Skip to main content

SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ DẠY VĂN LỚP 9

Page 1

TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY VĂN

vectorstock.com/28062412

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection

SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ DẠY VĂN LỚP 9 WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM

Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


2

BÁO CÁO SÁNG KIẾN I - ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: 1. Bối cảnh xã hội và mục tiêu giáo dục phổ thông -Trong bối cảnh thế giới với sự phát triển khoa học kĩ thuật có những bước tiến vượt trội, nền kinh tế toàn cầu hóa, đòi hỏi nền giáo dục phải có sự thay đổi để bắt kịp với nhu cầu cấp thiết của thời đại. Giáo dục Việt Nam trong bức tranh toàn cảnh của khu vực và quốc tế đang có những bước chuyển mình đáng kể để tạo ra những con người hiền tài góp phần dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp, có thể “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như lời Bác Hồ đã từng căn dặn. -Mục tiêu của giáo dục nước ta hiện nay là đào tạo ra những người có đủ đức, trí, thể, mỹ; năng lực sáng tạo…đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Năm 2013, Nghị quyết số 29- NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc... Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, đảm bảo trung thực khách quan...”.Đổi mới phương pháp dạy học có thể coi là chìa khóa thành công trên con đường thực hiện mục tiêu chung của giáo dục nước nhà. -Giữ vai trò là người truyền cảm hứng cho các em học sinh tiếp cận kiến thức một cách tự nhiên nhất, kích thích khả năng sáng tạo, làm việc tích cực, mỗi giáo viên cần có phương pháp phù hợp với tình hình hiện tại, phải biết làm mới những điều tưởng như đã cũ. 2. Mục tiêu của bộ môn Ngữ văn: Giáo dục là con đường muốn nhanh phải đi từ từ. Dạy học văn cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Để đạt được hiệu quả trong việc dạy học môn văn thì mỗi giờ học phải thực sự tạo hứng thú cho học sinh. Khi thực sự thích học thì kiến thức, kĩ năng, cảm nhận về tác phẩm văn chương, về cuộc sống sẽ đến với các em một cách tự nhiên nhất. Luận ngữ có câu: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học”. Yếu tố cảm xúc, say mê chính là động lực lớn thúc đẩy, nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi người.Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của học sinh, hơn ai hết giáo viên phải tìm, xây dựng hướng tiếp


3

cận mới, phương pháp mới để phát tính tích cực sáng tạo của người học, tạo hứng thú, hưng phấn, đam mê. Mục tiêu của dạy học môn văn là hình thành những con người có ý thức, có tư tưởng tình cảm cao đẹp, có năng lực cảm thụ các giá trị Chân, Thiện, Mỹ và đặc biệt là khả năng thích ứng với cuộc sống năng động trong xã hội hiện đại.Vì vậy vai trò của người giáo viên dạy Ngữ văn là vô cùng quan trọng .Để tạo ra những tiết học hiệu quả, gây hứng thú với học sinh đòi hỏi giáo viên phải tận tâm, nhiệt huyết, vận dụng phương pháp phù hợp. Luật giáo dục nước CHXHCN Việt Nam điều 4 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo ở người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Trong quá trình dạy học môn ngữ văn, bản thân tôi luôn trăn trở để làm thế nào đem đến cho học sinh những giờ học bổ ích, gieo vào lòng các em tình yêu đối với văn học. Văn bản văn học chiếm một dung lượng lớn trong chương trình Ngữ văn THCS. Và đặc biệt Ngữ văn lớp 9 nhiều văn bản dài và khó đối với học sinh .Mặt khác cấu trúc đề thi vào THPT tỉnh Nam Định phần nghị luận văn học thường chiếm 4,5 điểm toàn bài thi, nghị luận xã hội 1,5 điểm ,kĩ năng đọc hiểu văn bản 2 điểm. Các câu hỏi thì phong phú đa dạng, đòi hỏi ở học sinh sự linh hoạt, tư duy tốt, khả năng xử lí đề nhạy bén. Để học sinh làm tốt bài thi, trước hết đòi hỏi người giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh nắm chắc văn bản, hiểu ý nghĩa văn bản và từ đó rèn kĩ năng đọc hiểu, cảm nhận, phân tích, bình giá văn bản, linh hoạt xử lí yêu cầu của đề bài . Qua khảo sát các đề thi vào THPT, đề thi học sinh giỏi của các tỉnh trong cả nước tôi nhận thấy các đề thi ngữ Văn đều có phần đọc hiểu, nghị luận văn học về các tác phẩm trong và ngoài chương trình ngữ văn lớp 9. Tôi xin đưa ra 1 số ví dụ sau: Đề 1:ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TP HÀ NỘI NĂM HỌC 2018-2019 Trong một lần trò chuyện về bài thơ “Bếp lửa”, Bằng Việt tâm sự: “Khi nhớ về bà nội,về tuổi thơ của mình, tôi luôn coi bếp lửa là nhân vật thứ hai, một nhân vật có đời sống, số phận thật sự.” (Nhà thơ Bằng Việt viết “ Bếp lửa”: Kỉ niệm tuổi thơ ùa về, Báo Dân Việt,ngày 09/06/2016) Hãy làm sáng tỏ “đời sống, số phận thật sự” của nhân vật thứ hai trong bài thơ Bếp lửa. Đề 2: ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT TỈNH NAM ĐỊNH Năm học 2019 – 2020.


4

Phần II. Đọc – hiểu văn bản (2.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới: Một ngày nọ, có một con lừa của người nông dân bị rơi xuống đáy giếng. Lừa khóc lóc thảm thương trong vài giờ đồng hồ trong khi người chủ tìm cách giải thoát cho nó. Cuối cùng người nông dân quyết định rằng con lừa đã quá già và cái giếng cũng cần được lấp đi, ông không cần phải cứu con lừa nữa. Người nông dân kêu hàng xóm của ông đến và giúp một tay. Họ cầm xẻng và bắt đầu xúc đất đổ xuống giếng. Ban đầu, con lừa biết chuyện gì xảy ra và nó bắt đầu khóc vì tuyệt vọng. Nhưng sau đó mọi người ngạc nhiên vì nó bỗng trở nên im lặng. Một lúc sau, người nông dân nhìn xuống giếng và ông ta không khỏi ngạc nhiên vì những gì đã xảy ra trước mắt. Với mỗi xẻng đất mà người ta hắt xuống giếng, con lừa đã làm một việc thông minh, nó lay người để giũ đất và bùn rơi xuống chân và tiếp tục bước lên trên. Với mỗi xúc đất của người nông dân hắt xuống, con lừa lại rung mình và bước một bước lên trên đống đất. Chỉ một lúc sau, mọi người đều kinh ngạc vì con lừa đã lên được miệng giếng và vui vẻ thoát ra ngoài. (Lược dịch từ Truyện ngụ ngôn Ê-dốp) Câu 1 (0,5 điểm). Con lừa trong văn bản trên bị rơi vào hoàn cảnh nào? Câu 2 (0,75 điểm). Vì sao khi thấy người nông dân và người hàng xóm cầm xẻng và bắt đầu xúc đất đổ xuống giếng, ban đầu con lừa khóc nhưng sau đó nó bỗng trở nên im lặng? Câu 3 (0,75 điểm). Từ văn bản trên, hãy rút ra một thông điệp mà em tâm đắc nhất và lí giải vì sao điều đó có ý nghĩa với em? Phần III: Tập làm văn (6,0 điểm) Câu 1 (1,5 điểm). Có ý kiến cho rằng: Hi vọng được tìm thấy trong mỗi chúng ta, và nó có thể mang ánh sáng vào những nơi tăm tối nhất. Hãy viết một đoạn văn (khoảng từ 15 đến 20 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của hi vọng. Câu 2 (4,5 điểm). Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: “ Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.


5

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng. Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.” (Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận, (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.140) Từ cảm nhận đó hãy chỉ ra nét độc đáo trong cảm hứng của Huy Cận khi sáng tác bài thơ. Đề 3: ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT TP HỒ CHÍ MINH Năm học 2019-2020 Câu 1 (3 điểm) Em hãy đọc đoạn 2 văn bản sau và thực hiện các yêu cầu dưới: Văn bản 1: Gần đây, trên mạng xã hội liên tục xuất hiện các bức ảnh về việc làm tình nguyện của giới trẻ được chụp trước và sau khi hoàn thành các hoạt động tình nguyện như: xóa “điểm đen” về rác, sơn vẽ nhà mẫu giáo, tu sửa nhà tình thương, xây nhà cho người nghèo, kêu gọi không sử dụng đồ nhựa…

Đây là bức ảnh tham gia cuộc thi “Thách thức để thay đổi” (Cuộc thi do Trung ương Đoàn và Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp tổ chức) nhằm lan tỏa thông điệp: Giới trẻ cần dấn thân vào các hoạt động tình nguyện để thử thách bản thân trước những thách thức của cuộc sống, nhằm thay đổi chính mình và


6

thay đổi cuộc đời của nhiều người ( Theo Vũ Thơ- Người trẻ thách thức bản thân để thay đổi- Báo Thanh Niên ngày 18/4/2019) Văn bản 2: Hãy thách thức bản thân. Thách thức bằng những thách thức không ai biết, chỉ có bản thân mình chứng kiến. Ví dụ: Dù ở nơi không có con mắt của người đời vẫn sống chính trực, dù những khi chỉ có có một mình vẫn giữ đúng luật lệ, phép tắc. Và khi đã chiến thắng trong nhiều thử thách, khi thẳng thắn tự mình nhìn lại bản thân, và hiểu ra bản thân là người có phẩm hạnh cao, lúc ấy con người sẽ có được lòng tự tôn thật sự. Việc này sẽ trao cho ta lòng tự tin mạnh mẽ. Đó chính là phần thưởng dành cho bản thân. (Theo Shiratori Haruhiko, Lời của Nietzsche cho người trẻ, NXB Thế giới, 2018) a. Xác định phép liên kết câu được sử dụng trong đoạn (1) của văn bản 2 (0,5 điểm) b.Dựa vào văn bản 1, hãy cho biết thông điệp mà cuộc thi “Thách thức để thay đổi” muốn lan tỏa tới cộng đồng. (0,5 điểm) c. Chỉ ra một điểm chung và một điểm khác biệt về nội dung của hai văn bản trên. (1,0 điểm) d. Theo em, có phải lúc nào việc thách thức bản thân cũng giúp chúng ta thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn? (Trả lời trong khoảng 3 – 5 dòng) (1,0 điểm) Câu 2: (3,0 điểm) Câu chuyện của những cái cây

Có lẽ những cách ứng xử của cây 2, 3, 4 đối với cây 1 cũng là những cách ứng xử của một số bạn trẻ đối với một ai đó nổi bật hơn mình. Em hãy viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang thi) bàn về một trong ba cách ứng xử ấy.


7

Câu 3: (4,0 điểm) Học sinh được chọn 1 trong 2 đề sau: Đề 1: Cảm nhận của em về tình cảm mà người cha dành cho con trong tác phẩm Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Từ đó liên hệ với thực tế cuộc sống hoặc với một tác phẩm khác cũng viết về đề tài gia đình để thấy được sức mạnh của tình cảm gia đình. Đề 2: Mỗi bài thơ của chúng ta Phải như một ô cửa Mở tới tình yêu (Trích Liên tưởng tháng Hai, Lưu Quang Vũ) Từ những trải nghiệm trong quá trình đọc thơ, hãy viết về một bài thơ hoặc một đoạn thơ “như một ô cửa/mở tới tình yêu” trong em. Với những dạng đề này đòi hỏi học sinh phải có năng lực đọc hiểu văn bản, tư duy logic, khả năng cảm thụ tác phẩm văn học, khả năng sáng tạo, kĩ năng làm bài văn nghị luận. Để có thể làm được điều đó trong các giờ học trên lớp, người giáo viên phải thực sự rÌn luyÖn bé ãc, rÌn luyÖn ph-¬ng ph¸p suy nghÜ, tạo được niềm ham mê, vui thích với môn học, kiến thức sẽ đến với các em một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, dần dần tạo được kĩ năng làm bài thuần thục. Để rèn luyện bộ óc, phương pháp học tập…cho học sinh thì giáo viên phải có phương pháp của riêng mình để tạo hứng thú thực sự cho các em. Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi chú trọng đến một số giải pháp: “Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ dạy văn lớp 9” II MÔ TẢ GIẢI PHÁP :

1.Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến: Thực hiện xây dựng sáng kiến tôi đã tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm trên cơ sở lí thuyết và thực tế cụ thể như sau: 1.1.Phƣơng pháp nghiên cứu a.Nghiên cứu lí luận - Nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả của giáo viên và học sinh trong dạy học văn bản - Những kiến thức, kĩ năng bộ môn cần cung cấp cho học sinh trong quá trình dạy học văn bản -Nguồn tư liệu cần khai thác để phục vụ cho quá trình giảng dạy văn bản


8

b.Nghiên cứu thực tế Điều tra thực tế việc giảng dạy, học tập của giáo viên, học sinh, theo dõi chất lượng qua từng đề kiểm tra ở các giai đoạn, chất lượng các kì thi từ đó kiểm nghiệm, đôi chứng và tìm ra các phương pháp phù hợp. 1.2.Nội dung cụ thể của giải pháp a. Về phía giáo viên: Để tìm hiểu rõ thực tế việc các em có thực sự yêu thích môn học không, kết quả bài kiểm tra, bài thi có cao không ở học sinh lớp 9, tôi đã tiến hành trao đổi, thảo luận, dự giờ đồng nghiệp ở trường THCS Lê Quý Đôn. Qua thực tế điền phiếu khảo sát học sinh, dự giờ đồng nghiệp và chấm bài học sinh, tôi nhận thấy bộc lộ những điểm giáo viên, học sinh đã làm, đã đạt được và những điểm chưa làm, chưa đạt được như sau: *Ưu điểm: -Giáo viên nhiệt tình say sưa giảng bài, kiến thức vững vàng, truyền đạt đúng, đủ nội dung yêu cầu theo chuẩn kiến thức kĩ năng. *Nhược điểm : - Giáo viên còn hạn chế trong việc thay đổi phương pháp, chủ yếu dạy học theo phương pháp truyền thống: sử dụng phương pháp giảng bình, đọc chép khiến học sinh thụ động, không sáng tạo, không linh hoạt xử lí được yêu cầu của đề thi. - Hiểu biết của giáo viên chưa sâu rộng, chưa có sức thuyết phục với học sinh. Giáo viên chỉ chú trọng các văn bản trong sách giáo khoa, chưa có sự liên hệ tới các tác phẩm bên ngoài chương trình, chưa liên hệ thực tế cuộc sống, dễ gây nhàm chán cho học sinh. -Giáo viên cung cấp kiến thức còn mang tính áp đặt nên học sinh khó tiếp thu, gây tình trạng ngại học. b. Về phía học sinh Đầu năm học 2018-2019, 2019-2020 tôi đã tiến hành khảo sát học sinh để tìm hiểu về thực trạng các em học sinh lớp 9 có thực sự hứng thú với môn văn hay không, kết quả bài kiểm tra có cao không, từ đó nắm bắt thông tin để điều chỉnh phương pháp dạy học. Nội dung khảo sát: 35 học sinh lớp 9A5 năm học 2018-2019 và 26 học sinh lớp 9A4 năm học 2019-2020 điền vào phiếu khảo sát: Thái độ học tập môn văn


9

Thái độ học tập Hứng thú Ít hứng thú Không hứng thú

Lớp 9A5 năm học 2018-2019

Lớp 9A4 năm học 2019-2020

2 học sinh (5.7%) 10 học sinh (28.6%) 23 học sinh (65.7%)

2 học sinh (7,7%) 8 học sinh (30,8%) 16 học sinh (61.5%)

- Tiến hành khảo sát đối với học sinh lớp 9A5, 9A4 với đề văn nghị luận văn học như sau: Nêu cảm nhận của em về về vẻ đẹp của bức tranh mùa xuân qua đoạn thơ sau: Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chin chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (Truyện Kiều-Nguyễn Du) Kết quả khảo sát: Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm 1-2 2,25-4,75 5 – 6,25 6,5–7,75 8-8,75 9-10 Lớp Số HS SL % SL % SL % SL % SL % SL % 9a5 35 2 5.7 13 37.1 16 48.5 2 6.1 0 0 0 0 9a4 26 0 0 10 28.5 12 46.1 4 15,4 0 0 0 0 Có thể thấy kết quả đạt được của học sinh còn thấp. Từ phiếu khảo sát và bài kiểm tra về đoạn văn nghị luận văn học, có thể nhận thấy thực trạng học sinh hiện nay : - Học sinh ngày càng không có hứng thú với việc học văn, không chú ý, thiếu tập trung vào giờ học, tiết học chưa thực sự sôi nổi. Các em thường uể oải, mệt mỏi, nói chuyện riêng trong lớp, mang vở môn khác ra làm, thậm chí là ngủ gục trong giờ học. Đối với các em, học văn trở thành một công việc hết sức nặng nề, ít hấp dẫn . -Học sinh học theo kiểu cũ: Đọc thuộc, sao chép, nói lại cảm nhận của thày cô, không có sự sáng tạo trong tiếp cận tác phẩm. -Học sinh ít tập trung suy nghĩ, tìm tòi. -Thói quen ỷ lại vào sách tham khảo, thày cô.


10

- Häc sinh th-êng chó ý ®Õn néi dung cña v¨n b¶n nhiÒu h¬n lµ nghÖ thuËt. - C¸ch ®äc v¨n cña häc sinh ch-a thËt sù diÔn c¶m. - Kh¶ n¨ng b×nh v¨n cña häc sinh cßn yÕu do vèn tõ cßn h¹n chÕ. - Kh¶ n¨ng x¸c ®Þnh néi dung c¬ b¶n cña v¨n b¶n cña häc sinh ch-a tèt. - Kh¶ n¨ng ph¸t hiÖn nghÖ thuËt vµ ph©n tÝch c«ng dông cña nghÖ thuËt cña häc sinh ch-a cao. Từ thực tế trên, bản thân tôi đã suy nghĩ và thực hiện các phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, tích cực, tạo hứng thú cho học sinh lớp 9 và giải quyết những hạn chế còn tồn tại của giáo viên trong thực tế dạy học văn bản. c. Thế nào là hứng thú trong giờ học văn ? -Định hướng đổi mới phương pháp dạy học : Luật Giáo dục , điều 24.2 , đã ghi: “biện pháp giáo dục phổ quát phải phát huy tính hăng hái, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; ăn nhập với đặc điểm của tầng lớp học, môn học; bồi bổ biện pháp tự học, đoàn luyện Năng lực áp dụng tri thức vào thực tiễn; tác động đến tính cách, đem lại niềm vui, hứng thú Học hỏi cho học sinh”. Có thể nói cốt lõi của cách tân dạy và học là hướng tới hoạt động Học hỏi chủ động , chống lại thói quen Học hỏi thụ động. -Thế nào là hứng thú trong giờ học văn ? Theo Đại từ điển Tiếng Việt –Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1998 ,hứng thú có 2 nghĩa :đó là “Biểu hiện của 1 nhu cầu ,làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn ,tạo ra khoái cảm ,thích thú và huy động sinh lực để cố gắng thực hiện” và “hứng thú là sự ham thích”. Như vậy, hứng thú có nghĩa là một thuộc tính tâm lí, thể hiện tâm trạng vui vẻ, hào hứng của con người đối với một hoạt động nào đó. Ở đây là hứng thú trong học tập nói chung và trong môn ngữ văn nói riêng. M.Gorki từng nói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”. Khi có được sự say mê, thích thú con người sẽ làm việc có hiệu quả hơn, dễ thành công và thành công nhanh hơn, bởi lẽ hứng thú chính là động lực thúc đẩy hoạt động của con người đi sâu vào bản chất của đối tượng nhận thức mà không dừng lại ở bề ngoài của hiện tượng. Nó đòi hỏi con người phải hoạt động tích cực, chịu khó tìm tòi hoặc sáng tạo. Hứng thú có nhiều tác dụng trong cuộc sống nói chung và trong dạy học nói riêng. Luận ngữ có câu: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học”. Yếu tố cảm xúc, say mê chính là động lực lớn thúc đẩy, nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi chúng ta. Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của học


11

sinh, hơn ai hết giáo viên phải tìm, xây dựng hướng tiếp cận mới, phương pháp mới để phát tính tích cực sáng tạo của người học, tạo hứng thú, hưng phấn, khơi dậy đam mê học tập ở học sinh. -Tác động của hứng thú trong dạy học văn: Theo William A Ward: “Người thầy bình thường chỉ biết nói, người thầy giỏi biết cách giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng”. Như vậy, việc truyền cảm hứng cho học sinh trong giờ học là vô cùng cần thiết. Nó sẽ giúp cho học sinh có được hứng thú, niềm say mê đối với môn học, tiếp nhận tri thức một cách tự giác, chủ động, sáng tạo, kết quả học tập tốt. “Hứng thú, ham mê học tập là một trong những nguồn gốc chủ yếu nhất của việc học tập có kết quả cao, là con đường dẫn đến sáng tạo và tài năng.”(Viện KHGD – “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”). Khi có hứng thú với môn học, các em sẽ tạo ra không khí học tập sôi nổi, sự thi đua tìm tòi, sáng tạo giữa các thành viên trong lớp, thúc đẩy kết quả học tập của cả tập thể . -Biểu hiện của người học sinh có hứng thú học tập là: +Chủ động nghiên cứu bài học qua sách giáo khoa, sách tham khảo, mạng xã hội. +Trong giờ học trên lớp, tập trung nghe giảng, hăng hái phát biểu ý kiến. +Đặt ra những vấn đề thắc mắc của bản thân về nội dung bài học, yêu cầu giáo viên giải thích. +Hoàn thành các bài tập được giao. +Chủ động vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. +Suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo ra những cách giải mới . -Tính tích cực trong học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao: +Bắt chước: Làm theo mẫu của thầy ,của bạn. +Tìm tòi: Suy nghĩ độc lập, tìm ra cách giải quyết khác nhau về một vấn đề… +Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới hiệu quả. d. Suy nghÜ vÒ c¸ch d¹y- häc v¨n b¶n. Tr-íc kia d¹y v¨n ®-îc hiÓu lµ “ gi¶ng v¨n”, cßn ngày nay d¹y v¨n theo h-íng “§äc-hiÓu v¨n b¶n”. Vậy gi÷a gi¶ng v¨n và d¹y ®äc-hiÓu khác nhau như thế nào? Gi¶ng v¨n §äc -hiÓu v¨n b¶n - Nghiªng vÒ c«ng viÖc cña thÇy - Tæ chøc cho trß thùc hiÖn - ThÇy nãi c¸i hay mµ thÇy c¶m nhËn - Trß tù kh¸m ph¸ ra c¸i hay, c¸i ®Ñp


12

®-îc cho häc sinh nghe - Nghiªng vÒ khai th¸c néi dung, tt-ëng cña v¨n b¶n. - Ít chó ý ®Õn ng«n tõ vµ c¸c h×nh thøc nghÖ thuËt cô thÓ - Chưa trang bị ph-¬ng ph¸p ®äc-hiÓu c¸c t¸c phÈm cïng lo¹i.

cña v¨n b¶n theo ý m×nh. - TËp trung khai th¸c vÎ ®Ñp néi dung qua h×nh thøc v¨n b¶n. - B¸m s¸t c©u ch÷ cña v¨n b¶n ®Ó chØ ra néi dung, t- t-ëng. - Cã ph-¬ng ph¸p ®äc-hiÓu c¸c t¸c phÈm cïng lo¹i.

Cè thñ t-íng Ph¹m V¨n §ång ®· nãi: “ D¹y v¨n lµ qu¸ tr×nh rÌn luyÖn toµn diÖn”. Nh- vËy, d¹y v¨n theo yªu cÇu ®æi míi hiÖn nay cÇn tíi sù nç lùc cña c¶ thÇy vµ trß th× tiÕt d¹y v¨n míi cã hiÖu qu¶. 2.Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến. 2.1.Tạo cơ hội để học sinh đƣợc trau dồi vốn từ, rèn luyện kĩ năng sống trong môi trƣờng văn học: 2.1.1.Kích thích vào lòng ham đọc sách của học sinh : Đây là cách để học sinh có vốn từ, vốn hiểu biết phong phú, học được cách diễn đạt hay, từ đó phát huy khả năng sáng tạo : +Giáo viên phải cho học sinh hiểu được giá trị của sách và tác dụng của việc đọc sách thông qua những buổi nói chuyện về văn hóa đọc, tổ chức cuộc thi giới thiệu sách, kể chuyện theo sách, tích cực liên hệ với thư viện sách di động của huyện, tỉnh về trường để các em có cơ hội được đọc thêm nhiều sách mới, sách hay, tạo tủ sách lớp học, mỗi tuần trong giờ sinh hoạt cô đọc cho học sinh nghe một câu chuyện hoặc bài thơ hoặc một thông tin có tính chất thời sự, khuyến khích mỗi bạn kể chuyện, đọc thơ mà mình sưu tầm được, giáo viên cung cấp những câu danh ngôn, châm ngôn nói về vai trò của sách .Ví dụ như: _“Hãy yêu sách! Nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống.”(Go-rơ-ki) – Thích đọc sách tức là biết đánh đổi những giờ phút buồn tẻ không thể tránh được trong cuộc đời lấy những giờ phút lý thú. (Môngtexkiơ) – Cần phải yêu mến và tin vào sách. Cần rèn luyện cho mình thói quen thực hành và kỹ năng dùng sách để làm việc. (N. Rubakin) – Sách vở đầy bốn vách Có mấy cũng không vừa (Nguyễn Du) – Sách giúp cho ta làm việc tốt hơn, hiểu được con người trên những nẻo đường xa xôi nhất và tối tăm nhất của cuộc đời (A. Upit)


13

– Chỉ có thái độ coi sách là báu vật tinh thần quan trọng nhất và vĩnh cửu mới tạo nên thái độ coi trường học là cái nôi của dân tộc. (Xukhômlinxki) – Đọc được nhiều sách tốt nhưng nếu không đem áp dụng vào thực tiễn cuộc sống thì chẳng khác nào “cái hòm đựng sách”. (Hồ Chí Minh) – Đọc muôn quyển sách, đi muôn dặm đường. (Thành ngữ) – Sách làm cho con người trở thành chủ nhân vũ trụ. (P.Paplenko) – Bạn hãy học cách tôn trọng sách. Bạn hãy nhớ rằng sách là do con người tạo ra, vì vậy bạn tôn trọng sách cũng chính là bạn tôn trọng con người. (G.H.Taxteven) – Đọc sách nên đọc bản văn cho kỹ, nhấm từng chữ một mới thấy thú vị, thấy chỗ nào không hiểu thấu được thì nghĩ cho kỹ, nghĩ không ra mới xem chú giải, như thế mới có ý vị. (Lê Quý Đôn) – Một cuốn sách tốt mở ra thì gợi niềm hy vọng, khép lại thì đem đến điều hữu ích (M.Ancôt)

Học sinh trường THCS Lê Quý Đôn trong ngày hội đọc sách +Hướng dẫn học sinh lựa chọn sách có liên quan đến tác phẩm văn học có trong chương trình ngữ văn 9 và các loại sách phù hợp với lứa tuổi, các tác phẩm văn học kinh điển của thế giới . Ví dụ các em có thể tìm đọc thêm toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, các cuốn sách nghiên cứu về Truyện Kiều, tập truyện truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, tập thơ của Chính Hữu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Bằng Việt.,cuốn nhật kí “Mãi mãi tuổi hai mươi” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, Nhật kí Đặng Thùy Trâm., những cuốn phê bình về các tác phẩm trong chương trình, các tác phẩm văn học kinh điển của thế giới như “Những người khốn khổ” của Vichto Huy-go, tập thơ Dâng của Tago, “Tiếng gọi nơi hoang dã” của G.Lân-đơn…những tác phẩm văn học phù


14

hợp với lứa tuổi bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm: Tôt-tô-chan cô bé bên cửa sổ, Hạt giống tâm hồn, truyện ngắn của Nguyễn Nhật Ánh… 2.1.2. Rèn kỹ năng ghi chép : Đúng như Lê Quý Đôn đã từng viết: “Đọc sách mà tìm được một ý hay cũng như được một thuyền hạt ngọc .” Đọc những tác phẩm văn học hay có được rất nhiều thuyền hạt ngọc như thế- những hạt ngọc không bán được cho ai nhưng chính vì vậy mà không bao giờ lo bị mất, cứ tỏa sáng mãi trong lòng.Vì thế giáo viên phải hướng dẫn các em biết cách ghi chép vào sổ tay văn học. Đó là tư liệu vô cùng quý giá đối với học sinh trong quá trình tiếp cận và cảm thụ tác phẩm. - Đọc sách phải biết chọn sách có giá trị, khi đọc phải biết chọn ý hay, câu thơ, câu văn hay. -Tóm tắt được các câu chuyện, chép những đoạn văn miêu tả, biểu cảm, nghị luận hay trong truyện., từ đó nêu được ý nghĩa, tư tưởng chủ đề của tác phẩm. -Sưu tầm những câu danh ngôn, châm ngôn (về thơ, vai trò của người nghệ sĩ, tình yêu quê hương, đất nước, tình bạn, tình thày trò….), những cách mở bài, kết bài hay. 2.1.3. Tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa: Để tăng khả năng cảm thụ, khơi gợi cảm xúc, tăng khả năng kết nối với bạn bè, với thiên nhiên, việc tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa là điều kiện để các em được bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình, bồi dưỡng tình yêu đối với môn văn. Có thể tổ chức các hoạt động sau: +Phát động phong trào viết về ý nghĩa khăn quàng đỏ, lòng biết ơn với Bác… +Biểu diễn văn nghệ : Thi kể chuyện cổ tích, diễn kịch, thi kể chuyện theo sách, giới thiệu sách. + Tổ chức cuộc thi sáng tác thơ về thầy cô, mái trường, về văn học dân gian, về hình tượng người lính… +Dịch tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. +Lẩy Kiều, bói Kiều, ngâm Kiều, đố Kiều : Ví dụ : Dưới đây là hình thức đố Kiều trong hát phường vải ở xứ Nghệ: Câu hát đố 1: Truyện Kiều anh đã thuộc làu Đố anh kể được một câu năm “còn”? Câu hát trả lời 1 : Còn non, còn nước, còn người Còn về còn nhớ đến người hôm nay. Câu hát đố 2: Truyện Kiều anh đã thuộc làu


15

Chỗ nào tơ liễu mà không buông mành? Câu hát trả lời 2: Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Dựa vào hình thức giải đáp trên, em hãy tìm câu trả lời cho các câu đố dưới đây: +Nghe đồn anh thuộc Kiều làu Đố anh đọc được một câu hết Kiều + Truyện Kiều anh đọc đã làu Đố anh biết được người nào sinh đôi + Tổ chức các chuyến đi trải nghiệm những di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống ở địa phương và ngoài địa phương tùy vào tình hình thực tế :Thờ Mẫu tam phủ ( Vụ Bản), tượng đài Trần Hưng Đạo, đền Trần ( TP Nam Định), Làng nghề đúc đồng , làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ, mộ cụ Nguyễn Khuyến (Ý Yên), làng văn hóa 54 dân tộc, K9 Đá Chông, Lăng Bác, làng gốm Bát Tràng….

Cô và trò lớp 9A5 trong chuyến trải nghiệm ở Côn Sơn- Kiếp Bạc -Khuyến khích các em sáng tác thơ, văn, làm cộng tác viên cho các tờ báo: Thiếu niên, Văn học tuổi thơ, Văn học tuổi trẻ... -Phát động phong trào học tập tốt, làm việc tốt, giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, vùng bão lũ, người nghèo, cử học sinh thay nhau đến nhà giúp đỡ các gia đình thương binh, bà mẹ việt Nam anh hùng ở quanh khu vực trường học vào thời gian các em được nghỉ học, để bồi dưỡng tình yêu thương, sự cảm thông, chia sẻ, tự hào, biết ơn…


16

Học sinh Trường THCS Lê Quý Đôn quyên góp tiền, sách vở, quần áo cho học sinh nghèo tỉnh Hà Giang -Tổ chức chăm sóc cây xanh hàng ngày, các buổi lao động vệ sinh môi trường để các em có tình yêu đối với thiên nhiên, có ý thức bảo vệ môi trường .

Những buổi vệ sinh trong và ngoài sân trường của học sinh trường THCS Lê Quý Đôn - Nhân ngày 20/11 tổ chức thi báo tường, các hoạt động thể thao như kéo co, nhảy bao bố, tiếp sức….để thể hiện lòng biết ơn với thày cô, tăng khả năng kết nối với bạn bè, giữ gìn trò chơi dân gian. -Lễ hội Halowin tổ chức hàng năm để học sinh mở rộng hiểu biết về văn hóa nước ngoài.


17

Lễ hội Halowin của cô và trò Trường THCS Lê Quý Đôn năm 2019 -Trong dịch covid-19 các em được nghỉ, giáo viên tuyên truyền phòng chống dịch đến học sinh, phụ huynh, dạy online …thực hiện chủ trương của Tỉnh: “Dừng đi học nhưng không ngừng học” để các em thấy việc học là không ngừng. Cho học sinh viết các bài về tinh thần dân tộc trong mùa dịch, cây ATM gạo, sức mạnh của tình yêu thương,tinh thần tương thân tương ái, truyền thống đoàn kết…

Bảng tin của nhà trường tuyên truyền về dịch bệnh covid-19 -Hàng tuần trong giờ chào cờ ,các lớp biểu diễn các chương trình văn nghệ theo chủ đề tháng : Tháng 9: Mái trường, tháng 10: Mẹ, tháng 11: Thày cô, Tháng 12: Bộ đội, Tháng 1: Mùa xuân, tháng 2:Mùa xuân- Đảng, tháng 3: Mẹ, cô giáo, tháng 4: Quê hương đất nước, tháng 5: Bác Hồ với các hình thức phong phú: hát ,nhảy, múa, đọc thơ, kể chuyện … -Tổ chức các cuộc thi kể chuyện theo sách, kể chuyện về Bác Hồ…


18

Các hoạt động ngoại khóa này sẽ giúp các em bồi dưỡng tình cảm, tăng khả năng kết nối, có được sân chơi bổ ích, giúp việc cảm nhận cuộc sống trở nên tinh tế, nhạy bén hơn vốn sống phong phú, từ đó các em sẽ cảm thụ văn và viết văn tốt hơn. 2.2.Trang bị kiến thức cơ bản về lí luận văn học và văn học sử: 2.2.1. Lí luận văn học a.Văn học là gì? Văn học là bộ môn nghệ thuật lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, lấy hình thượng làm phương tiện biểu đạt nội dung, lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. b. Đặc trƣng cơ bản của văn học -Đặc trưng về đối tượng phản ánh: Đối tượng phản ánh của văn học là toàn bộ vấn đề đời sống vật chất và tinh thần của con người. Đặc trưng cơ bản của đối tượng phản ánh là toàn bộ sự sống của con nguời như tư tưởng, tình cảm, đạo đức của con người. -Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học: Nội dung phản ánh của văn học là đối tượng đã được ý thức, tái hiện có chọn lọc và khái quát trong tác phẩm và biểu hiện trong tác phẩm như là một tư tưởng về đời sống hiên thực. Đặc điểm quan trọng của nội dung văn học là khát vọng tha thiết của nhà văn muốn thể hiện một quan niệm về chân lí của đời sống.. -Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học : Ngôn ngữ chọn lọc, được sáng tạo phải có tính chính xác, điêu luyện,tính hàm súc,đa nghĩa, tính hình tượng và mang dấu ấn cá nhân của mỗi nhà văn c.Chức năng của văn học -Chức năng nhận thức: Chức năng nhận thức thể hiện ở vai trò phản ánh hiện thực của văn học. Nó có thể đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân loại từ xưa đến nay; về vẻ đẹp thiên nhiên ở nước mình và trên khắp thế giới. Mặt khác, văn học còn giúp con người nhận thức về bản thân mình. -Chức năng giáo dục: Văn học nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Văn học luyện cho người đọc thói quen cảm thụ tinh tế, mài sắc khả năng nhận ra cái thật, cái giả, cái thiện, cái ác trong cuộc sống.Văn học nâng đỡ cho nhân cách, giúp hình thành nhân cách, giáo dục con người tình cảm đúng đắn, trong sáng, biết yêu cái tốt, ghét cái xấu, dám xả thân vì nghĩa và biết sống đúng đạo lí làm người. Mặt khác, văn học giúp con người tự giáo đục, tự hoàn thiện để sống tốt đẹp hơn, hữu ích hơn cho xã hội.


19

-Chức năng thẩm mĩ: Văn học mang lại sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Văn học còn làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ, vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm. Nó làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm, cách nghĩ của nhà văn về con người và cuộc đời. d. Một số khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến trong văn học: -Tác phẩm văn học: Tác phẩm văn học là một văn bản ngôn từ tái hiện bức tranh sinh động về cuộc sống con người qua đó gửi gắm thái độ tình cảm của nhà văn . Tác phẩm văn học không chỉ là kết quả sáng tạo của nhà văn, mà còn là đối tượng tiếp nhận của người đọc, đối tượng khảo sát của nghiên cứu văn học. -Đề tài: dùng để chỉ hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm. -Chủ đề: được hiểu là những cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học. -Tƣ tƣởng tác phẩm văn học: Là toàn bộ quan điểm nhận thức và đánh giá của nhà văn về hiện thực được miêu tả trong tác phẩm. -Nhân vật văn học: Con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng hoặc không có tên riêng. -Kết cấu: là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. - Các loại thể văn học :Trong Lí luận văn học tập 2, NXB. Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2014, Trần Đình Sử lại phân chia thành: tự sự, trữ tình, kịch, kí và chính luận. Dựa vào sự phân loại trên, có thể sắp xếp các thể loại vào các loại tương ứng: Loại tự sự bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thơ, anh hùng ca, truyện cổ tích, … Loại trữ tình bao gồm: thơ trữ tình, văn xuôi trữ tình, … Loại kịch bao gồm: bi kịch, hài kịch, chính kịch, kịch thơ, … Loại kí bao gồm :kí sự, phóng sự, bút kí, hồi kí, … Loại chính luận: bao gồm các kí chính luận, nghị luận văn chương, xã hội, chính trị, 2.2.2.Tiến trình văn học Việt Nam a.Văn học dân gian :


20

-Khái niệm:là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay. -Hệ thống văn học dân gian Việt Nam gồm có: sử thi, truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, thơ, chèo,... -Đặc trưng của văn học dân gian: . Tính nguyên hợp .Tính tập thể .Tính truyền miệng .Tính dị bản Các đặc trưng trên có liên quan chặt chẽ với nhau. Tạo ra nét đặc trưng của Văn học dân gian so với văn học viết. b.Văn học viết -Thời gian hình thành: Ra đời từ khoảng thế kỉ X, đã "mở ra một thời kỳ lịch sử mới, oanh liệt, rực rỡ" (Đặng Thai Mai). -Các bộ phận của nền văn học viết: Văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm, văn học chữ quốc ngữ -Các giai đoạn của văn học viết: +Văn học Việt Nam từ thế kỉ X-hết thế kỉ XIX:Văn học trung đại: ++ Văn học từ thế kỉ X-thế kỉ XV: Văn học dân gian phục hồi và phát triển mạnh mẽ, văn học viết chính thức xuất hiện. Văn học chữ Hán: Phát triển với tinh thần dân tộc ( chiếu, hịch, cáo) với nhiều tác giả,tác phẩm lớn: Nam quốc sơn hà ( Lí thường Kiệt ), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bạch Đằng giang phú( Trương Hán Siêu), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) Văn học chữ Nôm: bước đầu phát triển với nhiều tác giả,tác phẩm lớn: Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông) ++Văn học từ thế kỉ XVI- nửa đầu thế kỉ XVIII: Văn học chữ Hán phát triển thành công với thể truyền kì: Truyễn kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Văn học chữ Nôm có bước phát triển mới với nhiều tác phẩm có giá trị :Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thiên Nam ngữ lục… ++ Văn học từ nửa cuối thế kỉ XVIII-nửa đầu thế kỉ XIX: Văn học phát triển rực rỡ cả về chữ Hán và chữ Nôm.


21

Văn học chữ Hán thành công ở thể loại truyện kí: Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác), Hoàng lê nhất thống chí ( Ngô Gia Văn Phái) Văn học chữ Nôm xuất hiện các kiệt tác chưa từng thấy: Thơ của "Bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương và Truyện Kiều (của Nguyễn Du) được xem là những thành tựu nổi bật của chữ Nôm trong văn học Việt Nam ++ Văn học từ nửa cuối thế kỉ XI X: Chủ yếu đề cao tinh thần yêu nước chống bọn xâm lược và tay sai.Ví dụ: Thơ Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến,Tú Xương… +Văn học Việt Nam từ thế kỉ XX-năm 1945: Văn học hiện đại Chặng 1 ( 2 thập niên đầu thế kỉ XX) : Hoạt động văn học diễn ra sôi nổi, lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà nho yêu nước nhằm tuyên truyền cổ vũ cách mạng với các thể văn vần, tiểu thuyết hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ Chặng 2 ( Những năm 20 của thế kỉ XX): Nền văn học có nhiều thành tựu, kịch nói, tiểu thuyết bắt đầu ra đời. Lãnh tụ Nguyễn Ái quốc có nhiều bài báo, phóng sự, truyện ngắn mang tính chiến đấu cao. Chặng 3 ( Từ năm 1930-1945): Truyện ngắn,tiểu thuyết phong phú do các tác giả của phong trào:Nhóm tự lực văn đoàn ( Nhất Linh,Khái Hưng), phong trào hiện thực phê phán (Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng). xuất hiện thể loại phóng sự, tùy bút (Nguyễn Tuân),Thơ thực sự đổi mới ( Phong trào thơ Mới,thơ ca Cách mạng ) + Văn học Việt Nam năm 1945-đến nay: Nền văn học thời đại mới ( đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội) Văn học từ 1945-1964: Văn học đi sâu vào phản ánh, tái hiện cuộc kháng chiến chống Pháp và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, thể hiện tình cảm với miền nam và khát vọng thống nhất đất nước. Văn học từ 1964-1975:Văn học cách mạng có sự trưởng thành nhanh chóng, các văn nghệ sĩ vừa là nhà thơ nhà văn vừa là chiến sĩ trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ,thống nhất đất nước ( Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Quang Sáng….).Văn học có sự chuyển biến mạnh mẽ và thống nhất cao độtừ đề tài, chủ đề đến cảm hứng, giọng điệu tập trung thể hiện hình tượng nhân dân, người anh hùng, tạo nên văn học đậm tính sử thi có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, khơi dậy tình yêu nước, củng cố niềm tin thắng lợi của quần chúng (Những ngôi sao xa xôi- Lê Minh Khuê, Đất nước đứng lênNguyên Ngọc ….)


22

Văn học từ 1975- đến nay: Văn học đi sâu vào phản ánh các vấn đề của hiện thực sau chiến tranh, nhìn nhận lại cuộc chiến của dân tộc. Tác giả tiêu biểu: Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh…. Sau hơn 10 thế kỷ hình thành và phát triển, văn học viết Việt Nam đạt được những thành tựu nhất định và vẫn đang tiếp tục "dòng chảy" của mình để có thể hội nhập vào nền văn học chung của thế giới. Như vậy, bản thân giáo viên phải chuẩn bị kiến thức sâu rộng về tác phẩm văn học, kiến thức văn học sử, lí luận văn học và cung cấp cho học sinh để các em có cái nhìn toàn diện về văn bản, hiểu ý nghĩa của văn bản . 2.3.Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc tạo tâm thế: -Tác động bằng tình cảm: Để học sinh thực sự có hứng thú với môn văn, trước hết người thày phải tạo được tình cảm gần gũi, thân thiết, sự tin cậy của các em. “Làm bạn” với học sinh là điều vô cùng cần thiết, bắt đầu từ sự quan tâm đến gia đình, đời sống tình cảm, sẻ chia cùng các em những buồn vui trong cuộc sống, đặt mình vào vị trí của trò để hiểu các em hơn, từ đó xóa nhòa khoảng cách về tuổi tác, tâm lí… Khi có được tình cảm yêu mến, tôn trọng của các em,lẽ tự nhiên các em cũng sẽ quan tâm trở lại. Sự quan tâm ấy sẽ bắt đầu từ công việc giảng dạy của thày ở trên lớp .Từ tình yêu, từ cái tâm của người thầy đặt trong từng bài giảng sẽ chạm đến trái tim của học trò, các em sẽ cảm nhận được cái hay cái đẹp của từng tác phẩm văn học, thấy được tâm hồn mình trong đó và nhận ra những bài học đạo đức, những triết lí sâu xa mà nhà thơ, nhà văn gửi gắm. -Xây dựng không khí lớp học: Không khí lớp học có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng dạy học, cảm xúc tích cực sẽ làm tăng hiệu suất của hoạt động nhận thức trong học sinh. Có nhà giáo dục đã từng nói “Một ông thầy mà không dạy được cho học trò ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi.” Cho nên, giáo viên phải biết cách tạo không khí thoải mái khi vào lớp học. Giáo viên có thể tạo không khí lớp học bằng dẫn các chuyện vui, các câu thơ, câu văn hay, bằng cách đặt vấn đề bất ngờ, gợi được sự chú ý, bằng các tranh ảnh, sơ đồ… để gợi hứng thú, kích thích trí tò mò muốn khám phá bài học cho học sinh.Trong tiết dạy, chỉ cần một ví dụ thực tế gắn với bài giảng, một mẩu truyện về nhà văn… sẽ làm cho bầu không khí học tập thay đổi tích cực; học sinh sẽ bị cuốn hút vào những giai thoại, hay những liên hệ mà giáo viên kể Chính sự chú ý, hứng thú do không khí lớp mang lại sẽ kích thích các học sinh tích cực làm việc hơn, tư duy sẽ được thúc đẩy. Học sinh sẽ chủ


23

động đi sâu tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của vự việc, hiện tượng; kết quả là học sinh nhanh hiểu bài và nhớ bài lâu hơn. - Ví dụ 1: Giáo viên có thể sử dụng video khi dạy bài Cảnh ngày xuân Hs nghe bài hát : Mùa xuân đầu tiên Sau đó giáo viên dẫn vào bài trên nền 1 sè h×nh ¶nh vÒ mïa xu©n Giíi thiÖu bµi míi :Quan s¸t c¸c h×nh ¶nh mçi dÞp TÕt ®Õn, xu©n vÒ trªn quª h-¬ng ®Êt n-íc: c©y cèi ®©m chåi n¶y léc, mu«n hoa ®ua nhau táa h-¬ng khoe s¾c,ng-êi ng-êi tõ kh¾p n¬i ®i trÈy héi, thó ch¬i nho nh· cña ng-êi x-a …là nguồn c¶m høng vô tận ®Ó c¸c thi nh©n viÕt lªn nh÷ng vÇn th¬ xu©n say ®¾m hån ng-êi. Làm sao không mến không yêu cho được vÎ ®Ñp cña mïa xu©n trong “BÕn ®ß xu©n ®Çu tr¹i” cña NguyÔn Tr·i, không r¹o rùc b©ng khu©ng cho được tr­íc “Mïa xu©n chÝn” cña H¯n MÆc Tö, “Mïa xu©n xanh” cña NguyÔn BÝnh…LËt gië nh÷ng trang TruyÖn KiÒu cña NguyÔn Du ta l¹i thªm mét lÇn mª ®¾m tr-íc bøc tranh c¶nh ngµy xu©n. TiÕt häc h«m nay c« trß ta h·y cïng l¾ng lßng l¹i ®Ó chiªm ng-ìng vÎ ®Ñp mïa xu©n d-íi con m¾t cña thiªn tµi v¨n häc NguyÔn Du. - Ví dụ 2 Sử dụng tranh vẽ khi dạy bài Sang thu: Giáo viên đưa bức tranh mùa thu vàng của Lê-Vi -Tan .GV hỏi: Tranh vẽ có những gì?

HS: Lá vàng rơi, dòng sông uốn lượn quanh co…(Hs nói theo cảm nhận) GV: Tranh vẽ về mùa nào ?Vì sao ? Hs nói theo cảm nhận GV: Mùa thu với vẻ đẹp êm đềm, quyến rũ là nguồn cảm hứng vô tận cho các nghệ sĩ. Đây là bức tranh thu được vẽ bằng ngôn ngữ hội họa. Bằng ngôn từ nghệ thuật, nhà thơ Hữu thỉnh sẽ cho chúng ta chiêm ngưỡng những nét đặc trưng của thiên nhiên chuyển mùa từ hạ sang thu trong 1 bài thơ hay: Bài thơ Sang thu. Chúng ta cùng tìm hiểu trong tiết học hôm nay.


24

Ví dụ 3:Tạo tâm thế cho bài học “Bố của Xi-mông”: Gv cho quan sát bức tranh sau rồi dẫn vào bài :

Đủ nắng hoa sẽ nở Đủ yêu thương hạnh phúc sẽ đong đầy Cuộc sống sẽ thật tươi đẹp, hạnh phúc biết bao nhiêu nếu con người có tình yêu thương. Câu chuyện giản dị mà hôm nay chúng ta tìm hiểu là “Bố của Xi -mông” của nhà văn Guy đơ-mô - Pat- xăng cho ta thấy ý nghĩa, sức mạnh của tình yêu thương trong hành trình dài rộng của đời người. Tôi tin rằng với các hình thức khởi động trên chắc chắn học sinh sẽ được kích thích và mở rộng các giác quan để chuẩn bị tâm thế cho việc tiếp cận tác phẩm một cách tự nhiên 2.4. Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc đọc diễn cảm 2.4.1. Đọc diễn cảm trong dạy học văn: Giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn “Con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn” : “Khởi điểm của môn văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn. Nếu HS không trực tiếp đọc các văn bản ấy không hiểu được văn bản thì coi như mọi yêu cầu mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông ,khó với tới ,chứ đừng nói gì tới tình yêu văn học”. §äc ®Ó hiÓu t¸c phÈm, ®Ó rÌn kÜ n¨ng ®äc cho häc sinh. Đọc sẽ kích thích quá trình tâm lí cảm thụ, tri giác tưởng tượng, xúc cảm, đưa người đọc vào thế giới của tác phẩm tạo tâm lí cần có cho người đọc, người nghe. Đọc diễn cảm làm cho giờ văn trở thành một công việc tâm tình, một cuộc trao đổi thực sự về cuộc sống. Bằng sức mạnh riêng của đọc diễn cảm, giáo viên dẫn dăt học sinh vào thế giới của tác phẩm văn học dễ dàng, phù hợp với quy luật cảm thụ văn học. Hướng


25

dẫn học sinh đọc đúng giọng điệu của nhà văn là thể hiện được cung bậc cảm xúc của tác giả. 2.4. 2.Yêu cầu của đọc diễn cảm: Để có thể truyền thụ một cách nhẹ nhàng, dễ dàng một tác phẩm văn chương (tự sự hoặc trữ tình), người giáo viên cần phải chuẩn bị rất nhiều, ngay từ hoạt động đầu tiên là đọc văn bản (thao tác này thực hiện ở phẩn Đọc-hiểu văn bản) mà khởi điểm là yếu tố giọng đọc, cách đọc. §äc chuÈn mét ®o¹n v¨n b¶n t¸c phÈm cã nghÜa lµ ph¶i ®äc ®óng, ®äc râ, ®äc hay, ®äc diÔn c¶m, ®äc nh- lµ mét sự biÓu hiÖn , nh- lµ mét sù tù c¶m nhËn; khi ®äc ph¶i tÝnh ®Õn ®Æc ®iÓm thÓ lo¹i cña v¨n b¶n, tÝnh c¸ch cña nh©n vËt, phong c¸ch cña t¸c gi¶, giäng ®iÖu cña t¸c phÈm … , tøc lµ ph¶i tÝnh ®Õn sù phøc hîp cña v¨n b¶n. - Khi bắt đầu tiếp cận một tác phẩm văn học, người giáo viên phải xác định ngay được giọng điệu cho tác phẩm ấy thông qua mạch cảm xúc chung của bài, đồng thời được thể hiện qua một số từ ngữ then chốt làm nên nét đặc sắc của câu văn, câu thơ. - Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần phải xác định giọng điệu cho từng phần của bố cục trong quá trình đọc. - Các yếu tố như: âm lượng (to, nhỏ, vừa), ngữ điệu (trầm, bổng), nhịp thơ và cả tâm trạng, cảm xúc (vui, buồn, giận...) đều phải được lồng ghép với nhau một cách hài hòa, thích hợp trong quá trình đọc văn bản. Khi đọc thơ chú ý giọng đọc phải nhấn nhá vào các từ ngữ có giá trị biểu cảm ,luyến láy hợp lí ,thể hiện rõ cảm xúc. Khi đọc truyện cần phân biệt rõ giọng của nhân vật ,giọng người kể chuyện. - Đặc biệt, yếu tố về chất giọng và chính tả cũng hết sức cần thiết để tạo được sự lôi cuốn đối với học sinh. Khi học sinh đọc được theo sự hướng dẫn của thày cô, đây là bước ban đầu thể hiện được khả năng cảm thụ văn bản của các em,bởi vì có hiểu được cảm xúc của nhân vật thì các em mới đọc được hay . Ví dụ 1: Kỹ năng đọc cho tiết dạy văn bản "Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải: - Với văn bản này, trước hết, giáo viên cần phải xác định nó thuộc thể loại Thơ 5 chữ. Thể thơ này thường không ngắt nhịp trong từng câu và các khổ không đều đặn. Nhịp điệu của bài có thể biến đổi theo mạch cảm xúc. - Tiếp đến, giáo viên cần xác định mạch cảm xúc và ý nghĩa của văn bản để định hướng giọng đọc cho đúng ( Mạch cảm xúc và tư tưởng của bài thơ là


26

xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước đến mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hiến “ mùa xuân nho nhỏ” của mình vào “ mùa xuân lớn” của cuộc đời chung ). - Sau đó, giáo viên xác định giọng đọc cho toàn văn bản: giọng nhẹ nhàng,tha thiết,sâu lắng. +Khổ 1: giọng say sưa, trìu mến ở phần đầu khi diễn tả cảm xúc về mùa xuân đất trời. + Khổ 2+ 3: nhịp nhanh, hối hả, phấn chấn khi nói về mùa xuân đất nước. + Khổ 4+ 5: giọng tha thiết, trầm lắng khi bày tỏ suy nghĩ và ước nguyện được góp “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào “ mùa xuân lớn” của cuộc đời chung. + Khổ 6: Bài thơ kết thúc bằng sự trở về với những giọng đọc thiết tha, tự hào về quê hương, đất nước qua điệu dâ ca xứ Huế. Ví dụ 2: Kỹ năng đọc cho tiết dạy văn bản “ Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. - Với văn bản này, trước hết, giáo viên cần phải xác định nó thuộc thể loại Truyện ngắn. Truyện này khá dài, văn bản đưa vào SGK đã lược bỏ một số đoạn nhưng cũng còn dài vì phải bảo đảm giữ được sự trọn vẹn của cốt truyện và tâm trạng nhân vật.Vì thế không cần thiết phải cho hs đọc toàn bộ văn bản ở đầu tiết học, chỉ cần đọc phần đầu truyện ( giới thiệu về ba nhân vật ) và một trong hai phần tiếp theo ( phần hồi tưởng của Phương Định về thời học sinh và phần tả tâm trạng, hành động của các nhân vật trong cuộc phá bom).Những đoạn không đọc, GV tóm tắt nội dung để cho hs dễ theo dõi mạch truyện. - Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất và người kể chuyện cũng là nhân vật chính.Sự lựa chọn ngôi kể như vậy phù hợp với nội dung tác phẩm và tạo thuận lợi để tác giả miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn, những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật. Vì thế, khi đọc cần chú ý thể hiện được giọng điệu ngôn ngữ của truyện mà chủ yếu là lời của nhân vật cô thanh niên xung phong Phương Định – một cô gái Hà Nội vào tuyến đường Trường Sơn. Câu văn trong truyện phần nhiều là dạng câu kể xen với câu tả và thường là câu ngắn, gần với khẩu ngữ, khi đọc cần thể hiện đặc điểm này của lời văn. + Đoạn tả tâm trạng, hành động của các nhân vật trong cuộc phá bom thường dùng những câu ngắn, nhịp nhanh nên giọng đọc phải tự nhiên, nhanh, trẻ trung và có chất nữ tính để tạo được không khí khẩn trương trong hoàn cảnh chiến trường.


27

+ Đoạn hồi tưởng của Phương Định về thời học sinh: nhịp đọc chậm lại, trầm lắng, nhẹ nhàng để gợi nhớ những kỉ niệm của tuổi niên thiếu, hồn nhiên, vô tư và không khí thanh bình trước chiến tranh. 2.5. Tạo hứng thú cho học sinh thông qua phƣơng pháp thảo luận nhóm -Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong học tập. Trong thảo luận nhóm, Học sinh được tham gia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn. -Cách thức tiến hành như sau: Có thể chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ (cặp đôi, cặp 3) nhóm trung bình (4 đến 6 người) hoặc nhóm lớn (8 -10 người trở lên). Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau. Sau đó các thành viên trong nhóm sẽ trao đổi, thảo luận và thống nhất ý kiến và trình bày trước lớp ý kiến của mình. Cuối cùng giáo viên chỉnh sửa và rút ra kết luận đúng hay hướng giải quyết vấn đề. Phương pháp này cũng phát huy tính tích cực của học sinh nên nhiều giáo viên vận dụng. Khi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm, cần đưa ra những câu hỏi có vấn đề để học sinh bàn bạc,nêu ý kiến. Ví dụ 1: Khi dạy tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” tôi đưa ra câu hỏi: -Chi tiết cái bóng có ý nghĩa gì ? Khi đưa ra câu hỏi, tôi gợi ý dẫn dắt học sinh vào vấn đề chính: Có nhiều ý kiến khác nhau về ý nghĩa chi tiết cái bóng: -Ý kiến 1: Có người cho rằng: Cái bóng có ý nghĩa thắt nút câu chuyện -Ý kiến 2: Có người cho rằng :Cái bóng có ý nghĩa mở nút câu chuyện * Cách thức tiến hành: Tôi chia lớp thành ba nhóm với nhiệm vụ như sau: ° Nhóm 1: Em hãy chứng minh để làm nổi bật ý kiến thứ 1 ° Nhóm 2: Em hãy chứng minh để làm nổi bật ý kiến thứ 2 ° Nhóm 3: Các em có thể đồng tình hay phản bác ý kiến của hai nhóm trên.


28

Hoặc đưa ra chính kiến của mình miễn là hợp lý. Bởi văn chương không thể có một đáp số chính xác, cụ thể. * Kết quả đạt được: - Trong thời gian thảo luận các em thể hiện niềm vui, sự say mê nhiệt tình đóng góp ý kiến, tạo không khí sinh động cho lớp học. - Các em đưa ra nhiều ý kiến khác nhau: + Có nhóm đồng tình với ý kiến 1 vì cho rằng: Mỗi người hiểu cái bóng theo cách khác nhau: Bé Đản nghĩ cái bóng là cha mình ,Vũ Nương coi cái bóng là sự đồng nhất giữa mình và chồng và để con đỡ thiếu vắng tình cha ,còn Trương Sinh nghĩ cái bóng là người đàn ông khác của vợ . + Có nhóm đồng tình với ý kiến 2 vì cho rằng: Khi con trai chỉ cái bóng trên tường là cha Đản thì Trương Sinh đã hiểu mình đã nghĩ oan cho vợ ,mọi hiểu lầm đều được hóa giải . + Nhóm 3 nhất trí với hai ý kiến trên vì cho rằng: Cái bóng vừa có ý nghĩa thắt nút vừa có ý nghĩa mở nút câu chuyện ,nó giúp người đọc thấy đồng cảm ,xót thương cho số phận của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến,lên án chế độ nam quyền độc đoán …. Từ kết quả trên tôi nhận thấy sự cảm nhận của học sinh về tác phẩm khá tinh tế và sâu sắc vì các em biết dựa vào những chi tiết trong truyện để phát hiện ra dụng ý nghệ thuật, thông điệp mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. Ví dụ 2: Người xưa từng viết “Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc”. Em hãy phân tích yếu tố “họa” trong khổ đầu , yếu tố “nhạc” trong khổ thơ cuối bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải. * Cách thức tiến hành: Tôi chia lớp thành 4 nhóm: Nhóm 1,2: Phân tích yếu tố họa trong khổ thơ đầu Nhóm 3,4: Phân tích yếu tố nhạc trong khổ thơ cuối *Kết quả: Các nhóm cùng nhiệm vụ đưa ra các ý kiến ,bổ sung cho nhau để hoàn thành yêu cầu : .Nhóm 1,2: Yếu tố “họa” trong khổ thơ đầu Nội dung: -Vẻ đẹp của bức tranh mùa xuân thiên nhiên, đất trời xứ Huế + Không gian: được khắc họa từ thấp lên cao (dòng sông, chim) gợi lên cái cao rộng, bao la của xứ Huế. + Hình ảnh dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, những giọt âm thanh của tiếng chim long lanh.


29

+ Sự hòa phối sắc màu: màu xanh thẳm của dòng sông xanh phản chiếu cái trong trẻo của bầu trời cao vợi hòa cùng màu tím biếc vừa tươi thắm, dịu dàng. Tất cả tạo nên một bức họa thanh sơ, tươi tắn mà cũng rất đỗi đằm thắm, nên thơ của mảnh đất cố đô. + Bức tranh còn có hình ảnh động cùng âm thanh vang vọng tươi vui của cánh chim chiền chiện hót vang trời. Đặc biệt trong bức tranh này tưởng như người đọc có thể nhìn thấy được cả một thứ vô hình là âm thanh của tiếng chim trong trẻo, ngưng đọng, kết tụ (Từng giọt long lanh rơi). + Đoạn thơ còn là bức chân dung tự họa tâm hồn của thi nhân với những cảm xúc dâng trào. Vừa ngạc nhiên, vui sướng khi phát hiện và khám phá những tín hiệu và sức sống của mùa xuân, vừa say sưa, ngây ngất, trân trọng khát khao mở rộng tâm hồn đón nhận và giao hòa với vẻ đẹp đất trời mùa xuân. Con người ấy có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước tha thiết. - Nghệ thuật khắc họa: Hình ảnh thơ tự nhiên, giản dị, gần gũi; ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức liên tưởng; nghệ thuật đảo ngữ; ẩn dụ chuyển đổi cảm giác... Nhóm 3,4: Phân tích yếu tố nhạc trong khổ thơ cuối bài Mùa xuân nho nhỏ: +Giai điệu Nam ai ,nam bình đặc trưng của xứ Huế: Khúc nam ai buồn thương ,man mác,da diết khúc nam bình là khúc nhạc êm ái ,dịu ngọt +Nhịp nhách tiền là điệu nhạc rộn ràng khép lại bài thơ, đó là giai điệu cuộc sống mới của dân tộc +Cách gieo vần, phối âm độc đáo: câu đầu và câu cuối kết thúc bằng thanh trắc “hát-Huế”,3 câu giữa kết thúc bằng 3 thanh bằng liên tiếp “bình –tình –mình” và điệp ngữ “Nước non ngàn dặm”thể hiện chất âm nhạc dân gian, nhịp nhàng ,buồn thương man mác hòa với những tiếng gõ phách rộn ràng. Đó là cái hồn dân tộc của âm nhạc dân gian xứ Huế. +Tình yêu đời, yêu cuộc sống trỗi dậy thật mãnh liệt, trở thành khúc hát tâm tình trong những dòng thơ cuối. Khúc hát đó thật cảm động, cao quý và đáng trân trọng. - Nghệ thuật khắc họa: Giọng thơ nhẹ nhàng sâu lắng, ngôn ngữ giản dị ,cách gieo vần bằng“bình-tình-mình”, điệp ngữ “nước non ngàn dặm”, nhịp thơ nhịp nhàng ….


30

Qua quan sát học sinh làm việc nhóm và trình bày, tôi thấy các em thực sự hứng thú, vui thích, không ngại tìm tòi, khám phá kiến thức, các em bổ sung kiến thức cho nhau, học hỏi ở nhau những điều mình chưa phát hiện ra, những điều mình còn mơ hồ trong nhận thức. 2.6. Tạo hứng thú cho học sinh thông qua phƣơng pháp đóng vai -Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định”. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình. -Các bước cơ bản thực hiện: + Giáo viên nêu chủ đề, yêu cầu của nhiệm vụ, chia nhóm và giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm. Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm. + Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai : phân vai, dàn cảnh, cách thể hiện nhân vật, diễn thử. +Các nhóm lên đóng vai. + Thảo luận, nhận xét : Thường thì thảo luận bắt đầu về cách ứng xử của các nhân vật cụ thể (phù hợp hay chưa phù hợp, nêu cụ thể chỗ chưa phù hợp) hoặc tình huống trong vở diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm vi thảo luận những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề mà vở diễn chứng minh. + GV kết luận, giúp học sinh rút ra bài học cho bản thân. * Cách thức tiến hành: Bước 1: Tôi cho học sinh đọc kỹ sách giáo khoa (ở nhà) để nắm cốt truyện. Bước 2: Tôi chọn một, hai đoạn truyện bộc lộ được nội tâm của nhân vật. Bước 3: Xác định ý đồ, tư tưởng của nhà văn thể hiện qua nhân vật đó. Bước 4 : GV phân vai cho HS đóng vai. Ví dụ 1: Trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” tôi chọn cảnh Phương Định phá bom và cảnh cơn mưa đá trên cao điểm vì ở cảnh này thể hiện rõ tâm trạng của Phương Định rất căng thẳng, hồi hộp khi ở bên những quả bom và niềm vui sướng, tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của 3 cô gái khi chứng kiến cơn mưa đá trên cao điểm. Nên khi nhận vai các em phải thể hiện được nội tâm của nhân vật này.


31

Khi nhập vai vào nhân vật Phương Định, Nho, Thao thì học sinh cần hiểu được vai trò của nhân vật trong tác phẩm, lòng dũng cảm, kiên cường, tình đồng chí đồng đội keo sơn, và tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, mơ mộng. * Kết quả: Các em bị cuốn hút vào người đóng vai và cảm thông, chia sẻ với nhân vật, buồn, vui với nhân vật. Không khí lớp học sôi nổi. Tôi cho đó là một sự thành công. Tôi kiểm tra học sinh một câu hỏi ngắn: Qua sự diễn xuất của bạn, em hãy cho biết Phương Định có tâm trạng như thế nào? Phần đông HS trả lời đúng. Ví dụ 2 :Trong phần tìm hiểu về t¸c gi¶, t¸c phÈm: học sinh nêu hiểu biết về tác giả tác phẩm có trong sách giáo khoa,và kiến thức ngoài sách mà các em thu thập được bằng cách cho học sinh đóng vai *Cách thức tiến hành: tổ chức thành game show cho 2 học sinh 1 học sinh đóng vai MC ,1 học sinh đóng vai khách mời, hỏi đáp về tác giả,tác phẩm Từ đó Gv nhấn mạnh lại những kiến thức cơ bản về Tác giả (Quê quán ,thời kì lịch sử, phong cách sáng tác ) về tác phẩm (Hoàn cảnh sáng tác cụ thể,bối cảnh lịch sử). Lúc này các em rất hứng thú khi được nhập vai, được diễn như trong các game show trên truyền hình. 2.7. Tạo hứng thú cho học sinh thông qua sử dụng công nghệ thông tin Đây là phương pháp giáo viên thường sử dụng để minh họa cho tiết học thêm sinh động như hình ảnh, những đoạn video clip về phim, nhạc, sơ đồ, mô hình...đây là phương pháp khá phổ biến không chỉ ở Việt Nam và thế giới...Từ đó, giúp học sinh cảm thụ bài học một cách tốt hơn. Bao giờ cũng thế, những hình ảnh sống động dễ lưu lại hơn những câu chữ, kí hiệu. 2.7.1 Sử dụng video: +Ví dụ 1: Sau khi học bài thơ “Đồng chí” ,“Mùa xuân nho nhỏ”, “Viếng lăng Bác”, “Con cò”, Gv trình chiếu video các bài hát để học sinh có hứng thú với tác phẩm thơ được chuyển thể thành nhạc, học sinh dễ học thuộc bài thơ, cảm nhận tác phẩm một cách tự nhiên. +Ví dụ 2: Sau khi học “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Gv trình chiếu video các bài hát chuyển thể từ những tác phẩm thơ của phạm Tiến Duật như “Cô gái mở đường”, “Trường Sơn Đông,Trường Sơn Tây”…. để học sinh có hứng thú, hiểu biết rộng hơn, toàn diện hơn về phong cách sáng tác của tác giả ,đề tài sáng tác, cuộc sống của người lính trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt… 2.7.2. Sử dụng hình ảnh :


32

Ví dụ 1: -Yêu cầu học sinh tóm tắt văn bản Chiếc lược ngà thông qua quan sát hình ảnh sau:

¤ng S¸u vÒ th¨m gia ®×nh.

Thu nhËn ra ba còng lµ lóc «ng S¸u ph¶i ra ®i.

BÐ Thu kh«ng nhËn ba v× vÕt thÑo trªn mÆt.

¤ng S¸u dån hÕt t×nh c¶m vµo lµm chiÕc lưîc ngµ

Trưíc lóc hi sinh, «ng cßn kÞp ®ưa c©y lưîc cho ngưêi b¹n

Khi phân tích tâm trạng nhân vật bé Thu trong phút chia tay giáo viên cho học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa . GV:Em nhìn thấy gì trong bức tranh ? -HS: bé Thu ôm chặt ông Sáu trước sự chứng kiến của mọi người . -GV:Hình ảnh ấy cho thấy điều gì thay đổi trong tâm trạng và hành động của bé Thu? -HS:Bé Thu sung sướng,hạnh phúc khi nhận ông Sáu là ba. Ví dụ 2: Dạy bài “Đoàn thuyền đánh cá” của chúng ta sử dụng các tranh ảnh sau: - Chân dung nhà thơ Huy Cận. - Hình ảnh hoàng hôn, bình minh trên biển, hình ảnh cá biển, hoạt động của người dân chài.


33

Qua tiết học với những hình ảnh tả thực và bút pháp lãng mạn hóa của nhà thơ, học sinh sẽ cảm nhận được vẻ đẹp,sự giàu có, phong phú của biển cả quê hương và sự khỏe khoắn, hăng say của con người lao động

Khi bình giảng đến những hình ảnh trên, ta sử dụng tranh để minh họa chắc chắn nội dung bài học sẽ được các em cảm thụ sâu sắc hơn. Ví dụ 3: Các bức ảnh sau cùng chỉ về địa danh nào? Chia sẻ những hiểu biết của em về địa danh đó trước lớp


34

GV dẫn vào bài Lặng lẽ Sa Pa: “Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cu kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên người ta đã nghĩ ngay đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước”. Đó là những con người lao động thầm lặng, hi sinh hạnh phúc cá nhân, tìm niềm vui trong lao động. Để hiểu hơn về về vẻ đẹp của Sa Pa và con người của mảnh đất mến yêu này, ta cùng bước vào thế giới của văn chương qua tác phẩm:“ Lặng lẽ Sa pa” của nhà văn Nguyễn Thành Long. 2.8. Sử dụng sơ đồ tƣ duy trong quá trình dạy học: Đây là phương pháp khoa học, kích thích khả năng tư duy, khả năng sáng tạo,giúp các em có thể hiểu bản chất vấn đề ,nhớ lâu kiến thức .Từ sơ đồ tư duy các em có thể hình dung ra toàn bộ tác phẩm và tự tập viết đoạn cảm nhận cho một phần nào đó . Để giúp học sinh vẽ được sơ đồ tư duy, giáo viên cần thực hiện các bước sau: +Bước.1:Giúp học sinh tóm tắt nội dung văn bản bằng ngôn ngữ qua hệ thống câu hỏi củng cố của giáo viên. +Bước 2. Giáo viên vẽ mẫu +Bước 3. Học sinh tự thực hiện sơ đồ tư duy. *.Ví dụ: Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy. Giáo viên đặt các câu hỏi khái quát nội dung bài thơ: - Với tác giả, vầng trăng tri kỉ ở những thời điểm nào của cuộc đời ông? - Vầng trăng trong quá khứ đối với tác giả có tình cảm như thế nào? - Em có nhận xét gì về tính cảm của giả đối với vầng trăng hiện tại? - Ở thành phố con người chỉ nhớ đến trăng trong những khoảnh khắc nào? - Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở điều gì? - Thái độ “vô tình” và “giật mình” của tác giả trước ánh trăng nhắc nhở chúng ta điều gì trong cuộc sống? - ý nghĩa khái quát, sâu sắc của bài thơ? Dưới đây là SĐTD minh họa:


35

2.9.Tạo hứng thú bằng phƣơng pháp dạy học theo dự án : Dạy học theo dự án là một mô hình học tập hiện đại mà học sinh được làm trung tâm của buổi học. Các giáo viên sẽ hướng dẫn thực hiện nhằm giúp phát triển kiến thức cùng các kỹ năng của các em thông qua các nhiệm vụ học tập. Các học sinh được khuyến khích tìm tòi và thực hành kiến thức được học để tạo ra các sản phẩm của chính mình. Đây là một chương trình học xây dựng dựa trên những câu hỏi quan trọng và được lồng ghép các nội dung chuẩn. Với bài học thực tế, các giáo viên sẽ thiết kế theo nhiều hướng và có thể lôi cuốn được học sinh mà không hề phụ thuộc vào cách học của các em. Trong các trường hợp các em cũng được làm việc với các chuyên gia giúp hiểu sâu hơn về các vấn đề. Các học sinh được sử dụng các phương tiện hiện đại phục vụ việc tìm kiếm thông tin. Việc áp dụng phương pháp dạy học theo dự án cần thực hiện theo các bước chi tiết, mỗi bước sẽ có nhiệm vụ của giáo viên, nhiệm vụ của học sinh. a. Bƣớc chuẩn bị Ở bước này, cần: – Xây dựng ý tưởng buổi học, ý tưởng kiến thức – Chọn chủ đề và các chủ đề nhỏ. – Xây dựng nhiệm vụ học tập. Hoạt động của giáo viên ở bước chuẩn bị:


36

– Giáo viên phải là người lên các câu hỏi liên quan tới nội dung học và gần với sự hiểu biết của các em học sinh. – Chuẩn bị các dụng cụ, tài liệu để thực hiện dự án – Lên các nhiệm vụ cho học sinh, cách thức tiến hành của học sinh để giải quyết được vấn đề. – Xây dựng dự án nhằm xác định ai cần học, ý tưởng ra sao. Hoạt động của các học sinh – Học sinh phải cùng giáo viên thống nhất các tiêu chí để đánh giá. – Học sinh phải làm việc nhóm để hoàn thành dự án – Dự kiến các vật liệu, phương pháp hay kinh phí thực hiện công việc. b. Thực hiện dự án Hoạt động của các giáo viên – Hướng dẫn và luôn theo sát việc thực hiện của các học sinh, đánh giá kết quả thực hiện. – Chuẩn bị các điều kiện, vật dụng cho các em thực hiện dự án. – Tạo và chuẩn bị cơ sở, liên hệ khách mời cho học sinh nếu cần. Hoạt động của học sinh trong phương pháp dạy học theo dự án – Các trưởng nhóm có nhiệm vụ phân công công việc cho các thành viên để hoàn thành dự án – Thu thập và xử lý các thông tin nhằm đem lại kết quả. – Tìm nguồn thông tin, nhờ giúp đỡ từ giáo viên – Lập báo cáo và hoàn thiện sản phẩm báo cáo. – Liên tục báo cáo cho giáo viên tình hình để có phương án thay thế nếu cần. c. Kết thúc dự án:Học sinh và giáo viên chuẩn bị các tài liệu, sản phẩm, điều kiện cho buổi báo cáo. Theo dõi lại quá trình thực hiện sản phẩm của học sinh với giáo viên. Các học sinh cần tiến hành giới thiệu, thuyết trình cho sản phẩm của mình. Đánh giá các sản phẩm của các nhóm khác. *Cách thức tiến hành -Giao dự án cho các nhóm vào tiết học trước -Hs thảo luận rồi cử nhóm trưởng trình bày -Các nhóm khác bổ sung hoặc đặt thêm câu hỏi cho nhóm trình bày Ví dụ 1: Trước khi dạy bài Cảnh ngày xuân ,giáo viên giao dự án cho các nhóm: Em có biết nhân dịp đầu xuân năm mới nhân dân ta còn giữ những lễ hội gì? Giới thiệu về 1 vài lễ hội mà em biết.


37

Học sinh thảo luận, phân công nhiệm vụ cho nhau tìm hiểu, thu thập ,chọn lọc thông tin và cử đại diện nhóm trình bày. Đây là kết quả của 1 nhóm : - nhân dịp đầu xuân năm mới nhân dân ta còn giữ nhiều lễ hội truyền thống.Nhóm em đã chuẩn bị 1 clip các lễ hội trên khắp mọi miền đất nước 1. Hội chùa Hương –hành trình về miền đất Phật 2. Gò Đống Đa tưởng nhớ công tích lẫy lừng của vua Quang Trung 3. Khai ấn đền Trần :Tâm điểm vào đêm 14 tháng giêng âm lịch,cầu thăng quan tiến chức 4. Hội Yên Tử trung tâm phật giáo ,khởi nguồn của thiền phái trúc lâm 5. Hội Tịch điền Đọi Sơn mang ý nghĩa khuyến nông ,,là nét đẹp văn hóa trở về nguồn cội 6. Hội Gióng có sức hấp dẫn trong việc hình thành nhân cách con người 7. Chợ Viềng diễn ra lúc nửa đêm mùng 7 ngày mùng 8 để cầu may 8. Hội bà Chúa Kho cầu công việc suôn sẻ,phát đạt 9. Hội Lim nét kết tinh độc đáo của văn hóa kinh Bắc với làn điệu dân ca quan họ 10. Hội Xoan mong mưa thuận gió hòa mùa màng tươi tốt,ca ngợi cảnh thiên nhiên 11. Đền vua Mai gắn liền với truyền thuyết ,sự tích lịch sử về vua Mai Hắc Đế 12. Hội làng Sình :hoạt động văn hóa truyền thống giàu tinh thần thượng võ của người bản địa 13. Lễ hội núi Bà Đen cầu mong được phù hộ 14. Lễ hội bà Thiên Hậu –Giáo dục học tập lòng hiếu thảo ,đức nhân hậu ,sống có đạo nghĩa 15. Đền đức thánh Trần –ghi nhớ công đức của người anh hùng dân tộc . Đặc biệt là người VN không ai không biết đến lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương-thể hiện sự tri ân của con cháu hướng về nguồn cội : Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3 Sau khi trình bày, các nhóm khác đặt thêm câu hỏi cho nhóm trình bày và bổ sung thêm phần chuẩn bị của nhóm mình. Như vậy học sinh sẽ được làm việc liên tục, hiểu biết sâu rộng, phong phú hơn về văn hóa của đất nước từ đó có ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống của dân tộc.


38

Ví dụ 2: Sau khi học xong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, GV giao dự án : Thế hệ trẻ ngày nay cần làm gì để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh đã hi sinh vì tổ quốc ? Hs phân công nhau hoàn thành nhiệm vụ .Dưới đây là kết quả: Nhóm 1:Làm clip về hoạt động của nhóm mình trong ngày nghỉ:Tự liên hệ ban bảo vệ nghĩa trang liệt sĩ để quét dọn vệ sinh, lau bia mộ. Nhóm 2:Đến giúp đỡ chú thương binh sau mỗi giờ tan học,ghi lại những câu chuyện chú kể về những năm tháng hào hùng của dân tộc Nhóm 3:Ghi hình hoạt động Tổ chức quyên góp ở gia đình, địa phương, trường, lớp gây quỹ giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam và đến tận nơi trao cho những gia đình có nạn nhân . Ví dụ 3: Giao dự án: Quê hương trong em là….( sau khi học bài Làng) Giáo viên cử các em cùng quê vào 1 nhóm Các nhóm thu thập thông tin, hình ảnh về quê hương ,làm video và thuyết trình trước lớp, kết quả là : Nhóm quanh khu vực thị trấn Lâm bày tỏ tình cảm về vùng quê là trung tâm văn hóa, chính trị, có nhiều đổi mới. Yên Xá - Làng nghề đúc đồng truyền thống Yên Ninh- Làng nghề đồ gỗ mĩ nghệ nổi tiếng khắp cả nước với các sản phẩm thân thiện với môi trường, tinh sảo trong từng hoa văn họa tiết Yên Lợi - vùng quê thanh bình với những cánh đồng lúa trĩu bông, vười tược sum suê trái, con đường quanh co…nơi nhà thơ Nguyễn Khuyến cho ra đời chùm thơ thu bất hủ với thời gian, cũng là nơi ông an giấc ngàn thu… Ví dụ 4:Trước khi dạy bài “Những ngôi sao xa xôi”, Gv giao dự án cho các nhóm: Nhãm 1:- HS nªu mét sè chi tiÕt tiªu biÓu cña ba c« g¸i trong chiÕn ®Êu. Nhãm 2: - HS nªu mét sè chi tiÕt tiªu biÓu cña ba c« g¸i trong sinh ho¹t ®êi th-êng. Sau đây là kết quả của các nhóm khi vào giờ học bài Nhãm 1:- HS nªu mét sè chi tiÕt tiªu biÓu cña ba c« g¸i trong chiÕn ®Êu.


39

- Rót ra nh÷ng nÐt ®Ñp vÒ phÈm chÊt cña hä: + Cã tinh thÇn tr¸ch nhiÖm cao trong c«ng viÖc, nhiÖm vô + Dòng c¶m gan d¹ kiªn c-êng, b×nh tÜnh trong chiÕn ®Êu Nhãm 2: - HS nªu mét sè chi tiÕt tiªu biÓu cña ba c« g¸i trong sinh ho¹t ®êi th-êng.


40

- Rót ra nh÷ng nÐt ®Ñp vÒ t©m hån cña hä: + §oµn kÕt, th-¬ng yªu ®ång ®éi ®ång chÝ. + T©m hån: l¹c quan yªu ®êi, trong s¸ng, m¬ méng


41

Ví dụ 5: Dự án làm văn: Cây bút vàng Thời gian thực hiện:2 tuần Bước 1 :Lập kế hoạch 1. Các nhóm nhận nhiệm vụ giáo viên giao và dự kiến kế hoạch. - Hình thức thực hiện theo nhóm Sản phẩm tập san khoảng 15-20 trang gồm 2 phần: +Phần 1: Sống đẹp gồm những bài bình luận ngắn về những sự việc hiện tượng đời sống quen thuộc, gần gũi, có tính chất thời sự hoặc một số vấn đề tư tưởng đạo lí ) do chính thành viên trong nhóm viết và 1 số bài sưu tầm (bài viết tối thiểu 5 bài, bài sưu tầm tối thiểu 3 bài) +Phần 2: Cảm thụ, thưởng thức gồm những bài cảm nhận về truyện ngắn,về nhân vật,về đoạn thơ/bài thơ yêu thích trong và ngoài chương trình đã được học do chính thành viên trong nhóm viết và 1 số đoạn bài sưu tầm(bài viết tối thiểu 5 bài,bài sưu tầm tối thiểu 3 bài) -Cách trình bày: Kênh chữ kết hợp với kênh hình ảnh 2. Mỗi nhóm sử dụng bảng /sơ đồ tư duy để phác thảo các ý tưởng về nội dung và hình thức sản phẩm của dự án và lập kế hoạch thực hiện cụ thể, phân công cho các thành viên thực hiện,thời gian hoàn thành. -Đại diện nhóm trình bày kế hoạch trước lớp,lắng nghe các nhóm khác và giáo viên góp ý, bổ sung. -Các nhóm tham khảo mẫu bảng dự kiến nội dung và hình thức sản phẩm sau: Phần Sống đẹp Cảm thụ, thƣởng thức Dự kiến Nội dung Viết và sưu tầm các bài Viết và sưu tầm các bài văn hay về các hiện viết cảm nhận hay về: tượng gắn với đời sống +Văn bản Đồng chí của học sinh: + Văn bản Bài thơ về +Tình bạn tuổi học trò tiểu đội xe không kính +Học sinh và điện thoại + Văn bản Ánh trăng thông minh +Ngôn ngữ học trò Hình thức Mỗi bài bình luận được Mỗi bài cảm nhận được trình bày trong khoảng 1 trình bày trong khoảng 2trang,kèm những hình 3 trang,kèm những hình


42

ảnh minh họa sinh động Giai đoạn 1: Ôn tập ( 1 tuần) Tên thành

Nhiệm vụ

viên

Làm việc nhóm +Ôn tập kĩ năng viết văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học +Ôn tập 3 văn bản Đồng chí,Bài thơ về tiểu đội xekhông kính,Ánh trăng Làm việc cá nhân: Chọn các vấn đề nghị luận cụ thể chuẩn bị bài cho 2 nội dung: +Tình bạn tuổi học trò( 1 bài viết ,1 bài sưu tầm ) +Cảm nhận văn bản đồng chí( 1 bài viết ,1 bài sưu tầm ) Làm việc cá nhân: Chọn các vấn đề nghị luận cụ thể chuẩn bị bài cho 2 nội dung: +Ngôn ngữ học trò (1 bài viết ,1 bài sưu tầm ) +Cảm nhận văn bản Ánh trăng ( 1 bài viết ,1 bài sưu tầm ) Làm việc cá nhân: Chọn các vấn đề nghị luận cụ thể chuẩn bị bài cho 2 nội dung: +điện thoại thông minh (1 bài viết ,1 bài sưu tầm ) +Cảm nhận văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính( 1 bài viết ,1 bài sưu tầm )

ảnh minh họa sinh động

Phƣơng tiện

Dự kiến sản phẩm

SGK

SGK, vở ghi,các bài làm văn đã làm có liên quan,sách tham khảo(Sách in hoặc các tài liệu được chọn lọc trên internet)

Bài viết và bài sưu tầm về tình bạn tuổi học trò cảm nhận về văn bản Đồng chí như nhiệm vụ đã phân công Bài viết và bài sưu tầm về Ngôn ngữ học trò, cảm nhận về văn bản Ánh trăng như nhiệm vụ đã phân công

Bài viết và bài sưu tầm về điện thoại thông minh cảm nhận về văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính như nhiệm vụ đã phân công


43

Giai đoạn 2: Tổng hợp và hoàn thiện sản phẩm (1 tuần) -Tổng hợp sản phẩm của cả nhóm -Phân công đọc chéo để nhận xét sản phẩm và chọn lọc để đưa vào tập san _Cùng nhau thiết kế,biên tập tập san. Bƣớc 2: Thực hiện và hoàn thành dự án Các nhóm thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch ,nhóm trưởng theo dõi tiến độ công việc ,thường xuyên tro đổi và nhận phản hồi từ giáo viên . Bƣớc 3: Trƣng bày sản phẩm và đánh gía quá trình phối hợp để hoàn thành dự án.Các nhóm khác và giáo viên lắng nghe,quan sát và đánh giá. Ví dụ về tiêu chí đánh giá quá trình và kết quả dự án: Mức độ đạt đƣợc ST Tiêu chí đánh giá Xuất Chƣa T Đạt sắc đạt 1 Nội dung tập Đầy đủ các nội dung theo đúng yêu san cầu Các bài viết và bài sưu tầm có chất lượng (Đúng kĩ năng,cảm nhận sâu sắc) 2 Cách thức Đúng số lượng trang,chữ viết sạch trình bày sẽ,rõ ràng Hấp dấn,sáng tạo (Sự phối hợp hài hòa,sinh động kênh hình,kênh chữ) Sự phối hợp của các thành viên trong nhóm Ví dụ 6: Dự án triển lãm: Ngƣời lính-Tƣợng đài bất tử Thời gian thực hiện 2 tuần Bước 1:Xây dựng tổng quan dự án Cả lớp thảo luận và xây dựng tổng quan dự án: -Bài tập dự án:Tổ chức triển lãm Người lính-Tượng đài bất tử với mục đích tái hiện vẻ đẹp của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ,từ đó giáo dục lòng biết ơn và lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ ngày nay. -Nội dung dự án:


44

+Sưu tầm và giới thiệu những hình ảnh,kỉ vật về người lính trong kháng chiến chống Mĩ +Sưu tầm và giới thiệu tác phẩm văn học về người lính trong kháng chiến chống Mĩ +Sáng tác nghệ thuật về người lính trong kháng chiến chống Mĩ +Biểu diễn một tiết mục sân khấu hóa về người lính trong kháng chiến chống Mĩ +Phỏng vấn chia sẻ về người lính trong kháng chiến chống Mĩtrong cảm nhận của thế hệ trẻ ngày nay -Thiết bị và vật tư: +SGK Ngữ văn 9 tập 1 và tập 2:Văn bản :Bài thơ về tiểu đội xe không kính,Chiếc lược ngà, Những ngôi sao xa xôi +Điện thoại thông minh,máy tính kết nối internet,sách ,báo ,tạp chí,…giấy A0,máy ảnh,bút màu ….máy chiếu, loa.. +Trang phục biểu diễn, đạo cụ (Với nhóm Sân khấu hóa) -Hình thức hoạt động : Lớp học được chia thành 5 nhóm gồm : +Nhóm Nghiên cứu lịch sử + Nhóm Nghiên cứu văn học +Nhóm sáng tạo tác phẩm nghệ thuật +Nhóm Sân khấu hóa +Nhóm truyền thông Mỗi nhóm từ 5-7 người.Nhóm trưởng lập kế hoạch và điều phối, các thành viên hợp tác theo phân công dã thỏa thuận - Sản phẩm cần đạt :5 góc trưng bày các sản phẩm sau: 1.Góc nghiên cứu lịch sử 4.Góc Sân khấu hóa -Một bộ sưu tập về hình ảnh người lính -Một số hình ảnh về quá trình tập trong Kháng chiến chống Mĩ luyện, thực hiện tiết mục kịch về người -Một bài thuyết minh về bộ sưu tập. lính 2.Góc nghiên cứu văn học _Một bài giới thiệu về các tác phẩm văn học cách mạng viết về hình ảnh người lính trong Kháng chiến chống Mĩ -Một bài nghị luận văn học về vẻ đẹp người lính qua các tác phẩm văn học .

5.Góc Truyền thông -Một clip phỏng vấn người lính –nhân chứng chiến tranh chống Mĩ và phỏng vấn thế hệ trẻ ngày nay.


45

3.Góc Sáng taọ nghệ thuật -Một tác phẩm văn học (thơ, truyện, kịch bản…) về hình ảnh người lính trong Kháng chiến chống Mĩ -Một chum bức vẽ về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn học đã học . -Hình thức đánh giá : +Đánh giá của giáo viên trong quá trình tiến hành dự án (40%) +Đánh giá của nhóm về các thành viên trong quá trình tiến hành dự án (15%) +Đánh giá chéo của các nhóm về sản phẩm của nhau trên tiêu chí giáo viên đưa ra(30%) +Tự đánh giá của từng cá nhân (15%) Bƣớc 2:Tìm kiếm và chia sẻ thông tin -Thông tin từ sách giáo khoa: +Từng cá nhân đọc các văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính,Chiếc lược ngà,những ngôi sao xa xôi,thảo luận những nét chính về vẻ đẹp của người lính trong chiến tranh chống Mĩ +Thu thập thông tin liên quan đến cuộc chiến tranh chống Mĩ của nhân dân ta trong SGK lịch sử 9. -Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng: +Nhóm trưởng phân công các thành viên tìm kiếm trên báo chí ,sách vở,internet về vấn đề người lính trong chiến tranh chống Mĩ theo các từ khóa: .Người lính trong chiến tranh chống Mĩ .Thanh niên xung phong trong chiến tranh chống Mĩ .Vẻ đep người lính,tấm gương người lính. .Hiện thực chiến tranh chống Mĩ ác liệt .Văn học Cách mạng sau 1945 .Thơ ca Cách mạng sau 1945 +Các thành viên trong lớp chia sẻ những câu chuyện tham khảo được từ những người từng trải qua giai đoạn kháng chiến chống Mĩ. Bƣớc 3:Lập kế hoạch hoạt động -Xác định được mục tiêu và các yêu cầu trong dự án triển lãm chung - Xác định được mục tiêu và sản phẩm cần đạt của nhóm


46

-Lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của thành viên trong nhóm theo gợi dẫn trong bảng sau: Nhóm Nhiệm vụ Nhóm Nghiên cứu -Sưu tầm các kỉ vật chiến tranh, những bức ảnh,những lịch sử câu chuyện về những người lính thuộc thế hệ trẻ trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ …. -Lên kế hoach tổ chức sưu tầm,sắp đặt sản phẩm theo chủ đề nhật định -Viết bài văn thuyết minh về sản phẩm trưng bày -Trình bày bài văn thuyết minh về bộ sưu tập hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Mixvowis phần mềm trình chiếu tự chọn như PowerPoint, Prezi… Nhóm nghiên cứu -Sưu tầm và giới thiệu về tác phẩm văn học yêu thích viết văn học về những người lính thuộc thế hệ trẻ trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ -Viết bài nghị luận văn học về vẻ đẹp của người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Chiếc lược ngà, Những ngôi sao xa xôi -Trình bày những bài văn nghị luận về tác phẩm văn học về vẻ đẹp người lính trong kháng chiến chống Mixvowis phần mềm trình chiếu tự chọn như PowerPoint, Prezi… Nhóm Sáng taọ -Sáng tạo được tác phẩm của cá nhân như thơ,truyện … nghệ thuật -Vẽ tranh thể hiện 1 số chi tiết nghệ thuật về người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính,Chiếc lược ngà, Những ngôi sao xa xôi -Tập trình diễn tác phẩm của minhfnhuw đọc thơ,đọc truyện hoặc giới thiệu bức tranh đã vẽ Nhóm Sân khấu hóa -Lên kế hoạch viết kịch bản dựa vào 1 tác phẩm tự chọn Bài thơ về tiểu đội xe không kính,Chiếc lược ngà, Những ngôi sao xa xôi…Phân vai và diễn thử vở kịch -Chụp ảnh và trưng bày một số ảnh hoạt động sân khấu hóa Nhóm Truyền -Triển lãm 1 số hình ảnh thực tế trong quá trình đi thông phỏng vấn:Người lính chống Mĩ năm xưa và người lính ngày nay


47

-Làm clip gồm 2 nội dung: +Phỏng vấn nhân chứng chiến tranh,người lính trong kháng chiến chống Mĩ năm xưa về những hồi ức chiến tranh,những con người trong chiến tranh +Phỏng vấn cảm nghĩ của thế hệ trẻ ngày nay về thế hệ cha ông -Thảo luận thống nhất kế hoạch chương trình hoạt động cụ thể của nhóm Bƣớc 4: Thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đã đề ra -Các thành viên nhóm thực hiện nhiệm vụ được giao -Hỗ trợ nhau cùng hoàn thiện,sửa chữa sản phẩm trong thời gian quy định -Thư kí ghi biên bản các công việc mà thành viên đã hoàn thiện theo lộ trình Bƣớc 5: Triển lãm và trình diễn tại lớp Tiến trình Hoạt động của mỗi nhóm hoạt động Tham quan 5 -Mỗi nhóm trưng bày sản phẩm và trang trí không gian triển lãm góc triển lãm của nhóm minh ở vị trí được phân công -Mỗi nhóm cử 2-3 người phụ trách góc triển của mình -Mỗi nhóm cử đại diện nhóm thuyết trình về góc triển lãm của mình Xem các sản -Trình diễn tiết mục sân khấu hóa (Nhóm Sân khấu hóa) phẩm trình -Trình diễn clip phỏng vấn (Nhóm Truyền thông) diễn -Trình diễn tác phẩm nghệ thuật đã sáng tác như đọc thơ,đọc truyện …hoặc thuyết minh về những bức tranh đã vẽ(Nhóm sáng tác nghệ thuật) -Trình bày bài văn thuyết minh về bộ sưu tập hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Mĩ với phần mềm trình chiếu tự chọn như PowerPoint, Prezi… (Nhóm Nghiên cứu lịch sử) -Trình bày những bài văn nghị luận về tác phẩm văn học về vẻ đẹp người lính trong kháng chiến chống Mixvowis phần mềm trình chiếu tự chọn như PowerPoint, Prezi… (Nhóm Nghiên cứu văn học ) Mỗi thành viên trong lớp sẽ ghi chép lại những nhận xét của mình về sản phấm của mỗi nhóm để làm căn cứ đánh giá .


48

Bƣớc 6: Đánh giá sản phẩm Cả lớp thảo luận và xây dựng mẫu phiếu chấm theo gợi ý của thày cô bao gồm: -Phiếu chấm của giáo viên -Phiếu chấm của nhóm trưởng - Phiếu chấm đánh giá chéo nhóm - Phiếu chấm cá nhân tự đánh giá Mẫu 1:Biên bản làm việc nhóm (dành cho học sinh) Nhóm…… Số lượng thành viên…… STT Họ tên Công Đánh giá của nhóm trên 4 mức độ thành viên việc *Cần cố gắng *Cơ bản đạt yêu cầu được *Tốt *Xuất sắc giao Về thời Về tính chủ Về khả Về chất gian hoàn động của năng hợp lượng thành thành viên tác công việc của cá nhân 1 2 3 … Ý kiến đề xuất của nhóm……………………………………………………… Mẫu 2:Gợi ý tiêu chí đánh giá sản phẩm của nhóm (Dành cho giáo viên) Các nhóm Các tiêu chí đánh giá sản phẩm Nhóm Nghiên cứu + Lô-gic tổ chức chủ đề sưu tập rõ ràng , hợp lí. lịch sử + Sự phong phú của các loại sản phẩm sưu tầm. + Trang trí , sắp đặt góc triển lãm hợp lí, thu hút, sáng tạo. + Bài văn thuyết minh rõ ràng, đầy đủ thông tin. Nhóm nghiên cứu + Lựa chọn được tác phẩm đúng chủ đề hình tượng người văn học lính giai đoạn chống Mĩ, phân tích được những đặc sắc nghệ thuật thể hiện hình tượng đó. Nhóm Sáng taọ + Tác phẩm nghệ thuật đặc sắc vè nội dung và nghệ thuật. nghệ thuật + Giới thiệu về tác phẩm hấp dẫn. Nhóm Sân khấu + Lựa chọn nội dung viết kịch bản hợp lí.


49

hóa Nhóm thông

+ Phân vai và diễn xuất thể hiện được đặc trưng nhân vật. truyền + Lựa chọn chủ đề phỏng vấn hợp lí. + Những câu hỏi phỏng vấn lô-gic. + Những lời bình khái quát được đặc điểm vẻ đẹp của hình tượng người lính giai đoạn chống Mĩ trên cơ sở thực tế, nêu được những cảm nhận của thế hệ trẻ ngày nay. + Khả năng xử lí âm thanh , hình ảnh tốt.

2.10. Tạo hứng thú thông qua các trò chơi Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục: giáo dục bằng trò chơi – một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới vận dụng. Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay. Giải pháp này sẽ thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất của mình, phát huy tư duy sáng tạo.. Hứng thú và chủ động trong học tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển nhân cách ở học sinh qua bộ môn Ngữ văn. . Một số trò chơi có thể vận dụng lồng ghép trong dạy học Ngữ văn: Giáo viên có thể tự sáng tác ra những trò chơi phù hợp với tiết học theo nguyên tắc vừa phù hợp, vừa kích thích sự tò mò của các em. Ví dụ: Ô chữ, Hùng biện, Tiếp sức, Điền bảng, Rung chuông vàng… . Quy trình thực hiện: * Chuẩn bị: Tùy theo mỗi trò chơi cụ thể sẽ có những phần chuẩn bị khác nhau. * Bƣớc 1: Giáo viên dự kiến chọn trò chơi cho phù hợp với nội dung của từng bài học. * Bƣớc 2: Giáo viên nêu thể lệ trò chơi * Bƣớc 3: Học sinh tiến hành chơi trò chơi (với tư cách một cá nhân hoặc một nhóm), dưới sự kiểm soát của giáo viên. * Bƣớc 4: Giáo viên đánh giá, cho điểm hoặc phát thưởng tùy theo sự đóng góp của mỗi cá nhân hoặc mỗi nhóm. . Cách thức tổ chức:


50

Có rất nhiều trò chơi có thể gây hứng thú cho học sinh trong việc dạy và học môn Ngữ văn. Tuy nhiên trong phạm vi của một sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ xin nêu một số trò chơi sau: Trò chơi điền bảng (kết hợp với thảo luận nhóm): Trò chơi này dùng trong những giờ ôn tập, thay vì cho học sinh lập bảng thống kê kiến thức bình thường, ta có thể chia lớp thành các nhóm khác nhau và cho đại diện các nhóm lên bốc thăm để tìm công việc cho nhóm mình. Sau đó, các nhóm sẽ thay phiên nhau giải quyết công việc của nhóm mình. .Trò chơi ô chữ (nhóm hoặc cá nhân) Đây là cách thức mô phỏng theo các sân chơi phổ biến hiện nay như: Đường lên đỉnh Ôlympia, Chiếc nón kỳ diệu… Nó có thể sử dụng linh hoạt trong các tiết dạy hay trong các tiết ôn tập, thực hành. Trò chơi này khá quen thuộc và đã được áp dụng nhiều nhưng nó lại được sự đón nhận rất nhiệt tình của các em học sinh. Chính vì thế nó mang lại hiệu quả rất cao. Ví dụ :Khi dạy bài Làng của nhà văn Kim Lân ,Giáo viên có thể tổ chức trò chơi ô chữ sau:

.Tổ chức cuộc thi Vui học ngữ văn: Ví dụ cụ thể trong giờ học ôn tập văn bản: -Tìm tên tác phẩm văn học nói về ngƣời lính và chiến tranh: 1. Đêm nay sương muối rừng già Súng bên súng, đứng tuần tra giặc vào. (Đồng chí-Chính Hữu) 2. Tám năm đánh giặc không sao Bỗng dung khó xử con nào gọi ba? (Chiếc lược ngà-Nguyễn Quang Sáng)


51

3. Đòng đòng thơm ngát đồng xa Cậu bé liên lạc quê ta anh hùng. ( Lượm-Tố Hữu) 4. Xe ra tiền tuyến bom rung Không đèn, không kính vẫn ung dung ngồi (Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật) 5. Trên đường chiến đấu xa xôi Tiếng gà cục tác nhớ thời tuổi thơ (Tiếng gà trưa-Xuân Quỳnh) 6. Anh đội viên giữa cơn mơ Chăn êm, lửa ấm bởi nhờ có ai? (Đêm nay Bác không ngủ-Minh Huệ ) 7. Thân thiết là một loài cây Giữ làng, giữ nước…xứng tay anh hùng. (Tre Việt Nam-Thép Mới) 8. Tuổi thơ cay cực đói nghèo Chập chờn ngọn lửa mang theo trọn đời (Bếp lửa- Bằng Việt ) 9. Mình với công việc là đôi Say mê, lặng lẽ giữa trời Sa Pa. (Lặng lẽ Sa Pa- Nguyễn Thành Long) 10. Chiến tranh nay đã lùi xa Vầng trăng tri kỉ nghĩ là người dưng. (Ánh trăng-Nguyễn Duy) -Thi vẽ tranh về các tác phẩm văn học, trưng bày trong lớp những bức tranh đẹp nhất. Giáo viên nên tổ chức cho học sinh vẽ tranh theo chủ đề văn bản. “Thi trung hữu họa” ( trong thơ có họa), mỗi một bài thơ hay một văn bản văn xuôi đều là một bức tranh về thiên nhiên hoặc xã hội mà các tác giả đã sử dụng ngôn từ để vẽ ra. Còn các em sẽ dùng bút màu, dựa vào nội dung một bài thơ, một tác phẩm văn xuôi mà các em sẽ vẽ tranh theo trí tưởng tượng của mình. Muốn vẽ một bức tranh đẹp đòi hỏi học sinh hiểu và cảm thụ văn bản tốt. Từ đó khơi gợi, phát triển những rung động thẩm mỹ trong trí tuệ, tâm hồn của


52

các em, giúp các em khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương. Các em tỏ ra rất thích thú với dạng bài tập này bởi các em được thỏa sức sáng tạo Một số sản phẩm của các em học sinh.

2.11. Rèn kĩ năng viết đoạn văn, bài văn thƣờng xuyên: -Rèn kĩ năng viết đoạn văn, bài văn thường xuyên qua các bài tập trên lớp, ở nhà và các hoạt động phong trào của nhà trường: Thi viết thư UPU, Kỉ niệm về thày cô và mái trường, nêu vai trò của đọc sách, cảm xúc khi hát quốc ca, bài thu hoạch sau chuyến trải nghiệm, viết nhật kí, thi sáng tác thơ, đọc những bài làm tốt trước lớp, trường. Khi rèn luyện thường xuyên các hoạt động này sẽ tăng khả năng sáng tạo, kĩ năng phân tích, cảm nhận sẽ được phát huy, các em sẽ thấy hứng thú hơn với việc học văn trong nhà trường.


53

Bài dự thi của học sinh Trường THCS Lê Quý Đôn viết “Kỉ niệm về thầy cô và mái trường mến yêu “ đạt giải nhất tỉnh năm học 2019-2020

-Văn nghị luận là phần kiến thức quan trọng trong chương trình ngữ văn lớp 9, phục vụ cho thi vào THPT, vì vậy giáo viên ngoài việc tạo hứng thú để các em lĩnh hội kiến thức còn cần tạo hứng thú trong việc rèn kĩ năng viết đoạn văn, làm bài văn cho học sinh.Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, phần Tập làm văn đặc biệt trong học kì hai tập trung vào kiểu bài nghị luận: nghị luận xã hội (tập trung nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống xã hội; và nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo đức) và nghị luận văn học (nghị luận về đoạn thơ, bài thơ; nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích). Trong đó nghị luận văn học đóng vai trò vô cùng quan trọng. Để làm tốt bài văn nghị luận văn học, trước hết cần phải xây dựng được đoạn văn. a. Nghị luận văn học a.1. Kĩ năng viết đoạn văn: * Đoạn văn và cấu trúc đoạn văn: . Khái niệm: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản . Đặc điểm: - Đoạn văn bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng. - Đoạn văn thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh, do nhiều câu tạo thành. - Đoạn văn thường có ý chủ đề và câu chủ đề:


54

+ Từ ngữ chủ đề được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. + Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. - Các câu trong đoạn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, quy nạp, song hành, Tổng-phân-hợp,…. . Các phương pháp trình bày đoạn văn: Đoạn quy nạp: - Công thức: câu 1+câu 2+ câu 3+….+ câu (n) = C (câu chủ đề). - Trong đó: + Câu 1: mở đoạn hoặc mang tính giới thiệu, không chứa ý chủ đề. + Câu 2, câu 3, câu (n): triển khai nội dung + C (câu cuối đoạn): Khái quát nội dung chủ đề. Đoạn văn diễn dịch - Công thức: C = câu 1+câu 2+ câu 3+….+ câu (n) - Trong đó: + C (câu mở đoạn): Nêu ý chủ đề. + Câu 1, câu 2, câu 3, câu (n): triển khai ý chủ đề. Đoạn văn Tổng hợp - Phân tích - Tổng hợp - Công thức: C = câu 1+câu 2+ câu 3+….+ câu (n) = C’ - Trong đó: + C (câu mở đoạn): Nêu ý chủ đề. + Câu 1, câu 2, câu 3, câu (n): triển khai ý chủ đề. + C’(câu kết đoạn): chứa ý chủ đề và cảm xúc nhận xét của người viết. Mô hình khái quát C (câu chủ đề)

Câu1

Câu2

Câu3

Đoạn diễn dịch

Câu n

Đoạn TP-H Đoạn quy nạp

C (câu chủ đề)


55

*Các yêu cầu viết đoạn văn: . Về nội dung: a. Nghị luận về đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. - Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu,..Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét, đánh giá cụ thể, xác đáng. b. Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể. - Những nhận xét đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát. Để làm tốt bài văn nghị luận trước hết giáo viên cần rèn kĩ năng viết đoạn văn. . Về hình thức: Yêu cầu về hình thức của đề bài viết đoạn văn ngoài yêu cầu cơ bản là “viết đoạn văn” hoàn chỉnh còn có những yêu cầu về số lượng chữ và tích hợp kiến thức Tiếng Việt. - Yêu cầu về số lượng câu chữ: - Yêu cầu về kiểu đoạn * Kĩ năng viết đoạn văn: . Đọc kĩ đề - xác định yêu cầu của đề: . Xác định câu chốt . Huy động kiến thức tìm ý, hình thành đoạn văn: . Viết đoạn văn: . Rèn kĩ năng viết đoạn văn tóm tắt văn bản - Đối với dạng câu hỏi này, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh xác định được những sự việc chính trong tác phẩm, từ đó học sinh nắm chắc cốt truyện và viết đoạn văn. VD: Hãy tóm tắt văn bản “Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh khuê” bằng đoạn văn từ 6-8 câu. - Giáo viên hướng dẫn cho học sinh các thao tác như sau: + Kể được các sự việc chính. + Viết các sự việc chính thành một đoạn văn theo đúng yêu cầu về số lượng của đoạn.


56

Sự việc chính - Ba cô gái Thanh niên xung phong Định, Nho và tổ trưởng là chị Thao ở một tổ trinh sát phá bom tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. - Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom, đo khối lượng đất đá phải san lấp do bom địch gây ra, đánh dấu các vị trí những trái bom chưa nổ và phá bom. - Cuộc sống ở nơi trọng điểm giữa chiến trường dù khắc nghiệt hết sức nguy hiểm nhưng họ vẫn có những niềm vui hồn nhiên, thanh thản mơ mộng của tuổi trẻ. - Mỗi người một cá tính nhưng họ rất gắn bó yêu thương nhau trong tình đồng đội. - Trong một lần phá bom, Nho bị thương, Định và Thao lo lắng săn sóc Nho. Một cơn mưa đá chợt đến, các cô gái hết sức vui thíc trong niềm vui con trẻ. Đoạn văn tóm tắt tham khảo Ba nữ thanh niên xung phong: Phương Định, Nho, Thao – tổ trưởng, làm nhiệm vụ trinh sát mặt đường ở một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom, đo khối lượng đất đá phải san lấp do bom địch gây ra, đánh dấu vị trí các quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc của họ hết sức nguy hiểm. Đặc biệt, họ phải bình tĩnh đối mặt với thần chết trong mỗi lần phá bom – công việc diễn ra từ ba đến năm lần mỗi ngày. Họ ở trong một cái hang dưới chân cao điểm. Cuộc sống của ba cô gái dù là khắc nghiệt và nguy hiểm nhưng vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản thơ mộng và đặc biệt họ gắn bó, yêu thương nhau trong tình đồng đội dù mỗi người một cá tính. Phương Định là một cô gái giàu cảm xúc, hay mơ mộng, hồn nhiên và luôn nhớ về những kỷ niệm với gia đình và thành phố của mình. Trong một lần phá bom, Nho bị thương, Phương Định và chị Thao đã hết lòng lo lắng chăm sóc. Một cơn mưa đá bất chợt đến trên điểm cao khiến các cô hết sức vui thích trong niềm vui con trẻ. . Rèn kĩ năng viết đoạn văn phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm - Với dạng câu hỏi này đề thường yêu cầu viết đoạn văn dưới dạng trả lời câu hỏi. Đầu tiên, giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu được ý nghĩa của những ngôn từ trong nhan đề của truyện. - Sau khi học sinh hiểu được lớp nghĩa từ vựng của nhan đề tác phẩm, giáo viên hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa ẩn dụ của nhan để; kết hợp với thao tác nhận xét, đánh giá về ý nghĩa nhan đề đó.


57

- Viết đoạn văn ngắn dưới dạng trả lời câu hỏi. VD 1: Tên làng là Làng Chợ Dầu nhưng tại sao tác giả lại chỉ đặt tên truyện là “Làng”? Gợi ý - Đặt tên “Làng” mà không phải là “Làng chợ Dầu” vì nếu thế thì vấn đề tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp của một làng cụ thể. - Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm bao trùm, phổ biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm với quê hương, với đất nước. VD 2: Tại sao nhà văn Lê Minh Khuê lại đặt tên truyện ngắn của mình là “Những ngôi sao xa xôi” - Lê Minh Khuê đặt tên truyện ngắn của mình là “Những ngôi sao xa xôi” vì: + Hình ảnh những ngôi sao xa xôi hiện lên nhiều lần trong tác phẩm, trở đi trở lại dưới nhiều hình thức khác nhau và mang nhiều ý nghĩa: + Đó là những ngôi sao trên mũ của những người chiến sĩ, những ngôi sao trên bầu trời thành phố quê hương, những ngôi sao trong những câu chuyện tuổi thơ, những ngôi sao của hoài niệm, khát khao, hi vọng,… + Trên hết, những ngôi sao ấy là ẩn dụ về những cô gái thanh niên xung phong nơi núi rừng Trường Sơn. Đó là biểu tượng về phẩm chất anh hùng cách mạng ngời sáng, nhưng ở họ còn có một tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, lạc quan, đầy mơ mộng và trẻ trung. Cái ánh sáng ấy lặng lẽ, khiêm nhường nhưng vô cùng đẹp đẽ, có sức mê hoặc lòng người. - Đó là một nhan đề hay, độc đáo, một nhan đề rất lãng mạn, rất thơ mộng mang đặc trưng của văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ. . Rèn kĩ năng phân tích (hoặc cảm nhận) nhân vật văn học - Với dạng câu hỏi này, có thể nói chiếm một vị trí và vai trò quan trọng trong cấu trúc đề thi bởi cảm nhận được vẻ đẹp của nhân vật trong tác phẩm là giúp học sinh cảm nhận được những giá trị của tác phẩm. Vì vậy kĩ năng phân tích đề và kĩ năng viết đoạn văn cho dạng đề này càng đòi hỏi ở học sinh một kĩ năng thuần thục. Mặt khác dạng đề này thường kèm theo yêu cầu tích hợp với kiến thức tiếng Việt trong quá trình học sinh viết đoạn văn. - Vì vậy đòi hỏi người giáo viên hướng dẫn cho học sinh thuần thục các thao tác sau:


58

+ Xác định được yêu cầu về mặt hình thức: Đoạn văn yêu cầu viết theo hình thức nào (đoạn diễn dịch, đoạn quy nạp hay đoạn tổng hợp-phân tích-tổng hợp); số lượng câu bao nhiêu; kiến thức tiếng Việt cần tích hợp là gì. + Xác định được yêu cầu về nội dung của đoạn văn: với đề có nhận định, nội dung của đoạn đã được xác định cụ thể ở nhận định, giáo viên hướng dẫn cho học sinh triển khai viết đoạn theo câu chủ đề (câu chủ đề chính là nhận định đã cho). Các câu khác làm sáng tỏ ý chủ đề. Còn đối với những đề chưa có nhận định, giáo viên hướng dẫn cho học sinh xác định được vấn đề chính cần nghị luận, từ đó xác định được câu chủ đề. Những câu còn lại làm sáng tỏ ý chủ đề, qua việc phân tích, nhận xét đánh giá. Mô hình đoạn văn như sau: + Mở đoạn: giới thiệu nội dung chính cần nghị luận (câu chủ đề) + Thân đoạn: phân tích, nhận xét, đánh giá để làm sáng tỏ ý chủ đề (phân tích các đặc điểm của nhân vật để làm nổi bật chủ đề) + Kết đoạn: suy nghĩ của bản thân và liên hệ. VD 1: Hãy viết một đoạn văn từ 12-15 câu phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê. - Xác định yêu cầu đề: + Hình thức: đoạn văn 12-15 câu. Đề chưa nêu hình thức của đoạn văn, giáo viên hướng dẫn cho học sinh xác định hình thức của đoạn: diễn dịch, tổngphân-hợp. + Nội dung: phân tích nhân vật Phương Định. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh xác định câu chủ đề. VD: nhân vật Phương Định là nhân vật chính trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về sự hồn nhiên nhạy cảm mơ mộng nhưng ngời sáng phẩm chất anh hùng. Triển khai viết đoạn văn để làm sáng tỏ các ý sau: phân tích, nhận xét, đánh giá các đặc điểm của nhân vật a. Phương Định là cô gái có tâm hồn trong sáng:  Nhạy cảm, mơ mộng: - Là cô gái trẻ người Hà Nội, từng có một thời học sinh hồn nhiên vô tư. - Hay nhớ về kỷ niệm (kỷ niệm luôn sống lại trong cô ngay giữa chiến trường ác liệt; chỉ một cơn mưa đá vụt qua là kỷ niệm lại thức dậy trong cô...)  Nó vừa là khao khát, vừa là liều thuốc tinh thần động viên cô nơi tuyến lửa.


59

- Nhạy cảm, thường quan tâm đến hình thức (tự đánh giá mình là một cô gái khá...); biết mình được nhiều người để ý, thấy tự hào nhưng không vồn vã mà tỏ ra kín đáo, tưởng như kiêu kì. - Hay mơ mộng, tìm thấy sự thú vị trong cuộc sống, trong cả công việc đầy nguy hiểm “Việc nào cũng có cái thú vị của nó. Có ở đâu như thế này hay không...”  Nó như thách thức thần kinh con người để rồi lúc vượt qua nó, chiến thắng nó, cô cảm thấy thú vị.  Hồn nhiên, yêu đời: - Thích hát, thuộc rất nhiều bài hát (từ bài hành khúc bộ đội đến...), thậm chí bịa ra lời mà hát. - Dưới cơn mưa đá, cô “vui thích cuống cuồng”, say sưa tận hưởng cơn mưa hồn nhiên như chưa hề nghe thấy tiếng bom rơi đạn nổ. b. Phương Định là người có phẩm chất anh hùng: - Có tinh thần trách nhiệm với công việc. - Dũng cảm, gan dạ. - Bình tĩnh, tự tin và rất tự trọng. - Khi thực hiện nhiệm vụ phá bom, ban đầu cô cũng thấy căng thẳng, hồi hộp, nhưng cảm thấy có ánh mắt của các chiến sĩ đang dõi theo động viên, khích lệ, lòng tự trọng trong cô đã thắng cả bom đạn  Cô không đi khom mà đàng hoàng bước tới; bình tĩnh, tự tin thực hiện từng thao tác phá bom, chạy đua với thời gian để vượt qua cái chết. - Thương yêu những người đồng đội của mình: + Chăm sóc Nho chu đáo. + Hiểu rõ tâm trạng lo lắng của Thao khi Nho bị thương, mặc dù Thao đã cố che dấu bằng việc bảo cô hát. + Với đại đội trưởng, chỉ tiếp xúc qua điện thoại nhưng biết rõ từ cách ăn nói đến đặc điểm riêng. + Quý trọng và cảm phục tất cả những chiến sĩ mà cô đã gặp trên tuyến đường Trường Sơn. Đánh giá: - Qua dòng suy tư của Phương Định, người đọc không chỉ thấy sự toả sáng của phẩm chất anh hùng mà còn hình dung được thế giới nội tâm phong phú ở cô. - Sự khốc liệt của chiến tranh đã tôi luyện tâm hồn vốn nhạy cảm yếu đuối thành bản lĩnh kiên cường của người anh hùng cách mạng.


60

- Nét điệu đà, hồn nhiên, duyên dáng của một cô gái càng tôn thêm vẻ đáng yêu của cô Thanh niên xung phong gan dạ, dũng cảm. - Phương Định (cũng như Nho và Thao) là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ cứu nước. VD 3: Qua ba nhân vật trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”,, em cảm nhận như thế nào về tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ? Gợi ý - Cảm phục trước lòng yêu nước, sự gan dạ, dũng cảm, dám đối mặt với khó khăn của họ. - Yêu mến bởi họ lạc quan, yêu đời ngay trong hoàn cảnh khói lửa đạn bom. - Tự hào về tuổi trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Biết ơn những con người đã đem cả tuổi thanh xuân và tính mạng của mình để đổi lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Sự hy sinh của họ đã góp một phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. - Liên hệ với bản thân: Bộc lộ ý thức kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng của thế hệ đi trước. . Rèn kĩ năng viết đoạn văn phân tích các yếu tố nghệ thuật - Với những dạng câu hỏi này, giáo viên hướng dẫn cho học sinh xác định được các yếu tố nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm truyện. - Sau khi đã xác định được các yếu tố nghệ thuật, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác dụng của chúng. - Cuối cùng giáo viên hướng dẫn học sinh viết đoạn văn VD 1: Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, chi tiết “cái bóng” có ý nghĩa gì trong cách kể chuyện? Gợi ý a. Về nội dung: Cái bóng trong câu chuyện có ý nghĩa đặc biệt vì đây là chi tiết tạo nên các thắt nút và mở nút hết sức bất ngờ.  Cái bóng có ý nghĩa thắt nút câu chuyện vì: - Đối với Vũ Nương: Trong những ngày chồng đi xa, vì thương nhớ chồng, vì không muốn con nhỏ thiếu vắng bóng người cha, nên hàng đêm Vũ Nương đã chỉ bóng mình trên tường, nói dối con đó là cha nó. Lời nói dối của Vũ Nương với mục đích hoàn toàn tốt đẹp.


61

- Đối với bé Đản: Mới 3 tuổi, còn ngây thơ, chưa hiểu biết những điều phức tạp nên đã tin là có một người cha đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi, nhưng nín thin thít và không bao giờ bế nó. - Đối với Trương Sinh: Lời nói của bé Đản về người cha khác (chính là cái bóng) đã làm nảy sinh sự nghi ngờ vợ không chung thuỷ, nảy sinh thái độ ghen tuông và lấy đó làm bằng chứng để về nhà mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi để nàng phải tìm đến cái chết đầy oan ức.  Cái bóng cũng là chi tiết mở nút câu chuyện vì: Chàng Trương sau này hiểu ra nỗi oan của vợ cũng chính là nhờ cái bóng của chàng trên tường được bé Đản gọi là cha  Bao nhiêu nghi ngờ của Trương Sinh và oan ức của Vũ Nương đều được hoá giải nhờ cái bóng.  Chính cách thắt nút, mở nút câu chuyện bằng chi tiết cái bóng đã làm cho cái chết của Vũ Nương thêm oan nghiệt, giá trị tố cáo xã hội phong kiến nam quyền đầy bất công với người phụ nữ càng thêm sâu sắc. b. Về hình thức: Trình bày thành đoạn văn; dẫn dắt chuyển ý hợp lý; diễn đạt lưu loát. VD 2: Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu trong truyện "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng ? Gợi ý  Có hai tình huống truyện sau: - Hai cha con gặp nhau sau 8 năm xa cách nhưng điều trớ trêu là bé Thu không nhận cha, đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi  đây là tình huống cơ bản của truyện. - Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả yêu thương và mong nhớ con vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con nhưng ông đã hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho cô con gái. - Tình huống 1: Bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu đối với cha. - Tình huống 2: Biểu lộ tình cảm sâu sắc của ông Sáu đối với con. a.2. Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học: *Kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: Khi làm tốt kĩ năng làm đoạn văn nghị luận thì các em sẽ dễ dàng kết nối được thành một bài văn nghị luận. -Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là nhận xét đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.


62

-Dạng đề: Nghị luận về nhân vật, về chủ đề, về cốt truyện hay nghệ thuật của tác phẩm hoặc đoạn trích. Đề mệnh lệnh ( suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật, tác phẩm…) hoặc đề mở: chỉ nêu vấn đề. -Cách làm: +Xác định vấn đề nghị luận. Nếu đề nghị luận về nhân vật thì vấn đề nghị luận chính là những phẩm chất, đức tính tốt đẹp của nhân vật đó. Nếu đề nghị luận về nghệ thuật thì vấn đề nghị luận là những đặc sắc trong xây dựng cố truyện, tình huống, ngôn ngữ kể chuyện, xây dựng nhân vật. +Triển khai vấn đề nghị luận các luận điểm. Xây dựng các lí lẽ và lựa chọn dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu để làm sáng tỏ các luận điểm đó. - Bố cục : + Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và vấn đề nghị luận +Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nội dung ,nghệ thuật của tác phẩm,đoạn trích ,phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu, xác thực. +Kết bài:Nêu nhận định chung về tác phẩm hoặc đoạn trích Ví dụ: Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê. Về hình thức:Bài có đầy đủ ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài. Làm đúng theo kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (đoạn trích), diễn đạt mạch lạc, rõ ý, trôi chảy. Về nội dung: Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhân vật Phương Định. Thân bài: Học sinh chia ra các luận điểm sau đây và ở mỗi luận điểm có dẫn chứng cụ thể, phân tích dẫn chứng để làm nổi bật luận điểm ấy. * Luận điểm 1: Phương Định là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp. * *Luận điểm 2: Phương Định là cô gái có lí tưởng sống đẹp, dũng cảm, gan dạ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. * Luận điểm 3: Phương Định là cô gái biết quan tâm yêu mến đồng đội. * Luận điểm 4: Phương Định là cô gái hồn nhiên, trong sáng, lạc quan, yêu đời. * Đánh giá: Tác phẩm xây dựng thành công hình ảnh nhân vật Phương Định cũng là hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đó cũng là hình ảnh của tuổi trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Cùng viết về đề tài thế hệ trẻ trong kháng chiến chống Mỹ có "Bài thơ về Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật, "Gửi em cô thanh


63

niên xung phong" của Phạm Tiến Duật, "Khoảng trời hố bom" của Lâm Thị Mỹ Dạ… tất cả các tác phẩm đã dựng nên bức tượng đài về thế hệ trẻ c. Kết bài: Đánh giá chung về nhân vật Phương Định *Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ: - Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ thuật của bài thơ, hoặc đoạn thơ. - Dạng đề: Nghị luận về nội dung, nghệ thuật của bài thơ hoặc đoạn thơ. Đề mệnh lệnh ( suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật, tác phẩm…) hoặc đề mở: chỉ nêu vấn đề. -Cách làm: Xác định vấn đề nghị luận. Nếu đề nghị luận về nghệ thuật thì vấn đề nghị luận chính là những đặc sắc trong xây dựng hình tượng, cấu tứ, ngôn ngữ, nhịp điệu… Triển khai vấn đề nghị luận các luận điểm: các khía cạnh của vấn đề. Xây dựng các lí lẽ (nhận xét, đánh giá, cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung, nghệ thuật) và lựa chọn dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu để làm sáng tỏ các luận điểm đó. - Bố cục : +Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và vấn đề nghị luận +Thân bài: Nêu suy nghĩ, đánh giá về nội dung ,nghệ thuật củabài thơ,đoạn thơ. + Kết bài:Khái quát giá trị, ý nghĩa của bài thơ, đoạn thơ. Ví dụ :Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: “ Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng. Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới,


64

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.” (Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.140)

Từ cảm nhận đó hãy chỉ ra nét độc đáo trong cảm hứng của Huy Cận khi sáng tác bài thơ. *Yêu cầu chung: HS biết cách tạo lập một bài văn nghị luận về một đoạn thơ. Văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. * Yêu cầu cụ thể: a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận, xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận đoạn thơ. Từ đó chỉ ra nét độc đáo trong cảm hứng sáng tác của nhà thơ. b. Chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm hợp lí, lô gic. Biết cách sử dụng các thao tác lập luận để làm nổi bật được vấn đề nghị luận Chấp nhận cách triển khai khác nhưng phải làm bật được vấn đề nghị luận -Giới thiệu về tác giả Huy Cận và bài thơ Đoàn thuyền đánh cá: Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam... Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được Huy Cận sáng tác vào năm 1958 trong chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh - Cảm nhận đoạn thơ + Khổ 1: Khung cảnh đánh cá trên biển trong đêm trăng hùng tráng mà thơ mộng: Khung cảnh lao động tràn đầy niềm vui, hứng khởi. Tư thế hiên ngang, hòa nhịp, làm chủ thiên nhiên rộng lớn của con người “ Ta hát bài ca gọi cá vào”, “ gõ thuyền có nhịp trăng cao”. Thiên nhiên kì vĩ, giàu có, hiền hòa, nhân hậu “ Biển cho cá – như lòng mẹ, nuôi lớn đời ta”... + Khổ 2: Khung cảnh đánh cá ngập tràn niềm vui, hạnh phúc về thành quả lao động của con người “ kéo lưới kịp trời sáng, kéo xoăn tay chùm cá nặng” , về sự giàu, đẹp của thiên nhiên, đất nước “ Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng động” , “ nắng hồng” ... + Khổ 3: Khung cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về lúc bình minh ++ Khung cảnh trở về với niềm vui phấn khởi của con người lao động khi đã làm chủ, đã chinh phục biển trời, vũ trụ “ Câu hát căng buồm với gió khơi”, “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”... ++ Khung cảnh trở về với niềm tự hào về sự giàu đẹp của thiên nhiên đất nước, niềm tin, niềm lạc quan về một tương lai tươi sáng, huy hoàng, về một


65

cuộc đời mới đang sinh sôi, phát triển... “ Mặt trời đội biển nhô màu mới”, “ Mắt cá huy hoàng muôn dặm”... - Đánh giá + Đoạn thơ thể hiện những đặc sắc về nghệ thuật: hình ảnh thơ giàu liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo; nghệ thuật sử dụng màu sắc hài hòa; các biện pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, bút pháp phóng đại; giọng thơ hào hứng, âm hưởng hào hùng của khúc tráng ca... + Đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung là khúc hoan ca, hào hùng ca ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người lao động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm đầu hòa bình lập lại. Từ đó thể hiện niềm tự hào, tình yêu quê hương, đất nước của nhà thơ... - Chỉ ra nét độc đáo trong cảm hứng sáng tác của Huy Cận Đó là sự kết hợp hai nguồn cảm hứng: cảm hứng lãng mạn tràn đầy niềm vui hào hứng về lao động, về cuộc sống mới trong thời kì miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và cảm hứng về thiên nhiên, vũ trụ. Thiên nhiên, vũ trụ không đối lập mà làm tôn lên vẻ đẹp, sức mạnh của con người, đặt con người vào vị trí trung tâm. -Nêu khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ và suy nghĩ của em. b. Văn nghị luận xã hội: b.1. Đặc điểm: Vấn đề nghị luận thường xoay quanh các vấn đề mà xã hội đang quan tâm như về đạo đức, đạo lí con người và thường người ra đề rất hay lấy ngữ liệu ở những nguồn như: từ đời sống thực tế, từ các bản tin, bài viết trên báo chí; từ các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao; các ý kiến, các danh ngôn; từ các câu chuyện trong các sách bồi dưỡng tâm hồn, Hạt giống tâm hồn, quà tặng cuộc sống; các vấn đề trong tác phẩm văn học…bên cạnh đó là các hiện tượng xã hội tích cực hoặc tiêu cực đáng báo động mà người chịu ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đó là giới trẻ hiện nay. Chính vì thế mà chủ đề của dạng này rất rộng, phong phú và rất linh hoạt. Thông thường văn nghị luận được chia thành 2 dạng: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng và nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí. Ngoài ra gần đây còn xuất hiện một dạng đề có nội dung mang tính chất đối thoại. Vấn đề nghị luận được đặt trong đề bài luôn có tính hai mặt, không hoàn toàn sai cũng không hoàn toàn đúng. Đúng, sai tùy theo quan niệm của từng người, từng hoàn cảnh cụ thể. Để làm được dạng đề này ngoài việc học sinh hiểu đề còn


66

phải biết phân tích đề để có chính kiến rõ ràng hoặc đồng ý hoặc không đồng ý, hay chỉ đồng ý một phần nào đó, phải biết cách lập luận trình bày quan điểm của mình một cách mạch lạc, chặt chẽ. Muốn được như vậy, học sinh phải có một số kiến thức xã hội nhất định. Một khi đã có quan điểm lập trường, nhận thức riêng, các em dễ dàng bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề được đặt ra trong đề bài, không viết a dua, sáo rỗng hoặc theo một sự định hướng cụ thể nào đó. b.2. Các dạng đề văn nghị luận xã hội: *Đề đóng: Đây là dạng đề nghị luận xã hội mà nội dung đề bài đã nêu rất rõ vấn đề cần phải nghị luận: Ví dụ một số đề: Đề 1: “Tất cả những gì tốt đẹp trong tôi, tôi đều chịu ơn sách. Khi nói đến sách tôi không thể nào không cảm thấy mối cảm động sâu sắc và niềm vui mừng phấn khởi” (M. Gorki, theo thơ và danh ngôn về sách, NXB Văn học, 1996, tr.29). Đề 2: Viết một đoạn văn không quá một trang giấy trình bày suy nghĩ của em về lòng tự trọng của một người học sinh trong việc thi cử. Đề 3: Em hiểu như thế nào về tinh thần tự học ở học sinh? *Đề mở: Đây là dạng đề nghị luận xã hội mà nội dung đề bài có thể hiểu theo nhiều khía cạnh có khả năng khơi gợi được sự sáng tạo của người học. Trong dạng bài này, ta có thể bắt gặp các kiểu đề ra sau đây: 1. Vấn đề nghị luận ẩn chứa trong một câu chuyện, bài thơ, danh ngôn, lời nhận định…mới lạ đối với học sinh và chứa đựng nhiều vấn đề cần nghị luận. Ví dụ một số đề: Đề 1: “Những giọt sương lặn vào lá cỏ Qua nắng gắt, qua bão tố Vẫn giữ lại cái mát lành đầy sức mạnh Vẫn long lanh, bình thản trước vầng dương…..” (Thanh Thảo- Sự bùng nổ của mùa xuân) Hãy phát biểu suy nghĩ của em được gợi ra từ hiện tượng trên. Đề 2: Điều quan trọng nhất trong cuộc sống của em.


67

Đề 3: “Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả về sau bạn” (Dang ngôn Nam Phi- dẫn quà tặng cuộc sống- NXB Thanh niên, 2006) 2. Vấn đề nghị luận ẩn chứa trong một hình ảnh mà trong đó có nhiều vấn đề cần nghị luận. Trong loại đề này, ta gặp hai loại nhỏ: 2.1. Đề có hình ảnh +nội dung vấn đề cần nghị luận: Đề bài: Dựa trên hình ảnh bên dưới, hãy viết một bài nghị luận ngắn (không quá một trang giấy thi) về vấn đề đoàn kết.

2.2. Đề có hình ảnh nhƣng không nêu nội dung vấn đề cần nghị luận: Đề bài : Hãy viết một bài nghị luận ngắn (không quá một trang giấy thi) cho biết suy nghĩ của em về hình ảnh dưới đây:

*. Một số đề mang tính chất đối thoại:


68

Đề 1: Có ý kiến cho rằng: Tiền tài là thành công. Đề 2: Giáo sư văn hóa nổi tiếng Trần Lâm Biền đã từng ví: “Lòng tham như một chất ma túy, phá hoại nhân cách con người và có sức cám dỗ ghê gớm”. Anh (chị ) có đồng ý với ý kiến đó không? Hãy trao đổi với giáo sư bày tỏ quan điểm của chính mình. b.3. Cấu trúc bài làm cho từng dạng đề: (dành cho cả cách ra đề đóng và đề mở) *Dạng đề nghị luận về một tƣ tƣởng đạo lí thông thƣờng gồm có 3 bƣớc sau: - Bước 1: Giải thích - Bước 2: Bình luận + Chỉ ra tác dụng hoặc tác hại của tư tưởng bằng cách dùng những biện pháp chứng minh, so sánh,đối chiếu, phân tích,….để chỉ ra chỗ đúng, chỗ sai. + Phê phán bác bỏ tư tưởng trái ngược hoặc ca ngợi, biểu dương - Bước 3: Bài học nhận thức và hành động: + Nhận thức: tư tưởng đó đúng hay sai? + Hành động: chúng ta cần làm gì? (rút ra bài học cho bản thân) *Dạng đề nghị luận về một sự việc, hiện tƣợng đời sống thông thƣờng gồm có 4 bƣớc sau: - Bước 1: Nêu hiện trạng - Bước 2: Nêu nguyên nhân/phê phán hiện tượng trái ngược. - Bước 3: Tác hại (hậu quả)/ ý nghĩa - Bước 4: Nêu các biện pháp khắc phục/ biện pháp nhân rộng * Dạng đề có nội dung mang tính chất đối thoại: Thông thường cũng không khác gì hai dạng đề kia nhiều lắm, các bước cũng tương tự nhưng có thêm phần trình bày ý kiến của bản thân. *Lƣu ý: Trong thực tế có nhiều đề khó phân biệt được đề thuộc dạng nghị luận về một tư tưởng đạo lí hay hiện tượng xã hội. Cấu trúc bài sẽ như thế nào? Đôi khi cũng không nên hoàn toàn tách biệt đề thuộc dạng này hay dạng kia. Vì vậy, khi làm bài cần linh hoạt kết hợp làm thế nào để đạt được hiệu quả cao nhât. Không nhất thiết phải có sự tách biệt để áp dụng cấu trúc bài làm một cách cứng nhắc, máy móc. Vấn đề là học sinh hiểu đề, có vốn kiến thức về cuộc sống,có sự trải nghiệm, có một trái tim biết rung cảm để làm bài. b.4. Kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội: * Các yêu cầu viết đoạn văn:


69

.Về nội dung: Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, phần Tập làm văn đặc biệt trong học kì hai tập trung vào kiểu bài nghị luận: nghị luận văn học (nghị luận về đoạn thơ, bài thơ; nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích) nghị luận xã hội (tập trung nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống xã hội; và nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí). Trong đó nghị luận xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng. + Nghị luận về một sự việc, hiện tƣợng trong đời sống xã hội: là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ. Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận này phải là nêu rõ được sự việc, hiện tượng có vấn đề; phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó; chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết. + Nghị luận về một vấn đề tƣ tƣởng, đạo lí: là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống…..của con người. Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận này là làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,….để chỉ rõ chỗ đúng (hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của người viết. .Về hình thức: Yêu cầu về hình thức của đề bài viết đoạn văn ngoài yêu cầu cơ bản là “viết đoạn văn” hoàn chỉnh còn có những yêu cầu về số lượng chữ và tích hợp kiến thức Tiếng Việt. -Yêu cầu về số lượng câu chữ: Tùy thuộc vào nội dung vấn đề mà đề bài yêu cầu (lớn hay nhỏ); tùy thuộc vào mức độ đòi hỏi của đề bài đối với người viết mà số lượng câu chữ trong một đoạn văn thường được giới hạn trong các câu như 8-10 câu, 10-15 câu, 15-20 câu,... -Yêu cầu về kiểu đoạn: Đề bài có thể đặt ra yêu cầu về kiểu đoạn văn như: viết đoạn văn diễn dịch, viết đoạn văn quy nạp, viết đoạn văn Tổng hợp – phân tích- tổng hợp. Người viết cần nắm vững kiến thức về các kiểu đoạn văn cũng như kĩ năng viết các kiểu đoạn đó. Dưới đây là cấu trúc cơ bản của những kiểu đoạn văn này: + Đoạn văn diễn dịch: Câu chốt (câu chủ đề)  những dẫn chứng, lí lẽ lập luận….làm sáng tỏ vấn đề mà câu chốt nêu ra.


70

+ Đoạn văn quy nạp: Những dẫn chứng, lí lẽ, lập luận,…  Câu chốt (câu chủ đề) (được rút ra từ những dẫn chứng, lí lẽ, lập luận, …đã nêu). + Đoạn Tổng hợp- phân tích-tổng hợp: câu chủ đề  những dẫn chứng, lí lẽ lập luận… Tổng kết, nâng cao, mở rộng vấn đề. - Yêu cầu về vấn đề tích hợp với kiến thức Tiếng Việt: Ngoài yêu cầu về số lượng câu chữ, kiểu đoạn văn, đề bài còn có thể có thêm yêu cầu vận dụng kiến thức tiếng Việt vào việc viết đoạn văn. Đó là phần lớn những kiến thức tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 9. * Kĩ năng viết đoạn văn: . Đọc kĩ đề - xác định yêu cầu của đề: . Xác định câu chủ đề . Huy động kiến thức tìm ý, hình thành đoạn văn: . Viết đoạn văn: Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề tƣ tƣởng, đạo lí. Trước các đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, học sinh cần xác định vấn đề cần nghị luận, sau đó quy nội dung của đề bài về một số chủ đề chung: Ví dụ: + Chủ đề nhận thức (lí tưởng sống, mục đích sống….) + Về tâm hồn, tính cách (lòng nhân ái, lòng yêu thương con người, sự hi sinh, đức tính trung thực, đức tính nhẫn nại…..) + Về quan hệ xã hội và quan hệ gia đình (tình thầy trò, tình bạn, tình cha con, tình mẹ con, tình anh em….) 1. Kĩ năng viết mở đoạn: Dẫn dắt vào đề bài (bằng cách trực tiếp hay gián tiếp) Nêu ra nội dung đề bài Trích dẫn câu tục ngữ, ca dao, nhận định...(nếu là đề gián tiếp) Đặt câu hỏi chuyển ý (như thế nào?) Một số cách mở đoạn: Mở đoạn bằng danh ngôn: Học sinh có thể mượn một câu danh ngôn của một bậc vĩ nhân nào đó có nội dung tương ứng với đề bài để thực hiện phần dẫn dắt. Mở đoạn bằng cách sử dụng một câu chuyện ngắn: Có thể sử dụng một câu chuyện ngắn, từ câu chuyện ấy đưa ra vấn đề cần nghị luận. Mở đoạn bằng cách đặt câu hỏi: Vấn đề cần nghị luận buộc ta phải đặt thật nhiều câu hỏi. Vậy ta nên đặt câu hỏi ngay phần mở đoạn để tạo sự chú ý, tò mò nơi người đọc.


71

Mở đoạn bằng cách giải thích khái niệm: Khi học sinh phân tích đề bài, chắc chắn các em đã nhận thấy trong đề có một vài khái niệm, hình ảnh cần phải hiểu rõ. Vậy, ta có thể sử dụng việc giải thích khái niệm đó để làm phần dẫn dắt sẽ giúp cho người đọc nắm được vấn đề cần nghị luận. Mở đoạn bằng cách so sánh: Khi đã nắm rõ vấn đề cần nghị luận, các em cần đưa ra một vấn đề nghị luận khác có ý trái ngược với nó để tạo sự so sánh. Từ đó, vấn đề cần nghị luận sẽ được nổi rõ tạo sự bất ngờ, hấp dẫn, thú vị cho người đọc. Ví dụ với đề bài : Suy nghĩ của anh (chị) về đức tính trung thực? Có thể triển khai viết mở đoạn bằng danh ngôn: Walter Anderson cho rằng: “Cuộc sống sẽ thay đổi khi chúng ta biết nắm bắt những cơ hội cho mình, nhưng cơ hội đầu tiên và khó khăn nhất lại là việc chúng ta phải thành thật với chính bản thân mình”. Nói như vậy ta mới hiểu trung thực có vai trò quan trọng như thế nào trong đời sống mỗi chúng ta. Lƣu ý: Trên đây là một số cách mở đoạn để giúp các em có sự sáng tạo trong cách viết mở đoạn thật hay cho đoạn văn của mình. Học sinh nên có sự chọn lọc những cách mở đoạn cho phù hợp với phong cách viết văn của mình, cũng như của đề bài. Không nên tham lam mà vận dụng nhiều cách khác nhau sẽ khiến cho bài viết của mình bị rối. Một mở đoạn thật sự hay phải có trọng tâm rõ ràng, nêu đúng vẫn đề cần nghị luận, lời văn phải có sự tinh gọn, hấp dẫn người đọc. 2. Kĩ năng viết thân đoạn: Cần có từ ngữ để liên kết câu (Thật vậy, quả đúng như vậy....) đề tạo sự liên kết giữa mở đoạn (câu chủ đề) và thân đoạn. Lời dẫn (dẫn dắt người đọc vào phần giải thích) Giải thích tƣ tƣởng, đạo lí (thông qua những từ ngữ, mệnh đề, hình ảnh, khái niệm...) giáo viên hướng dẫn học sinh giải thích được từng cụm từ, từng vế câu ở nghĩa đen rồi từ đó suy ra nghĩa bóng của toàn câuđưa ra ý nghĩa tư tưởng, đạo lí được gửi gắm trong đề bài. Đƣa ra các biểu hiện đúng đắn (nếu đó là tư tưởng mang ý nghĩa tốt) hoặc các biểu hiện sai trái (nếu đó là tư tưởng mang ý nghĩa không tốt) của vấn đề bằng cách đặt câu hỏi “Tại sao? Vì sao? Như thế nào?”: thao tác này nhằm làm sáng tỏ bản chất vấn đề nghị luận ở các khía cạnh, phương diện khác nhauThuyết phục những điều đúng đắn hoặc sai trái trên bằng hệ thống dẫn chứng có chọn lọc và tiêu biểu ở thực tế cuộc sống để chứng minh. (Mỗi khi


72

qua nguồn dẫn chứng khác, học sinh nên sử dụng các từ ngữ liên kết: trong cuộc sống hiện nay, trong thời đại xưa…). Bàn luận, mở rộng vấn đề (ca ngợi: đối với tƣ tƣởng tốt); (phê phán, bác bỏ: đối với tƣ tƣởng không tốt): đây là thao tác mà học sinh có thể phát huy khả năng suy nghĩ, nhận thức của mình ở mức độ cao nhất như đưa ra các mặt đúng-sai, hay-dở của vấn đề nghị luận, bản thân học sinh phải có sự nhìn nhận vấn đề nghị luận có sự gắn kết như thế nào trong đời sống tư tưởng, tình cảm cũng như trong các lĩnh vực khác của cuộc sống. Bên cạnh đó còn phải dựa vào vốn sống, kinh nghiệm của mình để ứng dụng vào việc làm sáng tỏ vấn đề nghị luậnphần này cũng có thể đưa ra dẫn chứng ở thực tế cuộc sống để tăng sức thuyết phục. ( Cần có từ ngữ liên kết: mặt khác, bên cạnh đó, ngoài ra….). Đƣa ra bài học nhận thức và hành động: học sinh nhận xét đây là tư tưởng tốt hay không tốt (về mặt nhận thức) và cần phải có những hành động cụ thể nào để làm theo hoặc tránh xa (về mặt hành động). Ví dụ1 với đề bài : Suy nghĩ của anh (chị) về mối quan hệ giữa tranh giành và nhường nhịn? Học sinh sẽ thực hiện các bước trong phần thân đoạn: - Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) + Tranh giành là gì? Tranh nhau để giành lấy phần không phải của mình + Nhường nhịn là gì? Chịu nhận phần kém, phần thiệt về mình, để cho người khác được hưởng phần hơn, nhường phần mình cho người khác. - Biểu hiện: (Trả lời câu hỏi: vì sao?) + Tại sao chúng ta nên nhường nhịn trong cuộc sống?  Đó là một trong những phẩm chất tốt của con người  Cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, thắt chặt tình cảm giữa con người với con người hơn.  Dẫn chứng: câu chuyện “Dê đen và Dê trắng” khi tranh nhau qua cầu, vì không ai nhường nhịn ai nên cuối cùng cả hai đều rơi xuống sông. + Tranh giành có mang lại lợi ích gì cho con người không? Làm xấu đi mối quan hệ, tình cảm giữa con người với nhau Người đi tranh giành của người khác thể hiện đó là kẻ ích kỉ, không biết nghĩ đến những người xunh quanh mình mà chỉ nghĩ cho bản thân. - Bàn luận, mở rộng vấn đề: Có phải nhường nhịn mãi sẽ trở thành hèn nhát không?


73

+ Đó là cách ứng xử khôn khéo trong cách giao tiếp ứng xử của con người. +Người biết nhường nhịn cho người khác sẽ được mọi người yêu quý và dễ đạt được thành công trong cuộc sống. + Dẫn chứng: Trong gia đình, anh chị em trên thuận dưới hòa, biết nhường nhịn nhau sẽ là một gia đình hạnh phúc. Ngoài xã hội, nếu mọi người ai cũng tâm niệm một câu: “Một điều nhịn, chín điều lành” thì xã hội sẽ tốt đẹp biết bao. - Bài học nhận thức và hành động: + Nhận thức: Nhường nhịn là một đức tính tốt, còn tranh giành là một tính xấu. + Mỗi chúng ta nên sống vì người khác, phải biết nhường nhịn nhau, không nên tranh giành để cho cuộc sống của chúng ta trở nên có ý nghĩa. Ví dụ 2 với đề bài : “Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả về sau bạn” (Dang ngôn Nam Phi- dẫn quà tặng cuộc sống- NXB Thanh niên, 2006) Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước trong phần thân đoạn: - Giải thích: + Mặt trời: là nguồn sáng rực rỡ nhất, tỏa ra những hơi ấm và tượng trưng cho những gì tốt đẹp nhất của cuộc sống. + Bóng tối: tượng trưng cho những khó khăn trở ngại, những ám ảnh đau khổ, những điều tồi tệ trong cuộc sống. + Hướng về phía mặt trời: là hướng về những điều tốt đẹp, sự thành công, một tương lai tưới sáng. + Bóng tối sẽ ngả về phía sau bạn: Những đau khổ, thất bại sẽ không cản trở bước tiến của con người. - Bàn luận: + Những điều tốt đẹp là lý tưởng, ước mơ, mục đích, việc làm hướng thiện. + Khi hướng về những điều tốt đẹp con người có động lực, có mục đích, có sự phấn chấn, niềm tin...Đó là sức mạnh giúp con người ta đi đến thành công, đẩy lùi những khó khăn, đôi khi là sự sợ hãi, nản lòng, tuyệt vọng (chứng minh) Câu danh ngôn bao hàm một triết lí, một quan niệm nhân sinh tích cực, một lời khuyên đúng đắn, phải lạc quan, luôn tin tưởng ở tương lai, ở mục đích sống tích cực, tốt đẹp.


74

+ Phê phán: trong thực tế có những người thiếu niềm tin, từ bằng lòng, tự ti, phó mặc, không dám bước tới, không tin vào những điều tốt đẹp. Họ dễ bị chìm trong bong tối của sự sợ hãi, thất vọng, trì trệ. - Bài học nhận thức, hành động: + Cần rèn luyện cho mình ý chí, niềm tin, tinh thần lạc quan trong cuộc sống. + Để làm được điều đó không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao vốn tri thức và các kĩ năng mềm giúp ta tự tin. 3. Kĩ năng viết kết đoạn: Cần có từ ngữ liên kết: tóm lại, qua đó, qua những điều chúng ta vừa bàn luận.... Người viết đã rút ra bài học, kinh nghiệm và ứng dụng của bản thân về vấn đề đó như thế nào trong cuộc sống. Với đề bài ở ví dụ 2, có thể kết đoạn (câu chốt) như sau: “Tóm lại,cuộc sống có rất nhiều khó khăn đòi hỏi chúng ta phải luôn có tinh thần lạc quan yêu đời và luôn tin ở tương lai phái trước, bởi “hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả về sau bạn” III - HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI: 1. Hiệu quả kinh tế: Việc áp dụng sáng kiến đã đem lại hiệu quả thiết thực cho học sinh. Các em nắm được kiến thức, kĩ năng làm bài ngay trên lớp, giảm thiểu thời gian, sức lực trong việc học tập. Các em không cần phải đi học thêm, đỡ được phần nào kinh phí cho gia đình, nhất là với những gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. 2. Hiệu quả xã hội: Để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của những biện pháp sư phạm nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong tiết dạy văn cho học sinh lớp 9, tôi đã tiến hành thực nghiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn, Ý Yên, Nam Định, kết quả của thực nghiệm sẽ chứng tỏ tính khả thi và hiệu quả của phần lý luận đã nêu, tạo cơ sở thực tiễn để vận dụng quá trình giảng dạy sau này. Tôi đã tiến hành thực nghiệm đối với 35 học sinh lớp 9A5 năm học 20182019 và 26 học sinh lớp 9A4 năm học 2019-2020 vào giai đoạn 24 tuần. - Điền vào phiếu khảo sát:


75

Thái độ học tập Hứng thú Ít hứng thú Không thú

hứng

Thái độ học tập môn văn Lớp 9A5 năm học 2018-2019 Lớp 9A4 năm học 2019-2020 25 học sinh 22 học sinh (71.3%) (84.6 %) 10 học sinh 4 học sinh (28.57%) (15.4%) 0 học sinh 0 học sinh (0%) (0%)

-Tiến hành khảo sát đối với học sinh lớp 9A5 năm học 2018-2019 và lớp 9A4 năm học 2019-2020 vào giai đoạn cuối năm với đề văn như sau: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu tổ quốc” (I.Ê-ren-bua) Phân tich nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân để làm sáng tỏ ý kiến trên Kết quả khảo sát: Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm 1-2 2,25-4,75 5 – 6,25 6,5–7,75 8-8,75 9-10 Lớp Số HS SL % SL % SL % SL % SL % SL % 9a5 35 0 0 0 0 5 14.3 14 40 7 34.3 4 11.4 9a4 26 0 0 0 0 0 0 6 23.1 16 61.5 4 15.4 -Kết quả thi vào THPT của Học sinh lớp 9A5 năm học 2018-2019 và lớp 9A4 năm học 2019-2020 như sau: + lớp 9A5–Lớp đại trà, năm học 2018-2019: Điểm bình quân: 7,5 + lớp 9A4- Lớp chuyên sử - địa, năm học 2019-2020: Điểm bình quân: 8,02 – dẫn đầu toàn khối, góp phần nâng cao chất lượng môn văn của nhà trường. Cụ thể: Kết quả thi THPT Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm 1-2 2,25-4,75 5 – 6,25 6,5–7,75 8-8,75 9-10 Lớp Số HS SL % SL % SL % SL % SL % SL % 9a5

9a4

35

0

0

0

0

2

5.8

22

62.8 10 28.6 1

2.8

26

0

0

0

0

1

3.8

6

23.1 15 57.7 4

15.4


76

Qua bảng kết quả, tôi nhận thấy việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nêu trên đã đem lại hứng thú cho học sinh. Chất lượng bài viết mảng văn nghị luận và đọc hiểu văn bản ở học sinh tăng lên rõ rệt Thành công này chứng tỏ với mảng văn nghị luận và đọc hiểu văn bản các em đã biết vận dụng kĩ năng một cách khá thành thạo. Qua việc áp dụng cách “Tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học văn lớp 9” tôi nhận thấy: - Học sinh tích cực, hứng thú hơn với việc học tập bộ môn Ngữ văn, các em đã có thói quen truy cập mạng internet để tìm kiếm thông tin, ghi chép tư liệu, quan tâm đến các sự việc hiện tượng cũng như các vấn đề tư tưởng, đạo lý xã hội. - Học sinh nắm bắt và vận dụng các kĩ năng: nắm bắt thông tin, phân tích đề, phân bố thời gian, lập dàn ý, viết đoạn, viết bài văn hoàn chỉnh… khá thành thạo - Cách tiếp cận các văn bản theo hướng đổi mới kích thích hứng thú học văn tiềm ẩn trong mỗi học sinh, khơi gợi những tình cảm, cảm xúc đẹp, chân thành, từ đó học sinh biết sống nhân văn hơn, có văn hóa ứng xử, biết yêu thương và trân trọng những điều tưởng chừng như rất bình dị mà thiêng liêng của đời thường: tình mẫu tử, tình phụ tử, tình thâỳ trò, tình bạn, lòng yêu thương con người…Học sinh cũng có ý chí phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện - Từ kết quả kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, giáo viên có thể điều chỉnh được phương pháp dạy học của mình. Người giáo viên trước hết phải tích lũy kiến thức, xây dựng và rèn luyện cho mình có được phương pháp dạy học tích cực nhất. - Việc áp dụng sáng kiến trong công việc giảng dạy môn học đã đem lại hiệu quả giáo dục, nâng cao chất lượng của nhà trường trong các kì thi thường xuyên và thi vào THPT. 3. Khả năng áp dụng và nhân rộng: Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt sáng kiến, áp dụng với đối tượng học sinh THCS khi giảng dạy bộ môn ngữ văn. IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của mình viết, không sao chép nội dung của người khác, nếu sao chép nội dung của người khác tôi xin chịu trách nhịêm hoàn toàn.


77

Tôi hy vọng với những biện pháp mà tôi nghiên cứu, trình bày sẽ có tác dụng tham khảo để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh ôn thi vào THPT môn ngữ văn 9. Đồng thời tôi cũng hy vọng thông qua sáng kiến này giáo viên có thể tham khảo, vận dụng một số biện pháp sư phạm phù hợp để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn ngữ văn ở trường THCS. Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện. Tôi xin chân thành cảm ơn ! TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ Hiệu trƣởng

Trần Thị Bích Liên

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT HUYÊN Ý YÊN

................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ................................................................................................................................


78

................................................................................................................................ ................................................................................................................................ TRƢỞNG PHÒNG

Phạm Mạnh Tuân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


79

1. Luật giáo dục. NXB QG, Hà Nội, 1998. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở. Đổi mới phương pháp dạy học trong các trường đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên trung học cơ sở. Hà Nội tháng 9/2003. 3. Carl Rogers, Các phương pháp dạy học hiệu quả. NXB trẻ, 2001. 4. Đại từ điển Tiếng Việt – NXB VHTT, 1998. 5. Jean Piaget, Tâm lý học và giáo dục học. NXB Giáo dục. 6. N. M. Iacoplep. Phương pháp và kỹ thuật lên lớp ở trường phổ thông. NXB Giáo dục, 1975 – 1978. 7. Bộ Giáo dục và đào tạo - Sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 1, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013. 8.Vũ Ngọc Phan – Tục ngữ – ca dao – dân ca. NXB Giáo dục. 9. Các văn kiện về đổi mới giáo dục. 10. Một số website 11. Phát triển năng lực trong môn ngữ văn lớp 9- NXB Giáo dục Việt Nam 12. Học-luyện Ngữ văn 9 THCS- Nguyễn Quang Trung (chủ biên) 13. Th. S Trần Thị Hoa- Luyện siêu tư duy chuyên đề nghị luận xã hội, NXB Thanh niên, 2016. 14. Nguyễn Phước Lợi - Phát triển kĩ năng làm bài văn chọn lọc 9, thuyết minhnghị luận, NXB Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2015. 15. Nguyễn Quang Trung (chủ biên) - Học-luyện Ngữ văn 9 THCS, NXB Đại học Sư phạm, 2010. 16. Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Bích Hạnh, Phạm Thị Như Hoa Đọc hiểu tác phẩm văn học Ngữ văn 9, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013. 17. Lê Xuân Soan - Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2007. 18. Lê Anh Xuân (chủ biên), Nguyễn Thị Hương Lan, Bùi Thùy Linh, Ngô Thị Thanh - Rèn kĩ năng làm bài thi vào lớp 10 môn Ngữ văn, NXB 19. Nguyễn Thị Nương, Chu Thị Lý, Trần Phương Loan – Ôn tập thi vào lớp 10 môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017.


80 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: . HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP

Tôi : Đồng Thị Hạnh Họ và tên Ngày Nơi tháng năm công tác sinh Đồng Thị Hạnh

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ % đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến 100%

Trường Giáo viên Đại học THCS Lê ngành Ngữ Quý Đôn văn Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: " Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn lớp 9” Sau đây tôi xin khái quát về sáng kiến tôi đã trình bày như sau: 1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 bậc THCS và có thể linh hoạt vận dụng cho các khối lớp khác. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : Năm học 2018-2019, Năm học 2019-2020. 3. Về bản chất của sáng kiến: Đó là việc giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực vào trong các giờ học trên lớp, nhằm tạo hứng thú để cho các em tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên, thoải mái, phát huy tính tự giác, sáng tạo, gieo vào tâm hồn các em niềm hạt giống của tình yêu, niềm say mê đối với môn học. Vận dụng sáng kiến, giáo viên bồi dưỡng được tình cảm, rèn được kĩ năng cho người học, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn cho nhà trường. 4. Những điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến : Cơ sở vật chất của nhà trường đảm bảo cho việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực. Giáo viên vận dụng linh hoạt sáng tạo trong từng giờ lên lớp, chủ đề dạy học. Học sinh chủ động trong việc chuẩn bị bài, lĩnh hội kiến thức trong tâm thế thoải mái, say mê. 5. Về lợi ích : + Khơi gợi tình yêu đối với môn học của học sinh, từ đó khiến các em tự giác, chủ động, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức ngay trên lớp. + Giúp học sinh có khả năng tự học, mở rộng tầm hiểu biết, vận dụng vào thực tiễn giao tiếp hàng ngày, xử lí nhanh, hiệu quả các vấn đề của cuộc sống + Không chỉ áp dụng trong giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9, bậc THCS mà có thể linh hoạt vận dụng cho các khối lớp khác phù hợp với trình độ của học sinh và yêu cầu chương trình . Tôi xin cam đoan mọi thông tin trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ý Yên, ngày 12 tháng 7 năm 2020 Ngƣời nộp đơn 22/12/1982


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ DẠY VĂN LỚP 9 by Dạy Kèm Quy Nhơn Official - Issuu