SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGỮ VĂN
vectorstock.com/28062412
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection DẠY KÈM QUY NHƠN EBOOK PHÁT TRIỂN NỘI DUNG
SÁNG KIẾN DẠY HỌC NGỮ VĂN LỚP 10 THPT HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG VĂN THUYẾT MINH VỚI CHỦ ĐỀ GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA PHƯƠNG YÊN MÔ WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
TÊN SÁNG KIẾN: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG VĂN THUYẾT MINH VỚI CHỦ ĐỀ GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA PHƯƠNG YÊN MÔ
Tác giả sáng kiến: An Thị Quế Mai Thị Hồng Quế Lê Thị Loan Chức vụ: Đơn vị công tác: Tổ Ngữ văn - Trường THPT Yên Mô A
Ninh Bình, tháng 10 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi : HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TỈNH Chúng tôi ghi tên dưới đây: Tỷ lệ (%) đóng TT
Họ và tên
Ngày tháng năm sinh
Trình độ Nơi công tác Chức vụ
chuyên môn
góp vào việc tạo ra sáng kiến
1
2
3
An Thị Quế
10/03/1977
Mai Thị Hồng Quế 08/07/1978
Lê Thị Loan
28/07/1988
Trường THPT
Hiệu
Yên Mô A
trưởng
Trường THPT
Giáo
Yên Mô A
viên
Trường THPT
Giáo
Yên Mô A
viên
Thạc sĩ
30%
Cử nhân
40%
Cử nhân
30%
1. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng Là các đồng tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG VĂN THUYẾT MINH VỚI CHỦ ĐỀ GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA PHƯƠNG YÊN MÔ Lĩnh vực áp dụng: Dạy học Ngữ Văn lớp 10 THPT 2. Nội dung sáng kiến a. Giải pháp cũ thường làm Trong chương trình Ngữ văn lớp 10, Văn thuyết minh là một chủ đề quan trọng. Nó vừa chiếm số lượng tiết học nhiều (06 tiết), lại vừa có những yêu cầu cao hơn về kiến thức, kĩ năng so với yêu cầu văn thuyết minh trong chương trình THCS. Vì
vậy, nếu việc dạy học văn thuyết minh theo truyền thống, chỉ dừng lại ở lí thuyết, hoặc sự “thăm thú” qua sách vở, tài liệu thì tiết học dễ nhàm chán, đơn điệu. Đối với các tiết học về Văn thuyết minh, giáo viên soạn thành các tiết nằm riêng lẻ (hoặc có thể đã nhóm thành chủ đề). Các tiết học hướng tới việc hình thành từng kĩ năng cụ thể đối với kiểu bài làm văn thuyết minh như: các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh, phương thức thuyết minh… Ưu điểm của giải pháp này là HS có thể hiểu rõ từng yêu cầu, đặc điểm của những kĩ năng cụ thể của việc thuyết minh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiều năm chúng tôi nhận thấy những hạn chế: - Các bài học chỉ tập trung vào một kĩ năng cụ thể, thiếu sự xâu chuỗi giữa các kĩ năng để đi đến thực hiện mục đích cuối cùng là tạo lập được một văn bản thuyết minh. - Các kĩ năng cụ thể đã được học ở THCS. Việc ôn tập lại nhiều về lí thuyết không mang lại nhiều tác dụng. b. Giải pháp mới cải tiến - Mô tả bản chất của giải pháp mới: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một trong những giải pháp hữu hiệu để thay đổi phương pháp học tập nặng nề về lí thuyết, hàn lâm và thiếu thực tế đó. Việc thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong văn thuyết minh với chủ đề giới thiệu về địa phương Yên Mô đã đem lại những hứng thú đặc biệt cho học sinh Yên Mô A khi được tìm hiểu về quê cha đất tổ của mình, đặc biệt đã phát huy tính chủ động của học sinh trong việc tiến hành các hoạt động, chú trọng tính thực hành của bài học thông qua hoạt động trải nghiệm. Tính mới, sáng tạo của giải pháp: Tổ chức “hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong văn thuyết minh giới thiệu về địa phương Yên Mô”, chúng tôi đã nhóm các tiết học về văn thuyết minh vào cùng một chủ đề gồm 6 tiết. Trong đó, 2 tiết trên lớp (gồm: Các hình thức kết cấu cho bài văn thuyết minh; Lập dàn ý cho bài văn thuyết minh; Tính chuẩn xác, hấp dẫn cho bài văn thuyết minh; Phương pháp thuyết minh; Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh; tóm tắt văn bản thuyết minh), 2 tiết thực hiện hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở địa bàn Yên Mô; 2 tiết báo cáo sản phẩm trên lớp. Việc thực hiện được tiến hành với một chuỗi các hoạt động, bao gồm:
- Tìm hiểu chung về chủ đề, nhiệm vụ của từng nhóm, từng cá nhân, chuẩn bị tài liệu. - Tìm hiểu kĩ năng làm văn thuyết minh: lập dàn ý, xác định phương pháp thuyết minh. - Lên kế hoạch cho việc trải nghiệm ở một địa điểm cụ thể Trong quá trình tiến hành chuỗi hoạt động, dưới sự hướng dẫn của GV, HS rèn luyện các năng lực và phẩm chất của bản thân. 3.
Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được
- Hiệu quả kinh tế: Để tổ chức thực hiện một chuyến đi trải nghiệm cho học sinh dù trong tỉnh hay ngoài tỉnh đều tốn kém các khoản kinh phí nhất định (tiền xe, tiền ăn, vé tham quan…), dự kiến khoảng từ 100.000 đồng/ học sinh tham gia. Tuy nhiên, việc trải nghiệm ngay trong chính địa bàn Yên Mô, với các em vừa tiết kiệm chi phí, vừa có ý nghĩa như một hoạt động “về nguồn” để hiểu hơn về danh nhân văn hóa, danh lam thắng cảnh, ẩm thực, làng nghề quê hương mình. - Hiệu quả xã hội: + Trong công tác giảng dạy: giáo viên chủ động hơn với kiến thức, kĩ năng truyền thụ; hứng thú hơn với công việc khi tiếp cận với các năng lực của học sinh, nhất là năng lực sáng tạo; nhận thấy rõ hiệu quả công việc của mình. Đây cũng là tài liệu bổ ích để các giáo viên tham khảo giảng dạy, ôn tập cho học sinh. + Đối với học sinh: tạo được hứng thú trong việc học, phát huy nhiều năng lực như xử lí tình huống, giao tiếp… 4. Điều kiện và khả năng áp dụng Có thể áp dụng cho việc giảng dạy, học tập chủ đề Văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT. Vì vậy, sáng kiến này rất phù hợp đối với đối tượng là giáo viên và học sinh lớp 10 THPT
TT
Ngày tháng
Họ và tên
năm sinh
Nơi công tác
Trình độ
Chức
chuyên
danh
Nội dung công việc hỗ trợ
môn
Xây dựng kế hoạch 1
An Thị Quế
10/03/1977
Trường THPT
Hiệu
Yên Mô A
trưởng
Thạc sĩ
và quản lí việc thực hiện hoạt động trải nghiệm Thiết kế giáo án và
2
Mai Thị Hồng Quế 08/07/1978
Trường THPT
Giáo
Yên Mô A
viên
Cử nhân
tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm Thực hiện nghiên
3
Lê Thị Loan
28/07/1988
Trường THPT
Giáo
Yên Mô A
viên
cứu về hoạt động Cử nhân
trải nghiệm sáng tạo trong môn Ngữ Văn
Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO
Ninh Bình, ngày 08 tháng 10 năm 2019
ĐƠN VỊ
Người nộp đơn
An Thị Quế
Mai Thị Hồng Quế
Lê Thị Loan
PHỤ LỤC: I. Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo 1. Trải nghiệm sáng tạo Theo Từ điển Tiếng Việt: “Trải nghiệm là trải qua, kinh qua”. Nghĩa là trải nghiệm là kết quả của quá trình tương tác của con người với hiện thực đời sống. Trong ứng dụng sư phạm, trải nghiệm được hiểu chính là sự thực hành trong quá trình đào tạo và giáo dục; là một trong những phương pháp đào tạo nhằm giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lí khác. Như vậy, học qua trải nghiệm sẽ gắn liền với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. Cũng theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”. Theo đó, sáng tạo là một biểu hiện của tài năng trong lĩnh vực đặc biệt nào đó, là năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới… Tóm lại, trải nghiệm sáng tạo chính là một hoạt động trong đó con người thể hiện sự tương tác của chính bản thân với thực tiễn khách quan, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân con người. 2. Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là cách tổ chức hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân được trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất và phát huy tiềm năng sáng tạo của học sinh. Nói cách khác, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm trong thực tiễn để tích lũy và chiêm nghiệm các kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành sự hiểu biết theo cách riêng của mình. Nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp và phân hóa cao. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập
khác không thực hiện được, thể hiện qua các chủ đề đa dạng, phong phú vừa đảm bảo yêu câu chung và vừa phù hợp với đặc điểm của từng trường, địa phương. Với cách hiểu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo như trên, có thể thấy bất kỳ môn học, lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng nội dung trải nghiệm. Nội dung trải nghiệm sáng tạo rất đa dạng, mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập, giáo dục như: đạo đức, trí tuệ, kỹ năng sống, giá trị sống, nghệ thuật, thẩm mỹ, thể chất, an toàn giao thông, môi trường ... Giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề thiết thực, gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục có ưu thế về quy mô tổ chức. Có nhiều cách tổ chức như: theo nhóm, lớp, khối lớp, trường hoặc liên trường. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, Ban giám hiệu nhà trường, hội phụ huynh, chính quyền địa phương, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những nghệ nhân, người lao động tiêu biểu ở địa phương… Cách thức thực hiện các hoạt động trải nghiệm sáng tạo gồm các bước sau: Bước 1. Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh. Bước 2. Đặt tên cho hoạt động. Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lí đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
-
Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn.
-
Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động.
-
Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh.
Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động. Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường, nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời mục tiêu. Bước 3. Xác định mục tiêu của hoạt động. Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó. Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động. Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị. Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là: - Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động. -
Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động.
-
Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò.
Tùy theo chủ đề của hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở mỗi tháng, đặc điểm học sinh và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng. Khi xác định đúng mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau: -Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? - Những kĩ năng nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động? - Những thái độ, giá trị nào có thể hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động.
Bước 4. Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lí những nội dung và hình thức của hoạt động. Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong đó có một hình thức nào đó chủ đạo, còn các hình thức khác là phụ trợ. Bước 5. Lập kế hoạch Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực và thời gian, không gian cần cho việc hoàn hành các mục tiêu. Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu. Vì đạt được mục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kì người quản lí nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được. Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng. Hay nói cách khác, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu. Bước 6. Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? Các việc đó là gì? Nội dung các việc đó ra sao? Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ nhóm, các cá nhân. Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc?
Bước 7. Kiểm tra, điều chỉnh chương trình hoạt động. Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lí, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được. Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lí ở khâu nào, bước nào, nội dung nào thì kịp thời điều chỉnh. Cuối cùng hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng căn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động. Bước 8. Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh. II. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Ngữ văn. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Ngữ văn là một hoạt động học tập mà thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo học sinh được phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo năng lực học văn của mình. Nó bồi dưỡng và phát triển năng lực đặc thù của môn học như năng lực đọc – hiểu, năng lực thưởng thức, cảm thụ văn chương, đánh giá được cái hay, cái đẹp của văn chương… Từ đó, học sinh có thể tham gia vào quá trình giao tiếp văn học, giao tiếp đời sống một cách hiệu quả. Mặt khác, hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua môn Ngữ văn còn phát huy sự trải nghiệm sáng tạo thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học ở chính bản thân mỗi học sinh. Qua hoạt động trải nghiệm, mỗi học sinh sẽ có những cảm nhận riêng, mới mẻ và bổ ích, có cách nhìn nhận về cuộc sống và con người, từ đó giúp các em hoàn thiện, phát triển nhân cách, năng lực của bản thân. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong Văn thuyết minh được tiến hành khi học sinh được đưa vào những tình huống thực tiễn của đời sống, được trực tiếp quan sát, thảo luận, trải nghiệm và giải quyết vấn đề theo những cách suy nghĩ của mình. Nói cách khác, các em học sinh được tạo điều kiện tối đa để phát huy hết các năng lực chủ quan của mình trong quá trình khám phá, chiếm lĩnh, tiếp nhận và thưởng thức văn học dưới sự hỗ trợ, sự hướng dẫn của người giáo viên. Phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh chính là tiền đề cho sự sáng tạo, sự phát triển tự giác và hứng thú trong học tập Các cách thức thực hiện hoạt động trải nghiệm qua môn Ngữ văn: - Tổ chức dưới hình thức các câu lạc bộ văn học như: câu lạc bộ Văn học dân gian, Âm vang thơ kháng chiến…
- Tổ chức dưới hình thức là các sân chơi, trò chơi văn học như: Đố thơ, thả thơ, trò chơi ô chữ… - Tổ chức dưới hình thức các diễn đàn, giao lưu, trao đổi - Sân khấu hóa tác phẩm văn học - Tổ chức dưới hình thức các cuộc thi, hội thi như: thi vẽ tranh, thi sáng tác… - Tổ chức những buổi tham quan, dã ngoại -… III.
THIẾT KẾ BÀI DẠY VÀ VIỆC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG VĂN THUYẾT MINH CHỦ ĐỀ : VĂN THUYẾT MINH
A. Mục tiêu bài học: 1. Kiến thức: - HS Có những hiểu biết về các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh; nắm vững kiến thức về dàn ý và cách thức lập dàn ý bài văn thuyết minh - Hiểu được vai trò, tác dụng của tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh. Hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh và những yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh; nắm được và phân biệt một số phương pháp thuyết minh cụ thể. 2. Kĩ năng: – Rèn kĩ năng làm văn thuyết minh: thuyết minh về một danh nhân văn hoá, một di tích lịch sử, một danh lam thắng cảnh, một tác phẩm văn học… – Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng phân tích, tổng hợp, thuyết trình. – Rèn luyện kĩ năng giao tiếp, phỏng vấn và trả lời phỏng vấn. 3.Thái độ: – Có ý thức thu thập tìm kiếm thông qua nhiều nguồn khác nhau để thuyết minh về đối tượng.
– Bồi đắp tình yêu, trách nhiệm với quê hương đất nước; ý thức nỗ lực vươn lên trong cuộc sống. 4. Các năng lực hướng tới hình thành và phát triển ở học sinh:
Năng lực giải quyết vấn đề.
Năng lực hợp tác.
Năng lực tự học.
Năng lực sáng tạo.
Năng lực giao tiếp tiếng Việt.
Năng lực thẩm mĩ.
B. Chuẩn bị của GV và HS 1.
Chuẩn bị của GV:
– Sách giáo khoa, SGV, sách bài tập – Giáo án Word, Power Point. – Sổ ghi chép thông tin, phiếu học tập, bút dạ… – Một số video, hình ảnh, tư liệu… 2.
Chuẩn bị của học sinh
– Sách giáo khoa, Sách bài tập – Các bản trình chiếu Power Point, video các sản phẩm thực tế… C. Tiến trình dạy học: Tiết 1, 2: Mục tiêu: tạo tâm thế cho HS khi vào bài học, hình thành kiến thức khái quát về văn thuyết minh bao gồm các vấn đề: khái niệm văn thuyết minh, tính chuẩn xác và hấp dẫn của văn bản thuyết minh, các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh, phương pháp thuyết minh, cách lập dàn ý cho bài văn thuyết minh, cách tóm tắt văn bản thuyết minh. Hoạt động của GV và HS Hoạt động 1: Khởi động (15-20 phút)
Yêu cầu cần đạt
GV chia lớp thành 4 nhóm để thực hiện thao tác khởi động bằng cách tạo một tình huống có vấn đề Hình thức: Cả lớp Kĩ thuật: đặt câu hỏi, làm việc nhóm Bước 1: GV sẽ giúp HS tìm chủ đề của buổi học qua các video được trình chiếu Trước khi trình chiếu video, GV yêu cầu HS trong quá trình xem lấy giấy và ghi lại nội dung video: nói về cái gì, chú ý hình ảnh, lời bình. – GV cho HS xem 2 video clip thuyết minh: một thuyết minh về một món ăn độc đáo (món ăn của người Thái Tây Bắc), một thuyết minh về một làng nghề (làng thêu ren Văn Lâm – Hoa Lư). – HS quan sát các video Sau khi HS xem xong, GV đặt các câu - Video 1: giới thiệu về ăn của người Thái hỏi: Tây Bắc Câu hỏi 1: Các video clip vừa xem Video 2: giới thiệu về làng nghề thêu ren giới thiệu về đối tượng nào? Văn Lâm – Hoa Lư – Ninh Bình Câu hỏi 2: Các video clip đều rất sinh động, hấp dẫn. Vậy sự hấp dẫn, sinh động của các đối tượng trong đoạn video được tạo nên bởi các yếu tố nào?
- Sự hấp dẫn, sinh động được tạo nên: qua hình ảnh minh họa sinh động, sự biểu cảm trong cách thể hiện lời bình, cung cấp những thông tin khách quan từ nhiều góc nhìn, nhiều khía cạnh, chân thực, thú vị về đối Câu hỏi 3: Để có cách giới thiệu phù tượng được nhắc đến. hợp, đầy đủ và hấp dẫn về những cảnh Phương thức thuyết minh quan đó, người ta đã sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? Bước 2:
- HS suy nghĩ, trao đổi thảo luận trong nhóm tìm ra câu trả lời đúng và nhanh Các nhóm cung cấp những thông tin khách quan cơ bản nhất của đối tượng mà nhóm nhất. mình lựa chọn. khái quát được vị trí, vai trò, ý nghĩa của đối tượng đó đối với cuộc sống. Bước 3: Nhóm có câu trả lời nhanh nhất trình bày. Các nhóm khác theo
dõi, nhận xét, bổ sung trong 2 phút . Bước 4: GV nhận xét đánh giá, chốt ý. – GV nhận xét đánh giá câu trả lời và dẫn dắt vào bài mới
Chủ đề: văn thuyết minh: - Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh - Lập dàn ý bài văn thuyết minh - Sự chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minh - Phương pháp thuyết minh - Tóm tắt văn bản thuyết minh
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức (70 phút)
I. Tìm hiểu chung về văn thuyết minh 1. Khái niệm:
2.1.Hướng đẫn HS tìm hiểu chung về – Văn thuyết minh là phương thức biểu đạt nhằm giới thiệu trình bày chính xác, khách văn thuyết minh: quan về cấu tạo, tính chất quan hệ, giá trị … 2.1.a. Khái niệm văn thuyết minh: của một sự vật hiện tượng, một vấn đề thuộc về tự nhiên, xã hội và con người. Hình thức: cả lớp Kĩ thuật: đặt câu hỏi, cặp đôi
*Phân biệt với:
- Văn tự sự: kể lại một chuỗi các sự kiện có mối quan hệ với nhau, đi đến một kết thúc. - Em hãy nhắc lại khái niệm về văn - Văn miêu tả: Sử dụng ngôn ngữ làm hiện thuyết minh? lên trong tâm trí người đọc hình ảnh về sự - Chỉ ra đặc trưng cơ bản của văn vật, hiện tượng, con người. thuyết minh để phân biệt với văn tự sự, - Văn biểu cảm: bộc lộ tình cảm, cảm xúc miêu tả, biểu cảm? của trực tiếp hoặc gián tiếp của người viết
B1: GV giao nhiệm vụ
B2: HS suy nghĩ, làm việc cá nhân, có thể trao đổi thảo luận cặp đôi. B3: HS trả lời trước lớp. Cả lớp theo dõi, nhận xét góp ý. B4: GV nhận xét, đánh giá và chốt ý 2.1.b.Tìm hiểu các đặc điểm của văn I.2.Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh thuyết minh. Hình thức: thảo luận nhóm, dự án. Kĩ thuật: chia nhóm, khăn trải bàn Bước 1: GV chia lớp thành 4 nhóm, thực hiện các tiểu chủ đề sau. Nhóm 1,3: Tìm hiểu tính chuẩn xác hấp của văn bản thuyết minh
Khái niệm
Tính chuẩn xác
Tính hấp dẫn
Tính chuẩn xác là một đặc tính cơ bản của văn
Tính hấp dẫn là một đặc tính cơ bản của văn
Gợi ý: + Vì sao văn bản thuyết minh phải có tính chuẩn xác? + Để đạt được tính chuẩn xác cần chú ý những điểm gì? (Phân tích một hoặc một số ví dụ để làm rõ tính chuẩn xác) + Vì sao tính hấp dẫn quan trọng với văn bản thuyết minh? + Một số biện pháp làm tăng tính hấp dẫn cho văn bản thuyết minh. (Phân tích một hoặc một số ví dụ để làm sáng tỏ) Nhóm 2,4: Tìm hiểu các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh Gợi ý: Dựa vào SGK, kiến thức đã học về văn thuyết minh (THCS), tư liệu tham thảo, xây dựng bài thuyết trình với các vấn đề: + Khái niệm kết cấu. + Các hình thức kết cấu thường gặp của văn bản thuyết minh (Nêu và phân tích ví dụ để làm sáng tỏ) HS tự phân chia hoặc GV phân chia các nhóm phản biện, nhận xét lẫn nhau. Bước 2: Các nhóm tiến hành trao đổi thảo luận Bước 3: Các nhóm trình bày kết quả thảo luận nhóm và phản biện. Bước 4: GV nhận xét đánh giá chung, chốt ý.
Vai trò
bản thuyết minh, chỉ sự đúng đắn, chính xác, đúng với chân lí, với chuẩn mực được thừa nhận của những tri thức được cung cấp.
bản thuyết minh, chỉ sự lôi cuốn, thu hút sự chú ý của những tri thức được cung cấp.
Là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất.
Là một yêu cầu rất quan trọng với văn bản thuyết minh
Một số biện + Tìm hiểu thấu đáo pháp đảm trước khi bảo viết. + Thu thập đầy đủ tài liệu tham khảo. + Chú ý đến thời điểm xuất bản của tài liệu để cập nhật thông tin chính xác và kịp thời
+ Đưa chi tiết cụ thể sinh động + So sánh để làm nổi bật sự khác biệt + Kết hợp dụng sử nhiều kiểu câu, biến hoá linh hoạt + Khi cần có thể sử dụng phối hợp nhiều loại kiến thức.
I.3. Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh. a. Khái niệm kết cấu văn bản: – Kết cấu văn bản là sự tổ chức, sắp xếp các thành tố của văn bản thành một đơn vị hoàn chỉnh, thống nhất và có ý nghĩa. – Có nhiều kết cấu văn bản khác nhau nhưng cần phải đảm bảo sự phù hợp với mối liên hệ bên trong và bên ngoài của đối tượng.
b. Kết cấu của văn bản thuyết minh. Văn bản thuyết minh có thể có nhiều loại hình thức kết cấu khác nhau. Một số kết cấu cơ bản: – Kết cấu theo trình tự thời gian: trình bày sự vật theo quá trình hình thành, vận động và phát triển. – Kết cấu theo trình tự không gian: trình bày sự vật theo tổ chức vốn có của nó (bên trên – bên dưới, bên trong – bên ngoài, hoặc theo trình tự quan sát…). – Kết cấu theo trình tự lôgic: trình bày sự vật theo các mối quan hệ khác nhau (nguyên nhân – kết quả, chung – riêng, liệt kê các mặt, các phương diện…). – Kết cấu theo trình tự hỗn hợp: trình bày sự vật với sự kết hợp nhiều trình tự khác nhau 2. GV HD HS tìm hiểu cách làm bài II. Cách làm bài văn thuyết minh văn thuyết minh II.1. Phương pháp thuyết minh. Hình thức: thảo luận nhóm 1. Tầm quan trọng của phương pháp Kĩ thuật: khăn trải bàn, chia nhóm, đặt thuyết minh. câu hỏi – Phương pháp thuyết minh: là một hệ thống cách thức mà người thuyết minh sử dụng để Bước 1: GV chia lớp thành 4 nhóm, giới thiệu về sự vật, hiện tượng. thực hiện các tiểu chủ đề sau. – Phương pháp thuyết minh có vai trò rất - Nhóm 1,3: Tìm hiểu phương pháp quan trọng vì: thuyết minh. + Tạo nên tính chặt chẽ, mạch lạc cho bài Dựa vào SGK, kiến thức đã học về văn thuyết minh (THCS), tư liệu tham thảo, xây dựng bài thuyết trình với các vấn đề:
văn thuyết minh.
+ Giúp người thuyết minh có thể đạt được mục đích thuyết minh: giới thiệu về sự vật, hiện tượng một cách chính xác, hấp dẫn, rõ + Tại sao phương pháp thuyết minh lại ràng. có vai trò rất quan trọng trong văn bản – Phương pháp thuyết minh có mối quan hệ thuyết minh? chặt chẽ với mục đích thuyết minh:
+ Những phương pháp thuyết minh + Mục đích thuyết minh là cơ sở để lựa chọn thường gặp là gì? phương pháp thuyết minh phù hợp. -> Những phương pháp đã được học ở + Phương pháp thuyết minh là cách thực cấp THCS (kể tên, phân tích ví dụ để hiệu quả để thực hiện mục đích thuyết minh. làm sáng tỏ) 2. Một số phương pháp thuyết minh. -> Phương pháp thuyết minh bằng cách a. Các phương pháp thuyết minh đã học: nêu
chú thích: khái niệm, phân tích ví dụ để định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, làm sáng tỏ. so sánh, phân loại, phân tích. b. Một số phương pháp thuyết minh khác. -> Phương pháp thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên nhân – kết quả: khái niệm, phân tích ví dụ để làm sáng tỏ. + Việc vận dụng các phương pháp thuyết minh có những yêu cầu nào?
– Thuyết minh bằng cách chú thích: cung cấp thêm thông tin về sự việc, hiện tượng qua các chú thích (không phải là đặc điểm bản chất của sự việc, hiện tượng nhưng cũng là những yếu tố liên quan đến sự việc, hiện tượng)
– Nhóm 2,4: tìm hiểu cách lập dàn ý – Thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên bài văn thuyết minh. nhân – kết quả: cung cấp thông tin về sự Gợi ý: Dựa vào SGK, kiến thức đã học việc, hiện tượng qua các đoạn văn có mối về văn thuyết minh (THCS), tư liệu quan hệ nguyên nhân – kết quả để làm tham thảo, xây dựng bài thuyết trình phong phú và chặt chẽ hơn tri thức được với các vấn đề: cung cấp. 3. Yêu cầu đối với việc vận dụng phương + Những lưu ý khi lập dàn ý bài văn pháp thuyết minh. thuyết minh. – Việc sử dụng phương pháp thuyết minh (phải do mục đích thuyết minh quyết định + Các bước lập dàn ý bài văn thuyết – Phương pháp thuyết minh còn được vận minh. dụng để làm tăng thêm tính hấp dẫn cho văn (Phân tích ví dụ để làm sáng tỏ) bản thuyết minh. HS tự phân chia hoặc GV phân chia II.2. Lập dàn ý bài văn thuyết minh các nhóm phản biện, nhận xét lẫn nhau. 1. Những lưu ý khi lập dàn ý bài văn thuyết minh. Bước 2: Các nhóm tiến hành trao đổi thảo luận – Lập dàn ý là một kĩ năng rất quan trọng khi tạo lập văn bản. Dàn ý của bài văn Bước 3: Các nhóm trình bày kết quả thường theo bố cục ba phần (Mở bài, Thân thảo luận nhóm và phản biện. bài và Kết bài). Dàn ý của bài văn thuyết minh cũng vậy. Bước 4: GV nhận xét đánh giá chung, – Phần mở bài và kết bài của bài văn thuyết chốt ý. minh có những đặc điểm riêng. – Trong phần thân bài, các ý của bài văn thuyết minh có thể được sắp xếp theo các trình tự: thời gian, không gian, lôgic, trình tự nhận thức,… phù hợp với đối tượng thuyết minh, đạt được mục đích thuyết minh. 2. Các bước lập dàn ý bài văn thuyết minh. a. Xác định đề tài: Thuyết minh về đối tượng
nào b. Xây dựng dàn ý: * Mở bài: + Nêu đề tài thuyết minh. + Dẫn dắt, tạo ra sự chú ý của người đọc về nội dung thuyết minh. * Thân bài: + Tìm ý, chọn ý: Cần triển khai những ý nào để thuyết minh về đối tượng đã giới thiệu (cung cấp những thông tin, tri thức gì)? + Sắp xếp ý: Cần trình bày các ý theo trình tự nào cho phù hợp với đối tượng thuyết minh, đạt được mục đích thuyết minh. * Kết bài: Nhấn lại đề tài thuyết minh, tô đậm ấn tượng cho người tiếp nhận về đối tượng thuyết minh. 3. Tìm hiểu cách tóm tắt văn bản III. Tóm tắt văn bản thuyết minh: thuyết minh 1.Mục đích, yêu cầu của tóm tắt văn bản Hình thức: Cả lớp thuyết minh. Kĩ thuật: đặt câu hỏi
– Tóm tắt văn bản thuyết minh nhằm hiểu và ghi nhớ những nội dung cơ bản nhất của đối tượng thuyết minh, giúp nắm được những Trình bày mục đích, yêu cầu của việc thông tin chính về đối tượng. tóm tắt văn bản thuyết minh? – Văn bản tóm tắt phải ngắn gọn, rành mạch, sát với nội dung cơ bản, đủ ý. - HS làm việc cá nhân, trả lời trước – TTVBTM vừa là đòi hỏi của cuộc sống, lớp. vừa là hệ thống thao tác kĩ năng của môn làm văn. - GV gọi HS nhận xét, chốt ý. 2. Cách tóm tắt một văn bản thuyết minh. GV yêu cầu HS đọc thầm VB trong a.Văn bản: Nhà Sàn. SGK, trả lời các câu hỏi. a) Thuyết minh về một sự vật (nhà sàn), một kiểu công trình kiến trúc dùng để ở của ?văn bản thuyết minh về đối tượng người dân miền núi. nào? – Đại ý: giới thiệu về nguồn gốc kiến trúc và giá trị sử dụng của nhà sàn. ? chia làm mấy đoạn? nội dung từng b) Chia làm 3 đoạn: đoạn? – Mở: từ đầu …“văn hoá cộng đồng”: Định nghĩa và mục tiêu sử dụng của nhà sàn. ? viết tóm tắt văn bản ( ko quá 10 câu) –Thân: tiếp … “nhà sàn”: thuyết minh nguồn gốc, cấu tạo và công dụng của nhà
- HS làm việc cá nhân, trả lời trước sàn. lớp. – Kết: còn lại: khẳng định giá trị thẩm mĩ của nhà sàn. - GV gọi HS nhận xét, chốt ý.
c) Nhà sàn là công trình kiến trúc có mái che, dùng để ở hoặc sử dụng vào một số mục đích khác. Toàn bộ nhà sàn được cấu tạo bằng tre, gianh, nứa, gỗ; gồm nhiều cột chống, mặt sàn, gầm sàn, các khoang nhà sàn đê ở hoặc rửa ráy.Hai đầu nhà có hai cầu thang. Nhà sàn xuất hiện từ thời đá mới, tồn tại phổ biến ở miền núi Việt Nam và ĐNA. Nhà sàn có nhiều tiện ích: vừa phù hợp với nơi cư trú miền núi, đầm lầy, vừa tận dụng nguyên liệu tại chỗ, giữ được vệ sinh và đảm bảo an toàn cho người ở. Nhà sàn ở một số vùng miền núi nước ta đạt tới trình độ kĩ thuật và thẩm mĩ cao, đã và đang hấp dẫn khách du lịch. b. Kết luận:
? qua đây em rút ra kinh nghiệm gì khi – Xác định mục đích, yêu cầu khi tóm tắt tóm tắt văn bản thuyết minh? văn bản thuyết minh. – Đọc kĩ văn bản gốc để nắm được những định nghĩa, số liệu, tư liệu, nhận định, đánh giá về đối tượng thuyết minh. – Viết bản tóm tắt bàng lời văn của mình. – Kiểm tra, sửa chữa văn bản tóm tắt. Hoạt động 3: Tổng kết, Luyện tập Hình thức: cả lớp Kĩ thuật: đặt câu hỏi, sơ đồ tư duy B1: GV nêu câu hỏi chốt ý và liên kết các phần. (thông qua phiếu học tập) (1) Hãy sơ đồ hoá để thể hiện sự liên kết của các phần kiến thức vừa học? (2) Từ bài học, hãy cho biết văn thuyết minh được sử dụng trong những trường hợp nào sau đây: – Kể lại một kỉ niệm sâu sắc. – Tường thuật một trận đấu bóng đá. – Giới thiệu một cuốn sách.
(1)Các phần kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi viết bài văn thuyết minh, luôn luôn chú ý đến nội dung của từng phần kiến thức cũng như mối quan hệ giữa các
– Viết một bài bày tỏ ý kiến về một vấn phần này. đề đạo lý – Giới thiệu về một danh lam thắng (2) Trường hợp thứ ba và trường hợp thứ cảnh năm. B2: HS làm việc cá nhân B3: HS trình bày cá nhân trước lớp, cả lớp theo dõi, nhận xét. B4: GV nhận xét, chốt ý Hoạt động 4: Vận dụng.
Nhóm đối tượng thuyết minh 1: Thuyết
Hình thức: Cả lớp
minh về danh thắng địa phương
Kĩ thuật : Làm việc nhóm, học theo GV gợi ý cho HS về những danh thắng trên địa bàn: đền Cao Sơn – Tịch Trân; đình dự án – GV nhắc lại sơ lược về phương pháp dạy học dự án mà học sinh đã làm quen. HS lắng nghe và có thể đưa ra
Thượng – Thắng Động; chùa Linh – Yên Liêu; chùa Phương Nại – Yên Nhân; nhà thờ Quảng Nạp; hồ Yên Thắng…
một số những thắc mắc rút ra từ quá Hs căn cứ vào sự hiểu biết của nhóm để lựa trình thực hiện dự án ở tiết trước. GV chọn đối tượng thuyết minh tiếp nhận và giải đáp.
Nhóm đối tượng thuyết minh 2: Thuyết
– GV đưa ra chủ đề chung: Thực hành minh về danh nhân trên địa phương văn thuyết minh (Vận dụng vào GV gợi ý cho HS về những danh nhân ở địa danh lam thắng cảnh, làng nghề, phương như: tiến sỹ Phạm Khải, Phạm Thận danh nhân tại địa phương Yên Mô).
Duật, Ninh Tốn, nhà cách mạng Tạ Uyên…
– GV cùng với HS thảo luận, xây Nhóm đối tượng thuyết minh 3: Làng nghề dựng các chủ đề nhỏ dựa trên sự định GV gợi ý cho HS các làng nghề tại Yên Mô: hướng của giáo viên cũng như hứng làng nghề gốm cổ Bồ Bát, nghề chiếu cói ở thú của HS.
Yên Từ; nghề thợ nề Bình Hải; nghề làm
Các nhóm xây dựng kế hoạch làm bún Khánh Dương… việc *Xây dựng đề cương: – Các nhóm xây dựng phác thảo đề cương các vấn đề cần giải quyết đối
với từng chủ đề. HS cùng nhóm thảo luận, thống nhất lựa chọn đối tượng thuyết minh, làm đề cương thuyết minh, phân công nhiệm vụ trong nhóm. HS nêu những thắc mắc và các vấn đề chưa rõ để cùng giải quyết. - Đại diện nhóm báo cáo sơ bộ cho GV nắm được kế hoạch của nhóm mình. GV tiếp tục góp ý để hoạt động trải nghiệm của nhóm đạt hiệu quả - GV yêu cầu HS làm việc ở nhà: thu thập thông tin, tư liệu, tranh ảnh, đi thực tế đến địa điểm thuyết minh, quay phim, chụp ảnh, hoàn thiện sản phẩm bằng video Tiết 3, 4: Tiến hành tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Tiết 5, 6: Báo cáo sản phẩm Hoạt động Vận dụng+ nâng cao : Hình thức: Cả lớp Kĩ thuật : Làm việc nhóm, học theo dự án Bước 1: Trên cơ sở hướng dẫn HS thực hiện dự án từ tiết trước, GV hướng dẫn cụ thể cách thức làm việc và những tiêu chí đánh giá cụ thể đối với từng cá nhân, từng nhóm: 1. Các nhóm tự đánh giá ý thức, năng lực làm việc, hợp tác nhóm của từng thành viên trong nhóm. 2. Các nhóm và giáo viên cùng đánh giá hiệu quả hoạt động nhóm của từng nhóm thông qua các hoạt động hàng ngày. 3. Các nhóm và giáo viên cùng đánh giá chất lượng của sản phẩm của từng nhóm thông qua báo cáo sản phẩm. 4. Kết quả tổng hợp của từng cá nhân gồm:
+ Kết quả tự đánh giá từng thành viên trong nhóm (Do thư ký của từng nhóm tổng hợp) + Kết quả sản phẩm của từng nhóm – GV cũng chú ý các nhóm cần có sự trao đổi trong quá trình làm việc vì một số vấn đề cần sử dụng kiến thức từ nhóm khác để giải quyết; đặc biệt giữa các nhóm được phân công phản biện lẫn nhau. – Học sinh thuyết trình trực tiếp gồm lời dẫn và video, các nhóm lắng nghe và bổ sung nhận xét. Phân công thư kí ghi kết quả tổng hợp. – Tổng hợp kết quả: các thành viên hoàn thành thu thập tài liệu, trình bày trước nhóm. Nhóm góp ý, bổ sung. – Xử lí toàn bộ thông tin thu thập được: các thành viên khớp các phần thông tin thành bản tổng hợp, sử dụng các thông tin để giải quyết các vấn đề trong chủ đề. – Nhóm thảo luận để thống nhất các vấn đề thành báo cáo hoàn chỉnh Bước 2: HS báo cáo kết quả – Các nhóm bốc thăm thứ tự và sau đó lên trình bày sản phẩm của mình trong thời gian 7-10 phút. – Các nhóm phản biện và các nhóm khác góp ý, bổ sung. Bước 3: Đánh giá, chốt vấn đề: – GV tổ chức cho HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau trong nhóm và các nhóm đánh giá nhau. GV kết hợp cho điểm những học sinh có tinh thần làm việc tích cực và kết quả làm việc tốt. + Đánh giá trong nhóm: Các thành viên thảo luận trong 5 phút đánh giá từng thành viên trong nhóm. Thư kí ghi lại kết quả. + Đánh giá các nhóm: Các nhóm trưởng thảo luận trong 5 phút đánh giá công việc của nhóm. Thư kí ghi lại kết quả. – GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành, tinh thần làm việc và kết quả của từng nhóm.
– GV phát phiếu và yêu cầu HS về nhà suy nghĩ hoàn thành phiếu tự đánh giá và nộp lại vào buổi học sau.
MỘT SỐ SẢN PHẨM THUYẾT MINH CỦA HỌC SINH VỀ CHỦ ĐỀ ĐỊA PHƯƠNG YÊN MÔ Sản phẩm 1: ĐỀN CAO SƠN (Lớp 10A – nhóm 6) Lã Phú Hoàng Dũng
Phạm Lê Vân Thảo
Phạm Tiến Hùng
Nguyễn Minh Sáng
Nguyễn Thành Hải
Mai Học Đức
Tạ Thị Mỹ Hạnh
Ninh Bình là vùng đất địa linh nhân kiệt, với rất nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như chùa Bái Đính, Tràng An, nhà thờ Phát Diệm. Đền Cao Sơn tại làng Tịch Trân, xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô là một di tích có nhiều nét độc đáo. Đền Cao Sơn thờ Thượng đẳng Cao Sơn đại vương, Tản Viên nguyên thánh thượng đẳng phúc thần cùng Huệ Minh phu nhân, Vương Dung công chúa. Dương thần là Cao Sơn, âm thần là Huệ Minh phu nhân, Vương Dung công chúa tôn thần vị tiền. Cao Sơn đại vương sống ở thời vua Hùng thứ mười sáu, có công đánh đuổi ngoại xâm bảo vệ đất nước. Ông là một vị thánh bất tử. Tương truyền, đền Cao Sơn được xây dựng từ hàng ngàn năm trước. Vị trí ban đầu của đền là trên đỉnh núi Sậu. Đến năm 1862, nhân dân trong vùng đã chuyển đền thờ xuống lưng chừng núi để thuận tiện việc thờ cúng. Trưởng ban kiến thiết lúc bấy giờ là bá hộ Vũ Hữu Thân. Người soạn văn bia là học chính tỉnh Ninh Bình Nguyễn Tuấn Khanh. Hiện nay bia đá vẫn còn được lưu giữ trong đền.
Đền được thiết kế theo kiểu cổ. Trong đền có tượng Cao Sơn và Huệ Minh, trước đền có cặp sư tử đá được đặt với mục đích hóa giải những trở ngại từ con sông chảy trước cửa đền. Trong đền có bát nhang đá cổ, được tạc nguyên thủy, chưa có họa tiết. Sau đền có bát nhang phụng sự bằng đá có điểm huyệt long mạch tơ nhện. Cổng đền được thiết kế theo lối “tàng phong tụ khí” với mục đích thu hút tài lộc cho dân trong vùng. Tương truyền, thần Cao Sơn vốn giáng ở đền Trung Sơn, làng Bình Sơn (xã Mai Sơn hiện nay). Một ngày, trẻ mục đồng võng lọng bằng yếm, khố rước các cụ về Tịch Trân. Khi phát hiện ra, các bô lão làng Bình Sơn đuổi theo đòi lại. Đám trẻ mục đồng kinh hãi quá liền đưa thẳng các cụ lên đỉnh núi Sậu và trốn vào trong hang. Đến năm 1862, bá hộ Vũ Hữu Thân cùng các cụ hương sắc trong làng mới đệ trình lên nhà nước lập nên đền thờ hiện tại.
(Nhóm Học sinh trải nghiệm tại đền Cao Sơn – Tịch Trân – Khánh Thượng)
Sản phẩm 2 ĐÌNH THƯỢNG THẮNG ĐỘNG (Lớp 10A –Nhóm 3) Lê Minh Đồng
Nguyễn Đình Hiếu
Nguyễn Quang Minh
Dương Minh Nghĩa
Nguyễn Duy Khánh
Phùng Quang Huy
Đào Thu Hương
Cách 12 km về phía Đông Nam của thành phố Ninh Bình, nằm cạnh con sông Vạc hiền hòa, ta đến với ngôi làng nhỏ yên bình: Thắng Động. Đây là nơi còn lưu giữ những kí ức của một thời hào hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đến với Thắng Động, ta không thể bỏ qua những ngôi đền cổ kính – chứng nhân lịch sử của một thời bom đạn. Một trong số những địa điểm đó là Đình Thượng. Đình Thượng ngự trên một vùng đất rộng khoảng 100m2, được cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2015. Theo sử sách ghi chép lại, đình thờ hai vị tướng Đông Hồ, Đông Hải – hai người anh em sinh đôi, lớn lên tại ngôi làng Thắng Động. Từ nhỏ, hai anh em đã thông minh, khỏe mạnh hơn người, lớn lên chứng kiến cảnh giặc Mông Cổ tàn bạo xâm lược nước ta, hai anh em đã cùng nhau tham gia kháng chiến, chiến đấu trên chính con sông Vạc của quê hương. Hai ông đã đào một con kênh dài 1km, mở đường cho tàu thuyền chở lương thực của ta di chuyển, tránh thiệt hại khi đối mặt với quân thù. Trong quá trình chiến đấu, hai người đã lập nhiều
chiến công, góp phần vào chiến thắng vang dội của quân ta. Hai anh em được nhà vua ban thưởng và phong cho họ làm Thượng Đẳng Thần (một chức quan lớn trong triều đình xưa). Sau khi mất, hai vị quan được nhân dân tại quê nhà lập đền thờ cúng. Đình Thượng gồm hai khu, khu thờ chính và khu thờ liệt sĩ. Khu thờ chính được chia làm hai phần: phía trước là Công đồng vừa cửa lễ, thờ cúng các quan canh gác, vừa là nơi tiếp khách. Sau công đồng là Hậu cung chính, là nơi thờ tướng Đông Hồ, Đông Hải và một vị trạng nguyên (ban đầu được thờ ở Đình Trung). Hậu Cung còn nguyên dạng hình dáng cũ với mái ngói vẩy rêu phong, gỗ lim cổ kính. Hai bên là hai vị quan canh gác, cầm đao đứng oai nghiêm. Từ cồng vào, phía bên trái là khu miếu thờ các anh hùng liệt sĩ con em quê hương đã hi sinh vì hòa bình của đất nước trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
Hiện tại, đình đã được tu sửa khang trang nhưng vẫn giữ lại được nét cổ kính vốn có của đình xưa: những khối đá chạm khắc tinh xảo, những cây cột gỗ bị phong hóa, mái ngói còn nguyên những vòng đuôi rồng. Đình Thượng là nơi tổ chức các hội làng. Hàng năm, vào ngày 26/8, ngày giỗ hai vị tướng Đông Hồ, Đông Hải, dân làng lại nô nức tụ họp sắm sửa cúng tế. Kì lạ là vào ngày này hàng năm thường có mưa rất lớn. Các bô lão trong làng thường nói đó là tiếng khóc thương của đất trời với hai vị tướng tài ba. Ngoài ra, ngày 10 tháng 3, dân làng còn tổ chức hội làng, đón tiếp rất nhiều con em của làng đi làm ăn xa trở về và các du khách thập phương.
(Nhóm Học sinh đi trải nghiệm tại đình Thượng – Thắng Động) Đình Thượng là một địa điểm tâm linh không thể bỏ qua khi đến Thắng Động. Đến đây, ta sẽ được ngắm cảnh cánh đồng mênh mông xanh tốt, dòng sông Vạc uốn lượn hiền hòa. Trong mùi thơm của lúa mới, bạn sẽ cảm thấy lâng lâng một niềm thành kính khi tưởng nhớ công lao của hai vị tướng và những người anh hùng quê hương đã hi sinh vì độc lập tự do của đất nước.
Sản phẩm 3 CHÙA PHƯƠNG NẠI (LỚP 10M – NHÓM 6) Nguyễn Thị Mỹ Lệ
Lưu Thị Hương
Đinh Thị Thu Thảo
Lê Thị Tuyết Mai
Đạo Phật từ Ấn Độ truyền vào Việt nam đến nay đã hàng ngàn năm lịch sử. Đạo Phật đã gắn bó, hòa nhập với dân tộc, cùng với những thăng trầm của lịch sử để
viết nên những trang sử vàng son, góp phần xây dựng nền văn hóa dân tộc, mang lại đời sống tinh thần an lạc, hạnh phúc cho người Việt. Làng Phương Nại thuộc xã Yên Nhân, Yên Mô đã được hình thành trên 500 năm. Ngôi chùa làng đồng thời được xây dựng ngay sau đó, với tên gọi của làng. Ngôi chùa còn có tên Hán ngữ là Phúc Hải tự với ý nghĩa mang lại nhiều phúc phận đối với dân làng. Sở dĩ như vậy là vì sự lễ bái kính ngưỡng vào Tam bảo, sự hoằng truyền chánh pháp đến với dân nghèo. Ngôi chùa trải qua các đời truyền thừa Phật Pháp, kế đăng tục nhiệm của các vị sư như: Tỳ kheo Thích … Vực, tỳ kheo Ni Thích … Hằng, tỳ kheo Thích … Nghiêm, tỳ kheo Thích Đàm Tâm và cho đến bây giờ là Tỳ kheo Thích Minh Ngộ noi bước đường của chư vị tổ sư từ sơn môn pháp tổ đình Kim Liên mà độ chúng hoằng pháp. Để viết về sự thanh tịnh, trong lành của ngôi chùa, một phật tử có làm một bài thơ như sau: Phương Nại nắng sớm mùa xuân Trưa hè sáng chói gió làn tung bay Sang thu mưa nhẹ gió thiền Đến đông cũng lại ấm lòng người thăm Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng, Phương Nại trở thành một ngôi chùa đẹp hấp dẫn bao du khách thập phương. Qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ, hiện nay ngôi chùa được xây lên hai tầng với kiến trúc truyền thống kết hợp với hiện đại. Do diện tích của chùa hẹp nên việc xây lên hai tầng vừa phù hợp với kiến trúc tổng thể vừa gia tăng diện tích, phù hợp với việc thực hiện các hoạt động của nhà chùa, trong đó có việc tổ chức các khóa tu cho nhân dân trong vùng.
(Nhóm học sinh trải nghiệm tại chùa Phương Nại – Yên Nhân – Yên Mô) Chùa Phương Nại từ lâu gắn bó với đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng, hiện nay tiếp tục mở rộng các hoạt động hướng con người tới những điều tốt lành, lương thiện. Các khóa tu của nhà chùa dành cho thiếu nhi, thanh niên dạy các bạn trẻ về cách đối nhân xử thế, cách tiêu dùng, cách nhìn nhận cuộc sống… đưa các em hướng tới các giá trị Chân Thiện Mỹ. Theo Thầy Thích Minh Ngộ, nhà sư trụ trì, ngôi chùa sẽ được mở rộng quy mô hơn nữa, với các khóa tu lớn thu hút hàng ngàn học sinh. Nhà chùa cũng sẽ tổ chức các hoạt động từ thiện, các lớp giảng về Phật pháp tại những nơi có hoàn cảnh khó khăn…
Phương Nại, nơi êm ả, thanh bình và an yên. Còn chần chừ gì nữa mà bạn không đi cùng chúng tôi đến nơi này.
Sản phẩm 4 GỐM BỒ BÁT (Lớp 10E – nhóm 6) Lã Thị Hoa
Nguyễn Minh Tiến
Vũ Thị Kim Oanh
Hoàng Văn Dương
Phạm Thanh Hải
Tạ Văn Đạt
Cách đây hàng ngàn năm trước, nhân dân ta đã biết làm và sử dụng đồ gốm, sứ. Bằng bàn tay khéo léo và sự tỉ mỉ, các nghệ nhân đã cho ra đời những sản phẩm gốm sắc trắng. Hàng trăm năm qua, gốm Bát Tràng hiện diện trong đời sống của mỗi gia đình, đi vào ca dao tục ngữ và là một thương hiệu vững chắc trong nước, đồng thời được mang xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Nhưng cũng bằng ấy thời gian, gốm Bồ Bát trở thành một cái tên gần như bị lãng quên, khiến cho không mấy người biết được rằng đó chính là cốt lõi để tạo ra gốm Bát Tràng ngày nay. Làng Bồ Bát xưa, nay là làng Bạch Liên, thuộc xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Theo sử sách ghi lại, làng gốm Bồ Bát ( thời đó thuộc phủ Trường Yên) đã nổi danh với những sản phẩm gốm sắc trắng độc đáo do bàn tay những người thợ tài hoa của làng sáng tạo ra. Điều này được xác nhận qua dấu tích lịch sử của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc đã được tìm thấy rất nhiều ở vùng này. Thời Lý – Trần, những người thợ tài hoa của làng đã sáng tạo ra những sản phẩm cao cấp như gạch đất nung “Đại Việt quốc quân thành chuyên” – loại gạch chuyên dung để xây thành, các sản phẩm gốm tinh xảo như đầu rồng, mặt linh thú, bát đĩa, đồ gia dụng… Năm 1010, khi vua Lý Thái Tổ rời đô về Thăng Long, hàng loạt các nghệ nhân làng nghề Bồ Bát đã theo triều đình về đất Thăng Long xây dựng kinh đô mới, sản
xuất các sản phẩm gốm sứ để phục vụ triều đình và dân sinh. Những nghệ nhân này đến định cư tại vùng đất ven sông Hồng, nơi có đất sét tốt để sản xuất gốm sứ và thành lập nên làng nghề Bát Tràng ngày nay. Sau khi những nghệ nhân giỏi theo triều đình ra Thăng Long lập phường làm gốm mới, người dân Bồ Bát không còn giữ được nghề truyền thống, dần dần những người ở lại chủ yếu cấy lúa, làm ruộng để sinh sống và dần lãng quên đi cái nghề hưng thịnh một thời. Anh Phạm Văn Vang, giám đốc Công ty TNHH Bảo Tồn và Phát triển gốm Bồ Bát, người đầu tiên xây dựng và hồi sinh nghề gốm cổ. Xưởng gốm Bồ Bát với quy mô hơn 500m2, là xưởng đầu tiên và duy nhất của làng Bạch Liên cho đến nay được dựng lên sau hàng nghìn năm chìm vào quên lãng. Sản phẩm chính của công ty là ấm chén, bát đĩa, lọ hoa, các sản phẩm mang hoa văn, họa tiết khác biệt, liên quan tới các giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời của mảnh đất cố đô như khu du lịch sinh thái Tràng An, cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, Tam Cốc, Bích Động… Sản phẩm gốm Bồ Bát ra thị trường được đánh giá tốt do men dày, trắng và sâu men, độ bền cơ học tốt, giá thành bằng một nửa so với sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đội ngũ thợ có tay nghề giỏi của xưởng gốm hiện đang tập trung nghiên cứu, chọn lọc tìm hiểu những nét văn hóa đặc trưng, hiện vật đặc sắc của quê hương để chuyển tải bằng nét vẽ hoa văn, hình ảnh cách điệu trên gốm. Dù ngày nay, đã có các thiết bị máy móc tiên tiến nhưng để làm ra đồ gốm, người thợ phải trực tiếp làm các khâu trung gian như chọn, xử lí, pha chế đất, tạo dáng, phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm. Để tạo ra sản phẩm đẹp, người thợ phải thật cẩn thận trong mọi công đoạn từ chọn đất cho đến ra sản phẩm. Tuy ngày nay đã có các khuôn mẫu, máy móc hiện đại nhưng vẫn không thể lơ là công đoạn này. Kinh nghiệm của người làm gốm xưa nay vẫn vậy: nhất xương, nhì da, thứ ba tạc lò. Cái cốt lõi là phải tạo được khung của sản phẩm rồi mới đến các công đoạn sau đó. Để tạo nên thành phẩm thì phải trải qua các quá trình: chọn đất, xử lí và pha chế đất, tạo dáng, chế tạo men, tráng men. Vì có máy móc tiên tiến và hiện đại nên một số quá trình đã bị lược bỏ nhưng không vì vậy mà làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Sau khi hoàn thành các công đoạn thì cho vào lò đốt. Có các loại lò như lò ếch, lò đàn, lò bầu, lò rồng, lò con thoi… nhưng sử dụng phổ biến nhất vẫn là lò tuy nen. Sau khi cho vào lò,
người nghệ nhân xếp xen kẽ nhau tùy thuộc vào hình dáng, kích thước sao cho vừa tiết kiệm được nhiên liệu vừa đạt được hiệu nhiệt cao. Quy trình này được gọi là trồng lò. Sau khi trồng lò, mới đốt lò. Người nghệ nhân phải canh đủ 36 tiếng mới cho ra lò một mẻ gốm mới và đem về vẽ họa tiết. Sản phẩm gốm Bồ Bát rất đẹp và mịn, những hoa văn họa tiết theo di tích lịch sử của Ninh Bình. Dưới đáy mỗi loại sản phẩm đều in logo bông sen và chữ “Bạch Liên”, có nghĩa là bông sen trắng. Dưới bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, các sản phẩm đẹp mắt, chất lượng ngày càng nâng cao, gốm Bồ Bát trở thành thương hiệu gốm được ưa chuộng, không chỉ ở Việt Nam mà còn trở thành thương hiệu xuất khẩu đi các nước trên thế giới. Với những ưu thế của gốm Bồ Bát, chúng tôi hi vọng sản phẩm sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ.
Sản phẩm 5
GỐM BỒ BÁT (Lớp 10A – nhóm I) Phạm Thị Thùy Giang
Nguyễn Thái Tuấn
Vũ Thị Thanh Huyền
Vũ Việt Dũng
Lê Minh Nghĩa
Nguyễn Thị Khánh Linh
Nguyễn Thị Hương Ly
Hàng trăm năm qua, gốm Bát Tràng đã là một “thương hiệu” nổi tiếng từ Bắc vào Nam và tiếng tăm còn vượt cả ra ngoài biên giới. Gốm Bát Tràng hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của mỗi gia đình, gốm Bát Tràng đi vào thơ ca, ca dao, tục
ngữ… Nhưng cũng từng ấy thời gian, gốm Bồ Bát lại là một cái tên gần như bị lãng quên khiến ít người biết rằng đó là tổ nghề của gốm Bát Tràng. Những tưởng cái tên làng gốm Bồ Bát xưa sẽ mãi chỉ thuộc về kí ức của những người trong thôn thì thật may mắn khi vào năm 2006 anh Phạm Văn Vang (ngụ tại thôn Bạch Liên-xã Yên Thành- huyền Yên Mô- tỉnh Ninh Bình) sau nhiều năm “khăn gói” lên Bát Tràng học lại nghề tổ đã về quê xây dựng lại thương hiệu gốm Bồ Bát xưa và mở ra một xưởng gốm mới với diện tích 300m2 đồng thời tình nguyện truyền đạt nghề đến với những người dân nơi đây. Làng gốm Bồ Bát xưa, nay là thôn Bạch Liên thuộc xã Yên Thành huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Theo sử sách ghi lại làng gốm Bồ Bát đã nổi danh cách đây hàng ngàn năm với những sản phẩm gốm sáp trắng độc đáo và nhiều chủng loại. Thời Lý Trần những người thợ tài hoa của làng đã sáng tạo ra những sản phẩm cao cấp như gạch đất nung mang tên “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (loại gạch chuyên dùng để xây thành) Bên cạnh đó còn có không ít những di vật gốm tinh xảo như đầu rồng, linh thú,… đã được tìm thấy khi khai quật khảo cổ tại khu vực đền vua Đinh, vua Lê. Để có thể làm ra một sản phẩm gốm nghệ thuật thì phải trải qua rất nhiều công đoạn. Đầu tiên đó là khâu làm đất hay còn gọi là thấu đất. Những khối đất được lấy tại chính vùng đất trong thôn được đem về xưởng để ngâm vào bể chứa. Trong bể chứa chia làm 4 ngăn bể với những chức năng riêng để xử lí đất sét như: bể đánh để ngâm đất sét trong vòng 3-4 tháng cho đất chín rồi đánh thành dịch lỏng đổ sang bể lắng. Khi các chất tạp nổi lên trên bề mặt dịch lỏng sẽ được tách ra khỏi tạp chất và đưa sang bể phơi trong khoảng 3-4 ngày. Và cuối cùng dịch lỏng được đưa sang bể ủ. Đất ủ càng lâu sẽ có thể làm ra sản phẩm càng tốt.
Sau khi đã xử lí tốt đất sét sẽ chuyển sang công đoạn tạo hình sản phẩm (chuốt gốm). Có 3 phương pháp tạo hình chính là: Tạo hình trên bàn xoay; tạo hình bằng khuôn và nặn đắp bằng tay. Cũng có những sản phẩm được tạo bởi sự kết hợp của cả 3 phương pháp trên. Với phương pháp tạo hình đắp nặn bằng tay thì yêu cầu kỹ thuật rất cao được thể hiện rõ qua hình ảnh các con kê; đỉnh gốm, bao nung, lon, vại, các loại linh thú, tượng… Phương pháp thứ 2 là phương pháp tạo hình trên bàn xoay. Đây là phương pháp đã có từ rất xưa. Đất luyện kỹ vừa, có độ dẻo được nặn thành dây dài to bằng cổ tay, người thợ chuốt ngắt từng đoạn, khoanh trũng giữa bàn xoay, chân phải đạp bàn, hai tay chuốt. Mọi sản phẩm to, nhỏ, dày, mỏng đều do hai bàn tay điều khiển, không có khuôn mẫu nhất định, kích thước từng cỡ do mực mắt, có sai lệch nhưng không đáng kể. Tạo hình bằng bàn xoay, thường dùng để sản xuất những sản phẩm gốm có kích thước lớn như: Chum, lọ, bình, âu…Và phương pháp thứ 3 là tạo hình bằng khuôn: Phương pháp này thường dùng để sản xuất các loại sản phẩm có khối lượng lớn như: Bát, đĩa, chén…
Sau khi trải qua khâu tạo hình, các sản phẩm được đem phơi khô và rồi được đưa vào khâu trang trí. Với những sản phẩm không cần họa tiết trên thân thì không trải qua khâu này. Người thợ dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết. Thợ vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn họa tiết phải hài hoà với dáng gốm, các trang trí hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi cái là một tác phẩm. Thợ gốm Bồ Bát cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu… Với những sản phẩm đòi hỏi yêu cầu cao ở hình dảng thì sau khi chuốt và phơi nắng xong, khi nào đất se cứng thì tiến hành sửa, gọt, cạo nhẵn… theo đúng ý muốn. Các chi tiết khác như: quai, tai hoặc trang trí các hình động vật nổi, hoa lá… Tất cả đều được thực hiện ở giai đoạn này. Khắc vạch là phương pháp trang trí hoa văn chủ yếu. Người thợ gốm vẽ hoặc khắc vạch trực tiếp lên xương gốm sau đó đem nung. Một số sản phẩm gốm khác có hoa văn khắc chìm vào xương gốm được thực hiện bằng phương pháp in khuôn. Điển hình là các sản phẩm gốm men ngọc và gốm men hoa nâu. Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem
tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. Người thợ gốm Bồ Bát thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh. Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông. Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời cũng phải tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng lên từng loại xương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm…
Kĩ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là “kìm men”, và khó hơn cả là hình thức “quay men” và “đúc men”. Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyết trong nghề nghiệp ở đây. Sau đó người thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung.
Trước hết phải xem kĩ từng sản phẩm một xem có chỗ nào khuyết men thì phải bôi quệt men vào các vị trí ấy. Sau đó họ tiến hành “cắt dò”. Tức cạo bỏ những chỗ dư thừa men, công việc này gọi là “sửa hàng men”.
Cuối cùng là đưa những tác phẩm nghệ thuật đó vào lò nung. Đây là công đoạn quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Có nhiều loại lò được sử dụng. Nhưng phổ biến là lò cóc và lò bầu, gần đây là lò hộp. Nhiên liệu đun là củi, than cám hoặc gas. Tuỳ theo mỗi loại lò và mỗi dạng gốm cụ thể mà thời gian nung và nhiệt độ nung cũng khác nhau. Gốm đất nung ở nhiệt độ từ 600 – 900 độ C, gốm sành nâu từ 1100 – 1200 độ C, gốm sành xốp từ 1200 – 1250 độ C, gốm sành trắng từ 1250-1280 độ C và đồ sứ từ 1280 – 1350 độ C. Sản phẩm gốm Bồ Bát hiện nay được rất nhiều người ưa chuộng. Các sản phẩm trên thị trường được đánh giá rất tốt do men dày, trắng và sâu men, độ bền cơ học tốt, giá thành bằng một nửa so với sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đội ngũ thợ có tay nghề giỏi của xưởng gốm tập trung nghiên cứu, chọn lọc tìm hiểu những nét văn hóa
đặc trưng, hiện vật đặc sắc, cô đọng của quê hương để chuyển tải bằng nét vẽ hoa văn, hình ảnh cách điệu trên gốm. Đến đây được chứng kiến các nghệ nhân trẻ tuổi miệt mài vẽ các họa tiết lên sản phẩm, hay nhào nặn đất… dường như tôi đã thấy cái khí thế của một làng nghề đang dần quay trở lại, dù còn nhiều khó khăn trước mắt. Vậy là tâm huyết của chàng thanh niên trẻ tuổi Phạm Văn Vang và người dân làng Bạch Liên đã làm sống lại và đỏ lửa lò gốm cổ đã nguội tắt từ cách đây hàng trăm năm, sống lại thương hiệu gốm Bồ Bát.
Hiện nay thương hiệu gốm Bồ Bát được dần khẳng định mình trên thị trường trong nước. Và tôi tin rằng không bao lâu nữa những sản phẩm nơi đây sẽ vươn ra đấu trường gốm quốc tế. Nơi đây không chỉ là một địa chỉ lưu giữ những giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần lớn lao. Giữa bộn bề cuộc sống tấp nập nhưng nơi đây vẫn là một điểm đến một chốn đi về bình yên của con người. Nếu có dịp bạn hãy thử đến thăm làng gốm nơi đây để có thể trải nghiệm không khí làng nghề thủ công truyền thống.
Sản phẩm 6
CHÙA CỔ LINH (Lớp 10E – nhóm 2) Vũ Phương Nhung
Đỗ Thị Phương Thảo
Lã Thị Ngọc Anh
An Viết Đạt
Đinh Thị Hà Giang
Tạ Kim Dũng
Nguyễn Thị Thanh
Chùa có tên là ''Cổ Linh tự'' (chùa Cổ Linh). Theo truyền lại, chùa được khởi dựng cách đây khoảng 400 năm. Dưới sự quan sát của các nhà địa lý đã phát hiện ra khu đất có hình chữ ''Vương'' ( ), phong thủy hữu tình, linh khí hội tụ nên đã chọn để dựng chùa. Thế kỉ 17, nhà Trịnh thấy chùa có địa thế đẹp nên đã lấy quyền nhà chúa để chuyển chùa về cuối làng (vị trí của chùa Phượng Ban ngày nay) và đặt lăng mộ của gia tộc nhà Trịnh vào đất chùa. Từ đó dân cư trong làng bất an, đầu đinh suy giảm, chăn nuôi khó khăn, dịch bệnh hoành hành, lòng dân hoang mang lo sợ. Cho đến khi nhà Trịnh thất thủ dưới triều Tây Sơn, dân làng đã chuyển chùa tọa lạc tại vị trí cũ. Thăng trầm lịch sử, chùa trùng tu nhiều lần, nhưng hiện nay về cơ bản chùa vẫn giữ được phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Cũng từ đó, chùa có tên ''Cổ Linh Tự'' để khẳng định sự cổ kính và linh thiêng của ngôi chùa.
Chùa Cổ Linh nằm về phía Đông Bắc UBND xã Khánh Thịnh, cách thị trấn Yên Thịnh huyện Yên Mô 2km. Theo kết quả khảo cổ, vùng đất Yên Mô đã có con người sinh sống cách đây hàng vạn năm. Cuối năm 1945, tổng Yên Liêu gồm 3 xã cũ: Yên Liêu Thượng, Yên Liêu Hạ, Bồ Vi. Năm 1956, xã Khánh Thịnh được tách ra làm 3 xã: Khánh Thịnh, Yên Thạch lấy tên là Khánh Dương, Đồng Phú lấy tên là Khánh Thượng. Di tích thuộc Khánh Thịnh. Năm 1994, tái lập huyện Yên Khánh và huyện Yên Mô, di tích thuộc Yên Liêu Thượng, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Từ trung tâm thành phố Ninh Bình, du khách tới chiêm bái chùa Cổ Linh có thể đi theo 2 tuyến: đường bộ và đường thủy. Theo quốc lộ 1A (Ninh Bình-Thanh Hóa) khoảng 8 km tới ngã ba Bình Sơn, du khách rẽ trái vào đường 59 khoảng 8km sẽ tới thị trấn Yên Thịnh. Từ ngã tư thị trấn rẽ trái vào đường liên xã Khánh Thịnh - Khánh Dương 1km rồi tiếp tục rẽ phải vào đường liên thôn 1km là tới di tích. Ngoài ra, khách có thể đi thuyền từ bến Non Nước dọc theo sông Vân 6km đến ngã ba Cầu Yên, rẽ trái vào sông Vạc khoảng 9km. Về cơ bản, chùa Cổ Linh là công trình kiến trúc thờ Phật, một trong những tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của người Việt. Thông qua các pho
tượng, họ muốn gửi gắm những ước vọng lên các đấng thần linh tối thượng để xin phúc lành cho gia đình, cộng đồng xã hội và quốc gia. Theo nội dung văn bia, chùa Cổ Linh có từ xa xưa, đến giữa thời hậu Lê thì rước sang thờ chung ở chùa Phượng Ban. Sau đó được bắt đầu xây dựng lại vào năm Tự Đức thứ 35 (1882) với sự giúp đỡ của thiền sư Thanh Thiệu là người ấp này trụ trì tại chùa Bích Động (Hoa Lư) có công mở mang xây dựng chùa Cổ Linh. Cụ Hoằng Quỳnh Thuật pháp húy Thanh Côn là người có công xây dựng riêng chùa Cổ Linh. Sau đó, cụ Lê Công hiệu Từ Diễn thiền sư là người của bản thôn đã xuất gia tu đạo cúng tiến xây dựng 3 gian Tam Bảo, 5 gian Tiền Đường. Trải qua 100 năm tồn tại, nhiều nhà sư đã thay nhau trụ trì tại chùa. Các nhà sư đều tâm huyết trùng tu, xây dựng chùa ngày càng đẹp. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước, chùa Cổ Linh đã đóng góp nhiều công sức vào thắng lợi chung của dân tộc. Ngày 1/5/1950, ông Trịnh Văn Xước và ông Dương Quang Hào đã cắm cờ Việt Minh trên ngọn cây muỗm trước cửa chùa để phát động kháng chiến chống Pháp trên toàn xã. Nhiều thế hệ nhà sư đã trở thành chiến sĩ. Sư bác Thích Thanh Kiều đã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp, ở giai đoạn khốc liệt nhất với hình ảnh ''cả nước ra quân, toàn dân ra trận''. Sư tiểu Thích Thanh Thanh đã tình nguyện cởi áo cà sa, xin ra trận để chiến đấu và đã anh dũng hi sinh tại chiến trường. Tiếp sau đó, những ngày giao quân lên đường chiến đấu diễn ra sôi nổi ở khắp các thôn xóm, làng xã. Hàng trăm người con của quê hương đã lên đường ra mặt trận. Để động viên tinh thần cho các chiến sĩ, chùa Cổ Linh đã đóng góp lương thực, thực phẩm, đồng thời là nơi nuôi quân trước ngày nhập ngũ. Chùa cũng tham gia tích cực vào phong trào chăm sóc thương bệnh binh. Ngày 10/4/1970, thiếu tướng Tô Kí, chính ủy bộ tư lệnh quân khu 3 có thư cảm ơn, trong thư đồng chí viết: "trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta, chùa Cổ Linh đã giúp đỡ tích cực cho thương bệnh binh góp phần cùng quân khu hoàn thành nhiệm vụ nuôi dưỡng anh em thương bệnh binh. Bộ tư lệnh quân khu nhiệt liệt cảm ơn và hoan nghênh" Vinh dự cho chùa Cổ Linh, thượng tọa Thích Thanh Lũy được hội đồng chính phủ tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì "đã có thành tích trong cuộc khang chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc", ủy ban TWMTTQ tặng Huy chương cùng nhiều bằng khen vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân. Sư bác Thích Thanh Côi sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được về hưu an lạc tuổi già với quân
hàm Thượng tá. Sư thầy Dương Thị Thuấn được chủ tịch nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng ''đã có con độc nhất hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc''. Có thể thấy, hiếm có ngôi chùa nào mà số lượng các nhà sư gác nghiệp tu hành để tham gia chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc nhiều như chùa Cổ Linh. Đó là những tấm gương của những con người đức cao, đạo trọng, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc với tinh thần yêu nước nồng nàn "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Chùa Cổ Linh về cơ bản là công tình kiền trúc thờ phật. Ngoài ra trong khuôn viên của chùa còn có nhiều hạng mục công tình liên quan như: tháp - nơi đặt xá lỵ của các nhà sư, nhà Tổ-nơi thờ cúng các vị sư đã từng trụ trì ở đây và các vị tổ Tây, nhà thờ Địa Tạng, nhà khách. Tất cả các công trình này có kiến trúc khác nhau nhưng trong tổng thể lại kết hợp với nhau rất hài hòa để tạo cho chùa có một cảnh quan đẹp nhưng vẫn trang trọng và uy nghiêm. Theo truyền lại, trước đây, phía trước nhà thờ Tổ có đền Tam Thánh rất linh thiêng. Tả-hữu đền có bia hạ mã, nếu ai đi qua không xuống ngựa, xe thì sẽ gặp điều không may mắn. Dân làng thấy ngài hiển linh, xác định đây là con đường giao thông chính của làng, nên nhân dân đã rước Ngài ra khuôn viên chùa Phượng Ban ngày nay để phụng sự. Ngày nay, chùa Cổ Linh tọa lạc trên khu đất khá rộng, thoáng đãng. Chùa nằm liền kề với khu vực dân cư trong thôn. Tổng diện tích sử dụng là 8028 mét vuông, trong đó có 1740 mét vuông để xây dựng. Chùa quay về hướng tây - một trong hai
hướng cơ bản của di tích người Việt, với quan niệm hướng tây hợp với âm dương đối đãi nên Phật tọa yên vị. Cũng xuất phát từ thuật phong thủy trong xây dựng, phía trước cửa chùa có hồ nước, diện tích khoảng 30 mét vuông. Giữa hồ đắp rồng vàng, đầu rồng đặt pho tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát cao 2,4m. Tượng được tạc trong tý thế đứng, khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, các lớp áo buông thõng mềm mại, tay trái cầm bình nước Cam Lồ, tay phải chỉ thiên. Trong không gian chùa có nhiều cây cổ thụ tạo thế đẹp như: cây đại, cây muỗm ... hàng trăm năm tuổi.
Vườn chùa dựng năm cây tháp, công trình được xây theo hình vuông, cao khoảng 5m, tháp 3 tầng. Đế tháp vững chắc rồi nhỏ dần lên nóc với mái mui luyện. Trong tháp đặt xá lỵ của các vị Tổ chùa.
Từ vườn qua một khoảng sân nhỏ có chiều dài 15m, chiều rộng 3m là tới kiến trúc nội tự. Bố cục gồm 2 tòa: Tiền Đường và Tam Bảo. Tiền Đường có tất cả 5 gian, mái lợp ngói nam. Trung tâm nóc mái đắp hình cuốn thư đề ba chữ hán "Cổ Linh Tự", hai bên nóc trang trí đường triện. Hệ thống mái được liên kết bởi bộ vì ván mê với đường nét chạm trổ hoa lá tinh xảo. Mười tám cột gỗ chịu lực được đặt trên các chân đá tảng cổ bồng. Từ trái sang, trên các bàn thờ, ngoài bài trí đồ thờ, các ban đều đặt tượng. Ban thứ nhất đặt tượng Đức Ông, tượng được đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng, trang trí đề tài: rồng cuộn, lá thiêng... Ban thờ thứ hai đặt tượng Hộ Pháp Trừng Ác. Tượng cao to, tay cầm vũ khí với dáng tướng võ mạnh mẽ, mắt sáng quắc. Tượng làm nhiệm vụ răn con người bỏ ác. Ban thờ thứ ba đặt bộ Di Đà Tam Tôn. Tượng Phật A Di Đà ở giữa, hai vị Bồ Tát tạc trong tư thế gần giống nhau đứng hai bên. Hai vị Bồ Tát này luôn tạo thành cặp đôi đi theo Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sinh về cõi Tây phương cực lạc. Ban thứ tư đặt tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện, tay cầm viên ngọc, khuyên mọi người làm điều thiện. Ban thờ thứ năm đặt tượng Thánh Tăng (Thánh hiền), tạo không gian thâm nghiêm, đại diện cho hàng tăng chúng đức cao đạo trọng để truyền kinh pháp của đức phật tới chúng sinh.
Kéo dài thêm về phía sau là ba gian tòa Tam Bảo. Các cột gỗ được trang trí: lá hóa long, phượng, hổ, ... Các pho tượng đều được thếp vàng. Gian thứ nhất để bài trí đồ thờ, hai gian còn lại bày bức đại tự và tháp đặt trên đài sen. Trên ban thờ đặt tượng Cửu Long Thích Ca Sơ Sinh - một toàn Cửu Long đẹp, đạt ở trình độ kĩ thuật cao. Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay, hiếm thấy di tích nào có tòa Cửu Long đẹp như ở chùa Cổ Linh. Phía trước của tòa Cửu Long là hai pho tượng trong tư thế Thiên tử thiết triều, đội mũ bình thiên. Tượng Phạm Thiên - Đế Thích, tượng Dược Sư Lưu Li Quang Phật, tượng Quan Âm Nam Hải, bộ tượng Di Đà Tam Tôn, tượng Phật A Di Đà, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát,... Phía sau chùa còn có nhà Tổ, mọi phía được đặt các tượng Tổ. Mỗi pho tượng một vẻ với phong cách phác họa khác nhau nhưng nghệ nhân đã mang lại cho tín đồ phật tử những hình ảnh tương đối hoàn thiện về các vị Tổ chùa. Bên nhà thờ Tổ là nhà thờ Địa Tạng, kiến trúc năm gian, mái lợp ngói nam. Địa Tạng được Phật Thích Ca giao cho nhiệm vụ giáo hóa chúng sinh. Ngài nguyện chưa thành Phật khi chưa cứu độ hết chúng sinh ở miền âm phủ. Tượng được tạc trong trang phục áo cà sa, đội mũ tỳ lư. Nhìn chung, ngoài hệ thống đồ thờ phong phú và tượng thờ đa dạng, chùa Cổ Linh còn là sự kết hợp giữa nhiều bộ phận kiến trúc, nhưng chùa vẫn lưu giữ được phong cách truyền thống từ cách bài trí đồ thờ đến đặc trưng kiến trúc, mô tuýp trang trí, vật liệu xây dựng khiên chùa như hòa hợp với phong cảnh thôn dã trong vùng. Tất cả là những gợi mở đầy thú vị để du khách chiêm nghiệm mỗi khi tham quan chùa. Căn cứ vào kiến trúc, đồ thờ và những sự kiện, nhân vật lịch sử liên quan đến chùa Cổ Linh, di tích được xếp vào loại hình kiến trúc nghệ thuật và di tích lịch sử. Hàng ngày, chùa thường xuyên mở cửa để đón các tín đồ, phật tử và du khách về chùa hành hương, chiêm bái. Những dịp lễ sóc vọng (mùng một, rằm) dân làng thường biện lễ lên chùa cúng Phật như: trầu cau, rượu, oản, chuối, xôi,... Hàng năm, chùa có những ngày lệ sau: - Lễ Thượng Nguyên - Lễ Trung Nguyên - Ngày Phật đản (8/4 ÂL) - Ngày giỗ Tổ chùa (23/8 ÂL)
Vào những ngày lệ, chùa làm cơm chay mời dân làng. Tối đến tổ chức sinh hoạt văn nghệ, các loại hình văn nghệ được biểu diễn chủ yếu là múa, hát thể loại dân gian, chèo, dân ca,... Chùa là một công trình kiến trúc thời Nguyễn, mang phong cách kiến trúc dân tộc truyền thống. Chùa còn bảo quản được nhiều mảng khối chạm khắc đẹp, góp phần vào việc nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc ở tỉnh Ninh Bình. Đồng thời góp tiếng nói vào việc bảo tồn, trùng tu các kiến trúc truyền thống, để công việc này thực sự có cơ sở khoa học. Chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý: hệ thống tượng, đồ thờ, văn bia,... Đó là những nguồn sử liệu quan trọng giúp ta nghiên cứu về chùa Cổ Linh, về diễn trình phát triển của nghệ thuật tạo hình Việt với bước đi của lịch sử xã hội, đặc biệt là lịch sử văn hóa của người Việt Di tích là nơi tiếp diễn các sinh hoạt văn hóa cộng đồng về tín ngưỡng, tôn giáo, luôn gắn bó với đời sống cộng đồng. Nó đáp ứng được nhu cầu tâm linh của con người trong xã hội cổ truyền cũng như hiện đại Chùa cung cấp được những tư liệu và nhận thức cần thiết cho những nhà nghiên cứu và những người yêu thích nghệ thuật tạo hình dân tộc cổ truyền trên phương diện: niên đại, mĩ thuật và ý nghĩa. Cửa phật là nơi hướng con người đến lẽ huyền vị, đến cái chân, thiện, mĩ. Qua đó sẽ tạo một cơ sở nhìn nhận khách quan về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt trong văn hóa Việt Nam. Góp phần cho công tác giáo dục truyền thống, chống mê tín dị đoan. Ban quản lí Di tích và Danh thắng tỉnh Ninh Bình lập hồ sơ khoa học đề nghị Hội đồng khoa học xét duyệt trình UBND tỉnh Ninh Bình ra quyết định xếp hạng di tích chùa Cổ Linh, thôn Yên Liêu Thượng, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Thư mục tham khảo 1. Hoạt động trải nghiệm trong dạy học ngữ văn thông qua các bài học cụ thể”, Lưu Công Lương, Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn - Ninh Thuận, http://www.moet.gov.vn/giaoducquocdan/giao-duc-trung-hoc/ 2. Các dạng thức của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Ngữ văn THPT, Ths Lê Khánh Tùng, Trường ĐHSP Huế, https://www.khoanguvandhsphue.org/chi_tiet_hoat_dong.aspx? 3. Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo, biện pháp bồi dưỡng năng lực cho học sinh trong nhà trường THPT, Ths Trần Thị Hạnh Phương, Trường ĐHSP Hà Nội 2, http://hpu2.edu.vn/vi/khoa-ngu-van/nghien-cuu-khoa-hoc 4. Thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn, https://giaoducthoidai.vn/trao-doi/thiet-ke-va-to-chuc-hoat-dong-trai-nghiem-sang-taomon-ngu-van-3919602-v.html 5. Một số hình thức dạy học trải nghiệm môn Ngữ văn THPT, Mai Thư (GV Trường THPT Quỳnh Lưu 2 - Nghệ An), https://giaoducthoidai.vn/trao-doi/mot-so-hinh-thucday-hoc-trai-nghiem-mon-ngu-van-thpt-4030045-b.html 6. Dạy học văn bản "Vợ chồng A phủ" bằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Trần Thị Thức, GV Trường THPT Nguyễn Trung Thiên, http://thptnguyentrungthien.edu.vn/sinh-hoat-chuyen-mon/to-van/skkn-day-hoc-vanban-vo-chong-a-phu-bang-hoat-dong-trai-nghi.html 7. Một số tài liệu khác về chủ đề thuyết minh của đồng nghiệp.