TÀI LIỆU ÔN THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection DẠY KÈM QUY NHƠN EBOOK PHÁT TRIỂN NỘI DUNG
Đột Phá 9+ Kì Thi Vào Lớp 10 THPT Môn Ngữ Văn - MỘT SỐ ĐỀ THI TỔNG HỢP - Ngô Quang Thiện (Bản Word có lời giải) WORD VERSION | 2020 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018 - 2019 TỈNH BẮC NINH I. PHẦN ĐỌC - HIỂU. Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. (Ngữ văn 9, Tập một) Câu 1: (1,0 điểm) Đoạn thơ trên được trích từ tác phẩm nào, của tác giả nào? Nêu thể loại và thể thơ của tác phẩm đó. Câu 2: (0,5 điểm) Trong đoạn trích trên, tác giả đã sử dụng những từ láy nào? Câu 3: (1,5 điểm) Chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp điệp ngữ trong đoạn thơ trên. II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM) Câu 1: (2,0 điểm) Trong cuộc sống, ai cũng cần có tình bạn. Nếu không có tình bạn cuộc sống thật buồn chán biết bao. Hãy viết đoạn văn (khoảng 15 câu) phát biểu suy nghĩ của em về một tình bạn đẹp. Câu 2: (5,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: “Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con.” (Trích Nói với con - Y Phương, Ngữ văn 9, Tập hai) GỢI Ý GIẢI ĐỀ
I. PHẦN ĐỌC-HIỂU. Câu 1: - Đoạn thơ trên được trích từ tác phẩm “Truyện Kiều” của tác giả Nguyễn Du. - Thể loại: truyện thơ Nôm. - Thể thơ: Lục bát. Câu 2: - Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ trên là: thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm. Câu 3: - Phép điệp ngữ “buồn trông”. - Tác dụng: Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần, đặt ngay vị trí đầu câu thơ, kết hợp với những hình ảnh thiên nhiên rất đẹp nhưng buồn như: cửa bể, ngọn nước mới sa, nội cỏ rầu rầu, chân mây mặt đất, gió, sóng. Nhấn mạnh tâm trạng cô đơn, buồn tủi ê chề trong hoàn cảnh hiện tại và những dự cảm xấu về tương lai của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM) Trong cuộc sống, ai cũng cần có tình bạn. Nếu không có tình bạn cuộc sống thật buồn chán biết bao. Hãy viết đoạn văn (khoảng 15 câu) phát biểu suy nghĩ của em về một tình bạn đẹp. 1. Giới thiệu chung về vấn đề cần được nghị luận - Dẫn dắt giới thiệu về tình bạn. - Khẳng định ý nghĩa quan trọng của tình bạn trong đời sống 2. Giải thích vấn đề - Tình bạn là thứ tình cảm được gây dựng trên cơ sở những đặc điểm chung giữa người này và người khác. Đó có thể là sở thích, năng khiếu, công việc,... nhưng thường là sự tương đồng về độ tuổi, tâm lí, tính cách,... - Một tình bạn đẹp trước hết phải là một tình bạn được xây dựng trên cơ sở sự đồng cảm, vô tư, không vụ lợi, tính toán. Điều đó có nghĩa là những người bạn đến với nhau vì những yếu tố khách quan: cùng giống nhau về tính cách, sở thích, tâm lí,... nên tìm đến nhau để sẻ chia, tâm sự. 3. Bàn luận, mở rộng - Tại sao chúng ta cần có những tình bạn đẹp? + Không ai có thể tồn tại độc lập và tách biệt, không có một mối liên hệ nào với những người xung quanh. Vì vậy để cân bằng cuộc sống của mình, con người cần có những mối quan hệ vững chắc ngoài gia đình để sẻ chia, để quan tâm. Tình bạn đẹp chính là một trong những mối quan hệ đó. + Cuộc sống có vô vàn những khó khăn, thử thách mà con người không thể lường trước. Chính vì vậy ta cần có những người bạn tốt để những lúc như vậy sẽ giúp đỡ lẫn nhau mà không lo sự sự toan tính,... + Tình bạn đẹp cũng sẽ giúp cho nhiều mối quan hệ xã hội trở nên tốt đẹp, chân thành và có ý nghĩa hơn. - Có thể nêu những mối quan hệ bạn bè tốt đẹp: Lưu Bình - Dương Lễ, Nguyễn Khuyến - Dương Khuê... - Phê phán những mối quan hệ bè phái, cầu lợi ích cá nhân, giả dối. - Liên hệ bản thân: Em đã có tình bạn đẹp chưa? Tình bạn ấy giúp cho cuộc sống của em như thế nào? Câu 2 1. Giới thiệu chung - Y Phương là một trong những nhà thơ dân tộc Tày nổi tiếng của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. - “Nói với con” là một trong những thi phẩm đặc sắc làm nên tên tuổi của ông, được viết vào năm 1980. - Đoạn thơ là lời khuyên của cha với con, nên sống theo những truyền thống tốt đẹp của người đồng mình. 2. Phân tích - Những phẩm chất cao quý của người đồng mình: Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí lớn + Dòng thơ đầu được lặp lại: “người đồng mình” là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân thương như trong một gia đình. “Thương lắm” - bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc sống nhiều vất vả, gian khó của họ. + Từ ngữ giàu sức gợi: “cao” “xa” vừa gợi hình ảnh miền núi cao vừa gợi điều kiện sống khó khăn, vất vả. “Nỗi buồn”, “chí lớn” thể hiện bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường của người đồng mình. Lời thơ thể hiện niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của người miền núi. - Tác giả khái quát lên vẻ đẹp truyền thống của người miền cao: Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục + Hình ảnh “người đồng mình”: vóc dáng, hình hài nhỏ bé, “thô sơ da thịt”, họ chỉ có đôi bàn tay lao động cần cù nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, yếu hèn. Họ dám đương đầu với gian lao, vất vả, họ lớn lao về ý chí, cao cả về tâm hồn. + Công lao vĩ đại của người đồng mình: “đục đá kê cao quê hương” - xây dựng quê hương, tạo nên ruộng đồng, dựng lên nhà cửa, bản làng, làm nên giá trị vật chất, tinh thần cho quê hương. “Làm phong tục” - tạo nên bao nền nếp, phong tục đẹp, làm nên bản sắc riêng của cộng đồng. Lời thơ tràn đầy niềm tự hào về vẻ đẹp của người đồng mình. Nhắn nhủ con phải biết kể thừa, phát huy những truyền thống đó. - Từ đó, người cha khuyên con biết sống theo những truyền thống của người đồng mình: + Điệp từ “sống” khởi đầu 3 dòng thơ liên tiếp, tô đậm mong ước thiết tha, mãnh liệt của cha dành cho con. + Ẩn dụ “đá”, “thung” chỉ không gian sống của người miền cao, gợi lên những nhọc nhằn, gian khó, đói nghèo. Người cha mong con “không chê” tức là biết yêu thương, trân trọng quê hương mình. + So sánh “như sông”, “như suối”: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt lên mọi gập ghềnh của cuộc đời. + Đối “lên thác xuống ghềnh”: cuộc sống không dễ dàng, bằng phẳng, cần dũng cảm đối mặt, không ngại ngần. Cha khuyên con tiếp nối tình cảm ân nghĩa, thủy chung với mảnh đất nơi mình sinh ra của người đồng mình và cả lòng can đảm, ý chí kiên cường của họ. - Để rồi, bài thơ khép lại bằng lời dặn dò vừa ân cần, vừa nghiêm khắc của người cha: + “Thô sơ da thịt” được nhắc lại để nhấn mạnh những khó khăn, thử thách mà con có thể gặp trên đường đời, bởi con còn non nớt, con chưa đủ hành trang mà đời thl gập ghềnh, gian khó. + Dẫu vậy, không bao giờ nhỏ bé được mà phải biết đương đầu với khó khăn, vượt qua thách thức, không được sống yếu hèn, hẹp hòi, ích kỉ. Phải sống sao cho xứng đáng với cha mẹ, với người đồng mình. Lời nhắn nhủ chứa đựng sự yêu thương, niềm tin tưởng mà người cha dành cho con. 3. Tổng kết - Nội dung: + Thể hiện tình cảm sâu nặng mà người cha dành cho con. Từng lời dặn dò, khuyên nhủ đến con biết sống sao cho xứng đáng với gia đình, quê hương. + Bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở và niềm tự hào về người đồng mình của tác giả. - Nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi, in đậm lối tư duy trong sáng, hồn nhiên, sinh động của người miền núi. Giọng điệu khi ân cần, tha thiết khi mạnh mẽ, nghiêm khắc.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018 - 2019 TỈNH CẦN THƠ I. ĐỌC HIỂU (3,0 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4: Mỗi người đều có một ước mơ cho riêng mình. Có những ước mơ nhỏ nhoi như của cô bé bán diêm trong truyện cổ An-đéc-xen: một mái nhà trong đêm đông giá buốt. Cũng có những ước mơ lớn lao làm thay đổi cả thế giới như của tỷ phú Bill Gates. Mơ ước khiến chúng ta trở thành hiện thực khi đi kèm với hành động và nỗ lực thực hiện ước mơ... Tất cả chúng ta đều phải hành động nhằm biến ước mơ của mình thành hiện thực. [...] Ngày bạn thôi mơ mộng là ngày cuộc đời bạn mất hết ý nghĩa. Những người biết ước mơ là những người đang sống cuộc sống của các thiên thần. Ngay cả khi giấc mơ của bạn không bao giờ trọn vẹn, bạn cũng sẽ không phải hối tiếc vì nó. Như Đôn Ki-hô-tê đã nói: “Việc mơ những giấc mơ diệu kì là điều tốt nhất một người có thể làm”. Tôi vẫn tin vào những câu chuyện cổ tích - nơi mà lòng kiên nhẫn, ý chí bền bỉ sẽ được đền đáp. Hãy tự tin tiến bước trên con đường mơ ước của bạn. (Quà tặng cuộc sống - Thu Quỳnh và Hạnh Nguyên dịch, NXB Tổng hợp Thành phố HÒ Chí Minh, 2016, tr.56-57) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2: Tìm và gọi tên thành phần biệt lập được sử dụng trong câu sau: Tôi vẫn tin vào những câu chuyện cổ tích - nơi mà lòng kiên nhẫn, ý chí bền bỉ sẽ được đền đáp. Câu 3: Việc tác giả dẫn ra ước mơ của cô bé bán diêm trong truyện cổ tích An-đéc-xen và ước mơ của tỷ phú Bill Gates trong đoạn trích có tác dụng gì? Câu 4: Em có đồng tình với ý kiến sau không? Vì sao? Ước mơ chỉ trở thành hiện thực khi đi kèm với hành động và nỗ lực thực hiện ước mơ. II. LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM) Câu 1 : (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của ước mơ trong cuộc đời của mỗi người. Câu 2: (5,0 điểm) Nhận xét về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương, có ý kiến cho rằng: Bài thơ “Viếng lăng Bác” thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác. (Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.60) Em hãy phân tích đoạn trích sau để làm sáng tỏ ý kiến trên. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân... Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! (Viếng lăng Bác - Viễn Phương, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.58) GỢI Ý GIẢI ĐỀ
I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận. Câu 2: Thành phần biệt lập: nơi mà lòng kiên nhẫn, ý chí bền bỉ sẽ được đền đáp (thành phần phụ chú). Câu 3: Việc tác giả dẫn ra ước mơ của cô bé bán diêm trong truyện cổ tích An-đéc-xen và ước mơ của tỷ phú Bill Gates có tác dụng: nhấn mạnh mỗi người sẽ có những giấc mơ riêng, có thể là nhỏ bé, có thể là lớn lao. Câu 4: Đồng tình với ý kiến trên bởi: + Hành động và nỗ lực cố gắng là con đường đi đến ước mơ nhanh nhất. + Nếu không hành động và nỗ lực cố gắng thì ước mơ sẽ mãi chỉ là ước mơ. II. LÀM VĂN Câu 1: 1. Giải thích: - Ước mơ: là điều tốt đẹp ở phía trước mà con người tha thiết, khao khát, ước mong hướng tới, đạt được. 2. Bàn luận: * Vai trò và ý nghĩa của ước mơ trong cuộc sống của con người - Ước mơ có thể vĩ đại hay nhỏ bé nhưng phàm đã là con người thì ai cũng có ước mơ. Chính ước mơ làm cho cuộc sống của mỗi người thêm tươi đẹp, ý nghĩa, chỉ khi con người nỗ lực vươn lên biến ước mơ thành hiện thực khi đó con người đã làm cho cuộc đời mình và cuộc đời chung thêm ý nghĩa, tươi đẹp. - Ước mơ là động lực giúp con người phát triển và hoàn thiện mình hơn, giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách của bản thân. - Ước mơ là phần lãng mạn giúp con người làm việc hiệu quả, yêu cuộc sống hơn, giúp tâm hồn con người trở nên đẹp hơn. - Ước mơ chính là ngọn đuốc soi sáng trong tim mỗi chúng ta nó hướng chúng ta tới những điều tốt đẹp. - Ước mơ cũng chính là mong muốn được cống hiến sức lực của mình cho xã hội và khi chúng ta đạt được ước mơ cũng là lúc chúng ta được thừa nhận năng lực của mình. - Con đường dẫn tới ước mơ cũng vô cùng khó khăn, không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, nhưng với những người kiên trì, bền chí, thì ước mơ sẽ giúp cho bạn định hướng cho tương lai của mình một cách tốt đẹp nhất. *Cuộc sống mà không có ước mơ thì sẽ như thế nào? - Ước mơ là điều mà ai cũng nên có và cần có trong cuộc sống bởi nếu không có ước mơ cuộc sống của bạn sẽ mất phương hướng vô định. - Cần phân biệt ước mơ chính đáng với những thứ ảo vọng, hão huyền - Không có ước mơ bạn sẽ không xác định được mục tiêu sống của mình là gì. Chính vì không xác định được phương hướng sẽ dẫn tới bạn sẽ sống hoài sống phí, và trở thành người tụt hậu bị bạn bè, xã hội bỏ lại phía sau. 3. Liên hệ bản thân - Bản thân em đã có những ước mơ của riêng mình không? Và em đã làm gì để từng bước thực hiện ước mơ đó? - Mỗi người chúng ta hãy nuôi dưỡng cho mình một ước mơ, hi vọng. Nếu ai đó sống không có ước mơ, khát vọng thì cuộc đời tẻ nhạt, vô nghĩa biết nhường nào. - Rút ra bài học: Phải không ngừng học tập, rèn ý chí, trau dồi kĩ năng sống để biết ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực. Câu 2: 1. Giới thiệu chung - Viễn Phương là một nhà thơ tiêu biểu của miền Nam. Tháng 4/1976, sau một năm giải phóng đất nước, khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khánh thành, nhà thơ cùng đoàn đại biểu miền Nam ra thăm Hà Nội vào lăng viếng Bác.
- Bài thơ Viếng lăng Bác thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác. 2. Phân tích làm sáng tỏ ý kiến 2.1. Giải thích nhận định: Bài thơ Viếng lăng Bác thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác. Nhận xét đã khẳng định cảm xúc, niềm xúc động chân thành của tác giả khi vào lăng viếng Bác. * Phân tích khổ thơ thứ hai - Hai câu thơ đầu: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” + Hai câu thơ được tạo nên với những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi. Câu trên là một hình ảnh thực, câu dưới là hình ảnh ẩn dụ. + Ví Bác như mặt trời là để nói lên sự trường tồn vĩnh cửu của Bác, giống như sự tồn tại vĩnh viễn của mặt trời tự nhiên. + Ví Bác như mặt trời là để nói lên sự vĩ đại của Bác, người đã đem lại cuộc sống tự do cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi đêm dài nô lệ. + Nhận thấy Bác là “một mặt trời trong lăng rất đỏ”, đây chính là sáng tạo riêng của Viễn Phương, nó thể hiện được sự tôn kính của tác giả, của nhân dân đối với Bác. - Ở hai câu thơ tiếp theo: “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” + Đó là sự hình dung về dòng người đang nối tiếp dài vô tận hàng ngày đến viếng lăng Bác bằng tất cả tấm lòng thành kính và thương nhớ, hình ảnh đó như những tràng hoa kết lại dâng người. Hai từ ngày ngày được lặp lại trong câu thơ như tạo nên một cảm xúc về cõi trường sinh vĩnh cửu. + Hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác được tác giả ví như tràng hoa, dâng lên Bác. Cách so sánh này vừa thích hợp và mới lạ, diễn ra được sự thương nhớ, tôn kính của nhân dân đối với Bác. + Tràng hoa là hình ảnh ẩn dụ những người con từ khắp miền đất nước về đây viếng Bác giống như những bông hoa trong vườn Bác được Bác ươm trồng, chăm sóc nay nở rộ ngát hương về đây tụ hội kính dâng lên Bác. * Phân tích khổ thơ thứ ba - Khung cảnh và không khí thanh tĩnh như ngưng kết cả thời gian và không gian trong lăng: “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền” + Cả cuộc đời Bác ăn không ngon, ngủ không yên khi đồng bào miền Nam còn đang bị quân thù giày xéo. Nay miền Nam đã được giải phóng, đất nước thống nhất mà Bác đã đi xa. Nhà thơ muốn quên đi sự thực đau lòng đó và mong sao nó chỉ là một giấc ngủ thật bình yên. + Từ cảm xúc thành kính ngưỡng mộ, ở khổ thơ thứ ba là những cảm xúc thương xót và ước nguyện của nhà thơ. Hình ảnh Bác như vầng trăng sáng dịu hiền trong giấc ngủ bình yên là một hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp thanh thản, phong thái ung dung và thanh cao của Bác. Người vẫn đang sống cùng với nhân dân đất nước Việt Nam thanh bình tươi đẹp. Mạch cảm xúc của nhà thơ như trầm lắng xuống để nhường chỗ cho nỗi xót xa qua hai câu thơ: vẫn biết... ở trong tim... + Hình ảnh trời xanh là hình ảnh ẩn dụ nói lên sự trường tồn bất diệt của Bác. Trời xanh thì còn mãi mãi trên đầu, cũng giống như Bác vẫn còn sống mãi mãi với non sông đất nước. + Thế nhưng, nhìn di hài của Bác trong lăng, cảm thấy Bác đang trong giấc ngủ ngon lành, bình yên mà vẫn thấy đau đớn xót xa mà sao nghe nhói ở trong tim! Dù rằng Người đã hoá thân vào thiên nhiên, đất nước, nhưng sự ra đi của Bác vẫn không sao xoá đi được nỗi đau xót vô hạn của cả dân tộc, ý thơ này diễn tả rất
điển hình cho tâm trạng và cảm xúc của bất kì ai đã từng đến viếng lăng Bác. 3. Tổng kết - Với lời thơ cô đọng, giọng thơ trang nghiêm thành kính, tha thiết và rất giàu cảm xúc, bài thơ đã để lại ấn tượng rất sâu đậm trong lòng người đọc. Bởi lẽ, bài thơ không những chỉ bộc lộ tình cảm sâu sắc, lòng thành kính và niềm xúc động của hàng triệu con người Việt Nam đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
ĐỀ THI TUYỂN SINH NĂM 2018 – 2019 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Câu 1: (2,0 điểm) Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre... “Tre già măng mọc”. Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép và xi măng cốt sắt. Nhưng, nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam,... (Trích Cây tre Việt Nam, Thép Mới, Ngữ văn 6, Tập hai) a) Đọc đoạn trích trên, hãy xác định: - Từ láy. (0,5 điểm) - Thành ngữ. (0,5 điểm) - Khởi ngữ. (0,5 điểm) b) Từ măng trong lứa măng non được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? (0,5 điểm) Câu 2: (3,0 điểm) “Con chim sẻ nhỏ chết rồi Chết trong đêm cơn bão về gần sáng. Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe cánh chim đập cửa Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi.” (Trích Tiếng vọng, Nguyễn Quang Thiều, Tiếng Việt 5, Tập một) Trong đoạn thơ trên, tác giả nói về sự việc gì? Em hãy viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự việc đó. Câu 3: (5,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn trích sau: - Trời ơi, chỉ còn có năm phút! Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già. - Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này! Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi. - Chào anh. - Đến bậu cửa, bỗng nhà họa sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh niên lắc mạnh. - Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh ít hôm được chứ? Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh - những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy. - Chào anh. Lần đầu, chính là anh thanh niên quay mặt đi. Anh ấn cái làn vào tay bác già và nói vội vã: - Cái này để ăn trưa cho bác, cho cô và bác lái xe. Cháu có bao nhiêu là trứng, ăn không xuể. Cháu không tiễn bác và cô ra xe được, vì gần tới giờ “ốp” rồi. Thôi chào bác, chào cô. Bác sẽ trở lại nhé. Hai ông con theo bậc cấp bước xuống đồi, đến mặt đường nhìn lên, không thấy người con trai đứng đấy nữa. Anh ta đã vào nhà trong, ông xách cái làn trứng, cô ôm bó hoa to. Lúc bấy giờ, nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn. Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo. Hai người lững thững đi về phía chiếc xe đỗ, im lặng rất lâu. Bỗng bác già nhìn chiếc đồng hồ nói một mình: - Thanh niên bây giờ lạ thật! Các anh chị cứ như con bướm. Mà đã mười một giờ, đến giờ “ốp” đâu?
Tại sao anh ta không tiễn mình đến tận xe nhỉ? Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng. (Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một) GỢI Ý GIẢI ĐỀ Câu 1: (2,0 điểm) a) - Từ láy: lồng lộng, mênh mông - Thành ngữ: Tre già măng mọc - Khởi ngữ: Các em a) Từ “măng” trong “lứa măng non” được sử dụng theo nghĩa chuyển. Nó không dùng để chỉ măng tre mà để chỉ những em nhỏ. Câu 2: Trình bày thông điệp văn bản - Từ bài thơ Tiếng vọng, nhà thơ muốn gửi tới bạn đọc một thông điệp về lòng nhân ái. Thói ích kỷ, tính cá nhân và ham muốn hưởng thụ của con người có thể đánh mất đi lòng nhân ái của chính chúng ta. - Một con chim đập cửa, tiếng kêu cứu của một số phận trong lúc hoạn nạn, lẽ ra anh phải dời bỏ hạnh phúc của anh, dời bỏ những điều kiện thuận lợi để cứu vớt một sinh linh bé bỏng nhưng lại bị “sự ấm áp gối chăn” kìm giữ. - Con chim là một biểu tượng để chỉ về những người xung quanh ta. Chính vì người ta ngại rét, ngại gió, ngại mưa, ngại khó khăn... sự ích kỷ đã phủ ngập trong lòng khiến ta không quan tâm đến những bất hạnh của sinh linh bé nhỏ kia hay của chính những con người ở ngay bên cạnh mình. - Với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, đoạn thơ Tiếng vọng còn như một lời sám hối, một nỗi ân hận của chính tác giả. Tiếng vọng ở đây là tiếng vọng của lòng nhân ái, nhắc nhở chúng ta vượt qua những ích kỉ cá nhân để yêu thương mọi người. Nêu dẫn chứng chứng minh - Cuộc đời mỗi con người không khỏi có những phút giây ích kỉ, chỉ nghĩ đến hạnh phúc của bản thân mình. - Nhưng quan trọng hơn hết, chúng ta còn phải biết sống với trái tim yêu thương luôn đập trong lồng ngực vì: + Người với người sống để yêu nhau. + Luôn luôn có những người bất hạnh, cần được giúp đỡ. + Khi biết yêu thương người khác, chúng ta sẽ thấy trái tim mình rộng lớn thêm ra, biết cảm nhận được hạnh phúc. - Tình yêu thương, lòng nhân ái được thể hiện từ những việc làm nhỏ nhất như nắm lấy bàn tay một cụ già dẫn qua đường, một cái ôm ấm áp khi người khác đau buồn đến những hành động lớn hơn như hiến tặng, trao gửi một niềm tin yêu nào đó. - Khi sống trong yêu thương, mỗi người sẽ tự cảm thấy ấm áp từ trong tim. Liên hệ bản thân: - Em có khi nào ích kỉ mà không quan tâm đến người khác không? - Được sống trong yêu thương, em đã và đang làm gì để đáp lại tình yêu thương ấy. Câu 3: 1. Giới thiệu chung: - Tác giả: + Sáng tác từ thời kì kháng chiến chống Pháp và nhanh chóng trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. + Thành công ở truyện ngắn và kí. + Tác phẩm của Nguyễn Thành Long tập trung phản ánh vẻ đẹp của con người Việt Nam mới trong lao động và trong chiến đấu.
+ Lối viết vừa chân thực, giản dị, vừa giàu chất trữ tình. - Tác phẩm: Được viết vào mùa hè năm 1970 - Là kết quả chuyến công tác lên Lào Cai của tác giả. - Đoạn trích nằm ở phần cuối của truyện ngắn, khi cuộc gặp gỡ giữa anh thanh niên, ông họa sĩ và cô kĩ sư đã đến hồi kết. - Đoạn trích ngắn nhưng làm nổi bật vẻ đẹp của các nhân vật. Qua đoạn trích, chúng ta hiểu thêm những nét đẹp của những nhân vật này. 2. Nêu cảm nhận về đoạn trích Trong đoạn trích này, các em cần làm rõ vẻ đẹp của các nhân vật: anh thanh niên, ông họa sĩ và cô kỹ sư: * Anh thanh niên - Không chỉ là người có tinh thần trách nhiệm với công việc, có phong cách sống đẹp, anh còn rất biết quan tâm đến mọi người: + Anh ngỡ ngàng sao thời gian trôi qua nhanh quá “Anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ Ba mươi phút được gặp để nói chuyện với người khác với anh là rất ngắn ngủi, trong tiếng kêu trời ơi ấy của anh có thái độ tiếc nuối, bịn rịn”. + Biếu ông họa sĩ giỏ trứng để làm bữa trưa. + Gửi cô kĩ sư cái khăn tay kèm theo cuốn sách cô ấy đã đọc. + Anh luôn đề cao, có tinh thần trách nhiệm với công việc của mình. Anh thanh niên khơi dậy trong ông họa sĩ và cô kĩ sư những tình cảm tốt đẹp. - Ông họa sĩ: + Không chỉ là một người nghệ sĩ chân chính, say mê tìm kiếm cái đẹp, trong hành trình lên Sa Pa lần này, bằng đôi mắt tinh tường của mình, ông đã có cái nhìn mới mẻ, lạc quan về thế hệ trẻ: + Khi nhận xét về anh thanh niên, cô kĩ sư ông nhận xét “anh chị cứ như con bướm”. Trong câu nói đó, “con bướm” là một hình ảnh ẩn dụ đẹp về nét hồn nhiên, muôn màu sắc về cả thế hệ thanh niên mà ông hi vọng. Nhân vật ông họa sĩ là nhân vật phụ, miêu tả không nhiều nhưng hiện lên với nét đáng yêu, đáng quý. Thông qua nhân vật này, tác giả gửi gắm những suy nghĩ về cuộc sống và con người. - Nhân vật cô kĩ sư + Đây là cô gái xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm: một người con gái Hà Nội đã bỏ lại sau lưng mối tình nhạt nhẽo để lên Lào Cai công tác. + Trong cuộc gặp gỡ bất ngờ với anh thanh niên, được nghe những điều anh nói, cô bàng hoàng hiểu về cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp của anh thanh niên và về cả thế giới những con người như anh. + Giây phút bàng hoàng của cô là sự xúc động khi bắt gặp một tình yêu đích thực, một tình yêu lớn, làm bừng dậy trong cô những tình cảm lớn lao, cao đẹp. Từ đó cô nhận ra, bấy lâu nay mình đã sống cuộc đời nhạt nhẽo, tầm thường, giúp cô yên tâm tin tưởng vào con đường mình đã chọn. Cùng với đó là một sự hàm ơn khó tả đối với anh thanh niên. Đó không chỉ vì bó hoa rất to mà anh đã tặng cô, mà còn là một bó hoa khác - bó hoa của những khát khao, háo hức, mộng mơ, của những khát vọng cống hiến cao đẹp đã truyền sang cô. Cuộc gặp gỡ và trò chuyện ngắn ngủi đã khơi gợi cho cô suy nghĩ về cuộc sống mới. 3. Tổng kết, đánh giá - Chỉ vài phút ngắn ngủi nhưng kết thúc cuộc gặp gỡ đã để lại dư âm cho chính những nhân vật và cho người đọc. - Lặng lẽ Sa Pa khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động thầm lặng, những con người vô danh nhưng ta học được từ họ khá nhiều về phẩm chất, cách sống và ứng xử với mọi người. Vì vậy, chúng ta phải luôn cố gắng học tập, rèn luyện để sống có ích cho mình và những người xung quanh.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018-2019 HÀ TĨNH Câu 1: (2,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và tra lời các câu hỏi “Bà con của một người bà con dẫn cô lên giúp việc nhà họ vào một bữa trời mưa. Cô vắt đối tà áo ướt đẫm nước, tròn con mắt phân trần, “xứ gì ngộ quá, đầu có cũng nhà mà không có chỗ dụt mưa. Ở đâu cũng tường rào kín mít, kiểm đỏ. Con mắt mới gặp được mái hiên, tui mới đáng chút xíu đã bị kêu tránh ra cho người ta buôn bán. Phải ở dưới quê bà con còn đem ghế cho ngồi...” Ngay cái ngày đầu tiên đó cô đã mang một chuẩn mực mới đến với gia đình họ, tạm gọi là “phải ở dưới quê...”. Ngó mấy con cá rô nằm cạnh rổ cải bắp, cô thẫn thờ, trời ơi, phải ở dưới quê, mình nấu cá rô với bông so đũa, ngọt nước dữ lắm. Bông so đũa mùa này trổ trắng trên mấy bờ kinh, mật ơi là mật. Hàng xóm cãi nhau, cô ngó qua rào, “phải ở dưới quê thể nào cũng có người chạy tới can, người ngoài nói tiếng ngọt tiếng lạt, cũng đỡ căng lắm..”. Sau mỗi bữa ăn, cô tần ngần, “phải ở dưới quê, đồ ăn dư như vầy là nuôi được mấy con heo...” (...) Mỗi người có một chuẩn mực của riêng mình để vịn vào, đối chiếu, so sánh. Chủ nhà từng nghĩ cuộc sống hiện đại, sung túc là thiên đường. Nhưng bây giờ thì họ hoang mang, thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ trước cô giúp việc ...” (Biển của mỗi người, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Kim Đồng, 2016, tr. 5,6,7) a) Những phương thức biểu đạt nào được sử dụng trong đoạn trích trên? b) Tại sao chủ nhà lại “hoang mang” và cảm thấy “thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ” trước cô giúp việc. Câu 2: (3,0 điểm) Thời gian - Quà tặng kỳ diệu của cuộc sống! Hãy viết bài văn ngắn (khoảng 300 - 400 chữ) bàn về ý nghĩa của thời gian đối với lứa tuổi học trò hiện nay. Câu 3: (5,0 điểm) Cảm nhận về hình ảnh người lính trong đoạn thơ sau: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặt tới Đầu súng trăng treo. (Đồng chí, Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập một, NXBGDVN, 2014, tr. 129) GỢI Ý GIẢI ĐỀ Câu 1: a) Phương thức biểu đạt: Miêu tả, tự sự b) Chủ nhà hoang mang bởi vì trước đó đã nghĩ rằng cuộc sống hiện tại sung túc đầy đủ là thiên đường nhưng mà sau khi có sự xuất hiện của cô giúp việc trong gia đình, họ bắt đầu nghĩ tới những giá trị thực sự của cuộc sống không phải ở tiện nghi và sung túc mà ở những thứ khác mà chính họ và những con người hiện đại như họ đã đánh mất. Câu 2: 1. Giải thích
- Thời gian: không định nghĩa được rõ ràng, nhưng vẫn biết có cái gì đó đang chảy trôi làm thay đổi mọi vật (nước có thể làm mòn đá phải trải qua ngày này đến ngày khác thì mới mòn được). Cái sự trải qua đó, ta tạm gọi là thời gian. - Thời gian: sẽ không bao giờ giống nhau vì nó không quay trở lại. Ngày hôm qua sẽ không giống ngày hôm nay là vậy. - Thời gian vô cùng quan trọng, vì cái duy nhất không lặp lại. Vì vậy nó là điều độc đáo - là quà tặng kì diệu của tạo hoá. 2. Chứng minh và bình luận - Ai cũng có một quỹ thời gian không bao giờ nhiều hơn tuổi thọ của mình. Thời gian làm cho ta khôn lớn lên, nhưng cũng làm cho ta già và chết đi. - Thời gian sẽ không trở lại, nên ai biết gìn giữ, đón nhận và trân trọng nó, thì ta làm được nhiều điều có ý nghĩa trong đời. - Ai lãng phí thời gian sẽ từng bước rơi vào sự lạc lõng và chán nản, cuộc đời trở nên thừa thãi, vô nghĩa... - Thời gian là chứng nhân cho những giá đích thực. 3. Liên hệ bản thân - Em sử dụng quỹ thời gian của mình như thế nào? - Có điều gì làm em hối tiếc vì đã lãng phí hay không? - Bài học và lời nhắn nhủ tới mọi người. Câu 3: 1. Giới thiệu chung - Giới thiệu về tác giả Chính Hữu. - Hoàn cảnh sáng tác: Đầu năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc. - Đoạn thơ này là phần cuối của tác phẩm. - Đoạn thơ như một bức tượng đài đầy chân thực về người lính trong thời kháng chiến chống Pháp và tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của họ. 2. Cảm nhận - Những người lính này đều xuất thân là những người lính nông dân. Họ ra đi và chiến đấu với một quyết tâm mạnh mẽ và một ý chí phi thường họ gửi lại quê hương tất cả: “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. - Chấp nhận cuộc sống quân ngũ đầy gian khổ, thiếu thốn: + Đối mặt với bệnh sốt rét rừng trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men và điều kiện chăm sóc “sốt run người”. + Đối mặt với thiếu thốn về vật chất và sự khắc nghiệt của thời tiết: “áo rách vai”, “quần có vài mảnh vá”, “chân không giày”; gian khổ: “cười buốt giá”... - Tình đồng chí đồng đội thắm thiết của những người lính: + Được nảy sinh từ nhiều điểm chung: (Cảnh ngộ, lí tưởng, nhiệm vụ...) để rồi thành mối tình tri kỉ: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Tình cảm ấy phát triển thành tình đồng chí. + Tình đồng chí giúp người lính vượt lên mọi khó khản gian khổ: Giúp họ chia sẻ, cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng của nhau: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày”... “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. Giúp họ vượt qua những gian lao thiếu thốn của cuộc kháng chiến: “Áo anh rách vai”... chân không giày. Cùng chịu đựng những cơn “Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”. + Tình cảm gắn bỏ thầm lặng mà cảm động của người lính: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. + Sức mạnh của tình đồng chí đã giúp người lính chủ động trong tư thế chờ giặc tới: “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. - Vẻ đẹp tâm hồn của những người chiến sĩ: + Lãng mạn và lạc quan: “miệng cười buốt giá”; + Hình ảnh “đầu súng trăng treo” thể hiện tâm hồn phong phú, lãng mạn, luôn hướng tới cái đẹp và tự do
của những người lính. 3. Tổng kết - Vẻ đẹp của người lính trong bài thơ tiêu biểu cho vẻ đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp. - Hình tượng người lính được thể hiện qua các chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực cô đọng mà giàu sức biểu cảm, hướng về khai thác đời sống nội tâm.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018-2019 TỈNH HẢI DƯƠNG Câu 1: (2,0 điểm) Cho đoạn thơ sau: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. (Theo SGK Ngữ văn 9 tập I, NXB Giáo dục Việt Nam) 1. Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Do ai sáng tác? 2. Trình bày hoàn cảnh ra đời của văn bản ấy. 3. Nêu ngắn gọn vẻ đẹp của người lính trong đoạn thơ trên. Câu 2: (3,0 điểm) Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long có nhiều đóng góp cho cuộc đời nhưng lại rất khiêm nhường. Từ vẻ đẹp này của nhân vật, hãy viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ của em về đức tính khiêm nhường. Câu 3: (5,0 điểm) Cảm nhận tình yêu làng chân thực và cảm động của ông Hai qua diễn biến tâm trạng nhân vật trong văn bản “Làng” của Kim Lân (SGK Ngữ văn 9, tập I, NXB Giáo dục Việt Nam) GỢI Ý GIẢI ĐỀ Câu 1 1. Khổ thơ trên trích trong văn bản Đồng chí. (0,25 điểm); do Chính Hữu sáng tác (0,25 điểm) 2. Bài thơ ra đời vào năm 1948 (0,25 điểm); sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc (Thu đông) trong cuộc kháng chiến chống Pháp (0,25 điểm) 3. Vẻ đẹp của người lính: - Tinh thần đoàn kết, khăng khít, vững chãi (đứng cạnh bên nhau) (0,25 điểm) - Tư thế chủ động sẵn sàng chiến đấu, ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc (chờ giặc tới, đầu súng). (0,25 điểm) - Tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn, cảm nhận được sự thi vị của thiên nhiên (trăng treo). (0,25 điểm) - Chất chiến sĩ hòa quyện với chất thi sĩ. (0,25 điểm) Câu 2 1. Về kĩ năng - Học sinh nắm vững kĩ năng và tạo lập được một bài văn nghị luận xã hội. - Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận; lý lẽ chặt chẽ logic; dẫn chứng tiêu biểu chọn lọc. - Bố cục mạch lạc, ngôn ngữ trong sáng, không mắc lỗi chính tả và lỗi diễn đạt thông thường. 2. Về kiến thức - Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, đưa ra lý lẽ riêng nhưng phải Ý
NỘI DUNG CƠ BẢN
ĐIỂM
1
Dẫn dắt từ nhân vật anh thanh niên, giới thiệu về vấn đề nghị luận
0,25
2
Giải thích 0,5 - Khiêm nhường là thái độ, cách ứng xử khiêm tốn, nhún nhường. - Người có tính khiêm nhường không tự đề cao mình, không khoe khoang bản thân mình; luôn biết mình, biết người; có thái độ hòa nhã, luôn lắng nghe ý kiến của người khác trong giao tiếp... - Khiêm nhường là một trong những đức tính tốt đẹp mà mỗi người cần hướng tới trong quá trình tự hoàn thiện bản thân mình.
3
Bàn luận
1,25
- Khiêm nhường giúp mỗi người tự nhận ra mặt hạn chế của bản thân - Khiêm nhường là động lực để thành công, vì người khiêm nhường luôn biết học hỏi, có tinh thần cầu tiến, tự nỗ lực để tiến bộ - Khiêm nhường là cơ sở nền tảng của nhiều phẩm chất, tình cảm, hành động cao đẹp khác: tự trọng, trung thực, biết tôn trọng người khác, biết yêu thương nhường nhịn mọi người xung quanh... - Khiêm nhường giúp cho việc giao tiếp ứng xử giữa người với người trở nên tốt đẹp, góp phần xây dựng tập thể đoàn kết, xã hội văn minh, tiến bộ... - Người khiêm nhường được mọi người yêu quí (Lấy dẫn chứng từ nhân vật anh thanh niên và trong thực tế đời sống để lý lẽ thêm thuyết phục)
0,25 0,25 0,25
0,25 0,25
Câu 3: 1. Về kĩ năng: - Học sinh nắm vững kĩ năng và tạo lập được một bài văn nghị luận văn học; biết xác định đúng vấn đề nghị luận. - Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận; biết chọn lọc và phân tích sâu sắc từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật. - Bố cục mạch lạc, ngôn ngữ trong sáng, giàu cảm xúc, không mắc lỗi chính tả và lỗi diễn đạt thông thường. 2. Về kiến thức: - Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được một trong những nội dung cơ bản sau: Ý 1
NỘI DUNG CƠ BẢN Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận
ĐIỂM 0,5
Tình yêu làng chân thực và cảm động của ông Hai được thể hiện qua diễn biến tâm trạng tình tế, giằng xé, mâu thuẫn trong nội tâm nhân vật. Tình yêu làng gắn bó thống nhất với tình yêu đất nước. 2
* Tâm trạng của nhân vật ông Hai ở nơi tản cư trước khi nghe tin làng Chợ Dầu 0,5 theo giặc: - Tự hào về làng, hay khoe về làng Chợ Dầu... - Phải xa làng Chợ Dầu, ông Hai nhớ làng da diết... - Tình yêu làng là tình cảm thường trực, gắn bó của người nông dân, coi làng như ngôi nhà chung của cả một cộng đồng * Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong hoàn cảnh gay cấn, đầy thử thách: nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, phản bội lại cách mạng, kháng chiến. - Ông lão bàng hoàng, sững sờ: cổ nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, lặng đi, không thở được... - Chạnh lòng xấu hổ: vờ vờ đứng lảng; cúi gằm mặt xuống mà đi... - Chán chường, mệt mỏi: nằm vật ra... - Tủi thân, thương con, thương dân làng Chợ Dầu và thương thân mình phải mang tiếng là dân làng Việt gian: các câu hỏi tu từ. - Phẫn nộ, hoài nghi: nắm chặt tay mà rít lên... ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm... - Ông Hai bị ám ảnh, mặc cảm nặng nề, day dứt mình là người làng Việt gian: luôn nơm nớp sự hãi nghe ngóng, không dám bước chân ra đến ngoài...
- Bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ đến cảnh tuyệt đường sinh sống... Càng yêu làng, tự hào về làng bao nhiêu, ông Hai lại càng đau đớn tủi nhục bấy nhiêu vì ông đã mất đi điều quý giá thiêng liêng nhất. - Dù ý thức “làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, nhưng ông Hai vẫn không dứt bỏ được tình yêu làng sâu nặng: qua lời thủ thỉ tâm sự với đứa con, ông muốn con khắc ghi: “làng ta ở làng Chợ Dầu”; qua hành động: “ôm khít thằng bé vào lòng” khi thằng Húc nói “có” muốn về làng... Trong hoàn cảnh đau đớn, ông Hai vẫn giữ nguyên tình cảm bền chặt, sâu sắc với đất với làng. Tâm trạng của nhân vật ông Hai khi nghe tin cải chính
0,5
- Vui sướng, hân hoan, ông Hai như được hồi sinh... - Hãnh diện khoe tin làng Chợ Dầu bị đốt cháy, nhà ông bị đốt: sự mất mát về tài sản không sánh được với niềm vui làng Chợ Dầu được trả lại danh dự. 3
Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật ông Hai 0,5 - Tình yêu làng được đặt trong tình huống độc đáo, thử thách nội tâm nhân vật. - Nghệ thuật kể chuyện: sinh động, hấp dẫn. - Miêu tả tâm lí tinh tế, sắc sảo qua ý nghĩ, hành động, dáng điệu, cử chỉ, ngôn ngữ độc thoại và đối thoại... - Ngôn ngữ nhân vật sinh động, giàu tính khẩu ngữ của người nhà quê...
4
Đánh giá: 0,5 - Qua diễn biến tâm lí của nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng, cao quý trong những người nông dân bình dị. - Kim Lân đã diễn tả thành công vẻ đẹp tinh thần của người nông dân Việt Nam qua hình tượng nhân vật ông Hai: tình yêu làng hòa nhập với lòng yêu nước, thống nhất với tinh thần kháng chiến. Đó chính là yếu tố góp phần tạo nên sức hấp dẫn và sức sống của truyện.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO 10 NĂM 2018-2019 TỈNH THỪA THIÊN – HUẾ I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3,0 ĐIỂM) Đọc kĩ ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi nêu bên dưới: Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm bắt thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại. Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ. Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được. Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội, Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp. (Phương Liên, Thời gian là vàng, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 36) Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên. Câu 2: (0,5 điểm) Nêu ngắn gọn nội dung của ngữ liệu. Câu 3: (1,0 điểm) Xét về cấu tạo, cậu “Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội.’’ là kiểu câu gì? Vì sao? Câu 4: (1,0 điểm) Ngữ liệu trên chuyển tải thông điệp gì? II. PHẦN TẬP LÀM VĂN: (7,0 ĐIỂM) Câu 1: (3,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (không qua một trang giấy thi) theo cách diễn dịch bàn về ý nghĩa của tuổi thơ đối với mỗi người. Câu 2: (4,0 điểm) Cảm nhận của em về vẻ đẹp của hai nhân vật: anh Sáu trong tác phẩm Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) và anh thanh niên trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long). GỢI Ý GIẢI ĐỀ I. ĐỌC - HIỂU Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên là nghị luận. Câu 2: Nội dung của ngữ liệu: Khẳng định giá trị của thời gian quý hơn vàng vì không mua được. Thời gian là sự sống, là thắng lợi, là tri thức và nếu biết tận dụng thời gian, chúng ta có thể làm được nhiều điều đáng quý cho chính mình cũng như cho xã hội. Câu 3: Xét về cấu tạo, câu “Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội.” là kiểu câu ghép. Vì ở đây là câu ghép đã bị lược mất cả hai thành phần chủ ngữ ở hai vế nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu đối tượng mà câu văn nói tới là mọi người, chúng được tạo bởi cặp quan hệ từ “nếu ... thì”. Chúng ta có thể khôi phục câu văn như sau để dễ xác định: “Thế mới biết, nếu chúng ta biết tận dụng thời gian thì chúng ta sẽ làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội.” Câu 4: Ngữ liệu trên truyền tải thông điệp nhắc nhở mọi người biết quý trọng thời gian, dùng thời gian để làm những điều có ý nghĩa. II. TẬP LÀM VĂN Câu 1: Các em có thể tham khảo các ý chính sau để tạo lập đoạn văn của mình: - Tuổi thơ là quãng thời gian thơ bé, nhỏ tuổi. - Tuổi thơ có ý nghĩa quan trọng với mỗi người:
+ Khi còn nhỏ, người ta không có quá nhiều thứ để nhớ, những ấn tượng tuổi thơ sẽ là những kỉ niệm được khắc ghi nhất. + Tuổi thơ nuôi dưỡng những cảm xúc trong trẻo, hồn nhiên bên những người thân yêu, bên bạn bè. + Tuổi thơ được chứng kiến và trải nghiệm nhiều điều mới lạ, mở ra những ước mơ trong sáng. + Tuổi thơ được nuôi dưỡng như thế nào sẽ có ảnh hưởng nuôi dưỡng tâm hồn con người như thế. Tuổi thơ thiếu thốn nuôi dưỡng cho người ta ý chí, nghị lực vươn lên, tuổi thơ được sống trong yêu thương nuôi dưỡng cho người ta biết yêu thương những người khác, tuổi thơ được vui chơi tạo nên những kỉ niệm đẹp, ngay cả những tuổi thơ không may mắn cũng dạy cho người ta bài học nào đó trong cuộc đời. - Tuy nhiên, hiện nay tuổi thơ của trẻ em trong thời đại mới khác trước rất nhiều. Có những điều kiện hiện đại hơn nhưng chưa chắc con trẻ được khám phá và nuôi dưỡng thể xác, tâm hồn lành mạnh như trước đây. - Điều quan trọng là làm thế nào để mỗi tuổi thơ đều đáng nhớ, đáng yêu. Kể cả những vấp ngã, đau đớn trong tuổi thần tiên ấy cũng trở thành những mốc cuộc đời không thể nào quên. - Liên hệ bản thân: Đã đi qua tuổi thơ của mình, tuổi thơ em có gì đặc biệt và có vai trò như thế nào với em. Câu 2: 1. Giới thiệu chung - Giới thiệu hai tác giả, hai tác phẩm. - Giới thiệu hai nhân vật là linh hồn của tác phẩm, gửi gắm những tư tưởng của tác giả. 2. Cảm nhận 2.1. Giống nhau - Anh Sáu và anh thanh niên đều là những con người mới trong thời đại kháng chiến chống Mĩ. - Họ đều có tình yêu quê hương, đất nước, giàu tình cảm với những người thân trong gia đình, mang trong mình tình yêu lớn, lí tưởng lớn. Họ là đại diện cho con người Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. 2.2. Khác nhau a. Anh Sáu trong Chiếc lược ngà là hiện thân của người cha tha thiết yêu thương con. Tình cảm đó được thể hiện xuyên suốt câu chuyện. Đồng thời, ông Sáu cũng là một người lính chiến đấu giành lại niềm Nam thân yêu. Trong 3 ngày ngắn ngủi về thăm con: - Xúc động mãnh liệt trong khoảnh khắc gặp lại con sau 8 năm xa cách: + Vội vàng, hấp tấp nhảy lên bờ gọi con. + Đưa tay đón con. + Bước những bước dài tới bên con. + Khuôn mặt biến đổi vì nỗi xúc động. - Đau đớn vì bé Thu không đáp lại tình cảm của ông mà sợ hãi bỏ chạy: + Sầm mặt lại. + Đứng sững lại. + Hai tay buông thõng như bị gãy. Đau khổ, bất lực vì không biết làm thế nào để san bằng khoảng cách của không gian, thời gian. - Suốt 3 ngày phép ông Sáu làm mọi cách để bé Thu thay đổi: + Ông không đi đâu, chỉ quanh quẩn bên con. + Ông không giận con mà chỉ khe khẽ lắc đầu, cười trước sự bướng bỉnh, xa lánh của con. + Thậm chí khi con bé chối từ sự chăm sóc của ông, ông đã đau đớn không giữ được bình tĩnh mà trách phạt con. Ông đã kiên nhẫn, dịu dàng, bao dung rất mực đối với con mình. - Khi chia tay, ông bộc lộ tình yêu con sâu nặng. + Anh không dám lại gần con, chỉ nhìn con bằng ánh mắt trìu mến, buồn rầu. Ánh mắt cho thấy nỗi xót xa, cả sự yếu đuối của một người lính trước tình cảm gia đình.
+ Giọt nước mắt mà ông cố giấu, lời hứa trở về cùng chiếc lược ngà cho con đã gói trọn tình cảm yêu thương, gắn bó sâu sắc, mãnh liệt mà ông dành cho con. Tình yêu con của ông Sáu đã chiến thắng mọi khoảng cách của sự biệt li. Tình cảm ấy luôn vẹn nguyên, ấm áp và tràn đầy. - Khi ông trở lại chiến trường: - Luôn cảm thấy ân hận khổ tâm vì đã đánh con. - Không quên lời hứa với con. Ông hiểu mơ ước ngây thơ của con, cô bé muốn có một vật dụng để luôn nhớ về cha. + Dồn nỗi nhớ, tình yêu và sự day dứt vào việc làm chiếc lược ngà. + Ông tỉ mỉ cưa từng răng lược, cẩn thận khắc từng nét chữ “Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”. + Lúc nhớ con, ông lấy cây lược ra ngắm nghía, mài lên mái tóc. - Thậm chí, cái chết cũng không cướp đi được tình yêu thương con của ông Sáu. + Vết thương nặng trong một trận càn khiến ông kiệt sức, không trăng trối được điều gì nhưng ông vẫn dồn hết tàn lực móc cây lược trao cho đồng đội và gửi gắm đồng đội mình qua ánh mắt. + Cây lược ấy đã được trao lại cho bé Thu. Tình cha con đã không chết, nâng đỡ cô bé trưởng thành, vượt lên mọi đau thương mất mát. Ông Sáu là biểu tượng cho tình yêu thương, sự ân cần và che chở của người cha dành cho con mình. Qua đó ta thấy được sự bất tử của tình cảm cha con. b. Anh thanh niên là đại diện cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ, đại diện cho những con người ngày đêm cống hiến thầm lặng, xây dựng đất nước. * Hoàn cảnh sống và làm việc của nhân vật anh thanh niên - Anh là “người cô độc nhất thế gian”, một mình làm việc trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng bốn bề mây phủ cây phong, lạnh rét. Anh cô độc đến “thèm người” và luôn “nhớ người”. - Công việc mỗi ngày của anh là: “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất”, dự báo trước thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu. Công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao. * Anh thanh niên là con người thiết tha yêu cuộc sống - Tình cảm gắn bó, sự quan tâm, gần gũi của anh với những người xung quanh. + Lấy khúc cây chắn ngang đường để dừng xe thèm người, nhớ người, mong được trò chuyện và được nghe tiếng nói, tiếng cười. + Gửi củ tam thất cho vợ bác lái xe quan tâm đến cả những người tình cờ gặp gỡ trái tim biết yêu thương, sẻ chia. + Trò chuyện cởi mở, tặng hoa, tặng quà ăn đường cho người vừa mới gặp lần đầu là ông họa sĩ, cô kĩ sư Lòng đôn hậu, sự thân thiện của anh. - Tinh thần lạc quan trong một hoàn cảnh sống nhiều khó khăn, thử thách: + Biết tạo ra niềm vui cho cuộc sống của mình trồng hoa trước nhà. + Biết tổ chức một cuộc sống gọn gàng, ngăn nắp căn nhà anh ở sạch sẽ. + Biết nối mình với cuộc sống văn minh, tự nâng cao hiểu biết, chuyên môn nhờ đọc sách nhờ bác lái xe mua sách. Giúp anh thanh niên hoàn toàn chủ động, vượt qua cuộc sống khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần. * Anh thanh niên là con người sống có lí tưởng, có niềm say mê và trách nhiệm với công việc - Rất say mê công việc đo gió, đo mưa trên đỉnh Yên Sơn: + Chấp nhận sống và làm việc một mình trên đỉnh núi cao mấy nghìn mét so với mặt biển dám đối mặt và vượt lên nỗi cô đơn vì tình yêu công việc. + Coi công việc như một người bạn “ta với công việc là đôi”. + Thấy hạnh phúc khi được làm việc: tin vào ý nghĩa công việc mình làm, dự báo chính xác thời tiết giúp
người nông dân sản xuất, từng giúp không quân bắn rơi máy bay. - Làm việc với một tinh thần trách nhiệm rất cao: + Có những đêm trời lạnh giá anh vẫn trở dậy đo gió, đo mưa. + Anh đã vượt lên hoàn cảnh và vượt lên chính mình để hoàn thành công việc. Tinh thần trung thực và ý thức trách nhiệm với nghề. - Tất cả đều bắt nguồn từ lí tưởng sống đẹp của anh thanh niên: + Anh muốn góp sức mình vào công cuộc dựng xây và bảo vệ cuộc sống mới (công việc của anh giúp ích cho lao động sản xuất và chiến đấu). + Anh không lẻ loi, đơn độc mà tìm thấy những người bạn đồng hành trên con đường mình đã chọn: ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ địa chất lập bản đồ sét tất cả đều lặng lẽ và bền bỉ với đời sống, với công việc. + Anh tác động lớn tới ông họa sĩ và cô kĩ sư. Ông họa sĩ tìm thấy ở anh lí tưởng sáng tạo của mình. Còn cô kĩ sư cũng tìm thấy ở anh một tấm gương về tình yêu cuộc sống, tình yêu công việc. * Anh thanh niên là hiện thân cho vẻ đẹp của một lớp người đang tích cực góp phần tạo dựng lên cuộc sống mới cho quê hương, đất nước. * Anh là người khiêm tốn, thành thực - Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung của anh, anh từ chối bởi thấy công việc và những đóng góp của mình còn nhỏ bé, chưa thấm vào đâu so với “ông kĩ sư vườn rau dưới Sa Pa”, “đồng chí nghiên cứu khoa học” đang nghiên cứu lập bản đồ sét với tất cả niềm say mê, hào hứng. Anh nhiệt thành giới thiệu để ông họa sĩ vẽ chân dung của họ - những con người làm việc hết mình, thầm lặng, những cống hiến đáng trân trọng và khâm phục. 3. Tổng kết - Hai nhân vật đại diện cho người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ nhưng mỗi người mang vẻ đẹp khác nhau. - Khuynh hướng văn học thời bấy giờ - khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạng cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018-2019 TỈNH LẠNG SƠN Câu 1: (2,0 điểm) a. Kể tên các thành phần biệt lập. b. Chỉ ra thành phần biệt lập trong các câu sau và cho biết tên gọi của mỗi thành phần biệt lập đó. (1) Vâng, cháu cũng đã nghĩ như cụ. (Tắt đèn, Ngô Tất Tố) (2) Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. (Viếng lăng Bác, Viễn Phương) Câu 2: (3,0 điểm) Em hãy viết một đoạn văn nghị luận từ 10 đến 15 câu trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống con người. Câu 3: (5,0 điểm) Cảm nhận về tình cha con của ông Sáu và bé Thu trong đoạn trích sau: Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao. - Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói, Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: - Ba ... a ... a ... ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa. Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con: - Ba đi rồi ba về với con. - Không! - Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run. (Trích Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập một, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.198-199) GỢI Ý GIẢI ĐỀ Câu 1 a) - Thành phần tình thái - Thành phần cảm thán - Thành phần phụ chú - Thành phần gọi đáp b)
(1) - Thành phần biệt lập: Vâng (thành phần gọi đáp) (2) - Thành phần biệt lập: Ôi (thành phần cảm thán) Câu 2 * Giải thích vấn đề - Tình yêu thương là sự sẻ chia, đồng cảm, quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh mình ở cả phương diện vật chất, tinh thần bằng tấm lòng chân thành nhất. Tình yêu thương có sức mạnh to lớn trong cuộc đời mỗi con người. * Phân tích vấn đề - Tình yêu thương đôi khi chỉ là những cử chỉ, hành động hết sức nhỏ bé: một cái ôm, một lời động viên, một ánh nhìn trìu mến,... - Ý nghĩa của tình yêu thương đối với con người: + Tình yêu thương đem lại cho ta sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. + Giúp đỡ được những người xung quanh sẽ đem lại cho chính bản thân niềm vui, sự hạnh phúc. + Trong cuộc đời, không phải lúc nào ta cũng suôn sẻ, giúp đỡ người khác lúc này, lúc khác bạn sẽ được giúp đỡ lại. - Tình yêu thương xuất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống: Chứng minh bằng một số ví dụ mà em đã gặp trong cuộc sống - Phê phán những kẻ vô tâm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác. - Liên hệ với bản thân em: Tình yêu dành cho bố mẹ, những người thân, tình yêu thương thầy cô, bạn bè... Câu 3: Tham khảo dàn ý sau: Các em cần đạt được những ý chính trong bài như sau: 1. Mở bài: Giới thiệu chung tác giả tác phẩm và trích dẫn đoạn trích: - Nguyễn Quang Sáng (1932 - 2014): là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ nên các sáng tác của ông hầu như chỉ xoay quanh cuộc sống con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình. - Chiếc lược ngà được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Được in trong tập truyện cùng tên. - Trích dẫn và khái quát nội dung đoạn trích: cảnh chia tay của hai cha con ông Sáu. 2. Thân bài - Giới thiệu về hoàn cảnh của cha con ông Sáu. - Khái quát về cuộc chia tay của hai cha con ông Sáu. - Phân tích a. Tình yêu thương của ông Sáu với con - Khi chia tay, ông bộc lộ tình yêu con sâu nặng. + Anh không dám lại gần con, chỉ nhìn con bằng ánh mắt trìu mến, buồn rầu. Ánh mắt cho thấy nỗi xót xa, cả sự yếu đuối của 1 người lính trước tình cảm gia đình. + Giọt nước mắt mà ông cố giấu, lời hứa trở về cùng chiếc lược ngà cho con đã gói trọn tình cảm yêu thương, gắn bó sâu sắc, mãnh liệt mà ông dành cho con. Tình yêu con của ông Sáu đã chiến thắng mọi khoảng cách của sự biệt li. Tình cảm ấy luôn vẹn nguyên, ấm áp và tràn đầy. b. Tình yêu thương bé Thu dành cho ông Sáu - Tuy nhiên khi được nghe bà ngoại giải thích, anh Sáu không giống trong bức ảnh thì bé Thu hiểu ra mình đã sai. Thu đã rất ân hận về hành động của mình. - Phản ứng không nhận anh Sáu quyết liệt bao nhiêu thì khi nhận ra cha tình cảm ấy lại càng sâu nặng bấy nhiêu. Trong giờ phút cuối cùng trước khi cha đi, tình cảm dồn nén bấy lâu nay bùng lên thật mãnh liệt,
mạnh mẽ. - Nó thét tiếng “Ba” xé ruột, xé gan. Đó là tiếng “ba” nó mong chờ bấy lâu nay, tỉếng gọi ấy khiến ông Sáu rơi lệ. - Rồi nó nhảy tót lên ôm chặt lấy ông Sáu, hôn vào tóc, vai, mặt, mũi và cả vết thẹo dài trên mặt ông. Chân nó quắp chặt lấy ba, như thể không muốn cho ông rời đi. Tính cách nhân vật bé Thu: Tình cảm mạnh mẽ sâu sắc nhưng cũng rất dứt khoát, rạch rồi. Có nét cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng vẫn là đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ. Tất cả những hành động ấy cho thấy Thu yêu thương ba vô cùng, một tình yêu mãnh liệt, chân thành, thắm thiết. Tình yêu đó được bộc lộ một cách cảm động qua hoàn cảnh éo le của chiến tranh. c. Đặc sắc nghệ thuật - Ngôn ngữ giản dị, đậm chất Nam Bộ. - Miêu tả tâm lí và xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc: Từ chỗ Thu ngạc nhiên hoảng sợ đến lạnh lùng, cuối cùng là sự bùng nổ những yêu thương do bị dồn nén. Thể hiện được điều đó chứng tỏ tác giả am hiểu tâm lý trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ. - Tình huống bất ngờ hợp lí, đã bộc lộ tình yêu thương tha thiết bé Thu dành cho ba của mình. 3. Kết luận Tác phẩm đã thể hiện một cách chân thực và cảm động tình cảm yêu thương sâu nặng của hai cha con trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018-2019 TỈNH LONG AN PHẦN I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Câu 1: Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi: “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi…” a. Ngữ liệu trên được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai? Nêu ý nghĩa của văn bản. b. “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” được nhắc trong ngữ liệu của văn bản gợi nhớ thời điểm nào đất nước? c. Tác giả dùng cụm từ “đói mòn đói mỏi” có tác dụng gì? Câu 2: Thành ngữ “Ra đầu ra đũa” liên quan đến phương châm hội thoại nào? Trình bày ý nghĩa của phương châm hội thoại đó. Câu 3: Đọc ngữ liệu và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “Cô gái có cái nhìn sao mà xa xăm”. (Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê, Ngữ văn 9, NXB Giáo dục Việt Nam) a. Tìm lời dẫn trực tiếp b. Xác định khởi ngữ c. Các câu trong ngữ liệu trên sử dụng phép liên kết gì? Chỉ ra từ ngữ liên kết. PHẦN II: TẬP LÀM VĂN (5,0 điểm) Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long. GỢI Ý GIẢI ĐỀ PHẦN I: ĐỌC HIỂU Câu 1: a. Ngữ liệu trên được trích trong tác phẩm Bếp lửa của Bằng Việt. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước. b. “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” được nhắc trong ngữ liệu của văn bản gợi nhớ thời điểm những năm 1945 với nạn đói lịch sử của dân tộc. c. Tác giả sử dụng cụm từ “đói mòn đói mỏi” nhằm khắc họa sâu sắc cảnh tượng bi thảm của nạn đói, tăng sức gợi cho câu thơ, nhấn mạnh hoàn cảnh mà hai bà cháu cùng đất nước cực nhọc trải qua. Câu 2: - Thành ngữ “Ra đầu ra đũa” liên quan đến phương châm cách thức: trong giao tiếp cần nói rõ ràng, mạch lạc, tránh cách nói mơ hồ. - Phương châm cách thức khiến cho người nói, người viết truyền tải chính xác, rõ ràng những điều mình truyền đạt, người nghe, người đọc lĩnh hội chính xác, đầy đủ thông tin cần thiết. Câu 3: a. Lời dẫn trực tiếp: “Cô gái có cái nhìn sao mà xa xăm”. b. Khởi ngữ: “mắt tôi” c. Các câu trong ngữ liệu sử dụng những phép liên kết sau: - Phép lặp từ ngữ: “tôi”. - Phép liên tưởng: “con gái Hà Nội”, “một cô gái khá”, “hai bím tóc dày”, “một cái cổ cao”, “đôi mắt”. - Phép nối: “Còn”. PHẦN II: TẬP LÀM VĂN 1. Giới thiệu chung
- Tác giả, tác phẩm - Nhân vật anh thanh niên 2. Cảm nhận về nhân vật - Anh thanh niên là nhân vật chính chỉ hiện ra trong chốc lát, đủ để các nhân vật khác kịp ghi nhận một ấn tượng, một kí hoạ chân dung về anh rồi dường như anh lại khuất lấp vào trong mây mù bạt ngàn và cái lặng lẽ muôn thuở của núi cao Sa Pa. “Trong cái lặng im của Sa Pa..., có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước”. - Nhân vật anh thanh niên được hiện ra qua sự nhìn nhận, suy nghĩ, đánh giá của các nhân vật khác: bác lái xe, ông họa sĩ, cô kĩ sư. Qua cách nhìn và cảm xúc của mỗi người, hình ảnh anh thanh niên thêm rõ nét và đáng mến hơn. a. Hoàn cảnh sống và làm việc: một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, tham dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc ấy đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao (nửa đêm đúng giờ ốp thì dù mưa tuyết, giá lạnh thế nào cũng phải trở dậy ra ngoài trời làm công việc đã qui định). Nhưng cái gian khổ nhất là phải vượt qua được sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người - một hoàn cảnh thật đặc biệt. b. Vẻ đẹp trong tính cách và phẩm chất của người thanh niên * Tinh thần, trách nhiệm và tình yêu với công việc - Trước hết đó là ý thức về công việc và lòng yêu nghề, thấy được ý nghĩa cao quý trong công việc thầm lặng của mình. Anh không tô đậm cái gian khổ của công việc, nhưng anh nhấn mạnh niềm hạnh phúc khi biết được mình góp phần phát hiện kịp thời một đám mây khô mà nhờ đó “không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng”. - Anh đã có những suy nghĩ thật đúng, thật giản dị mà sâu sắc về công việc, về cuộc sống. Có lẽ đây là những tâm sự chân thành và sâu sắc nhất của anh: “Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt... mình vì ai mà làm việc”. Dù đang một mình nhưng anh tự hiểu mình đang cùng với bao nhiêu người khác làm việc, làm việc vì con người, vì cuộc sống, nên không còn thấy cô đơn nữa. - Anh còn biết tìm đến những niềm vui lành mạnh để cân bằng cuộc sống tinh thần của mình. Cuộc sống của anh không còn cô đơn, buồn tẻ khi anh biết lấy sách làm người bạn tâm tình, biết tổ chức cuộc sống của mình một cách ngăn nắp, tươi tắn (trồng hoa, nuôi gà). Thế giới riêng của anh là công việc “Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời anh thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách”. * Những nét tính cách và phẩm chất đáng mến - Sự cởi mở, chân thành, rất quí trọng tình cảm của mọi người, khao khát được gặp gỡ, trò chuyện cùng mọi người: tình thân của anh với bác lái xe, anh nhớ cả chuyện vợ bác lái xe vừa ốm dậy nên đào củ tam thất làm quà cho bác. - Vui mừng đến luống cuống, hấp tấp, cùng thái độ ân cần chu đáo tiếp đãi những người khách xa đến thăm bất ngờ. Anh chân thành bộc lộ niềm vui mừng một cách hồn nhiên, thành thật đến cảm động: “Tôi cắt thêm mấy cành nữa... Và cô là cô gái thứ nhất từ Hà Nội lên tới nhà tôi bốn năm nay”. - Anh đếm từng phút vì sợ hết mất ba mươi phút gặp gỡ vô cùng quí báu: “Bác lái xe chỉ cho ba mươi phút thôi. Hết năm phút rồi. Cháu nói qua công việc của cháu năm phút. Còn hai mươi phút, mời cô và bác vào nhà uống chè, cho cháu nghe chuyện. Cháu thèm nghe chuyện dưới xuôi lắm”, “Trời ơi chỉ còn có năm phút !”. - Đến khi chia tay, anh xúc động đến nỗi phải quay mặt đi mà ấn vào tay ông họa sĩ làn trứng làm quà, và không dám tiễn khách ra xe dù chưa tới giờ ốp. - Anh còn người khiêm tốn thành thực, cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh không dám từ chối để khỏi vô lễ, nhưng anh nhiệt thành giới thiệu những người khác mà anh thực sự cảm phục. Anh nói về ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa, về anh cán bộ nghiên cứu sét với tất cả sự say mê hào hứng và lòng cảm phục chân thành của mình.
Dù anh thanh niên chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc nhưng bằng những chi tiết tiêu biểu, tác giả đã phác hoạ được chân dung nhân vật với những nét đẹp về tinh thần, tình cảm, cách sống và những suy nghĩ về cuộc sống, về ý nghĩa của công việc. 3. Tổng kết
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018 - 2019 NAM ĐỊNH PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn. Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc. (Trích Nói với con, Y Phương - SGK Ngữ văn 9, tập 2 - NXBGDVN - 2006 - trang 12). Câu 1: Xác định thể thơ của đoạn trích trên. Câu 2: Qua đoạn trích, em thấy cuộc sống của người đồng mình hiện lên như thế nào? Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau: Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Câu 4: Suy nghĩ của em về vẻ đẹp tâm hồn của người đồng mình được thể hiện qua đoạn trích trên. Trình bày trong một đoạn văn khoảng 6 câu. PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM) Câu 1: (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về sức mạnh của tình yêu thương. Câu 2: (5,0 điểm) Cảm nhận của em về tình cảm của bé Thu với người cha trong đoạn trích truyện Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. GỢI Ý GIẢI ĐỀ PHẦN I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Thể thơ của đoạn trích trên: Thơ tự do. Câu 2: Qua đoạn trích trên em thấy “người đồng mình” là những con người miền quê, tình cảm chân thành mà sâu sắc, họ không hề sợ hãi hay nhụt chí trước những khó khăn của quê hương còn đói nghèo đang đeo bám nhưng họ vẫn cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Họ không ngại khó, ngại khổ, sống với cái nghèo nhưng không chê quê hương nghèo khó sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt của con người nơi đây đồng thời muốn khen ngợi tinh thần, bản lĩnh của những con người quê hương mình. Họ luôn là những cọn người bằng xương thịt “thô sơ da thịt” thật giản dị, chân thật nhưng không bao giờ nhỏ bé, với quyết tâm đó người đồng mình mong muốn xây dựng quê hương giàu mạnh hơn. Niềm tự hào cùng với sự cần cù, chăm chỉ sẽ giúp họ thành công. Câu 3: Hai biện pháp tu từ: - So sánh: sống như sông như suối Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sông trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người. - Tương phản: Lên... xuống... Phép tương phản nhấn mạnh nỗi khó nhọc trong cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc của người đồng mình. Câu 4:
+ Người đồng mình biết lo toan và giàu mơ ước - Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước: “Người đồng mình thương lắm con ơi!/ Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn”. - Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc. + Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn. “Sống trên đá không chê đá gập ghềnh/ Sống trong thung không chê thung nghèo đói/ Sống như sông như suối/ Lên thác xuống ghềnh/ Không lo cực nhọc”. - “Đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói” Gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc Vận dụng thành ngữ dân gian “Lên thác xuống ghềnh”, ý thơ gợi bao nỗi vất vả, lam lũ. Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian nan, đói nghèo của quê hương. PHẦN II. LÀM VĂN Câu 1: Giải thích: - Tình yêu thương là gì? Đó chính là sự sẻ chia mà mỗi người dành cho nhau, một thứ tình cảm thiêng liêng xuất phát từ nơi con tim. Tình yêu thương thể hiện ở sự đồng cảm, và một tinh thần đồng loại mà con người dành cho con người nhưng nó vô cùng gần gũi: Bố mẹ bạn yêu bạn, anh chị người thân bạn chăm sóc cho bạn, bạn bè bạn lo lắng cho bạn. Bàn luận: Nếu bạn có tình yêu thương thì nó sẽ giúp: - Con người trở nên hạnh phúc, vui vẻ, một con người biết yêu thương chính là người có nhân cách đẹp, và luôn hướng đến những thứ tốt đẹp, hoàn mỹ hơn. - Là động lực vững chắc để bạn vượt mọi khó khăn và thử thách trong cuộc sống. - Rất nhiều người hối hận vì chưa kịp nói lời yêu thương với người thân khi người thân của họ còn sống. Vì vậy đừng ngại thể hiện tình yêu thương với những người mà ta quý mến họ. - Nhưng có biết bao người lại quên mất đi tình yêu thương, họ bị sự ồn ào của cuộc sống, bị lu mờ bởi vật chất nên để tình yêu thương nguội lạnh. Vì cái tôi, vì cuộc sống đơn điệu của bản thân mà họ bỏ mặc những thứ xung quanh. Vì vậy, họ không biết nói tiếng sẻ chia, cứ khư khư trong vỏ bọc của riêng mình. Và từ đó, luôn sống trong ngờ vực, đố kị, ganh ghét,... Chúng ta nên chỉ cho họ thấy sống là cần biết cho đi, chứ không chỉ là sự nhận lại, để họ có thể được hòa nhập vào thế giới tràn ngập yêu thương. Kết bài: Liên hệ bản thân em Chỉ cần nơi nào có tình yêu thương, nơi đấy thật ấm áp - hạnh phúc và luôn là chỗ dựa cho bạn. Câu 2: I) Mở bài : - Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn về tình cha con sâu nặng. - Với nhân vật chính là bé Thu - một cô bé đã phải lớn lên trong một gia đình vắng bóng người cha. II) Thân bài: + Luận điểm 1 : bé Thu trong những ngày đầu gặp cha: - Luận cứ 1 : lúc mới gặp cha. - Giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng. - Mặt tái đi, vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má!”. Sự hồn nhiên ngây thơ, ngạc nhiên xen lẫn sợ hãi. - Luận cứ 2: những ngày ông Sáu ở nhà:
- Anh Sáu càng vỗ về thì lại càng đẩy ra. - Không chịu gọi anh Sáu là ba, cứ xem như người lạ. - Không chịu gọi ba vào ăn cơm, thấy má giận nó chỉ nói trổng. - Nhờ anh Sáu chắt nước nồi cơm một cách miễn cưỡng, tiếp tục nói trổng. - Được anh Sáu gắp trứng vào tô nhưng lại hất ra, tuy bị đánh nhưng không khóc rồi chạy sang nhà ngoại. Thể hiện sự mạnh mẽ, pha chút bướng bỉnh. + Luận điểm 2: khi bé Thu đã nhận ra cha mình. - Nhận ra tình cha con thật chất, lòng vô cùng ân hận. - Không còn bướng bỉnh, lạnh lùng. - Hôn khắp người, ôm chặt không cho cha đi. Lòng thương cha vô bờ bến, biết hối hận về những gì mình đã làm. III) Kết bài: - Bé Thu tuy có nhiều tính cách khác nhau nhưng suy cho cùng vẫn là một cô bé rất yêu thương cha. - Bằng cách miêu tả tâm lí và xây dựng hình ảnh nhân vật bé Thu sâu sắc, tác giả đã đem đến người đọc một câu chuyện về tình cha con cảm động.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO 10 NĂM 2018-2019 TỈNH NGHỆ AN I. PHẦN ĐỌC – HIỂU (2,0 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4: Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó. (Trích Bản thân chúng ta là giá trị có sẵn - Phạm Lữ, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012, tr.24) Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2: (0,5 điểm) Chỉ ra thành phần biệt lập trong câu: Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Câu 3: (0,5 điểm) Nêu tên một biện pháp tu từ có trong những câu in đậm. Câu 4: (0,5 điểm) Nội dung chính của đoạn trích trên là gì? II. PHẦN LÀM VĂN (8,0 ĐIỂM) Câu 1: (3,0 điểm) “Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học.” Hãy viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên. Câu 2: (5,0 điểm) Thí sinh chỉ chọn một trong hai đề sau: Đề 1: Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích sau: Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ. Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc Tử đã vừa người ôm. (Trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Truyện Kiều - Nguyễn Du, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.93 - 94) Đề 2: Cảm nhận về vẻ đẹp của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong đoạn trích sau: Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi. Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. (Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.131) GỢI Ý GIẢI ĐỀ
I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là nghị luận. Câu 2: Thành phần biệt lập trong câu: “chắc chắn” Câu 3: Biện pháp tu từ: điệp từ (“nhưng”), lặp cấu trúc câu “bạn có thể không...nhưng...” Câu 4: Nội dung chính của đoạn trích trên: Mỗi con người trong chúng ta đều có những giá trị riêng và chính bản thân chúng ta cần biết trân trọng những giá trị đó. II. PHẦN LÀM VĂN Câu 1: * Giải thích: - Từ “xấu hổ”: đó là trạng thái tâm lí bình thường của con người khi cảm thấy ngượng ngùng, e thẹn hoặc hổ thẹn khi thấy kém cỏi trước người khác. - Ý nghĩa cả câu: Điều đáng xấu hổ không phải là bạn không biết một điều gì đó, mà điều đáng xấu hổ là khi bạn không biết nhưng cũng không chịu học hỏi để biết về điều đó. * Bàn luận: - Dùng lí lẽ, dẫn chứng để khẳng định sự đúng đắn của câu ngạn ngữ: + Tại sao lại nói: “Đừng xấu hổ khi không biết”? Tri thức của nhân loại là vô hạn, khả năng nhận thức của con người là hữu hạn. Không ai có thể biết được mọi thứ, không ai tự nhiên mà biết được. Không biết vì chưa học là một điều bình thường, không có gì phải xấu hổ cả. + Tại sao nói: “Chỉ xấu hổ khi không học”? Vì việc học có vai trò rất quan trọng đối với con người trong nhận thức, trong sự hình thành nhân cách, trong sự thành đạt, trong cách đối nhân xử thế và trong việc cống hiến đối với xã hội. Không học thể hiện sự lười nhác về lao động, thiếu ý chí cầu tiến, thiếu trách nhiệm với bản thân và xã hội. Việc học là một nhu cầu thường xuyên, phổ biến trong xã hội từ xưa đến nay, từ việc nhỏ như “Học ăn, học nói, học gói, học mở” đến những việc lớn như “kinh bang tế thế”, đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin, phát triển vũ bão về khoa học công nghệ như hiện nay. Việc học giúp chúng ta sống tốt hơn, đẹp hơn, hoàn hảo hơn. - Phê phán những trường hợp giấu dốt, tự kiêu, tự mãn, học giả hay lười biếng. * Bài học rút ra: - Muốn việc học có kết quả, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, học sinh cần có phương thức học tập đúng đắn, phong phú: học ở trường, ở gia đình, ở xã hội, ở bạn bè, trong thực tế, trong sách vở, trong phim ảnh. Học phải kết hợp với hành biến nó trở thành sức mạnh phục vụ cho cuộc sống của chính mình và xã hội, có như vậy, việc học mới có ý nghĩa thực sự đúng đắn. - Không giấu dốt, không ngại thú nhận những điều mình chưa biết để từ đó cố gắng học tập, tích cực rèn luyện, và không ngừng vươn lên. - Khẳng định việc học là vô cùng quan trọng, không chịu học là điều đáng xấu hổ. * Liên hệ bản thân: Em đã học tập, rèn luyện để tích lũy kiến thức, vốn sống của bản thân như thế nào? * Khẳng định ý nghĩa sâu xa của ý kiến này và những bài học mà bản thân em cần ghi nhớ qua đó. Câu 3: Đề 1: 1. Giới thiệu chung * Tác giả - Nguyễn Du (1765 - 1820) tên chữ là Tố Như hiệu là Thanh Hiên, tỉnh Hà Tĩnh. - Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cuộc đời của ông gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. - Truyện Kiều là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. * Tác phẩm - Đoạn trích thơ thuộc phần Gia biến và lưu lạc.
- Nội dung chính của đoạn thơ nói về nỗi nhớ Kim Trọng và cha mẹ khi Thúy Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. 2. Phân tích a. Nỗi nhớ Kim Trọng - Nỗi nhớ Kim Trọng đến trước vì: + Khi bán mình là nàng đã tạm tròn chữ hiếu mà dang dở chữ tình luôn mang mặc cảm phụ bạc Kim Trọng. + Thúy Kiều bị lừa, bị thất thân với Mã Giám Sinh, bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để đợi người chuộc thân lại càng thấy mình không xứng với Kim Trọng, có lỗi với Kim Trọng. - “Tưởng”: là “nhớ về”, “mơ tưởng” kỉ niệm vẫn vẹn nguyên, sống động, vẫn khiến nàng nhớ nhung, mơ tưởng. Khát vọng tình yêu, hạnh phúc. - Tấm lòng thủy chung của Thúy Kiều: Nàng nhớ đêm trăng thề nguyền và lời thề với Kim Trọng. Lời thề còn vẹn nguyên khiến nàng càng tự trách mình phụ bạc chàng Kim. - Nhớ để mà xót xa cho Kim Trọng nơi xa vẫn nay trông mai ngóng; xót xa cho bản thân lưu lạc nơi chân trời góc bể, cho tấm hình son sắt thủy chung không biết bao giờ mới có thể phôi pha. Qua đó ta cảm nhận được tấm lòng vị tha, tình yêu mãnh liệt, thủy chung mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng cũng như nỗi đau đớn, ân hận, giày vò của Thúy Kiều. b. Nỗi nhớ cha mẹ - Từ “xót”: + Là nỗi xót xa, thương cảm của một người con dành cho cha mẹ đã tuổi cao, sức yếu. + Vì tưởng tượng ra cảnh cha mẹ ngày đêm tựa cửa, ngóng chờ mình (“hôm mai”...) + Vì cha mẹ thiếu bàn tay chăm sóc: “quạt nồng ấp lạnh”. + Vì ý thức được sự vô tình của thời gian cha mẹ ngày càng già yếu hơn. - Nhớ để rồi ân hận, tự trách bản thân mình vẫn chưa tận hiếu với mẹ cha. Nàng là người con hết sức hiếu thảo. c. Đặc sắc nghệ thuật - Nghệ thuật sử dụng ngôn từ giàu cảm xúc, cô đọng, hàm súc. - Sử dụng linh hoạt điển tích. 3. Đánh giá chung - Đoạn trích cho thấy vẻ đẹp nhân phẩm của Thúy Kiều: một người con gái thủy chung, một người con hiếu thảo, một con người vị tha, đáng trân trọng. Đề 2: 1. Giới thiệu chung - Hoàn cảnh sáng tác: năm 1969, trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến sĩ lái xe đường Trường Sơn thời chống Mĩ. - Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 - 1970, tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật. - Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Trích trong tập Vầng trăng - Quầng lửa) là một trong những bài thơ để lại ấn tượng mạnh trong lòng người đọc về hình ảnh những người lính và sự kế thừa của biết bao thế hệ. - Đoạn trích là phần đầu của bài thơ khắc họa hình ảnh những chiến sĩ lái xe ung dung, hiên ngang đối mặt với gian khổ khó khăn bằng tư thế chủ động nhưng cũng không kém phần tinh nghịch, lạc quan của những chàng thanh niên trẻ. 2. Cảm nhận 2.1. Hình tượng người lính lái xe hiện lên trên phông nền của những chiếc xe không kính
- Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền đưa vào thơ thì đều được “mĩ lệ hóa”, “lãng mạn hóa” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực. - Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả cụ thể, chi tiết rất thực. Hai câu thơ mở đầu có thể coi là lời giải thích lý do tại sao lại là “xe không kính”. + Bằng những câu thơ rất thực, đậm chất văn xuôi, điệp ngữ “không”, cùng với động từ mạnh “giật”, “rung”, tác giả đã lí giải nguyên nhân không có kính của những chiếc xe. + Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe trở nên biến dạng “không có kính”, “không có đèn”, “không có mui xe”, “thùng xe có xước”. Từ đó, tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua. Hình ảnh những chiếc xe không kính vốn chẳng hiếm trong chiến tranh, song phải có một hồn thơ nhạy cảm, có nét tinh nghịch, ngang tàn như Phạm Tiến Duật mới phát hiện ra được, đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ ca thời chống Mĩ. 2.2. Hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn - Vẻ đẹp của người lính lái xe trước hết thể hiện ở tư thế hiên ngang, ung dung: + Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật điệp ngữ với từ “nhìn” được nhắc đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai giúp nhấn mạnh tư thế ung dung, bình tĩnh, tự tin của người lính lái xe. + Cái nhìn của các anh là cái nhìn bao quát, rộng mở “nhìn đất”, ’’nhìn trời”, vừa trực diện, tập trung cao độ “nhìn thẳng”. Các anh nhìn vào khó khăn, gian khổ, hi sinh mà không hề run sợ, né tránh - một bản lĩnh vững vàng. - Trong tư thế ung dung ấy, người lính lái xe có những cảm nhận rất riêng khi được tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài thể hiện tâm hồn lãng mạn, yêu đời. + Sau tay lái của chiếc xe không có kính chắn gió nên các yếu tố về thiên nhiên, chướng ngại vật rơi rụng, quăng ném, va đập vào trong buồng lái. + Những người lính hòa mình với thiên nhiên rồi được tự do giao cảm, chiêm ngưỡng thế giới bên ngoài. + Nhịp thơ đều đặn, trôi chảy như xe lăn với việc vận dụng linh hoạt điệp ngữ “thấy” và phép liệt kê. Có rất nhiều cảm giác thú vị đến với người lính trên những chiếc xe không có kính. + Các hình ảnh “con đường”, “sao trời”, “cánh chim”... diễn tả rất cụ thể cảm giác của những người lính khi được lái những chiếc xe không kính. + Khi xe chạy trên đường bằng, tốc độ xe chạy đi nhanh, giữa các anh với con đường dường như không còn khoảng cách, chính vì thế, các anh mới có cảm giác con đường đang chạy thẳng vào tim. + Vẻ đẹp hào hoa, kiêu bạc, lãng mạn và yêu đời của những người trẻ tuổi. Tất cả là hiện thực nhưng qua cảm nhận của nhà thơ đã trở thành những hình ảnh lãng mạn. 3. Tổng kết - Nhận định khái quát về hình tượng người lính trong hai khổ thơ. - Nêu cảm nhận suy nghĩ của bản thân về thế hệ thanh niên thời kháng chiến chống Mĩ.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO 10 NĂM 2018 - 2019 QUẢNG BÌNH I. ĐỌC HIỂU (3,0 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Học vẫn chỉ là một phần trong quá trình học hỏi mà thôi. Thông qua học hỏi, bạn sẽ đạt được nhiều thứ hơn: hình thành tính cách, mở mang trí tuệ, học cách tôn trọng người khác và khiêm tốn hơn, bởi vì càng học hỏi bạn càng hiểu rằng kho tàng kiến thức là vô tận. Và bạn có thể học hỏi nhiều thứ từ mọi người chung quanh, từ mỗi trải nghiệm, hay những khó khăn, giông tố trong đời. (Theo Cho đi là còn mãi, Azim Jamal & Harvey McKinnon, biên dịch: Huế Phượng, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017, tr.67-68) Câu 1: (0,5 điểm) Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2: (1,0 điểm) Tìm một phép liên kết câu, xác định từ ngữ thực hiện phép liên kết ấy được sử dụng trong đoạn trích. Câu 3: (1,5 điểm) Trong đoạn trích trên, em hãy chọn một ý kiến và lí giải vì sao em đồng ý hoặc không đồng ý với ý kiến đó. II. LÀM VĂN (7.0 ĐIỂM) Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (từ 7 đến 10 câu) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của việc không ngừng học hỏi. Câu 2: (5,0 điểm) NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới. Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng... Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặc là mặt trời nung nóng. Chị Thao thổi còi. Như thế là đã hai mươi phút qua. Tôi cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi. Dây mìn dài, cong, mềm. Tôi khỏa đất rồi chạy lại chỗ ẩn nấp của mình. Hồi còi thứ hai của chị Thao. Tôi nép người vào bức tường đất, nhìn đồng hồ. Không có gió. Tim tôi cũng đập không rõ. Dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc kim đồng hồ. Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu. Còn đằng kia, lửa đang chui bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom. Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. Tôi có nghĩ tới cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính: liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai? Tôi nghĩ thế, nghĩ thêm: đứng cẩn thận, mảnh bom ghim vào cánh tay thì khá phiền. Và mồ hôi thấm vào môi tôi, mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng. Nhưng quả bom nổ. Một thứ tiếng kì quái đến váng óc. Ngực tôi nhói, mắt cay mãi mới mở ra được. Mùi thuốc bom buồn nôn. Ba tiếng nổ nữa tiếp theo. Đất rơi lộp bộp, tan đi âm thầm trong những bụi cây. Mảnh bom xẻ không khí, lao và rít vô hình trên đầu. (Những ngôi sao xa xôi Lê Minh Khuê, theo Ngữ văn 9, tập hai, NXB GDVN, 2017, tr. 117-118) Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong đoạn trích trên. Từ đó lí giải ngắn gọn vì sao chuyện kể về những
cô gái thanh niên xung phong được đặt tên là Những ngôi sao xa xôi. GỢI Ý GIẢI ĐỀ I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận. Câu 2: - Phép liên kết câu là phép lặp ở Câu 1 và 2: từ ngữ lặp “học hỏi”. - Phép nối ở Câu 3, 4 với từ “và”. Tác dụng: Nhằm liên kết các câu trong đoạn văn với nhau. Câu 3: Các em có thể lựa chọn các ý sau để phân tích: - Học vẫn chỉ là một phần trong quá trình học hỏi mà thôi. - Thông qua học hỏi, bạn sẽ đạt được nhiều thứ hơn: hình thành tính cách, mở mang trí tuệ, học cách tôn trọng người khác và khiêm tốn hơn. - Càng học hỏi bạn càng hiểu rằng kho tàng kiến thức là vô tận. - Học hỏi nhiều thứ từ mọi người chung quanh, từ mỗi trải nghiệm, hay những khó khăn, giông tố trong đời. II. LÀM VĂN Câu 1: Có thể tham khảo những ý sau đây về ý nghĩa của việc không ngừng học hỏi: - Học hỏi là gì? Học hỏi là quá trình bạn tìm kiếm, khám phá những tri thức mới, đặt ra những thắc mắc và tìm sự hỗ trợ hoặc tự mình tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc ấy. Không ngừng học hỏi là con đường dẫn đến thành công. - Tại sao lại cần phải học hỏi? + Học tập sẽ chuẩn bị hành trang thay đổi cuộc đời. + Học hỏi giúp xây nên thứ vũ khí hủy diệt. + Là cách để ta luôn luôn theo kịp được với thời đại. + Học hỏi để nâng cao hình tượng trong mắt người khác. + Học hỏi giúp ta liên hệ đến nhiều thứ, từ đó biết thêm nhiều điều khác nữa. - Ý nghĩa của việc học hỏi: + Mở rộng hiểu biết bản thân, giúp bạn tự tin về mọi mặt trong cuộc sống. + Học hỏi sẽ giúp tâm hồn rộng mở, bắt kịp xu thế của thời đại. + Dễ dàng đạt được sự thành công. - Nếu không học hỏi, nâng cao bản thân, con người sẽ tụt hậu. Mỗi cá nhân tụt hậu sẽ kéo theo sự thoái hóa về nhiều mặt trong xã hội. - Các nguồn để học hỏi: sách vở, từ những người thân, bạn bè, thầy cô, từ trải nghiệm của cá nhân mình. - Phê phán những người lười biếng, tự cao, tự mãn với bản thân. - Liên hệ bản thân: Em đã không ngừng học hỏi hay chưa? Hãy chia sẻ đôi điều về bản thân mình trong chủ đề trên? Phương pháp phân tích, tổng hợp. Tóm tại, học hỏi là quá trình giúp bạn hiểu biết nhiều hơn về cuộc đời, và nhờ học hỏi, bạn sẽ hiểu rõ được bản chất ở những vấn đề mà bạn tiếp cận, rút ra được đâu là điều nên làm, đâu là điều không nên làm, điều nào là tốt, điều nào là xấu,... Câu 2: 1. Giới thiệu chung - Lê Minh Khuê là một nhà văn với nhiều truyện ngắn nổi tiếng. - Những ngôi sao xa xôi là một trong nhũng truyện ngắn nổi tiếng của bà. - Đoạn trích trên là một phần của câu chuyện kể về một lần làm nhiệm vụ của nhân vật Phương Định. 2. Cảm nhận
2.1. Giới thiệu chung về nhân vật Phương Định - Cô là một cô gái thành phố nhưng mong muốn mặc quân phục vì cho đó là bộ đồ đẹp nhất. - Cô thuộc rất nhiều bài hát và hay hát. - Cô rất hay mơ mộng và nghĩ vẩn vơ. 2.2. Cảnh nhân vật Phương Định phá bom - Khung cảnh hiện thực ở chiến trường: + Vắng lặng, xơ xác, khói đen vật vờ. + Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng... + Đất rắn, những tiếng động đến gai người. + Quả bom nóng dần lên. + Đất rơi lộp bộp, tan đi âm thầm trong những bụi cây. Mảnh bom xẻ không khí, lao và rít vô hình trên đầu. Không khí chiến trường ác liệt, nguy hiểm rình rập, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. - Hành động và thái độ của Phương Định khi làm nhiệm vụ: + Không sợ hãi, không đi khom, đàng hoàng bước tới chủ động đối mặt với hiểm nguy. + Hành động nhanh gọn, thành thục, coi công việc nguy hiểm vất vả là bình thường. + Dũng cảm, không sợ chết, sẵn sàng hi sinh để hoàn thành nhiệm vụ Là một người dũng cảm, có tinh thần trách nhiệm cao với công việc. Cô là hiện thân cho thế hệ thanh niên thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. 2.3. Lí giải nhan đề - Gợi nhớ đến hình ảnh những ngôi sao lớn trên bầu trời thành phố quê hương mà Phương Định - nhân vật chính trong truyện - thường hay nhớ lại. Hình ảnh ấy gắn liền với những kỉ niệm êm đềm tuổi ấu thơ bên gia đình, bên người thân. Điều đó cho thấy dù trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, những cô gái thanh niên xung phong vẫn giữ được nét hồn nhiên, trong sáng, mơ mộng. - Là biểu tượng cho vẻ đẹp anh hùng của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn (Nho, chị Thao, Phương Định) ở họ luôn có những phẩm chất tốt đẹp và sức tỏa sáng kì diệu. Ánh sáng ấy không phô trương mà phải chịu khó tìm hiểu ta mới cảm nhận được vẻ đẹp diệu kì đó. Các chị xứng đáng là những ngôi sáng lấp lánh trên đỉnh Trường Sơn. Những ngôi sao xa xôi còn là phương tiện để nhà văn thể hiện tình cảm của mình dành cho những chiến sĩ đang tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ. 3. Tổng kết
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO 10 NĂM 2018-2019 TỈNH QUẢNG NINH Câu 1: (2,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới: ... Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẽ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ ... (Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.143) a. Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai? b. Trong các từ nhóm trên, từ nào được dùng với nghĩa gốc, từ nào được dùng với nghĩa chuyển? Giải thích nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhóm trong đoạn thơ. c. Nêu hiệu quả nghệ thuật của điệp từ nhóm trong đoạn thơ trên. Câu 2: (3,0 điểm) Hãy viết một đoạn văn theo phép lập luận diễn dịch từ 12 đến 15 câu trình bày suy nghĩ của em về lối sống giản dị, trong đó có sử dụng một phép liên kết (gạch chân dưới phương tiện liên kết và gọi tên phép liên kết được sử dụng). Câu 3: (5,0 điểm) Về truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của tác giả Nguyễn Thành Long có ý kiến cho rằng: Truyện đã khắc hoạ thành công hình ảnh những con người lao động bình thường mà cao đẹp. - Hãy phân tích nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích Lặng lẽ Sa Pa (Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr. 180) để làm sáng tỏ ý kiến trên. GỢI Ý GIẢI ĐỀ Câu 1: a. Đoạn thơ trên được trích trong tác phẩm Bếp lửa của tác giả Bằng Việt. b. - Từ “nhóm” trong hai câu thơ “Nhóm bếp lửa...” và “Nhóm nồi xôi...” được dùng theo nghĩa gốc: chỉ hành động cho lửa bén vào làm chất đốt (củi, rơm...) cháy lên để nấu nướng hoặc sưởi ấm. - Từ “nhóm” trong hai câu thơ “Nhóm niềm yêu thương...” và “Nhóm dậy cả...” được dùng theo nghĩa chuyển - chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ: có nghĩa là khơi dậy hay gợi lên niềm yêu thương, những ký ức đẹp của tuổi thơ có giá trị trong cuộc đời con người. b. Điệp từ “Nhóm” diễn tả những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời bà: + Bà là người nhóm lửa cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong mỗi gia đình. + Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm lên niềm yêu thương, niềm vui, niềm tin trong lòng người cháu. Ngoài ra, nó còn nhấn mạnh, khẳng định giá trị lớn lao của những việc bà đã làm: từ việc nhóm bếp - bà đã khơi dậy tình yêu thương, sự sống, niềm tin cho cháu và cho mọi người. Câu 2: Ý nghĩa của lối sống giản dị - “Lối sống giản dị” chính là một lối sống đơn giản, không quá cầu kỳ, phức tạp, cũng như không bao giờ khoa trương hay sống xa hoa. - Lối sống giản dị không phải chỉ thể hiện qua lời nói, cách ăn mặc, việc làm mà còn thể hiện qua suy nghĩ và hành động của mọi người trong cuộc sống cũng như trong các hoàn cảnh. Đây là một đức tính vô cùng tốt đẹp, không cầu kỳ phô trương. Qua đó các em hãy trình bày suy nghĩ của mình và sử dụng các phép liên kết như phép lặp, phép thế, phép liên tưởng, phép nghịch đối, phép nối... Câu 3: Dàn ý tham khảo I. Mở bài Vài lời giới thiệu để tác giả, tác phẩm và nhân vật anh thanh niên.
- Nguyễn Thành Long là nhà văn quê ở Quảng Nam, ông đã có nhiều đóng góp cho nền văn học hiện đại Việt Nam ở thể loại truyện ngắn và kí. ông thường đi nhiều nơi nên có một vốn sống vô cùng phong phú. - Lặng lẽ Sa Pa truyện của tác giả Nguyễn Thành Long lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế ở Lào Cai và nhân vật anh thanh niên đang làm nhiệm vụ khí tượng chính là hình ảnh trung tâm, ca ngợi những đóng góp thầm lặng của những người lao động trong công cuộc xây dựng đất nước. II. Thân bài Hình ảnh xuất hiện anh thanh niên. Xuất hiện trong cuộc gặp gỡ với 3 người đó là anh lái xe, ông họa sĩ và một cô gái trẻ. Đồng thời anh còn để lại nhiều ấn tượng với ông họa sĩ và các nhân vật khác. Công việc thực hiện: - Anh sống trên núi cao, thực hiện công việc trên trạm khí tượng. Cuộc sống thiếu thốn, khổ cực. - Công việc thực hiện trong điều kiện thời tiết khó khăn, thử thách với mưa sương gió lạnh. - Anh có những suy nghĩ đẹp về ý nghĩa của cuộc sống, công việc mà mình đang thực hiện. - Công việc là niềm đam mê, công việc của anh dù thầm lặng ít người biết đến nhưng anh vẫn rất yêu công việc. Phong cách sống đẹp: - Tâm hồn anh thanh niên luôn yêu đời, yêu con người, khiêm tốn với người khác: + Yêu con người, yêu thiên nhiên, quý trọng tình cảm của con người với con người. + Trung thực với công việc (tự giác tự nguyện với công việc, hoàn thành nhiệm vụ được giao phó), đức tính khiêm nhường. - Chủ động trong công việc thực hiện, lối sống khoa học, nề nếp. Anh thanh niên là đại diện cho người lao động - Anh thanh niên là đại diện chung cho những người lao động nhiệt huyết, sống đẹp, cống hiến vì Tổ quốc một cách thầm lặng, vô tư. - Là đại diện cho những con người khiến tốn, giản dị, trung thực, âm thầm thực hiện công việc nhiệm vụ được giao. III. Kết bài Nêu cảm nhận của em hình tượng anh thanh niên. Trong truyện Lặng lẽ Sa Pa tác giả đã ca ngợi những con người như anh thanh niên với nhân cách và tâm hồn, lí tưởng sống rất đẹp, sống cống hiến âm thầm không đòi hỏi tư lợi và đó cũng chính là thành công của tác giả Nguyễn Thành Long khi phác họa thành công hình ảnh những người lao động bình thường mà cao đẹp.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO 10 NĂM 2018-2019 TỈNH SƠN LA Câu 1: (2,0 điểm) a. Kể tên các thành phần biệt lập. b. Chỉ ra thành phần biệt lập trong các câu sau và cho biết tên gọi của mỗi thành phần biệt lập đó. (1) Vâng, cháu cũng đã nghĩ như cụ. (Tắt đèn, Ngô Tất Tố) (2) Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. (Viếng lăng Bác, Viễn Phương) Câu 2: (3,0 điểm) Em hãy viết một đoạn văn nghị luận từ 10 đến 15 câu trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống con người. Câu 3: (5,0 điểm) Cảm nhận về tình cha con của ông Sáu và bé Thu trong đoạn trích sau: Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao. - Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói, Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: - Ba... a... a... ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa. Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con: - Ba đi rồi ba về với con. - Không! - Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run. (Trích Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.198-199) GỢI Ý GIẢI ĐỀ Câu 1: a) - Thành phần tình thái - Thành phần cảm thán - Thành phần phụ chú - Thành phần gọi đáp
b) (1) - Thành phần biệt lập: Vâng (thành phần gọi đáp) (2) - Thành phần biệt lập: Ôi (thành phần cảm thán) Câu 2: * Giải thích vấn đề - Tình yêu thương là sự sẻ chia, đồng cảm, quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh mình ở cả phương diện vật chất, tinh thần bằng tấm lòng chân thành nhất. Tình yêu thương có sức mạnh to lớn trong cuộc đời mỗi con người. * Phân tích vấn đề - Tình yêu thương đôi khi chỉ là những cử chỉ, hành động hết sức nhỏ bé: một cái ôm, một lời động viên, một ánh nhìn trìu mến,... - Ý nghĩa của tình yêu thương đối với con người: + Tình yêu thương đem lại cho ta sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. + Giúp đỡ được những người xung quanh sẽ đem lại cho chính bản thân niềm vui, sự hạnh phúc. + Trong cuộc đời, không phải lúc nào ta cũng suôn sẻ, giúp đỡ người khác lúc này, lúc khác bạn sẽ được giúp đỡ lại. - Tình yêu thương xuất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống: Chứng minh bằng một số ví dụ mà em đã gặp trong cuộc sống. - Phê phán những kẻ vô tâm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác. - Liên hệ với bản thân em: Tình yêu dành cho bố mẹ, những người thân, tình yêu thương thầy cô, bạn bè... Câu 3: Tham khảo dàn ý sau: Các em cần đạt được những ý chính trong bài như sau: 1. Mở bài Giới thiệu chung tác giả tác phẩm và trích dẫn đoạn trích: - Nguyễn Quang Sáng (1932 - 2014): là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ nên các sáng tác của ông hầu như chỉ xoay quanh cuộc sống con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình. - “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Được in trong tập truyện cùng tên. - Trích dẫn và khái quát nội dung đoạn trích: cảnh chia tay của hai cha con ông Sáu 2. Thân bài - Giới thiệu về hoàn cảnh của cha con ông Sáu. - Khái quát về cuộc chia tay của hai cha con ông Sáu. - Phân tích. a. Tình yêu thương của ông Sáu với con - Khi chia tay, ông bộc lộ tình yêu con sâu nặng: + Anh không dám lại gần con, chỉ nhìn con bằng ánh mắt trìu mến, buồn rầu. Ánh mắt cho thấy nỗi xót xa, cả sự yếu đuối của 1 người lính trước tình cảm gia đình. + Giọt nước mắt mà ông cố giấu, lời hứa trở về cùng chiếc lược ngà cho con đã gói trọn tình cảm yêu thương, gắn bó sâu sắc, mãnh liệt mà ông dành cho con. Tình yêu con của ông Sáu đã chiến thắng mọi khoảng cách của sự biệt li. Tình cảm ấy luôn vẹn nguyên, ấm áp và tràn đầy. b. Tình yêu thương bé Thu dành cho ông Sáu - Tuy nhiên khi được nghe bà ngoại giải thích, anh Sáu không giống trong bức ảnh thì bé Thu hiểu ra mình đã sai. Thu đã rất ân hận về hành động của mình.
- Phản ứng không nhận anh Sáu quyết liệt bao nhiêu thì khi nhận ra cha tình cảm ấy lại càng sâu nặng bấy nhiêu. Trong giờ phút cuối cùng trước khi cha đi, tình cảm dồn nén bấy lâu nay bùng lên thật mãnh liệt, mạnh mẽ. - Nó thét tiếng “Ba” xé ruột, xé gan. Đó là tiếng “ba” nó mong chờ bấy lâu nay, tiếng gọi ấy khiến ông Sáu rơi lệ. - Rồi nó nhảy tót lên ôm chặt lấy ông Sáu, hôn vào tóc, vai, mặt, mũi và cả vết thẹo dài trên mặt ông. Chân nó quắp chặt lấy ba, như thể không muốn cho ông rời đi. Tính cách nhân vật bé Thu: Tình cảm mạnh mẽ sâu sắc nhưng cũng rất dứt khoát, rạch rồi. Có nét cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng vẫn là đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ. Tất cả những hành động ấy cho thấy Thu yêu thương ba vô cùng, một tình yêu mãnh liệt, chân thành, thắm thiết. Tình yêu đó được bộc lộ một cách cảm động qua hoàn cảnh éo le của chiến tranh. c. Đặc sắc nghệ thuật - Ngôn ngữ giản dị, đậm chất Nam Bộ. - Miêu tả tâm lí và xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc: Từ chỗ Thu ngạc nhiên hoảng sợ đến lạnh lùng, cuối cùng là sự bùng nổ những yêu thương do bị dồn nén. Thể hiện được điều đó chứng tỏ tác giả am hiểu tâm lý trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ. - Tình huống bất ngờ hợp lí, đã bộc lộ tình yêu thương tha thiết bé Thu dành cho ba của mình. 3. Kết luận Tác phẩm đã thể hiện một cách chân thực và cảm động tình cảm yêu thương sâu nặng của hai cha con trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018 - 2019 TỈNH TÂY NINH I. ĐỌC HIỂU (3,0 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 3: ... Ông lại muốn về làng, lại muốn cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá... (1) Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? (2) Những đường hầm bí mật chắc còn là còn khướt lắm. (3)... (Trích Làng - Kim Lân, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, tr.63) Câu 1: (1,0 điểm) Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích. Câu 2: (1,0 điểm) Gọi tên, chỉ ra một biện pháp tu từ và nêu hiệu quả diễn đạt của biện pháp tu từ đó trong câu sau: “ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá...” Câu 3: (1,0 điểm) Trong đoạn trích trên, câu nào là lời trần thuật của tác giả? Câu nào là lời độc thoại nội tâm của nhân vật? Nêu tác dụng của lời độc thoại nội tâm trong việc biểu đạt nội dung. II. PHẦN TẬP LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM) Câu 1: (3,0 điểm) Em hãy viết một bài văn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về tính dũng cảm. Câu 2: (4,0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau đây để làm nổi bật những cơ sở tạo nên tình đồng chí cao đẹp: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Đồng chí! (Trích Đồng chí - Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, tr.128) GỢI Ý GIẢI ĐỀ I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: Đoạn trích sử dụng phương thức tự sự và biểu cảm. Câu 2: - Biện pháp tu từ được sử dụng: liệt kê. - Tác dụng: nói lên ước muốn của ông Hai, mong được về làng để cùng anh em đồng chí tham gia công cuộc kháng chiến mà trước khi đi tản cư ông vẫn hay làm. Câu 3: - Trong đoạn trích trên, câu (1) là câu trần thuật của tác giả. Câu (2) và câu (3) là lời độc thoại nội tâm của nhân vật. - Tác dụng của lời độc thoại nội tâm trong việc biểu đạt nội dung là: thể hiện nỗi nhớ làng của ông Hai khi ông phải đi tản cư. Ông mong muốn được trở về làng để tham gia kháng chiến. Tình yêu làng của ông Hai cũng là một biểu hiện của tình yêu đất nước cao đẹp. II. PHẦN TẬP LÀM VĂN Câu 1: 1. Giải thích - Lòng dũng cảm là một đức tính tốt, thể hiện sự mạnh mẽ, tự tin của con người trong cuộc sống; không sợ khó khăn, nguy hiểm. - Người có lòng dũng cảm là người thực hiện được những hành động hào hiệp trong những trường hợp có vấn đề cần giải quyết, chứng tỏ được phẩm giá của mình và cứu giúp được người khác. 2. Bàn luận a. Vai trò, biểu hiện của lòng dũng cảm trong đời sống
- Lòng dũng cảm giúp chúng ta có sức mạnh vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. - Giúp chúng ta có thể bảo vệ người khác, đứng về phía lẽ phải, chân lí. Trong chiến tranh, lòng dũng cảm biến thành sức mạnh để mỗi con người sẵn sàng hi sinh bảo vệ tổ quốc. Khi đất nước có thiên tai (lũ lụt, hỏa hoạn...), lòng dũng cảm giúp ta đương đầu và vượt qua những tai ương đó. - Lòng dũng cảm giúp con người chiến thắng chính mình trước những cám dỗ, cạm bẫy của cuộc sống, biết xin lỗi khi làm ai bị tổn thương, biết công nhận những điểm yếu, sai lầm của mình để sửa chữa. - Dẫn chứng: + Trong đời sống + Trong văn học b. Ý nghĩa của lòng dũng cảm - Lòng dũng cảm cho ta niềm tin để vươn lên hoàn thiện mình và thực hiện những ước mơ trong cuộc sống. - Lòng dũng cảm cho ta sức mạnh để có thể bảo vệ được người khác, bảo vệ chân lí và bảo vệ Tổ quốc. - Lòng dũng cảm là phẩm chất tạo nên một người anh hùng. c. Mở rộng, phản đề - Trái với lòng dũng cảm là hèn nhát. - Cần phân biệt dũng cảm và liều lĩnh. 3. Bài học nhận thức Câu 2: 1. Giới thiệu chung - Tác giả, tác phẩm. - Trích đoạn thơ. 2. Phân tích - Tình đồng chí của những người lính cách mạng được hình thành trên những đặc điểm chung. *Chung hoàn cảnh xuất thân - Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ. Họ như đang tâm sự cùng nhau. Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình. “Quê anh” và “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi “nước mặn đồng chua” - vùng đồng bằng ven biển, là xứ sở của “đất cày lên sỏi đá” - vùng đồi núi trung du. - Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của những người chiến sĩ. Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân dã đúng như con người vậy - những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lần đầu mặc áo lính lên đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính là cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí. * Chung mục đích, lí tưởng - Năm câu thơ tiếp nói lên một quá trình thương mến: từ chỗ “đôi người xa lạ” rồi thành “đôi tri kỉ” để kết thành “đồng chí”. Câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, cảm xúc thơ như dồn tụ, nén chặt lại. Những ngày đầu, đứng dưới lá quân kì, những chàng trai ấy còn là “đôi người xa lạ”, mỗi người một phương trời “chẳng hẹn quen nhau”. Nhưng rồi cùng với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng biết bao kỉ niệm: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. - “Súng bên súng” là cách nói hàm súc, giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung lí tưởng chiến đấu. Họ cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc - “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. - Hình ảnh “đầu sát bên đầu” lại diễn tả sự đồng ý, đồng tâm, đồng lòng của hai con người đó. Câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” lại là câu thơ ắp đầy kỉ niệm về một thời gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”. - Hai tiếng “Đồng chí!” diễn tả niềm tự hào, xúc động, cứ ngân vang lên mãi. Xúc động bởi đó là biểu hiện cao nhất của một tình bạn thắm thiết, đẹp đẽ. Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của những
con người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng một lí tưởng, ước mơ. - Tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giản dị, nhưng rất chân xác: “bên”, “sát”, “chung”, “thành” đã thể hiện được sự gắn bó tha thiết của mối tình tri kỉ, của tình cảm đồng chí. Cái tấm chăn mỏng, hẹp mà ấm nóng tình đồng đội ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính không bao giờ quên.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2018-2019 TỈNH THÁI BÌNH I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: Mỉm cười là một trạng thái tinh thần đặc biệt. Khác với bản thân cái cười. Cái cười cần và phải có đối tượng rõ ràng. Không có người ta bảo mình “có vấn đề rồi”. Mỉm cười đến từ xa xôi, xa xôi đến mức có vẻ như mỉm cười là tự thân. Mỉm cười là trạng thái trong lành, thân thiện dang tay vui đón vũ trụ, hoà vui cuộc đời. Như tia nắng xuân mềm mại, mỏng manh, rụt rè, vô tư lự hé chào khu vườn cuối đông. [...]Thật là vui khi nhìn thấy cái mỉm cười ở trong cái cười của ai đó, của những người bạn của mình. Chúc mỗi bạn bè ta, mỗi sáng trước khi ra cửa, mỉm cười. (Theo Hoàng Hồng Minh, Lòng người mênh mang, NXB Văn hóa thông tin, 2014) Câu 1: (1,0 điểm) Kể tên 02 phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2: (0,5 điểm) Chỉ ra phép liên kết giữa hai câu văn sau: “xa xôi đến mức có vẻ như mỉm cười là tự thân. Mỉm cười là trạng thái trong lành, thân thiện dang tay vui đón vũ trụ, hoà vui cuộc đời”. Câu 3: (0,5 điểm) Theo tác giả, tại sao “mỉm cười” khác với “cái cười”? Câu 4: (1,0 điểm) “Chúc bạn bè ta mỗi sáng trước khi ra cửa, mỉm cười”. Câu nói trên cho em lời khuyên gì về thái độ sống? II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM) Câu 1: (3,0 điểm) Cần tôn trọng sự riêng tư của người khác. Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 300 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về ý kiến trên. Câu 2: (4,0 điểm) Cảm nhận về hình ảnh con người Việt Nam trong hai đoạn thơ sau: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng (Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến. (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9 Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam 2017) GỢI Ý GIẢI ĐỀ I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: Hai phương thức biểu đạt chính là thuyết minh và nghị luận. Câu 2: Phương pháp liên kết: phép lặp (“mỉm cười”). Câu 3: Theo tác giả thì mỉm cười khác với cái cười vì: - Mỉm cười “là một trạng thái tinh thần đặc biệt” và “nó đến từ xa xôi, xa xôi đến mức có vẻ như mỉm cười là tự thân” - một phản xạ tự nhiên của con người. - Còn cái cười lại cần phải có đối tượng rõ ràng cụ thể hay cái cười xảy ra khi có tác động của sự vật sự việc quanh ta. Câu 4: “Chúc bạn bè ta, mỗi sáng trước khi ra cửa, mỉm cười” mang đến cho ta thông điệp: Hãy đón ngày mới bằng niềm vui, niềm tin và hạnh phúc, mỉm cười để bắt đầu một ngày thật tốt đẹp hơn.
II: PHẦN LÀM VĂN Câu 1: - Giải thích: “Sự riêng tư” của người khác là những điều mình không thể xâm phạm. Đó có thể là những vật dụng cá nhân hằng ngày, những đoạn tin nhắn, những lá thư hay những câu chuyện, suy nghĩ, kỉ niệm... liên quan trực tiếp đến đời sống mỗi người. - Trong cuộc sống, chúng ta cần tôn trọng sự riêng tư của người khác vì: đó là biểu hiện của cách ứng xử có văn hóa; khiến cho mọi người tin tưởng lẫn nhau; làm cho xã hội văn minh, tiến bộ... - Biểu hiện: tôn trọng không gian, tài sản riêng tư, bí mật của người khác; không xâm phạm đến đời sống cá nhân của mọi người; không tùy tiện chia sẻ, công khai, nhận xét thông tin cá nhân khi chưa có sự cho phép... - Cần phê phán những hành vi xâm phạm sự riêng tư, gây ra những tổn hại cho người khác. -Tôn trọng sự riêng tư không đồng nghĩa với thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm với mọi người. - Liên hệ bản thân. Câu 2: 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, khái quát giá trị của đoạn thơ - Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá: + Huy Cận là bút danh, họ tên là Cù Huy Cận. Thơ của ông dào dạt niềm vui, nhất là khi ông nói về cuộc sống mới, con người mới. + Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được Huy Cận viết năm 1958. Bài thơ miêu tả đoàn thuyền ra khơi đánh cá một đêm trăng tròn Hạ Long, qua đó ca ngợi biển quê hương giàu đẹp, người dân chài làm chủ cuộc đời, hăng say lao động, xây dựng cuộc sống mới ấm no hạnh phúc. - Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ: + Nhà thơ Thanh Hải (1930 - 1980) là bút danh của Phạm Bá Ngoãn, ông là người có công lớn thắp sáng ngọn lửa thi ca cách mạng trong lòng miền Nam. Thơ của Thanh Hải có ngôn ngữ trong sáng, giàu âm điệu nhạc điệu, cảm xúc thiết tha, chân thành và lắng đọng. + Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được Thanh Hải viết vào tháng 11 năm 1980, khi còn nằm trên giường bệnh, một tháng trước lúc qua đời. Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp và khí thế của đất nước vào xuân, thể hiện khát vọng và tình yêu thiết tha được trọn đời hiến dâng cho quê hương đất nước. + Nhận xét: Cả hai bài thơ đều miêu tả vẻ đẹp của con người Việt Nam đặc biệt là hai đoạn thơ sau (trích dẫn thơ). 2. Hình ảnh con người Việt Nam qua các đoạn trích thơ 2.1. Hình ảnh con người Việt Nam trong đoạn trích thuộc bài thơ Đoàn thuyền đánh cá - Con người hiện ra trong công việc lao động, giữa không gian rộng lớn của trời biển, trăng sao... - Niềm vui phơi phới, khỏe khoắn của người lao động làm chủ công việc, muốn hòa hợp với thiên nhiên và chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình... - Nghệ thuật: hình ảnh bay bổng, giàu màu sắc lãng mạn, giọng điệu sôi nổi, khỏe khoắn, thủ pháp phóng đại, nâng cao tầm vóc và vị thế con người... 2.2. Hình ảnh con người Việt Nam trong đoạn trích thuộc bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Con người hiện ra với những suy ngẫm, tâm niệm trước mùa xuân đất nước. - Khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp dù nhỏ bé của mình cho cuộc đời chung. - Nghệ thuật: thể thơ năm chữ, hình ảnh giản dị, giàu ý nghĩa biểu tượng, giọng điệu trầm lắng, thiết tha... 3. Những điểm tương đồng và khác biệt * Điểm tương đồng Hai khổ thơ đều khắc họa hình ảnh con người Việt Nam bình dị với những khát vọng cao đẹp, nhân văn. * Điểm khác biệt - Đoạn thơ trong bài Đoàn thuyền đánh cá vẽ nên hình ảnh những con người lao động với khát vọng chinh
phục thiên nhiên. Bởi thế, hình ảnh thơ kì vĩ, lớn lao, mang tầm vóc vũ trụ. - Đoạn thơ trong bài Mùa xuân nho nhỏ thể hiện tâm thế của một con người cá nhân với khát vọng cống hiến cho cuộc đời. Hình ảnh thơ giản dị mà hàm súc, ý nghĩa.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018-2019 TỈNH THÁI NGUYÊN I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,... như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Ban đêm, trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác điều đang trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng. Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi, mang theo nỗi khát khao của tôi. (Cánh diều tuổi thơ- Tạ Duy Anh, Tiếng Việt 4, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) Câu 1: (0,5 điểm) Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản. Câu 2: (0,5 điểm) Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều? Câu 3: (1,0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ. Câu 4: (1,0 điểm) Theo em, tác giả muốn nói điều gì qua hình ảnh cánh diều? Trả lời trong khoảng 3 đến 5 dòng. II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 đến 20 dòng) trình bày suy nghĩ về vai trò của khát vọng trong cuộc sống. Câu 2: (5,0 điểm) Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. (Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về (Trích Sang thu - Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) GỢI Ý GIẢI ĐỀ I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Miêu tả Câu 2: Chi tiết tả cánh diều: - Mềm mại như cánh bướm - Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. - Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,... như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Câu 3: Biện pháp tu từ: So sánh. Giúp diễn tả hình ảnh bầu trời ban đêm đẹp mềm mại, mịn màng tựa như một thảm nhung.
Câu 4: - Đầu tiên chắc chắn phải kể đến cánh diều tuổi thơ với bao kỉ niệm, kí ức tươi đẹp sẽ theo tác giả tới suốt cuộc đời. - Mặt khác, thông qua hình ảnh cánh diều tác giả muốn nói đến khát vọng của cuộc sống. - Thể hiện ở câu: “hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi, mang theo nỗi khát khao của tôi. Con người chúng ta sống trong cuộc đời cũng cần có một khát vọng sống, lý tưởng sống cho riêng mình. Khát vọng sống như cánh diều bay trên bầu trời rộng lớn, thỏa sức mình, nỗ lực chiến đấu cho cuộc đời chúng ta. II. PHẦN LÀM VĂN Câu 1: - Khát vọng trong cuộc sống chính là mong muốn khát khao được sống được cống hiến hết mình cho cuộc đời. Những người có khát vọng chính là những người sẽ không bao giờ từ bỏ ước mơ của mình dù cho có khó khăn đến nhường nào. Chỉ còn một tia hi vọng cũng sẽ nỗ lực cố gắng chiến đấu đến cùng cho khát vọng sống ấy. - Khát vọng trong cuộc sống sống chính là những lúc như vậy chúng ta lại tìm được động lực của cuộc sống, động lực để tiếp tục chiến đấu với giông bão ngoài kia. Nếu chúng ta có niềm tin, có khát vọng thì không có gì có thể đánh gục chúng ta, niềm tin chính là thứ vũ khí sắc bén nhất giúp chúng ta vượt qua được khó khản. Khó khăn, thất bại, những điều này không đáng sự bằng việc đánh mất khát vọng sống. - Em hãy liên hệ với chính bản thân mình về những mong ước, khát khao của em trong tương lai. Câu 2: 1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm * Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ: - Tác giả: + Là một nhà thơ cách mạng, sự nghiệp thơ văn của ông gắn với hai cuộc kháng chiến của dân tộc. + Thanh Hải để lại một số lượng tác phẩm không nhiều nhưng vẫn tạo được dấu ấn riêng nhờ vẻ đẹp bình dị, trong sáng, ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, cảm xúc chân thành, đằm thắm. - Tác phẩm: Bài thơ được viết vào tháng 11 năm 1980 - thời điểm Thanh Hải ốm nặng và chỉ mấy tuần lễ sau ông qua đời. * Bài thơ Sang thu: - Tác giả: + Là nhà thơ chiến sĩ, trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Ông từng cầm súng chiến đấu trong chiến trường miền Nam. + Sáng tác của ông cuốn hút người đọc nhờ cảm xúc tinh tế, ngòi bút giàu chất lãng mạn và lối viết giản dị, giàu sức gợi. - Tác phẩm: Sáng tác năm 1977, được in lại nhiều lần trong các tập thơ mà gần đây nhất là tập Từ chiến hào đến thành phố (1991). Hai bài thơ đã thể hiện những cảm nhận tinh tế của các tác giả về sự chuyển giao giữa các mùa, và qua mỗi bài thơ đều thể hiện những suy tư, chiêm nghiệm của họ về con người, về cuộc đời. 2. Cảm nhận a. Cảm nhận khổ đầu bài Mùa xuân nho nhỏ - Bài thơ được mở ra bằng khung cảnh thiên nhiên tươi sáng và tràn đầy sức sống: + Cấu trúc đảo ngữ ở câu thơ 1, 2 gợi sức sống mạnh mẽ đến bất ngờ, khiến bông hoa như có cội rễ, tràn đầy sức xuân, sắc xuân. + Các hình ảnh “dòng sông”, “bông hoa”, “bầu trời”, “chim chiền chiện” thật bình dị và gợi cảm, đã tái
hiện một không gian cao rộng của mùa xuân với những hình ảnh đặc trưng của xứ Huế. + Màu sắc: “sông xanh”, “hoa tím biếc” rất hài hòa, tươi sáng. Dòng sông xanh đã trở thành cái nền cho sắc tím của hoa, làm nổi bật vẻ đẹp sống động của mùa xuân. + Âm thanh tiếng chim chiền chiện: là tín hiệu của một buổi sớm mùa xuân trong trẻo, mát lành; gợi không gian cao rộng của bầu trời tươi sáng, ấm áp của thiên nhiên. Chỉ bằng vài nét phác, tác giả đã vẽ ra khung cảnh mùa xuân tuyệt đẹp, đủ đầy hình ảnh, âm thanh, màu sắc, chứ đầy sức sống và đậm đà nét Huế. b. Cảm nhận về khổ thơ đầu bài Sang thu - Bài thơ được mở ra bằng những tín hiệu rất riêng, báo mùa thu về: + “Hương ổi”: đi liền với từ “bỗng” gợi cảm giác đột ngột, ngỡ ngàng “phả” - làn hương ngọt ngào, sánh đậm, mùi ổi chín như được cô lại, phả vào gió thu. “Hương ổi” gợi không gian nên thơ thân thuộc, yêu dấu của làng quê đất Việt với những khu vườn, lối ngõ sum suê hoa trái, làm nên hương sắc mỗi mùa; gợi hương vị riêng của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh. + “Gió se” là ngọn gió heo may mùa thu dịu nhẹ, thoáng chút se lạnh lúc thu về, giúp ta cảm nhận rõ hơn cái ngọt lành của hương ổi. + “Sương chùng chình” - nghệ thuật nhân hóa, gợi dáng vẻ, tâm trạng của làn sương thu. Làn sương lãng đãng như cố ý chậm lại, lưu luyến mùa hè, chưa muốn bước hẳn sang thu. Diễn tả một cách tài tình cái không khí se lạnh đầu thu và cả cái nhịp điệu chầm chậm của mùa thu về với đất trời. - Đối diện với những tín hiệu báo thu là cái ngỡ ngàng của lòng người: + “Hình như” là lối nói giả định, không chắc chắn, phù hợp với những biểu hiện mơ hồ lúc giao mùa những biểu hiện ấy không chỉ được cảm nhận bằng các giác quan mà còn phải cảm nhận bằng cả một tâm hồn tinh tế. + Âm điệu: là tiếng reo vui, ngỡ ngàng lúc thu sang. - Khổ thơ là những cảm nhận mới mẻ, tinh tế của tác giả lúc mùa sang. Ẩn sau những đổi thay của thiên nhiên đất trời lúc sang thu là niềm vui, niềm hạnh phúc của thi nhân. c. Điểm giống và khác nhau giữa 2 khổ thơ - Giống nhau: + Cảm nhận tinh tế của tác giả về một mùa trong năm. + Thể hiện tâm hồn nhạy cảm, khả năng khám phá và phát hiện đời sống của cả hai nhà thơ. + Ngôn từ giản dị vô cùng thân thuộc nhưng lại giàu cảm xúc. + Thể thơ 5 chữ, giàu tính nhạc. - Khác nhau: + Thanh Hải cảm nhận về mùa xuân của đất trời còn Hữu Thỉnh lại nắm bắt khoảnh khắc thời tiết chuyển giao giữa hạ sang thu. + Những đặc điểm nhận diện khác nhau: Tiêu chí
Mùa xuân nho nhỏ
Sang thu
Đối tượng
Mùa xuân
Mùa thu
Cảm nhận qua
Bông hoa, tiếng chim
Hương ổi, gió se, sương
Cảm xúc
Say sưa, nâng niu, trân trọng
Bâng khuâng, ngỡ ngàng
3. Tổng kết - Bằng những cảm nhận tinh tế của một tâm hổn nhạy cảm hai tác giả đã đem đến cho người đọc những bức tranh đẹp đẽ của mùa thu và mùa xuân. - Sử dụng ngôn từ giản dị, giàu sức biểu cảm.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018-2019 TỈNH TRÀ VINH I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan của mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ Ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “Ba” như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa. ” (Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, tr. 198) Câu 1: (1,0 điểm) Xác định phép liên kết hình thức và từ ngữ liên kết trong các câu: “Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.” Câu 2: (0,5 điểm) Câu văn “Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa” sử dụng phép tu từ gì? Câu 3: (0,5 điểm) Theo em, vì sao tác giả lại nhấn mạnh chi tiết bé Thu “hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”? Câu 4: (1,0 điểm) Em có nhận xét gì về tình cảm bé Thu đối với ông Sáu được thể hiện qua đoạn trích trên? II. PHẦN TẬP LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM) Câu 1: (2,0 điểm) Việc bày tỏ tình cảm của con cái đối với cha mẹ có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau nhưng là một việc rất cần thiết. Hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về điều đó. Câu 2: (5,0 điểm) Sách giáo khoa Ngữ văn 9 có nhận định rằng: Đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng được gợi lên qua từ ngữ, bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình của Nguyễn Du. Từ việc cảm nhận của em về đoạn thơ sau, hãy làm sáng tỏ nhận định trên: Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, tr.84,85) GỢI Ý GIẢI ĐỀ I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: 1. Phép liên kết: Lặp từ ngữ - Từ liên kết: Nó 2. Biện pháp tu từ: Liệt kê 3. Nhấn mạnh chi tiết bé Thu hôn lên vết thẹo dài trên mặt ba, vì: Bé Thu được nghe bà ngoại giảng giải, Thu
hiểu vết thẹo trên mặt ba là chứng tích tội ác của kẻ thù. Sự nghi ngờ được giải tỏa, nó cảm thấy ân hận, hối tiếc. Tình cảm dành cho cha trào dâng trong phút chia tay. Con bé cuống quýt, hối hận, ăn năn hôn lên cả vết thẹo. Với con bé, tất cả những gì thuộc về ba, nó đều yêu thương tha thiết. 4. Bé Thu là người có tình yêu thương cha tha thiết, mãnh liệt. Khi những băn khoăn được giải tỏa, tình yêu đó được bùng cháy mạnh mẽ, mãnh liệt. II. PHẦN TẬP LÀM VĂN Câu 1: * Giải thích vấn đề: Việc bày tỏ tình cảm của con cái đối với cha mẹ có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau nhưng là một việc rất cần thiết. Tầm quan trọng của việc bày tỏ tình yêu thương đối với cha mẹ. * Bàn luận vấn đề - Ý nghĩa của việc bày tỏ tình yêu thương với cha mẹ: + Để cha mẹ có thể cảm nhận được tình cảm, sự chân thành của con cái đối với bản thân. + Giúp xóa nhòa khoảng cách giữa con và cha mẹ, giúp các thành viên trong gia đình hiểu nhau hơn. + Bày tỏ tình yêu thương với cha mẹ cũng là cách thức giúp cha mẹ có thể nhanh chóng vượt qua những áp lực cuộc sống. + Bày tỏ tình yêu thương giúp gia đình sống hòa thuận và hạnh phúc hơn. - Cách thức bày tỏ tình yêu thương: + Bằng lời nói yêu thương, chân thành. + Bằng hành động thiết thực: giúp đỡ cha mẹ công việc trong gia đình, chăm ngoan học tập, thấu hiểu sự vất vả của cha mẹ,... - Nếu không bày tỏ tình yêu thương với cha mẹ sẽ ra sao? + Nếu tình yêu không được thổ lộ, cha mẹ sẽ không thể biết được tình cảm cảm xúc của con cái với mình. + Không khí gia đình luôn buồn tẻ, lạnh lẽo, thiếu hơi ấm của sự hạnh phúc. * Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân - Bên cạnh đó vẫn có những người không có tình yêu thương với đấng sinh thành, sẵn sàng đánh đập mắng chửi. Đó là hành vi, biểu hiện của sự băng hoại đạo đức, lối sống. Những hành vi đó cần lên án và loại bỏ. - Tình yêu thương nào cũng cần xuất phát từ cảm xúc chân thành, không phải là thứ tình yêu thương nơi đầu môi. - Liên hệ bản thân: em đã làm gì để thể hiện tình yêu thương với cha mẹ? Câu 2: 1. Giới thiệu chung về tác giả, đoạn thơ - Tác giả Nguyễn Du (1765 -1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cuộc đời của Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Truyện Kiều là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. - Đoạn thơ: Thuộc phần đầu của tác phẩm, nằm ngay sau đoạn tả tài sắc của chị em Thúy Kiều. Là đoạn thơ tả cảnh ngày xuân trong tiết thanh minh và cảnh du xuân của hai nàng Kiều. 2. Chứng minh “Đoạn thơ Cảnh ngày xuân là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng được gợi lên qua từ ngữ, bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình của Nguyễn Du”. Nhận xét đã khẳng định giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của đoạn trích Cảnh ngày xuân. a. Khung cảnh ngày xuân (4 câu thơ đầu) * Hai dòng thơ đầu là khung cảnh ngày xuân tuyệt đẹp. - Hình ảnh “con én đưa thoi”:
+ Tả: cảnh những cánh én bay liệng đầy trời rộn ràng như thoi đưa hình ảnh đẹp quen thuộc của mùa xuân. + Gợi: Thời gian trôi nhanh, không gian cao rộng của bầu trời, không khí ấm áp của mùa xuân - Câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”: + Tả: Ánh sáng đẹp của ngày xuân + Gợi: Một không gian tràn đầy nắng ấm của tháng 3 mùa xuân, là thời điểm thiên nhiên đạt tốc độ rực rỡ nhất, viên mãn nhất. Sự nuối tiếc của chị em Thúy Kiều vì mùa xuân tươi đẹp đang trôi qua nhanh Hai câu thơ không chỉ có giá trị thông báo về thời gian mà còn tô đậm ấn tượng về một mùa xuân đang độ chín rất đỗi ngọt ngào. Đối diện với mùa xuân ấy lòng người không khỏi bồi hồi, xao xuyến. * Hai câu thơ tiếp đã phác họa một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống: - Hình ảnh “cỏ non xanh tận chân trời”: + Tái hiện một không gian tràn đầy sắc xanh non của cỏ mùa xuân. + Gợi: sự tươi no và sức sống dạt dào của mùa xuân. - Hình ảnh “cành lê”: + Đảo ngữ “trắng điểm” Tô đậm sắc trắng của đóa hoa lê. + “điểm”: gợi ấn tượng về sự thanh thoát của hoa. - Màu sắc: + Sắc xanh của cỏ. + Màu trắng của hoa. Hài hòa, gợi một không gian trong trẻo, tinh khôi, tràn trề nhựa sống. - Với bút pháp chấm phá tài tình, tác giả đã rất thành công khi phác họa bức tranh mùa xuân khoáng đạt, tươi đẹp Thế giới tâm hồn tràn đầy niềm tươi vui, phấn chấn và có chút tiếc nuối của chị em Thúy Kiều. b. Cảnh lễ hội trong tiết thanh minh (6 câu thơ còn lại) * Lời giới thiệu (2 câu thơ đầu): - Nghệ thuật tiểu đối cùng việc tách từ “lễ hội” ra làm đôi Giúp Nguyễn Du miêu tả hai hoạt động cùng diễn ra trong ngày hội xuân: lễ tảo mộ và hội đạp thanh. - Gợi: sự giao hòa: + Lễ: là lòng tri ân tổ tiên. + Hội: là dịp những người trẻ tuổi đi du xuân, thưởng thức vẻ đẹp của mùa xuân. - Lễ hội diễn ra tưng bừng tấp nập: + Kết hợp giữa các từ ghép hai âm tiết: “gần xa”, “yến anh”, “chị em”... cùng các từ láy “sắm sửa”, “nô nức”, “dập dìu”... Tâm trạng náo nức, tươi vui, sự rộn ràng trong lòng người chơi xuân. + Biện pháp ẩn dụ: “nô nức yến anh”: Một mặt gợi hình ảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân. Mặt khác, gợi những xôn xao trong cuộc chuyện trò, gặp gỡ; những háo hức, tình tứ của đôi lứa uyên ương. + Biện pháp so sánh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”: tái hiện sự đông đúc, từng đoàn người chen chúc thích cảnh đi chơi xuân chật như nêm. 3. Nhận xét - Nội dung: Đoạn trích Cảnh ngày xuân đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên mùa xuân sống động, tươi đẹp, hài hòa. Đồng thời nhà thơ đã biến khung cảnh thiên nhiên ấy thành một phương tiện để khám phá thế giới nội tâm nhân vật. - Nghệ thuật: + Tài nghệ sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du. Đặc biệt ông đã sử dụng rất thành công hệ thống từ láy rất giàu giá trị biểu cảm. + Biện pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện.
+ Các biện pháp nghệ thuật: so sánh, ẩn dụ.
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM 2018-2019 THÀNH PHỐ HÀ NỘI PHẦN I. (6,0 ĐIỂM) Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là một khúc tráng ca về lao động và về thiên nhiên đất nước. 1. Cho biết tên tác giả và năm sáng tác của bài thơ ấy 2. Xác định các từ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên ở những câu thơ sau: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng. Biện pháp tu từ nói quá cùng những hình ảnh giàu sức liên tưởng được sử dụng trong hai câu thơ này có tác dụng gì? 3. Ghi lại chính xác câu thơ trong một bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà em đã được học ở trong chương trình Ngữ văn Trung học Cơ sở cũng có hình ảnh con thuyền trong đêm trăng. 4. Viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch làm rõ hình ảnh người lao động ở khổ thơ dưới đây, trong đó sử dụng phép lặp để liên kết và câu có thành phần phụ chú (gạch dưới những từ ngữ dùng làm phép lặp và thành phần phụ chú): Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. (Trích Ngữ văn 9, tập một, NXb Giáo dục Việt Nam, 2017) PHẦN II. (4,0 ĐIỂM) Sau đây là một phần trò chuyện giữa nhân vật Phan Lang và Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ): Phan nói: - Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử, có gai rợp mắt. Nương Tử dù không nghĩ đến, nhưng tiên nhân còn mong đợi nương tử thì sao? Nghe đến đấy, Vũ Nương ứa nước mắt khóc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng: - Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa. Và chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày. (Trích Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) 1. Phan Lang trò chuyện với Vũ Nương trong hoàn cảnh nào? Từ “tiên nhân” được nhắc tới trong lời của Phan Lang để chỉ những ai? 2. Vì sao sau khi nghe Phan Lang nói, Vũ Nương “ứa nước mắt khóc” và quả quyết “tôi tất phải tìm về có ngày”? 3. Em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về vai trò của gia đình trong cuộc sống mỗi chúng ta. Ghi chú: Điềm phần I: 1 (0,5 điểm), 2 (1,5 điểm), 3 (0,5 điểm), 4 (3,5 điểm) Điểm phần II: 1 (1,0 điểm), 2 (1,0 điểm), 3 (2,0 điểm) Câu Câu 1: 0,5 điểm
Nội dung Tác giả: Huy Cận
0,25
Năm sáng tác: 1958 Xác định đúng các từ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên trong hai câu thơ.
Câu 2:
Điểm
Hiểu đúng tác dụng của biện pháp tu từ nói quá và những hình ảnh liên tưởng trong hai câu thơ:
0,5
- Nhấn mạnh tầm vóc và vị thế lớn lao, tâm hồn lãng mạn, sự hòa hợp với 0,75 thiên nhiên... - Thể hiện tình cảm của tác giả đối với người lao động, với thiên nhiên và 0,25 cuộc sống mới. Câu 3: 0,5 điểm
Ghi chính xác câu thơ: Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền (Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền)
Câu 4:
- Nội dung: biết bám sát ngữ liệu và khai thác hiệu quả các tín hiệu nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, cách ngắt nhịp, biện pháp tu từ...) để làm sáng tỏ hình ảnh người lao động: + Không gian, thời gian, công việc kéo lưới khi “sao mờ” + Khí thế khẩn trương, dáng vẻ khỏe khoắn. + Tâm trạng hồ hởi, tinh thần lạc quan trước thành quả lao động và sự giàu đẹp của thiên nhiên. + Thái độ trân trọng, ngợi ca của tác giả Nếu thí sinh chỉ diễn xuôi lại đoạn thơ mà không chú ý khai thác nội dung trên cơ sở các tín hiệu nghệ thuật, giám khảo không cho quá 1,0 điểm
Câu 4:
0,5
0,5 0,75 0,5 0,25
- Hình thức + Đảm bảo dung lượng, có trình tự mạch lạc, diễn đạt rõ ý; không mắc lỗi 0,5 chính tả, ngữ pháp. + Đúng đoạn văn diễn dịch (0,5 điểm); có sử dụng phép lặp để liên kết câu 0,5 (0,25 điểm), đúng thành phần phụ chú (0,25 điểm). Phần II (4,0 điểm)
Câu 1: 1,0 điểm
Xác định đúng: - Sau buổi tiệc ở thủy cung. 0,5 - Từ “tiên nhân” trong đoạn văn chỉ: người đời trước (cha ông, tổ tiên), 0,5 Trương Sinh.
Câu 2: 1,0 điểm
Giải thích được lí do: - Lời của Phan Lang chạm đến những nỗi niềm sâu kín của Vũ Nương. - Vũ Nương còn nặng lòng với trần gian, khát khao được phục hồi danh dự.
Câu 3:
- Nội dung: + Hiểu ý niệm về gia đình. + Bàn luận xác đáng về vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗi người (là chiếc nôi nuôi dưỡng và hình thành nhân cách; là điểm tựa, bến đỗ bình yên, nơi chắp cánh ước mơ...). + Có những liên hệ cần thiết và rút ra bài học. - Hình thức: đảm bảo dung lượng, đúng kiểu văn nghị luận, có sự kết hợp các phương thức biểu đạt, có trình tự mạch lạc, diễn đạt rõ ý. Lưu ý: khuyến khích thí sinh có suy nghĩ riêng, tuy nhiên phải lí giải hợp lí, thuyết phục. Không cho điểm bài làm có suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực.
0,5 0,5 0,25 0,75
0,5
0,5
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO 10 2018 - 2019 THANH HÓA Câu 1: (2,0 điểm) a. Xác định biện pháp tu từ trong phần in đậm của ngữ liệu sau: Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) b. Viết lại câu sau bằng cách chuyển phần in đậm thành khởi ngữ: Anh ấy chạy nhanh nhất đội tuyển. c. Cho đoạn văn sau, tìm câu có chứa hàm ý và cho biết nội dung của hàm ý đó là gì ? Tôi lên tiếng mở đường cho nó: - Cháu phải gọi “Ba chắt nước giùm con”, phải nói như vậy. Nó như không để ý đến câu hỏi của tôi, nó lại kêu lên: - Cơm sôi rồi, nhão bây giờ ? (Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng) Câu 2: (3,0 điểm) Gia đình luôn hiện về bên ta trên mọi nẻo đường, vực ta dậy mỗi khi vấp ngã, góp một nụ cười khi ta thành công. Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 30 dòng) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên. Câu 3: (5,0 điểm) Cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê (SGK Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, 2011). GỢI Ý GIẢI ĐỀ Câu 1: a) Biện pháp tu từ trong phần in đậm: so sánh “trong như tiếng hạc” b) Có thể viết lại như sau: Chạy, anh ấy nhanh nhất đội tuyển. c) Câu chứa hàm ý là: “-Cơm sôi rồi, nhão bây giờ ?” Ý nghĩa: Cơm đã sôi rồi, con bé muốn anh Sáu chắt giùm nước để cơm khỏi nhão. Em bé phải nói hàm ý vì trước đó đã nói thẳng ra nhưng không có hiệu quả; lần này không cần nhắc lại ý “chắt giùm nước” mà thêm vào ý giục giã: “nhão bây giờ!”. Nhưng việc sử dụng hàm ý trong trường hợp này không có hiệu quả, vì người nghe không tiếp nhận, từ chối cộng tác bằng cách “ngồi im”, vờ như không nghe bởi vì lời nói đó không phải để nói với mình. Câu 2: Các em có thể dựa trên những cơ sở sau để phân tích: 1. Giải thích vấn đề: “Gia đình luôn hiện về bên ta trên mọi nẻo đường, vực ta dậy mỗi khi vấp ngã, góp một nụ cười khi ta thành công” Khẳng định vai trò to lớn của gia đình đối với mỗi con người. - Gia đình là một trong ba môi trường của xã hội, quyết định trực tiếp tới mặt tự nhiên và xã hội trong mỗi con người, là nơi để các thành viên sống chân thành với nhau, san sẻ lòng yêu thương, niềm vui, là điểm dựa vững chắc nhất những lúc chúng ta gặp khó khăn, hay thất bại trong cuộc sống. - Gia đình là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống thường gồm có ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái và cháu chắt. 2. Bàn luận vấn đề * Vai trò của gia đình: - Gia đình là nơi ta được sinh ra, được nuôi dưỡng trưởng thành. - Gia đình là nơi đầu tiên giúp ta hình thành nhân cách.
- Gia đình là nơi bao bọc, che chở cho mỗi con người. - Gia đình là cái nôi, là chốn bình yên cho ta trở về sau những giông bão của cuộc đời. - Gia đình còn là nơi chia sẻ niềm vui khi ta thành công. - Gia đình là nguồn động lực, nguồn cổ vũ động viên giúp ta không ngừng phấn đấu. - Gia đình là nơi nâng đỡ, giúp ta vươn đến những ước mơ của cuộc đời. - Gia đình còn là hạt nhân, tế bào của xã hội. - Gia đình vững chắc và bình yên là nơi nuôi dưỡng những con người có ích cho xã hội. Gia đình có ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. * Bài học rút ra: Mỗi người con phải có trách nhiệm đối với gia đình, luôn yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ, chăm sóc, phụng dưỡng khi ông bà cha mẹ già yếu. * Phản đề: Bên cạnh đó vẫn có những người chưa nhận ra được ý nghĩa và có ý thức trân trọng, gìn giữ gia đình, thậm chí là có hành động đi ngược lại điều đó: bất hiếu, ngược đãi ông bà, cha mẹ, đây là hành vi đáng lên án và cần được loại bỏ. * Liên hệ bản thân Câu 3: Có thể tham khảo dàn ý sau đây: 1. Mở bài - Truyện ngắn “Ngôi sao xa xôi” của tác giả Lê Minh Khuê ngợi ca tinh thần dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong, của thế hệ trẻ trong những ngày mưa bom bão đạn. - Cô gái Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” đó là một nữ chiến sĩ thanh niên xung phong xinh đẹp, trong sáng, giàu tình cảm và dũng cảm, ngoan cường. 2. Thân bài * Hoàn cảnh sống và chiến đấu: Phương Định cùng đồng đội đảm nhận một công việc đầy gian khổ, hiểm nguy trên cung đường Trường Sơn, giữa những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt. - Xuất thân là con gái Hà Nội, Phương Định tham gia thanh niên xung phong sống giữa khói bụi Trường Sơn và bom đạn. Cô thuộc tổ trinh sát mặt đường, hàng ngày phải đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần phải phá bom. - Không chỉ vậy, cô và tổ trinh sát còn đảm đương việc phá bom nổ chậm. Đây là nhiệm vụ đòi hỏi sự bình tĩnh, dũng cảm, quên mình của chiến sĩ vì thần chết luôn lần trong ruột những quả bom. Công việc hết sức nguy hiểm, có làm bao nhiêu lần vẫn không thể quen, vẫn luôn căng thẳng đến mức “thần kinh căng như chão... tim đập bất chấp cả nhịp điệu”. Vậy mà, cô vẫn bám trụ 3 năm liền trên tuyến đường Trường Sơn, chứng tỏ vẻ đẹp quả cảm, ý chí kiên cường, lòng yêu nước của Phương Định. * Giữa chiến trường khói lửa, chị vẫn hồn nhiên, ngây thơ, trẻ con đôi khi nhạy cảm, mơ mộng, thích hát. - Chị vẫn hay nhớ về những kỉ niệm bên mẹ trong căn gác nhỏ, nhớ về thành phố tuổi thơ. - Là cô gái yêu đời, hồn nhiên, giàu cá tính, hay hát hay cười một mình, hay ngắm mình trong gương. - Tự đánh giá mình là một cô gái khá, có hai bím tóc dài, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Mắt dài, màu nâu hay nheo lại như chói nắng và được các anh chiến sĩ nhận xét là “có cái nhìn sao mà xa xăm”. - Chị có cái điệu đà của một cô gái Hà Nội nhưng đáng yêu, hồn nhiên và chân thực. Điểm xinh xắn và điệu đà được cánh pháo thủ và lái xe quan tâm, khi đó chị cảm thấy ấm lòng và tự tin hơn. Bản chất anh hùng, nghiêm túc trong công việc, tinh thần dũng cảm, luôn có thần chết rình rập. - Phương Định là một cô gái có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc. - Tinh thần dũng cảm trong cuộc phá bom đầy nguy hiểm, chị dũng cảm, bình tĩnh tiến đến quả bom, đàng hoàng mà bước tới cùng xới xẻ đào đất, có lúc lưỡi xẻng chạm trúng vào quả bom. - Có những lúc chị nghĩ đến cái chết nhưng chỉ “mờ nhạt”, mục đích hoàn thành nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên.
Ấy vậy mà Phương Định vẫn đùa vui trong gian khổ, coi thường thương tích, coi rằng công việc của mình cũng có cái thú vị riêng. Cô là biểu tượng cho vẻ đẹp của lòng quả cảm, kiên cường của thế hệ nữ thanh niên xung phong thời chống Mĩ. * Tình cảm gắn bó với đồng chí, đồng đội. - Cô yêu thương, chiều chuộng Nho như một đứa em út trong nhà. - Khi Nho bị thương, cô lo lắng, chăm sóc, cảm thấy đau như chính mình bị thương. - Với chị Thao, Phương Định hiểu tính cách và tình cảm của chị, cô coi chị Thao như người chị cả trong gia đình. - Khi đồng đội trên cao điểm, Phương Định ở nơi an toàn trực điện đài, mà chẳng thể yên lòng: cô gắt lên với đội trưởng, cô sốt ruột chạy ra ngoài rồi lo lắng. Tất cả đã làm hiện lên một thế giới tâm hồn tinh tế, trong sáng, nhân hậu và vẻ đẹp nhân cách của một người thiếu nữ, sống giữa hiện thực chiến tranh khốc liệt mà vẫn tràn đầy niềm yêu thương, tin tưởng dành cho con người và cuộc sống. * Đặc sắc nghệ thuật - Nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc. - Kể chuyện sinh động. - Ngôn ngữ trần thuật phù hợp với nhân vật, nhịp kể biến đổi linh hoạt. - Lựa chọn ngôi kể phù hợp, thể hiện được những nét tinh tế, sâu sắc trong tâm hồn nhân vật. 3. Kết bài - Với ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật sinh động, Lê Minh Khuê đã khắc họa thành công nhân vật Phương Định, người thiếu nữ Hà Nội với tâm hòn phong phú và lòng dũng cảm, tinh thần quên mình vì nhiệm vụ. Nhà văn đã góp cho văn xuôi chống Mĩ một trong những hình tượng sống động và đáng yêu nhất.