CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
vectorstock.com/22575460
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection DẠY KÈM QUY NHƠN TEST PREP PHÁT TRIỂN NỘI DUNG
Hai đoạn trích kí Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường . Các dạng đề Nghị luận văn học về hai đoạn trích kí và bài tập minh họa WORD VERSION | 2021 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
MỤC LỤC A. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ.............................................................................................................. 1 1. Mô tả chuyên đề ............................................................................................................................ 1 2. Mạch kiến thức của chuyên đề ...................................................................................................... 1 3. Thời lượng .................................................................................................................................... 2 B. TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHUYÊN ĐỀ ................................................................................. 2 I. MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ................................................................................................................ 2 1. Kiến thức ....................................................................................................................................... 2 2. Kĩ năng .......................................................................................................................................... 2 3. Thái độ .......................................................................................................................................... 2 4. Năng lực cần hướng đến ............................................................................................................... 2 II. HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC........................................................ 3 III. CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ ................................................................................................ 3 1. Chuẩn bị của thầy.......................................................................................................................... 3 2. Chuẩn bị của trò ............................................................................................................................ 4 IV. BẢNG MÔ TẢ MỨC ĐỘ NHẬN THỨC CẦN ĐẠT .................................................................. 4 V. NỘI DUNG KIẾN THỨC HAI TÁC PHẨM KÍ ............................................................................ 6 1. Thể loại kí văn học ........................................................................................................................ 6 2. Đoạn trích Người lái đò Sông Đà ................................................................................................. 9 2.1. Kiến thức chung ..................................................................................................................... 9 2.2. Kiến thức trọng tâm.............................................................................................................. 14 3. Đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?.................................................................................... 28 3.1. Kiến thức chung ................................................................................................................... 28 3.2. Kiến thức trọng tâm.............................................................................................................. 30 VI. CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ HAI TÁC PHẨM KÍ ....................................... 37 1. Khái quát về văn nghị luận ......................................................................................................... 37 1.1. Giới thiệu chung ................................................................................................................... 37 1.2. Cách mở bài cho bài văn nghị luận văn học......................................................................... 38 1.3. Viết phần thân bài trong bài văn nghị luận văn học ............................................................. 42 1.4. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận văn học ...................................................... 43 1.5. Cách dựng đoạn và liên kết đoạn văn................................................................................... 44 3. Các dạng đề văn nghị luận thường gặp trong đề thi THPT Quốc gia ......................................... 47 3.1. Dạng đề nghị luận về một nhân vật/đối tượng trong tác phẩm và nhận xét một vấn đề. ..... 47 3.2. Dạng đề nghị luận về một đoạn trích và nhận xét một vấn đề. ............................................ 49 3.3. Dạng đề nghị luận về một đối tượng qua hai lần miêu tả và nhận xét về một vấn đề.......... 51 3.4. Dạng đề so sánh hai đoạn trích............................................................................................. 53 3.5. Dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. ............................................................... 57 VII. BÀI TẬP TỰ GIẢI ..................................................................................................................... 59 C. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CHUYÊN ĐỀ ...................................................................................... 60 I. GIÁO ÁN MINH HỌA (NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – 1 TIẾT) ................................................... 60 II. KẾT QUẢ THI THPT QUỐC GIA CỦA HỌC SINH .................................................................. 71 D. ĐỊNH HƯỚNG TRIỂN KHAI CHUYÊN ĐỀ CHO NHỮNG NĂM TIẾP THEO ..................... 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 74 PHỤ LỤC…………………………………………………………………………………………. 75
A. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ 1. Mô tả chuyên đề Chuyên đề này gồm các bài: - Tiết 46, 47; tiết 49 trong chương trình Ngữ văn 12 - chương trình cơ bản: Tiết 46, 47: Người lái đò Sông Đà. Tiết 49: Ai đã đặt tên cho dòng sông?. - Các kiến thức cũ trong chương trình Ngữ văn 11: Tiết 40: Tác gia Nguyễn Tuân. - Lý do chọn chuyên đề: Hai đoạn trích kí Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường là những nội dung kiến thức quan trọng trong chương trình thi THPT Quốc gia. Ngoài ra, các kiến thức này còn giúp học sinh hình thành nhiều năng lực và phẩm chất cần thiết. 2.Mạch kiến thức của chuyên đề 2.1. Thể loại kí văn học 2.1.1. Khái niệm. 2.1.2. Đặc trưng. 2.1.3. Tiểu loại bút kí và tùy bút 2.1.4.Những điểm cần lưu ý khi đọc- hiểu một tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại 2.2. Nguyễn Tuân và đoạn trích tùy bút Người lái đò Sông Đà 2.2.1. Kiến thức chung. 2.2.1.1. Tác giả 2.2.1.2. Tác phẩm 2.2.2. Kiến thức trọng tâm. 2.2.2.1. Hình tượng sông Đà 2.2.2.2. Hình tượng người lái đò 2.2.2.3. Cái tôi trữ tình của nhà văn. 2.3. Hoàng Phủ Ngọc Tường và đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? 2.3.1. Kiến thức chung. 2.3.1.1. Tác giả 2.3.1.2. Tác phẩm 2.3.2. Kiến thức trọng tâm. 2.3.2.1. Vẻ đẹp của sông Hương. 2.3.2.2. Cái tôi trữ tình của nhà văn. 2.4. Các dạng đề Nghị luận văn học về hai đoạn trích kí và bài tập minh họa 2.4.1. Dạng đề nghị luận về một nhân vật/đối tượng trong tác phẩm và nhận xét về 1 vấn đề nào đó.
1
2.4.2. Dạng đề nghị luận một đoạn trích văn xuôi và nhận xét về 1 vấn đề nào đó. 2.4.3. Dạng đề liên hệ hai/ba đoạn trích văn xuôi và nhận xét về 1 vấn đề nào đó. 2.4.4. Dạng đề so sánh đoạn trích. 2.4.5. Dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học.
2.5. Bài tập tự giải 2.6. Kết quả triển khai chuyên đề 2.6.1. Giáo án minh họa 2.6.2. Kết quả thi THPT Quốc gia năm 2019 3.Thời lượng - Thời gian học ở nhà: 1 tuần nghiên cứu về chuyên đề trong các bài học SGK, nguồn tư liệu do giáo viên cung cấpvà tự tìm kiếm thông tin qua các nguồn tham khảo khác; 1 tuần tự luyện đề thông qua các bài tập tự giải. - Số tiết học trên lớp: 10 tiết.
B. TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHUYÊN ĐỀ I. MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ 1. Kiến thức - Nắm được kiến thức chung về thể kí văn học. - Nắm được đặc điểm nổi bật của 2 tiểu loại bút kí và tùy bút. - Về cơ bản, nắm được giá trị nội dung, nghệ thuật các văn bản: Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường. - Sự đa dạng về phong cách cũng như cái tôi của các tác giả Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện trong hai bài kí. 2. Kĩ năng - Đọc- hiểu kí hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại; Phân tích được một số đặc điểm nghệ thuật cơ bản (vẻ đẹp kì ảo của sự đa thanh, phức hợp; từ bút pháp cho đến giọng điệu, ngôn từ, hình ảnh...). 3. Thái độ - Trân trọng những trang tuyệt bút của các tác giả bởi chất trữ tình công dân dần được thay thế bằng nhiều cung bậc cảm xúc của cái tôi cá nhân. Không chỉ ghi lại tâm tư tình cảm trong đời sống thực, kí hiện đại Việt Nam còn lắng vào bề sâu tâm hồn, tâm linh, tiềm thức con người Việt Nam để khám phá ở đó những giá trị bền chặt của văn hóa và truyền thống dân tộc. 4. Năng lực cần hướng đến - Năng lực tự học. - Năng lực tự giải quyết vấn đề, thu thập thông tin liên quan đến văn bản. - Năng lực sáng tạo.
2
- Năng lực giao tiếp, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản. - Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận. - Năng lực sử dụng ngôn ngữ bày tỏ quan điểm, cảm nhận sau khi đọc văn bản. - Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ. - Năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học.
II. HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC - Hình thức: Triển khai ở lớp học kết hợp học sinh nghiên cứu tài liệu và luyện tập ở nhà. - Phương pháp dạy học: nêu vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp trực quan. - Kỹ thuật dạy học:kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật động não, kĩ thuật suy nghĩ – từng cặp – chia sẻ, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật công đoạn, kĩ thuật trình bày 1 phút, kĩ thuật chúng em biết 3, kĩ thuật đọc – viết hợp tác, kĩ thuật mảnh ghép...
III. CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ 1. Chuẩn bị của thầy - Thiết bị dạy học: máy chiếu, máy vi tính, sách giáo khoa Ngữ văn 11, Ngữ văn 12 cơ bản, giấy A0, bút dạ, bảng phụ, bút màu. - Chuẩn bị giáo án, thiết kế bài giảng. - Chuẩn bị đồ dùng, học liệu: + Các video về sông Đà, sông Hương. + Bản đồ địa lý: thủy trình sông Đà, sông Hương. + Tranh ảnh về hai tác giả, hai dòng sông, thiên nhiên và con người Tây Bắc, xứ Huế. - Xây dựng các câu hỏi liên hệ, câu hỏi tình huống theo ma trận kiến thức, kĩ năng. - Chuẩn bị các Phiếu học tập đầy đủ cho học sinh: + Phiếu học tập số 1: Tìm hiểu về kí văn học Khái niệm Đặc trưng Phân loại
+ Phiếu học tập số 2: Tìm hiểu tiểu loại bút kí và tùy bút Nội dung Bút kí Tùy bút Khái niệm Đặc trưng
3
- HS nhận biết và ghi nhớ được những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu đặc sắc trong 2 tác phẩm kí.
+ Phiếu học tập số 3: Sơ đồ tư duy về các đơn vị kiến thức (tác giả, tác phẩm) - Chia nhóm, giao nhiệm vụ về nhà cho các nhóm và từng cá nhân HS trước khi dạy 1 tuần: tìm hiểu tác giả, tác phẩm. - Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp. 2. Chuẩn bị của trò - Đọc trước ngữ liệu trong sách giáo khoa và các nguồn tham khảo. - Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ ở nhà (do giáo viên giao từ trước). - Đồ dùng học tập.
IV. BẢNG MÔ TẢ MỨC ĐỘ NHẬN THỨC CẦN ĐẠT NỘI DUNG
1. Về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
2. Thể loại
3. Đề tài, chủ đề, cảm xúc chủ đạo
Mức độ nhận thức cần đạt Nhận biết Thông hiểu - HS nhận biết, nhớ được tên tác giả và hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm.
- HS hiểu và lí giải được hoàn cảnh sáng tác có tác động và chi phối như thế nào tới nội dung tư tưởng của tác phẩm.
Vận dụng thấp - Khái quát được đặc điểm phong cách tác giả từ tác phẩm.
- HS nhận biết đặc - HS hiểu bản - HS biết nhận điểm chung thể loại chất thể kí. diện sự việc kí. chính trong kí.
- HS nhận biết được - HS hiểu được đề tài 2 tác phẩm kí chủ đề, và cảm phản ánh. nhận được cảm xúc chủ đạo của 2 tác phẩm kí.
4
- HS vận dụng, lựa chọn được các đề tài gần gũi trong cuộc sống để ghi
Vận dụng cao - Vận dụng hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm kí. - So sánh phong cách của các tác giả. - Biết vận dụng đặc điểm thể loại kí ghi chép lại các sự việc đã chứng kiến hoặc trải qua. - HS biết hệ thống, xâu chuỗi các tác phẩm cùng đề tài chủ đề để khái quát nên một vấn đề chung.
4. Ý nghĩa nội dung các tác phẩm
5. Giá trị nghệ thuật của 2 tác phẩm
6. Các dạng đề NLVH
chép. - HS hiểu được ý - HS viết được nghĩa, sự lô-gic đoạn văn hoàn giữa các sự việc. chỉnh bộc lộ cảm - HS hiểu được ý nhận của bản thân nghĩa các chi về ý nghĩa một số tiết, các hình hình ảnh, chi tiết ảnh, tiêu biểu tiêu biểu đặc sắc đặc sắc trong 2 trong 2 tác phẩm. - HS cảm nhận tác phẩm kí. - Từ ý nghĩa nội được ý nghĩa dung các tác của một số hình phẩm, HS biết ảnh, chi tiết tiêu liên hệ, rút ra biểu đặc sắc những bài học sâu trong các tác sắc cho bản thân, phẩm kí Việt biết điều chỉnh Nam hiện đại những suy nghĩ, đã học. hành vi của bản thân để hoàn thiện mình. - HS biết so sánh ý nghĩa nội dung, tư tưởng của các tác phẩm.
- HS nhận diện được trình tự ghi chép sự việc trong kí. - HS nhận ra được những biện pháp tu từ được sử dụng trong các tác phẩm.
- HS hiểu được tác dụng, hiệu quả nghệ thuật của trình tự ghi chép các sự việc trong kí. - HS hiểu được tác dụng của các BPTT. - HS nhận diện được - Hình thành dạng đề, xác định được hệ thống
5
- Sử dụng các - HS biết trình phép tu từ, kết bày cảm nhận hợp miêu tả và về giá trị nghệ biểu cảm để viết thuật của những kí (nhật kí, hồi chi tiết, hình kí). ảnh, biện pháp tu từ… - Kết hợp kiến - Vận dụng kiến thức đọc hiểu thức tiếng Việt và
về 2 phẩm
tác
được đối tượng nghị luận điểm, luận luận, phạm vi dẫn chứng, dụng ý chứng, thao tác lập nghệ thuật của luận chính. tác giả, ý nghĩa - Nhận biết được các chi tiết, hình nét chính về tác giả, ảnh, biện pháp tu tác phẩm từ...
tác phẩm và Làm văn để viết phương pháp bài văn nghị luận làm bài văn văn học. nghị luận, sử dụng kết hợp các thao tác lập luận.
V. NỘI DUNG KIẾN THỨC HAI TÁC PHẨM KÍ 1. Thể loại kí văn học 1.1. Khái niệm. Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn có sự ổn định tương đối về đặc trưng thể loại, các tác phẩm kí tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một nhóm thể tài có tính giao thoa giữa báo chí (chính luận, điều tra, ghi chép tư liệu, tường thuật sự kiện...) với văn học, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M.Gorki) và thường có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc, bao gồm nhiều tiểu loại thể văn như bút kí, kí sự, phóng sự, tiểu thuyết phóng sự, du kí, hồi kí, nhật kí, tuỳ bút, tản văn, tạp văn, tiểu luận, ... Đặc điểm sự giao thoa này càng trở nên rõ ràng khi mà bản thân thể tài kí còn đang trong quá trình hình thành và phát triển, khi mà ngay đường biên thể loại giữa truyện ngắn và ghi chép, giữa tiểu thuyết và phóng sự đôi khi cũng chưa được phân định rõ nét. Theo những nhà biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học, kí là thể loại văn học có đặc điểm “tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu” và “Nhà văn viết kí luônchú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm”. Còn các tác giả của “Từ điển tiếng Việt” thì cho rằng, kí là loại “thể văn tự sự cótính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất”. Có thể nói, đây là những khái quát rất cụ thể về đặc trưng cơ bản của thể loại này. Kí là một loại hình văn học không thuần nhất. Đó là lĩnh vực văn học bao gồm nhiều thể loại, chủ yếu là văn xuôi ghi chép, miêu tả và biểu hiện những sự việc, con người có thật trong cuộc sống. Kí có cái hạt nhân làm thành đặc trưng riêng của nó. Ở thể loại này, người ta đặc biệt quan tâm đến các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử, những biểu hiện của đời sống có thực ngoài đời và đồng thời muốn bộc lộ trực tiếp cá tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm xã hội của tác giả. “Với thể loại kí, từ sự thôi thúc của cuộc sống mà tác giả có nhu cầu đượccông bố kịp thời đến những nhận xét, những đánh giá, những ý tưởng… Kí ghi được rất rõnhững nét mang dấu ấn của một sự kiện, của một thời kì, của một lớp người, của một vùngmiền”.
6
Chính vì các tính chất nói trên mà thể loại kí có một phạm vi biểu hiện đời sống rất rộng lớn. Kí có thể thiên về ghi chép sự việc, hiện tượng như phóng sự, kí sự; có thể thiên về biểu hiện những cảm xúc trữ tình như tùy bút, tản văn;… Chính vì cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong nhìn nhận và khai thác các sự kiện của đời sống cũng như năng động phát huy vai trò sáng tạo của người cầm bút mà loại kí rất đa dạng và tác phẩm kí cụ thể luôn độc đáo. Thể kí, như cái tên đặt cho nó, đã nói lên đặc điểm cơ bản của nó là thể văn dùng để “ghi lại” sự việc, ý nghĩa, cảm xúc, … Mặc dù theo nguyên tắc, tích chất của thể kí là “xác thực” và người viết kí không được quyền hư cấu nhưng không thể coi viết kí chỉ là một công việc chụp ảnh và ghi âm một cách máy móc và vai trò của người viết kí là hoàn toàn thụ động mà người viết kí phải làm công việc lựa chọn, sắp xếp. Kí có nhiều tiểu loại: kí sự, phóng sự, nhật kí, hồi kí, bút kí, tùy bút, du kí, … 1.2. Đặc trưng. 1.2.1. Kí luôn bám sát những vấn đề nhân sinh – thế sự nóng hổi của thực tế đời sống Kí là một loại hình văn học mang tính thời đại, người viết kí luôn là những chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn chương. Do vậy một đặc trưng rất quan trọng của loại hình văn học năng động này là “luôn bám sát vào các vấn đề nhân sinh – thế sự nóng hổi của thực tế đời sống”. Bên cạnh đó, kí còn mang đến cho người đọc những tri thức về văn hoá của dân tộc, phản ánh lịch sử đấu tranh của dân tộc ta. Như vậy, đặc điểm nàycho người đọc thấy được phạm vi, giới hạn hiện thực được mô tả trong kí hết sức rộng lớn và phong phú. Đối tượng nhận thức, vùng thẩm mĩ của kí rất phong phú: bao gồm các vấn đề nhân sinh – thế sự, các sự kiện chính trị - xã hội, hình ảnh thiên nhiên phong phú, tươi đẹp. Viết về những vấn đề nhân sinh tức là kí đang phản ánh về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người. 1.2.2.Kí luôn đề cao tính thông tin xác thực trong mô tả, trần thuật Kí là loại hình văn học hết sức cơ động và linh hoạt, vì vậy mà nó có khả năng phản ánh hiện thực một cách nhạy bén, kịp thời. Tính xác thực của con người, sự việc được nói đến trong kí được đảm bảo một cách cao độ. Có rất nhiều thể loại văn học cũng nói về sự thật nhưng nếu như ở các thể loại này, sự thật như là cái nguyên cớ để tác giả bộc lộ tư tưởng của mình thì tuyên ngôn về sự thật trở thành lẽ sống, thành đặc trưng nổi bật nhất của kí văn học.Bởi vậy tiếp xúc với bất cứ tác phẩm kí nào người đọc đều bắt gặp trong đó cái cốt lõi của người thật, việc thật được phản ánh một cách xác thực. 1.2.3. Hư cấu trong kí Tác giả kí khéo sử dụng tài liệu đời sống kết hợp với tưởng tượng, cảm thụ, nhận xét, đánh giá. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện suy tưởng nhận xét chân thực, tinh tường của nhà văn trước sự việc. Cái thú vị của kí là ở những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện đối tượng. Vì vậy, sức hấp dẫn của kí
7
chính là ở khả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của tác giả. Kí ít chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào những liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộc sống. Điều ấy làm nên cái hay cái đẹp của một tác phẩm kí. Một trong những cách thức vận dụng hư cấu trong kí là nghệ thuật sử dụng cái Tôi. Bằng cái Tôi, nhà văn thoát khỏi tình trạng quẩn quanh giữa người thực, việc thực để mở rộng hoàn cảnh văn học đến những chân trời xa xôi khác, bằng cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, hồi ức...Tuy vậy, hư cấu không làm ảnh hưởng tới tính xác thực của nội dung và phải làm tăng ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. => Như vậy, kí là thể loại có sự đan xen giữa truyện (ghi chép, miêu tả, tái hiện sự vật, hiện tượng) với thơ (bộc lộ cái tôi trữ tình của người viết). Bởi vậy, bên cạnh việc tái hiện hiện thực cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động, ngòi bút của người viết còn thỏa sức vẫy vùng, với những liên tưởng, tưởng tượng phong phú, đa dạng, khai thác và sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ, bộc lộ những tình cảm, cảm xúc mãnh liệt và vốn hiểu biết sâu rộng của người viết. 1.3. Tiểu loại bút kí và tùy bút 1.3.1. Bút kí Theo từ điển văn học, bút kí là: “Một thể loại thuộc nhóm thể tài kí nhằm ghi lại sự việc, con người, cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường là trong một chuyến đi, một lần tìm hiểu nào đó. Bút kí là thể trung gian giữa kí sự và tùy bút. Điều này có nghĩa là bút kí không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực, có những nhận xét, suy nghĩ, liên tưởng nhưng ít phóng túng triền miên mà tập trung một tư tưởng chủ đạo”. Đặc trưng của bút kí dựa trên tiêu chí thể hiện người thật,việc thật nhưng luôn gắn với cảm xúc, gắn với suy tư của cá nhân nhà văn và cũng thường bắt nguồn từ một cái cớ, một sự kiện nào đó. Cách viết cũng không bị gò bó trong một khuôn khổ, một quy tắc nào mà tùy theo sự liên tưởng, tưởng tượng của tác giả để từ đó bộc lộ cảm xúc hoàn chỉnh của người viết. Một tác phẩm bút kí văn học được coi là có giá trị khi “ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, có khả năng tác động đến tâm hồn người” nhờ những biện pháp liên tưởng, tưởng tượng, trữ tình. Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút kí tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được đề cập đến nhằm khám phá ra những khía cạnh “có vấn đề”, những ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Nói cách khác giá trị hàng đầu của bút ký là giá trị nhận thức. 1.3.2. Tùy bút Từ điển văn học định nghĩa: “Tùy bút là một thể loại văn xuôi tái sinh từ thể loại kí, gần với bút kí nhưng cách viết tự do và tùy hứng nhiều hơn. Nhà văn dựa vào sự lôi cuốn của cảm hứng có thể nói từ sự việc này đến sự việc khác từ liên tưởng này sang liên tưởng
kia để bộc lộ những cảm xúc, những tâm tình, phát biểu những suy nghĩ, những nhận xét về con người và cuộc đời. Bản ngã của nhà văn được thể hiện trong tùy bút gần như trong thơ trữ tình”. Nhà nghiên cứu Hà Văn Đức đã lấy tùy bút của Nguyễn Tuân làm chuẩn mực để đưa ra quan niệm về tiểu loại này như sau: “Tùy bút là một thể loại có lối viết tương đối tự do, phóng khoáng. Nhà văn tùy theo ngọn bút đưa đẩy, có thể đi từ việc này sang việc khác, từ liên tưởng này sang liên tưởng nọ để bộc lộ những nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc của mình về đối tượng được phản ánh. Ở thể loại tùy bút, cái tôi bản ngã của nhà văn được thể hiện gần như trong thơ trữ tình”. Từ hai định nghĩa tiêu biểu trên, ta thấy tùy bút là một loại kí trữ tình tiêu biểu, trữ tình nhất trong các loại văn xuôi, có những đặc điểm riêng như sau: - Tự do, phóng túng, hầu như không có luật lệ, quy phạm gì chặt chẽ. - Tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm, nhân vật chính là cái tôi của nhà văn (Nguyễn Tuân gọi tùy bút là “chơi lối độc tấu”). Cho nên sự hấp dẫn của tùy bút chủ yếu là sự hấp dẫn của cái tôi ấy (phong phú, uyên bác, sâu sắc, độc đáo, tài hoa và có duyên đến mức nào). Tùy theo cái tôi của tác giả mà tùy bút có loại thiên về triết lí, có loại thiên về thông tin khoa học (về văn hóa, văn học, lịch sử hay phong tục), có loại thiên về mô tả phong cảnh, …. Cũng có loại thuần túy trữ tình. 1.4. Những điểm cần lưu ý khi đọc - hiểu một tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại Tác giả kí khéo sử dụng tài liệu đời sống kết hợp với tưởng tượng, cảm thụ, nhận xét, đánh giá. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện suy tưởng nhận xét chân thực, tinh tường của nhà văn trước sự việc. Cái thú vị của kí là ở những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện đối tượng. Vì vậy, sức hấp dẫn của kí chính là ở khả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của tác giả. Kí ít chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào những liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộc sống. Điều ấy làm nên cái hay cái đẹp của một tác phẩm kí. Vì vậy khi dạy đọc hiểu kí nên hướng dẫn HS: + Đọc đối tượng của bài kí: Hiện thực được phản ánh trong tác phẩm, đánh giá về độ chân xác, tính thời sự của các sự kiện; dung lượng thông tin… + Đọc cái tôi của người viết kí: Hiện thực là cái cớ để nhà văn bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, bình luận, triết lí. + Đọc nghệ thuật viết kí: Bố cục, cấu tứ; Khả năng liên tưởng, tưởng tượng; Xây dựng hình ảnh qua việc sử dụng các biện pháp tu từ;cách tạo nhịp điệu; sử dụng ngôn ngữ;... 2. Đoạn tríchNgười lái đò Sông Đà
8
9
2.1. Kiến thức chung 2.1.1. Tác gia Nguyễn Tuân (1910-1987)
a. Cuộc đời: - Thời đại: Nguyễn Tuân sinh ra và lớn lên trong thời đại mà đất nước có rất nhiều biến động, trong đó sự kiện Cách mạng tháng Tám 1945 đã chia cuộc đời và sự nghiệp của ông làm hai giai đoạn rõ rệt. Trước năm 1945, ông là một trí thức có tài năng, có khát vọng nhưng mồ côi về mặt tư tưởng nên Nguyễn Tuân tìm đến với thú xê dịch. Sau năm 1945, Nguyễn Tuân tìm thấy ánh sáng của Đảng và cách mạng nên các tác phẩm đều ca ngợi cuộc sống mới, con người mới. - Quê hương: làng Mọc (Nhân Mục), nay thuộc Thanh Xuân, Hà Nội. Mảnh đất Hà Nội đã phú cho con người và văn chương của Nguyễn Tuân nét tinh tế, tài hoa. Ngoài mảnh đất Hà Nội, do thú xê dịch giang hồ của mình nên Nguyễn Tuân đã đi đến rất nhiều nơi mang đến cho ông vốn văn học và sự trải nghiệm phong phú. - Gia đình: Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học nên từ nhỏ ông đã được tiếp xúc với nền văn hóa văn học. Trong gia đình, Nguyễn Tuân ảnh hưởng mạnh nhất từ cha – một nhà nho bất đắc chí, có có tư tưởng và lối sống tài tử, phóng túng. Hình ảnh người cha đã được Nguyễn Tuân chọn làm hình mẫu để xây dựng nhiều nhân vật trong Vang bóng một thời. - Bản thân: + Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng yêu nước của ông có màu sắc riêng: gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà... những phong cảnh đẹp của quê hương đất nước, những thú chơi tao nhã như uống trà, nhắm rượu, chơi hoa, chơi chữ đẹp, đánh thơ, thả thơ... những món ăn truyền thống thể hiện khẩu vị tinh tế của người Việt. + Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình. Ông ham du lịch, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là “chủ nghĩa xê dịch”. + Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... Đồng thời Nguyễn Tuân còn là một diễn viên kịch nói có tài và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở nước ta. Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương. + Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, ông đã quan niệm nghề văn là một cái gì đối lập với tính vụ lợi kiểu con buôn, và ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thể có cái đẹp. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỉ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy. b. Sự nghiệp:
- Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua... Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp vang bóng một thời, và đời sống trụy lạc. - Chủ nghĩa xê dịch vốn là một lí thuyết vay mượn của phương Tây, chủ trương đi không mục đích, chỉ luôn luôn thay đổi chỗ để tìm cảm giác mới lạ và thoát li mọi trách nhiệm với gia đình và xã hội. Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi). - Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn vang bóng một thời. Ấy là thời phong kiến đã qua nhưng dư âm còn vang vọng lại. Ông không viết về trật tự xã hội, về tư tưởng đạo đức cũ, mà mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã, những cách ứng xử giữa người với người đầy nghi lễ nhịp nhàng... Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (trong số này cũng có những người có khí phách ngang tàng như Huấn Cao (Chữ người tử tù) chẳng hạn). - Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống trụy lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao, được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật (Chiếc lư đồng mắt cua). - Lòng yêu nước và thái độ bất mãn với xã hội thực dân đã đưa Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng chiến. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước. Nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất. c. Phong cách nghệ thuật: • Trước Cách mạng tháng Tám: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ “ngông”. Ngông là thái độ khinh đời, ngạo đời, dựa trên tài hoa, sự uyên bác và nhân cách hơn đời của mình. Ngày xưa, Nguyễn Công Trứ có câu thơ rất ngông:
10
11
Trời đất cho ta một cái tài Giắt lưng dành để tháng ngày chơi. (Cầm kì thi tửu,bài 1) - Nguyễn Tuân là một người tài hoa uyên bác. Sự thật đó được chứng minh ở các điểm sau: + Tiếp cận mọi sự vật ở mặt văn hóa thẩm mĩ để khám phá và... khen chê. Nguyễn Tuân luôn say mê truy tìm vẻ đẹp độc đáo của con người và cuộc sống. + Vận dụng trí thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật để quan sát hiện thực, sáng tạo hình tượng. + Nhìn người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ, tạo nên những nhân vật tài hoa để... đem đối lập với những con người bình thường, phàm tục. Con người trong văn Nguyễn Tuân bao giờ cũng đẹp với vẻ tài hoa nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình. Với Nguyễn Tuân những người bình thường khi thực hiện những công việc bình thường trong phạm vi nghề nghiệp mà họ đang làm nếu đạt tới một trình độ tinh xảo, nhuần nhuyễn, khéo léo mà người khác khó lòng theo kịp thì được coi là một kẻ tài hoa: “mĩ thuật vốn không có bà con luận lí với thời đại, một thằng ăn cắp cũng trở lên đẹp đẽ khi nó cắt túi người ta rất gọn, rất nhanh”. + Tô đậm cái phi thường, gây cảm giác mãnh liệt dữ dội. Nguyễn Tuân thường miêu tả những cảnh đẹp tuyệt mĩ, tuyệt đích; cái đẹp ấy là sự hội tụ của cái đẹp thi vị trữ tình và vẻ đẹp hoành tráng dữ dội đến dữ dằn. - Nguyễn Tuân là một con người có nhân cách đạo đức hơn đời: chỗ dựa ở thái độ “ngông” của ông không chỉ ở sự tài hoa uyên bác mà còn ở tính cách “ngông” của ông. Cái gốc của nhân cách đạo đức của Nguyễn Tuân là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, niềm tha thiết với cái đẹp của văn nghệ, của phong tục tập quán, của thiên nhiên và những thú chơi tao nhã. • Sau Cách mạng tháng Tám - Sự vận động, đổi mới trong phong cách nghệ thuật tồn tại song song với tính thống nhất, ổn định của phong cách nghệ thuật. Quy luật sáng tạo đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết vượt lên chính mình và không được giẫm lên dấu chân người khác. Phong cách Nguyễn Tuân cũng có sự vận động theo chiều hướng tích cực ấy. Trước và sau Cách mạng là cả một sự thay đổi kì diệu trong văn ông. Cách mạng đã giải thoát cho tâm hồn và nghệ thuật Nguyễn Tuân, hướng nhà văn tới cuộc sống và nhân dân. - Sau Cách mạng, Nguyễn Tuân không còn nhấm nháp, say sưa chắt chiu cái đẹp trong những tiểu thế giới tù túng, chật hẹp nữa. Nhà văn cảm nhận được cái khỏe đẹp, rộng rãi, bao la của đất trời đổi mới. Cái nhìn của nhà văn với cuộc sống, con người trở nên đôn hậu hơn. Quan niệm của ông về cái đẹp vì thế mà bớt đi sự phù phiếm, phiến diện, từng bước tiếp cận với cái đẹp chân chính và tiến bộ. Ông đi tìm cái đẹp trong con người lao động
bình thường. Ông lái đò sông Đà trong tuỳ bút Người lái đò Sông Đà cũng là một con người như thế. Miêu tả tư thế vượt thác hiên ngang, anh dũng của ông lái đò, Nguyễn Tuân ca ngợi phẩm chất của người lao động thời đại mới, chủ động trước thiên nhiên, dám tấn công vào những thế lực dữ dội nhất của thiên nhiên. Đây là khám phá mới mẻ, độc đáo của Nguyễn về hình ảnh con người mới. - Nếu như trước Cách mạng, Nguyễn Tuân có cái “ngông”, “khinh bạt”, “ngạo đời” với xung quanh thì nay ông dùng cái nhìn ấy để đả kích, tấn công kẻ thù. Nhà văn để dành lối khinh bạt ấy cho thực dân Pháp nhằm đả kích, mỉa mai chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây lếu láo mà cứ như thế mà phết vào bản đồ lai chữ (Người lái đò sông Đà). Sự thay đổi sắc sảo trong ngòi bút Nguyễn Tuân cũng là kết quả của quá trình “lột xác” đầy đau đớn của ông. - Trước và sau Cách mạng có sự thay đổi lớn trong thể loại văn Nguyễn Tuân. Nếu như trước Cách mạng, ở các tập truyện ngắn Nguyễn Tuân được coi là bậc thầy với những nét độc đáo, riêng biệt thì nét phong cách này được thể hiện rõ trong Chữ người tử tù – một truyện ngắn gần đạt tới sự toàn mĩ (Vũ Ngọc Phan). Sau Cách mạng, thể loại tuỳ bút phát triển mạnh mẽ hơn, Người lái đò sông Đà là một trong những thành công xuất sắc của tuỳ bút Nguyễn Tuân. Có thể nói trong thể loại tuỳ bút trong làng văn Việt Nam đã xuất hiện Thạch Lam, Vũ Bằng… nhưng chưa ai theo kịp được “thể phách Nguyễn Tuân”. Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam. Ông có một kho từ vựng phong phú và một khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, lại có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng. Nhận xét về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, Anh Đức viết: Không biết chừng nào mới lại có một nhà văn như thế, một nhà văn mà khi ta gọi là một bậc thầy của ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo, vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều như có đóng một dấu triện riêng. 2.1.2. Tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” a. Hoàn cảnh sáng tác - Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tuỳ bútSông Đà (xuất bản lần thứ nhất năm 1960) - gồm mười lăm bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. - Tác phẩm Sông Đàđược viết trong thời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế đầy hào hứng và gian khổ khi lên mảnh đất Tây Bắc rộng lớn và xa xôi, không chỉ để thỏa mãn cơn đói của thú xê dịch mà chủ yếu là tìm “chất vàng” của thiên nhiên và “chất vàng mười” đã qua thử lửa của con người lao động và chiến đấu của miền đất Tây Bắc của nhà văn. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.
12
13
Người lái đò Sông Đàlà một trong những áng văn tiêu biểu nhất của tập Sông Đà. b. Chủ đề - Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vĩ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc”. - Qua Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc họa những nét thơ mộng, hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới: chất vàng mười của đất nước trong xây dựng Chủ nghĩa xã hội qua hình ảnh người lái đò sông Đà. Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa. c. Lí do Nguyễn Tuân chọn sông Đà làm đối tượng miêu tả - Sông Đà là con sông có nét riêng độc đáo mà các sông khác không có: Chúng thuỷ giai đông tẩu Đà giang độc bắc lưu. (Mọi dòng sông đều chảy về hướng Đông Chỉ có sông Đà chảy theo hướng Bắc). - Và để làm nổi bật các ngôn từ nóng bỏng sự sống trong văn Nguyễn Tuân, để rồi khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đầy đủ với sự đối chọi giữa hai tính cách “hung bạo và trữ tình” của sông Đà. ⇒Con sông độc lạ thích hợp với ngòi bút độc lạ.
2.2.1. Hình tượng sông Đà Khái quát: - Nguyễn Tuân đã miêu tả dòng sông Đà không chỉ có vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, không chỉ có diện mạo, ngoại hình mà còn sống dậy cả tâm hồn, tính cách, thậm chí là cá tính độc đáo. - Để biến dòng sông từ một đối tượng của tự nhiên trở thành một sinh thể sống thực có tâm hồn, có tính cách, Nguyễn Tuân đã chủ yếu sử dụng nghệ thuật nhân hóa để viết về Đà giang. Ông viết về Đà giang như đang ngồi khai lí lịch cho đứa con tinh thần của mình. Con sông ấy qua ngòi bút của Nguyễn Tuân như oằn mình, cựa quậy trên từng trang viết. Bằng sự tìm hiểu cặn kẽ và nghiêm túc, tác giả đã cho người đọc biết sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông, Vân Nam, Trung Quốc, chảy qua vùng núi rồi nhập quốc tịch Việt Nam, sau đó trưởng thành mãi lên. Cách dùng từ khai sinh, nhập quốc tịch, trưởng thành cho thấy dòng sông cũng có đời sống riêng như đời sống của một công dân thực thụ. Với cách viết
này, Đà giang thực sự trở thành một nhân vật, trở thành một hình thể, một cơ thể sống và Nguyễn Tuân xứng đáng là một nhà ngôn ngữ bậc thầy, xứng đáng được văn giới cùng thời mệnh danh là người chẻ sợi tóc làm tư. 2.2.1.1. Con sông Đà hung bạo a.Nguyên nhân: - Trước khi chảy vào Việt Nam, sông Đà đã chảy qua một vùng núi hiểm trở của Trung Quốc, bởi vậy mà sự dữ dằn, hung tợn của dòng sông đã được hun đúc từ thượng nguồn. Về Việt Nam, sông Đà chảy qua địa hình Tây Bắc vốn là vùng đất nhiều đèo dốc, đồi núi hiểm trở tạo nên dòng chảy xiết mạnh cho dòng sông. - Do lịch sử đau thương: sông Đà cũng là nạn nhân của chiến tranh - thực dân Pháp chà đạp, giày xéo nước ta. Chúng ngang nhiên đè ngửa dòng sông ra và đổ vào đó một thứ mực đen đúa, bẩn thỉu khi viết tên dòng sông Đà trên bản đồ là sông Đen. Ngoài ra, bọn lang đạo thổ ti ở miền núi vì tham lam đã chia cắt dòng sông thành nhiều mảnh khiến cho dòng sông tức giận và càng trở nên hung bạo hơn. - Bằng kiến thức địa lý, xã hội, Nguyễn Tuân đã giải thích một cách cặn kẽ, hợp lí cho tính cách hung bạo của dòng sông. Đi đến tận ngọn nguồn của vấn đề, Nguyễn Tuân cho người đọc thấy, ông không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa mà còn là một người lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc. b. Biểu hiện của sự hung bạo: ● Hung bạo ở diện mạo: - Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”: + Hình ảnh “vách thành” đã phần nào thể hiện sự vững chãi thâm nghiêm và những sức mạnh bí ẩn đầy đe dọa của vách núi như thành cao, vực thẳm, như hào sâu. + Tác giả đã dùng những chi tiết tưởng như bâng quơ, ngẫu nhiên nhưng lại có giá trị gợi tả gián tiếp độ hẹp của dòng sông, độ cao của vách đá, như mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Đến việc đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. + Cách so sánh vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu – động từ “chẹt” và hình ảnh so sánh với cái “yết hầu” đã đem đến ấn tượng mãnh liệt cho người đọc về độ hẹp của lòng sông khi bị vách đá chèn ép tới nghẹt thở. + Miêu tả thế giới sự vật thông qua cảm giác rất quen thuộc của Nguyễn Tuân đã được thể hiện độc đáo khi nhà văn tạo ra ấn tượng tương phản của xúc giác với chi tiết ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, tạo ra ấn tượng của thị giác khi lấy hè phố để miêu tả mặt sông, lấy nhà cao gợi tả vách đá, truyền cho người đọc những hình dung về cái tăm tối lạnh lẽo đột ngột khi con thuyền đi từ ngoài vào khúc sông có đá hun hút dựng vách thành qua hình ảnh so sánh về một khung cửa sổ nào trên cái tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện. - Cảnh mặt ghềnh Hát Loóng:
14
15
2.2. Kiến thức trọng tâm
+ Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dàihàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm… Câu văn miêu tả có nhịp ngắn, nhanh, dồn dập kết hợp với các thanh sắc, những từ ngữ điệp nối tiếp thế chỗ nhau trong các cụm từ ngữ đã tái hiện sinh động quần thể những sức mạnh thiên nhiên dữ dội nhất của nước, sóng, gió, và đá sông Đà, trong đó cuồn cuộn những con sóng dữ vút lên, chồm lên nhau, trùng điệp ghê rợn trên mặt ghềnh. + Từ láy gùn ghèvà hình ảnh so sánh mang đậm sắc thái nhân hóa về việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loóng lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấyđã thể hiện sinh động sự hung hãn lì lợm và cuồng bạo của dòng sông. - Những cái hút nước trên sông Đà: + Một loạt những so sánh sống động, đặc sắc khiến hút nước thiện ra trong hình ảnh như một cái giếng bê tông xoáy tít, trong âm thanh của một cửa cống cái bị sặc, trong cả hình ảnh và âm thanh như mặt nước bị rót dầu sôi. + Từ láy tượng hình lừ lừ, từ láy tượng thanh tăng nghĩa ặc ặc cùng những chi tiết so sánh mang sắc thái nhân hóa khi miêu tả nước (thở và kêu như cửa cống cái bị sặc), tất cả góp phần làm hiện ra cả hình ảnh và âm thanh của hút nước như một quái vật đang giận dữ tới ghê người. + Hình ảnh liên tưởng đến quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực đã giúp người đọc dễ dàng hình dung ra cảm giác hãi hùng nếu phải đi thuyền men gần hút nước đáng sợ. Nhà văn còn phát huy trí tưởng tượng phong phú khi hình dung ra những bè gỗ to lớn nghênh ngang bị lôi tuột xuống đáy hút nước, hay chiếc thuyền bị hút trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi... tan xác ở khuỷnh sông dưới. + Không dừng lại trong những hình dung tưởng tượng về cái bè gỗ hay một con thuyền bất hạnh nào đó phải làm mồi cho hút nước, Nguyễn Tuân còn tạo ra một giả tưởng li kì dẫn dụ người đọc vào trò chơi cảm giác, kéo họ xuống tận đáy hút nước xoáy tít, sâu hoắm cùng một anh bạn quay phim táo tợn. Hút nước vì thế đã được miêu tả bằng thủ pháp điện ảnh, hất ngược từ dưới lên một cách sống động, truyền cảm từ hình khối của một thành giếng xây toàn bằng nước cho đến màu sắc của dòng sông nước xanh ve, và thậm chí cho đến cả cảm giác sợ hãi rất chân thực của con người khi phải đứng trong lòng một khối pha lê xanh như sắp vỡ tan, ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. ⇒Nghệ thuật:Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất tạo hình, Nguyễn Tuân đã tạo dựng nên một hình ảnh chân thực, sống động về cái mạnh mẽ, mãnh liệt, hung bạo của dòng sông Đà mà người đọc có thể cảm nhận chân thực bằng ấn tượng thị giác như đang được đứng trước dòng sông. ● Hung bạo ở tâm địa: - Tâm địa của thác nước:
+ Khi còn xa mới tới thác, Nguyễn Tuân đã miêu tả âm thanh của tiếng nước thác bằng những từ ngữ chỉ cảm xúc, thái độ, tâm trạng của con người khi oán trách, khi van xin, khi khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, khi rống lên. Nghệ thuật nhân hóa đã khiến thác nước sông Đà thực sự trở thành một sinh thể sống đang giận dữ, gầm gào, đe dọa con người ngay cả khi nó chưa xuất hiện. + Sự tài hoa tinh tế của Nguyễn Tuân còn thể hiện qua cách nhà văn dùng hệ thống những từ ngữ miêu tả âm thanh theo những cung bậc tăng dần cả về sắc thái cảm xúc và âm lượng để vừa miêu tả sống động sự đe dọa hung bạo của dòng sông, vừa miêu tả khoảng cách ngắn dần của người quan sát của thác đá sông Đà – và có lẽ đây cũng là cách làm tăng dần cảm giác hãi hùng, hồi hộp, kì thú. + Những phép so sánh kì thú trong một câu văn dài đầy ắp những hình ảnh dữ dội với một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng nhà văn đã thể hiện sự tài hoa độc đáo khi lấy hình ảnh gợi tả âm thanh, lấy lửa tả nước, lấy rừng tả sông, đặt những hình ảnh tương phản trong một trường liên tưởng bất ngờ, thú vị. Cách miêu tả ấy khiến âm thanh của thác đá không chỉ được cảm nhận bằng thính giác, không chỉ được hình dung qua trí tưởng tượng mà còn hiện ra trong những ấn tuợng đặc biệt sống động của thính giác, thị giác. - Tâm địa của thạch trận: + Khi thác đá hiện ra, sau câu văn ngắn như một tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú: Tới cái thác rồi, nhà văn đã đồng thời tả cả đá và nước thác với sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. Tính từ trắng xóa gây ấn tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào sôi dữ dội, lại gợi tả làn hơi nước như mờ đi trên một diện rộng mênh mông của mặt sông; cùng với hình ảnh chân trời đá, câu văn miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện ra sự hùng vĩ tới choáng ngợp của thác đá sông Đà. + Đá sông Đà cùng với nước với sóng với gió sông Đà được miêu tả qua một hình ảnh nhân hóa đặc sắc: Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình nhưmỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Sử dụng thuật ngữ của quân sự, Nguyễn Tuân đã gợi dậy cái sự bí ẩn và hiểm ác của đá sông Đà trong sự vĩnh hằng của thiên nhiên khi ngàn năm mai phục, khi dữ dằn, đột ngột hiện ra sau cái dập dềnh của sóng để nhổm cả dậy vồ lấy thuyền. + Một loạt những thuật ngữ của quân sự, võ thuật, thể thao như thạch trận, cuộc giáp lá cà, dàn trận địa, hàng tiền vệ, boong-ke, pháo đài...; một hệ thống dày đặc những động từ mang sắc thái nhân hóa, đặt trong những câu văn ngắn, dồn dập:mặt sông rung tít lên…nướcthác reo hò... hất hàm…hò la... ùa vào... bẻ gãy...đá trái…thúc gối... đội thuyền... túm thắt lưng… đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất...đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm… khiến thác đá sông Đà thực sự trở thành một chiến trường với những
16
17
trận hỗn chiến ác liệt giữa con người với thiên nhiên. Sự ác liệt còn được tô đậm thêm bởi những âm thanh mãnh liệt của một trận nước vang trời thanh la não bạt... Có lúc thác đá được động vật hóa để làm tăng thêm sự hung hãn hoang dại trong hình ảnh dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Thậm chí, sự hiểm ác và sức mạnh ghê gớm phi phàm của thác đá sông Đà còn được nhà văn đẩy lên đến mức độ thần linh trong hình ảnh ẩn dụ về binh pháp của thần sông, thần đá. + Tùy theo hình dạng, kích thước của đá và cách nhìn của nhà văn mà đá sông Đà được miêu tả trong những cảm nhận khác nhau, khi thì ngỗ ngược, nhăn nhúm méo mó bởi sự gồ ghề, lúc to lớn qua dáng bệ vệ oai phong lẫm liệt, khi này là tảng đá với những cạnh sắc nhọn hất ngược lên đem đến cảm nhận về sự xấc xược trong cái hất hàm thách thức, lúc khác lại là tảng đá nhẵn xanh xuôi chảy từ trên xuống qua hình ảnh thằng đá tướng... tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng... + Thác đá sông Đà còn vô cùng xảo quyệt khi dụ chiếc thuyền của đối phương, khi dàn sẵn trận địa sẵn và nhất là khi bày thạch trận mai phục và tấn công con người: Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông; vòng thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử… cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn;còn một trùng vây thứ ba nữa…bên phải, bên trái đều là luồng chết… luồng sống lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác… Nhu vậy, bằng sự độc ác và nham hiểm, sông Đà từng bước dồn những người lái đò vào con đường chết. Thực tế, đã có không ít người lái đò phải bỏ mạng nơi đây. ⇒ Nghệ thuật: Ngôn ngữ giàu chất tạo hình, những câu văn dài, những từ ngữ giàu sức biểu cảm. Với kiến thức phong phú, uyên thâm về các lĩnh vực địa lý, lịch sử, thể thao, quân sự, điện ảnh, …, Nguyễn Tuân đã khắc họa một cách chân thực hình ảnh một con sông Đà hung bạo, kẻ thù số 1 của con người. 2.2.1.2. Con sông Đà thơ mộng, trữ tình Khái quát:Để làm rõ vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà, Nguyễn Tuân đã miêu tả từ nhiều thời điểm: mùa xuân, mùa thu; từ nhiều góc độ: khi thì ngồi trên tàu bay để bao quát toàn cảnh, khi thì xuôi thuyền dọc theo sông Đà, có khi còn dừng hẳn lại để chiêm ngưỡng và miêu tả một cách cặn kẽ, kĩ càng. Việc làm đó của Nguyễn Tuân vừa cho thấy con sông Đà mang trong mình một vẻ đẹp đa chiều, phải soi ngắm từ nhiều phương diện, góc độ mới có thể thấy hết vẻ thơ mộng, trữ tình của nó, vừa cho thấy tinh thần lao động nghiêm túc của Nguyễn Tuân. a. Hình dáng sông Đà: - Quan sát sông Đà từ trên cao, nhà văn nhận thấy dòng sông như một cái dây thừng ngoằn ngoèo vắt ngang trên một đại dương đá. Hình ảnh này giúp người đọc hình dung toàn cảnh về độ lớn, độ hoành tráng của dòng sông khi nó tãi ra, uốn lượn trải quanh gần như toàn bộ địa hình của Tây Bắc.
- Nhưng cái đẹp đẽ nhất, mĩ lệ nhất là hình ảnh con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Câu văn này của Nguyễn Tuân xứng đáng được xếp vào những câu văn đẹp được coi là tờ hoa trong văn học Việt Nam hiện đại. Chính nhịp câu, lời văn và nghĩa chữ đã góp phần gợi tả những nét thi vị thật đặc biệt của dòng sông. Câu văn rất dài chỉ có một dấu ngắt duy nhất vừa như mô phỏng sự tuôn dàicủa dòng sông, vừa đem đến cảm giác về sự liền mạch bất tận, gợi hình ảnh dòng sông uốn lượn tuôn chảy từ những dãy núi hùng vĩ của biên giới Tây Bắc, miên man chảy xuống đồng bằng, lặng lẽ hòa vào sông Hồng rồi tha thiết đổ ra biển... Những thanh bằng liên tiếp ở đầu câu văn cũng làm tăng thêm sự yên ả, êm đềm, bình lặng cho dòng sông.Hơn nữa, tác giả đã đặt dòng sông trong một trường liên tưởng vô cùng diễm lệ: cả miền Tây Bắc tựa một nàng thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp yêu kiều, còn sông Đà chính là mái tóc kiều diễm của người thiếu nữ ấy. Cách so sánh của nhà văn đã gợi ra nét tha thướt, mềm mại, dịu dàng và kiêu sa của dòng sông. Ở đoạn này, những trang kí của Nguyễn Tuân được tô điểm thêm bằng những sắc màu và đường nét của nghệ thuật hội họa. Sắc xanh của dòng sông thật nổi bật giữa sắc trắng tinh khiết của hoa ban và sắc đỏ đến nao lòng của hoa gạo. Ngược lại, cái bung nở đầy mạnh mẽ của hoa ban, hoa gạo lại góp phần diễn tả sức sống căng tràn của dòng sông và tất cả bức tranh nên thơ, đẹp đẽ đó lại được ẩn hiện trong lớp sương khói lãng đãng, bởi vậy có thêm vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. ⇒Cách miêu tả của Nguyễn Tuân dẫn tới sự khẳng định: vẻ đẹp của sông Đà làm say mê trái tim người nghệ sĩ trước hết vì nó là vẻ đẹp của đất nước Tổ quốc bao la, sau nữa là vì nó gắn bó gần gũi thân thiết với cuộc sống con người. Nhà văn của những vẻ đẹp vang bóng một thời nay đã có sự thay đổi cơ bản trong quan điểm thẩm mĩ: Cái đẹp không còn cô đơn lạc lõng xa xôi, cái đẹp hiện ra ấm áp giữa cuộc đời bình dị, cái đẹp hiện diện ngay trong cuộc sống đời thường. b. Màu sắc sông Đà: - Mùa xuân: sông Đà mang màu xanh ngọc bích. Ẩn đằng sau hình ảnh miêu tả tưởng chừng như đơn giản ấy là vẻ đẹp của nước, về độ trong cũng như ánh sáng trên sông Đà. Để có thể tạo nên sắc xanh đẹp đẽ như sắc ngọc thì đòi hỏi dòng nước phải đạt đến độ trong vắt, đong chảy phải thực sự êm đềm, ngoài ra còn có ánh sáng chan hòa rực rỡ. Xanh ngọc là màu xanh êm dịu, vừa có màu lại vừa có ánh như có ánh sáng tỏa ra từ bên trong, đẹp đẽ và cao quý. Bằng sự từng trải của một người ham xê dịch, nhà văn đã nhận thấy cùng là sắc xanh nhưng chỉ nước sông Đà về mùa xuân mới đạt đến độ trong trẻo và đẹp như thế, còn các dòng sông khác như sông Lô, sông Gâm mang màu xanh canh hến. Rõ ràng, cảm hứng đề cao, tôn vinh, ngợi ca của tác giả được thể hiện rất rõ.
18
19
- Mùa thu: nước sông Đà mùa thu như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Sắc đỏ của dòng sông được miêu tả không chỉ ở bề mặt có thể cảm nhận bằng thị giác mà còn ở sâu tâm trạng, ở sự bất mãn, bực bội mà phải cảm nhận bằng tâm hồn mới hiểu được. Nhà văn đã không chỉ làm hiện lên màu sắc rất đặc trưng của sông Đà trong mùa thu mà còn thể hiện sức mạnh tiềm tàng ẩn chứa đầy đe dọa của một dòng sông vẫn năm năm báo oán đời đời đánh ghen với con người. Bằng tình yêu của một người say mê nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã thẳng thắn phản bác cái tên mà thực dân Pháp đã gọi sông Đà là sông Đen. ⇒Vậy là ngay cả khi dừng lại miêu tả nét thơ mộng trữ tình của dòng sông, hình ảnh về một sông Đà hung bạo hình như vẫn ám ảnh đâu đây trong sự quan sát và cảm nhận của một nhà văn luôn say mê những cảm giác mạnh. c.Sông Đà gợi cảm như một cố nhân trong quan hệ với con người: - Trong niềm yêu nhớ của Nguyễn Tuân, sông Đà gợi cảm như một cố nhân–từ được dùng để chỉ những người bạn thân thiết, gắn bó, những tình bạn được tạo nên từ nhừng đồng điệu, tri âm đã qua thử thách bởi những thăng trầm của thời gian. Hai chữ cố nhânvừa là hình ảnh nhân hóa dòng sông như một người bạn cũ xa nhớ gần yêu, vừa đưa đến cho dòng sông chút vương vấn, cổ kính, xưa cũ của Đường thi. - Khác hẳn với con thủy quái hung hãn ở thượng nguồn, về đến hạ nguồn, sông Đà bỗng trở nên dịu dàng, đằm thắm. Vì tác giả dành cho con sông nỗi nhớ da diết, cồn cào nên khi được gặp lại dòng sông yêu thương, niềm vui đã vỡ òa và tràn ra trên bề mặt câu chữ của Nguyễn Tuân: +Cấu trúc so sánh đặc sắc: trước mắt thấyloang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy là cái nhìn của một người chưa ra tới cửa rừng, mới chỉ nhìn thấy dòng sông lấp lóa nắng thấp thoáng ẩn hiện giữa những vạt cây mà đã háo hức, bồn chồn, đã vội vàng, khao khát... + Với liên tưởng mặt sông giống như cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”, Nguyễn Tuân đã đem đến cho sông Đà vẻ lãng mạn của hoa khói, sự trong sáng rực rỡ của sắc xuân, tỏa ra từ câu thơ vời vợi nhớ nhung được coi là “thiên cổ lệ cú” của Lí Bạch. Liên tưởng của nhà văn đã làm xao xuyến những tâm hồn chưa hề nguôi nỗi tiếc nuối nhớ nhung với những phong vị Đường thi cổ điển, để rồi nỗi xao xuyến ấy mơ hồ lan tỏa trên dòng sông gợi cảm, khiến sông Đà không chỉ chảy trong không gian, mà như còn tha thiết trong dòng thời gian miên viễn xa xăm của Đường thi. + Câu văn chỉ nối tiếp các chủ ngữ: Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đàcó sự trùng điệp về cấu trúc tạo nên nhịp điệu nhanh, dồn dập, vừa gợi ra niềm vui háo hức say mê, vừa gợi ra những bước chân nhanh vội của tác giả để chạy đến với
dòng sông của mình. Hai chữ Sông Đàtrở đi trở lạigợi ra được trái tim nồng nhiệt, ấm nóng đang cố gắng mở rộng tất cả biên độ của mình để cất lên niềm say mê phấn khích, như nhân lên những khoảng không gian phóng khoáng của bến bãi Đà giang, tạo cảm giác như nhà văn đang hân hoan ngợp giữa không gian sông Đà mênh mông để rồi say đắm òa vào những không gian ấy. Nhà văn đã ghi lại từng biểu hiện dù là nhỏ bé, giản dị nhất của sông Đà như bờ, bãi, chuồn chuồn, bươm bướm. Các vế câu lại được khéo léo sắp xếp để vế sau dài hơn vế trước cho thấy sự tăng cấp, sự hối hả dồn dập trong niềm vui vỡ òa của tác giả, nhờ vậy, câu văn đã trở thành những tiếng reo vui. +Cảm xúc mừng vui khi được gặp lại sông Đà được nhà văn cụ thể hóa trong những so sánh bất ngờ thú vị: Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Nắng tuy hữu hình nhưng lại là vô thể, chỉ có thể nhìn mà không thể nắm bắt, “giòn tan” là chính từ thường chỉ đặc điểm sắc thái của những vật thể mỏng manh dễ vỡ. Nắng giòn tan là một ẩn dụ đẹp gợi tả cái nắng thật trong, thật sáng, thật mỏng và thật nhẹ; nó vừa mong manh, vừa quý giá, nó tương phản hoàn toàn với cái u ám trĩu nặng của bầu trời những ngày “mưa dầm”, giúp người đọc dễ dàng hình dung cảm giác trìu mến, nâng niu của nhà văn khi gặp lại con sông. Và sự nối lại giấc mơ càng hi hữu hiếm quý bao nhiêu, càng đem lại cảm giác sung sướng, thú vị bấy nhiêu. Nhà văn của những khát khao đã nhiều lần tới sông Đà và bất cứ lúc nào nếu muốn, ông cũng có thể đến với người cố nhân của mình, vậy mà qua so sánh vui như nối lại chiêm bao đứt quãng có thể thấy cảm giác khi gặp lại dòng sông lần nào cũng tươi mới kì diệu như được nối lại một giấc mơ đẹp, lần nào cũng như được tận hưởng niềm vui chưa từng có trong đời, lần nào cũng như lần đầu tiên, cuối cùng và duy nhất. +Và cuối cùng, trong hình ảnh so sánh về cảm giác gặp lại sông Đà, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, sông Đà đã thực sự trở thành người bạn cũ, một tri âm với bao kỉ niệm gắn bó trong quá khứ, bao nhớ thương trong hiện tại, bao chung thủy trong tương lai, đến một cố nhân trái tính mà vẫn có sức hấp dẫn đến lạ kì. ⇒Như vậy, trong quan hệ với con người, sông Đà là một người bạn tri âm tri kỉ, là nơi chia sẻ mọi buồn vui, nó mang đến cho người đọc những cảm xúc vừa chân thành, vừa mãnh liệt, vừa hết sức nhân văn, đó là tính trữ tình toát lên từ tâm hồn, tính cách của dòng sông nơi hạ nguồn. d. Cảnh ven sông với sắc thái lặng tờ hoang dại: - Mở đầu đoạn là một câu văn êm ru trong những thanh bằng: Thuyền tôi trôi trên sông Đà... Câu văn đã đưa con thuyền, nhà văn và người đọc trở về cõi mơ êm đềm, yên ả, một cõi hoang sơ vắng lặng như chưa hề có dấu vết của con người trong quá khứ. Tính từ lặngtờđược lặp lại tới hai lần (Cảnh ven sông ở đây lặng tờ.Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi) đã đưa con sông như thoát khỏi tất cả
20
21
những bụi bặm xô bồ để đạt đến độ tinh khiết, trong vắt, trở thành dòng sông của thuở hồng hoang dội về. - Bờ sông tiếp tục được miêu tả trong những hình ảnh so sánh độc đáo: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Cách so sánh của Nguyễn Tuân đã gợi ra vẻ đẹp nguyên sơ trong trẻo và tĩnh lặng đến tuyệt đối của dòng sông Đà, đưa dòng sông trôi xa thêm vào miền mộng mơ, tiêu điều của cõi hồng hoang xa xôi, trong thế giới cổ tích huyền hoặc của tuổi thơ. Để phù hợp với vẻ nguyên sơ này, Nguyễn Tuân đã dùng một nét nghệ thuật rất cổ điển: Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương,chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Đây chính là nghệ thuật lấy động tả tĩnh bởi chỉ có thể lặng tờ đến tuyệt đối thì những thanh âm nhỏ bé như thế mới có khả năng tác động mạnh đến vậy tới những cảnh vật xung quanh. Nét nghệ thuật cổ điển này đã mang đến sức hấp dẫn lạ thường cho văn chương của Nguyễn Tuân. - Dòng chảy ở hạ nguồn được tác giả miêu tả trực tiếp: Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc cho thấy dòng nước Đà giang chảy chậm rãi, êm đềm, duyên dáng khác hẳn với hình ảnh con sông Đà cuồn cuộn ghềnh thác ở thượng nguồn. - Chất trữ tình còn được thể hiện rõ nét qua những cảnh vật ven sông, những hình ảnh thật nhỏ bé mong manh trong không gian trong lành, nguyên sơ, thuần khiết: một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa,cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp, con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương. Chỉ vài chi tiết nhưng đã tạo ra ấn tượng về sự non tơ, mỡ màng, về sự tươi mới và sức sống nội tại trong bản thân mọi sự vật, hiện tượng. Các cảnh vật đã nối tiếp nhau tạo nên bức tranh nên thơ, đẹp đẽ, yên bình. -Để gia tăng chất trữ tình cho dòng sông, Nguyễn Tuân khéo léo trích dẫn một vài câu thơ của Tản Đà, Nguyễn Quang Bích mà không cần thêm bất cứ lời bình luận nào. Tác giả đã ngầm khẳng định, chính vẻ đẹp trữ tình lãng mạn của dòng sông đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca. ⇒Nghệ thuật:Với việc phối hợp linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, với việc sử dụng lối hành văn đầy biến hóa độc đáo và giàu sức gợi tả, với việc vận dụng tri thức tổng hợp của những loại hình nghệ thuật khác nhau, Nguyễn Tuân đã miêu tả, bộc lộ cảm xúc và xây dựng thành công hình tượng dòng sông Đà trong hai sắc thái hung bạo và trữ tình. Nguyễn Tuân đã thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của mình trong những trang viết tài hoa uyên bác của mình khi miêu tả dòng sông.
2.2.2. Hình tượng người lái đò sông Đà Khái quát: - Trước 1945, Nguyễn Tuân thường say mê miêu tả vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những con người đặc tuyển, xuất chúng, vì thế, cái đẹp và người tài thường cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời, và trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, đó là những vẻ đẹp vang bóng một thời thường đem đến sự ngưỡng mộ ngậm ngùi, nuối tiếc. Sau 1945, quan niệm thẩm mĩ của nhà văn đã có những thay đổi cơ bản. Vẫn nhìn con người từ phương diện tài hoa nghệ sĩ nhưng bây giờ, Nguyễn Tuân cho rằng bất cứ người lao động nào khi đạt tới trình độ điêu luyện giỏi giang trong công việc của mình đều có thể coi là nghệ sĩ và xứng đáng được tôn vinh ở vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ. - Trong những năm 1960, khi miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, khi đất nước đang dần hồi sinh sau chiến tranh nhờ bàn tay, khối óc của những người lao động bình dị thì cảm hứng ngợi ca người lao động là cảm hứng xuyên suốt trong các tác phẩm văn học thời bấy giờ. Tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy. Bên cạnh việc dồn công sức để tạo nên một hình tượng dòng sông độc đáo nhất trong văn học, nhà văn còn tôn vinh vẻ đẹp của người lao động gắn với dòng sông ấy. - Hình tượng người lái đò được đặt song song với hình ảnh con sông Đà từ đầu đến cuối tác phẩm, khi thì là quan hệ đối lập, ngoại trừ, khi thì là quan hệ bổ sung, hỗ trợ tô đậm vào cái dữ dội, hung bạo của sông Đà, thực chất đó là cách để làm nổi bật những phẩm chất tốt đẹp của người lái đò. 2.2.2.1. Bối cảnh ông đò xuất hiện: Ngay khi miêu tả dòng sông Đà hung bạo khúc thượng nguồn, Nguyễn Tuân đã có ý thức tạo dựng một nền thiên nhiên dữ dội kì vĩ, một không gian hào tráng, lớn lao xứng đáng với sự xuất hiện của người anh hùng sông nước. Đó là một không gian của thác ghềnh hiểm trở, của sóng gió cuồn cuộn thét gào với hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió… một không gian của những hút nước ghê rợn, những thác đá dữ dằn, hiểm ác, của đá dựng vách thành bí ẩn thâm nghiêm. 2.2.2.2. Lai lịch và ngoại hình người lái đò: a. Lai lịch: Theo lời giới thiệu của Nguyễn Tuân thì ông lái đò người Lai Châu, khoảng bảy mươi tuổi, là người dày dạn kinh nghiệm trong việc vượt thác dữ sông Đà. Ông đã từng xuôi ngược sông Đà trên 100 lần, trong đó có trên 60 lần giữ lái chính. Có thể nói những con số mà tác giả đưa ra là những con số mang đầy áp lực và thử thách bởi một lần đối diện với con sông Đà hung bạo đã là một lần phải đối diện với cái chết nhưng ở đây người lái đò trên 100 lần vượt qua thử thách nguy hiểm đó, không chỉ giữ an toàn tính mạng cho bản thân mà ông
22
23
còn là người chỉ huy giữ gìn tính mạng cho tất cả những người đi cùng. Những con số đó đã cho thấy phần nào sự tài giỏi, lão luyện trong nghề nghiệp của ông lái đò. b. Ngoại hình: - Ông có ngoại hình thật đặc biệt: thân hình quắc thước sánh như chất sừng, chất mun trông trẻ tráng quá. - Mười năm trong nghề lái đò đã in dấu ấn khá đậm ở ngoại hình ông lão: Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù, bả vai ông có vết củ nâu tròn - dấu tích tì sào của nghề lái đòmười năm liền trên sông nước được Nguyễn Tuân ca ngợi là thứ huân chương siêu hạng. Chỉ bằng vài nét khắc họa tài hoa mà Nguyễn Tuân đã chạm khắc vào tiềm thức của người đọc một hình ảnh người lái đò gần gũi với môi trường lao động trên sông nước, sinh ra trên sông nước và để sống với sông nước. Một con người suốt một đời chiến đấu với thác, đá, sóng, nước sông Đà để tồn tại và xây dựng quê hương Tây Bắc. Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà còn để ca ngợi sự gắn bó, yêu quý nghề ở chính người đó. 2.2.2.3. Tính cách, tài năng của người lái đò a. Sự từng trải và am hiểu dòng sông: - Những nét tả ngoại hình của nhà văn cho thấy người lái đò thực sự là người từng trải, thành thạo trong nghề. - Sự từng trải của người lái đò còn được thể hiện ở chỗ, dòng sông Đà với bảy mươi ba con thác và ông đã lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đinh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả các con thác hiểm trở. Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả những cái chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng. Không phải bỗng dưng mà nhà văn nổi tiếng tài tử lại đưa vào trang viết của mình tỉ mỉ các ngọn thác, thời gian ông lái đò làm nghề. Phải chi li, cụ thể như vậy mới thấy hết sự từng trải, gắn bó của với nghề đến độ kỳ lạ ở ông lão lái đò. Đấy cũng là cách nhà văn bày tỏ nỗi thán phục của chính mình về một con người như được sinh ra từ những con sóng, ngọn thác hung dữ ở sông Đà. - Ông lái đò đã từng ngược xuôi trên ghềnh thác sông Đà nhiều năm trong cuộc đời nên ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, và thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, để rồi từ đó mưu trí, dũng cảm vượt qua và chiến thắng thiên nhiên hung bạo để tồn tại, lao động và sáng tạo. Ông lái đò hiện lên khác nào vị thần Thủy Tinh trong thần thoại Việt Nam, nhưng có điều ông không có phép tiên mà chỉ đơn thuần là con người lao động bình dị, đời thường tiêu biểu cho phẩm chất của người lao động mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới ở miền Bắc.
b. Vẻ đẹp trí dũng: Để khắc họa vẻ đẹp trí dũng tài hoa của ông đò, Nguyễn Tuân đã miêu tả một cuộc vượt thác nguy hiểm và ngoạn mục trong đó nổi bật sự tương phản giữa một thiên nhiên ác hiểm, hung bạo với con người trí dũng ngoan cường, đó cũng là trận thủy chiến dữ dội giữa một bên là những trùng vi thạch trận của đá thác, nước thác cùng sóng gió với một bên là chiếc thuyền đuôi én mỏng manh và những người lái đò nhỏ bé, đơn độc. Đối thủ ghê gớm của ông đò trong cuộc vượt thác là cả một đoàn quân đá hung bạo, dữ dằn. ⇒ Sự dữ dằn, hung bạo và hiểm ác của thiên nhiên sông Đà chính là những tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ vẻ đẹp trí dũng tài hoa của mình khi người lái đò luôn phải tỉnh táo, khôn ngoan, khéo léo, càng phải ngoan cường, dũng cảm mới có thể đưa con thuyền an toàn vượt qua những trùng vi thạch trận trên dòng sông. ●Ở vòng vây thứ nhất của thạch trận, thác đá sông Đà đã chuẩn bị dàn trận địa sẵn với bốn cửa tử, một cửa sinh. Thác đá sông Đà rất khôn ngoan, chúng không chỉ đánh trên mặt trận giáp lá cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lí chiến. Trước đó, chúng đã dùng âm thanh của thác khiêu khích giọng gằn mà chế nhạo, giờ đây chúng lại nhờ nước thác làm thanh viện cho đá. - Với bản tính hung hãn của một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò bằng những miếng đòn vô cùng hiểm hóc. Nó cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã ùa vào mà bẻ gãy cán chèo, liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền, có lúc chúng đội cả thuyền lên. Bị tấn công bất ngờ nhưng người lái đò vẫn bình tĩnh. Với chiến thuật phòng ngự để dưỡng sức cho những trùng vi sắp tới, ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. - Không để cho ông đò có cơ hội xoay sở, sông Đà đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất. Dính miếng đòn hiểm, mắt ông đò hoa lên, tưởng như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng - đây vẫn là cách miêu tả thông qua cảm giác quen thuộc của Nguyễn Tuân - vết thương đau đớn của ông đò đã dược thể hiện bởi cảm giác toé đom đóm và rát bỏng như lửa cháy. Đòn đau khiến ông đòmặt méo bệch đi- cách sử dụng từ độc đáo đã giúp nhà văn làm hiện ra không chỉ là gương mặt biến dạng, trắng bệch vì đau đớn mà còn nhợt nhạt vì phải dầm lâu trong nước lạnh. Trong trận hỗn chiến gian lao khi tương quan lực lượng quá chênh lệch với sóng thác sông Đà, ông đò đã dũng cảm, cố nén vết thương đau đớn, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại ngoan cường khéo léo đưa con thuyền vượt vòng vây thứ nhất của thạch trận trên sông Đà. ● Tới vòng vây thứ hai của thạch trận, ông đò không chỉ dũng mãnh, kiên cường mà còn thể hiện sự thông minh của một người lái đò dày dặn kinh nghiệm khi chuyển từ thế trận phòng ngự sang chủ động tấn công. Ông đò – người nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, người đã thuộc quy luật phục kíchcủa lũ đá được miêu tả như một dũng tướng tài ba đang điều khiển, thuần phục con ngựa bất kham của sóng thác sông Đà. Như một vận động
24
25
viên đua ngựa, ông đò nắm chắc bờm sóng… ghì cương lái… phóng nhanh…. lái miết… vào cửa sinhvới tốc độ di chuyển mau lẹ; Sóng nước xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử nhưng bằng kinh nghiệm dày dặn và trí nhớ siêu phàm,ông đò nhớ mặt từng đứa trong bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước để có cách ứng phó phù hợp. Đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo, đứa thì đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…Hàng loạt động từ xuất hiện nắm, ghì, phóng, lái, tránh, rảo, đè, chặt,… như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng nhịp tiến của ông đò. Nhờ sự mưu trí và tài năng của mình, ông đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá. Người đọc như đang được chiêm ngưỡng một tay lái ra hoa – trí tuệ và tài hoa con người đã chiến thắng cả thần sông, thần đá. ● Ở vòng vây cuối, sự hiểm ác của thác đá đã được nhà văn miêu tả trong hình ảnh ẩn dụ tài hoa về cổng đá cánh mở cánh khép – đó là cả một mặt trận đá trùng điệp trong đó bức tường phòng ngự vững chắc của lũ đá hậu vệ kết hợp với những mũi tấn công ào ạt, tới tấp không ngưng nghỉ của sóng dữ. Nhiệm vụ của ông đò là phải phóng thẳng thuyền, chọc thủng một luồng sinh duy nhất ở ngay giữa cửa bọn đá hậu vệ trấn giữ, trong khoảnh khắc cánh “cổng đá” mở giữa những đợt sóng thác dữ dội. Có thể nói trận chiến này sông Đà đã dùng thế trên đe dưới búa làm cho người lái đò phải đối mặt với thế tiến thoái lưỡng nan, nhưng cái khó lại ló cái khôn – ông lái đò đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên, còn ông giống như một cung thủ có nhiệm vụ: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. - Một loạt các động từ trong những câu văn ngắn lại được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cách đánh của ông đò như phóng, chọc thủng, xuyên qua, xuyên nhanh,… cho thấy sự thần tốc trong cách đánh nhanh thắng nhanh, thể hiện sự điêu luyện, khéo léo và sức mạnh của ông đò. - Hình ảnh so sánh con thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nướcvô cùng độc đáo. Con thuyền không còn lướt trên mặt nước mà đã thực sự bay trong làn hơi nước trên mặt sóng. Quả là “Đọc Người lái đò Sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài năng, của một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ” (Phan Huy Đông). Nghệ thuật lái thuyền đến đây khiến người đọc hoàn toàn tâm phục, khẩu phục. Đúng là ông lái đò đã đạt đến trình độ nghệ sĩ trong nghề nghiệp chèo đò của mình. ⇒ Tài năng của ông đò khi ấy đã bao hàm cả trí tuệ, sự trải nghiệm, sức mạnh thể lực, trình độ điêu luyện và bản lĩnh kiên cường – tất cả đều đạt tới mức phi phàm, tuyệt diệu. c. Vẻ đẹp tài hoa: - Sự thuần thục trong công việc: vượt qua sóng dữ thác ghềnh mà băng lướt nhịp nhàng như đang trổ tài những vũ điệu uyển chuyển trên bản giao hưởng của dòng sông. Để
có sự thuần thục tuyệt diệu trong nghề như thế, chắc hẳn người lái đò phải là người am hiểu sâu sắc về môi trường lao động của mình. - Sự thăng hoa trong cuộc vượt thác ở trùng vi thạch trận thứ ba: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở, cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. Người lái đò bao giờ cũng giữ thế chủ động để tìm cho mình một cửa sinh duy nhất giữa bát ngát trận đồ cửa tử của những trùng vi thạch trận hiểm ác, dữ dằn, không bao giờ cho phép mình chùn bước, sợ hãi hay sai lầm dẫu chỉ trong khoảnh khắc, luôn có thể trình diễn nghệ thuật lái đò điêu luyện của một tay lái ra hoa. - Phong thái nghệ sĩ – cách nhìn nhận về công việc: Sau khi chiến thắng thiên nhiên hung bạo, người lái đò lại đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh… chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác:Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ.Thái độ bình thản ấy càng làm đậm thêm tầm vóc lớn lao của những người anh hùng trong cuộc sống đời thường bình dị khi họ coi việc chiến đấu và chiến thắng sông Đà dữ dội, hiểm ác, việc giành sự sống từ những cửa tử của ghềnh thác sông Đà chỉ là chuyện thường ngày. ⇒ Đánh giá: Đặt nhân vật trong một tình huống thử thách độc đáo, chú ý khai thác phẩm chất tài hoa nghệ sĩ của nhân vật bằng hệ thống ngôn ngữ cá tính, giàu chất tạo hình (phù hợp với quan niệm và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân), hình tượng người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân mang trong mình vẻ đẹp của người dân lao động cần cù, dũng cảm, mưu trí, tài hoa nghệ sĩ trong cuộc sống bình dị, hi sinh cống hiến thầm lặng cho đất nước. 2.2.3. Cái “tôi” trữ tình trong bài kí Sở dĩ Nguyễn Tuân tìm đến và thành công với thể tùy bút, bởi vì nó là thể văn phóng túng, tự do, đáp ứng được cá tính ngông trên trang viết của Nguyễn Tuân. Là nhà văn có phong cách nghệ thuật đặc sắc Nguyễn Tuân hấp dẫn người đọc bởi cáitôi độc đáo, sự tài hoa, uyên bác, giác quan sắc nhọn, tinh tế, nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, giàu hình ảnh, cảm xúc. Sức hấp dẫn của ngòi bút Nguyễn Tuân trong tác phẩm Người lái đò Sông Đàlà ở sự độc đáo, sự giàu có về chữ nghĩa, sự công phu trong quan sát và lựa chọn ngôn từ,… - Đó là một cái tôi tài hoa: nhà văn luôn nhìn cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và mỹ lệ của thiên nhiên, đất nước. Với đôi mắt của nhà văn cả một đời duy mĩ, Nguyễn Tuân đã nhìn sông Đà ở góc độ thẩm mỹ để phát hiện ra vẻ đẹp trữ tình của con sông. Không chỉ nhìn cảnh vật ở điểm nhìn văn hóa thẩm mỹ, Nguyễn Tuân còn nhìn người lái đò ở góc độ nghệ sĩ để phát hiện ra tài năng trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnhvà ông đã gọi đó là tay lái ra hoa của
26
27
một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái ung dung, tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện trong lao động và chiến đấu. - Ở Nguyễn Tuân còn là một cái tôi uyên bác: nhà văn đã thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của mình ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghệ thuật và có thể cung cấp, đóng góp, lý giải những kiến thức đó cho người khác. + Trong tác phẩm, ông hay vận dụng những tri thức của rất nhiều ngành nghệ thuật, thậm chí cả những ngành không liên quan gì đến nghệ thuật để miêu tả, khám phá hiện thực như võ thuật, quân sự,…. Nó có tác dụng làm cho người đọc nhìn nhận hiện thực ở nhiều góc độ và cung cấp cho người đọc một lượng thông tin hết sức phong phú ngoài văn chương. + Ngoài ra nhà văn còn vận dụng những tri thức của nhiều bộ môn khoa học trong tác phẩm của mình, một vốn văn hóa phong phú, lịch lãm hiếm thấy, làm cho bài tùy bút của ông có giá trị văn hóa cao. Tác phẩm Người lái đò Sông Đà đã giúp người đọc hiểu được rất nhiều điều bổ ích về lịch sử, địa lí sông Đà, về lịch sử cách mạng xung quanh con sông này, về địa hình địa thế của nó, về những con thác đủ loại, về các tài nguyênđất nước vùng sông Đà, về những bài thơ của Nguyễn Quang Bích, Tản Đà… -Cái tôi mang tình yêu sâu nặng với quê hương, đất nước. Khi viết về sông Đà, Nguyễn Tuân đã bộc lộ rõ mình là một nhà văn có tình yêu quê hương đất nước tha thiết bởi trong văn chương nghệ thuật, viết về sông núi là viết về giang sơn mà viết về giang sơn, là viết về Tổ quốc. Đây là tình yêu nhất quán trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Trước Cách mạng, tình yêu quê hương Tổ quốc của Nguyễn Tuân được bộc lộ một cách thầm kín thông qua tác phẩm Thiếu quê hương. Đó là nỗi lòng của những con người sống giữa quê hương nhưng vẫn thấy mình thiếu quê hương.Giờ đây, khi viết về con sông Đà, ánh sáng Cách mạng rọi chiếu vào tâm hồn của nhà văn, phù sa của nhân dân bồi đắp. Ông đứng giữa dòng sông Đà, đứng giữa nhân dân Tây Bắc để bộc lộ trực tiếp tình yêu nước sâu sắc qua từng câu chữ. Không yêu sao được khi ông đến với Đà giang, viết về một con sông hùng vĩ, ông đã đọc hàng trăm trang cổ sử, hàng trăm trang Dư địa chí, đọc biết bao nhiêu áng thơ trữ tình của Tản Đà, của Lí Bạch, của Nguyễn Quang Bích,… Nhưng viết về Đà giang, Nguyễn Tuân không bị lệ cổ, không bị tập cổ, không bị ảnh hưởng bởi người xưa mà đã tái tạo mới trên từng trang viết vì nói như Nam Cao: “Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có.” 3. Đoạn tríchAi đã đặt tên cho dòng sông? 3.1. Kiến thức chung 3.1.1. Tác giảHoàng Phủ Ngọc Tường (1937) - Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn gắn bó chặt chẽ với xứ Huế. Ông sinh ra tại thành phố Huế, học Đại học Huế, dạy học tại trường Quốc học Huế, tham gia phong trào cách mạng tại Huế và trở thành một trí thức yêu nước, một chiến sĩ trong phong trào đấu
28
tranh chống Mĩ – ngụy ở Thừa Thiên – Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường là người có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, nhất là lịch sử, địa lí và văn hóa Huế. - Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên về thể loại bút kí. Dù đã xuất bản một vài tập thơ nhưng có thể nói toàn bộ tinh hoa và năng lực của nhà văn đều dồn tụ hết cho thể kí. Chẳng phải ngẫu nhiên, Hoàng Phủ Ngọc Tường được đánh giá là một trong mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay (Nguyên Ngọc). Các tác phẩm kí tiêu biểu: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (1986), Hoa trái quanh tôi (1995), Ngọn núi ảo ảnh (1999)… - Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, với những liên tưởng mạnh mẽ, độc đáo và một lối hành văn mê đắm, tài hoa. 3.1.2. Đoạn tríchAi đã đặt tên cho dòng sông? a. Xuất xứ: Ai đã đặt tên cho dòng sông? được rút ra từ tập bút kí cùng tên, xuất bản năm 1984. Tập bút kí này gồm tám bài viết về nhiều đề tài khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở hai nguồn cảm hứng lớn: ngợi ca đất nước con người Việt Nam, tự hào về truyền thống văn hóa lịch sử của dân tộc (Rừng hồi, Ai đã về châu xưa, Đời rừng, Đứa con phù sa, Cồn Cỏ ngày thường); ngợi ca cảnh sắc thiên nhiên, con người và văn hóa Huế (Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Về cây panhxô và khẩu súng của Trường, Hoa trái quanh tôi). Trong số những bài kí đó, Ai đã đặt tên cho dòng sông? được xem là đặc sắc hơn cả. Tác phẩm gồm ba phần, đoạn trích trong SGK là phần thứ nhất, phần này nghiêng hẳn về chất thơ thi vị, ngọt ngào (Trần Đình Sử). b. Hoàn cảnh ra đời: Tác phẩm được viết tại Huế vào tháng 1/1981. Đó là một chiều cuối năm khi tác giả đã có hơn 40 năm gắn bó với xứ Huế. Khi ấy, nhà văn đang ngồi tại một khu vườn cổ nổi tiếng của xứ Huế - vườn An Hiên. Ngắm nhìn cây lá, hoa trái xinh tươi, phía xa là dòng sông bảng lảng trôi trước mặt, có một ít gió, một ít se se lạnh của buổi chiều cuối năm, tất cả đã đánh động cảm xúc và cảm giác về sông Hương trong lòng người nghệ sĩ giàu rung cảm ấy. c. Ý nghĩa nhan đề: - Nhan đề Ai đã đặt tên cho dòng sông?được lấy từ câu hỏi bâng khuâng của một nhà thơ Hà Nội khi lặng ngắm dòng sông. - Để trả lời cho câu hỏi đặt ra của nhà thơ Hà Nội, tác giả đã ghi lại một huyền thoại: Vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi. - Với cách lí giải này tác giả muốn thể hiện tình yêu tha thiết của người dân cố đô với dòng sông quê hương đồng thời cũng thể hiện lòng biết ơn chân thành, sự thán phục, ngưỡng mộ của tác giả và mọi người đối với những người khai phá mảnh đất này.
29
⇒Với nhan đề như vậy, tác giả muốn lưu ý mọi người về một cái tên đẹp của dòng sông và cũng là cái cớ để tác giả ngợi ca vẻ đẹp của quê hương. Nhan đề gợi sự tò mò, mong muốn khám phá của người đọc, vì thế đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho bài kí.
3.2.1. Vẻ đẹp của sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên a. Sông Hương ở thượng nguồn - Là bản trường ca của rừng già: Thủy trình của Hương giang bắt đầu từ thượng lưu – nơi mà sông Hương, trong cảm nhận của nhà văn, giống như bản trường ca của rừng già. Thật vậy, ở nơi khởi nguồn của dòng chảy, gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, con sông mang vẻ đẹp mạnh mẽ với sức mạnh nguyên sơ bản năng: rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn. Những động từ mạnh, những cấu trúc giống nhau được điệp lại liên tiếp đã khiến cho con sông hiển hiện như một khúc ca dài bất tận của thiên nhiên. Nhưng trường ca đâu chỉ có sức mạnh mà trong bản chất của mình nó còn mang chứa yếu tố trữ tình bay bổng. Quả đúng thế, con sông Hương, sau những “rầm rộ”, “cuộn xoáy”, đã trở nên “dịu dàng”, đằm thắm có thể làm “say đắm” bất cứ ai khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. - Là cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại: Không phải là trường ca của Những người đi tới biển (Thanh Thảo), cũng không giống trường ca Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm) của tuổi trẻ đô thị miền Nam những ngày đánh Mĩ, sông Hương là bản trường ca của rừng già. Vẻ nguyên sơ, hoang dã, thâm nghiêm của rừng già đã đem đến cho nó một vẻ đẹp mà trong suy cảm của nhà văn giống như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Những cô gái Bô-hê-miêng từ lâu vẫn được biết đến là những người thích sống lang thang, tự do và yêu ca hát. Đó là những thiếu nữ có vẻ đẹp man dại đầy quyến rũ. Ví sông Hương với những cô gái Di-gan, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc vào tâm trí người đọc một ấn tượng mạnh về vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng rất thiếu nữ, rất tình tứ của con sông. Đó là vẻ đẹp tự nhiên, vẻ đẹp của một tâm hồn tự do và trong sáng. - Là người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở: Không chỉ giúp cho bạn đọc có thêm một góc nhìn, một sự hiểu biết về vẻ đẹp hùng vĩ, man dại nhưng cũng đầy chất thơ của sông Hương, nhà văn còn muốn đem đến một cái nhìn sâu hơn, muốn “ghi công” sông Hương như một “đấng sáng tạo” đã góp phần tạo nên, gìn giữ và bảo tồn văn hóa của một vùng thiên nhiên xứ sở. Lâu nay, ta mới chỉ nhìn sông Hương ở vẻ đẹp bên ngoài của nó mà hầu như không biết rằng con sông còn là một khởi nguồn, một sự bắt đầu của một không gian văn hóa – văn hóa Huế. Sẽ là không quá nếu ai
đó cho rằng: “Không có sông Hương thì khó có thể có văn hóa Huế ngày nay”. Bởi từng ngày từng giờ, sông Hương vươn mình chảy ra cửa Thuận thì cũng từng ngày từng giờ dòng sông đem đến, duy trì và bồi đắp “phù sa” cho cả một vùng văn hóa đã được hình thành ở trên và hai bên bờ sông. Ấy thế nhưng, dòng sông hình như không muốn bộc lộ cái công lao to lớn ấy. Nó đã âm thầm chảy và đã lặng lẽ cống hiến cho Huế nhiều thế kỉ qua. Đây chính là chiều sâu vẻ đẹp và “nhân cách” của dòng sông, là nét “tính cách” đáng trân trọng của Hương giang mà Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn khắc họa. ⇒ Nghệ thuật: các câu văn dài chia thành nhiều vế kết hợp với các phép đối lập, tương phản, so sánh đã kích thích trí tưởng tượng của người đọc; tính từ miêu tả (rầm rộ, mãnh liệt, dịu dàng, say đắm,…) làm nổi bật vẻ đẹp riêng của sông Hương nơi thượng nguồn. b. Sông Hương ở đồng bằng: - Là người gái đẹp của cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại + Vẻ đẹp của sông Hương trước khi vào thành phố Huế là cái đẹp mềm mại của một người con gái đang phô khoe những đường cong tuyệt mĩ. Bằng nghệ thuật so sánh, nhà văn đã ví sông Hương như người gái đẹp đang ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại thì được người tình mong đợi đến đánh thức. Với lối so sánh ấy, dòng chảy uốn lượn của con sông, những khúc quanh của nó hiện lên như những đường cong trên cơ thể của một người thiếu nữ đương thì xuân sắc: sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Về mặt địa lí, hành trình đến với người tình mong đợi của người gái đẹp này khá gian truân và nhiều thử thách khi nó phải vượt qua Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán. Nhưng chính trong quá trình ấy, con sông lại như có cơ hội phô khoe tất cả vẻ đẹp của mình – vẻ đẹp gợi cảm của người thiếu nữ đi ra từ cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại: qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách. Có thể thấy, bằng một lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ đa dạng và giàu hình ảnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả một cách sinh động và hấp dẫn những khúc quanh, ngã rẽ của con sông. Mỗi đường đi nước bước của sông Hương gắn liền với những địa danh khác nhau của xứ Huế được nhà văn dành cho một cách diễn đạt riêng. Nhờ đó mà hành trình về xuôi của dòng sông không đơn điệu, nhàm chán mà trái lại nó luôn luôn biến hóa khiến người đọc đi từ ngạc nhiên, thú vị này đến bất ngờ, ấn tượng khác. Có những câu văn giàu chất họa đến mức cứ ngỡ như đường cọ của người họa sĩ đang đưa những nét vẽ về sông Hương trên bức tranh thiên nhiên xứ Huế: vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán… vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc.
30
31
3.2. Kiến thức trọng tâm
Lại có câu văn gợi một nét mơ hồ với nhiều liên tưởng và cảm xúc rất thích: sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn. Thủ pháp nhân hóa và so sánh được sử dụng kết hợp với hệ thống ngôn từ giàu cảm xúc và hình ảnh cũng góp phần đáng kể vào việc khắc họa một dòng sông thơ mộng, trữ tình. Nó khiến cho cảm nhận về con sông như người con gái đẹp càng trở nên rõ nét và gợi cảm: sông Hương ôm lấy chân đồi Thiên Mụ trước khi xuôi dần về Huế; sông Hương như con người biết tự làm mới mình, trang điểm cho mình đẹp hơn trước khi gặp người tình mà nó mong đợi: vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm; sông Hương như “tấm lụa” mềm mại trên cơ thể người thiếu nữ… + Hoàng Phủ Ngọc Tường đã “vẽ” lên bằng chất liệu ngôn từ cái dáng điệu yêu kiều và rất tạo hình của sông Hương khi nó ở ngoại vi thành phố Huế. Nhà văn không chỉ tái hiện lại một cách chân thực dòng chảy địa lí tự nhiên của con sông mà quan trọng hơn biến cái thủy trình ấy thành “hành trình đi tìm người yêu” của một người con gái đẹp, duyên dáng và tình tứ. Đây cũng chính là cảm nhận riêng, độc đáo và rất đặc sắc của nhà văn về sông Hương trước khi nó chảy vào lòng thành phố thân yêu. - Mang vẻ đẹp “trầm mặc”, “như triết lí, như cổ thi”: Đi giữa thiên nhiên, sông Hương cũng chuyển mình ngày đêm bên những lăng tẩm, thành quách của vua chúa thời Nguyễn. Con sông hiền hòa ở ngoại vi thành phố Huế, đến đây, như đang nép mình bên giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch. Chảy bên những di sản văn hóa ấy, con sông như bỗng trở nên nghiêm trang hơn, nó như khoác lên mình tấm áo “trầm mặc” mang cái “triết lí cổ thi” của cổ nhân. Dòng sông hay chính là dòng chảy của lịch sử vẫn bền bỉ chảy qua năm tháng và đang vọng về trong ngày hôm nay? Trên hành trình của một con sông mềm mại như lụa, nhà văn đã “hướng ống kính máy quay” ra không gian xung quanh hai bên bờ sông. Hình ảnh thu được là không gian văn hóa Huế thể hiện ở cảnh sắc thiên nhiên và những lăng tẩm đền đài của vua chúa thời Nguyễn: sông Hương trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách... Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố,“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Vậy là, sông Hương đi trong vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế và chính nó lại là tấm gương phản chiếu nét đẹp của cảnh quan đất trời hai bên bờ sông. Không có sông Hương, những ngọn đồi ở ngoại vi Huế vẫn có vẻ đẹp riêng nhưng vẻ đẹp ấy sẽ mất đi cái long lanh, cái đa sắc màu và không còn những “điểm cao đột khởi” xuất hiện như một điểm nhìn văn hoá, thưởng thức. Sông Hương chính là “trung tâm cảnh”, là linh hồn của thiên nhiên cảnh vật. c. Sông Hương giữa lòng thành phố Huế Cuối cùng, sông Hương cũng đến nơi mà nó cần đến, cũng gặp được thành phố tương lai mà nó mong đợi: thành phố Huế. Có lẽ vì thế mà con sông tươi vui hẳn lên. Như đã tìm đúng đường đi, sông Hương cập bến thành phố thân yêu giữa những biền bãi xanh
biếc của vùng ngoại ô Kim Long để rồi giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên. Đến đây, con sông giống như một cô gái đẹp e lệ, dịu dàng nghiêng mình “chào” Huế: … sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến… như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp ở Bu-đa-pét; sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình. - Sông Hương – điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế Miêu tả dòng sông giữa lòng thành phố, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chọn kênh tiếp cận là âm nhạc. Ở góc độ này, sông Hương chính là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Trong tiếng Anh, “slow” nghĩa là chậm và sông Hương như một giai điệu trữ tình chậm rãi chỉ “dành riêng cho Huế” mà thôi. Có thể thấy, nhà văn đã tinh tế khi nhìn ra một đặc trưng của Hương giang. So với các dòng sông khác ở Việt Nam và thế giới, lưu tốc của sông Hương không nhanh. Điều này đã được nhà văn lí giải từ đặc điểm địa lí: Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Để làm nổi bật hơn cái đặc trưng này, nhà văn đã liên tưởng, so sánh sông Hương với sông Nê-va – con sông chảy băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Bantích. Lưu tốc của con sông này nhanh đến mức không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. Tuy nhiên, tất cả sự lí giải và so sánh nêu trên chưa lột tả được hết ý nghĩa của cái mệnh đề mà nhà văn đã khái quát về sông Hương khi nó chảy giữa lòng thành phố: điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Mượn câu nói của Hê-ra-clít – nhà triết học Hi Lạp, trong một cách nói thật hình ảnh khóc suốt đời vì những dòng sông trôi quá nhanh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến một kiến giải khác, hết sức thú vị và độc đáo về lưu tốc của dòng sông mà ông yêu quý. Đó là cách lí giải từ “trái tim”: sông Hương chảy chậm, điệu chảy lững lờ là vì nó quá yêu thành phố của mình, nó muốn được nhìn ngắm nhiều hơn nữa thành phố thân thương trước khi phải dời xa. Đó là tình cảm của sông Hương với Huế hay chính là tình cảm của nhà văn với sông Hương, với xứ Huế mộng mơ? Có lẽ là cả hai! - Sông Hương – người tình dịu dàng và chung thủy Khi dời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc. Tuy nhiên, do đặc điểm địa lí ở đất nước ta (hầu hết mọi dòng sông đều chảy về hướng đông để đổ ra biển) nên thủy trình của con sông đã phải thay đổi. Nó phải chuyển dòng sang hướng đông và như vậy sẽ lại đi qua một góc của thành phố Huế ở thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đó là đặc điểm địa lí tự nhiên của dòng sông. Nhưng trong con mắt của người nghệ sĩ tài hoa, khúc ngoặt ấy lại là biểu hiện của nỗi vương vấn, thậm chí có chút lẳng lơ kín đáo của người tình thủy chung và chí tình. Nhà văn tưởng tượng, hình dung sông Hương như nàng Kiều trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề trước khi đi xa. Đây đúng là một phát hiện, một liên tưởng thú vị, độc đáo và đậm màu sắc văn chương của tác giả về dòng sông thân thương của xứ Huế. Hương giang
32
33
vốn đã đẹp, nay lại càng đẹp hơn, trọn vẹn hơn trong cảm nhận của người đọc. Một vẻ đẹp hài hòa giữa hình dáng bên ngoài với phần tâm hồn, tâm linh sâu thẳm bên trong. ⇒Qua những cảm nhận nêu trên về sông Hương, có thể nhận thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tiếp cận và miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian khác nhau. Ở mỗi điểm nhìn, mỗi góc độ, nhà văn đều thể hiện một cảm nghĩ sâu sắc và khá mới mẻ về con sông đã trở thành biểu tượng của xứ Huế. Từ trong những cái nhìn ấy và qua giọng điệu của các đoạn văn, ta thấy bàng bạc một tình cảm yêu mến, gắn bó tha thiết, một niềm tự hào và một thái độ trân trọng, gìn giữ của nhà văn đối với những vẻ đẹp tự nhiên và đậm màu sắc văn hóa của dòng sông quê hương. 3.2.2. Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa a. Sông Hương – người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya Viết về sông Hương giữa lòng thành phố, Hoàng Phủ Ngọc Tường không quên một nét đẹp văn hoá đặc trưng gắn liền với dòng sông thơ mộng này. Đó là những đêm trình diễn âm nhạc cổ điển Huế trên dòng sông Hương. Ở góc nhìn âm nhạc này, tác giả gọi sông Hương là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Ai đã từng có dịp đến Huế thưởng thức nền âm nhạc Huế, được xem các nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc trên sông vào những đêm khuya mới thấy hết vẻ đẹp của âm nhạc và màu sắc văn hoá đặc trưng ở nơi đây. Toàn bộ nền âm nhạc ấy, trong cảm nhận của tác giả, chỉ thực sự là chính nó khi sinh thành trên mặt nước của Hương giang trong một khoang thuyền nào đó, giữa những tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya. Ở đây có cái thú vị, cái sắc điệu riêng trong cách trình diễn âm nhạc của người Huế nhưng cũng có quy luật của nghệ thuật biểu diễn trên không gian sông nước. Trong Tì bà hành, Bạch Cư Dị đã từng viết: Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông. Và đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều: Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Dẫn ra câu chuyện về một ngưòi nghệ nhân già chơi đàn hết nửa thế kỉ khi nghe người con gái đọc câu thơ trên nhổm dậy vỗ đùi chỉ vào trang sách của Nguyễn Du mà thốt lên: Tứ đại cảnh (một điệu nhạc Huế), Hoàng Phủ Ngọc Tường đã một lần nữa khẳng định mối quan hệ gắn bó không thể tách rời giữa sông Hương và nền âm nhạc cổ điển Huế. Đây chính là văn hoá Huế nói chung và vẻ đẹp của sông Hương nói riêng, vẻ đẹp hiếm thấy ở bất kì một dòng sông nào ở trong nước cũng như trên thế giới. b. Sông Hương – dòng sông thi ca Với vẻ đẹp độc đáo và đa dạng, lại không bao giờ tự lặp lại mình nên sông Hương luôn có những vẻ đẹp mới, có khả năng khơi những nguồn cảm hứng mới cho các văn nghệ sĩ đặc biệt là các nhà thơ. Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương mà thốt lên rằng: Trường
giang như kiếm lập thanh thiên. Tản Đà thấy dòng sông trắng, lá cây xanh. Hàn Mặc Tử thì cảm nhận về sông Hương như dòng “sông trăng” lung linh, thơ mộng: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay (Đây thôn Vĩ Dạ). Thu Bồn nhìn dòng nước lững lờ của sông Hương mà bâng khuâng: Con sông dùng dằng con sông không chảy. Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu. Và với NguyễnTrọng Tạo, Hương giang lãng đãng một bầu khí quyển huyền thoại giúp nhà thơ thăng hoa những vần thơ mê đắm: Con sông đám cưới Huyền Trân Bỏ quên dải lụa phù vân trên nguồn Hèn chi thơm thảo nỗi buồn Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ Con sông nửa thực nửa mơ Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên. ⇒ Bài kí mở đầu bằng một câu hỏi đầy trăn trở: Ai đã đặt tên cho dòng sông? nhưng phải gần đến kết thúc, đến những dòng cuối cùng của bài bút kí nhà văn mới đưa ra câu trả lời cho nó. Có nhiều cách để trả lời câu hỏi trên nhưng nhà văn đã chọn cho mình một “đáp án” đầy chất trữ tình: Tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước của trăm loại hoa đổ xuống dòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi. Tuy nhiên, nếu đọc kĩ thì ta sẽ thấy câu hỏi ấy thực ra đã được trả lời ngay từ những dòng đầu tiên và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện cho đến dòng cuối cùng của bài kí. Nói cách khác, chính thiên nhiên hoang dại và trữ tình “đã đặt tên cho dòng sông”; chính lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa đậm bản sắc của xứ Huế “đã đặt tên cho dòng sông”; và chính con người với tình yêu thiết tha của mình dành cho con sông quê hương đã góp phần tạo nên “tên tuổi” của nó. 3.2.3. Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ góc độ lịch sử a. Sông Hương – bản hùng ca ghi dấu các chiến công oanh liệt của dân tộc: Ở góc nhìn lịch sử, sông Hương gắn liền với những thế kỉ vinh quang của đất nước từ thuở còn là một dòng sông biên thùy xa xôi ở thời đại các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, sông Hương được biết đến với tư cách là dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt. Tiếp nối truyền thống đó, con sông vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ vào thế kỉ XVIII, nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa. Thế kỉ XX, sông Hương đi vào thời đại của Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển để rồi sau đó nó tiếp tục có mặt trong những năm tháng bi hùng nhất của lịch sử đất nước với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ ác liệt. b. Sông Hương – vẻ đẹp giản dị của một người con gái dịu dàng của đất nước Điều làm nên vẻ đẹp đáng trân trọng và đáng mến của con sông là khi nghe lời gọi của Tổ quốc nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công nhưng khi trở về với cuộc sống bình
34
35
thường sông Hương tự nguyện làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Những đổi thay này của sông Hương ngỡ bất ngờ mà không hề bất ngờ bởi nó đã mang cái dáng dấp, cái vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua: Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa. (Việt Nam quê hương ta – Nguyễn Đình Thi) Lịch sử – hùng tráng và đời thường – giản dị, sông Hương đã tự biết thích ứng với từng hoàn cảnh, không gian và thời gian khác nhau. Điều đó không chỉ khiến cho dòng sông luôn trở nên mới mẻ trong cảm nhận của con người mà còn có thêm những vẻ đẹp mới. 3.2.4. Cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường - Cái tôi say mê kiếm tìm cái đẹp, dạt dào cảm xúc và luôn gắn bó với thiên nhiên: + Trong kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?, cái tôi tác giả gắn kết, hòa nhập thật sự với sông nước, trời mây, cây cỏ, ngàn thông. Những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang đến cho người đọc những miền không gian xanh thắm, ẩn chìm những viết trầm tích văn hóa từ thiên nhiên. Sự hòa nhập với thiên nhiên khiến nhà văn đã viết lên những trang văn vừa giàu lượng thông tin, vừa mượt mà, đẹp như một bài thơ. + Thiên nhiên trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là phiên bản tâm hồn của nhà văn. Sông Hương trong thơ ông không chỉ là biểu tượng của thiên nhiên thuần khiết mà còn lấp lánh chất nhân văn của một triết lí sống. Cái tôi có lúc thoát hẳn sự ràng buộc của bản thể để hoà nhập vào sông nước. + Cảm xúc vô cùng phong phú, có khi nó được bộc lộ trực tiếp với các trạng thái nội tâm: vừa thích thú, vừa lãng đãng, miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang đổi sắc không ngừng sớm xanh, trưa vàng, chiều tím hay cái điệu chảy như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế trong trăm nghìn ánh hoa đăng…có khi cảm xúc yêu thương da diết với xứ Huế lại được bộc lộ dán tiếp trong cuộc hành trình lặng lẽ với rất nhiều những tìm kiếm và phát hiện: ngỡ ngàng nhận ra điểm tương đồng giữa con sông và con người ở nỗi vương vấn và chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu, đồng thời cùng hoài niệm đến khắc khoải khi phát hiện ra một sắc màu xưa cũ của chiếc áo cưới ở Huế ngày xưa, rất xưa màu áo lục điều… + Rõ ràng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem tình yêu đằm thắm lắng sâu và những cảm xúc sôi nổi say sưa phổ vào trang viết để rồi mỗi dòng văn như một nốt nhạc, bản đàn để tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương. - Cái tôi yêu quê hương đất nước hướng về cội nguồn: + Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một bài ca, ca ngợi sông Hương gắn với thiên nhiên văn hóa và con người xứ Huế. Bằng tấm lòng yêu thương gắn bó với quê hương đất nước, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trân trọng, tự hào về bề dày lịch sử, bề dày văn hóa và tâm hồn con người ở vùng đất cố đô. Phải yêu sông Hương lắm, nhà văn mới xem sông Hương như một cô gái thùy mị mà đa tài, nhưmột tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Phải yêu sông
36
Hương lắm nhà văn mới nhìn thấy dòng sông như một cô gái đa tình, kín đáo và một chút lẳng lơ, duyên dáng chung tình. Phải yêu dòng sông này lắm nhà văn mới cứ băn khoăn trăn trở Ai đã đặt tên cho dòng sông?, và để trả lời cho câu hỏi này Hoàng Phủ Ngọc Tường mượn một câu chuyện huyền thoại đẹp khép lại trang kí, tô đậm thêm vẻ đẹp lấp lánh của dòng sông Hương, đồng thời bộc lộ cái tôi nồng cháy suy tư “có nhiều cách trả lời câu hỏi ấy. Trong đó tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làm nước thơm tho mãi…”, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - câu hỏi bâng khuâng khơi gợi sự kiếm tìm cái đẹp tiềm ẩn trong sông Hương và thiên nhiên, con người xứ Huế. + Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương và không gian Huế với tình yêu nồng thắm, với trái tim thi sĩ đa cảm, đồng thời bằng con mắt của một thi sĩ tinh tường. Nhà thơ Ra-xun Gam-za-tốp đã từng bình luận: “Nếu nhà thơ không tham gia vào việc hoàn thành thế giới, thì thế giới đã không được đẹp đẽ như thế này”. Bằng những trang viết tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần tạo nên một thế giới đẹp và thơ. - Một cái tôi tài hoa uyên bác: Hoàng Phủ Ngọc Tường tỏ ra am hiểu tường tận những gì mình viết. Với xứ Huế dường như nhà văn hiểu sâu sắc những cành cây ngọn cỏ, tường tận từ tên đất, tên làng. Với sông Hương, nhà văn thông thuộc từng khúc sông, từng dòng nước, chỗ ghềnh thác cuộn xoáy, chỗ phẳng lặng như mặt hồ yên tĩnh. Nhà văn am hiểu sâu sắc về văn hóa Huế, nền âm nhạc cổ điển hay những trang thơ về sông Hương. Vốn kiến thức uyên bác ở nhiều lĩnh vực, đó là kết quả của một chuyến đi và một trí nhớ “phi thường”. Bằng những hiểu biết phong phú, nhà văn cung cấp cho người đọc một lượng thông tin lớn về địa lý, dòng chảy của sông Hương, về lịch sử, về văn hóa, về văn học nghệ thuật. Bằng những con chữ lóng lánh tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần làm nổi bật dòng sông, thiên nhiên cũng như con người Huế. Cái tôi ấy thật giàu tình cảm, say mê cái đẹp của cảnh cũng như con người xứ Huế: Tất cả những phát hiện về vẻ đẹp của sông Hương, xét đến cùng bắt nguồn từ tình cảm thiết tha đến đắm say của tác giả đối với cảnh và con người xứ Huế. Nếu không có tình yêu với xứ Huế thì không thể có những trang văn hay và đẹp đến thế về xứ Huế.
VI. CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ HAI TÁC PHẨM KÍ 1. Khái quát về văn nghị luận 1.1. Giới thiệu chung - Văn nghị luận là dùng ý kiến lí lẽ của mình để bàn bạc, để thuyết phục người khác về một vấn đề nào đó. Để thuyết phục được ý kiến phải đúng và thái độ phải đúng. Có thể gọi ý kiến là “lí” còn thái độ là “tình”. Có khi ý kiến đúng mà thái độ không đúng thì cũng kém giá trị và tác dụng. Có ý kiến đúng và thái độ đúng rồi lại phải có cách nghị luận hợp lí nữa. - Các khái niệm cơ bản của văn nghị luận:
37
Luận đề: là vấn đề đang được đưa ra bàn bạc, bình luận. Luận điểm: là các ý lớn, ý chính giúp làm sáng rõ cho vấn đề đang được bàn bạc, bình luận. Lập luận: là cách thức trình bày các lí lẽ, dẫn chứng sao cho phù hợp, chặt chẽ, mang tính thuyết phục cao. Luận cứ: là cơ sở, căn cứ, điểm tựa đưa ra để lập luận Luận chứng: là chứng cứ minh họa cụ thể đưa ra để lập luận. - Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học… có tính luận thuyết. Chính vì vậy mà nó đòi hỏi người viết phải có khả năng trình bày tư tưởng của mình và thuyết phục được người khác theo quan điểm đó. - Yêu cầu bài văn nghị luận văn học: + Về kiến thức: Hiểu biết các vấn đề về: tác giả, tác phẩm, thời đại văn học, trào lưu văn học, đặc trưng thể loại, phong cách nghệ thuật của nhà văn,… và vận dụng các kiến thức đó để giải quyết các vấn đề trong bài văn nghị luận văn học. + Về kĩ năng: Nắm vững các thao tác lập luận như: giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận, bác bỏ, tổng hợp... Văn nghị luận có thể có các chi tiết tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh nhưng nó phải nhằm mục đích nghị luận. - Bố cục của bài văn nghị luận gồm ba phần cụ thể: Mở bài – Giới thiệu vấn đề nghị luận. – Dẫn ra vấn đề cần nghị luận. – Khái quát vấn đề nghị luận. Thân bài – Làm rõ vấn đề nghị luận bằng sự kết hợp các thao tác lập luận như: giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận, bác bỏ,… – Đánh giá và mở rộng vấn đề. Kết bài – Khái quát lại vấn đề vừa nghị luận. – Liên hệ, mở rộng. 1.2. Cách mở bài cho bài văn nghị luận văn học 1.2.1. Sơ lược Để viết một mở bài đúng, trước hết phải xác định vấn đề được nêu ở đề bài, là tác giả hay tác phẩm, là yêu cầu về nội dung hay hình thức, là đề đóng (chìm) hay đề mở (nổi). Sau khi xác định đúng vấn đề, phải có những kiến thức nền tảng cơ bản và khái quát nhất để viết mở bài.
38
Để viết mở bài hay, phải đọc nhiều, vận dụng các cách diễn đạt mượt mà, bóng bẩy đã học được từ các tài liệu tham khảo. Để mở bài mượt mà hơn, lưu ý nên viết các câu dài, câu ghép, câu phức nhiều thành phần và tăng cường sử dụng các tính từ miêu tả, biểu cảm. M. Goor-ki đã từng kết luận: Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm mà người ta thường tìm nó rất lâu. Với yêu cầu đặt ra của việc viết đoạn mở bài một cách nhanh chóng, đảm bảo các yêu cầu chức năng của nó làm cho không ít học sinh cảm thấy khó khăn. Để có một mở bài hấp dẫn. Trước hết, chúng ta cần nắm rõ nguyên tắc khi viết mở bài là: ngắn gọn, hấp dẫn, chỉ ra hướng giải quyết, phạm vi giải quyết vấn đề, tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề để chuẩn bị tư tưởng cho người đọc theo dõi phần nội dung. Một số vấn đề cần tránh khi mở bài: - Tránh dẫn dắt vòng vo xa quá mãi mới gắn được vào việc nêu vấn đề. - Tránh ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu. - Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi thân bài lặp lại những điều đã nói ở phần mở bài. 1.2.2. Một số cách mở bài thường áp dụng a. Mở bài trực tiếp (trực khởi) Giới thiệu trực tiếp là đi thẳng vào vấn đề nghị luận đặt ra trong đề bài, đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát đến cụ thể. Lưu ý: Khi giới thiệu vài nét về tác giả nên tập trung vào phong cách nghệ thuật, đặc trưng riêng, nét độc đáo khác biệt hơn là giới thiệu một cách máy móc về năm sinh, năm mất, tên thật, quê quán, năm mấy tuổi làm gì… Giới thiệu vài nét về tác phẩm nên tập trung vào xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp của tác giả trên văn đàn văn học của dân tộc. Ví dụ minh họa: Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong đoạn trích tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân. Người lái đò trong trang tùy bút Người lái đò Sông Đàcủa Nguyễn Tuân là người anh hùng giữa cuộc sống lao động bình dị đời thường. Nhân vật thể hiện những nét thống nhất mà đa dạng trong cách tiếp cận con người của nhà văn ở giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám. Giữa dòng Đà giang hung bạo, dữ dội là hình ảnh người lái đò mưu trí, dũng cảm, tài hoa nghệ sĩ. b. Mở bài gián tiếp (lung khởi) Mở bài gián tiếp là dẫn dắt vào đề bằng cách nêu các ý có liên quan đến vấn đề cần nghị luận để kích thích trí tò mò, gợi sự chú ý của người đọc rồi từ đó mới nêu lên vấn đề chính.
39
Khi sử dụng cách mở bài gián tiếp, người viết cần lựa chọn điểm xuất phát sao cho: từ đó có thể dẫn đến đề tài; có khả năng tạo ra cảm giác gần gũi, quen thuộc với người đọc (người nghe) có sự gợi nghĩ (gợi cảm). Để bài viết có không khí tự nhiên và có chất văn, người ta thường mở bài theo kiểu gián tiếp. Dù viết mở bài gián tiếp theo cách nào thì trong đó cũng cần làm rõ ba vấn đề chính: Nêu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, xuất xứ; Nêu vấn đề (dựa vào gợi ý ở đề bài); Nêu cảm nhận của mình về vấn đề. Ví dụ minh họa: Phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông Đà. “ Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu” (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên) Tây Bắc đã trở thành vùng đất hứa của thi ca nghệ thuật những năm 58-60 khi miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nhà văn nhà thơ đến với nơi đây để tìm cho mình những nguồn cảm hứng mới. Ta từng biết đến Tô Hoài với tập Truyện Tây Bắc mà nổi bật là truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, hay Nguyễn Khải cũng đã từng xôn xao lòng mình với Mùa lạc thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mảnh đất này với tập tùy bút Sông Đà với linh hồn là bài kí Người lái đò Sông Đà. Là một nhà văn đi theo chủ nghĩa xê dịch, dấu chân của Nguyễn Tuân đã đi khắp mảnh đất hình chữ S này, nhưng ông lại chọn Tây Bắc làm nơi cho ra đời đưa con đẻ tinh thần của mình là bởi chỉ có nơi đây mới thỏa mãn thực đơn cho nhãn quan sáng tác của ông. Tùy bút Sông Đà là những trang văn được viết bằng ngôn ngữ điêu luyện, những đoạn tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội, hoặc cảnh thiên nhiên đẹp đến tuyệt đỉnh, nhưng lấp lánh giữa những vẻ đẹp ấy là hình ảnh con sông Đà hiện lên vừa hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất nên thơ, trữ tình và lãng mạn. ♣ Một số kiểu mở bài gián tiếp: Mở bài theo kiểu diễn dịch tức là nêu những ý khái quát hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới bắt vào vấn đề ấy. Ví dụ minh họa: Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh. (1) Xuân Quỳnh, như mọi người đều biết, là nhà thơ của hạnh phúc đời thường. (2) Thơ chị là tiếng lòng của một tâm hồn luôn khát khao tình yêu, gắn bó hết mình với cuộc sống hàng ngày, trân trọng nâng niu và chăm chút cho hạnh phúc bình dị của đời thường. (3) Trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một trong số những người xứng đáng được gọi là nhà thơ của tình yêu. (4) Chị viết nhiều, viết hay về tình yêu, trong đó Sóng là một bài thơ đặc sắc. Đến Xuân Quỳnh, thơ hiện đại Việt Nam mới có được một tiếng nói bày tỏ trực tiếp những khao khát tình yêu vừa hồn nhiên, chân thật vừa mãnh liệt, sôi nổi của một trái tim phụ nữ.
⇒ Đây là đoạn mở bài theo kiểu diễn dịch: Phần dẫn dắt: câu (1), (2) nêu khái quát về phong cách thơ Xuân Quỳnh – “nhà thơ của hạnh phúc đời thường”. Câu (3) thu hẹp nhận định trong mảng thơ tình yêu của nữ sĩ. Phần nêu vấn đề: câu (4), (5) “tiếng nói bày tỏ trực tiếp những khao khát tình yêu vừa hồn nhiên, chân thật vừa mãnh liệt, sôi nổi của một trái tim phụ nữ”. Mở bài theo kiểu quy nạp tức là nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận. Ví dụ minh họa: Phân tích cảnh Huấn Cao cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử từ của Nguyễn Tuân. (1) Có những tác phẩm văn chương khiến ta sững sờ trước cái đẹp, trước tài năng. (2) Có những đoạn văn làm ta ngạc nhiên trước một nhân cách cao cả, một bút pháp tinh luyện. (3) Đoạn văn tả cảnh cho chữ trong thời gian ở cuối truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một trong số không nhiều những trường hợp như thế. ⇒ Đây là đoạn mở bài theo kiểu quy nạp: Câu (1), (2) đưa ra hai nhận định về tác phẩm văn chương lớn và đoạn văn hay. Câu (3) tổng hợp ý của hai câu trên, đồng thời giới thiệu vấn đề cần nghị luận: đoạn văn tả cảnh cho chữ trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Mở bài theo kiểu tương liên (tương đồng) là mở bài bằng cách bắt đầu nêu lên một ý tương tự hoặc có liên quan với ý của luận đề, có tác dụng gợi ra sự liên tưởng rồi chuyển sang luận đề. Ví dụ minh họa: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. (1) Chúng ta đã gặp không ít những chân dung bi tráng về hình tượng người lính thời kháng chiến chống Pháp, đó là những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc thuần hậu mà anh dũng, là những anh lính chất phác mà kiên cường trong bài thơ Đồng chí,... (2) Nhưng khi đến với trang thơ của Quang Dũng, người đọc lại có thêm một cảm nhận mới về hình tượng người lính. (3) Đó là bức tượng đài nghệ thuật lãng mạn và đầy bi tráng. ⇒ Đây là đoạn mở bài theo kiểu tương liên: Câu (1) đưa ra dẫn chứng về hình tượng người lính trong văn học chống Pháp nói chung. Câu (2) dẫn dắt vào vấn đề (khi tiếp cận với thơ Quang Dũng…). Câu (3) thâu tóm vấn đề cần bàn luận từ câu (1) và câu (2). Mở bài bằng cách đặt câu hỏi (nghi vấn) là kiểu mở bài mà người viết tự đề xuất câu hỏi về vấn đề cần bàn. Trả lời câu hỏi chính là cách giải quyết vấn đề, nêu lên được vấn đề cần bàn bạc. Ví dụ minh họa: Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. (1) Có ai đọc truyện ngắn của Thạch Lam mà không khỏi “rùng mình” trước cơn gió lạnh đầu mùa – cơn gió Thạch Lam? (2) Có ai không một lần ngẩn ngơ, bồi hồi trước những lời văn như được chắt chiu từ hương hoàng lan của cuộc đời bình dị? (3) Có ai quên được
40
41
sức ám ảnh của bóng tối và ánh sáng, của khát vọng sống mãnh liệt trong truyện của ông? (4) Tôi đang đi trên con đường chi chít những dấu chân, con đường vang vọng tiếng trống thu không của cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều, con đường đến với Hai đứa trẻ. 1.3. Viết phần thân bài trong bài văn nghị luận văn học 1.3.1. Phương thức khi viết thân bài Thân bài là phần giải quyết vấn đề, phần trung tâm của một bài văn, đoạn văn nghị luận. Vì vậy, khi viết thân bài cần kết hợp nhiều thao tác và có nhiều phương thức trình bày khác nhau theo yêu cầu của đề bài. Tuy nhiên, về cơ bản, viết thân bài thân đoạn cần tuân theo các bước cơ bản sau: (1) Tìm ý, chọn lọc ý (2) Sắp xếp ý thành kết cấu (3) Chọn thao tác, phương thức lập luận, chọn dẫn chứng, lí lẽ (4) Viết đoạn văn. a. Bước 1 - Tìm ý, chọn lọc ý: - Đọc thật kĩ đề bài xem đề yêu cầu gì? (Tìm dạng đề). - Ngữ liệu (nếu có) có nội dung chính là gì? Nghĩa đen, nghĩa bóng? (Tìm luận đề) - Có thể chia nhỏ các vấn đề/ ngữ liệu đề cho thành tác phẩm nhỏ không? (Tìm cơ sở chia luận điểm). - Để thực hiện yêu cầu của đề, ta cần thực hiện những nhiệm vụ nào? (Tìm luận điểm). - Cần lật ngược vấn đề hay mở rộng vấn đề không? (Tìm ý bàn bạc luận đề). b. Bước 2 - Sắp xếp ý thành kết cấu: - Người viết muốn sắp xếp các ý theo trình tự nào? - Những ý nào cần trình bày trước, những ý nào trình bày sau? - Việc sắp xếp các ý như vậy đã hợp lí chưa? - Thân bài chia thành mấy ý chính? c. Bước 3 - Chọn thao tác, phương thức lập luận, chọn dẫn chứng, lí lẽ: - Trong mỗi ý chính cần những dẫn chứng, lí lẽ nào? (Tìm luận cứ). - Ở mỗi ý cần sử dụng những thao tác lập luận nào? (Tìm cách lập luận). - Mỗi đoạn sẽ sử dụng phương thức lập luận nào? (Tìm phương thức lập luận). d. Bước 4 - Viết đoạn văn: - Độ dài mỗi ý khoảng bao nhiêu? Tổng độ dài thân bài là bao nhiêu? - Khi viết xong, luận đề đã sáng tỏ chưa? - Các ý có thống nhất và liên kết chặt chẽ với nhau không? - Câu chữ đã sáng rõ, mạch lạc chưa? 1.3.2. Các yêu cầu nội dung cơ bản khi viết phần thân bài - Hành văn mạch lạc.
42
- Giải quyết luận đề, luận điểm hợp lí và thuyết phục. - Các luận điểm trong phần thân đoạn phải có sự liên kết chặt chẽ. 1.4. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận văn học 1.4.1. Cách kết bài đạt hiệu quả Phần Kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá vấn đề đặt ra ở Mở bài và đã giải quyết ở Thân bài. Phần này góp phần tạo tính hoàn chỉnh, trọn vẹn cho bài văn. Tùy vào mục đích nghị luận, người viết có thể sử dụng một trong các cách kết bài sau đây: a. Kết bài bằng cách tóm lược: - Là kiểu kết bài mà ở đó người viết tóm tắt quan điểm, tổng hợp những ý chính đã nêu ở Thân bài. Cách kết bài này dễ viết hơn và thường được sử dụng nhiều hơn. - Ví dụ minh họa: Từ cuộc đời của các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm Vợ nhặt(Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ(Tô Hoài), anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về số phận người phụ nữ xưa và nay. → Như vậy, các nhân vật nữ trong hai tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) có nhiều điểm chung. Họ đều là những người phụ nữ có số phận bất hạnh, cơ cực nhưng trong tâm hồn họ đều tiềm tàng một sức sống và ý thức vươn lên. Người phụ nữ ngày nay có nhiều khác biệt, họ đã biết khẳng định vị trí của mình trong xã hội và càng ngày càng vươn tới những đỉnh cao mới. b. Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: - Là kiểu kết bài trên cơ sở quan điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở rộng nâng cao vấn đề. - Ví dụ minh họa: Từ cuộc đời của các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm Vợ nhặt(Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về số phận người phụ nữ xưa và nay. → Làm thế nào để một nửa thế giới luôn được sống hạnh phúc và ngày càng được hạnh phúc hơn? Làm thế nào để tất cả phụ nữ Việt Nam luôn ngập tràn trong tiếng cười? Và làm như thế nào để mỗi người phụ nữ không còn khổ đau?… Đó là những câu hỏi không dành riêng cho bất cứ ai, không dành riêng cho phái nam mà chính những người phụ nữ cũng phải trả lời chúng. 1.4.2. Mẹo viết phần kết bài trong tình thế cấp bách Tình thế cấp bách là khi sắp hết giờ, hoặc khi tâm lí căng thẳng, chúng ta không thể trau chuốt cho phần kết bài được. Một số em học yếu có thể vận dụng kiểu kết bài chung chung, mang tính công thức. Cách Kết bài bằng cách tóm lược dễ làm nhất. Khi chỉ còn vài phút, các em có thể kết bài chung chung, tất nhiên nếu làm như vậy sẽ không được điểm cao, nhưng “có còn hơn không”, các em sẽ gỡ gạc được 0,5 điểm bố cục, vì nếu hai phần trên có
43
làm tốt đến mấy mà không có phần kết bài thì bài làm sẽ bị mất 0,5 điểm. Mặt khác còn gây cụt hứng, mất thiện cảm ở người chấm. - Nếu đề bài cho phân tích nhân vật, phân tích tác phẩm, hoặc phân tích đoạn thơ, thì kết bài các em có thể “khen” (hoặc chê) chung chung, cứ khen nhân vật, khen tác phẩm hay, khen nghệ thuật đặc sắc… Hoặc đề bài nghị luận về tư tưởng đạo lí thì khen (hoặc chê) tư tưởng đạo lí đó, liên hệ bản thân… Nghị luận về hiện tượng tiêu cực thì chê hiện tượng đó… - Ví dụ minh họa: Ví dụ minh họa 1: Tìm hiểutừ “mình”, “ta” và “ai” trongđoạn tríchViệt Bắc của Tố Hữu. → Tóm lại, “mình”, “ta”, “ai” là những từ xưng hô đã được Tố Hữu sử dụng linh hoạt trong đoạn trích Việt Bắc để tạo nên sự gắn bó rất thú vị giữa người ở, người về, tạo nên sự bâng khuâng, bịn rịn, lưu luyến không thể tách rời giữa Việt Bắc với những người đã gắn bó với quê hương cách mạng, với Thủ đô lồng lộng gió ngàn. Ví dụ minh họa 2: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân. → Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực và nhân đạo; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn. 1.5. Cách dựng đoạn và liên kết đoạn văn 1.5.1. Dựng đoạn a. Về nội dung: - Đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó về lôgic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng. - Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. - Mỗi đoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. - Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định. b. Về hình thức: - Đoạn văn là phần văn bản: + Bắt đầu từ chữ viết hoa lùi vào đầu dòng.4
44
+ Kết thúc là một dấu chấm xuống dòng.4 + Đoạn có một hoặc do nhiều câu liên kết tạo thành. c. Kết cấu của một đoạn văn nghị luận: - Câu mở đoạn: lêu lên luận điểm của cả đoạn, câu mở đoạn cần ngắn gọn rõ ràng. - Câu phát triển đoạn: gồm một số câu liên kết nhau: câu giải thích, câu dẫn chứng, câu phân tích dẫn chứng, câu so sánh, câu bình luận, câu khẳng định, câu phủ định… - Câu kết đoạn: là câu nhận xét, đánh giá vấn đề vừa triển khai, tiểu kết cả đoạn. - Câu chủ đề: là câu mang ý chính của toàn đoạn. Vị trí của câu chủ đề tùy thuộc vào kết cấu của đoạn. d. Kết luận: Như vậy để viết được một đoạn văn theo cách quy nạp, diễn dịch, móc xích hay song hành… học sinh cần xác định được luận điểm, câu chủ đề, vị trí của câu chủ đề trong đoạn văn, tìm đủ luận cứ cần thiết tổ chức lập luận theo một trật tự hợp lí để làm nổi bật luận điểm. Đây là cách hiểu hợp lí, thỏa đáng hơn cả giúp người đọc nhận diện đoạn văn trong văn bản một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúp người viết tạo lập văn bản bằng cách xây dựng từng đoạn văn được rõ ràng, rành mạch. 1.5.2. Liên kết đoạn a. Khái quát chung: - Một bài văn nghị luận được xem là mạch lạc, chặt chẽ khi giữa các luận điểm, các đoạn văn trong bài văn có mối quan hệ gắn bó về ý nghĩa và liên kết với nhau bằng những phương tiện liên kết nhất định. Do đó, để tạo nên sự liên kết giữa các đoạn trong một bài văn, người viết phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản: + Một là, tạo được quan hệ ý nghĩa giữa các đoạn (quan hệ liệt kê, quan hệ thứ tự, quan hệ song song, quan hệ tương đồng, quan hệ tương phản đối lập, quan hệ tăng tiến, quan hệ nhân – quả, quan hệ cụ thể – khái quát…). + Hai là, lựa chọn và sử dụng các phương tiện liên kết sao cho phù hợp với mối quan hệ ý nghĩa giữa các đoạn. - Thực tế trong trường học hiện nay, nhiều em học sinh chưa nắm chắc kĩ năng dựng đoạn, liên kết đoạn, triển khai bài văn còn lộn xộn, giữa các đoạn chưa có sự lập luận hợp lôgic. Vì thế, học sinh cần vận dụng một vài cách liên kết đoạn thông thường giúp liên kết đoạn trong văn nghị luận. b. Cách liên kết: - Có thể dùng từ ngữ hoặc dùng câu để liên kết các đoạn văn. Cách dùng từ ngữ để liên kết: Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ liệt kê: Thứ nhất… – Thứ hai…; Một là… – Hai là…; Trước tiên… – Tiếp theo… – Sau cùng…
45
Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ thứ tự: Trước hết… – Một đặc điểm nữa là… Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ song song: Một mặt… – Mặt khác… – Ngoài ra… – Bên cạnh đó… Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ tương đồng: Tương tự… – Cũng thế… – Cũng vậy… – Cũng giống như trên… Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ tương phản đối lập: Nhưng song, trái lại, ngược lại, thế mà, tuy nhiên, tuy vậy, thế nhưng… Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ tăng tiến: Vả lại, hơn nữa, thậm chí, chưamấy, đi xa hơn nữa… Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ nhân – quả: Bởi vậy, bởi thế, cho nên, vì vậy, vì thế, chính vì vậy, chính vì thế, do đó, vậy nên, vì lí do trên… Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ cụ thể – khái quát: đối với trường hợp này, đoạn văn trước mang ý nghĩa cụ thể, đoạn văn sau mang ý nghĩa tóm tắt, tổng kết, khái quát. Từ ngữ liên kết được sử dụng ở đoạn văn sau có thể là: Tóm lại, nhìn chung, nói tóm lại, vậy là tổng kết lại, chung quy lại… c. Cách dùng câu để liên kết: - Câu nối có nhiệm vụ tóm tắt nội dung của đoạn trước và mở ra nội dung của đoạn sau: Không những A (nội dung đoạn trước) mà còn B (nội dung khái quát của đoạn sau). … Càng A (nội dung đoạn trước)… càng B (nội dung khái quát của đoạn sau). Nếu A (nội dung đoạn trước)… thì B (nội dung khái quát của đoạn sau). - Dùng câu hỏi để tự mở ra một ý cho đoạn mới (đoạn văn sau). 2. Ma trận đề kiểm tra câu nghị luận văn học trong đề thi THPT Quốc gia Chủ đề kiến thức Nghị luận văn học: - Người lái đò Sông Đà. - Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Nhận biết -Nhận biết được kiểu bài, xác định được đối tượng nghị luận, phạm vi dẫn chứng, thao tác lập luận chính. - Nhận biết được
Thông hiểu - Hình thành được hệ thống luận điểm, luận chứng, dụng ý nghệ thuật của tác giả, ý nghĩa chi tiết, hình ảnh, biện pháp tu từ...
46
Vận dụng Thấp - Vận dụng kết hợp kiến thức, kỹ năng, năng lực đọc hiểu văn bản và cách làm bài văn nghị luận văn học. Vận
Cao Tích hợp với những kiến thức về tiếng Việt và Làm văn để làm bài
các nét chính về tác giả, tác phẩm
dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích, chứng minh.
3. Các dạng đề văn nghị luận thường gặp trong đề thi THPT Quốc gia 3.1. Dạng đề nghị luận về một nhân vật/đối tượng trong tác phẩm và nhận xét một vấn đề nào đó. 3.1.1. Sơ đồ tư duyhướng dẫn làm bài
3.1.2. Ví dụ: Cảm nhận về hình tượng người lái đòtrong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân.Từ đó làm rõ nét thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân ở những tác phẩm trước và sau Cách mạng tháng Tám. a. Mở bài: - Ông lái đò chính là chất vàng mười đã được thử lửa mà Nguyễn Tuân tìm kiếm, người anh hùng trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội. Liên hệ hình ảnh người anh hùng trong thơ ca Nguyễn Tuân trước cách mạng (Huấn Cao – Chữ người tử tù) b. Thân bài:
- Khái quát tác giả, tác phẩm 47
- Hình tượng người lái đò: +Công việc: lái đò trên sông Đà, hằng ngày đối diện với thiên nhiên hung bạo. + Về lai lịch, ngoại hình: tác giả xóa mờ xuất thân, tập trung miêu tả ngoại hình để ngợi ca những con người vô danh âm thầm cống hiến: “tay lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, ... chất mun”, đó là ngoại hình khỏe khoắn của con người lao động luôn gắn bó với nghề + Là người có lòng dũng cảm, tình yêu nghề: “giữ mái chèo, nén vết thương, hai chân kẹp chặt lấy cuống lái” + Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, “sông Đà đối với ông lái đò ấy như một thiên anh hùng mà ông đã thuộc ... xuống dòng”, ... + Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: + Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường: sau khi vượt thác nhà đò đốt lửa nướng cơm lam và toàn bàn về chuyện cá anh vũ, cá dầm xanh, ... → Khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: là nhà văn tài hoa uyên bác, suốt đời đi tìm cái đẹp, luôn khám phá thế giới ở bình diện văn hóa, thẩm mĩ, luôn miêu tả con người trong vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ. - Nét thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân ở những tác phẩm trước và sau Cách mạng tháng Tám: + Nét chung (tính thống nhất): • Nguyễn Tuân vẫn tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. • Vẫn là ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau trong miêu tả và biểu hiện. • Vẫn sử dụng vốn ngôn từ hết sức tinh lọc, phong phú, độc đáo. Khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng. Các phép tu từ được nhà văn phối hợp vô cùng điêu luyện. + Nét riêng (tính khác biệt): • Trước Cách mạng tháng Tám, con người Nguyễn Tuân hướng tới và ca ngợi là những “con người đặc tuyển, những tính cách phi thường”. Sau Cách mạng tháng Tám, nhân vật tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuân có thể tìm thấy ngay trong cuộc chiến đấu, lao động hàng ngày của nhân dân. •Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là một người tài tử, thích chơi “ngông”, mắc cái bệnh ham mê thanh sắc, thích chiêm ngưỡng, chắt chiu cái Đẹp và nhấm nháp những cảm giác mới lạ. Sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn nhạy cảm với con người mới, cuộc sống mới từ góc độ thẩm mĩ của nó. Nhưng không còn là một Nguyễn Tuân “nghệ thuật vị nghệ thuật” nữa. Ông đã nhìn cái đẹp của con người là cái đẹp gắn với nhân dân lao
48
động, với cuộc sống đang nẩy nở sinh sôi, đồng thời lên án, tố cáo chế độ cũ, khẳng định bản chất nhân văn của chế độ mới. c. Kết bài: - Nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật ông lái đò: là đại diện cho con người lao động Tây Bắc trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, là con người vừa có phẩm chất anh hùng vừa tài hoa nghệ sĩ, chứa đựng chất vàng mười đã qua thử lửa. - Người lái đò Sông Đà là tùy bút xuất sắc miêu tả chân thực vẻ đẹo vừa hung bạo vừa trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc, giữa nền thiên nhiên nổi bật lên là vẻ đẹp của những người lao động bình dị. 3.2. Dạng đề nghị luận về một đoạn trích và nhận xét một vấn đề nào đó.
3.2.1. Sơ đồ tư duy hướng dẫn làm bài
3.2.2. Ví dụ Cảm nhận của anh/chị về đoạn văn sau trong tùy bút Người lái đò Sông Đàcủa Nguyễn Tuân: "Thuyền tôi trôi trên sông Đà... nó khắc hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên". Từ đó làm rõ cảm hứng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân qua dòng sông Tây Bắc. a. Mở bài: Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa, nhà văn nổi tiếng trong cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945. Tùy bút Người lái đò sông Đà rút trong tập tùy
49
bút Sông Đà là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo và tài hoa của nhà văn Nguyễn Tuân trên bước đường đi tìm vẻ đẹp tả cảnh và người Tây Bắc – “chất vàng mười” của tâm hồn. b. Thân bài: b.1. Vẻ đẹp trữ tình của một quãng sông êm ả, hiền hòa: - Nhà văn miêu tả một cách vô tư, khách quan kết hợp với suy nghĩ cá nhân. - Nhiều hình ảnh đẹp, tinh lọc, sắc sảo. - Đặc biệt, nhà văn dùng thủ pháp so sánh tu từ, nhân hóa tu từ, điệp câu trúc cú pháp để: + Miêu tả vẻ đẹp trữ tình, thi vị, hoang dại, cổ kính của dòng sông. + Gợi thần thái của dòng sông: Dòng sông như một sinh thế mang nặng tâm trạng, cảm xúc. - Nhà văn dùng những nét chấm phá rất tài hoa của nghệ thuật hội họa, điêu khắc: + Gam màu nhạt tạo cảm giác trữ tình thơ mộng. + Không gian: tĩnh mịch, hoang vắng (ngoại trừ thanh âm của “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sóng”). - Nhà văn có cách phối hợp thanh điệu, nhịp điệu của câu văn cũng rất tài hoa. b.2. Cảm xúc của du khách – nhân vật trữ tình trên sông Đà: - Rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp ngây ngất của thiên nhiên và chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấy bằng đôi mắt của một người nghệ sĩ tài hoa, một người yêu. Nhìn cảnh ven sông lặng tờ, người nghệ sĩ liên tưởng tới quá khứ của quãng sông để so sánh, đối chiếu, khám phá ra vẻ đẹp hoang dại, cổ tích, huyền thoại kì thú của nó cũng như vẻ đẹp trẻ trung, tươi tắn nảy nở, sinh sôi của cảnh vật thực tại. - Yêu thiên nhiên nồng nàn, tha thiết; hòa nhập tâm hồn mình với thiên nhiên. Người nghệ sĩ ấy với thiên nhiên như một người bạn tri âm, tri kỷ nên rất thấu hiểu thiên nhiên. - Khát khao, mơ ước, hi vọng về một tương lai tốt đẹp cho vùng đất Tây Bắc xa xôi của Tổ quốc. b.3. Nhận xét về cảm hứng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân qua dòng sông Tây Bắc: - Trong cái nhìn Nguyễn Tuân, Sông Đà hiện lên với những tính cách đối lập: vừa dữ dội vừa duyên dáng, như công trình nghệ thuật tuyệt mĩ giữa thiên nhiên. Nhà văn ca ngợi núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. - Vẻ đẹp đầy cá tính của dòng sông chính là "chất vàng mười" của thiên nhiên Tây Bắc tác giả muốn khám phá, kiếm tìm. - Tình yêu tha thiết, say mê với thiên nhiên, đất nước; sự tài hoa, uyên bác của tác giả thể hiện qua cái nhìn tinh tế và sự cảm nhận độc đáo. c. Kết bài:
- Cả tác phẩm cũng như trích đoạn đã khơi dậy trong lòng chúng ta tình yêu thiên nhiên, đất nước mãnh liệt, yêu những con người lao động chân chính, hăng say và đặc biệt càng thêm yêu vùng đất Tây Bắc xa xôi nhưng giàu tiềm năng của Tổ quốc Việt Nam.
50
51
3.3. Dạng đề nghị luận một đối tượngqua hai lần miêu tả và nhận xét 1 vấn đề 3.3.1. Sơ đồ tư duy hướng dẫn làm bài
3.3.2. Ví dụ Nguyễn Tuân miêu tả vẻ đẹp của dòng sông Đà trong nhiều cảnh sắc, khi là thác nước và những cửa ải đá: “ Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này…” Khi là vẻ đẹp của dòng chảy trữ tình được nhìn từ trên cao: "Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì ruợu bữa, lù lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mổi độ thu về". (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2016) Anh/chị hãy phân tíchvẻ đẹp của sông Đà trong hai đoạn văn trên, từ đó làm rõ cái tôi trữ tình của Nguyễn Tuân được thể hiện trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà. a. Mở bài: - Giới thiệu vấn đề nghị luận: dòng sông Đà hung bạo và trữ tình qua hai lần miêu tả - Cái tôi của Nguyễn Tuân trong bài kí. b. Thân bài: * Vẻ đẹp của Sông Đà trong đoạn thứ nhất: - Sự hung bạo, dữ dội của thác nước và những cửa ải đá: + Thác nước sông Đà gầm réo trong những âm thanh ghê sợ, nhà văn đã nhân hóa con sông, biến nó thành một sinh thể dữ dằn, hung bạo: lúc nghe như là oán trách, lúc lại như là van xin, khi thì khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, có lúc nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa,… + Cả một "chân trời đá" đã bày thạch trận trên sông với tất cả sự ngỗ ngược, hung hãn, mỗi hòn đá có gương mặt riêng, nhiệm vụ riêng trong thạch trận bày sẵn dụ con thuyền, mỗi hòn đá là một tên lính thủy hung tợn.
- Nghệ thuật: Ngôn ngữ giàu sức tạo hình với các động từ, tính từ có khả năng miêu tả, thủ pháp so sánh, liên tưởng bất ngờ, thú vị, kiến thức phong phú từ các lĩnh vực: địa lý, lịch sử, điện ảnh, quân sự, võ thuật...Câu văn mang âm hưởng mạnh mẽ, ào ạt như thác ghềnh sông. * Vẻ đẹp của Sông Đà trong đoạn thứ hai: - Dòng sông được quan sát tỉ mỉ, công phu ở nhiều thời điểm, nhiều góc độ. + Dòng chảy duyên dáng, mềm mại, yêu kiều, uốn lượn: "tuôn dài, tuôn dài..." + Sắc nước sông Đà thay đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp nên thơ, lãng mạn trong so sánh của Nguyễn Tuân. - Nghệ thuật: So sánh, liên tưởng độc đáo; ngôn ngữ phong phú, sống động, gợi hình, gợi cảm, câu văn mang âm điệu trữ tình, lắng sâu, êm ái. * Cái tôi của Nguyễn Tuân trong bài kí: - Cái tôi tài hoa. - Cái tôi uyên bác. - Cái tôi nặng lòng với thiên nhiên, quê hương, đất nước. c. Kết bài:khẳng định lại vấn đề và nêu cảm nhận của bản thân. 3.4. Dạng đề so sánh hai đoạn trích. 3.4.1. Sơ đồ tư duy hướng dẫn làm bài
52
53
3.4.2. Ví dụ Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn văn sau: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì ruợu bữa, lù lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mổi độ thu về”. (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12,Tập một, NXB Giáo dục, 2009) “Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Tràn để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sững sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cánh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên
những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, "sớm xanh, chiều tím" như người Huế thường miêu tả”. (Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009) GỢI Ý: a. Vài nét về tác giả và tác phẩm: - Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, với phong cách nghệ thuật độc đáo, nổi bật là nét tài hoa, uyên bác, đặc biệt sở trừơng về tuỳ bút. Người lái đò Sông Đà là một tuỳ bút đặc sắc, kết tinh nhiều mặt của phong cách Nguyễn Tuân, viết về vẻ đẹp và tiềm năng của thiên nhiên và con người Tây Bắc. - Hoàng Phủ Ngọc Từơng là một nghệ sĩ tài hoa, mang đậm chất Huế, có nhiều thành tựu về thể kí. Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là một tuỳ bút giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp sông Hương với bề dày lịch sử và văn hoá Huế, rất tiêu biểu cho phong cách của ông. b. Về đoạn văn trong Người lái đò Sông Đà: - Nội dung: + Đoạn văn tập trung miêu tả vẻ đẹp đầy chất tạo hình của sông Đà với hình dàng thơ mộng, đường nét mềm mại, ẩn hiện; màu sắc dòng nước biến đỗi tương phản theo mùa, gây ấn tượng mạnh. + Hiện lên một cái tôi Nguyễn Tuân đắm say, nồng nhiệt với cảnh sắc thiên nhiên, tinh tế và độc đáo trong cảm nhận cái đẹp. - Nghệ thuật: + Hình ảnh, ngôn từ mới lạ, câu văn căng tràn, trùng điệp mà vẫn nhịp nhàng về âm thanh và nhịp điệu. + Cách so sánh, nhân hoá táo bạo mà kì thú; lối tạo hình giàu tính mĩ thuật, phối hợp nhiềugóc nhìn theo kiểu điện ảnh. c. Về đoạn văn trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Nội dung: + Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp sông Hương theo thuỷ trình của nó, với những nét uyển chuyển, linh hoạt của dòng chảy; vẻ biến ảo của màu sắc, vẻ uy nghi trầm mặc của cảnh quan đôi bờ. + Toát lên một tình yêu xứ sở sâu nặng, đằm thắm, một cách cảm nhận bình dị mà tinh tếcủa Hoàng Phủ Ngọc Tường. - Nghệ thuật: + Hình ảnh chân thực mà gợi cảm, câu văn kéo dài mà khúc chiết, thanh điệu hài hoà, tiết tấu nhịp nhàng.
54
55
+ Lối so sánh gần gũi và xác thực, sử dụng nhuần nhuyễn các địa danh và cách nói của người Huế. d. Về sự tương đồng và khác biết giữa hai đoạn văn: - Tương đồng : Cùng miêu tả vẻ đẹp phong phú và biến ảo của sông nước, cùng bộc lộ tình yêu mãnh liệt dành cho thiên nhiên xứ sở với một mĩ cảm tinh tế, dồi dào, cùng bao quát sông nước trên nền cảnh khoáng đạt của không gian và thời gian, cùng được viết bằng một thứ văn xuôi đậm chất trữ tình, giàu hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu. - Khác biệt: Đoạn văn của Nguyễn Tuân: trội về cảm xúc nồng nàn, cảm giác sắc cạnh, liên tưởng phóng túng, so sánh táo bạo, cảnh sắc được bao quát từ nhiều góc nhìn khác nhau, theo nhiều mùa trong năm. Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường: trội về cảm xúc sâu lắng, cảm giác gắn với suy tư, cảnh sắc được bao quát từ một góc nhìn mà nương theo thuỷ trình để nắm bắt sự biến đổi của sông nước qua từng chặng, từng buổi trong ngày.
3.5. Dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học.
3.5.1. Sơ đồ tư duy hướng dẫn làm bài
3.5.2. Ví dụ Có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy, nó đòi hỏi người sáng tác phải có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong các tác phẩm của mình”. Bằng việc cảm nhận cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? (SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016), anh (chị) hãy làm rõ ý kiến trên. a. Mở bài: b. Thân bài: b.1. Giải thích ý kiến: - Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo: Nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng là lĩnh vực của cái độc đáo- cái riêng, cái lạ, cái mới. Sự độc đáo thể hiện trong cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá; độc đáo trong cách lựa chọn đề tài, xác định chủ đề…; độc đáo trong nghệ thuật thể hiện: giọng điệu, ngôn từ, xây dựng nhân vật, hình tượng, các thủ pháp nghệ thuật…
56
57
- Nó đòi hỏi người sáng tác phải có nét riêng, nét mới lạ: Nghĩa là người nghệ sĩ phải đem đến một cái gì đó mới mẻ cho tác phẩm; phải thể hiện được cá tính sáng tạo; dấu ấn cá nhân, cái “tôi” của người làm nghệ thuật. - Cái “tôi” được hiểu là nét riêng, điểm khác biệt của mỗi người. (Ở phương diện khác, cái “tôi” là biểu hiện cao độ của ý thức cá nhân, xuất hiện khi con người có nhu cầu được là chính mình). Trong lĩnh vực nghệ thuật, cái “tôi” không chỉ thể hiện con người mà còn thể hiện phong cách của tác giả. b.2. Cái “tôi” của HPNT trong bài kí: Một cái “tôi” uyên bác với vốn tri thức, vốn sống phong phú, đa dạng, sâu sắc: Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng vốn kiến thức, hiểu biết từ nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện khác nhau như địa lí, lịch sử, thơ ca, âm nhạc… cùng với vốn sống, sự trải nghiệm thực tế để cảm nhận vẻ đẹp của dòng sông Hương, của mảnh đất, con người xứ Huế. (Ví dụ: vốn tri thức về địa lí trong cách miêu tả tỉ mỉ, chính xác dòng chảy của Hương Giang qua những địa danh khác nhau; vốn kiến thức về lịch sử khi viết về sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử từ thời xa xưa khi còn là đất nước các vua Hùng…; vốn văn hóa khi khám phá vẻ đẹp của sông Hương và xứ Huế ở phương diện văn hóa….). Một cái “tôi” tài hoa, tinh tế, lãng mạn với trí tưởng tượng bay bổng: - Cái nhìn mang tính phát hiện về một dòng sông vốn đã trở thành niềm cảm hứng, đề tài của nhiều người nghệ sĩ: Sông Hương được khám phá từ nhiều góc nhìn, trong các mối quan hệ với địa lí, lịch sử, văn hóa, trong mối quan hệ với cuộc đời… Từ đó, dòng sông hiện lên với vẻ đẹp phong phú: Khi thì mãnh liệt, phóng khoáng, man dại, hừng hực sức sống; khi thì dịu dàng, đắm say, mơ màng; lúc lại trầm mặc cổ kính, sâu lắng…Đặc biệt, dòng sông luôn được hình dung như một người con gái đẹp với nhiều dáng vẻ, nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. - Tài năng nghệ thuật khi miêu tả vẻ đẹp của sông Hương và cảnh sắc, con người xứ Huế: Trí tưởng tượng với những liên tưởng phong phú, bay bổng thể hiện qua các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…; ngôn ngữ giàu chất thơ; lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa… Một cái “tôi” gắn bó máu thịt với sông Hương, xứ Huế, với quê hương, đất nước: - Tác giả miêu tả sông Hương bằng một tình yêu đắm say; hiểu thấu nỗi niềm của nó trong từng khúc, từng đoạn của dòng chảy; đưa sông Hương đến với mọi người với tất cả vẻ đẹp của nó…Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là “người tình mong đợi” của sông Hương. - Từ tình yêu sông Hương, tác giả cũng thể hiện tình yêu, sự gắn bó thiết tha với con người và văn hóa xứ Huế. - Trách nhiệm, lòng tự hào của một công dân đối với đất nước khiến Hoàng Phủ lật từng trang lịch sử, giở từng trang địa lí, tìm hiểu từng phong tục để viết về sông Hương.
Những trang văn của ông chảy vào tâm hồn người đọc tình yêu mê say với dòng sông, với văn hóa, con người xứ Huế để người đọc thêm yêu hơn non sông, đất nước mình. b.3. Đánh giá Cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn trích là sự hội tụ cái tài, cái tâm của nhà văn. Đó là cái “tôi” mang nặng tình cảm yêu thương với dòng sông Hương, với Huế, với quê hương đất nước mình. Đó cũng là cái “tôi” uyên bác, tài hoa trong nghệ thuật thể hiện của thể bút kí.
1. Câu 1: Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích sau: “Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói […] ; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”. (Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, SGK Ngữ văn 12, tr.201) Từ đó nhận xét về cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bài kí. 2. Câu 2: Trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà”, có đoạn Nguyễn Tuân viết: “Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”. Lại có đoạn: “Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”. Anh (chị) hãy lí giải điểm khác biệt trong cách miêu tả con sông Đà của nhà văn qua hai đoạn kể trên. Câu 3: Về hình tượng sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có ý kiến cho rằng: “Sông Hương mang vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình”. Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên bằng việccảm nhậnhai đoạn văn sau: “Phải nhiều thế kỷ qua, người tình mong đợi mới đến đánh thức người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. ......
58
59
VII. BÀI TẬP TỰ GIẢI
“Và rồi,như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông - tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế,nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người ở đây;và để nhân cách hóa nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Câu 4: Trong bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Hoàng Phủ Ngọc Tường đã 2 lần miêu tả dòng sông Hương: - Ở thượng nguồn:“Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. - Khi về đến thành phố Huế: “Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bờ xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”; Sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến, đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Đấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế; Sông Hương trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”. Hãy cảm nhận về vẻ đẹp của sông Hương trong các hành trình trên. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật miêu tả của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Câu 5: Anh/Chị hãy phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông hung dữ trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. Từ đó, hãy lí giải vì sao, trong con mắt của tác giả, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta. Câu 6: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông?. Từ đó nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
C. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CHUYÊN ĐỀ
- Vốn từ dồi dào, biến hóa;câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu hình ảnh và nhịp điệu; những ví von so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ. 1.2. Kĩ năng: Đọc – hiểu tùy bút theo đặc trưng thể loại. 1.3. Thái độ: - Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên và ca ngợi người lao động. - Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước. - Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Kĩ năng sống: Tự nhận thức về vẻ đẹp con người lao động mới trong công cuộc xây dựng đất nước. Trân trọng giá trị con người của tác giả, rút ra bài học cho bản thân về ý nghĩa của công việc. - Kĩ năng tư duy sáng tạo: Phân tích, bình luận về cá tính sắc nét , độc đáo trong cách thể hiện hình tượng sông Đà và hình tượng người lái đò trong cuộc vượt thác. 1.4.Hình thành năng lực: - Năng lực chung: tự học, giải quyết vấn đề, hợp tác, tự chủ,… - Năng lực chuyên biệt:tạo lập văn bản, tiếp nhận văn bản, thẩm mỹ,… 2. Chuẩn bị của thầyvà trò: 2.1. Chuẩn bị của thầy - Thiết bị dạy học: máy chiếu, máy vi tính, sách giáo khoa Ngữ văn 12 cơ bản, giấy A0, bút dạ, bảng phụ, bút màu. - Chuẩn bị giáo án, thiết kế bài giảng. - Chuẩn bị đồ dùng, học liệu: + Các video về sông Đà + Bản đồ địa lý: thủy trình sông Đà. + Tranh ảnh về tác giả, dòng sông Đà, thiên nhiên và con người Tây Bắc. - Xây dựng các câu hỏi liên hệ, câu hỏi tình huống theo ma trận kiến thức, kĩ năng. - Chuẩn bị các Phiếu học tập đầy đủ cho học sinh. 2.2. Chuẩn bị của trò - Đọc trước ngữ liệu trong sách giáo khoa và các nguồn tham khảo. - Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ ở nhà (do giáo viên giao từ trước). - Đồ dùng học tập. 3. Tiến trình dạy học:
I. GIÁO ÁN MINH HỌA (NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – 1 TIẾT) 1. Mục tiêu bài học: 1.1. Kiến thức: - Vẻ đẹp đa dạng của sông Đà(hung bạo, trữ tình) và người lái đò (trí dũng, tài hoa) trên trang văn Nguyễn Tuân
60
Hoạt động 1: Khởi động (5-7p) HĐ Giáo viên
HĐ học sinh
Nhiệm vụ: Hình thành năng lực tiếp HS xem một đoạn phim về sông Đà. Sau đó
61
nhận văn bản. 1-2 em sẽ nhận xét đoạn phim . Mục đích: Nêu được vấn đề và tạo tâm thế hứng thú cho học sinh chuẩn bị học bài mới. Nội dung: Giúp học sinh nhớ lại kiến thức đã học ở lớp 11 và hiểu biết về các sáng tác của Nguyễn Tuân. Phương pháp: Dạy học giải quyết vấn đề. GV chiếu một đoạn phim về Sông đà. Gọi HS nhận xét về con sông. ? Qua đoạn phim em thấy con sông này như thế nào? Gv vào bài. Hoạt động 2: Hình Thành kiến thức (25p) Hình thành năng lực tiếp nhận văn bản, năng lực hợp tác Mục đích: Cảm nhận được vẻ đẹp của con sông Đà. Từ đó hiểu được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên miền Tây Bắc Tổ quốc. - Thấy được sự tài hoa, uyên bác của nhà văn và hiểu được nét đặc sắc nghệ thuật của thiên tùy bút. Nội dung: Hiểu biết chung về văn bản. Phương pháp: Phát vấn, thảo luận nhóm Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung Hướng dẫn HS tìm hiểu * Tái hiện kiến thức và I.Tìm hiểu chung: chung về tác giả và tác trình bày. 1. Tác giả Nguyến Tuân: phẩm. - Nguyễn Tuân (1910-1987), ? Dựa vào kiến thức lớp xuất thân trong một gia đình nhà 11, em hãy giới thiệu lại Nho, quê ở xã Nhân Mục, Hà nét chính về Nguyễn nội. Ông cầm bút từ những năm Tuân? 1930. - Sự nghiệp sáng tác của ông trước và sau cách mạng rất phong phú, độc đáo và tài hoa. Nguyễn ? Điểm thống nhất trong Tuân được mệnh danh làNhà văn phong cách sáng tác của suốt đời đi tìm cái đẹp. Nguyễn Tuân ở 2 giai - Trước CM, ông quan niệm cái đoạn? đẹp chỉ có ở trong quá khứ Vang
62
Là người tài hoa, uyên bác nên Nguyễn Tuân nghiêng về khám phá và thể hiện cuộc sống ở phương diện thẩm mĩ , tiếp cận con người ở phương diện tài hoa. ? Người lái đò sông Đà được sáng tác trong hoàn + Người lái đò sông Đà cảnh nào? là áng văn được in trong tập Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân. Sông Đà gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ phác thảo. Đây là kết quả của chuyến đi gian khổ mà hào hứng của Nguyễn Tuân tới miền Tây Bắc xa xôi, thoả mãn cái thú tìm đến miền đất lạ, tìm ra chất vàng mười trong ?Đề tài của tác phẩm là tâm hồn người lao động, gì? trên miền sông, núi hùng vĩ và thơ mộng.
? Nguyễn Tuân sáng tác tác phẩm với cảm hứng như thế nào?
Hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản *GV Tích hợp kiến thức Địa lí, Lịch sử Việt Nam
63
bóng một thời, tài hoa chỉ ở những con người xuất chúng . - Sau CM ông tìm thấy cái đẹp ở cả quá khứ, hiện tại, tương lai, tài hoa ở nhân dân đại chúng. Nguyễn Tuân xứng đáng được coi là nghệ sĩ lớn 2.Tác phẩm Người lái đò sông Đà
a. Hoàn cảnh ra đời: - Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960).Thành quả thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi. b.Thể loại: Tùy bút Là dạng bút kí ghi chép người thật việc thật ,không có cốt truyện, đặc biệt in đậm khách quan của người viết và đậm chất trữ tình. c.Đề tài: Chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và thứ “vàng mười” ở tâm hồn của những con người lao động. d. Cảm hứng chủ đạo: Khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời (không giống với Nguyễn Tuân trước CM, con người chỉ muốn xê dịch cho khuây cảm giác “thiếu quê hương”. II . Đọc - hiểu văn bản:
những năm 60 hướng dẫn học sinh tìm hiểu tên gọi Sông Đà và hoàn cảnh ra đời tuỳ bút của Nguyễn Tuân – Sông Đà (còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang) là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng. Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc – đông nam để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ. Tích hợp kiến thức lịch sử: – Năm 1960 là thời kì miền Bắc xây dựng CNXH. Vì thế, nhà văn rất quan tâm đến người lao động ?Hình tượng con sông Đà được tác giả khắc hoạ với những nét tính cách nào ? Ấn tượng ban đầu về con sông? - Tác giả đã khắc hoạ được nhiều bức tranh thiên nhiên sinh động hấp dẫn về một vùng rừng núi hùng vĩ, hiểm trở và rất thơ mộng. Những núi xa, núi gần, những thung lũng vàng lúa chín và bao thứ hương đua sắc. Tập trung miêu tả là con sông Đà.
1. Hình tượng con sông Đà: a. Hung bạo, dữ dằn: * HS thảo luận 5p + Dòng sông được hình dung như một con người với 2 đặc tính trái ngược, mâu thuẫn và thống nhất: Hung bạo nguy hiểm và thơ mộng trữ tình
tác Nhóm 1-3: Tìm những dẫn chứng miêu tả hình ảnh con sông Đà hung bạo? Nhóm 2-4: Tác giả đã dùng những biện pháp NT nào để khắc họa ấn tượng về hình ảnh con sông đà hung bạo? GV gợi ý và giảng thêm: ? Hướng chảy của Sông Đà được Nguyễn Quang Bính giới thiệu như thế nào? ? Bờ sông được miêu tả như thế nào ?NT sử dụng? -Trong phạm vi một lòng sông hẹp, như chiếc yết hầu bị đá bờ sông chẹt cứng. -Trong khung cảnh mênh mông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa.
....rút lên cái gậy đánh phèn”. Nhóm 2-4: Đọc đoạn văn: “còn xa lắm mới đến cái thác dưới...thủy thủ ngay ở chân thác” - HS trình bày kết quả thảo luận. +Sông Đà hiểm trở, dữ dội, với những đoạn bờ sông dựng thành vách cao vút, những thác nước hung dữ,"nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm", "sẵn sàng quật ngửa bụng những thuyền đi qua", với những hút nước "sâu như lòng giếng, nước xoáy tít ằng ặc có thể lôi tuột những bè gỗ lớn xuống tận đáy và đánh cho tan xác",…
? Nước sông đà được miêu tả bằng nghệ thuật gì? + HS tìm và trả lời
Nhóm 1-3:Đọc đoạn GV đặt câu hỏi thảo luận: văn : Hình thành năng lực hợp “ Hùng vĩ của Sông Đà - Dòng chảy :
64
65
“ Chúng thủy…Bắc lưu” Hướng chảy độc đáo, đi ngược với qui luật tự nhiên. Sông Đà có tính cách độc đáo, riêng biệt. - Đá bờ sông : dựng vách thành . - So sánh: vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu, - Cách đo: Ném nhẹ hòn đá qua bên kia vách, con nai , con hổ vụt từ bờ bên này sang bờ bên kia. - Cảm giác: Lạnh, như đứng ở một cái ngõ mà ngóng vọng lên vách đá bờ sông đầy dữ dội, nguy hiểm - Nước sông:Nước xô đá, đá xô sóng, sóngxô gióđiệp điệp, trùng trùng gợi được thế cuồn cuộn của sóng gió gùn ghè. - Cấu trúc trùng điệp, nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp: “ nước xô đấ.. nợ xuýt”- gợi sự dữ dội , hùng vĩ của sóng nước SĐ. - Hút nước: So sánh: Hút nước giống như cái giếng bê tông,nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc + Hình ảnh: Hút nước xoáy tích, lừ lừ + Âm thanh:ằng ặc như vừa rót dầu sôi vào. - Vận dụng tri thức ngành điện ảnh hút nước dữ dội, nguy hiểm. - Thác nước: + Âm thanh: réo gần, réo xa + Nhân hoá: Như oán trách, như
? Hút nước sông Đà như thế nào ? Tác giả dùng nghệ thuật gì dể miêu tả? - Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu. - Những trùng vi thạch trận + HS tìm và trả lời sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái. ? Thác nước ở sông Đà như thế nào? - Tính chất hung bạo của sông Đà còn thể hiện qua thác nước. Nhân cách hoá trong miêu tả của Nguyễn Tuân, biến thác nước thành những bầy thuỷ quái hung hăng, bạo ngược lúc thì “nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi + HS tìm và trả lời lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. ? Thạch trận được miêu tả như thế nào? Sông đà giao nhiệm vụ gì cho mỗi hòn đá? Sông Đà còn hội tụ đủ các loại đá. Bằng nghệ thuật nhân hóa Nguyễn Tuân miêu tả một cách sinh động hình thể và tính cách của các hòn đá. Chúng chẳng khác mặt người nhưng chẳng có mặt nào hiền hậu, chỉ thấy mặt ngỗ ngược,
66
kêu van, như khiêu khích ,chế nhạo. - So sánh: Nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn. . . Tài nghệ của nhà văn là: lấy lửa để tả nước, lấy rừng tả sông chơi ngông trong nghệ thuật Cảnh thác nước dữ dội như chặn đánh người lái đò - Thạch trận: Nhân hoá: + Mặt hòn đá ngỗ ngược, nhăn nhúm, méo mó + Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn : đám tảng, đám hòn, hàng tiền vệ, bong ke, pháo đài… + Bèn nhổm cả dậy, hất hàm thách thức + Bệ vệ, oai phong, lẫm liệt Sông Đà như một loài thuỷ quaí khổng lồ, khôn ngoan, mưu trí, nham hiểm, hung ác có diện mạo có tâm địa như một thứ kẻ thù số một của con ngươi.
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ: - Điện ảnh : - Quân sự: Dàn thạch trận, boong ke, pháo đài - Võ thuật:Đá trái, thúc gối, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… - Thể thao:Tiền vệ, hậu vệ… Sử dụng tri thức liên nghành
nhăn nhúm, méo mó. . . Chúng còn biết mai phục giấu mình chờ đợi , sẵn sàng nhổm dậy, vồ lấy + Hs trả lời thuyền. - Trí tưởng tượng của Nguyễn Tuân rất phong phú, ông hình dung con sông Đà rất xảo quyệt , nghĩ rắng nó cũng biết bày binh bố trận để làm mình, làm mẩy với con người . Nào là các trùng vi thạch trận với đủ các loại đá, mỗi hòn được giao nhiệm vụ khác nhau. Rất nhiều cửa sinh, cửa tử, luồng chết, luồng sống bố trí lệch nhau , thay đổi vị trí liên tục để đánh lừa những người chèo đò ít kinh nghiệm. ? Nhà văn đã sử dụng tri thức của nghành nào để miêu tả tính cách hung bạo của sông Đà? - Nguyễn Tuân đã dùng ngòi bút tinh tế để miêu tả hàng loạt những hình ảnh khác nhau vừa có tính trí tuệ vừa có tính tạo hình vượt xa những thủ pháp nhân hóa thông thường. Cái dữ dội của sông Đà trở nên môi trường anh hùng ca hoàn toàn độc đáo. Có lúc nhà văn dùng kĩ thuật điện ảnh để miêu tả hết sức
để miêu tả. ⇒ Nghệ thuật miêu tả tỉ mỉ, so sánh độc đáo, dùng ngôn ngữ điện ảnh, dùng tưởng tượng nhân hoá hợp lí, quan sát tinh tế, cấu trúc câu văn …→ Sông Đà hiện lên như một công trình tuyệt vời của tạo hoá nhưng hung dữ và hiểm ác.
67
tài hoa: ” Có bạn quay phim dũng cảm dám một mình một máy . . .Có cảm giác như xem phim trên màn ảnh rộng , hình ảnh động và thật đập thẳng vào mắt làm tăng cảm giác hồi hộp “- Sự hung tợn độc dữ của con sông thực ra cũng chỉ là biểu hiện của một nét đẹp thiên nhiên Tây Bắc kỳ vĩ, dữ tợn. Thiên nhiên ấy quả là có sức hấp dẫn lớn với Nguyễn Tuân, một nhà văn luôn đi sâu tìm những cảm giác mới lạ, mãnh liệt, + Hs tìm và trả lời những phong cảnh cực kỳ dữ dội ? Vẻ đẹp trữ tình của con sông Đà được thể hiện như thế nào? Từ trên máy bay nhìn xuống sông Dà có dáng vẻ ra sao ? - Sông Đà như một sinh thể có cá tính. Tác giả nhận xét “Con sông Đà hung bạo và trữ tình”. Từ thác bờ về xuôi sông Đà hiền hoà, nước chảy êm đềm, nó dịu dàng như biết bao dòng sông khác. Đây là cái nhìn không chỉ quan sát bình thường mà đầy khám phá, sáng tạo nghệ thuật: “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện
68
b) Thơ mộng, trữ tình: - Trên máy bay nhìn xuống: + Dáng sông Đà: So sánh: Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình… đốt hương xuân Câu thơ bằng văn xuôi cụ thể hoá vẻ đẹp sông Đà: thơ mộng, dịu dàng, rực rỡ, diễm lệ + Mằu sắc nhìn sông Đà qua nhiều thời gian, không gian khác nhau: Mùa xuân: Xanh ngọc bích Mùa thu: lừ lừ chín đỏ → Nước sông thay đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng. + Nhà văn khẳng định chưa bao Sông Đà có màu “đen” → Trực tiếp bày tỏ tấm lòng yêu mến Sông Đà. + Ánh nắng : Sáng lóe lên như màu tháng Ba Đường thi + Con mắt nhìn theo bước chân nhà địa chất: Nhìn sông Đà như một cố nhân xa lâu thì nhớ, gặp lại rất mừng Nguyễn Tuân quan sát thật kỹ
trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đổt hương xuân”. - Nguyễn Tuân nhìn dòng sông Đà và truyền cho độc giả nhìn nó qua làn mây mùa xuân, ánh nắng mùa thu, chăm chú theo dõi những biến đổi sắc màu của nó khi thì xanh màu ngọc bích, khi thì lừ lừ chín + HS tìm và trả lời đỏ. Ông phát hiện ra sự phong phú của chất thơ ở vẻ đẹp sông Đà lúc như nỗi niềm cổ tích, lúc lóe sáng ánh sáng tháng ba Đường thi, lúc như người tình nhân chưa quen biết,… ?Trên thuyền nhìn xuống, sông Đà hiện lên trong cái nhìn của nhà văn như thế nào? + Từ cách nhìn nhiều chiều về con sông Nguyễn Tuân đã tạo ? Qua hình tượng sông được một dấu ấn khó Đà, Nguyễn Tuân đã thể quên trong lòng người hiện tình cảm gì đối với đọc về con sông, thể thiên nhiên đất nước. hiện một tình yêu thiên nhiên tha thiết với những phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về sông núi, đất nước làm đẹp thêm linh hồn bức tranh thiên nhiên của dân tộc. Con
69
sắc nước sông Đà hiện lên rõ nét và gợi cảm, biến hoá kỳ ảo.
- Đi thuyền trên sông Đà: Ven hai bờ sông cảnh lặng như tờ → Gợi nhớ về thời tiền sử + Nương ngô, cỏ ranh, đàn hươu thơ ngộ, ngơ ngác + Âm thanh: tiếng còi sương, tiếng cá đập nước . + Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích Con sông Đà đầy chất thơ, vui vẻ, ấm áp - câu văn đẹp. trong sáng, gợi cảm Bằng liên tưởng độc đáo, sáng tạo, từ ngữ, nhạc điệu du dương, nhà văn làm hiện lên vẻ thơ mộng, trữ tình của sông Đà. Kết luận: Qua hình tượng sông Đà Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến thiết tha đối với thiên nhiên đất nước. Với Ông thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa.
sông Đà dưới trang viết của Nguyễn Tuân được xem như một công trình nghệ thuật tuyệt vời, một kì công của tạo hoá mang đến cho Tây Bắc. Hoạt động 3: Luyện tập (7p) Hình thành năng lực giải quyết vấn đề – năng lực tạo lập văn bản Mục đích: Giúp học sinh HS tập viết đoạn văn nắm chắc bài học, bộc lộ ngắn về một vẻ đẹp của Sông Đà. quan điểm cá nhân. Nội dung: Giáo viên đặt vấn đề cho học sinh suy nghĩ, thảo luận nhóm và tìm câu trả lời cho câu hỏi . Phương pháp: Vấn đáp, dạy học nêu vấn đề, thực hành. Hoạt động 4: Vận dụng (3p) Hình thành năng lực tự học Hình thành năng lực tạo lập văn bản
giữa nhân vật Huấn Cao và Ông lái đò.
+ Ông lái đò: Là người lao động bình dị đời thường ít ai nhắc đến. - Giống nhau: + Họ đều là những người có tâm hồn nghệ sĩ, tài hoa. + Là những người anh hùng, dũng cảm, khí phách hiên ngang. + Là những người có thiên lương, tâm hồn giản dị trong sáng. + Cả Ông Đò và Huấn Cao đều rạng ngời phong cách của Nguyễn Tuân: tài hoa, uyên bác, đầy sáng tạo bất ngờ trong dùng từ, đặt câu và nồng ấm một tình yêu con người. => Hình ảnh ông lái đò cho ta thấy Nguyễn Tuân đã tìm được một nhân vật mới , những người đáng trân trọng, ngợi ca không thuộc tầng lớp đài cát “vang bóng một thời” mà là những con người lao động bình thường – chất vàng 10 của Tây Bắc. Qua đó nhà văn muốn nêu một quan niệm: Anh hùng không chỉ xuất hiện trong tiếng bom gầm đạn réo mà ngay cả cuộc sống hàng ngày họ là những người anh hùng trong lao động, họ cũng biết làm đẹp thêm cho nghề nghiệp của mình. Họ dáng trân trọng biết bao.
Mục đích: Liên hệ ứng dụng vào đời sống. Nhiệm vụ: GV và HS cùng nhau chia sẻ.
HS tìm hiểu cuộc sống của những người lao động hàng ngày để phát hiện ra vẻ đẹp đáng trân trọng ở họ . Hoạt động 5: Mở rộng sáng tạo (3p) - GV giao bài tập HS về HS hoàn thành bài tập ở - Khác nhau: nhà làm. nhà. +Họ xuất hiện trong 2 thời kỳ - GV tích hợp kiến thức khác nhau của đất nước (trước làmvăn (Thao tác phân 1945- sau 1945). tích, so sánh, bình luận) + Huấn Cao: Người nghệ sĩ tài hướng dẫn HS phát hiện hoa xuất chúng được nhiều người nét giống và khác nhau biết.
70
II. KẾT QUẢ THI THPT QUỐC GIA CỦA HỌC SINH Tôi đã triển khai chuyên đề này trong năm học 2018-2019 tại lớp 12A5. Qua quá trình giảng dạy và đánh giá sự tiếp thu của học sinh, tôi nhận thấy kết quả học tập của học
71
sinh có tiến bộ rõ rệt từ kì thi thử THPT Quốc gia lần 2 của Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc (Câu nghị luận văn học về tác phẩm Người lái đò Sông Đà)đến kì thi THPT Quốc gia năm 2019 (câu nghị luận văn học về tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường). Tôi nhận thấy, điểm thi của câu nghị luận văn học cùng với phần đọc hiểu và làm văn nghị luận xã hội đã góp phần không nhỏ tạo nên kết quả đáng khích lệ ấy, sau đây là kết quả cụ thể: KẾT QUẢ THI CỦA LỚP 12A5 TRƯỜNG THPT TRẦN NGUYÊN HÃN STT 1
Họ và tên KHỔNG THỊ ANH
Điểm thi thử lần 2 5,75
2
KHỔNG THỊ VIỆT CHINH
4,75
3
KHỔNG THỊ DỊU
5,75
Điểm thi THPT QG Điểm tiến bộ 7,25 1,5 6,50 1,75 6,75
1
4
NGUYỄN THỊ DỰ
6,25
6,25
0
5
TRẦN THỊ THANH HẰNG
6,00
8,00
2
6
TRẦN THỊ MAI HOA
4,75
6,00
1,25
7
VŨ THỊ HỢP
5,25
7,50
2,25
8
NGUYỄN THỊ HUẾ
4,50
6,25
1,75
9
NGUYỄN THỊ HUỆ
5,25
7,50
2,25
10
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
6,00
7,50
1,5
11
KHỔNG THỊ BÍCH HƯỜNG
5,50
6,75
1,25
12
VŨ NHẬT LỆ
6,50
7,25
0,75
13
TRẦN DIỆU LINH
7,50
7,00
-0,5
14
KHỔNG THỊ KIM LOAN
7,00
6,75
-0,25
15
NGUYỄN HỒNG LY
7,25
7,75
0,5
16
NGUYỄN THỊ CẨM LY
5,75
6,00
0,25
17
KHỔNG THỊ MƠ
6,50
7,50
1
18
KHỔNG THỊ NGÂN
6,00
7,50
1,5
19
LƯU THỊ KIM NGÂN
6,25
6,75
0,5
20
LƯU THỦY NGÂN
7,25
7,75
0,5
21
NGUYỄN THỊ THU NGÂN
5,25
7,00
1,75
22
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
6,25
7,50
1,25
23
LÊ PHONG NHÃ
6,50
7,00
0,5
24
LƯU THỊ HỒNG NHUNG
6,25
7,50
1,25
25
LƯU THỊ NHUNG
5,25
6,00
0,75
26
VŨ THỊ KIM OANH
7,25
7,50
0,25
27
LÊ THỊ THANH PHƯƠNG
7,75
7,25
-0,5
28
KHỔNG THỊ HƯƠNG QUỲNH
6,75
7,00
0,25
72
29
NGUYỄN THỊ YẾN TÁM
7,50
8,00
0,5
30
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
5,75
7,00
1,25
31
BÙI HUYỀN TRANG
8,00
8,00
0
32
KHỔNG QUỲNH TRANG
7,50
8,50
1
33
NGUYỄN QUỲNH TRANG
5,25
7,75
2,5
34
KHỔNG THU UYÊN
5,00
7,00
2
6,17
7,16
0,98
Tổng
D. ĐỊNH HƯỚNG TRIỂN KHAI CHUYÊN ĐỀ CHO NHỮNG NĂM TIẾP THEO Năm học 2019-2020 tôi tiếp tục triển khai chuyên đề này trên tinh thần kế thừa, phát huy những ưu điểm, kết quả đã đạt được từ chuyên đề và sẽ cố gắng bổ sung, hoàn thiện hơn nữa để chuyên đề có thể phát huy tốt nhất kết quả giảng dạy cũng như học tập của học sinh. Đồng thời, căn cứ đề thi minh họa THPT Quốc gia năm 2020, tôi sẽ đưa thêm những điểm mới vào chuyên đề để cập nhật những yêu cầu mới của đề thi.
73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thành Huân, Bộ đề tinh tuyển luyện thi THPT Quốc gia, NXB Thanh Hóa, 2017. 2. Nguyễn Thành Huân, Chiến lược chinh phục kì thi THPT Quốc gia năm 2018, NXB ĐHQGHN, 2018. 3. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 12, Tập một + Tập hai, Sách giáo viên, NXB Giáo dục, 2017. 4. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 12, Tập một + Tập hai, SGK, NXB Giáo dục, 2017. 5. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11, Tập một, SGK, NXB Giáo dục, 2017. 6. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11, Tập một, Sách giáo viên, NXB Giáo dục, 2017.
Đây là những hình ảnh minh họa và sơ đồ tư duy mà tôi đã cung cấp cho HS trong quá trình triển khai chuyên đề này. 1. Một số hình ảnh về sông Đà
Những hút nước xoáy tít đáy
Thạch trận đá
Dây thừng ngoằn ngoèo
Cảnh hai bờ lặng tờ
2. Một số hình ảnh về sông Hương
Cổ kính giữa lăng tẩm, đền đài
Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời
PHỤ LỤC
74
75
Sớm xanhChiều tím 3. Một số sơ đồ tư duy Trước và sau mỗi tiết học, HS sẽ hoàn thiện những sơ đồ tư duy để tự khám phá và khắc sâu kiến thức chuyên đề, sau đây là một số ví dụ:
76
77