Skip to main content

SÁNG KIẾN DẠY HỌC THEO HƯỚNG KIẾN TẠO BỘ MÔN VẬT LÍ 9 PHẦN ĐIỆN TỪ HỌC NĂM HỌC 2018 – 2019

Page 1

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN VẬT LÍ THCS

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection

SÁNG KIẾN DẠY HỌC THEO HƯỚNG KIẾN TẠO BỘ MÔN VẬT LÍ 9 PHẦN ĐIỆN TỪ HỌC NĂM HỌC 2018 – 2019 WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM

Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


UBND TỈNH HẢI DƯƠNG SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN Dạy học theo hướng kiến tạo Bộ môn: VẬT LÍ 9

Năm học 2018 – 2019

1


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Dạy học theo hướng kiến tạo 2. Bộ môn áp dụng sáng kiến: Vật lí 9 3. Tác giả: Họ và tên: Bùi Văn Mạnh

- Nam

Điện thoại: 0383 962 350

Ngày/tháng/năm sinh: 28/08/1986

Trình độ chuyên môn: Đại học

Toán Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Thượng Đạt – xã Thượng Đạt – TP Hải Dương 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị: Trường THCS Thượng Đạt Địa chỉ: Xã Thượng Đạt – TP Hải Dương – tỉnh Hải Dương Điện thoại: 0220 3 754 958 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Thượng Đạt 6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 9 khi học phần Điện từ học. 7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2016 - 2017

HỌ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Bùi Văn Mạnh

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT (đối với trường mầm non, tiểu học, THCS)

2


TÓM TẮT NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: Dạy học theo hướng kiến tạo Chuyên môn đào tạo của tác giả: Cao đẳng Toán – Lý. Đại học Toán Chuyên môn tác giả được phân công năm học 2018-2019: Dạy môn Vật lí 6, 7, 8, 9. Toán 7 1. Thời gian, đối tượng, điều kiện: - Bắt đầu triển khai nghiên cứu: tháng 9 năm 2016 - Khảo sát (KS) đầu vào: Tháng 12 năm 2016. Tháng 12 năm 2017 + Đối tượng KS: HS đại trà lớp 9 + Số lượng KS: 82 + Nội dung khảo sát: Kiến thức chương I: Điện học - Khảo sát đầu ra: Tháng 2 năm 2017. Tháng 2 năm 2018 + Đối tượng KS: HS đại trà lớp 9 + Số lượng KS: 82 + Nội dung khảo sát: Kiến thức chương II: Điện từ học - Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu? Năm học 2016 - 2017 - Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 9 - Điều kiện cần thiết để áp dụng: Học sinh lớp 9 khi học phần Điện từ học. 2. Lí do nghiên cứu: Theo xu thế lịch sử đang diễn ra sôi động ở nước ta trong đầu kỷ XXI là xu thế hội nhập quốc tế. Từ lâu Đảng và Nhà nước đã nhận rõ những thách thức đối với sự phát triển của đất nước và chỉ ra một trong những nút tháo gỡ là sự phát triển của giáo dục. Việc đổi mới PPDH còn chậm, chưa toàn diện. HS chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa quan niệm thông thường và quan niệm khoa học. Trong các em hai loại quan niệm này cùng tồn tại và được vận dụng một cách hỗn độn. Trước khi học một kiến thức, HS thường đã có những quan niệm nhất định về nó. Vì vậy, có thể dựa trên những quan niệm có trước của HS để tổ chức quá trình xây dựng kiến thức cho các em. Dựa trên đặc điểm của kiến thức Vật lí lớp 9 THCS, của tâm lí lứa tuổi và vốn kiến thức, kinh nghiệm của HS. 3. Các tồn tại trước khi có SK, nguyên nhân: Trong soạn giảng, GV thường sử dụng cách đặt vấn đề, các câu hỏi xây dựng bài trong SGK và sao chép giáo án trong cuốn "Thiết kế bài giảng" mà ít mổ xẻ, bổ sung làm cho phù hợp hơn với đối tượng. Thực tiễn cho thấy, nhiều quan niệm khoa học được hình thành trong HS 3


thông qua con đường học tập kiểu truyền đạt ở nhà trường chỉ sau một vài tháng hay một năm không còn được HS nhớ tới. Do các em "thích" vận dụng những quan niệm thông thường để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Trước khi học một kiến thức khoa học HS đã có những kiến thức, kinh nghiệm nhất định về nó, tuy những kiến thức, kinh nghiệm đó là chưa đầy đủ, và sai lầm. 4. Các biện pháp đề ra Đưa ra sơ đồ tiến trình dạy học theo hướng kiến tạo kiến thức Vật lí. Đưa ra lí luận, phương pháp dạy học một số nội dung chương II Điện từ học theo hướng kiến tạo kiến thức 5. Hiệu quả mang lại Kết quả đầu vào: Tháng 12 năm 2016. Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (37HS) 5 13,5 10 27,0 16 43,2 06 16,3 0 0 Kết quả đầu ra: Tháng 2 năm 2017. (Áp dụng chưa triệt để do đang nghiên cứu) Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (37HS) 8 21,6 12 32,4 15 40,6 02 5,4 0 0 Kết quả đầu vào: Tháng 12 năm 2017 Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (45HS) 6 13,3 12 26,7 20 44,4 7 15,6 0 0 Kết quả đầu ra: Tháng 2 năm 2018 (Áp dụng triệt để) Khá Trung bình Yếu Kém Giỏi Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (45HS) 13 28,9 19 42,2 12 26,7 1 2,2 0 0 6. Khuyến nghị - Có một phòng học bộ môn thích hợp theo tiêu chuẩn quy định - Phòng giáo dục cần tổ chức lớp hội thảo về các thí nghiệm hay và khó để các GV cùng tháo gỡ. - Tạo điều kiện và khuyến khích GV nghiên cứu sử dụng hiệu quả và thiết kế những thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền phục vụ cho dạy học. - Khích lệ động viên các tập thể, cá nhân có những sáng kiến hữu hiệu, tích cực; có hình thức phổ biến, trao đổi về các sáng kiến hay tới đông đảo GV. 4


TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến - Thực hiện tinh thần của Quốc hội và Bộ giáo dục, toàn quốc đã tiến hành thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông. Quá trình đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục phổ thông mà tâm điểm là đổi mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được mục tiêu việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học sinh (HS) trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện đại. Trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên (GV), nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích trong học hành, mang lại hiệu quả cao trong các kì thi quan trọng. 2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến - Áp dụng cho HS đại trà, khá giỏi, HS đội tuyển Vật lí và ôn thi vào lớp 10 chuyên chọn. - Dạy học chương II Điện từ học trong chương trình SGK Vật lí 9 hiện hành. 3. Nội dung sáng kiến: - Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến: + Sáng kiến áp dụng kinh nghiệm giảng dạy, đi sâu vào một số nội dung của chương Điện từ học trong hoạt động dạy và học ở trường Trung học cơ sở (THCS) + Kết hợp quá trình học tập của HS với sự hướng dẫn của GV, sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) cho hiệu quả rõ rệt trong việc lĩnh hội khả năng kiến thức, kĩ năng, hình thái thái độ tích cực, phát triển các năng lực. + HS hứng thú học tập, không còn ngại học về Điện từ (một phần nội dung với lượng kiến thức khó, trừu tượng) + Sáng kiến đi sâu vào một số nội dung ít người nghiên cứu trước đây, đưa ra những nhận xét, đề xuất cách giải quyết làm cơ sở để GV, HS có thể áp dụng 5


trong quá trình dạy học và học tập. - Khả năng áp dụng của sáng kiến: + Sáng kiến có khả năng áp dụng cao trong các trường THCS khi giảng dạy môn Vật lí, đặc biệt là rèn khả năng tự học, sáng tạo của GV cũng như HS ở chương Điện từ học nói riêng và Vật lí nói chung. 4. Giá trị, lợi ích, kết quả đạt được của SK - Sáng kiến được thực hiện nhằm nâng cao nghệ thuật, phương pháp dạy học, cũng như phát huy tính sáng tạo trong việc dạy và học. Kết quả của sáng kiến sẽ góp phần phát triển tư duy, tính sáng tạo của GV và HS. - Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Vật lí nói riêng và các môn học Tự nhiên khác nói chung. Sáng kiến cũng góp phần phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập của người học, mang lại kết quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức khoa học. - Đưa ra một số nhận xét về nội dung kiến thức, một số thí nghiệm, đề xuất một số phương án xử lí thích hợp, là tư liệu thiết thực để GV có thể tham khảo trong quá trình dạy học. 5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến. - Trong quá trình dạy học môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, nhà trường và Phòng giáo dục cần tổ chức lớp hội thảo chuyên đề về các nội dung kiến thức, các thí nghiệm hay và khó để các GV học hỏi kinh nghiệm giảng dạy cũng như tiếp xúc với nguồn tham khảo quý để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng được yêu cầu giảng dạy đặt ra ngày càng cao. - Tăng cường tập huấn, động viên, khuyến khích GV sử dụng CNTT thích hợp, hiệu quả trong quá trình giảng dạy - Giới hạn là một sáng kiến nhưng cũng chưa thể đi hết tất cả các nội dung, thí nghiệm của chương Điện từ học. Vì vậy rất mong các đồng nghiệp cùng nghiên cứu mở rộng chuyên đề này, bản thân tôi nhận được những nhận xét đóng góp quý báu để sáng kiến hoàn thiện hơn.

6


MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến Một xu thế lịch sử đang diễn ra sôi động ở nước ta trong đầu kỷ XXI là xu thế hội nhập quốc tế. Xu thế này đòi hỏi chúng ta phải có một lực lượng lao động mới có kiến thức cập nhật, có năng lực thích ứng tốt, có tư duy sáng tạo, có ý chí và nghị lực đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế đang phát triển sôi động, đầy thách thức, cạnh tranh và một nền sản xuất hiện đại, một nền công nghệ tiên tiến. Từ lâu Đảng và Nhà nước đã nhận rõ những thách thức đối với sự phát triển của đất nước và chỉ ra một trong những nút tháo gỡ là sự phát triển của giáo dục. Từ đó đã đưa ra những định hướng quan trọng về sự đổi mới sâu sắc và toàn diện nền giáo dục nước ta. Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của HS trên tinh thần Nghị quyết 29 NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực hiện nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương trong những năm gần đây ở THCS song song với việc đổi mới chương trình SGK, phương pháp dạy học (PPDH) cũng đã và đang được đổi mới. Tuy nhiên việc đổi mới PPDH còn chậm, chưa toàn diện. Khảo sát hoạt động dạy học vật lí ở THCS cho thấy phần lớn GV còn ngại đổi mới. Trong một giờ dạy GV còn sử dụng một thời lượng khá lớn cho việc thuyết trình, số câu hỏi GV đưa ra còn ít, chưa thật phù hợp lứa tuổi, khả năng và mối quan tâm của HS và ít kích thích HS suy nghĩ. Phần đông GV quan niệm rằng để đổi mới PPDH chỉ cần cho HS hoạt động giải quyết những vấn đề (những câu hỏi có sẵn) SGK đưa ra là được. Kiểu dạy học này chưa phát huy được vốn kinh nghiệm của HS, HS ít có cơ hội bộc lộ những quan niệm vốn có. Do đó HS không thể phân biệt rõ sự khác nhau giữa quan niệm thông thường và quan niệm khoa học. Trong các em hai loại quan niệm này cùng tồn tại và được vận dụng một cách hỗn độn. Trong khi những quan niệm thông thường được hình thành trong HS bằng con đường trải nghiệm và dường như đã ăn sâu vào tiềm thức của HS thì sự mới mẻ của quan 7


niệm khoa học trở nên kém bền vững. Thực tiễn cho thấy, nhiều quan niệm khoa học được hình thành trong HS thông qua con đường học tập kiểu truyền đạt ở nhà trường chỉ sau một vài tháng hay một năm không còn được HS nhớ tới. Các em "thích" vận dụng những quan niệm thông thường để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Khảo sát tình hình nắm vững kiến thức của HS cuối năm lớp 9 cho thấy, trên 50% HS được hỏi cho rằng vật có khối lượng lớn hơn thì rơi nhanh hơn, đồng nhất khái niệm “công” thường dùng trong cuộc sống với khái niệm công cơ học, lẫn lộn khái niệm nhiệt và nhiệt độ ... Vật lí THCS nói chung, Vật lí lớp 9 nói riêng chủ yếu được xây dựng thông qua thí nghiệm vật lí; những kiến thức vật lí ở THCS rất gần gũi với đời sống. Do đó, trước khi học một kiến thức, HS thường đã có những quan niệm nhất định về nó. Vì vậy, có thể dựa trên những quan niệm có trước của HS để tổ chức quá trình xây dựng kiến thức cho các em. Việc làm này sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nâng cao được tính bền vững của kiến thức cho HS. Cách dạy học theo hướng này là một trong những cách tiếp cận dạy học tích cực. Dựa trên đặc điểm của kiến thức Vật lí lớp 9 THCS, của tâm lí lứa tuổi và vốn kiến thức, kinh nghiệm của HS, theo tôi việc tổ chức hoạt động dạy học kiến thức Vật lí lớp 9 THCS theo hướng tích cực và sử dụng CNTT hỗ trợ là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Vì vậy tôi chọn đề tài của mình là: Dạy học theo hướng kiến tạo. 2. Cơ sở lý luận của vấn đề 2.1. Những yêu cầu đối với GV và HS Trong dạy học cần phải tìm tòi những cách thức, những con đường để tổ chức quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu của môn học. So sánh mục tiêu dạy học tích cực và mục tiêu dạy học Vật lí ở THCS ta thấy: Dạy học vật lí theo hướng tích cực, cụ thể là kiến tạo cho HS sẽ đảm bảo các mục tiêu cần đạt được trong dạy học Vật lí THCS cả về kiến thức, kĩ năng và thái độ. 8


Trong dạy học Vật lí THCS, để HS có thể tích cực, chủ động trong học tập và đạt được mục tiêu dạy học thì đối với GV phải: + Tạo ra một không khí lớp học cởi mở, dân chủ và tin cậy. + Tạo ra những tình huống cho sự nghiên cứu, tìm tòi giải quyết vấn đề và bộc lộ quan niệm. + Tạo ra những cơ hội cho HS được tranh luận và đưa ra những bằng chứng. + Không dùng các từ "đúng", "sai" khi đánh giá trong quá trình HS đưa ra những ý tưởng và thảo luận. Khuyến khích và chấp nhận tính độc lập, sáng tạo của HS. + Sử dụng những thuật ngữ chuyên môn liên quan đến nhận thức như : Phân loại, phân tích, dự đoán, xây dựng (tạo nên) khi xây dựng khung nhiệm vụ. + Điều tra những hiểu biết, những quan niệm của HS và phân loại chúng. + GV xây dựng những bài học bằng cách khai thác những quan niệm có trước và những ý tưởng của HS. + Khuyến khích HS đi tới những thoả thuận trong trao đổi với GV và bạn học. + Khuyến khích HS phát vấn, suy nghĩ nhiều để hỏi. Sử dụng những câu hỏi mở và khuyến khích HS hỏi lẫn nhau. + Tìm hiểu kỹ càng những tiềm ẩn trong những câu trả lời của HS. + Chú ý tới những kinh nghiệm của HS trong đó có thể tiềm ẩn những mâu thuẫn với giả thuyết và khuyến khích các em thể hiện. + Những hoạt động của lớp học cần thách thức dự đoán của HS. + Đứng trước những câu hỏi, GV cần cho HS một thời gian suy nghĩ để trả lời. Cung cấp thời gian cho HS xây dựng những mối quan hệ và phát biểu chúng bằng lời. + Nuôi dưỡng những suy nghĩ có tính tò mò tự nhiên của HS trong quá trình học tập. GV đánh giá hoạt động học của HS trong phạm vi của mỗi ngày học, mỗi tiết học. - Đối với học sinh : + Cần có nhiều ý tưởng, các ý tưởng này có thể rất khác với quan niệm khoa 9


học. Có nhu cầu và khao khát muốn bộc lộ ý tưởng của mình. + Cần được quan sát những gì họ đang tìm hiểu. + Cần được biết mình đang học gì và vì sao lại học cái đó. + Cần sự trợ giúp từ phía các bạn hoặc GV. + Tự quyết định niềm tin của HS. 2.2. Sơ đồ tiến trình kiến tạo kiến thức Vật lí THCS theo hướng tích cực: Dựa trên các PPDH theo hướng tích cực, nhận thức, chú ý tới đặc điểm của vật lí cấp THCS, theo chủ quan tôi đã xây dựng sơ đồ tiến trình kiến tạo kiến thức Vật lí THCS như sau.

Kiến tạo kiến thức ở những mức độ cao hơn (mức 2, 3,..)

Tạo tình huống học tập dựa trên việc hiểu biết những quan niệm có trước của học sinh. Bộc lộ quan niệm có trước về đề tài học tập thông qua việc đưa ra lời giải thích, dự đoán hoặc mô hình

Kiểm tra tính đúng đắn của lời giải thích, dự đoán hoặc mô hình bằng thí nghiệm hoặc suy luận lí thuyết thông qua đó các quan niệm cũ được thách thức. HS so sánh, đối chiếu những kết quả mới thu nhận được với quan niệm cũ của bản thân

Chuẩn hóa kiến thức Tiếp nhận kiến thức

Vận dụng kiến thức

Hình 1. Sơ đồ tiến trình hoạt động kiến tạo kiến thức Vật lí THCS theo hướng tích cực 10


Theo sơ đồ trên, tiến trình tổ chức hoạt động kiến tạo kiến thức của HS diễn ra theo năm bước: - Bước 1: Tạo tình huống học tập GV tìm hiểu những quan niệm có trước của HS về đề tài học tập. Trên cơ sở đó GV tạo ra một tình huống học tập gắn với thực tiễn, với kiến thức HS cần xây dựng sao cho HS nghĩ rằng bản thân có thể giải quyết được bằng cách đồng hóa nó vào những kiến thức, kinh nghiệm đã có của mình. - Bước 2: HS bộc lộ quan niệm có trước HS huy động những kiến thức, kĩ năng có trước để giải quyết tình huống GV đưa ra.Trong quá trình ấy, HS bộc lộ ra những quan niệm có trước thông qua những lời giải thích, những ý tưởng. - Bước 3: Kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước. Trước hết GV tổ chức cho HS thảo luận, tiến hành những thí nghiệm (mà GV đã lựa chọn, chuẩn bị), thực hiện phép suy luận lý thuyết (bằng những lý thuyết đúng đắn) để kiểm nghiệm, thách thức những quan niệm có trước; tổ chức, hướng dẫn HS thu nhận và xử lí kết quả thu được qua kiểm nghiệm; định giá liên tục để điều tiết về thời gian và chiến lược định hướng hoạt động học của HS. HS nêu cách giải thích của mình về sự vật, hiện tượng; nêu cách chứng minh cho sự đúng đắn của những điều khẳng định của mình; trao đổi với bạn học về những ý kiến phản bác; thống nhất tập thể về việc phải làm thí nghiệm để phân định đúng sai; tiến hành thí nghiệm, thu thập thông tin, số liệu thực nghiệm; xử lí thông tin và rút ra kết luận. Trong quá trình HS hoạt động kiểm nghiệm, thách thức những quan niệm có trước có thể xảy ra hai khả năng: - Nếu các quan niệm có trước phù hợp với kết quả kiểm nghiệm thì HS đã đồng hóa được kiến thức mới vào kiến thức cũ. - Nếu không, HS phải thay đổi cấu trúc nhận thức để phù hợp với kiến thức mới. Trong quá trình ấy HS sẽ bộc lộ ra những quan niệm mới. Những 11


quan niệm này lại cần được kiểm nghiệm, thách thức. Quá trình "... bộc lộ quan niệm => kiểm nghiệm, thách thức..." được lặp đi lặp lại cho đến khi quan niệm của HS vượt qua được thách thức, phù hợp với kết quả kiểm nghiệm. Sau khi đã thu được kết quả kiểm nghiệm GV tổ chức cho HS thảo luận, đối chiếu, so sánh quan niệm cũ với kết quả kiểm nghiệm (kiến thức mới) để tự đánh giá, phê phán về những chỗ hiểu sai trước đây. Như vậy, kết thúc quá trình kiểm nghiệm, thách thức quan niệm cũ, HS phải sơ bộ rút ra được kết luận khoa học về những sự vật, hiện tượng khảo sát nhưng những kết luận này cần phải được chuẩn hóa. Bước 4: Chuẩn hóa kiến thức; tiếp nhận kiến thức. GV phân tích, giải thích, đưa thêm những bằng chứng thực nghiệm để làm rõ kiến thức mới, củng cố niềm tin của HS về kiến thức mới và chuẩn hóa kiến thức mới. HS thảo luận làm rõ lợi ích, tính khoa học của kiến thức mới từ đó tự nguyện thay đổi quan niệm cũ, tiếp nhận kiến thức mới. - Bước 5: Vận dụng kiến thức GV đưa ra những bài toán thực tiễn liên quan đến kiến thức mới xây dựng để HS vận dụng kiến thức mới, đối chiếu kiến thức mới với quan niệm cũ để củng cố kiến thức mới, hiểu kiến thức mới, làm kiến thức mới xây dựng được trở nên vững chắc hơn. HS nhớ lại, nhắc lại, phát biểu lại kiến thức mới; vận dụng kiến thức mới vào tình huống quen biết hoặc có chút mới lạ; so sánh hiệu quả giải quyết cùng một vấn đề của kiến thức mới và quan niệm cũ. Kết thúc bước 5, kiến thức mới của HS phải được củng cố, khắc sâu. Không những thế, trong quá trình vận dụng kiến thức HS có thể đưa ra những ý tưởng có tính sáng tạo và có thể xuất hiện tình huống mà muốn giải quyết nó cần phải phát triển kiến thức mới lên mức cao hơn, đầy đủ hơn. Nghĩa là phải thực hiện một chu trình kiến tạo mới. 12


Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động dạy học kiến tạo theo sơ đồ trên phải hết sức linh hoạt, tùy kiến thức cần kiến tạo mà tuần tự đi theo từng bước trong sơ đồ hay kết hợp hài hòa hai (hoặc ba) bước nào đó trong sơ đồ để việc dạy học đạt hiệu quả cao. 3. Thực trạng của vấn đề Để tìm hiểu hoạt động dạy và học vật lí ở trường THCS, tôi đã tiến hành điều tra bằng trắc nghiệm, trao đổi trực tiếp, quan sát hoạt động dạy và học của GV, HS tại một số trường THCS trên địa bàn. Phân tích kết quả điều tra, tôi thu được một số kết quả sau : 3.1. Đối với học sinh - Trước khi học một kiến thức khoa học HS đã có những kiến thức, kinh nghiệm nhất định về nó, tuy những kiến thức, kinh nghiệm đó là chưa đầy đủ, và sai lầm. Ví dụ HS có quan niệm, ý tưởng về nam châm (NC), cách hút sắt của NC, dòng điện xoay chiều, ... - 90% HS thích được thầy đọc cho ghi. HS ngại hoạt động, ngại hỏi, ngại tranh luận trao đổi bài (chỉ khoảng 5% - 6% thường xuyên hỏi bài, trao đổi bài đó là những HS có lực học tốt, HS lớp chọn) và lười học bài, làm bài ở nhà. Kết quả điều tra cho thấy, đa số HS không muốn hoặc chưa sẵn sàng thay đổi cách học và dạy truyền đạt kiến thức. Vì "mô hình truyền đạt kiến thức của việc dạy học khoa học được ăn sâu vào gốc rễ của nền văn hoá của chúng ta, ở cả GV và HS”. - Trên 90% HS thích học vật lí có thí nghiệm và được làm thí nghiệm nhưng chỉ có 20% số tiết học HS được tự làm thí nghiệm và 60% số tiết học có thí nghiệm. - HS thường không thấy được mối liên hệ về mặt kiến thức giữa các bài nghĩa là đối với HS kiến thức giữa các bài học là độc lập, rời rạc. 3.2. Đối với giáo viên - 95% GV chỉ sử dụng kiến thức kinh nghiệm của HS để đặt vấn đề vào bài hoặc bài mới là sự nối tiếp của bài đã học. 13


- 63% GV đã bước đầu áp dụng phương pháp dạy học tích cực theo kiểu nêu và giải quyết vấn đề. - Trong soạn giảng, GV thường sử dụng cách đặt vấn đề, các câu hỏi xây dựng bài trong SGK và sao chép giáo án trong cuốn "Thiết kế bài giảng" mà ít mổ xẻ, bổ sung làm cho phù hợp hơn với đối tượng.

Đặt vấn đề; giới thiệu bài mới

HS tìm hiểu thông tin, thí nghiệm SGK

GV giới thiệu dụng cụ và cách làm thí nghiệm

Thí nghiệm GV hoặc HS. HS qsát, thu thập thông tin, trả lời câu hỏi

Chuẩn hóa kiến thức. Củng cố, vận dụng, kết luận chung

Hình 2. Tiến trình dạy học thường thấy ở giáo viên THCS Quan sát hoạt động dạy học ở THCS, tôi thấy tiến trình dạy học vật lí của GV nhiều ít có những nét khác nhau nhưng có thể thấy chúng có những nét chung cơ bản như sơ đồ hình 2. 3.3. Một số quan niệm thông thường ở học sinh THCS Các nghiên cứu tôi cho thấy, HS THCS đã có nhiều quan niệm về điện từ. Những quan niệm đó nhìn chung là những quan niệm sai, chỉ đúng một phần hoặc chưa đầy đủ. Trong đó có một số quan niệm đã bám rễ sâu vào HS và khó thay đổi. Ví dụ: - NC có hai cực âm dương (dù đã học, HS vẫn lẫn lộn giữa hai từ cực Bắc Nam và hai cực âm - dương). - Từ cực NC Trái Đất trùng với địa cực của Trái Đất. - Cắt đôi một thanh NC sẽ được hai NC mới chỉ có một cực. - Lực hút sắt của NC ở mọi điểm dọc theo thanh NC là như nhau. - NC phóng từ (hay truyền từ tính..) ra để hút sắt. - Dòng điện xoay chiều có hai chiều. - Dòng điện xoay chiều mạnh hơn dòng điện một chiều. - Các tác dụng của dòng điện xoay chiều và một chiều như nhau.

14


4. Các giải pháp đã thực hiện 4.1. Khắc phục những khó khăn của HS trong quá trình xây dựng kiến thức Trong quá trình tổ chức HS xây dựng kiến thức mới vừa phải phát huy cho được tính tích cực của quan niệm có trước, vừa phải tìm cách hạn chế những tác động tiêu cực của nó. Muốn thế việc tổ chức hoạt động dạy học phải định hướng HS giải quyết vấn đề theo cấu trúc như hình 3.

Xác định mục tiêu dạy học

Xác định giải pháp để giải quyết vấn đề

Vấn đề học tập

Kết luận khoa học

Giải quyết vấn đề từ thành phần đến tổngthể Giải quyết vấn đề từ tổng thể đến thành phần

Lập kế hoạch hoạt động

Tiến hành công việc có trình tự

Hình 3. Sơ đồ cấu trúc giải quyết vấn để Để khắc phục những khó khăn trong việc xây dựng kiến thức về điện từ, tôi đã áp dụng những phương án sau: - Tìm hiểu những quan niệm có trước của HS, phân tích sự đúng sai của các quan niệm để tìm ra những cách thích hợp giúp HS tiếp cận kiến thức. - Khai thác những quan niệm có trước của HS để tổ chức tốt hoạt động xây dựng kiến thức mới và vận dụng kiến thức đã xây dựng được cho các em. - Thiết kế hệ thống câu hỏi trúng, chính xác về nghĩa vật lí và gắn kết được vấn đề cần tìm tòi với quan niệm có trước của HS để làm bộc lộ chúng. - Đặt HS vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học. Khuyến khích học tập hợp tác. - Tổ chức dạy học tích cực trong sự phối, kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học và chú trọng tới việc sử dụng các thí nghiệm vật lí. - Tổ chức HS tiến hành thí nghiệm làm xuất hiện những sự kiện, hiện 15


tượng có thể so sánh, quy nạp. Khi nghiên cứu một hiện tượng, sự vật cần tổ chức cho HS làm vài thí nghiệm trong đó có một thí nghiệm được dùng để đối chứng. 4.2. Tổ chức dạy học một số nội dung kiến thức Vật lí lớp 9 thuộc phần điện từ Có thể tổ chức hoạt động dạy học Vật lí THCS theo nhiều phương pháp khác nhau để đạt mục tiêu dạy học. Dưới đây chúng tôi chỉ xét việc tổ chức hoạt động dạy học Vật lí THCS theo lý thuyết kiến tạo trong đó chú trọng tới việc sử dụng các thí nghiệm vật lí. 4.2.1. Cải tiến và chế tạo một số thí nghiệm Thí nghiệm có vai trò quan trọng trong dạy học Vật lí THCS cũng như hưởng ứng phong trào làm đồ dùng dạy học. Để nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức trong dạy học phần điện từ, tôi đã cải tiến và thiết kế mới một số thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền và đưa vào dạy học. 1. Khi dạy các bài liên quan đến chuyển đông của khung dây quay trong từ trường cắt các đường sức từ. Tôi thấy HS gặp khó khăn trong vấn đề hình dung sự biến thiên số đường sức từ qua tiết diện khung dây. Chính vì vậy tôi làm mô hình như hình 4 và khi cho khung dây quay HS đã dễ dàng phát hiện ra sự thay

Hình 4. Mô hình khung dây quay

đổi số đường sức từ. Mô hình này có thể

trong từ trường cắt các

dùng cho nhiều bài, ví dụ như bài “Lực

đường sức từ.

điện từ”, “Dòng điện xoay chiều”,… 2. Khi dạy bài "Ứng dụng của nam châm", thí nghiệm hình 26.1 khá nhiều dụng cụ, hơn nữa cách mắc dụng cụ lại mất khá nhiều thời gian. Mà với chương này HS đã được rèn luyện cách mắc thí nghiệm ở những lớp trước, chương trước. Do vậy tôi đã cải tiến mạch điện trở lên gọn hơn, dễ dàng thay đổi, dễ thấy được ống dây chuyển động khi làm thí nghiệm. 16


Hình 5. Mạch điện thí nghiệm hình 26.1 SGK Vật lí 9 hiện hành

Hình 6. Mạch điện thí nghiệm hình 26.1 SGK Vật lí 9 sau khi đã cải tiến

3. Trong bài "Ứng dụng của nam châm", trong phần vận dụng câu hỏi C4 có mô tả cấu tạo của một rơle dòng, nhưng theo tôi, hình mô phỏng đó không chính xác. Vì vậy, tôi đã mô phỏng theo cách khác, dùng thế mạnh về hiệu ứng của PowerPoint để HS thấy rõ tác dụng bảo vệ mạch điện của rơle. Với mạch điện hình 7, chúng ta thấy rằng khi sự cố xảy ra (cường độ dòng điện tăng quá mức cho phép) thì NC điện đủ mạnh hút thanh sắt làm mạch bị ngắt điện. NC điện vẫn có dòng quá tải, do đó vẫn Hình 7: Mạch điện thay thế hình 26.5 giữ được thanh sắt, động cơ M vẫn SGK Vật lí 9 mô phỏng rơle điện từ không hoạt động. Với mạch điện hình 8, chúng ta thấy rằng khi sự cố xảy ra (cường độ dòng điện tăng quá mức cho phép) thì NC điện đủ mạnh hút thanh sắt làm mạch bị ngắt điện. Nhưng ngay sau đó NC điện mất điện do đó mất Hình 8: Mạch điện hình 26.5 SGK Vật lí 9 trang 72. từ tính, thanh sắt lại bị kéo lại tì vào tiếp điểm, động cơ M hoạt động với 17


dòng quá tải. Cứ như vậy NC điện sẽ hút nhả thanh sắt liên tục (giống như chuông điện), động cơ M và mạch điện có thể bị hỏng. - Với thí nghiệm trên và câu C4, tôi đã nghiên cứu từ lâu và áp dụng trong bài giảng cuộc thi giáo viên giỏi đã được hội đồng giám khảo đánh giá cao. 4. Với bài “Từ phổ - Đường sức từ”, HS hay hiểu nhầm là đường sức từ của NC chỉ có trên mặt phẳng. Khi làm thí nghiệm với tấm bìa có mạt sắt, HS chi có thể đặt miếng bìa nằm ngang, vì nếu đặt thẳng đứng thì các đường mạt sắt không còn sắp xếp theo các đường sức từ (do ảnh hưởng của lực hút của Trái đất lên mạt sắt). Nhưng ở thí nghiệm dùng các kim NC nhỏ đặt nối tiếp nhau trên một đường sức từ, tôi sử dụng các miếng bìa xếp theo hình không gian như hình 9 để chứng tỏ không gian xung quanh NC có từ trường chứ không chỉ trên mặt phẳng.

Hình 9. Thí nghiệm tự tạo chứng tỏ từ trường của NC là không gian xung quanh NC chứ không phải trên mặt phẳng 4.2.2. Tổ chức hoạt động dạy học một số kiến thức về điện từ 4.2.2.1. Thiết kế tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức về nam châm vĩnh cửu Tìm hiểu quan niệm của HS lớp 9 THCS về nam châm vĩnh cửu, cho thấy: HS không có quan niệm sai về từ tính, sự tương tác giữa hai NC. Nhưng HS quan niệm: NC có hai cực âm, dương; cắt đôi một NC ta được hai nửa NC 18


chỉ có một từ cực; lực "hút sắt" của thanh NC như nhau tại mọi điểm dọc theo thanh NC. Đây là những quan niệm sai. Vì vậy trong mục này, tôi vận dụng sơ đồ kiến tạo kiến thức (hình 1), trong đó chú trọng tới việc sử dụng các thí nghiệm vật lí để thiết kế tiến trình dạy học làm cho HS nhận ra sai lầm trong các quan niệm trên và xây dựng kiến thức khoa học về các kiến thức đó (việc xây dựng kiến thức về từ tính, sự tương tác giữa hai nan châm được tổ chức dạy học theo cách GV thường dạy). Kiến tạo kiến thức về từ cực của nam châm a). Những quan niệm có trước của học sinh về NC vĩnh cửu - NC hút sắt. NC hút hay đẩy nhau. NC có tính chất từ. - NC có hai cực âm - dương. b. Kiến thức cần kiến tạo - Bỏ được quan niệm sai về từ cực của NC. - Xây dựng được kiến thức mới: NC có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực Nam.

19


c. Sơ đồ tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức (hình 10) HS

GV

- Tình huống: Ta biết, NC hút sắt, NC hút hay đẩy nhau. Nếu đưa một NC lại gần một vật tích điện thì hiện tượng gì xảy ra? Tại sao? - Tổ chức, lắng nghe "phân tích", định hướng, khuyến khích...

Tổ chức để xuất phương án TN, kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước bằng thí nghiệm tương tác giữa NC với vật tích điện. - Tổ chức HS so sánh, đối chiếu quan niệm cũ với kết quả thí nghiệm. GV: ... Tổng hợp các sự kiện thực nghiệm, giải thích chuẩn hóa kiến thức.

Vận dụng kiến thức.

- Bộc lộ quan niệm (dự đoán): + Chúng sẽ hút nhau vì NC hút điện. + Chúng sẽ không hút hoặc đẩy nhau vì NC không phải là điện. + Chúng sẽ hút nhau hoặc đẩy nhau vì NC có hai cực âm, dương. - Nghe, so sánh, đối chiếu...=> bổ sung, thỏa thuận...

- Đề xuất phương án thí nghiệm - Tiến hành thí nghiệm (nhóm). + Tìm cách tạo ra vật (thước nhựa) tích điện + Làm thí nghiệm thấy: kim NC không bị lệch hướng. + Nhận xét: NC không tương tác với điện tích. - Thảo luận =>Nhận xét: NC có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực Nam đúng.

Kết luận: NC có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực Nam (NC không có hai cực âm - dương).

Vận dụng kiến thức trả lời, giải thích: - Xác định từ cực của một NC. - Xác định và phân biệt từ cực và địa cực Trái Đất - Tìm hiểu và giải thích hoạt động của la bàn.

Hình 10. Tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức về từ cực của NC d. Tiến trình dạy học Bước 1: Tạo tình huống học tập Để làm HS bộc lộ quan niệm về "cực" của NC, xuất phát từ sự hiểu biết về quan niệm có trước của HS, GV đưa ra tình huống học tập: Ta biết, NC hút sắt, NC hút hay đẩy nhau. Nếu đưa một NC lại gần một vật tích điện thì hiện tượng gì xảy ra? Tại sao? HS nhận nhiệm vụ, suy nghĩ, nhớ lại kiến thức để trả lời. Bước 2: HS bộc lộ quan niệm có trước. 20


HS: -Nhớ lại kiến thức về điện tích, vận dụng kiến thức đã học về NC và kinh nghiệm của bản thân để trả lời câu hỏi và giải thích: + Chúng sẽ hút nhau vì NC hút điện. + Chúng sẽ không hút hoặc đẩy nhau vì NC không phải là điện. + Chúng sẽ hút nhau hoặc đẩy nhau vì NC có hai cực âm, dương. - Nghe bạn trả lời, suy nghĩ, so sánh đối chiếu với quan niệm của bản thân để trao đổi, bổ sung hoặc đưa ra câu trả lời theo ý hiểu của mình. GV lắng nghe để "phân tích", định hướng, động viên, khuyến khích HS tham gia trả lời làm bộc lộ được nhiều hơn các quan niệm nếu có. Trong quá trình HS trả lời, GV không đánh giá "đúng", "sai". HS suy nghĩ, trao đổi, phản biện, bổ sung ý kiến (nếu có). GV tổ chức HS thảo luận để thống nhất dự đoán. HS thảo luận, thống nhất dự đoán (NC có hai cực âm, dương). Bước 3: Kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước. GV tổ chức, định hướng HS sử dụng kiến thức, kĩ năng có trước để đưa ra phương án thí nghiệm kiểm tra. GV: Làm thế nào để kiểm tra xem hai đầu thanh NC có tích điện không? HS: Suy nghĩ, nhớ lại kiến thức, vận dụng kiến thức để trả lời câu hỏi và đưa ra phương án: Lần lượt đưa hai đầu thanh NC lại gần một vật tích điện như: hai cực của một chiếc pin, một ắc quy, một vật nhiễm điện do cọ xát... Nếu xảy ra tương tác thì chứng tỏ hai đầu thanh NC tích điện. - Lắng nghe ý kiến của bạn, đối chiếu với quan niệm có trước của mình để phản bác, bổ sung, nêu ý kiến của bản thân hoặc thỏa thuận. GV phân tích, thống nhất phương án thí nghiệm. Tổ chức HS tiến hành thí nghiệm kiểm tra theo các bước: - Trao đổi, thảo luận để tạo ra vật tích điện (vật nhiễm điện do cọ xát). - Tiến hành thí nghiệm: 21


1- Lặp lại thí nghiệm ở hình 21.3 SGK nhưng thay thanh NC bằng một thước nhựa chưa nhiễm điện và đã nhiễm điện do cọ sát. 2- Lặp lại thí nghiệm (1) nhưng thay kim NC bằng kim sắt. 3- Ghi kết quả quan sát được vào bảng sau: Cặp vật tương tác Kim NC Kim NC Kim sắt

Kết quả quan sát được

Thanh sắt Thanh nam châm Thước nhựa chưa nhiễm điện Thước nhựa đã nhiễm điện Thước nhựa chưa nhiễm điện Thước nhựa đã nhiễm điện

HS (nhóm): - Tìm hiểu, lựa chọn, lắp ráp dụng cụ thí nghiệm. - Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng xảy ra. - Ghi kết quả quan sát được vào bảng (HS phải nhớ lại kết quả thí nghiệm về tương tác giữa NC với NC, NC với sắt để hoàn thành bảng ghi). GV tổ chức HS trao đổi, thảo luận nhóm; yêu cầu đại diện các nhóm báo cáo. HS: - Thảo luận nhóm, rút ra nhận xét (dựa trên bảng ghi kết quả thí nghiệm). - Đại diện các nhóm báo cáo. Các nhóm khác lắng nghe, ghi chép. GV tổ chức các nhóm trao đổi, thảo luận để rút ra nhận xét chung GV: Kết quả thí nghiệm chứng tỏ điều gì? HS trao đổi, thảo luận giữa các nhóm và nêu nhận xét chung: Hai đầu của kim (thanh) NC không tích điện. GV nhận xét. HS ghi vở. GV tổ chức HS đối chiếu quan niệm cũ với kết quả thí nghiệm. GV: Theo em trong hai cách phát biểu sau: "NC có hai cực âm, dương (một cực tích điện dương và một cực tích điện âm)" và "NC có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực 22


Nam" cách phát biểu nào đúng?). HS so sánh, đối chiếu các cách phát biểu với kết quả thí nghiệm, trao đổi từ đó nhận ra sự đúng, sai của hai cách phát biểu. Bước 4: Chuẩn hóa kiến thức. GV tóm tắt lại các sự kiện thực nghiệm, chuẩn hóa kiến thức: NC có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực Nam. HS lắng nghe, ghi kết luận. Bước 5: Vận dụng kiến thức. GV giao bài toán vận dụng kiến thức: 1- Hoàn thành C5, C6, C7, C8 SGK. 2- Nếu coi Trái Đất là một NC khổng lồ thì địa cực Bắc của Trái Đất là từ cực nào của NC này? Tại sao? HS vận dụng kiến thức đã học hoàn thành nhiệm vụ qua đó củng cố, khắc sâu được kiến thức đã học. Như vậy, kết thúc bước 5, HS phải phân biệt được khái niệm "từ cực" và "hai cực âm dương", do đó đã bỏ được quan niệm sai và xây dựng quan niệm đúng về "cực" NC. 4.2.2.2. Kiến tạo kiến thức về nam châm nhỏ được tách ra từ một nam châm lớn a. Những quan niệm có trước của HS Khi cắt đôi một thanh NC ta được hai NC mới mà mỗi NC chỉ có một cực. b. Kiến thức cần kiến tạo - Nhận ra sai lầm trong quan niệm về những mảnh NC được tách ra từ một NC lớn hơn. - Xây dựng được quan niệm đúng về từ cực của một NC mới được tạo thành từ một NC.

23


c. Sơ đồ tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức (hình 11) GV

HS

- Tình huống: Ta biết, thanh NC có từ cực Bắc (kí hiệu N - sơn đỏ) và từ cực Nam (kí hiệu S - sơn xanh). Nếu cắt thanh NC thành hai nửa bằng nhau, thì mỗi nửa của nó có mấy từ cực? Tại sao? - Tổ chức, lắng nghe, "phân tích", định hướng, khuyến khích..

Bộc lộ quan niệm (dự đoán): - Mỗi nửa thanh NC chỉ có từ cực Bắc, hoặc từ cực Nam. Vì thanh NC có hai từ cực phân biệt với nhau bởi màu sơn. - Mỗi nửa của thanh NC sẽ không còn từ cực nào. Vì khi đó chúng không còn là NC nữa. - Mỗi nửa của thanh NC vẫn có hai từ cực Vì chúng vẫn là NC. -Nghe, so sánh, đối chiếu => bổ sung,., thỏa thuận

Tổ chức HS đề xuất phương án TN và kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước bằng TN:xác định từ tính, từ cực của mỗi nửa thanh NC. -Tổ chức HS so sánh, đối chiếu quan niệm cũ với kết quả TN...

- Đề xuất phương án thí nghiệm - Tiến hành thí nghiệm (nhóm). + Kết quả: Hai nửa của thanh NC hút sắt; chúng hút hoặc đẩy kim NC. + Nhận xét: Mỗi nửa thanh NC là một NC mới và vẫn có hai từ cực (Bắc, Nam).

Đập NC thành các mảnh nhỏ hơn. Làm thí nghiệm kiểm tra => chuẩn hóa kiến thức.

- Dự đoán; Quan sát GV làm thí nghiệm - Nhận xét: Mỗi mảnh NC luôn có hai từ cực Bắc - Nam. Kl: Một NC luôn có hai từ cực là từ cực bắc và từ cực nam. Không thể tách rời hai từ cực của một NC.

Vận dụng kiến thức: - Nêu đặc điểm của NC. Những mảnh NC nhỏ có đặc điểm này không? - Đặt hai miếng thép... tiếp xúc với NC...Sau đó, nếu tách ...

Vận dụng kiến thức trả lời, giải thích, ghi vở: - Nêu được đặc điểm cảu NC.... - Không xác định được thanh NC

Hình 11. Tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức về sự tạo thành NC mới từ một NC lớn hơn d. Tiến trình dạy học Bước 1: Tạo tình huống học tập. Xuất phát từ quan niệm có trước của HS, GV tạo tình huống học tập. GV: Ta biết thanh NC có hai từ cực là từ cực Bắc (kí hiệu N - thường được sơn màu đỏ) và từ cực Nam (kí hiệu S - thường được sơn màu xanh). Nếu cắt thanh NC thành hai nửa bằng nhau (GV giơ hai nửa NC lên cho HS quan 24


sát) thì mỗi nửa của thanh NC có mấy từ cực? Tại sao? HS nhận nhiệm vụ học tập, suy nghĩ, nhớ lại kiến thức, vận dụng kiến thức đã có của bản thân giải quyết nhiệm vụ học tập. Bước 2: HS bộc lộ quan niệm có trước. HS: - Vận dụng kiến thức về NC trả lời và giải thích: + Mỗi nửa của thanh NC chỉ có từ cực Bắc, hoặc từ cực Nam. Vì thanh NC có hai từ cực phân biệt với nhau bởi màu sơn. + Mỗi nửa của thanh NC sẽ không còn từ cực nào. Vì khi đó chúng không còn là NC nữa. + Mỗi nửa của thanh NC vẫn có hai từ cực. Vì chúng vẫn là NC. - Lắng nghe, suy nghĩ để trao đổi, bổ sung hoặc bảo vệ ý kiến của bản thân. GV lắng nghe, "phân tích", định hướng, khuyến khích, động viên HS tham gia giải quyết nhiệm vụ học tập làm bộc lộ nhiều hơn các quan niệm nếu có. HS suy nghĩ, nêu ý kiến bổ sung, phản biện... GV tổ chức HS thảo luận để thống nhất câu trả lời, lời giải thích (dự đoán). HS thảo luận, thống nhất dự đoán. Bước 3: Kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước. GV tổ chức, định hướng, khuyến khích, động viên HS sử dụng kiến thức, kĩ năng đã có đưa ra phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán. (GV: Muốn biết hai nửa của một thanh NC có phải là những NC và những NC đó có những từ cực gì ta làm thế nào?). HS: - Suy nghĩ, nhớ lại kiến thức, vận dụng kiến thức, kĩ năng: + Trả lời: Để kiểm tra dự đoán phải làm thí nghiệm. + Đưa ra phương án thí nghiệm kiểm tra: Lần lượt đưa một thanh sắt lại 25


gần hai nửa của thanh NC; Lần lượt đưa hai đầu mỗi nửa NC vừa cắt ra lại gần một kim (thanh) NC... - Lắng nghe ý kiến của bạn để trao đổi, bổ sung và đưa ra phương án của mình. GV phân tích, thống nhất phương án thí nghiệm, giao dụng cụ thí nghiệm và tổ chức HS làm thí nghiệm kiểm tra. HS làm thí nghiệm (theo nhóm): - Tìm hiểu, lựa chọn dụng cụ thí nghiệm. - Tiến hành thí nghiệm và thấy: mỗi nửa của thanh NC vẫn là NC và mỗi NC mới vẫn có hai từ cực. GV yêu cầu các nhóm báo cáo và nêu nhận xét của nhóm mình. Đại diện nhóm báo cáo; các nhóm, các HS khác lắng nghe, ghi kết quả của nhóm bạn để so sánh, đối chiếu. GV tổ chức các nhóm thảo luận về kết quả thí nghiệm để rút ra nhận xét chung. HS: Các nhóm thảo luận, trao đổi,thống nhất và đưa ra nhận xét chung: Mỗi nửa NC vẫn có hai từ cực. GV tổ chức HS đối chiếu quan niệm cũ với kết quả thí nghiệm .(GV: Từ kết quả thí nghiệm em có nhận xét gì về ý kiến, "khi cắt đôi một thanh NC ta được hai NC mới và mỗi NC mới chỉ có một từ cực"?). HS: So sánh, đối chiếu ý kiến nêu ra với kết quả thí nghiệm từ đó phủ nhận và giải thích: Ý kiến đó không đúng vì mỗi nửa được tách ra từ một thanh NC vẫn có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực Nam. Bước 4: Chuẩn hóa kiến thức. GV đập NC thành những mảnh nhỏ có kích thước bất kì, làm thí nghiệm (kiểm tra và xác định từ cực của những mảnh NC nhỏ), yêu cầu HS quan sát hiện tượng xảy ra và nhận xét. HS quan sát GV làm thí nghiệm thấy: mỗi mảnh NC nhỏ vẫn là một NC và vẫn có hai từ cực. 26


GV tóm tắt lại các sự kiện thực nghiệm, chuẩn hoá kiến thức và yêu cầu HS ghi kết luận (GV: Khi tách từ NC ra các phần khác nhau thì mỗi phần ấy trở thành một NC mới vẫn có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực Nam. Ta không thể tách rời hai từ cực của một NC). HS ghi kết luận. Bước 5: Vận dụng kiến thức. 1- Nêu đặc điểm của NC. Những mẩu NC nhỏ có đặc điểm này không? Tại sao? 2- Đặt hai miếng thép tiếp xúc với nhau rồi cho chúng tiếp xúc với một NC vĩnh cửu thì ta được một NC. Sau đó, nếu tách chúng ra thì mỗi miếng thép có hút được sắt không? tại sao? HS vận dụng kiến thức để hoàn thành các bài toán vận dụng. Như vậy, kết thúc bước 5 HS phải nhận ra sai lầm khi cho rằng mỗi NC nhỏ được tạo ra từ một NC lớn chỉ có một từ cực, thay đổi và kiến tạo được kiến thức mới về chủ đề này đồng thời biết cách xác định từ cực của NC. 4.2.2.3. Kiến tạo kiến thức về sự thay đổi độ lớn của lực tương tác giữa sắt và một thanh nam châm dọc theo thanh nam châm. a. Những quan niệm có trước của HS - Lực hút sắt như nhau tại mọi điểm dọc thanh NC. - Lực hút sắt ở giữa thanh mạnh nhất vì khi đặt thanh sắt vào chính giữa thanh NC thì lực hút sắt sẽ dồn vào đó. - Lực hút sắt mạnh nhất ở hai đầu thanh, ở những chỗ khác lực đó yếu hơn. b. Kiến thức cần kiến tạo Nhận ra sai lầm và xây dựng được quan niệm đúng về "sự thay đổi độ lớn của lực tương tác giữa sắt và thanh NC dọc theo chiều dài thanh".

27


c. Sơ đồ tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức HS

GV - Tình huống: Người ta sử dụng lực "hút" sắt của NC để giữ một đầu một thanh sắt. Ở vị trí nào trên thanh NC thanh sắt được giữ chặt nhất? tại sao? - Lắng nghe, "phân tích", định hướng, khuyến khích, động viên..

- Bộc lộ quan niệm (dự đoán): + Ở mọi điểm trên thanh NC thanh sắt được giữ chặt như nhau. Vì lực hút sắt như nhau ở mọi điểm dọc theo thanh NC... + Thanh sắt được giữ chặt nhất ở chính giữa thanh NC. Vì lực hút sắt của thanh NC sẽ dồn vào đó. + Ở hai đầu thanh NC thanh sắt được giữ chặt nhất... - Lắng nghe, so sánh, đối chiếu => bổ sung....

Tổ chức HS đề xuất phương án TN và kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước bằng TN tương tác giữa sắt với NC ở những vị trí khác nhau trên thanh NC: + Giữ thanh sắt cố định, treo thanh NC vào một đầu lực kế rồi đưa nó đi dọc thanh sắt. + Thay đổi vai trò của hai thanh và lặp lại TN. - Tổ chức HS so sánh, đối chiếu quan niệm cũ với kết quả TN.

- Tiến hành thí nghiệm (nhóm). + Kết quả: 1) Ở mọi điểm dọc theo thanh sắt, lực kế chỉ cùng một giá trị. 2) Ở hai đầu thanh NC lực kế chỉ giá trị lớn nhất; ở chính giữa thanh NC lực kế chỉ số 0. - Nhận xét: Lực hút sắt mạnh nhất ở hai đầu thanh NC; chính giữa thanh lực hút sắt bằng không. - Lực hút sắt không phân bố đều trên thanh NC mà...

Tổng hợp các sự kiện thực nghiệm, giải thích, chuẩn hóa kiến thức.

Ghi vở: Lực tương tác giữa sắt và NC mạnh nhất (tập trung) ở hai đầu thanh NC. ở chính giữa thanh lực tương tác giữa chúng bằng 0.

Vận dụng kiến thức: 1) Chỉ có hai thanh sắt và NC hoàn toàn giống nhau. Hãy xác định thanh NC. 2) Hãy làm một la bàn bằng kim khâu, xốp, nước ...

Vận dụng kiến thức trả lời, giải thích, ghi vở 1) Lần lượt đặt một thanh thẳng đứng, thanh kia nằm ngang thành chữ T. Nếu chúng hút nhau thì thanh thẳng đặt thẳng đứng là NC, thanh kia là sắt và ngược lại. 2) ...

Hình 12. Sơ đồ tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức về sự thay đổi độ lớn của lực hút sắt dọc theo thanh NC d. Tiến trình dạy học Bước 1: Tạo tình huống học tập Dựa trên kiến thức, kinh nghiệm và sự hiểu biết về quan niệm có trước của HS. GV tạo tình huống học tập: Người ta sử dụng lực "hút" sắt của NC để 28


giữ một đầu một thanh sắt (Hình 13). Ở vị trí nào trên thanh NC thanh sắt được giữ chặt nhất? Tại sao? HS tiếp nhận nhiệm vụ học tập, suy nghĩ tìm câu trả lời. Hình 13

Bước 2: HS bộc lộ quan niệm có trước. HS: - Suy nghĩ, huy động kiến thức, kinh nghiệm có trước trả lời và giải thích: + Ở mọi điểm trên thanh NC thanh sắt được giữ như nhau. Vì lực hút sắt như nhau ở mọi điểm dọc theo thanh NC... + Thanh sắt được giữ chặt nhất ở chính giữa thanh NC. Vì lực hút sắt của thanh NC sẽ dồn vào đó. + Ở hai đầu thanh NC thanh sắt được giữ chặt nhất. Vì lực hút sắt mạnh nhất ở hai đầu thanh NC. - Lắng nghe, suy nghĩ, so sánh, đối chiếu với kiến thức kinh nghiệm của bản thân để phản biện, bổ sung, hay thỏa hiệp. GV lắng nghe để "phân tích", định hướng, khuyến khích, động viên HS tham gia trả lời để bộc lộ thêm các quan niệm (Em nào có ý kiến khác ý kiến của bạn? Em nào bổ sung ý kiến của bạn?...). Tổ chức HS thảo luận để thống nhất câu trả lời. HS lắng nghe ý kiến của bạn, suy nghĩ, thảo luận và thống nhất câu trả lời. Bước 3: Kiểm nghiệm, thách thức quan niệm có trước. GV tổ chức, định hướng HS nhớ lại kiến thức, huy động kinh nghiệm, kĩ năng để đưa ra phương án thí nghiệm kiểm tra (GV: Làm thế nào để kiểm tra được điều dự đoán trên?). HS: - Suy nghĩ, vận dụng kinh nghiệm, kĩ năng và dựa trên câu hỏi ban đầu đưa ra phương án: 29


+ Đưa thanh sắt và thanh NC lại gần nhau + Cầm thanh sắt đưa dọc từ đầu này sang đầu kia của thanh NC. + Gắn thanh sắt vào lực kế rồi đưa dọc từ đầu này sang đầu kia của thanh NC. - Lắng nghe ý kiến của bạn, đối chiếu với kinh nghiệm của bản thân để trao đổi, bổ sung hay thỏa thuận. GV phân tích, thống nhất phương án thí nghiệm: - Giữ thanh sắt cố định theo phương ngang. Treo thanh NC vào một đầu lực kế rồi đưa lại gần thanh sắt ở những vị trí khác nhau sao cho đầu trên của lực kế luôn cách thanh sắt một khoảng không đổi nhờ một thanh ngang (hình 14). - Lặp lại thí nghiệm nhưng thay đổi vai trò của hai thanh. HS (nhóm): - Bố trí và tiến hành thí nghiệm kiểm tra. - Quan sát, ghi chép hiện tượng xảy ra. - Kết quả: Lực hút sắt mạnh nhất ở hai đầu

Hình 14

thanh NC; ở chính giữa thanh lực hút sắt rất yếu (coi bằng 0). GV yêu cầu các nhóm báo cáo, thảo luận giữa các nhóm về kết quả quan sát được từ thí nghiệm và rút ra nhận xét chung. HS: Đại diện nhóm báo cáo; Các nhóm, các HS khác lắng nghe, đối chiếu để thảo luận và thống nhất nhận xét chung. GV tổ chức cho HS đối chiếu quan niệm cũ với kết quả thí nghiệm (GV: Em có nhận xét gì về ý kiến cho rằng lực "hút" sắt của NC như nhau tại mọi điểm dọc theo thanh NC?). HS suy nghĩ, so sánh, đối chiếu ý kiến nêu trên với kết quả thí nghiệm từ đó thấy: Ý kiến nêu trên không đúng. Bước 4: Chuẩn hóa kiến thức GV tóm tắt các kết quả thu được từ thí nghiệm và kết luận: Lực tương 30


tác giữa thanh NC và thanh sắt (lực hút sắt của thanh NC) mạnh nhất ở hai đầu thanh NC, ở chính giữa thanh NC lực hút sắt coi như bằng 0 HS kết luận. Bước 5: Vận dụng kiến thức. GV: Có hai thanh NC và sắt hoàn toàn giống nhau. Hãy xác định thanh NC trong hai trường hợp: - Được dùng thêm vật thứ ba. - Không được dùng thêm bất cứ vật nào. HS vận dụng kiến thức giải bài toán và đưa ra phương án chữ "T" để xác định thanh NC. Hướng dẫn về nhà: Dùng kim khâu, xốp, nước và NC... làm một la bàn. Như vậy, kết thúc bước 5 HS phải xây dựng được kiến thức về sự thay đổi độ lớn của lực tương tác giữa sắt và một thanh NC dọc theo thanh NC. 5. Kết quả đạt được - Giúp HS say mê, hứng thú trong việc tìm hiểu các hiện tượng, quy luật, bài toán Vật lí, từ đó rút ra kết luận chính xác và tự tin với kiến thức mình đạt được, tránh được sự áp đặt từ phía GV. - SK áp dụng được rộng rãi cho các đối tượng HS đại trà, khá giỏi, đội tuyển HS (phần thi thực nghiệm của HS giỏi). - Thúc đẩy quá trình nghiên cứu ứng dụng những SK hay vào quá trình giảng dạy của GV. - Riêng bản thân tôi nhiều năm ôn thi các đội tuyển HS giỏi môn Vật lí các cấp, ôn thi cho HS vào THPT đã đạt được kết quả cao, góp phần vào thành tích của nhà trường nói riêng và phòng giáo dục nói chung. - Diễn biến của lớp học kiến tạo và kết quả của các bài kiểm tra cho thấy: + HS đã bỏ được một số quan niệm sai về NC như: NC có hai cực âm dương; khi cắt đôi một NC ta được hai NC mới chỉ có một từ cực; từ tính phân bố đều dọc theo thanh NC. HS đã phát biểu đúng: NC có hai từ cực là từ cực Bắc và từ cực Nam thay vì chỉ nói: NC có hai cực Bắc, Nam. HS đã vận dụng được 31


kiến thức về NC để giải thích và xác định cực từ của NC Trái Đất... HS đã vận dụng kiến thức đưa ra phương án chữ T hay phương án dùng dây treo để xác định trong hai thanh, thanh nào là thanh sắt, thanh nào là NC. + HS đã khắc phục được quan niệm sai về cách hút sắt của NC và xây dựng được kiến thức về từ trường. HS đã vận dụng được kiến thức về NC và từ trường để đưa ra phương án nhận biết từ trường bằng kim NC. + HS đã biết vận dụng các kiến thức về đèn LED, về NC điện... để xây dựng kiến thức về dòng điện xoay chiều; nhận ra sự khác nhau giữa dòng điện xoay chiều và một chiều; nhận ra có sự luân phiên đổi chiều của chiều dòng điện xoay chiều. + Phân tích kết quả 2 bài khảo sát. Mỗi bài gồm 40 câu hỏi trắc nghiệm quét gần như toàn bộ kiến thức của chương đang học cho thấy hiệu quả rõ rệt. + Năm học 2016 – 2017: Khi đang nghiên cứu về lý thuyết tôi đã khảo sát đầu vào. Kết quả đầu vào như sau (Tháng 12 năm 2016): Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (37HS)

5

13,5

10

27,0

16

43,2

06

16,3

0

0

Kết quả đầu ra: Tháng 2 năm 2017. (Áp dụng chưa triệt để do tôi đang trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm) Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (37HS)

8

21,6

12

32,4

15

40,6

02

5,4

0

0

Kết quả cho thấy đã có sự tiến bộ của HS. + Năm học 2017 – 2018: Sau khi nghiên cứu đầy đủ lý thuyết và trước khi áp dụng triệt để tôi cũng khảo sát chất lượng đầu vào như sau: Kết quả đầu vào: Tháng 12 năm 2017 Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (45HS)

6

13,3

12

26,7

20 32

44,4

7

15,6

0

0


Kết quả trên cho thấy giữa 2 năm học lực học của HS có sự chênh lệch không đáng kể, có thể nói là tương đương nhau. Tuy nhiên sau khi áp dụng triệt để SK vào chương II và khảo sát đầu ra, tôi thu được kết quả đáng mừng như sau: Kết quả đầu ra: Tháng 2 năm 2018 (Áp dụng triệt để) Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp SL % SL % SL % SL % SL % 9 (45HS)

13

28,9

19

42,2

12

26,7

1

2,2

0

0

Kết quả trên thấy rõ ràng tỉ lệ HS khá giỏi tăng cao (tăng 31,1%). Dù kiến thức của chương II khá nhiều lý thuyết và các hiện tượng đều khá trừu tượng, nhưng đã đem lại kết quả rất đáng khích lệ. Đến năm học 2018 – 2019. Với PPDH tích cực như vậy, tôi vẫn tiến hành áp dụng cho HS và kết quả tổng kết cuối kì I môn Vật lí của HS lớp 9 như sau: Giỏi: 47,4%. Yếu: 0%

Khá: 36,8%.

Trung bình:15,8%

Kém: 0%

Kết quả trên là sự nỗ lực của cả thầy và trò trong quá trình giảng dạy và học tập. Và phản ánh rõ nét tính khả thi cũng như hiệu quả của SK mang lại. 6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng - Để SK được nhân rộng đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư của nhà trường về tinh thần, vật chất, thời gian đối với GV dạy Vật lí. - Phòng giáo dục tổ chức những buổi chuyên đề, tập huấn để các GV có thể trao đổi học hỏi những kinh nghiệm trong quá trình dạy học và giáo dục. - Chia sẻ, áp dụng những mô hình SK hiệu quả trong phòng giáo dục và các phòng giáo dục khác.

33


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận Để nâng cao chất lượng của việc dạy và học môn Vật lí ở trường THCS, thì việc tổ chức cho HS quan sát, làm thí nghiệm là rất cần thiết và có vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng dạy và học của môn Vật lí. Làm những thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, giúp HS nắm vững, đào sâu, mở rộng kiến thức, từ đó nâng cao chất lượng học tập môn Vật lí của HS. Qua tìm hiểu tình hình thực tế ở các tiết có thí nghiệm cho thấy HS rất ham thích quan sát và thực hành thí nghiệm, cũng chính vì sự ham thích đó mà một số em hay tò mò sử dụng các dụng cụ thí nghiệm để làm những công việc khác ngoài mục đích yêu cầu của bài thí nghiệm, do đó cần phải quan tâm đến việc làm thí nghiệm của HS ở các nhóm nhất là cho HS biết chưa rõ được mục đích của thí nghiệm. GV muốn dạy được tốt, nâng cao chất lượng học tập của HS thì trường phải có phòng thí nghiệm, thực hành, có trang thiết bị hiện đại. GV phải làm thí nghiệm thử đi thử lại nhiều lần, kỹ càng trước khi lên lớp. Muốn vậy GV phải không ngừng học hỏi nâng cao kiến thức, kĩ năng, thao tác thực hành vững vàng, đặc biệt là thao tác sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin… để nâng cao chất lượng giảng dạy của mình. GV cần tìm hiểu sâu các thí nghiệm SGK và cần phát triển, làm mới những thí nghiệm đó với tiêu chí đơn giản, rẻ tiền, hiệu quả. Mạnh hơn nữa GV có thể giao cho các em thiết kế những mô hình thí nghiệm đơn giản, đó cũng sẽ là phương pháp giáo dục trong tương lai. Sau một thời gian kiên trì, nghiêm túc và nỗ lực thực hiện với sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành SK “Dạy học theo hướng kiến tạo” liên quan đến kiến thức chương Điện từ học. Tôi mong muốn được học hỏi, trao đổi thêm cùng tất cả đồng nghiệp và bạn đọc quan tâm vấn đề này. Đồng thời, tôi cũng hi vọng SK này sẽ đóng góp một phần nhỏ trong việc bổ sung hiểu 34


biết, làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy cũng như học Vật lí, từ đó nâng cao được chất lượng dạy và học môn Vật lí trong nhà trường. 2. Khuyến nghị Để đáp ứng được mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt là với môn Vật lí tôi có một số khuyến nghị sau: - Để các thí nghiệm vật lí đạt hiệu quả cao chúng ta cần có một phòng học bộ môn thích hợp theo tiêu chuẩn quy định: Để đảm bảo cho HS có thể quan sát và làm tốt các thí nghiệm thì ghế ngồi của HS cần thiết kế loại ghế xoay. - Cần tổ chức cho GV dạy vật lí, đồng chí phụ trách thiết bị được học bồi dưỡng sử dụng thiết bị vật lí ngay từ đầu năm học. - Khi dạy học đặc biệt với môn Vật lí chúng ta không tránh khỏi các thí nghiệm khó vậy Phòng giáo dục cần tổ chức lớp hội thảo về các thí nghiệm này để các GV cùng tháo gỡ. Bên cạnh đó cũng cần trang bị cho GV các tài liệu hướng dẫn các thí nghiệm. - Các đồ dùng dạy học khi phát cho các trường cần sát với sách giáo khoa hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho GV chuẩn bị và làm các thí nghiệm. - Vì các giờ dạy vật lí thường có nhiều đồ dùng nên cần sắp xếp thời khóa biểu cho gọn. - Ngành giáo dục, các cấp quản lý giáo dục nên tạo điều kiện và khuyến khích GV nghiên cứu sử dụng hiệu quả và thiết kế những thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền phục vụ cho dạy học. Tạo điều kiện về thời gian và vật chất, khuyến khích GV dạy học theo hướng tích cực hóa các hoạt động của HS. Trong điều kiện hiện tại, khuyến khích GV lựa chọn những kiến thức mà HS có những quan niệm sai lầm có tính cố hữu, khó thay đổi để tổ chức dạy học theo hình thức kiến tạo. - Phong trào thi viết SK trong các trường học là một phong trào có tác dụng tốt, rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong xu thế thời đại đang rất cần sự sáng tạo, chủ động, tích cực trên mọi lĩnh vực công tác hiện nay. Vì vậy, tôi mạnh 35


dạn và mong muốn Phòng giáo dục đào tạo và cấp trên duy trì phong trào này, khích lệ động viên các tập thể, cá nhân có những SK hữu hiệu, tích cực; có hình thức phổ biến, trao đổi về các sáng kiến hay tới đông đảo GV. - Đây là chủ đề rất rộng, các kiến thức có sự liên quan logic theo nhiều hướng khác nhau, trên đây cũng chỉ là ý kiến của cá nhân tôi. Vì vậy, tuy đã cố gắng nhưng do kinh nghiệm cá nhân còn hạn chế nên nội dung của SK này chắc chắn không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết. Tôi rất mong được sự trao đổi, chỉ bảo và đóng góp ý kiến bổ sung của các độc giả để SK được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn.

36


TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS (Bộ Giáo dục và đào tạo) 2.Vật lí lớp 9 (NXBGD) 3. Vật lí lớp 9 – Sách giáo viên (NXBGD) 4. Giáo trình tin học (NXB Đại học sư phạm Hà Nội - 2003) 5. Hướng dẫn thiết kế bài giảng trên máy vi tính (NXBGD - 2006) 6. Công nghệ thông tin với việc đổi mới phương pháp dạy học (Tiến sĩ Nguyễn Đức Sĩ - Phó Vụ trưởng vụ Giáo dục Trung học) 7. http://www.edu.net.vn (Website của Bộ GD - ĐT) 8. http://www.giaovien.net.vn (Website hỗ trợ giáo viên) 9. http://www.thuvienvatly.com (Website về vật lí)

37


PHỤ LỤC MỘT SỐ GIÁO ÁN CHƯƠNG ĐIỆN TỪ HỌC BÀI 26 : ỨNG DỤNG CỦA NAM CHÂM I. Mục tiêu bài học 1. Kiến thức - Nêu và giải thích được nguyên tắc hoạt động của loa điện - Nêu được tác dụng của nam châm trong rơle điện từ - Kể tên một số ứng dụng của nam châm trong đời sống và trong kỹ thuật 2. Kỹ năng - Phân tích, tổng hợp kiến thức. - Rèn luyện và phát triển kĩ năng thực hành. 3. Thái độ - Yêu thích môn học, có ý thức thập thông tin, khéo léo, cẩn thận. 4. Định hướng phát triển năng lực - Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thực nghiệm, năng lực sáng tạo, hợp tác nhóm: + Phát hiện vấn đề nghiên cứu, đưa ra giả thuyết, dự đoán, thiết kế và thực hiện phương án thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết, dự đoán. Phân tích, xử lí thông tin, số liệu, khái quát hoá rút ra kết luận. + Giải thích được cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của các ứng dụng kĩ thuật liên quan tới loa điện, rơle điện từ. + Đưa ra được mô hình vật chất là những ứng dụng kĩ thuật của các kiến thức liên quan vừa học. II- Chuẩn bị - GV: 1 loa điện, phiếu học tập - Nhóm HS : 1 ống dây

1Ampekế

1 công tắc

1 biến trở 38


1 nguồn điện

5 đoạn dây dẫn

1 giá thí nghiệm

1 bảng điện

1 nam châm chữ U

1 nguồn điện 3 - 6V

III- Tổ chức các hoạt động 1. ổn định lớp (1 phút) 2. Kiểm tra bài cũ (5 phút) Câu 1. Lõi sắt non trong nam châm điện có tác dụng gì? A. Làm cho nam châm được chắc chắn. B. Làm tăng từ trường của ống dây C. Làm nam châm được nhiễm từ vĩnh viễn. D. Không có tác dụng gì. Đáp án: B Câu 2. Có thể làm tăng lực từ của nam châm điện bằng những cách nào? Trả lời: Các cách làm tăng lực từ của nam châm điện: + Tăng cường độ dòng điện chạy qua các vòng dây. + Tăng số vòng của ống dây. + Đặt vấn đề Quan sát hoạt động của mạch điện sau:

Trong một số trường hợp khi có sự cố xảy ra ví dụ như cường độ dòng điện tăng lên quá mức cho phép của động cơ thì nhờ nam châm điện hút miếng ngắt được mạch điện, động cơ ngừng hoạt động. Tại sao nam châm điện lại làm được điều đó, thiết bị đó có tên gọi là gì => Tìm hiểu bài mới. 3. Tiến trình bài học (25 phút) 39


Hoạt động của GV – HS

Kiến thức trọng tâm

Hoạt động 1: Tìm hiểu loa điện I. Loa điện 1. Nguyên tắc hoạt động của loa

HS tìm hiểu thông tin SGK

(?) Loa điện hoạt động dựa trên điện nguyên tắc nào.

a) Thí nghiệm

(?) Quan sát H 26.1

Bố trí

HS nêu dụng cụ

Kết quả: ống dây chuyển động

GV hướng dẫn HS cách mắc thí nghiệm Chú ý quan sát hiện tượng xảy ra với ống dây trong hai trường hợp. HS làm thí nghiệm, trả lời vào phiếu b) Kết luận kết quả thí nghiệm

- Khi có dòng điện: ống dây chuyển

(?) Khi có dòng điện thì có hiện động tượng gì

- Khi dòng điện thay đổi ống dây di

(?) Khi dòng điện thay đổi hiện tượng chuyển gì xảy ra HS nêu kết quả thí nghiệm GV cùng HS kết luận. HS tìm hiểu thông tin SGK

2. Cấu tạo loa điện

(?) Nêu và chỉ ra các bộ phận chính - Các bộ phận chính của loa điện của loa điện

gồm: + ống dây + NC + Màng loa

40


(?) Em hãy cho biết quá trình biến đổi dao động điện thành âm thanh trong + Loa điện biến dao động điện thành loa điện diễn ra như thế nào.

dao động âm thanh

(?) Tóm tắt hoạt động của loa điện. Hoạt động 2: Tìm hiểu rơle điện từ

II. Rơle điện từ 1. Cấu tạo của rơle điện từ

HS quan sát H26.3

- Rơle điện từ là một thiết bị tự động

(?) Em hãy nêu tác dụng của rơle điện đóng ngắt mạch điện, bảo vệ và điều từ

khiển sự làm việc của mạch điện - Bộ phận chủ yếu gồm:

(?) Nêu và chỉ ra cấu tạo của rơle điện + NC điện từ

+ Thanh sắt non 2. Hoạt động của rơle điện từ Vì khi đóng công tắc K, có dòng điện

C1. Tại sao khi đóng công tắc K để trong mạch 1 thì NC điện hút thanh dòng điện chạy trong mạch điện 1 thì sắt và đóng mạch điện 2. Động cơ động cơ M ở mạch điện 2 làm việc?

làm việc

4. Vận dụng – Củng cố (12 phút) III. Vận dụng HS làm câu C3 : -Trong bệnh viện bác sĩ không thể lấy mặt sắt nhỏ li ti ra khỏi mắt bệnh nhân bằng banh hoặc kìm. Khi đó bác sĩ có thể dùng NC. Vì NC có thể hút các vụn sắt ra khỏi mắt. - GV cho HS xem video về tàu điện chạy trên đệm từ => giáo dục HS yêu thích khoa học HS làm C4:

41


Khi dòng điện qua động cơ vượt quá mức cho phép, tác dụng từ của NC điện mạnh lên, thắng lực đàn hồi của lò xo và hút chặt lấy thanh sắt S làm cho mạch điện tự động ngắt điện. Động cơ ngừng làm việc

(Mạch điện được mắc lại)

Củng cố: Cho HS làm câu hỏi trắc nghiệm. Em hãy nêu một số thiết bị có sử dụng NC ? HS nêu, GV cho HS quan sát một số thiết bị có sử dụng NC. Nếu còn thời gian cho HS quan sát một số ứng dụng của NC trong đời sống hàng ngày. 5. Hướng dẫn về nhà (2 phút) - Mô tả lại cấu tạo và hoạt động của loa điện, rơ le điện từ. - Làm các bài tập trong SBT, phần bài tập liên quan đến chuông báo động các em không làm. - Lấy thêm ví dụ, sưu tầm một số tranh ảnh về các thiết bị có sử dụng NC. - Đọc trước bài “Lực điện từ”. Bài 33 - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU I- Mục tiêu bài học 1. Kiến thức: - Nêu được sự phụ thuộc của chiều dòng điện cảm ứng vào sự biến đổi số đường sức từ qua tiết diện S của cuộn dây. - Phát biểu được đặc điểm của dòng điện xoay chiều là dòng điện cảm ứng có chiều luân phiên thay đổi. - Bố trí thí nghiệm tạo ra dòng điện xoay chiều trong cuộn dây dẫn kín theo 2 cách: cho NC quay hoặc cho NC ra xa, lại gần cuộn dây. - Dùng đèn Led để phát hiện sự đổi chiều dòng điện. - Dựa vào quan sát thí nghiệm để rút ra điều kiện chung làm xuất hiện 42


dòng điện cảm ứng 2. Kĩ năng: - Phân tích, tổng hợp kiến thức. - Rèn luyện và phát triển kĩ năng thực hành. 3. Thái độ: Yêu thích môn học, có ý thức thập thông tin, khéo léo, cẩn thận 4. Định hướng phát triển năng lực - Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thực nghiệm, năng lực sáng tạo, hợp tác nhóm: + Phát hiện vấn đề nghiên cứu, đưa ra giả thuyết, dự đoán, thiết kế và thực hiện phương án thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết, dự đoán. Phân tích, xử lí thông tin, số liệu, khái quát hoá rút ra kết luận. + Giải thích được cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của mô hình dụng cụ tạo dòng điện xoay chiều. II- Chuẩn bị - GV: + Máy tính, máy chiếu. + 01 bộ thí nghiệm phát hiện dòng điện xoay chiều gồm cuộn dây dẫn kín có mắc 2 bóng đèn Led song song ngược chiều. + 01 mô hình khung dây quay trong từ trường + Phiếu học tập Số đường sức Làm thí

từ xuyên qua

nghiệm

S biến đổi như thế nào?

Có dòng điện

Đèn

cảm ứng

nào

không?

sáng?

Đưa NC từ ngoài vào trong cuộn dây

43

Chiều dòng điện trong hai trường hợp có gì khác nhau?


Đưa NC từ trong ra ngoài cuộn dây - Nhóm HS: + 01 bộ thí nghiệm phát hiện dòng điện xoay chiều III. Tổ chức các hoạt động 1. Ổn định lớp (1 phút) 2. Kiểm tra bài cũ (5 phút) HS 1: Em hãy nêu điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng? Đáp án: Điều kiện để xuất hiện dòng điện cảm ứng trong cuộn dây dẫn kín là số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây đó biến thiên. HS 2: Em hãy nêu sự thay đổi số đường sức từ qua tiết diện của cuộn dây khi cho NC ra xa, lại gần cuộn dây dẫn kín? Đáp án: - Khi NC lại gần cuộn dây, số đường sức từ qua tiết diện S của cuộn dây tăng lên. - Khi NC ra xa cuộn dây, số đường sức từ qua tiết diện S của cuộn dây giảm đi. Đặt vấn đề Ở bài học trước các em đã biết khi đưa NC lại gần hoặc ra xa cuộn dây dẫn kín, trong cuộn dây sẽ xuất hiện dòng điện cảm ứng. Dòng điện đó có đặc điểm gì và có những cách nào để tạo ra dòng điện đó, chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay.

44


3-Tiến trình bài học (25 phút) Hoạt động của GV – HS

Kiến thức trọng tâm I- Chiều của dòng điện cảm ứng

- HS tìm hiểu nội dung thí nghiệm

1- Thí nghiệm

- HS làm thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của GV ⇒ trả lời vào phiếu học C1: Đèn sáng trong trường hợp : tập.

+ Đưa NC từ ngoài vào trong cuộn dây số đường sức từ qua tiết diện S

- HS các nhóm sau khi làm thí cuộn dây tăng một đèn sáng nghiệm HS thảo luận, bổ sung + Kéo NC ra xa số đường sức từ trả lời C1?

qua S cuộn dây sẽ giảm đèn còn lại sáng.

(?) Chiều của dòng điện sẽ như thế 2- Kết luận nào khi số đường sức từ qua tiết diện Khi số đường sức từ xuyên qua tiết cuộn dây đang tăng chuyển sang diện S của cuộn dây tăng thì dòng điện giảm?

cảm ứng trong cuộn dây có chiều ngư-

Kết luận

ợc với chiều dòng điện cảm ứng khi số đường sức từ xuyên qua tiết diện đó

GV: Dòng điện tạo ra trong cuộn dây giảm. khi ta đưa liên tục NC ra xa, lại gần cuộn dây gọi là dòng điện xoay chiều. Vậy thế nào là dòng điện xoay 3- Dòng điện xoay chiều chiều? - HS trả lời

Dòng điện luân phiên đổi chiều gọi là dòng điện xoay chiều

- GV dùng thí nghiệm với 2 đèn Led mắc song song ngược chiều vào dòng điện một chiều, xoay chiều để 45


HS phát hiện, khẳng định về chiều của dòng điện xoay chiều. Phương án tạo ra dòng điện xoay II- Cách tạo ra dòng điện xoay chiều chiều?

1- Cho NC quay trước cuộn dây dẫn

Tổ chức làm thí nghiệm –Hình 33.2.

kín

Thảo luận trả lời C2?

+Thí nghiệm (H33.2)

HS trả lời:

C2: Khi một cực của NC lại gần cuộn

+ Bố trí thí nghiệm

dây thì số đường sức từ xuyên qua tiết

+ Phân tích, dự đoán

diện S của cuộn dây tăng.

+ Làm thí nghiệm kiểm tra.

Khi một cực của NC ra xa thì số

HS, GV nhận xét bổ sung

đường sức từ qua tiết diện S của cuộn dây giảm NC quay liên tục thì số đường sức từ luân phiên thay đổi -> dòng điện xuất hiện là dòng điện xoay chiều. 2- Cho cuộn dây quay quanh từ trường C3: Khi cuộn dây 1 quay từ vị trí (1) vị trí (2) thì số đường sức từ xuyên

Đọc thông tin.

qua tiết diện S tăng, quay tiếp thì số

+ Phân tích, dự đoán

đường sức từ xuyên qua tiết diện S

Thảo luận làm C3?

của cuộn dây giảm, rồi lại tăng cứ như

HS trả lời

vậy xuất hiện dòng điện xoay chiều.

46


Quan sát mô hình do GV thực hiện.

(Mô hình khung dây quay trong từ trường – Đồ dùng tự làm )

(?) Nêu các phương án làm xuất hiện dòng điện cảm ứng xoay chiều. (?) Các cách đó có chung nguyên tắc 3- Kết luận (SGK) nào? (?) Có thể đề xuất các mô hình khác tạo ra dòng điện xoay chiều. Kết luận? 4- Củng cố - Vận dụng (12 phút) Thảo luận trả lời C4? + Khi khung quay nửa vòng tròn thì số đường sức từ qua tiết diện S của khung tăng 1 trong hai đèn sáng + Nửa vòng tròn sau thì số đường sức từ giảm dòng điện đổi chiều đèn còn lại sáng - GV củng cố lại cho HS bằng các câu hỏi ngắn: ? Dòng điện xoay chiều là gì? ? Điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng xoay chiều? ? Các cách tạo ra dòng điện xoay chiều? ? So sánh về chiều của dòng điện một chiều và xoay chiều? ? Lấy ví dụ về nguồn điện một chiều, nguồn điện xoay chiều Tích hợp: GV giáo dục HS ý thức bảo vệ môi trường. Nếu còn thời gian cho HS làm một số câu hỏi trắc nghiệm trong SBT. ? Nêu một số ứng dụng của dòng điện xoay chiều? - Còn thời gian cho HS tìm hiểu phần “Có thể em chưa biết” * HS học ghi nhớ (SGK)

47


5- Hướng dẫn tự học ở nhà (2 phút) - Học thuộc phần ghi nhớ - Xem lại các câu hỏi, trả lời trong bài học - Đọc “Có thể em chưa biết “ - Làm bài tập trong SBT.

48


ĐỀ KHẢO SÁT CHƯƠNG I Môn Vật lí 9 Khảo sát đầu vào Câu 1: Khi đặt vào hai đầu dây dẫn một hiệu điện thế 6V thì cường độ dòng điện qua nó là 0,5A.Nếu hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây dẫn là 24V thì cường độ dòng điện qua nó là: A. 1,5A.

B. 2A.

C. 3A.

D. 1A.

Câu 2: Đặt một hiệu điện thế U = 12V vào hai đầu một điện trở. Cường độ dòng điện là 2A. Nếu tăng hiệu điện thế lên 1,5 lần thì cường độ dòng điện là A. 3A.

B. 1A.

C. 0,5A.

D. 0,25A.

Câu 3: Khi đặt hiệu điện thế 4,5V vào hai đầu một dây dẫn thì dòng điện chạy qua dây này có cường độ 0,3A. Nếu tăng cho hiệu điện thế này thêm 3V nữa thì dòng điện chạy qua dây dẫn có cường độ là: A. 0,2A.

B. 0,5A.

C. 0,9A.

D. 0,6A.

Câu 4: Cường độ dòng điện chạy qua điện trở R = 6Ω là 0,6A. Khi đó hiệu điện thế giữa hai đầu điện trở là: A. 3,6V.

B. 36V.

C. 0,1V.

D. 10V.

Câu 5: Mắc một dây dẫn có điện trở R = 12Ω vào hiệu điện thế 3V thì cường độ dòng điện qua nó là A. 36A.

B. 4A.

C.2,5A.

D. 0,25A.

Câu 6: Một dây dẫn khi mắc vào hiệu điện thế 6V thì cường độ dòng điện qua dây dẫn là 0,5A. Dây dẫn ấy có điện trở là A. 3Ω.

B. 12Ω.

C.0,33Ω.

D. 1,2Ω.

Câu 7: Hai điện trở R1 = 8Ω , R2 = 2Ω mắc song song với nhau vào hiệu điện thế U = 3,2V . Cường độ dòng điện chạy qua mạch chính là : A. 1A

B. 1,5A

C. 2,0A

D. 2,5A

Câu 8: Hai điện trở R1 , R2 mắc song song với nhau . Biết R1 = 6Ω điện trở tương đương của mạch là Rtđ = 3Ω . Thì R2 là : A. R2 = 2 Ω

B. R2 = 3,5Ω

C. R2 = 4Ω

D. R2 = 6Ω

Câu 9: Mắc ba điện trở R1 = 2Ω , R2 = 3Ω , R3 = 6Ω song song với nhau vào 49


mạch điện U = 6V . Cường độ dòng điện qua mạch chính là A . 12A

B. 6A

C. 3A

D. 1,8A

Câu 10: Khi mắc R1 và R2 song song với nhau vào một hiệu điện thế U . Cường độ dòng điện chạy qua các mạch rẽ : I1 = 0,5 A , I2 = 0,5A . Thì cường độ dòng điện chạy qua mạch chính là : A . 1,5 A

B. 1A

C. 0,8A

D. 0,5A

Câu 11: Một mạch điện gồm hai điện trở R1 và R2 mắc song song với nhau . Khi mắc vào một hiệu điện thế U thì cường độ dòng điện chạy qua mạch chính là : I = 1,2A và cường độ dòng điện chạy qua R2 là I2 = 0,5A . Cường độ dòng điện chạy qua R1 là : A. I1 = 0,5A

B. I1 = 0,6A

C. I1 = 0,7A

D. I1 = 0,8A

Câu 12: Hai điện trở R1 = 3Ω , R2 = 6Ω mắc song song với nhau , điện trở tương đương của mạch là : A. Rtđ = 2Ω

B. Rtđ = 4Ω

C. Rtđ = 9Ω

D. Rtđ = 6Ω

Câu 13: Hai bóng đèn có ghi : 220V – 25W , 220V – 40W . Để 2 bóng đèn trên hoạt động bình thường ta mắc song song vào nguồn điện : A. 220V

B. 110V

C. 40V

D. 25V

Câu 14: Hai điện trở R1 = 3Ω , R2 = 6Ω mắc nối tiếp với nhau , điện trở tương đương của mạch là : A. Rtđ = 2Ω

B. Rtđ = 4Ω

C. Rtđ = 9Ω

D. Rtđ = 6Ω

Câu 15: Một dây dẫn có chiều dài l và điện trở R. Nếu nối 4 dây dẫn trên với nhau thì dây mới có điện trở R’ là : A. R’ = 4R

B. R’=

R 4

C. R’= R+4

D. R’ = R – 4 .

Câu 16: Khi đặt một hiệu điện thế 12V vào hai đầu một cuộn dây dẫn thì dòng điện qua nó có cường độ 1,5A. Chiều dài của dây dẫn dùng để quấn cuộn dây này là: (Biết rằng loại dây dẫn này nếu dài 6m có điện trở là 2 Ω) A. l = 24m

B. l = 18m .

C. l = 12m .

D. l = 8m .

Câu 17: Trên một biến trở có ghi 50 Ω - 2,5 A . Hiệu điện thế lớn nhất được phép đặt lên hai đầu dây cố định của biến trở là: 50


A. U = 125 V .

B. U = 50,5V .

C.U= 20V .

D. U= 47,5V .

Câu 18: Cho hai điện trở R1= 12Ω và R2 = 18Ω được mắc nối tiếp nhau. Điện trở tương đương R12 của đoạn mạch đó có thể nhận giá trị nào trong các giá trị sau đây: A. R12 = 12Ω

B. R12 = 18Ω

C. R12 = 6Ω

D. R12 = 30Ω

Câu 19: Cho ba điện trở R1 = R2 = R3 = R mắc nối tiếp nhau. Điện trở tương đương Rtđ của đoạn mạch đó có thể nhận giá trị nào trong các giá trị sau đây: A. Rtđ = R

B. Rtđ = 2R

C. Rtđ = 3R

D. Rtđ =

R 3

Câu 20: Hai điện trở R1= 5Ω và R2=10Ω mắc nối tiếp. Cường độ dòng điện qua điện trở R1 là 4A. Thông tin nào sau đây là sai? A. Điện trở tương đương của cả mạch là 15Ω. B. Cường độ dòng điện qua điện trở R2 là 8A. C. Hiệu điện thế hai đầu đoạn mạch là 60V. D. Hiệu điện thế hai đầu điện trở R1 là 20V. Câu 21: Cho hai điện trở R1= 5Ω và R2=10Ω được mắc nối tiếp nhau. Mắc nối tiếp thêm R3=10Ω vào đoạn mạch trên, thì điện trở tương đương của cả đoạn mạch là bao nhiêu? Chọn kết quả đúng trong các kết quả sau: A. 5Ω

B. 10Ω

C. 15Ω

D. 25Ω

Câu 22: Cho dòng điện chạy qua hai điện trở R1 và R2 = 1,5R1 được mắc nối tiếp nhau. Hiệu điện thế giữa hai đầu điện trở R1 là 3V thì hiệu điện thế giữa hai đầu điện trở R2 là A. 2V.

B. 3V.

C. 4,5V.

D. 7,5V

Câu 23: Điện trở R1= 10Ω chịu được hiệu điện thế lớn nhất đặt vào hai đầu của nó là U1= 6V. Điện trở R2= 5Ω chịu được hiệu điện thế lớn nhất đặt vào hai đầu của nó là U2= 4V. Đoạn mạch gồm R1 và R2 mắc nối tiếp chịu được hiệu điện thế lớn nhất đặt vào hai đầu của đoạn mạch này là: A. 10V.

B. 12V.

C. 9V.

D. 8V

Câu 24: Điện trở R1= 30Ω chịu được dòng điện lớn nhất là 2A và điện trở 51


R2= 10Ω chịu được dòng điện lớn nhất là 1A. Có thể mắc nối tiếp hai điện trở này vào hiệu điện thế nào dưới đây? A. 40V.

B. 70V.

C. 80V.

D. 120V

Câu 25: Một bếp điện khi hoạt động bình thường có điện trở R=80Ω và cường độ dòng điện qua bếp khi đó là I = 2,5A. Nhiệt lượng mà bếp tỏa ra trong 1giây là: A. 200J.

B. 300J.

C. 400J.

D. 500J.

Câu 26: Một dây dẫn có điện trở 176Ω được mắc vào nguồn điện có hiệu điện thế U=220V. Nhiệt lượng tỏa ra trên dây dẫn đó trong 15 phút là: A. 247 5000J.

B. 59 400calo

C. 59 400J.

D. A và B đúng

Câu 27: Một bếp điện có hiệu điện thế định mức U = 220V. Nếu sử dụng bếp ở hiệu điện thế U’ = 110V và sử dụng trong cùng một thời gian thì nhiệt lượng tỏa ra của bếp sẽ: A. Tăng lên 2 lần.

B. Tăng lên 4 lần .

C. Giảm đi 2 lần.

D. Giảm đi 4 lần.

Câu 28: Trên một bóng đèn có ghi 110V-55W . Điện trở của nó là: A. 0,5 Ω .

B. 27,5Ω .

C. 2Ω.

D. 220Ω.

Câu 29: Một bàn là được sử dụng ở hiệu điện thế định mức 220V trong 10 phút thì tiêu thụ một lượng điện năng là 660KJ. Cường độ dòng điện qua bàn là là: A. 0,5 A

B. 0,3A

C. 3A

D. 5A

Câu 30: Một bóng đèn loại 220V – 100W và một bếp điện loại 220V – 1000W được sử dụng ở hiệu điện thế định mức, mỗi ngày trung bình đèn sử dụng 5 giờ, bếp sử dụng 2 giờ. Giá 1 KWh điện 700 đồng. Tính tiền điện phải trả của 2 thiết bị trên trong 30 ngày? A. 52.500 đồng

B. 115.500 đồng

C. 46.200 đồng

Câu 31:

52

D. 161.700 đồng


Cho mạch điện như hình vẽ. R2 = 10 Ω , UMN =30V. - Khi K1 đóng , K2 ngắt ampekế chỉ 1A. - Khi K1 ngắt , K2 đóng ampekế chỉ 2A. Giá trị điện trở R1, R3 là: A. R 1 = 15 Ω , R 2 = 30 Ω

B. R 1 = 30 Ω , R 2 = 15 Ω

C. R 1 = 15 Ω , R 2 = 15 Ω

D. R 1 = 30 Ω , R 2 = 30 Ω

Câu 32: Cho mạch điện như hình vẽ. Trong đó R1= R2 = 4 Ω , hiệu điện thế hai đầu A, B là UAB = 6,4V. Ampe kế chỉ 1A. Bỏ qua

R2 A

điện trở của dây dẫn và của ampe kế;

R1

E

C

A

V

điện trở của vôn kế vô cùng lớn.

R3

Số chỉ vôn kế và giá trị điện trở R3 là: A. 2,4 V; 3 Ω

B. 1,2 V; 3 Ω

C. 1,2 V; 6 Ω

D. 2,4 V; 6 Ω

Câu 33: Một bếp điện có ghi 220V- 800W được sử dụng ở hiệu điện thế 220V, dùng để đun sôi 2 lít nước mất 17,5 phút. Biết hiệu suất của bếp là H= 80%, khối lượng riêng của nước là D = 1000 kg/m3, nhiệt dung riêng của nước là c= 4200J/kg.K. Nhiệt độ ban đầu của nước là: A. 20 0 C

B. 40 0 C

C. 25 0 C

D. 30

0

C

Câu 34: Người ta dùng dây nicrom có điện trở suất 1,1.10-6Ωm để làm dây nung cho một bếp điện. Điện trở của dây nung này ở nhiệt độ bình thường có điện trở 4.5Ω và có chiều dài tổng cộng là 0.8m. Đường kính tiết diện của dây là: A. 0,5.10-3 m

B. 0,5m

C. 0,25.10-3 m

Câu 35:

53

D. 2,5.10-3 m

B


Cho mạch điện như hình vẽ. R1= 3Ω;

R1 C

R2 = 9Ω; R3 = 6Ω.

+ A

R2

A

R3

B

Bỏ qua điện trở của ampe kế và các dây nối. a. Tính điện trở tương đương của mạch AB. b. Nối A, B với một nguồn điện U không đổi thì ampe kế chỉ giá trị 3A. Tính hiệu điện thế UAB và hiệu điện thế giữa hai điểm C, B. A. 12 V

B. 9 V

C. 6V

D. 18 V

Câu 36: Một bóng đèn khi sáng bình thường có điện trở là R1 = 7,5 Ω và cường độ dòng điện

U

chạy qua khi đó I = 0,6A. Bóng đèn được mắc nối tiếp với biến trở và chúng được mắc

Đ

C A

B

vào hiệu điện thế U = 12 V. Để đèn sáng bình thường phải điều chỉnh con chạy C để RAC có giá trị là: A. 12,5 Ω

B. 20 Ω

C. 7,5 Ω

D. 27,5 Ω

Câu 37: Người ta chọn một số điện trở loại 2Ω và 4Ω để ghép nối tiếp thành đoạn mạch có điện trở tổng cộng 16Ω. Trong các phương án sau đây, phương án nào là sai? A. Chỉ dùng 8 điện trở loại 2Ω. B. Chỉ dùng 4 điện trở loại 4Ω. C. Dùng 1 điện trở 4Ω và 6 điện trở 2Ω. D. Dùng 2 điện trở 4Ω và 2 điện trở 2Ω. Câu 38: Hai dây dẫn đồng chất được mắc nối tiếp, một dây có chiều dài l1= 2m, tiết 54


diện S1= 0,5mm². Dây kia có chiều dài l2= 1m, tiết diện S2= 1mm². Mối quan hệ của nhiệt lượng tỏa ra trên mỗi dây dẫn được viết như sau: A. Q1 = Q2.

B. 4Q1 = Q2.

C. Q1 = 4Q2.

D. Q1 = 2Q2.

Câu 39: Một biến trở con chạy có điện trở lớn nhất là 50 Ω . Dây điện trở của biến trở là dây hợp kim nicrom có tiết diện 0,11mm2 và được quấn đều quanh một lõi sứ tròn đường kính 2,5cm. Tính số vòng dây của biến trở này. Biết điện trở suất của dây nicrom là: 1,10.10-6 Ωm . A. 63 vòng

B. 64 vòng

C. 5 vòng

D. 50 vòng

Câu 40: Cho mạch điện Biến trở có ghi (20 Ω - 1 A)

R

M

Khi con chạy C ở vị trí A thì vôn kế chỉ 12 V

C

N

A

V

B

khi con chạy C ở vị trí B thì vôn kế chỉ 7,2 V Giá trị điện trở R là: B. 20 Ω

A. 30 Ω

C. 10 Ω

D. 50 Ω

ĐÁP ÁN 1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

B

A

B

A

D

B

C

D

B

B

C

A

A

C

A

A

A

C

C

B

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

32

33

34

35

36

37

38

39

40

D

C

C

A

D

B

D

D

D

A

A

D

A

A

B

A

D

C

B

A

55


ĐỀ KHẢO SÁT CHƯƠNG II Môn Vật lí 9 Khảo sát đầu ra Câu 1: Đặt một kim nam châm gần một dây dẫn có dòng diện chạy qua, kim nam châm bị quay đi một góc nào đó là do dòng điện đã tác dụng lên kim nam châm: A. Lực hấp dẫn

B. Lực điện từ

C. Lực từ

D. Trọng lực

Câu 2: Từ trường không tồn tại ở đâu: A. Xung quanh nam châm. B. Xung quanh dòng điện. C. Xung quanh trái đất. D. Xung quanh điện tích đứng yên. Câu 3: Người ta dùng dụng cụ nào để nhận biết từ trường: A. Dùng Ampe kế. B. Dùng Vôn kế. C. Dùng kim nam châm có trục quay. D. Dùng áp kế. Câu 4: Muốn cho một cái đinh thép trở thành một nam châm, ta làm như sau: A. Đặt một đầu đinh vào một cực của nam châm. B. Hơ đinh trên lửa. C. Dùng len cọ xát mạnh nhiều lần vào đinh. D. Lấy búa đập mạnh vào đầu đinh. Câu 5: Theo quy tắc bàn tay trái để tìm chiều của lực điện từ tác dụng lên một dòng điện thẳng đặt trong từ trường thì ngón tay giữa hướng theo: A. Chiều của đường sức từ. B. Chiều của lực điện từ. C. Chiều của dòng điện. D. Không hướng theo hướng nào trong ba hướng trên. Câu 6: Trong một máy phát điện xoay chiều bắt buộc phải có các bộ phận 56


chính bố trí như sau: A. Nam châm vĩnh cửu và cuộn dây dẫn nối hai cực nam châm. B. Một nam châm có thể quay quanh một trục vuông góc với trục của cuộn dây dẫn. C. Nam châm điện và dây dẫn nối hai cực của nam châm điện. D. Một cuộn dây dẫn kín có thể quay quanh trục của nó trước một nam châm. Câu 7: Nếu tăng hiệu điện thế ở hai đầu đường dây tải điện lên 100 lần thì công suất hao phí vì tỏa nhiệt trên đường dây sẽ: A. tăng lên 100 lần. B. Giảm đi 100 lần. C. tăng lên 200 lần. D. giảm đi 10000 lần. Câu 8: Dùng ampe kế có kí hiệu AC hay (∼) ta có thể đo được: A. Giá trị cực đại của cường độ dòng điện xoay chiều B. giá trị hiệu dụng của cường độ dòng điện xoay chiều. C. giá trị không đổi của cường độ dòng điện xoay chiều. D. giá trị nhỏ nhất của dòng điện một chiều. Câu 9: Từ trường tác dụng lực lên vật nào sau đây đặt trong nó: A. Quả cầu bằng niken. B. Quả cầu bằng đồng. C. Quả cầu bằng gỗ. D. Quả cầu bằng kẽm. Câu 10: Khi nói về động cơ điện một chiều có các câu nói sau đây hãy chọn câu nói đúng. Động cơ điện một chiều là một thiết bị: A. có hai bộ phận chính là nam châm điện và khung dây dẫn. B. hoạt động dựa vào tác dụng từ lên khung dây dẫn có dòng điện. C. biến điện năng thành cơ năng. D. Cả ba câu A, B ,C đều đúng. 57


Câu 11: Dòng điện nào là dòng điện xoay chiều trong các trường hợp sau: A. dòng điện chạy qua các thiết bị điện gia đình. B.Dòng điện chạy qua bình điện phân. C. Dòng điện chạy qua động cơ điện một chiều. D. Dòng điện chạy qua bóng đèn trong đèn pin. Câu 12: Khi cắt đôi một thanh nam châm. A. Ta được 2 nam châm mới chỉ có 1 từ cực Nam B. Ta được 2 nam châm mới chỉ có 1 từ cực Bắc C. Ta được 2 nam châm mới có 2 từ cực D. Ta không được thanh nam châm nào Câu 13: Hãy chọn câu trả lời sai Điều kiện xuất hiện dòng điện cảm ứng trong cuộn dây dẫn kín là: A. Số đường sức từ tiết diện S của cuộn dây kín thay đổi. B. Từ trường xuyên qua cuộn dây dẫn kín là từ trường rất mạnh. C. Từ trường xuyên qua cuộn dây dẫn kín là từ trường biến thiên. D. Từ thông qua tiết diện S của cuộn dây dẫn kín là biến thiên. Câu 14: Lực từ của thanh nam châm mạnh nhất tại: A. Hai từ cực.

B. Điểm chính giữa

C. Mạnh như nhau

D. Tại một điểm bất kì

Câu 15: Trong các trường hợp sau trường hợp nào thể hiện tác dụng nhiệt của dòng điện: A. Bút thử điện khi cắm vào ổ điện làm sáng đèn. B. NC điện hút được đinh sắt. C. Quạt điên chạy khi cắm điện. D. Bếp điện nóng đỏ khi cho dòng điện chạy qua. Câu 16: Lực mà từ trường tác dụng lên dây dẫn có dòng điện chạy qua đặt trong nó gọi là A. Lực điện từ

B. Lực từ

C. Trọng lực

D. Lực điện 58


Câu 17: Máy biến thế dùng để: A. Giữ cho hiệu điện thế luôn ổn định, không đổi. B. Giữ cho cường độ dòng điện ổn định, không đổi. C. Làm tăng hay giảm hiệu điện thế. D. Làm tăng hay giảm cường độ dòng điện. Câu 18: Gọi N1 và N2 lần lượt là số vòng của cuộn sơ cấp và thứ cấp của một máy biến thế. Trường hợp nào ta không thể có: A. N1>N2

B. N1=N2

C. N1<N2

D. N1 có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn N2.

Câu 19: Trên thanh nam châm chỗ hút sắt mạnh nhất là: A. Phần giữa của thanh.

B. Chỉ có từ cực bắc.

C. Cả hai từ cực.

D. Mọi chỗ đều hút sắt mạnh như nhau.

Câu 20: Đường dây tải điện dài 100km, truyền đi một dòng điện 400A. Dây dẫn bằng đồng, cứ 1km có R=0,3Ω. Công suất do tỏa nhiệt trên đường dây là: A. Php=4800kW

B. Php =4800000kW

C. Php=4800000J

D. Php là một giá trị khác.

Câu 21: Trên cùng một dây dẫn tải đi cùng một công suất điện, nếu dùng dây dẫn có đường kính tiết diện tăng gấp 5 lần thì Php do tỏa nhiệt sẽ thay đổi như thế nào? Chọn kết quả đúng: A. Tăng 5 lần

B. Tăng 25 lần.

C. Giảm 5 lần.

D. Giảm 25 lần.

Câu 22: Một máy biến thế trong nhà cần hạ hiệu điện thế từ 220V xuống còn 30V. Cuộn sơ cấp có 2200 vòng. Hỏi thứ cấp có bao nhiêu vòng? Kết quả đúng là: A. 100 vòng

B. 300 vòng.

C. 200 vòng.

D. Một kết quả khác.

Câu 23: Đường sức từ là những đường cong được vẽ theo quy ước nào dưới đây? A. Có chiều đi từ cực Nam tới cực Bắc bên ngoài thanh nam châm. 59


B. Có độ mau thưa tùy ý. C. Bắt đầu từ cực này và kết thúc ở cực kia của nam châm. D. Có chiều đi từ cực Bắc tới cực Nam bên ngoài thanh nam châm. Câu 24: Dùng quy tắc nào dưới đây để xác định chiều của lực điện từ? A. Quy tắc nắm tay phải.

B. Quy tắc nắm tay trái.

C. Quy tắc bàn tay trái.

D. Quy tắc bàn tay phải.

Câu 25: Khi dây dẫn thẳng có dòng điện chạy qua được đặt song song với các đường sức từ thì lực điện từ có hướng như thế nào? A. Không có lực điện từ. B. Cùng hướng với đường sức từ. C. Vuông góc với cả dây dẫn và đường sức từ. D. Cùng hướng với dòng điện. Câu 26: Ưu điểm nào dưới đây không phải là ưu điểm của động cơ điện: A. Không thải ra ngoài các chất khí hay hơi làm ô nhiễm môi trường xung quanh. B. Có thể biến đổi trực tiếp năng lượng của nhiên liệu thành cơ năng. C. Có thể có công suất từ vài oát đến hàng trăm, hàng ngàn, chục ngàn kilooat. D. Hiệu suất rất cao, có thể đạt tới 98%. Câu 27: Cách làm nào dưới đây có thể tạo ra dòng điện cảm ứng: A. Nối hai cực của nam châm với hai đầu cuộn dây dẫn. B. Nối hai cực của pin vào hai đầu cuộn dây dẫn. C. Đưa một cực của nam châm từ ngoài vào trong một cuộn dây dẫn kín. D. Đưa một cực của acquy từ ngoài vào trong một cuộn dây dẫn kín. Câu 28: Trong máy phát điện xoay chiều có roto là nam châm khi hoạt động thì nam châm có tác dụng gì? A. Tạo ra từ trường. B. Làm cho số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây tăng. C. Làm cho số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây giảm. 60


D. Làm cho số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây biến thiên. Câu 29: Trong các trường hợp sau đây trường hợp nào sử dụng dòng điện xoay chiều? A. Dòng điện trong đèn pin đang sáng. B. Dòng điện sử dụng cho điện thoại di động C. Dòng điện gia đình sử dụng D. Dòng điện nạp cho acquy. Câu 30: Động cơ điện một chiều biến đổi: A. Điện năng thành cơ năng. B. Cơ năng biến thành điện năng. C. Nhiệt năng biến thành cơ năng. D. Điện năng biến thành nhiệt năng. Câu 31: Trong các tác dụng của dòng điện, tác dụng không phụ thuộc vào chiều của dòng điện là tác dụng: A. Nhiệt.

B. Quang.

C. Từ.

D. Cả A và B đều đúng.

Câu 32: Dòng điện cảm ứng sẽ không xuất hiện khi cho một khung dây dẫn kín chuyển động trong từ trường đều sao cho: A. Mặt phẳng khung dây song song với các đường sức từ. B. Mặt phẳng khung dây vuông góc với các đường sức từ. C. Mặt phẳng khung dây tạo với các đường sức từ các góc thay đổi bất kỳ. D. Cả A và B đều đúng. Câu 33: Để truyền đi một công suất điện, nếu đường dây tải điện dài gấp ba thì công suất hao phí vì tỏa nhiệt tăng hay giảm? Chọn câu đúng: A. Tăng 9 lần.

B. Giảm 9 lần.

C. Tăng 3 lần.

D. Giảm 3 lần.

Câu 34: Trong máy biến thế: A. Cuộn sơ cấp là cuộn nối với nguồn điện cần biến đổi hiệu điện thế B. Cuộn thứ cấp là cuộn nối với nguồn điện cần biến đổi hiệu điện thế 61


C. Cuộn sơ cấp là cuộn nối với tải tiêu thụ của mạch điện. D. Cả B và C đều đúng. Câu 35: Lực tác dụng làm quay động cơ điện là: A. Lực đàn hồi.

B. Lực tĩnh điện.

C. Lực điện từ.

D. Trọng lực.

Câu 36: Một nhà máy điện sinh ra một công suất 100000kW và cần truyền tải đến nơi tiêu thụ. Biết hiệu suất truyền tải là 90%. Công suất hao phí trên đường truyền là: A. 1000 kW

B. 10000kW

C. 100kW

D. 10kW

Câu 37: Cùng một cong suất điện được tải đi trên cùng một dây dẫn. Công suất hao phí khi dùng hiệu điện thế 400kV so với khi dùng hiệu điện thế 200kV là: A. Lớn hơn 2 lần.

B. Lớn hơn 4 lần.

C. Nhỏ hơn 2 lần.

D. Nhỏ hơn 4 lần.

Câu 38: Trong cuộn dây dẫn kín xuất hiện dòng điện cảm ứng xoay chiều khi số đường sức từ xuyên qua tiết diện S của cuộn dây: A. Luôn luôn tăng.

B. Luôn luôn giảm.

C. Luân phiên tăng, giảm.

D. Luôn không đổi.

Câu 39: Một NC có 2 từ cực, đó là những từ cực nào: A. Đông - Tây

B. Nam – Bắc

C. Âm - Dương

D. Cả A và C đều đúng.

Câu 40: Trong một nam châm điện, lõi của nam châm có thể dùng là: A. Sắt non.

B. Thép.

C. Nhôm.

D. Đồng.

ĐÁP ÁN 1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

C

D

C

A

C

B

D

B

A

D

A

C

B

A

D

A

C

B

C

A

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

32

33

34

35

36

37

38

39

40

D

B

D

C

A

B

C

D

C

A

D

D

C

A

C

B

D

C

B

A

62


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1. GV: Giáo viên 2. HS: Học sinh 3. THCS: Trung học cơ sở 4. PPDH: Phương pháp dạy học 5. NC: Nam châm 6. SK: Sáng kiến

63


MỤC LỤC Nội dung

Trang

MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

1

2. Cơ sở lý luận của vấn đề

2

3. Thực trạng của vấn đề

7

4. Các giải pháp đã thực hiện

9

4.1. Khắc phục những khó khăn của HS trong quá trình xây dựng kiến thức 4.2. Tổ chức dạy học một số nội dung kiến thức Vật lí lớp 9 thuộc phần điện từ

9 10

4.2.1. Cải tiến và chế tạo một số thí nghiệm

10

4.2.2. Tổ chức hoạt động dạy học một số kiến thức về điện từ

12

5. Kết quả đạt được

25

6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng

27

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận

28

2. Khuyến nghị

29

TÀI LIỆU THAM KHẢO

31

PHỤ LỤC

32

Một số giáo án chương Điên từ học

32

Đề khảo sát chương I Môn Vật lí 9 (Khảo sát đầu vào)

43

Đề khảo sát chương II Môn Vật lí 9 (Khảo sát đầu ra)

50

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

57

MỤC LỤC

58

64


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
SÁNG KIẾN DẠY HỌC THEO HƯỚNG KIẾN TẠO BỘ MÔN VẬT LÍ 9 PHẦN ĐIỆN TỪ HỌC NĂM HỌC 2018 – 2019 by Dạy Kèm Quy Nhơn Official - Issuu