DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU (NGỮ VĂN 12) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP (2017) WORD VERSION | 2017 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN
======
VŨ KIM ANH
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU (NGỮ VĂN 12) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS. VŨ NGỌC DOANH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và chu đáo từ tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, sự hướng dẫn của các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ văn; đặc biệt là sự ủng hộ, góp ý của ThS. Vũ Ngọc Doanh - người hướng dẫn trực tiếp. Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn trân trọng nhất đến tất cả các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, đặc biệt là ThS. Vũ Ngọc Doanh, người trực tiếp giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, tháng 4 năm 2017 Tác giả khóa luận
Vũ Kim Anh
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn trực tiếp và góp ý tận tình của ThS. Vũ Ngọc Doanh. Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của bản thân trong khóa luận này.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017 Tác giả khóa luận
Vũ Kim Anh
DANH MỤC VIẾT TẮT
ThS:
Thạc sĩ
GVHD:
Giáo viên hướng dẫn
GV:
Giáo viên
HS:
Học sinh
SGK:
Sách giáo khoa
SGV:
Sách giáo viên
THPT:
Trung học phổ thông
NMC:
Nguyễn Minh Châu
NXB GD:
Nhà xuất bản Giáo dục
VHVN:
Văn học Việt Nam
PPDH:
Phương pháp dạy học
MỤC LỤC MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1 1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................1 2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................1 3. Mục đích nghiên cứu ...............................................................................................4 4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................................4 5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..............................................................................5 6. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................5 7. Bố cục khóa luận .....................................................................................................5 NỘI DUNG .................................................................................................................6 Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG ....................................................6 1.1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp ..............................................................6 1.1.1. Khái niệm tích hợp ............................................................................................6 1.1.2. Khái niệm dạy học tích hợp ..............................................................................6 1.2. Một số đặc trưng dạy học tích hợp .......................................................................7 1.2.1. Mục tiêu của dạy học tích hợp ..........................................................................7 1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp ......................................................7 1.2.3. Thực tế vận dụng quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học Ngữ văn ...........8 1.2.4. Các biện pháp vận dụng dạy học tích hợp ........................................................9 1.3. Cơ sở của hoạt động đọc hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu .......................11 1.3.1. Đặc điểm thể loại truyện ngắn ........................................................................11 1.3.2. Đặc trưng truyện ngắn sau 1975 .....................................................................13 1.3.3. Vấn đề dạy học truyện ngắn sau 1975 ở trường phổ thông ............................14 1.4. Đặc sắc truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ....................................................17 1.4.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Minh Châu ...............17 1.4.2. Quan niệm nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước 1975 ...18
1.4.3. Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975.....................................................................................................................22 Chương 2. XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU Ở TRƯỜNG THPT THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP ..27 2.1. Dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung ..........................................................27 2.2. Dạy học đọc hiểu tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu theo quan điểm tích hợp ....................................................................................................29 2.2.1. Tích hợp với kiến thức trong môn học ............................................................29 2.2.2. Tích hợp với kiến thức liên môn .....................................................................31 2.2.3. Tích hợp với kiến thức thực tế ngoài đời sống ..............................................36 Chương 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM ...................................................................38 KẾT LUẬN ...............................................................................................................59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Xuất phát từ thực tiễn, các môn học nói chung đều có sự thay đổi lớn, riêng bộ môn Văn học - Tiếng việt - Tập làm văn được hợp nhất thành môn học Ngữ văn trong quyển sách Ngữ văn. Chương trình được xây dựng trên quan điểm tích hợp từ 3 phân môn. Ngữ văn là một môn học có sự tích hợp nhiều: từ sự hợp lực của 3 phân môn, từ kiến thức của các môn học khác, kiến thức cuộc sống xã hội, các tri thức kĩ năng, phương pháp giảng dạy, kinh nghiệm thực tiễn... Tích hợp là nội dung quan trọng không thể thiếu trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường hiện nay. Vì vậy đòi hỏi người dạy phải linh hoạt vận dụng các biện pháp, thao tác, kĩ năng để giảng dạy tốt. Để làm rõ hơn phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp và giúp nhận thức đầy đủ, chính xác về dạy học tích hợp, đi sâu phân tích được các tác phẩm văn xuôi để thấy được những đặc sắc cũng như phát huy tối đa năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức của học sinh, tôi chọn đề tài: Đọc hiểu truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12) theo quan điểm tích hợp với hi vọng đóng góp những điểm mới trong việc ứng dụng phương pháp dạy học mới mẻ này. 2. Lịch sử vấn đề Có thể nói, vấn đề dạy học tích hợp liên môn không còn là một vấn đề xa lạ với đội ngũ các thầy cô giáo. Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông chủ yếu ở bậc Tiểu học và cấp THCS. Trước đó tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mới được thực hiện ở những mức độ thấp như liên hệ phối hợp các kiến thức kĩ năng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng dạy.
1
Khi bộ GD - ĐT thực hiện việc đổi mới nội dung chương trình và cách biên soạn SGK theo quan điểm từ năm 2000 thì một yêu cầu cấp thiết đã được đặt ra. Đó là phải tìm ra phương pháp giảng dạy theo quan điểm tích hợp và đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này qua một số bài báo, tạp chí sau: Nguyễn Trọng Hoàn với bài "Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn" trong Tạp chí Giáo dục số 22 - 2002 đã đề cập đến vấn đề tích hợp trong môn Ngữ văn theo quan điểm của mình. Tuy trong bài viết, tác giả chưa đi sâu về sự tích hợp theo chiều dọc. Nhưng tác giả đã tập trung vào việc trình bày quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn trên cơ sở một số văn bản có vai trò là kiến thức nguồn phục vụ cho các phân môn. Tác giả Nguyễn Hữu Châu với bài: "Vai trò của giáo viên trong các phương pháp dạy học dược lựa chọn" (Tạp chí Giáo dục số 99), đã đề cập đến các phương pháp dạy học, đặc biệt đề cao vai trò của người giáo viên. Tuy nhiên các vấn đề nêu ra có phần sơ giản, quan điểm tích hợp chưa được nhìn nhận sâu sắc. GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài: "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn" (Tạp chí Giáo dục số 6 - 2006) đã chỉ ra tích hợp chính là một phương hướng phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học đạt hiệu quả. Và tác giả còn nêu rõ tích hợp trong môn Ngữ văn là sự kết hợp giữa ba phân môn Văn - Tiếng Việt Làm văn. Trên đây là một số bài báo tạp chí nói về quan điểm tích hợp trong dạy học. Bên cạnh đó thì cũng có rất nhiều sách tham khảo nói về vấn đề này: TS. Nguyễn Hải Châu trong cuốn: "Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá Ngữ văn 10" (NXB Hà Nội) đã đề cập đến các vấn đề có tính định hướng về đổi mới chương trình và SGK. Tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu quan điểm tích hợp khi thiết kế giáo án dạy học còn với việc áp dụng quan điểm tích hợp trong dạy học từng bộ phận của môn Ngữ văn vẫn chưa được xem xét một cách cụ thể. Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong cuốn: "Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ văn ở THPT" (NXB Giáo dục - 2006) đã đề cập đến nội dung của chương trình SGK
2
Ngữ văn 10. Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Theo ông, tích hợp là sự hơp nhất, hòa trộn các phân môn. Nhưng ông trình bày quan điểm này còn rất sơ giản trong việc dạy từng phân môn của môn Ngữ văn. Trong cuốn: "Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK môn Ngữ văn 10" GS. Phan Trọng Luận và GS. Trần Đình Sử đã chỉ ra cần lấy quan điểm tích hợp làm tư tưởng chủ đạo trong việc xây dựng nội dung SGK. Các tác giả còn đề cập đến các vấn đề đổi mới trong sách chuẩn và sách nâng cao. Không những thứ các tác giả còn phân tích chương trình Ngữ văn theo quan điểm tích hợp. Hiện nay xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT. Chương trình THPT môn Ngữ văn năm 2002 do Bộ GD - ĐT dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”, “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt tromg mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm tham khảo”. Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng trong chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây. Qua việc hoạt động tích hợp trong một tiết lên lớp, học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ thống và logic, đồng thời thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức được học trong chương trình. Nhờ đó sẽ xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt giữa nhà trường và cuộc sống; cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có mối liên hệ, bổ sung cho nhau hay tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này. Dạy học tích hợp sẽ phát huy được
3
tính tích cực chủ động và sáng tạo của HS; buộc HS chủ động tự đọc, tự làm việc độc lập theo SGK, theo hướng dẫn của giáo viên. Do đặc thù riêng của môn học, việc tích hợp trong giờ học Ngữ văn là hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung gắn với thực tiễn. Đó có thể là sự tích hợp tri thức, kĩ năng tiếng Việt và Làm văn để giúp HS thực sự cảm được cái hay, cái đẹp, sự tinh tế, độc đáo của tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng cho HS năng lực sử dụng tiếng Việt đúng và hay; chú trọng rèn luyện cho HS cách diễn đạt giản dị, trong sáng, chính xác, lập luận chặt chẽ, có suy nghĩ độc lập. Đó cũng có thể là sự tích hợp những hiểu biết về lịch sử, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống để đánh giá, lý giải một hiện tượng văn học, một chi tiết nghệ thuật hay để đề xuất một thái độ, một quan điểm sống... Như vậy có thể thấy, phạm vi tích hợp trong giờ dạy Ngữ văn rất phong phú: Có thể tích hợp nội môn (giữa ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn hay giữa những bài học có cùng chủ đề). Có thể tích hợp liên môn như: tích hợp Văn - Lịch sử (tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng những kiến thức về hoàn cảnh lịch sử của từng thời kỳ, về nhân vật lịch sử... để lý giải và khai thác giá trị, thành công cũng như hạn chế của tác phẩm); tích hợp Văn - Địa lý (tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng kiến thức hiểu biết về các địa danh để lý giải rõ một số chi tiết hình ảnh nghệ thuật ); tích hợp Văn - Âm nhạc (hát, ngâm thơ, diễn kịch); tích hợp Văn - Mỹ thuật (khi dạy học một tác phẩm văn chương GV có thể cho học sinh vẽ tranh minh họa). 3. Mục đích nghiên cứu Bước đầu đề ra hướng đi mới trong dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới và phù hợp với thực tiễn trong công cuộc cải cách xã hội. Bước đầu đề xuất phương pháp vận dụng một cách hiệu quả quan điểm tích hợp văn bản Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu những cơ sở lí luận của việc dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theo quan điểm tích hợp từ đó xây dựng quy trình đọc hiểu tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (SGK Ngữ Văn 12 tập 2, NXB GD).
4
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm tích hợp và tích hợp trong dạy họ Ngữ văn. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào hoạt động đọc hiểu tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu trong chương trình Ngữ văn lớp 12. 6. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lí luận Phương pháp khảo sát Phương pháp thực nghiệm Phương pháp so sánh đối chiếu Phương pháp hồi cố tài liệu 7. Bố cục khóa luận Khóa luận được triển khai thành 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung của khóa luận được triển khai thành ba chương: Chương 1. Những vấn đê lý luận chung Chương 2. Xây dựng quy trình dạy học đọc hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở trường THPT theo quan điểm tích hợp Chương 3. Giáo án thực nghiệm
5
NỘI DUNG Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp 1.1.1. Khái niệm tích hợp Theo Từ điển tiếng Pháp thì nghĩa của từ tích hợp là “gộp lại, sát nhập thành một tổng thể”. Theo Từ điển Tiếng Việt, tích hợp có nghĩa là “sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp”. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì “tích hợp hệ thống là phối hợp các thiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong hệ thống – một chương trình nhằm giải quyết nhiệm vụ chung nào đó”. 1.1.2. Khái niệm dạy học tích hợp Theo Xavier Rogier: “Sư phạm tích hợp là một quan điểm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS nhằm phục vụ cho quá trình học trong tương lai, hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động”. Trong lĩnh vực khoa học giáo dục: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó”. Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó. Trong chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc".
6
Các định nghĩa trên đã nêu rõ được mục đích của việc dạy học tích hợp là phát triển năng lưc của người học. Đồng thời cũng nêu rõ các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học. Như thế có thể định nghĩa dạy học tích hợp là “quá trình dạy học mà ở đó các thành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể trong đời sống để hình thành năng lực của người học”. 1.2. Một số đặc trưng dạy học tích hợp 1.2.1. Mục tiêu của dạy học tích hợp Đề ra hướng giải quyết các vấn đề gặp phải trong quá trình giáo dục nói chung và trong dạy học môn Ngữ văn nói riêng. Góp phần giúp HS tích hợp các kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năng thuộc các phân môn đã học; giúp HS tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng, phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của HS: HS chủ động tự đọc tự làm việc độc lập với SGK theo hướng dẫn của GV. Từ đó, quan điểm dạy học tích hợp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dụng nói chung trong đó có môn Ngữ văn. 1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp vào thực tế dạy học ở nước ta còn khá mới mẻ, nhất là chương trình và SGK đã được phân hóa sâu sắc, GV chưa được bồi dưỡng về dạy học tích hợp và thói quen dạy chỉ dựa vào SGK đã in sâu trong mỗi GV. Do đó, để vận dụng có hiệu quả dạy học tích hợp cần phải chú ý tới một số quan điểm sau: - Vận dụng dạy học tích hợp một cách có ý nghĩa: đòi hỏi phải lựa chọn nội dung, tình huống có ý nghĩa với việc học tập của HS, phù hợp với logic khoa học, không gượng ép. GV phải nghiên cứu nội dung dạy học, xác định mục tiêu chung và mục tiêu của bài học. - Không làm cho HS học tập quá tải: nghiên cứu, lựa chọn, định rõ thời gian và mức độ cho hoạt động học tập, tránh vì hứng thú mà liên kết tri thức quá sâu,
7
rộng sẽ dẫn đến quá tải học tập của HS, làm giảm hiệu quả dạy học của GV và tiếp thu tri thức của HS. - Vận dụng hợp lí các PPDH tích cực, các phương tiện dạy học để tạo ra hiệu quả tích hợp cao. Vì bản thân các PPDH tích cực, các phương tiện dạy học hướng đến nâng cao chất lượng dạy học, mang thuộc tính tích hợp các kiến thức, kỹ năng, cảm xúc nhận thức ở HS. - Tăng cường khai thác mối quan hệ liên môn và kiên kết các kiến thức trong nội bộ môn học. Định hướng này đã quan tâm tới tích hợp và phù hợp với dạy học tích hợp. 1.2.3. Thực tế vận dụng quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học Ngữ văn Dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử, xã hội, văn hoá, nghệ thuật... mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này. Nói khác đi đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn” biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu đủ cho phép phối hợp liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn. Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là cách thức để khắc phục hạn chế lối dạy học đó nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà HS lĩnh hội được bảo đảm cho mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống có ý nghĩa (cũng có khi là một tình huống khó khăn bất ngờ một tình huống chưa từng gặp). Mặt khác tránh được những nội dung kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh
8
hội những nội dung tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được. 1.2.4. Các biện pháp vận dụng dạy học tích hợp Trong quá trình lên lớp GV có thể dạy học tích hợp theo nhiều cách khác nhau. Việc lưa chọn cách thức nào là tùy thuộc vào nội dung cụ thể của từng phân môn và từng bài học. Chẳng hạn: - Tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài cũ là bước đầu tiên trong tiến trình tổ chức hoạt động dạy học một bài cụ thể. Mục đích của hoạt động này là để kiểm tra việc học ở nhà cũng như mức độ hiểu bài của học sinh. Ngoài ra, đây cũng là hoạt động có tính chất kết nối giữa bài đã học và bài đang học (bài mới). Vì vậy, việc thực hiện tích hợp trong quá trình kiểm tra bài cũ là rất cần thiết và cũng khá thuận lợi. - Tích hợp thông qua việc giới thiệu bài mới: Giới thiệu bài mới là một thao tác nhỏ, chiếm một lượng thời gian không đáng kể trong tiết dạy (và không phải bài nào, tiết dạy nào cũng cần giới thiệu vào bài một cách công phu bài bản). Tuy nhiên thao tác này lại có ý nghĩa khá lớn trong việc tạo hứng thú cho HS trước khi bước vào bài học. Vì vậy GV có thể vận dụng thao tác này để thực hiện tích hợp. - Tích hợp thông qua câu hỏi tìm hiểu bài: Trong hoạt động dạy học Ngữ văn, hình thức hỏi - đáp đóng vai trò hết sức quan trọng, thể hiện tính tích cực, chủ động của người học cũng như vai trò chủ động của GV. Hình thức này được thực hiện trong hầu hết các bước, các hoạt động dạy - học. - Tích hợp kiến thức Văn - Tiếng Việt (qua các câu hỏi phát hiện, giải nghĩa, phân tích ý nghĩa của việc sử dụng từ ngữ), Văn - Làm văn (qua dạng câu hỏi tóm tắt văn bản, nêu suy nghĩ của bản thân về một vấn đề đặt ra từ tác phẩm…), Văn Lịch sử (vận dụng hiểu biết về lịch sử để lý giải một hiện tượng, hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm…), Văn - Địa lý, Văn - Giáo dục công dân…được thể hiện rõ qua hoạt động này. - Tích hợp thông qua phương tiện dạy học như bảng phụ, tranh ảnh, thiết bị công nghệ thông tin: Khi dạy một số văn bản đọc hiểu, GV có thể sử dụng kênh
9
hình để tích hợp để giúp các em cảm thụ văn học tốt hơn. Đây là một yêu cầu rất quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Điều quan trọng là để thực hiện được hình thức tích hợp này đòi hỏi người dạy phải có sự chuẩn bị công phu, đầu tư trí tuệ, công sức. Mặt khác, nó còn phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của từng trường. - Tích hợp thông qua nội dung từng phần hay tổng kết giờ học: Đây là hình thức tích hợp thông qua lời thuyết giảng của GV, vừa có ý nghĩa khái quát lại vấn đề, vừa có ý nghĩa mở rộng, nâng cao kiến thức. GV có thể tích hợp dưới dạng liên hệ, so sánh đối chiếu các văn bản cùng thể loại, chủ đề để rút ra nhận xét hoặc yêu cầu học sinh tự rút ra nhận xét của bản thân về vấn đề đó (nét giống, khác, sự đóng góp mới mẻ của nhà văn…). - Tích hợp thông qua hệ thống bài tập: Đây là điều kiện thuận lợi nhất để GV tiến hành phương pháp tích hợp sau khi kết thúc một bài học, giúp HS nắm chắc kiến thức ấy để tích hợp trong việc rèn luyện kỹ năng : nghe, đọc, nói, viết. - Tích hợp thông qua hình thức kiểm tra: Chương trình Ngữ văn được xây dựng theo tinh thần tích hợp vì thế khi ôn tập và tiến hành kiểm tra GV cần giúp HS nắm chắc các vấn đề. Các kiến thức về Văn, tiếng Việt, Tập làm văn đều cùng dựa vào một văn bản chung (hoặc nhiều văn bản cùng thể loại) để khai thác và hình thành. Vì thế, khi hướng dẫn học sinh ôn tập GV cần lưu ý HS không nên học tủ, học lệch mà phải học toàn diện, đầy đủ. GV cần lưu ý xây dựng đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ theo yêu cầu tích hợp. Hệ thống câu hỏi, đề kiểm tra phải hướng vào việc phát triển năng lực người học theo bốn cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao. - Tích hợp gắn với đời sống xã hội, rèn kỹ năng sống cho HS: Đây là một hoạt động không thể thiếu trong giờ đọc - hiểu văn bản bởi môn Văn trong nhà trường vừa là một môn khoa học vừa là môn học mang tính xã hội nhân văn sâu sắc. Nếu biết vận dụng một cách khéo léo, nhuần nhuyễn, tự nhiên kiến thức liên môn, giáo viên không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức xã hội mà còn tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của học sinh. Từ đó, có thể định hướng thái độ
10
sống, rèn kỹ năng sống cho các em một cách hiệu quả, giúp các em biết ứng xử văn minh, trở thành người công dân tốt. Tóm lại, để việc dạy học theo hướng tích hợp trong môn Ngữ văn đạt hiệu quả tốt, cần có giải pháp đồng bộ. Trước hết, về phía cơ quan chủ quản, Bộ Giáo dục Đào tạo cần triển khai nhanh chóng việc tập huấn dạy học tích hợp liên môn cho giáo viên Ngữ văn. Các cơ quan quản lý dưới Bộ nên tạo điều kiện cho giáo viên ở các cơ sở tổ chức xây dựng chuyên đề, trao đổi rút kinh nghiệm trong việc dạy học theo hướng tích hợp. Các thầy cô giáo trực tiếp đứng lớp phải nắm vững nguyên tắc tích hợp: bám sát chuẩn kiến thức - kỹ năng, đảm bảo phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của đơn vị và đối tượng học sinh. Việc tích hợp làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn và không làm quá tải nội dung bài học. 1.3. Cơ sở của hoạt động đọc hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 1.3.1. Đặc điểm thể loại truyện ngắn Thể loại truyện ngắn - một thể loại văn học được coi là “xung kích” của đời sống văn học, một thể loại có tính chất “thuốc thử” đối với hầu hết nhà văn trên con đường sáng tạo nghệ thuật đầy cam go. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì truyện ngắn được định nghĩa là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn. Bởi truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch. Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác (các loại truyện kể dân gian cũng có độ dài tương đương với truyện ngắn). Hình hài của truyện ngắn hiện đại như ta thấy hiện nay là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại. Truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học. Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất
11
trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy. Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người. Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng. Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá. Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đọng, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Ở phương Tây (Âu, Mỹ), thể loại truyện ngắn ra đời tương đối muộn so với các thể loại khác, nó xuất hiện trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỷ XIX, phát triển lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào E.T.A. Hoffmann và Anton Chekhov, sau đó trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế kỷ XX. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, trước đây người ta vẫn coi truyện ngắn thuộc thể loại tiểu thuyết, được gọi là “tiểu thuyết đoản thiên” để phân biệt với loại tiểu thuyết chương hồi dài tập hay “tiểu thuyết trường thiên”. Ở Việt Nam, truyện ngắn đầu tiên xuất hiện trên văn đàn là “Sống chết mặc bay!” của Phạm Duy Tốn (1881-1924), là nhà văn xã hội tiên phong của nền văn học mới Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Trước khi trở thành một nhà văn, nhà báo, ông từng là thông ngôn ở tòa Thống sứ Bắc Kỳ. Truyện ngắn “Sống chết mặc bay!” của ông được coi là truyện ngắn đầu tiên theo lối Tây phương của văn học Việt Nam.
12
1.3.2. Đặc trưng truyện ngắn sau 1975 Sau 1975, các nhà văn không chỉ dừng lại ở phản ánh mà còn nghiền ngẫm hiện thực. Trước đây, hoàn cảnh chiến tranh không cho phép họ khám phá tận cùng sự phức tạp, bề bộn, ngổn ngang của đời sống. Giờ đây, do yêu cầu của thời đại, do nhu cầu tự thân của hoạt động sáng tạo, hiện thực đời sống đi vào văn chương vẹn nguyên sự đa chiều của nó, được soi sáng, cày xới cả những phần khuất lấp, mờ tối. - Quan niệm nghệ thuật về con người: Văn học sau 1975 hướng đến khám phá và tạo dựng con người thế sự - đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí ẩn của nó. Nhà văn cắt nghĩa sự tồn tại của con người không phải ở vị thế nhà đạo đức, nhà tuyên huấn mà là nhà triết học, nhà tư tưởng. Con người được nhìn ngắm từ nhiều toạ độ nên nhiều chiều, đa nhân cách, vừa có "rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ" và nhìn chung, nó toàn diện và sâu sắc hơn. - Điểm nhìn trần thuật: Sự đổi mới sâu sắc nhất của văn học sau 1975 ở phương diện trần thuật chính là đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật. Hiệu quả của việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn đã tạo nên hệ thống các giá trị khác nhau về con người và hiện tượng. Thực ra, việc di chuyển điểm nhìn từ tác giả đến người kể chuyện và nhân vật đã có trong văn xuôi Nam Cao và Nguyên Hồng song hiệu quả là nhằm tái hiện thế giới nội tâm. Với văn học thời đổi mới, mục đích sâu xa là nhằm soi chiếu hiện thực từ nhiều chiều, nhiều góc độ. - Giọng điệu trần thuật: Xuất phát từ yêu cầu của chiến tranh, văn học là phương tiện cổ vũ, tuyên truyền cách mạng. Bởi thế, giọng điệu chủ đạo của văn học thời kì này nhất quán ở sắc thái ngợi ca, trang nghiêm và đầy lạc quan. Khi đó, văn học sau 1975 đã chuyển từ đơn sang đa giọng. Nhu cầu khẳng định cá tính, nhận thức và khám phá tận cùng các đối tượng nghệ thuật đã làm nảy sinh các giọng điệu: hoài nghi, chất vấn, chiêm nghiệm, triết lí, giễu nhại .Chính chất liệu ngôn ngữ đời thường thô nhám, giàu màu sắc khẩu ngữ ùa vào trang văn làm nên sự đa giọng điệu này. Có thể nói rằng, quá trình đổi mới của văn học sau 1975 diễn ra khá toàn diện và sâu sắc từ nhà văn đến công chúng, từ bản chất văn học đến tư cách nghệ sĩ, từ tư
13
tưởng đến thi pháp. Nhận diện những đổi mới ấy dưới góc độ thi pháp sẽ giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc tiếp cận những văn bản mới trong chương trình. Tiếp cận truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa dưới góc nhìn thi pháp sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về văn học giai đoạn này. 1.3.3. Vấn đề dạy học truyện ngắn sau 1975 ở trường phổ thông Ta biết rằng, sau 1975, văn học đã có bước chuyển mình quan trọng: - Khuynh hướng sử thi, lãng mạn giảm dần, thay vào đó là cảm hứng thế sự. Việc thay thế cảm hứng sử thi bằng cảm hứng thế sự là một sự đổi mới hết sức căn bản trong văn học. Nó kéo theo sự thay đổi nhiều phương diện. Có thể thấy rõ điều này qua truyện ngắn sau 1975 có mặt trong chương trình Ngữ văn 12 mà chúng ta đang đề cập đến. Nếu ở Một người Hà Nội là những ngày tháng tiếp quản thủ đô sau chiến thắng Điện Biên Phủ thì ở Chiếc thuyền ngoài xa, đó là sau năm 1975, đất nước thống nhất, chấm dứt ba mươi năm chiến tranh tàn khốc. Trên cái nền thực tại ấy, vấn đề được đặt ra không còn là số phận của dân tộc, của cộng đồng trong thử thách máu lửa, trong đấu tranh sinh tử, mất còn, mà là thân phận con người trong cuộc sống đời thường. Nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn, chi phối mọi phương diện của tác phẩm. Nói cách khác, quan niệm của nhà văn về hiện thực và cách miêu tả hiện thực trong văn học đã có những đổi khác. Ví dụ: Đọc Chiếc thuyền ngoài xa, ta hoàn toàn có thể hình dung bối cảnh cuộc sống được tác giả dựng lên để làm nền cho sự xuất hiện của các nhân vật. Ngoài bối cảnh chung của lịch sử xã hội như đã nêu trên (hiện thực sau chiến tranh), độc giả còn được tiếp xúc với các những mảnh đời cụ thể ở một vùng đất cụ thể. Đó là một xóm chài ven biển miền Trung, nơi mỗi gia đình cư ngụ trên một chiếc thuyền lưới vó. Không thể tìm thấy ở đây những bức tranh cuộc sống được vẽ lên bởi niềm lạc quan, tin tưởng, bởi dự cảm về một tương lai tươi sáng như những trang viết trước đây của chính Nguyễn Minh Châu. Đọc truyện ngắn này, độc giả rất cần chú ý những không gian được miêu tả, gắn với hoạt động, cách hành xử của các nhân vật trong gia đình với nhau và với các nhân vật khác. Cuộc sống riêng tư phải
14
được biểu hiện đầy đủ, trọn vẹn trong không gian đời tư, và chỉ có trong không gian đời tư ấy, nhân vật mới bộc lộ rõ nét nhất bản chất, tính cách của mình. - Con người được tái hiện trong những truyện ngắn này không còn là "con người chính trị", "con người mới" với bao nhiêu phẩm chất lí tưởng từng được nói đến nhiều trong văn học trước 1975. Cái nhìn của họ về thế sự, về cuộc đời cũng không chịu sự ràng buộc, rập khuôn, mà bằng chính đôi mắt của mình. Ví dụ: Từ cách nhìn nhận riêng của mình về cuộc sống, người đàn bà làng chài khốn khổ (Chiếc thuyền ngoài xa) đã lay động nhận thức của những người như Phùng (người làm nghệ thuật) và Đẩu (người thực thi pháp luật): "Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc...". Những suy nghĩ, phát ngôn như thế là kết quả của sự tự ý thức sâu sắc về bản thân, về cuộc sống. Trong truyện của Nguyễn Minh Châu, đói khổ, cùng cực, túng quẫn, vất vả, lam lũ, thiếu đói trở đi trở lại như những điệp khúc xót xa được người đàn bà làng chài nói lên bằng sự trải nghiệm cay đắng. Thật vô cùng ám ảnh chi tiết những ngày biển động "cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối". Đặt chi tiết này vào bối cảnh cuộc sống những năm sau chiến thắng lịch sử 1975, ta càng hiểu thêm dụng ý và tấm lòng của tác giả. Cách mạng dĩ nhiên là hết sức cao cả, vĩ đại, nhưng thân phận của con người cũng đâu có vô nghĩa, nhỏ nhoi. Có những điều tưởng tầm thường, nhỏ nhặt, hóa ra lại rất hệ trọng, to tát đối với con người. Hạnh phúc hay bi kịch của đời người có khi bắt đầu từ những "tiểu tiết", từ chuyện không đâu như miếng cơm manh áo. - Sự đối thoại, dân chủ trong tiếp cận tác phẩm là hết sức cần thiết. Nếu văn học trước 1975 thường có xu hướng đơn nhất, thống nhất về ý nghĩa, thì tính mơ hồ, đa nghĩa lại là đặc điểm khá nổi bật của các tác phẩm văn học đổi mới. Ở đây, kiểu cắt nghĩa giản đơn, một chiều, sự độc quyền chân lí không còn chỗ đứng. Ngược lại, nó mời gọi nhiều lối tiếp cận, nhiều cách đọc, cách diễn dịch khác nhau. Tính chất "mở" thể hiện trước hết ở những nghịch lí mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm. Những quan hệ nhân - quả hợp lí giữa các sự kiện như thường thấy trong văn học
15
trước đây đã bị thay thế bằng những quan hệ bất thường, thách đố sự biện giải lí tính. Ví dụ: Khi đọc Chiếc thuyền ngoài xa, thật khó hiểu được do đâu mà người đàn ông làng chài lại có hành động tàn nhẫn đến mức kì quái như thế với vợ. Nó không diễn ra theo kiểu bột phát, tức thì hoặc như một thứ phản xạ bản năng thường thấy ở những kẻ vũ phu. Người chồng ở đây có những biểu hiện thật dị thường. Hắn đủ kiên nhẫn đi theo vợ đến một quãng xa con thuyền rồi mới ra tay. Đánh vợ mà như báo thù, như một kiểu "thi hành án". Đánh vợ mà cứ đều đặn "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng" như đã được lên lịch sẵn. Lạ hơn, đó là kiểu đánh mà hắn đã "gia ơn" cho vợ khi chị ta xin hắn không phải chịu đòn trên thuyền, trước mặt đàn con. Có một cái gì thật quái đản, rất khó lí giải, cũng như không thể biện minh bằng bất cứ lí do gì. Nếu sự hung hãn, vũ phu của người chồng là điều cực kì khó hiểu, thì sự cam chịu, nhẫn nhục của người vợ cũng không dễ lí giải hơn. Dù bị chồng xúc phạm nặng nề, đánh đập tàn nhẫn, người đàn bà ấy vẫn lặng lẽ chấp nhận như một kiểu "chịu nạn". Hơn thế, khi tòa cho rằng, trường hợp này không thể hòa giải, chỉ có một giải pháp "tối ưu" là chị phải từ bỏ người đàn ông độc ác ấy, những tưởng chị sẽ cảm thấy nhẹ người, nào ngờ chị ta bỗng hốt hoảng. Chứng kiến những điều lạ lùng ấy, Đẩu và Phùng đồng thanh thốt lên: "Không thể nào hiểu được!". Có lẽ đó cũng là phản ứng, thái độ của số đông độc giả trước cảnh ngộ của người đàn bà làng chài - nhân vật chính trong truyện. Tuy nhiên, thể hiện những nghịch lí cuộc sống, Nguyễn Minh Châu muốn cho độc giả thấy rằng, cuộc sống thực ra không hề đơn giản như ta vẫn nghĩ. Nó chứa đựng nhiều góc khuất, nhiều bí ẩn đòi hỏi phải được khám phá. Và thực tế, trong tác phẩm của mình, nhà văn đã "thể nghiệm" một số "phương án". Chẳng hạn, thói vũ phu của người chồng, nếu như dưới cái nhìn nghiêm khắc của Phùng và Đẩu là đáng lên án, dưới ánh mắt phẫn nộ của thằng Phác là đáng trừng trị, thì với người vợ - nạn nhân, đó là điều có thể thông cảm. Cũng vậy, nhìn một cách khách quan, theo lẽ thường tình, sự nhẫn nhục của người đàn bà là hết sức phi lí, nhưng nếu ta
16
thử đặt mình vào cảnh ngộ của chị để tìm lối thoát, thì mới thấy sự thể không dễ dàng như ta vẫn tưởng. - Luận đề nghệ thuật - một trong những nội dung quan trọng của tác phẩm cũng gợi mở nhiều cách hiểu khác nhau. Ví dụ: Nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa có ý nghĩa gì? Bức ảnh ghi lại vẻ đẹp hài hòa đến mức lí tưởng của chiếc thuyền trong sương sớm tương phản bất ngờ với sự tàn bạo ghê gớm cũng như nỗi đau khổ tận cùng của những con người bước ra từ chính chiếc thuyền ấy, phải chăng đã nói lên cái khoảng cách muôn thuở giữa nghệ thuật và cuộc sống? Cái đẹp cao cả của nghệ thuật có thể đánh thức những cảm xúc thánh thiện của tâm hồn, nhưng phải chăng nó vẫn cứ xa cách và bất lực trước thực tế trần trụi, nham nhở của những kiếp nhân sinh? Hay nghệ thuật dù kì diệu đến đâu cũng khó mà ôm trùm được mọi khía cạnh phức tạp, đa chiều của muôn mặt cuộc đời? Tại sao người nghệ sĩ mỗi lần ngắm kĩ bức ảnh đen trắng của mình lại thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai? Và, cuối cùng, tất cả những ý nghĩa của luận đề nghệ thuật ấy phải chăng đã được Nguyễn Minh Châu ý thức đầy đủ và kín đáo gửi gắm vào tác phẩm bằng "thi pháp gói rào"? Mỗi câu hỏi như thế có thể tìm thấy bao nhiêu câu trả lời, và hình như không có câu trả lời nào là duy nhất đúng. - Kiểu nhân vật kể chuyện: Kiểu nhân vật kể chuyện dễ gây cảm giác về tính xác thực, tính khả tín của câu chuyện. Ví dụ: Ở trong Chiếc thuyền ngoài xa chuyện về gia đình làng chài được kể bằng lời của Phùng - người chứng kiến gây cho ta cảm giác câu chuyện rất đáng tin, là câu chuyện có thật mà Phùng đã chứng kiến và kể lại. 1.4. Đặc sắc truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu 1.4.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Minh Châu Nguyễn Minh Châu sinh ngày 23 tháng 10 năm 1930 tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vào quân đội. Năm 1959, Nguyễn Minh Châu đi dự hội nghị bạn viết toàn quân. Năm 1960, ông được điều
17
động về cục Văn hóa quân đội, rồi về tạp chí Văn nghệ quân đội vừa làm biên tập vừa làm phóng viên. Trong thời gian này, Nguyễn Minh Châu bắt đầu viết văn và cho in những truyện ngắn đầu tay nhưng chưa được dư luận quan tâm. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu chỉ được khẳng định trong thời kì kháng chiến chống Mỹ với hai cuốn tiểu thuyết Cửa sông (1966), Dấu chân người lính (1972) và tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970). Nhà văn đã phản ánh kịp thời những hình ảnh sinh động của cuộc chiến đấu và hình tượng cao đẹp của những con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, đồng thời, ông cũng có phát hiện và suy ngẫm về nhiều vấn đề của đời sống xã hội và số phận con người trong chiến tranh. Ngay sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những hạn chế của nền văn học thời chiến tranh và dũng cảm tìm kiếm con đường đổi mới sáng tác của chính mình. Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1977: Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà đã đem lại một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn. Những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ra mắt bạn đọc ở nửa đầu những năm 1980 thực sự là những tìm tòi mới, với cái nhìn mới về hiện thực và con người, khiến Nguyễn Minh Châu trở thành một trong những “người mở đường tinh anh và tài năng nhất của công cuộc đổi mới văn học” (Nguyễn Khải). Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), ông đã có những phát biểu trực tiếp cùng với những sáng tác đã đạt đến độ chín của tư tưởng và nghệ thuật thể hiện sự tâm huyết với công cuộc đổi mới nền văn học nước nhà. Nhưng vì mắc bệnh hiểm nghèo, Nguyễn Minh Châu đã qua đời vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 khi nhiều dự định sáng tác còn đang ấp ủ. 1.4.2. Quan niệm nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước 1975 Cách mạng tháng Tám là một bước ngoặt lịch sử, mở ra một trang mới đối với đất nước và con người Việt Nam, chấm dứt ngàn năm chế độ phong kiến, hơn tám mươi năm đô hộ của thực dân Pháp, để bắt đầu một thời đại mới - thời đại độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sau Cách mạng tháng Tám, dân tộc Việt Nam cũng phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ trường kì gian khổ nhưng cũng rất hào hùng. Mọi đổi thay ấy đã đem đến cho văn học Việt Nam những
18
sắc diện mới, luồng sinh khí mới ở nhiều khía cạnh, trong đó có quan niệm nghệ thuật về con người. Với quan niệm con người mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng, của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, ở thời kì trước 1975, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nên những hình mẫu nhân vật mang đậm cảm quan nghệ thuật của nhà văn. Con người trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu trước hết là con người có lí tưởng sống cao đẹp, ý thức được tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Cô giáo Thùy trong Cửa sông (1966) đã “dành một phần nhỏ thì giờ biên thư cho các học sinh của mình hiện đang ở các đơn vị bộ đội” vì đã tự coi mình như “một người con gái ở hậu phương có nhiệm vụ đem đến cho họ những lời động viên, có nhiệm vụ săn sóc các chiến sĩ ngoài mặt trận”. Thùy luôn cố gắng “tìm cách không tách mình ra khỏi cái guồng máy sinh hoạt chung của nhân dân đang hối hả chuyển sang thời chiến” bởi như thế là ích kỉ, là coi trọng hạnh phúc cá nhân. Những người lính trong Dấu chân người lính (1972) đã xác định được trách nhiệm cao cả của thế hệ mình trước tiếng gọi thiêng liêng của non sông. Khuê chiến sĩ cần vụ của chính ủy trung đoàn 5, rất quen thuộc, gắn bó với những khu rừng ngày đêm dội vang những trận bom, những cuộc chuyển quân trong tầm súng của địch. Khung cảnh bề bộn, dựng lửa của chiến trường “trước đây vài tháng, khi anh còn mài gót giày trên những chặng đường đi dài dằng dặc của núi Trường Sơn, anh như đã trông thấy, hình như nó đang vẫy gọi, đang giục giã anh và đồng đội của anh bằng tất cả sức mạnh quyến rũ không thể nào lường được”. Không chỉ sống có lí tưởng và nhận thức được vai trò của mình trong cộng đồng, con người của văn học kháng chiến chống Mĩ còn thể hiện lí tưởng và nhận thức ấy thành hành động, ý chí. Các nhân vật của Nguyễn Minh Châu thường được đặt trong những hoàn cảnh thử thách ngặt nghèo, trước những tình huống phải lựa chọn giữa sống và chết để “càng làm kiên định ý chí cách mạng và bộc lộ sáng chói chủ nghĩa anh hùng” (Nguyễn Văn Long). Nguyệt - cô gái đi nhờ xe trong Mảnh trăng cuối rừng (1970), đã để cả quần áo nhanh nhẹn lội phăng sang bên kia bờ giúp Lãm cột dây tời vào một gốc cây, đã nấp ở mé ngoài để che chở cho Lãm vì “Anh
19
bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó!”, đã bình tĩnh, rành rọt chỉ đường cho Lãm và khi bị thương vẫn tươi tỉnh, xinh đẹp. Là con người của chủ nghĩa anh hùng, của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, nhân vật trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trước 1975 đã kết tinh được phẩm chất của con người Việt Nam, tiêu biểu cho vẻ đẹp cộng đồng. Trong tiểu thuyết Cửa sông, người đọc cảm phục Bân có tình đồng chí gắn bó, keo sơn - anh thầm hứa với lòng mình, nhất định sẽ trả thù cho Ái, sẽ sống xứng đáng với sự hi sinh của Ái; thương mến sự lạc quan, vui tươi của Tốt - cô hát nhiều, cười nhiều trước hôm đi dân công mở đường đợt sáu tháng tận miền tây khu Bốn. Chính Thùy cũng đã từng nghĩ: “mỗi tấc đất làng Kiều, mỗi con người quen biết mà mình từng chung sống, từng dạy dỗ con cái họ đều có một cuộc đời gắn liền với lịch sử đất nước đầy thử thách, mỗi người đều mang trong lòng bao điều tốt đẹp mà mình có thể học hỏi, có thể khám phá suốt đời”. Nguyệt (truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng) như mọi cô gái Việt Nam khác, có một tình yêu thủy chung, một niềm tin mãnh liệt. Sống giữa sự tàn phá của chiến tranh, bao năm cô vẫn chờ đợi người con trai chưa hề gặp mặt, chưa hứa hẹn một điều gì, bởi vì trong lòng cô “cái sợi chỉ xanh nhỏ bé và óng ánh, qua thời gian và bom đạn vẫn không phai nhạt, không hề đứt”. Chỉ là câu nói đùa nhưng người đọc thấy được cách Nguyệt hành xử rất phù hợp với truyền thống đạo lí của dân tộc, sống có trước có sau, trọn vẹn nghĩa tình: “Anh đã cho em đi nhờ xe, lúc khó khăn lại bỏ anh ư”. Để thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của thời đại cũng như của cá nhân mình, trong các tác phẩm thời kì này, Nguyễn Minh Châu thường sử dụng bút pháp lí tưởng hóa, lãng mạn hóa. Các nhân vật Kinh, Lữ, Khuê, Cận, Lượng... đều là những viên ngọc, sáng đẹp, không có tì vết. Khó có thể tìm thấy một khiếm khuyết trong phẩm chất của họ. Đúng như nhà phê bình N.I.Niculin đã từng nhận xét về Nguyễn Minh Châu và sáng tác của ông, đại ý: niềm tin vào tính bất khả chiến thắng của cái đẹp, cái thiện được khúc xạ ở chỗ Nguyễn Minh Châu đã tắm rửa sạch sẽ các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng. Có những lúc, Lãm (truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng) cảm thấy xe
20
mình chạy trên lớp sương bồng bềnh, trong nền không gian có mảnh trăng khuyết phía cuối trời sáng trong như mảnh bạc và bên cạnh là người con gái có mái tóc dày, thơm ngát, có khuôn mặt tươi mát, xinh đẹp. Lãm đã tưởng như mình trông thấy ảo ảnh và trong lòng anh từng dấy lên một tình yêu mê muội xen lẫn cảm phục người bạn đường. Mặt khác, nhiều trang văn của Nguyễn Minh Châu đều được viết bằng giọng điệu ngợi ca với chất trữ tình ấm áp. Giọng điệu này, theo nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan, được quy định do cảm hứng của tác giả, một phần là từ nỗi xúc động thực sự trước những chiến công anh hùng của quân và dân ta, một phần là do tác giả cổ vũ động viên nhân dân tham gia chiến đấu. Đoạn miêu tả tâm trạng của Thùy (tiểu thuyết Cửa sông) khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng được nhà văn viết bằng sự hứng khởi, say mê: “Từ bên này ngưỡng cửa của cuộc đời, Thùy thấy mọi vật đều đổi khác. Ba gian nhà trở nên ấm áp hơn, một mối tình đồng chí trong trẻo, chất phác tỏa lên từ khuôn mặt các đồng chí ngồi chung quanh. Thùy cảm thấy mình đang được bao bọc trong mối tình lớn ấy”. Giữa cảnh những ngôi nhà bị bom tàn phá, những hàng dừa mọc sát mép nước chỉ còn thân cây cháy sém, những người lính của Nguyễn Minh Châu không giấu nổi sự ngỡ ngàng trước cảnh “xung quanh bản hoa dong riềng vẫn nở đó, vẫn trông thấy những cô gái Lào vùng bãi sông đẹp yêu kiều mặc váy xanh màu lá mạ đi vác nước… từng đàn voi nhà bước đủng đỉnh trong đám tàn tranh” và “náo nức hẳn lên trong niềm mong đợi” khi nghe tin có đoàn văn công phục vụ mặt trận sắp tới. Nhưng Nguyễn Minh Châu ngay từ thời kì này đã không nhìn con người đơn giản, sơ lược. Nhà văn cũng đã chạm vào được nỗi trắc ẩn của con người, đã khơi được phần chìm khuất của đời sống, “ngay giữa những trang viết đầy hào sảng của Cửa sông, Dấu chân người lính, người đọc đã mong manh cảm nhận dường như nỗi đau vẫn song hành tồn tại cùng niềm vinh quang, ngay dưới chân tượng đài chiến thắng, và những nỗi éo le, ngang trái trong đời tư, sự vênh lệch giữa số phận cá nhân với số phận cộng đồng là điều có thực, là điều không tránh khỏi”. Trong Dấu chân người lính, bi kịch mà ông Phang và Xiêm, con dâu ông phải trải qua cũng là nỗi đau của bao nhiêu người Việt Nam khi có người thân trong gia đình như con, như chồng cầm súng bắn vào đồng
21
bào, phản bội quê hương. Thái độ có thể có trong tương lai của đứa con đi học ở nước ngoài cũng làm cho chính ủy Kinh trăn trở. Ngày mai, đứa con đó trở về khi tiếng súng đã dứt, những người anh hùng hôm nay đã trở lại với đời thường, liệu nó có biết ơn, có nhớ đến sự hi sinh xương máu của những người lính, trong đó có cả Lữ, anh em của nó. Những nhánh rẽ trong mạch văn hào hùng đã tạo cho tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trước 1975 ít nhiều sự ám ảnh với giọng suy tư, triết lí. Nói tóm lại, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã dành gần hai thập kỉ để khám phá và ngợi ca vẻ đẹp lung linh, kì ảo của cuộc sống và tâm hồn con người trong chiến tranh với tâm niệm tất cả vì sự sống còn của dân tộc, của đất nước. 1.4.3. Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 Thời kì hậu chiến, Nguyễn Minh Châu đã có những tìm tòi và đổi mới sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người. Ông đã chú trọng khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong tính lưỡng diện, đa diện và luôn biến đổi của con người. Trong tiểu thuyết Miền cháy sáng tác năm 1977, hình ảnh người anh hùng trở về từ chiến tranh hiện lên đầy tâm trạng. Đó là sự khắc khổ, dằn vặt, bất an trước mảnh đất miền Trung xác xơ sau khói bom lửa đạn. Người anh hùng kiên cường trong chiến đấu thì cũng phải bản lĩnh để đối mặt với ngổn ngang đổ nát, với bộn bề lo toan để quê hương nhanh chóng được hồi sinh. Tiểu thuyết Lửa từ những ngôi nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu là sự phát triển của nguồn cảm hứng đã được khơi từ Miền cháy, vẫn là bộ mặt khắc khổ của những người lính từng là anh hùng nơi chiến trường nhưng xa lạ với lo toan đời thường sau chiến tranh, sống bất an trong hòa bình. Phải đến với truyện ngắn Bức tranh (1987), sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu mới được thể hiện trực tiếp, đầy đủ. Nhân vật người họa sĩ tự nhận thức “trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ”. Con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 đã được đặt ra ngoài bầu không khí vô trùng vốn có, vừa đi vừa vấp ngã trước thế giới đa chiều đầy biến động. Con người phải đối diện
22
với chính mình, với số phận của mình, với tư cách là một con người riêng lẻ, không nhân danh ai, không dựa vào ai. Hàng loạt những thể nghiệm sau Bức tranh như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau, Phiên chợ Giát đã làm cho quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu càng thêm vẹn đầy và sự biểu hiện quan niệm nghệ thuật đó càng thêm đa dạng, phong phú. Điều cần phải khẳng định là con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 vẫn tiếp nối đạo lí truyền thống của dân tộc, vẫn nuôi dưỡng hoài bão xây dựng quê hương giàu đẹp nhưng đã biết bám rễ trên mảnh đất hiện thực. Lực (truyện vừa Cỏ lau) đã hi sinh thời trai trẻ, hi sinh tình cha con, vợ chồng, anh em cho cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Ngày trở về, em mất, vợ đã có một gia đình mới, người cha già phải sống nhờ cô con dâu tái giá, tuy đau đáu nỗi niềm, song anh hiểu “cuộc sống đã an bài… chẳng dễ thay đổi được hoàn cảnh”, anh lựa chọn cho mình tương lai của “một người lính già sống suốt đời cùng với một ông bố”, nơi có “những hình người đàn bà bằng đá đầy cô đơn”. Lại một lần nữa, Lực nhận về mình phần thiệt thòi nhưng người đọc cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp giàu chất nhân văn của tâm hồn người Việt Nam. Trước khi ra đi vĩnh viễn, Hòa (truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) đã chia sẻ với người yêu về những dự định, những ước mơ của anh. Hòa từng “mơ tưởng sau này lớn lên sẽ chế tạo được một chiếc máy cày” để những ông già đầu bạc, những em bé không còn phải “giơ cao những chiếc cuốc rất nặng bổ xuống một cánh đồng đất rắn như gang”, để bàn tay mẹ không giống như một tấm da trâu sau mỗi vụ cày ải. Ra khỏi chiến tranh, Quỳ (truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) đã có mặt trên mặt trận kinh tế ở ngay tại mảnh đất mà người thân yêu và đồng đội của chị đã ngã xuống. Chị đã “cứu Ph ra khỏi sự lầm lạc, trả lại vị trí xứng đáng để người kỹ sư cơ khí phát huy năng lực sở trường”, “đã nhận ra được vai trò quan trọng của tài năng, của tri thức trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới”. Đọc các tác phẩm Nguyễn Minh Châu viết trong thời kì đổi mới, độc giả dễ dàng nhận thấy con người hiện lên qua mỗi trang văn của ông không phải là con
23
người nhất phiến mà là con người đa chiều và phức tạp. Chứng kiến người đàn bà làng chài (truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa) bị người chồng vũ phu đánh đập, nghệ sĩ Phùng tưởng chị là người “cam chịu, đầy nhẫn nhục” bởi “không hề một tiếng kêu, không chống trả cũng không tìm cách chạy trốn”. Nhưng khi trò chuyện trực tiếp với chị, Phùng mới nhận ra sau vẻ lam lũ, khổ sở là một người phụ nữ sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời. Chị khước từ sự giúp đỡ của nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu: “Các chú đừng bắt tôi bỏ nó” vì “các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông”. Chị ý thức được thiên chức của người phụ nữ: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn” và hứng chịu mọi nhọc nhằn, khổ đau để các con được hạnh phúc: “Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đất được”. Người phụ nữ ấy còn là người giàu lòng vị tha. Chị thấu hiểu nguyên nhân vì sao chồng lại trở nên như thế. Chị hiểu được trước đây chồng vốn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành, cũng nghĩ cho vợ con nhưng rồi cuộc sống mưu sinh khổ nhọc làm cho anh ta tha hóa. Điều đặc biệt ở người đàn bà là chị vẫn giữ được trong tâm hồn mình ngọn lửa của hi vọng, của niềm tin. Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: “vui nhất là lúc ngồi nhìn con tôi chúng nó được ăn no”, “trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Hòa (truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) là một trung đoàn trưởng tài khiến người lính ở hàng ngũ bên kia cũng phải ngưỡng mộ. Nhưng trong sinh hoạt hàng ngày, Hoà cũng có những thói nọ tật kia như những con người bình thường khác. Anh mừng rỡ, hí hửng khi được thăng cấp; chăn một đàn gà riêng, đánh một cái quần xà lỏn đi phát rẫy; yêu người này, nói xấu sau lưng người kia; có hai bàn tay lúc nào cũng dấp dính mồ hôi… Hòa vừa là một thánh nhân nhưng cũng lại là con người phàm tục với ham hố, nhược điểm. Nhân vật Hòa là một hình mẫu hoàn toàn mới khác hẳn với những con người trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trước 1975.
24
Nguyễn Minh Châu cũng chú ý khám phá con người ở góc độ đời sống riêng tư của từng cá nhân. Thai (truyện vừa Cỏ lau) vừa tham gia công tác xã hội vừa chịu tù đày, một tay chôn cất em chồng và chăm sóc phụng dưỡng bố chồng. Chị có một phẩm chất đặc biệt là suốt đời chỉ có thể yêu được một người. Số phận đã đẩy chị vào hoàn cảnh trớ trêu, phải lựa chọn giữa hai người đàn ông cũng rất đặc biệt, người thì hai mươi bốn năm nay không yêu một ai, người thì khổ sở, nhục nhã vì không được vợ yêu mà lại vẫn yêu vợ, quý vợ hơn bất cứ ai. Lão Khúng (truyện ngắn Phiên chợ Giát) có cuộc đời vô cùng khổ cực, nhọc nhằn. Lão phải giành từng tấc đất với cỏ lau và đá hộc để nuôi lớn cả bầy con cứ “tự nhiên” ra đời. Con người lão “hữu danh mà vô thực”, “trong bóng đêm đối mặt với sự thật của đời mình, con người lão càng trở nên lầm lũi”. Số kiếp của lão có lẽ cũng quẩn quanh, cổ xưa như số kiếp của con bò Khoang. Lão đã giải phóng cho nó mà nó vẫn tìm về với lão. Bởi quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi nên tất yếu giọng điệu trong những trang viết thời kì sau 1975 của Nguyễn Minh Châu không còn hào sảng, say mê, bay bổng. Giọng văn của ông trầm tĩnh hơn, xen lẫn chút chiêm nghiệm và suy ngẫm. Các nhân vật đầy suy tư, trăn trở khi nói về mình và mọi người. Dự một cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm giữa hai mẹ con, đáng lẽ vui mừng cảm động thì lại giống như một phiên tòa đại hình, nhân vật trong truyện ngắn Mùa trái cóc ở miền Nam cảm thấy “lòng mình bị tổn thương nặng nề và hình như cả con người tôi tự nhiên bị ngập chìm trong lo âu, một nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người” và thấp thoáng trước mặt anh là người mẹ chỉ có một mình vì “con người có những lúc rất cần cô độc, cũng là để đi trốn cái thế giới loài người đầy nhiễu sự và cũng để sống hết với con người mình”. Có thể nói màu sắc triết lí thấm đẫm trong nhiều truyện ngắn viết sau 1975 của Nguyễn Minh Châu. Bên cạnh đó, vì nhìn thấu những chấn động trong đời sống và tâm lí của con người, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng những dạng tình huống nhận thức thể hiện sự tự nhận thức của cá nhân con người về bản thân và xã hội. Nhĩ (truyện ngắn Bến quê) từng đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất nhưng đến lúc ốm liệt giường mới phát hiện ra “một chân trời gần gũi mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến - cái bờ bên kia sông Hồng ngay
25
trước cửa sổ nhà mình” và mơ ước được đặt chân lên bờ bên kia dù chỉ giây lát. Sự tự nhận thức về sai lầm của mình, về khả năng hữu hạn của bản thân đã làm Nhĩ ân hận, đau đớn. Anh đã không thể làm được gì để bù lấp nổi sự trống vắng, thiếu hụt của đời người vì đã đi con đường vòng chùng chình. Như vậy, có thể nói, tiểu thuyết và đặc biệt là truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu viết sau 1975 đã có sự thay đổi mạnh mẽ về quan niệm nghệ thuật về con người, khẳng định những thành tựu nghệ thuật đặc sắc được hình thành từ sự dồn nén những trăn trở của nhà văn và những đóng góp của ông trong công cuộc đổi mới văn học nước nhà.
26
Chương 2. XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU Ở TRƯỜNG THPT THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 2.1. Dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng: "Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoat động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc. Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản". Còn với Giáo sư Trần Đình Sử: "Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến". Theo quan điểm tích hợp, dạy đọc hiểu là quá trình giúp HS qua việc tiếp xúc với văn bản thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn; thấy được vai motrò, hiệu quả biểu đạt của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, ý nghĩa hình tượng nghệ thuật, những thông điệp, tư tưởng, tình cảm của người viết gửi gắm trong những tác phẩm cụ thể. Đồng thời, qua nhiều tác phẩm đọc hiểu cùng thể loại cần giúp học sinh nắm vững đặc trưng từng thể loại. Do vậy cần: - Xem đọc hiểu là quá trình hướng dẫn HS tiếp nhận, hiểu kĩ và sâu văn bản. - Trang bị cho người học kiến thức và phương pháp đọc văn thông qua tiếp cận tác phẩm tiêu biểu trong cùng thể loại, từng giai đoạn lịch sử nhất định, hình thành kiến thức một cách hệ thống. * Các bước đọc hiểu bao gồm: - Tìm hiểu tác giả: cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật. - Xác định hoàn cảnh ra đời (đặt trong bối cảnh chung của lịch sử, xã hội). - Xác định thể loại và đặc trưng thể loại (đặt trong mối quan hệ với các thể loại khác). - Định hướng kết cấu, chủ đề tác phẩm. * Giáo viên tiến hành đọc hiểu trên cơ sở chú ý một số dạng câu hỏi: - Câu hỏi phát hiện từ khó, điển tích, điển cố.
27
- Câu hỏi phát hiện khía cạnh độc đáo của ngôn ngữ nghệ thuật: từ ngữ, chi tiết, biện pháp tu từ. - Câu hỏi về giá trị biểu đạt, hiệu quả tu từ của các thủ pháp nghệ thuật nhằm gợi mở, kích thích trí tưởng tượng của HS. - Câu hỏi về thông điệp, tư tưởng, thẩm mĩ mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. - Câu hỏi liên hệ đời sống và bản thân cá nhân HS. Vận dụng dạy học tích hợp: - Tích hợp trong môn học: Trước hết là tích hợp phần Đọc văn và Tiếng Việt, Làm văn. Như vậy trong quá trình tích hợp phải giúp học sinh nhận thấy những đặc điểm về ngôn ngữ, quy tắc Tiếng Việt, những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được sử dụng. Ngoài ra, quá trình đọc văn là quá trình làm văn của học sinh. Tiếng Việt với phần Văn. Bởi vậy trong dạy học Ngữ văn tích hợp giữa Tiếng Việt - Đọc văn - Làm văn vừa tiết kiệm thời gian, vừa giúp HS hiểu sâu hơn nội dung kiến thức từng phần. Đối với phần đọc hiểu văn bản, những hiểu biết về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách học Tiếng Việt sẽ góp phần tạo nên tiềm lực phân tích và cảm thụ các tác phẩm văn chương. Có khi phân tích một từ, một câu để giúp HS hiểu thêm nghệ thuật và các giá trị của tác phẩm. Tích hợp trong nội bộ môn học còn đồng nghĩa với việc thực hiện tích hợp giữa Đọc văn với Đọc văn, tích hợp giữa hai tác phẩm cùng xu hướng văn học lãng mạn với nhau. Do đó giáo viên cần nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung kiến thức các em đã biết để chỉ nhắc lại những nội dung kiến thức cần thiết. Khi tích hợp với các nội dung kiến thức HS đã được biết tức là chạm tới vùng phát triển gần sẽ gây được hứng thú học tập cho HS. Từ kiến thức HS đã có liên hệ, mở rộng, dẫn dắt, định hướng để học sinh chiếm lĩnh những kiến thức mới. - Tích hợp liên môn: Thực tế cho thấy, phần đọc hiểu tác phẩm văn học có quan hệ chặt chẽ với các phân môn khác, đặc biệt là Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân. Do đó, dạy đọc hiểu tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm văn xuôi lãng mạn nói riêng cần có sự tích
28
hợp liên môn. Liên môn không chỉ làm cho bài học phong phú, đa dạng mà còn góp phần khắc sâu kiến thức phần đọc văn. Ví dụ: + Tích hợp Văn – Lịch sử : Tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng những kiến thức về hoàn cảnh lịch sử của từng thời kỳ,về nhân vật lịch sử. . . để lý giải và khai thác giá trị , thành công cũng như hạn chế của tác phẩm + Tích hợp Văn – Địa lý: Tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng kiến thức hiểu biết về các địa danh để lý giải rõ một số chi tiết hình ảnh nghệ thuật .+ Tích hợp Văn – Âm nhạc: Ví dụ khi ta dạy một tác phẩm văn học như bài “ Đồng chí”, “Viếng lăng Bác” Ngữ văn 9 GV có thể cho các em hát, hoặc ngâm thơ, có những tác phẩm có thể cho học sinh đóng kịch … làm như vậy các em sẽ hứng thú học hơn và kiến thức sẽ được khắc sâu hơn. + Tích hợp Văn – Mỹ thuật: Khi dạy học một tác phẩm văn chương GV có thể cho học sinh vẽ tranh minh họa một cảnh hay một nhân vật mà học sinh yêu thích, sau đó các em đặt tiêu đề cho bức tranh và nêu lý do vì sao lại chọn nội dung ấy để tái hiện bằng tranh vẽ. Cũng có thể cho học sinh nhận xét bức tranh trong SGK, so sánh với bức tranh của mình… - Tích hợp với kiến thức thực tế ngoài đời sống: Khi dạy phần Đọc văn, cần thiết phải gắn liền với kiến thức thực tế ngoài đời sống. Việc tích hợp như vậy sẽ giúp việc học bớt khô khan, tạo được hứng thú cho HS. 2.2. Dạy học đọc hiểu tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu theo quan điểm tích hợp 2.2.1. Tích hợp với kiến thức trong môn học Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyền Minh Châu đã để cho người nghệ sĩ Phùng (trước là người lính) trở về vùng đất từng là chiến trường cũ. Tại đây anh đã gặp nhiều điều “trớ trêu và bất ngờ”. Nhà văn tạo điểm nhìn hiện thực bằng cách xây dựng tình huống cho tác phẩm. Đây là “tình huống nhận thức”, nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu. Cách tạo tình huống mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống. Tình huống đó là sự kiện,
29
người nghệ sĩ trong giây phút tâm hồn thăng hoa, bất ngờ chứng kiến cảnh đôi vợ chồng từ con thuyền “thơ mộng” bước xuống, rồi lão đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo. Tình huống này còn được lặp lại một lần nữa. Nó có ý nghĩa bộc lộ rõ mối quan hệ, khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất tính cách, con người tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm trong cuộc đời con người, tạo ra những điều vỡ lẽ, giúp nhà văn nhìn sâu hơn vào hiện thực, vào con người, trong tình huống ấy, lão đàn ông tự lộ diện là một kẻ vũ phu, độc ác, người đàn bà thì cam chịu, nhẫn nhục. Tình huống ấy, buộc Phùng phải có một cách nhìn đời khác hẳn: không chỉ bằng con mắt một nghệ sĩ chỉ biết rung động say mê trước vẻ đẹp của ngoại cảnh thuần túy”, của cảnh biển thuyền lúc sớm mai. Mà đó còn là cái nhìn mang tính hiện thực. Đằng sau bức ảnh chụp con thuyền trong cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh, một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích mà người phóng viên đã thu được ẩn chứa một cuộc sống đầy vật lộn giống như trang văn của Nam Cao ngày trước, màn sương khói lãng mạn, thơ mộng của cảnh biển thuyền sớm mai - thứ “ánh trăng xanh huyền ảo” ban mai ấy đã che đậy những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xâu xa (Trùng sáng - Nam Cao). Dưới màn sương lãng mạn, từ tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, con mắt tinh tế nhà nghề của một người nhiếp ảnh, con thuyền ngư phủ đẹp như một bút mực tàu của một danh họa thời cổ chỉ là thứ nghệ thuật xa xôi, là cái đẹp mong manh, siêu thực. Phải chăng cái “chân lí của sự toàn thiện”, cái làm nên “khoảnh khắc trong ngần” của tâm hồn vẫn chỉ là điều mà ta đang tìm kiếm, theo đuổi. Sự thực không hiện lên ở đó mà khoảng khắc ngay sau đó. Thêm một chút nán lại, thật bất ngờ, chỉ trong giây phút người nghệ sĩ vừa thấy được cái xa mờ của nghệ thuật lại chạm trán ngay với một hiện thực trần trụi. Sự cay đắng phũ phàng đã thay thế cho niềm hạnh phúc tràn ngập tâm hồn. Từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ trong sương sớm ấy bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, tàn nhẫn coi việc đánh vợ như một phương cách để giải tỏa uất ức. Sự ngang trái, xấu xa, những bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là một thứ thuốc rửa quái đản, là những thước phim huyền diệu mà người nhiếp ảnh dày công chụp được bỗng hiện hình thật khủng khiếp.
30
- Yêu cầu học sinh dựa vào kiến thức đã được học ở phân môn Làm văn để tóm tắt tác phẩm. - Tích hợp với các tác phẩm đã được học trong chương trình THPT như Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt về đức hi sinh của người phụ nữ. - Tích hợp với phân môn Làm văn. Cụ thể là dạy học tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” tích hợp nghị luận xã hội , giá trị lớn nhất của nó chính là khả năng tuyên truyền rộng rãi và sâu sắc về vấn nạn bạo hành gia đình ở Việt Nam. Vì vậy nó có thể thay thế, bổ sung cho hoạt động tuyên truyền chống bạo hành gia đình ở mọi nơi. Và đương nhiên, giá trị kinh tế mà nó mang lại là rất đáng kể. - Tích hợp với ý kiến của Thạch Lam: Văn chương là một thứ khí giới thanh cao mà đắc lực mà chúng ta có thể vừa tố cáo, thay đổi thế giới giả dối, tàn ác vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn. Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, chi tiết cuối truyện: Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” → những tác động thẩm mĩ kì diệu của nghệ thuật đối với tâm hồn con người. 2.2.2. Tích hợp với kiến thức liên môn 2.2.2.1. Với môn Lịch sử - Về hoàn cảnh lịch sử xã hội: + Truyện được viết xong trong tháng 8 năm 1983, nghĩa là ở những năm trước của công cuộc đổi mới (tính từ năm 1986). Đầu những năm 80 của thế kỷ XX nước ta lâm vào cơn khủng hoảng kinh tế nặng nề. Thực tế đòi hỏi chúng ta phải có những cơ chế mới thích hợp để thay thế cơ chế quan liêu bao cấp đã lỗi thời, kể cả phải thay đổi lối bao cấp về tư tưởng. Nhìn ở phương diện văn học ta mới thấy những truyện như Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một sự báo hiệu công cuộc đổi mới trong văn học, từ đề tài, nhân vật cho đến cách viết… Chính vì thế mà nhà văn được đánh giá rất cao, “là người cảm nhận ra sớm nhất, sâu xa nhất, tận máu thịt tâm tưởng mình cái yêu cầu bức bách sống còn của cuộc trở dạ nọ, mà ngày nay chúng ta gọi là công cuộc đổi mới”, “là một hiện tượng văn học mới”…
31
Phải đặt Chiếc thuyền ngoài xa vào bối cảnh những năm trước đổi mới chúng ta mới thấy rõ vị trí tiên phong của nhà văn trong việc đổi mới văn học nước nhà. + Từ những năm 80 của thế kỉ XX, từ cảm hứng sử thi lãng mạn của những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, cảm hứng sáng tác của nhà văn dần dần chuyển sang tính chất triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá ý nghĩa bản chất con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số những tác phẩm ra đời trong mạch cảm xúc này của tác giả. - Tích hợp về lịch sử qua chi tiết bãi xe tăng để đưa ra bài học đối với học sinh cuộc đấu tranh chống lại cái ác còn gay gắt và mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. + Bãi xe tăng hỏng - vật chứng chứng tỏ chiến tranh vừa qua chưa xa. Tuy chiến tranh đã qua, những người lính như Phùng đã cố gắng hết sức chiến đấu mang lại tự do cho nhân dân, mang lại độc lập cho đất nước, thế nhưng anh lại không thể giải phóng cho những người phụ nữ nghèo khỏi đói khổ khỏi cảnh tượng bạo lực gia đình. Chiếc xe tăng giống như một vật chứng của chiến tranh đã hủy hoại khiến cả một đất nước rơi vào tình cảnh đói nghèo, mất mát. Nó cũng giống như nhân chứng, chứng kiến tất cả cuộc sống của người dân chài, chứng kiến cái vẻ đẹp yên bình và cả những hành động đánh đập vợ của ông chồng. Chiến tranh chưa bao giờ là tốt đẹp, hình ảnh chiếc xe tăng - vật biểu trưng cho chiến tranh cũng thế, chính nó đã tham gia vào việc che giấu hành vi bạo lực của ông chồng. Cảnh người chồng ra sức quật người vợ được diễn ra sau bãi xe tăng cũ, để tránh những đứa con phát hiện và khiến cho Phùng suýt nữa thì tin rằng tấm ảnh mà anh chụp được là một vẻ đẹp hoàn mĩ. => Nêu lên bài học: ngăn chặn “chiến tranh tâm hồn”, cuộc đấu tranh chống lại cái ác còn gay gắt và mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. 2.2.2.2. Với môn Giáo dục công dân - Tích hợp hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua thơ, ca dao từ đó giáo dục về vấn đề bình đẳng giới cho học sinh.
32
+ “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non” + “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.” - Chế lan Viên + Nhìn về quê mẹ xa xăm, Lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa” - Nguyễn Duy Cần cù, chịu thương chịu khó, yêu chồng, thương con và đặc biệt là rất giàu đức hi sinh là những phẩm chất cao quý của người phụ nữ. Nhưng cuộc đời của họ luôn chịu nhiều đau thương, bất hạnh. Họ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình: phong tục tập quán, tâm lí, định kiến giới, điều kiện kinh tế, trình độ dân trí… Trong đó nguyên nhân sâu xa nhất và xuyên suốt trong các vụ bạo lực gia đình là sự bất bình đẳng sâu sắc trong quan hệ giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ. Từ xưa đến nay, tư tưởng gia trưởng luôn tồn tại trong gia đình (phu xướng phụ tùy), chồng tự cho mình cái quyền được đánh vợ, coi việc đánh vợ như là một sự giáo dục và thể hiện quyền lực của bề trên đối với kẻ dưới (Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về), người vợ bị chồng đánh đập coi đó là chuyện thường, cam chịu chấp nhận chung sống mà không đấu tranh giải phóng cho mình từ đó giáo dục cho HS vấn đề bình đẳng giới. - Vấn đề tình trạng bạo lực gia đình và ảnh hưởng đối với trẻ nhỏ được đặt ra trong tác phẩm: Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Minh Châu không ngừng trăn trở về số phận nhân dân và trách nhiệm của nhà văn. Điều này được Nguyễn Minh Châu thể hiện khá rõ trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Trong truyện ngắn này Nguyễn Minh Châu đã đưa ra một vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng, đó là nạn bạo lực trong gia đình. Đọc truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, ai cũng thấy thói vũ phu, độc ác của người chồng hàng chài. Người chồng hàng chài ngày nào cũng đánh đập vợ mình một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo. Ông như hoàn toàn mất hết nhân tính, chẳng còn một chút lương tri. Nhưng đâu là nguyên nhân dẫn đến sự bạo
33
hành ấy? Chúng ta có thể hiểu sở dĩ người chồng hàng chài có hành động tàn bạo, độc ác ấy là do hai nguyên nhân sau đây: + Nguyên nhân trực tiếp: Do sự tăm tối và thói vũ phu. + Nguyên nhân sâu xa: Do tình trạng đói nghèo, đời sống bấp bênh, kéo dài lê thê trong cuộc sống của gia đình anh hàng chài. Chính điều này, đã gây nên tâm trạng u uất, tạo nên tâm lí bế tắc, chán ghét cuộc đời, hận thù cuộc đời của người chồng và không biết làm sao để giải tỏa những điều ẩn ức ấy, nên trút sự giận dữ, buồn bực lên đầu vợ con mình. Tình trạng bạo lực trong gia đình hàng chài đã để lại một hậu quả thật bi đát, đớn đau cho người đàn bà hàng chài. Người mẹ của cậu bé Phác không những chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị hành hạ về tinh thần, về mặt thể xác, người đàn bà này hàng ngày phải đưa tấm thân của mình ra hứng chịu những trận đòn chí tử từ chồng, xác thân mềm nhũn, mang đầy thương tích, về mặt tinh thần thì người mẹ này luôn luôn nơm nớp lo sợ cho sự tổn thương của con cái. Bà rất đau đớn, xót xa khi bà cố gắng tìm mọi cách che chắn cho con, bà đã xin chồng đừng đánh mình trên thuyền, trước mặt con cái, nhưng rồi những đứa con vẫn biết sự thật, khiến bà “vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã". Đứa con - cậu bé Phác vì thương mẹ, không chịu nổi khi nhìn cảnh mẹ mình bị bố đánh đập, hành hạ nên căm ghét bố, xông vào đánh bố để bảo vệ cho mẹ. Điều đó cho ta thấy tình cha con đã rạn vỡ, sự thơ ngây, hồn nhiên của tuổi thơ đã biến mất trong tâm hồn cậu bé Phác. => Giáo dục về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả của nó đối với cuộc sống gia đình và xã hội cho học sinh. Trực trạng HS vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không êm ấm, từ đó mang tâm lí bất mãn, không có ý thức vươn lên, dễ sa vào các tệ nạn xã hội - giáo dục HS biết thông cảm, biết chia sẻ với nỗi khổ của con người và hơn hết là biết vượt qua hoàn cảnh và không nên dùng hoàn cảnh để biện hộ cho những suy nghĩ, việc làm sai trái của mình. 2.2.2.3. Tích hợp với môn Địa lý - Một vùng biển miền Trung: vừa là một vùng chiến trường cũ mà Phùng đã tham gia chiến đấu, vừa là nơi Phùng đến nhằm mục đích săn những tấm ảnh đẹp để
34
đưa vào bộ lịch năm sau. Thật ra đó chưa phải là vùng biển mà mới chỉ là vùng phá ăn sâu vào đất liền chạy quanh quất như chơi trò trốn tìm giữa các thôn ổ, chợ búa trong một phạm vi hàng mấy chục cây số. Đó là vùng nước thơ mộng và chỉ riêng nơi này mới có sương mù vào giữa tháng bảy. Nơi đây có bãi xe tăng do bọn thiết giáp ngụy vất lại ngay trên đường rút chạy và là nơi có một cái gì đó thật phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn Phùng. Qua chi tiết này đưa ra bài học với HS đó là: Dù cuộc sống hiện tại có đầy đủ, hạnh phúc thì cũng không bao giờ được phép quên những thứ khó khăn, những thứ ta đã gặp và trải qua trước đó. Như nhiếp ảnh Phùng sau những năm tháng chiến đấu đối diện với khó khăn thử thách thì khi được trưởng phòng giao cho việc đi chụp ảnh để làm bộ sưu tập về thuyền và biển cho năm sau, Phùng đã không do dự và quyết định về vùng biển ngày xưa mình đã từng chiến đấu để thăm lại nơi ấy cùng người đồng đội cũng là đồng hương đang công tác ở đó. - Hiện tượng có sương mù vào sáng sớm: Chi tiết mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào, đoạn văn "Vào một buổi sáng tôi thức dậy. Đàng đông đã sáng trắng, Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết. Những đám mây hình vỏ sò cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn... con sứa khổng lồ giạt vào bãi". Đó là những chi tiết mà Phùng cho rằng: "Có lẽ suốt đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi thấy được một cảnh "đắt" trời cho như vậy. Từ những chi tiết, hình ảnh mà tác giả dựng lên cho thấy con mắt tinh tế, nhạy bén của NMC trước những hiện tượng cuộc sống, thấy rõ hơn quan niệm của nhà văn: Nghệ thuật đích thực không bao giờ rời xa cuộc đời, tác giả không phán truyền, áp đặt mà đối thoại cùng người đọc suy ngẫm của mình về con người và nghệ thuật. Hiện thực được phản ánh và nghiền ngẫm trong tác phẩm thu nhỏ trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa. Đằng sau vẻ đẹp tuyệt mĩ, toàn bích như kì công của tạo hoá ấy lại tiềm ẩn và ngự trị cái ác, cái xấu (ng• ười chồng to lớn, dữ dằn đánh đập vợ thô bạo). Vẻ đẹp tuyệt mĩ của con thuyền trong sương mờ từ xa bỗng vỡ vụn bởi
35
một cảnh tượng trần trụi khi nó tiến gần bờ. Qua đó, nhà văn muốn gửi gắm một quan niệm về hiện thực: Nhìn nhận cuộc đời không nên đơn giản, xuôi chiều, bị đánh lừa bởi vẻ ngoài mà cần soi thấu sự phức tạp, chứa đầy nghịch lí, mâu thuẫn bên trong. Để nhận diện được bản chất đích thực của đời sống, mỗi người cần thâm nhập mạch ngầm ẩn sâu để không bị ngộ nhận bởi vẻ hào nhoáng bên ngoài. 2.2.2.4. Với môn Mỹ thuật Cho học sinh vẽ một bức tranh cảnh chiếc thuyền ngoài xa, đặt tên cho bức tranh và thuyết trình về bức tranh đó (cảm nhận về bức ảnh của nghệ sĩ Phùng: Đó là những bức ảnh nếu cảm nhận bằng mắt thường thì là những bức ảnh đẹp toàn mĩ nhưng nằm sâu, ẩn chứa trong đó là những suy tư, trăn trở của nhà văn NMC về con người và số phận của họ, nhất là những người nghèo khổ. Chiến tranh đã đi qua nhưng tàn dư của chiến tranh vẫn còn đó và những hậu quả khôn lường mà nó để lại). 2.2.3. Tích hợp với kiến thức thực tế ngoài đời sống - Tích hợp với kiên thức chính trị xã hội qua nhân vật Đẩu: Là một người cán bộ toàn tâm toàn ý trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Khi kháng chiến thắng lợi trở về quê làm chánh án thì lại toàn tâm toàn ý với dân, cố gắng đem lại hạnh phúc cho nhân dân nhưng anh lại không thể thực hiện được điều đó. Khi gặp trường hợp của người đàn bà hàng chài anh ra sức khuyên chị ta li dị chồng để thoát khỏi cảnh bạo lực gia đình và có cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng anh chỉ nhìn thấy cái trước mắt mà không đi sâu tìm hiểu lí do vì sao chị ta không chịu bỏ người đàn ông đó và vì sao người chồng lại đánh vợ tàn nhẫn như vậy? => Bài học rút ra: Đưa ra vấn đề quản lý xã hội, trách nhiệm đào tạo đội ngũ cán bộ: Muốn đem lại hạnh phúc cho nhân dân thì không chỉ đem những lí lẽ và kiến thức, những khuôn mẫu bài bản ra để thuyết phục, khuyên ngăn họ mà phải đi vào tìm hiểu người dân cần gì. - Từ bài học kết hợp với kiến thức thực tế GV giúp học sinh nhận thức được một số nội dung sau:
36
+ Luôn lưu giữ được những vẻ đẹp nghệ thuật và những món quà từ thiên nhiên ban tặng. + Không sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí. + Luôn có ý thức bảo vệ và giữ gìn biên giới biển đảo quốc gia. + Giữ cho môi trường sống xunh quanh và nhất là môi trường biển luôn xanh - sạch - đẹp. + Ý thức được tầm quan trọng và ảnh hưởng của vấn đề bình đẳng giới, bạo lực gia đình.
37
Chương 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM Tác phẩm: Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục) CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA Nguyễn Minh Châu I. Mục tiêu Giúp học sinh: - Nắm được những nét cơ bản nhất về tác giả Nguyễn Minh Châu. - Phân tích để thấy được sự sáng tạo độc đáo của tác giả trong việc xây dựng tình huống truyện (tình huống nhận thức) và quan niệm sáng tác của tác giả NMC. - Tìm hiểu được diễn biến cuả tình huống truyện ở chặng thứ nhất và chặng thứ hai của quá trình nhận thức. II. Phương pháp dạy học - Nêu vấn đề, gợi mở, vấn đáp, làm việc nhóm, thuyết trình... - Tích hợp với các môn Lịch sử, Địa lý, Mỹ thuật... vào trong quá trình tìm hiểu tác phẩm. III. Phương tiện - GV: SGK, SGV, giáo án, Sách nâng cao, Sách thiết kế bài giảng và các tài liệu liên quan khác. - HS: SGK, vở soạn và các tài liệu liên quan khác. IV. Tổ chức hoạt động 1. Ổn định lớp 2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài soạn của HS 3. Bài mới Giới thiệu bài: Nguyễn Minh Châu thuộc một trong số những người mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học nước ta hiện nay. Sự tinh anh và tài năng ấy trước hết thể hiện ở quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật. Sau 1975, khi văn chương trở về với đời thường Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức, thế sự. Tâm
38
điểm khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Khám phá mới của nhà văn thể hiện qua tác phẩm tiêu biểu mà chúng ta tìm hiểu trong bài học hôm nay. Hoạt động của giáo viên và học sinh
Kết quả cần đạt
Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh tìm I. Tìm hiểu chung: hiểu chung về tác giả, tác phẩm
1. Tác giả:
- Dựa vào phần tiểu dẫn trong SGK và a, Cuộc đời chuẩn bị bài hãy trình bày hiểu biết của - Tên tuổi: Nguyễn Minh Châu (1930em về tác giả Nguyễn Minh Châu?
1989)
- Nét nổi bật nhất trong sáng tác của - Quê quán: làng Thơi, xã Quỳnh Hải, NMC ở chặng đường trước và sau 1975 huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. là gì?
- Trước 1975: Cảm hứng sử thi - lãng
GVMR: Nếu trong Mảnh trăng cuối mạn. rừng cuộc sống, con người được bao - Sau năm 1975: cảm hứng thế sự, với bọc trong cảm hứng sử thi - lãng mạn, những vấn đề về đạo đức và triết lí nhân thì Chiếc thuyền ngoài xa lại mang cảm sinh. hứng thế sự, triết lí nhân sinh. Đó là quá => Ông được xem là một cây bút tiên trình đổi mới tư duy nghệ thuật đưa phong “nhà văn mở đường tinh anh và NMC lên vị trí người mở đường tinh tài năng nhất” của VHVN thời kì đổi anh và tài năng của văn học nước ta mới. (Nguyên Ngọc) thời kì đổi mới. - Nêu một số tác phẩm tiêu biểu của b, Sự nghiệp NMC?
- NMC đóng góp cho VHVN hiện đại ở các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, tiểu luận, phê bình. - Tác phẩm chính: Cửa sông, Mảnh trăng cuối rừng, Dấu chân nười lính;
39
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê… CH4: Em hãy cho biết hoàn cảnh sáng 2. Tác phẩm: Chiếc thuyền ngoài xa. tác và xuất xứ của tác phẩm?
a, Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ - Hoàn cảnh sáng tác: + Năm 1983: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc thắng lợi, đất nước hòa bình thống nhất. Cuộc sống với "muôn mặt đời thường" đã trở lại. + Đất nước bước vào công cuộc đổi mới, văn học có sự thay đổi sâu sắc: khai thác triệt để số phận cá nhân, thân phận con người đời thường. - Xuất xứ: Lúc đầu in trong tập Bến quê (1985) sau đó in trong tuyển tập truyện ngắn cùng tên Chiếc thuyền ngoài xa (1987).
CH5: Em hãy tóm tắt ngắn gọn cốt b, Tóm tắt tác phẩm truyện? (tích hợp với phân môn Làm Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến vùng biển văn)
là chiến trường xưa mong chụp đươc bức ảnh đẹp về thuyền và biển bổ sung cho bộ lịch năm sau. - Anh bất ngờ gặp và ghi vào máy ảnh một "cảnh đắt trời cho": Một chiếc thuyền lưới vó hiện ra trong biển sớm mờ sương như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. - Khi chiếc thuyền ấy vào bờ Phùng đã chứng kiến một cảnh khác hẳn: Một
40
người đàn ông đánh vợ tàn bạo trên bãi cát và đứa con trai đến cứu mẹ đã đánh lại cha mình. - Lần thứ hai chứng kiến cảnh đó Phùng đã xông ra ngăn cản và bị ông ta đánh bị thương. - Tòa án huyện mời người đàn bà đến định giúp chị giải thoát khỏi sự hành hạ của lão chồng vũ phu. Nhưng người phu nữ đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, chị kể lại câu chuyện về cuộc đời mình. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài đã gợi nhiều suy nghĩ cho chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng. - Dựa vào tình huống, sự kiện, em hãy c, Bố cục chia bố cục văn bản?
- Bố cục: 3 đoạn. + Đoạn 1 (Từ đầu đến… lưới vó đã biến mất): Hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng. + Đoạn 2 (Tiếp theo đến… sóng gió giữa phá): Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện. + Đoạn 3 (Còn lại): Tấm ảnh được chọn trong "bộ lịch năm ấy".
* Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh II. Đọc hiểu văn bản: đọc hiểu văn bản.
1. Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ a. Phát hiện 1: Bức tranh thiên nhiên nhiếp ảnh
Bức tranh thiên nhiên hoàn mĩ: Cảnh đắt
- Nhân vật Phùng đã phát hiện ra vẻ đẹp trời cho.
41
của ngoại cảnh trong hoàn cảnh nào?
- Vẻ đẹp trời cho mà cả đời bấm máy
Bức ảnh Chiếc thuyền ngoài xa trong người nghệ sĩ chỉ có diễm phúc bắt gặp buổi sớm mờ sương mà nghệ sĩ Phùng một lần : Mũi thuyền in một nét mơ hồ coi đó là cảnh “đắt” trời cho . Em hiểu loè nhoè vào bầu sương mù mầu trắng như thế nào về nhận xét đó?
như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào.Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum…” + Một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ + Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà + Một vẻ đẹp toàn bích
- Cho biết cảm xúc của Phùng truớc - Cảm nhận của nghệ sĩ phùng: cảnh đẹp ấy của biển trời? (tìm những + Bối rối, trong trái tim như có cái gì chi tiết thể hiện và từ đó rút ra nhận xét bóp thắt vào. + Tưởng mình vừa khám phá ra chân lí
chung).
của sự hoàn thiện. + Tâm hồn mình như được gột rửa trong trẻo, tinh khôi. + Phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức. => Bối rối, hạnh phúc, mãn nguyện. => Cái đẹp thực sự phải có tính hướng thiện. Đó là sự hài hòa giữa Chân, Thiện, Mĩ. - GVMR: Khi cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh, anh lại nghĩ đến lời đúc kết của
42
một ai đó “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Nói cách khác, trong một khoảnh khắc của cuộc sống, nghệ sĩ Phùng đã cảm nhận được cái Chân, cái Thiện của cuộc đời, anh cảm thấy tâm hồn mình như được gột rửa trở nên thật trong trẻo, tinh khôi. Điều này có nghĩa là cái đẹp đã có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Với tác dụng ấy, cái đẹp chính là đạo đức. Tích hợp: Ý kiến của Thạch Lam: Văn chương là một thứ khí giới thanh cao mà đắc lực mà chúng ta có thể vừa tố cáo, thay đổi thế giới giả dối, tàn ác vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn. Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, chi tiết cuối truyện: Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “ Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”→ những tác động thẩm mĩ kì diệu của nghệ thuật đối với tâm hồn con người. - Tích hợp (môn Địa lí): Hiện tượng có sương mù vào sáng sớm: Chi tiết mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào, đoạn văn "Vào một buổi
43
sáng tôi thức dậy. Đàng đông đã sáng trắng, Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết. Những đám mây hình vỏ sò cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn... con sứa khổng lồ giạt vào bãi". Đó là những chi tiết mà Phùng cho rằng: "Có lẽ suốt đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi thấy được một cảnh "đắt" trời cho như vậy. Từ những chi tiết, hình ảnh mà tác giả dựng lên cho thấy con mắt tinh tế, nhạy bén của NMC trước những hiện tượng cuộc sống, thấy rõ hơn quan niệm của nhà văn: Nghệ thuật đích thực không bao giờ rời xa cuộc đời, tác giả không phán truyền, áp đặt mà đối thoại cùng người đọc suy ngẫm của mình về con người và nghệ thuật. Hiện thực được phản ánh và nghiền ngẫm trong tác phẩm thu nhỏ trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa. Đằng sau vẻ đẹp tuyệt mĩ, toàn bích như kì công của tạo hoá ấy lại tiềm ẩn và ngự trị cái ác, cái xấu (người chồng to lớn, dữ dằn đánh đập vợ thô bạo). Vẻ đẹp tuyệt mĩ của con thuyền trong sương mờ từ xa bỗng vỡ vụn bởi một cảnh
44
tượng trần trụi khi nó tiến gần bờ. Qua đó, nhà văn muốn gửi gắm một quan niệm về hiện thực: Nhìn nhận cuộc đời không nên đơn giản, xuôi chiều, bị đánh lừa bởi vẻ ngoài mà cần soi thấu sự phức tạp, chứa đầy nghịch lí, mâu thuẫn bên trong. Để nhận diện được bản chất đích thực của đời sống, mỗi người cần thâm nhập mạch ngầm ẩn sâu để không bị ngộ nhận bởi vẻ hào nhoáng bên ngoài GVMR: Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu , tâm hồn người nghệ sĩ trở
nên thật trong trẻo, tinh khôi
trước cái đẹp hài hòa, lãng mạn của cuộc đời. Nhưng… ngay khi tâm hồn đang bay bổng trong những rung cảm thẩm mĩ , đang tận hưởng hạnh phúc của những khoảnh khắc trong ngần trong tâm hồn thì nghệ sĩ Phùng kinh ngạc khi phát hiện ra một nghịch cảnh. Đó là nghịch cảnh gì? Chúng ta cùng nhau đi tìm hiểu phát hiện thứ 2 của Phùng. Phát hiện thứ 2 của Phùng
b. Phát hiện 2: Bức tranh cuộc sống
- Những cảnh tượng, con người đằng Khung cảnh đầy bất ngờ và nghịch lí sau bức tranh thơ mộng mà người nghệ bước ra từ chiếc thuyền là:
45
sĩ phát hiện là gì?
- Một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi. - Một gã đàn ông to lớn, dữ dằn. - Một cảnh tượng tàn nhẫn (gã chồng đánh đập người vợ một cách thô bạo; đứa con vì thương mẹ đã đánh lại cha…) → Hiện thực nghiệt ngã đến xót xa của số phận con người .
- Chứng kiến những cảnh tượng ấy - Thái độ của người nghệ sĩ: Kinh ngạc nghệ sĩ Phùng thể hiện thái độ như thế đến thẫn thờ, vứt chiếc máy ảnh chạy nhào tới.
nào?
- Vì sao nghệ sĩ Phùng lại có thái độ - Vì anh không thể ngờ rằng : Đằng sau như thế?
cái đẹp kì diệu kia của tạo hoá là cái ác,
GVMR: Đằng sau cái đẹp kì diệu kia cái xấu, cái nghiệt ngã của cuộc sống của tạo hoá là cái ác, cái xấu, cái nghiệt ngã của cuộc sống.Vừa mới lúc trước anh còn cảm thấy bản thân cái đẹp chính là đạo đức, là chân lí của sự toàn thiện, thế mà chỉ ngay sau đó chẳng còn gì là cái đạo đức, cái toàn thiện của cuộc đời, những nhận thức, cảm xúc thăng hoa lúc đầu đã bị đảo lộn. - Hãy so sánh hai bức tranh từ hai phát - Hai bức tranh có sự đối lập .Từ sự đối hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh?
lập giữa hai bức tranh - hai phát hiện đầy
( Đối lập giữa bức tranh thơ mộng lúc trái ngược, éo le của người nghệ sĩ , tác chiếc thuyền ngoài xa với hiện thực đau giả khẳng định: lòng khi chiếc thuyền tiến đến gần bờ) - Từ sự đối lập trên, nhà văn muốn + Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều người đọc nhận thức điều gì về cuộc mà chứa đựng nhiều nghịch lí . đời?
46
GVMR: Một thiên nhiên thơ mộng, êm đềm dễ khiến người ta tưởng cuộc sống nơi đây bình yên và hạnh phúc nhưng không phải như vậy. Đối lập giữa hai bức tranh, hai phát hiện đầy trái ngược của người nghệ sĩ tác giả khẳng định: Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí. - Theo đó tác giả muốn nhắc nhở người + Người nghệ sĩ phải tỉnh táo nhìn ra cái nghệ sĩ điều gì?
thực tế phũ phàng của đời sống. Đây là
GVMR: Người nghệ sĩ đừng bao giờ bài học, là trách nhiệm cũng là lương quên nghịch lí đời sống, nghệ thuật tâm của nghệ thuật. không chỉ ở cảnh đẹp thơ mộng mà còn ở cái hiện thực nghiệt ngã, xót xa kia. Khát vọng tìm đến cái đẹp, mong muốn làm cho con người đẹp hơn là rất đáng quý nhưng người nghệ sĩ phải tỉnh táo nhìn ra cái thực tế phũ phàng của đời sống. - Tích hợp : cảnh tỉnh cho tất cả mọi người : hãy tỉnh táo trước cái đẹp, rất có thể cái đẹp ẩn chứa những điều phức tạp đi ngược lại hạnh phúc của con người. - Điều nhà văn muốn người đọc lưu tâm + Cần phân biệt giữa cái hình thức bề là gì?
ngoài với nội dung, bản chất bên trong khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng.
- Để có được bức tranh tuyệt đẹp, - Đặt ra yêu cầu đối với nghệ thuật:
47
Phùng đã phải trải qua nhiều ngày phục Nghệ thuật phải là sự công phu, tìm tòi, kích, qua 4 lần lựa chọn và quyết định. biết chờ đợi, đòi hỏi một sự kiên nhẫn Nhà văn muốn đưa ra yêu cầu gì về cao độ. nghệ thuật? Câu chuyện của người đàn bà hàng 2. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài (ở toà án huyện)
chài (ở toà án huyện):
- Câu chuyện của người đàn bà hàng a. Câu chuyện : chài ở toà án huyện hiện lên như thế + Người đàn bà là người xấu xí, nào? (Gọi HS đọc lại một số đoạn tiêu
nghèo khổ.
biểu để cả lớp phát hiện)
+ Lấy chồng, đời chị càng trở nên cơ cực, đắng cay hơn. Cái khổ, cái nghèo càng gia tăng theo sự ra đời của những đứa con. + Thường xuyên bị chồng hành hạ, đánh đập cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. + Chị thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau. Khi bị chồng đánh “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”. Chị chỉ có một lời cầu xin là được đánh ở trên bờ. + Trước sau chị vẫn nhất quyết gắn bó với người chồng vũ phu ấy.
- Nhận xét của em về câu chuyện người - Là một người cam chịu, nhẫn nhục và đàn bà hàng chài?
giàu đức hi sinh.
- Qua câu chuyện của người đàn bà → Câu chuyện đầy nghịch lí - không thể hàng chài, tác giả muốn nói lên điều gì? nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống một cách đơn giản mà phải nhìn nhận con người trong hoàn cảnh cụ
48
thể. b.Các nhân vật: - Nhận xét về người đàn bà qua cách * Người đàn bà: nhìn nhận của nghệ sĩ Phùng và qua câu - Xấu xí, thô kệch, rách rưới, lam lũ, chuyện của bà ta ở toà án huyện?
nhẫn nhục, cam chịu .
Vì sao người đàn bà hàng chài nhất - Vị tha, giàu đức hi sinh biết chắt chiu quyết không chịu từ bỏ người đàn ông hạnh phúc đời thường, sâu sắc, hiểu lẽ thô bạo, độc ác đó?
đời, sống vì con.
GVMR: Người đàn bà xấu xí thô kệch có vẻ ngoài thật quá nhẫn nhục, cam chịu “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, nhưng chị nhất quyết không chịu bỏ gã chồng vũ phu. Bởi vì, như lời giãi bày từ gan ruột của người mẹ đáng thương ta mới thấy bà ta có một tấm lòng hi sinh vô bờ: “Đám đàn bà…. cho mình”. - Các em có suy nghĩ gì về hình ảnh => Thấp thoáng trong hình ảnh người người đàn bà hàng chài? (Tác giả gọi đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao tên nhân vật một cách phiếm định nhằm người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dụng ý gì?).
dung, giàu lòng vị tha, đức hi sinh.
Tích hợp : Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua thơ, ca dao: + “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non” + “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. - Chế lan Viên -
49
+ Nhìn về quê mẹ xa xăm, Lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa” - Nguyễn Duy -... → cần cù, chịu thương chịu khó, yêu chồng, thương con và đặc biệt là rất giàu đức hi sinh. Nhưng cuộc đời của họ luôn chịu nhiều đau thương, bất hạnh, là nạn nhân của bạo lực gia đình. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình: phong tục tập quán, tâm lí, định kiến giới, điều kiện kinh tế, trình độ dân trí… trong đó nguyên nhân sâu xa nhất và xuyên suốt trong các vụ bạo lực gia đình là sự bất bình đẳng sâu sắc trong quan hệ giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ. Từ xưa đến nay, tư tưởng gia trưởng luôn tồn tại trong gia đình (phu xướng phụ tùy), chồng tự cho mình cái quyền được đánh vợ, coi việc đánh vợ như là một sự giáo dục và thể hiện quyền lực của bề trên đối với kẻ dưới (Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về), người vợ bị chồng đánh đập coi đó là chuyện thường, cam chịu chấp nhận chung sống mà không đấu tranh giải phóng cho mình => giáo dục cho HS vấn đề bình đẳng giới. - Qua những chi tiết trong truyện, hãy * Người đàn ông : nhận xét chung về người đàn ông?
- Một người cao lớn, dữ dằn, thô bạo.
50
- Người đàn ông có phải là người hoàn - Vũ phu, đánh vợ một cách tàn nhẫn. toàn xấu không?
- Ông ta không hoàn toàn là người xấu mà do những áp lực từ cuộc sống khiến ông ta hành động như vậy.
- Cách đánh giá của các nhân vật trong
Các đánh giá:
truyện về người đàn ông? (người đàn - Đẩu, Phùng, thằng Phác : người đàn bà, Đẩu, Phùng, thằng Phác)
ông vũ phu là thủ phạm gây đau khổ cho
(Đẩu, Phùng, thằng Phác: Không thể những người thân, cần lên án, đấu tranh. chấp nhận hành động vũ phu của người - Người đàn bà : Cái nhìn toàn diện, hiểu đàn ông. Người đàn bà: gã đàn ông được bản chất của người chồng - thấu không hẳn hoàn toàn xấu, khi xưa lão hiểu, cảm thông . “là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập…” nhưng vì do lão “khổ quá” vì làm ăn nuôi con. Rồi đói “ông trời làm biển động… chấm muối”. Hắn là người lao động lương thiện, đánh vợ để giải tỏa bức bối, cứ mỗi là đánh vợ hắn lại rên rỉ bằng giọng đau đớn, cũng không phải là kẻ hiếu chiến, thích gây gổ, đánh đấm người khác “lão đánh tôi hoàn toàn vì mục đích tự vệ”)
→ người đàn ông vừa là thủ phạm của bạo lực gia đình vừa là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt.
- GV tích hơp: Liên hệ trong văn học có những con người với hoàn cảnh tương tự, nói như Nam Cao, trước kia, chỉ để thỏa mãn lòng ích kỉ, chúng tự cho mình cái quyền được hành hạ mọi
51
người. Liên hệ với nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của nhà văn Nam Cao - liên hệ trong thực tế đời sống hiện nay có nhiều gia đình vì kinh tế khó khăn gây tâm lí buồn chán, bi quan dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, hạnh phúc tan vỡ; trực trạng HS vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không êm ấm, từ đó mang tâm lí bất mãn, không có ý thức vươn lên, dễ sa vào các tệ nạn xã hội - giáo dục HS biết thông cảm, biết chia sẻ với nỗi khổ của con người và hơn hết là biết vượt qua hoàn cảnh và không nên dùng hoàn cảnh để biện hộ cho những suy nghĩ, việc làm sai trái của mình. - Nêu nhận xét về nhân vật thằng Phác?
* Thằng Phác : - Đứa trẻ ham hiểu biết.
- Vì sao Phác lại có hành động bất hiếu - Sớm lam lũ lao động. như vậy? Em có đồng tình với việc làm - Rất thương mẹ nhưng lại có hành động của Phác không? Vì sao?
ẩn chứa tính côn đồ, nguy hiểm sẵn sàng
GVMR: Dù rất thương mẹ nhưng hành cầm dao đâm bố để cứu mẹ. động của Phác là không thể chấp nhận → Vừa là nạn nhân,vừa là thủ phạm của được, nó đã sớm có ý thức báo thù bằng tình trạng bạo lực gia đình. cách dùng bạo lực để ngăn cản bạo lực. Thằng Phác vừa là nạn nhân của thói côn đồ vừa là thủ phạm kích động thói côn đồ và chính nó cũng sớm có thói côn đồ.
52
- GV tích hợp liên hệ với thực tế xã hội hiện nay về tình trạng con bênh vực mẹ, đánh lại bố để cảnh báo, giáo dục HS tránh những việc làm trái với luân thường, đạo lí. Qua đó, báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả của nó (GV trình chiếu một số hình ảnh về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả của nó trong xã hội hiện nay) - Đánh giá về các nhân vật Đẩu, Phùng? - Tích hợp với kiên thức chính trị xã hội * Đẩu : Có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ qua nhân vật Đẩu: Là một người cán bộ công lí nhưng kinh nghiệm chưa nhiều. toàn tâm toàn ý trong cuộc kháng chiến * Phùng : Sẵn sàng làm tất cả vì sự công chống Mỹ cứu nước. Khi kháng chiến bằng nhưng lại đơn giản trong cách nhìn thắng lợi trở về quê làm chánh án thì lại nhận, suy nghĩ. toàn tâm toàn ý với dân, cố gắng đem → Phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều lại hạnh phúc cho nhân dân nhưng anh khi đánh giá con người, sự vật. lại không thể thực hiện được điều đó. Khi gặp trường hợp của người đàn bà hàng chài anh ra sức khuyên chị ta li dị chồng để thoát khỏi cảnh bạo lực gia đình và có cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng anh chỉ nhìn thấy cái trước mắt mà không đi sâu tìm hiểu lí do vì sao chị ta không chịu bỏ người đàn ông đó và vì sao người chồng lại đánh vợ tàn nhẫn như vậy? => Bài học rút ra: Đưa ra vấn đề quản lý xã hội, trách nhiệm đào tạo đội ngũ
53
cán bộ: Muốn đem lại hạnh phúc cho nhân dân thì không chỉ đem những lí lẽ và kiến thức, những khuôn mẫu bài bản ra để thuyết phục, khuyên ngăn họ mà phải đi vào tìm hiểu người dân cần gì. - Qua việc xây dựng các nhân vật với - Cuộc chiến chống đói nghèo, tăm tối nguyên tắc nghịch lí, đối lập xấu tốt lẫn và bảo vệ thiên lương, vẻ đẹp tâm hồn lộn, nhà văn muốn người đọc nhận thức con người còn gian nan hơn cuộc chiến điều gì?
chống ngoại xâm, một khi chưa thoát
GVMR: Sêc-xpia: Con người có lá mặt, khỏi cái nghèo thì con người còn sống chung với cái ác, cái xấu.
lá trái - Suy nghĩ về nơi xuất hiện của các nhân vật? (bãi xe tăng hỏng). Đặt nhân vật bên cạnh bãi xe tăng hỏng tác giả muốn nói lên điều gì? - Tích hợp về lịch sử qua chi tiết bãi xe tăng để đưa ra bài học đối với học sinh cuộc đấu tranh chống lại cái ác còn gay gắt và mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. + Bãi xe tăng hỏng - vật chứng chứng tỏ chiến tranh vừa qua chưa xa. Tuy chiến tranh đã qua, những người lính như Phùng đã cố gắng hết sức chiến đấu mang lại tự do cho nhân dân, mang lại độc lập cho đất nước, thế nhưng anh lại không thể giải phóng cho những người phụ nữ nghèo khỏi đói khổ, khỏi cảnh tượng bạo lực gia đình. Chiếc xe
54
tăng giống như một vật chứng của chiến tranh đã hủy hoại khiến cả một đất nước rơi vào tình cảnh đói nghèo, mất mát. Nó cũng giống như nhân chứng , chứng kiến tất cả cuộc sống của người dân chài, chứng kiến cái vẻ đẹp yên bình và cả những hành động đánh đập vợ của ông chồng sau cái vẻ đẹp. Chiến tranh chưa bao giờ là tốt đẹp, hình ảnh chiếc xe tăng - vật biểu trưng cho chiến tranh cũng thế, chính nó đã tham gia vào việc che giấu hành vi bạo lực của ông chồng. Cảnh người chồng ra sức quật người vợ được diễn ra sau bãi xe tăng cũ, để tránh những đứa con phát hiện và khiến cho Phùng suýt nữa thì tin rằng tấm ảnh mà anh chụp được là 1 vẻ đẹp hoàn mĩ. => Nêu lên bài học: ngăn chặn “chiến tranh tâm hồn”, cuộc đấu tranh chống lại cái ác còn gay gắt và mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm 3.Tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy
ấy
- Tấm ảnh đen trắng nhưng mỗi khi - Ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ nhìn kĩ nghệ sĩ Phùng lại thấy điều gì? đều thấy: Ý nghĩa?
+ Màu hồng hồng của sương mai - biểu tượng của chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời - nghệ thuật người đàn bà vùng
55
biển. + Người đàn bà : hiện thân của cuộc đời lam lũ - bề sâu, tầng ngầm. → Thông điệp: Nghệ thuật phải gắn liền - GV tích hợp: liên hệ những quan điểm với đời sống, phải quan tâm đến từng số nghệ thuật vị nhân sinh:
phận cụ thể của con người. Với thiên
+ Tố Hữu: “Văn học không chỉ là văn chức của mình, hơn ai hết người nghệ sĩ chương mà thực chất là cuộc đời”…
phải góp phần tích cực vào việc giải
+Nam Cao: “ Nghệ thuật không cần là phóng con người ra khỏi sự cầm tù của ánh trăng lừa dối, không nên là ánh đói nghèo, tăm tối và bạo lực. trăng lừa dối..”. + Nguyễn Minh Châu: “Viết văn phải là đào xới đến tận cùng cái đáy của cuộc đời. Đặc sắc nghệ thuật trong truyện 3. Đặc sắc nghệ thuật: ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
a, Tình huống truyện : Tác giả đã xây
- Theo em, những thành công về dựng được tình huống truyện độc đáo phương diện nghệ thuật của tác phẩm là mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về gì?
đời sống.
- Nhận xét gì về cách xây dựng tình - Câu chuyện được triển khai từ một tình huống trong tác phẩm? (chú ý đến sự huống bất ngờ: cuộc gặp gỡ tình cờ giữa phát triển của những tình tiết)
Phùng - người nghệ sĩ nhiếp ảnh và gia đình một ngư dân. - Những tình huống dồn dập diễn ra trong một khoảnh khắc (lão đàn ông trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà; phản ứng mãnh liệt và tình thương câm lặng của những đứa
56
con; sự cam chịu thật bất ngờ của người vợ…). Tất cả như “một câu chuyện cổ đầy quái đản”. - Xây dựng tình huống truyện như trên, =>Mạch truyện phát triển, mỗi nhân vật tác giả đã tạo được hiệu quả nghệ thuật bộc lộ hết tính cách. gì? - Nhận xét về nghệ thuật trần thuật?
b. Nghệ thuật trần thuật:
(chú ý ngôi kể, cách triển khai mạch - Truyện được kể ở ngôi thứ nhất. truyện, giọng điệu)
- Mạch truyện được triển khai một cách tự nhiên. - Giọng điệu trần thuật lúc dí dỏm, khi day dứt, lúc tự trào, khi triết lí. => Lời kể trở nên chân thật, khách quan, nhà văn dễ dàng thể hiện quan niệm nghệ thuật của mình; đồng thời tạo nên sự đa thanh, thu hút sự chú ý của độc giả.
- Nhận xét gì về ngôn ngữ các nhân vật c. Ngôn ngữ các nhân vật: Ngôn ngữ trong tác phẩm? Dụng ý nghệ thuật của các nhân vật phù hợp với đặc điểm tính tác giả?
cách của từng người: + Giọng điệu lão đàn ông thật thô bỉ, tàn nhẫn với những từ ngữ đầy tục tằn, hung bạo. + Những lời của người đàn bà thật dịu dàng và xót xa khi nói với con, thật đớn đau và thấu trải lẽ đời khi nói về thân phận của mình… + Những lời của Đẩu ở toà án huyện rõ là giọng điệu của một người nhiệt thành,
57
tốt bụng… => Việc sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo như thế đã góp phần khắc sâu thêm chủ đề - tư tưởng của tác phẩm *Hoạt động 4: Hướng dẫn HS luyện III. Luyện tập: Ghi nhớ SGK tập
1. Nguyên nhân:
1. Ở lớp: HS thảo luận nhóm câu hỏi - Nguyên nhân trực tiếp: Sự tăm tối và sau: Nguyên nhân bạo lực trong gia thói vũ phu của người đàn ông đình hàng chài là gì?
- Nguyên nhân sâu xa: đói nghèo, đời sống bấp bênh kéo dài gây tâm lí bế tắc, u uất.
2. Ở nhà: Nhân vật nào để lại cho em ấn 2. Có thể chọn bất cứ nhân vật nào. Điều tượng sâu sắc nhất? Vì sao? ( Viết khoảng 25 đến 30 dòng).
quan trọng nhất là phải có sự lí giải, phân tích sâu sắc, thuyết phục.
5. Củng cố, dặn dò + Nắm nội dung bài học + Làm bài tập về nhà. + Chuẩn bị: Thực hành về hàm ý. * Câu hỏi liên hệ: Câu 1: Em có đồng tình với lí do mà người đàn bà hàng chài đưa ra để chị ta vẫn tiếp tục gắn bó với người chồng vũ phu không? Vì sao? Định hướng trả lời: Cảm thông chứ không đồng tình vì đối với phụ nữ hi sinh, nhẫn nhịn, cam chịu, sống vì con là điều cần thiết nhưng cũng cần phải đấu tranh để bảo vệ mình và những đứa con trong những trường hợp cần thiết chứ không nên cam chịu đến mức nhu nhược, như vậy sẽ tiếp tay cho bạo lực gia đình. Câu 2: Từ tác phẩm, liên hệ thực tế em rút ra bài học gì?
58
KẾT LUẬN Tóm lại, nghiên cứu "dạy văn theo quan điểm tích hợp" trong nhà trường THPT không còn là một vấn đề mới mẻ và xa lạ nhưng lại vô cùng quan trọng và cần thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội hiện nay ngày càng tiến bộ, phát triển thì việc dạy học văn theo quan điểm này càng đóng vai trò quan trọng, nó góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS nhằm phục vụ co quá trình học trong tương lai, hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động”. Bản thân môn Ngữ văn là một môn học có điều kiện hết sức thuận lợi để khơi gợi, định hướng cho các em học sinh biết làm người có đức có tài, có khả năng thích ứng với hoàn cảnh, có ý chí vươn lên khó khăn trong cuộc sống để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Về phía người giảng dạy môn Ngữ văn đều nhận thức được: Văn chương vốn là cuốn sách giáo khoa toàn thư về cuộc sống. Cho nên dạy học văn chương không chỉ đơn thuần là giúp học sinh hiểu về các tác phẩm văn chương mà từ một tác phẩm văn chương cụ thể phải liên hệ với cuộc sống, với các môn học khác để mở mang thêm hiểu biết và cách ứng xử trong cuộc sống. Trong phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp, người nghiên cứu thực hiện đề tài: "Dạy học đọc - hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12) theo quan điểm tích hợp" đưa ra một vài ý kiến về việc dạy dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa theo quan điểm tích hợp. Từ đề tài này, chúng tôi có thể triển khai các hướng nghiên cứu, đọc - hiểu những tác phẩm văn học khác theo hướng tích hợp. Tác giả khóa luận hi vọng sẽ giúp học sinh có hướng tiếp cận mới với các tác phẩm văn chương, đồng thời giúp học sinh yêu mến hơn bộ môn Ngữ văn và nhận thức được đây là môn chính góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện nhân cách cho các em.
59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Bình (1995), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975 (Khảo sát trên những nét lớn), Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 2. Nguyễn Minh Châu toàn tập (2001), tập 1, Nhà xuất bản Văn học. 3. Nguyễn Minh Châu toàn tập (2001), tập 3, Nhà xuất bản Văn học. 4. Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn (2006), Nhà xuất bản Văn học. 5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục. 6. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương, NXB Giáo dục. 7. Nguyễn Thanh Hùng (2004), Đọc - hiểu văn chương, Tạp chí Giáo dục số 42. 8. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. 9. Nguyễn Văn Long (2012), Văn học Việt Nam hiện đại, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. 10. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2005), SGK Ngữ văn 12 (phân ban thí điểm), Ban KHTN tập 1, bộ 2, NXB Giáo dục. 11. Phan Trọng Luận (2007), Thiết kế bài học Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Hà Nội. 12. Phương Lựu (chủ biên), (2004), Lý luận văn học, NXB Giáo dục. 13. Nhiều tác giả (1991), Nguyễn Minh Châu con người và tác phẩm, NXB Hội nhà văn. 14. Bùi Tuý Phượng, Quan niệm nghệ thuật về con người qua Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, http://4phuong.net 15. Trần Đình Sử (1993), Dẫn luận Giáo trình Thi pháp học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.