BÁO CÁO NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
vectorstock.com/28062378
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection
SÁNG KIẾN ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP ÔN VÀ LÀM BÀI TRẮC NGHIỆM THI THPT QUỐC GIA MÔN LỊCH SỬ WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM
Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
MỤC LỤC I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến .................................................................... 1 II. Mô tả giải pháp ..................................................................................................... 4 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến......................................................... 4 1.1. Vai trò của môn Lịch sử ở trường THPT ..................................................... 4 1.2. Thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở trường THPT................................... 5 1.2.1. Về phía giáo viên ................................................................................... 5 1.2.2. Về phía học sinh và phụ huynh .............................................................. 6 1.3. Kết quả thi THPT Quốc gia ......................................................................... 7 1.3.1. Kết quả năm 2017 .................................................................................. 7 1.3.2. Kết quả năm 2018 .................................................................................. 7 1.3.3. Kết quả thi năm 2019 ............................................................................. 7 1.4. Nguyên nhân ................................................................................................ 8 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến kinh nghiệm .......................................... 11 2.1. Định hướng phương pháp học và ôn thi .................................................... 11 2.1.1. Xác định đúng mục tiêu, quyết tâm học tập, có kế hoạch cụ thể cho việc học .......................................................................................................... 12 2.1.2. Nắm vững kiến thức cơ bản ................................................................. 12 2.1.3. Phân chia kiến thức thành các mốc, các giai đoạn cụ thể .................... 13 2.1.4. Nắm vững các khái niệm, thuật ngữ và áp dụng phương pháp liên hệ ngang bằng ..................................................................................................... 15 2.1.5. Phương pháp học 5W – 1 How ............................................................ 17 2.1.6. Học theo sơ đồ tư duy, kết hợp từ “chìa khóa”.................................... 18 2.1.7. Phân bổ thời gian hợp lý, phương pháp cà chua (Pomodoro Technique)19 2.1.8. Học theo phương pháp cuốn chiếu, lượt đi lượt về ............................. 19 2.1.9. Học nhóm ............................................................................................. 20 2.1.10. Sử dụng điện thoại thông minh .......................................................... 20 2.1.11. Học onlie ............................................................................................ 21
2.1.12. Giải trí ................................................................................................ 21 2.1.13. Luyện đề............................................................................................. 21 2.2. Định hướng phương pháp làm bài thi trắc nghiệm khách quan ................. 22 2.2.1. Khái niệm ............................................................................................. 21 2.2.2. Tầm quan trọng của việc đổi mới theo hình thức thi trắc nghiệm khách quan ................................................................................................................ 22 2.2.3. Thực trạng của việc học sinh lựa chọn thi môn Lịch sử và thực trạng của việc đổi mới thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan. ....................... 25 2.2.3.1. Thực trạng học sinh lựa chọn thi môn Lịch sử .............................. 25 2.2.3.2. Thực trạng của việc đổi mới thi theo hình thức TNKQ ................ 26 2.2.4. Cấu trúc –ma trận của bài thi trắc nghiệm THPT quốc gia môn lịch sử27 2.2.4.1. Cấu trúc đề thi THPT quốc gia môn Lịch sử ................................. 27 2.2.4.2. Ma trận của bài thi trắc nghiệm THPT quốc gia môn lịch sử ...... 28 2.2.5.Các dạng câu hỏi thường sử dụng trong bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử .................................................................................................................... 30 2.2.5.1. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn câu trả lời đúng ............. 30 2.2.5.2. Dạng câu hỏi yêu học sinh lựa chọn câu trả lời đúng nhất ............ 31 2.2.5.3. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh phải hoàn thành câu (điền câu vào chỗ trống). ................................................................................................... 32 2.2.5.4. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn ý phủ định trong 4 phương án ................................................................................................................. 33 2.2.5.5. Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh phải kết nối đúng hoặc sắp xếp đúng trật tự ........................................................................................................... 34 2.2.5.6. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn tư liệu ............ 35 2.2.5.7. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn đúng phương án nhận xét, tranh biện về sự kiện, hiện tượng lịch sử (các quan điểm, chính kiến hoặc ý kiến nhận xét, đánh giá về lịch sử). ............................................................ 36
2.2.6. Một số lưu ý về phương pháp ôn và làm bài thi trắc nghiệm thi THPT quốc gia môn Lịch sử ..................................................................................... 37 2.2.6.1. Về phương pháp học, ôn thi THPT quốc gia ................................. 37 2.2.6.2. Về phương pháp làm bài thi trắc nghiệm khách quan ................... 39 2.2.6.2.1. Đọc thật kỹ câu hỏi và đáp án..................................................... 39 2.2.6.2.2. Xác định từ chìa khóa trong câu hỏi và đáp án .......................... 40 2.2.6.2.3. Dùng phương pháp loại trừ ......................................................... 41 2.2.6.2.4. Phân bổ thời gian hợp lý và tuyệt đối không được để trống đáp án khi nộp phiếu đáp án .............................................................................. 43 III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại ........................................................................ 424 1. Hiệu quả kinh tế ............................................................................................. 424 2. Hiệu quả về mặt xã hội..................................................................................... 44 3. Khả năng áp dụng và nhân rộng IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
47 47
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Kí hiệu chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
THPT
Trung học phổ thông
2
GD-ĐT
Giáo dục và đào tạo
3
SGK
Sách giáo khoa
4
KHTN
Khoa học tự nhiên
5
KHXH
Khoa học xã hội
BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam Lịch sử là ngành khoa học chuyên nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người nói chung hay của từng quốc gia, dân tộc. Lâu nay việc dạy và học Lịch sử luôn được dư luận xã hội quan tâm đặc biệt. Học lịch sử, hiểu lịch sử, để góp phần làm người có ích. Lời nói đầu của Hiến Pháp năm 2013 ghi rõ: “Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, đấu tranh anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nền văn hiến Việt Nam”. Tại Đại hội của Hội Khoa học lịch sử diễn ra ngày 30/11/2015, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nhấn mạnh: “Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phải có trách nhiệm làm cho các cơ quan quản lý và xã hội thấy được tầm quan trọng của môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời có những đóng góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học môn Lịch sử”. “Cần triển khai tích cực những hoạt động để nâng cao hiểu biết và niềm yêu thích của nhân dân, nhất là những thế hệ trẻ đối với lịch sử dân tộc”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”, “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm
trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học và đánh giá cuối kì, cuối năm học, đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học, đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội”. Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay, đổi mới kiểm tra đánh giá được xác định là khâu đột phá trong đổi mới giáo dục. Ngày 09/9/2014, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành quyết định số 3538/QĐ về việc phê duyệt phương án thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng từ năm 2015 (gọi tắt là kì thi THPT Quốc gia). Trong kì thi THPT Quốc gia năm 2015, kết quả bài thi của thí sinh đã được xét công nhận tốt nghiệp THPT và làm căn cứ để các cơ sở giáo dục đại học sử dụng trong tuyển sinh đại học, cao đẳng. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ – TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”, “Đổi mới kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng, kết hợp kết quả kiểm tra, đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi”. Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung. Từ năm 2016 – 2017, bộ môn Lịch sử đã có một thay đổi to lớn. Bộ GD – ĐT đã quyết định thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá. Theo đó, bộ môn Lịch sử được kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Bộ môn Lịch sử nằm trong tổ hợp môn xã hội: Sử - Địa – Giáo dục công dân khi kiểm tra THPT Quốc gia cho học sinh lớp 12. Sự thay đổi này đã tạo nên một sự chuyển biến lớn trong việc ôn luyện và kiểm tra THPT Quốc gia nói chung và bộ môn Lịch sử nói riêng.
Hiện nay ở các trường phổ thông, đã áp dụng rất nhiều phương pháp dạy học, nhiều phương tiện kĩ thuật mới và bước đầu mang lại những hiệu quả thiết thực cho quá trình dạy và học, nhất là đối với bộ môn lịch sử. Quá trình sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học là một xu thế hiện nay đã mang lại hiệu quả đáng kể. Hay áp dụng nguyên tắc dạy học liên môn, dạy học theo nhóm, dạy học theo chuyên đề... đã góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử. Việc thay đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm, đã tác động lớn đến sự thay đổi về phương pháp học và kết quả môn học. Sự thay đổi phương pháp thi theo hướng mới khiến không ít học sinh, nhất là các em học sinh lớp 12 băn khoăn, thắc mắc về phương pháp học, phương pháp ôn thi, phương pháp làm bài như thế nào để có kết quả tốt nhất. Sự thay đổi này cũng gây không ít khó khăn cho giáo viên trong việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh. Từ thực tế nhiều năm hướng dẫn học sinh ôn thi THPT Quốc gia môn Lịch sử (từ năm học 2016-2017 đến năm học 2028-2019) và ôn thi tốt nghiệp (năm học 2019-2020). Qua kết quả các kì thi những năm trước cho thấy, rất nhiều em yêu thích môn lịch sử và lựa chọn môn này làm môn thi THPT Quốc gia nhưng lại khó khăn trong việc tìm ra phương pháp học tập, ôn luyện. Không ít học sinh rất tự tin vào kiến thức của mình, kể cả một số học sinh đã từng ôn thi học sinh giỏi nhưng vẫn lúng túng khi xác định và trả lời các dạng câu hỏi trắc nghiệm. Do đó, kết quả thi thường không tương xứng với kiến thức mà các em đang có. Học sinh cần có sự điều chỉnh phương pháp học để khắc phục những hạn chế trên. Bản thân Tôi là giáo viên trực tiếp hướng dẫn học sinh ôn thi môn Lịch sử, đây là môn học đòi hỏi độ tư duy cao, không chỉ học thuộc hay chăm chỉ giải đề trắc nghiệm, môn Sử yêu cầu các em có cách học và ôn thi đúng đắn. Từ thực tiễn giảng dạy, Tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp và cách thức ôn tập phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cho bài thi của học sinh. Vì vậy, Tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài
“ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP ÔN VÀ LÀM BÀI TRẮC NGHIỆM THI THPT QUỐC GIA MÔN LỊCH SỬ” II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Vai trò của môn Lịch sử ở trường THPT Trong các bộ môn ở trường THPT thì môn Lịch sử có một vị trí vô cùng quan trọng. Bởi lịch sử giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, niềm tự hào dân tộc, tình đoàn kết quốc tế. Đồng thời, học lịch sử còn bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống cho các em, góp phần rất lớn trong việc hoàn thiện nhân cách học sinh. Điều này rất phù hợp với mục tiêu đào tạo của nền giáo dục nước ta, đó là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện cả đức lẫn tài. Lịch sử là hiện thực khách quan, chính là cuộc sống lao động đấu tranh. Vì vậy, học lịch sử không chỉ là phản ánh đúng cuộc sống đã qua mà phải gắn với cuộc sống hiện tại và dự đoán sự phát triển của tương lai. Nguyên lí “học đi đôi với hành”, gắn học tập với đời sống, phải thực hiện đúng, có hiệu quả cao. Điều này càng có ý nghĩa khi mà ngày nay cuộc sống có nhiều biến đổi. Qua khứ – hiện tại –tương lai là những giai đoạn khác nhau về chất của quá trình phát triển lịch sử, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau,giúp chúng ta đúc rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Dù còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường hay đã là một công dân thì việc cần làm là nhận thức cho đúng đắn, phải có sự am hiểu rõ về Lịch sử dân tộc để không bị lôi kéo vào con đường phản bội, xuyên tạc quê hương, đất nước. Quá trình dạy học lịch sử là quá trình nhận thức, nó không chỉ có nội dung mà còn có phương pháp dạy học, bởi vậy việc đổi mới nội dung gắn liền với đổi mới phương pháp. Vì vậy dạy học lịch sử theo phương pháp “ lấy học
sinh làm trung tâm” là nhằm để phát huy tính chủ động, năng lực tư duy sáng tạo của học sinh trong học tập lịch sử có hiệu quả. Từ đó giúp cho học sinh có nhận thức đúng đắn trong việc nắm bắt những kiến thức của khoa học lịch sử cơ bản ở trường phổ thông. Theo PGS.TS Võ Văn Sen“lịch sử Việt Nam có hàng ngàn năm văn hiến, lịch sử của ta đẫm máu và đầy những trang anh hùng ca chống chọi với các kẻ thù lớn mạnh. Với bề dày lịch sử như thế, dạy học sinh hiểu, biết về sử cũng như văn, tiếng Việt là vấn đề sống còn đất nước”. “Học sinh tốt nghiệp THPT thì phải hiểu biết lịch sử dân tộc, hiểu biết về đất nước, phải có kiến thức căn bản đó để trở thành một công dân, để làm người”. Học lịch sử, hiểu lịch sử, để góp phần làm người có ích. Giá trị của dạy học Lịch sử là những giá trị tinh thần, giá trị của ý thức truyền thống, của niềm tin, của tính nhân văn cao cả. Lịch sử là quá khứ, là nơi chứa đựng giá trị văn hóa, là nguồn dữ liệu để tham chiếu kinh nghiệm cha ông vào sự phát triển hôm nay. Nếu không có lịch sử không thể hiểu được vị trí của hiện tại, với ý nghĩa đó thì nếu lịch sử còn thì văn hóa còn, và văn hóa còn thì dân tộc còn. 1.2. Thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở trường THP Lâu nay việc dạy và học Lịch sử luôn được dư luận xã hội quan tâm, là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT, Tôi thấy tồn tại nhiều vấn đề có những thuận lợi cũng như khó khăn. 1.2.1. Về phía giáo viên Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT rất nhiệt tình, tận tâm trong giảng dạy, đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bộ môn, đều có kiến thức chuyên môn đạt chuẩn, luôn có xu hướng tìm tòi, tích lũy kiến thức, tích cực đổi mới phương pháp dạy học sao cho thu hút học sinh. Giáo viên giảng dạy tại các trường THPT không tránh khỏi những áp lực lớn từ “căn bệnh thành tích” qua các cuộc thi, các kì thi, … với khối lượng kiến thức nhiều mà thời lượng dành cho bộ môn ít, nên dẫn tới thực trạng dạy học môn lịch sử ở một số trường trung học phổ thông chỉ là sự truyền thụ kiến thức
một chiều, cung cấp kiến thức một cách thụ động, làm cho bài giảng trở nên khô khan dễ gây nên sự nhàm chán ở học sinh, hệ quả là làm cho học sinh không thích thú với việc học sử.Đồng thời giáo viên dạy Lịch sử cũng chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cấp quản lý, phụ huynh học sinh về bộ môn. 1.2.2. Về phía học sinh Đa số học sinh đều có thái độ tốt, hứng thú học tập với bộ môn, say mê sưu tầm các loại tài liệu tham khảo bổ sung cho học tập, một số học sinh có năng khiếu bộ môn có điều kiện để nghiên cứu chuyên sâu. Bên cạnh đó, nhiều em lại không hứng thú với môn Lịch sử cho nên vẫn chưa chủ động khám phá kiến thức, chưa chủ động lên kế hoạch học tập, đi học còn thiếu sách vở, không ghi chép bài, không làm bài tập, nhiều học sinh còn không nắm được kiến thức cơ bản…. Thực tế có những em rất yêu thích lịch sử, học lịch sử rất tốt ở các năm học trước nhưng đến kỳ thi THPT quốc gia, các em đành phải lựa chọn một cách thực dụng để có thể đạt kết quả tốt nhất cho mục tiêu quan trọng nhất của tương lai - đó chính là việc xét tuyển ĐH. Rất nhiều trường ĐH, ngành nghề trên ĐH đã từ chối môn sử dù ai cũng có thể chỉ ra rằng môn sử rất quan trọng cho nghề nghiệp trong tương lai như báo chí, kiến trúc..., nên học sinh chẳng mấy quan tâm đến học lịch sử cũng là dễ hiểu. Môn sử chỉ còn xuất hiện trong tổ hợp bài thi xã hội để xét tốt nghiệp. Ngay chính trong bài tổ hợp xã hội này, môn sử lại tiếp tục bị thờ ơ vì nó là gánh nặng cho các em học sinh. Bài thi xã hội gồm có sử - địa - giáo dục công dân. Môn giáo dục công dân nội dung ôn tập nhẹ nhàng, môn địa lý có cứu cánh là Atlat thì môn sử gây lo sợ với khối lượng kiến thức quá nhiều. Cho nên sự lựa chọn của các thí sinh là học sơ sài, không có hệ thống nhằm mục tiêu không bị điểm liệt là đủ. Trong sự thờ ơ đó, nỗ lực của các giáo viên cũng như gió vào nhà trống và phổ điểm u ám đối với bộ môn lịch sử là một hệ quả tất yếu. Đối với học sinh khối 12, chương trình môn Lịch sử chiếm 1.5 tiết/tuần, lượng kiến thức khá nặng, chưa kể thi theo cấu trúc của Bộ GD-ĐT trong những năm qua có cả kiến thức lớp 11. Vì vậy, số lượng các em đăng kí thi THPT Quốc gia
theo THXH và THTN có sự chênh nhau rất lớn ở một số trường, trong đó có trường Tôi đang giảng dạy. Trong bối cảnh học thực dụng như hiện nay, tình trạng học yếu môn lịch sử sẽ còn tiếp diễn trong các năm sau vì việc điều chỉnh độ khó, dễ của đề thi chỉ giải quyết được phần ngọn của vấn đề. 1.3. Kết quả thi THPT Quốc gia 1.3.1. Kết quả năm 2017 Theo báo VietNamNet – Ngày 7/7/2017 - (Xem phụ lục 1) Theo đó, điểm trung bình của môn Lịch sử năm nay trên cả nước là 4.6 điểm. Số thí sinh có điểm dưới trung bình là 315.957 TS – chiếm 61,9%. Số TS có điểm liệt (<=1 điểm) là 869 TS. Điểm số có nhiều TS đạt nhất là 4.0 điểm. Cả nước có 107 TS đạt điểm 10 môn Lịch sử. Số TS đạt từ 9 đến 9,75 điểm là 3876 TS. Có 501 TS có điểm 0. 1.3.2. Kết quả năm 2018 Theo báo VietNamNet – Ngày 11/7/2018- (Xem phụ lục 2) Theo đó, điểm trung bình của môn Lịch sử năm nay trên cả nước là 3,79 điểm. Số thí sinh có điểm dưới trung bình là 468.628 TS – chiếm 83,24%. Số TS có điểm liệt (<=1 điểm) là 1.277 TS. Điểm số có nhiều TS đạt nhất là 3,25 điểm. Cả nước có 11 TS đạt điểm 10 môn Lịch sử. Số TS đạt từ 9 đến 9,75 điểm là 658 TS. Có 527 TS có điểm 0. 1.3.3. Kết quả thi năm 2019 Theo báo VietNamNet – Ngày 15/7/2019- (Xem phụ lục 3) Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2019, có 569.905 thí sinh dự thi môn Lịch sử (thuộc tổ hợp bài Khoa học Xã hội). Thống kê của Bộ GD&ĐT qua dữ liệu điểm thi THPT quốc gia 2019 cho thấy, số thí sinh có điểm dưới trung bình là 399.016 (chiếm 70,01%). Số thí sinh có điểm liệt (<=1 điểm) là 395. Môn Lịch sử có điểm trung bình là 4,3 và có 80 bài thi đạt điểm 10 trong cả nước.
Như vậy, so với năm 2018, điểm trung bình của môn Lịch sử 2019 là 4,3, cao hơn năm 2018. Tuy nhiên, so với năm 2017, điểm thi năm 2018 thấp hơn (năm 2017 là 4,6 điểm). 1.3.4. Kết quả thi năm 2020 Theo báo VietNamNet – Ngày 27/8/2020- (Xem phụ lục 4) Trong kì thi THPT quốc gia năm 2020, có 553.987 thí sinh dự thi môn Lịch sử (thuộc tổ hợp bài Khoa học Xã hội). Thống kê của Bộ GD&ĐT qua dữ liệu điểm thi THPT quốc gia 2020 cho thấy, số thí sinh có điểm dưới trung bình là 260.074 (chiếm 46.95%). Số thí sinh có điểm liệt (<=1 điểm) là 111 (chiếm 0,02%). Môn Lịch sử có điểm trung bình là 5,19 và có 371 bài thi đạt điểm 10 trong cả nước. Như vậy, so với những nămtrước đó (2017, 2018, 2019) điểm trung bình môn lịch sử năm 2020 là 5,19 - cao hơn. 1.4. Nguyên nhân Theo kết quả công bố của Bộ giáo dục về điểm môn Lịch sử "rớt" một cách thê thảm qua các kì thi THPT quốc gia. Nhiều người sốc, cảm giác lo lắng trước điểm thi môn Sử nhưng lại không hề bất ngờ. Chẳng có gì là lạ và cũng đừng ai vội giật mình, dường như đây là câu chuyện “đến hẹn lại lên” của mỗi mùa thi lớn. Nhưng vì đâu mà nên cơ sự này? Trước hết, phải thừa nhận rằng, học môn Lịch sử khó và không hấp dẫn. Ðã là lịch sử, nhất thiết phải gắn với sự kiện, nhân vật và hiểu lịch sử nhất định phải nắm vững những sự kiện, nhân vật cơ bản, quan trọng trong suốt quá trình hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhưng chương trình do Bộ Giáo dục và Ðào tạo quy định là yêu cầu học sinh phải nắm được hầu như tất cả các nội dung về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, trong khi đó, số tiết quy định quá ít. Mặt khác, do yêu cầu của chương trình, nội dung trong sách giáo khoa quá nặng, nội dung trong sách giáo khoa như một "đĩa nén", đầy ắp thông tin mà học sinh không thể nhớ hết được, tôi cũng như nhiều thầy cô dạy Sử cho rằng quá nặng nề, chi tiết, bắt các em phải nhớ quá nhiều, cách kiểm tra vẫn là học thuộc lòng. Chúng ta vẫn giáo dục theo hướng tiếp cận
nội dung mà chưa chuyển sang tiếp cận năng lực. Nhồi nhét một mớ kiến thức có sẵn vừa nặng về học thuộc ghi nhớ, vừa nặng về tuyên truyền mà không biết áp dụng vào đâu sẽ gây ra sự nhàm chán, dẫn đến tình trạng "học trước quên sau". Dạy môn học này theo tôi là truyền cho học sinh tinh thần của dân tộc, cái hồn của núi sông, lòng biết ơn với tổ tiên qua những nhân vật lịch sử thì mới khắc sâu và đọng lại trong các em, gây sự hứng thú. Thứ hai: Lịch sử là một môn học cần có sự chăm chú và tư duy cao. Trước đây, đề thi không theo hình thức trắc nghiệm, thậm chí nhiều học sinh luồn lách giở tài liệu để quay cóp nên khá “ung dung”. Nhưng bây giờ thì khác, đề thi hiện nay đòi hỏi học sinh cần có cả nhận thức và kiến thức, trong khi môn Lịch sử vốn đã khó và thậm chí là cực khó khi đó là những kiến thức về lịch sử của cả dân tộc và nhân loại. Học vẹt, học tủ, học để chống đối cho qua điểm liệt đã không còn có tác dụng thậm chí là phản tác dụng.Đã đến lúc cần thẳng thắn nói với nhau rằng, quan niệm về Lịch sử là môn học thuộc lòng, máy móc đã hoàn toàn sai lầm. Hơn thế, Lịch sử là một môn khoa học cần tư duy và lập luận logic. Nếu không thay đổi cách học, cứ để học sinh mãi “lơ tơ mơ” về môn này, thì không bao giờ có kết quả cao được. Thực tế, để nhận thức một vấn đề lịch sử đòi hỏi học sinh có nền tảng lý luận và nhận thức tổng hợp, phân tích chuyên sâu. Ở một khía cạnh khác, do trình độ nhận thức về môn học này chưa được đúng đắn. Có thể thấy các em học sinh luôn xem Lịch sử là môn phụ và chỉ cần học thuộc lòng thì sẽ qua. Chính vì thế, thái độ học tập của các em chỉ là hình thức đối phó với thầy cô và góp phần "dung dưỡng" cho bệnh thành tích phát triển. Thứ ba:Giáo viên chưa đủ tâm huyết để gây hứng thú trong những giờ học Lịch sử, nhưng với 1,5 tiết/tuần thì thật khó, rồi khi có dự giờ, thao giảng, hội giảng, sinh hoạt chuyên môn cụm, hội thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp tỉnh..., thật buồn là đồng nghiệp chỉ chăm chăm đánh giá giáo viên có truyền thụ hết kiến thức trong sách giáo khoa hay không, dạy còn thiếu ý này, ý khác, ý này là trọng tâm, ý kia là cơ bản, có liên hệ, có lồng ghép, có tích hợp, có giáo
dục kiến thức, rèn kỹ năng, giáo dục thái độ tình cảm… để xếp loại tiết dạy chứ không xem học sinh có hiểu bài hay không? Thứ tư:Hệ quả của những định kiến và nhu cầu về mặt xã hội, đa số phụ huynh và học sinh đều xem nhẹ môn học này - nếu không muốn nói là xem thường. Vì cho rằng thực tế lịch sử học để biết vậy thôi chứ không ứng dụng gì trong nghề nghiệp tương lai sau này (chỉ cần thiết nếu học để đi dạy lịch sử hoặc nghiên cứu sử). Do vậy, phụ huynh chỉ đầu tư cho con học toán, lý, hóa…nhằm theo đuổi những ngành nghề đang hót của xã hội như kinh tế, ngân hàng, tài chính... để có thu nhập cao, kể cả các nhà tuyển dụng đều không có nhu cầu cao về việc học sinh phải học giỏi sử. Và khi khoa học lịch sử ít tiếng nói, cơ hôi tìm việc làm của những người giỏi sử ít đi thì môn Lịch sử sẽ không phải là sự lựa chọn. Theo đuổi đam mê và sự giàu có đó là ước mơ của mỗi con người, nói cách khác qui luật của cuộc sống là vậy.Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại, xu hướng quy tất cả vào giá trị vật chất và lợi ích thực dụng đã khiến cho phụ huynh, học sinh không nhìn nhận ra bản chất đích thực và cuối cùng của giáo dục: tạo ra con người tốt đẹp có năng lực cải tạo xã hội và sống hạnh phúc. Vì thế, tất cả những gì không phục vụ trực tiếp việc thăng tiến vị trí và kiếm ra tiền đều bị gạt xuống hàng thứ yếu. Bên cạnh đó, quan điểm tuyển sinh thực dụng, học thực dụng, thi thực dụng cũng khiến môn Sử “yếu thế” hơn. Thay vì trước đây học môn gì thi môn đó thì nay, thi môn gì học môn đó. Cách học thực dụng dẫn đến sự chủ quan trong việc dạy học, chủ quan trong tiếp nhận kiến thức và chủ quan cả hình thức ra đề - thi trắc nghiệm các môn trong đó có Lịch sử. Thứ năm: Hình thức thi trắc nghiệm trong môn thi Lịch sử khiến các em nhác học hơn so với cách thi tự luận trước đây. Vào phòng thi chủ yếu đoán mò là nhiều, làm theo kiểu “phủ xanh đất trống, đồi trọc”, “chơi trò may rủi”, thậm chí trả lời theo linh cảm, chỉ cần qua điểm liệt, dừng ở mức đỗ tốt nghiệp mà thôi. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên và cũng đừng đổ lỗi tại đề khó cho kết quả thấp, vì tư duy môn học vẹt nên nhận kết quả như vậy là điều tất nhiên. Rõ ràng, đó là
kết quả buộc những người có tâm huyết với nền giáo dục nước nhà không thể vô cảm. Việc học và khai thác Lịch sử ở khía cạnh tư liệu về những điều đã diễn ra khiến Lịch sử trở thành một môn khoa học “chết”. Cần thổi một làn gió mới vào quá khứ đã qua, tôn trọng sự thật nhưng không có nghĩa là đóng khung tư duy trong những con số khô cứng. Lịch sử luôn cần là sự thật cũng như môn Lịch sử cần được học thật, thi thật, học bằng tất cả tình yêu với lịch sử nước nhà và sự phát triển của nhân loại từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Định hướng phương pháp học và ôn thi Một trong những vấn đề mà đa số Thầy cô và các em học sinh quan tâm chính là phương pháp học và ôn môn lịch sử như thế nào hiệu quả nhất. Từ thực tế quá trình giảng dạy và nhiều năm ôn luyện thi THPT Quốc gia, Tôi nhận thấy tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện học tập, khả năng nhận thức, quỹ thời gian mà mỗi em học sinh lại có cho mình những phương pháp học khác nhau. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm – nhược điểm khác nhau mà không phải trong trường hợp nào cũng có thể vận dụng để đạt hiệu quả cao nhất. Do vậy, trong khuôn khổ của sáng kiến, Tôi sẽ đưa ra một số phương pháp học và ôn môn lịch sử, các em học sinh có thể tham khảo và chọn ra phương pháp học và ôn phù hợp nhất với bản thân và quỹ thời gian của mình. 2.1.1. Xác định đúng mục tiêu, quyết tâm học tập, có kế hoạch cụ thể cho việc học Từ thực tế cho thấy, các em học sinh lựa chọn môn Lịch sử với quan điểm “học để thi”, số còn lại học vì đam mê. Vì vậy trước khi bắt đầu quá trình ôn tập, các em cần xác định rõ mục tiêu. Khi chọn môn Lịch sử để thi THPT Quốc gia và là một trong ba môn của tổ hợp KHXH để xét tuyển, các em cần xác định rõ đây là môn học khó nhất trong tổ hợp, cần được đầu tư nhiều thời gian và nhất thiết phải có người hướng dẫn trong suốt quá trình học. Các em nên đặt ra điểm số cần đạt cho bản thân để lấy đó làm động lực phấn đấu. Mỗi giai đoạn trong quá trình học đều nên kiểm tra lại khả năng của bản thân để xác
định mục tiêu ở giai đoạn kế tiếp, nhất là ở giai đoạn nước rút. Việc kiểm tra có thể căn cứ vào làm các đề thi thử trên mạng, nhất là các trường chuyên hoặc đề minh họa của Bộ GD-ĐT. Cần xác định quyết tâm cao độ trong việc học, bởi nếu không có đam mê thì việc học môn khó như Lịch sử là điều nhiều em học sinh rất ngại. Trong quá trình học các em cần xây dựng thời gian biểu hợp lý và kiên quyết làm theo. Thông thường, các em sẽ tự chia thời gian biểu cho việc học của mình, tuy nhiên ngoài các môn khác, trong thời gian học chính khóa các em nên giành cho môn sử thời gian ít nhất một tiếng mỗi ngày để học. Đến giai đoạn nước rút, các em tăng tốc thì đã có một lượng kiến thức cơ bản tích lũy để làm nền tảng. 2.1.2. Nắm vững kiến thức cơ bản Việc học và nắm vững kiến thức cơ bản của môn Lịch sử là vô cùng quan trọng, là chiếc chìa khóa để giải đáp tất cả những câu hỏi trong đề thi, nhưng nhiều em vẫn còn lúng túng trong việc lựa chọn cho mình một phương pháp nắm vững kiến thức cơ bản hiệu quả. Kiến thức cơ bản được coi như xương sống của một giai đoạn, tiến trình lịch sử. Trong SGK cơ bản lớp 12, toàn bộ các sự kiện, giai đoạn, nhân vật lịch sử đều được trình bày thành các bài theo lối thông sử hết sức cơ bản. Do vậy, cách tốt nhất để nắm kiến thức cơ bản là bám sát SGK, các em cũng cần xác định các phần giảm tải để loại bỏ nó ra khỏi chương trình học, bởi đấy được xem là kiến thức không cơ bản, hoàn toàn không có trong đề thi. Để nắm vững kiến thức cơ bản học sinh cần có thái độ nghiêm túc, tự học trước ở nhà, đọc trước SGK và các tài liệu cần thiết. Khi đến lớp chú ý nghe thầy cô giảng những ý chính, coi đó là bộ khung để xây dựng hệ thống kiến thức cơ bản cho bản thân. Cần nắm vững kiến thức theo các bước: - Xác định bối cảnh lịch sử (nguyên nhân bùng nổ sự kiện, hiện tượng) - Diễn biến sự kiện (nội dung chính) - Kết quả (kết quả lớn nhất, kết quả cơ bản nhất) - Ý nghĩa lịch sử (ý nghĩa lớn nhất, ý nghĩa cơ bản nhất) - Liên hệ thực tế hiện nay (nếu có)
- Cuối cùng các em cần học bài cũ, làm các bài tập ở cuối bài theo hình thức tự luận dù thi trắc nghiệm -> đó là cách nắm vững kiến thức cơ bản nhất. 2.1.3. Phân chia kiến thức thành các mốc, các giai đoạn cụ thể Việc chia nhỏ các nội dung, giai đoạn và nắm vững các cột mốc sẽ giúp học sinh khái quát được các vấn đề quan trọng của lịch sử. Học là một phản xạ có điều kiện, các em dù có học thuộc nhưng không có quá trình ôn thì sau một thời gian sẽ quên kiến thức. Để khắc phục các em cần phân chia kiến thức sắp học ra thành nhiều giai đoạn nhỏ để dễ học, thực hiện kế hoạch “chia để học”. Phần lịch sử thế giới 12 từ năm 1945 đến năm 2000 bao gồm: - Trật tự thế giới mới sau CTTGT2 (1945-1949) - Liên Xô và các nước Đông Âu (1945-1991). Liên Bang Nga (19912000) - Khu vực Đông Bắc Á - Đông Nam Á và Ấn Độ - Châu Phi và Mỹ La Tinh - Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản - Quan hệ quốc tế trong và sau thời kì chiến tranh lạnh - Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX - Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945-2000 Phần lịch sử Việt Nam từ 1919-2000, bao gồm Giai đoạn: 1919-1930 - Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp và tác động đến kinh tế-xã hội Việt Nam - Phong trào yêu nước của tư sản, tiểu tư sản (khuynh hướng dân chủ tư sản), phong trào công nhân (khuynh hướng vô sản). - Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản và ba tổ chức cách mạng - Đảng cộng sản Việt Nam ra đời - Cương lĩnh chính trị và Luận cương chính trị
Giai đoạn: 1930-1945 - Phong trào cách mạng 1930-1931 - Phong trào dân chủ 1936-1939 - Tình hình Việt Nam trong những năm CTTGT2 - Các hội nghị trung ương Đảng tháng 11/1939 và tháng 5/1941 - Quá trình chuẩn bị cho khởi nghĩa tháng Tám và khởi nghĩa từng phần - Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Giai đoạn: 1945-1954 - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946 - Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ - Các thắng lợi của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (chiến dịch Việt Bắc năm 1947, chiến dịch Biên Giới năm 1950, cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954). - Hậu phương trong kháng chiến chống pháp (1945-1954) - Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Giai đoạn: 1954-1975 - Tình hình 2 miền Nam – Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ - Chiến đấu chống lại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ (19541975) - Hậu phương trong những năm kháng chiến chống Mĩ (1954-1975) - Hiệp định Pa-ri về Việt Nam năm 1973 Giai đoạn: 1975-2000 - Việt Nam trong những năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước - Đường lối đổi mới của Đảng (1986 – 2000).
2.1.4. Nắm vững các khái niệm, thuật ngữ và áp dụng phương pháp liên hệ ngang bằng Khái niệm và thuật ngữ lịch sử rất quan trọng, thực tế trong đề thi THPT quốc gia năm 2017, 2018, 2019 và 2020 cho thấy, phần lớn các câu hỏi ở mức độ vận dụng thấp và cao đều có liên quan đến các khái niệm và thuật ngữ. - Đường lối chiến lược - Nhiệm vụ chiến lược - Mâu thuẫn dân tộc - Mâu thuẫn giai cấp - Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân - Đánh đuổi và đánh đổ - Quyền dân tộc cơ bản - Phi mĩ hóa chiến tranh, mĩ hóa trở lại… Nếu học sinh nắm không vững sẽ dẫn tới giải nghĩa sai từ khóa, không xác định được trọng tâm của câu hỏi, đưa đến việc lựa chọn đáp án sai. Trong quá trình học, các em có thể áp dụng phương pháp liên hệ ngang bằng. Tương ứng với các mốc lịch sử Việt Nam thì cùng thời gian đó lịch sử thế giới có sự kiện gì? Và tác động của sự kiện lịch sử thế giới đó đến lịch sử Việt Nam. Ví dụ: khi học về bài 16 - Lịch sử 12: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời -> các em sẽ thấy mối liên hệ giữa lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới như sau: Sự kiện lịch sử thế giới Thời gian 9/1939
Sự kiện
Sự kiện lịch sử Việt Nam Thời gian
Sự kiện
Chiến tranh thế giới 11/1939
Hội nghị Ban chấp hành
thứ 2 bùng nổ
Trung ương đảng Đảng Cộng sản Đông Dương lần 6
9/1940
Nhật
vào
Đông 11/1940
Hội nghị Ban chấp hành
Dương
Trung ương đảng Đảng Cộng sản Đông Dương lần 7
Đầu
năm Đức thôn tính gần hết 5/1941
1941
Sau khi về nước (1/1941)
châu Âu, chuẩn bị tấn
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp
công Liên Xô
lãnh đạo cách mạng và chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng Đảng Cộng sản Đông Dương lần 8
3/1945
Nhật Đảo chính Pháp
Từ
Đảng phất động cao trào
Tháng 3 kháng Nhật cứu nước làm tiền đến
đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
tháng 8/1945 15/8/1945
Nhật đầu hàng không 8/1945
Đảng chớp thời cơ, phát lệnh
điều kiện
Tổng khởi nghĩa trong cả nước
2.1.5. Phương pháp học 5W – 1 How Đây là phương pháp học lịch sử căn bản nhất, giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về các vấn đề lịch sử, sự kiện, nhân vật. Qua đó hình thành hệ thống kiến thức cơ bản. Phương pháp 5W là viết tắt của các câu hỏi trong tiếng anh gồm: - What – Xác định được sự kiện lịch sử gì đã xảy ra và xảy ra như thế nào? - When? – Sự kiện đã xảy ra vào thời điểm nào? - Where?–Gắn với địa điểm, không gian nào? - Who? – Gắn liền với ai – nhân vật, giai cấp, tổ chức, tầng lớp… Khi vận dụng 4W trên trong ôn luyện, các em không nên máy móc, vì trong nhiều trường hợp lịch sử không cần phải chi tiết, cụ thể về ngày, tháng, năm mà mang tính “tương đối”. thời gian của sự kiện lịch sử cũng rất đa dạng, có thể được tính bằng phút (10h 45 phút ngày 30/4/1975, xe tăng và bộ binh quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ nội các Sài Gòn), có
khi theo mùa (mùa hè năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được tiếp xúc với Luận cương của Lê-nin…), hoặc thập kỉ, thế kỉ… Đôi khi lại dùng cụm từ chỉ tương đối như “trong những năm”, “cuối những năm” (Những năm 20 của thế kỉ XX, phong trào yêu nước Việt Nam có 2 khuynh hướng chính trị cùng tồn tại là tư sản và vô sản…). Tương tự như vậy, địa điểm, không gian diễn ra sự kiện lịch sử có thể là cây đa (cây đa Tân Trào-nơi diễn ra lễ xuất quân của một đơn vị Giải phóng thị xã Thái Nguyên, mở đầu cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945), tại một cứ điểm, căn cứ (cứ điểm Điện Biên Phủ), vùng miền, khu vực (miền Bắc Việt Nam, khu vực Đông Nam Á). - Why – Tại sao (Phải lí giải tại sao, vì sao sự kiện lịch sử lại diễn ra như vậy… tức là phải bình luận, nhận xét, đánh giá, chứng minh, giải thích, lí giải về sự kiện). Các em học sinh cần lưu ý, kiến thức lịch sử luôn có 2 phần: phần sử là những sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong quá khứ, dù muốn hay không cũng không thay đổi được, phần sử gồm 4w ở trên. Phần luận (Why) là phần quan trọng nhất mà các em cần chú trọng giải quyết, bởi khi trả lời được các câu hỏi trên, các em sẽ hình thành được tư duy cho mình để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Điểm của thí sinh cao hay thấp phụ thuộc vào phần “luận”. Theo phương pháp này, học sinh sẽ nắm được các nội dung trọng tâm trong chương trình, nắm vững kiến thức cơ bản, ghi nhớ và hiểu những sự kiện cốt yếu gắn với thời gian, địa danh, nhân vật lịch sử. Ví dụ: Khi đề cập về sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, thì các em lí giải được tại sao Đảng, Chính phủ ta lại phát động kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp vào ngày 19/12/1946 mà không phải thời gian khác. Dĩ nhiên để “luận” được phần “sử”, các em phải ghi nhớ, xác định được quá trình của 4w diễn ra ở trên. Trên thực tế, không ít học sinh tuy biết được phần “sử” nhưng lại không thể giải thích, bình luận, nhận xét được sự kiện. Ví như các em nhớ sự kiện ngày 7/5/1954 là chiến thắng Điện Biên Phủ nhưng không lí giải được vì sao đây là chiến thắng lớn nhất của quân
dân ta trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Dù là bài thi tự luận hay trắc nghiệm khách quan vẫn phải nhớ cả phần “sử” và “luận” khi học tập và ôn tập. - “1 How” đề cạp đến các dạng câu hỏi nào thường gặp trong đề thi để chúng ta tập trung ôn luyện thành thạo và cách giải quyết mỗi dạng câu hỏi như thế nào? 2.1.6. Học theo sơ đồ tư duy, kết hợp từ “chìa khóa” Đặc thù của môn Sử là hiện hữu nhiều mốc sự kiện, không gian, thời gian nên học sinh phải hệ thống hóa kiến thức dưới dạng sơ đồ tư duy để ghi nhớ kiến thức hiệu quả hơn. Học sinh làm "sơ đồ tư duy" dựa trên nguyên lý từ "cây" đến "cành" đến "nhánh", từ ý lớn sang ý bé. Nhờ đó, các em sẽ thấy các bài học sẽ trở nên ngắn gọn hơn, súc tích và dễ hiểu, dễ nhớ hơn. Từ những kiến thức, sự kiện, vấn đề cơ bản của từng bài, từng chương, từng phần trong sách giáo khoa hiện hành, thông qua sơ đồ tư duy, học sinh sẽ tự biết cách tổng hợp và xâu chuỗi kiến thức theo trình tự, trật tự kiến thức và lý giải các mối quan hệ tác động biện chứng, nhân quả giữa các vấn đề, sự kiện. HS có thể dùng sơ đồ cây hoặc sơ đồ tư duy sau khi học xong kiến thức cơ bản để tái hiện cũng như tổng hợp kiến thức cơ bản đã học. Đây là cách ôn tập giúp các em phát triển được năng lực về trí tuệ (ghi nhớ, phân tích, chọn lọc, vẽ, viết, …), giúp các em có nền tảng kiến thức vững chắc. Khi học theo mỗi bài, mỗi giai đoạn, cần lưu ý lấy bút gạch chân những từ, cụm từ quan trọng, vì đây là những nội dung cần được quan tâm, chú ý, không thể quên. Việc sử dụng sơ đồ tư duy chỉ là biện pháp bổ sung quan trọng cho việc nắm chắc kiến thức cơ bản, chứ không nên sử dụng như là phương pháp chính. Để đạt hiệu quả cao khi học, giáo viên sẽ cho học sinh tự xây dựng theo ý tưởng của bản thân chứ không dùng những sơ đồ tư duy có sẵn. Ví dụ: Khi học về Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, với các nội dung: Hoàn cảnh, âm mưu của Pháp, chủ trương của ta, diễn biến, kết quả, ý nghĩa → Ta có thể sử dụng sơ đồ tư duy để khắc sâu kiến thức cơ bản. 2.1.7. Phân bổ thời gian hợp lý, phương pháp cà chua (Pomodoro Technique) Đây là nội dung khó nhất trong ôn thi, làm sao để phân bổ thời gian hợp lý cho các môn học. Đối với bộ môn Lịch sử, theo đánh giá của học sinh là môn
học khó, mức độ tư duy trong đề thi yêu cầu ngày càng cao, thì việc dành thời gian nhiều cho môn Lịch sử là cần thiết. Một thực trạng không thể phủ nhận hiện nay, là đa phần các em học sinh dành quá nhiều thời gian cho học thêm, nhiều em có sự lựa chọn theo số đông, còn mơ hồ về tổ hợp xét tuyển đại học. Vì vậy, các em cần xác định đúng môn thi chính thức của mình trong các tổ hợp xét tuyển, môn nào học tốt, môn nào học còn chưa tốt để có cách sắp xếp hợp lý. Và các em cần tôn trọng nhịp đồng hồ sinh học của bản thân, không học quá sức hoặc thức trắng đêm học nhưng sau đó lại rơi vào trạng thái “nửa tỉnh nửa mê”. Ôn luyện là cả một quá trình dài, cần có cách ôn hợp lý, khoa học để có kết quả. 2.1.8. Học theo phương pháp cuốn chiếu, lượt đi lượt về Khi xây dựng được hệ thống kiến thức cơ bản, chúng ta có thể áp dụng phương pháp sau: - Sau khi học xong mỗi tiết, cuối giờ GV yêu cầu học sinh gấp hết sách vở và kiểm tra kiến thức vừa học theo dạng câu hỏi trả lời nhanh - Học xong 3 bài rồi quay lại ôn kiến thức bài 1,2 - Học tiếp bài 4,5,6 xong quay lại ôn kiến thức bài 1,2,3 - Học tiếp bài 7,8,9 xong quay lại ôn kiến thức bài 1,2,3,4,5,6 ……………. Cứ lần lượt như vậy cho đến hết các bài, khi học sang phần Việt Nam thì các em đã ôn được khá nhiều lượt các bài đầu tiên và tương đối kĩ phần thế giới. Tương tự học phần lịch sử Việt Nam 2.1.9. Học nhóm Đây là một hình thức học tập phổ biến nhằm nâng cao sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm, qua đó các em tự đặt câu hỏi, thảo luận, trình bày quan điểm và thực hiện hợp tác. Việc học nhóm sẽ giúp các em nhận ra điểm yếu mạnh của mình, tăng khả năng tư duy, phản biện, tăng sự ganh đua trong học tập, cho phép học sinh học lẫn nhau. Đây là phương pháp hữu hiệu cho hoạt động giải quyết vấn đề khó trong ôn thi. Tuy nhiên để phát huy được những lợi ích từ việc học nhóm, cần chú ý:
Số lượng thành viên không quá đông, chỉ cần khoảng 4-5 người, trong đó cần có những người có kiến thức tốt để định hướng. Không học nhóm đông quá sẽ làm cho các bạn ỷ lại, học nhóm ít quá sẽ không gây hứng thú trong tranh luận vấn đề, thời gian học không quá dày, chỉ 1- 2 buổi/ tuần. 2.1.10. Sử dụng điện thoại thông minh Hiện nay các phương tiện ghi âm rất phổ biến, có thể dùng điện thoại di động thông minh để phục vụ cho cách học này. Các em đọc to, rõ ràng nội dung bài học, ghi âm lại và có thể nghe bất kì khi nào, kể cả trước khi đi ngủ. Việc nghe trước hết sẽ tác động trực tiếp đến việc ghi nhớ, hình thành kiến thức theo nguyên tắc “mưa dầm thấm lâu”. Đây là một trong những cách ghi nhớ kiến thức hiệu quả và dễ dàng. Ngoài ra các em có thể chụp lại những nội dung kiến thức hay và lấy đó làm hình nền điện thoại, sau khi thuộc bài có thể thay bằng hình nền khác, đảm bảo các em sẽ không quên kiến thức khi mà ngày nào cũng nhìn thấy. 2.1.11. Học onlie Đây là phương pháp học không mới nhưng còn khá xa lạ với nhiều giáo viên và học sinh, tuy nhiên chỉ nên học khi thật sự cần thiết và chú ý đến nội dung sẽ học. Học onlie đúng cách với phương pháp chuẩn sẽ tiết kiệm tối đa thời gian, công sức và tiền bạc của bản thân và gia đình mà hiệu quả cao. Tuy nhiên các em cần lựa chọn kênh học phù hợp, có thái độ học tập nghiêm túc. Giáo viên có thể giới thiệu cho các em một số trang có đội ngũ các thầy cô nhiều kinh nghiệm, có số lượng học sinh tham gia đông đảo, qua đó các em theo dõi, trao đổi, học hỏi một cách có chọn lọc. 2.1.12. Giải trí Đây là nội dung rất quan trọng trong quá trình dạy và học mà nhiều giáo viên và học sinh làm chưa đúng cách, bộ não con người là siêu việt như một siêu máy tính với khả năng ghi nhớ và lưu trữ vô hạn. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, chúng ta không thể ghi nhớ quá nhiều cùng lúc. Thực tế chúng ta cần thời gian để bộ não nghỉ ngơi và “dọn rác” theo đúng nghĩa. Tuy nhiên giải trí trong quá trình học không nên sa đà, đi bộ, nghe nhạc hoặc xem những tiểu
phẩm hài ngắn là những phương pháp thư giãn tốt nhất trong quá trình học căng thẳng. 2.1.13. Luyện đề Việc luyện đề thường xuyên sẽ giúp học sinh rèn luyện tâm lý, làm quen với các dạng câu hỏi, tập cách phản xạ với những câu hỏi khó. Mặt khác, qua việc luyện đề sẽ giúp học sinh cân đối được thời gian và phân chia thời gian làm bài một cách khoa học, tự kiểm tra, đánh giá được lượng kiến thức của bản thân, đồng thời có thêm cơ hội để ghi nhớ nội dung lâu hơn. Tuyệt đối tránh việc học tự luận chưa kĩ, chưa nắm được kiến thức có bản đã chăm chăm giải đề trắc nghiệm. 2.2. Định hướng phương pháp làm bài thi trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan, cách cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm. 2.2.1. Khái niệm Trắc nghiệm là một từ ghép gồm 2 từ “Trắc” và “nghiệm”. Theo nghĩa chữ Hán, “Trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” có nghĩa là “suy xét, chứng thực”. “Khách quan” là “không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan”. Trắc nghiệm là dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường thành tích học tập của một cá nhân so với các cá nhân khác, so với những yêu cầu, nhiệm vụ học tập được dự kiến. Trong trường học, trắc nghiệm khách quan đối với môn Lịch sử, là phương pháp được dùng như một hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh thông qua hệ thống câu hỏi trắc nghiệm. Trắc nghiệm khách quan là một cụm từ đã xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm nay, theo các nhà nghiên cứu cũng như các nhà thực tiễn thường gọi cụm từ này để chỉ “hình thức tổ chức, kiểm tra hoặc thi cử, bằng cách cho thí sinh lựa chọn và đánh dấu lên các mẫu tự để trả lời các câu hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp của đề thi”. Trắc nghiệm là một hình thức được sử dụng khá phổ biến trong hệ thống giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới.
2.2.2. Tầm quan trọng của việc đổi mới theo hình thức thi trắc nghiệm khách quan Các phương pháp đánh giá kết quả học tập rất đa dạng, mọi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm, không có phương pháp nào là hoàn mĩ với mọi mục tiêu giáo dục. Nhưng ở góc độ nghiên cứu nội dung này, Tôi nhận thấy đây là phương pháp hết sức mới mẻ nhưng nó lại đánh giá tương đối chính xác và khách quan kết quả của học sinh. Sau đây tôi xin đưa ra một số ưu điểm và hạn chế của việc kiểm tra, đánh giá theo hình thức trắc nghiệm khách quan. 2.2.2.1. Ưu điểm Thứ nhất:Thi trắc nghiệm, việc đầu tiên học sinh cần thay đổi là đọc kỹ sách giáo khoa. Vì phần lớn kiến thức trong bài thi đều lấy từ sách giáo khoa, các em cần chủ động hơn trong việc khai thác và xử lý sách giáo khoa. Bởi đây là tài liệu căn bản, nền tảng tri thức của mọi đề thi và hình thức thi. Thêm nữa, các em cần biết suy luận thông qua việc phân tích dữ liệu từ các đáp án, bài kiểm tra có rất nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra được một cách hệ thống và toàn diện kiến thức, kĩ năng của học sinh, tránh việc học tủ. Có thể kiểm tran đánh giá trên diện rộng trong một thời gian ngắn. Thứ hai:Hình thức thi trắc nghiệm sẽ ứng dụng được CNTT vào quá trình chấm thi: Mỗi thí sinh đều được phát một mẫu phiếu trả lời câu hỏi trắc nghiệm, thí sinh phải điền đầy đủ thông tin vào đó kèm theo đáp án, máy tính sẽ tự động chấm bài mà không cần phải có giáo viên chấm thi như trước. Đối với kì thi THPT Quốc gia, số lượng học sinh tham dự đông, với hình thức trắc nghiệm khách quan, đáp án rõ ràng, dễ cho học sinh lựa chọn,đặc biệt - có thể ứng dụng kĩ thuật vào việc chấm bài – như chấm bằng máy, Nếu như chấm tay, giáo viên có thể châm chước bỏ qua bớt các lỗi sai hoặc vớt điểm cho thí sinh nhưng đối với chấm thi bằng máy thì mọi thứ đều là tự động, việc chấm bài nhanh, chính xác, đảm bảo được tín công bằng, ngay cả người không có chuyên môn nếu có đáp án sẵn vẫn chấm được, rất khách quan, tránh được nhữngnhược điểm của một bài thi tự luận.
Thứ ba:Biết kết quả thi sớm hơn - Nếu như với hình thức thi tự luận, việc chấm thi sẽ do đại diện các giáo viên của các trường THPT trên cả nước tham gia chấm thi và chấm theo kiểu thủ công nên thời gian có kết quả sẽ chậm hơn. Nếu là chấm trên máy, chỉ cần bỏ bài làm vào và máy tính sẽ chạy tự động và có thể chỉ trong thời gian ngắn (10 ngày hoặc 20 ngày sau sẽ có kết quả trên toàn quốc). Thứ tư:Điểm thi chia đều cho các câu - nếu như bài thi tự luận thì các câu sẽ có các thang điểm khác nhau tùy theo mức độ dễ khó, nếu vào câu nhiều điểm mà học sinh chưa học đến thì điểm sẽ không cao.Còn đối với bài thi trắc nghiệm thì điểm sẽ chia đều cho 50 câu, tức là 1 câu 0,2 điểm. Điều này sẽ tạo điều kiện để học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình chính xác. Vì đối với những câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận dụng cao, học sinh không chỉ học thuộc bài, mà yêu cầu học sinh phải nắm thật chắc kiến thức mới có thể phân tích, liên hệ, so sánh để chọn đáp án đúng. Thứ năm: Trắc nghiệm khách quan có bốn mức độ, ngoài những câu hỏi về kiểm tra kiến thức, cần có một số câu hỏi yêu cầu suy luận, phân tích mà đáp án khá giống nhau theo kiểu 50/50. Khi đó, học sinh phải hiểu bài, phân tích câu trả lời để chọn ra đáp án đúng. Đây là những câu hỏi mà các bạn rất dễ bị mất điểm và đây cũng chính là cơ sở để sàng lọc, phân loại học sinh, nên có thể dễ dàng phân hóa được trình độ học sinh qua kết quả kiểm tra. 2.2.2.2. Hạn chế Một là làm giảm khả năng tư duy của học sinh: Nếu như thi theo hình thức tự luận thì học sinh sẽ phải suy nghĩ về hướng giải quyết một bài toán, một câu hỏi và xem xét phải trình bày như thế nào cho hợp lý thì theo hình thức thi trắc nghiệm học sinh không cần phải chú trọng nhiều vào việc trình bày mà chỉ tập trung vào kết quả sẽ như thế nào. Đây là hạn chế lớn nhất của thi trắc nghiệm, giáo viên sẽ không thể diễn biến tư duy của học sinh trong quá trình làm bài. Hai là không đánh giá được khách quan năng lực của học sinh: Theo hình thức thi trắc nghiệm sẽ khó đánh giá được năng lực thực sự của học sinh vì
sẽ có thành tố may rủi. Nhiều thí sinh có năng lực và làm bài thực sự nhưng cũng không ít người gọi là đánh lụi (đánh bừa) và tự nhiên đúng. Điều này sẽ không công bằng cho các thí sinh khác. Ba là đề thi mang tính bao quát cao và rộng: Nếu như thi tự luận lượng kiến thức sẽ ít hơn, tập trung vào từng dạng và coi trọng đến cách trình bày hơn; còn đối với thi trắc nghiệm thì ngược lại, lượng kiến thức thì vô tận, có nhiều dạng mới và đào sâu tất cả những gì có trong sách giáo khoa, nhưng đối với thi trắc nghiệmthì không cần bận tâm nhiều đến cách trình bày. Bốn là áp lực về thời gian thi: Rút ngắn thời gian thi ít lại trong khi đó lượng kiến thức vô cùng lớn, có 40 câu hỏi làm trong 50 phút, như vậy 1,25 phút cho một câu, chưa kể những câu hỏi dài và khó đòi hỏi học sinh đọc kĩ và phân tích. Nếu học sinh nào học không chắc kiến thức sẽ không làm được dẫn đến tình trạng chọn đáp án một cách ngẫu nhiên. Năm là gây áp lực cho phụ huynh, học sinh và hơn hết là giáo viên: Họ phải tìm cách đổi mới phương pháp dạy, thay đổi giáo án, thay đổi cách kiểm tra, ôn tập... để làm sao cho học sinh mình có thể hiểu và nắm bắt kiến thức kịp thời, giải đề nhanh và chính xác… Nếu giáo viên không hướng dẫn kỹ thì học sinh cũng không biết phải đi theo hướng nào. Sáu là rất khó soạn đề vì thế đối với một số giáo viên lớn tuổi: Họ không quen sử dụng CNTT nếu chuyển qua thi trắc nghiệm thì họ sẽ phải sử dụng CNTT để tạo đề hoặc thu thập các đề thi, do đó họ sẽ chậm hơn những giáo viên khác. 2.2.3. Thực trạng của việc học sinh lựa chọn thi môn Lịch sử và thực trạng của việc đổi mới thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan. 2.2.3.1. Thực trạng học sinh lựa chọn thi môn Lịch sử Theo thống kê của Bộ GD-ĐTqua các năm, tỉ lệ thí sinh cả nước đăng kí chọn bài thi KHXH có chiều hướng tăng hơn so với chọn bài thi KHTN. Cụ thể: Năm học 2017-2018
Năm học 2018 - 2019
Năm 2019-2020
Số thí sinh dự thi Thí sinh thi bài KHXH
925.961
900.152
887.173
498.516 546.842
(chiếm 55,38%)
561.364
Theo thống kê của trường Tôi đang trực tiếp giảng dạy – tỉ lệ thí sinh khối 12 đăng kí chọn bài thi KHXH cũng có chiều hướng tăng. Cụ thể: 2017 – 2018
2018-2019
Tổng số HS khối 12 dự thi
405
392
Thí sinh thi bài KHXH
71
93
2019 - 2020
394
101
Trước đó năm 2015, chỉ 15,3% tổng số em đăng kí thi môn Lịch sử, thấp nhất trong số các môn tự chọn trong kì thi THPT Quốc gia. Năm 2016, nhiều hội đồng không có học sinh lựa chọn thi Lịch sử. Kết quả trên cho thấy học sinh chưa quay lưng lại với môn Lịch sử, thể hiện sự quan tâm đến lịch sử đất nước. Với việc chuyển đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn thi lịch sử của các em học sinh. 2.2.3.2. Thực trạng của việc đổi mới thi theo hình thức TNKQ - Đối với giáo viên: Việc ra đề kiểm tra có đủ các bước theo quy trình biên soạn đề kiểm tra chưa thật sự đảm bảo, đôi khi giáo viên chưa chú trọng đến việc biên soạn đề theo hướng khám phá và phát triển năng lực của học sinh. Giáo viên chưa xây dựng được ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm theo từng bài, từng chương cho học sinh làm sau mỗi bài, mỗi chương. Kinh nghiệm trong việc biên soạn đề, sách –tài liệu tham khảo còn chưa nhiều, những câu hỏi khó ở mức độvận dụng và vận dụng cao còn ít.
- Đối với học sinh: Năm 2020 là năm thứ 4 thi THPT quốc gia theo hình thức trắc nghiệm đối với môn Lịch sử, số lượng học sinh đăng kí thi ngày càng tăng, đa số học sinh cho rằng: không cần học vẫn làm tốt vì dù sao trong 4 đáp án cũng chọn được một đáp án, các em trông chờ vào yếu tố “may-rủi”, “hênxui”. Do đó, có tình trạng học sinh ỷ lại, không ý thức được việc học, điều này đưa đến chất lượng thi THPT quốc gia môn lịch sử rất thấp. 2.2.4. Cấu trúc - ma trận của bài thi trắc nghiệm THPT quốc gia môn lịch sử 2.2.4.1. Cấu trúc đề thi THPT quốc gia môn Lịch sử Một đề thi THPT quốc gia môn lịch sử gồm có 4 cấp độ tư duy - Nhận biết: Học sinh nhớ được bản chất những khái niệm, thuật ngữ cơ bản và có thể nêu hoặc nhận ra các khái niệm khi được yêu cầu. Đây là bậc thấp nhất của nhận thức, yêu cầu học sinh tái hiện, ghi nhớ, kể tên, nêu lại, nhớ lại một sự kiện hiện tượng. Ví dụ: học sinh nhớ được địa điểm, nội dung chính của một sự kiện lịch sử, tên một nhân vật lịch sử cụ thể. - Thông hiểu: Học sinh hiểu được các khái niệm, thuật ngữ cơ bản và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ra gắn liền với các ví dụ học sinh đã được học trên lớp. Ở bậc nhận thức này, học sinh có thể giải thích được một sự kiện, hiện tượng lịch sử, tóm tắt được diễn biến một sự kiện, nghe và trả lời được các câu hỏi liên quan. Ví dụ: học sinh có thể giải thích được được sự kiện lịch sử diễn ra như thế nào? - Vận dụng thấp: Học sinh vượt qua cấp độ hiểu biết thông thường và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp. Ở bậc nhận thức này, học sinh có thể sử dụng được kiến thức để giải quyết một tình huống cụ thể. Ví dụ: áp dụng một sự kiện lịch sử này để lý giải một sự kiện lịch sử khác. -Vận dụng cao: học sinh có khả năng vận dụng kiến thức, khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đề mới hoặc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng có thể giải quyết bằng các kĩ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương. Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặp ngoài môi trường lớp học. Ở bậc này học sinh phải xác định được
những thành tố trong một tổng thể và mối quan hệ qua lại giữa chúng, phát biểu ý kiến cá nhân và bảo vệ được ý kiến đó về một sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử nào đó, học sinh phải so sánh, đánh giá, phân biệt…liên hệ thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm. Ví dụ: học sinh có thể rút ra bài học kinh nghiệm sua khi học về cách mạng tháng Tám, chống thù trong giặc ngoài (1945-1946), cuộc kháng chiến chống Pháp, chống mĩ cứu nước, công cuộc đổi mới. Sau đó liên hệ kiến thức với những vấn đề trong cuộc sống hiện nay: ô nhiễm môi trường, tranh chấp biên giới, biển đảo, xu thế toàn cầu hóa… 2.2.4.2. Ma trận của bài thi trắc nghiệm THPT quốc gia môn lịch sử Tổng quan hình thức thi trắc nghiệm của môn Lịch sử bao gồm: gồm 40 câu hỏi, thời lượng 50 phút. Năm 2017: kiến thức bài thi môn Lịch sử (thuộc tổ hợp môn thi KHXH) được rải đều trong phạm vi kiến thức của chương trình Lịch sử lớp 12 (ngoại trừ kiến thức trong phần giảm tải). Năm 2018: So với năm 2017, kiến thức rộng hơn, nội dung thi bao gồm cả chương trình Lịch sử 11 (chiếm 20%) và chương trình Lịch sử 12 (chiếm 80%). Cụ thể: - Mức độ nhận biết: 8 câu + Lớp 11 có 2 câu + Lớp 12 có 6 câu - Mức độ thông hiểu: 12 câu + Lớp 11 có 2 câu + Lớp 12 có 10 câu - Mức độ vận dụng thấp: 12 câu + Lớp 11 có 4 câu + Lớp 12 có 8 câu - Mức độ vận dụng cao: 8 câu + Lớp 11 không có + Lớp 12 có 8 câu
20% TG, 80% VN
Kiến thức của đề thi đều được xây dựng trên nền kiến thức cơ bản của chương trình giáo dục phổ thông. Từ các đề thi minh họa của Bộ Giáo dục và đào tạo và các đề thi chính thức cho thấy, kiến thứccác câu hỏi đề thi trắc nghiệm rải đều tất cả các phần, các chương của chương trình sách giáo khoa Lịch sử. Năm 2019: Kiến thức bài thi giống năm 2018, rải đều ở cả chương trình 11 và 12. Cụ thể: - Mức độ nhận biết: 11 câu + Lớp 11 không có, + Lớp 12 có 11 câu (3 câu thế giới, 8 câu Việt Nam) - Mức độ thông hiểu: 15 câu + Lớp 11 có 2 câu (1 câu thế giới, 1 câu Việt Nam) + Lớp 12 có 12 câu (4 câu thế giới, 9 câu Việt Nam) - Mức độ vận dụng: 6 câu + Lớp 11 có 1 câu liên thông 11 và 12 + Lớp 12 có 5 câu (1 câu thế giới, 4 câu Việt Nam) - Mức độ vận dụng cao: 8 câu + Lớp 11 có 1 câu Việt Nam + Lớp 12 có 7 câu (2 câu thế giới, 5 câu Việt Nam) Như vậy: Cấu trúc thi THPT quốc gia năm 2019 của Bộ Giáo dục và đào tạo đối với môn Lịch sử: Chương trình 12 có 36 câu (chiếm 90%), chương trình 11 có 4 câu (chiếm 10%). Năm 2020: Kiến thức bài thi giống năm 2019, ở cả chương trình 11 và 12. Cụ thể: - Phần lịch sử thế giới: có 11 câu - Phần lịch sử Việt Nam: + Giai đoạn 1919-1930 có 7 câu + Giai đoạn 1930-1945 có 8 câu + Giai đoạn 1945-1954 có 6 câu + Giai đoạn 1954-1975 có 4 câu
+ Giai đoạn 175-2000 có 3 câu - Phần lịch sử 11: có 1 câu Như vậy: Cấu trúc thi THPT quốc gia năm 2020 của Bộ Giáo dục và đào tạo đối với môn Lịch sử, Chương trình 12 có 39 câu (chiếm 97,5%), chương trình 11 có 1 câu (chiếm 2,5%). 2.2.5.Các dạng câu hỏi thường sử dụng trong bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử 2.2.5.1. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn câu trả lời đúng Dạng câu hỏi này thường yêu cầu ở mức độ nhận biết. Trong 4 phương án gây nhiễu (A,B,C,D), sẽ có một phương án đúng, còn lại 3 đáp án sai, các em chỉ cần tô vào đáp án đúng. Ví dụ 1: (Đề minh họa lần 1 năm 2017) - Tư tưởng cốt lõi trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam là: A. tự do và dân chủ
B. độc lập và tự do
C. ruộng đất dân cày
D. đoàn kết với cách mạng thế giới
Ví dụ 2: (Đề thi THPT quốc gia 2018) - Cuộc khởi nghĩa nào dưới đây thuộc phong trào Cần vương ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX? A. Hương Khê.
B. Yên Thế.
C. Yên Bái.
D. Thái Nguyên.
Ví dụ 3: (Đề thi THPT quốc gia 2019)- Trong khởi nghĩa từng phần (từ tháng 3 đến tháng 8-1945), nhân dân Việt Nam ở Bắc Kì và Bắc Trung kì thực hiện khẩu hiệu: A. “Phá khó thóc giải quyết nạn đói”. C. “Tăng gia sản xuất”
B. “Người cày có ruộng”. D. “Không một tấc đất bỏ
hoang”. Ví dụ 4: (Đề thi THPT quốc gia 2020) – Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925-1929) có hoạt động nào sau đây? A. Phát động khởi nghĩa Yên Bái
B. Tổ chức ám sát trùm mộ phu
Badanh C. Tuyên truyền lí luận cách mạng nghĩa
D. Phát động nhân dân Tổng khởi
2.2.5.2. Dạng câu hỏi yêu học sinh lựa chọn câu trả lời đúng nhất Dạng câu hỏi này nhằm phân hóa học sinh (mức độ hiểu và vận dụng), có 4 phương án (A,B,C,D), trong đó có nhiều phương án đúng hoặc gần đúng, nhưng chỉ có một phương án đúng nhất, đầy đủ nhất, quan trọng nhất, quyết định nhất, hoặc cơ bản nhất… Nhiệm vụ của học sinh là phải lựa chọn được phương án đúng nhất. Thực tiễn cho thấy, do chưa vững kiến thức trog quá trình ôn luyện nên nhiều em bị nhầm lẫn, mất điểm ở dạng câu hỏi này. Ví dụ 1: (Đề thi THPT quốc gia 2017)- Nội dungnào dưới đây là sự khái quát về chính sách đối ngoại của Liên Xô từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa những năm 70 của thế kỉ XX? A. Giúp đỡ các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa B. Ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới C. Chống lại âm mưu gây chiến của các thế lực thù địch D. Bảo vệ hòa bình, ủng hộ phong trào cách mạng thế giới Ví dụ 2: (Đề thi THPT quốc gia 2018) : Hiệp ước Patơnốt (1884) được ký kết giữa triều đình nhà Nguyễn với thực dân Pháp là mốc đánh dấu A. các vua nhà Nguyễn hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. B. thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam. C. thực dân Pháp thiết lập xong bộ máy cai trị ở Việt Nam. D. thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam. Ví dụ 3: (Đề thi THPT quốc gia 2019) - Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 của quân dân Việt Nam thắng lợi buộc Mĩ phải A. tuyên bố Mĩ hóa trở lại chiến tranh xâm lược Việt Nam. B. thừa nhận sự thất bại của chiến lược Chiến tranh cục bộ. C. tuyên bố Mĩ hóa chiến tranh xâm lược Việt Nam. D. thừa nhận sự thất bại của chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Ví dụ 4: : (Đề thi THPT quốc gia 2020) – Năm 1972, Liên Xô và Mĩ kí Hiệp ước về việc hạn chế hệ thống phòng chống tên lửa (ABM) và Hiệp định hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT-1) đã A. làm cho các khối quân sự đối đầu ở châu Âu bị giải thể hoàn toàn
B. góp phần làm giảm tình trạng đối đầu trong quan hệ quốc tế C. chuyển quan hệ hai nước từ đối đầu sang đồng minh chiến lược D. làm cho Toàn cầu hóa trở thành một xu thế trong quan hệ quốc tế 2.2.5.3. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh phải hoàn thành câu (điền câu vào chỗ trống). Dạng câu hỏi này, câu đề dẫn của câu hỏi sẽ thiếu một số cụm từ, với 4 phương án (A,B,C,D) sẽ cho sắn để thí sinh lựa chọn phương án đúng. Ví dụ 1: Chọn đáp án đúng điền vào chỗ trống để hoàn thiện đoạn tư liệu về ý nghĩa lịch sử của phong trào cách mạng 1930-1931? “Phong trào cách mạng 1930-1931 chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn nhưng có ý nghĩa lịch sử to lớn. phong trào khẳng định đường lối …..(1)….. của Đảng, quyền lãnh đạo của giai cấp ….(2)…. đối với cách mạng Đông Dương. Từ phong trào, khối liên minh ….(3)…. được hình thành”. A. (1) đúng đắn, (2) công nhân, (3) công-nông-binh B. (1) sáng tạo, (2) công nhân, (3) công-nông-binh C. (1) đúng đắn, (2) công nhân, (3) công-nông D. (1) sáng tạo, (2) nông dân, (3) công-nông-binh Ví dụ 2: Chọn đáp án đúng điền vào chỗ trống để hoàn thiện đoạn tư liệu nói về tình hình kinh tế - tài chính của Nhật Bản từ 1973 đến 1991. “…Từ nửa sau những năm 80, Nhật Bản đã vươn lên thành siêu cường ….(1)…. số 1 thế giới với lượng ….(2)…. và ngoại tệ gấp 3 lần của Mĩ, gấp 1.5 lần của Cộng hòa Liên bang Đức. Nhật Bản cũng là ….(3)…. lớn nhất thế giới. A. (1) tài chính, (2) dự trữ vàng, (3) chủ nợ B. (1) tài chính, (2) tiền, (3) con nợ C. (1) kinh tế, (2) dự trữ vàng, (3) con nợ D. (1) kinh tế, (2) dự trữ vàng, (3) chủ nợ Ví dụ 3: Chọn đáp án đúng điền vào chỗ… để hoàn thành đoạn tư liệu sau “Giữa năm 1920, ….(1)….đọc sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội
Pháp. Luận cương của Lê-nin đã giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường giành ….(2)…. Và ….(3)…. của nhân dân Việt Nam”. A. (1) Nguyễn Ái Quốc, (2) độc lập, (3) thống nhất B. (1) Nguyễn Ái Quốc, (2) tự do, (3) dân chủ C. (1) Nguyễn Ái Quốc, (2) tự do, (3) thống nhất D. (1) Nguyễn Ái Quốc, (2) độc lập, (3) tự do 2.2.5.4. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn ý phủ định trong 4 phương án Câu hỏi được kiểm tra, đánh giá ở các mức độ khác nhau, yêu cầu các em không hiểu sai về các sự việc, hiện tượng trong lịch sử. Các cụm từ thường được sử dụng trong dạng câu hỏi này là không đúng, ngoại trừ, không phải, không chính xác… Ví dụ 1: (Đề thi THPT quốc gia 2017) – Nhận xét nào dưới đây về phong trào dân chủ 1936-1939 ở Việt Nam là khôngđúng? A. Đây là cuộc vận động dân chủ có tính dân tộc B. Đây là phong trào cách mạng có mục tiêu, hình thức đấu tranh mới C. Đây là cuộc vận động cách mạng có tính chất dân tộc điển hình D. Đây là phong trào cách mạng có tính chất dân chủ Ví dụ 2: (Đề thi THPT quốc gia năm 2018) – Nội dung nào không phản ánh đúng âm mưu của Mĩ ở Đông Dương trong những năm 1951-1954? A. Ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội B. Đưa quân đội tham chiến trực tiếp C. Từng bước thay chân Pháp D. Quốc tế hóa cuộc chiến tranh Đông Dương Ví dụ 3: (Đề thi THPT quốc gia năm 2019) - Nội dung nào sau đây không phải là mục đích của Việt Nam khi mở chiến dịch Biên giới thu- đông năm 1950? A. Phát huy thế chủ động chiến lược trên chiến trường Đông Dương. B. Khai thông đường liên lạc với Trung Quốc và các nước trên thế giới. C. Tiêu diệt một bộ phận sinh lưc quân Pháp. D. Mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.
Ví dụ 4: (Đề thi THPT quốc gia năm 2020)– Nội dung nào sau đây không phản ánh đúng tình hình Việt Nam trong thời kì 1954-1975? A. Đất nước tạm thời bị chia cắt làm 2 miền B. Miền Bắc đã được giải phóng C. Miền Nam chưa được giải phóng D. Cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội 2.2.5.5. Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh phải kết nối đúng hoặc sắp xếp đúng trật tự (thứ tự) lô gic của các sự kiện, hiện tượng lịch sử theo cách : sự kiện nào có trước, có sau ? sự kiện nào quyết định sự kiên nào ? Sự kiện nào là nguyên nhân, sự kiện nào là hệ quả?... Ví dụ 1: (Đề thử nghiệm – THPT quốc gia 2017)–Sắp xếp các sự kiện dưới đây theo trình tự thời gian (1) Mặt trận Việt Minh được thành lập (2) Sự ra đời của khu giải phóng Việt Bắc (3) Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì được triệu tập A. 1-2-3
B. 1-3-2
C. 2-3-1
D. 3-1-2
Ví dụ 2: (Đề minh họa – THPT quốc gia 2017)- Cho các sự kiện (1) Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện (2) Quân Nhật vượt biên giới Việt – Trung, tiến vào miền Bắc Việt Nam (3) Nhật đảo chính lật đổ Pháp ở Đông Dương Sắp xếp các dữ kiện trên theo đúng trình tự thời gian A. 2-3-1
B. 1-2-3
C. 3-2-1
D. 1-3-2
Ví dụ 3: Cho các dữ liệu sau (1) Các nước thành viên kí bản Hiến chương ASEAN (2) Hiệp ước thân thiện và hợp tác (3) ASEAN phát triển thành 10 nước thành viên (4) Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á thành lập Sắp xếp về quá trình hình thành, phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á A. 4-1-2-3
B. 4-2-3-1
C. 4-3-2-1
D. 4-2-1-3
2.2.5.6. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn tư liệu Dạng câu hỏi này nhằm phân hóa học sinh, câu hỏi sẽ đưa ra một đoạn tư liệu liên quan trực tiếp đến một sự kiện, hiện tượng lịch sử quan trọng (có trong sách giáo khoa hoặc ngoài sách giáo khoa). Đoạn tư liệu là căn cứ định hướng cho các em tư duy, suy luận để đưa ra quyết định lựa chọn. Ví dụ 1: (Đề thi THPT quốc gia 2017) – “Ai có súng dùng súng, Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” là những câu trích từ tài liệu nào dưới đây? A. “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh B. “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Tổng bí thư Trường Chinh C. “Tuyên ngôn độc lập” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa D. “Toàn dân kháng chiến” của Ban thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương Ví dụ 2: (Đề thi THPT quốc gia 2018) - Ngày 31 - 3 - 1968, bất chấp sự phản đối của chính quyền Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Giônxơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; không tham gia tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai; sẵn sàng đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đi đến kết thúc chiến tranh. Những động thái đó chứng tỏ: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã A. buộc Mỹ phải giảm viện trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn. B. làm cho ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam bị sụp đổ hoàn toàn. C. làm khủng hoảng sâu sắc hơn quan hệ giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn. D. buộc Mỹ phải xuống thang trong chiến tranh xâm lược Việt Nam Ví dụ 3: (Đề thi THPT quốc gia 2018) - Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tháng 12 - 1944), Hồ Chí Minh viết: “Vì cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân…” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, NXB. Chính trị quốc gia, H., 2011, tr. 3). Trong bối cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam lúc đó, câu trích trên thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về A. tuyên truyền toàn dân.
C. khởi nghĩa toàn dân.
B. quân đội nhân dân.
D. quốc phòng toàn dân.
2.2.5.7. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn đúng phương án nhận xét, tranh biện về sự kiện, hiện tượng lịch sử (các quan điểm, chính kiến hoặc ý kiến nhận xét, đánh giá về lịch sử). Dạng câu hỏi này, đề thi sẽ đưa ra sẵn các quan điểm, chính kiến hoặc ý kiến nhận xét về sự kiện, hiện tượng lịch sử phức tạp, yêu cầu học sinh phải lựa chọn phương án đúng. Không thông hiểu vấn đề, thí sinh sẽ chọn sai. Ví dụ 1: (Đề thi THPT quốc gia 2018) - Nhận xét nào dưới đây phù hợp với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Phi sau Chiến tranh thế giới thứ hai? A. Đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của các chính đảng vô sản. B. Diễn ra liên tục, sôi nổi với các hình thức đấu tranh khác nhau. C. Xóa bỏ được hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân mới. D. Bùng nổ sớm nhất và phát triển mạnh tại khu vực Nam Phi. Ví dụ 2: (Đề thi THPT quốc gia 2019) - Nhận xét nào sau đây phản ánh đúng đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật từ những năm 40 của thế kỉ XX đến năm 2000? A. Tất cả phát minh kĩ thuật luôn đi trước và mở đưởng cho nghiên cứu KH B. Khoa học luôn đi trước và tồn tại độc lập với kĩ thuật. C. Thời gian từ phát minh KH đến ứng dụng vào sản xuất được rút ngắn. D. Tất cả phát minh kĩ thuật đều khởi nguồn từ nước Mĩ. Ví dụ 3: Tư tưởng và nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam là gì? A. Lấy sức mạnh toàn dân thắng vũ khí hiện đại B. Lấy sức mạnh chính trị thắng sức mạnh quân sự C. Lấy nhiều đánh ít, lấy yếu thắng mạnh D. Lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn 2.2.6. Một số lưu ý về phương pháp ôn và làm bài thi trắc nghiệm thi THPT quốc gia môn Lịch sử
2.2.6.1. Về phương pháp học, ôn thi THPT quốc gia - Bám sát kiến thức sách giáo khoa: Đây là một điều cần ghi nhớ đầu tiên của các em khi học thi THPT quốc gia. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều tài liệu học tập, tư liệu tham khảo xong các em hoàn toàn phải dựa trên nền tảng kiến thức sách giáo khoa, bám sát vào từng sự kiện, vấn đề mà sách đã ghi rất rõ, kết hợp với sách giáo khoa nâng cao. - Học lý thuyết một cách ngắn gọn nhất, đủ ý theo cách trình bày của bản thân, tránh dài dòng khi học thuộc lòng, việc học thuộc đối với môn sử là không thể tránh khỏi nhưng học thuộc ở đây là thuộc hiểu chứ không phải thuộc vẹt. Thay vì máy móc đọc từng câu, từng chữ trong vở ghi của giáo viên, thụ động khi kiếm được một cuốn tài liệu dù là hay rồi về đọc như "tụng kinh" thì trước khi bước vào quá trình học thuộc gian nan này, các em hãy xem các nội dung chính của từng chương (phần chữ xanh in trên mỗi bài chính là chủ đề chính và những vấn đề các em cần phải nắm được). Hãy dựa vào những cái đó tự bỏ chút thời gian ra để tự xây dựng đề cương cho chính mình. Sau khi học ở lớp bài nào thì phải xây dựng ngay đề cương của bài đó và học luôn lý thuyết và luyện đề luôn cho nóng hổi, đừng học xong hết chương mới xây dựng đề cương. - Khi đọc thì hãy cố gắng đọc thành tiếng, kết hợp viết và đọc. Bộ não của con người là nơi tiếp nhận và xử lý thông tin từ bên ngoài và thông qua các giác quan nếu các em chỉ đọc thầm thì chẳng khác gì đóng cửa các đường truyền tiếp nhận thông tin khác (đọc ra tiếng để tai nghe thấy, mắt nhìn thấy), viết ra thì mắt nhìn thấy, tay cũng hoạt động... hãy kết hợp giữa đọc và viết đọc cảm thấy thuộc rồi thì viết ra giấy theo ý hiểu của mình ra giấy sau đó mới dở sách lại đối chiếu xem mình đã thiếu ý gì sau đó mới bổ sung vào, như vậy sẽ nhớ lâu, nhớ thay đổi các phương pháp học thuộc để tránh tẻ nhạt và chóng chán. - Hãy sử dụng GIẤY NHỚ để ghi lại những vấn đề quan trọng mà ngẫu nhiên biết được, lấy những tờ giấy trắng to đủ nhìn mà dán ở những nơi xung quanh vòng riêng, góc học tập những nơi dễ nhìn nhé để dù khi chơi cũng được nhắc lại kiến thức và cũng là một hình thức nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập để thực hiện ước mơ. Khi học cần tập trung cao độ trong khoảng 1 tiếng rồi
nghỉ giải lao, tránh ngồi lì 3-4 tiếng liên tục. cần chọn một không gian yên tĩnh, tránh ồn ào như vậy các em sẽ dễ dàng tập trung hơn. những nơi thoáng mát, không khí lưu thông đều trong phòng. Về thời gian nên học buổi sáng là tốt nhất vì đây là lúc bộ não và cơ thể đã được phục hồi sau một giấc ngủ. Không học lúc đói, không học lúc quá no, lúc vừa ăn xong, không vừa học vừa ăn... - Trong khi ôn và làm đề, đối với học lịch sử khi tìm hiểu một vấn đề nào đó thì luôn phải đặt ra những nghi vấn, đưa ra những giả thuyết khác nhau để càng hiểu rõ hơn sự kiện đã xảy ra. Lịch sử không có từ "Nếu" nhưng có quyền đặt giả thuyết, hãy luôn đặt ra những câu hỏi "tại sao", "tại sao nó lại xảy ra như vậy". Tại sao khi Đảng ra đời thì giai cấp công nhân VN mới hoàn toàn tự giác?. Mĩ hóa là gì? tại sao khi khi Mĩ tuyên bố Mĩ hóa trở lại thì cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận thất bại ở Việt Nam hóa chiến tranh?. Tại sao ở chiến lược chiến tranh cục bộ Mĩ đã cho quân trực tiếp xâm lược nhưng vẫn được liệt vào loại hình chiến tranh thực dân mới...So sánh các sự kiện vấn đề lịch sử với nhau, bằng việc đối chiếu như vậy sẽ càng hiểu rõ hơn bản chất của sự kiện đó. - Nói về công đoạn luyện đề: Đầu tiên thấy rằng: Nhiều người hay có thói quen học hết sạch lý thuyết sau đó mới giải đề, điều này là hết sức sai lầm. Việc học lý thuyết chỉ mới bước đầu tạo cho các em kiến thức thoáng qua, chưa tạo thành những kiến thức vĩnh viễn tồn tại trong não nếu các em không luyện đề. Việc luyện đề phải tiến hành xen kẽ với việc ôn lý thuyết đó là học được bài nào thì phải biết luyện đề ngay cho bài đó trước khi chuyển sang phần tiếp theo, hết một chương thì làm bài tổng kết cho cả chương. Giai đoạn đầu các em kết hợp luyện đề với ôn lý thuyết xen kẽ, giai đoạn gần cuối các em hãy tăng cường việc giải đề thi nhiều lên dần. giảm dần việc học lý thuyết, đến những ngày cuối cùng của kỳ thi sắp tới các em lại quay trở về ra soát, học lại lý thuyết, việc luyện đề lúc này chỉ là thứ yếu. Thứ 2: Cách luyện đề trắc nghiệm thay vì chỉ khoanh đáp án, nên có 1 quyển vở bài tập: để ngoài việc chọn đáp án thì ghi lời giải ngắn gọn tại sao lại chọn đáp án đó, sau đó đối chiếu với sgk để rút kinh nghiệm. Công đoạn này được lặp lại nhiều lần sẽ góp phần hình thành trí nhớ vĩnh viễn đối với những
phần kiến thức quan trọng, việc luyện giải đề thật nhiều để có kỹ năng phân tích và đưa ra lập luận, có thể thử giới hạn thời gian cho mình như 45 phút phải bắt buộc làm xong bao nhiêu câu. Sau mỗi bài nên lập bảng niên biểu thời gian, sự kiện, vẽ sơ đồ tư duy... Thứ 3: Chú ý tham khảo những tài liệu thi tự luận bởi vì có nhiều câu hỏi trắc nghiệm đều lấy ý từ câu tự luận mà ra. * Lưu ý: Học Lịch sử 11 trước, 12 sau, cuối cùng là lớp 10; Học thế giới trước, Việt Nam sau. 2.2.6.2. Về phương pháp làm bài thi trắc nghiệm khách quan Đây là kì thi THPT quốc gia hết sức nghiêm túc, đòi hỏi tính trung thực và khách quan cao. Mọi tiêu cực từ quay cóp đến hỏi bài, gian lận sẽ không còn tồn tại, ngay cả khi học sinh mang tài liệu vào phòng thi cũng không có thời gian để sử dụng vì có tới 40 câu hỏi được chia làm 4 mức độ từ dễ đến khó, thời gian làm bài sẽ trôi qua rất nhanh. Vì vậy các em cần phải nỗ lực hết mình, bằng chính kiến thức và năng lực của bản thân. Để làm được bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử đạt điểm cao không phải dễ, muốn đạt điểm cao, ngoài nền tảng kiến thức vững chắc thì các em còn cần một phương pháp làm bài khoa học. 2.2.6.2.1. Đọc thật kỹ câu hỏi và đáp án Bước đầu tiên không thể thiếu với bất cứ dạng bài dù tự luận hay trắc nghiệm là đều đòi hỏi người học phải có kiến thức vững vàng. Nắm được kiến thức cơ bản, các em sẽ dễ dàng trong việc vận dụng kiến thức để chọn đáp án đúng nhất đối với những câu hỏi ở mức độ nhận biết, thông hiểu và loại trừ đối với những câu thuộc dạng phân tích, tổng hợp mang tính chất phức tạp hơn. Lịch sử thi theo hình thức trắc nghiệm tuy không mới nhưng đã đi vào chiều sâu nên việc đọc kĩ SGK cũng cần thay đổi. Nếu trước kia thi tự luận sẽ không phải đọc SGK nhiều mà chỉ học kiến thức cơ bản và đi vào câu hỏi nâng cao, thì với đề thi trắc nghiệm hiện nay, đại đa số kiến thức trong bài thi đều lấy từ SGK nên các em cần chủ động trong việc khai thác và xử lý thông tin từ sách.
Tiếp nối truyền thống ra những câu hỏi mang tính liên hệ từ thời thi tự luận, thì những câu hỏi trắc nghiệm liên hệ thực tế vẫn xuất hiện trong các đề thi hiện nay nên cần có thêm kiến thức xã hội bên ngoài sách vở. Xu thế ra đề phổ biến là có những câu mang tính thực tiễn, đòi hỏi các em phải biết động não suy luận và biết tình hình xã hội, nắm bắt các tin tức thời sự đang diễn ra hiện nay. 2.2.6.2.2. Xác định từ chìa khóa trong câu hỏi và đáp án Học sinh cần đọc kỹ yêu cầu của câu hỏi và tìm "từ khóa", có thể lấy bút khoanh tròn hoặc gạch chân"từ khóa" đó để lựa chọn phương án trả lời với những kiến thức nào. Đây được xem như cách giúp học sinh giải quyết câu hỏi nhanh nhất và không bị lạc đề hay nhầm kiến thức. Với đa số các câu hỏi, đặc biệt là những câu hỏi khó, phải tìm được “từ khóa”, đây chính là mấu chốt để giải quyết vấn đề. Mỗi khi đọc câu hỏi xong, điều đầu tiên là các em phải tìm được “từ khóa” nằm ở đâu, điều này giúp các em định hướng được câu hỏi liên quan đến vấn đề gì và đáp án sẽ gắn liền với chính từ chìa khóa đấy. Ví dụ 1: Hội nghị nào của Đảng ta lần đầu tiên xác định mục tiêu thành lập Chính phủ dân chủ cộng hòa? A. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 B. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 C. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 3 năm 1945 D. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 7 năm 1936 Với câu hỏi trên, HS cần nhớ lại nội dung của các Hội nghị. Trong đó: + Hội nghị Ban chấp hành Trung ương tháng 5/1941 nêu: Sau khi đánh đuổi Pháp-Nhật, sẽ thành lập Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. + Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 nêu: khẩu hiệu thành lập chính quyền Xô viết công nông binh được thay thế bằng khẩu hiệu lập chính phủ Dân chủ cộng hòa. Từ khóa trong câu hỏi trên là “lần đầu tiên”→ Đáp án đúng là B
Ví dụ 2:(Đề thi THPT Quốc gia năm 2017): Điểm giống nhau giữa chiến lược “chiến tranh đặc biệt “ (1961-1965) và “chiến tranh cục bộ (1965-1968) của Mĩ ở Việt Nam là gì? A. Sử dụng lực lượng quân đội Mĩ là chủ yếu B. Thực hiện các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” C. Nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới D. Sử dụng lực lượng quân đội Sài Gòn là chủ yếu HS dựa vào kiến thức đã học về 2 chiến lược trên: lực lượng chủ yếu của “chiến tranh đặc biệt” là quân đội Sài Gòn, các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” chỉ có trong “chiến tranh cục bộ”. Từ chìa khóa là “Điểm giống nhau” → Đáp án đúng là D 2.2.6.2.3. Dùng phương pháp loại trừ Một phương pháp cứu nguy lúc không thể áp dụng cách tìm từ khóa hay rơi vào phần kiến thức yếu của các em. Một câu hỏi có 4 đáp án, các đáp án có độ nhiễu cao hay nói cách khác là thường không khác nhau lắm về nội dung hoặc đảo vị trí các cụm từ trong câu hỏi. Muốn làm đúng dạng này, thay vì đi tìm đáp án đúng thì các em hãy đi tìm đáp án sai, tìm được càng nhiều càng tốt và khi loại hết các đáp án sai thì còn lại sẽ là đáp án đúng. Ví dụ 1: Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975) của nhân dân Việt Nam thắng lợi là một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, vì đã: A. giáng đòn mạnh mẽ vào âm mưu nô dịch của chủ nghĩa thực dân B. tạo ra tác động cơ bản làm sụp đổ trật tự thế giới hai cực Ianta C. tạo nên cuộc khủng hoảng tâm lý sâu sắc đối với các cựu binh Mĩ D. dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế-chính trị trầm trọng ở Mĩ + HS cần chú ý cụm từ “tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc”- ý muốn nói đến phạm vi ảnh hưởng của sự kiện rộng lớn, mang tính thời đại ngay lúc đó. Vì vậy loại được C và D vì đây chỉ nói đến trong phạm vi nước Mĩ.
+ Đáp án B: nói đến trật tự 2 cực Ianta do 2 cường quốc đứng đầu là XôMĩ, chiến thắng trong cuộc kháng chiến cứu nước là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nằm trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nhưng chỉ là góp phần làm sụp đổ chứ chưa phải là làm sụp đổ hoàn toàn trật tự 2 cực, phạm vi tác động chưa mạnh mẽ. + Đáp án A: cuộc chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất, tâm điểm đối đầu chứa đựng nhiều mâu thuẫn, là sự kế tiếp của chủ nghĩa thực dân từ khi Pháp thất bại. Dùng phương pháp loại trừ → Đáp án đúng là A. Ví dụ 2: Ý nghĩa nào thể hiện điểm giống nhau cơ bản trong chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương qua hai giai đoạn cách mạng 1936-1939 và giai đoạn 1939-1945? A. Tạm gác những hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp B. Tạm gác các khẩu hiệu đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình C. Chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu D. Tập hợp lực lượng cách mạng trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất HS cần phân tích để loại trừ + Đáp án A: khẩu hiệu trên chỉ có trong giai đoạn 1939-1945, hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp là của phong trào 1936-1939. + Đáp án B: khẩu hiệu trên sử dụng trong phong trào 1936-1939, đến giai đoạn 1939-1945 mới tam gác khẩu hiệu đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình. + Đáp án C: phong trào 1936-1939 là một phong trào dân chủ, đấu tranh đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo hòa bình. Giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc là của giai đoạn 1939-1945. + Đáp án D: cả hai giai đoạn 1936-1939 và 1939-1945 đều thành lập mặt trận dân tộc thống nhất. Trong giai đoạn 1936-1939 thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Còn giai đoạn 1939-1945 thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương, đến năm 1941 là Mặt trận Việt Minh.
→ Đáp án đúng là D Trong trường hợp không còn đủ cơ sở để loại trừ nữa thì hãy dùng phương pháp phỏng đoán hoặc làm theo kiểu "phủ xanh đất trống" một cách may rủi. Đấy là cách cuối cùng dành cho các em khi không thể loại trừ trực tiếp được. 2.2.6.2.4. Phân bổ thời gian hợp lý và tuyệt đối không được để trống đáp án khi nộp phiếu đáp án Chỉ có 50 phút để làm bài thi, học sinh không nên để mất quá nhiều thời gian vào một câu hỏi nào đó, vì thời gian trung bình mỗi câu chỉ khoảng 1,25 phút. Không cần làm theo thứ tự câu hỏi, phải biết phân tích và xử lý nhanhvới những câu dễ học sinh hãy làm trước, thông thường 20 câu đầu các em sẽ dễ dàng làm được ngay vì đa số kiến thức cơ bản dành cho các em thi tốt nghiệp. Trong bài thi trắc nghiệm, các câu hỏi đều bằng điểm nhau, dù là câu khó hay dễ nếu làm đúng đều được 0.25 điểm. Vì vậy, các em câu dễ làm trước, câu khó làm sau để đảm bảo đạt điểm cao nhất. Khoảng thời gian còn lại sẽ "chiến đấu" với những câu khó sau. III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI 1. Hiệu quả kinh tế Tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và lựa chọn đề tài “ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP ÔN VÀ LÀM BÀI TRẮC NGHIỆM THI THPT QUỐC GIA MÔN LỊCH SỬ” vào thực tế giảng dạy tại trường THPT. Qua quá trình trực tiếp giảng dạy từ năm 2017 đến năm 2020, Tôi nhận thấy đề tài này đã mang lại hiệu quả thiết thiết thực - nhất là đối với các em thi khối C. Các em sẽ không mất tiền để tham gia các khóa ôn luyện online, mua các tài liệu liên quan, học thêm quá nhiều… Đề tài trên sẽ giúp các em tự tìm cho mình một số phương pháp học phù hợp nhất, nâng cao chất lượng học và cách làm bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử đạt kết quả cao. 2. Hiệu quả về mặt xã hội Trong nhiều năm gần đây, Lịch sử là môn học, môn thi luôn gây “nóng” trên các phương tiện truyền thông và tạo nên sự quan tâm, chú ý bởi dư luận xã
hội. Môn sử nói riêng và các môn xã hội đang bị quay lưng trong việc lựa chọn khối thi, ngành thi của học sinh. Việc học sinh bây giờ ngại học sử, ngán thi sử là một sự thật bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Thực tế, trước đây khi chưa có bài thi tổ hợp, để học sinh tự chọn môn thi thì Lịch sử luôn là môn có ít nhất học sinh chọn nhất. Việc Lịch sử trở thành môn thi chính thức trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 đã tạo chuyển biến tích cực trong việc dạy và học để thích ứng với yêu cầu đánh giá của kỳ thi này. Khi đưa Lịch sử vào tổ hợp Khoa học xã hội thì ở nhiều trường tỷ lệ học sinh chọn còn cao hơn tổ hợp Khoa học tự nhiên. Đó có thể là điều đáng mừng. Như vậy, các em học sinh đã có định hướng rõ ràng trong việc học gì và thi gì, nếu giáo viên cung cấp cho các em phương pháp ôn luyện và làm bài trắc nghiệm thì Tôi tin rằng kết quả vô cùng khả quan. Từ năm 2017 đến năm 2020, Tôi được nhà trường phân công giảng dạy các lớp ban khoa học xã hội - đều là lớp Ban D, nghĩa là đối với bộ môn lịch sử các em chỉ dừng lại ở kết quả xét tốt nghiệp. Vì vậy, khi áp dụng đề tài này vào việc giảng dạy trực tiếp - Tôi thấy thu được kết quả rất khả quan, điều này được phản ánh khó rõ nét thông qua kết quả thi của Sở Giáo dục, đặc biệt là kết quả các kì thi THPT Quốc gia. - Đối với học sinh: dựa vào kết quả thi THPT quốc gia trước và sau khi thực hiện sáng kiến. * Trước khi thực hiện sáng kiến - Năm học 2017- 2018 (Xem phụ lục 5) Năm học 20172018
Lớp
12a8
Sĩ số
35
HS đạt
HS đạt
HS đạt
HS đạt
HS đạt
8.0-10
6.5-7.9
5.0-6.4
3.5-4.9
0-3.4
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
0
0
3
8.5
6
17.1
21
60
5
14.3
* Sau khi thực hiện sáng kiến - Năm học 2018 - 2019 (phụ lục 6), năm học 2019-2020 (phụ lục 7).
Năm học 20182019 20192020
Sĩ
Lớp
số
HS đạt
HS đạt
HS đạt
HS đạt
HS đạt
8.0-10
6.5-7.9
5.0-6.4
3.5-4.9
0-3.4
SL
%
SL
%
SL
%
SL
% SL
%
34
8.5
12a9
47
5
10.6
10
21.3
12
25.5
16
12a10
36
14
38.8
14
38.8
8
22.2
0
4
0
Như vậy, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi tăng mạnh, học sinh đạt điểm trung bình giảm và không còn học sinh có điểm yếu, kém. - Dựa vào kết quả của học sinh so với trung bình trung của Sở Giáo dục (Phụ lục 8) Điểm cao
Điểm bình
nhất
quân
35
7.25
12a9
47
12a10
36
Năm học
Lớp
Sĩ số
2017-2018
12a8
2018-2019 2029-2020
TBT Sở
Vượt (%)
4.4
4.17
0.23
9.25
5.5
4.83
0.67
9.5
7.4
6.3
1.37
Với kết quả trên cho thấy, sau khi áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy, dựa vào thái độ, tinh thần học tập của các em trên lớp. Tôi thấy sau mỗi bài hoặc sau mỗi tiết dạy, việc dùng hình thức tự luận để kiểm tra rõ ràng là không thích hợp, trong khi đó sử dụng hình thức trắc nghiệm rất thuận lợi, vừa củng cố được kiến thức, vừa đánh giá được mức độ hoàn thành mục tiêu của bài học, nó cho phép thu được thông tin phản hồi một cách kịp thời để từ đó nhanh chóng điều chỉnh phương pháp dạy học sao cho phù hợp, đồng thời uốn nắn những nhận thức sai lầm, lệch lạc có thể có ở học sinh. Giúp giáo viên chủ động hơn trong giờ dạy, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, phát triển tư duy độc lập sáng tạo cho học sinh, trong quá trình giảng dạy tôi đã giúp nhiều học sinh yếu kém khắc phục và bổ sung những kiến thức hổng, đảm bảo các em nhận biết và làm đề mức trung bình khá.
Mặt khác, nếu áp dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan, học sinh có thể sẽ tự biết mình tiếp thu kiến thức đến mức nào, có những sai sót nào cần bổ khuyết, qua đó ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập, giúp học sinh chủ động trong giờ học. Môn Lịch sử là môn học khó nhất trong Tổ hợp KHXH, hầu hết các em chọn chỉ để xét tốt nghiệp. Tôi biết nhiều em có tâm lý chỉ cần 2-3 điểm môn này là được xét tốt nghiệp rồi nên các em không tập trung học, có thể ăn may nhờ trúng tủ nên ngày càng nhiều em chọn môn này. Tuy nhiên đề thi các năm được ra theo hướng đánh giá năng lực, cho thấy sự phân hóa rõ hơn, không phải cứ học thuộc là làm được nên kết quả cũng có biểu hiện thấp hơn đáng kể. Vì vậy, sáng kiến của Tôi sẽ giúp các em có cách học hiệu quả, vận dụng linh hoạt, tránh được thói ỷ lại, đã khắc phục được sự uể oải, nhàm chán trong giờ học Lịch sử đối với học sinh. Học sinh có thái độ tích cực, chủ động trong chuẩn bị bài giảng, ôn tập tránh phục thuộc quá nhiều vào giáo viên. Bản thân các em luôn chuẩn bị sẵn sàng tâm lý cô sẽ kiểm tra bài vào đầu hoặc cuối giờ, nhiều em đã chủ động và tự tin hơn khi làm bài kiểm tra. Điểm số bộ môn Lịch sử của các em đã có nhiều cải thiện đáng kể. Nhiều em tổng kết bộ môn cuối năm cao, không có học sinh điểm tổng kết dưới 5.0. 3. Khả năng áp dụng và nhân rộng Bản thân tôi đã áp dụng và đạt được những kết quả tích cực. Khả năng ứng dụng, phổ biến, nhân rộng đề tài giữa các giáo viên giảng dạy lịch sử cũng dễ dàng. Học sinh có thể giữ được 1 bộ tài liệu ôn tập ngắn gọn, xúc tích và hiệu quả vì nó là thành quả của chính các em làm ra với sự giúp đỡ và hướng dẫn của giáo viên. Đề tài không chỉ vận dụng trong chương trình lịch sử lớp 12 mà còn cả lịch sử lớp 11, lớp 10. Ngoài ra có thể thực hiện ở các tiết ôn tập, dạy và học thêm. Việc áp dụng phần làm bài trắc nghiệm vào quá trình giảng dạy cũng như quá trình ôn- thi rất thiết thực, không chỉ trong môn Lịch sử mà có thể áp dụng cho tất cả các môn thi dưới hình thức trắc nghiệm khác như Toán, Hóa, Sinh, Địa… Đối tượng không chỉ ở các em học sinh THPT mà cả THCS.
Với số lượng đăng kí thi THPT Quốc gia tăng theo mỗi năm và kết quả thi cao dần trong 2 năm học vừa qua, thì chắc chắn trong những năm học tiếp theo sẽ có thêm nhiều học sinh đăng ký ôn tập THPT Quốc gia môn Lịch sử. Đây là tín hiệu đáng mừng chứng tỏ kết quả và phương pháp ôn tập năm học trước có hiệu quả. Từ đó, giúp học sinh yêu quý và tích cực học tập bộ môn lịch sử hơn, chất lượng thi THPT quốc gia sẽ cao, vị thế và vai trò của môn Lịch sử ngày càng được nâng cao. IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN Trên đây là những kinh nghiệm trong qúa trình trực tiếp giảng dạy Tôi đã đúc rút ra. Tôi cam kết không sao chép của bất cứ ai. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí để sáng kiến này ngày một hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lịch sử Việt Nam đại cương tập III, NXB Giáo dục năm 1998. 2. Chuẩn kiến thức kỹ năng môn Lịch sử, NXB giáo dục 2009 3. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông. NXB Giáo dục 7/2007. 4. Hướng dẫn giải Lịch sử. NXB Đaị học Quốc gia Hà Nội 2009 5. Ôn luyện kiến thức và rèn kỹ năng Lịch sử 12. NXB Giáo dục 2007 6. Sách giáo khoa lịch sử lớp 12- NXB giáo dục 7. Sách giáo viên-Lịch sử lớp 12- NXB giáo dục 8.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Lịch sử (lớp 10,11,12)- NXB giáo dục 2007. 9. Học tốt Lịch sử 12, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2010 10. Một số trang Web. https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/pho-diem-thi-thpt-quoc-gia2018-khoi-a-chinh-thuc-cua-bo-gd-dt-462444.html https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/xet-tuyen-dai-hoc-cong-bopho-diem-theo-khoi-thi-382678.html https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/pho-diem-xet-tuyen-dai-hoc2019-tu-ket-qua-thi-thpt-quoc-gia-2019-549966.html
PHỤ LỤC 1: PHỔ ĐIỂM THI THPT QUỐC GIA NĂM 2017
PHỤ LỤC 2 PHỔ ĐIỂM THI THPT QUỐC GIA NĂM 2018
PHỤ LỤC 3 PHỔ ĐIỂM THI THPT QUỐC GIA NĂM 2019
PHỤ LỤC 4 PHỔ ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP NĂM 2020
PHỤ LỤC 5 BẢNG ĐIỂM THI THPT QUỐC GIA LỚP 12A8 - NĂM HỌC 20172018 Trường THPT Tống Văn Trân DANH SÁCH ĐIỂM THI THPT QUỐC GIA - NĂM HỌC 2017 - 2018 Lớp 12A8 STT
SBD
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35
12001 12003 12004 12014 12022 12024 12025 12038 12058 12089 12113 12147 12154 12158 12172 12198 12200 12201 12218 12236 12246 12251 12262 12264 12268 12270 12271 12277 12287 12288 12316 12339 12352 12369 12405
Họ Đào Hà Nguyễn Thị Minh Nguyễn Thị Ngọc Nguyễn Thị Kim Ninh Thị Minh Phạm Thị Phương Tạ Thị Vân Nguyễn Thị Phương Dương Thị Bùi Văn Nguyễn Thị Thúy Bùi Thị Bùi Thị ánh Nguyễn Thị Nguyễn Quang Nguyễn Thị Hạnh Bùi Thị Bùi Thị Yến Phạm Thị Khánh Nguyễn Văn Đoàn Trung Trần Thị Thu Hà Thị Lan Hoàng Thị Hồng Phạm Thị Trịnh Thị Hồng Trương Thị Hồng Nguyễn Thị Hoàng Thị Thanh Nguyễn Thị Nguyễn Hồng Dương Thị Dương Thị Thu Nguyễn Văn Hà Thị Hải
Tên An An An Anh Anh Anh Anh Châm Dung Đức Hằng Hoài Hồng Huế Huy Lê Linh Linh Linh Lưu Nam Nga Nhi Nhung Nhung Nhung Nhung Phương Phượng Phượng Thắm Thúy Trang Truyền Yến
Ngày sinh
9/9/2000 9/5/2000 14/06/2000 17/01/2000 25/09/2000 14/10/2000 15/03/2000 3/10/2000 27/01/2000 7/4/2000 16/03/2000 9/8/2000 9/10/2000 6/9/2000 17/04/2000 15/09/2000 20/02/2000 27/02/2000 20/11/2000 27/08/2000 11/1/2000 22/07/2000 20/11/2000 19/01/2000 14/10/2000 6/3/2000 10/2/2000 16/04/2000 27/07/2000 17/08/2000 25/08/2000 30/07/2000 14/04/2000 27/08/2000 26/10/2000 HS DT >=5
Nguyễn Thị Thúy Hằng: 7.7 Bùi Thị Hoài: 4.5
>=8 <3.5
Văn 3.5 8.5 8.25 7.25 6.75 6.75 5.75 7 7 6.75 8.25 6 6.5 7.75 6.5 5.75 7.25 7.5 7 5.25 7.5 7 8 8 5.5 7 6.75 7.5 7.5 6.75 7.5 6.25 8 4.75 7
Toán 3.6 6.4 5.4 5.4 4.8 7.2 5.8 6 5.6 4.2 6.8 4 4.8 6.6 5 6 5.4 6.8 5.4 4.6 4.2 5.4 6.8 5.6 6.4 5 6 6.4 4 3.8 7.4 6.2 5.8 4.6 5
35 35 33 25 94.29 71.43 6 0 17.14 0 0 0 0 0 6.9 5.5
Anh 2.4 7.4 6.2 3.4 3.4 4.6 3.6 6.6 4.2 3.8 7.6 4.2 3 5.8 3.8 4.4 5.2 5.8 4.2 5.4 4 4.6 6 5.4 3.2 5.2 3.2 6.6 4.2 2.2 8 6 7.2 4.4 3.8
Sử 4.5 6 4 3.5 4.75 4.75 3.75 5.25 3.5 4.25 6.5 2.5 4 5.25 3.5 4 4.75 6.25 3.5 3.75 7.25 3.75 3.75 3.75 5 3 3 4.75 6.5 4.5 5.25 4.25 3.25 4 3
Địa 7.5 6.25 8 4 4.75 7.5 7.25 5 5.5 6.5 8.25 5 5 5.5 5.25 7.5 6.5 6.5 5 6.75 7.5 4.5 7.25 7 5 5.5 5.5 6.75 7 5.75 6.5 5.75 6 6.75 5.25
CD 8.75 8.75 8.25 8.5 6 9.75 7.5 5.75 6.75 6.75 9 5 7.5 7.75 7 9 7.25 7.75 7.5 7 9.25 7.25 8 6.5 8.75 8.5 7 8.5 7.75 8.25 8.5 7.5 8.5 6.5 7.5
35 15 42.86 1 2.857 7 20 4.8
35 9 25.7 0 0 5 14.3 4.4
35 32 91.4 2 5.71 0 0 6.2
35 35 100 15 42.9 0 0 7.7
D1 9.5 22.3 19.85 16.05 14.95 18.55 15.15 19.6 16.8 14.75 22.65 14.2 14.3 20.15 15.3 16.15 17.85 20.1 16.6 15.25 15.7 17 20.8 19 15.1 17.2 15.95 20.5 15.7 12.75 22.9 18.45 21 13.75 15.8
C 15.5 20.75 20.25 14.75 16.25 19 16.75 17.25 16 17.5 23 13.5 15.5 18.5 15.25 17.25 18.5 20.25 15.5 15.75 22.25 15.25 19 18.75 15.5 15.5 15.25 19 21 17 19.25 16.25 17.25 15.5 15.25
Tổng 51.75 77.85 71.95 55.6 54.9 71.35 59.8 65.45 58.35 57.75 83.8 48.4 54.1 69.55 55.1 64.3 65.45 73.45 57.7 58.5 70.15 57.75 71.6 66 58.95 59.9 55.9 72.5 66.15 54.25 77.8 64.4 69 55.5 55.6 35 35 100 35 100 0 0 63.2
TB
5.0 7.2 6.7 5.3 5.1 6.8 5.6 5.9 5.4 5.4 7.7 4.5 5.1 6.4 5.2 6.1 6.1 6.8 5.4 5.5 6.6 5.4 6.6 6.0 5.6 5.7 5.2 6.8 6.2 5.2 7.2 6.0 6.5 5.2 5.3 35 34 97.1 0 0 0 0 5.9
PHỤ LỤC 6 BẢNG ĐIỂM THI THPT QUỐC GIA LỚP 12A9 - NĂM HỌC 20182019 Trường THPT Tống Văn Trân DANH SÁCH ĐIỂM THI THEO KHỐI THPT QUỐC GIA 2019 Lớp 12A9 STT
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47
Họ và tên Ngày sinh NGUYỄN THỊ HỒNG AN 19/10/2001 BÙI LAN ANH 22/04/2001 CÙ ĐỨC ANH 07/03/2001 DƯƠNG THỊ HẢI ANH 25/10/2001 ĐINH HỮU THẾ ANH 06/05/2001 NGÔ VĂN ANH 03/01/2001 PHẠM MAI ANH 12/09/2001 NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH 23/10/2001 NGÔ VĂN BẰNG 03/01/2001 PHẠM THỊ NGỌC BÍCH 19/08/2001 NGUYỄN QUỐC CHIẾN 17/03/2001 ĐỒNG THỊ DIỄM 08/02/2001 NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG 15/09/2001 BÙI MINH ĐỨC 27/09/2001 TRƯƠNG VĂN ĐỨC 05/03/2001 NGUYỄN NHẬT HẠ 27/09/2001 NGUYỄN THANH HẰNG 14/10/2001 TRẦN THỊ THU HIỀN 17/08/2001 LÊ THỊ MINH HỒNG 28/05/2001 TRẦN VĂN HUỲNH 14/01/2001 PHẠM THỊ HƯỜNG 03/03/2001 NGUYỄN THỊ LAN 22/04/2001 TRẦN THỊ LAN 04/02/2001 NGUYỄN THỊ LINH 13/10/2001 NGÔ CHÚC LY 27/04/2001 VŨ THỊ PHƯƠNG LÝ 02/06/2001 VŨ THỊ NGA 03/04/2001 NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC 06/01/2001 VŨ BÙI BÍCH NGỌC 10/10/2001 NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG 01/12/2001 PHẠM THỊ PHƯƠNG 13/09/2001 PHẠM HỒNG QUÂN 16/08/2001 NGUYỄN THỊ QUỲNH 21/04/2001 TRỊNH DUY SÂM 28/09/2001 NGÔ BĂNG TÂM 01/02/2001 TRẦN PHƯƠNG THANH 19/03/2001 BÙI THỊ NGỌC THẢO 21/10/2001 TRẦN PHƯƠNG THẢO 14/12/2001 DƯƠNG VIỆT THẮNG 31/01/2001 NGUYỄN THỊ THANH THƯƠNG 05/10/2001 PHẠM THỊ MINH THƯƠNG 30/10/2001 TRẦN THỊ TRÀ 22/11/2001 HÀ THỊ THÙY TRANG 18/08/2001 PHẠM THỊ THÙY TRANG 01/11/2001 ĐINH THỊ KHÁNH VÂN 05/10/2001 NINH THỊ THANH XUÂN 24/12/2001 TRẦN THỊ HẢI YẾN 06/08/2001
Lớp
12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 12A9 HS DT >=5 >=8 <3.5
Toán 6 8 4.4 7 7.6 7.2 7.4 7.4 8 5.8 6.6 6.6 6.8 8.2 4 7.4 7.6 7.4 7.4 7.2 7.8 5.6 7.6 3.4 7.6 7.4 6.8 8.2 7.4 6.6 7.4 7.4 8.2 7.2 8.2 6.2 7.2 7.2 5.4 7.8 7.2 6.4 7.4 7.6 7.2 7.4 6 47 44 93.6 6 12.8 1 2.13 7.0
Văn 6.5 7.25 6.75 7.25 8.5 6 8 7.75 8 7 5.75 7.75 7 7.5 5 8.25 7.5 8.75 7.25 8.25 6.75 7.5 7 5.5 6.5 8 8 7.75 8 7 8.5 7.25 8.25 7 7.5 8 8 7.75 5.75 8 8.5 7.5 6 7.75 8.5 7 7 47 47 100 16 34 0 0 7.4
Sử 4.5 3.25 4 3.75 6.75 6.5 6 6.5 7.5 3.5 2.5 8 4 6 4.56 6.75 4.75 7.25 6.25 6 5.5 3.75 5.5 3 6 8.25 8.75 8.5 4.25 6.5 4.5 4.5 4.5 5 7 5.25 7.75 5.5 4 3.25 9.25 4 4.75 6.25 7 3.75 5.75 47 27 57 5 11 4 8.5 5.5
Địa 7.25 6.25 6.5 7.5 8.25 7.5 8 7 8.5 7.75 6.75 9 6.25 7.75 8 8 7 7.5 7 7 7.5 6.25 5.5 5.25 7 8.25 8.5 8 6 6 7.5 6.25 7.5 7.25 9.25 7.25 7.75 8.75 8.25 7.5 8.5 7.75 6.25 6.5 8 6.5 5.5 47 47 100 14 29.8 0 0 7.3
CD 8.25 6.75 8.25 7.25 8.75 8.75 9 8.5 8.75 7.25 7.25 9.5 7.5 6.5 6.25 9.25 7.5 9 9 9 9 7.25 7.5 7 8 9.25 8 8.5 8 7.75 8.5 7.5 7.75 8.25 8 8 9.5 8.75 8.25 7.75 9 9 7.75 8 7.75 6.75 8 47 47 100 29 61.7 0 0 8.1
Anh 3.6 7.2 3 6 9 7.2 8.4 8.4 8.4 5.2 3.8 6 5.6 9.2 4.2 8.4 8.6 6 9.4 7.6 6.2 2.8 5.8 2.8 6.8 6.6 6.2 7.4 6.6 6.8 8.2 8.4 7.8 4.4 7.2 5.6 9.2 8.4 7.4 7.6 6 4.2 3.4 8.2 8.2 4.6 6 47 37 78.7 14 29.8 4 8.51 6.6
C 18.25 16.75 17.25 18.5 23.5 20 22 21.25 24 18.25 15 24.75 17.25 21.25 17.56 23 19.25 23.5 20.5 21.25 19.75 17.5 18 13.75 19.5 24.5 25.25 24.25 18.25 19.5 20.5 18 20.25 19.25 23.75 20.5 23.5 22 18 18.75 26.25 19.25 17 20.5 23.5 17.25 18.25
0.0 0.0
13.8 26.3
D 16.1 22.45 14.15 20.25 25.1 20.4 23.8 23.55 24.4 18 16.15 20.35 19.4 24.9 13.2 24.05 23.7 22.15 24.05 23.05 20.75 15.9 20.4 11.7 20.9 22 21 23.35 22 20.4 24.1 23.05 24.25 18.6 22.9 19.8 24.4 23.35 18.55 23.4 21.7 18.1 16.8 23.55 23.9 19 19
11.7 25.1
TB
6.0 6.5 5.5 6.5 8.1 7.2 7.8 7.6 8.2 6.1 5.4 7.8 6.2 7.5 5.3 8.0 7.2 7.7 7.7 7.5 7.1 5.5 6.5 4.5 7.0 8.0 7.7 8.1 6.7 6.8 7.4 6.9 7.3 6.5 7.9 6.7 8.2 7.7 6.5 7.0 8.1 6.5 5.9 7.4 7.8 6.0 6.4 47 46 97.9 6 12.8 0 0 0.0 4.5 0.0 8.2
PHỤ LỤC 8 Trường THPH Tống Văn Trân THỐNG KÊ KẾT QUẢ THI THPTQG NĂM HỌC: 2017 - 2018 MÔN SỬ - LỚP 12
TT 1
Lớp 12A1
2 3 4 5
12A2 12A3 12A4 12A5
6
12A6
7 12A7 8 12A8 9 12A9 10 12A10 11 12A11 TB khối Điểm BQSGD
Sĩ số
HS đạt 5 trở lên SL %
HS đạt 8 trở lên SL %
HS đạt dưới 3,5 SL %
36 35
18 9
50,00 25,71
3 0
8,33 0,00
71
27
38,03
3
4,23 10 14,08
KQ trườ KQ GV TB Giỏi ĐBQ ng Sở 11, Hương 97 4,11 0,35 3,70 0,93 Thu 12, Hân 31 4,23 -0,35 -3,74 0,23
5 5
13,89 14,29
Xếp thứ ĐBQ
1 2
Điểm BQ
5,10 4,40
4,75 4,17
GV dạy Đ/c Thu Đ/c Hương S Đ/c Thu Đ/c Hân Đ/c Thu Đ/c Hương S Đ/c Hương S Đ/c Hân Đ/c Hân Đ/c Hân Đ/c Thu
Trường THPH Tống Văn Trân THỐNG KÊ KẾT QUẢ THI THPT QUỐC GIA NĂM HỌC: 2018 - 2019 MÔN SỬ - LỚP 12 Sĩ số
HS đạt 5 trở lên SL %
HS đạt 8 trở lên SL %
HS đạt dưới Xếp Điểm 3,5 thứ BQ ĐBQ SL %
Lớp 12A1 12A2 12A3 12A4 12A5 12A6 12A7 12A8 12A9
47
27
57,45
5
10,64
4
8,51
2
5,50
10 12A10
46
32
69,57
11
23,91
4
8,70
1
6,00
11 12A11 TB khối TB Sở
93
59
63,44
16
17,20
8
8,60
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Vượt/ Vượt/ hụt hụt GV TB Giỏi ĐBQ trường Sở Hân 5,99 6,57 -0,25 -3,86 0,67 Hương 6,12 6,71 0,25 3,90 1,17
5,75 4,83
GV dạy Đ/c Thu Đ/c Đoan Đ/c Hân Đ/c Đoan Đ/c Hân Đ/c Đoan Đ/c Hân Đ/c Đoan Đ/c Hân Đ/c Hương S Đ/c Hương S
Trường THPH Tống Văn Trân THỐNG KÊ KẾT QUẢ THI TỐT NGHIỆP THPT- NĂM HỌC: 2019-2020 MÔN SỬ - LỚP 12
Điểm thi TN của Trường TB Khối
STT
Họ và Tên
6,8
Điểm thi TN của SGD TB SGD
Tổng Điểm (+),(Lớp
BQ
BQ
)
dạy
các
các
theo
lớp
lớp
khối
1
Lê Thị Thu
2
Đào Thị Minh Đoan
3
Nguyễn Thị Hân
A10
7.4
4
Bi Thị Hương S
A11
6,70
7.4
6,03
Tổng Điểm Lớp dạy
BQ
BQ
các
các
lớp
lớp
(+),() theo BQ SGD
0,5
1.37
6,70 -0,10
0,67