Skip to main content

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT BỒI DƯỠNG ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI

Page 1

BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN THPT

vectorstock.com/22575460

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection DẠY KÈM QUY NHƠN LESSON PLAN PHÁT TRIỂN NỘI DUNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT BỒI DƯỠNG ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI 10,11,12 WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM

Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu Người xưa từng khẳng định: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên (Thân Nhân Trung). Tiếp nối truyền thống ấy, ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là mục tiêu quan trọng mà ngành giáo dục hướng tới. Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc được toàn ngành giáo dục quan tâm từ lâu. Ngay trong những năm tháng gian khổ nhất của đất nước khi chưa thống nhất, miền Bắc vẫn tổ chức những kì thi học sinh giỏi. Kể cả khi giặc Mĩ điên cuồng leo thang bắn phá miền Bắc thì bao thế hệ thầy giáo, học sinh mang mũ rơm đi học đường dài vẫn học, vẫn dạy, vẫn thi và đạt giải học sinh giỏi trong nước và quốc tế. Gần đây, Đảng ta có hẳn nghị quyết về giáo dục và đào tạo, bàn về công tác bồi dưỡng nhân tài. Vì vậy, có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác mũi nhọn và trọng tâm của ngành giáo dục. Nó có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, kích thích tinh thần say mê học tập của học sinh, nâng cao chất lượng và khẳng định uy tín của nhà trường, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Ngữ văn là một trong ba môn có tính chất công cụ, bắt buộc trong kì thi Quốc gia nhưng vị trí của nó ngày càng khiêm tốn, học sinh trong nhà trường phổ thông ngày càng mất đi niềm yêu thích văn chương. Học sinh ít theo học, giáo viên bớt mặn mà. Thực tế ấy khiến không ít giáo viên ngán ngẩm cho chuyên ngành đào tạo của mình. Tuy nhiên, hàng năm, Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc đều tổ chức kì thi chọn học sinh giỏi các cấp, trong đó có thi học sinh giỏi THPT nhằm lựa chọn tôn vinh những học sinh có thành tích cao trong những môn học, tiếp tục tham gia kì thi học sinh giỏi quốc gia. Đồng thời, qua kết quả cuộc thi Sở lấy đó làm một kênh thông tin để đánh giá chất lượng giáo dục của mỗi trường học trong phạm vi toàn 1


tỉnh. Vì vậy, trường THPT Tam Đảo vẫn luôn coi công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường. Dạy Văn cho học sinh là một công việc khó, bởi dạy Văn không chỉ dạy đúng, đủ kiến thức cơ bản, đúng trọng tâm mà còn phải dạy hay. Dạy Văn cho học sinh giỏi còn khó hơn nhiều. Dạy Văn tức là dạy cái hay, cái đẹp cho học sinh, dạy cho học sinh không chỉ nghĩa lí của tác phẩm mà còn là con người để mỗi học sinh rung cảm, đồng cảm với từng nhân vật, từng số phận, từng cuộc đời thì thật là một công việc gian lao. Người thầy giáo muốn có một giờ dạy thành công phải lao tâm, khổ tứ từ việc sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, cảm thụ tác phẩm một cách nhuần nhuyễn để khi giảng tác phẩm cho học sinh thầy phải thật thấu đáo, am tường, chuẩn mực… Song điều đó không có nghĩa là thầy giáo hiểu hộ học trò, cảm hộ học trò, tạo cho học trò thói quen ăn sẵn mà mỗi giờ học phải khơi dậy, gợi dậy, làm sống dậy trong lòng học trò sự hứng thú, lôi cuốn kì diệu của văn chương… Mỗi bài dạy là một chinh phục vất vả, đầy mồ hôi và cả nước mắt song cũng thật hạnh phúc. Có người yêu thích bóng đá coi việc dạy Văn như làm huấn luyện viên bóng đá mà mỗi tiết dạy là đứng trước một trận đấu, người giáo viên phải tìm ra đấu pháp như thế nào cho hợp lí để mỗi giờ dạy phải hấp dẫn, lôi cuốn, chinh phục được người học. Dạy Văn đã khó, dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lại càng khó hơn. Đó là một quá trình khó khăn, gian khổ và hết sức công phu. Từ việc trang bị kiến thức có hệ thống đến việc dạy học sinh biết cách cảm thụ, rồi từ những cảm xúc, cảm nghĩ ấy chuyển thành câu thành chữ dưới ngòi bút cho đúng, cho trúng, cho rành mạch và xúc động là cả một quá trình truân chuyên. Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi có chung nỗi niềm với bao giáo viên văn khác, nhưng với lòng yêu nghề, tôi vẫn cố gắng học hỏi, phấn đấu với mong muốn phần nào thay đổi suy nghĩ của xã hội về một môn học đã từng được coi là cực kì quan trọng trong giáo dục nhân cách con người. May mắn cho tôi, trong những năm qua liên tục được nhà trường giao cho dạy ôn thi THPTQG và luyện đội tuyển môn Văn theo khối lớp được phân công giảng dạy. Đó vừa là trách nhiệm, vừa là thử thách lại vừa là cơ hội cho tôi được khám phá 2


sâu kiến thức bộ môn. Mặc dù tôi đã tham khảo nhiều sách báo, tìm kiếm trên mạng Internet những kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi quí báu của đồng nghiệp ở trong và ngoài tỉnh nhưng nhìn chung chưa thấy có nhiều chuyên đề trình bày đầy đủ, kĩ lưỡng và có hệ thống về vấn đề này. Với sự phấn đấu, học hỏi, rút kinh nghiệm qua những tiết dạy, lắng nghe những lời chỉ bảo quí báu của các thầy, cô có nhiều năm công tác đứng lớp; cùng với việc cọ sát trong thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở tại nhà trường qua một số năm học, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn ở trường THPT, mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục. 2. Tên sáng kiến: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT 3. Tác giả sáng kiến - Họ và tên: ………… 4. Chủ đầu tư sáng kiến: …………….. 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Theo tôi, sáng kiến có thể áp dụng trong việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Văn ở khối THPT. Trong đề tài này, tôi hướng tới việc nghiên cứu trong diện hẹp từ yêu cầu đối với giáo viên và học sinh trong việc dạy đội tuyển và học đội tuyển môn Văn ở trường THPT đến quá trình thăm dò, phát hiện và cách thức dạy học, bồi dưỡng nhân tố. Thực hiện đề tài này, tôi mong muốn được chia sẻ, học tập, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và hiệu quả học tập của học sinh nói chung, góp phần nâng cao chất lượng của đội tuyển học sinh giỏi Văn của nhà trường nói riêng. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử Sáng kiến kinh nghiệm được tôi nghiên cứu, dạy thử nghiệm đội tuyển học sinh giỏi khối 12 trong năm học 2016-2017. Sau đó, tiếp tục rút kinh nghiệm, dạy 3


thử nghiệm đội tuyển học sinh giỏi khối 10 trong năm học 2017-2018; đội tuyển học sinh giỏi khối 11 trong năm học 2018-2019 và thu được kết quả khả quan. 7. Mô tả bản chất của sáng kiến 7.1. Đánh giá thực trạng của đề tài khi áp dụng và thử nghiệm 7.1.1. Đánh giá thực trạng của đề tài trước khi áp dụng sáng kiến 7.1.1.1. Thực trạng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi - Văn học là một loại hình nghệ thuật phản ánh đời sống bằng hình tượng thông qua một chất liệu đặc biệt là ngôn ngữ nghệ thuật. Bằng ngôn ngữ, tác phẩm văn học có khả năng tái hiện cụ thể, sinh động, gợi cảm hiện thực khách quan, giúp nhận thức cuộc sống, đưa đến những suy tưởng sâu lắng, trong tâm hồn, tình cảm để cuộc sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. - Nhìn chung, học sinh THPT đã có khả năng độc lập, tích cực trong học Văn nhưng năng lực và hứng thú cá nhân chưa bền vững. Những phẩm chất tư duy như ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng… đã phát triển nhưng rất cần các phương pháp hỗ trợ, kích thích của giáo viên mới trở nên bền vững và ổn định. Do vậy, trong quá trình bồi dưỡng học sinh cần có những biện pháp cụ thể, thiết thực, có khả năng khả thi giúp học sinh có hứng thú học tập bộ môn. Từ đó, nâng cao năng lực cảm thụ văn, biết cách trình bày những suy nghĩ, cảm nhận về một vấn đề văn học một cách khoa học. - Thực tế, ở trường THPT Tam Đảo việc bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Văn cũng nằm trong tình trạng chung, phổ biến: Học sinh tiếp nhận và cảm thụ kiến thức văn học qua khâu trung gian là giáo viên. Do trình độ học sinh còn hạn chế, sách tham khảo còn thiếu; chất lượng chưa cao, giáo viên phần nhiều còn non trẻ. Vì vậy, chất lượng học sinh qua các kì thi học sinh giỏi môn Văn chưa đạt được yêu cầu mong muốn. 7.1.1.2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài - Bản thân tôi giảng dạy môn Ngữ Văn tại trường THPT Tam Đảo từ năm 2000, đến năm 2001 bắt đầu được giao bồi dưỡng đội tuyển học sinh liên tục cho đến nay. Tôi đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả bồi dưỡng chưa cao. 4


7.1.2. Nguyên nhân 7.1.2.1. Chủ quan - Giáo viên chưa có kinh nghiệm trong bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi. - Học sinh chưa có tinh thần học tập, chưa có sự đam mê và sự quan tâm đối với môn Ngữ Văn (Do xu hướng lựa chọn nghề nghiệp, điều kiện và cơ hội việc làm rất khó với những ngành có môn văn). 7.1.2.2. Khách quan - Chất lượng đầu vào (Lớp 10) rất thấp dẫn tới chất lượng đội tuyển không đồng đều. Quan niệm của xã hội nói chung về môn Văn ảnh hưởng tới việc lựa chọn và thành lập đội tuyển. Nhiều học sinh giỏi toàn diện vẫn có ý thức coi nhẹ môn Văn, không được chọn vào đội tuyển các môn tự nhiên, môn Ngoại ngữ mới chịu vào đội tuyển Văn. Nhiều em có năng khiếu bộ môn nhưng lại gặp sự phản đối từ gia đình. - Các phương pháp học tập của HS chưa tốt, học không có kế hoạch, không có phương pháp, chưa biết phương pháp tự học theo hướng tích cực, thụ động trong quá trình học, quen nghe, ghi chép những gì giáo viên nói, ít có nhu cầu tự bộc lộ sự hiểu biết, cảm nhận văn học qua ngôn ngữ nói, viết của mình, học sinh còn khá nhiều hạn chế về năng lực học tập trong môn học ngữ văn. Cụ thể, các em còn thụ động trong quá trình học tập. Chỉ khi nào giáo viên yêu cầu phát biểu thì các em mới dám nói. - Tài liêu, sách báo tham khảo ở thư viện còn hạn chế, chưa có đủ để giáo viên và học sinh tham khảo, nghiên cứu. - Thời gian bồi dưỡng ngắn (nhất là Lớp 12), áp lực trong việc phải có nhiều giải và giải cao. 7.2. Những giải pháp đã áp dụng 7.2.1. Phát hiện và tuyển chọn những học sinh có năng khiếu bộ môn - Đây là bước quan trọng trước khi bắt đầu ôn luyện bồi dưỡng. Bởi vì, có lựa chọn kĩ lưỡng, đúng khả năng, phát hiện tố chất văn chương của các em thì mới hiệu quả trong công tác bồi dưỡng. Trong khi theo xu thế thời đại, các em ngại học 5


văn, người dạy đội tuyển còn phải vừa dạy vừa “dỗ” rất vất vả. Nhưng giáo viên hãy coi đó là thử thách, vượt qua được sẽ đến thành công. - Trước khi thành lập đội tuyển tôi rất quan tâm tới đối tượng học sinh, tìm hiểu tố chất, năng lực lĩnh hội kiến thức cũng như tâm lý, nhu cầu, động cơ học tập của các em để đo mức độ hứng thú và say mê học tập. Trên cơ sở đó, kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng và ý thức học tập của các em; khích lệ, động viên kịp thời; tránh để các em căng thẳng, mệt mỏi. Kinh nghiệm cho thấy: tiến hành hoạt động dạy học trên đối tượng học sinh không có tố chất đã khó nhưng càng khó hơn nếu các em không có tinh thần say mê học tập bộ môn. Với các đối tượng như vậy, thường rất khó, khó đến mức không thể khơi dậy ý chí, quyết tâm và hứng thú trong học tập cho các em. - Yếu tố học trò xuất sắc được hiểu là có tố chất học tập và nghiên cứu môn học, có tinh thần say mê, ham học hỏi, có khả năng biến quá trình được thầy cô đào tạo thành quá trình tự đào tạo, và đặc biệt phải có khả năng và phương pháp tự học. Cốt lõi trong vấn đề này là đãi cát tìm vàng. Nếu không cố gắng, tâm huyết với công việc thì khó có thể phát hiện được học sinh có tố chất xuất sắc, không phát hiện được học sinh có tố chất xuất sắc thì việc bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ rất gian nan. - Để có được những học sinh giỏi văn trong đội tuyển của nhà trường, ngay từ đầu lớp 10, tôi chú ý đến những em có điềm thi vào đầu cấp từ 8 điểm trở lên. Sau đó theo dõi quá trình học tập của các em qua các điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, qua kết quả thi tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi của nhà trường. - Tiếp đó, tôi chủ động sắp xếp thời gian gặp gỡ các em được chọn, tìm hiểu quan điểm cũng như cách học, cách tiếp nhận bộ môn Văn trong quá trình học tập, tìm hiểu hướng đi tương lai của các em, nhất là việc chọn khối thi vào các trường đại học sau này. Từ đó, chỉ thu nhận những em học sinh có niềm đam mê, thích thú với bộ môn Văn, kiên quyết không đưa vào đội tuyển những em học sinh có cái nhìn lệch lạc về môn Văn hoặc chán học môn Văn, cho dù đôi khi cái chán của học sinh bắt nguồn từ giáo viên dạy trên lớp. Không chọn những học sinh thi khối A, B mà chỉ chọn những học sinh có nguyện vọng thi vào khối C, D. Đặc biệt, chỉ 6


những em tự nguyện tham gia mới được đưa vào danh sách đội tuyển chính thức của trường, không chú ý số lượng, chỉ chú trọng chất lượng. Từ đó, trao đổi với các em được chọn về việc thành lập đội tuyển học sinh giỏi Văn để các em biết thuận lợi và khó khăn trong quá trình tham gia đội tuyển. - Bằng việc làm này, hằng năm tôi đã lựa chọn được một số học sinh có tố chất, yêu thích môn Văn…để chuẩn bị cho việc thành lập đội tuyển chính thức. 7.2.2 . Lập kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển - Cùng với việc thành lập đội tuyển, tôi lập kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển và dự kiến người dạy hỗ trợ với mình để trình tổ trưởng chuyên môn và Ban giám hiệu xét duyệt. Phẩm chất, uy tín, năng lực của người giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập và rèn luyện của học sinh. Thầy cô là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong việc bồi dưỡng năng lực học tập, truyền sự hứng thú, niềm say mê môn học cho các em. Để dạy được học sinh có phương pháp và khả năng tự học thì bản thân thầy cô cũng phải tự đào tạo, cố gắng hoàn thiện về phẩm chất và năng lực chuyên môn, tâm huyết với công việc, yêu thương học trò, giúp đỡ đồng nghiệp. Để đạt hiệu quả như mong muốn, người thầy phải không ngừng rèn luyện để trở thành thầy giỏi ở góc độ tâm huyết và năng lực, ở sự am hiểu về đối tượng học trò và kiến thức chuyên sâu, ở phương pháp truyền đạt khoa học, sáng tạo và logic. Các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại phải được sử dụng linh hoạt và nhuần nhuyễn, phải nhằm vào việc phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu của học trò, tích cực trong lĩnh hội kiến thức. Nếu coi đây chỉ là vấn đề lí thuyết sẽ không thành công. Giáo viên phải rất cố gắng và nghiêm túc với chính mình trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có khâu chuẩn bị, thiết kế bài giảng. - Để thực hiện được quá trình nêu trên rất cần các giáo viên tham gia dạy đội tuyển phải có khả năng soạn, dạy chuyên đề sâu. Đội ngũ này cần có sự đồng bộ nhất định về chuyên môn khi tiến hành bồi dưỡng, tôi phân công cụ thể, rõ ràng chuyên đề để khả năng và thế mạnh của từng giáo viên đều được phát huy. - Trong kế hoạch, tôi dự kiến tên các chuyên đề cần ôn luyện, số tiết cho từng chuyên đề, thời gian thực hiện, giáo viên thực hiện, thời gian kiểm tra chất 7


lượng…Điều này tạo sự chủ động trong công tác bồi dưỡng, không gặp phải tình trạng dạy chồng chéo hay nhồi nhét học sinh vào giai đoạn cuối mà bỏ thời gian chết trong giai đoạn đầu như các năm trước đó. 7.2.3. Dạy học – Bồi dưỡng 7.2.3.1. Cung cấp kiến thức cơ bản qua một số chuyên đề quan trọng gắn với chương trình thi - Đối với bồi dưỡng học sinh giỏi, việc dạy bồi dưỡng theo các chuyên đề là điều cần thiết và nên làm nhiều nhất để cung cấp kiến thức cho học sinh đồng thời giúp các em rèn luyện kĩ năng làm bài tốt hơn. - Qua theo dõi cách ra đề của Sở trong những năm gần đây, tôi nhận thấy cấu trúc đề thường là 02 câu, gồm hai phần là nghị luận xã hội và nghị luận văn học, trong đó nghị luận văn học chiếm 2/3 số điểm của đề bài. Vì vậy, trong những năm qua tôi đã biên soạn và dạy cho học sinh một số chuyên đề chính cho ba khối lớp như sau: ( Tùy theo khối lớp được phân công giảng dạy để chọn chuyên đề bồi dưỡng) 1. Kĩ năng làm văn nghị luận xã hội 2. Kĩ năng làm văn nghị luận văn học 3. Lí luận văn học 4. Văn học dân gian Việt Nam 5. Văn học trung đại Việt Nam 6. Thơ mới 1930-1945 7. Văn xuôi lãng mạn 1930-1945 8. Văn xuôi hiện thực 1930-1945 9. Thơ cách mạng trước 1945 10. Thơ ca kháng chiến chống Pháp 11. Thơ ca kháng chiến chống Mĩ 12. Văn xuôi cách mạng 1945-1975 13. Thơ văn sau 1975 14. Kịch 8


- Với các chuyên đề trên, trong từng tiết dạy tôi lại chia nhỏ từng vấn đề cụ thể để học sinh dễ nắm bắt. Biết rằng phương pháp để tiếp nhận và tìm hiểu văn học vô cùng phong phú, khó có thể nói hết được, mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn học đều có góc nhìn và cảm nhận riêng. Song trong khuôn khổ của sáng kiến này, tôi xin trao đổi một vài kinh nghiệm trong một số chuyên đề: * Chuyên đề kĩ năng làm văn nghị luận xã hội Khi dạy chuyên đề kĩ năng làm văn nghị luận xã hội tôi chia nhỏ làm hai dạng đề chính là nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống. Ngoài ra, hướng dẫn học sinh tập luyện thêm dạng đề nghị luận một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học hoặc trong các câu chuyện ngụ ngôn. Với mỗi dạng, tôi lần lượt cho học sinh ôn lại khái niệm, dàn ý chung gắn với bố cục của bài làm, giới thiệu một số dạng đề, yêu cầu học sinh xác định yêu cầu của đề, lập dàn ý rồi sau đó giáo viên củng cố lại. Cuối cùng giao bài tập cho học sinh về nhà làm. Ví dụ khi dạy về kĩ năng làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, trước tiên tôi cho học sinh ôn lại để nắm vững khái niệm về hiện tượng đời sống. Dạng này có cả hiện tượng tích cực và hiện tượng tiêu cực, có thể chú ý một số vấn đề lớn như: - Ô nhiễm môi trường - An toàn giao thông - Bạo lực học đường, bạo lực gia đình. - Tiêu cực trong thi cử - Chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật - Bệnh vô cảm - Tấm gương người tốt việc tốt - Hiến máu nhân đạo - Tiếp sức mùa thi …. Sau đó tôi nhắc lại dàn ý chung của kiểu bài này, cụ thể gồm các bước + Mô tả thực trạng (có thể giải thích nếu cần) 9


+ Bàn luận về nguyên nhân, hậu quả, giải pháp (Phân tích, ca ngợi những mặt đúng, phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch) + Rút ra bài học nhận thức và hành động. - Giới thiệu một số dạng đề thường gặp cho học sinh tập viết, ôn luyện. Đề 1 Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng sau: “Mới đây, dư luận lại xôn xao về một cô thiếu nữ có “khuôn mặt ưa nhìn” đã phô ra trên Facebook cả một loạt ảnh ngồi ghếch chân trên bia mộ liệt sĩ...” (Theo Nỗi sợ hãi không muốn “học làm người” - Mục Góc nhìn của nhà thơ Trần Đăng Khoa - Tuổi trẻ và đời sống, số 152 ngày 14/1/2013). * Phân tích đề - Yêu cầu về nội dung: Bàn về hiện tượng một thiếu nữ...cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Đây là hiện tượng thể hiện hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. - Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận. - Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Đời sống xã hội. * Lập dàn ý a. Mở bài Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận. b. Thân bài - Giải thích hiện tượng Hiện tượng cô gái xinh đẹp ngồi ghếch chân lên bia mộ liệt sĩ thể hiện hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. - Bàn luận hiện tượng + Thực trạng: Hiện nay tình trạng một bộ phận thanh, thiếu niên có suy nghĩ và hành động lệch lạc, có hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống đạo lí… không ít (dẫn chứng cụ thể từ đời sống, lấy thông tin trên các phương tiện truyền thông). 10


- Nguyên nhân: + Khách quan: thiếu vắng mối quan tâm, sự giáo dục của gia đình và nhà trường. Những ảnh hưởng của phim ảnh, intrernet, sự tràn lan của lối sống cá nhân thích làm nổi, thích gây sốc để nhiều người biết đến… + Chủ quan: Nhiều thanh thiếu niên tuy được sinh ra và lớn lên ở môi trường giáo dục tốt nhưng lại có suy nghĩ và hành động lệch lạc, bởi họ không có ý thức hoàn thiện mình cũng như tự bồi đắp tâm hồn mình bằng những cách cư xử có văn hóa. - Hậu quả của hiện tượng: + Gây xôn xao, bất bình trong dư luận, làm tổn thương, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo lí tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”..., tác động không tốt đến giới trẻ. + Bản thân người trong cuộc phải gánh chịu những lên án, bất bình của dư luận xã hội... - Giải pháp khắc phục: + Nâng cao nhận thức ở giới trẻ: nhà trường và đoàn thanh niên cần thường xuyên tổ chức các diễn đàn để tuyên truyền, giáo dục thanh niên về lối sống đẹp và giữ gìn truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. + Những hình ảnh phản cảm trên cần được dư luận phê phán quyết liệt, gia đình và nhà trường phải nghiêm khắc, nhắc nhở. - Rút ra bài học nhận thức và hành động. c. Kết bài Bày tỏ ý kiến riêng về hiện tượng xã hội vừa nghị luận. - Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trau dồi nhân cách, bồi đắp những giá trị đạo đức, văn hóa, đặc biệt là đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”. - Kiên quyết lên án và ngăn chặn những biểu hiện của lối sống vô cảm, thiếu văn hóa để xã hội lành mạnh, tiến bộ hơn. Đề 2 Trong bài nghị luận về vấn đề “Học phương pháp học”, một học sinh lớp 12 đã viết: “Em sẽ cố gắng thay đổi cách học bài, dù có pùn ngủ mún chit cũng phải giải quyết hết bài tập...”. Một học sinh khác gửi email cho cô giáo: “Cô ơi, dạo này 11


em có nhìu chiện rắc rối xảy ra wa’ nên giờ em hết tự tin giải quyết như hồi trước rồi! đời hs có thật là lắm vui buồn ko cô? hồi trước cô có giống tụi em bi h ko? em thấy xh càng phát triển thì sự hỉu bik của con người cũng tăng lên. Tuổi còn nhỏ nhưng đã hỉu quá nhìu điều vượt ngoài lứa tuổi. h thì các bạn em và ngay cả em cũng đang gặp rắc rối với chính suy nghĩ của mình...”. Từ ví dụ trên ,anh/ chị có suy nghĩ gì về cách sử dụng tiếng lóng hay còn gọi là “ngôn ngữ chát”, “ngôn ngữ mạng” của giới trẻ hiện nay? * Phân tích đề - Yêu cầu về nội dung: Bàn về thói quen sử dụng tiếng lóng trên mạng, còn gọi là “ngôn ngữ chat”, “ngôn ngữ SMS”, “ngôn ngữ @”,… - Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận. - Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Đời sống xã hội. * Lập dàn ý a. Mở bài Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận. b. Thân bài - Giải thích hiện tượng + Tiếng lóng trên mạng, ngôn ngữ chat, ngôn ngữ SMS, ngôn ngữ @.... là tên gọi chung của hình thức chữ viết không theo chuẩn tiếng Việt mà giới trẻ đang sử dụng trên mạng thông qua máy vi tính hoặc điện thoại di động. + Đây là hình thức ngôn ngữ được giới trẻ sáng tạo ra một cách tùy tiện. - Phân tích, chứng minh hiện tượng: + Thực trạng : Lúc đầu xuất hiện trên mạng trên điện thoại, chat trên máy tính, nay lan dần sang các lĩnh vực khác như nói, viết các loại văn bản khác nhau trong sinh hoạt và học tập. Lớp trẻ mắc phải nhiều nhất. Nguy hiểm hơn, căn bệnh này là căn bệnh mới trong học đường và lây lan rất mạnh. Nhiều thầy cô, nhiều phụ huynh, nhiều Sở giáo dục đã lên tiếng về việc này trên các phương tiện thông tin.. 12


Hiện tượng này lan dần theo thời gian. Đến nay, trở thành một thói quen trong một bộ phận không nhỏ của lớp trẻ hiện nay. - Nguyên nhân của hiện tượng trên + Do tiết kiệm thời gian khi “chat” mạng + Do tuổi trẻ nhạy bén với cái mới và muốn có một thế giới riêng, hoặc muốn tự khẳng định mình hoặc nũng nịu với bạn bè và người thân cho vui. + Do tuổi trẻ vô tư, vô tình không thấy hết tác hại của hiện tượng trên… + Do giới trẻ không được nhắc nhở kịp thời. - Hậu quả của hiện tượng trên: + Tạo nên một thói quen nói và viết chệch chuẩn, làm mất đi sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, hủy hoại giá trị truyền thống. + Ảnh hưởng đến tư duy, ảnh hưởng đến tâm lí của lớp trẻ. Đó là thói xấu nói năng, tư duy một cách tùy tiện, cẩu thả… - Cách khắc phục hiện tượng trên + Giải thích thuyết phục lớp trẻ thấy được rằng sự vô tình của mình có thể gây nên một tác hại khó lường. + Giáo dục giới trẻ biết chọn lọc hiện tượng này và sử dụng đúng lúc đúng chỗ không được sử dụng tràn lan trong sinh hoạt và học tập. - Rút ra bài học nhận thức và hành động. c. Kết bài - Không đồng tình với những hành vi trên. - Cẩn thận trọng khi tiếp xúc với những hiện tượng mới phát sinh trong cuộc sống hiện đại. Nhất là khi những hiện tượng này mâu thuẫn với những giá trị truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời. - Vì vậy, yêu cầu phải có cách ứng xử phù hợp với tính chất của từng hiện tượng để tiếp thu những cái mới mẻ, nhưng cũng không hủy hoại những giá trị truyền thống. - Ở dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Đây là dạng đề rất mới. Dạng đề này vừa rèn luyện đồng thời năng lực đọc hiểu văn bản văn học vừa rèn luyện năng lực làm văn nghị luận xã hội. Đặc điểm 13


của dạng đề này là dựa vào những vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học rồi phát biểu, bàn luận về ý nghĩa của vấn đề đó. Vấn đề có ý nghĩa xã hội có thể lấy ở hai nguồn, đó là trong tác phẩm văn học đã được học trong chương trình hoặc từ một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà chúng ta chưa được học. Nhiều học sinh đã nhầm dạng đề này là đề nghị luận văn học vì đề thực tế có liên quan đến tác phẩm văn học, xuất phát từ tác phẩm văn học. Tuy nhiên tác phẩm văn học trong dạng đề này chỉ là cái cớ, khởi đầu còn mục đích chính ở đây là yêu cầu người viết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí nhân sinh, nghĩa là nhân vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học mà bàn luận, kiến giải. Trong trường hợp này tác phẩm văn học chỉ được khai thác về giá trị nội dung, tư tưởng để rồi rút ra ý nghĩa xã hội có tính khái quát của tác phẩm.Tác phẩm nào cũng có ý nghĩa xã hội nhất định, điều quan trọng là vấn đề xã hội đó phải có tính thời sự, tính giáo dục sâu sắc, phải phù hợp với tâm lí tuổi trẻ học đường. Khi hướng dẫn học sinh làm kiểu bài này, tôi lưu ý học sinh chú ý kĩ các bước làm bài trong phần thân bài để tránh sự nhầm lẫn + Phần một: Phân tích văn bản văn học (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện) + Phần hai (trọng tâm): Phát biểu những suy nghĩa của bản thân về vấn đề xã hội có ý nghĩa trong tác phẩm đó. Lưu ý: Khi từ “phần phụ” chuyển sang “phần trọng tâm” cần phải có những câu văn “chuyển ý” thật ấn tượng và phù hợp để bài làm được logic, mạch lạc, chặt chẽ. MỘT SỐ ĐỀ MINH HỌA Đề 1 Những vết đinh Một cậu bé rất thông minh nhưng ngặt một nỗi cậu rất nóng tính và hay cáu gắt với mọi người. Một hôm cha cậu gọi cậu đến và đưa cho cậu một gói đinh và bảo rằng: “Mỗi khi con sắp nổi nóng lên hay sắp cáu gắt với mọi người thì con hãy lấy một cây đinh mà đóng lên bức tường rào gỗ kia”. Nghe lời bố, cậu bé mỗi khi sắp cãi nhau với một ai đó thì cậu lấy một chiếc đinh đóng vào hàng rào. Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 27 chiếc đinh. Nhưng vài tuần sau cậu bé đã tập kiềm 14


chế cơn giận của mình và số lượng đinh mà cậu đóng lên hàng rào ngày càng ít đi. Cậu đã nhận ra rằng kiềm chế cơn giận của mình còn dễ hơn là phải đóng những chiếc đinh lên hàng rào. Rồi đến một hôm, cậu cũng đã không nổi giận một lần nào trong suốt một ngày. Cậu bé vui mừng đến thưa với bố, người bố chỉ mỉm cười và nói: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào”. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé hãnh diện tìm cha mình và báo rằng không còn một cây đinh nào trên hàng rào nữa. Khi đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào. Hàng rào đã không còn như xưa nữa. Nếu con làm điều gì trong giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng người khác. Cho dù sau đó con có xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó cũng mãi còn. Con hãy luôn nhớ: vết thương tinh thần còn đau đớn hơn vết thương thể xác. Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quý. Họ giúp con cười và giúp con mọi chuyện. Họ nghe con than thở khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con. Hãy nhớ lấy lời cha”. Suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của câu chuyện trên. * Phân tích đề - Yêu cầu về nội dung: Qua câu chuyện Những vết đinh, rút ra bài học có ý nghĩa: Hãy luôn biết kiềm chế bản thân bởi hành động hay lời nói trong lúc nóng giận rất dễ sẽ làm tổn thương người khác. - Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận. - Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Đời sống xã hội. * Lập dàn ý a. Mở bài Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận. b. Thân bài - Phần một: Phân tích ngắn gọn nội dung câu chuyện để rút ra ý nghĩa của vấn đề: 15


+ Khi nổi nóng cậu bé đóng một cây đinh lên hàng rào => Cậu bé đã biết tự kiềm chế những nhược điểm của mình. + Khi không còn nóng giận nữa, tự nhổ những chiếc đinh ra khỏi hàng rào nghĩa là cậu bé sửa chữa được những khuyết điểm của bản thân. + Tuy nhiên những lỗ đinh thì mãi vẫn còn in dấu trên hàng dào không bao giờ xoá được, chính là những vết thương tinh thần khó lành trong lòng người khác do lỗi nóng giận của ta gây lên. => Bài học rút ra từ câu chuyện: Hãy luôn biết kiềm chế bản thân bởi hành động hay lời nói trong lúc nóng giận rất dễ sẽ làm tổn thương người khác. - Phần hai: Phát biểu những suy nghĩa của bản thân về vấn đề xã hội có ý nghĩa trong tác phẩm đó. Câu chuyện tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, bởi: + Trong cuộc sống hàng ngày, trong những lúc giận dữ, ta thường không kiểm soát được bản thân do đó dẫn đến có những hành động và lời nói thái quá xúc phạm đến thể và tinh thần người khác. + Vết thương tinh thần nhiều khi còn đau hơn vết thương về thể xác. Những người xung ta, bạn bè ta là những gì vô cùng quý giá đừng làm tổn thương họ vì sự thiếu kiềm chế của bản thân mình. Trong ứng xử giao tiếp với mọi người khi mắc khuyết điểm hãy biết nhận lỗi và cần phải biết sửa lỗi. + Không phải vì thế mà luôn phạm phải sai lầm mà phải biết kiềm chế bản thân để tránh làm tổn thương người khác. Bởi một khi đã làm tổn thương tinh thần người khác khó có thể hàn gắn được mối quan hệ cũng như bát nước hắt đi khó có thể lấy lại cho đầy. Cho nên ông cha ta cũng đã khuyên “Một sự nhịn là chín sự lành”. + Tuy nhiên kiềm chế bản thân cũng không phải dễ dàng cho nên phải kiên trì rèn luyện. Trong quan hệ ứng xử với mọi người, mọi lúc, mọi nơi, từ việc lớn đến việc nhỏ phải luôn biết vượt lên khỏi cái tôi cá nhân, lắng nghe và tôn trọng người khác. Đây chính là biểu hiện của một lối sống văn minh, lối sống mang ý nghĩa nhân văn tốt đẹp. c. Kết bài Rút ra bài học và liên hệ với bản thân. 16


Đề 2 Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, tác giả Lưu Quang Vũ đã để nhân vật Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình là: “Không thể bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo được”. * Phân tích đề - Yêu cầu về nội dung: Qua vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, rút ra bài học con người cần phải có sự hài hòa về hình thức bên ngoài và tâm hồn bên trong. Không thể bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo được. - Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận. - Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Đời sống xã hội. * Lập dàn ý a. Mở bài - Cuộc sống thật phong phú, đa dạng, phức tạp, chúng ta luôn tự hỏi: Sống thế nào cho đúng? Làm thế nào để có một cuộc sống đẹp? Hãy sống là chính mình, trung thực, chân thật, thẳng thắn, không giả dối và giàu lòng nhân ái. - Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, Lưu Quang đã để nhân vật Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình: “Không thể bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo được”. b. Thân bài * Giải thích ý nghĩa câu nói: - Bên trong: Là thế giới nội tâm của con người (gồm nhận thức, tư tưởng, khát vọng). Đây là phần làm nên ý thức, chất người cao quý trong con người. Nếu thế giới bên trong đạt được sự toàn vẹn, hoàn thiện, con người sẽ có được những phẩm chất tốt đẹp, quý giá, sống một đời sống tinh thần phong phú, sâu sắc. Đây là phần mà người ta không nhìn thấy được mà chỉ có thể cảm nhận qua tiếp xúc, tìm hiểu và gắn bó. - Bên ngoài: là cái có thể quan sát, nhận biết bằng thị giác (gồm hình thức, hành vi, lời nói, việc làm).

17


- Quan hệ giữa bên ngoài và bên trong: Thường là quan hệ thống nhất – cái bên ngoài là biểu hiện cụ thể của cái bên trong và ngược lại, cái bên ngoài cũng được cái bên trong quy định, chi phối. - Bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo: Không có sự hài hòa, thống nhất của bên ngoài và bên trong, tức là lời nói, việc làm không thống nhất với suy nghĩ, tình cảm, nhận thức. Sự không thống nhất này khiến con người rơi vào tình trạng sống giả tạo, trở nên lệch lạc, mất thăng bằng. Dù ở trường hợp nào cũng đều là bi kịch. - Ý nghĩa câu nói của Trương Ba: Thể hiện một quan niệm sống đúng đắn: Cần phấn đấu để đạt sự hài hòa, cân bằng giữa nhận thức, hành vi, giữa cái bên trong với cái bên ngoài. Mỗi người hãy sống là mình, luôn làm chủ bản thân cả về thể xác lẫn tinh thần. Đó là cách sống để con người đạt được sự thanh thản. * Phân tích, chứng minh ý nghĩa câu nói: - Thực tế cuộc sống của Trương Ba: + Bên trong: Gắn liền với phần hồn Trương Ba - một người làm vườn chăm chỉ, cần cù, tinh tế đã nâng niu chăm sóc vườn cây, một con người mẫu mực, sống đạo đức và giàu tình nghĩa với vợ con, với cháu nội, với láng giềng xung quanh. Đó là những phẩm chất quý giá khiến Trương Ba được mọi người nể trọng, quý mến. + Bên ngoài: Gắn liền với xác hàng thịt - một con người thô bạo, tham lam, coi trọng sự hưởng thụ vật chất. + Vì một sự nhầm lẫn nên cả hai con người này đã bị đẩy vào một tình huống éo le: hồn Trương Ba phải sống nhờ trong xác anh hàng thịt. Vấn đề là ở chỗ: hồn Trương Ba vẫn có những nhu cầu về tinh thần song lại không thể điều khiển xác anh hàng thịt - tuy chỉ là xác thịt âm u đui mù song vẫn có tiếng nói riêng, vẫn đòi hỏi được thỏa mãn nhu cầu về vật chất. Cả nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần đều tự nhiên, chính đáng song trong trường hợp này lại trở nên mâu thuẫn, không thể tồn tại. + Kết quả: Trong sự xung đột, nhu cầu thể xác lại có phần thắng thế và cái thể xác phàm tục kia lại có thể lên tiếng nhạo báng nhu cầu cao quý của linh hồn. Đây là một điều phi lí và đau lòng bởi phần xác đã xúc phạm, đã làm tổn thương đến phần hồn. 18


- Trong cuộc sống con người hiện nay: + Ở một số người có sự hòa hợp giữa bên trong và bên ngoài. Đó là khi cái bên trong - đời sống tinh thần - thật sự mạnh mẽ để tạo thành một bản lĩnh sống, bản lĩnh văn hóa để có thể chi phối, điều khiển lời nói, việc làm để cái bên ngoài thật sự là sự biểu hiện của cái bên trong. Khi ấy, con người được sống là mình, con người khẳng định được cái tôi của bản thân, đồng thời cũng tạo cho mình một khả năng để chinh phục, thu hút người khác, tức là không chỉ sống tốt mà còn được mọi người yêu mến. + Có một bộ phận không nhỏ những người không tạo được sự hài hòa giữa bên ngoài và bên trong: Bên trong tốt đẹp, có nhân tính, có lương tâm, có khả năng nhận thức, hiểu biết nhưng không thắng được hoàn cảnh, bị hoàn cảnh xô đẩy đến chỗ có những hành vi trái với lương tâm, trái với chuẩn mực đạo đức. Đó là trường hợp con người phải sống kệch lạc, mất thăng bằng. Bên trong kém cỏi, tầm thường song ở vào vị trí buộc mình phải tỏ ra có đạo đức, có hiểu biết, có tình cảm cao thượng. Đó là trường hợp con người phải sống giả tạo. * Đánh giá, bàn bạc: - Mỗi người cần trang bị cho mình nhận thức, hiểu biết để có thể phân biệt đúng - sai, rèn luyện bản lĩnh để có thể tự kiểm soát mọi hành vi, để không chạy theo dục vọng tầm thường, không sa đà vào lối sống buông tuồng, dung tục. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến bản thân mình, quan tâm đến những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng dù là bình thường nhất để được sống một cách thoải mái, tự nhiên. - Phương châm sống đúng đắn: Cố gắng tìm sự hài hòa giữa nhu cầu về tinh thần và nhu cầu về vật chất để tạo nên một cuộc sống cân bằng và nghiêm túc với bản thân mình, tạo cho mình quyền được hạnh phúc. c. Kết bài Cuộc sống đầy những khó khăn, phức tạp, đầy những cám dỗ, có khi người ta mắc phải những sai lầm, vấp ngã. Hãy dũng cảm đối diện với sự thật để vươn lên. Hãy trung thực, thẳng thắn với bản thân, không “nói một đằng làm một nẻo”, 19


giả dối với mọi người và chính mình. Hãy luôn cảnh giác với “kẻ thù của chính mình”, vượt qua nó để chiến thắng hoàn cảnh, sống là mình. * Chuyên đề lí luận văn học Khi dạy chuyên đề lí luận văn học, tôi đặc biệt quan tâm bởi vì đối với bài văn của học sinh giỏi nếu kiến thức lí luận được vận dụng tốt kết hợp với khả năng đọc – hiểu, cảm thụ thì bài viết sẽ trở nên chắc chắn, sâu sắc và thuyết phục. Song trong thực tế, bài làm của học sinh thường bỏ ngỏ phần lí luận văn học do thiếu hụt hoặc được cung cấp tri thức lí luận văn học rất sơ sài trong số giờ qui định hạn chế của cấp học nên việc thực hành gặp rất nhiều khó khăn. Vậy khi bồi dưỡng cho học sinh tri thức này cần làm rõ các đơn vị tri thức nào? Mức độ bồi dưỡng ra sao? Đây là việc làm không dễ. Trong quá trình dạy, tôi thường bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức lí luận sau: - Kiến thức tác phẩm văn học: Ở phần này cần đi sâu và làm rõ + Qui luật hình thành của tác phẩm văn học và đặc trưng của văn học. + Đặc trưng của ngôn ngữ tác phẩm văn chương (Làm rõ các lớp nghĩa như: Đề tài, chủ đề, cảm hứng, thế giới quan, nhân sinh quan, sắc điệu thẩm mĩ của tác phẩm). - Kiến thức thể loại tác phẩm: Cần làm rõ hai đơn vị kiến thức cơ bản + Cơ sở để phân loại thể loại tác phẩm văn học. + Đặc trưng của từng thể loại (Đây là kiến thức trọng tâm). Từ những kiến thức trên giúp học sinh cảm thụ đúng nhất tác phẩm văn học. - Nhà văn và quá trình sáng tạo: Ở đơn vị kiến thức này cần bồi dưỡng cho học sinh: + Vai trò của nhà văn với cuộc sống. + Những phẩm chất cần có của nhà văn (Năng khiếu, vốn văn hóa, vốn sống, đặc biệt phải có tư tưởng độc đáo). + Quá trình sáng tạo (Từ cảm hứng đến ý đồ sáng tạo, sử dụng vốn hiểu biết để sáng tạo tác phẩm) 20


Đây là những tri thức tạo cơ sở cho việc khám phá hiện tượng văn học, sáng tác văn học của mỗi tác giả đúng hướng nhất. - Các giá trị văn học và tiếp nhận văn học: + Các giá trị văn học: Giá trị về nhận thức, giá trị về tư tưởng, tình cảm, giá trị về thẩm mĩ. +Tiếp nhận văn học: Chú ý đến đồng sáng tạo của người đọc với tác phẩm, tác giả. Ở phần này cần bồi dưỡng cho học sinh cách nhìn nhận khái quát đối với mỗi tác phẩm văn học đồng thời giúp học sinh tự tin và sáng tạo khi tiếp xúc, thực hành về tác phẩm văn học. - Ngoài ra, tôi còn cung cấp cho học sinh một số vấn đề, khái niệm thường gặp và liên quan đến các tác phẩm học trong chương trình như: Phong cách nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, chất thơ trong văn xuôi, tính sử thi và cảm hứng lãng mạn, chủ nghĩa anh hùng cách mạng… Bồi dưỡng những kiến thức lí thuyết về lí luận văn học, chúng ta đã cung cấp cho học sinh một lối tư duy khoa học. Song việc vận dụng nó như thế nào là việc làm có tính chất quyết định. Bồi dưỡng kĩ năng vận dụng thực hành kiến thức lí lận văn học vào viết bài cũng tuân thủ theo nguyên tắc chung khi làm bài nghị luận. Kĩ năng này bao gồm: Kĩ năng nhận thức đề, kĩ năng xác định các luận điểm, kĩ năng triển khai ý, kĩ năng hành văn (trong đó Kĩ năng nhận thức đề, kĩ năng xác định các luận điểm là cơ bản nhất): • Bồi dưỡng kĩ năng lí luận vào việc nhận thức đề + Đề văn, đặc biệt là đề lí luận văn học thường được diễn đạt khúc chiết, bóng bẩy. Vì thế đòi hỏi học sinh phải có khả năng tư duy trừu tượng khái quát và tư duy phân tích ở một trình độ nhất định thì mới có thể nhận thức đúng, đủ yêu cầu của đề. + Nếu nhận thức đề không đủ sức khái quát, bài viết sẽ rơi vào tự hạn hẹp vấn đề; nếu đi quá xa sẽ làm cho bài viết rơi vào chung chung, dông dài, xa đề thiếu tập trung. 21


+ Khi nhận thức đề, ngoài việc xác định kiểu nghị luận, phạm vi kiến thức, tôi thường lưu ý học sinh phải xác định rõ vấn đề cần bàn luận. Thậm chí, khi đã xác định được vấn đề cơ bản vẫn có thể bỏ quan hệ giữa các ý. Ví dụ khi nhận thức đề sau: Đề 1: Nhà văn Nga M.Gorki, trong một bức thư gửi cho nhà đạo diễn Xtanixlapxki năm 1912 có viết: “Nghệ sĩ là con người biết khai thác những ấn tượng riêng - chủ quan - của mình, tìm thấy trong ấn tượng đó cái có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng”. Hãy phân tích một số bài thơ để làm sáng tỏ chất nghệ sĩ độc đáo theo quan niệm của M.Gorki. Để nhận thức đúng, đủ đề văn này, học sinh cần nắm được các kiến thức nhà văn và quá trình sáng tạo, nắm vững một số bài thơ của các tác giả lớn, có phong cách nổi bật trong nước và nước ngoài. Từ hiểu biết cơ bản như vậy. các em sẽ nhận thức đúng yêu cầu của đề văn, tạo cơ sở hình thành bài viết. •

Bồi dưỡng kiến thức lí luận để xác định các luận điểm, mối quan hệ giữa các luận điểm:

Các luận điểm được xác lập nhờ vào chỉ dẫn hoặc khái quát, hoặc cụ thể từ đề văn đã cho. Đối với đề có chỉ dẫn tương đối cụ thể thì ứng với mỗi mệnh đề, tôi hướng dẫn học sinh xác lập một luận điểm, sau đó chỉ ra mối quan hệ giữa chúng( nếu có). Đối với đề được diễn đạt súc tích, bóng bẩy thì phải dùng tri thức lí luận và các đơn vị tri thức khác cùng với tư duy trừu tượng để xác định các luận điểm. Cũng có thể luận điểm được gợi ý từ kiểu bài nghị luận. Chẳng hạn với đề sau: Đề 2: Người ta thường nói “Người đọc là người đồng sáng tạo với tác giả”. Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên. - Đây là đề văn được thể hiện bằng một ẩn dụ về tính sáng tạo trong tiếp nhận của người đọc, người tiếp nhận văn học. Lí luận về tiếp nhận văn học đề cao tính sáng tạo trong tiếp nhận của người đọc. Sự sáng tạo đó làm tác phẩm được cảm nhận đúng hơn, sâu sắc hơn, sống động hơn. Trong trường hợp này, việc xác định luận điểm cho bài viết được gợi ý từ kiểu nghị luận (Kiểu bài bình luận, dạng 22


phát biểu ý kiến). Luận điểm cần được xác lập gồm: Luận điểm thể hiện cách hiểu (Giải thích) và các luận điểm nêu suy nghĩ, ý kiến. - Để cụ thể hóa các luận điểm, có thể xác lập như sau: Luận điểm 1: Tiếp nhận văn học là gì? Vai trò của người đọc trong quá trình tiếp nhận văn học. Luận điểm 2: Tại sao người đọc lại được coi là người đồng sáng tạo với tác giả? Luận điểm 3: Người đọc phải làm gì để trở thành người đòng sáng tạo với tác giả? Từ các luận điểm cụ thể, sử dụng kiến thức lí luận văn học để triển khai ý một cách phù hợp. Khi học sinh đã có những tri thức và kĩ năng cần thiết, tối thiểu về lí luận văn học, tôi thường để học sinh tiếp xúc và giải quyết một số đề văn cụ thể. •

Đặc biệt, cần cho HS nắm vững các kiến thức lí luận về thể loại thơ trên các phương diện:

*Đặc trưng của thơ và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ + Quan niệm và phân loại Thơ là gì? Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau về thơ, nhưng rất hiếm định nghĩa đủ sức bao quát được tất cả mọi đặc trưng của thể loại này. Quan niệm dưới đây của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy đủ nhất: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, H, 1999). - Các thể thơ Việt Nam có thể phân loại thành 3 nhóm chính: + Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, hát nói. + Các thể thơ Đường luật: ngũ ngôn, thất ngôn (tứ tuyệt, bát cú). + Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp. tự do, thơ văn xuôi... + Đặc trưng của thơ 23


- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú, yếu tố trữ tình giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm. Thơ là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời. Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống khách quan. Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta”, hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã ứ đầy”. Nhà thơ Pháp Alfret de Mussé chia sẻ: "Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc bàn tay đang viết", "nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung động". Nhưng tình cảm trong thơ không tự nhiên mà có. Nói về điều này, nhà văn M. Gorki cũng cho rằng: “Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm. Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển. Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên. Không có cuộc sống, không có thơ”. - Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người trực tiếp cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện. Nhân vật trữ tình là cái tôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình cảm của nhà thơ. Tuy vậy, không thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả. - Những tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tại và mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này. Thơ thường không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng có ít nhất một sự kiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ mà văn bản thơ là sự thể hiện của niềm rung động ấy. - Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch). Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn thông qua hình tượng thơ. Cảm xúc dồn nén, nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngôn ngoại”. Do đó, thơ tạo điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, 24


khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ. - Mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt. Sự sắp xếp các dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạo hình. Đồng thời, sự hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa biến hóa tạo nên tính nhạc điệu. Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyến láy của văn bản thơ. Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữ hình ảnh, biểu tượng. Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên. Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong. - Ngôn ngữ thơ có 3 đặc trưng cơ bản là tính chính xác, tinh luyện, tính hình tượng và tính biểu cảm. Thơ phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt. Thơ là thơ nhưng thơ còn có màu sắc, đường nét của hội hoạ, thanh âm của âm nhạc và hình khối của chạm khắc (điêu khắc). Nhà thơ phải có phong cách nghệ thuật độc đáo. Mỗi nhà thơ sẽ có cách tiếp cận, sử dụng riêng vốn ngữ toàn dân, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ nghệ thuật để đưa vào bài thơ. Nhà thơ còn được gọi là "phu chữ". Từ những đặc trưng của thơ, thi sĩ Sóng Hồng có viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là có tình cảm, lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường". + Yêu cầu và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ Khi đọc hiểu tác phẩm thơ, cần tiến hành theo các bước sau đây: - Cần biết rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là cơ sở ban đầu để tiếp cận tác phẩm. 25


- Đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ. Qua việc đọc, phải xác định được chủ đề, chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thường xuất hiện ở hai dạng: cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình ẩn), đối tượng trữ tình, hình tượng trữ tình và giọng điệu chủ đạo của bài thơ. - Cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu, các biện pháp tu từ,… - Lí giải, đánh giá toàn bộ bài thơ cả về hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Đặc biệt là phải chỉ ra những đóng góp của tác giả (thể hiện qua tác phẩm) cho thơ và cho cuộc sống con người. Tóm lại, sử dụng kiến thức lí luận vào giải quyết một đề lí luận văn học là một việc làm khó, đòi hỏi người bồi dưỡng không những phải cung cấp tri thức lí luận văn học một cách có hệ thống mà còn phải hướng dẫn học sinh sử dụng kiến thức đó một cách hợp lí nhất mới có thể đạt được kết quả mong muốn. * Chuyên đề kĩ năng làm văn nghị luận văn học - Trong chuyên đề này, tôi hướng dẫn học sinh nắm vững kĩ năng làm bài của một số dạng đề cơ bản thường xuất hiện nhiều trong những đề thi học sinh giỏi trong những năm gần đây: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học; nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; nghị luận về một nhân vật văn học, một đoạn trích văn xuôi; nghị luận về một vấn đề văn học… - Sau khi dạy kĩ cách làm bài, cần ra các đề bài cụ thể để học sinh luyện tập. Có khi chỉ cần yêu cầu học sinh xác định yêu cầu của đề, tìm ý, lập dàn ý hay viết phần mở bài, kết luận để rèn chắc kĩ năng cho các em. - Đặc biệt, ở cả hai chuyên đề kĩ năng làm bài nghị luận văn học và nghị luận xã hội tôi thấy rất cần thiết phải rèn luyện tốt cho các em những kĩ năng cơ bản sau. * Kĩ năng phân tích đề Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhận thức đề cho đúng và trúng: Có một thực tế, nhiều học sinh khi đọc đề xong vội vàng viết ngay, đọc được gì viết đấy. Thực ra thì hoàn toàn không phải như vậy, nhất là đề văn hay, người ra đề ngoài 26


những yêu cầu bình thường, luôn “cài đặt” trong đó một ẩn ý sâu sắc cần đọc kĩ, suy nghĩ mới phát hiện và đáp ứng được. Để giúp học sinh nhận thức chính xác đề văn cần đọc kĩ và trả lời một số câu hỏi sau: Thực chất đề bài nêu lên và buộc người viết bàn về vấn đề gì? Đề văn này thuộc loại đề nào: Đề văn học sử; đề phân tích, cảm thụ tác phẩm độc lập hay đề lí luận văn học? (Thực ra thì bất kì đề văn nào người viết cũng sẽ phải vận dụng cả ba mảng kiến thức và năng lực trên). Đề yêu cầu vận dụng những thao tác nghị luận nào? Tuy nhiên, văn nghị luận là nhằm thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó, vì thế người viết phải bằng mọi con đường, mọi thao tác nghị luận miễn là tập trung đi đến đích cuối cùng. Cho nên bất cứ đề nào cũng phải vận dụng tất cả các thao tác nghị luận như giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh... Phạm vi kiến thức cần huy động và làm sáng tỏ ở đây là gì? Về lí luận văn học? Về kiến thức văn học sử hay kiến thức về tác giả, tác phẩm? Kiến thức đời sống và kinh nghiệm bản thân...? * Kĩ năng hình thành ý Để hình thành ý cho một đề văn, nhất là các đề văn kiểm tra kiến thức lí luận văn học với thể loại giải thích, bình luận, giáo viên cần hướng dẫn học sinh: + Phần đầu giải thích qua những thuật ngữ, khái niệm khó trong đề. + Trả lời câu hỏi: Câu nói như thế nghĩa là thế nào? + Nói như thế có đúng không? Tại sao lại nói như thế? Căn cứ vào đâu? + Điều ấy thể hiện trong văn học và trong cuộc sống như thế nào? + Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? (Đối với nhà văn, đối với người đọc, đối với lịch sử văn học....) Trên đây chỉ là một vài định hướng cơ bản, ở mỗi loại đề sẽ có những cách hình thành ý khác nhau. * Kĩ năng lập dàn ý

27


Học sinh đề xuất những luận điểm hình thành cho bài viết, xác định mối quan hệ giữa các luận điểm, luận điểm trọng tâm. Sau đó sắp xếp các luận điểm theo trình tự khoa học, chặt chẽ. Để làm tốt bước này, giáo viên có thể gợi ý: - Câu hỏi tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải quyết có thể triển khai ở những phương diện, khía cạnh nào? - Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò luận điểm: Những khía cạnh, phương diện ấy có quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện rõ nét và tập trung các yêu cầu của trọng tâm? - Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các luận điểm cần được sắp xếp như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu? Ví dụ: Cảm hứng về đất nước qua các đoạn trích Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường. (SGK Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2014) * Phân tích đề - Yêu cầu về nội dung: Qua các đoạn trích Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm ra những nét đặc sắc trong cảm hứng về đất nước của các tác giả. - Yêu cầu về thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ. - Yêu cầu về phạm vi tư liệu: Trong đoạn trích Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngoài ra cần sử dụng các tác phẩm viết về quê hương đất nước trong các thời kì văn học. .* Lập dàn ý

28


Yêu cầu về kĩ năng: Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học có bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Biết cách chọn lọc và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đáp ứng được những ý cơ bản sau: **Giới thiệu chung. - Cảm hứng về đất nước là một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo xuyên suốt các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam. - Nguồn cảm hứng này tiếp tục được kế thừa và phát triển mạnh mẽ trong Văn học Việt Nam giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám với sự tham gia của một đội ngũ sáng tác đông đảo. Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường là những đoạn trích tiêu biểu cho nguồn cảm hứng này. **Giải thích, phân tích, chứng minh vấn đề. *Giải thích. - Cảm hứng là một trong những phương diện nội dung tình cảm của tác phẩm văn học. Nếu đề tài, chủ đề là những khái niệm thể hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm thì cảm hứng là khái niệm thuộc về nội dung chủ quan của tác phẩm gắn với chủ thể sáng tạo. Cảm hứng được hiểu là tình cảm nghiêng về lẽ phải, là niềm say mê khẳng định lẽ phải, chân lí, phủ nhận sự giả dối, xấu xa... Cảm hứng bộc lộ khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm và biểu hiện chủ yếu qua giọng điệu, ngữ điệu. - Ở đây, khái niệm cảm hứng được hiểu là cảm hứng chủ đạo – nguồn cảm hứng bao trùm, được thể hiện nhất quán trong suốt tác phẩm (khác với cảm hứng sáng tạo là cảm hứng khơi nguồn để người nghệ sĩ viết nên tác phẩm). 29


Cảm hứng về đất nước chủ yếu là cảm hứng về thiên nhiên, cuộc sống, con người của đất nước. Đó là tình yêu, niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ về vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, vẻ đẹp trong cuộc sống và con người Việt Nam; là nỗi đau đớn xót xa khi thấy thiên nhiên, cuộc sống, con người của đất nước mình bị tàn phá, huỷ hoại; là lòng căm giận kẻ thù đã giày xéo đất nước; là khám phá mới mẻ, tiến bộ về đất nước với quan niệm: Đất nước của nhân dân... *Phân tích, chứng minh cảm hứng về đất nước qua các đoạn trích. . Cảm hứng về đất nước được thể hiện trong việc miêu tả, tái hiện bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ở mỗi miền đất nước bằng một tình yêu say đắm, thiết tha. - Trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân: Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên qua hình ảnh con Sông Đà với vẻ đẹp vừa hung bạo vừa trữ tình. + Vẻ đẹp hung bạo, dữ dội mang sức mạnh thiên nhiên kì vĩ với cảnh đá bờ sông dựng vách thành, một khúc sông hẹp bị đá chẹt lại như cái yết hầu, mặt ghềnh Hát Loóng sóng nước dữ dội, quãng Tà Mường Vát có những cái hút chết người, những thác nước mà từ xa đã nghe thấy tiếng nước réo, những khúc sông đầy đá to, đá bé như đang dàn thạch trận... + Thiên nhiên nơi đây còn mang vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình với Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, nước Sông Đà mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ..., vẻ đẹp mang một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”; hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa... - Trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế được tập trung thể hiện qua hình ảnh dòng sông Hương mang vẻ đẹp vừa phóng khoáng, man dại vừa thơ mộng, trữ tình. + Vẻ đẹp mãnh liệt, dữ dội như bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác…, như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại... + Vẻ đẹp duyên dáng đầy nữ tính như một người con gái đẹp đi tìm tình yêu đích thực của mình, vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ thi... 30


- Trong Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: + Vẻ đẹp của thiên nhiên được tái hiện bằng việc liệt kê một loạt danh lam thắng cảnh trải dài trên lãnh thổ từ Bắc vào Nam. Đó là những “núi Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”, “núi Bút”, “non Nghiên”, là những ao đầm nơi “gót ngựa Thánh Gióng đi qua”, là “đất Tổ Hùng Vương”, là dòng Cửu Long giang xanh thẳm… + Thiên nhiên đất nước, qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Tất cả đã tạo nên niềm tự hào bất tận về một tổ quốc Việt Nam “non xanh nước biếc”. . Cảm hứng về đất nước được thể hiện trong sự trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của cuộc sống, con người Việt Nam. - Trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân: + Vẻ đẹp của cuộc sống lao động hào hùng mà bình dị của người dân Tây Bắc đang hàng ngày, hàng giờ cống hiến tâm sức của mình cho đất nước được thể hiện qua hình tượng người lái đò sông Đà trí dũng, tài hoa. Qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân, ông lái đò mang vẻ đẹp giản dị, thuần phác nhưng đầy trí tuệ và sức mạnh. Đó là vẻ đẹp của một “tay lái ra hoa”, một “nghệ sĩ trong nghệ thuật chèo đò vượt thác”, có khả năng chinh phục thiên nhiên, bắt nó phải phục vụ cho cuộc sống con người. + Người lái đò sông Đà chính là hình tượng đẹp về người lao động mới của đất nước, là chất vàng mười đã qua thử lửa của con người Tây Bắc nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong thời đại cách mạng. - Trong Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: + Vẻ đẹp của tình yêu nước, sự cống hiến, hy sinh thầm lặng để góp phần bảo vệ, dựng xây đất nước. + Vẻ đẹp của phẩm chất cần cù, siêng năng, của lối sống bình dị, ân nghĩa, thủy chung . Cảm hứng về đất nước được bộc lộ sâu sắc trong quan niệm mới về đất nước: “Đất nước của nhân dân”. - Trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân: 31


Từ việc miêu tả hình tượng người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện sự ngợi ca tập thể quần chúng nhân dân. Đó là những người lao động bình thường, âm thầm, giản dị nhưng đã và đang làm nên những kì tích lớn lao góp phần dựng xây đất nước. - Trong Đất nước (Trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: Tư tưởng Đất nước của nhân dân được tác giả khám phá và sáng tạo hết sức độc đáo. Nhà thơ đã khẳng định vai trò lớn lao cùng sức mạnh kì diệu của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng cũng như bảo vệ Tổ quốc suốt bốn nghìn năm lịch sử dân tộc như một cách cắt nghĩa bằng con đường của nghệ thuật cho những câu hỏi lớn: Đất nước có từ bao giờ? Đất nước được hình thành và phát triển như thế nào? Đất nước do ai tạo dựng?... Từ đó nhà thơ đi đến khái quát, khẳng định đầy tự hào, xúc động: Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần thoại. Nhờ sử dụng chất liệu văn hóa dân gian, người viết đã tạo dựng một hình tượng đất nước bình dị, dân dã, thân thuộc mà vô cùng thiêng liêng, mới mẻ, hiện đại. **Nhận xét, đánh giá. - Nội dung: + Cảm hứng về đất nước trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám có cội nguồn từ truyền thống yêu nước cao đẹp được hun đúc suốt mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, được khơi nguồn từ những thử thách ác liệt của lịch sử 30 năm chiến tranh gian khổ và công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình. + Cảm hứng về đất nước có ý nghĩa lớn trong việc tạo nên một trong những phương diện nội dung quan trọng nhất của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. Qua những trang thơ, trang văn ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của đất nước, các tác giả thời kì này đã thể hiện một cách đa dạng cảm hứng về đất nước, đã bộc lộ một cách sâu đậm, thấm thía, cảm động tấm lòng yêu nước của con người Việt Nam. Chính những trang thơ, trang văn này đã khơi dậy trong ta niềm tự hào dân tộc, tình yêu, sự gắn bó cũng như trách nhiệm với đất nước trong hiện tại và tương lai. - Nghệ thuật: 32


Cảm hứng về đất nước được thể hiện qua những phong cách nghệ thuật độc đáo (ngòi bút tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân; lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường; sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của Nguyễn Khoa Điềm), qua sự đa dạng phong phú của các thể loại, qua những so sánh, liên tưởng độc đáo… Còn rất nhiều những chuyên đề khác mà tôi không thể trình bày hết ở đây. Các chuyên đề khác khi giảng dạy về cách thức cũng có nhiều điểm tương tự như các chuyên đề đã trình bày. 7.2.3.2 Sưu tầm, cung cấp và giới thiệu các tài liệu tham khảo cho học sinh Đối với một học sinh giỏi, yêu cầu kiến thức phải thực sự phong phú và sâu rộng. Có như vậy, các em mới tự tin, chủ động, mạnh dạn và phóng túng khi viết bài. Kiến thức mỏng và nghèo nàn sẽ không tránh khỏi những lúng túng, ngượng ngập trong bài viết bởi thiếu sự liên hệ, mở rộng, nâng cao. Do vậy: - Giáo viên cần lên mạng Internet để tìm tư liệu, tuyển chọn, biên soạn rồi phô tô cho học sinh đọc. - Cung cấp những tên sách, danh mục sách, loại sách…yêu cầu học sinh tìm đọc ở thư viện và các nguồn khác. - Chú trọng những tài liệu liên quan đến những tác phẩm, tác giả lớn trong chương trình học nhưng lại không được in trong sách giáo khoa giúp các em có khả năng viết rộng hơn, linh hoạt hơn. Ví dụ khi học Nam Cao, một học sinh giỏi văn không chỉ biết đoạn trích Chí Phèo mà rất cần thiết phải tìm đọc cả tác phẩm, tìm đọc Đời thừa trong sách nâng cao, đọc rộng và am hiểu thêm các truyện ngắn của Nam Cao trước và sau các mạng tháng Tám. Khi học đoạn trích Đất Nước cần tìm hiểu cả trường ca Mặt đường khát vọng, học Chữ người tử tù cần tìm đọc tập truyện Vang bóng một thời, học Vợ chồng A Phủ cần đọc cả tập truyện Tây Bắc của Tô Hoài… - Ngoài ra, học sinh còn cần phải đọc các sách nghiên cứu lí luận phê bình về văn học mới thực sự có điều kiện thâm nhập một cách đầy đủ về tác phẩm đó. Chẳng hạn khi học phần thơ lãng mạn 1930 - 1945, giáo viên cần hướng dẫn học 33


sinh đọc thêm cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân để học tập, cảm nhận những lời bình giảng độc đáo, súc tích… - Không chỉ cung cấp tài liệu, giáo viên cần tăng cường biện pháp kiểm tra, nắm bắt về vấn đề tự học và nghiên cứu của học sinh. Nếu học sinh nào thực hiện chưa đầy đủ, còn có những lỗ hổng kiến thức thì phải đôn đốc, nhắc nhở để học sinh tự giác làm việc. Tóm lại, không đọc hay đọc ít là một hạn chế rất lớn đối với một học sinh giỏi. Đọc nhiều, đọc rộng sẽ phát huy được nhiều mặt tích cực nhất là ở những học sinh có ít nhiều năng khiếu văn chương. - Bên cạnh việc đọc, giáo viên cần yêu cầu học sinh lập sổ tay ghi chép cá nhân ghi lại những nhận định, đánh giá sắc nét của của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lí luận phê bình văn học, ghi lại các câu thơ, đoạn thơ hay của nhiều tác giả qua các giai đoạn gắn với các chuyên đề mà giáo viên bồi dưỡng. Những tư liệu này rất quí giá đối với học sinh. Nó vừa giúp các em mở mang vốn tri thức, khám phá vấn đề chiều rộng, chiều sâu, vừa là những dẫn chứng quan trọng, hấp dẫn tạo nên những điểm nhấn, điểm sáng, giàu sức thuyết phục hơn trong các bài làm Ví dụ, khi dạy chuyên đề văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945, tôi đã cung cấp cho học sinh những lời nhận định về Thạch Lam: - Nhà văn Nguyễn Tuân: “Xúc cảm của Thạch lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước cuộc sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học." - GS. Phạm Thế Ngũ: “Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội... Đối với ông, nhân vật thường là những người tầm thường trong xã hội: mẹ Lê trong xóm nghèo, cô hàng xén ở phố huyện, cậu học trò đi ở trọ, hai cô gái giang hồ trơ trọi…Và ông thường để ý vạch vẽ cuộc đời, tình cảm cùng ý nghĩ của họ, chớ không bận tâm lắm đến việc tuyên truyền tư tưởng cách mạng xã hội như trong các tác phẩm của Nhất Linh hay Hoàng Đạo…Ta thấy Thạch Lam, luôn hòa đồng trong cái xã hội nhỏ bé mà ông thương xót với tất cả tâm hồn đa cảm của ông...”. 34


- PGS. Nguyễn Hoành Khung:“...Tình cảm của Thạch Lam chân thành, tuy nhiên, ông chỉ mới băn khoăn, thương cảm đối với số phận người nghèo qua những câu chuyện mang một dư vị ngậm ngùi, tội nghiệp. Về bút pháp, có thể nói Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái “tôi”, với sự phân tích cảm giác tinh tế.” - Ý kiến của Thạch Lam về văn chương: + “Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quí khác là phải nâng đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, yêu thương hơn”. + “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên. Trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”. Dạy tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, tôi cung cấp những tư liệu có thể vận dụng vào bài làm liên quan đến tác giả, tác phẩm là: + Ông Chu Văn Sơn: “Ba cái kiềng của thơ mới là Xuân Diệu - thi sĩ của tình yêu, mới nhất; Nguyễn Bính - thi sĩ của thương yêu, quen nhất; Hàn Mặc Tử thi sĩ của đau thương, lạ nhất”. + Chế Lan Viên: “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau những cái tầm thường và mực thước kia sẽ tan biến đi và còn lại chút gì đáng kể của cái thời này, đó là Hàn Mặc Tử”. + Trần Ninh Hồ: Nếu nhân loại không còn khao khát nữa Và nhà thơ - nghề chẳng kẻ nào yêu Người thi sĩ cuối cùng vẫn là Hàn Mặc Tử Vẫn hiện lên ở đáy vực đợi chờ. + Bích Khê: Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn Biếc xanh cành trúc không buồn mà say. + Ca dao Huế: 35


Mặt em vuông tượng chữ điền Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài Lòng em có đất có trời Có câu ân nghĩa, có lời thủy chung. + Cô gái Huế trong thơ Tố Hữu: Cô gái thẫn thờ vê tà áo mỏng Nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai Bên dòng sông trắng con đò mộng Lả lướt đi về trong sớm mai. Dạy tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh, học sinh có thể hiểu hơn về tác phẩm, về hình ảnh của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng qua một số nhận định và những đoạn thơ có liên quan như: + Viên Ưng - Nhà thơ Trung Quốc: “Đây là bức chân dung của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Nhưng trong ba phẩm chất ầy, đại nhân là cái gốc, là cơ sở”. + Nhà phê bình Đặng Thai Mai: “Nhật kí trong tù là một tác phẩm lớn, một viên ngọc mà tác giả hình như chỉ đánh rơi vào kho tàng văn học - như một hành động ngẫu nhiên.” + Tố Hữu: Lại thương nỗi đọa đày thân Bác Mười bốn trăng tê tái gông cùm Ôi chân yếu mắt mờ tóc bạc Mà thơ bay cánh hạc ung dung. + Hoàng Trung Thông: Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh Vần thơ của bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình. Dạy tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi giới thiệu những nhận định của một số nhà văn; 36


+ Nguyễn Tuân: “Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có nhiều ánh lửa” + Ngô Minh: “Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc bởi tấm lòng nhà văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyễn hoặc, quyến rũ. Đó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài tình” Đồng thời tôi cung cấp cho học sinh bài Sông Hương một nét thơ đăng trên Văn học và tuổi trẻ của tác giả Lam Hồ: Sông trầm mặc như muôn đời vẫn thế Chảy vô tình để bồ kết đưa hương Nét thơ Đường thả giữa lòng xứ Huế Hay câu Kiều của dân tộc yêu thương. Hay những câu thơ nói lên đặc trưng của sông Hương khi chảy qua thành Huế của nhà thơ Thu Bồn: Con sông dùng dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu. (Tạm biệt) Còn rất nhiều những lời nhận định hay và giá trị, những dẫn chứng khác về các tác giả, tác phẩm giáo viên cần giúp học sinh sưu tầm, ghi chép, học thuộc. Nó giúp cho bài làm của học sinh trở nên tươi mát, sinh động hơn, tránh sự khô khan, đơn điệu, nhàm chán. Điều quan trọng là giáo viên phải hướng dẫn các em biết cách vận dụng để mang lại sự hiệu quả, chất lượng cho bài viết. 7.2.3.3. Cách thức bồi dưỡng 7.2.3.3.1. Bồi dưỡng ngay trong giờ giảng nội khóa - Bồi dưỡng học sinh giỏi không phải là trang bị cho học sinh những thủ thuật, những đề văn để đi thi có thể gặp những đề tương tự, học sinh có thể giải được một cách dễ dàng mà bồi dưỡng học sinh giỏi là hình thành cho các em những phương pháp tư duy, lối suy luận có lí nhằm kích thích sự phát triển có hướng của trí tuệ, rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng những thao tác tư duy để phát triển tính sáng tạo trong học tập. Do vậy, cần bồi dưỡng học sinh giỏi ngay trong giờ nội khóa hình thành cho học sinh nền móng vững chắc. 37


- Trước hết phải tạo cho học sinh một tâm thế thoải mái, hứng thú và sẵn sàng hợp tác để đi vào tìm hiểu nội dung bài. Cần hết sức thận trọng khi nêu vấn đề để sao cho vừa sức với các đối tượng học sinh để các em không bị mất lòng tin, không chán nản ở những bài học tiếp theo. Điều này đòi hỏi giáo viên phải hiểu sâu sắc nội dung của từng bài dạy, am hiểu lứa tuổi tâm lí và khả năng của học sinh. Trong bài dạy cần chú ý tới các câu hỏi dành cho học sinh giỏi trong lớp. - Trước khi học bài mới, cần yêu cầu học sinh thực hiện nghiêm túc việc soạn bài, nghiên cứu trước tác phẩm ở nhà. Yêu cầu các em nắm vững phần tiểu dẫn, nắm vững thân thế, sự nghiệp của các tác giả, hoàn cảnh sáng tác của các tác phẩm. Ở những tác phẩm văn xuôi dài, việc đọc và tóm tắt cốt truyện, nắm vững các tình tiết là điều rất cần thiết. - Giáo viên phải thực sự hiểu và nắm vững nội dung của bài giảng. Nếu tự mình không hiểu kĩ, không có tri thức sâu rộng về tác phẩm thì giờ dạy không thể có hiệu quả thực sự. Trong việc chuẩn bị bài giảng, phải lựa chọn những vấn đề phù hợp với tầm suy nghĩ của học sinh, dự kiến một số tình huống các em trong đội tuyển sẽ phát vấn để dự kiến câu trả lời, phát huy sự vận động tích cực của học sinh cho phù hợp với thời gian giờ dạy. 7.2.3.3.2. Bồi dưỡng trong các buổi học tập trung - Theo tôi, những buổi học sinh tập trung để bồi dưỡng không phải là ra những đề bài khó để luyện mà trong những buổi học đó, giáo viên phải cung cấp cho học sinh những kiến thức mới và tổng hợp. - Hướng dẫn học sinh luyện tập, củng cố, nâng cao sự hiểu biết và cảm nhận về các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, cần hướng dẫn học sinh tự khái quát bằng cách gợi mở, dẫn dắt. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần khái quát cụ thể cho học sinh về chủ đề tư tưởng, giả trị nghệ thuật, ý nghĩa giáo dục của tác phẩm. - Bồi dưỡng kĩ các phương pháp làm văn nghị luận. Chú ý sửa về lỗi diễn đạt cho học sinh. 7.2.3.3.3. Ra đề bài để học sinh tập viết - Nghe, nói, đọc, viết là một vòng tròn khép kín của quá trình bồi dưỡng, trong đó học sinh luôn đóng vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo. Dù học sinh có 38


kiến thức cơ bản, hiểu biết sâu rộng về vấn đề nhưng không biết cách diễn đạt thành văn những suy nghĩ, tình cảm và kiến thức của mình thì cũng không có hiệu quả. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên cần quan tâm đến việc rèn luyện viết bài của học sinh. Càng viết được nhiều đề ở các dạng khác nhau liên quan đến các tác giả, tác phẩm khác nhau càng giúp học sinh nắm vững các kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý đến cách hành văn. Năng lực viết và cảm thụ văn học của học sinh cũng được bộc lộ rõ. - Vấn đề quan trọng của khâu này là cách ra đề. Đối với giáo viên Văn và với riêng tôi, công việc khó khăn nhất là làm thế nào để ra được nhiều đề văn hay, không quá dễ và cũng không quá khó. Đề phải chính xác từng câu, từng chữ, từng dấu chấm, dấu phảy. Không ít thầy cô muốn nhàn thân thường dựa vào có sẵn hoặc cải biên đôi chút để ra đề bài cho học sinh, ít có hiệu quả thiết thực. Theo tôi, ra đề trước hết phải đúng và chính xác về tư tưởng, quan điểm thẩm mĩ, trích dẫn đúng câu chữ, đúng qui cách, đúng phạm vi kiến thức và mức độ, đúng kiểu bài. Mặt khác, đề văn phải vừa lạ, vừa quen, không đánh đố học sinh mà chắt lọc hỏi những vấn đề học sinh được học, không lặp lại những gì có sẵn trong sách vở, tài liệu, trong bài văn mẫu mà vẫn gây được tình huống kích thích học sinh kiến giải… Đề văn có chất văn và lạ sẽ gây được hứng thú cho học sinh, nghĩa là không chỉ gợi ra việc tái hiện mà còn chú ý đến sự lí giải của học sinh. Đề văn hay vì thế sẽ giúp học sinh giỏi chọn nội dung nghị luận phù hợp với năng lực của mình, giúp phân hóa được năng lực và trình độ của học sinh. Trên cơ sở mặt bằng kiến thức mà khơi dậy và đặt ra những tình huống làm nảy sinh hứng thú được trao đổi, bàn bạc, mở rộng, đào sâu vấn đề. Ra được đề văn hay cần có cả bề dày kinh nghiệm và tâm huyết của giáo viên. MỘT SỐ ĐỀ MINH HỌA (DÀNH CHO LỚP 10) Đề 1 Câu 1: (6,0 điểm) CÂU CHUYỆN VỀ 4 NGỌN NẾN 39


Trong phòng tối, có 4 ngọn nến đang cháy. Xung quanh thật yên tĩnh, đến mức chúng có thể nghe thấy tiếng thì thầm của nhau. Ngọn nến thứ nhất nói: “Tôi là sự hiện thân của hòa bình. Cuộc đời sẽ như thế nào nếu không có tôi. Tôi thực sự quan trọng cho mọi người.” Ngọn nến thứ 2 lên tiếng: “ Còn tôi là hiện thân của lòng trung thành. Hơn tất cả, mọi người đều cần đến tôi”. Đến lượt mình, ngọn nến thứ 3 nói: “ Tôi là hiện thân của tình yêu. Tôi mới thực sự quan trọng. Hãy thử xem cuộc sống sẽ như thế nào nếu thiếu đi tình yêu?” Đột nhiên, cánh cửa mở toang, một cậu bé chạy vào phòng. Một cơn gió ùa vào làm tắt 3 ngọn nến. Cậu bé sửng sốt nói: “ Tại sao cả 3 ngọn nến đều tắt?”. Đến đây, cậu bé òa lên khóc. Lúc này, ngọn nến thứ 4 lên tiếng; “ Đừng lo, cậu bé ạ! Khi tôi vẫn còn cháy thì vẫn có thể thắp sáng lại cả 3 ngọn nến kia. Bởi vì tôi chính là niềm hi vọng.” Lau những giọt nước mắt còn đọng lại, cậu bé lần lượt thắp sáng lại những ngọn nến vừa tắt. Ngọn lửa của hi vọng sẽ luôn đi cùng bạn đến suốt cả cuộc đời. ( Theo Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống cho HSTH, NXB Giáo dục,T109) Hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị sau khi đọc xong câu chuyện trên. Câu 2(14,0 điểm) Vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân Việt Nam qua ca dao. ------------------------------------Đề 2 Câu 1: (6,0 điểm) Chuyện kể rằng, có một vòng tròn rất hoàn mỹ. Nó rất tự hào về thân hình tròn trĩnh đến từng milimet của mình. Thế nhưng, một buổi sáng thức dậy, nó thấy mình mất đi một góc lớn hình tam giác. Buồn bực, vòng tròn ta đi tìm mảnh vỡ đó. Vì không còn hoàn hảo nên nó lăn rất chậm. Nó bắt đầu ngợi khen những bông hoa dại đang tỏa sắc ven đường, nó vui đùa cùng ánh mặt trời, tâm tình cùng sâu bọ… Một ngày kia, nó tìm được một mảnh hoàn toàn vừa khít và ghép vào. Nó lăn đi và 40


nhận ra mình đang lăn quá nhanh. Đến nỗi, không kịp nhận ra những bông hoa đang cố mỉm cười với nó. Vòng tròn thấy rằng, cuộc sống khác hẳn đi khi nó lăn quá nhanh. Nó dừng lại, đặt mảnh vỡ bên đường rồi chầm chậm lăn đi. Hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của câu chuyện trên. Câu 2(14,0 điểm) Có ý kiến cho rằng: Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng nhân dân được thể hiện qua những hình thức nghệ thuật mang đậm sắc thái dân gian. Anh/ chị hãy nêu suy nghĩ và phân tích một số bài ca dao đã học để làm sáng tỏ ý kiến trên. -------------------------------------Đề 3 Câu 1: (6,0 điểm) Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến của Elbert Hubbard: “ Sai lầm lớn nhất bạn có thể phạm phải trong đời là luôn sợ hãi mình sẽ phạm sai lầm” Câu 2(14,0 điểm) Quan niệm của anh/chị về một bài thơ hay. Hãy làm sáng tỏ qua Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi. ------------------------------Đề 4 Câu 1: (6,0 điểm) Trình bày suy nghĩ của anh/chị về đoạn thư sau được cho là của Abraham LincolTổng thống thứ 16 của hợp chunge quốc Hoa Kỳ gửi thầy hiệu trưởng trường con trai ông đang học: Kính thưa thầy! Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có những con người chính trực; cứ mỗi một chính trị gia ích kỉ, ta sẽ có một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết, nhưng xin thầy hãy 41


dạy cho cháu biết rằng một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quí giá hơn nhiều so với 5 đô la nhặt được trên hè phố… Câu 2(14,0 điểm) “Những câu thơ mỏng tựa cánh chuồn Ngàn năm bay ngược bão Mang sấm sét của những vùng chưa qua Mang ánh trăng của những thời chưa tới” (Bản Xô –nát ánh trăng- Trần Nhuận Minh) Bằng những hiểu biết về các trích đoạn Chinh phụ ngâm( Đặng Trần CônĐoàn Thi Điểm), Cung oán ngâm( Nguyễn Gia Thiều)trong chương trình Ngữ văn 10, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý thơ trên. ------------------------------Đề 5 Câu 1: (6,0 điểm) Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót có một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hát bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai nhọn nhất, dài nhất. Vượt lên trên nỗi đau không tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và họa mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất, có một không hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được. Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và chính thượng đế trên thiên đình cũng mỉm cười. Bởi vì tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại… ( Trích lời tựa tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai, Colleen MeCullough) Anh/chị suy nghĩ như thế nào về truyền thuyết ấy? Câu 2(14,0 điểm) Nổi bật trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du là sự quan tâm sâu sắc tới thân phận con người.

42


Qua Đọc Tiểu Thanh kí và các đoạn trích Trao duyên, Nỗi thương mình( Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du, anh/chị hãy làm sáng tỏ về nỗi đau của thân phận con người, nhất là nỗi đau của người phụ nữ tài hoa trong xã hội phong kiến. --------------------------Đề 6 Câu 1: (6,0 điểm) Quan Âm tóc rối Có một chàng trai muốn đi tìm Phật Quan Âm đã đi hết núi này qua bể nọ vẫn không tìm thấy. Một nhà hiền triết bảo hãy đi về nhà, Quan Âm sẽ xuất hiện nhưng trong hình hài đầu bù, tóc rối và có khi chân không mang dép. Chàng tri đi mãi cũng không thấy đâu, mệt quá nên trở về nhà. Gần đến cổng, anh gọi : “ Mẹ ơi, con về rôi!”. Bà mẹ già bấy lâu mong ngóng con, nghe tiếng gọi đã bỏ dở việc, tất tả chạy ra đón mừng, đầu tóc rối bời và một chân không mang dép. Bất chợt, chàng trai òa khóc… Suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của câu chuyện trên. Câu 2(14,0 điểm) “ Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ” ( Theo Sống đẹp của Lâm Ngữ Đường) Anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên bằng một số tác phẩm văn học trung đại. ----------------------------Đề 7 Câu 1: (6,0 điểm) “Bạn là một nhãn hiệu. Khi người ta nghe tên bạn, họ liên tưởng ngay đến điều gì đó. Khi nhìn thất bạn, họ nảy sinh một cảm xúc nhất định. Dù họ thích hay không, bạn vẫn thực sự là một nhãn hiệu” ( Theo Đời ngắn đừng ngủ dài, NXB Trẻ, 2014,Tr.55) Đó là chia sẻ của Robin Sharma, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về huấn luyện nghệ thuật lãnh đạo và phát triển bản thân, tác giả của 8 cuốn sánh bán chạy nhất thế giới. Còn anh/chị, anh/chị nghĩ sao về nhãn hiệu của con người trong cuộc sống? 43


Câu 2(14,0 điểm) Nhà văn Italia Claudio Magris đã từng nói: “ Văn học không quan tâm đến những câu trả lời do nhà văn đem lại mà quam tâm đến những câu hỏi do nhà văn đặt ra và những câu hỏi này luôn luôn rộng hơn bất kì câu trả lời cặn kẽ nào.” phận con người. Qua Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. ---------------------------Đề 8 Câu 1: (6,0 điểm) Nhân xem chương trình trên VTV1 với chủ đề: “ Cảm ơn cuộc dời” bàn về người tử tế, hầu hết các ý kiến cho rằng: người tử tế là những người tốt và là những người có lối sống đẹp, có thể coi là những con người hoàn hảo trong mọi thời đại và nhất là trong cuộc sống hôm nay. Nhưng có ý kiến cho rằng: Đó chỉ là sự giả tạo, hình thức và nghi ngờ lòng tốt của người tử tế. Anh/chị hãy bình luận về các ý kiến trên. Câu 2(14,0 điểm) Từ ca dao đến thơ Nguyễn Du, thân phận người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng bất tận làm nên sự phong phú, nét độc đáo riêng của thơ ca Việt Nam. Bắng sự hiểu biết về ca dao và thơ Nguyễn Du, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. -----------------------------------Đề 9 Câu 1: (6,0 điểm) Khi học cấp 1, có lần tôi tranh cãi kịch liệt với một cậu bạn. Thực tế, tôi không nhớ chúng tôi cãi nhau về cái gì, nhưng bài học ngày hôm ấy thì tôi nhớ mãi. Khi cãi nhau, tôi khăng khăng cho rằng:“tao đúng, mày sai”,và bạn tôi cũng nhất quyết“mày sai, tao đúng”! 44


Cô giáo tôi bắt gặp, bảo cả hai chúng tôi lên phòng giáo viên. Cô bảo mỗi đứa ngồi một bên cạnh bàn, trên chiếc bàn có một quả bóng nhựa rất lớn. Quả bóng màu đen xì. Thế mà khi cô giáo hỏi:“Em thấy quả bóng màu gì?” thì cậu bạn tôi lại đáp:“Thưa cô, màu trắng”. Tôi không hiểu nổi nó đang nói gì. Mắt nó bị mờ hay đầu óc nó bị điên? Hay là nó muốn trêu tức tôi? Thế là tôi bật lên cãi:“Màu đen chứ, đồ ngốc” Chúng tôi lại bắt đầu cãi nhau về màu sắc của quả bóng. Đến lúc này thì cô giáo bảo chúng tôi đổi chỗ cho nhau. Lần này, khi cô hỏi tôi:“ Quả bóng màu gì?”, tôi đành trả lời “màu trắng ạ”. Bởi vì quả bóng đó được sơn hai màu khác nhau ở hai phía. Từ chỗ tôi ngồi ban đầu thì nó có màu đen, còn chỗ bạn tôi thì nó màu trắng. Vậy mà chúng tôi đã gân cổ cãi nhau vì một điều mà cả hai chắc chắn cho là mình đúng mà không biết tại sao người kia nói ngược lại ý kiến của mình. ( Nguồn Internet) Háy trình bày suy nghĩ của anh/chị sau khi đọc văn bản trên. Câu 2(14,0 điểm) Tác giả Trần Thanh Đạm viết: “ Thơ ca dân gian bay trên đôi cánh vần điệu, còn truyện dân gian du hành trên cỗ xe tình tiết” Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên? Bằng vốn kiến thức về ca dao và truyện cổ tích, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. ------------------------Đề 10 Câu 1: (6,0 điểm) Khi được ca ngợi là người khổng lồ trong khoa học, nhà bác học Niu –tơn đáp lại đại ý như sau: Tôi không phải là người khổng lồ. Tôi nhìn xa hơn người khác vì tôi đứng trên vai người khổng lồ. Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên. Câu 2(14,0 điểm) 45


Trong Trích diễm thi tập, Hoàng Đức Lương viết: “ Đến như văn thơ, thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt tầm thường mà xem,miệng tầm thường mà nếm được. Chỉ thi nhân là có thể xem mà biết được sắc đẹp, ăn mà biết được vị ngon ấy thôi” Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Qua một tác phẩm cụ thể trong chương trình Ngữ văn 10, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. MỘT SỐ ĐỀ MINH HỌA (DÀNH CHO LỚP 11) Đề 1 Câu 1 (6,0 điểm). Trong một bài phỏng vấn, du học sinh Đỗ Nhật Nam có câu trả lời: Tiếng Anh giúp em đi xa, tiếng Việt giúp em về gần. Trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong câu nói trên. Câu 2 (14,0 điểm). Kết thúc tác phẩm Chí Phèo là cái chết và sự hồi sinh... Anh/chị hãy làm sáng tỏ điều đó và tìm ra sức mạnh điển hình của nhân vật văn học. ----------------------------------------Đề 2 Câu 1 (6,0điểm): Có ý kiến cho rằng: “Mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá.” (Theo Hạt giống tâm hồn, tập 4, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2004) Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên. Câu 2 (14,0 điểm): Nhà văn Phạm Thị Hoài cho rằng: “Những truyện ngắn hay - theo cảm nhận của tôi- thường gắn với thơ (…). Truyện ngắn dường như là đứa con tất yếu của người mẹ thơ và người cha văn xuôi. Nó là thơ viết bằng văn xuôi, bề ngoài mang tính cha mà bên trong mang tính mẹ”. 46


Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Làm sáng tỏ ý kiến trên qua một truyện ngắn tự chọn thuộc chương trình Ngữ văn lớp 11. ------------------------------------------------Đề 3 Câu 1 (6,0 điểm) Nhà bác học Acsimet từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa. Tôi sẽ nâng bổng cả Trái Đất lên”. Anh, chị suy nghĩ gì về câu nói đó? Trình bày suy nghĩ của mình bằng một bài văn nghị luận. Câu 2 (14,0 điểm) Lãng mạn và hiện thực là hai khuynh hướng văn học có những đặc điểm khác biệt. Tuy nhiên, trong một số tác phẩm đặc sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, hai khuynh hướng ấy có sự giao thoa, bổ sung cho nhau. Qua một số truyện ngắn tiêu biểu, anh chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. ----------------------------------------Đề 4 Câu 1:( 6,0 điểm) Nhà thơ Trần Dần từng viết: “Tôi khóc những chân trời không có người bay Lại khóc những người bay không có chân trời” Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý thơ trên. Câu 2: (14,0 điểm) Nhà thơ người Ba Lan- Wislawa Szymborska từng viết trong diễn từ Nobel của mình năm 1996: “Nếu như một Issac Newton không nói với mình rằng “tôi không biết” thì có lẽ táo trong vườn sẽ rụng xuống trước mắt ông như mưa đá và trong trường hợp khả dĩ nhất ông cũng chỉ cúi xuống nhặt lên ăn một cách ngon lành. Nếu như người đồng hương của tôi, Marie Curie, không nói với mình rằng “tôi không biết”, thì có lẽ bà cũng chỉ trở thành cô giáo môn hóa học dạy ăn lương cho các tiểu thư con nhà quyền quý, và cuộc đời bà cũng chỉ kết thúc ở cái công việc đức hạnh ấy. 47


Thế nhưng bà đã nhắc với mình “tôi không biết”, và chính những từ ấy đã hai lần đưa bà tới Stockhom, nơi những tâm hồn sôi động, luôn tìm tòi sáng tạo được trao tặng giải Nobel. Nhà thơ cũng vậy. Nếu như đó là một nhà thơ đích thực thì phải luôn nhắc mình “tôi không biết”. Cố gắng tìm câu trả lời bằng mỗi tác phẩm của mình, nhưng khi vừa đặt xong dấu chấm là lại thấy băn khoăn, thấy rằng đó mới chỉ là câu trả lời tạm thời và tuyệt nhiên chưa đầy đủ” (Wislawa Szymborska - Thơ chọn lọc- NXB Hội nhà văn- 2014) Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên. -----------------------------------------------------Đề 5 Câu 1. (8,0 điểm) "Thời gian là hữu hạn, vì thế đừng phí phạm thời gian để sống cuộc sống của người khác." ( Steve Jobs) Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên. Câu 2. (12,0 điểm) "Thơ phải có tư tưởng, có ý thức, vì bất cứ cảm xúc, tình tự nào của con người cũng dính liền với sự suy nghĩ. Nhưng tư tưởng trong thơ là tư tưởng dính liền với cuộc sống, ở trong cuộc sống. Tư tưởng của thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự." (Trích Mấy ý nghĩ về thơ - Nguyễn Đình Thi, sgk Ngữ Văn 12, trang 56). Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên. Phân tích một số bài thơ trong phong trào thơ mới (Ngữ văn 11) để làm sáng tỏ quan điểm của anh (chị). -----------------------------------------Đề 6 Câu 1 (6,0 điểm): Anh/chị hãy đọc câu chuyện sau: Ở một thị trấn nhỏ của nước Anh đã xảy ra một vụ cướp ngân hàng, tên cướp không cướp được tiền mà lại bị bao vây chặt bên trong. Hắn ta bắt một em bé 5 tuổi và yêu cầu cảnh sát phải chuẩn bị cho mình một khoản tiền lớn cùng một chiếc ô tô, nếu không hắn sẽ nổ súng giết con tin. Phía cảnh sát cử một chuyên gia 48


đến đàm phán, tuy nhiên tên cướp vẫn ngoan cố không chịu đầu hàng. Khi thấy tên cướp có ý định giết con tin, phía cảnh sát đã nổ súng bắn tỉa, tên cướp kêu lên một tiếng rồi ngã lăn xuống đất. Cậu bé nhìn thấy những vết máu và nghe thấy tiếng súng nên sợ hãi khóc thất thanh. Người đàn ông nhanh chóng chạy lại ôm cậu bé vào lòng. Các hãng thông tin truyền thông vừa kịp kép đến ùn ùn, đúng lúc đó, mọi người chợt nghe tiếng người đàn ông hô to:“Tốt lắm, diễn tập đến đây là kết thúc!”. Cậu bé nghe xong liền ngừng khóc và hỏi mẹ có phải như thế không. Mẹ cậu bé kìm nén nước mắt và gật đầu. Một viên cảnh sát khác cũng đi đến bên cạnh cậu bé và an ủi: “Cháu diễn tốt lắm, cháu xứng đáng được khen thưởng”. Những ngày sau đó, giới truyền thông đều im lặng, không ai nói một lời về vụ cướp bởi họ từ hiểu rằng, đó là cách tốt nhất để bảo vệ tâm hồn cậu bé!. Nhiều năm sau, có một người đàn ông trung niên đến tìm gặp và hỏi người đàn ông năm xưa cứu cậu bé: “Tại sao trong lúc ấy, ông lại hô lên như vậy ạ?”. Ông cười và trả lời: “Khi tiếng súng vang lên, tôi nghĩ rất có thể cậu bé sẽ bị ám ảnh cả đời vì chuyện đáng sợ như thế này. Nhưng khi tôi tới gần cậu bé hơn thì dường như Thượng đế đã gợi ý cho tôi và thế là tôi thốt lên câu “Diễn tập kết thúc!”. Lúc này, người đàn ông trung niên bật khóc và ôm chầm lấy ông: “Con chính là đứa trẻ năm xưa đây ạ, con đã bị nói dối suốt 30 năm qua, mãi cho tới gần đây, mẹ của con mới nói rõ sự thật cho con biết. Con cảm ơn bác, cảm ơn bác đã cho con một cuộc đời lành mạnh!”. (Nguồn Internet) Từ ý nghĩa câu chuyện trên anh/chị hãy viết một bài văn với chủ đề: Đừng làm tổn thương trái tim em bé. Câu 2 (14,0 điểm): Nhà phê bình Kim Thánh Thán cho rằng: Thơ cần có chân tâm, thực ý. Còn nhà thơ Chế Lan Viên khẳng định: Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí. Từ những quan niệm trên, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về CÁI THỰC và CÁI ĐẸP trong thơ. 49


----------------------------------------Đề 7 Câu 1 (6,0 điểm) “Khi của cải mất ,chẳng có gì mất cả. Khi sức khoẻ mất, mất một vài thứ rồi. Khi ý chí mất, chẳng còn lại gì nữa”. Anh/ chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Câu 2 (14,0 điểm): Anh/ chị hãy cảm nhận chi tiết Hắn ôm mặt khóc rưng rức (Trích Chí Phèo) và chi tiết Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc… Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc. Hắn ôm chặt lấy cái bàn tay bé nhỏ của Từ vào ngực mình mà khóc […] Hắn lại càng khóc to hơn và cố nói qua tiếng khóc: -

Anh… anh… chỉ là… một thằng… khốn nạn ! … (Trích Đời thừa)

của nhà văn Nam Cao ---------------------------------------Đề 8 Câu 1 (6,0 điểm) Phóng viên: "Con có hiểu chuyện gì đang xảy ra chứ? Con có hiểu tại sao những người đó, họ đã làm như thế không?" Em bé: " Dạ, bởi vì họ rất rất là tàn ác, những kẻ xấu này chẳng tử tế chút nào và chúng ta phải thật sự cẩn thận vì chúng ta cần phải chuyển chỗ ở thôi!" Người bố: "Đừng lo con trai à, chúng ta sẽ không đi đâu hết, nước Pháp chính là nhà của mình!" Em bé: "Còn những kẻ xấu thì sao bố?" Người bố: “ Những kẻ xấu thì nơi nào cũng có cả." Em bé: "Bọn họ có súng và họ có thể bắn chúng ta vì họ rất rất là tàn nhẫn bố à." 50


Người bố: "Không sao, họ có những khẩu súng, còn ta thì có những bông hoa." (Trích cuộc phỏng vấn hai cha con người Pháp gốc Việt của báo "Le Petit Journal" về vụ khủng bố tại Paris đêm 13.11.2015 ) Suy nghĩ của anh/chị về thông điệp gửi đến trong cuộc trò chuyện trên? Câu 2 (14,0 điểm) Bàn về sự sáng tạo của người nghệ sĩ có ý kiến cho rằng: “Nghệ sĩ, hơn bất cứ hạng người nào, chính là kẻ mang trong mình thiên chức sáng tạo, liên tục sáng tạo. Điều đó cũng có nghĩa rằng, một cách tiên nghiệm, nghệ sĩ là kẻ phủ định, luôn luôn phủ định những cái đã có, của tha nhân và thậm chí của chính mình”. Anh (chị) có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Bằng hiểu biết về sự sáng tạo của một nghệ sĩ trong chương trình Ngữ văn 11 Nâng cao, hãy làm sáng tỏ vấn đề. ---------------------------------------Đề 9 Câu 1 (6,0 điểm) Anh (chị) hãy viết bài văn nghị luận với chủ đề: Nhà là nơi "bão đứng sau cửa". Câu 2 (14,0 điểm) Nhận xét về kết thúc của truyện ngắn, tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng: "Điều quan trọng hơn cả là sau mỗi cách kết thúc, tác giả phải gieo vào lòng người đọc những nhận thức sâu sắc về quy luật đời sống và những dự cảm về tương lai, về cái đẹp tất yếu sẽ chiến thắng" (Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2011, tr 85) Anh (chị) có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Hãy phân tích một vài truyện ngắn đã học trong chương trình Ngữ văn 11 Nâng cao để làm sáng tỏ. -----------------------------------------51


7.2.3.3.4. Chấm, chữa bài giúp học sinh phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm - Khâu chấm bài trong quá trình bồi dưỡng học sinh cũng vô cùng quan trọng. Giáo viên cần quan tâm và sửa kĩ những lỗi về: Chính tả, viết tắt, viết số không đúng qui định; lỗi thiếu ý, diễn đạt, hành văn, cách trình bày…Sau đó, nhận xét một cách thấu đáo, kĩ lưỡng bài làm, chỉ rõ những ưu nhược điểm của học sinh đồng thời phải có tác dụng động viên, nâng đỡ tinh thần để các em tự tin vào chính mình, biết khắc phực điểm yếu, phát huy điểm mạnh trong những bài sau. - Có thể nói, chấm, chữa bài là một khâu công phu, vất vả nhưng rất cần thiết và là cả một nghệ thuật để giúp học sinh tiến bộ. Vì vậy, giáo viên cần trân trọng, nâng niu những phát hiện, tìm tòi của học sinh. Khi cần thiết phải viết lại cả câu hay một đoạn vào bài làm để học sinh đối chiếu. Tuy nhiên, thời gian làm bài trên lớp không có nhiều nên giáo viên có thể ra đề, yêu cầu các em viết ở nhà trong thời gian ấn định, tự giác, độc lập làm bài, không trao đổi, không sử dụng tài liệu…Điều này sẽ giúp học sinh rất nhiều về tư duy, phân chia thời gian cho từng phần hợp lí. 7.2.3.3.5. Gặp gỡ, động viên, khích lệ và nhắc nhở học sinh một số điều cần thiết trước khi đi thi - Trước khi đi thi khoảng năm ngày, giáo viên nên tổ chức một buổi gặp mặt để vừa động viên, vừa nhắc nhở học sinh những điều cần thiết. Đây là điều tưởng chừng không liên quan đến chuyên môn nhưng lại khá hiệu quả. Chính những lời động viên kịp thời, sự khích lệ của giáo viên sẽ giúp học sinh cố gắng hết mình trong bài làm, đạt kết quả cao nhất có thể. - Cần nhắc học sinh chuẩn bị những điều cần thiết: + Trước khi đi thi: Phải giữ tinh thần thoải mái, không thức quá khuya, mang đồng hồ để căn chỉnh thời gian + Khi vào phòng thi: Bình tĩnh, tự tin. Không được bỏ cuộc kể cả khi gặp đề bài khó. Cố gắng làm trọn vẹn tất cả các câu, tránh việc chỉ làm một hay hai câu. Xác định đề, lập dàn ý trước khi viết dù đề dễ hoặc đã làm; làm ngay câu nào thấy dễ hoặc thấy thích hơn những câu khác hoặc làm câu nhiều điểm trước. Chú ý 52


dung lượng bài viết, không quá ngắn hoặc quá dài, văn hay chẳng luận bài dài; phân bố thời gian cho các câu hợp lí; ở mỗi câu không để tình trạng đầu voi đuôi chuột xảy ra. 7.3. Về khả năng áp dụng sáng kiến Những giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng học sinh khá, giỏi tôi trình bày ở trên đã được các thầy cô trong tổ chuyên môn của trường THPT Tam Đảo áp dụng để bồi dưỡng đội tuyển và bồi dưỡng học sinh đại trà, giúp học sinh có lực học từ trung bình vươn lên khá, học sinh có lực học từ khá vươn lên giỏi, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. Đặc biệt, chất lượng thi học sinh giỏi môn Văn các năm đều thu được kết quả khả quan. Năm học 2015 -2016, có 2 giải Nhì, 4 giải Ba, 8 giải khuyến khích. Năm học 2016-2017 có 1 giải Nhất, 5 giải Ba, 9 giải khuyến khích. Năm học 2017-2018 có 1 giải Nhỉ, 3 giải Ba, 3 giải khuyến khích cấp tỉnh. Chất lượng môn Văn của nhà trường ở các lớp chuyên đề đầu cao và chất lượng thi THPTQG luôn đứng đầu trong các kỳ thi khảo sát và thi chính thức so với các môn thi bắt buộc khác. - Như vậy, theo tôi sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tam Đảo và các trường THPT trên toàn tỉnh. 8. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không 9. Các điều kiện để áp dụng sáng kiến 9.1. Về phía giáo viên - Bản thân giáo viên được phân công bồi dưỡng đội tuyển phải giữ được ngọn lửa nhiệt tình, đam mê với nghề và với nghiệp văn. - Cần phải thay đổi quan điểm về phương pháp giảng dạy theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Tích cực trong công tác tự bồi dưỡng chuyên môn. - Ngoài kiến thức của môn Ngữ văn, giáo viên cần phải tự học, tự trang bị cho mình kiến thức của các môn học khác để có thể tích hợp các kiến thức trong khi giảng dạy. 53


- Để đạt được hiệu quả, giáo viên cần phải có sự chuẩn bị kĩ càng, phân công nhiệm vụ cho học sinh rõ ràng về cả kịch bản và kênh thông tin để giúp học sinh dễ dàng tìm được nguồn tư liệu. Ngoài ra, học sinh và giáo viên phải có sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng, có tinh thần hợp tác, xây dựng bài học và đặc biệt phải có tinh thần tự học và phương pháp học bộ môn hiệu quả. 9.2. Về phía học sinh - Cần rèn luyện chủ động, tích cực tham gia các hoạt động trong các giờ học. - Nâng cao tinh thần tự học, tự tìm hiểu để tạo ra hứng thú trong tiếp nhận các nội dung kiến thức. - Có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập. 9.3. Về phía nhà trường - Ban giám hiệu, lãnh đạo nhà trường có sự quan tâm, động viên đúng mức đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Các thầy cô trong tổ chuyên môn, trong nhà trường nhiệt tình, tích cực ủng hộ. - Có đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện dạy học hiện đại giúp giáo viên và học sinh có điều kiện sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học để bài học sinh động hơn. Để áp dụng được sáng kiến trên cần có các điều kiện dạy học cơ bản như: Lớp học, các giáo cụ trực quan, tài liệu có liên quan đến nội dung bồi dưỡng, các phương tiện hỗ trợ như máy tính, máy chiếu, mạng Internet… - Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề chuyên môn nhằm trao đổi phương pháp giảng dạy đồng thời giúp giáo viên các bộ môn phát hiện những kiến thức của môn học khác có liên quan đến môn mình dạy để có thể sử dụng khi cần thiết. - Tổ chức chuyên đề dạy một số bài mẫu để rút kinh nghiệm. - Cần đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá hạn chế kiến thức nhận biết, thông hiểu, tăng cường kiến thức vận dụng vào thực tế.

54


10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 10.1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả 10.1.1. Về phía giáo viên Có sự chủ động về kiến thức, ít gặp lúng túng và vướng mắc như trước đây. Kiến thức được củng cố, mở rộng. Kinh nghiệm bồi dưỡng ngày càng được bồi đắp, phát triển, góp phần trong việc nâng cao chất lượng giải của đội tuyển học sinh giỏi. Cụ thể: Trước khi áp dụng kinh nghiệm, số lượng giải của đội tuyển do tôi phụ trách là Năm học

Nhất

Nhì

Ba

Khuyến khích Tổng số giải

2014-2015

0

0

2

1

3

2015-2016

0

0

2

3

5

Sau khi áp dụng kinh nghiệm, số lượng giải của đội tuyển do tôi phụ trách là Năm học

Nhất

Nhì

Ba

Khuyến khích Tổng số giải

2016-2017

1

0

1

3

5

2017-2018

0

1

3

0

4

2018-2019

0

1

2

1

4

10.1.2. Về phía học sinh - Các em trong đội tuyển thể hiện sự hứng thú rõ rệt với bài học, cách học mà giáo viên hướng dẫn. Giờ học không trở nên nặng nề theo tính chất bắt buộc mà trên tinh thần tự giác, tự tìm hiểu, khám phá. Điều này giúp các em không chỉ đạt kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi mà trong các bài thi học kì, thi chuyên đề, thi khảo sát chất lượng của Sở, thi thử Đại học…các em đều đạt điểm từ khá trở lên. - Phương pháp học tập theo kiểu truyền thống, học sinh giữ vai trò bị động trong việc tiếp thu kiến thức dẫn đến sự nhàm chán trong giờ học, không phù hợp với xu hướng phát triển của lứa tuổi đang muốn tự khẳng định bản thân. - Với một số giải pháp mới học sinh được rèn luyện thêm những kĩ năng khác như: kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng tự học… Đây là 55


những kĩ năng rất cần thiết cho học sinh trong xã hội hiện đại, nhất là đối với các em học sinh lớp 12 - lứa tuổi chuẩn bị cho một cuộc sống mới khi tốt nghiệp THPT. Đây cũng là cơ hội để học sinh tự rèn tính trung thực và mạnh dạn phát biểu và có trách nhiệm với kết quả học tập của mình. Cùng đó mỗi tiết học trở nên sinh động hơn trước. Kĩ năng đọc - hiểu, nói và viết của học sinh đã được cải thiện rất nhiều… 10.2. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân Để đánh giá hiệu quả của việc triển khai những giải pháp trên, tôi thực hiện khảo sát theo hai hướng: khảo sát kết quả thi THPTQG, kết quả thi học sinh giỏi các năm gần đây của Nhà trường và của Sở. - Trong những năm qua, các em lớp 12 điểm thi THPTQG môn Văn khá cao. Ví dụ: Năm học 2016-2017 lớp 12A5 do tôi đứng lớp có em Trần Thị Thu Trang 9,0 điểm (Học viện Cảnh sát), em Đào Nguyệt Anh 9,5 điểm (Đại học Luật Hà Nội), em Trần Thị Luyến 9,0 điểm (Đại học Ngoại Thương Hà Nội ), em Nguyễn Thị Hoa 9,0 điểm (Đại học Ngoại Thương TP Hồ Chí Minh). Năm học 2017- 2018, tôi tham gia giảng dạy cùng cô giáo Nguyễn Thị Anh Trâm, kết quả môn Văn của em Phan Thị Ngọc Ánh 8,0 điểm (Đại học Ngoại Thương Hà Nội ), em Nguyễn Thị Nhung 8,0 điểm (Đại học Ngoại Thương Hà Nội ), em Vũ Văn Thi 7,75 điểm( Học viện An Ninh), em Đào Thị Hiền 8,0 điểm(Học viện Ngân hàng). Năm học 2018-2019 tôi tham gia giảng dạy cùng cô giáo Đặng Thị Thoan, kết quả môn Văn của em Tống Thị Thanh 7,5 điểm (Đại học Ngoại Thương Hà Nội ), em Nguyễn Kim Oanh 8,0 điểm (Đại học Ngoại Thương Hà Nội ), em Triệu Thúy Vy (Đại học KHXH và NV), em Lại Lê Hằng Nga 8,5 điểm (Đại học KHXH và NV), em Vũ Thị Minh Ánh 7,75 điểm (Học viện Tài chính) - Một số đồng nghiệp trong tổ đã vận dụng đề tài này vào việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi và thu được những kết quả ngoài sự mong đợi. Cụ thể: • Trước khi áp dụng kinh nghiệm, số lượng giải của tổ Văn là: 56


Năm học

Nhất

Nhì

Ba

Khuyến khích Tổng số giải

2014-2015

0

0

5

9

14

2015-2016

0

0

4

8

12

• Sau khi áp dụng kinh nghiệm, số lượng giải của tổ Văn là: Năm học

Nhất

Nhì

Ba

Khuyến khích Tổng số giải

2016-2017

1

1

11

8

21

2017-2018

0

1

3

0

4

2018-2019

0

3

5

5

13

- Như vậy, sau khi áp dụng kinh nghiệm, số lượng giải của tổ Văn là tăng lên đáng kể về số lượng và chất lượng. Chất lượng và kết quả của đội tuyển môn Văn được Ban giám hiệu nhà trường đánh giá cao. Đối với một trường miền núi có điểm tuyển đầu vào lớp 10 thấp nhất, nhì trong toàn tỉnh thì đây là những kết quả đáng mừng, góp phần nâng cao uy tín, chất lượng giáo dục của nhà trường. 11. Danh sách những cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến STT

Tên cá nhân

Địa chỉ

Vi Thị Thanh Huệ

Giáo viên

Phạm vi áp dụng sáng kiến

trường Bồi dưỡng đội tuyển HSG

THPT Tam Đảo (Đã khối 10( Có giải Nhất)

1

chuyển về trường Trần Phú) Nguyễn Thị Yên

Giáo viên

trường Bồi dưỡng đội tuyển HSG

THPT Tam Đảo (Đã khối 12( Có giải Nhất)

2

chuyển về trường Trần Phú)

3 4

Mạc Thu Hương

Giáo viên

trường Bồi dưỡng đội tuyển HSG

THPT Tam Đảo Trương Phương Thúy

Thị Giáo viên

khối 11( Có giải Ba)

trường Ôn thi THPTQG

THPT Tam Đảo

Bồi dưỡng đội tuyển HSG 57


khối 10, 11( Có giải Nhất) Đặng Thị Thoan

Giáo viên

trường Ôn thi THPTQG

THPT Tam Đảo

5

Bồi dưỡng đội tuyển HSG khối 10,12( Có giải Ba)

Nguyễn Thị Anh Giáo viên 6

trường Ôn thi THPTQG

THPT Tam Đảo

Trâm

Bồi dưỡng đội tuyển HSG khối 10( Có giải Nhì).

Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ được tôi rút ra trong quá trình giảng dạy, rất mong muốn được chia sẻ với các bạn đồng nghiệp để đúc rút ra những phương pháp tốt nhất trong việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Văn ở trường THPT, phù hợp với trình độ, điều kiện học tập của học sinh hiện nay. Với trình độ bản thân có hạn, chắc chắn đề tài còn nhiều hạn chế, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của cán bộ nghiệp vụ Sở giáo dục, Ban giám hiệu nhà trường và các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn. Tam Đảo, ngày tháng năm 2020

Tam Đảo, ngày 22 tháng 02 năm 2020

Thủ trưởng đơn vị

Tác giả sáng kiến

Dương Văn Bảng

Trần Thị Thúy Hồng

58


TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn trường THPT – NXB 2. Giáo dục – H.2010. 3. Lí luận dạy học tích cực – Lê Văn Lộc (chủ biên) – NXB ĐHQG – H.2011. 4. Chuẩn kiến thức kĩ năng 10,11,12 – NXB Giáo dục – H.2009. 5. Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn - NXB Giáo dục – H.2011. 6. Tuyển tập đề thi OLYMPIC 30 tháng 4, lần thứ XVI – 2010. 7. Muốn viết được bài văn hay - NXB Giáo dục – H.2000 - Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên). 8. Tuyển tập đề thi OLYMPIC 30 tháng 4, 2015. 9. Tuyển tập đề thi OLYMPIC 30 tháng 4, 2016. 10. Tuyển tập đề thi OLYMPIC 30 tháng 4, 2017.

59


MỤC LỤC 1. Lời giới thiệu ......................................................................................................................... 1 2. Tên sáng kiến: ....................................................................................................................... 3 3. Tác giả sáng kiến .................................................................................................................. 3 4. Chủ đầu tư sáng kiến: ........................................................................................................... 3 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến ................................................................................................. 3 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử ................................................... 3 7. Mô tả bản chất của sáng kiến ............................................................................................... 4 7.1. Đánh giá thực trạng của đề tài khi áp dụng và thử nghiệm ........................................... 4 7.1.1. Đánh giá thực trạng của đề tài trước khi áp dụng sáng kiến ....................................... 4 7.1.2. Nguyên nhân ............................................................................................................. 5 7.2. Những giải pháp đã áp dụng .......................................................................................... 5 7.2.1. Phát hiện và tuyển chọn những học sinh có năng khiếu bộ môn ................................. 5 7.2.2 Lập kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển.............................................................................. 7 7.2.3. Dạy học – Bồi dưỡng ................................................................................................ 8 7.3. Về khả năng áp dụng sáng kiến .................................................................................... 53 8. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): .................................................................... 53 9. Các điều kiện để áp dụng sáng kiến ................................................................................... 53 9.1. Về phía giáo viên........................................................................................................... 53 9.2. Về phía học sinh ........................................................................................................... 54 9.3. Về phía nhà trường ....................................................................................................... 54 10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến ............................................................. 55 10.1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả .................... 55 10.1.1. Về phía giáo viên .................................................................................................. 55 10.1.2. Về phía học sinh.................................................................................................... 55 10.2. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân ................. 56 11. Danh sách những cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến ............................................. 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

60


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT BỒI DƯỠNG ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI by Dạy Kèm Quy Nhơn Official - Issuu