật hòa vào nỗi buồn xa vắng của lòng người. Phải chăng đó là sự im lặng vĩnh hằng khi ta chia lìa với cuộc đời. Trong nỗi tuyệt vọng, thi sĩ tìm đến bạn trăng tri kỉ. Trăng với thi nhân muôn thuở đã chia sẻ với nhau bao nhiêu nỗi niềm. Đặc biệt, trong thơ của Hàn Mặc Tử có hai nhân vật là Hồn và Trăng cũng biết khóc, biết cười, gào thét và quằn quại. Trăng của thi sĩ tình tứ, biết lả lơi: Trăng nằm sóng xoãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi… (Bẽn lẽn, 1936) Trong nỗi đau đớn, tuyệt vọng, thi sĩ cất lời gọi ai đó đem con thuyền chở trăng về với mình. Bến sông trăng và con thuyền của ai đó đang neo đậu cứ như là con thuyền và bến sông trong mơ mộng. Không còn là dòng sông của sóng nước 28


nữa, mà đây là dòng sông ánh sáng, lấp lánh ánh trăng vàng, tuôn chảy khắp đất trời, vũ trụ. Khổ thơ có một câu hỏi kèm theo với tiếng gọi thiết tha:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? Trong câu hỏi đã có sẵn mầm tuyệt vọng, nếu chở trăng về kịp thì hồn đau thương của thi sĩ hoạn nạn sẽ được an ủi chút ít, thi sĩ muốn có người bạn thân thiết là vầng trăng để xoa dịu nỗi đau. Còn nếu không chở trăng về kịp thì “đêm nay” thi sĩ sẽ hết sức cô đơn, bởi vì điều thi sĩ muốn thổ lộ, chỉ có trăng mới thấu hiểu và cảm thông. Câu hỏi rơi vào hư vô bởi vì không có âm vọng hồi đáp. Thi sĩ muốn bám lấy vẻ đẹp của Thiên nhiên để an ủi tâm hồn đau thương, nhưng nỗi đau thương tăng lên gấp bội. Có thể coi những vần thơ này là những tín hiệu thẩm mĩ phát đi lời kêu cứu của một thi sĩ hoạn nạn nơi trần thế. 3. Tâm sự của nhà thơ: Nhà thơ hướng về đồng loại, hướng về người xứ Huế để hi vọng được an ủi. Điệp ngữ “ khách đường xa”… nghe xót xa, khắc khoải như lời thi sĩ tự nói với mình, với người thiếu nữ thôn Vĩ, với cả người đời, thi sĩ chỉ là một vị “khách đường xa”, chợt đến, rồi chợt chia xa. Hơn thế nữa lại là người khách trong “mơ”, thực mà không là thực, tưởng là gần, trái lại, quá xa xôi mờ ảo. Trên con đường 29


đời xa lắc xa lơ, giờ đây thi sĩ ôm vết tử thương, đang lùi lại phía sau đồng loại, ở đây, ở trong hoạn nạn, người như mờ đi trong màn sương khói đau thương:

Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?

Trong khổ thơ xuất hiện em - áo - trắng, phải chăng là Người - Áo - Trắng mộng mơ của Hàn Mặc Tử thuở xa xôi nay hiện về trong tâm trạng đau thương? Giữa nhà thơ và cô gái thôn Vĩ là một khoảng mờ sương khói. Câu thơ cuối là một hoài nghi hòa lẫn với niềm thiết tha gắn bó với Đời và Người: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Ý tứ câu thơ đi - về cả hai chiều ý nghĩa với đại từ “ai” phiếm chỉ: liệu tình người thôn Vĩ có đậm đà, tình người đời thương kẻ hoạn nạn có chân thành, mặn mà, hay chỉ là một chút tình thương hại nhạt nhẽo, mờ ảo, chóng tan như màn sương khói kia? Người thôn Vĩ và cả người đời nữa, có thấu chăng lòng thi sĩ rất thiết tha với cảnh, với người, với tình xứ Huế, với cả cuộc đời. Cả hai chiều ý nghĩa hợp lại, tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng trong một hồn thơ đau thương khao khát được sống trong yêu thương của con người và cuộc đời. Khách quan, tiếng thơ nhắc nhở ta hãy biết yêu thương và bao dung, độ lượng với đồng loại. Ở đời này có biết bao người hoạn nạn cần đến sự cảm thông, chia sẻ ân tình của mỗi người chúng ta. Bài thơ đánh thức lòng trắc ẩn vốn tiềm tàng trong nhân thế. 30


III. Đọc hiểu những đặc sắc về nghệ thuật. 1. Về thi tứ và bút pháp. Thơ hay trước hết phải có tứ thơ gợi cảm, đồng thời phải tạo được hình tượng, có khả năng khơi gợi được cảm xúc nhân văn tiềm ẩn trong lòng người. Thi tứ của “Đây thôn Vĩ Dạ” khởi nguồn từ bài thơ của người thôn Vĩ, người mà thi sĩ đã từng thầm yêu trộm nhớ và hình tượng thơ được gợi lên bằng hình ảnh dòng sông, con thuyền, cái bến đợi chờ… Tất cả đều gợi cảm hứng cho thi sĩ lãng mạn rung động và sáng tạo. Lá thư, lời an ủi, tấm ảnh phong cảnh… đụng tới cõi hoạn nạn - đau thương - khát khao cứu rỗi của thi sĩ, trước hết làm bừng sáng kỉ niệm về thiên nhiên và con người thôn Vĩ xứ Huế hiền hậu, thơ mộng và tuổi thanh xuân đầy mơ ước của Hàn Mặc Tử. Rồi tiếp đó thi sĩ trở về với hiện thực đau thương và trực cảm chia lìa, vĩnh quyết; thi sĩ hướng về con người, trong đó có người thôn Vĩ với lá thư an ủi và người đời nói chung, hi vọng, tìm kiếm sự cứu rỗi của đồng loại, nhưng vẻ đẹp tình người như một điều nghi ngại và mờ đi trong sương khói. Thi tứ như thế rất gợi cảm, rất sâu xa và thấm đẫm nhân bản. Để cho thi tứ ấy kết thành một thế giới nghệ thuật lung linh, tác giả đã hòa cảm thức thời gian quá khứ với kỉ niệm bừng sáng, hiện tại với trực cảm vĩnh quyết và dự cảm tương lai mờ mịt khói sương. Tác giả kết hợp đôi nét tả thực với tượng trưng, lãng mạn, giữa thực và siêu thực. Và đó là nét điển hình của thi pháp Hàn Mặc Tử: đi từ chủ nghĩa cổ điển tượng trưng, siêu thực - một bước đi quá dài trong quãng đời thi sĩ quá ngắn ngủi: hai mươi tám tuổi đời và mười hai tuổi thơ. 2. Không gian và thời gian nghệ thuật. Nhìn từ góc độ không gian và thời gian nghệ thuật, bài thơ liên kết với nhau không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian: cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong ánh nắng ban mai với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà thanh tú, nghiêng về cảnh thực; cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo, thực hư xen lẫn vào nhau chập chờn chuyển hóa và hình bóng “khách đường xa” nơi chốn sương khói mông lung, cảnh chìm trong mộng ảo. Không gian, thời gian

31


nghệ thuật của bài thơ được sáng tạo mang tính chủ quan gắn với tâm lí và cảm quan của nhà thơ. Thời gian trong bài thơ tồn tại không có tính liên tục, bị đứt nối, ngắt quãng: cảnh thôn Vĩ vào buổi sớm tinh mơ - cảnh sông nước đêm trăng và cuối bài thơ chỉ còn là thời gian vô thức, không xác định. Thời gian trong Đây thôn Vĩ Dạ như một dòng chảy trôi những đứt nối của một nỗi niềm thiết tha gắn bó với đời, khát vọng sống đến khắc khoải. 3. Sắc thái của những câu hỏi tu từ. Mở đầu bài thơ, tác giả đã khai thác có hiệu quả biện pháp tu từ truyền thống. “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là một câu hỏi có nhiều sắc thái: vừa hỏi han, vừa hờn trách, vừa nhắc nhở, vừa mời mọc. Câu hỏi như xoáy sâu vào nỗi đau trong lòng nhà thơ - một người đang mang căn bệnh hiểm nghèo, bế tuyệt trước tình yêu và cuộc sống - biết bao giờ mới được trở về thôn Vĩ tươi đẹp, thơ mộng. Nơi đã để lại trong kí ức nhà thơ những dấu chân kỉ niệm với biết bao hình ảnh nên thơ, gợi cảm. Thôn Vĩ là nơi Hàn Mặc Tử thường lui tới khi còn là học sinh trường Pellerin ở Huế. Hơn thế nữa, nơi ấy Hàn ấp ủ một mối tình tuyệt vọng. Chính vì vậy, việc trở về thăm thôn Vĩ như một sự thôi thúc bên trong tâm hồn nhà thơ nhưng biết khi nào ước mơ ấy mới trở thành hiện thực. Hình tượng chủ thể trong câu thơ trên là “cái tôi” li hợp, bất định (vừa là mình, vừa phân thân ra cùng một lúc nhiều mình khác nữa). Tác giả đang tự phân thân để hỏi chính mình về một sự việc đáng ra phải thực hiện từ lâu nhưng giờ đây không biết có còn cơ hội nữa không. Sự phân thân và những sắc thái tình cảm phức hợp hòa trộn vào nhau trong cùng một câu hỏi làm cho niềm ao ước được trở về thôn Vĩ vừa mãnh liệt, vừa uẩn khúc, khó giãi bày. Nghĩa là ao ước đấy song cũng đầy mặc cảm. Ở khổ hai của bài thơ, câu hỏi tu từ lại tiếp tục xuất hiện như một dấu nhấn cảm xúc, tâm trạng. Câu hỏi ở cuối khổ thơ có ngữ điệu hỏi thể hiện trong các từ “thuyền ai”, “đó”, “có chở”… “kịp”… Ngữ điệu hỏi ấy toát lên một niềm hi vọng đầy khắc khoải, phập phồng trong tâm trạng.

32


Khổ cuối của bài thơ lại xuất hiện một câu hỏi tu từ như một lời ướm hỏi đậm nét hoài nghi: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Câu hỏi là niềm hoài nghi về sự đậm đà trong tình cảm của “ai” đó đối với Hàn Mặc Tử. Chữ “ai” thứ nhất là chủ thể - tác giả. Chữ “ai” thứ hai có thể hiểu theo nghĩa hẹp là “khách đường xa” nhưng cũng có thể mở rộng ra là những người tình trong cõi mộng, thoắt ẩn, thoắt hiện trong tâm trí của Hàn Mặc Tử. Ở đây không phải nhà thơ “ không tin” mà là “không dám tin” cho tình ai có đậm đà thì đúng hơn. Không tin thì nghiêng về thái độ lạnh lùng, không mong đợi gì, còn không dám tin thì vẫn còn bao hàm cả một hi vọng sâu kín. Qua những câu hỏi tu từ rải dọc suốt chiều dài bài thơ, ta như cảm nhận được diễn biến tâm trạng của Hàn Mặc Tử từ ao ước, đắm say đến hoài vọng, đợi chờ và mơ tưởng, hoài nghi để cuối cùng sầu muộn và bi quan, yếm thế. Tất cả chỉ là những cung bậc khác nhau nhưng cốt lõi vẫn là một nỗi niềm thiết tha giao cảm với đời, với con người. Đó là những cảm xúc lành mạnh của một tâm hồn trong trẻo chứ không chán chường đập phá, tiêu cực. Nhìn chung đây không phải là những vần thơ trao - đáp. Hỏi chỉ là hình thức trình bày nỗi niềm tâm trạng. Các câu hỏi được phân bố khắp toàn bài. Vì thế âm điệu bài thơ bị chi phối bởi ngữ điệu của những câu hỏi ấy. Cảm xúc trong bài thơ phần lớn đã được chuyển vào âm điệu của những câu hỏi. 4. Những hình ảnh giàu sức gợi cảm. Mở đầu bài thơ là hình ảnh giản dị, mộc mạc, gần gũi với biết bao làng quê Việt “nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên…”. Hình ảnh ấy hiện lên trước tiên trong kí ức nhà thơ bởi nơi ấy đong đầy kỉ niệm của một thời cắp sách mà Hàn Mặc Tử không thể xóa nhòa và nơi đây cũng là quê hương của người tình trong mộng Hoàng Cúc. Vì thế, các cảnh vật cũng gợi nhớ, gợi thương, gợi sự trắc trở, uẩn khúc trong lòng nhà thơ. Hình ảnh quen thuộc ấy như những con sóng xô bờ khơi dậy nỗi nhớ Vĩ Dạ đến cồn cào, da diết. Sang khổ thơ thứ hai ta bắt gặp những hình ảnh gợi sự chia lìa, li tán: Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay 33


Đến cuối khổ hai lại là những hình ảnh đẹp đẽ, nên thơ với tâm trạng mong chờ, thấp thỏm: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay Có thể nói trinh bạch, thanh khiết là vẻ đẹp lí tưởng mà Hàn Mặc Tử say mê, vẻ đẹp ấy thường hiện ra trong sắc trắng lạ lùng: “áo em trắng quá nhìn không ra”. Với những hình ảnh nên thơ, huyền hoặc đầy sức quyến rũ phần nào giúp người đọc cảm nhận được những rung động khác nhau trong tâm hồn tác giả được thể hiện qua ngôn từ. CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM TIẾT 85: ĐỌC VĂN: Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử I. Mục tiêu bài học. 1. Kiến thức: - Hiểu được bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi buồn, cô đơn của nhà thơ trong một mối tình xa xăm, vô vọng. - Qua đó hiểu được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và khát vọng hạnh phúc tha thiết của Hàn Mặc Tử. - Nhận biết được sự vận động của thi tử và bút pháp nghệ thuật độc đáo tài hoa của một nhà thơ mới. 2. Kỹ năng: - Biết đọc hiểu văn bản trữ tình theo đặc trưng thể loại - Biết cách phân tích thơ trữ tình. 3. Thái độ:- Giáo dục cho học sinh biết trân trọng tài năng, biết đồng cảm và chia sẻ với những người xung quanh. - Có thái độ sống trong sáng, lành mạnh và tích cực. - Có niềm tin và nghị lực vươn lên trong cuộc sống. II. Phương pháp thực hiện. Phối hợp linh hoạt các phương pháp: - Bình giảng 34


- Đọc - hiểu - Phát vấn và đàm thoại - Thảo luận. III. Cách thức tổ chức. 1. Giáo viên - Đọc tài liệu - Soạn giáo án - Sách giáo khoa ngữ văn 11 - tập 2 - Sử dụng thiết bị (nếu có) 2. Học sinh - Sách giáo khoa ngữ văn 11 - tập 2 - Soạn bài chu đáo trước khi đến lớp. IV. Tiến trình dạy học - Ổn định lớp và kiểm tra sĩ số. - Kiểm tra bài cũ (bỏ qua vì tiết trước trả bài). - Bài mới. - Giới thiệu bài mới: Hàn Mặc Tử được xem là một hiện tượng thơ kì lạ vào bậc nhất của phong trào thơ mới. Đọc thơ Hàn, người đọc không chỉ thấy một thế giới đau thương, điên loạn mà còn bắt gặp một tâm hồn tha thiết yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, yêu con người đến khát khao, cháy bỏng. “Đây Thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ như thế. I. TÌM HIỂU PHẦN TIỂU DẪN. Hoạt động của

Nội dung cần đạt

GV và HS - GV gọi 1 HS trình bày những nét cơ bản về tác giả và tác phẩm.

1. Tác giả: + Tên thật: Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912 trong một gia đình công giáo nghèo ở Quảng Bình. + Làm công chức ở Sở Đạc Điền Bình Định rồi vào Sài Gòn làm báo nhưng do mắc bệnh phong - một trong các 35


- HS (dựa vào sự căn bệnh nan y lúc bấy giờ - nhà thơ đã về ở hẳn Quy Nhơn chuẩn bị bài ở để chữa bệnh và mất tại trại phong Quy Hòa. nhà) trả lời.

+Tuy cuộc đời nhiều bi thương Hàn Mặc Tử là một trong các nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới. Ông làm thơ từ năm 16 tuổi với các bút danh: Phong Trần, Lệ Thanh. 2. Tác phẩm: + Xuất xứ: Đây Thôn Vĩ Dạ rút từ tập Thơ Điên (1938) + Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ được khởi hứng từ bức bưu ảnh mà Hoàng Cúc - người thiếu nữ ở Vĩ Dạ, “người tình trong mộng của nhà thơ” - gửi tặng.

- GV trình bày

+ Hàn Mặc Tử là một hồn thơ mãnh liệt, nhưng luôn

thêm một số ý để quằn quại đau đớn, dường như có một cuộc vật lộn và giằng HS có thể hiểu rõ xé dữ dội giữa linh hồn và thể xác. Linh hồn muốn thoát ra hơn về thơ Hàn khỏi xác phàm để bay tới cõi siêu nhiên, sáng láng, thơm Mặc Tử.

tho, tinh khiết nhưng thực ra vẫn gắn bó với cuộc đời, với con người mà ông tha thiết yêu thương bằng một tình yêu trần thế. + Thế giới thơ Hàn Mặc Tử thường được chia làm hai phần đối lập nhau: . Những vần thơ “ điên loạn”, ma quái, rùng rợn với hai hình tượng chính là “hồn” và “trăng”, chẳng hạn: Tôi chết giả và no nê vô vạn Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến? Thịt da tôi sượng sần và tê điếng Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm

36


Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực ( Hồn là ai) Những bài thơ hồn nhiên, trong trẻo với hình ảnh sáng đẹp đến lạ thường ( Mùa xuân chín, Đây Thôn Vĩ Dạ)

II. ĐỌC –HIỂU VĂN BẢN 1. Đọc - Giáo viên đọc mẫu và hướng dẫn HS cách đọc. Giọng đọc chậm rãi, thiết tha, tươi vui (khổ 1), trầm buồn, da diết (khổ 2,3). - Học sinh đọc. 2. Phân tích văn bản Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt a. Khổ thứ nhất - GV giúp HS tìm hiểu cái Câu hỏi mở đầu: hay, cái độc đáo của câu thơ mở + Vừa như lời trách móc nhẹ nhàng của đầu: Mở đầu bài thơ là một câu người con gái thôn Vĩ (mà tác giả tưởng hỏi. Ai hỏi? Giọng điệu hỏi và ý tượng ra) vừa là lời tự vấn sao không về Vĩ nghĩa của lời hỏi? Dạ của nhà thơ. - HS thảo luận, trả lời. + Là lời mời gọi tha thiết về thôn Vĩ. - GV tổ chức HS tái hiện, phân tích thế giới thiên nhiên và con người thôn Vĩ: Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ trong tưởng tượng của nhà thơ hiện lên như thế nào trong 2 câu thơ tiếp theo (thời gian, cảnh sắc)? Hãy cắt nghĩa vẻ đẹp độc đáo của các hình ảnh thiên nhiên.

Thiên nhiên Vĩ Dạ buổi sớm mai: + Nắng mới lên: Nắng đầu tiên của một ngày mới mẻ, ấm áp. Không phải là nắng ban mai hay nắng mai…như cách nói thông thường mà là nắng mới lên. Chữ mới tô đậm cái trong trẻo, tinh khiết của những tia nắng đầu tiên trong ngày. Thi nhân như đã theo nắng mới mà về với Vĩ Dạ…(có thể liên hệ với bài Nắng mới của Lưu Trọng Lư)

37


+ Nắng hàng cau: Cau là cây cao nhất trong - HS tái hiện và cắt nghĩa vẻ vườn nên sớm đón được những tia nắng đầu đẹp của các hình ảnh thiên nhiên tiên trong ngày. Vì thế, nắng hàng cau là Vĩ Dạ nắng thanh tân, tinh khôi, là nắng thiếu nữ. Ánh nắng chiếu vào thân cau đổ bóng xuống Thân cau thẳng, lại chia làm nhiều đốt đều đặn, bởi vậy mà cau như cây thước của thiên nhiên, được dựng sẵn trong vườn để đo mực nắng. + Vườn Vĩ Dạ mướt quá xanh như ngọc: mướt ánh lên vẻ mượt mà, óng ả, đầy xuân sắc, một màu xanh mỡ màng, tràn trề nhựa sống. Xanh như ngọc là màu xanh lung linh, ngời sáng, long lanh. Cả vườn Vĩ được tắm gội bởi sương đêm, đang chìm trong giấc ngủ thì được đánh thức và bừng lên trong ánh nắng hồng ban mai. Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần lên theo từng đốt cau, đến khi ngập tràn thì nó biến cả khu vườn thành một đảo ngọc. Vườn Vĩ Dạ xinh xinh “như bài thơ tứ tuyệt” (Xuân Diệu) trong buổi bình minh đã thành một viên ngọc lớn, vừa thanh khiết vừa cao sang. Đúng là một chốn “nước non thanh tú” của quê hương xứ sở. - GV gợi mở và nêu vấn đề: Người thôn Vĩ: Người thôn Vĩ hiện lên qua chi + Mặt chữ điền: khuôn mặt đẹp, phúc tiết nào? Có tài liệu cho rằng mặt hậu. chữ điền là mặt đàn ông; nhưng + Lá trúc che ngang gợi vẻ đẹp kín lại có người hiểu là mặt phụ nữ. đáo, dịu dàng. Cách hiểu của anh (chị)?

38


- HS tranh luận. Thiên nhiên, con người hài hòa với - GV cung cấp tư liệu để HS nhau trong một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng. có thể lựa chọn, thống nhất rồi Lâu nay mặt chữ điền vẫn được hiểu chốt lại vấn đề. là khuôn mặt đàn ông. Tuy nhiên trong ca dao miền Trung mặt chữ điền cũng để chỉ khuôn mặt đẹp phúc hậu, khả ái của người phụ nữ: Mặt má bầu ngó lâu muốn chửi Mặt chữ điền tiền rưỡi cũng mua Hay : Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xám, Phong Điền Anh thương em không thương bạc, thương tiền Mà anh thương khuôn mặt chữ điền của em. Hình ảnh thơ được miêu tả theo hướng cách điệu hóa tức là chỉ gợi lên vẻ đẹp của con người, không chỉ rõ cụ thể là ai. - GV có thể chiếu cảnh nhà vườn xứ Huế để HS hình dung rõ hơn về vườn Vĩ. - GV hướng dẫn HS đánh giá Bức tranh thôn Vĩ đẹp, tươi sáng, trong vẻ đẹp của Thôn Vĩ: Từ những trẻo, gợi cảm và đầy sức sống. hình ảnh ấy, anh (chị) có nhận xét gì về bức tranh thôn Vĩ hiện lên qua tưởng tượng của nhà thơ? - HS nhận xét.

39


- GV giúp HS đi sâu vào thế giới hình tượng thơ, cảm nhận tâm trạng thi nhân: Thơ - ngoại cảnh cũng là nội tâm. Đặt bức tranh thôn Vĩ (đẹp, tươi sáng, trong trẻo, gợi cảm và đầy sức sống) trong nỗi niềm của thi nhân hướng về người con gái Vĩ Dạ mà tác giả đang thầm yêu trộm nhớ, anh (chị) hình dung tâm trạng của nhà thơ trong khổ thơ đầu này thế nào? - HS liên hệ, suy luận, rút ra ý nghĩa hàm ẩn của khổ thơ.

Tâm trạng thi nhân: Niềm vui khi nhận được tín hiệu tình cảm của người trong mộng (tất nhiên đây chỉ là cảm nhận của Tử), niềm hi vọng lóe sáng về tình yêu, hạnh phúc.

- GV hướng dẫn HS sơ kết Cảnh thôn Vĩ và hi vọng hạnh phúc của bằng cách yêu cầu HS đặt tên cho thi nhân khổ thứ nhất: Từ nội dung phân tích, anh (chị) hãy đặt cho khổ thơ mở đầu một tiêu đề khái quát - HS sơ kết khổ thơ bằng cách đặt tiêu đề *Củng cố, dặn dò: - Học bài cũ, đọc thuộc lòng bài thơ. - Tìm hiểu thêm về Hàn Mặc Tử và soạn tiết 2. TIẾT 86: ĐỌC VĂN: Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử I. Mục tiêu bài học. 1. Kiến thức. - Hiểu được bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi buồn, cô đơn của nhà thơ trong một mối tình xa xăm, vô vọng. - Qua đó hiểu được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và khát vọng hạnh phúc tha thiết của Hàn Mặc Tử.

40


- Nhận biết được sự vận động của thi tử và bút pháp nghệ thuật độc đáo tài hoa của một nhà thơ mới. 2. Kỹ năng. - Biết đọc hiểu văn bản trữ tình theo đặc trưng thể loại - Biết cách phân tích thơ trữ tình. 3. Thái độ. - Giáo dục cho học sinh biết trân trọng tài năng, biết đồng cảm và chia sẻ với những người xung quanh. - Có thái độ sống trong sáng, lành mạnh và tích cực. - Có niềm tin và nghị lực vươn lên trong cuộc sống. II. Phương pháp thực hiện Phối hợp linh hoạt các phương pháp: - Bình giảng - Đọc - hiểu - Phát vấn và đàm thoại - Thảo luận. III. Cách thức tổ chức 1. Giáo viên - Đọc tài liệu - Soạn giáo án - Sách giáo khoa ngữ văn 11 - tập 2 - Sử dụng thiết bị (nếu có) 2. Học sinh - Sách giáo khoa ngữ văn 11 - tập 2 - Soạn bài chu đáo trước khi đến lớp. IV. Tiến trình dạy học - Ổn định lớp và kiểm tra sĩ số. - Kiểm tra bài cũ (bỏ qua vì tiết trước trả bài). - Bài mới.

41


I. Tiểu dẫn II. Đọc-hiểu văn bản 1. Đọc 2. Phân tích văn bản a. Khổ thứ nhất b. Khổ thứ hai - GV gọi một HS đọc và cảm + Không gian mở rộng ra ngoài khung nhận khái quát: Thôn Vĩ có còn cảnh của thôn Vĩ. Đó là trời mây sông nước hiện ra ở khổ thứ hai nữa không? xứ Huế. Vì sao? + Thời gian: buổi ban mai ở Vĩ Dạ - HS đọc và trả lời chuyển vào ngày rồi sang đêm tối. - GV gọi một HS đọc và cảm + Không gian mở rộng ra ngoài khung nhận khái quát: Thôn Vĩ có còn cảnh của thôn Vĩ. Đó là trời mây sông nước hiện ra ở khổ thứ hai nữa không? xứ Huế. Vì sao? + Thời gian: buổi ban mai ở Vĩ Dạ - HS đọc và trả lời chuyển vào ngày rồi sang đêm tối. GV hướng dẫn HS tìm hiểu hai câu thơ đầu của khổ thơ thứ hai. - GV hỏi: anh (chị) có nhận xét Thiên nhiên ban ngày xứ Huế: gì về bức tranh thiên nhiên xứ + “gió theo lối gió, mây đường mây”: Huế được miêu tả trong hai câu cách ngắt nhịp 4/3 với hai vế tiểu đối gợi thơ đầu? Phân tích cái hay,cái độc tả một không gian gió, mây chia lìa, đôi đường, đôi ngả như một nghịch cảnh đầy ám ảnh. “Thơ là nói sai ngữ

đáo trong cách thể hiện của nhà pháp”. Có người đã nói vậy. Người ta chấp thơ (nghệ thuật) nhận những cách nói vô lý của ngôn ngữ thơ -HS tái hiện và phân tích. bởi nhận ra cái hợp lý của người thơ ẩn trong “cái bề sau, bề sâu, bề xa” (Chế Lan Viên) của những con chữ. Lẽ thường thì gió thổi mây bay, phải chăng mặc cảm chia lìa đã chia xa cả những thứ vốn không thể chia tách? + “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”: Nhà thơ đã nhân hóa con sông thành một -Giáo viên gợi ý: Đúng là “tình sinh thể có tâm trạng để giãi bày tâm tư của trong cảnh ấy, cảnh trong tình chính mình. Hương Giang không thể tự này”. Hãy đọc ra tâm trạng của thi buồn mà bởi thi nhân đã bỏ buồn vào lòng nhân trong hai câu đầu của khổ sông. Dòng sông lững lờ hay chính là dòng thứ hai. đời mệt mỏi, cay đắng đang chảy vào lòng nhà thơ khiến thi sĩ miên man trong những nỗi niềm xa xăm? Động thái lay tự nó không vui không buồn nhưng trong hoàn cảnh này, 42


nó lại gợi lên sự hiu hắt, thưa vắng. Đó là nét buồn phụ họa với gió, mây, sông nước hay nỗi buồn sông nước đã xâm chiếm vào hồn hoa bắp trên sông? Nhịp điệu câu thơ chậm rãi như điệu “ slow tình cảm dành riêng cho Huế” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) của Sông Hương. Và đấy cũng chính là hồn Huế, nhịp điệu quen thuộc của Huế tự ngàn đời. Bức tranh thiên nhiên ảm đạm, nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi, yếu ớt. Một nỗi buồn hiu hắt mang dự cảm về hạnh phúc chia xa. - HS trả lời GV hướng dẫn HS tìm hiểu hai câu thơ sau của khổ thơ thứ hai. - GV tiếp: Khác với ban Thiên nhiên sông nước xứ Huế về đêm ngày, Huế và dòng Hương Giang ngập tràn ánh trăng: Sông trăng. Dòng sông về đêm hiện lên như thế nào trong như được dát bạc, ánh lên, lộng lẫy. Đây là trí tưởng tượng của thi nhân? Anh hai câu thơ tuyệt bút của Tử, kết tinh rực rỡ (chị ) cảm nhận được điều gì về bút pháp tài hoa, lãng mạn. Nếu thuyền ai Huế qua hai câu thơ sau của khổ gợi lên bao ngỡ ngàng, bâng khuâng, vừa thơ thứ hai? quen, vừa lạ, man mác như điệu hò xứ Huế - HS cảm nhận. thì hình tượng sông trăng lại như một nét vẽ thơ mộng, chất chứa cái thần thái, “linh hồn” của cảnh sắc thiên nhiên xứ sở. Sự kết hợp giữa thuyền ai và sông trăng đã tạo nên một hình tượng đẹp, thi vị, gợi tả vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng, thân thương của xứ Huế. - GV bình giảng giúp HS Con thuyền đơn côi nằm trên bến đợi hiểu rõ hơn về vẻ đẹp độc đáo của sông trăng là một sáng tạo thẩm mĩ, mới mẻ, hình tượng thơ độc đáo của Hàn Mặc Tử. Thơ ca cổ đã từng có “Thuyền ai đậu bến Cô Tô” hiện lên trong ánh trăng tà và tiếng quạ kêu sương trong thơ Trương Kế đời Đường; đã có “Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng” trong Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư, 1300 năm về trước; lại có cảnh “gió trăng chứa một thuyền đầy” (Nguyễn Công Trứ) và còn có “Trăng sông Trà - như tấm gương soi dòng nước bạc” (Cao Bá 43


- GV gợi mở giúp HS tiếp tục đi sâu vào thế giới nghệ thuật ở hai câu 3,4: Trong ca dao và thơ văn xưa nay, thuyền, bến, trăng thường là những ẩn dụ nghệ thuật. Hãy cho biết ý nghĩa ẩn dụ của các hình ảnh thơ trên. Từ đó, ai có thể nói giúp nhà thơ những tâm tư, tình cảm sâu kín? - HS liên hệ, phát hiện tâm tư sâu kín của thi nhân.

Quát). “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” của Hàn Mặc Tử đúng là một sáng tạo mới mẻ, góp vào kho tàng thơ ca viết về “trăng” một câu thơ tuyệt bút. Thuyền, bến, trăng là những biểu tượng về người con trai, con gái và hạnh phúc lứa đôi. Trăng là nhân chứng cho đôi lứa thề nguyền. Khi xưa, trong vườn Thúy ngập đầy ánh trăng, Kim – Kiều đã giao ước, thề nguyền. Trong ca dao, tình duyên của nam, nữ cũng được giãy bày, ướm hỏi dưới trăng: “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng - Tre non đủ lá đan sàng nên chăng? - Chàng hỏi thì thiếp xin vâng - Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng?”. Thuyền chở trăng là thuyền chở tình yêu. Bến trăng là bến bờ hạnh phúc. Liệu con thuyền tình yêu có vượt thời gian để kịp cập bến bờ hạnh phúc hay không? Câu hỏi chất chứa bao niềm khắc khoải, sự chờ đợi mòn mỏi tình yêu, hạnh phúc của thi nhân. Ẩn trong đó có sự mông lung, hồ nghi, thất vọng: Đừng làm thuyền trên sông Thuyền chở người li biệt Đừng làm trăng trên sông Trăng chiếu người biệt li. Cảnh xứ Huế và dự cảm hạnh phúc chia xa

- GV hướng dẫn HS đánh giá khái quát khổ thứ hai: Cũng như khổ thứ nhất, từ nội dung phân tích, có thể đặt cho khổ thứ hai một tiêu đề thế nào? - HS trả lời và trở lại đề mục ghi tiêu đề c. Khổ thứ ba - GV gọi một HS đọc và phát hiện Cảnh, người trong mộng (mơ). Thiên sự khác biệt về cảnh vật và con nhiên nhường chỗ cho sự hiện diện của con người ở khổ thứ ba: Cảnh tượng người.

44


được miêu tả trong khổ thứ ba có gì khác với khổ thứ nhất, thứ hai? - HS đọc và so sánh - GV hướng dẫn HS lần lượt cắt nghĩa cụ thể các hình ảnh thơ: + Khách đường xa ở đây là ai? Điệp từ khách đường xa gợi lên điều gì? + Áo em là áo ai? Trắng quá nhìn không ra nghĩa là thế nào? + Cụm từ Sương khói mờ nhân ảnh càng cho thấy rõ hơn điều gì về cảnh vật và con người? - HS phân tích, cắt nghĩa.

+ Khách đường xa có thể là người đang sống ở Vĩ Dạ cũng có thể là chính nhà thơ. Điệp từ khách đường xa gợi lên khoảng cách xa xôi, sự cách trở. + Áo em: áo của người con gái xứ Huế, có lẽ là của người ở thôn vĩ. Trắng quá nhìn không ra: thi nhân đang sống trong ảo giác, không phải nhìn bằng mắt thường. + Sương khói mờ nhân ảnh: cảnh vật và con người mờ ảo. Xa xôi, hư ảo. + Hiện thực hư ảo, mờ nhòe, càng lúc càng chìm dần vào cõi mộng. + Thi nhân cảm nhận rõ nét khoảng cách xa xôi, cái hư ảo càng ngày càng rõ của tình yêu, hạnh phúc.

- GV giúp HS đánh giá khái quát và cảm nhận tâm trạng thi nhân: + Từ những phân tích trên, anh (chị) có nhận xét gì về hiện thực được cảm nhận, miêu tả trong khổ thứ ba? + Cảnh cũng là tình. Đằng sau cái hiện thực ấy, anh (chị) nhận ra tâm tư nào của thi nhân? HS nhận xét khái quát, phát hiện tâm tư của nhân vật trữ tình. - GV yêu cầu: Từ nội dung phân Thiếu nữ Huế và sự tuyệt vọng của thi tích, hãy đặt cho khổ thứ ba một nhân. tiêu đề. - HS trả lời, quay về đề mục ghi tiêu đề d. Sự vận động của thi tứ và biện pháp nghệ thuật. - GV tổ chức HS thảo luận + Từ khổ 1 đến khổ 2 đến khổ 3: theo nhóm (4HS/nhóm): Như - Cảnh vật: tươi sáng,giàu sức sống vậy, 3 khổ thơ là ba bức tranh ảm đạm, uể oải hư ảo, mờ nhòe. khác nhau. Phải chăng bài thơ là -Tâm trạng thi nhân: hi vọng dự cảm sự chắp nối vụng về, rời rạc giữa chia lìa, thất vọng, hồ nghi tuyệt vọng. 45


ba đoạn? Có “Dòng chảy” nào xuyên suốt các khổ thơ? - GV (có thể gợi ý): + Nhận xét sự biến đổi của cảnh vật và tâm trạng thi nhân từ khổ thứ nhất đến khổ thứ hai và khổ thứ ba. + Tìm và phân tích các tín hiệu ngôn ngữ liên kết các khổ thơ. - HS thảo luận, trả lời. - GV tiếp (dành cho HS khá, giỏi): Từ sự phân tích này, hãy xác định đặc sắc nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử và cách đọc tác phẩm của nhà thơ này. - HS tiếp tục thảo luận, trả lời.

+ Đại từ phiếm chỉ ai (mang nghĩa mơ hồ) lặp lại đều đặn trong các khổ thơ: vườn ai, thuyền ai, ai biết tình ai. + Sự lặp lại của các câu hỏi tu từ trong các khổ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, “Có chở trăng về kịp tối nay?”, “Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự khắc khoải, khát khao tình yêu, hạnh phúc của chủ thể trữ tình.

+ Thơ Hàn Mặc Tử thường có những bước nhảy về ý, ý nọ cách ý kia một khoảng lớn. Nhưng đó chỉ là hình thức. Vẫn có một sợi dây tư tưởng xuyên suốt toàn bài. + Đọc thơ Hàn Mặc Tử, không nên đọc theo đề tài, sự việc mà phải tìm ra diễn biến tâm trạng của thi nhân, cái “Mạng vi mạch” của “cơ thể” tác phẩm.

III. TỔNG KẾT Hoạt động của GV và HS

Nội dung cần đạt

- GV yêu cầu: Từ việc phân

Bài thơ thể hiện tình cảm yêu mến

tích, hãy khái quát nội dung chính đối với cảnh sắc thiên nhiên, con người xứ hay chủ đề bài thơ. - HS khái quát

Huế và nỗi buồn sâu kín trong dự cảm tình yêu, hạnh phúc chia xa của nhà thơ.

- GV hỏi: Anh (chị) có nhận

+ Bài thơ là một “tư liệu” quý về vẻ

xét gì về giá trị nội dung (giá trị đẹp của một vùng văn hóa xứ sở. hiện thực, nhân văn, văn hóa) và

+ Tác phẩm khẳng định niềm khát

giá trị nghệ thuật (ngôn ngữ, hình khao hạnh phúc; tình yêu thiên nhiên, cuộc ảnh thơ và các biện pháp nghệ sống, đất nước, con người của Hàn Mặc thuật) của tác phẩm?

Tử nói riêng và các nhà thơ mới nói chung.

- HS thảo luận, trả lời.

+ Hình ảnh thơ độc đáo, đẹp, gợi cảm; ngôn ngữ trong sáng, tinh tế, đa

46


nghĩa; các biện pháp nghệ thuật: câu hỏi tu từ, điệp từ, nhân hóa được sử dụng thành công. IV. CỦNG CỐ -DẶN DÒ * Củng cố - Nắm được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. - Trân trọng khát vọng chính đáng của thi sĩ. * Dặn dò - Đọc thuộc lòng bài thơ. - Soạn bài Chiều tối. 7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến. Sáng kiến có thể áp dụng vào giờ dạy đọc hiểu tác phẩm trong nhà trường ở các lớp đại trà và cũng có thể sử dụng để dạy ôn thi đại học. 8.Những thông tin cần được bảo mật: Không 9.Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến. - Đối với nhà trường và tổ chuyên môn: cần tăng thêm thời lượng cho bài học so với thời gian được phân phối là 4 tiết. - Đối với giáo viên: + Cần trang bị những kiến thức cơ bản về phương pháp tiếp cận tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại, cần có những hiểu biết sâu sắc về cuộc đời và con người nhà thơ Huy Cận và Hàn Mạc Tử để giúp học sinh có cái nhìn toàn diện về những tính cách phức tạp và đầy bí ẩn này. - Đối với học sinh: + Cần có thái độ nghiêm túc khi tiếp cận bài học. Đặc biệt phải say mê và yêu quý môn học cũng như nội dung của bài học. + Cần chuẩn bị bài chu đáo. 10.Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có được do áp dụng sáng kiến. 10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả. 47


*Sáng kiến được áp dụng vào một số lớp học cụ thể. - Trước khi áp dụng sáng kiến, kết quả khảo sát bài học của học sinh thu được như sau: Lớp 11A3 (lớp đại trà) 11A4 (lớp đại trà)

Sĩ số

43 HS

35 HS

11A7 (lớp ôn thi đại

42 HS

học)

Mức độ nhận thức Giỏi

Khá

TB

7 HS

15 HS

21 HS

(16,3%)

(34,9%)

( 48,8%)

8 HS

12 HS

15 HS

(22,9%)

(34,3%)

(42,8%)

15 HS

18 HS

9 HS

(35,7%)

(42,9%)

(21,4%)

Yếu 0%

0%

0%

- Sau khi áp dụng và tiến hành khảo sát nhận thức của học sinh về bài học, kết quả thu được như sau: Lớp 11A3 (lớp đại trà) 11A4 (lớp đại trà)

Sĩ số

43 HS

35 HS

11A7 (lớp ôn thi đại

42 HS

học)

Mức độ nhận thức Giỏi

Khá

TB

14 HS

20 HS

09 HS

(32,6%)

(46,5%)

( 20,9%)

12 HS

20 HS

3 HS

(34,3%)

(57,1%)

(8,6%)

21 HS

21 HS

(50%)

(50%)

0%

Yếu 0%

0%

0%

Từ kết quả thu được trên, có thể thấy sáng kiến vừa áp dụng được cho các lớp học đại trà, vừa áp dụng được cho các lớp học ôn thi đại học. 10.2. Đánh giá của tổ chức. - Sáng kiến có tính sáng tạo và tính thực tiễn. - Sáng kiến đã được áp dụng vào thực tế giảng dạy của nhà trường và bước đầu đã thu hoạch được những kết quả nhất định:

48


+ Học sinh hứng thú hơn với bài học, hiểu bài hơn. Đã có thái độ yêu mến tác phẩm và biết trân trọng tâm hồn cũng như tài năng thơ ca của Huy Cận và Hàn Mặc Tử. + Giáo viên có cái nhìn đầy đủ và sâu sắc hơn về con người Huy Cận, Hàn Mạc Tử cũng như có cách tiếp cận đúng hướng đối với tác phẩm Tràng Giang và Đây thôn Vĩ Dạ. 11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: STT

Tên tổ chức cá nhân

Phạm vi lĩnh vực

Địa chỉ

áp dụng sáng kiến Dạy lớp đai trà 11A3, 11A4,

1

Đỗ Thị Lệ Thủy

THPT Lê Xoay

2

Lê Thị Ngọc Mai

THPT Lê Xoay Dạy lớp đại trà 11A2, 11A6

3

Đặng Hữu Thịnh

THPT Lê Xoay

ngày.....tháng......năm 202....

lớp ôn thi đại học 11A7

Dạy lớp đại trà 11A1,A5

Ngày

tháng

năm 2020

Thủ trưởng đơn vị

Tác giả sáng kiến

(Ký tên, đóng dấu)

(Ký, ghi rõ họ tên)

Đỗ Thị Lệ Thủy

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Thanh Đạm 49


Vấn đề giảng dạy văn học theo đặc trưng thể loại- NXBGD-2000 2. Bích Hà Hàn Mặc Tử -Một cá tính sáng tạo -NXH Hội nhà văn 2006 3. Hoài Thanh- Hoài Chân Thi nhân Việt Nam - NXB VH.1999 4. Lữ Hữu Nguyên Hàn Mặc Tử Thơ và Đời - NXBVH 1999 5. Nguyễn Thị Kim Ứng Phong cách thơ Huy Cận qua Lửa thiêng-NXBVH 2013 6. Sách giáo khoa Ngữ văn 11-Tập 2-NXBGD năm 2007 7. Sách giáo viên Ngữ văn 11-Tập 2- NXBGD năm 2007 8. Bình giảng tác phẩm văn chương trong nhà trường-NXBGD năm 2009 9. Đọc hiểu văn bản văn học- NXBGD năm 2009 10. Thiết kế bài học Ngữ văn 11-NXBGD năm 2009

50


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
Sáng kiến Phương pháp đọc hiểu bài thơ “Tràng Giang” và “Đây thôn Vĩ Dạ” theo đặc trưng thể loại by Dạy Kèm Quy Nhơn Official - Issuu