PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ
vectorstock.com/10212084
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 9 - THCS WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM
Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VÕ THỊ LÀNH
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 9 – THCS
KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đà Nẵng, 1/2019
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VÕ THỊ LÀNH
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 9 – THCS
KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Sƣ phạm Địa lý
Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Hồ Phong
Đà Nẵng, 1/2019
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa, sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong tổ Địa Lí và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Hồ Phong. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này. Bên cạnh đó em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh của trường THCS Lương Thế Vinh và Tây Sơn đã nhiệt tình hợp tác để tài có được tính thực tế và khả thi. Mặc dù đã cố gắng song do hạn chế về điều kiện thời gian và trình độ nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Em mong nhận được sự đóng góp chân thành của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện và mang tính khả thi hơn. Đà Nẵng , tháng 1/2019 Sinh viên thực hiện Võ Thị Lành
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1 1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................................1 2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................................1 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................................1 4. Lịch sử nghiên cứu ...................................................................................................2 5 Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................2 5.1 Về nội dung .........................................................................................................2 5.2 Về không gian .....................................................................................................2 6. Các phương pháp nghiên cứu...................................................................................2 6.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu ............................................2 6.2 Phương pháp điều tra ..........................................................................................2 6.3 Phương pháp thống kê ........................................................................................3 6.4 Phương pháp chuyên gia .....................................................................................3 6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm ...................................................................3 7. Cấu trúc đề tài ..........................................................................................................3 PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................4 Chƣơng I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................................4 1.1 Cở sở lí luận của đề tài .......................................................................................4 1.1.1 Bản đồ Địa lí.................................................................................................4 1.1.2 Bản đồ giáo khoa ..........................................................................................6 1.1.3 Năng lực sử dụng bản đồ ............................................................................15 1.2 Cơ sở thực tiễn đề tài ........................................................................................16 1.2.1 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Đia lí lớp 9 ...................................16 1.2.2 Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THCS ....................................19 1.3 Thực trạng về năng lực sử dụng bản đồ của học sinh lớp 9 THCS ..................20 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ............................................................................................22 Chƣơng II: PHƢƠNG PHÁP TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 9 ...............................................................23 2.1 Phương pháp sử dụng bản đồ trong giảng dạy Địa lí .......................................23 2.1.1 Phương pháp sử dụng bản đồ trong khâu dạy học .....................................23
2.1.2 Phương pháp sử dụng bản đồ trong hoạt động ngoại khóa ........................31 2.1.3 Phương pháp sử dụng bản đồ trong kiểm tra, đánh giá kết quả .................32 2.2 Các phương pháp phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh lớp 9 .......34 2.2.1 Phương pháp đàm thoại ..............................................................................34 2.2.2 Phương pháp nêu vấn đề ............................................................................37 2.2.3 Phương pháp thảo luận ...............................................................................38 2.2.4 Phương pháp quan sát ngoài thực địa.........................................................40 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ............................................................................................41 Chƣơng III:
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ........................................42
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm .......................................................................42 3.2 Nguyên tắc thực nghiệm sư phạm ....................................................................42 3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm .......................................................................42 3.4 Tổ chức thực nghiệm ........................................................................................43 3.4.1 Thời gian thực nghiệm ...............................................................................43 3.4.2 Đối tượng thực nghiệm ..............................................................................43 3.4.3 Các bài thực nghiệm sư phạm ....................................................................43 3.5 Kết quả thực nghiệm .........................................................................................44 3.5.1 Đánh giá những biểu hiện về thái độ, tính tích cực và tự lực của học sinh trong giờ học........................................................................................................44 3.5.2 Phân tích, đánh giá qua kết quả kiểm tra....................................................45 3.6 Những bài học rút ra từ thực nghiệm ................................................................47 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................................48 KẾT LUẬN ..................................................................................................................49 TÀI LIỆU KHAM THẢO...........................................................................................50 PHỤ LỤC .....................................................................................................................51
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT STT 1 2 3 4 5
Chữ viết tắt BĐGK ĐC HS TN THCS
Đọc là Bản đồ giáo khoa Đối chứng Học sinh Thực nghiệm Trung học cơ sở
DANH MỤC BẢNG STT 1
Số bảng 1.1
2
Tên bảng
Trang
Các hình thức Thầy (cô) dùng bản đồ để hình thành và phát triển năng lực sử dụng bản đồ của học sinh trong dạy học Địa Lí
20
3.1
Thống kê các lớp tiến hành thực nghiệm và đối chứng
43
3
3.2
44
4
3.3
5
3.4
Kết quả quan sát các biểu hiện tích cực, tự lực của học sinh. Thống kê số điểm của các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở trường THCS Lương Thế Vinh Thống kê điểm trung bình cộng các bài kiểm tra của lớp đối chứng và thực nghiệm trường THCS Lương Thế Vinh
6
3.5
46
7
3.6
Thống kê số điểm của các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở trường THCS Tây Sơn Thống kê điểm trung bình cộng các bài kiểm tra của lớp đối chứng và thực nghiệm trường THCS Tây Sơn
45 45
46
DANH MỤC HÌNH STT 1 2 3 4
Số hình Tên hình 2.1 Lược đồ tự nhiên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 2.2 Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ 2.3 Lược đồ kinh tế vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 2.4 Lược đồ tự nhiên vùng Đông Nam Bộ
Trang 33 và 35 36 và 39 37 38
PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài - Bản đồ có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong dạy học địa lí, là cuốn sách giáo khoa thứ hai, là phương tiện dạy học ở nhiều bài địa lí. Từ bản đồ có thể bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu …cho học sinh. Trong dạy và học Địa lí bản đồ có chức năng và vai trò rất quan trọng đặc biệt là ở lớp 9 trường trung học cơ sở. Bản đồ là phương tiện để học sinh khai thác kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi để rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy địa lí cho một học sinh một cách độc lập, sáng tạo. Góp phần nâng cao lượng dạy và học, làm tăng hứng thú học tập của các em học sinh. - Hiện nay một số giáo viên vẫn chưa chú trọng sử dụng bản đồ trong việc giảng dạy Địa lí, không hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ nên chưa nắm rõ được vai trò của bản đồ trong việc giảng dạy môn Địa lí, nên hiệu quả dạy học thấp. - Đối với học sinh lớp 9 việc sử dụng bản đồ để học tập là rất quan trọng và cần thiết, tạo thói quen làm việc độc lập, sáng tạo cho các em. Đồng thời làm giảm tâm lí phải học thuộc lòng, giúp các em học tập và làm bài kiểm tra có hiệu quả cao nhất. Việc hình thành và phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên nhằm giúp các em trong việc lĩnh hội , ghi nhớ và phát triển kiến thức, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn… - Đối với chương trình Địa lí lớp 9 là địa lí lãnh thổ quốc gia, thì vai trò của bản đồ và năng lực sử dụng bản càng to lớn. - Chính vì những lí do trên nên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong dạy học Địa lí lớp 9 - THCS” 2. Mục tiêu nghiên cứu - Đề tài tập trung xác định các phương pháp và hình thức phù hợp để hình thành và phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tập môn Địa Lí 9. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài cần giải quyết một số nhiệm vụ sau đây: + Tổng quan tài liệu: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa… các tài liệu liên quan. + Xây dựng hệ thông cơ sở lí luận của đề tài + Tìm hiểu tình sử dụng bản đồ và phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh THCS trên địa bàn TP – Đà Nẵng + Thiết kế bài giảng nhằm phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh lớp 9 + Thực nghiệm sư phạm + Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm.
1
4. Lịch sử nghiên cứu - Trong nhiều năm „Bản đồ với tư cách là ngôn ngữ thứ hai của thứ hai‟ đã được các nhà địa lí đánh giá cao vai trò của nó đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy địa lí. - Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu việc dùng bản đồ trong giảng dạy và học tập Địa lí ở nhà trường trung học như: + Sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí ở THPT – Phạm Thị Hoa + Các biện pháp hình thành kĩ năng sử dụng sử dụng bản đồ cho học sinh phổ thông –PGS.TS Đặng Văn Đức - 1999 + Rèn luyện kĩ năng khai thác kiến thức từ bản đồ trong dạy học địa lí ở trường THCS – Ngô Thị Thùy Linh - 2007 + Hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh trong dạy học đia lí 11 – Dương Thị Hằng – 2014. - Gần đây trong quá trình nghiên cứu nhằm đổi mới phương pháp dạy học Địa lí cũng đã có một số bài viết về vấn đề sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí. Nhưng các tài liệu cũng chỉ dừng lại ở mức đề cập đến ý nghĩa của bản đồ trong việc dạy học Địa lí. - Trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình có liên quan, đề tài này sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về các phương pháp sử dụng bản đồ một cách tích cực nhất nhằm phát triển năng lực học tập môn Địa lí cho học sinh lớp 9. 5 Phạm vi nghiên cứu 5.1 Về nội dung - Các loại bản đồ được sử dụng và các phương pháp trong dạy học Địa lí lớp 9 để phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh. - Các mức năng lực sử dụng bản đồ của học sinh. 5.2 Về không gian - Thực nghiệm tại trường THCS Lương Thế Vinh và Tây Sơn – TP Đà Nẵng từ tháng 9 – 12/ 2018. 6. Các phƣơng pháp nghiên cứu 6.1 Phƣơng pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu - Phương pháp này được thực hiện thông qua việc nghiên cứu, kế thừa các tài liệu lí luận và các tài liệu khác liên quan. Qúa trình kế thừa có tính chọn lọc. 6.2 Phƣơng pháp điều tra - Đối tượng điều tra là các giáo viên Địa lí và học sinh của một số trường THCS. Đều tra bằng các phiếu hỏi về thực trạng sử dụng bản đồ trong môn học Địa lí ở nhà trường trung học. Phân tích các kết quả để thấy tính khả thi của đề tài và sự ủng hộ của giáo viên và học sinh đối với việc sử dụng bản đồ trong dạy học môn Địa lí.
2
6.3 Phƣơng pháp thống kê - Phương pháp thống kê được sử dụng trong đề tài để xử lí số liệu, so sánh kết quả thực nghiệm của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm. 6.4 Phƣơng pháp chuyên gia - Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lí những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến của các chuyên gia giỏi thuộc lĩnh vực mà ta đang nghiên cứu. 6.5 Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm - Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THCS nhằm kiểm chứng và đánh giá tính khả năng khả thi của việc sử dụng bản đồ phát triển năng lực học tập Địa lí cho học sinh lớp 9. 7. Cấu trúc đề tài - Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu kham khảo, nội dung đề tài gồm có ba chương: Chương I : Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chương II: Phương pháp triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong dạy học Địa lí 9 Chương III: Thực nghiệm sư phạm
3
PHẦN NỘI DUNG Chƣơng I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cở sở lí luận của đề tài 1.1.1 Bản đồ Địa lí 1.1.1.1 Khái niệm - Bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ trên bề mặt Trái Đất hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng dựa vào các phương pháp vẽ bản đồ ( phương pháp toán học, phương pháp kí hiệu…) Theo K. A. Xalishev: “Bản đồ địa lí là những biểu hiện thu nhỏ, được qui định về mặt toán học, có tính chất hình ảnh - kí hiệu và được khái quát hoá bề mặt Trái Đất lên trên mặt phẳng. Những biểu hiện này trình bày sự phân bố, tình trạng và các mối liên hệ của những hiện tượng tự nhiên và xã hội khác nhau, cả những biến đổi của chúng theo thời gian, đã được lựa chọn và nêu đặc trưng phù hợp với mục đích của từng bản đồ cụ thể ”. [1] 1.1.1.2 Ý nghĩa của bản đồ Địa lí - Bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và các mối quan hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể với ưu điểm riêng mà không một phương tiện nào có thể thay thế được. Do đó bản đồ vừa là phương tiện trực quan, vừa là nguồn tri thức quan trọng của việc dạy học địa lí và sử dụng bản đồ là phương pháp đặc trưng trong dạy học địa lí. - Giúp rèn luyện kĩ năng khai thác kiến thức từ bản đồ địa lí cho học sinh. Ví dụ: Thông qua bản đồ có thể xây dựng vị ví địa lí một khu vực nào đó trên mặt đất, ở vào đới khí hậu nào, chịu ảnh hưởng của biển như thế nào… - Qua bản đồ biết được hình dạng quy mô của châu lục so với châu lục khác, biết được chiều dài của một con sông và lưu vực sông….. 1.1.1.3 Phân loại bản đồ Địa lí a. Phân loại theo lãnh thổ Phân loại theo lãnh thổ ta có các bản đồ sau: - Các bản đồ biểu hiện toàn bộ Trái Đất - Bản đồ đại lục và bản đồ đại dương + Các bản đồ đại lục, có thể phân theo hai hướng: Theo sự phân chia chính trị hành chính hoặc theo sự phân vùng địa lí tự nhiên. * Theo sự phân chia chính trị - hành chính có các bản đồ như: Các bản đồ bán cầu (Bắc, Nam hoặc Đông, Tây bán cầu) Các bản đồ các Châu (Âu, Á, Phi…) Các bản đồ của các nước Các bản đồ của các khu, tỉnh.. 4
* Theo sự phân vùng địa lí tự nhiên thì có bản đồ đới, các miền, các vùng tự nhiên - Các bản đồ của các vùng biển (Thái Bình Dương, Đại Tây Dương…) b. Phân loại theo mục đích Sự phân loại này căn cứ vào nội dung bản đồ. Khi phân loại bản đồ theo đề tài của chúng ta có hai hệ bản đồ sau: bản đồ địa lí đại cương và bản đồ chuyên đề. * Bản đồ địa lí đại cương Đặc trưng cơ bản của bản đồ này được xác định bởi tỉ lệ bản đồ. Dựa vào tỉ lệ bản đồ chia ra: - Bản đồ địa hình, có tỉ lệ lớn hơn 1: 200.000 - Bản đồ địa hình – khái quát, có tỉ lệ trung bình 1: 200.000 đến 1: 100.000 - Bản đồ khái quát, có tỉ lệ nhỏ hơn 1: 100.000 Khác với bản đồ chuyên đề, bản đồ địa lí đại cương phản ánh các hiện tượng, đối tượng trên bản đồ bằng dấu hiệu bề ngoài và biểu hiện một cách đồng đều, không nhấn mạnh, ưu tiên đối tượng này hay đối tượng khác. * Các bản đồ chuyên đề Khác với các bản đồ địa lí chung, bản đồ chuyên đề biểu hiện một vài đối tượng có hoặc không có trên bản đồ địa lí chung một cách chi tiết. Về mặt nội dung, bản đồ chuyên đề phân ra làm hai thành phần chính – phụ và thể hiện ở các mức độ khác nhau: thành phần chính được thể hiện nổi bật trên bản đồ, thành phần phụ có mặt làm rõ thành phần chính. - Các bản đồ địa lí tự nhiên + Các bản đồ địa lí tự nhiên + Các bản đồ đại chất + Các bản đồ địa vật lí + Các bản đồ địa hình bề mặt Trái Đất. + Các bản đồ những hiện tượng khí quyển. + Các bản đồ thủy quyển + Các bản đồ thổ nhưỡng + Các bản đồ thực vật + Các bản đồ địa lí động vật. - Các bản đồ biểu hiện các hiện tượng kinh tế xã hội + Các bản đồ dân cư + Các bản đồ kinh tế + Các bản đồ văn hóa + Các bản đồ hành chính – chính trị + Các bản đồ lịch sử
5
c. Phân loại bản đồ theo mục đích sử dụng - Nhóm bản đồ phục vụ nghiên cứu khoa học - Các bản đồ phục vụ các nhu cầu giáo dục và văn hóa - Các bản đồ phục vụ nền kinh tế quốc dân - Các bản đồ phục vụ nhu cầu quốc phòng Từ những nhóm chung này, có thể tiếp tục phân chia các đề mục trên nhỏ hơn nữa. Ví dụ: các bản đồ phục vụ các nhu cầu giáo dục, khoa học và văn hóa phân thành bản đồ giáo khoa, các bản đồ nghiên cứu, các bản đồ du lịch….[1]. 1.1.2 Bản đồ giáo khoa 1.1.2.1 Khái niệm - Bản đồ giáo khoa là nguồn tài liệu giáo khoa phục vụ cho việc dạy học và nghiên cứu một loạt bộ môn khoa học khác nhau nhưng trước hết là địa lí và lịch sử. Đối tượng chủ yếu dùng bản đồ giáo khoa là các thầy giáo và học sinh ở nhà trường, tuy nhiên bản đồ giáo khoa hiện phát hành cũng còn được sử dụng rộng rãi trong nhân dân. - Từ trước đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về bản đồ giáo khoa, trong đó định nghĩa được coi là đầy đủ nhất trọn vẹn nhất đối với mọi loại tài liệu bản đồ giáo khoa, kể cả khi dung với các phương tiện hiện đại tự động hóa để thành lập và sử dụng bản đồ giáo khoa nói riêng và bản đồ nói chung có lẽ là định nghĩa sau đây: “Bản đồ giáo khoa là sự biểu hiện thu nhỏ của mặt đất trên mặt phẳng, theo cơ sở toán nhất định, bằng phương tiện đồ họa (ngôn ngữ bản đồ). Để phản ánh có hệ thống những dấu hiệu cơ bản nhất, đặc trưng nhất và điển hình nhất của môi trường địa lí, thể hiên sự phân bố, trạng thái và mối liên hệ lẫn nhau của khách thể tương ứng với mục đích, nội dung và phương pháp của môn học, phù hợp với trình độ phát triển trí óc của lứa tuổi, đồng thời có xét đến yêu cầu giáo dục thẩm mĩ và vệ sinh học đường”. 1.1.2.2 Tính chất Bản đồ giáo khoa trước hết phải mang những đặc điểm của bản đồ địa lí nói chung. Bản đồ giáo khoa phải được xác định trên cơ sở toán học nhất định, bản đồ phải là sự thể hiện một cách có chọn lọc, khái quát hoá để phục vụ cho mục đích, nội dung chủ đề và tỉ lệ nhất định. Đồng thời, bản đồ giáo khoa cũng phải dùng ngôn ngữ bản đồ để phản ánh sự vật và hiện tượng. Như vậy, ngoài những tính chất chung của một bản đồ địa lí, bản đồ giáo khoa còn có những tính chất riêng để xác định mục đích sử dụng của nó. a. Tính khoa học của bản đồ giáo khoa Là một nguồn tư liệu độc lập, một cuốn sách giáo khoa thứ hai cho nên tính chất đầu tiên của bản đồ giáo khoa phải là tính khoa học. Tính khoa học được biểu thị ở độ chính xác tương ứng về mặt địa lí giữa bản đồ và thực địa, độ chính xác về cơ sở toán học bản đồ. Bản đồ địa lí được xây dựng theo quy 6
luật toán học nhất định, theo tỉ lệ nhất định. Quy luật toán học biểu hiện rõ ở tính đơn trị và tính liên tục của việc biểu hiện bản đồ. Tính đơn trị biểu hiện ở chỗ một điểm bất kì trên bản đồ có toạ độ x và y chỉ tương ứng với một điểm trên bề mặt đất và mỗi kí hiệu đặt trên điểm này chỉ có một ý nghĩa cố định rõ ràng trong bản chú giải. Tính liên tục biểu hiện ở chỗ trên bản đồ “không có khoảng trống”. Điều đó nói lên rằng trên khắp lãnh thổ biên vẽ bản đồ đã được nghiên cứu đầy đủ, mọi đối tượng phân bố trên lãnh thổ và không gian của chúng đã có tài liệu chính xác. Tỉ lệ và các đơn vị đo, thang màu và sự phân cấp chỉ số số lượng, sự phân cấp kí hiệu cho phép thực hiện trên bản đồ mọi khả năng đo tính và nhận biết đặc điểm khác nhau của các hiện tượng. Tính khoa học của bản đồ còn biểu hiện ở sự phù hợp giữa đặc điểm các hiện tượng được biểu hiện với nội dung của phương pháp thể hiện bản đồ. Tính khoa học của bản đồ cũng được xác định bằng lượng thông tin thích hợp. Nhìn chung lượng thông tin trên mỗi bản đồ càng nhiều thì giá trị sử dụng càng cao, nhưng đến một giới hạn nhất định tuỳ theo loại hình, nội dung và tỉ lệ bản đồ. Nếu vượt quá giới hạn này sẽ làm cho việc sử dụng khó khăn, do vậy mà giá trị sử dụng và tính khoa học sẽ giảm đi. Ngoài những biểu hiện trên, tính khoa học của bản đồ còn biểu hiện ở tính trừu tượng, tính chọn lọc và tính tổng hợp, tính bao quát, tính đồng dạng và tính logic. Ở nhà trường phổ thông, nhiệm vụ của người giáo viên không chỉ dạy cho học sinh những kiến thức khoa học của bộ môn mà còn thông qua việc dạy chữ để dạy người. Người thầy giáo phải đóng góp phần mình trong giáo dục và đào tạo con người mới. Chính vì vậy, những kiến thức truyền đạt cho học sinh nhất thiết phải trên quan điểm duy vật biện chứng. Trên bản đồ cần phải có những tiền đề để thông qua đó người giáo viên trang bị cho học sinh thế giới quan duy vật. b. Tính trực quan của bản đồ giáo khoa Các bản đồ dùng trong nhà trường, đặc biệt thể loại bản đồ treo tường đòi hỏi phải có tính trực quan cao, đó chính là tính đặc trưng quan trọng nhất của bản đồ giáo khoa. Tính trực quan thường mâu thuẫn với tính khoa học. So với các bản đồ khác, bản đồ giáo khoa khái quát cao hơn, dùng nhiều hình ảnh trực quan, phương pháp biểu thị trực quan và phần lớn là vượt ra ngoài điều kiện cho phép của tỉ lệ bản đồ. Tiêu chuẩn để đánh giá tính trực quan của bản đồ là thời gian dùng để nhận biết và hiểu nội dung bản đồ. Những dấu hiệu dùng trên bản đồ cần có hình dạng và màu sắc gần với thực tế để học sinh có thể nhanh chóng nhận biết nội dung của hiện tượng được phản ánh và nhớ lâu. Mọi người đều thừa nhận là trong một bài giảng địa lí nếu dùng bản đồ như một đồ dùng trực quan thì bài giảng sẽ dễ hiểu và có sức hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên, không nên lạm dụng tính trực quan mà cần phải lựa chọn giới hạn một cách hợp lí cho tính trực quan để khỏi gây ra những ảnh hưởng phản tác dụng. 7
c. Tính sư phạm của bản đồ giáo khoa Tính sư phạm của bản đồ được biểu hiện trên nhiều mặt, nhưng nói chung đều thống nhất ở chỗ phải đảm bảo tính tương ứng giữa bản đồ với chương trình, sách giáo khoa, tâm lí lứa tuổi học sinh, hoàn cảnh của nhà trường và hoàn cảnh xã hội. Một bản đồ giáo khoa muốn đảm bảo được tính sư phạm cần phải biểu hiện ở những mặt sau: - Nội dung của bản đồ giáo khoa phải phù hợp với chương trình địa lí của từng cấp học và từng lớp học, phù hợp với trình độ của học sinh. - Nội dung của bản đồ được xác định trên cơ sở chương trình bộ môn, nội dung sách giáo khoa. Nội dung bản đồ phải được tổng quát hoá phù hợp với nội dung sách giáo khoa và nhiệm vụ dạy học. Sách giáo khoa là tiêu chuẩn nội dung để thành lập bản đồ. Nếu sách giáo khoa thay đổi thì nội dung của bản đồ giáo khoa cũng phải thay đổi theo. - Quan trọng hơn cả là bản đồ giáo khoa phải phù hợp với đối tượng sử dụng bản đồ, nghĩa là phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh. Khi làm một bản đồ giáo khoa treo tường thì việc xác định tỉ lệ bản đồ, các đường nét trên bản đồ, màu sắc và lực nét… đều phải dựa vào chiều cao của học sinh, khả năng tư duy, đặc biệt thị lực của học sinh. Ngoài ra quy mô lớp học, cách bố trí lớp học cũng ảnh hưởng tới việc thiết kế bản đồ giáo khoa. - Lưới chiếu (mạng lưới kinh vĩ tuyến) cùng tỉ lệ bản đồ giáo khoa cũng phải phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với lứa tuổi học sinh. Ở những lớp đầu cấp, lưới chiếu là phần nội dung bài học, giúp học sinh hình dung được hình dạng Trái Đất, sự phân chia các bán cầu (Đông – Tây, Nam – Bắc), phân chia kinh vĩ độ, múi giờ, các đới khí hậu và biến dạng trên bản đồ… Khi cần biểu hiện một phần hay toàn bộ Trái Đất thì nên dùng các lưới chiếu giữ đúng hình dạng để học sinh nhận biết dễ dàng. - Ở các lớp cao hơn, các em học sinh đã có vốn kiến thức địa lí khá hơn, tư duy địa lí đã phát triển cao hơn, việc biên vẽ các bản đồ nên dùng các lưới chiếu biểu hiện đúng diện tích lãnh thổ biên vẽ bản đồ. Trên cùng một lãnh thổ biên vẽ bản đồ nhưng được xây dựng ở các tỉ lệ khác nhau thì nên dùng cùng một loại lưới chiếu để học sinh tiện so sánh, đối chiếu. - Tính sư phạm còn biểu hiện ở sự thống nhất cách ghi chữ, hệ thống kí hiệu, các phương pháp biểu hiện mà học sinh đã quen biết. Bố cục bản đồ phải hợp lí, trình bày đẹp để vừa giáo dục óc thẩm mĩ vừa kích thích học sinh say mê làm việc với bản đồ, đem lại cho các em sự hứng thú học môn địa lí. Những biểu hiện của tính sư phạm đều có liên quan chặt chẽ với nhau, cùng thống nhất ở mục tiêu giảng dạy, học tập và được trình bày một cách có hệ thống trên các loại bản đồ từ lớp dưới lên lớp trên. Sử dụng bản đồ giáo khoa chỉ có thể đạt được hiệu quả cao nhất khi chúng thành một hệ thống thống nhất. 8
1.1.2.3 Các loại bản đồ giáo khoa Thể loại các sản phẩm bản đồ giáo khoa rất phong phú và đa dạng cả về không gian, nội dung, phương pháp phản ánh lẫn hình thức sử dụng. Các kiểu Atlat, bản đồ hay các tài liệu bản đồ giáo khoa khác phục vụ giáo dục và đào tạo cho học sinh và giáo viên, cho từng môn học, cho từng lớp học hay cấp học đều phải xuất phát từ việc nghiên cứu kinh nghiệm công tác trong trường học cũng như công nghệ sản xuất bản đồ của đất nước. Tuy nhiên, ở dạng nào thì các sản phẩm bản đồ giáo khoa cũng đều là những phượng tiện nhận thức, nghiên cứu thực tế khách quan, trước hết là nhận thức quy luật phân bố và các mối liên hệ lẫn nhau của các đối tượng và hiện tượng trong không gian. Các tài liệu bản đồ giáo khoa bao gồm: a. Qủa địa cầu Quả địa cầu là mô hình Trái Đất thu nhỏ, trong đó tất cả các yếu tố của nó như bán kính Trái Đất, hệ thống kinh vĩ tuyến, diện tích các lục địa, đảo, đại dương… đều được thu nhỏ theo một tỉ lệ nhất định. Quả địa cầu biểu hiện đúng các đối tượng quan trọng trên bề mặt Trái Đất và giữ được tính chất địa lí của chúng. Khoảng cách và diện tích, góc và hình dạng đối tượng không có sai số chiếu hình. Tỉ lệ của quả địa cầu như nhau ở tất cả mọi điểm. Quả địa cầu cho ta một khái niệm đúng và trực quan về hình dạng Trái Đất, về kích thước, hình dạng và vị trí tương quan của các phần trên mặt đất và cụ thể hoá các yếu tố của Trái Đất như: trục quay, các cực và mạng lưới địa lí (hệ thống kinh vĩ tuyến). Tỉ lệ của quả địa cầu dùng trong thực tiễn thay đổi từ 1: 100.000.000 đến 1: 25.000.000. Quả cầu địa lí dùng trong nhà trường thường có tỉ lệ 1:50.000.000 tức là 1cm trên quả địa cầu tương ứng với 500 km trên bề mặt Trái Đất. Hiện nay thường có quả địa cầu tự nhiên, quả địa cầu địa hình, quả địa cầu chính trị… b. Bản đồ trong sách giáo khoa Sách giáo khoa là tài liệu giáo khoa cơ bản chính thức. Ngôn ngữ chữ viết là kênh truyền chủ yếu được các em học sinh học ngay từ ngày đầu tới trường và được sử dụng trong suốt cả cuộc đời, dù rằng ngôn ngữ đồ hoạ xuất hiện trước cả chữ viết. Như vậy, ngôn ngữ chữ viết dễ hiểu và được nắm chắc hơn trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Nhưng một cuốn sách giáo khoa dù là rất hay về mọi mặt thì cũng không thể hấp dẫn như một cuốn tiểu thuyết, nếu từ đầu đến cuối chỉ toàn là chữ viết. Việc đưa bản đồ, đồ thị, tranh ảnh (trắng đen và màu) vào sách giáo khoa làm cho cuốn sách trở nên hấp dẫn và sinh động hơn. Đó là một mục tiêu của sách giáo khoa. Mối liên hệ hữu cơ của bài viết với bản đồ là rất quan trọng. Mỗi loại ngôn ngữ (chữ viết, con số, đồ hoạ…) đều có ưu thế riêng và cũng chính vì vậy mà chúng tồn tại song song với nhau. Ngôn ngữ bản đồ và bản đồ trong sách giáo khoa nói chung là ngôn ngữ không gian - ngôn ngữ mô tả sự phân bố, cấu trúc không gian của đối tượng, mối liên hệ lẫn nhau của các đối tượng… rất trực quan và có thể ngay một lúc quan sát toàn lãnh thổ. Có thể chọn các phương án liên kết bản văn với bản đồ như sau: 9
- Bài viết không đề cập tới vấn đề phân bố không gian của hiện tượng dành phần đó cho bản đồ. - Dựa vào sự phân bố của hiện tượng, sự phân cấp hiện tượng rõ ràng trên bản đồ mà bài viết rút ra quy luật, dẫn ra mối liên hệ đặc trưng của các hiện tượng… và giúp học sinh phương pháp đọc bản đồ. - Bài viết phải có sự liên kết với bản đồ, giúp học sinh tự nghiên cứu bản đồ rồi tự đưa ra kết luận. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bản đồ với bài viết, có sự chỉnh hợp hài hoà, đầy đủ giữa bài viết với bản đồ trong sách giáo khoa (và với cả bản đồ trong atlas giáo khoa, bản đồ treo tường…) là đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các học sinh lớp dưới. - Hiện nay do khuôn khổ sách giáo khoa nhỏ, lại in đen trắng nên bản đồ trong sách giáo khoa thường có tỉ lệ nhỏ, nội dung biểu hiện rất hạn chế. Các bản đồ dùng để minh hoạ bài học, giúp học sinh tư duy bài học gắn liền với lãnh thổ và bổ sung những kiến thức cần thiết mà sách giáo khoa không nói hết. c. Bản đồ giáo khoa treo tường c1. Đặc điểm bản đồ giáo khoa treo tường Bản đồ giáo khoa treo tường là loại bản đồ dùng để dạy học ở trên lớp. Nó được dùng để nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong nhiều lĩnh vực địa lí và lịch sử. Bản đồ giáo khoa treo tường là cuốn sách giáo khoa trực quan chính của lớp học, phục vụ cho việc dạy và học địa lí. Giáo viên sử dụng bản đồ treo trên tường, trực diện với học sinh làm phương tiện truyền thụ kiến thức, học sinh dùng làm phương tiện để nhận thức. Như vậy, bản đồ giáo khoa treo tường khác với các loại bản đồ giáo khoa khác vì chức năng của nó là dùng để dạy học ở trên lớp, phục vụ cho mục đích giảng dạy và học tập ở một lớp hay ở một cấp học nhất định. Mục đích đó chi phối những đặc điểm dưới đây của bản đồ giáo khoa treo tường: - Bản đồ giáo khoa treo tường thể hiện được nội dung địa lí trong các mối quan hệ và cấu trúc không gian, đảm bảo được tính lôgic khoa học của vấn đề mà giáo viên trình bày: Trên bản đồ, lượng thông tin khoa học phải tương xứng với tỉ lệ bản đồ, các đối tượng địa lí trên bản đồ được khái quát hoá cao, có đối tượng phải cường điệu hóa đến mức cần thiết. Nhiều kí hiệu tượng trưng tượng hình, nhiều màu sắc đẹp, gần gũi đối tượng đã được sử dụng làm cho bản đồ có tính trực quan cao, gây hứng thú cho việc học tập địa lí. Nội dung kiến thức và phương pháp trình bày trên bản đồ phải phù hợp với tâm sinh lí của lứa tuổi, với thị lực học sinh trong khoảng cách từ 5 đến 10m, với trình độ nhận thức của từng cấp học. Vì vậy, bản đồ treo tường có hệ thống kí hiệu lớn, chữ viết to, màu sắc rực rỡ, đẹp, có độ tương phản mạnh. Bản đồ treo tường được thầy trò cùng sử dụng ở trên lớp để dạy và học bài mới, ôn tập và kiểm tra những kiến thức cũ. Chúng thường được sử dụng kết hợp với các bản đồ, sơ đồ và lược đồ trong sách giáo khoa, Atlat và bản đồ bài tập. 10
- Bản đồ giáo khoa treo tường bao giờ cũng có kích thước lớn. Vì bản đồ được treo trên lớp để học sinh quan sát nên kích thước phải lớn để học sinh ngồi phía cuối lớp cách bản đồ từ 5 – 7m có thể quan sát được những nội dung thể hiện trên bản đồ. Kích thước chung của loại bản đồ này thường 79 x 109cm (Ao) đến 150 – 200cm. Phạm vi lãnh thổ thể hiện trên bản đồ thường lớn như: toàn thế giới, một bản cầu, một nước hoặc ít nhất là một khu vực lớn trong một nước. Riêng bản đồ địa lí địa phương là thể hiện phạm vi lãnh thổ một tỉnh hay một huyện… nên thường có tỉ lệ lớn, còn phần lớn các bản đồ giáo khoa treo tường đều có tỉ lệ nhỏ. - Hình thức thể hiện trên các bản đồ giáo khoa treo tường thường mang tính trực quan và tính mĩ thuật cao. Trên bản đồ thường dùng các kí hiệu đủ lớn để học sinh ở xa cuối lớp cũng có thể đọc được. Vì thế chữ trên bản đồ phải viết to, lực nét đậm, các kí hiệu lớn, trực quan, màu sắc mạnh, rõ ràng như hài hoà, một số đối tượng cần được cường điệu hoá thể hiện ở dạng phi tỉ lệ. Cấu trúc hình vẽ kí hiệu đơn giản, dùng nhiều kí hiệu tượng hình nhất là dùng cho các cấp dưới. Tính trực quan đòi hỏi trước hết phải có nội dung rõ ràng đầy đủ phản ánh đúng đặc điểm địa phương. - Về nội dung bản đồ giáo khoa treo tường có mức độ khái quát hoá rất cao. Vì có như vậy mới cho học sinh thấy được những đặc điểm chính, chủ yếu của lãnh thổ. Nội dung của bản đồ phải phù hợp với chương trình từng lớp và tâm lí lứa tuổi của học sinh. Bản đồ chú giải của bản đồ giáo khoa treo tường phải được sắp xếp một cách lôgic, chặt chẽ, rõ ràng. Bản đồ giáo khoa BĐGK treo tường cũng có các bản đồ phụ, đồ thị, biểu đồ… để hỗ trợ cho nội dung chính của bản đồ. Bản đồ giáo khoa treo tường có thể được xây dựng cho một phần, một chương, một bài học, nó có thể được sử dụng trong suốt tiết học từ khâu đầu cho đến khâu cuối của giờ giảng. Trong một tiết học cũng có thể sử dụng nhiều loại bản đồ. Tất cả những điều đó phụ thuộc vào nội dung bài giảng, phương pháp truyền thụ của giáo viên. c2 .Những yêu cầu có tính nguyên tắc đối với bản đồ giáo khoa treo tường - Bản đồ giáo khoa treo tường phải đảm bảo phương hướng chính trị, khoa học nhất định. Mỗi một bản đồ đều có tư tưởng chính trị nhất định phục vụ cho mục đích tư tưởng của bài giảng. - Bản đồ phải phù hợp với nội dung chương trình của sách giáo khoa, phù hợp với atlas giáo khoa, với bản đồ bài tập và các thể loại bản đồ khác, đồng thời phải phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh… Muốn thế khi thành lập bản đồ phải căn cứ vào nội dung chương trình, nội dung sách giáo khoa, coi đó là nội dung cơ bản để xây dựng bản đồ. Người thành lập bản đồ phải có kiến thức về bản đồ học, địa lí học, khoa học giáo dục và phương pháp giảng dạy bộ môn. - BĐGK treo tường không chỉ có tác dụng minh họa cho sách giáo khoa mà còn là nguồn tri thức độc lập của địa lí, trên đó phản ánh đặc điểm địa lí của điạ phương, chỉ ra mối quan hệ của các hiện tượng, nhưng không quá tải. Nếu bản đồ chỉ thể hiện nội 11
dung sách giáo khoa thì bản đồ sẽ sơ lược có nhiều chỗ trống. Những tư liệu bổ sung có nhiệm vụ làm rõ thêm,làm dễ hiểu hơn những nội dung trong sách giáo khoa. Nó phản ánh bản chất của các mối quan hệ vốn có trên thực tế địa phương, làm thoả mãn tính tò mò, lòng ham hiểu biết của học sinh trong công tác độc lập của mình. Cần chú ý là việc đưa nội dung bổ sung nào vào cũng cần cân nhắc tới mức độ cần thiết của nó, tới đặc điểm lứa tuổi và trình độ nhận thức của học sinh, trong điều kiện tỉ lệ bản đồ cho phép. Nội dung cơ bản của bản đồ giáo khoa treo tường là nội dung có trong sách giáo khoa. - Việc đưa các yếu tố bổ sung lên bản đồ bao nhiêu là vừa còn có những ý kiến chưa thống nhất. Pôlêvikin đề nghị đối với các bản đồ giáo khoa đầu cấp, tư liệu bổ sung không vượt qua 30% nội dung sách giáo khoa. Ở những lớp cao hơn tư liệu bổ xung không vượt quá 50%. Theo K.A.Xalíev thì tư liệu bổ xung không vượt quá 30% ở bản đồ giáo khoa treo tường, còn ở Atlat thì không vượt qua 50%. - Không biến bản đồ giáo khoa thành sơ đồ. Sự bố trí mạng lưới kinh vĩ tuyến và các đối tượng địa lí phải phù hợp với thực tế, sự định vị phải chính xác. Bản đồ là một tài liệu khoa học nên nó phải đảm bảo chính xác về mặt toán học. Kích thước, hình dạng, vị trí và mối quan hệ không gian của các đối tượng thể hiện phải có sự chính xác và nêu được đặc tính của đối tượng, việc lựa chọn các phương pháp thể hiện phải phù hợp với đặc điểm đối tượng và phân biệt được rõ các đối tượng. Yêu cầu này cũng phải cân đối với những yêu cầu khác. - Tất cả các số liệu được sử dụng trong bản đồ giáo khoa treo tường cần đạt tới trình độ hiện đại, thường xuyên cập nhật cho phù hợp với sách giáo khoa và thực tế. Khi sách giáo khoa thay đổi, bản đồ không phù hợp với sách nữa phải xây dựng mới, hoặc nếu sử dụng giáo viên phải giải thích và bổ sung những tài liệu, số liệu mới. Trong trường hợp này thường hay xảy ra đối với các vấn đề kinh tế - xã hội. Do đó khi xây dựng phải lựa chọn những số liệu mới nhất nhưng ổn định, đồng thời phải dự đoán sự phát triển của các hiện tượng để lựa chọn số liệu thể hiện thích hợp. - Bản đồ giáo khoa treo tường phải đảm bảo tính trực quan. Tính trực quan cũng như sự hấp dẫn truyền cảm đồi với học sinh là một yêu cầu quan trọng. Một bản đồ giáo khoa treo trước lớp, đẹp, sáng sủa mang tính mĩ thuật cao sẽ thu hút được sự chú ý của học sinh, giúp học sinh tiếp thu nhận hơn các tài liệu giáo khoa. Muốn thực hiện yêu cầu này phải nghiên cứu tâm lí học sinh, dùng kí hiệu to nổi, nhiều kí hiệu tượng hình, dùng màu sắc mạnh, tươi rõ, chữ viết lớn, lực nét đậm. d. Atlat giáo khoa Địa lí d1. Khái niệm Atlat giáo khoa còn gọi là tập bản đồ giáo khoa, là một tập hợp có hệ thống các bản đồ địa lí được sắp xếp một cách logic để phục vụ cho mục đích dạy và học. Atlat giáo khoa có tính thống nhất cao về cơ sở toán học, nội dung và bố cục bản đồ. Atlat 12
giáo khoa được phân biệt theo lãnh thổ thể hiện, theo nội dung và bố cục bản đồ. Atlat giáo khoa được phân biệt theo lãnh thổ thể hiện, theo nội dung và theo mục đích sử dụng. Atlat giáo khoa dùng cho giáo viên có nội dung phong phú và sâu sắc hơn Atlat giáo khoa dùng cho học sinh. d2. Tính chất Atlat không đơn giản là một tập hợp các bản đồ địa lí khác nhau ở dạng một cuốn sách. Atlat chứa trong nó một hệ thống các bản đồ liên kết hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau, xuất phát từ mục đích yêu cầu (công năng) của atlat và từ những đặc điểm sử dụng Atlat. Dù ở dạng đóng thành sách hay là các tờ rơi được sắp xếp trong một cái hộp cứng hoặc đặt trong một cái bìa kẹp chung lại thì Atlat vẫn luôn phải là một số đòi hỏi cơ bản đối với nó là: - Tính đầy đủ của đề tài: Đây là một đòi hỏi rất quan trọng đối với nội dung của atlas. - Tính cụ thể và chi tiết về mặt địa lí: Đòi hỏi này đảm bảo giá trị sử dụng cũng như khả năng thoả mãn nhu cầu thực tế khi sử dụng Atlat. - Tính thống nhất nội tại: Điều này cần được thể hiện trong nội dung, trong phương pháp xử lí các dữ liệu trong các phương pháp thể hiện, trong cách đặt vấn đề đặc xét các hiện tượng và đối tượng, trong mức độ chi tiết biểu hiện, trong cơ sở phân loại, phân cấp, tổng quát hoá và trong việc lựa chọn tỉ lệ, phép chiếu, phương pháp trình bày v.v… - Tính khoa học: Điều này đòi hỏi sự chính xác và đúng đắn về mặt địa lí trong nội dung của Atlat, trong việc phản ánh các đặc điểm và tính chất của các đối tượng, hiện tượng thực tế khách quan. Cách tiếp cận vấn đề có tính hệ thống, tính khách quan tối đa trong việc sử dụng các chỉ tiêu, các đặc tính, các phương pháp xử lí mới, các phương tiện toán học xử lí số liệu, có sự tham gia của các chuyên gia các ngành tương ứng liên quan đến các đề tài trong Atlat.. - Tính hiện đại (đương thời) đòi hỏi rút gọn tối đa thời gian xây dựng Atlat, ứng dụng kĩ thuật mới, sử dụng thông tin qua ảnh vệ tinh v.v… - Tính trực quan và tính vừa sức trong mục tiêu giáo dục và đào tạo đòi hỏi phải có sự lựa chọn đúng các phương pháp bản đồ, kết cấu Atlat logic, tính hệ thống trong cách tiếp cận xử lí các bản đồ và các mối liên hệ lẫn nhau của các yếu tố nội dung được rõ ràng. Vai trò của các tranh ảnh hình vẽ, bảng biểu, đồ thị của các bài thuyết minh hay hướng dẫn sử dụng, mô tả hiện tượng và phương pháp xử lí, phản ánh… là rất lớn trong việc nâng cao tính vừa sức, làm cho Atlat dễ tiếp thu, dễ hiểu hơn. Ngày nay, hàng năm người ta cho ra hàng ngàn Atlat mới, khác nhau vế đề tài, về lãnh thổ, về công năng cũng như về kích cỡ và khối lượng. d3.Phân loại Các Atlat thường được phân loại tương ứng với cơ sở phân loại các bản đồ địa lí. 13
- Theo lãnh thổ được thể hiện trên các trang bản đồ của Atlat ta có Atlat thế giới, Atlat các châu lục hoặc các vùng lớn của chúng, Atlat một nhóm nước, Atlat quốc gia, atlas khu vực (các vùng của một nước), Atlat các tỉnh, huyện, thành phố v.v… Tương tự như vậy đối với phần nước trên Trái đất người ta cũng chia ra Atlat các đại dương (các vùng trên các đại dương) Atlat biển, hồ lớn và các vùng nhỏ trong đó. - Theo đề tài thường có các Atlat sau: + Atlat địa lí chung, có khi kèm theo một số bản đồ trong đó. + Atlat địa lí tự nhiên theo ngành hẹp, ví dụ như Atlat thổ nhưỡng, Atlat tài nguyên cây thuốc… + Atlat kinh tế – xã hội với cách phân chia theo ngành hẹp hoặc theo vùng (phối hợp), ví dụ: Atlat đường ô tô, Atlat nông nghiệp, Atlat phát triển nền kinh tế và văn hoá, Atlat tài nguyên nhân văn… + Atlat tổng hợp (phức hợp) chung bao gồm các đề tài địa lí tự nhiên, kinh tế, chính trị, lịch sử… với nhiều khía cạnh khác nhau của lãnh thổ. Các Atlat quốc gia của các nước khác nhau là ví dụ điển hình cho loại Atlat tổng hợp. - Thuật ngữ các Atlat chuyên đề, nói về loại chuyên ngành (tự nhiên hoặc kinh tế – xã hội) với hai cấp độ phối hợp lãnh thổ và đề tài để tạo nên nhóm Atlat theo nội dung hay Atlat chuyên đề. - Theo mục đích xuất phát từ định hướng (nội dung và phương pháp) phục vụ một tầng lớp hay một nhóm người dùng nhất định nào đó ta có atlas khoa học tra cứu, atlat phổ thông (rộng rãi chung), Atlat du lịch, Atlat quân sự, Atlat gia đình, Atlat sinh viên, Atlat học sinh…Các nhóm Atlat này rất khác nhau về mức độ nội dung, đề tài, kích cỡ. - Về kích cỡ thường có: + Các Atlat cỡ lớn hay cò gọi là các Atlat để bàn (ví dụ các atlat quốc gia). + Các Atlat cỡ trung bình và các Atlat cỡ nhỏ hay atlat bỏ túi. Atlat cỡ lớn thường có tổng diện tích hữu ích của các bản đồ trong tập thường lớn hơn 15m2. Loại trung bình có tổng diện tích hữu ích của các bản đồ trong atlat dao động từ 6m2 đến 14m2. Atlat cỡ nhỏ có không quá 5m2 tổng diện tích hữu ích của bản đồ trong tập. d4.Ý nghĩa của Atlat giáo khoa trong giảng dạy Địa lí Atlat địa lí Việt nam giúp học sinh được tiếp xúc trực tiếp với bản đồ, biết tìm cách tìm kiếm thong tin từ các bản đồ riêng lẻ hoặc đối chiếu so sánh từ các bản đồ với nhau trên cơ sở đó nắm vững tri thức, phát triển tư duy và kĩ năng sử dụng bản đồ. Giúp học sinh sinh phát triển được kĩ năng sử dụng bản đồ, lấy kiến thức của bài từ bản đồ, nhớ sau nội dung bài mà không cần ghi nhớ máy móc nhanh quên và thường dẫn tới tình trạng học vẹt. Học trên Atlat và kiểm tra trên Atlat nên các đối tượng địa lí đều xuất hiện trong các trang Atlat học sinh không cần phải thuộc lòng mà nội dung đó được học sinh xem nhiều lần thì kiến thức tự động thấm dần vào trí nhớ của học sinh. 14
Giúp các em không cảm thấy ấp lực học tập, xây dựng được thói quen tự giác học và không khí học bộ môn. e. Bản đồ câm Bản đồ câm còn được gọi là bản đồ công tua hoặc bản đồ trống. Trên loại bản đồ này thường chỉ có lưới bản đồ, đường ranh giới của các lãnh thổ, mạng lưới thủy văn, các tuyến đường giao thông và các điểm dân cư quan trọng. Trên bản đồ không ghi địa danh. Bản đồ trống có tỉ lệ lớn thường được giáo viên địa lí dùng trong các giờ học, dạy đến đâu, giáo viên điền nội dung đã chuẩn bị ở nhà vào đến đó. Đây là phương pháp giới thiệu kiến thức độc đáo, hấp dẫn, thu hút học sinh theo dõi bài giảng mới. g. Tập bản đồ bài tập Bản đồ bài tập là loại hình bản đồ giáo khoa địa lí cần thiết, góp phần cùng các loại hình bản đồ giáo khoa địa lí khác giúp cho quá trình dạy và học địa lí có chất lượng cao. Việc sử dụng các tập bản đồ địa lí có tác dụng rèn luyện kĩ năng bản đồ và kĩ năng địa lí cho học sinh, đồng thời giúp cho học sinh hiểu bài, nắm được những kiến thức cơ bản và ghi nhớ lâu hơn. Việc sử dụng tập bản đồ địa lí ở mỗi lớp cũng chính là việc thực hiện phương pháp dạy và học địa lí đúng đắn nhất theo hướng lấy học sinh là trung tâm. 1.1.3 Năng lực sử dụng bản đồ 1.1.3.1 Khái niệm Mục tiêu của dạy học hiện nay là theo định hướng phát triển năng lực là hình thành cho người học các năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động. - Đối với môn Địa lý, năng lực sử dụng bản đồ là một trong những năng lực chuyên biệt mà người học phải đạt được. Để hình thành năng lực học tập với bản đồ, cần đặt ra yêu cầu sử dụng bản đồ theo các mức độ từ thấp đến cao.
15
1.1.3.2 Hệ thống năng lực sử dụng bản đồ Năng lực sử dụng bản đồ chia thành 5 mức độ, được mô tả theo bảng sau: Mức 1
Mức 2
Mức 3
Mức 4
Mức 5
Giải thích và Sử dụng bản đồ Mô tả được đặc So sánh được sự chứng minh được trong học tập và Xác định được điểm về sự phân bố, giống nhau và khác sự phân bố, đặc trong các hoạt phương hướng, vị quy mô, tính chất, nhau về đặc điểm điểm hoặc mối động thực tiễn trí, giới hạn của cấu trúc, động lực tự nhiên và kinh tế quan hệ của các như khảo sát, các đối tượng tự của các đối tượng - xã hội của hai khu yếu tố tự nhiên và tham quan, thực nhiên và kinh tế - tự nhiên và kinh tế vực được thể hiện kinh tế - xã hội hiện dự án… ở xã hội trên bản đồ. xã hội được thể trên bản đồ. được thể hiện trên ngoài thực địa có hiện trên bản đồ. bản đồ. hiệu quả. Trong bảng trên, mức 1 diễn tả năng lực sử dụng bản đồ ở mức sơ đẳng nhất, học sinh được học, rèn luyện các kiến thức cơ bản về bản đồ (xác định phương hướng, vị trí, giới hạn của các đối tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội trên bản đồ). Các mức 2, 4 có yêu cầu rõ ràng và có thể sử dụng theo từng bản đồ. Ở mức 3 cần vận dụng linh hoạt: So sánh được sự giống nhau và khác nhau về đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của hai khu vực được thể hiện trên một bản đồ hoặc giữa khu vực trên bản đồ với một khu vực khác ở một bản đồ khác. Mức 5 liên quan đến hoạt động khảo sát, tham quan, thực hiện dự án ở ngoài thực địa nên câu hỏi hầu như không được giải quyết ngay trên lớp. Mặt khác, tùy vào nội dung và yêu cầu của từng mục, bài để xác định học sinh cần đạt được các mức nào, không phải nội dung nào cũng yêu cầu phải đạt được cả 5 mức độ như bảng mô tả đã đưa ra. [3] 1.2 Cơ sở thực tiễn đề tài 1.2.1 Đặc điểm chƣơng trình sách giáo khoa Đia lí lớp 9 * Đặc điểm chương trình Địa lí lớp 9 Phân phối chương trình Địa lí lớp 9 cả năm có 37 tuần tương ứng với 52 tiết, ở học kì I có 19 tuần x 2 tiết/tuần tương ứng 35 tiết, học kì II 18 tuần với 17 tiết học. Ở chương trình lớp 9 nội dung chính là tìm hiểu về Phần Địa lí Việt Nam gồm những phần và tiết học, bài học như sau: HỌC KÌ I ĐỊA LÍ VIỆT NAM (tiếp theo) II.ĐỊA LÍ DÂN CƢ Tiết 1- Bài 1. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tiết 2- Bài 2. Dân số và sự gia tăng dân số.
16
Tiết 3- Bài 3. Phân bố dân cư và các loại hình quần cư. Tiết 4- Bài 4. Lao động và việc làm. Chất lượng cuộc sống. Tiết 5- Bài 5. Thực hành: Phân tích và so sánh tháp dân số năm 1989 và năm 1999. III. ĐỊA LÍ KINH TẾ. Tiết 6- Bài 6. Sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. (không dạy mục I. Nền kinh tế nước ta trước thời kì đổi mới) Tiết 7- Bài 7. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp. Tiết 8- Bài 8. Sự phát triển và phân bố nông nghiệp. Tiết 9- Bài 9. Sự phân bố và phát triển sản xuất lâm nghiệp và thuỷ sản (điều chỉnh câu 3 phần câu hỏi và bài tập: thay đổi thành biểu đồ hình cột). Tiết 10- Bài 10. Thực hành : Vẽ và phân tích biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu diện tích gieo trồng phân theo các loại cây, sự tăng trưởng đàn gia súc, gia cầm. Tiết 11- Bài 11. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố công nghiệp. Tiết 12- Bài 12. Sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp (không dạy mục II.3.Một số ngành công nghiệp nặng khác. Không yêu cầu học sinh trả lời câu 3 phần câu hỏi và bài tập) Tiết 13- Bài 13. Vai trò, đặc điểm phát triển và phân bố của ngành dịch vụ. Tiết 14- Bài 14. Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông. Tiết 15- Bài 15. Thương mại và du lịch. Tiết 16- Bài 16. Thực hành : Vẽ biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu kinh tế. Tiết 17Ôn tập. Tiết 18Kiểm tra viết 1 tiết. IV.SỰ PHÂN HOÁ LÃNH THỔ. Tiết 19- Bài 17. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Tiết 20- Bài 18. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ (tiếp theo) Tiết 21- Bài 19. Thực hành : Đọc bản đồ, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của tài nguyên khoáng sản đối với sự phát triển công nghiệp ở Trung du và miền núi Bắc Bộ. Tiết 22- Bài 20. Vùng đồng bằng sông Hồng. Tiết 23- Bài 21. Vùng đồng bằng sông Hồng (tiếp theo). Tiết 24- Bài 22. Thực hành : Vẽ và phân tích biểu đồ mối quan hệ giữa dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người. Tiết 25- Bài 23. Vùng Bắc Trung Bộ. Tiết 26- Bài 24. Vùng Bắc Trung Bộ (tiếp theo). Tiết 27- Bài 25. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Tiết 28- Bài 26. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (tiếp theo). Tiết 29- Bài 27. Thực hành : Kinh tế biển Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. 17
Tiết 30- Bài 28. Vùng Tây Nguyên. Vùng Tây Nguyên (tiếp theo). Tiết 31- Bài 29. Tiết 32..Bài 30. Thực hành : So sánh tình hình sản xuất cây công nghiệp lâu năm ở Trung du và miền núi Bắc bộ với Tây Nguyên Tiết 33Ôn tập Tiết 34Kiểm tra học kì I . Tiết 35- Bài 31. Vùng Đông Nam Bộ. HỌC KÌ II. Tiết 36- Bài 32. Vùng Đông Nam Bộ (tt). Tiết 37- Bài 33. Vùng Đông Nam Bộ (tt). Tiết 38- Bài 34. Thực hành : Phân tích một số ngành công nghiệp trọng điểm ở Đông Nam Bộ Tiết 39- Bài 35. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tiết 40- Bài 36. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (tt). Tiết 41- Bài 37. Thực hành : Vẽ và phân tích biểu đồ về tình hình sản xuất của ngành thuỷ sản ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tiết 42Ôn tập Tiết 43Kỉểm tra viết 1 tiết. Tiết 44- Bài 38. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển đảo. Tiết 45- Bài 39. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển đảo (tiếp theo). Tiết 46- Bài 40. Thực hành : Đánh giá tiềm năng kinh tế của các đảo ven bờ và tìm hiểu về ngành công nghiệp dầu khí. Tiết 47n tập V. ĐỊA LÍ ĐỊA PHƢƠNG. Tiết 48: Bài 41: Vị trí địa lí- Điều kiện tự nhiên và các tài nguyên thiên nhiên Tiết 49: Bài 42: Dân cư và lao động Tiết 50: Bài 43: Các ngành kinh tế Tiết 51Ôn tập Tiết 52Kiểm tra học kì II * Hệ thống bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí lớp 9 - Với chương trình lớp 9 nội dung chính là địa lí lãnh thổ của nước Việt Nam, cho nên hầu hết các bài học đều gắn với bản đồ. - Trong đó bản đồ trong sách giáo khoa và bản đồ giáo khoa treo tường có số lượng khá nhiều phân bổ hầu như trong tất cả các bài học Địa Lí 9. Tuy nhiên bản đồ trong sách giáo khoa thì bị hạn chế bởi kích thước nội dung thể hiện các đối tượng địa lí lên bản đồ, còn bản đồ treo tường thì có kích thước to thể nhiện được nhiều đối 18
tượng hơn và nó cũng bao quát lớp giúp học sinh tập trung vào bản đồ hơn. - Với loại bản đồ trong Atlat Địa Lí thì có số lượng khoảng 24 bản đồ, có kích thước vừa nhìn và đặc biệt trong Atlat Địa Lí thì nội dung trên các bản đồ rất nhiều học sinh biết tận dụng thì sẽ khai thác được nhiều kiến thức . - Còn ở loại bản đồ bài tập thì đều có trong hầu hết các bài Địa Lí 9, kích thước cũng khá nhỏ bởi tập này sử dụng cho mỗi cá nhân học sinh. 1.2.2 Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THCS - Học sinh THCS đang có sự trưởng thành về mặt nhận thức tư duy, tình cảm, giao tiếp. Các em đang ở lứa tuổi nhạy cảm nhất, chân trời tri thức và các mối quan hệ được mở rộng nên nhận thức của các em được nâng cao lên một tầm mới. - Các em thích khám phá cái mới, thích thể hiện khả năng của mình trước tập thể. Ở các em hình thành ý thức bản thân, giao tiếp bạn bè và phát triển tư duy, lí luận, óc sáng tạo, tính phê phán. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như lứa tuổi thiếu niên mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội. Các em không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá một cách sâu sắc về phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân và của những người xung quanh. Vì vậy trong các giờ học Địa Lí, nếu giáo viên tổ chức các hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức, các em dễ dàng đáp ứng được các yêu cầu mà giáo viên đưa ra. - Do nội dung học tập của chương trình Địa Lí THCS đặc biệt là ở lớp 9 có nhiều thay đổi nên đặc điểm học tập của học sinh THCS cũng được nâng lên. Ở lứa tuổi này các em có động cơ và thái độ học tập rõ ràng, có khuynh hướng học tập phù hợp với mực đích lựa chọn nghề nghiệp bởi các em đã có mức độ trưởng thành về nhận thức, tư tưởng cũng như về tâm lí nhằm định hướng việc lựa chọn nghề nghiệp và có quan điểm đúng đắn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. - Đối với các em học sinh lớp 9 các em đã dần có năng lực quan sát tốt hơn, nhạy bén hơn và có khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa tốt hơn. Các em không thích chấp nhận một cách đơn giản những áp đặt của giáo viên. Các em thường có biểu hiện thờ ơ, kém hứng thú và mệt mỏi khi trong suốt tiết học chỉ ngồi nghe giáo viên giảng bài và ghi chép. Các em thích khám phá khai thác những kiến thức mới với nhiều hình thức khác nhau, đây chính là một thuận lợi cơ bản để giáo viên sử dụng các phương pháp thích hợp hình thành và phát triển năng lực sử dụng bản đồ của học sinh trong dạy học Địa Lí 9. - Đối với học sinh THCS, hoạt động học tập đã trở thành trách nhiệm rõ rệt thức đẩy nhanh chóng mọi khả năng trí tuệ của các em. Đặc điểm nổi bật về sự phát triển trí tuệ của lứa tuổi này: Tính chủ động, tính chủ định, tính tích cực, tính tự giác để thể hiện rõ rệt ở tất cả quá trình nhận thức. Các năng lực của học sinh THCS được hoàn thiện nhanh và có chất lượng cao.
19
1.3 Thực trạng về năng lực sử dụng bản đồ của học sinh lớp 9 THCS - Nhìn nhận thực tế hiện này ở các trường trung học, đội ngũ giáo viên ít sử dụng bản đồ trong quá trình dạy học của mình. Theo như kết quả điều tra khảo sát, đã có 80% giáo viên không sử dụng bản đồ thường xuyên trong dạy học bộ môn Địa lí và nhất là chương trình Địa lí lớp 9 - THCS, họ cho rằng một tiết học chỉ có 45 phút việc sử dụng bản đồ trong dạy học rất mất thời gian. - Và cũng có đến 75% đội ngũ giáo viên chỉ sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa để giảng dạy bộ môn Địa lí, do một số giáo viên ngại tiềm kiếm các loại bản đồ lược đồ lớn . Điều này cũng đã khiến các em học sinh thụ động trong việc khai thác thông tin trên bản đồ, bởi giáo viên yêu cầu học sinh quan sát bản đồ trong sách giáo khoa nhiều em học sinh sẽ không tập trung chú ý làm theo yêu cầu của thầy cô giáo. Chính vì vậy, nó khiến năng lực sử dụng bản đồ của các em học sinh bị kiềm hãm lại, và đôi khi còn rất là kém.
Rất ít 50%
1. Gọi học sinh lên xác đinh các đối tượng trên bản đồ 2. Để học sinh khai thác kiến thức 45% từ bản đồ để giải quyết các vấn đề giáo viên nêu ra 3. Giao các bài tập về nhà có sử 50% dụng bản đồ
Thỉnh thoảng 35%
Thường xuyên 15%
35%
10%
35%
15%
Bảng 1.1 Các hình thức Thầy (cô) dùng bản đồ để hình thành và phát triển năng lực sử dụng bản đồ của học sinh trong dạy học Địa Lí - Qua kết quả của bảng 1.1 đã cho thấy, giáo viên chỉ chú trọng phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho chính bản thân mình. Còn dùng các hình thức để hình thành và phát triển năng lực bản đồ cho học sinh còn rất hạn chế có chỉ có 15% giáo viên gọi học sinh lên xác đinh các đối tượng trên bản đồ, ngoài ra giáo viên cũng rất ít khi để học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ để giải quyết các vấn đề được giáo viên nêu ra chiếm đến 45%, mức độ thường xuyên giao các bài tập có sử dụng bản đồ chỉ có 15% trong khi đó mức độ thỉnh thoảng lại chiếm đến 35%. Giáo viên chủ yếu tự mình sử dụng bản đồ để giảng giải cho học sinh hiểu, học sinh chỉ việc lắng nghe. - Vì vậy, mà đa số các em học sinh THCS và đặc biệt là các em học sinh lớp 9 thường chưa biết cách sử dụng bản đồ, khai thác nội dung kiến thức từ bản đồ trong học tập Địa lí. Theo như khảo sát các em học sinh thì, có rất nhiều em không hiểu tỉ lệ bản đồ là gì, hay không xác định được vị trí địa lí của một điểm, một quốc gia chẳng 20
hạn…Điều này rõ ràng đã cho thấy năng lực sử dụng bản đồ của đa phần học sinh THCS đặc biệt là học sinh lớp 9 còn thấp. Do quen với cách học cũ nên học sinh xem bản đồ là hình ảnh minh họa mà giáo viên dung để giảng giải và học sinh chỉ thụ động lắng nghe. Chính vì vậy khi giáo viên yêu cầu đọc bản đồ hay dựa vào bản đồ để tìm ra tri thức thì học sinh lại đọc lại sách giáo khoa để trả lời. Điều này đã dẫn đến tình trạng học sinh cảm thấy rất khó khăn, lung túng khi sử dụng bản đồ và thường né tránh khi giáo viên gọi lên chỉ bản đồ. Sử dụng bản đồ là một trong những kĩ năng tương đối khó và phức tạp đối với học sinh THCS do đó học sinh phải được hướng dẫn từng bước một cách tỉ mỉ, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Nhưng thực tế trong một tiết học Địa lí vừa truyền thụ kiến thức mới vừa rèn luyện kĩ năng phát huy năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh, thì giáo viên khó có thể hoàn thành quy trình trên một cách hiệu quả. - Qua phân tích nhưng thực trạng trên, rõ ràng chúng ta cũng thấy được học sinh THCS đặc biệt là học sinh lớp 9 rất yếu về năng lực sử dụng bản đồ, mà thực tế cho thấy giáo viên lại không có nhiều thời gian để hướng dẫn luyện tập cho học sinh.
21
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Sau khi đã tìm hiểu và nghiên cứu rõ về các khái niệm, tính chất, vai trò, phân loại, và các mức năng lực sử dụng bản đồ sử dụng. Tôi thấy được rằng bản đồ là một trong những thứ không thể thiếu trong dạy học chương trình Địa lí 9 hiện nay. Dựa trên cơ sở thực trạng hiện này, đã cho thấy việc phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong dạy học bộ môn Địa lí 9 ở các trường THCS còn rất nhiều bất cập và yếu kém. Với những nghiên cứu về lí luận và thực tiển của vấn đề này chính là cơ sở để tôi xây dựng các phương pháp thích hợp nhất để phát triển được các mức năng lực sử dụng bản đồ.
22
Chƣơng II: PHƢƠNG PHÁP TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 9 2.1 Phƣơng pháp sử dụng bản đồ trong giảng dạy Địa lí 2.1.1 Phƣơng pháp sử dụng bản đồ trong khâu dạy học Trong một giờ giảng trên lớp, người giáo viên có nhiệm vụ kiểm tra kiến thức cũ, giảng bài mới, hướng dẫn học sinh học bài và làm bài ở nhà. Những công việc này giáo viên đem thực hiện trên lớp dựa trên cơ sở bản đồ. Khi truyền thụ kiến thức, mỗi giáo viên vừa trang bị kiến thức địa lí, vừa rèn luyện kĩ năng địa lí và hướng dẫn phương pháp học địa lí trên bản đồ. Trong giờ học tại lớp, nếu bài giảng của giáo viên gắn liền với bản đồ thì học sinh phải luôn luôn làm việc, vừa nghe, nhìn, suy nghĩ và ghi chép. Làm như vậy, mới phát huy được tính tích cực của học sinh và huy động được học sinh tham gia vào bài giảng một cách hứng thú. Giáo viên dùng phương pháp đàm thoại hay phát vấn tiến hành trên cơ sở dùng bản đồ tại lớp rất sinh động, tạo cho học sinh có một không khí học tập tự giác, khích lệ học sính suy nghĩ và sôi nổi tham gia bài giảng. Tuy nhiên, phải đòi hỏi những hệ thống câu hỏi đặt ra được tính toán trên cơ sở tư duy và năng lực của học sinh và dành thời gian cần thiết cho mọi câu hỏi để đảm bảo kế hoạch dạy học về mặt thời gian. Những câu hỏi đặt ra trong khi giảng bài ở lớp chỉ nên dùng những loại câu hỏi đòi hỏi người trả lời chỉ cần đọc bản đồ, thông qua tư duy và tìm ra câu trả lời, không nên dùng những câu hỏi phải tính toán trên bản đồ mới trả lời được. Thông qua bài giảng, giáo viên địa lí còn có nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng cho học sinh, trong đó kĩ năng sử dụng bản đồ để học tập và nghiên cứu địa lí là quan trọng nhất. Những kĩ năng bản đồ cần có trước hết biết đọc bản đồ giáo khoa địa lí, biết tính toán nghĩa là biết xác định đặc tính số lượng của hiện tượng, biết xây dựng các biểu đồ, đồ thị để so sánh giá trị số lượng của các hiện tượng. Cũng cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng bản đồ khi thực hành về địa lí. Để có kĩ năng đối chiếu bản đồ với thực địa, ta có thể tổ chức cho các em những đợt thăm quan địa lí, những buổi học địa lí ngoài trời. 2.1.1.1 Sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa để giảng dạy - Bản đồ trong sách giáo khoa là một loại hình bản đồ giáo khoa. Do khuôn khổ sách giáo khoa nhỏ, in đen trắng và in vài màu nên thường có tỉ lệ nhỏ và nội dung biểu hiện khá hạn chế. Tuy nhiên nó lại có ý nghĩa không nhỏ trong dạy học. Chúng dùng để giáo viên minh họa nội dung chính của bài học, giúp học sinh tư duy gắn liền với lãnh thổ và bổ sung những kiến thức cần thiết mà sách giáo khoa chưa nói đến. - Trong bản đồ trong sách giáo khoa này thì, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu khai thác những tri thức tiềm ẩn trong bản đồ sách giáo khoa bằng các phương pháp đàm thoại gợi mở hay phương pháp đạt vấn đề..Để học sinh phát huy 23
được năng lực sử dụng bản đồ của bản thân, đều này sẽ làm cho bài hoc trở nên sinh động thu hút học sinh hơn, và học sinh cũng dễ tiếp thu, khắc sâu được kiến thức và qua đó hiệu quả giờ học Địa lí được nâng cao. 2.1.1.2 Sử dụng bản đồ giáo khoa treo tƣờng trong giảng dạy a. Bản đồ thường Bản đồ giáo khoa treo tường có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác giảng dạy và học tập địa lí. Loại bản đồ này dùng chủ yếu ở khâu lên lớp, nó giúp cho giáo viên giảng dạy được dễ dàng, sinh động và giúp cho học sinh học tập được cụ thể và hứng thú hơn. Chức năng chính của bản đồ treo tường là trình bày tại lớp, nhưng có thể dùng nó để kiểm tra bài cũ, giảng bài mới và làm cơ sở cho những bài tập địa lí. Trong giảng dạy và học tập địa lí bản đồ giáo khoa treo tường được coi như một tài liệu độc lập, là nội dung kiến thức địa lí. Nó không chỉ là kho tàng trữ các kiến thức địa lí, là nguồn thông tin mà còn là phương tiện có hiệu quả để phổ biến và truyền thụ các tri thức đó. Chính vì thế mà nó được xem như là một phương tiện then chốt trong việc hình thành và phát triển được năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh. Qua sử dụng bản đồ treo tường giúp giáo viên rèn luyện khả năng thực hành cho mình tốt hơn. Đối với giáo viên, bản đồ treo tường phải được dùng trong suốt quá trình dạy học từ khâu chuẩn bị bài lên lớp, truyền thụ kiến thức mới và khi ôn tập, kiểm tra học sinh. Giáo viên phải biết sử dụng kết hợp các loại hình bản đồ trong các khâu trên, phải biết hướng dẫn học sinh, yêu cầu học sinh học tập trên cơ sở bản đồ, rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh. Bản đồ giáo khoa treo tường do có mức độ khái quát cao nên nó còn giúp giáo viên lựa chọn nội dung cần thiết cho bài giảng, chọn phương pháp giảng bài có hiệu quả nhất. Sử dụng bản đồ treo tường trong giờ giảng chẳng những làm cho học sinh tiếp thu bài dễ, hiểu bài, nhớ lâu mà còn phát huy được tính tích cực của học sinh. Việc sử dụng kí hiệu trên bản đồ giáo khoa cần phải đảm bảo tính sư phạm, tính trực quan và tính khoa học, vì đó là những tính chất đặc trưng của bản đồ giáo khoa. Để cho bản đồ có hiệu quả truyền tin tốt, khi thiết kế kí hiệu phải tập trung vào việc nghiên cứu tìm ra các phương pháp biểu thị và lựa chọn hệ thống kí hiệu thích hợp nhất đối với các hiện tượng và đối tượng thực tế. Môn địa lí có đối tượng nghiên cứu rộng. Vì vậy, để học sinh tiếp thu bài giảng một cách dễ dàng thì giáo viên cần tiến hành bài học trên cơ sở bản đồ treo tường. Cùng với lời giảng của thầy, những tài liệu địa lí khác, bản đồ giáo khoa góp phần hình thành những biểu tượng, khái niệm và kĩ năng địa lí cho học sinh. Mục đích chính của việc giảng dạy địa lí ở trường phổ thông là hình thành cho học sinh những biểu tượng và khái niệm địa lí, những quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Người giáo viên chỉ thực hiện được mục đích đó trên cơ sở sử dụng bản đồ. Bản đồ treo tường có ưu thế trong việc thể hiện hình dạng, kích thước, sự phân 24
bố không gian và mối quan hệ của các sự vật hiện tượng địa lí. Vì vậy, trong giảng dạy địa lí không thể thay thế bản đồ bằng ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ giầu hình ảnh sinh động, không thay thế hình tượng bằng lời mô tả dù là lời mô tả tỉ mỉ và sinh động. Xuất phát từ quan điểm nêu trên, người giáo viên phải luôn luôn quan niệm bản đồ giáo khoa là kho tàng trữ các kiến thức địa lí, là nội dung giảng dạy và học tập địa lí của thầy và trò. Tuyệt đối không được coi bản đồ chỉ đơn thuần là đồ dùng dạy học trực quan. Đối với giáo viên, bản đồ giáo khoa treo tương phải được dùng trong suốt quá trình dạy học từ khâu chuẩn bị bài lên lớp, truyền thụ kiến thức mới và khi ôn tập, kiểm tra học sinh. Bản đồ giáo khoa treo tường do đặc tính khái quát hoá cao nên có khả năng giúp cho giáo viên lựa chọn nội dung cần thiết cho bài giảng và chọn phương pháp giảng bài có hiệu quả cao nhất. Bản đồ giáo khoa treo tường bổ sung, mở rộng kiến thức cho giáo viên và học sinh, cũng như bổ sung những thiếu sót ở trong sách giáo khoa và ở trong bản đồ của sách giáo khoa. Sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường trong giờ giảng chẳng những làm cho học sinh tiếp thu bài dễ, hiểu bài, nhớ lâu mà còn phát huy được tính tích cực của học sinh. Bản đồ giáo khoa treo tường là điểm gặp gỡ giữa giáo viên va học sinh. Cùng một lúc giáo viên và học sinh cùng làm việc. Trong khi giảng bài giáo viên đặt câu hỏi và học sinh phải dựa vào bản đồ để trả lời. Như vậy, giáo viên sẽ nhận được ngay luồng thông tin phản hồi từ học sinh và nhờ đó giáo viên phát hiện được những thiếu sót của học sinh, có biện pháp kịp thời sửa chữa. Mỗi một bản đồ có thể dùng cho một chương, một bài, một tiết hay một phần của tiết học. Dạy học địa lí bao gồm cả truyền thụ kiến thức bản đồ và dạy kĩ năng, rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ. Tất cả những điều này chỉ được hình thành khi dạy địa lí gắn với bản đồ. Khi sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường cần chú ý một số yêu cầu sau: - Giáo viên phải nắm vững bản đồ sẽ sử dụng để có một kĩ năng sử dụng nhanh chóng, chính xác và thành thạo không mắc những sai phạm khi sử dụng bản đồ. Muốn sử dụng bản đồ nào khi lên lớp thì khi soạn bài giáo viên phải có sự chuẩn bị trước để nắm vững hệ thống kí hiệu bản đồ, những địa danh cần truyền thụ cho học sinh, dự định phương pháp sử dụng, sử dụng như thế nào, vào lúc nào, đặt câu hỏi nào… - Những bản đồ treo tường dùng trong một bài học cần chuẩn bị chu đáo và được treo ở lớp đúng lúc để tập trung sự chú ý của học sinh. - Sử dụng bản đồ treo tường phải kết hợp với những loại hình bản đồ khác, trước mỗi bản đồ treo tường phải có bản đồ bài tập tương ứng. - Lần đầu tiên sử dụng bản đồ treo tường trên lớp giáo viên cần giới thiệu ngắn gọn về hướng, hệ thống kí hiệu, tỉ lệ… Để tạo điều kiện cho học sinh làm quen với bản đồ. - Cần đảm bảo đúng các thao tác khi làm việc với bản đồ, thí dụ cách chỉ bản đồ phải dùng thước, chỉ vào kí hiệu chứ không chỉ vào chữ viết của đối tượng, sông chỉ 25
theo hướng dòng chảy, vùng phân bố thì theo đường ranh giới… - Yêu cầu đặt ra trong việc giáo dục kiến thức bản đồ, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo sử dụng bản đồ cho học sinh thường là: hiểu, đọc và biết bản đồ. + Hiểu bản đồ là làm quen với bản đồ với những tính chất, nội dung với ngôn ngữ bản đồ một cách có hệ thống, ví dụ như biết thuộc tính của quả địa cầu, của các loại bản đồ địa lí, giải thích được ý nghĩa, mục đích các kí hiệu, dùng kí hiệu như thế nào. Vì thế, quá trình giới thiệu bản đồ với học sinh phải có trình tự, hệ thống, phải thường xuyên, liên tục. Hiểu ngôn ngữ bản đồ, có khái niệm cơ bản về bản đồ là cơ sở để đọc bản đồ. + Đọc bản đồ là cơ sở của các phương pháp khai thác thông tin địa lí phục vụ cho việc dạy và học ở trường phổ thông. Muốn đọc bản đồ phải có kiến thức cơ bản về bản đồ và địa lí. Đọc được bản đồ là khả năng tạo khái niệm không gian về đối tượng, mở đầu cho việc tự học bản đồ (giống như quá trình giải mã hoá kí hiệu). Quá trình đọc bản đồ là thông qua việc tự học, làm bài tập của học sinh để rèn luyện kĩ năng, biết cách tìm ra tính chất của các đối tượng được vẽ trên bản đồ, xác định không gian của đối tượng, so sánh, đối chiếu, các đối tượng trong không gian để có khái niệm về lãnh thổ. + Biết bản đồ là nhớ, hình dung rõ vị trí tương quan, hình dung tên gọi và đặc tính của các tên địa lí bằng hình ảnh bản đồ. Yêu cầu về hiểu, đọc và biết bản đồ đối với học sinh không đơn giản. Vì vậy, vai trò cua người thầy giáo là rất quan trọng. Trong quá trình dạy học môn địa lí đòi hỏi người thày giáo phải sử dụng tối đa, kết hợp tốt nhất các loại hình bản đồ trong các khâu của quá trình dạy học. - Bản đồ giáo khoa treo tường chủ yếu sử dụng trong giờ lên lớp, nên phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích bản đồ bằng mắt, tức là đọc, chỉ bản đồ và mô tả nêu lên những đặc điểm của các đối tượng địa lí hay một khu vực lãnh thổ trên bản đồ. Phương pháp phân tích trên bản đồ bằng mắt là phương pháp nghiên cứu bản đồ phổ biến nhất vì nó dựa trên cơ sở biểu hiện bản đồ trực quan. Giáo viên chỉ bản đồ cùng với lời mô tả phân tích, còn học sinh quan sát bản đồ giáo khoa treo tường có thể dùng trong các khâu của một tiết học. - Khi kiểm tra bài cũ giáo viên có thể đặt các câu hỏi yêu cầu học sinh phải dùng bản đồ mới trả lời được. - Khi giảng bài mới, giáo viên giới thiệu lãnh thổ sẽ học trên bản đồ, sau đó có thể đặt các câu hỏi yêu cầu học sinh quan sát bản đồ và trả lời. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh so sánh, đối chiếu các bản đồ với nhau hoặc những nội dung khác nhau trên một bản đồ với nhau để tìm ra các mối liên hệ của các đối tượng địa lí, phát hiện mối liên hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết. Giáo viên gợi ý, chỉ cho học sinh những tri thức bản đồ học còn học sinh tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau, những mối liên hệ trên bản đồ. Phương pháp đàm thoại kết hợp với dùng bản đồ tại lớp rất sinh 26
động, làm cho học sinh hăng say học tập, không khí học tập sôi động tự giác. Các câu hỏi nêu ra cần vừa sức và chỉ đòi hỏi học sinh đọc bản đồ thông qua tư duy và tìm ra câu trả lời, không nên dùng câu hỏi đòi hỏi phải tính toán trên bản đồ mới trả lời được. Tóm lại, sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường chủ yếu dùng phương pháp phân tích bằng mắt với việc đọc và chỉ bản đồ, so sánh bản đồ, mô tả và nêu đặc điểm đối tượng địa lí là công việc thường xuyên có hệ thống của giáo viên và học sinh để tạo thói quen khi sử dụng bản đồ. b. Bản đồ câm - Với loại bản đồ câm treo tường dùng cho giáo viên là loại bản đồ câm dùng cho học sinh. Bản đồ câm dùng cho học học sinh có tỉ lệ nhỏ, thường được đóng thành tập gọi là “tập bản đồ bài tập”. Trong giờ học, học sinh thường để chúng ở trên bàn. Học sinh vừa nghe thầy giảng bài, vừa ghi chép, vừa chuyển những nội dung mà giáo viên điền trên bản đồ câm treo tường vào bản đồ câm của mình. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thày và trò, khi sử dụng các loại bản đồ câm ở trên lớp là phương pháp hình thành biểu tượng và khái niệm cho học sinh một cách tích cực. Giáo viên cũng có thể ra bài tập cho học sinh về nhà tự làm việc với tập bản đồ câm, giúp cho các em có thói quen làm việc độc lập, nhằm củng cố kiến thức đã học ở lớp, chuẩn bị bài để thu nhận kiến thức mới và rèn luyện kĩ năng bản đồ cần thiết. - Bản đồ câm có mối liên hệ chặt chẽ với sách giáo khoa, bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường và atlat. Vì thế, nếu giáo viên biết hướng dẫn cho cho học sinh khai thác các mối liên hệ này sẽ tạo điều kiện cho các em hoạt động nhận thức một cách tích cực và tự giác. Nó có thể được giáo viên sử dụng cho phần củng cố bài học, yêu cầu học sinh lên xác đinh lại các địa đã học như là núi, sông, hay đồng bằng …Việc sử dụng bản đồ câm trong trường hợp này sẽ kích thích học sinh, hình thành và phát triển được năng lực sử dụng bản đồ .Ngoài ra bản đồ câm còn được sử dụng nhiều trong các hoạt động ngoại khóa và hoạt động tổ chức trò chơi Địa lí cho các em học sinh. 2.1.1.3 Sử dụng Atlat giáo khoa Địa Lí - Atlat địa lí Việt Nam xét về mặt mục đích phục vụ thì cấu trúc nội dung của nó phù hợp với chương trình môn địa lí phổ thông cơ sở và phổ thông trung học, phù hợp với sách giáo khoa địa lí lớp 8, lớp 9 và lớp 12 hiện hành và đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu về địa lí Việt Nam. - Tuy nhiên Atlat Địa lí Việt Nam, không được khuyến khích sử dụng trên lớp học lắm vì Atlat này sử dụng trên lớp rất mất thời gian. Xong mỗi giáo viên đều thấy được Atlat Địa lí thì nó chứa đầy đủ thông tin cần thiết mà khi làm việc với nó học sinh ít phải tư duy và phát triển được năng lực sử dụng bản đồ của bản thân. Cho nên Atlat Địa lí Việt Nam thường được giáo viên ra bài tập về nhà để học sinh dựa những thông tin có trên Atlat để học sinh tư duy để giải quyết các bài tập được giao. 27
Toàn tập Atlat bao gồm 24 trang với 3 phần: - Phần mở đầu gồm 3 trang trình bày các kí hiệu chung, hành chính - Phần tự nhiên gồm 7 trang đề cập đến hình thể, địa chất khoáng sản, khí hậu, đất thực vật và động vật, các miền tự nhiên. - Phần dân cư, kinh tế gồm 13 trang trình bày về dân số, dân tộc, nông nghiệp chung, nông nghiệp ngành, lâm nghiệp và ngư nghiệp, công nghiệp chung, công nghiệp ngành, giao thông, thương mại, du lịch, vùng kinh tế Bắc Bộ, vùng kinh tế Bắc Trung Bộ, vùng kinh tế Nam Trung Bộ, vùng kinh tế Nam Bộ. - Cơ sở toán học của tất cả các trang bản đồ đều được thiết kế có tính thống nhất. Phép chiếu sử dụng thống nhất là phép chiếu hình nón hai vĩ tuyến chuẩn (1 = 110B và 2 = 210B). Tỉ lệ chung cho các trang bản đồ chính là 1: 6.000.000, tỉ lệ 1: 9.000.000 dùng cho các bản đồ ngành và tỉ lệ 1:18.000.000 cho các bản đồ phụ, tỉ lệ 1:3.000.000 đối với bản đồ các miền tự nhiên và các vùng kinh tế. - Muốn khai thác, sử dụng atlat địa lí Việt Nam một cách có hiệu quả trước hết phải nghiên cứu kĩ bảng kí hiệu chung để hiểu được bản chất, khả năng thể hiện của các kí hiệu bản đồ, cũng như bản chất của các phương pháp, hình thức biểu hiện trên bản đồ và khả năng thể hiện của các phương pháp biểu hiện. Trang kí hiệu chung bao gồm những kí hiệu phản ánh gần đầy đủ nội dung chung của toàn tập từ những yếu tố tự nhiên, kinh tế, dân cư hành chính… bố cục chung của trang kí hiệu chung bao gồm 4 phần: + Các yếu tố tự nhiên: phân tầng địa hình, các yếu tố địa hình, thuỷ hệ, khoáng sản. + Công nghiệp: các trung tâm công nghiệp và công nghiệp khai khoáng. + Nông, lâm ngư nghiệp: các vùng nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi… + Các yếu tố khác. Đối với các yếu tố tự nhiên trước hết phải hiểu được nguyên tắc phân loại bậc thang phân tầng địa hình để từ đó đọc được tốt các trang bản đồ hình thể và các miền tự nhiên. Phân tầng địa hình thể hiện địa hình trên đất liền và địa hình đáy biển. - Địa hình trên đất liền: Đối với địa hình trên đất liền, phân tầng độ cao có các đường bình độ: 50m, 200m, 1500m và 2500m - Địa hình đáy biển: Phân tầng độ sâu có các đường bình độ sau: -20m, -50m, -100m, -200m, -1000m, -1500m, -2000m, -4000m. Các đường độ sâu này có ý nghĩa đối với vùng biển Việt Nam như sau: Nội dung công nghiệp bao gồm các kí hiệu thể hiện các trung tâm công nghiệp, các ngành công nghiệp, công nghiệp khai thác khoáng sản. Các trung tâm công nghiệp thể hiện quy mô theo giá trị tương đối: nhỏ, vừa, lớn, rất lớn. Các ngành công nghiệp được thể hiện bằng các kí hiệu hình học và trực quan, công nghiệp khai thác dùng kí hiệu 28
hình học và kí hiệu chữ, nhưng chú ý phân biệt giữa kí hiệu khoáng sản và kí hiệu công nghiệp khai khoáng ở chỗ kí hiệu công nghiệp khai thác khoáng sản có vòng tròn bao kí hiệu khoáng sản. Nội dung nông, lâm, ngư nghiệp dùng kí hiệu diện thể hiện cho vùng nông nghiệp và kí hiệu trực quan thể hiện các cây trồng và vật nuôi chính. Các yếu tố khác, đặc biệt các điểm dân cư được thể hiện theo chức năng hành chính ở các tỉ lệ khác nhau bằng kí hiệu hình học và kiểu và kích thước chữ. Muốn khai thác và sử dụng tốt bản đồ giáo khoa nói chung vá atlat giáo khoa nói riêng phải hiểu và đọc được các kí hiệu bản đồ, nhưng kí hiệu bản đồ và màu sắc trên bản đồ, cũng chỉ là những phương tiện cuả phương pháp thể hiện bản đồ mà thôi. Do vậy người sử dụng bản đồ và atlat nhất thiết phải hiểu được các phương pháp thể hiện những nội dung địa lí trên bản đồ. Khi thể hiện bản đồ, ngoài việc phản ánh những hình dạng bên ngoài của đối tượng và hiện tượng địa lí còn phải chỉ ra được sự phân bố, những đặc điểm định tính, định lượng, cấu trúc của các đối tượng và hiện tượng nữa. Vì vậy, mỗi một đối tượng và hiện tượng địa lí đòi hỏi phải có những phương pháp biểu hiện thích hợp. Khi đọc, khai thác từng trang bản đồ phải vận dụng đúng đắn nguyên tắc, phương pháp và nội dung phân tích, sử dụng bản đồ và thường đề cập tới những nội dung chính; nội dung bản đồ, phương pháp và các phương tiện phương án (kí hiệu, màu sắc…) để thực hiện phương pháp và từ đó nêu lên những đặc điểm chính của đối tượng, mối quan hệ giữa các đối tượng hiện tượng địa lí. 2.1.1.3 Hƣớng dẫn sử dụng bản đồ bài tập Giáo viên hướng dẫn để học sinh nhận thức được loại hình bản đồ giáo khoa mới này có tác dụng hỗ trợ một phần nội dung và bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường. Trong các khâu của quá trình dạy học địa lí, bản đồ bài tập là phương tiện cần thiết vì nội dung và yêu cầu của mỗi trang, mỗi tờ của tập bản đồ đều gần gũi với chương trình với trình độ nhận thức của học sinh. Giáo viên dựa vào mục tiêu của chương trình bộ môn nói chung, của từng lớp, từng bài nói riêng để hướng dẫn học sinh sử dụng. Phương pháp học, công việc sử dụng tập bản đồ bài tập địa lí của học sinh phụ thuộc vào yêu cầu, vào cách thức hướng dẫn của giáo viên. Vì thế, cũng như đối với các loại bản đồ giáo khoa khác, giáo viên phải xác định được các phương pháp sử dụng các tập bản đồ bài tập trong các khâu của quá trình dạy học. a. Khi soạn bài và giảng bài trên lớp Các bản đồ bài tập khác các loại bản đồ giáo khoa khác ở chỗ nó không phải là nguồn tư liệu để khai thác kiến thức mà nó là phương tiện góp phần thực hiện các phương pháp truyền thụ kiến thức và rèn luyện kĩ năng địa lí nhất là kĩ năng đọc bản đồ cho học sinh. 29
Căn cứ vào chương trình ở mỗi lớp học để đề ra mục tiêu khi sử dụng tập bản đồ bài tập địa lí. Ví dụ, ở lớp 6 học sinh bước đầu biết quan sát, phân tích các bản đồ, biểu đồ, hình vẽ để hình thành những biểu tượng, khái niệm địa lí đầu tiên. Ở lớp 7, học sinh có thể so sánh những hiện tượng, sự vật địa lí trên các lãnh thổ (các châu lục) khác nhau hình thành những kiến thức cơ bản và kĩ năng bản đồ cần thiết. Ở lớp 8 mức độ hiểu biết của học sinh đã được nâng lên, có thể dựa vào kênh hình (bản đồ, biểu đồ, lát cắt…) để tự tìm hiểu nội dung kiến thức địa lí trên bản đồ và phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa chúng. Tư duy lôgic bước đầu giúp học sinh độc lập hiểu được thể tổng hợp lãnh thổ địa lí. Đặc biệt ở lớp 9 giáo viên tiếp tục rèn luyện và củng cố các kĩ năng bản đồ, dựa vào bản đồ để tự trả lời được những câu hỏi cần thiết, giảm bớt cách học thụ động và ghi nhớ máy móc. Học sinh có thể dùng bản đồ bài tập để thực hiện yêu cầu kiểm tra của giáo viên hay thi hết cấp. Ở các lớp trung học phổ thông, học sinh đã có được những kĩ năng đọc, hiểu và biết bản đồ, biết khai thác từ bản đồ những kiến thức địa lí, biết sử dụng bản đồ trong học tập trên lớp và làm những bài tập địa lí ở nhà. Khi đã xác định được mục đích, mục tiêu sử dụng tập bản đồ bài tập cho mỗi lớp, mỗi cấp, giáo viên căn cứ vào từng bài học cụ thể để hướng dẫn cách sử dụng từng trang, từng tờ trong toàn tập. Do vậy khi soạn bài, giáo viên cần đưa ra một kế hoạch chi tiết, cụ thể về thời gian về nội dung cần tiến hành khi hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ bài tập. Khi nào cần cho học sinh theo dõi bản đồ, hình vẽ, lát cắt… để tìm nội dung câu hỏi hoặc thực hiện công việc trên tờ bản đồ bài tập. Việc rèn luyện kĩ năng địa lí và kĩ năng bản đồ cho học sinh, thông qua một trong những phương tiện dạy học môn địa lí là bản đồ bài tập là cần thiết và thực tế, nhưng không đơn giản. Nếu thiếu việc chuẩn bị chu đáo thì bài giảng của giáo viên sẽ hạn chế hiệu quả của phương pháp. Giáo viên phải hoàn toàn chủ động xác định thời gian, các thao tác cho học sinh học tập trên lớp vơí tập bản đồ bài tập. b. Hướng dẫn học sinh sử dụng tập bản đồ bài tập ở nhà Cũng như các môn khác, việc học ở nhà, làm bài tập của bài đã học, chuẩn bị học bài mới ở môn Địa lí là rất quan trọng. Ngoài những câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện những bài tập và chuẩn bị cho bài mới trên tập bản đồ bài tập. Thông thường các bài tập ra về nhà sau khi học sinh đã được học bài mới. Vì thế từng trang trong tập bài tập đều có những nội dung mà giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện ở nhà. Đồng thời giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước để có điều kiện tiếp thu và xây dựng bài mới trên lớp. Đặc biệt đối với các bài thực hành bắt buộc học sinh phải có thời gian chuẩn bị trước ở nhà. Cấu trúc của bài thực hành thường có phần nội dung, yêu cầu và hướng dẫn thực hành. Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ từng phần của bài, thực hiện những yêu cầu của bài. Những yêu cầu của bài là những nội dung kiến thức đã được trang bị trong những bài 30
học trước. Giáo viên chỉ hướng dẫn những điểm khó, những vấn đề học sinh chưa được làm quen. Thí dụ cách vẽ bản đồ, cách phân tích lát cắt tổng hợp… Quá trình chuẩn bị bài thực hành đòi hỏi học sinh phải tái hiện kiến thức, tư duy vừa cụ thể vừa trừu tượng và cần có kĩ năng thể hiện trên hình vẽ những đối tượng địa lí cần thiết. Chuẩn bị tốt một bài thực hành ở nhà là yếu tố quyết định kết quả thực hiện bài tập đó trên lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Cũng có những bài thực hành giáo viên chỉ cần yêu cầu học sinh chuẩn bị trong suy nghĩ những yêu cầu cần thực hiện, sau đó học sinh thể hiện nội dung cuả yêu cầu đó trong tiết thực hành ở lớp. c. Sử dụng bản đồ bài tập để kiểm tra bài cũ Sử dụng các bản đồ bài tập cũng là một hình thức, một biện pháp để kiểm tra bài cũ có nhiều tác dụng tốt. Học sinh sẽ được rèn luyện các kĩ năng địa lí, kĩ năng bản đồ trên mỗi trang bản đồ bài tập khi thực hiện bài kiểm tra. Tuỳ theo chương trình và sách giáo khoa, nội dung của từng bài cụ thể, giáo viên quy định bài kiểm tra 15 phút hay 1 tiết. Cũng có thể bài kiểm tra chỉ giới hạn ở một số điểm trong một tờ bài tập. Giáo viên cũng có thể dùng những bài thực hành để kiểm tra 1 tiết hoặc kiểm tra ôn tập. Tất nhiên, những bài đó học sinh chưa được sử dụng trong tiết thực hành. Việc kiểm tra bài cũ bằng các trang, tờ bản đồ của tập bài đó bài tập có nhiều ưu điểm. Nó tạo tâm lí và ý thức học môn địa lí phải gắn liền với bản đồ, ý thức và khả năng rèn luyện các kĩ năng địa lí, kĩ năng bản đồ trong các khâu của quá trình học tập bộ môn. Điều đó phù hợp với đặc trưng bộ môn và mục tiêu giảng dạy, học tập bộ môn. Mặt khác, thực hiên việc này sẽ giảm bớt công việc chuẩn bị giấy làm bài cho học sinh. Việc chấm bài của giáo viên cũng nhẹ nhàng hơn, nhưng đánh giá chất lượng học tập của học sinh chính xác hơn. Vì nội dung kiểm tra ít đòi hỏi học sinh ghi nhớ máy móc, tư duy cuả học sinh gắn với lãnh thổ trên bản đồ. Tập bản đồ bài tập địa lí với những tính chất, nội dung và những yêu cầu nội dung cụ thể phù hợp với từng bài trong sách giáo khoa. Mỗi tập bản đồ có tác dụng nhất định trong việc phục vụ cho phương pháp giảng dạy và học tập mới – tích cực, lấy học sinh làm trung tâm. Vì thế, việc sử dụng là cần thiết, song đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ để vận dụng linh hoạt và phù hợp với nội dung bài giảng, chương trình và đối tượng học sinh. 2.1.2 Phƣơng pháp sử dụng bản đồ trong hoạt động ngoại khóa - Hoạt động ngoại khóa là hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp, không quy định bắt buộc trong chương trình; hoạt động này dựa trên sự tự nguyên tham gia của một số hay số đông học sinh có hứng thú, yêu thích bộ môn và muốn tìm toàn sáng tạo nội dung học tập Địa lí. - Tuy vậy trong quá trình dạy học giáo viên mới chỉ chú trọng vào việc truyền đạt kiến thức cho học sinh trong các giờ học chính khóa trên lớp chứ rất ít tổ chức cho các các em giờ học Địa lí ngoài lớp. 31
- Đối với học sinh THCS các em đang ở lứa tuổi “không còn là trẻ con nhưng lại chưa phải là người lớn”. Các em đang rất tò mò, thích thú những cái lạ, thích khám phá và đặc biệt rất thích được vui chơi. Chính vì thế giáo viên cần nắm bắt được đăc điểm tâm sinh lí này để tổ chức những buổi học ngoại khóa kết hợp giữa kiến thức địa lí đã dạy ở lớp với những hiểu biết của học sinh cùng với môi trường xung quanh để vừa khắc sâu kiến thức vừa tạo hứng thú yêu thích môn học cho học sinh. - Phương pháp sử dụng bản đồ trong hoạt động ngoại khóa của giáo viên sẽ giúp học sinh phát triển được các mức năng lực sử dụng bản đồ. - Với hình thức này thường được tổ tổ chức ngay trong phòng thì các hoạt động này được gắn với tìm hiểu một chủ đề nào đó liên quan đến chương trình học Địa lí lớp đó. Trong các hoạt động này các giáo viên lên kế hoạch thiết kế những phần tìm hiểu lí thuyết và phần trò chơi một cách hấp dẫn lôi cuốn học sinh tham gia trả lời những câu hỏi . Việc sử dụng bản đồ trong hoạt động này chủ yếu giúp chúng ta phát triển được mức năng lực 1 và 2 trong năm mắc năng lực sử dụng bản đồ. Ví dụ : Hoạt động ngoại khóa Địa lí lớp 9 với chủ đề “Tìm hiểu sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam”. Hoạt động cũng gồm có hai phần là phần tìm hiểu lí thuyết và phần trò chơi có những câu hỏi kích thích sự tư duy của các em. Trong đó có các câu dùng phương pháp sử dụng bản đồ như : Dựa vào bản đồ kinh tế chung của Việt Nam, em hãy xác đinh hiện nay cả nước chia làm mấy vùng kinh tế. Và đó là những vùng nào? Trong câu hỏi này giáo viên cũng đã sử dụng bản đồ để phát huy được mức năng lực 1. Hay giáo viên sử dụng một bản đồ câm của vùng Đông Nam Bộ yêu cầu : Các em lên xác đinh viết tiên các tỉnh thành phố nằm trong vùng này? - Qua đó mà ta thấy việc sử dụng bản đồ trong hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa trong phòng này cũng giúp giáo viên phát huy được các mức 1 và 2 trong năng lực sử dụn bản đồ. Ngoài ra nó còn kích thích thu hút học sinh vào hoạt động hơn . 2.1.3 Phƣơng pháp sử dụng bản đồ trong kiểm tra, đánh giá kết quả 2.1.3.1 Sử dụng bản đồ trong đánh giá quá trình * Trong việc kiểm tra bài cũ Giáo viên tích cực áp dụng việc sử dụng bản đồ để kiểm tra bài cũ học sinh bằng cách giữa lí thuyết với rèn luyện kĩ năng bản đồ và điều này đã tạo cho học sinh thói quen học tập chủ động, độc lập sáng tạo. Đồng thời với hình thức này không những kiểm tra được kiến thức của một học sinh mà còn có tác dụng giúp tất cả học sinh trong lớp nhớ lại bài học khắc sâu kiến thức
32
Ví dụ : Khi kiểm tra bài cũ bài 25: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Giáo viên treo bản đồ tự nhiên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ lên bảng hoặc trình chiếu nếu sử dụng công nghệ thông tin:
Hình 2.1 Lược đồ tự nhiên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
? Em hãy dựa vào bản đồ, hãy xác định vị trí, giới hạn lãnh thổ của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. ? Nêu ý nghĩa của vị trí địa lí vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. 2.1.3.2 Sử dụng bản đồ trong đánh giá thƣờng kì Theo nề nếp cũ giáo viên trong quá trình đánh giá kết quả học tập của học sinh thường ít coi trọng cho học sinh làm việc với bản đồ nên giáo viên khó có cách đánh giá một cách chính xác năng lực sử dụng bản đồ của học sinh. Theo tôi việc kiểm tra 1 tiết hay học kì nhất thiết phải có những câu hỏi yêu cầu học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ để kiểm tra đánh giá năng lực sử dụng bản đồ của học sinh. Ví dụ : Kiểm tra học kì II. ? Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam, kể tên: 5 bãi tăm, 3 đảo có hoạt động du lịch, và một vịnh biển được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới?
33
2.2 Các phƣơng pháp phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh lớp 9 2.2.1 Phƣơng pháp đàm thoại - Phương pháp đàm thoại là phương pháp giáo viên đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời, giúp học sinh tái hiện kiến thức cũ, tiếp thu những kiến thức mới,củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức hoặc kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội kiến thức. [4] - Phương pháp này là phương cơ bản nhất khi sử dụng để phát triển các năng lực sử dụng bản đồ cho các em học sinh. - Phương pháp đàm thoại có sự tham gia của học sinh ở nhiều mức độ khác nhau, bởi phương pháp này cũng được phân thành nhiều loại và nhiều loại câu hỏi tùy theo mức độ từ thấp đến cao nó cũng tương ứng với các mức độ năng lực sử dụng bản đồ của học sinh vậy. Và điều này phụ thuộc vào yêu cầu của giáo viên về mục đích của cuộc đàm thoại đó. - Như ở loại phương pháp đàm thoại gợi mở đây là phương pháp giáo viên đặt một câu hỏi lớn, sau đó đặt một chuỗi câu hỏi nhỏ có tính chất dẫn dắt, gợi mở để học sinh từng bước phát hiện ra các vấn đề. Khi các câu hỏi nhỏ được trả lời thì câu hỏi lớn hoàn thành, nhờ vậy mà học sinh lĩnh hội được tri thức mới. Dùng phương pháp đàm thoại gợi mở này sẽ giúp chúng ta hình thành và phát triển được mức 1 trong năng lực sử dụng bản đồ đó là xác định được phương hướng, vị trí, giới hạn của các đối tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội trên bản đồ. Ví dụ : Dựa vào lược đồ tự nhiên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, em hãy xác định vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ của vùng?
34
Hình 2.1 Lược đồ tự nhiên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Để trả lời được câu hỏi lớn này giáo viên sẽ đặt ra một số câu hỏi nhỏ, gợi mở cũng dựa vào lược đồ tự nhiên của Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ để từng bước trả lời cho câu hỏi lớn như là: + Hãy xác định các tỉnh nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ? + Hãy xác định vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tiếp giáp với các vùng nào? - Ở dạng câu hỏi phân tích trong phương pháp đàm thoại nhằm gợi ý cho học sinh tách riêng từng phần của một sự vật hiện tượng địa lí hoặc các thành phần của một mối liên hệ. Dạng câu hỏi của phương pháp này giúp ta hình thành phát triển được năng lực sử dụng bản đồ ở mức 2 là học sinh có khả năng mô tả được đặc điểm về sự phân bố, quy mô, tính chất, cấu trúc, động lực của các đối tượng tự nhiên và kinh tế xã hội được thể hiện trên bản đồ. Ví dụ : Dựa vào lược đồ Duyên hải Nam Trung Bộ hãy phân tích những ý nghĩa của vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ của vùng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội? - Trong dạng câu hỏi so sánh, liên hệ của phương pháp này nó nhằm gợi cho học sinh nhận thức và phân biết được sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật và hiện tượng địa lí. Dạng câu hỏi này nó tương ứng với việc hình thành và phát triển năng lực ở mức 3 về năng lực so sánh được sự giống nhau và khác nhau về đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của hai khu vực được thể hiện trên bản đồ.
35
Ví dụ: Dựa vào lược đồ tự nhiên của vùng Bắc Trung Bộ, hãy so sánh tiềm tài nguyên rừng và khoáng sản phía Bắc và phía Nam dãy Hoành Sơn.
Hình 2.2. Lược đồ tự nhiên vùng BắcTrung Bộ
- Và trong phương pháp đàm thoại thì cũng có đàm thoại giải thích minh họa, thì phương pháp này giáo viên thực hiện đặt ra những yêu cầu học sinh phải giải thích, chứng minh một vấn đề, một hiện tượng, một quy luật địa lí. Để trả lời , học sinh không chỉ nhớ lại nội dung tri thức mà mà phải suy luận, lí giải, chứng minh. Phương pháp đàm thoại giải thích này tưng ứng kết hợp để hình thành và phát triển mức 4 trong năng lực sử dụng bản đồ giúp học sinh có thể giải thích và chứng minh được sự phân bố, đặc điểm hoặc mối quan hệ của các yếu tố tự nhiên kinh tế - xã hội được thể hiện trên bản đồ.
36
Ví dụ : Dựa vào hình lược đồ kinh tế vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, hãy xác định các thành phố là trung tâm kinh tế của vùng. Giải thích vì sao các thành phố đó được coi là cửa ngõ của Tây Nguyên?
Hình 2.3. Lược đồ kinh tế vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
- Trong phương pháp đàm thoại, giáo viên có khả năng điều khiển có hiệu quả hoạt động tư duy và kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh. Như vậy rõ ràng chúng ta thấy được, sử dụng phương pháp đàm thoài với nhiều loại đàm thoại và nhiều dạng câu hỏi thì đây là phương pháp cơ bản nhất để giáo viên có thể hình thành và phát triển các mức độ năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh từ mức độ thấp tới cao. 2.2.2 Phƣơng pháp nêu vấn đề - Đây là phương pháp dạy học giáo viên sắp xếp bài học thành các vấn đề nêu ra trước học sinh, sau đó kích thích, gợi ý, hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá để giải quyết vấn đề. Trong phương pháp nêu vấn đề, giáo viên không trình bày tri thức theo trình tự làm sẵn, mà có sự sắp xếp tài liệu, để đặt thành những tình huống có vấn đề, những mâu thuẫn kích thích người học phải suy nghĩ, tìm cách giải quyết. Thông qua đó, giúp họ nắm được các biện pháp của hoạt động nhận thức và lĩnh hội tri thức mới. Phương pháp này chủ yếu dung để hình thành và phát triển mức 4 của năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh. [4]
37
Ví dụ : Dựa vào lược đồ tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ, hãy xác định các song Đồng Nai, song Sài Gòn, sông Bé. Giải thích vì sao phải bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn, hạn chế ô nhiễm nước của các dòng sông ở Đông Nam Bộ.
Hình 2.4. Lược đồ tự nhiên vùng Đông Nam Bộ
Hãy dựa vào hình lược đồ kinh tế của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, xác định các bãi tôm, cá. Và giải thích vì sao vùng biển Nam Trung Bộ nổi tiếng về nghề làm muối, đánh bắt và nuôi trồng hải sản? - Sử dụng phương pháp nêu vấn đề này, giáo viên tạo điều kiện cho học sinh có thể phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong phát triển các năng lực cơ bản như năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề và đặc biệt là năng lực sử dụng bản đồ. Nó giúp hình thành và phát triển mức thứ tư trong năng lực sử dụng bản đồ của học sinh. Đồng thời giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức nên kiến thức và năng lực sử dụng bản đồ được hình thành một cách vững chắc, sâu sắc hơn. 2.2.3 Phƣơng pháp thảo luận - Thảo luận là phương pháp giáo viên cấu tạo bài học thành các câu hỏi, các vấn đề nêu ra trước học sinh để nạm đàm, trao đổi, thể hiện những ý kiến của cá nhân hoặc của một nhóm. [4]
38
- Phương pháp thảo luận trong dạy học là một dạng phương pháp hớp tác, các hoạt động của mỗi cá nhân trong lớp được tổ chức phối hợp theo chiều thầy – trò và trò – trò để đạt mục tiêu chung. - Phương pháp thảo luận kết hợp với sử dụng bản đồ rất phổ biến trong chương trình Địa lí 9, đặc trưng của phương pháp này giúp hình thành và phát huy được mức 2 ( Học sinh có năng lực mô tả đặc điểm về sự phân bố, quy mô, tính chất, cấu trúc, động lực của các đối tượng tự nhiên và kinh tê – xã hội trên bản đồ) và mức ba trong năng lực sử dụng bản đồ của học sinh. Ví dụ : Trong bài 23 Vùng Bắc Trung Bộ ở phần II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu các nhóm dựa vào lược đồ tự nhiên của Vùng Bắc Trung Bộ
Hình 2.2 Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ
Giáo viên giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm như sau: + Nhóm 1,2 : Cho biết dải núi Trường Sơn Bắc ảnh hưởng như thế nào đến khí hâu của vùng Bắc Trung Bộ? + Nhóm 3,4: Nhận xét tiềm năng rừng và khoáng sản giữa phía Bắc và phía Nam dãy Hoành Sơn? - Như vậy ta thấy được, phương pháp thảo luận nhóm ở trên lớp này có tác dụng rất tốt trong việc phát huy tích cực, chủ động và sáng tạo của mỗi học sinh. Để từ đó giúp học sinh phát triển được mức hai trong năng lực sử dụng bản đồ của mình. 39
2.2.4 Phƣơng pháp quan sát ngoài thực địa - Quan sát là xem xét các sự vật và hiện tượng địa lí một cách có ý thức, nhằm mục đích tìm hiểu tính chất, đặc điểm của chúng, nắm được những thuộc tính bản chất và xác lập được các mối quan hệ tương hỗ, nhân quả giữa chúng. Vì lẽ đó, quan sát được coi là một phương pháp quan trọng trong việc hình thành các biểu tượng và khái niệm địa lí.[4] - Phương pháp này thì do điều kiện nên ở cấc trường THCS ít sử dụng. Đối tượng để thực quan sát này có thể là các hiên tượng địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội. Phương pháp này giúp cho học sinh vận dụng nhưng kiến thức và năng lực đã có trước đó để phát triển đước mức thứ năm trong năng lực sử dụng bản đồ của học sinh. Ví dụ: Trong một buổi khảo sát thực tế ở vườn quốc gia Bạch Mã nằm trong vùng Bắc Trung Bộ. Giáo viên yêu cầu học sinh: Dựa vào bản đồ giấy của vườn quốc gia Bạch Mã. Các em hãy theo dõi và nhận xét sự thay đổi đặc trưng khí hậu, thời tiết khi đi qua dãy Bạch Mã? - Nhờ có sử dụng phương pháp quan sát thực địa này, giúp học sinh có khả năng tri giác được sự vật, hiện tượng địa lí trên hoàn cảnh tự nhiên vốn có của chúng một cách có mục đích (quan sát sự biến đổi của thời tiết, quan sát quy mô của một nhà máy và quá trình sản xuất….). Việc quan sát trực tiếp học sinh có khả năng phát triển năng lực tư duy và rèn luyện thói quen độc lập, tích cực tìm hiểu những hiện tượng địa lí diễn ra hằng này ở xung quanh và giúp học sinh rèn luyện được nhiều kĩ năng địa lí. Những điều này kết hợp cũng đồng thời giúp học sinh phát triển được mức thứ năm trong năng lực sử dụng bản đồ của mình.
40
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 Từ việc xây dựng các phương pháp sử dụng các loại bản đồ trong dạy học bộ môn Địa lí 9, tôi đã nhận thấy rằng các loại bản đồ như bản đồ treo tường,bản đồ trong sách giáo, khoa được sử dụng sẽ giúp phát triển tối ưu các mức năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh. Từ đó đã phân tích và đưa ra nhưng phương pháp dạy học phù hợp nhất với chương trình môn học và nội dung bài học để giáo viên có thể tiến hành phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong một tiết học. Dựa vào cơ sở lí luận và thực tiễn của chương I và kết hợp với nội dung xây dựng các phương pháp để phù hợp với lí luận dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh lớp 9. Tôi hi vọng khi đưa vào thực nghiệm sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh, đặc biệt là giúp các em hình thành và phát triển năng lực sử dụng bản đồ. Kết quả thực nghiệm sẽ được tôi trình bày cụ thể ở chương 3.
41
Chƣơng III:
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1 Mục đích thực nghiệm sƣ phạm Tổ chức thực nghiệm trong các bài giảng địa lí 9 nhằm làm sáng tỏ lí luận năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh. Kết quả thức nghiệm sẽ là cơ sở khoa học để nhận định sự đúng đắn của đề tài. Thực nghiệm nhằm kiểm tra hiệu quả của quá trình phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong môn Địa lí 9 thông qua các tiết học được thiết kế trong từng bài cụ thể. Qua kết quả thực nghiệm đánh giá được đề tài phù hợp với xu hướng đổi mới định hướng phát triển năng lực nói chung và khả năng nhận thức ,học tập của học sinh trong quá trình phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho mình. Việc dạy học theo các định hướng phát triển năng lực mới là năng lực sử dụng bản cũng dựa trên kiến thức trọng tâm trong một số bài học địa lí lớp 9 so với cách dạy học truyền thống không theo định hướng phát triển năng lực. Những khả năng nhận thức ở đây là giúp học sinh nhận thức phát huy được năng lực sử dụng bản đồ trong học tập bộ môn địa lí một cách đúng đắn nhất. Thực nghiệm giúp chúng tôi hiểu biết hơn về học sinh, trực tiếp là học sinh lớp 9, về năng lực sử dụng bản đồ của các em trong học tập Địa lí. Trên cơ sở đó giúp tôi định hướng được các phương pháp phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh một cách đúng đắn hơn. Kết quả thực nghiệm sẽ là những căn cứ để khẳng định sự cần thiết, đúng đắn của đề tài. 3.2 Nguyên tắc thực nghiệm sƣ phạm - Để đạt được mục đích thực nghiệm sư phạm, trong quá trình tiến hành thực nghiệm, tôi thực nghiệm ở nhiều lớp, các giáo viên khác nhau tại trường THCS Lương Thế Vinh – Tây Sơn. - Kết quả thực nghiệm được đánh giá một cách khách quan, khoa học thông qua các phiếu điều tra của giáo viên, học sinh và thông qua trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh tại các lớp thực nghiệm 3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm sƣ phạm - Giúp học sinh phát triển được năng lực sử dụng bản đồ, một số kĩ năng sử dụng bản đồ có liên quan đến nội dung chương trình Địa lí lớp 9. - Thiết kế một số giáo án cụ thể trong chương trình Địa lí 9 theo định hướng phát triển năng lực sử dụng bản đồ.
42
- Trao đổi với giáo viên giảng dạy bộ môn Địa lí 9 ở các trường thực nghiệm để tổ chức dạy một số bài giảng thiết kế theo hướng phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh. - So sánh, đối chiếu kết quả thực nghiệm giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, từn đó đánh giá sơ bộ hiệu quả việc phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong học tập Địa lí lớp 9. - Thông qua kết quả thực nghiệm sư phạm để rút ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh từ đó đưa ra những giải pháp để thực hiện hiệu quả. 3.4 Tổ chức thực nghiệm 3.4.1 Thời gian thực nghiệm - Các bài thực nghiệm được tiến hành trong thời gian từ tháng 9 -12 năm học 2018 – 2019 3.4.2 Đối tƣợng thực nghiệm - Tổ chức thực nghiệm tại các trường THCS Lương Thế Vinh – Nguyễn Lương Bằng – Tây Sơn và có 5 giáo viên giảng dạy bộ môn Địa Lí 9. Các lớp tiến hành thực nghiệm: Trường THCS Lương Thế Vinh : Lớp 9/2,9/3, 9/5, 9/8 Trường THCS Tây Sơn : Lớp 9/4,9/7, 9/6, 9/9, 3.4.3 Các bài thực nghiệm sƣ phạm Trong chương trình Địa lí lớp 9 (chương trình cơ bản), tôi đã chọn 4 bài để thiết kế bài giảng và dạy thực nghiệm theo dạng bài cơ bản: Bài 23: Vùng Bắc Trung Bộ Bài 25: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Bài 31: Vùng Đông Nam Bộ Các bài thực nghiệm tương ứng với các lớp cụ thể sau: Lớp thực nghiệm Lớp đối chứng 9/2 9/3 9/4 9/7 9/5 9/8 9/6 9/9 Bảng 3.1 Thống kê các lớp tiến hành thực nghiệm và đối chứng - Với mỗi tiết dạy chúng tôi đều chú ý thực hiện: + Dạy theo đúng tiến trình và tinh thần của giáo án, tuyệt đối không đảo lộn thứ tự các tiết học. + Chú ý quan sát, theo dõi, bao quát những cử chỉ, thái độ tâm sinh lý của học sinh để nắm bắt kịp thời các diễn biến điễn ra trong giai đoạn tiếp theo. Bài dạy Bài 23: Vùng Bắc Trung Bộ Bài 25: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Bài 31: Vùng Đông Nam Bộ
43
+ Tạo không khí sư phạm vui vẻ, nhẹ nhàng, tôn trọng, khích lệ động viên kịp thời để học sinh mạnh dạn, hứng thú, tích cực xây dựng bài. - Sau khi đã các bài ở các lớp này, tôi tổ chức cho các em làm bài kiểm tra. Kết quả thu được, tối tiến hành phân tích, đánh giá làm cơ sở để rút ra kết luận cho đề tài. 3.5 Kết quả thực nghiệm 3.5.1 Đánh giá những biểu hiện về thái độ, tính tích cực và tự lực của học sinh trong giờ học Để đánh giá những đặc trưng này, tôi đã căn cứ vào việc quan sát thái độ, hành động và sự hoàn thành nhiệm vụ của các em trong quá trình học tập, cụ thể như sau: Bảng 3.2. Kết quả quan sát các biểu hiện tích cực, tự lực của học sinh. Những dấu hiệu 1. Số HS tập trung chú ý nghe giảng 2. Số HS phát biểu và tự giác tham gia thực hiện các nhiệm vụ 3. Bình quân số lần giơ tay của HS trong tiết học 4. Bình quân số lần HS trả lời đúng những câu hỏi 5. Số HS hiểu và vận dụng tri thức từ bản đồ ngày tại lớp học
Lớp TN 92% 95%
Lớp ĐC 70% 81%
4 8/10
2 4/10
90%
77%
Ở lớp TN: Tôi đã lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học tích cực và thiết yếu nhất (Phương pháp đàm thoại, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm) để phát triển được năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh phù hợp với nội dung của từng tiết học. Cách đặt vấn đề của giáo viên gắn với nội dung hấp dẫn thì thực tế đã cho thấy sự hứng thú của HS trong từng tiết học. - Theo như kết quả quan sát đánh giá đã cho thấy rõ, trong từng tiết học giáo viên dùng các phương pháp theo mức độ từ thấp tới cao sẽ giúp cho học sinh dễ dàng tiếp thu và phát triển được các năng lực sử dụng bản đồ theo mức tăng dần. Học sinh cũng mạnh dạn phát biểu ý kiến và có những câu trả lời đúng nhiều hơn. Ngoài ra, các em cũng hiểu và vận dụng tri thức từ bản đồ để giải quyết các câu hỏi ngay tại lớp đã minh chứng hiệu quả của trong phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh. Có thể nói thông qua các phương pháp đó, học sinh nổ lực tìm tòi, tích cực giải quyết vấn đề bài học, tạo nên một giờ học khá sôi nổi. Ở lớp ĐC: giáo viên sử dụng các phương pháp truyền thống chính như phương pháp thuyết trình trong tiết học . Giáo viên chủ yếu nêu ra câu hỏi rồi giảng giải kiến thức còn học sinh chủ yếu ngồi nghe, nhìn , ghi, chép. Vì vậy không phát huy được tính tích cực và năng lực sử dụng bản đồ của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Đặc biệt trong tiết học, thì không khí giờ học rất trầm, học sinh ít phát biển xây dựng bài ( 44
quá 2/3 thời gian trên lớp thuộc về GV) và một số ít học sinh còn không chép bài và tập trung nghe giảng. 3.5.2 Phân tích, đánh giá qua kết quả kiểm tra - Sau các bài dạy thực nghiệm ở các lớp thực nghiệm và đối chứng, tôi tổ chức cho học sinh làm một bài kiểm tra 15 phút với nội dung cơ bản của ba bài dạy thực nghiệm đề cập đến. Bằng phương pháp toán học tôi đã thu được kết quả như sau: Bảng 3.3 Thống kê số điểm của các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở trường THCS Lương Thế Vinh Tên lớp 9/2 9/3 9/5 9/7 Tổng Cộng
Lớp dạy TN ĐC TN ĐC TN ĐC
Sĩ số 37 39 42 39 79 78
1 0 0 0 0 0 0
2 0 0 0 0 0 0
3 0 0 0 0 0 0
Điểm số 5 6 0 1 1 3 0 2 1 5 0 3 2 8
4 0 0 0 0 0 0
7 8 18 10 16 18 34
8 15 11 16 13 31 24
9 10 6 9 3 19 9
10 3 0 5 0 8 0
Bảng 3.4 Thống kê điểm trung bình cộng các bài kiểm tra của lớp đối chứng và thực nghiệm trường THCS Lương Thế Vinh Lớp dạy
Sĩ số
Điểm trung bình
9/2
TN
37
8.01
9/3
ĐC
39
7.75
9/5
TN
42
7.82
9/7
ĐC
39
7.56
TN
79
7.91
ĐC
78
7.66
Tên lớp
Tổng cộng
45
Bảng 3.5Thống kê số điểm của các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở trường THCS Tây Sơn Tên lớp 9/4 9/7 9/6 9/9 Tổng Cộng
Lớp dạy TN ĐC TN ĐC TN ĐC
Sĩ số 39 40 41 37 80 76
1 0 0 0 0 0 0
2 0 0 0 0 0 0
3 0 0 0 0 0 0
Điểm số 5 6 0 1 1 3 0 2 1 5 0 3 2 8
4 0 0 0 0 0 0
7 15 19 13 16 28 35
8 15 14 15 13 30 27
9 5 3 7 2 12 5
10 3 0 4 0 7 0
Bảng 3.6 Thống kê điểm trung bình cộng các bài kiểm tra của lớp đối chứng và thực nghiệm trường THCS Tây Sơn Sĩ số
Điểm trung bình
9/4
Lớp dạy TN
39
8.00
9/7
ĐC
40
7.55
9/6
TN
41
7.78
9/9
ĐC
37
7.66
TN
80
7.89
ĐC
76
7.60
Tên lớp
Tổng cộng
Qua so sánh kết quả trung bình cộng, bảng thống kê điểm số của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng của hai trường tôi đã nhận thấy sự khác biệt sau: - Số lượng HS đạt điểm khá, giỏi ở các lớp thực nghiệm cao hơn ở các lớp đối chứng, mức chênh lệch khoảng 1.5 đến 2 lần. - Tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình của lớp thực nghiệm thấp hơn lớp đối chứng. - Rõ ràng qua bảng thống kê cho ta thấy chất lượng điểm của lớp thực nghiệm cao hơn với lớp đối chứng. - Kết quả trên đã chứng tỏ việc sử dụng các phương pháp để phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong dạy học Địa lí 9 rất có hiệu quả, học sinh tiếp thu được kiến thức mới. Đồng thời cũng giúp các em phát huy được các mức năng lực sử dụng bản đồ của bản thân. Điều đó cũng đã cho thấy tính khả thi của đề tài.
46
3.6 Những bài học rút ra từ thực nghiệm - Đề tài tuy chưa thực nghiệm được ở nhiều lớp với nhiều trường THCS , song qua điều tra, phỏng vấn một số em học sinh và trao đổi với một số giáo viên môn Địa lí, tôi nhận thấy rằng: Việc sử dụng các phương pháp dạy học để phát triển năng lực sử dụng bản đồ của học sinh lớp 9 đã mang lại nhiều hiệu quả nhất định. Đại đa số học sinh biết xác đinh phương hướng, vị trí của các đối tượng hiện tương địa lí…..từ đó dần hình thành các mức năng lực cao hơn. Và học sinh cũng có hứng thú thú học và tích cực tham gia vào việc học tập, phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh. Để việc phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh có hiệu quả, thì giáo viên cần chuẩn bị các phương pháp linh hoạt phù hợp với nội dung bài học để mang lại những hiệu quả cao nhất.
47
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 Từ kết quả thực nghiệm sư phạm tôi rút ra một số kết luận sau: - Học sinh có khả năng thích ứng khá tốt với việc áp dụng các phương pháp dạy học để phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho các em. - Trên cơ sở thực nghiệm các phương pháp dạy mới và bước lên lớp theo các bài giảng được thiết kế đã tạo cho học sinh sự hào hứng tập trung trong tiết học. Đồng thời học sinh cũng nắm bắt kiến mới, hình thành được các năng lực sử dụng bản đồ vận dụng giải quyết các vấn đề trong nội dung bài học. Góp phần phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh. Để học sinh nhận ra tầm quan trọng của bản đồ trong môn học Địa lí 9. Qua kết quả phân tích thực nghiệm đã khảng định được rằng: Việc tổ chức dạy học theo tiến trình đã soạn thảo phát huy được năng lực sử dụng bản đồ của học sinh và góp phần nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh. Tuy nhiên do điều kiện thời gian nên đối tượng thực nghiệm còn ít vì vậy kết quả của thực nghiệm sư phạm có tính khái quát chưa cao lắm. Tóm lại, mục đích thực nghiệm nêu ra đã được kiểm nghiệm và có tính khả thi .
48
KẾT LUẬN 1. Kết luận 1.1 Những kết quả đạt đƣợc Với đề tài này tôi đã hoàn thành được các công việc sau: - Nghiên cứu được cơ sở lí luận và thực tiển của việc hình pháp triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong dạy học bộ môn Đia lí lớp 9 một cách cụ thể nhất. - Xây dựng được một số phương pháp chủ yếu và tích cực nhất để giúp học sinh có thể hình thành và pháp triển các mức năng lực sử dụng bản đồ của bản thân trong tiết học. - Đã soạn được ba giáo án có kết hợp với các phương pháp dạy học tối ưu nhất để phát huy được từng mức năng lực sử dụng bản đồ cho các em học sinh lớp 9. - Đã tiến hành thực nghiệm thành công trên các lớp được chọn thực nghiệm. - Kết quả thực nghiệm đã cho thấy các tiến trình được xây dựng đều có tính khả thi. Học sinh rất tập trung và hứng thú phát biểu xây dựng bài khá tốt trong tiết học biểu hiện ở việc chúng nắm vững kiến thức và chất lượng học tập của các lớp thực nghiệm cũng có dấu hiệu được nâng lên. Thông qua kết quả kiểm tra học sinh đã cho thấy sự phát triển khá hiệu quả năng lực sử dụng bản đồ của học sinh. 1.2 Những mặt hạn chế - Do thời gian thực nghiệm ít nên chưa đào sâu được về cở sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Từ đó việc đề ra những phương pháp và cách thức để phát triển năng lực sử dụng bản đồ cũng chưa đạt được hiệu quả cao nhất. - Bên cạnh đó, thời gian bị hạn chế nên các đối tượng thực nghiệm ít nên kết quả của quá trình thực nghiệm sư phạm chưa có tính khái quát cao. 2. Kiến nghị - Qua thực nghiệm chúng tôi có một số kiến nghị để việc phát triển năng lực sử dụng bản đồ ở trường THCS ngày càng có hiệu quả cao hơn, đáp ứng được đòi hỏi mới của đổi mới giáo dục toàn diện và sâu sắc: Việc phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong một tiết học cần phải thực hiện một cách tự nhiên hông gò bó, gượng ép và không làm ảnh hưởng đến thời gian, lượng kiến thức trọng tâm cũng như chương trình môn học. Để có thể phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh một cách hiệu quả nhất, mỗi giáo viên cần phải chuẩn bị và lựa chọn các loại bản đồ và phương pháp dạy phù hợp với nội dung bài học. Cần phối hợp với nhiều phương pháp tích cực trong một giờ học để học sinh hứng thú vui vẻ tham gia vào tiết học. Qua đề tài này, tôi cũng mong muốn việc sử dụng các phương pháp thích hợp để phát triển năng lực sử dụng bản đồ cho học sinh trong dạy học bộ môn Địa lí 9 được tiến hành phổ biến hơn. 49
TÀI LIỆU KHAM THẢO [1]. Nguyễn Thị Diệu,Đề cương bài giảng bản đồ học, ĐN, 2003. [2]. Lâm Quang Dốc, Bản đồ học,NXB Đại học Quốc gia, 2005. [3]. Đinh Thị Mỹ Hằng, Vận dụng bảng mô tả năng lực sử dụng bản đồ Địa lí xây dựng hệ thống câu hỏi cho tiến trình dạy học phần 2 – Đia lí 8, Đề tài nghiên cứu khoa học, 2016. [4]. Đậu Thị Hòa, Lý luận dạy học Địa Lí, ĐHSP ĐN, 2013. [5]. Bộ giáo dục và đào tạo, Địa lí 9 (cơ bản), NXB Giáo dục Việt Nam. [6]. https://123doc.org/document/2517654-phuong-phap-su-dung-atlat-dia-li-viet-namtrong-day-hoc-dia-li-12.htm [7].https://text.xemtailieu.com/tai-lieu/hinh-thanh-ki-nang-su-dung-ban-do-cho-hocsinh-trong-day-hoc-dia-ly-lop-11-thpt-50917.html [8].https://text.123doc.org/document/4756714-skkn-phat-trien-nang-luc-su-dung-bando-cho-hoc-sinh-qua-cac-bai-thuc-hanh-dia-li-10-chu-de-dia-li-tu-nhien.htm [9].https://text.123doc.org/document/721529-ren-ki-nang-khai-thac-kien-thuc-tu-bando-luoc-do-dia-li-cho-hs-thcs.htm [10].https://123doc.org/document/719967-mot-so-ky-nang-su-dung-ban-do-trong-dayva-hoc-dia-ly.htm
50
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA (Dành cho giáo viên) Họ và tên:……………………………………………………………………….. Trường:…………………………………………………………………………… … Xin Thầy (Cô) vui long cho ý kiến về tình hình sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí ở trường THCS hiện nay. Với mỗi câu hỏi, hãy tích vào những nội dung mà thầy (cô) cho là đúng trong phiếu dưới đây. Cảm ơn thầy cô đã giúp đỡ! 1. Thầy (cô) có thường sử dụng bản đồ trong dạy học Địa Lí: .Có .Không 2. Thầy (cô) thường sử dụng loại bản đồ nào trong dạy học Địa lí? .Bản đồ trong SGK .Bản đồ GK treo tường .Tập bản đồ bài tập . Atlat Địa Lí Việt Nam 3. Các hình thức Thầy (cô) dùng bản đồ để hình thành và phát triển năng lực sử dụng bản đồ của học sinh trong dạy học Địa Lí: Rất ít 1. Gọi học sinh lên xác đinh các đối tượng trên bản đồ 2. Để học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ để giải quyết các vấn đề giáo viên nêu ra 3. Giao các bài tập về nhà có sử dụng bản đồ
51
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
PHỤ LỤC 2. MỘT SỐ BÀI SOẠN ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ 9 Bài 23: VÙNG BẮC TRUNG BỘ I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Sau bài học, học sinh có khả năng: 1. Kiến thức: - Hiểu được đặc điểm vị trí địa lí, hình dạng lãnh thổ, những điều kiện nhiên và tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm dân cư, xã hội của vùng. - Biết được những khó khăn do thiên tai, hậu quả chiến tranh để lại cần khắc phục và triển vọng phát triển vọng phát triển kinh tế trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 2. Kĩ năng: - Đọc và phân tích lược đồ, bản đồ, bảng số liệu. - Xác định được ranh giới của vùng, vị trí một số tài nguyên quan trọng, phân tích và giải thích được một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội. 3. Thái độ: - Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, long tự hào dân tộc. 4. Định hƣớng phát triển năng lực: - Năng lực giải quyết vấn đề. - Năng lực sử dụng bản đồ. - Năng lực hợp tác. II. PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC - Phương pháp đàm thoại gợi mở. - Phương pháp sử dụng bản đồ. - Phương pháp thảo luận nhóm. III. PHƢƠNG TIỆN DẠY HỌC - Lược đồ tự nhiên của vùng Bắc Trung Bộ. - Một số tranh ảnh vùng Bắc Trung Bộ. - Sách giáo khoa. IV. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY 1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, nề nếp lớp học. 2. Kiểm tra bài cũ: - Việc giảm tỉ lệ gia tang dân số có ảnh hưởng gì đến việc đảm bảo lương thực của vùng Đồng bằng sông Hồng?
52
3. Bài mới: a. Khám phá: - Giáo viên cho học sinh xem những hình ảnh nổi bật của vùng Bắc Trung Bộ, sau đó dẫn dắt vào bài. b. Tiến trình hoạt động: Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung chính HĐ1: Tìm hiểu về vị trí và giới hạn I. Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ - Vùng Bắc Trung Bộ là dải đất hẹp lãnh thổ của vùng. (6 phút) - Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào lược ngang, kéo dài từ dãy Tam Điệp ở phía đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ trả lời các Bắc tới dãy Bạch Mã ở phía Nam. câu hỏi sau: - Phía Tây là dãy núi Trường Sơn Bắc + Xác định ranh giới của vùng Bắc Trung giáp với Lào, phía Đông là biển Đông. Bộ. - Ý nghĩa: là cầu nối giữa miền Bắc và + Xác đinh vị trí địa lí của vùng Bắc miền Nam, cửa ngõ của các nước láng Trung Bộ. giềng ra biển Đông và ngược lại, cửa ngõ + Sau đó nêu ý nghĩa vị trí địa lí đối với hành lang Đông – Tây của tiểu vùng sông sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng? Mê Công. - Học sinh lần lượt trả lời các câu hỏi. GV nhận xét và chuẩn lại kiến thức. HĐ2: Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. (15 phút) - Giáo viên chia lớp thành bốn nhóm, yêu cầu các nhóm dựa vào lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ để hoàn thành các nhiệm vụ sau: + Nhóm 1,2 Cho biết dải núi Trường Sơn Bắc ảnh hưởng như thế nào đến khí hậu Bắc Trung Bộ? + Nhóm 3,4: Nhận xét về tiềm năng tài nguyên rừng và khoáng sản giữa phía Bắc và phía Nam dãy Hoành Sơn? - Các nhóm thảo luận, cử đại diện lên trình bày. GV nhận xét và chuẩn lại kiến thức. - Bằng những kiến thức đã học, hãy nêu các loại thiên tai thường xảy ra ở Bắc Trung Bộ?
II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 1. Điều kiện tự nhiên: - Địa hình: Hầu hết các tỉnh của vùng từ Tây sang Đông đều có núi, gò đồi, đồng bằng, biển và hải đảo. - Khí hậu: có sự phân hóa Đông Tây dải Trường Sơn Bắc, Bắc Nam dải Hoành Sơn, ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam. - Nhiều thiên tai. - Cần trồng và bảo vệ rừng. 2. Tài nguyên thiên nhiên: - Tài nguyên khoáng sản, rừng, biển, du lịch khá phong phú.
HĐ3: Tìm hiểu về đặc điểm về dân cƣ III. Đặc điểm dân cƣ và xã hội 53
và xã hội. (10 phút) - Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào bảng 23.1 và 23.2 trả lời một số câu hỏi sau: + Nêu sự khác biệt về dân cư và hoạt động kinh tế giữa phía Đông và phía Tây của vùng? + Hãy nhận xét sự chệnh lệch các chỉ tiêu của vùng so với cả nước? - Học sinh lần lượt trả lờ các câu hỏi. GV nhận xét và chuẩn lại kiến thức.
- Địa bàn cư trú của 25 dân tộc. - Dân cư dân tộc và hoạt động kinh tế có sự khác biệt giữa phía Đông và phía Tây của vùng. - Thuận lợi: Lao động dồi dào, có truyền thống cần cù, giầu nghị lực và kinh nghiệm đấu tranh với thiên nhiên. - Khó khăn: Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, mức sống chưacao, cơ sở vật chất kĩ thuật còn hạn chế.
V. CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ 1. Củng cố: - Em hãy cho biết điều kiệ của Bắc Trung Bộ có những thuận lợi và khó khăn gì cho sự phát triển kinh tế - xã hội? 2. Dặn dò: - Học bài, trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa. - Xem trước bài 23: Vùng Bắc Trung Bộ (Tiếp theo)
54
ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN BÀI KIỂM TRA THỰC NGHIỆM (15 phút) Đề bài Dựa vào bản đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ trả lời các câu hỏi:
I.Trắc nghiệm (3 điểm) Hãy chọn câu trả lời em cho là đúng nhất: 1. Vùng Bắc Trung Bộ không tiếp giáp với: A. Tây nguyên B. Cộng hòa nhân dân Lào C. Duyên hải Nam Trung Bộ D. Trung du và miền núi Bắc Bộ 2. Trường Sơn Bắc có tác động ra sao đến thiên nhiên vùng núi Bắc Bộ? A. Làm cho vùng có rất ít sông ngòi B. Chắn gió mùa gây ra nhiều thiên tai C. Tạo diện tích đất Bazan rất lớn D. Làm bờ biển kéo dài 3. Núi – gò đồi – đồng bằng – bờ biển phân bố địa hình theo hướng nào của vùng núi bắc Trung Bộ? A. Tây – Đông B. Đông Bắc xuống Tây Nam C. Bắc Nam 55
D. Tây Bắc xuống Đông Nam 4. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh nào? A. Thanh Hóa B. Thừa Thiên Huế C. Quảng Bình D. Quảng Trị II. Tự luận (7 điểm) Hãy xác định vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ của vùng . Nêu ý nghĩa của vị trí địa lí đó đối với sự phát triển kinh tế xã hội của vùng?
56
Đáp án và thang điểm I. Trắc nghiệm : (3 điểm) Cho mỗi ý trả lời đúng 0.75 điểm 1 D
2 B
3 A
4 C
II. Tự luận : 7 điểm Đáp án - Vùng Bắc Trung Bộ là dải đất hẹp ngang, kéo dài từ dãy Tam Điệp ở phía Bắc tới dãy Bạch Mã ở phía Nam. - Phía Tây là dãy núi Trường Sơn Bắc giáp với Lào, phía Đông là biển Đông. - Ý nghĩa: Là cầu nối giữa miền Bắc và miền Nam. Cửa ngõ của các nước láng giềng ra biển Đông và ngược lại. Cửa ngõ hành lang Đông – Tây của tiểu vùng sông Mê Công.
57
Thang điểm 1.5 1.5
1.25 1.25 1.5
Tiết 27: Bài 25: VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ I. MỤC TIÊU BÀI HOC Sau bài học, học sinh có khả năng: 1. Kiến thức: - Nhận biết được vị trị trí địa lí, giới hạn lãnh thổ và nêu ý nghĩa của chúng đối vơi sự phát triển kinh tế - xã hội. - Trình bày những đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của vùng và những thuận lợi khó khăn trong pháp triển kinh tế xã hội. - Trình bày được đặc điểm dân cư, xã hội và những thuận lợi và khó khăn với sự phát triển của vùng. 2. Kĩ năng: - Rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích bản đồ, kĩ năng vận dụng kênh chữ và kênh hình để khai thác kiến thức. 3. Thái độ: - Yêu thiên nhiên quê hương và đất nước. - Giáo dục bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học (Mục II) 4. Định hƣớng phát triển năng lực: - Năng lực sử dụng bản đồ. - Năng lực giải quyết vấn đề. - Năng lực hợp tác. II. PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC - Phương pháp đàm thoại gợi mở. - Phương pháp sử dụng bản đồ. - Phương pháp nêu vấn đề. III. PHƢƠNG TIỆN DẠY HỌC - Lược đồ tự nhiên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. - Một số hình ảnh liên quan về vùng Duyên hải Nam Trung Bộ IV. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY 1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, nề nếp lớp học 2. Kiểm tra bài cũ: 3. Bài mới: a. Khởi động : - Cho học sinh xem một số hình ảnh nổi bật của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, sau đó giáo viên dân dắt vào bài học.
58
b. Tổ chức hoạt động Hoạt động của giáo viên và học sinh HĐ1: Tìm hiểu vị trí và giới hạn lãnh thổ của vùng. (7 phút) - Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào lược đồ tự nhiên của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ , xác định vị trí và giới hạn lãnh thổ của vùng duyên hải Nam Trung Bộ? - Học sinh lên xác đinh trên lược đồ. GV nhận xét và chuẩn kiến thức lại. - Em hãy rút ra ý nghĩa về vị trí địa lí đối với sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội của vùng?
Nội dung chính I. Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ - Là dải đất hẹp ngang , kéo dài từ Đà Nẵng đến Bình Thuậ. - Phía Bắc giáp Bắc Trung Bộ. - Phía Tây Nam giáp Đông Nam Bộ. - Phía Đông giáp biển Đông. - Có nhiều đảo và quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. - Ý nghĩa: Là nhip cầu nối miền Bắc và miền Nam. Là cửa ngõ thông ra biển của vùng Tây Nguyên.
HĐ2: Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. (15 phút) - Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào lược đồ tự nhiên vùng duyên hải Nam Trung Bộ lần lượt trả lời các câu hỏi sau: + Nêu đặc điểm địa hình của vùng duyên hải Nam Trung Bộ? Xác đinh các vũng vịnh, các bãi tắm và điểm du lịch của vùng? + Nêu điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế của vùng duyên hải NTB? Xác đinh một số loại khoáng sản của vùng? + Thực trạng rừng của vùng duyên hải NTN như thế nào? - Học sinh dựa vào lượt đồ lần lươt trả lời các câu hỏi . GV nhận xét và chuẩn lại kiến thức.
II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. - Địa hình + Phía Tây: núi, gò đồi. + Phía Đông: đồng bằng bị chia cắt, bờ biển khúc khuỷu, có nhiều vũng vịnh. - Khí hậu: + Cận xích đạo. + Là vùng khô hạn nhất nước ta. - Khoáng sản: Cát, thủy tinh. Titan, vàng…. - Diện tích rừng còn ít, nguy cơ mở rộng sa mạc lớn. - Có thế mạnh về tài nguyên biển và du lịch. - Cần bảo vệ rừng để chống sa mạc hóa, cát lấn, cát bay.
HĐ3: Tìm hiểu về đặc điểm dân cƣ và xã hội. (9 phút) - Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát vào bảng 25.1 lần lượt trả lời các câu hỏi sau: + Nhận xét sự phân bố dân cư và hoạt động kinh tế của vùng?
III. Đặc điểm dân cƣ – xã hội - Sự phân bố dân cư và hoạt động kinh tế có sự khác biệt giữa phía Đông và phía Tây. - Thuận lợi: Nguồn lao động dồi dào, giàu kinh nghiệm, nhiều điểm du lịch hấp dẫn.
59
+ Nhận xét đặc điểm người dân vùng - Khó khăn: Đời sống nhân dân còn nhiều duyên hải Nam Trung Bộ? khó khăn. - Học sinh trả lời. GV nhận xét và chuẩn lại kiến thức. - Dựa vào lược đồ tự nhiên của vùng duyên hải Nam Trung Bộ, giải thích tại sao du lịch lại là thế mạnh kinh tế của vùng? V. CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ 1. Củng cố: - Dựa vào lược đồ tự nhiên vùng duyên hải Nam Trung Bộ, em hãy chứng minh vùng có điều kiện phát triển du lịch? 2. Dặn dò: - Học thuộc bài. - Xem trước bài 26: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Tiếp theo).
60
ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN BÀI KIỂM TRA THỰC NGHIỆM (15 phút) Đề bài Dựa vào lược đồ tự nhiên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trong Atlat Địa lí Việt Nam trang 28 hãy trả lời các câu hỏi dưới đây: I. Trắc nghiệm (3 điểm) Hãy chọn câu trả lời em cho là đúng nhất: 1. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng lãnh thổ kéo dài từ thành phố Đà Nẵng đến tỉnh nào? A. Bình Thuận B. Khánh Hòa C. Ninh Thuận D. Bà Rịa – Vũng Tàu 2. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ có mấy tỉnh, thành phố? A. 6 B. 7 C. 8 D.9 3. Quần đảo Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh, thành phố nào của nước ta? A. Bình Định B. Đà Nẵng C. Quảng Nam D. Khánh Hòa 4. Các loại khoáng sản chính của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là: A. Sắt, dầu khí B. Titan, than, sắt C. Cát, titan, vàng D. Vàng, than, dầu mỏ II. Tự luận (7 điểm) Tại sao du lịch là thế mạnh kinh tế của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ?
61
Đáp án và thang điểm I. Trắc nghiệm : 3 điểm Cho mỗi ý đúng là 0.75 điểm 1 A
2 C
3 B
4 C
II. Tự luận : 7 điểm Đáp án - Đây là vùng giàu tài nguyên du lịch, có điều kiện phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch tắm biển, nghĩ dưỡng … + Tài nguyên du lịch tự nhiên: Tập trung nhiều bãi biển đẹp của cả nước: Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Đại Lãnh, Cà Ná, Mũi Né…. Có các thắng cảnh nổi tiếng: Bà Nà, Ngũ Hành Sơn, vịnh Nha Trang…. Vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận), khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm. + Tài nguyên du lịch nhân văn: Di tích văn hóa thế giới: Phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn ( Quảng nam). Di tích cách mạng, lễ hộ truyền thống: Ba Tơ (Quảng Ngãi), lễ hội Ka tê (Ninh Thuận)…. Vùng có thời tiết chang hòa quanh năm, nhất là các tỉnh cực Nam của vùng, thuận lợi cho hoạt động du lịch diễn ra quanh năm, rất thích hợp phát triển du lịch biển – đảo. Vị trí nằm trên trục giao thông Bắc – Nam, có các sân bay lớn, thuận lợi thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
62
Thang điểm 1
2
2
1
1
Bài 31: VÙNG ĐÔNG NAM BỘ I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Sau bài học, học sinh có khả năng: 1. Kiến thức: - Nhận biết được vị trí địa lí, giới hạn lãnh thổ và nêu ý nghĩa của chúng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. - Trình bày đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của vùng, những thuận lợi, khó khăn của chúng đối với phát triển kinh tế - xã hội. - Trình bày những đặc điểm dân cư, xã hội của vùng và tác động của chúng tới sự phát triển kinh tế - xã hội. 2. Kĩ năng: - Đọc bảng số liệu, lược đồ để khai thác kiến thức, liên kết các kênh kiến thức. 3. Thái độ: - Có ước mơ xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, ủng hộ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. 4. Định hƣớng phát triển năng lực: - Năng lực giải quyết vấn đề. - Năng lực sử dụng bản đồ. - Năng lực hợp tác. II. PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC - Phương pháp đàm thoại gợi mở. - Phương pháp sử dụng bản đồ. - Phương pháp thảo luận nhóm. III. PHƢƠNG TIỆN DẠY HỌC - Bản đô tự nhiên vùng Đông Nam Bộ - Sách giáo khoa. - Một số hình ảnh liên quan đến vùng Đông Nam Bộ IV. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY 1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, nề nếp lớp học. 2. Kiểm tra bài cũ 3. Bài mới: a. Khám phá: - Đông Nam Bộ có vị trí địa lí như thế nào? Ý nghĩa của vị trí địa lí? Đặc điểm tự nhiên tài nguyên thiên nhiên, dân cư – xã hội có thuận lợi và khó khăn gì cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng, chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay.
63
b. Tiến trình hoạt động: Hoạt động của giáo viên và học sinh HĐ1: Tìm hiểu vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ của vùng. ( 5 phút) - GV yêu cầu HS dựa vào lược đồ tự nhiên vùng Đông Nam Bộ: + Hãy xác đinh ranh giới của vùng Đông Nam Bộ? + Xác đinh vị trí địa lí của vùng? + Từ đó nêu được ý nghĩa của vị trí địa lí đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng? - HS dựa vào lược đồ lần lượt trả lời các câu hỏi. GV nhận xét và chốt lại kiến thức.
Nội dung chính I. Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ - Phía Bắc giáp Tây Nguyên. - Đông bắc giáp duyên hải Nam Trung Bộ. - Phía Đông giáp biển Đông. - Phía Nam giáp đồng bằng sông Cửu Long. - Phía Tây giáp Cam – pu – chia. * Ý nghĩa: nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế giao lưu với các vùng xung quanh và quốc tế.
HĐ2: Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. ( 15 phút) - GV lần lượt đặt một số câu hỏi: + Dựa vào lược đồ tự nhiên vùng Đông Nam Bộ và bảng 31.1, hãy nêu đặc điểm tự nhiên và tiềm năng kinh tế trên đất liền của vùng Đông Nam Bộ? + Dựa vào lược đồ tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ, giải thích vì sao vùng có điều kiện phát triển mạnh kinh tế biển? + Quan sát lược đồ tự nhiên vùng Đông Nam Bộ xác định các sông Đồng nai, Sài Gòn, sông Bé? + Vì sao phải bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn, hạn chế ô nhiểm nước của các sông của vùng? - HS lần lượt trả lời các câu hỏi. GV nhận xét và chuẩn lại kiến thức.
II. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên - Đặc điểm: Độ cao địa hình giảm từ Đông bắc xuống Tây Nam, khí hậu cận xích đạo. - Thuận lợi: Nhiều tài nguyên để phát triển kinh tế: + Đất badan thuận lợi để phát cây công nghiệp. + Tài nguyên biển phong phú: dầu khí ở thềm lục địa, biển nhiều hải sản, du lịch biển. - Khó khăn: trên đất liền ít khoáng sản, diện tích rừng tự nhiên chiếm tỉ lệ thấp, nguy cơ ô nhiểm môi trường.
HĐ3: Tìm hiểu về đặc điểm dân cƣ và xã hội. (7 phút) - GV yêu cầu học sinh dựa vào bảng 31.2 nhận xét tình hình dân cư, xã hội của vùng Đông Nam Bộ so với cả nước?
III.Đặc điểm về dân cƣ, xã hội - Đặc điểm: dân cư khá đông, nguồn lao động dồi dào, lành nghề và năng động trong nền kinh tế thì trường. Tỉ lệ dân thành thị cao nhất cả nước.
64
- HS trả lời giáo viên nhận xét và chốt lại Mức sống của người dân khá cao. kiến thức. - Có nhiều di tích văn hóa có ý nghĩa để phát triển du lịch. V. CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ 1. Củng cố: - Vì sao Đông Nam Bộ có sức thu hút mạnh mẽ đối với lao động cả nước? 2. Dặn dò: - Học bài, làm bài tập sách giáo khoa. - Xem trước bài 32: Vùng Đông Nam Bộ (Tiếp theo)
65
ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN BÀI KIỂM TRA THỰC NGHIỆM (15 phút) Đề bài Dựa vào bản đồ tự nhiên vùng Đông Nam Bộ dưới đây để trả lời các câu hỏi sau:
I. Trắc nghiệm (3 điểm) Hãy chọn câu trả lời em cho là đúng nhất: 1. Tỉnh nào sau đây không thuộc vùng Đông Nam Bộ? A. Bình Phước B. Tây Ninh C. Đồng Nai D. Long An 2. Phía Bắc của vùng Đông Nam Bộ giáp với: A. Biển Đông B. Đồng bằng sông Cửu Long C. Tây Nguyên D. Duyên hải Nam Trung Bộ 3. Ý nghĩa vị trí địa lí của vùng Đông Nam Bộ là: A. Nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế giao lưu với các vùng xung quanh và quốc tế. B. Là cầu nối giữa Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên C. Có tầm quan trọng về quốc phòng đối với cả nước D. Thuận lợi giao lưu kinh tế với vùng Bắc Trung Bộ 4. Loại đất chiếm tỉ lệ lớn nhất của vùng Đông Nam Bộ là: 66
A. Đất cát B. Đất Bazan C. Đất xám D. Đất phù sa. II. Tự luận (7 điểm) Vì sao vùng Đông Nam Bộ có điều kiện phát triển mạnh kinh tế biển?
67
Đáp án và thang điểm I.Trắc nghiệm : 3 điểm Mỗi ý trả lời đúng 0.75 1 2 D C
3 A
4 B
II. Tự luận: 7 điểm Đáp án - Các vùng vịnh nước sâu thuận lợi để xây dựng cảng biển, vùng biển gần các đường hàng hải quốc tế => Phát triển giao thông vận tải biển - Có các bãi tắm đẹp (Vũng Tàu, Long Hải), các đảo ven bờ (Côn Đảo) phát triển du lịch biển – đảo. - Nguồn lợi hải sản phong phú, ngư trường rộng lớn (Bà Rìa – Vũng Tàu), có các bãi cá tôm, các vùng nước mặn nước lợ, rừng ngập mặn ven biển…thuận lợi cho phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. - Giàu tiềm năng dầu khí ở thềm lục địa phía Nam, là tài nguyên khoáng sản vô cùng quan trọng của vùng, phá triển công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí (các mỏ dầu Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bạch Hổ, Đại Hùng, mỏ khí Lan Tây, Lan Đỏ)
68
Thang điểm 1.5 1.5 2
2