Skip to main content

CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1930 (PHÂN LOẠI CÁC DẠNG BÀI TẬP TỰ LUẬN)

Page 1

CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT QG MÔN LỊCH SỬ

vectorstock.com/10212111

Ths Nguyễn Thanh Tú eBook Collection DẠY KÈM QUY NHƠN TEST PREP PHÁT TRIỂN NỘI DUNG

CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1930 (PHÂN LOẠI CÁC DẠNG BÀI TẬP TỰ LUẬN) WORD VERSION | 2020 EDITION ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM Tài liệu chuẩn tham khảo Phát triển kênh bởi Ths Nguyễn Thanh Tú Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật : Nguyen Thanh Tu Group Hỗ trợ trực tuyến Fb www.facebook.com/DayKemQuyNhon Mobi/Zalo 0905779594


CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1930 1. Tác giả chuyên đề: Bùi Thị Huyền 2. Chức vụ: Giáo viên giảng dạy môn lịch sử 3. Đơn vị công tác: Trường THPT Trần Phú 4. Đối tượng học sinh bồi dưỡng: Lớp 12 5. Dự kiến số tiết bồi dưỡng: 15 tiết 6. Mục tiêu của chuyên đề * Mục tiêu của chuyên đề nhằm giúp học sinh nắm được các vấn đề cơ bản trong lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1919 – 1930 với các nội dung chính sau: - Những chuyển biến mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất - Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản từ năm 1919 đến năm 1925 - Phong trào công nhân từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930 - Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (1911 – 1930) - Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức cách mạng (1925 – 1929) - Đảng cộng sản Việt Nam ra đời * Mặt khác, chuyên đề cũng phân loại các dạng bài tập thường gặp theo từng vấn đề và cách giải, giúp học sinh luyện tập, ôn luyện đạt kết quả tốt. 7. Hệ thống kiến thức sử dụng trong chuyên đề: VẤN ĐỀ 1. NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT


A. Kiến thức cơ bản cần nắm - Học sinh nhận thức được hoàn cảnh thế giới tác động trực tiếp đối với cách mạng Việt Nam. - Nội dung chính của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp. - Chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam trước tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp. B. Nội dung 1.Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai * Nguyên nhân: - Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước thắng trận đã họp để phân chia thế giới. Một trật tự thế giới mới đã hình thành. - CTTG I làm cho nền kinh tế Pháp bị tổn thất nặng nề: + Hơn 1,4 triệu người chết, thiệt hại về vật chất lên tới 200 tỉ Frăng. + Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, nước Nga xô viết ra đời, Pháp mất thị trường cho vay lãi lớn là Nga. - Trong những năm 1897 – 1913, Pháp đã tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Qua đó, chúng đã xác lập được một số cơ sở hạ tầng của nền kinh tế như giao thông vận tải, điện nước… - Mặt khác, sau chiến tranh, tình hình Việt Nam tương đối ổn định, những cuộc khởi nghĩa bị dập tắt chưa có điều kiện để bùng nổ trở lại. Vì vậy, để hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế, nhà cầm quyền Pháp vừa thúc đẩy sản xuất trong nước, vừa tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa, trước hết là các nước Đông dương và Châu Phi. *Nội dung khai thác: - Cuộc khai thác thuộc địa lần hai do toàn quyền Anbe Xa rô đề ra được thực hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1919 – 1929).


- So với cuộc khai thác thuộc địa lần I thì ở cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, thực dân Pháp đã đầu tư với tốc độ nhanh, quy mô lớn vào các ngành kinh tế Việt Nam. Chỉ trong vòng 6 năm (từ 1924-1929), số vốn đầu tư vào Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam lên đến 4 tỉ phrăng: * Trong nông nghiệp: + Đây là ngành Pháp bỏ vốn đầu tư nhiều nhất, năm 1927 số vốn đầu tư vào nông nghiệp là 400 triệu frăng. + Diện tích các đồn điền trồng lúa, trồng cao su, cà phê được mở rộng. Nhiều công ti trồng cao su được ra đời như : Công ti Đất đỏ, công ti Trồng cây nhiệt đới... * Trong công nghiệp: + Pháp chú trọng đầu tư vào khai thác mỏ, trước hết là mỏ than. Nhiều công ti khai thác mỏ than được thành lập như: Công ti than Hạ Long - Đồng Đăng, công ti than Đông Triều… Ngoài ra, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung thêm vốn, tăng nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác. + Một số cơ sở chế biến quặng, kẽm, các nhà máy sợi tơ, nhà máy rượu, diêm, đường, xay xát được nâng cấp và mở rộng quy mô: Nhà máy rượu Hà Nội, nhà máy xay sát gạo Chợ Lớn… * Trong thương nghiệp: + Trước hết là ngoại thương có bước phát triển mới, có sự tăng tiến hơn trước những năm 1929-1930 hàng hoá Pháp nhập vào Việt Nam chiếm 63 % tổng số hàng nhập. + Quan hệ giao lưu buôn bán nội địa được đẩy mạnh. - Giao thông vận tải được phát triển: + Được đầu tư nhằm phục vụ công cuộc khai thác và vận chuyển nguyên vật liệu, lưư thông hàng hoá trong và ngoài nước và đàn áp các phong trào đấu tranh. + Pháp xây dựng thêm nhiều Km đường sắt, nhiều tuyến đường sắt Đông Dương được nối liền thêm đoạn như Đồng Đăng – Na Sầm (19229), Vinh- Đông Hà…


+ Hệ thống giao thông đường thuỷ, bộ, hải cảng tiếp tục được mở rộng, xây dựng thêm nhiều cảng mới như Hòn Gai, Bến Thuỷ.. .. - Các đô thị được mở rộng và dân cư đông hơn. -Ngân hàng Đông Dương nắm quyền chỉ huy toàn bộ nền kinh tế Đông Dương, phát hành tiền giấy và cho vay lãi. + Ngoài việc đẩy mạnh khai thác thực dân Pháp còn thi hành các biện Pháp tăng thuế nên ngân sách Đông Dương thu năm 1930 tăng gấp 3 lần so với năm 1912. * Chuyển biến về kinh tế (Kết luận chung): - Với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, nền kinh tế của tư bản Pháp ở Đông Dương có bước phát triển mới, làm cho nền kinh tế TBCN tiếp tục được mở rộng và bao trùm lên nền kinh tế phong kiến Việt Nam - Trong quá trình đầu tư vốn và mở rộng khai thác thuộc địa, thực dân Pháp có đầu tư kĩ thuật và nhân lực, song rất hạn chế. - Cơ cấu kinh tế Việt Nam có chuyển biến ít nhiều, song chỉ có tính chất cục bộ ở một số vùng, còn phổ biến vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. - Kinh tế ĐD ngày càng bị cột chặt vào kinh tế Pháp và Đông Dương vẫn là thị trường độc chiếm của tư bản Pháp. 2.Chuyển biến về giai cấp xã hội. * Giai cấp địa chủ phong kiến: (chiếm sấp xỉ 10 % dân số) - Bị phân hoá thành ba bộ phận là tiểu địa chủ, trung địa chủ, đại địa chủ - Đại địa chủ: Nắm trong tay nhiều ruộng đất, là tay sai của thực dân Pháp, câu kết cùng với thực dân Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, đàn áp bóc lột nhân dân. Đây là kẻ thù của cách mạng Việt Nam. - Một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ có ý thức dân tộc, tham gia vào phong trào dân tộc dân chủ chống thực dân Pháp và tay sai. Bộ phận này là lực lượng cách mạng Việt nam. * Giai cấp nông dân:


- Chiếm hơn 90% dân số. - Bị đế quốc, phong kiến thống trị tước đoạt ruộng đất, bần cùng hoá không có lối thoát. Mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với đế quốc Pháp và phong kiến tay sai hết sức gay gắt. - Nông dân sẵn sàng đứng lên chống thực dân pháp và tay sai nhưng không thể lãnh đạo tự giải phóng mình được ( vì nông dân không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến, không có hệ tư tưởng riêng). Nông dân chỉ có thể phát huy khả năng và sức mạnh khi có một lực lượng tiên tiến lãnh đạo và trở thành một lực lượng cách mạng to lớn của dân tộc. Đây cũng chính là cơ sở dẫn tới các phong trào đấu tranh của nông dân trong phong trào giảI phóng dân tộc. * Giai cấp tiểu tư sản: - Bao gồm: những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức...sau chiến tranh có sự phát triển nhanh về số lượng. - Họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. - Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh sinh viên là tầng lớp thường nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết cách tân đất nước nên hăng hái đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc. Đây là một lực lượng quan trọng của cách mạng * Giai cấp tư sản: - Ra đời sau CTTG I , phần đông họ là những người trung gian làm thầu khoán, cung cấp nguyên vật liệu hay hàng hóa… cho tư bản Pháp. Khi kiếm được số vốn khá, họ đứng ra kinh doanh riêng và trở thành những nhà tư sản. - Giai cấp tư sản Việt Nam vừa mới ra đời đã bị tư bản Pháp chèn ép, kìm hãm nên số lượng ít, thế lực kinh tế yếu, không thể đương đầu với sự cạnh tranh của tư bản Pháp. - Dần dần, giai cấp tư sản bị phân hoá thành hai bộ phận là: Tư sản mại bản và tư sản dân tộc.


+ Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc, nên câu kết chặt chẽ với đế quốc. Bộ phận này là kẻ thù của cách mạng Việt Nam. +Tư sản dân tộc có xu hướng kinh doanh độc lập nên ít nhiều có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. * Giai cấp công nhân: - ra đời ngay trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Sau CTTG I phát triển nhanh chóng về số lượng ( trước CTTG I là 22 vạn đến 1929 có 22 vạn). - Giai cấp công nhân VN vừa có đặc điểm chung của công nhân thế giới vừa có đặc điểm riêng của giai cấp công nhân Việt Nam. Cụ thể: + Giai cấp công nhân bị giới tư sản, nhất là bọn đế quốc, thực dân áp bức, bóc lột nặng nề. + Giai cấp công nhân có quan hệ gắn bó máu thịt với giai cấp nông dân. + Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc. + Sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu vô sản thế giới nên nhanh chóng vươn lên trở thành một động lực mạnh mẽ của phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách mạng tiên tiến của thời đại. Như vậy, với ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có chuyển biến quan trọng: Các giai cấp cũ vẫn còn tồn tại nhưng bị phân hoá như địa chủ phong kiến, nông dân, giai cấp mới hình thành như tư sản, tiểu tư sản. Giai cấp công nhân trưởng thành nhanh chóng. Các giai cấp có địa vị kinh tế, xã hội khác nhau, song đều có điểm chung là lòng yêu nước và sự phản kháng dân tộc trước sự xâm lược và thống trị của đế quốc. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân pháp và phản động tay sai. * Những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam:


- Với đặc trưng xã hội Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản là: + Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và phản động tay sai (mâu thuẫn dân tộc) + Mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với địa chủ phong kiến (mâu thuẫn giai cấp) Trong đó mâu thuẫn bao trùm là mâu thuẫn dân tộc, nó ngày càng mở rộng và gay gắt hơn. - các mâu thuẫn trên vừa là nguồn gốc vừa là động lực làm nảy sinh và thúc đẩy các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp, chống phong kiến ở nước ta. - Để giải quyết được các mâu thuẫn cơ bản trên, cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ: + Đánh đuổi đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc (nhiệm vụ dân tộc) + Đánh đổ giai cấp phong kiến giành ruộng đất cho nhân dân (nhiệm vụ dân chủ). Song trước hết phải đánh đuổi được chủ nghĩa đế quốc và tay sai phản động giành độc lập tự do. VẤN ĐỀ 2.PHONG TRÀO YÊU NƯỚC THEO KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1925. A. Kiến thức cơ bản cần nắm - Học sinh nắm được những phong trào đấu tranh tiêu biểu của tư sản và tiểu tư sản từ năm 1919-1925. - Đánh giá được những mặt tích cực và hạn chế của phong trào đấu tranh của Tư sản và tiểu tư san B. Nội dung I. Điều kiện bùng nổ phong trào đấu tranh ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất: 1. Khách quan:


Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình thế giới có những chuyển biến mới, tác động sâu sắc đến Việt Nam. - Các nước đế quốc thắng trận đã họp hội nghị tại Véc xai để phân chia lại thế giới, thiết lập trật tự hoà bình,an ninh mới. - Năm 1917, cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi cùng với sự suy yếu của các nước đế quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ các dân tộc trên thế giới đứng lên đấu tranh tự giải phóng, gắn kết phong trào giải phóng dân tộc các nước phương Đông với phong trào công nhân phương Tây trong đó có Việt Nam, nó mở ra thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. - ĐCS ở các nước TBCN, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lần lượt ra đời: ĐCS Đức (1919), ĐCS Anh (1920), ĐCS Mĩ (1921), đặc biệt là sự ra đời ĐCS Pháp (1920) và ĐCS TQ (1921) đã tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Việt Nam có thể đứng chân, gây dựng và chỉ đạo phong trào cách mạng. - Tháng 3/1919, quốc tế cộng sản được thành lập, đảm nhận sứ mệnh tập hợp, lãnh đạo phong trào cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới đã tạo ra những thuận lợi lớn cho cách mạng thuộc địa và trong đó có cách mạng Việt Nam. - Tháng 12/1920, tại đại hội tua một bộ phận tích cực nhất của Đảng xã hội Pháp đã bỏ phiếu tán thành ra nhập quốc tế cộng sản và tách ra để thành lập ĐCS Pháp. Tạo điều kiện cho hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mac-Lênin về nước. Những chuyển biến mới của tình hình thế giới có ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. 2. Chủ quan: - Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam đã tạo ra những chuyển biến sâu sắc về xã hội.


- Do chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp đã làm xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến. - Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Những điều kiện trên đã làm bùng nổ mạnh mẽ phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam với sự tham gia của đông đảo các giai cấp trong xã hội Việt Nam. II.Hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và một số người Việt Nam sống trên đất Pháp. 1.Hoạt động của Phan Bội Châu. - Phan Bội Châu là một chí sĩ yêu nước thương nòi, đã nhiều năm bôn ba hoạt động ở Nhật Bản, Trung Quốc để tìm cách cứu nước, song đều thất bại. - Cách mạng tháng mười Nga thành công, nước Nga xô viết ra đời đã có ảnh hưởng tới Phan Bội Châu. - Từ đó, Phan Bội Châu đã tiếp xúc với đại sứ Nga ở Trung Quốc , đã dich cuốn “điều tra chân tướng La Ngư, viêt truyện Phạm Hồng Thái. - Tháng 6/1925, PBC bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải (TQ), bị đưa về nước và an trí tại Huế. Từ đó, PBC không thể tiến theo nhịp bước đấu tranh mới của dân tộc. 2. Hoạt động của Phan Châu Trinh và một số người sống trên đất Pháp. * Hoạt động của Phan Châu Trinh: - Sau khi ra khỏi nhà tù Côn Đảo, năm 1911 PCT đã sang Pháp và tiếp tục hoạt động. - Đầu 1922, PCT viết Thất Điều Thư vạch ra 7 tội đáng chém của Khải Định nhân dịp Khải Định sang Pháp dự cuộc triển lãm thuộc địa để rêu rao cái “gọi là công lao khai hoá” của thực dân Pháp. - Ông tổ chức các buổi diễn thuyết lên án chế độ quân chủ và quan trường ở Việt Nam...


- Tháng 6/1925, PCT về nước. Mặc dù sức yếu ông vẫn tiếp tục hoạt động, đã phá chế độ quân chủ, đề cao dân quyền. * Hoạt động của một số người VN trên đất Pháp. - Nhiều viật kiều ở Pháp đã tham gia hoạt động như chuyển tài liệu, sách báo tiến bộ về nước và tập hợp trong các tổ chức yêu nước như Hội Liên Hiệp Thuộc Địa, Hội những người lao động trí óc ở Đông Dương. - Một số thanh niên, sinh viên yêu nước xuất thân trong các gia đình địa chủ, tư sản lập ra Đảng Việt Nam độc lập, xuất bản báo Tái sinh. III. Phong trào đấu tranh của tư sản, tiểu tư sản (1919 - 1925) 1.Hoạt động của tư sản. * Nguyên nhân: - Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, giai cấp tư sản Việt Nam vốn nhỏ yếu về kinh tế và thường xuyên bị tư sản nước ngoài cạnh tranh, chèn ép nên mâu thuẫn sâu sắc với tư sản nước ngoài, thực dân pháp và phong kiến tay sai * Các hoạt động của tư sản: - Năm 1919, tư sản Việt Nam đã tổ chức cuộc tẩy chay tư sản Hoa kiều ở một số tỉnh và thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định ... vận động người Việt Nam chỉ mua hàng của người Việt Nam, ‘chấn hưng nội hóa’, ‘bài trừ ngoại hóa’. - Năm 1923, địa chủ và tư sản Việt nam đấu tranh chống tư bản Pháp độc quyền cảng Sài Gòn, độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kì. - Năm 1923, một số tư sản và địa chủ lớn ở Nam Kì như Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long... đã lập ra Đảng Lập hiến. Đảng này đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ. Nhưng khi được thực dân Pháp nhượng bộ một số quyền lợi họ lại thỏa hiệp với chúng.


- ở ngoài bắc có nhóm: Nam Phong của Phạm Quỳnh và nhóm Trung bắc tân văn của Nguyễn Văn Vĩnh * Nhận xét: - Các phong trào diễn ra liên tục, rộng khắp, có mục đích rõ ràng. - Phong trào đấu tranh còn mạng nặng tính thoả hiệp, cải lương khi được Pháp nhượng bộ một ít quyền lợi. - Đấu tranh chủ yếu vì quyền lợi kinh tế của giai cấp và yêu cầu tối thiểu về quyền tự do dân chủ. Họ chưa đưa ra được mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp nên nhanh chóng bị phong trào quần chúng vượt qua. - Ý nghĩa: Mặc dù có những hạn chế nhưng phong trào đã thể hiện tinh thần yêu nước và khả năng chống Pháp ở một mức độ nhất định của giai cấp tư sản Việt Nam, tạo đà cho sự phát triển chung của phong trào yêu nước Việt Nam cuối những năm 20. Đây là một trong những nhân tố dẫn tới sự ra đời của Đảng cộng sản. 2. Hoạt động của tiểu tư sản: * Nguyên nhân: - Bao gồm: những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức...sau chiến tranh có sự phát triển nhanh về số lượng. - Họ có tinh thần dân tộc, chống thức dân Pháp và tay sai. - Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh sinh viên là tầng lớp thường nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết cách tân đất nước nên hăng hái đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc. Đây là một lực lượng quan trọng của cách mạng * Các hoạt động: - Vào đầu những năm 20, đã có nhiều thanh niên yêu nước sang Quảng Châu – Trung Quốc tìm đường cứu nước, trong đó có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu.


- Năm 1923 họ đã thành lập tổ chức Tâm tâm xã. Tháng 6/1924, cử Phạm Hồng Thái thực hiện mưu sát tên toàn quyền Đông Dương ở Sa Diện (Quảng Châu). Tuy nhiên, sự kiện không thành, Phạm Hồng Thái đã anh dũng hi sinh. Sự kiện này đã nhóm tiếp ngọn lửa chiếu đấu, khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân ta, nhất là thanh niên. Sự kiện được ví như “chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân. - ở trong nước, TTS trí thức VN đã thành lập một số tổ chức chính trị như Việt nam nghĩa đoàn, Hội phục việt, Đảng thanh niên với nhiều hoạt động phong phú sôi nổi như mít tinh, biểu tình, bãi khoá… - Nhiều tờ báo tiến bộ ra đời như: Chuông rè, An Nam trẻ, Người nhà quê, Tiếng dân, Đông Pháp thời báo... - Lập ra một số nhà xuất bản tiến bộ như: Nam đồng thư xã, Cường học thư xã, Quan hải tùng thư... - Năm 1925, đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả nhà yêu nước Phan Bội Châu. - Năm 1926, tổ chức cuộc truy điệu, để tang Phan Châu Trinh. * Nhận xét: - Phong trào mang tính chất dân chủ công khai, phát triển rộng khắp với nhiều hình thức tổ chức và hoạt động phong phú, đã lôi kéo đuợc nhiều tầng lớp nhân dân tham gia hơn so với phong trào của tư sản dân tộc. Các phong trào này nhằm mục đích chính trị là chủ yếu.Tuy vậy phong trào vẫn mang tính tự phát. - Phong trào đấu tranh thể hiện tinh thần yêu nước của giai cấp tiểu tư sản. - Phong trào đấu tranh của tiểu tư sản trí thức phát triển mạnh đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta và góp phần chuẩn bị điều kiện cho những phong trào dấu tranh mới sau này. Đây là một trong những nhân tố quan trọng dẫn tới sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. VẤN ĐỀ III. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT ĐẾN NĂM 1930 A. Kiến thức cơ bản cần nắm


- Học sinh nhận thức được nguyên nhân giai cấp công nhân đấu tranh mạnh mẽ sau CTTG I. - Hoạt động chính của công nhân từ 1919-1930. - Vị trí của phong trào công nhân đối với cách mạng Việt Nam. B. nội dung I. Phong trào công nhân từ 1919-1925. 1.Hoàn cảnh lịch sử của phong trào công nhân Việt nam vào đầu thế kỷ XX. * Hoàn cảnh thế giới: Sau CTTG I, tình hình thế giới có những chuyển biến mới, tác động sâu sắc đến cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào công nhân nói riêng. Cụ thể: - Năm 1917 cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi đã mở đầu việc sụp đổ CNTB, làm thức tỉnh các dân tộc phương Đông trong đó có Việt Nam, nó mở ra thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. - ĐCS ở các nước TBCN, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lần lượt ra đời: ĐCS Đức (1919), ĐCS Anh (1920), ĐCS Mĩ (1921), ĐCS Inđônêxia ( 1920), đặc biệt là ĐCS TQ (1921) đã tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Việt Nam có thể đứng chân, gây dựng và chỉ đạo phong trào cách mạng. - Tháng 3/1919, quốc tế cộng sản được thành lập, đảm nhận sứ mệnh tập hợp, lãnh đạo phong trào cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới đã tạo ra những thuận lợi lớn cho cách mạng thuộc địa và trong đó có cách mạng Việt Nam. - Tháng 12/1920, tại đại hội tua một bộ phận tích cực nhất của Đảng xã hội Pháp đã bỏ phiếu tán thành ra nhập quốc tế cộng sản và tách ra để thành lập ĐCS Pháp. Tạo điều kiện cho hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về nước. * Hoàn cảnh trong nước.


- Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt Nam có chuyển biến lớn, đặc biệt là sự xuất hiện và phân hoá sâu sắc của giai cấp trong xã hội. - Sau CTTG I giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng và trưởng thành về chất lượng( trước CTTG I là 10 vạn đến 1929 có 22 vạn). Giai cấp công nhân VN vừa có đặc điểm chung của công nhân thế giới vừa có đặc điểm riêng của giai cấp công nhân Việt Nam. Cụ thể: + Giai cấp công nhân bị thực dân, tư sản bóc lột nặng nề. + Giai cấp công nhân có quan hệ gắn bó máu thịt với giai cấp nông dân. + Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc. + Sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu vô sản thế giới nên nhanh chóng vươn lên trở thành một động lực mạnh mẽ của phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách mạng tiên tiến của thời đại. -Đồng thời sau chiến tranh thế giới I giai cấp công nhân tiếp tục bị đánh đập, ngược đãi, kinh rẻ đời sống khổ cực cộng với lòng yêu nước và truyền thống dân tộc đã khiến công nhân ngày càng đấu tranh mạnh mẽ. Đây chính là những nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ của phong trào đấu tranh công nhân. 2. Phong trào đấu tranh của công nhân: Sau chiến tranh thế giới I, các cuộc đấu tranh của công nhân tuy còn lẻ tẻ và tự phát nhưng đã nói lên ý thức giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng làm cơ sở cho các tổ chức và phong trào chính trị cao hơn về sau. Cụ thể: - Năm 1920, công nhân Sài Gòn – chợ Lớn đã thành lập công hội do Tôn Đức Thắng đứng đầu. - Năm 1922, công nhân và viên chức các sở công thương của tư nhân Bắc Kỳ đấu tranh đòi nghỉ ngày chủ nhật có trả lương.


- Cùng năm đó, có cuộc bãi công của công nhân nhà máy rệt, rượu, xay xát gạo ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương. - Tháng 8/1925, thợ may xưởng Ba Son ở cảng Sài Gòn đã bãi công để ngăn tàu chiến Pháp chở lính sang tham gia đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân TQ và đòi tăng lương 20 %. Kết quả cuộc bãi công thắng lợi, nhà chức trách Pháp phải chấp nhận tăng lương 10% cho công nhân Cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son có ý nghĩa hết sức to lớn, thể hiện tình đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng quốc tế. Sự kiện này đánh dấu bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam. Công nhân Việt Nam từ đây đi vào đấu tranh tự giác. * Nhận xét: - Như vậy, phong trào đấu tranh của công nhân từ 1919-1925, diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và có quy mô tương đối lớn. - Các cuộc đấu tranh vẫn mang nặng tính tự phát (chưa có sự phối hợp giữa các nơi,diễn ra lẻ tẻ, chưa tổ chức lãnh đạo chặt chẽ, mục tiêu đấu tranh còn nặng về kinh tế), do vậy công nhân vẫn chỉ là một trong các lực lượng tham gia phong trào dân tộc dân chủ và còn nặng về tính tự phát. - Mặc dù vậy, nó cũng chứng tỏ ý thức giác ngộ của giai cấp công nhân tăng, đặt cơ sở cho các tổ chức, phong trào chính trị về sau. II. Phong trào công nhân từ 1926-1929. 1.Hoàn cảnh: Thời kỳ này, có những sự kiện lớn tác động đến phong trào công nhân, tạo điều kiện cho phongtrào công nhân phát triển mạnh mẽ. * Thế giới: - Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ V (1924) đã thông qua những nghị quyết quan trọng về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa. - Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, vụ phản biến của Tưởng Giới Thạch và sự thất bại của công xã Quảng Châu 1927


đã cung cấp những bài học kinh nghiệm về tính hai mặt của giai cấp tư sản và về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ ở các nước thuộc địa. * Trong nước: - Tháng 6/1925, hội VNCMTN ra đời đã đẩy mạnh hoạt động trong phong trào công nhân như mở lớp huấn luyện chính trị đào tạo cách bộ cách mạng, ra báo thanh niên, xuất bản tác phẩm “đường kách mệnh”, đã thúc đẩy phong trào công nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ, làm chủ nghĩa Mác – Lê nin được truyền bá mạnh mẽ vào phong trào công nhân. - Đặc biệt từ năm 1928, phong trào vô sản hoá của HVNCMTN và Tân Việt cách mạng Đảng đã có tác dụng nâng cao nhanh chóng ý thức giác ngộ và lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, thúc đẩy phong trào công nhân phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. - Xuất phát từ truyền thống yêu nước. 2. Phong trào đấu tranh . - Trong 2 năm 1926-1927, đã liên tiếp bùng nổ 27 cuộc bãi công của công nhân. Trong đó lớn nhất là cuộc bãi công của 1000 công nhân nhà máy sợi nam Định, của 500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm. - Năm 1928, hội Việt Nam cách mạng thanh niên có chủ trương vô sản hóa, nhiều cán bộ của hội đã đI vào các nhà máy xí nghiệp hầm mỏ, đồn điền cùng sinh hoạt và làm việc với công nhân để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào phong trào công nhân, tuyên truyền vận động ý thức chính trị cho công nhân. Nhờ vậy, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, trở thành nòng cốt phong trào dân tộc dân chủ trong cả nước. - Trong 2 năm 1928-1929, đã có 40 cuộc đấu tranh của công nhân. Tiêu biểu như: Bãi công của công nhân nhà máy Xi măng Hải Phòng, sợi Nam Định, nhà máy Diêm, nhà máy Cưa Bến Thuỷ, nhà máy AVIA (Hà Nội).


- Phong trào công nhân đã mang tính thống nhất trong toàn quốc, mang tính chính trị. Các phong trào đấu tranh không chỉ giới hạn trong một nhà máy, một địa phương, một nghành mà bắt đầu có sự liên kết thành phong trào chung. + Tháng 5/1929, công nhân sửa chữa AVIA (hà Nội) dưới sự lãnh đạo của kỳ bộ hội VNCMTN và chi bộ công sản đầu tiên đã tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân, công nhân các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh xung quanh như : Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định. + Các cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra sôi nổi hơn, quyết liệt hơn, tính tự phát phong trào đấu tranh giảm đi, công nhân đấu tranh có ý thức, tổ chức và có quy mô ngày càng lớn. + Tinh thần đoàn kết quốc tế của công nhân được biểu lộ trong các cuộc đấu tranh nhân kỷ niệm ngày quốc tế lao động (1/5), kỷ niệm cách mạng tháng 10 Nga thành công(7/11) - Sự phát triển của phong trào công nhân đã dẫn đến HVNCMTN và Tân Việt cách mạng Đảng không còn đáp ứng được vai trò lãnh đạo từ đó dẫn đến sự phân hoá, xuất hiện ba tổ chức cộng sản là: ĐD cộng sản Đảng (6/1929), An Nam cộng sản Đảng (7/1929), ĐDCSLĐ (9/1929). Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản đánh dấu bước trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam. - Sau khi ra đời, ba tổ chức cộng sản nhanh chóng xây dựng cơ sở Đảng trong nhiều địa phương và trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu tranh của quần chúng, khiến phong trào cách mạng Việt Nam phát triển mạnh. Nhưng các tổ chức cộng sản đều hoạt dộng riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, thậm trí công kích lẫn nhau làm cho phong trào cách mạng trong cả nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn. - Trước tình hình đó với cương vị là phái viên của quốc tế cộng sản, Nguyễn ái Quốc đã chủ động triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (từ 6/1/1930 – 8/2/1930). Thành công của hội nghị đã dẫn đến sự ra đời ĐCSVN, mốc kết thúc quá trình phát triển của phong trào công nhân từ tự phát vươn lên tự giác.


III. Vị trí của phong trào công nhân đối với sự thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. - ĐCSVN ra đời là sự kết hợp của ba yếu tố ( phong trào công nhân, phong trào yêu nước và chủ nghĩa Mác Lênin). Trong đó phong trào công nhân là một yếu tố không thể thiếu. Vì: Phong trào công nhân là môi trường thực tiễn để rèn luyện giai cấp công nhân, qua đấu tranh đấu tranh giai cấp công nhân trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. - Phong trào công nhân là một bộ phận của phong trào yêu nước Việt Nam. Phong trào công nhân phát triển đã lôi cuốn phong trào yêu nước của các tầng lớp và góp phần đưa phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản sang lập trường cách mạng vô sản. - Phong trào công nhân phát triển mạnh, có ý thức chính trị rõ rệt là nền tảng để tiếp nhận chủ nghĩa Mác, tiếp nhận lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn ái Quốc. - Phong trào công nhân phát triển đã thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời ba tổ chức cộng sản vào năm 1929 để dẫn đến kết quả tất yếu năm 1930 ĐCSVN ra đời. VẤN ĐỀ 4. HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC (1911 – 1930) A. Kiến thức cơ bản cần nắm - Học sinh nhận thức được nguyên nhân Nguyễn ái Quốc đi tìm đường cứu nước. - Những hoạt động cứu nước của Nguyễn ái Quốc từ năm 1911 đến 1930. - Vai trò của Nguyễn ái Quốc đối với lịch sử dân tộc Việt Nam thời kỳ này B. Nội dung 1. Nguyên nhân Nguyễn ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước: - Đất nước bị xâm lược, giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp thiết đối với mọi người dân Việt Nam: + Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta đến năm 1884 chỳng hoàn thành quỏ Trình xõm lược và đặt ách cai trị lên đất nước ta. Chúng tiến hành khai thác


thuộc địa, bòn rút tài nguyên thiên nhiên, sức lao động của nhân dân ta làm cho đời sống của nhân dân khổ cực. Xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp (dân tộc) và mâu thuẫn giữa nông dân với phong kiến (giai cấp). Lịch sử đòi hỏi cần phải giải quyết hai mâu thuẫn này, trong đó mâu thuẫn cần giải quyết hàng đầu là mâu thuẫn dân tộc. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các tầng lớp và giai cấp trong xã hội Việt Nam không chỉ bị búc lột về kinh tế mà cũn chịu nỗi nhục mất nước. Độc lập dân tộc là khát vọng của dân tộc Việt Nam. + Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng gay gắt, chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thưc dân Pháp và tay sai. Nhiệm vụ cứu nước và giải phóng dân tộc được đặt ra vô cùng cấp thiết. - Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, đặt ra yêu cầu phải tìm một con đường cứu nước mới phù hợp hơn với thực tiễn cách mạng Việt Nam: + Cuối thế kỉ XIX: nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp bị đàn áp dó man. Con đường giải phóng dân tộc theo ngọn cờ phong kiến rơi vào tình trạng bế tắc, liên tiếp thất bại. + Đầu thế kỉ XX: Các sĩ phu yêu nước tiến bộ đó tiếp thu tư tưởng mới, tiến hành cuôc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản nhưng cũng không thành công => sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Đặt ra yêu cầu phải tìm một con đường cứu nước mới, phù hợp hơn với thực tiễn cách mạng Việt Nam. - Nguyễn Tất Thành sớm có chí đuổi giặc pháp, giải phóng đồng bào: + Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đỡnh nhà nho nghốo yêu nước, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan, trên quê hương Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An – Một vùng quê có truyền thống đấu tranh bất khuất. + Tiếp thu truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất của gia đỡnh và quờ hương, Nguyễn Ái Quốc sớm có chí “đuổi thực dân pháp, giải phóng đồng


bào”. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các vị tiền bối nhưng ko tán thành con đường của họ vì người đã nhận thấy sự bế tắc của những con đường ấy nên quyết định ra đi tìm con đường cứu nước mới. + Do được tiếp xúc nền văn minh pháp với các khẩu hiệu “tự do - bỡnh đẳng bác ái” nên Nguyễn Ái Quốc quyết định sang phương Tây để “xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào, giải phóng dân tộc” 2- Quá trình tìm đường cứu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin (1911-1920) - Ngày 5/6/1911, NAQ quyết định ra đi tìm đường cứu nước mới. Từ 1911 đến 1917, Người đã đi qua nhiều nước tư bản, đế quốc, thuộc địa và phụ thuộc ở châu á, Châu Âu, chấu Phi, Châu Mĩ làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống và học tập. Do được đi, được sống gần gũi với nhiều người lao động ở châu lục, Người đã hiểu rõ sự tàn bạo của đế quốc, thực dân và nguyện vọng khát khao muốn được độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức. Chủ nghĩa đế quốc giống như con đỉa hai vòi, một vòi bám vào hút máu nhân dân chính quốc, một vòi bám vào hút máu nhân dân thuộc địa. - Năm 1917, Nguyễn ái Quốc từ Anh trở lại nước Pháp, tại đây Người đã tích cực hoạt động trong các phong trào đấu tranh của công nhân Pháp. Hoạt động trong hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. - Năm 1919, NAQ ra nhập Đảng xã hội Pháp. Đây là tổ chức chính trị duy nhất ở Pháp theo đuổi lý tưởng của đại cách mạng Pháp là: tự do, bình đẳng, bác ái và đấu tranh vì quyền lợi cho các nước thuộc địa. - Ngày 18/6/1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Tất Thành với tên gọi mới là Nguyễn ái Quốc gửi đến hội nghị Véc xai Bản yêu sách của nhân dân An Nam” + Bản yêu sách đòi chính phủ Pháp và các nước đồng minh thừa nhận các quyền tự do dân chủ quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.


+ Bản yêu sách không được chấp nhận, từ đây Người đã rút ra bài học “muốn được giải phóng các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. - Năm 1920, Nguyễn ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác Lê nin và chính thức tìm ra con đường cứu nước: + Giữa tháng 7/1920, NAQ đọc bản “sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lê nin, đăng trên báo nhân đạo của Đảng xã hội Pháp. Luận cương của Lênin đã giúp cho NAQ khẳng định con đường giành độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản. + Ngày 25/12/1920, NAQ tham dự đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp họp tại thành phố Tua. Người đã bỏ phiếu tán thành ra nhập quốc tế cộng sản và thành lập Đảng cộng sản Pháp. Như vậy, NAQ trở thành Đảng viên cộng sản, đồng thời là một trong những người tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện này có nghĩa quan trọng đối với NAQ và với cách mạng Việt nam: + Giúp tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho Việt Nam, đó là con đường cách mạng vô sản. Bước đầu giảI quyết được sự khủng hoảng về đường lối cách mạng Việt Nam. + Đánh dấu bước ngoặt, quá trình chuyển biến của NAQ: Từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản. II. NAQ hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác Lê nin, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập ĐCSVN (1921 - 1930) 1.Thời kỳ từ 1920 đến giữa 1923 (tại Pháp). - Năm 1921, NAQ cùng một số người yêu nước của Angiêri, Marốc, Tuyniri lập ra hội liên hiệp thuộc địa ở Pari.


+ Mục đích: Tập hợp những người dân thuộc địa sống trên đất Pháp cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. + Cơ quan ngôn luận của hội là báo Người cùng khổ do Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. - NAQ còn viết bài cho các báo nhân đạo (của ĐCS Pháp), đời sống công nhân ( của tổng liên đoàn lao động Pháp). - Đặc biệt, Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản ở Paris năm 1925. Những tờ báo tiến bộ này đã được bí mật chuyển về nước và được truyền tay cho nhiều người cùng đọc. - Tác dụng: + Đây là bước chuẩn bị đầu tiên về tư tưởng, chính trị cho sự thành lập ĐCS Việt Nam. 2.Thời kỳ từ giữa 1923 đến cuối 1924 ( ở Liên Xô). - Tháng 6/1923, NAQ bí mật rời nước Pháp sang Liên Xô, tại đây Người tích cực hoạt động: + Tháng 10/1923, NAQ dự hội nghị quốc tế nông dân và được bầu vào ban chấp hành của hội. + Vừa nghiên cứu, học tập, vừa viết bài cho báo sự thật sự thật của ĐCS Liên Xô, tạp chí thư tín quốc tế của quốc tế cộng sản. + Năm 1924, tại đại hội quốc tế cộng sản lần thứ V, NAQ đã trình bày quan điểm, lập trường của mình về vị chí chiến lược của cách mạng các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông nhân ở các nước thuộc địa. - Tác dụng:


+ Đây là thời kỳ NAQ tiếp tục phát triển và hoàn thiện thêm về tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc thông qua hoạt động thực tiễn của nước XHCN đầu tiên trên thế giới và thông qua nghiên cứu sách báo Macxít. + NAQ có công lớn trong việc xây dựng, củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. 3.Thời kỳ từ cuối 1924 đến giữa 1927 ( ở Trung Quốc) - Ngày 11/11/1924, NAQ đến Quảng Châu(TQ) để trực tiếp đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng, truyền bá lý luận cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt Nam. Cụ thể: + NAQ mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ, đa số học viên là thanh niên học sinh, trí thức VN yêu nước. Phần lớn số học viên đó sau khi học xong “bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân”. Một số người được cử sang học tại trường đại học Phương Đông ở Mátxcơva (LX) hoặc trường quân sự Hoàng Phố (TQ). + Tháng 2/1925, NAQ lựa chọn một số thanh niên tích cực trong “tâm tâm xã” để lập ra cộng sản đoàn. + Tháng 6/1925, trên cơ sở “cộng sản đoàn”, NAQ lập hội VNCMTN. Nhằm “tổ chức và lãnh đạo quần chúng đoàn kết, tranh đấu để đánh đổ đế quốc Pháp và tai sai để tự cứu lấy mình”. + Báo Thanh niên của Hội do Nguyễn ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên ngày 21/6/1925. + Đầu 1927 xuất bản tác phẩm “Đường kách mệnh”, gồm những bài giảng của Nguyễn ái Quốc ở các lớp huấn luyện tai Quảng Châu. +Từ cuối 1928, hội VNCMTN chủ trương thực hiện phong trào “vô sản hoá”, đưa các hội viên bí mật về nước đi vào các nhà máy, hầm mỏ cugnf sinh hoạt và lao động với công nhân để tuyên truyền, vận động cách mạng, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân khiến phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ.


- Tác dụng: Những hoạt động của NAQ ở TQ là bước chuẩn bị trực tiếp về tư tưởng, chính trị, và tổ chức cho việc thành lập ĐCS ở Việt Nam. 4. Thời kỳ từ giữa 1927 đến 1930. - Tháng 4/1927, NAQ rời Quảng Châu trở lại Liên Xô, tiếp tục hoạt động trong quốc tế cộng sản, thành lập ĐCSVN vào đầu 1930. -Với hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, đặc biệt từ năm 1928, Hội có chủ trương vô sản hóa.Cụ thể: Các cán bộ của Hội đã đI vào các nhà máy, xí nghiệp để cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc nhằm truyền bá chủ nghĩa mác Lê nin vào công nhân. Nhờ vậy phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ trở thành nòng cốt trong phong trào đấu tranh. - Đến cuối 1929, với sự xuất hiện và hoạt động của ba tổ chức cộng sản: Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn khiến phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát triển sôi nổi. Tuy nhiên, sự hoạt động riêng rẽ của ba tổ chức cộng sản ở ba kì cùng những đố kỵ tranh giành Đảng viên, quần chúng... đã ảnh hưởng không tốt tới phong trào cách mạng. Dẫn đến yêu cầu cấp thiết lúc đó là phải thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất để lãnh đạo phong trào đấu tranh. - Trước tình hình đó NAQ với cương vị là phái viên của quốc tế cộng sản đã chủ động triệu tập hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ( từ 6/1/1930 đến 8/2/1930) tại Cửu Long ( Hương Cảng- Trung Quốc) thành một đảng duy nhất là ĐCSVN. Hội nghị đã thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt do Người soạn thảo. Đây chính là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã vạch ra đường lới đúng dắn, sáng tạo cho cách mạng Việt Nam. VẤN ĐỀ 5. SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BA TỔ CHỨC CÁCH MẠNG (1925 – 1929) A. Kiến thức cơ bản cần nắm


- Học sinh nhận thức được sự ra đời, hoạt động và vai trò của hội Việt Nam cách mạng thanh niên đối với cách mạng Việt Nam. - Sự ra đời, hoạt động và ý nghĩa của tân Việt đối với cách mạng Việt nam. - Sự ra đời, hoạt động và ý nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng đối với cách mạng nước ta. B. Nội dung I- Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. 1. Sự ra đời. - Ngày 11/11/1924, sau khi rời Liên Xô về Trung Quốc, NAQ đã mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ. Phần lớn số học viên sau khi học xong “bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân”. Một số người được cử sang học tại trường đại học phương Đông ở Mát xcơva (LX) hoặc trường quân sự Hoàng Phố (TQ). - Tháng 2/1925, NAQ lựa chọn một số thanh niên tích cực trong tâm tâm xã để tổ chức thành nhóm cộng sản đoàn. - Tháng 6/1925, NAQ thành lập hội VNCMTN. 2. Mục đích: Nhằm : “tổ chức và lãnh đạo quần chúng đoàn kết lại để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và tay sai để tự cứu lấy mình”. 3. Tổ chức: - Hội có 5 cấp: Tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ. Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ. Trụ sở của Tổng bộ đặt ở Quảng Châu (TQ). - Địa bàn hoạt động ở cả ba miền Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì. 4. Hoạt động: - Hoạt động quan trọng của hội là mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ tại Quảng Châu. Từ 1925-1927, NAQ trực tiếp giảng dạy ở các lớp huấn luyện này, đã đào tạo được 75 hội viên. Một số hội viên xuất sắc được chọn di học ở đại


học Phương Đông (Liên Xô) hoặc trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), còn lại phần lớn về nước hoạt động. - Ra báo Thanh niên số đầu tiên vào ngày 21/5/1925, đây là cơ quan ngôn luận của hội do NAQ sáng lập. - Đầu 1927, những bài giảng của NAQ tại các lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu được xuất bản thành tác phẩm “Đường kách mệnh”. Tác phẩm đã vạch ra những vấn đề cơ bản về đường lối giải phóng dân tộc Việt Nam. Báo thanh niên và sách “đường kách mệnh” đã trang bị vũ khí lý luận giải phóng dân tộc cho cán bộ của hội VNCMTN và tuyên truyền rộng rãi cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Nó chỉ ra cho giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. - Năm 1928, hội có gần 300 hội viên đến 1929 có khoảng 1700 hội viên. Hội đã xây dựng tổ chức cơ sở của mình ở hầu khắp cả nước. Hội còn xây dựng tổ chức cơ sở trong việt kiều ở Xiêm (Thái Lan). - Cuối năm 1928, hội VNCMTN thực hiện chủ trương “vô sản hoá”, nhiều cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đi vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, cùng sinh hoạt và lao động với công nhân để tuyên truyền vận động cách mạng, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân. Phong trào đã góp phần thực hiện việc kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Khiến phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ. - Đến 1929, đáp ứng yêu cầu của phong trào công nhân và phòng trào yêu nước, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập tại Hà Nội (tháng 3/1929). Sau đại hội lần thứ nhất (tháng 5/1929) của hội VNCMTN, hội đã phân hoá thành 2 tổ chức là ĐDCSĐ (tháng 6/1929) và An Nam cộng sản Đảng (tháng 7/1929). 3. ý nghĩa.


- Hội VNCMTN ra đời là mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của cách mạng nước ta, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện 1 tổ chức chính trị theo khuynh hướng vô sản. - Góp phần thúc đẩy, cổ vũ phong trào công nhân và phong trào yêu nước, truyền bá chủ nghĩa Mác lê nin vào phong trào công nhân, nhờ vậy phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ trở thành nòng cốt trong phong trào dân tộc dân chủ, có sự liên kết thành phong trào chung và mang tính tự giác. Đây là một nhân tố không thể thiếu dẫn tới sự ra đời của Đảng. - Đây là bước quá độ nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của một chính Đảng cộng sản. Hội là tổ chức tiền thân của ĐCSVN. - Đây là một sáng tạo quan trọng trong công tác tuyên truyền, tổ chức cách mạng của Nguyễn ái Quốc trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác Lê nin vào hoàn cảnh của Việt Nam. II- Tân Việt cách mạng Đảng. 1-Sự ra đời: - Tháng 7- 1925, một số tù chính trị ở Trung Kì cùng một nhóm sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội lập ra hội Phục Việt, sau đó đổi thành hội Hưng Nam. - Tháng 7/1926, đổi tên là Việt Nam cách mạng Đảng; Tháng 7/1927 đổi tên thành Việt Nam cách mạng đồng chí hội. - Tháng 7/1928, đổi tên thành Tân Việt cách mạng Đảng ( Đảng Tân Việt). 2. Tổ chức và hoạt động. - Mục đích: lãnh đạo quần chúng ở trong nước và liên lạc với các dân tộc bị áp bức trên thế giới để đánh đổ chủ nghĩa đế quốc nhằm thiết lập một xã hội bình đẳng và bác ái. - Thành phần đảng viên: Trí thức và thanh niên tiểu tư sản yêu nước. - Địa bàn hoạt động: Chủ yếu ở Trung Kỳ. - Hoạt động:


+ Giáo dục, huấn luyện Đảng viên. + Lập lớp học ban đêm, phổ biến sách báo Mác xít, góp phần khơi gậy lòng yêu nước, truyền bá tư tưởng cách mạng trong tầng lớp nhân dân. + Tổ chức, lãnh đạo một số cuộc đấu tranh của học sinh, tiểu thương. + Từ cuối 1928-1929, Tân Việt phát động phong trào “vô sản hoá”. - Đến giữa 1929, Tân Việt bị phân hoá: + Một số Đảng viên tiên tiến chuyển sang HVNCMTN. + Số Đảng viên tiên tiến còn lại tích cực chuẩn bị để tiến tới thành lập một chính Đảng theo tư tưởng cách mạng của NAQ, của học thuyết Mác Lênin. Cụ thể, tháng 9/1929 thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn. 3-ý nghĩa. - Phản ánh tinh thần yêu nước và nguyện vọng cứu nước của thanh niên, yêu tư sản trí thức yêu nước. - Sự chuyển biến của Tân Việt theo hội VNCMTN là phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của phong trào yêu nước Việt Nam. - Sự ra đời và hoạt động của Tân Việt góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam phát triển và góp phần thúc đẩy nhanh quá trình thành lập ĐCSVN. III. Việt Nam quốc dân đảng. 1-Sự ra đời. - Do sự phát triển mạnh mẽ của phong trào dân tộc dân chủ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. - Do ảnh hưởng của cách mạng Tân Hợi và chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn. Trên cơ sở đó, từ hạt nhân đầu tiên của Việt Nam quốc dân Đảng là nhóm Nam đồng thư xã - một nhà xuất bản tiến bộ do Phạm Tuấn Tài lập ra vào đầu 1927. - Ngày 25/12/1927, Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng.


- Đây là một chính Đảng cách mạng theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản đề ra mục tiêu là giành độc lập dân tộc. Đây là chính Đảng đại biểu cho tư sản dân tộc Việt Nam. 2. Mục đích: - Lúc mới thành lập Đảng chưa có tôn chỉ mục, đích rõ rệt mà chỉ nêu chung chung là: “Trước làm dân tộc cách mạng sau làm thế giới cách mạng”. - Đến năm 1928, trong bản điều lệ của Đảng nêu lên chủ nghĩa của đảng là chủ nghĩa xã hội dân chủ, mục đích là đoàn kết lực lượng để đẩy mạnh cách mạng dân tộc, xây dựng nền dân chủ, trực tiếp và giúp đỡ các dân tộc bị áp bức. - Năm 1929, Đảng công bố chương trình hành động nêu nguyên tắc của Đảng là: “Tự do - bình đẳng- bác ái”. Chương trình hoạt động của Đảng chia làm 4 thời kỳ. Thời kỳ cuối cùng là bất hợp tác với giặc: Đánh đuổi giặc, xoá bỏ ngôi vua, thiết lập dân quyền”. 3. Tổ chức: - Được chia thành 4 cấp: Tổng bộ, kì bộ, tỉnh bộ và chi bộ, nhưng chưa bao giờ tổ chức thành hệ thống trong cả nước. - Địa bàn hoạt động: Chỉ bó hẹp trong một số địa phương ở Bắc Kì, ở Trung Kì và Nam Kì không đáng kể. -Thành phần đảng viên: Rất phức tạp gồm học sinh, sinh viên, công chức, tư sản, thân hào, phú nông, địa chủ, binh lính, sỹ quan người việt trong quân đội Pháp. - Phương pháp: Chủ trương tiến hành cách mạng bằng bạo lực, chú trọng lấy binh lính người Việt trong quân đội Pháp làm lực lượng chủ lực, cơ sở Đảng trong quần chúng rất ít. 4. Hoạt động của Việt Nam quốc dân Đảng (khởi nghĩa Yên Bái) - Hoàn cảnh lịch sử: + Tháng 2/1930, VNQDĐ tổ chức ám sát tên trùm mộ phu Ba danh ở Hà Nội. Thực dân Pháp khủng bố dã man, VNQDĐ bị khủng bố nặng nề. Các lãnh tụ của


Đảng như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu..bị truy lùng, nội bộ lãnh đạo Đảng bị chia rẽ. + Trong tình thế bị động, những cán bộ chủ chốt còn lại của Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng để tiến hành cuộc khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2/1930) với ý tuởng không thành công cũng thành nhân”. - Diễn biến: + Cuộc khởi nghĩa diễn ra vào đêm 9/2/1930, tại Yên Bái. Cùng thời gian đó cuộc khởi nghĩa cũng diễn ra ở các tỉnh, Phú Thọ, Sơn Tây, Hải Dương, ở Hà Nội cũng đánh bom phối hợp. + Tại Yên Bái, quân khởi nghĩa đã chiếm được trại lính, giết và làm bị thương một số binh lính và sĩ quan Pháp song không làm chủ được tỉnh lị. Hôm sau Pháp phản công, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt. ở các nơi khác quân khởi nghĩa chỉ chiếm được một vài huyện lỵ nhỏ và cũng nhanh chóng thất bại. - Ý nghĩa: + Cuộc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, song đã cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Hành động yêu nước, tấm gương hi sinh của các chiến sĩ Yên Bái là sự nối tiếp truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam. + Đồng thời chấm dứt vai trò lãnh đạo của Việt nam quốc dân Đảng, của khuynh hướng cứu nước tư sản. 5. Vai trò: - Với hoạt động của Việt Nam quốc dân đảng, đỉnh cao là khởi nghĩa Yên BáI đã biểu thị tinh thần phản kháng dân tộc của một bộ phận tiên tiến trong giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản chống lại ách thống trị của thực dân Pháp. - Góp phần cổ vũ, thúc đẩy phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX. - Phản ánh tính non yếu không vững chắc của khuynh hướng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

VẤN ĐỀ 7.ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI


A. Kiến thức cơ bản cần nắm - Học sinh nhận thức được sự ra đời và ý nghĩa của ba tổ chức cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. - Nguyên nhân, nội dung, ý nghĩa của Hội nghị thành lập Đảng. - ý nghĩa của sự ra đời Đảng Cộng Sản Việt Nam. B. Nội dung I-Sự xuất hiện các tổ chức cộng sản năm 1929. a) Sự xuất hiện các tổ chức cộng sản. * Hoàn cảnh ra đời: + Năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân yêu nước khác phát triển, kết thành một làn sóng dân tộc dân chủ ngày càng lan rộng. + Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Đảng Tân Việt không đủ sức lãnh đạo phong trào. * Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản: - Cuối tháng 3/ 1929, một số hội viên tiên tiến của hội VNCMTN ở Bắc Kỳ họp tại số nhà 5D phố Hàm Long( Hà Nội) lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam. Chi bộ mở rộng cuộc vân động để thành lập một ĐCS nhằm thay thế cho hội VNCMTN. - Tháng 5/1929, Đại hội lần thứ nhất của hội VNCMTN họp tại Hương Cảng (TQ). Tại đại hội, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đã đặt vấn đề thành lập ngay ĐCS thay thế cho hội VNCMTN nhưng không được chấp nhận, họ đã bỏ đại hội về nước. - Ngày 17/6/1929, đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc họp đại hội quyết định thành lập Đông Dương cộng sản Đảng, thông qua tuyên ngôn, điều lệ của Đảng, ra báo Búa Liềm làm cơ quan ngôn luận và cử ra ban chấp hành Tw của Đảng.


- Tháng 8/1929, các cán bộ lãnh đạo tiên tiến trong tổng bộ và kỳ bộ hội VNCMTN ở Nam kì đã quyết định lập ra An Nam cộng sản Đảng. Ra tờ báo đỏ làm cơ quan ngôn luận của Đảng. Tháng 11/1929, An Nam cộng sản Đảng họp đại hội để thông qua đường lối chính trị và bầu ban chấp hành TW Đảng. - Tháng 9/1929, những Đảng viên tiên tiến trong Đảng Tân Việt tuyên bố thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn. Nhiều Đảng viên của Đảng Tân Việt lần lượt ra nhập ĐDCSLĐ, hình thành nhiều chi bộ Đảng ở Trung kỳ, Nam kỳ và Bắc Kỳ. b. ý nghĩa. - Khẳng định bước phát triển nhảy vọt của cách mạng nước ta. Nó chứng tỏ hệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế trong trong phong trào dân tộc và điều kiện để thành lập ĐCSVN đã chín muồi. - Góp phần cổ vũ, thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước phát triển. - Tuy nhiên, các tổ chức cộng sản hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, ảnh hưởng không tốt tới phong trào cách mạng. Vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải có sự thống nhất trong hàng ngũ những người cộng sản thành một đảng duy nhất mới đảm bảo sự phát triển chắc chắn của phong trào cách mạng. 2. Hội nghị thành lập Đảng. a) Hoàn cảnh. - Hoàn cảnh thế giới: Do tác động của cuộc khugnr hoảng kinh tế thế giới, do sự phát triển của phong trào cách mạng thế giwois. - Hoàn cảnh trong nước: + Năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, TTS và các tầng lớp nhân dân yêu nước khác phát triển mạnh kết thành một làn sóng dân tộc dân chủ mạnh mẽ, trong đó giai cấp công nhân đã thực sự trở thành lực lượng tiên phong. Thực tiễn này đòi hỏi cần có sự lãnh đạo thông nhất, chặt chẽ của một chính đảng duy nhất của giai cấp công nhân.


+ Trong lúc này, ở Việt Nam xuất hiện ba tổ chức cộng sản hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành quần chúng, ảnh hưởng không tốt đến phong trào cách mạng. Tình trạng đó nếu kéo dài sẽ có nguy cơ đưa tới một sự chia rẽ lớn. Vì vậy, yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một đảng thống nhất trong cả nước. + Trước tình hình đó, NAQ với cương vị là phái viên của quốc tế cộng sản đã chủ động triệu tập đại biểu của ĐDCSĐ, ANCSĐ đến Cửu Long( Hương Cảng- TQ) để bàn việc thống nhất Đảng. - Hội nghị hợp nhất Đảng bắt đầu họp từ 6/1/1930 đến 8/2/1930 tại Cửu Long do NAQ chủ trì. b- Nội dung hội nghị. - NAQ phê phán những quan điểm sai lầm của mỗi tổ chức cộng sản riêng rẽ và nêu chương trình hội nghị. - Hội nghị đã thảo luận và nhất trí với ý kiến của NAQ là thống nhất các tổ chức cộng sản lấy tên thành một Đảng duy nhất, lấy tên là ĐCSVN. - Thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng do NAQ soạn thảo Đây chính là cương lĩnh đầu tiên của Đảng. - Bầu ban chấp hành trung ương lâm thời gồm 7 đồng chí. - Nhân dịp Đảng ra đời, NAQ là lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em bị áp bức bóc lột. - Ngày 8/2/1930, các đại biểu dự hội nghị về nước. - Ngày 24/2/1930, theo đề nghị của ĐDCSLĐ, tổ chức này được ra nhập ĐCSVN. - Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3, tháng 9/1960, quyết định lấy ngày 3/2 thành ngày thành lập Đảng. c) ý nghĩa của hội nghị.


- Hội nghị thành lập ĐCSVN có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng: Sáng lập ra ĐCSVN- chính Đảng của giai cấp công nhân, chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam trưởng thành đủ sức lãnh đạo cách mạng. - Đảng đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối trong phong trào cách mạng nước ta, đáp ứng yêu cầu lịch sử cách mạng lúc bấy giờ. - Chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở nước ta. Mở ra một thời kì mới, thời kì cách mạng Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản Việt Nam- một đảng có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ. Với những ý nghĩa đó, hội nghị thành lập Đảng mạng tầm vóc một đại hội thành lập Đảng. d) Nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. - Xác định đường lối chiến lược cách mạng của Đảng: là tiến hành cuộc “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. - Nhiệm vụ của cách mạng: Đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và bọn phản cách mạng làm cho nước Việt Nam được độc lập, tự do; Lập chính phủ công, nông, binh; Tổ chức quân đội công nông; Tịch thu sản nghiệp lớn của đế quốc; Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo; Tiến hành cách mạng ruộng đất. - Lực lượng cách mạng: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản trí thức. Đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản thì lợi dụng hoặc trung lập. - Về đoàn kết quốc tế: Đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới. - Lãnh đạo cách mạng là: ĐCSVN - đội tiên phong của giai cấp vô sản.

Nhận xét: Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, do NAQ soạn thảo là một cương lĩnh giải phóng dân tộc sáng tạo, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp với tư tưởng cốt lõi là độc lập tự do.


e) ý nghĩa của việc thành lập ĐCSVN. - ĐCSVN ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp của nhân dân Việt Nam, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử trên con đường đấu tranh trong mấy thập kỉ đầu của thế kỉ XX. - Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trong thời đại mới. - Đảng ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt nam được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của ĐCSVN. - Đảng ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về giai cấp lãnh đạo và đường lối cứu nước ở nước ta từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đảng ra đời chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta trưởng thành đủ sức lãnh đạo cách mạng. - Đảng ra đời cách mạng nước ta thực sự trở thành bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. - Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bước phát triển tiếp theo của lịch sử dân tộc Việt Nam 8. Hệ thống các dạng bài tập trong chuyên đề và cách giải 8.1. NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT Câu 1: Tình hình thế giới sau chiến tranh có ảnh hưởng gì đến cách mạng Việt Nam? 1. Khách quan: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình thế giới có những chuyển biến mới, tác động sâu sắc đến Việt Nam. - Các nước đế quốc thắng trận đã họp hội nghị tại Véc xai để phân chia lại thế giới, thiết lập trật tự hoà bình,an ninh mới. - Năm 1917, cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi cùng với sự suy yếu của các nước đế quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ các dân tộc trên thế giới đứng lên đấu tranh tự giải


phóng, gắn kết phong trào giải phóng dân tộc các nước phương Đông với phong trào công nhân phương Tây trong đó có Việt Nam, nó mở ra thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. - ĐCS ở các nước TBCN, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lần lượt ra đời: ĐCS Đức (1919), ĐCS Anh (1920), ĐCS Mĩ (1921), đặc biệt là sự ra đời ĐCS Pháp (1920) và ĐCS TQ (1921) đã tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Việt Nam có thể đứng chân, gây dựng và chỉ đạo phong trào cách mạng. - Tháng 3/1919, quốc tế cộng sản được thành lập, đảm nhận sứ mệnh tập hợp, lãnh đạo phong trào cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới đã tạo ra những thuận lợi lớn cho cách mạng thuộc địa và trong đó có cách mạng Việt Nam. - Tháng 12/1920, tại đại hội tua một bộ phận tích cực nhất của Đảng xã hội Pháp đã bỏ phiếu tán thành ra nhập quốc tế cộng sản và tách ra để thành lập ĐCS Pháp. Tạo điều kiện cho hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mac-Lênin về nước. Những chuyển biến mới của tình hình thế giới có ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. 2. Chủ quan: - Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam đã tạo ra những chuyển biến sâu sắc về xã hội. - Do chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp đã làm xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến. - Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Những điều kiện trên đã làm bùng nổ mạnh mẽ phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam với sự tham gia của đông đảo các giai cấp trong xã hội Việt Nam.


Câu 2: Những điều kiện bùng nổ phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam chiến tranh thế giới thứ nhất. 1. Khách quan: 2.Chủ quan (Trong nước) Câu 3. Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và tác động của nó đến tình hình kinh tế Việt Nam? (Hoặc: Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 của Pháp có tác động gỡ đến kinh tế VN) 1. Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp a.Nguyên nhân khai thác b.Nội dung cuộc khai thác 2. Tác động đến Kinh tế - Tích cực: - Tiêu cực:

Câu 4: Giải thích sao sau Chiến tranh thế giới I, giai cấp công nhân là giai cấp có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc nước ta? Sau chiến tranh thế giới I, giai cấp công nhân có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta vì: - Giai cấp công nhân ra đời ngay trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Sau CTTG I phát triển nhanh chóng về số lượng ( trước CTTG I là 22 vạn đến 1929 có 22 vạn). - Giai cấp công nhân VN vừa có đặc điểm chung của công nhân thế giới vừa có đặc điểm riêng của giai cấp công nhân Việt Nam. Cụ thể: + Giai cấp công nhân bị giới tư sản, nhất là bọn đế quốc, thực dân áp bức, bóc lột nặng nề. + Giai cấp công nhân có quan hệ gắn bó máu thịt với giai cấp nông dân. + Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc.


+ Sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu vô sản thế giới nên nhanh chóng vươn lên trở thành một động lực mạnh mẽ của phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách mạng tiên tiến của thời đại. 8.2. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH THEO KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN (1919-1930) Câu 1: Nêu và nhận xét về phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản Việt Nam trong những năm 1919-1926. 1. Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản Việt Nam trong những năm 19191926. - Ra đời từ trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Phỏp, giai cấp tư sản Việt Nam sớm bị tư sản Pháp và tư sản nước ngoài cạnh tranh. Họ có ý thức dân tộc, sớm tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản nờn đó sớm đứng lên đấu tranh nhằm giành lấy một vị trí khá hơn trong nền kinh tế Việt Nam. - 1919, tư sản Việt Nam đó tổ chức cuộc tẩy chay tư sản Hoa kiều ở một số tỉnh và thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng…Ở Hà Nội có cuộc vận động người Việt Nam chỉ mua hàng của người Việt Nam. - 1923, địa chủ và tư sản Việt Nam đấu tranh chống tư bản Pháp độc quyền cảng Sài Gòn, độc quyền xuất cảng lúa gạo ở Nam Kì. - Một số tư sản và địa chủ lớn ở Nam Kì lập ra Đảng Lập hiến (1923) với cơ quan ngôn luận là tờ Diễn đàn Đông Dương và tờ Tiếng dội An Nam. Ngoài Đảng Lập hiến ở trong Nam còn có nhóm Nam Phong của Phạm Quỳnh và nhóm Trung Bắc tân văn của Nguyễn Văn Vĩnh ở Ngoài Bắc… - Khi phong trào đấu tranh lên cao, thực dân Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi (Cho tham gia Hội đồng Quản hạt Nam Kì) tư sản Việt Nam đi vào con đường thoả hiệp. 2. Nhận xét


- Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản ở Việt Nam trong những năm 19191926 mang tính chất dân chủ công khai với những hình thức tổ chức và hoạt động phong phú song còn mang tính cải lương, thoả hiệp; có tác dụng cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân ta và góp phần chuẩn bị điều kiện cho những phong trào đấu tranh sau. Câu 2: Phân tích các khuynh hướng cứu nước trong phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản ở Việt nam trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Tại sao khuynh hướng dân chủ tư sản không được lịch sử lựa chọn năm 1930. 1. Các khuynh hướng + Giai cấp TSDT: tổ chức các PT đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản: Đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế…1923 thành lập Đảng Lập hiến ở Nam kỳ, cuộc đấu tranh đòi dân chủ của Bùi Quang Chiêu ở Pháp - 25-12-1927 thành lập VNQD theo CNTD ở Trung Quốc đánh đuổi thực dân P, lật đổ ngôi vua thiết lập dân quyền…các PT trên đều thất bại + Giai cấp tiểu tư sản chủ yếu tầng lớp TTS trí thức đấu tranh theo lập trường cách mạng vô sản: - Lập các tổ chức chính trị sau này là cơ sở cho các tổ chức yêu nước CM như Tâm tâm xã, hội Phục Việt… - Tổ chức hội VNCMTN do NAQ sáng lập ngay từ đầu là tổ chức theo khuynh hướng vô sản: Muc đích...,hoạt động vai trò. Đảng Tân Việt của TTS trí thức ở Trung Kỳ …. 2. Năm 1930 khuynh hướng DCTS thất bại vì không đáp ứng được yêu cầu lịch sử, sự non yếu của giai cấp tư sản VN về kinh tế, bạc nhược về chính trị, đấu tranh nửa vời mang nặng tính thỏa hiệp… Câu 3:Nêu khái quát và nhận xét về phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1919-1925.


1. Khái quát phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1919-1925 - Phong trào yêu nước của giai cấp tư sản diễn ra với những hoạt động: tẩy chay tư sản hoa kiều (1919); vận động người Việt Nam chỉ mua hàng của người Việt Nam; chống tư bản Pháp độc quyền cảng Sài Gũn (1923); thành lập Đảng lập hiến (1923)… - Phong trào yêu nước của tầng lớp tiểu tư sản trí thức diễn ra với những hoạt động: thành lập các tổ chức chính trị (Việt Nam nghĩa đoàn, Hội Phục Việt…) với nhiều hoạt động phong phú sôi nổi mít tinh, biểu tỡnh, bói khúa…; lập ra các nhà xuất bản tiến bộ (Nam đồng thư xã, Cường học thư xã, Quan hải tùng thư…); ra nhiều tờ báo tiến bộ (Chuông rè, An Nam trẻ, Người nhà quê…); đấu tranh đòi nhà cầm quyền Phỏp thả Phan Bội Châu(1925); các cuộc truy điệu để tang Phan Chu Trinh (1926)… - Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxai Bản yêu sách của nhân dânAn Nam. Tháng 7-1920, Người đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo...Tháng 12-1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xó hội Pháp họp ở Tua, Người đó bỏ phiếu gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. - Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của Angiêri, Marốc…lập ra Hội Liên Hiệp thuộc địa ở Pari, ra báo Người cùng khổ; viết bài cho nhiều báo…; Dự Hội nghị quốc tế nông dân (1923), Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (1924)… - Phong trào công nhân diễn ra với sự ra đời của Công hội (1920), những cuộc đấu tranh của công nhân viên chức các sở công thương tư nhân ở Bắc Kì (1922), bãi công của công nhâncác nhà máy dệt, rượu, xay xát gạo ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương, cuộc bãi công của thợ mỏy xưởng Ba Son (8-1925)…


2.Nhận xét - Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam trong những năm 1919-1925 có những bước phát triển mới về mục tiêu đấu tranh: không chỉ đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế vươn lên đấu tranh chính trị, giải phóng dân tộc. - Phong trào diễn ra với sự tham gia đông đảo của các lực lượng xã hội: tư sản dân tộc, tiểu tư sản trí thức, công nhân…với hình thức đấu tranh phong phú: mít tinh, biểu tình, bãi thị, bãi khóa… 8.3. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN 1919-1930 Câu 1: Trình bày phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam từ tháng 8 năm 1925 đến thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. - Tháng 8-1925, thợ máy xưởng Ba Son tại Sài Gũn khụng chịu sửa chữa chiến hạm của Pháp…..PT thắng lợi đánh dấu bước tiến mới của phong trào công nhân VN - Do ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc, Đại hội V của Quốc tế Công sản, hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác Lê Nin của NAQ và Hội VNCMTN phong trào công nhân có bước phát triển - Trong 2 năm 1926-1927 nổ ra 27 cuộc đấu tranh của công nhân, năm 1928 sau chủ trương vô sản hóa PT công nhân phát triển mạnh trở thành nòng cốt của PT trong cả nước - Năm 1928 – 1929 cả nước có 40 cuộc đấu tranh của công nhân…than Mạo Khê, xi măng Hải Phòng… -PT có bước phát triển không chỉ giới hạn trong phạm vi một nhà máy, một địa phương, một ngành, bắt đầu liên kết thành phong trào chung, chứng tỏ ý thức giác ngộ của công nhân được nâng lên rõ rệt… - PTCN phát triển, các cuộc đấu tranh của các giai cấp khác cũng phát triển mạnh đặt ra yêu cầu thành lập đảng. Trước yêu cầu đó HVNCM thanh niên và Tân việt


phân hóa thành lập 3 tổ chức Cộng sản năm 1929. Đầu năm 1930 PTCN phát triển…NAQ triệu tập hội nghị thống nhất 3 tổ chức thành lập Đảng Cộng sản VN. Sự ra đời của Đảng chứng tỏ giai cấp công nhân Việt nam trưởng thành đủ sức lãnh đạo cách mạng Câu 2: Tại sao sau chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào công nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Quátrình giai cấp công nhân vươn lên trưởng thành đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt nam từ 1925 diễn ra như thế nào. 1. Nguyên nhân sự phát triển - Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ...giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng - Những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam: Đặc điểm chung với công nhân quốc tế, đặc điểm riêng của CNVN... - Phong trào đấu tranh của các giai cấp khác trong xã hội cổ vũ - Tác động của tình hình thế giới: CMT10 Nga, Quốc tế Cộng sản... 2. QuáTrình giai cấp CN... - Tháng 8- 1925 công nhân xưởng sửa chữa Ba Son Sài Gũn.... - Trong hai năm 1926-1927 nổ ra 27 cuộc đấu tranh của công nhân. - Cuối năm 1928, ảnh hưởng của vô sản hóa...Phong trào công nhân phát triển mạnh trở thành phong trào nũng cất của dân tộc - Trong hai năm 1928-1929 có 40 cuộc đấu tranh của công nhân...than Mạo Khê, Xi măng Hải Phòng..... - Các cuộc đấu tranh của công nhân có bước phát triển không chỉ giới hạn trong phạm vi một nhà máy, một địa phương, một ngành mà bắt đầu liên kết thành phong trào chung, có tổ chức công nhân lãnh đạo... - Phong trào công nhân phát triển, phong trào yêu nước của các giai cấp khác


phát triển mạnh đặt ra yêu cầu thành lập chính đảng...Hội VNCMTN và Đảng Tân Việt không đáp ứng yêu cầu phân hóa đưa đến sự ra đời của 3 tổ chức Công sản ở VN... - Đầu năm 1930 sự PT của phong trào công nhân, phong trào yêu nước đặt ra yêu cầu thành lập chính đảng vô sản, ngày 6-1-1930 NAQ triệu tập hội nghị thống nhất 3 tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản VN. Đảng ra đời chứng tỏ giai cấp CN đó trưởng thành đủ sự lãnh đạo cách mạng VN Câu 3: Giải thích tại sao sau chiến tranh thế giới thứ nhất giai cấp công nhân là giai cấp có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc nước ta. Bước phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ tháng 8-1925 đến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. 1. Giải thích giai cấp công nhân… - GC công nhân VN ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp, sau chiến tranh số lượng tăng nhanh… - GC này có những đặc điểm chung với CN quốc tế: đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, có tinh thần CM triệt để…. - GCCN có những đặc điểm riêng : Bị ba tầng áp bức, sớm tiếp nhận tư tưởng CM tiên tiến… 2. Bước phát triển của PT - Sau chiến tranh PT có bước phát triển. Tháng 8-1925 thợ máy xưởng Ba Son tại Sài Gòn đã bãi công…sự kiện này đánh dấu bước tiến mới của phong trào công nhân - Từ năm 1926 do tác động của Hội VNCM thanh niên …nhất là phong trào vô sản hoá đã nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân. PT phát triển mạnh mẽ và trở thành nòng cốt của PT dân tộc trong cả nước - Đấu tranh của CN ở nhiều nơi: Than Mạo Khê, đồn điền Lộc Ninh… - Năm 1929 bãi công của CN Hà Nội, Hải Phòng…


- PT không chỉ bó hẹp trong phạm vi một xưởng, một địa phương, một ngành mà bắt đầu liên kết thành PT chung - Sự PT của phong trào công nhân cùng với PT yêu nước đặt ra yêu cầu thành lập đảng …năm 1929 ba tổ chức Cộng sản ra đời …đầu năm 1930…Đảng cộng sản Việt Nam thành lập chứng tỏ giai cấp công nhân Việt nam trưởng thành đủ sức lãnh đạo cách mạng Câu 4: Đánh giá vị trí của phong trào công nhân đối với quátrình thành lập ĐCS Việt Nam ( 2/ 1930)? 1. Cơ sở lý luận: - Đối với sự ra đời của Đảng, phong trào công nhân ( PTCN ) là yếu tố phổ biến, đặc biệt là Đảng của giai cấp vô sản thỡ PTCN là yếu tố không thể thiếu - Đối với VN: Là 1 nước thuộc địa, công nhân ít, bị bóc lột bởi 3 tầng lớp áp bức→ nên ngay từ đầu chưa thể đứng ra đảm nhận sứ mệnh lịch sử. Sự trưởng thành của GCCN do nhiều yếu tố trong đó có sự vận động của bản thân PTCN. 2. Vị trí của PTCN - ĐCSVN ra đời là sự kết hợp của ba yếu tố ( phong trào công nhân, phong trào yêu nước và chủ nghĩa Mác Lênin). Trong đó phong trào công nhân là một yếu tố không thể thiếu. Vì: Phong trào công nhân là môi trường thực tiễn để rèn luyện giai cấp công nhân, qua đấu tranh đấu tranh giai cấp công nhân trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. - Phong trào công nhân là một bộ phận của phong trào yêu nước Việt Nam. Phong trào công nhân phát triển đã lôi cuốn phong trào yêu nước của các tầng lớp và góp phần đưa phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản sang lập trường cách mạng vô sản. - Phong trào công nhân phát triển mạnh, có ý thức chính trị rõ rệt là nền tảng để tiếp nhận chủ nghĩa Mác, tiếp nhận lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn ái Quốc.


- Phong trào công nhân phát triển đã thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời ba tổ chức cộng sản vào năm 1929 để dẫn đến kết quả tất yếu năm 1930 ĐCSVN ra đời. 8.4. SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BA TỔ CHỨC CÁCH MẠNG (1925 – 1929) Câu 1: Sự ra đời, hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng? Giải thích tại sao Việt Nam Quốc dân Đảng lại thất bại trong phong trào cách mạng Việt Nam? 1.Sự ra đời của Việt Nam quốc dân Đảng - Ngày 25/12/1927, VNQDĐ được thành lập trên cơ sở Nam đồng thư xã; theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản. Lãnh tụ đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu … Lúc mới thành lập, đảng chưa có mục đích, tôn chỉ rõ rệt, mà chỉ nêu chung chung là “trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng”. Sau chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư tưởng CN Tam dân của Tôn Trung Sơn. - Đây là tổ chức đại diện cho tư sản dõn tộc theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản. 2. Hoạt động - Chương trình hành động nêu nguyên tắc của đảng là: “Tự do- Bình đẳng- Bác ái”. Chương trình hoạt động của đảng chia làm 4 thời kì. thời kì cuối là bất hợp tác với giặc, “đánh đuổi giặc Pháp, xoá bỏ ngôi vua, thiết lập dân quyền”; “cách mạng bằng sắt và máu”… - Tổ chức ám sát tên trùm mộ phu Ba danh ở Hà Nội (2/1929)=>Thực dân Pháp khủng bố dã man, VNQDĐ bị tổn thất nặng nề. Các lãnh tụ của đảng bị truy lùng, nội bộ bị chia rẽ. - Trong tình thế bị động, VNQDĐ quyết định dốc toàn bộ lực lượng tiến hành cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2/1930) với ý tưởng “Không thành công cũng thành nhân”... =>Kết quả: khởi nghĩa thất bại, thực dân pháp đàn áp dã man. Kết thúc vai trò lịch sử của VNQDĐ.


3. Giải thích tại sao Việt Nam Quốc dân Đảng lại thất bại trong phong trào cách mạng Việt Nam - VN QDĐ chưa có cương lĩnh rõ ràng, thành phần ô hợp, không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia...Trong khi đó Hội Việt Nam cách mạng thanh niên hoạt động mạnh mẽ, gây ảnh hưởng lớn và lôi kéo được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia với đường lối và cương lĩnh rõ ràng... - Khởi nghĩa bị động, không chuẩn bị kĩ càng, thực dân Pháp cũn đủ sức mạnh để đàn áp. * Tuy thất bại nhưng đó cổ vũ tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc của nhân dân. Nối tiếp tinh thần yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam... Câu 2: Tổ chức cách mạng nào là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Những nét chính về sự ra đời và hoạt động của tổ chức cách mạng đó. - Hội Việt Nam cách mạng thanh niên là tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu, tiếp xúc với Tâm tâm xó…thành lập Cộng sản đoàn (2-1925). Với nòng cốt này tháng 6-1925 Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, chuẩn bị điều kiện cho sự ra đời của một đảng Cộng sản ở Việt Nam. - Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, số lượng hội viên tăng nhanh…Ra báo thanh niên, tác phẩm Đường cách mệnh, trang bị lý luận cách mạng giải phúng dõn tộc cho cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên để tuyên truyền đến giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân Việt Nam. - Cuối năm 1928, thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, nhiều cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đi vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền cùng sinh hoạt và lao động với công nhân để tuyên truyền vận động cách mạng, nâng cao ý thức chớnh trị


cho giai cấp công nhân… - Đến năm 1929, đáp ứng yêu cầu của phong trào công nhân và yêu nước, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội (2-1929). Sau Đại hội lần thứ nhất, Hội phân hóa thành hai tổ chức là Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929) và An Nam Cộng sản Đảng (8-1929). Câu 3: Sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Tại sao nói Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên là tổ chức cách mạng yêu nước theo lập trường cách mạng vô sản. 1. Sự ra đời - Sau khi rời Liên Xô về Quảng Châu -Trung Quốc, Nguyễn ái Quốc mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ... Nguyễn ái Quốc lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra Cộng sản đoàn (2/1925). - Tháng 6/1925 NAQ thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên nhằm “tổ chức và lãnh đạo quần chúng đoàn kết, đấu tranh để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và tay sai để tự cứu lấy mình” 2.Hoạt động - Tháng 6/1925, ra báo thanh niên của Hội do NAQ sáng lập.. - Đầu 1927, tác phẩm Đường Kách mệnh được xuất bản...Báo Thanh niên và tác phẩm Đường Kách mệnh đã trang bị lí luận cách mạng giải phóng dân tộc cho cán bộ của Hội để tuyên truyền đến giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân... - Cuối 1928, thực hiện chủ trương “vô sản hoá”....tác động mạnh đến phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam. - Sau đại hội lần thứ nhất của Hội VNCMTN, Hội phân hoá thành hai tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng...Đẩy nhanh quá trình tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam


2. Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên là tổ chức cách mạng yêu nước theo lập trường cách mạng vô sản vì: Lãnh đạo là Nguyễn ái Quốc- là một người cộng sản; Mục tiêu chống đế quốc, phong kiến... tiến lên xã hội cộng sản; là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. 8.5. HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC Câu 1: Tóm tắt quátrình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến năm 1920? Nguyễn Ái Quốc đó khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam phải đi theo con đường nào? 1. Quátrình tìm đường cứu nước của NAQ từ 1911 – 1920 2. Nguyên Ái Quốc đó khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Câu 2: Phân tích nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc? Câu 3: Bằng những sự kiện trong quátrình hoạt động tìm đường cứu nước của NAQ từ năm 1919 – 1930, em hãyrút ra công lao của NAQ đối với lịch sử dân tộc? - C«ng lao ®Çu tiªn vµ còng lµ lín nhÊt cña Ng−êi lµ ®· t×m ra cho DTVN mét con ®−êng cøu n−íc ®óng ®¾n. §ã lµ con ®−êng CMVS, GPDT g¾n liÒn víi GP giai cÊp, §LDT g¾n liÒn víi CNXH. Tõ ®ã ®· më ra h−íng gi¶i quyÕt cho t×nh tr¹ng khñng ho¶ng vÒ ®−êng lèi vµ giai cÊp l·nh ®¹o CMVN. - Ng−êi ®· x¸c lËp ®−îc mèi quan hÖ gi÷a CMVN víi CMTG, t¹o cho CMVN nh÷ng ®ång minh míi. §ång minh Êy lµ giai cÊp VS toµn thÕ giíi, lµ c¸c DT thuéc ®Þa, phô thuéc vµ c¶ CM chÝnh quèc. - Lµ ng−êi VN ®Çu tiªn truyÒn b¸ CN M-LN vÒ trong n−íc, tÝch cùc chuÈn bÞ vÒ t− t−ëng, chÝnh trÞ vµ tæ chøc cho viÖc thµnh lËp ®¶ng céng s¶n ViÖt Nam. - NAQ ®· s¸ng lËp ra §CSVN- nh©n tè quan träng hµng ®Çu quyÕt ®Þnh sù th¾ng lîi cña CMVN, chÊm døt t×nh tr¹ng khñng ho¶ng trÇm träng vÒ ®−êng lèi,


giai cÊp l·nh ®¹o CM. Ng−êi ®· triÖu tËp, chñ tr× héi nghÞ thµnh lËp §¶ng, tõ ngµy 6/1/1930 thèng nhÊt c¸c tæ chøc céng s¶n thµnh §¶ng céng s¶n ViÖt Nam. - NAQ ®· ®Ò ra ®−êng lèi ®óng ®¾n cho CMVN th«ng qua chÝnh c−¬ng, s¸ch l−îc v¾n t¾t- mét c−¬ng lÜnh CMGPDT nhuÇn nhuyÔn quan ®iÓm giai cÊp, thÊm ®−îm tinh thÇn DT vµ tÝnh nh©n v¨n. Câu 4: Những hoạt động của NAQ tại Pháp từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930? Ý nghĩa của những hoạt động đó đối với cách mạng Việt Nam? 1. Những hoạt động của NAQ tại Pháp từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930: - Năm 1917.. - Tháng 6/1919 - 7/1920 …. - Năm 1921 - Viết bài cho báo nhân đạo… 2. Ý nghĩa của những hoạt động đó: - Nguyễn Ái Quốc đó tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc là con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác Lê nin. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. - Bước đầu chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho sự ra đời đảng cộng sản Việt Nam. Câu 5: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với quá trình vận động thành lập đảng cộng sản Việt Nam? - Năm 1920, ngay sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê nin và gia nhập Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đó bắt đầu vận dụng chủ nghĩa Mác – lê nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để soạn thảo con đường cách mạng Việt Nam.


- Song song với quỏ Trình đó, Nguyễn Ái Quốc tiến hành những công việc chuẩn bị thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, để lónh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện con đường cứu nước mới. - Để có đủ các yếu tố thành lập một đảng cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đó chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, đào tạo cán bộ và tổ chức để đưa phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam lên tầm cao mới. a. Chuẩn bị về tư tưởng chính trị: - Năm 1921, NAQ cùng các nhà yêu nước… lập nên hội liên hiệp thuộc địa… - Viết bài cho báo nhân đạo, người cùng khổ… - Thỏng 6/1923 - Năm 1924… - Những bài viết và tác phẩm của NAQ được truyền bá về nước… b. Về mặt đào tạo cán bộ: - Ngay năm 1924, khi tới Quảng Châu (TQ), NAQ đó mở lớp huấn luyện cho những người yêu nước Việt Nam về lí luận của chủ nghĩa Mác Lê nin và con đường cách mạng Việt Nam… Sau khi đào tạo xong, phần lớn học viên về nước hoạt động trong các phong trào cách mạng, một số sang TQ hoặc Liên Xô…. c. Về mặt tổ chức: - Thỏng 2/1925, NAQ lựa chọn một số thanh niờn tớch cực trong tõm tõm xó tổ chức thành cộng sản đoàn - Tháng 6/1925, người thành lập Hội VNCMTN… d. Sáng lập ra đảng cộng sản Việt Nam - Cuối năm 1929, với sự xuất hiện và hoạt động của ba tổ chức cộng sản:… - Trước tỡnh hỡnh đó… Câu 6: Hãy trình bày về công lao đầu tiên của Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt nam từ 1911-1920?


1. Khẳng định: Công lao đầu tiên của Người với dân tộc là đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: Con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xó hội, đó giải quyết được cuộc khủng hoảng đường lối và giai cấp lónh đạo cách mạng Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX cho đến lúc đó. 2. Trình bày: - Giới thiệu qua về hoàn cảnh lịch sử: + Đất nước bị xâm lược, giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp thiết đối với mọi người dân Việt Nam + Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, đặt ra yêu cầu phải tìm một con đường cứu nước mới phù hợp hơn với thực tiễn cách mạng Việt Nam - Tiểu sử NAQ - QuáTrìnhtìm đường cứu nước đến với chủ nghĩa Mác Lê nin (1911- 1920) 8.6. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI Câu 1. Sự xuất hiện các tổ chức cộng sản ở Việt Nam năm 1929? Ý nghĩa lịch sử? 1. Sự xuất hiện các tổ chức cộng sản ở Việt Nam năm 1929 - Năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dânyêu nước khác phát triển, kết thành một làn sóng dân tộc dân chủ ngày càng lan rộng. - Cuối tháng 3-1929 trước yêu cầu trên, một số hội viên tiên tiến nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ đó thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 đảng viên. Chi bộ mở rộng cuộc vận động để để thành lập một đảng cộng sản thay thế cho Hội Việt Nam cách mạng thành niên. - Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (5/1929) ở Hương Cảng, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đưa ra kiến nghị về việc thành lập đảng cộng


sản, đề nghị không được chấp thuận, họ đó rút khỏi hội nghị về nước… - Ngày 17/6/1929 đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc đó họp đại hội quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản đảng, thông qua tuyên ngôn, điều lệ đảng, ra báo “Búa liềm” làm cơ quan ngôn luận…Cử ra Ban chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục mở rộng tổ chức cơ sở Đảng trong nhiều địa phương ở Bắc, Trung và cả Nam kỡ. - Khoảng thỏng 8-1929, các cán bộ lãnh đạo tiên tiến trong Tổng bộ và kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niờnm ở Nam kì cũng đó quyết định thành lập An Nam cộng sản đảng. Tờ báo Đỏ là cơ quan ngôn luận của Đảng. - Sự ra đời của Đông Dương cộng sản đảng (6-1929), An Nam cộng sản đảng (71929) đó tỏc động mạnh mẽ đến tổ chức Tân Việt cách mạng đảng. Một số đảng viên tiên tiến của Đảng Tân Việt cũng tích cực vận động lập các chi bộ cộng sản và xúc tiến chuẩn bị lập Đảng cộng sản. Tháng 9-1929 những đảng viên tiên tiến trong Đảng Tân Việt tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn. 2. Ý nghĩa - Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam vào cuối năm 1929 là một xu thế khách của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam… - Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân.. - Là bước chuẩn bị trực tiếp về mặt tổ chức tiến tới thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam… Câu 2: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. - Trực tiếp triệu tập, chủ trì Hội nghị thành lập Đảng… - Thống nhất các tổ chức Cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng


Cộng sản Việt Nam - Soạn thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng…do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. - Như vậy Nguyễn Ái Quốc là người trực tiếp sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Câu 3:Tại sao nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đó tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam? Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam vì: - Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp của nhân dân Việt Nam. Đảng là sản phẩm của của sự kết hợp chủ nghĩa Mác- lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước VN trong thời đại mới... - Đảng Cộng sản VN ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử VN. Từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân VN được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của ĐCSVN. - Đảng CS VN có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung nguyện suốt đời hi sinh cho lí tưởng của Đảng, cho độc lập dân tộc, cho tự do của nhân dân. - Cách mạng Việt Nam trở thành bộ phận khăng khớt của cách mạng thế giới. - ĐCSVN ra đời là sự chuẩn bị đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt tiếp theo trong lịch sử dân tộc VN... Câu 4:Vai trò của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc trong hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt nam. 1. Nhận thức được yêu cầu lịch sử quyết định triệu tập hội nghị thống nhất các tổ


chức cộng sản - Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản đã thúc đẩy PT đấu tranh của CN và các giai cấp phát triển…yêu cầu đặt ra phải có một chính đảng lãnh đạo PT - Hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng, công kích lẫn nhau nếu tiếp tục kéo dài dẫn đến nguy cơ chia rẽ ảnh hưởng không tốt tới PT cách mạng. Yêu cầu CM đặt ra phải thống nhất ba tổ chức thành lập một chính đảng duy nhất - Nhận thức kịp thời yêu cầu khách quan của CM trong nước,với chức trách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan tới PT CM Đông Dương, NAQ đã chủ động triệu tập đại biểu các tổ chức đến Cửu Long để bàn về việc TN đảng 2. Thống nhất ba tổ chức cộng sản sáng lập Đảng CSVN - Ngày 6-1-1930 hội nghị hợp nhất Đảng họp…do NAQ chủ trì….. - Tại hội nghị NAQ phê phán những quan điểm sai lầm …và nhất trí với ý kiến thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất lấy tên Đảng CSVN 3. Thông qua cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng chỉ ra con đường CM đúng đắn cho dân tộc - Trên cơ sở lý luận của CNMLN vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của VN . NAQ đã soạn thảo và thông qua tại hội nghị các văn kiện…có giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài đối với CMVN - Cương lĩnh xác định đường lối chiến lược của CMVN, nhiệm vụ CM, lực lượng CM…đây là cương lĩnh GPDT sáng tạo kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp… - Hội nghị ngày 6-1-1930 sáng lập ra đảng, chỉ rõ giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo CM, đề ra đường lối CM đúng đắn cho dân tộc . NAQ đã giải quết được yêu cầu khách quan của LS đặt ra…- là công lao vĩ đại nhất của NAQ đối với lịch


sử dân tộc ta 9. Áp dụng tại trường THPT Trần Phú: Chuyên đề ôn thi THPT quốc gia môn lịch sử giai đoạn 1919 – 1930 đã được tôi áp dụng dạy học tại trường THPT Trần Phú và cho kết quả khả quan. Việc phân tách nhỏ vấn đề theo dạng sơ đồ cây như trên giúp các em hệ thống hóa được kiến thức, tránh nhầm lẫn giữa các giai đoạn, đồng thời củng cố được bài tập trong mỗi vấn đề, giúp các em hiểu sâu sắc hơn về vấn đề lịch sử đã học.


Turn static files into dynamic content formats.

Create a flipbook
CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1930 (PHÂN LOẠI CÁC DẠNG BÀI TẬP TỰ LUẬN) by Dạy Kèm Quy Nhơn Official - Issuu